Issuu on Google+

Gia đình giáo dục Phật học thường thức

GIA ĐÌNH GIÁO DỤC Sa môn Thích Trí Hải

PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám

1


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

GIA ĐÌNH GIÁO DỤC Một năm cốt ở mùa xuân Một giờ cốt ở giờ Dần mà ra Một nhà cốt ở Thuận – Hòa Một đời cốt ở lòng ta Chuyên – Cần Soạn giả SA MÔN TRÍ HẢI Chùa Quán Sứ Hà Nội LỜI NÓI ĐẦU Người hơn vật có trí khôn Nếu mà vụng dại dễ còn khác chi Sống ngu dốt, sống đê, sống nhục, Sống lắm càng vẩn đục non sông, Nên chăng lòng tự hỏi lòng, Sao cho rạng vẻ con Rồng, cháu Tiên. Trông các bậc Thánh Hiền thuở trước, Tốn bao công vì nước, vì nhà. Mở mang khắp cả gần xa, Tinh thần hình thức thực là chu viên. Nay muốn trở nên thịnh vượng, Ai nấy đều cố gắng công phu. Cùng nhau giữ vững cơ đồ, Những điều độc hại phá cho tận cùng. Bao sự tốt dốc lòng làm đúng, Bước văn minh quyết cũng không xa. Mong sao khắp đất nước nhà, Khổ đau tuyệt tích, toàn là yên vui. Nay gọi có mấy lời thô thiển, Đem tài hèn cống hiển bạn thân, Họa may giúp ích tích thân, Muôn phần mong được một phần nào chăng. Viết ngày 19/05 B.T Trí Hải 2


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

CHÚ Ý 1. Muốn gia đình được bình an hưng vượng đời đời; 2. Muốn thân thể được khỏe mạnh và phẩm giá thanh cao; 3. Muốn tránh những điều tai hại cho mình và cho mọi người; 4. Muốn có những con thảo, cháu hiền để giữ gìn cơ nghiệp; Nên đọc kỹ sách này sẽ rõ. CHƯƠNG THỨ NHẤT KHUYÊN RĂN 1. CẢNH GIA ĐÌNH Chồng chài, vợ lưới, con câu, Sông Ngô, bể Sở, gặp đâu là nhà, Nên ra tay kiếm, tay cờ, Chẳng nên thì chớ, chẳng nhờ tay ai. 2. CHA KHUYÊN CON Con ơi con nghĩ lại xem, Con nên khuyên bảo các em sau này, Bao cơ nghiệp cha nay gây dựng, Các con nên giữ vững chớ rời. Song con muốn được hơn người, Phải chăm học tập, không thời được sao? Nếu không học khác nào vật nọ, Suốt đời nào còn có hiểu chi, Vụng về, hèn hạ, ngu si, Ra đời sẽ bị lắm khi thiệt thòi, Con chớ tưởng sẵn ngồi yên hưởng, Được an nhàn sung sướng mãi đâu, Nếu ngu người sẽ đè đầu. 3. CHỊ RU EM Em ơi, em hỡi, em hời, Em ăn, em ngủ, em chơi, chị mừng, Tham, Ngu, Giận, em đừng có vướng, Ôn, Nhu, Hòa, em tưởng luôn luôn, Sau này em lớn, em không, 3


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Học hành chăm chỉ, lòng son chớ rời, Hạ hơi, hạ hỡi, hạ hời, Chị mong em tiến kịp người mới nên. Nên nhớ rõ Thánh Hiền thuở trước, Tốn bao công vì nước, vì nhà, Hạ hơi, hơi hạ, hợi hà, Bao nhiêu việc nước việc nhà mai sau. Hết thảy đều trông vào em cả, Cơ nghiệp này em chớ bỏ rơi, Hạ hơi, hạ hỡi, hạ hời, Em nên nhớ lấy những lời chị khuyên, Lễ, nghĩa, cùng gương liêm sĩ nọ, Ăn, mặc và chỗ ở đường đi, Từ nay em phải xét suy, Mượn hơi người thở, có khi nào thành. Tài, trí, năng thân mình đầy đủ, Bao điều hay, chớ bỏ lỡ thời, Hạ hơi, hạ hỡi, hạ hời ... 4. BÀI THỨ HAI Em ơi, em hỡi, em hời, Thông minh, tai mắt, ai người kém ai, Em nên nhớ, áo dày, cơm nặng, Cha mẹ thường cay đắng vì em, Em nên học lập chí báo đền, Học hành chăm chỉ theo lên kịp người, Cốt sao có đủ tài, đủ đức, Để sau ra giúp nước giữ nhà, Hạ hơi, hơi hạ, hợi hà, Ơn cha nghĩa mẹ lòng ta chớ rời, Công thầy dạy cùng người giúp đỡ, Trong dạ này em chớ có quên, Mong sao ơn báo nghĩa đền, Noi gương các bậc Thánh Hiền xưa nay. Dở hay cũng tâm này ra cả, 4


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Khuyên em đừng cẩu thả như ai, Chỉ khuyên em bấy nhiêu lời, Em nên ghi nhớ chớ rời lòng son. 5. KHUYẾN HIẾU Trông lên chính chữ Cù lao, Bể sâu khôn sánh, trời cao khó bì, Làm con sớm phải xét suy, Lấy gì báo đáp ơn kia cho vừa, Dẫu trăm nghìn kiếp phụng thờ, Khôn đền lại được nửa giờ công lao, Suy cùng mới rõ thấp cao, Kể từ con mới ở vào trong thai, Mẹ cha lo lắng đêm ngày, Vì con nên chịu đắng cay đủ đường, Thân gian lao, dạ vẫn thương, Thương con tìm hết mọi phương giữ gìn Mong sao sinh được con hiền Ước sao con lại theo lên kịp người. Đêm ngày khuya sớm khôn nguôi Vì con cha mẹ đứng ngồi chẳng yên Cơ đồ gắng sức gây nên Dẫu bao nhiêu cũng một niềm cho con Nghĩ công đức, thực vẹn tròn Rõ ràng trước mắt chẳng còn hồ nghi Xét mình xem đã có gì Đền bồi cho xứng công kia những ngày Nếu chưa nên để dạ này Vì đâu mà có thân đây vẫy vùng Làm người nên xét thủy chung Đối cha mẹ chớ đem lòng thờ ơ.

5


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

CHƯƠNG THỨ HAI BỎ NHỮNG TÍNH XẤU 1. CHỚ UỐNG RƯỢU Rượu là thuốc độc ở đời Xua nay lôi cuốn bao người bị say Ai đã mắc, điều hay bỏ hết Của cải thường khánh kiệt như chơi Gây nên tai vại tày trời Bệnh kia, ách nọ chẳng ngơi bên mình Ai trông thấy cũng kinh tựa mẻ Lòng điên cuồng chẳng kể dở hay Thân như cây bị gió lay Hình như “La sát” dễ ai muốn gần Làm toàn việc nhẫn tâm tàn bạo Nói thuần lời điên đảo, đảo điên Chỉ vì bạn với ma men Bỗng dưng rước lấy não phiền vào thân Ai người khôn, nên phan hay dở Biết hại thời đừng có say mê Có tâm, sớm phải xét suy Có thân, sớm phải liệu bề tu thân Việc hay, kíp chuyên cần chớ bỏ Tránh dở, thời lấy đó làm gương Nết na giữ đủ mọi đường Thân, Tâm, quyết được thường thường yên vui. 2. CHỚ HÚT THUỐC PHIỆN Gương tày liếp kia ai không rõ Thử coi người rụt cổ so vai Môi thâm, da ủng, bụng dày Quanh năm ủ rũ, suốt ngày vẩn vơ Bao tài trí cũng cơ đồ nọ Vét dồn vào lỗ nọ xe kia 6


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Cửa nhà, vườn, ruộng chi chi Đều ra khói hết, còn gì nữa đâu Lúc đó bị âu sầu buồn bã Áo mặc thời rách tả, rách tơi Ai trông thấy cũng chê cười Cơm ăn chẳng có, thuốc thời tìm đâu Đành phải chịu cúi đầu làm bậy Giá đê hèn đắt mấy cũng mua Miễn sao kiếm được bữa no Dẫu mà nuốt sái, ăn tro cũng đành Đến đâu cũng bị khinh, bị rẻ Nào ai còn đếm xỉa đến chi Chỉ vì vài khói trước kia Thân nghìn vàng bỗng bán đi không đồng Khuyên ai đứng ngoài vòng chớ vướng Thân tâm thường sung sướng yên vui Người khôn lấy đấy mà soi 3. CHỚ HAM SẮC DỤC Những phường bướm lả ong lơi Giang hồ, trăng gió dễ ai khen mà Thân quí giá làm ra đê tiện Phong hóa suy nhục đến giống nòi Lòng này suy xét lại coi Giữ sao trọn vẹn thành người nết na Gương kiên trinh chẳng lòa, không ố Giá thanh cao kim cổ đều soi Dở hay cũng một kiếp người Hay thời Thần Thánh, dở thời ma lem Khuyên ai nấy chớ nên cẩu thả Đã làm người đừng phá nhân luân Trước là khỏi bị tiếng tăm Sau đời đời được tấm thân an nhàn. 4. CHỚ NÊN CỜ BẠC Bạc bài nếu quá ham chơi 7


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Tấm thân dài dạc thành người bỏ đi Khi vận đỏ, được thì phung phí Cơm hẩm hiu, vận bỉ thua cay Cửa nhà hết liệu kế xoay Xoay ra trộm cắp thành ngay côn đồ Để đến nỗi nhục cho nòi giống Thân có còn dù sống cũng dơ Người khôn nên kíp bài trừ Đỏ đen, lẻ chẵn được thua chớ gần Nếu nước nhà còn phần tử ấy Nhân dân còn bị hại luôn luôn Ai là người có trí khôn Bạc bài xa lánh chớ còn tưởng mơ Đem sức ấy lập cơ đồ chính Mong nước nhà hưng thịnh mãi lên Cũng như các Bậc Thánh Hiền Gây bao Phúc, Tuệ, Nhân duyên giúp đời CHƯƠNG THỨ BA LÀM CÁC ĐIỀU HAY 1. GIỮ LỄ Người khôn lấy lễ làm đầu Giữ gìn trọn vẹn trước sau một niềm Yêu mến dưới, kính nể trên Chẳng hề hờn giận, ghét ghen cục cằn Gặp người niềm nở ân cần Chào mời đưa đón, hỏi han đợi chờ Nói năng êm ái gởi thưa Đứng ngồi đi lại, đứng vừa hợp nghi Giữ gìn trật tự tôn ti Ra vào sau trước đúng y mực thường Thấy người hay lấy làm gương Tổ Tiên, Phật Thánh, lòng thường kính tôn Đối người, tiếp vật ôn tồn 8


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Nết na phép tắc chẳng còn thiếu chi Toàn đân một dạ thế thì Nước văn minh, có lo gì kém ai? 2. NHÂN, NGHĨA Muôn loài sinh ở thế gian Người cùng động vật hoàn toàn giống nhau Bao bộ phận vật đâu phải thiếu Khổ, vui, buồn cũng hiểu như ta Cách nhau thực chẳng bao xa Có chăng Nhân, Nghĩa họa là khác thoi Gương Nhân nghĩa chẳng ai sôi không ngó Ong, kiến cùng ngựa chó còn hơn Chúng thường nhớ nghĩa, biết ơn Vua, tôi, chủ, bạn thiệt hơn chẳng rời Người tự nhận trên đời khôn nhất Nghĩa nhân này nếu vất bỏ qua Lấy gì lợi Nước, lợi Nhà Lợi người, lợi vật, lợi ta, lợi đời Xem thuở trước bao người vì nghĩa Bỏ hình hài xá kể chi đâu Dốc lòng giúp đỡ lẫn nhau Khổ, vui san sẻ trước sau một niềm Sự ám muội khổ đau chẳng vướng Gương thanh cao soi sáng nghìn thu Không hề xá quản công phu Bất bình bao lỗi phá cho sạch làu Giữ gìn trọn vẹn trước sau 3. THANH LIÊM Trượng phu đã đứng trong trời đất Gương thanh liêm treo thất giá cao Để cho thiên hạ trông vào Một niềm trung chính, không bao đổi đời Việc làm đúng như lời đã nói Hơi sự gì mờ tối đều kiêng 9


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Chẳng vì danh lợi nhỏ nhen Để cho ô uế nhọ nhem giá này Vững một niềm thảo ngay chân chính Giữ vẹn toàn Đức, Hạnh chính chuyên Gương trong, phẩm quý treo lên Noi theo các bậc Thánh, Hiền xưa nay Khắp đâu đấy không ai tham nhũng Tính đê hèn kiện tụng bỏ đi Dân như thế có lo gì Văn minh, cường thịnh chẳng về tay ta Ai đã nghĩ đến Nhà, đến Nước Nên giữ gìn sau trước chớ sai Tiếng thơm, thơm mãi đời đời Bỏ “Tham” là được, ai người dám tranh 4. XẤU HỔ Xem khắp cả Đông, Tây, Kim, Cổ Bao điều hay do hổ thẹn lên Xưa nay các bậc Thánh Hiền Biết hèn là nhục ngày đêm chuyên cần Những tính xấu bỏ dần kỳ hết Bao điều hay mải miết công phu Ra tay gây dựng cơ đồ Lợi Nhà, lợi Nước, lợi cho muôn loài Điều đang tủi dễ ai không có Kém người còn xấu hổ gì hơn Trừ loại chỉ biết có ăn Ăn rồi lại ngủ ngu đần xá chi Những người biết xét suy phải trái Ai là không ngắm lại mình luôn Trông lên còn có người hơn Túi này mình vẫn phải còn đeo mang Nước nhà nếu ngày còn hèn yếu Nhục ấy đâu phải chịu cùng nhau Rửa sao sạch hết lần đầu 10


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Làm cho nước mạnh, dân giàu mới yên

CHƯƠNG THỨ TƯ CÁCH SINH SỐNG 1. ĂN Đã sinh ra ở cõi đời Làm người tất phải có ăn mới còn Song muốn được ăn ngon, mặc tốt Tự làm ra thì nuốt mới xuôi Nếu toàn ỷ lại vào người Ví như mượn mũi thở hơi được nào “Nhân: không giống, “Quả” bao giờ hết Lòng hỏi lòng, tự xét lại coi Uống, ăn xong lại ngồi rồi Núi sông, tất bị lở vơi có ngày Nếu thiên hạ toàn người ỷ lại Đời sẽ thành rặt bãi tha ma Nay ta nên nghĩ phận ta Làm, ăn, cần kiệm chớ xa xỉ nhiều Ăn uống phải có điều, có độ Phép vệ sinh chớ bỏ mà nguy Trước khi ăn uống thức gì Xem cho cẩn thận chớ hề tham lam Cá kia chết vì ham mồi nọ “Mật” ngọt nên làm khổ cho ruồi Miếng ăn là nhục ở đời Chớ nên ăn nợ, nữa rồi cực thân Giữ sao cho vẹn muôn phần Phúc mình, mình hưởng, mình ăn của mình. 2. MẶC Mặc thời tề chỉnh hẳn hoi 11


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Chớ nên lếch thếch, lôi thôi, lòa xòa Đừng lam lũ, không xa xỉ lắm Trông tài người, lại ngắm Đức ta Mặc sao cho xứng mới là ... Phỗng kia, đài điểm dễ mà ai khen Phải suy xét chớ nên cẩu thả Đừng đua đòi vay nợ điểm trang Quả mình đúng thực giàu sang Phong lưu đâu phải khoe khoang áo ngoài Nếu mình chính là người thanh bạch Giữ sao cho: đói sách, rách thơm Xem phường giá áo, túi cơm Quanh đời ỷ lại dễ làm nên chi Người cốt phải có nghề chính đáng Làm ra dùng ai chẳng kính tôn Mặc dù nội hóa là khôn Chắc bền, quyền lợi vẫn còn trong tay Mong ai nấy, chớ hai lòng dạ Nước thịnh suy cũng ở sự này Nếu toàn dân những đắm say Dùng thần ngoại hóa có ngày suy vong Ăn mặc cốt qua xong là đủ Làm người thời phải có công lao Đem thân giúp ích đồng bào Muôn đời sùng bái, áo nào đẹp hơn. 3. Ở Chỗ ở dẫu thấp, cao, to, nhỏ Cửa nên nhiều để “gió” thoảng qua Các đồ bầy biện trong nhà Gọn gàng, sạch sẽ cũng là đơn sơ Chớ nên để nhớp nhơ, nhếch nhác Trùng sinh ra nhỡ mắc bệnh nguy Sửa sang đường lối tử vi Trồng nhiều cây cối để che mát nhà 12


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Sau lại được quả hoa cùng hưởng Cảnh quê mùa sung sướng yên vui Trừ cho sạch hết muỗi ruồi Trâu, bò, gà, lợn, chớ nuôi sát nhà Hướng trước phải quay ra chiều “gió” Mặt trời đừng để chỗ trung tâm Chuồng tiêu, nhà giải chớ gần Trong ngoài giậu ngõ, phải chăm giữ gìn Phép vệ sinh nên in lòng dạ Làm ăn đừng cẩu thả lôi thôi Xóm làng cũng liệu khuyên người sửa sang Nước thịnh vượng vẻ vang nhờ đó Nên để lòng chớ có thờ ơ 4. ĐI Giao thông muốn được dễ dàng Gia công gắng sức mở mang trong ngoài Đâu đấy cũng là đầy bổn phận Từ ngọn nguồn đến tận bể khơi Sửa sang tất cả mọi nơi Đê điều, cầu cống, sông ngòi đường đi Trên dưới đủ tàu, xe, thuyền, ngựa Đi lại và chuyên chở cho thông Những nơi ngõ hẻm hang cùng Giữ gìn sạch sẽ cho phong quang điều Nếu cẩu thả bỏ liều vỡ lỡ Đi lại thường vất vả khó khăn Nước văn minh cốt ở dân Dân giảu, nước mạnh, hưởng phần yên vui Đường tiến hóa chẳng lùi không chuyển Sự phú cường tất đến tận nơi Bán, buôn, đi lại, ngược xuôi Nhẹ nhàng sung sướng thảnh thơi tháng ngày Dở hay cũng tâm này tạo cả Cố cùng nhau chắc chả bao l��u 13


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Gây nên nước mạnh, dân giàu Tiêu dao, tự tại, còn đâu hơn mà Ai đã tự nhận mình là người tin theo đạo Phật, cần hiểu rõ: Tôn chỉ, giáo lý của Phật dạy mới đúng. Muốn biết: Nên đọc các Kinh sách nói về Đạo Phật, hay hỏi các vị Tăng, Ni sẽ rõ. CHƯƠNG THỨ NĂM LUÂN LÝ CỦA PHẬT THÍCH CA DẠY 1. ĐỨC THÍCH CA (*) Chính Ngài dòng họ Thích Ca Con Vua Tịnh Phạn, mẹ là Ma Da Trước tên là Tất Đạt Đa Sau thu thành Phật hiệu là Mâu Ni Ca Tỳ La Vệ trước kia Là nơi nối dõi trị vì xưa nay Tháng Tư mồng tám rạng ngày Vườn Lâm tỳ Ni đó là nơi sanh thành Á Châu vì đấy nức danh Ấn Độ Phật Tích quang vinh đời đời. LUÂN LÝ THEO PHẬT DẠY 2. KINH THIỆN SINH Kinh Thiện Sinh chính lời Phật nói Lúc bấy giờ Phật với Tỷ Khưu Ngàn hai trăm rưỡi vị theo Núi Kỳ-Sà Quật cùng nhau tu hành La Duyệt Kỳ là thành phố lớn Sáng sớm ngày Phật đến xin ăn Nhân dân nô nức cúng dâng Cà-sa bình bát nhẹ nhàng đường đi Chợt trông thấy đằng kia một gã Thiện Sinh con trưởng giả lắm rồi Áo xiêm tề chỉnh hẳn hoi Sáu phương chàng lễ mỗi nơi bốn lần 14


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Phật dạo gót tới gần lại hỏi Vì cớ gì lễ, mỏi mệt không? Chàng quỳ bạch rõ thủy chung Cha con đến phút cuối cùng dặn con Sau cha mất thần hồn chớ bỏ Khắc đáy lòng chớ có thờ ơ Con nay hổ phận ngây thơ Lời cha đã dặn bao giờ dám quên Nay cha đã về miền chín suối Con dốc lòng sớm tối không ngơi Song con chưa rõ đầu đuôi Lễ đây là lễ theo lời cha con Này Thiện Sinh em còn bé nhỏ Lễ đấy gọi là có mà thôi Phép Hiền Thánh lễ bái thời So đây khác hẳn như trời vực kia Chàng nghe nói lại quỳ xuống lạy Xin mở lòng Phật dạy bảo con Phật liền dạy bảo ôn tồn Giải rành rẽ đúng cội nguồn lễ cho Này em Thiện! cơ đồ muốn lập Xa bốn điều: trộm cắp, sát sinh Gian dâm, nói dối sẽ thành Bốn điều nữa, cũng liệu mình tránh xa Chớ gần gũi nữa mà bị tủi Sợ, Giận cùng Muốn với Ngu si Còn sau việc phải kiêng dè Đắm say chè rượu, ham mê bạc bài Cùng rông rỡ chơi bời hát xướng Bạn ác cùng lười biếng là nguy Những điều ấy kíp bỏ đi Việc hay phải giữ nghiệp kia mới thành Em xem xét cho rành mọi nhẽ Mới phải là phép lễ sáu phương 15


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Nếu em giữ được như thường Đời nay phú quý vẻ vang ai bì Còn ai dám cười chê em được Đời đời còn hưởng phúc bền lâu Nay em nghe được bốn câu Muốn, Ngu, Sợ, Giận xấu đâu xấu bằng Danh dự hết tựa trăng cuối tháng Sợ, Giận cùng Ham muốn, Ngu si Không còn tật xấu ấy thì Tiếng khen chẳng khác trăng kia đúng rằm Em nên biết nếu ham chè rượu Mất của mà tiếng xấu đồn vang Bệnh tình đua cãi hung tàn Ngu si, sằng bậy, tan hoang cửa nhà Bạc bài cũng lại là phá sản Được thành ra rước oán gây thù Thiếu nào ai muốn giúp cho Sinh ra trộm cắp thành đồ bỏ đi Ai thấy cũng cười chê xa lánh Em coi chừng liệu tránh ngay di Cửa nhà con cháu chẳng hề đoái trông Suốt ngày đêm trong lòng sợ hãi Rước bao điều sợ hãi vào thân Đảo điên lừa dối nhố nhăng Con người như thế còn ăn thua gì Ham hát xướng cũng nguy hết sức Do đó mà dài dạc tấm thân Chỉ vì mê tiếng sắt cầm Đàn hay, hát ngọt đã làm loạn tâm Để đến nỗi mê lầm khổ sở Đã thế thời còn có ai khen Bạn bè với lũ chẳng hiền Sinh ra lừa dối, đảo điên đủ vành Rủ rê cả người trinh làm bậy 16


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Chỗ vắng thường tới đấy họp nhau Của mình có giữ được đâu Của người dòm ngó, dễ hầu được sao? Tội lỗi mình chẳng bao giờ ngó Đuốc soi người tìm rõ vết lòng Biếng lười thực hại vô cùng Giàu ăn núi lở, nghèo không mó sờ Tối, sớm cùng nắng mưa, rét, bức Không qua làm chút việc gì hay Thiện em nhớ lấy lời này Những điều xấu đó bỏ thời là hay Dẫu giàu có đêm ngày say đắm Chẳng bao lâu trơ nắm xương khô Phá tan nát hết cơ đồ Tấm thân dài dạc biết nhờ cậy ai? Đã sằng bậy lại hay nhờn láo Thấy người ta chế nhạo nhố nhăng Thấy người khôn tuyệt chẳng gần Tấm thân trơ trọi thành thân sống thừa Tính xấu ấy không chừa chẳng đổi Của vất đi còn nói được sao Này em Thiện còn bốn điều Em nên nhớ kỹ trước sau cho tường Điều chúng sinh mở mang từ trước Chính oán thù lại rước làm ân Một là kính sợ phải thân Hai là nói khéo mà gần ích chi Vùi đầu theo khác gì bạn dữ Có bốn điều kinh sợ nên xa Trước cho sau lại đòi ra Khi cho chút đỉnh, mong ta trả nhiều Vì sợ hãi phải liều mình ở Vì lợi thân, nhục cả giống nòi Này em xem những người nói khéo 17


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ba phải kia khéo liệu xa đi Lúc yên, ruồi nhặng thiếu gì Lâm nguy, tìm được lũ kia khó lòng Thấy mình hay, hùa cùng nhau phá Mình dở thời chúng đổ dầu thêm Vùi đầu theo hai cố nhiên Đêm ngày, sau trước chỉ tuyền lừa nhau Mình hơi lỗi gặp đâu đánh đấy Nông nỗi này thảm hại xiết bao Gần bạn ác bậy có nhiều Rượu chè trai gái là theo nhau thường Hết bạc bài tìm đường hát xướng Bao điều hay chẳng tưởng màng chi Trước sau em phải xét suy Dở này xa lánh, hay kia phải gần Bốn người sau nên cần tìm kiếm Khi gặp rồi thân mến dễ xa Hàng ngày gìn giữ cho ta Ngăn điều xằng bậy mới là bạn thân Lòng từ mẫn trầm luân cứu vớt Lợi ích người chẳng tiếc chi công Ta làm người cũng làm cùng Dở thời ngăn đón hay mong cho làm Bảo ta biết đường quang lối chính Để lên ngôi Phật Thánh đã lên Được thời hết sức mừng khen Hỏng thời lo lắng ngày đem giúp thành Thấy dông dỡ gạt mình lập tức Chỗ vắng thời hết sức dạy răn Bao điều sợ hãi khó khăn Làm cho tiêu tán, tâm thần yên vui Những bậc ấy chớ rời, chớ bỏ Xét trên đời còn có ai hơn Yêu nhau ích lợi nên gần 18


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Thân nhau cốt để đỡ đần cho nhau Gặp hoạn nạn không bao giờ bỏ Được vẻ vang đều có mặt nhau Giữ gìn trọn vẹn trước sau Tấm lòng sắt đá không bao giờ rời Thiện sinh, em nên coi cho biết Những gì là đúng thiệt sáu phương Đông là: cha mẹ rõ ràng Nam là: Thầy bạn, Tây phương: vợ chồng Phương Bắc chính là dòng thân thích Phương hạ người ở ích cho ta Thầy tu phương Thượng đó mà Thiện sinh em nhớ cho ra kẻo lầm CHA CON Làm con, trước giữ năm việc chính Để đem ra thờ kính mẹ cha Một là: hầu hạ sớm khuya Chớ nên để thiếu chút gì bận tâm Hai: khi muốn ra làm công việc Nói cho cha mẹ biết sẽ làm Ăn tiêu sau trước một niềm Đắn đo cần kiệm giữ gìn chớ sai Chăm nhắc nhở con đòi, người ở Sáng dậy, mình chớ có sau ai Ba: khi cha mẹ ra tay Làm gì chớ điều này, tiếng kia Làm thay hết việc gì vất vả Bốn: là thường phải nhớ ơn sâu Mẹ cha sai bảo những điều Kính vâng làm trọn trước sau một niềm Năm: là phải theo liền cha mẹ Làm việc hay chớ kể gian lao Cha mẹ hơi bị yếu đau Chăm nom chạy chữa cho mau chớ chầy 19


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Em Thiện Sinh vâng lời cha mẹ Đấy mới đúng là lẽ làm con Mẹ cha nên giữ cho tròn Đêm năm việc xử với con sau này Điều xấu, bảo bỏ ngay là một Hai: gì hay dạy suốt gót đầu. Bạn bè lựa trước chọn sau Gần người khôn khéo giúp nhau thành tài Ba: thương nhớ không nguôi mộ tý Khuyên bảo con chăm chỉ học hành Bốn: con khi đã trưởng thành Lo toan gây dựng gia đình cho con Năm: của cải chẳng còn dấu diếm Có bao nhiêu giao đến tận tay Cha con ăn ở nhường này Thiện Sinh em tưởng còn hay nhường nào. THẦY TRÒ Thờ thầy cũng phải từng năm việc Một là: nên chí thiết ở gần Kính yêu hầu hạ chuyên cần Đợi thầy sai bảo chớ ngần ngại chi Hai: thầy dạy phải ghi nhớ lấy Phải dốc lòng sợ hãi kính yêu Ba: mình làm được bao nhiêu Việc nên làm phải cố đeo đuổi làm Bốn: chăm học hỏi han không chán Năm: học rồi kính mến thầy luôn Nhờ ơn đức chẳng hao mòn Dốc lòng khen ngợi chẳng còn chê bai Thầy cũng lại đem ngay năm việc Đối học trò nên hết đường chăm Một: đem đạo chính dạy răn Tháng ngày rèn cặp khong ngần ngại chi Dạy cốt sao cực kỳ chóng hiểu 20


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Hai: dạy cho không thiếu lý gì Hơi còn một chút hồ nghi Bảo cho từng tý từng ly chẳng nhằm Ba: dạy những câu lần thứ nhất Bốn: chỉ cho bạn rất hiền lành Năm là: điều biết của mình Không hề xẻn tiếc để dành dấu đi Mong học trò sau khi học tập Trí khôn còn hơn gấp mấy ta Trò thờ Thầy, chẳng khác cha Thầy coi trò đúng như là em yêu Cư xử đúng những điều vửa kể Còn là gì đạo nghĩa Thầy trò. VỢ CHỒNG Năm điều này vợ phải ghi Một là: khi lúc chồng đi đâu về Phải đứng dậy săm le chào hỏi Hai: vắng chồng sớm tối lo toan Việc nhà thu xếp gọn gàng Một lòng chờ đợi vẹn toàn trước sau Ba: lòng trinh giữ sao cho khỏi ố Bốn: lỗi lầm chồng có khuyên răn Phải nên vâng giữ ân cần Chớ nên rước giận cừu hờn như ai Có của gì chớ hai lòng dạ Giấu kín đi dùng cả một mình Năm: ăn nói phải phân minh Êm đềm hòa nhã kính thành thủy chung Phải thu xếp xong công việc đã Chồng nghỉ rồi mình sẽ đi ngơi Chồng theo năm việc chẳng rời Một: không hề có nửa lời nọ kia Hai: ăn uống đúng giờ đúng giấc Khỏi làm cho vợ bực buồn chi 21


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ba: là vợ muốn sắm gì Liệu nên theo sức cho tùy ý mua Bốn: có gì giao cho gìn giữ Năm: đừng lòng bướm lả ong lơi Để cho vợ phải ngậm ngùi Giữ sao trọn vẹn yên vui cửa nhà Gương Cương thường chẳng lòa không ố Nghĩa Tào khang chớ có đổi rời. ANH EM Anh em thân thích mọi người Cùng theo năm việc sau này là yên Một là: đã gây nên tội ác Phải khuyên nhau đổi khác hẳn đi Chớ lòng sằng bậy ngu si Hai là: ai mắc nạn gì cứu nhau Ba: ai có những điều gì kín đáo Chớ khoe khoang bàn kháo bô bô Bốn: là việc nhỏ điều to Không may xích mích nên cho là thường Cốt chỉ giữ lấy đường đi lại Đã thân nhau nên phải yêu nhau Năm: hai bên dẫu giàu nghèo Cùng nhau giúp đỡ kính yêu mới là Có của gì đem ra cùng hưởng Ngọt bùi chia cay đắng cùng chung Trong ngoài sau trước một lòng Giữ tròn năm việc thật không khó gì. CHỦ VỚI NGƯỜI LÀM Chủ với người làm kia tới ở Trước sau nên giữ đủ năm điều Một: sai làm việc ít nhiều Hỏi xem no ấm có điều hòa không Phải tùy sức chớ dùng nhiều quá Hai: bệnh thời nên chữa cho ngay 22


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ba: đừng đánh mắng hồ đồ Điều nên thứ cũng thứ cho một vài Tội quá lắm trị ngay chớ để Bốn: có gì đừng để xé xâu quanh Năm: cho gì phải công bình Chớ thiên vị để gây thành ghét ghen Những người làm xử nên với chủ Phải giữ sao cho đỏ năm điều Sớm hôm chớ để giục nhiều Việc làm chu đáo khỏi điều nọ kia Ba: của chủ chớ hề bỏ phí Của không cho một tý cũng đừng Bốn: gặp chủ chào mừng khen ngợi Năm: sau đừng có nói thị phi. TÍN ĐỒ VỚI THẦY TU Đối Thầy tu đạo đức kia Nên theo năm việc chớ hề đơn sai Một: nên lấy lòng ngay đối đãi Hai: tôn sùng chớ ngại điều chi Ba: chăm hỏi đạo để nghe Bốn: nghe xong giữ tu trì hôm nay Năm: xin bảo điều hay nghĩa khó Lý tham thiền, Tịnh độ cho nghe Nghe xong chăm chỉ tụ trì Các Thầy tu cũng giữ y năm điều Một dạy bảo chuyên theo đường chính Bố thí cùng Giới hạnh trang nghiêm Tâm Nhẫn nhục, sức tiến lên Một lòng yên lặng, Tuệ liền phát sinh Hai: Dạy biết tu hành phép tắc Chớ để làm tàn ác hung hăng Ba: nên dạy nói, làm bằng Chớ để làm ít nói hoang thiên đường Bốn: dạy biết cúng dường Tam bảo 23


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Thương muôn loài khổ não trầm luân Năm là: dạy bảo chuyên cần Cầu sanh Tịnh độ chớ ngần ngại chi Phép mầu nhiệm chưa hề nghe thấy Nay đều đem ra dạy bảo cho Ý cha em trước dặn dò Nay em giữ đúng cơ đồ mới nên Đó là phép Thánh Hiền lễ bái Nếu trái thời lễ bái uổng công Kệ này em cố ghi lòng Mẹ cha sinh vị phương Đông đó mà Nam Thầy bạn, Tây là chồng vợ Bắc họ hàng, người ở Hạ phương Thầy tu phương Thượng rõ ràng Đó là đủ cả sáu phương rành rành Nay em phải chí thành lễ bái Nên giữ gìn sớm tối chớ quên Theo gương các bậc Thánh Hiền Đời sau sẽ được sinh lên Thiên đường Gia ơn giúp mười phương muôn loại Phép này còn ở mãi thế gian Nếu em giữ được chu toàn Gây cơ nghiệp tựa dở bàn tay thôi Muốn được của đời đời thịnh vượng Phải có nghề chính đáng trong tay Cơ đồ hiện đã có đây Phải đem hết sức trong ngoài trông coi Muốn giao phó cho ai giúp đỡ Phải xét xem người đó ra sao Chớ nên theo lũ bào hao Cùng phường chó sói đi vào hầm ma Có thân phải liệu mà tu tỉnh Chăm chỉ làm việc chính chớ nguôi Muốn gây của để đời đời 24


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Như ong tìm mật chớ rời bỏ hoa Phải cần kiệm đừng xa xỉ lắm Phải thực thà buôn bán làm ăn Cúng dân Tam bảo ân cần Hiếu nhân giữ vững mười phân vẹn mười Ai theo đúng như lời đã nói Nước bể bao của tới bấy nhiêu Thiện Sinh nghe bấy nhiêu điều Tam Quy, Ngũ Giới thề theo đời đời Chàng tự đấy mừng vui khôn xiết Tính xấu đều bỏ hết sạch sanh Ngày đêm chăm chỉ học hành Cơ đồ giữ vững hiển vinh ai bằng. (1) (1) Kinh này có hai bản: 1/ Kinh Thiện Sinh 2/ Kinh Lễ sáu phương Nay xin theo cả hai bản mà dịch thành bản này. 3. TRUYỆN PHẬT ĐỘ ÔNG GIÀ Có một hôm Đức Thích Ca đang đi, trông thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, thân thể gầy gò chỉ còn tí da bọc xương, mặt mày nhăn nhó, quần áo tả tơi, lụ khụ chống cái gậy, chân đi lẩy bẩy, tay run quờ quạng, có lúc ngã siêu vẹo, coi rất tiều tụy. Phật thấy thế động lòng thương đến tận nơi mà hỏi rằng: Con cháu cửa nhà quê quán ông đâu mà lang thang khổ sở thế? Ông nghe xong liền òa lê khóc nức nở một hồi rồi nói rằng: Thưa Ngài tôi không ngờ đâu đến ngày nay tôi bị cơ cực đến nhường này. Nói đến đây ông gạt nước mắt hình như muốn nói nữa mà không nói ra được. Có điều chi uất ức cứ nói ta nghe, rồi ta sẽ tìm phương cứu giúp. Thưa Ngài, trước đây tôi chỉ có hai bàn tay trắng, chịu thương, chị khó, ăn sẻn để dành, dạn dầy mưa gió, dầm dã nắng sương, tốn không biết bao tâm lực, gây dựng thành cái cơ đồ kể có hàng triệu. Tôi hiếm hoi sinh được một đứa con trai, tôi hết sức chiều chuộng nuôi nấng nó, thật không khác chi viên ngọc trong tay, nó muốn sao tôi đều cho tùy ý cả. Khi nó lớn lên đến tuổi, tôi lấy cho nó một người vợ rất xinh tươi đẹp đẽ. Lo công việc cho nó xong, thì cơ nghiệp của tôi cũng sút mất một phần. Tôi cũng tưởng trẻ nhờ 25


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

cha, già nhờ con, cái cảnh của tôi lại cây có một cành, tôi nghĩ bây giờ mình già sức yếu, cũng chẳng ở đời bao ngày nữa, nên đem tất cả cơ nghiệp cũng là địa đồ văn tự giao phó cho nó cả. Than ôi! Ngờ đâu, nó được người được của, nó trở mặt ngay với tôi, sinh ra chơi bời lêu lỏng, giao du toàn với những bọn côn đồ, rủ rê nhau về ăn hoang phá hoại, hơi động nói đến là nó sinh ra hết chuyện này đến chuyện kia, nó coi vợ nó, bạn bè nó như Thánh, như Thần, nó dầy vò hắt hủi tôi, nó coi tôi như trâu, như ngựa, hễ nó trông thấy tôi hình như nó khổ sở lắm, nó cho tôi như cái gai ở trước mắt nó, nó chỉ muốn cho tôi khuất mặt, khuất mày đi cho rảnh, để nó tha hồ phung phí. Tôi nghĩ chết đi không được, đành phải cắn răng, nhắm mắt bước ra đi, đem thân trưởng giả làm thân ăm mày, tới đâu là nhà, ngã đâu là giường, gối đất nằm sương, cho qua ngày, đoạn tháng. Cái hạnh phúc của tôi bây giờ chỉ còn trông cậy vào cái “Gậy” này để đề phòng chó dữ, rắn độc, cũng là dò chỗ nông sâu, chống đi chờ hơi thở cuối cùng. Ông nói đến đây lại òa lên khóc. Phật nói: Ấy đấy, ở đời nó thường có những sự éo le như thế đấy. Song xét ra cũng tại ông một phần, ông chỉ biết sinh con ra rồi chiều chuộng con, không chịu dạy bảo nó đến nơi đến chốn, thậm chí đến nó chưa gánh vác nổi chuyện gia đình, đã giao phó cho nó, nó có biết đâu sự khó khăn làm ra của mà nó chả tiêu phí. Không những thế nó còn nhân sẵn của đó có khi còn làm cho nó khổ và nhiều người khổ lây vì nó nữa. Có phải tại ông vụng suy đó không? Chứ nếu trước kia ông biết cách dùng của cải của ông một phần ông nuôi nó cho nó học hành, và để dành gầy dựng cho nó. Còn một phần ông đem ra làm phúc duyên, giúp đỡ những người cùng khổ, thì nó đâu đến nông nỗi này. Ông nên biết rằng: cái của ở đời, trừ người có đủ phúc đức ra, quyết không ai giữ nổi, bởi vì có một tí của, mà có biết bao nhiêu người rình chực ở bên, như bị nước trôi, lửa cháy, vua quan lấy, giặc cướp lấy, con bất hiếu phá, tự nó hao mòn, buôn bán lỗ, cho họ vay không trả... Bất cứ lúc nào hễ có một thứ gì xâm phạm đến của là bị mất ngay không thể nào giữ cho toàn vẹn được. Và bây giờ ta dạy cho ông bài kệ này, ông cố học cho thuộc rồi đi đến đâu ông cũng đọc cho mọi người nghe, tự khắc con ông nó sẽ hồi tỉnh mà đón ông về, ông đừng ngại, ông đừng khóc nữa. Bấy giờ Phật dạy rằng: 26


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Sinh con ai chẳng sinh lòng, Có con ai chẳng vun trồng cho con, Chuốc người má phấn môi son, Nết na cẩn thận vừa dòn vừa xinh, Gây cho con nổi gia đình, Nào ngờ con lớn con khinh cha già, Bạc vàng tiền của đề đa, Ăn tiêu phung phí thực là sướng tay, Mắng cha, chửi mẹ đêm ngày, Mặt người dạ quỷ con nay bạc tình, Thân cha đã bị con khinh, Thôi thời bị gậy cho đành phận cha. Lần mò kẻ chợ lân la, Nằm cầu gối đất cho qua tháng ngày, Cha đi hành khất thế này, Hỏi con sung sướng có hay chăng là? Ông đọc thuộc rồi, hễ hơi đọc thuộc cho ai nghe cũng phải cảm động và ái ngại cho ông. Ai trông thấy con ông cũng xỉ vả. Quả nhiên, bị mỉa mai lắm đã không phải là loài gỗ đá, thì dù đến con vật cũng phải hồi đầu. Con ông tỉnh ngộ đón ông về, vợ chồng kêu van khóc lóc, thề xin hối cải, bỏ hết những tính xấu trước, một lòng hiếu thảo, chăm chỉ làm ăn, cần lao tiết kiệm, giữ gìn cơ nghiệp, gia đình lại trở nên đầm ấm, ngày càng hưng thịnh. Ai nghe biết chuyện này, cũng đều ca tụng nếu ông không gặp Phật thì có đâu được thế. Thế mới biết đạo Phật là một đạo cứu đời thật. CHƯƠNG THỨ SÁU SỬA ĐỔI TÍNH XẤU 1. ĐỔI LƯỜI Lười ơi ta ngán cho mày Sao mày bỏ hết việc hay ở đời Suốt quanh năm rồi lại ngủ Ngủ rồi ăn, ủ rũ suốt ngày Bơ phờ như dại như ngây 27


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Như tuồng phỗng đực không ai muốn nhìn Thân chẳng khác sứa sên dựa dẫm Vướng vào đâu thêm bận đấy thôi Không thì cũng lại ngồi rồi Mép mồm chẳng nhếch để ruồi nó bâu Mày thử nghĩ người đâu phải thế Nếu ươn hèn tất sẽ bị nguy Vì lười học hóa ngu si Ba đời sẽ bị lắm khi thiệt thòi Làm việc lười không người mượn đến Có tên mình ai đếm xỉa chi Dù giàu có cũng hết đi Tính mày không đổi, hàn vi đời đời Nay tỉnh lại đổi thời rất dễ Chuyên học hành tất sẽ thành công Ngày đêm khuya sớm một lòng Ra công gắng sức thật không khó gì 2. ĐUỔI DỐT CỦA MÌNH Dốt ơi ta bảo cho mày Vì mày nên nỗi tao đây ngu đần Suốt quanh năm chỉ ăn với mặc Ai hỏi gì cũng đực mặt ra Bơ phờ tháng chọn ngày qua Ra đường quên ngõ, về nhà quên sân Đụng việc gì chỉ thuần lóng ngóng Mó vào đâu thêm hỏng đấy thôi Ai trông thấy cũng chê cười Không tao thì thiếu, có thời lại dư Đành phải chịu ăn nhờ mặc gửi Dẫu người đời có chửi cũng cam Vì mày tao đã bao năm Cam tâm chịu khổ ngấm ngầm bấy nay Giờ tao quyết cùng mày ly biệt Đuổi cho cùng sạch hết mới thôi 28


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Vậy mày sớm liệu rút lui Bò kia nó đã đợi ngoài chuồng trâu Thôi có gì mau mau thu xếp Của mày, mày mang hết cả đi Cùng nhau nay đã xa lìa Đi rồi đừng có tưởng về chi đây Ta nay quyết đêm ngày học tập Lý sự đều hiểu khắp đầu đuôi Lòng như trăng tỏ giữa trời Soi đều thấy hết mọi nơi xa gần Tình trong sạch mẩy trần không vướng Hưởng đời đời sung sướng yên vui Tùy đem tài trí giúp đời. 3. BẠN GÁI THAN PHIỀN Nhục này nhục lắm chị em ơi Cha mẹ sinh ra cũng kiếp người Tai mắt chân tay đầy đủ cả Làm ăn khuya sớm thật không ngơi Chỉ vì mù chữ đời khinh rẻ Hóa bị nghèo văn chúng bỏ rơi Càng nghĩ càng đau càng tủi phận Nhục này nhục lắm chị em ơi. 4. TỰ HỎI MÌNH Tự hỏi mình nay đã mấy tuổi Có chỗ nào đáng tủi thẹn không Thử dương hai mắt ra trông Trông xem người trước bao công huy hoàng Nay mình được sẵn sàng ngồi hưởng Lòng hỏi lòng có sướng hay không Thật mình chưa mất mẩy lòng Hàng ngày hưởng thụ bao quanh của người Ăn, mặc, ở cùng nơi đi lại Tự có mình đời hại biết bao Xét mình xem có chỗ nào 29


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Lợi người, lợi vật được bao nhiêu rồi Đêm thanh vắng thử ngồi suy nghĩ Có công gì đáng kể hay chưa Hay toàn ăn gửi nằm nhờ Chết đi tuyệt tích, sống thừa mà thôi Nếu không biết hỏi biết bảo Rửa tai nghe rốt ráo đầu đuôi Muốn làm người ở trên đời Phải ra gánh vác như người hơn ta Chớ lần lữa cho qua ngày tháng Để đời người phỉ báng chê bai Dở hay, hay dở, dở hay Dở hay bao cũng Tâm này mà ra Phải mau tỉnh họa may còn kịp Đã chót nhầm nên kịp tỉnh ra Làm sao cho xứng mới là Đừng đem địa ngục làm nhà mai sau Chớ nhầm tưởng gặp sao hay vậy Làm bậy rồi che đậy là xong Nên chăng lòng tự hỏi lòng? 5. Tự Nghĩ Đêm thanh vắng vắt tay nằm nghĩ Ngẫm phận mình thua chị kém em Thấy người biết chữ mà thèm Bao nhiêu sách báo đều xem làu làu Hiểu thấu rõ năm châu mọi việc Tự xem mà biết hết cổ kim Khác nào cành giúp cho chim Càng bay cao lại càng nhìn thấy xa Ngẫm lại mình thật là đáng tủi Trước mặt trời trông tối như đêm Chữ đề hay dở cho xem Coi như bức vách nhọ nhem ở đời Bao sự lý người coi đều rõ 30


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Mình ngó vào như lũ sẩm kia Dẫu nhờ người đọc cho nghe Bị nhầm cũng lại theo đi đường nhầm Để đến nỗi thân tâm khốn khổ Thiệt thòi thường ứ cổ chịu thôi Rõ ràng tai mắt hẳn hoi Vì không biết chữ thành người ngu si Nay quyết chí theo đi học tập Chữ nghĩa đều hiểu khắp mới thôi Cố theo sao kịp bằng người

CHƯƠNG THỨ BẢY CƯ THÂN, XỬ THẾ 1. Sáng dạy Giấc nồng vừa tỉnh mới ra Đoái trông sự thế nghĩ mà ghê thay Dở hay, hay dở xóa bầy Tính sao khỏi phí ngày nay của mình 2. Học Tập Sông kia nước chảy đá mòn Người không học tập phỏng còn hiểu chi Vụng về, hèn hạ ngu si Ra đời thường bị lắm khi thiệt thòi 3. Học Hành 31


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Học là học biết để làm Học mà để đấy dù chăm cũng thừa Khoe khôn làm được ai ưa Nói sao làm thế đúng là vừa khôn 4. Đọc Sách Ngày ngày đọc sách một giờ Tất là kiến thức phải dư có ngày Đọc nên đọc những sách hay Chớ đọc sách nhảm thân này sẽ nguy 5. Giữ Thì Giờ Thì giờ là thước để đo Ai không giữ đúng sẽ cho thiệt thòi Bao công việc nhỡ hỏng rồi Lại còn mang tiếng người đời mỉa mai 6. Chớ Nghĩ Sai Trong khi ở có một mình Phải nên cẩn thận chớ sinh lòng tà Chớ nên nhầm tưởng nữa mà Kim kia trong giẻ lòi ra có ngày 7. Giữ Mình Kim đương cầm ở trong tay Nếu mà vô ý rơi ngay khó tìm Thân còn lớn gấp mấy kim Mất thời khôn dễ biết tìm đâu ra 8. Đời Người Đời người như thể bông hoa Giữ sao màu sắc mặn mà xinh tươi Hương thơm quả tốt hẳn hoi Nhân còn để mãi đời đời làm riêng 9. Tự Lượng Người khôn nên xét cho rành Tài mình, mình biết, phận mình, mình hay Đừng như đuôi rắn ngây ngô Tránh đi trước để bị thây tan tành 32


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

10. Chớ Phóng Túng Lòng người như khỉ trèo cây Nhảy hết cành này lại đến cành kia Nếu mà phóng túng lắm thì Tất là bị khổ, bị nguy có ngày 11. Liệu Mình Có thân sớm phải liệu mà Gian, lười, ngu dốt phải xa chớ gần Không thì bị khổ muôn phần Đất rộng khôn dễ đặt chân chốn nào 12. Giữ Giá Người khôn giữ giá thanh cao Lòng tà chẳng vướng ai nào dám chê Cõi trần tuy có đi về Xem trong bùn nọ chẳng hề nhiễm hôi 13. Cốt Ở Mình Sự đời hay dở dở hay Dở hay bao cũng tâm này mà ra Soi gương xem bóng của ta Nhân nào quả ấy thật là không sai 14. Bài Thứ Hai Gương trong soi bóng rõ ràng Trọn bề Tài, Đức thế gian tôn sùng Không thời có cũng như không Như gương bụi kín còn trông thấy gì 15. Ngu Si Ngu si là gốc não phiền Sinh ra bao sự đảo điên phát hèn Nay không nhổ sạch hết lên Tất còn bị khổ liên miên đời đời 16. Sửa Lòng Lòng người như ngựa không cương Ngày đêm khuya sớm vẫn thường chạy luôn Ai là người có trí khôn 33


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Giữ cho trọn vẹn lòng son chớ rời 17. Chớ Tham Cá kia chết vì tham mồi Chỉ vì chút mật nên ruồi uổng thân Muốn ăn quả phải trồng nhân Chớ nên ỷ lại hòng ăn của người 18. Cầu Lợi Muốn cầu được lợi vào mình Trước nên bở sạch sẽ thành lợi ngay Khúc nào củ chất tuy đầy Lửa không dập tắt có ngày ra tro 19. Chớ Nghĩ Sai Lòng người như vượn trên cành Luôn luôn nhảy nhót vòng quanh chẳng ngừng Nghĩ vơ nghĩ vẩn không chừng Muốn tránh khổ não thì đừng nghĩ sai 20. Chi Dùng Muốn ăn quả phải trồng cây Không dưng ai dễ cho ngay mà hòng Có thời nên nghĩ lúc không Chớ để khi hết mới mong giá còn 21. Lúc Ăn Xét trong một miếng ăn mày Bao công khó nhọc đắng cay của người Ăn dưng chẳng thích chi đời Nợ này khôn dễ ai người trả thay 22. Nói Một lời khi đã buôn ra Trăm nghìn ngựa tốt khó mà đuổi theo Nói không làm được ai yêu Chi bằng nói ít, làm nhiều là hơn 23. Cố gắng Làm người phải có công lao Ươn hèn, lười biếng ai nào biết chi 34


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Vụng về, hèn hạ, ngu si Khác nào cục thịt biết đi thêm phiền 24. Chăm chỉ Anh trông, chị cấy, em chăm Mưa hòa gió thuận bội phần tốt tươi Hoa khai quả kết hẳn hoi Cả nhà sung túc yên vui tháng ngày 25. Chớ Mơ Tưởng Dở hay suy xét cho cùng Muốn ăn quả tốt thì trồng thiện nhân Chớ nên theo lũ ngu đần Trèo cây, bắt cá phỏng ăn thua gì 26. Xử Thế Nước trong thì cá ít ngay Người mà riết quá dễ ai dám gần Người tám lạng, ta nửa cân Một vừa hai phải tình thân mới gần 27. Công Dân Nước là nước của toàn dân Ai ai đều cũng có phần ở trong Phải nên tạc dạ ghi lòng Giữ sao trọn vẹn non sông mới là 28. Giữ Lòng Tin Bán buôn, giao thiệp, chơi bời Nói lời phải giữ lấy lời chớ quên Trước sau, sau trước một niềm Sao cho ai nấy đều tin mới là 29. Nghe Người Nói Hai năm xét rõ lại mười Chớ nên vội chấp những lời điêu toa Thị phi đem nói với ta Chẳng qua người ấy cũng là thị phi 30. Chớ Tin Bề Ngoài Rắn kia có nọc ở mồm 35


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Hổ nanh, ngựa vó, ai còn dám đây Những phường nói khéo khoe hay Chớ nên tin vội mà rầy có khi 31. Chớ Kiện Cáo Ai hay kiện cáo nên coi Những nơi nước đục là nơi béo cò Việc dù bé xé ra to Kiện kia dẫu được, cơ đồ đã nghiêng 32. Bước Chân Ra Nghĩ mình hay bước chân ra Trăm đường nghìn mối biết đà theo đâu Phải nên suy nghĩ trước sau Tránh sao qua khỏi vực sâu hang hầm 33. Chọn Bạn Những người nói khéo nên xa Chớ nên vồ vập nữa mà ra chi Lúc yên ruồi nhặng thiếu gì Lâm nguy tìm được lũ kia khó lòng 34. Ra Đời Ra đời chớ ỷ lại người Khác nào mượn mũi thở thời khó thay Muốn cho lợi ích mình ngay Có nghề chính đáng trong tay sẽ thành 35. Chớ Lập Dị Phấn son tô điểm sơn hà Lợi chung điều đó lòng ta chớ rời Chớ quên ơn của mọi người Chớ làm trò rối cho đời mỉa mai 36. Nhớ Ơn Nước kia có tự ngọn nguồn Cây không gốc rễ phỏng còn ra cây Vì đâu thành được thân này Nếu quên ơn trước dù hay cũng thừa 37. Chớ Gần Người Bậy 36


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Nói sao giữ đúng như lời Lợi chung điều đó chớ rời lòng ta Những phường xảo quyệt điêu toa Mưu mô thâm độc nên xa chớ gần 38. Chớ Mê Tín Đi đâu nên xét cho tường Biết rõ phương hướng con đường ra sao Chớ nên theo lũ bào hao Đuổi dê nhiều lối ai nào có khen 39. Chớ Dùng Vàng Mã Ngán thay! Những sự dị đoan Phí tiền thêm nắm tro tàn rếch sân Mấy lời kính cáo bạn thân Tinh thần thực dụng ta cần khuyếch trương 40. Vợ Khuyên Chồng Chàng ơi thiếp nhủ cùng chàng Nước nhà đương lúc mở mang tinh thần Chúng ta đã nhận là dân Phải ra gánh vác một phần mới nên 41. Thuận Hòa Dạy con từ thuở còn thơ Dạy vợ từ thuở mới về làm dâu Vợ chồng hòa thuận cùng nhau Bể Đông tát cạn dễ hầu khó chi 42. Danh Thơm Gấu kia chết để lại bì Người hay dù chết danh kia vẫn còn Còn vì công đức vẹn tròn Đời đời cùng với nước non vững bền 43. Tối Đến Thời gian thấm thoắt ghê thay Bóng câu vùn vụt ngày nay qua rồi Cảnh đời đến thế thì thôi Ngày nay đã chót mai thời tính sao 37


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

CHƯƠNG THỨ TÁM NGỤ NGÔN 1. Hại Về Mặt Mê Tín Người ngu kia mới sinh con Muốn thêm con nữa hỏi luôn mọi người Có Lão bà đến chơi bảo khẽ Giết con đi làm lễ cúng trời Sau này sẽ đẻ gấp mười Nghe xong lập tức theo lời làm ngay Ai thấy cũng chê cười ngu dại Tin nhảm thành bị hại xót xa Ví người theo học đạo tà Đạo không thấy đạo, thân đà uổng thân 2. Ma Tranh Của Hai con quỷ nọ tranh nhau Hộp, cùng gậy, guốc, đều cầu lấy hai Tranh nhau mãi có người tới hỏi Của quý gì bây nói tao nghe Quỷ rằng “ hộp” rất dị kỳ Ngờ đâu nhà dột nước trôi mắt mù Chẳng khác kẻ vì ngu nên thảm Chấp những lời của đám tà gian 3. Lão Mưu Đa Kế Ngày xưa có một ông già Gặp con gấu chạy đuổi quanh gốc đề Nắm chân nó quặt về gốc nọ Thấy người qua nhờ hộ một tay Giết thời được thịt chia hai Người kia nhẹ dạ cầm ngay gấu rồi Sang tay xong, lão lùi rảo cẳng Để người kia ngậm đắng nuốt cay Khác nào tà đạo xưa nay Lập bao phương phép lừa người ngu si 4. Vụng Suy 38


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Vợ chồng chim ngói yêu nhau Cùng chung một tổ bấy lâu thuận hòa Gặp tiết đổi Đông qua Thu tới Gió heo may cây cối héo khô Quả trong tổ cũng rút co Chồng ngờ vợ lấy đem cho mất nhiều Vợ tỏ hết mọi điều thành thực Chồng không nghe lập tức giết đi Ít lâu Đông hết Xuân về Quả dần dần lại đúng y nguyên vẹn tuyền Nghĩ thương vợ dưới miền chín suối Chẳng khác người ngu muội xưa nay Quý ham vật dục chơi bời Làm càn sau mới hối thời được sao 5. Tham Nhỏ Bỏ Lớn Ngày xưa có mụ vú già Ẵm một cậu bé đi ra ngoài đường Đương chơi có người mang bánh lại Cho cậu kia cầm lấy mải ăn Người kia lột hết áo quần Cùng là vàng ngọc trong thân chẳng còn ( Mười chuyện trên đây là soạn giả trích trong quyển “ Phật học ngụ ngôn” trong đó có đủ 100 truyện. Đây là trích mấy truyện hợp trong cảnh gia đình. Vậy vị nào muốn xem toàn văn, xin xem “ Phật học ngụ ngôn” sẽ rõ, nhiều truyện rất lý thú tài tình cũng do soạn giả dịch). Dưới đây là những chuyện soạn giả gặp cảnh ngụ ý viết ra. 6. Lửa Với Cỏ Khô Cỏ khô với lửa nhìn nhau Cỏ chiêu tập hết bao nhiêu bạn bè Quyết cùng với lửa kia sống mái Thử tài xem thất bại cũng cam Họp nhau tám vạn bốn ngàn Lửa kia cũng chẳng hề bàn nói chi Co người bảo nên đề phòng trước 39


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Kẻo bấy giờ nhỡ nước đến chân Vượt qua tưởng cũng khó khăn Quả mà dịch chúng còn ăn thua gì Lửa rằng dẫu lũ kia ức triệu Một thân này chẳng chịu nửa ly Chất bằng cả núi Tu Di Một mồi đưa lại còn đi đằng trời Dẫu bao cũng ra đời tro hết Thân nửa đây bao kiếp vẫn còn Ví người đầy đủ trí khôn Thấy bao phiền não lòng son chẳng rời 7. Chó Giả Mạo Làm Sư Tử Chó cùng Lừa, Ngựa, Dê, Cừu Trâu, Bò, Hươu, Thỏ cùng nhau họp quần Ngờ đâu tính chó ngu đần Tiếng kêu ông ổng lại ăn bẩn thường Học đời lên bộ vênh vang Đội lốt Sư Tử chạy quàng khắp nơi Chúng đương trò chuyện đông vui Chợt trông thấy bóng rụng rời chân ra Sau nghe rõ hiểu tiếng là Đúng phường giả mạo chúng đà đuổi đi Một mình trơ trọi hàn vi Đem thân ngu daik giữ nghề nịnh thôi Gặp ai ngoe nguẩy vẫy đuôi Chờ ho há miệng mong người nhổ ra Chực đờm rãi của người ta Cùng đồ ô uế để mà độ thân Quanh đời ăn bẩn ngu đần Dối lừa xu nịnh là thân sống thừa 8. Giun Cá Gặp Nhau Trời muawa giun dưới đất lên Bị giòng nước cuốn trôi liền ra sông Cá trông thấy xúm đông lại hỏi 40


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Quê đâu mà tới mỏi mệt không Mắt chẳng có lấy gì trông Ra đây nước cả vẫy vùng được sao Tôi đâu dám ước ao vùng vẫy Đất đen thường nương cậy quanh năm Tháng ngày quen chịu tối tăm Lựa mình chui rúc kiếm ăn chỗ mềm Nay bị ngập ngoi lên mặt đất Muốn xem đời nhưng mắt lại không Phận hèn theo nước xuôi dòng Mắt mù ruột đất còn trông thấy gì Có rằng thế sống thời vô ích Sống ngu hèn chết quách cho xong Tôi đây mặc sức vẫy vùng Sông sâu bể rộng thỏa lòng ngược xuôi Mắt tỉnh táo suốt đời không nhắm Hội rồng mây hễ gặp là lên Khuyên anh mở mắt ra nhìn Trời cao đất rộng bốn bên bao loài Chớ mù quáng như ai đâu đó Thấy người hay chẳng ngó lại mình Bảo thời giả điếc làm thinh 9. Nhân Nào Quả Ấy Vợ chồng chàng nọ bàn nhau Mẹ cha khó tính sống lâu ích gì? Âu là đóng một cỗ xe Đem ra vứt giữa rừng kia cho rồi Bàn xong làm đúng như lời Chồng đun vợ kéo con thời theo sau Vất xong mừng rỡ cùng nhau Thằng con kia lại cúi đầu kéo xe Gia công gắng sức đem về Mẹ cha hỏi lấy xe kia làm gì? Rằng con xin để đến khi 41


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Mẹ cha già cả tức thì sẵn xe Lấy đấy mà suy. 10. Chuối Ngự Với Chuối Hột Chuối hột đứng bên cây chuối ngự Thấy người yêu hỏi thử gần xa Sao anh bé nhỏ thế mà Ai ai trông thấy cũng là mến yêu Tiếng đồn khắp trong Triều ngoài Nội Đâu đâu cũng đều khen ngợi tên anh Tôi cao lớn tựa cột đình Quả to như thể bò phềnh chết trương Mà đời vẫn coi thường xem rẻ Đối anh tôi thật bé vô cùng Ngự rằng anh tự hỏi lòng Mước ao bèo dẫu có trong nhạt phèo Nước đường nọ người yêu vì ngọt Bởi tôi đây chất ngọt mùi thơm Người yêu đâu phải người nhầm Xin anh sẽ tự vấn tâm của mình 11. Đê Với Nước Đê trông thấy nước vừa lên Đón ngang gặng hỏi căn duyên gót đầu Quê quán anh ở đâu đi lại Để tôi đây vẫn phải đề phòng Nước rằng tính ướt giá trong Nguồn kia là gốc xuôi dòng chảy ra Đi khắp cả gẫn xa moi chỗ Thấm nhuần cho cây nọ vật kia Nếu đâu ngăn cản đường đi Tràn qua phá vỡ không thì chảy quanh Cốt sao cho sinh linh mát mẻ Cây cối nhờ tôi sẽ được tốt tươi Miễn sao ích lợi cho đời Nên thường thường chảy chẳng ngơi lúc nào 42


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Đê lại hỏi anh sao to lớn Đê tôi đây thường khốn vì anh Mỗi khi anh phá tan tành Làm cho thiên hạ điêu linh thảm sầu Nước trả lời tôi đâu phải thế Nếu xưa nay cứ để mặc tôi Vào xong tôi lại rút lui Giúp thêm cho ít màu bồi tốt cây Nếu không, thời đê nay phải vững Để tôi đi ra thẳng bể khơi Làm cho bể rộng sông dài Thân tâm tự tại tháng ngày yên vui Quyết chẳng chịu lùi. Sa Môn Trí Hải. Sách ấn tống ( không được bán) Nơi xuất bản: Học Viện Phật Giáo

Bác sĩ: TÂM MINH LÊ ĐÌNH THÁM

PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC Thiện Nam Tử 43


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Trong các thứ cúng dường PHÁP CÚNG DƯỜNG LÀ HƠN HẾT * Pháp cúng dường là:  Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường  Làm lợi ích cho chúng sanh để cúng dường  Chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường  Nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường  Không bỏ hạnh Bồ tát để cúng dường KINH HOA NGHIÊM

 Đừng vội tin tưởng một điều gì vì thường nghe nhắc nhở đến điều ấy luôn.  Đừng vội tin tưởng một điều gì vì đó là một tục đã qua rồi của ngàn xưa để lại.  Đừng tin tưởng những điều sáo ngữ hay bất cứ một điều gì mà người ta thường nói đến nhiều quá.  Đừng tin tưởng bất cứ điều gì, vì cho đó là bút của thánh nhân xưa để lại bảo ta tin điều ấy.  Đừng tin tưởng điều gì dù điều ấy được những ý kiến thiên vị bênh vực hay một tập tục lâu đời khiến ta tin theo đó là thật.  Đừng tin tưởng bất cứ điều gì dù điều ấy ở dưới mãnh lực cả ông thầy hay nhà truyền đạo. Tất cả những sự thật, theo kinh nghiệm riêng của người và sau khi xác nhận rõ ràng phù hợp với lẽ phải tạo thành hạnh phúc cho người và hạnh phúc cho tất cả mọi loài, thì đó chính là sự thật và người cố gắng sống theo sự thật ấy. KINH KALAMA TIẾU SỬ ĐẠO HỮU TÂM MINH LÊ ĐÌNH THÁM Đạo hữu LÊ ĐÌNH THÁM pháp danh TÂM MINH tự CHÂU HẢI chánh quán làng Đông Mỹ ( Phú Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh 44


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Quảng Nam, là thứ nam của cụ Đông Các Điện đại học sĩ sung chức Binh bộ Thượng thư Lê Đỉnh ( Triều Tự Đức) và cụ kế thất Phan Thị Hiệu sinh năm 1897 ( Đinh Dậu) tại Quảng Nam: Lúc nhỏ theo Nho học, thụ huấn trực tiếp với cụ Thượng thân sinh ở nhà, cùng với bào huynh là Đông Dương Y sĩ Lê Đình Dương, tuy tuổi còn non, song cả hai đều thông đạt kinh sách, văn bài thi phú đều làm được, nhất là đạo hữu có biệt tài ứng đối nhanh, nổi tiếng thần đồng và là một danh kỳ hữu hạn tại quê nhà. Lớn lên theo tân học. Thông minh xuất chúng, được thầy yêu bạn mến, luôn luôn dẫn đầu lớp và chiếm đoạt khôi thủ trong tất cả các kỳ thi từ cấp tiểu học đến Đại học. Đạo hữu tốt nghiệp Thủ khoa Đông Dương Y Sĩ khóa năm 1916 tại trường Cao Đẳng Y khoa Đông Dương Hà Nội, và Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp quốc khóa năm 1930 tại y khoa Đại học đường Hà Nội: Ra trường nhằm lúc phong trào Vua DUY TÂN KHỞI NGHĨA thất bại, bào huynh là Đông Dương Y sĩ Lê Đình Dương bị bắt, đày lên Ban Mê Thuột, đạo hữu bị nhà cầm quyền thực dân Pháp tình nghi theo dõi, nên trong suốt thời gian phục vụ tại các bệnh viện Bình Thuận, Sông Cầu, Qui Nhơn, Tuy Hòa (1916-1923) ngoài công tác chuyên môn, Đạo Hữu chỉ lo học hỏi và nghiên cứu thêm về Nho, Y, Lý, Số; Năm 1926, phụ trách Y sĩ điều trị tại bệnh viện Hội An, trong một dịp viếng chùa Tam Thai ( Ngũ Hành Sơn). Được đọc bài kệ sau đây, ghi trên vách chùa, mà đạo hữu chú ý đến Phật giáo: “ Bồ Đề bổn vô thọ Minh cảnh diệc phi đài Bổn lai vô nhất vật Hà xứ nhạ trần ai”. Tiếp đó, được tin nhà Cách mạng Phan Châu Trinh từ trần tại Sài Gòn. Đạo hữu cùng một số Thân Hào Nhân Sĩ và công chức trí thức Quảng Nam tổ chức lễ truy điệu trọng thể và cùng thọ tang cụ Phan. Một tháng sau, Đạo hữu được khẩu lệnh đổi đi Hà Tĩnh. Năm 1928, được thuyên chuyển về Huế, làm Y sĩ trưởng tại Viện Bào chế và Vi trùng học PASTEUR, cộng tác với bác sĩ NORMET. Giám đốc y

45


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

tế Trung phần, phát minh ra SÉRUMNORMET, được Y giới Pháp Việt đương thời rất trọng vọng. Cũng năm ấy, Đạo hữu lên chùa TRÚC LÂM thỉnh giáo Hòa Thượng Giác Tiên về thâm nghĩa bài kệ chùa TAM THAI rồi phát tâm cùng Thượng tọa THÍCH MẬT KHẾ nghiên cứu giác lý, học hỏi kinh điển, tụng kinh niệm Phật và phát nguyện trường trai, làm lễ Quy Y, thọ Ưu Bà Tắc Giới, có pháp danh TÂM MINH từ đó. Năm 1929-1932, sau hai năm liền thọ giáo với Hòa Thượng Phước Huệ (Hòa Thượng chùa Thập Tháp Bình Định), đồng thời chịu ảnh hưởng cuộc Trùng Hưng Phật Giáo Trung Hoa của ngài THÁI HƯ PHÁP SƯ qua sách báo HẢI TRIỀU ÂM, Đạo hữu vâng lời Chư Đại Lão Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, GIÁC TIÊN, GIÁC NHIÊN, TỊNH HẠNH, TỊNH KHIẾT, đứng ra triệu tập 18 vị đồng lữ thảo điều lệ xin thành lập HỘI AN NAM PHẬT HỌC, đặt trụ sở đầu tiên tại chùa TRÚC LÂM, do đạo hữu làm hội trưởng, dưới sự chứng minh sáng lập của quý vị Hòa Thượng nói trên và đạo hữu bắt đầu thuyết pháp tại chùa TỪ QUANG, giảng giải kinh luận tại tư thất cho một số tín hữu nhiệt tâm cầu đạo ( quí Hòa Thượng GIẢI NGẠN, Sư bà DIỆU KHÔNG, thượng tọa MINH CHÂU, lúc chưa xuất gia, đều được nối tiếp đào tạo trong những khóa giảng này); Năm 1933, phụ trách Y sĩ giám đốc Bệnh viện Bài Lao Huế. Đạo hữu là một danh Y uy tín nhất tại Đế đô. Về phận sự, đạo hữu:  Khởi công trùng tu Tô Dinh TƯ ĐÀM làm trụ sở Trung ương của hội.  Cử hành Đại Lễ Phật Đản ( mồng tám tháng tư Âm lịch) đầu tiên vô cùng trọng thể tại chùa DIỆU ĐẾ, gây ảnh hưởng lớn lao trong mọi giới.  Chủ trương xuất bản NGUYỆT SAN VIÊN ÂM, cơ quan ngôn luận và truyền bá Giáo lý của Hôi do đạo hữu làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.  Thiết lập cơ sở đào tạo Tăng-Tài: Cấp Trung, Tiểu học tại chùa BẢO QUỐC do Hòa Thượng TRÍ ĐỘ làm Đốc Giáo ( quý Hòa Thượng THIỆN HÒA- THIỆN HOA, thượng tọa THIỆN SIÊU, TRÍ QUANG, THIỆN MINH, TRÍ TỊNH, NHẬT LIÊN...đều xuất thân tại trường này). Cấp Đại học tổ chức tại chùa Tây Thiên do chính đạo hữu phụ trách giảng diễn về Luận Học và Triết Lý Đông Tây, ( quý Hòa Thượng

46


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể... đều xuất thân từ trường này).  Xúc tiến thành lập các Tỉnh Hội, Chi Hội, Không Hội khắp nơi tại Trung Phần, mở đầu là Tỉnh Hội THỪA THIÊN, ĐÀ NẴNG, QUẢNG NAM... Năm 1934, tuy việc chuyên môn, việc Hội, việc Báo chí, việc Phật Học Viện rất bề bộn nhưng đạo hữu không lúc nào xao lãng sự học, sự tu và sở trường của đạo hữu là giảng diễn Phật Pháp một cách sáng sủa, hợp cơ mà đạo hữu đã áp dụng, một số đông đồng học, cựu học cũng như Tân học, bình dân cũng như trí thức, đã hiểu đạo Phật rất mau chóng và đúng đắn. Đạo hữu thật xứng đáng là một vị Pháp Sư Cư Sĩ vừa Tông thông, vừa Thuyết thông, khéo đưa Phật Pháp ra giữa ánh sáng như đưa viên ngọc quí ra khỏi những thế lực vô minh vùi lấp. Mùa đông năm 1934, Hòa Thượng GIÁC TIÊN viên tịch, ý thức trách nhiệm hoằng dương Chánh pháp và duy trì sinh hoạt Giáo Hội nên trong lời ai điếu Hòa Thượng Bổn Sư, đạo hữu đã phát nguyện dõng mãnh như sau: “ Kiến tướng nguyên vọng, kiến tánh nguyên chơn, viên giác diệu tâm minh hữu ngã. Chúc pháp linh truyền, chúc sanh linh độ, thừa đương di huấn khởi vô nhân” Tạm dịch: Tướng các pháp tuy vọng, tánh các Pháp vốn chơn, Hòa Thượng đâu có mất, còn; Chánh, Pháp, cần phải truyền, chúng sanh cần phải độ, lời di huấn đó, con nguyện xin gánh vác” Năm 1935, để thích ứng với nhu cầu phát triển của Hội, bản điều lệ của Hội được tu chỉnh qua quyêt nghị của Đại Hội đồng: một ban Tổng Trị Sự được thiết lập tại Huế trực tiếp điều hành các Tỉnh Hội và năm nào đạo hữu cũng được tín nhiệm công cử vào chức vụ Hội Trưởng hoặc cố vấn để điều hành Phật sự chung. Mùa thu năm này, Đạo hữu dời nhà từ bệnh viện lên ở số 31 đường Nguyễn Hoàng ( đốc Bến Ngự), tiếp tục giảng kinh, viết báo qui tụ một số thanh niên Phật tử trí thức thành lập ĐOÀN THANH NIÊN PHẬT HỌC ĐỨC DỤC, sáng lập GIA ĐÌNH PHẬT HÓA PHỔ ( tiền thân của GIA ĐÌNH PHẬT TỬ ngày nay) nhằm duy trì đạo đức, xây dựng chánh tín cho đàn hậu thế. 47


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ngoài ra, theo gương Phật Giáo Trung Hoa, qua nhiều năm nghiên cứu kế hoạch và vận động phương tiện, quyết tâm xây dựng nền móng vĩnh cửu cho cơ sở đào tạo Tăng tài, năm 1944. Đạo hữu sắp xếp di chuyển các Phật Học Viện lên thiết trí tại Kinh Sơn thành lập TÒNG LÂM KIM SƠN ( Huế), nhưng thời cuộc không cho phép công tác đành phải tạm ngưng sau hai năm hoạt động. Nhờ công đức của đạo hữu vừa tài thí vừa pháp thí, chủ trương và duy trì mà Hội AN NAM PHẬT HỌC, NGUYỆT SAN VIÊN ÂM và PHẬT HỌC VIỆN đã vượt khỏi mọi thăng trầm vất vả, mọi chướng ngại thế gian, gây một thanh thế lớn giữa trào lưu PHỤC HƯNG PHẬT PHÁP, PHỤC HƯNG DÂN TỘC, kích động PHẬT GIÁO NAM BẮC, đưa PHẬT GIÁO nước nhà từ chỗ quên lãng đến địa vị ngày nay. Năm 1945 sau cuộc đảo chính Nhật, được chính phủ TRẦN TRỌNG KIM mời giữ chức vụ Giám đốc Y Tế Trung Phần kiêm giám đốc bệnh viện Huế; Mùa đông năm 1946, chiến cuộc bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, đạo hữu cùng gia đình cũng tản cư về nguyên quán Quảng Nam, tham gia kháng chiến chống Pháp; Năm 1947-1949, làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền Nam Trung Bộ tại liên khu 5 và tập hợp một số cựu đoàn viên Thanh niên Phật Học Đức Dục, cựu huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, cựu hội viên hội Phật Học cùng những phần tử trí thức kháng chiến thành lập PHONG TRÀO PHẬT GIÁO VÀ DÂN CHỦ MỚI do chính đạo hữu chủ trì và hướng dẫn nghiên cứu, so sánh giữa giáo lý nhà Phật với chủ thuyết Mác-Lê tại Bồng Sơn ( Bình Định); Mùa hạ năm 1949, được điện mời ra Bắc đề bạt làm Chủ Tịch Phong Trào Vận Động Hòa Bình Thế Giới, mặc dù tình thế đảo điên, nhân tâm điên đảo, nhưng đạo hữu vẫn an nhiên diễn giảng, phiên dịch Phật pháp. Cuối cùng trọn bộ KINH THỦ LĂNG NGHIÊM được dịch và xuất bản vào mùa xuân năm Tân Sửu (1961) tại chùa Quán Sứ ( Hà Nội), và từ trần ngày 2304-1969 ( tức ngày mồng bảy tháng ba năm Kỷ Dậu) tại Hà Nội. Thọ 73 tuổi. Mùa Vu Lan. 2517 48


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

GIA ĐÌNH TÂM MINH Lời tác giả Chư phật theo căn cơ của chúng sanh mà thuyết pháp. Căn cơ của chúng sanh có sai khác, nên chư Pháp của Phật cũng có sai khác. Đối với những người chỉ mong muốn hưởng phúc thế gian, trong cõi người hoặc trên các cõi trời,thì Phật dạy về Nhân thừa và Thiên thừa. đối với những người mong cầu chóng được giải thoát khỏi sự sống chết, thì Phật dạy về ThanhVăn thừa hoặc Duyên Giác thừa. Riêng đối với những người có lòng từ bi rộng lớn, mong muốn độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo, thì Phật dạy về Bồ tát thừa, tức là Đại thừa. Nhưng mặc dầu theo căn cơ, Phật dạy những pháp môn thích hợp, Phật cũng không rời bản nguyện, muốn cho tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo, nên cả những phép Nhân thừa, Thiên thừa của đạo Phật, cũng rất khác với lối tu của ngoại đạo và đều là một bước trên con đường tu hành, đi đến quả Phật. Sự khác nhau giữa năm thừa là ở các thừa dưới, Phật phát triển nhiều những đạo lý thông thường và chỉ nói lược về những đạo lý cao sâu. Ngược lại, ở các thừa trên, Phật phát triển nhiều những đạo lý cao sâu và chỉ nói lược về những đạo lý thông thường. Vì thế, những người có căn cơ Đại thừa, cũng có thể tu hành theo Nhân thừa, Thiên thừa, đi sâu vào những đạo lý vi diệu của các thừa ấy và chứng được những quả vị Tam hiền Thập thánh của Bồ tát thừa, ví dụ thọ phép Tam quy và nhất tâm quy y tự tính Tam Bảo, hoặc tu phép thập thiện mà đoạn trừ si mê đến cỗi gốc, thì vẫn có thể “ minh tâm kiến tánh”. Ngược lại, cũng có người tu học Bồ tát thừa, nhưng căn cơ quá thấp kém thì cuối cùng cũng chỉ được những quả nhân thừa mà thôi. Lại có những vị tu học Bồ Tát thừa, nhưng cứ hiểu chữ nào nghĩa nấy, không đi sâu vào Đệ nhất nghĩa đế, thì cũng chỉ chứng được những quả vị Thanh văn, vì chính hai chữ Thanh văn cũng có nghĩa là “ nghe tiếng nói chứ không nghe đạo lý”. Lại cũng có vị tu tập theo đạo lý “ Pháp giới trùng trùng duyên khởi” mà chỉ chứng được những quả vị của Duyên giác thừa, vì quá thiên về tự giác, mà không phát được đại nguyện giác tha rộng lớn.

49


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Xét như vậy thì rõ việc chia ra năm thừa chỉ là phương tiện, chứ không phải có ranh giới nhất định, giữa thừa này và thừa khác. Huống nữa, việc học hỏi chu đáo Nhân thừa và Thiên thừa, cũng là cơ sở để hiểu rõ đạo lý các thừa trên, thì càng nhận xét biết Nhân, Thiên thừa cũng là một bước, trên con đường viên thành Phật đạo. Xét như vậy thì rõ việc chia ra năm thừa chỉ là phương tiện, chứ không phải có ranh giới nhất định, giữa thừa này và thừa khác. Huống nữa, việc học hỏi chu đáo Nhân thừa và Thiên thừa, cũng là cơ sở để hiểu rõ đạo lý các thừa trên, thì càng nhận biết Nhân, Thiên thừa cũng là một bước, trên cn đường viên thành Phật đạo. Viết ra các bài “ PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC” này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật Pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi. Các bạn sẽ thấy Phật pháp là một giáo lý hoàn chỉnh, đi từ chỗ thấp đến chỗ cao, và nếu chưa hiểu rõ về Nhân thừa, Thiên thừa thì cũng khó lòng hiểu được những đạo lý cao xa của các thừa trên. Chúng tôi đặc biệt chú ý các bài Nhân quả và nghiệp báo, vì các bạn khó tìm những đoạn tổng hợp đầy đủ những đạo lý này trong các kinh điển. Chúng tôi trông mong sự giới thiệu sơ lược đạo lý của Phật trong các bài “PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC” sẽ giúp đỡ các bạn sơ cơ học hiểu dễ dàng hơn Tam tạng kinh điển của Phật giáo, làm cho chúng tôi được dịp báo ơn Tam Bảo trong muôn một. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Viết xong tại chủa Quảng Bá, Hà Nội Ngày 18 tháng 10 năm 1965 Tâm Minh LÊ ĐÌNH THÁM

NHÂN QUẢ Trong thực tế, không có sự vật nào tự nhiên sinh và sự vật nào cũng cần có đủ diều kiện mới sinh được, điều kiện ấy là Nhân và sự vật sinh ra là quả. Muốn có 50


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

cơm thì phải có gạo, có nước, có nồi nấu cơm, có bếp lửa, có than củi và có những dụng cụ nhen lửa, phải có nhân công nhóm bếp, nhen lửa, nấu cho nước sôi, và nấu cơm theo đúng kỹ thuật thì mới ngon cơm. Nếu chỉ có một mình gạo hay một mình nước, nếu không có nhân công nấu cơm thì không thành cơm được. Tất cả những gạo, nước, nồi, bếp, than củi và nhân công đều là điều kiện cần thiết để sinh ra cơm, những điều kiện ấy, là những nguyên nhân kết hợp sinh ra cái quả là cơm. Theo kinh nghiệm hàng ngày, xét biết những điều kiện gì, sinh ra những kết quả như thế nào, người ta đạt được một số kết quả theo ý muốn, như muốn lúa tốt thì phải bón phân, muốn khỏi rét thì phải mặc áo ấm, v.v... Người ta càng học hỏi, nhận xét, tìm hiểu nhân quả rõ ràng bao nhiêu, thì càng có thể tạo được những sự vật cần thiết cho đời sống bấy nhiêu. Người ta càng nghiên cứu nhân quả của một sự vật tỷ mỷ bao nhiêu, thì càng đạt được kết quả mỹ mãn bấy nhiêu. Như trong việc nấu cơm, người có nhiều kinh nghiệm thì tùy ý muốn nấu cơm thế nào cũng được, ngược lại, người ít kinh nghiệm thì có khi muốn nấu cơm khô, thành cơm nhão v.v... Song xét nhân quả như thế nào, cũng chỉ là xét những nhân quả trực tiếp nhất mà thôi, nếu nghiên cứu rộng ra, đến nguyên nhân của gạo, của nước, của nồi, của lửa v.v... rồi nghiên cứu rộng ra nữa, đến những nguyên nhân của các nguyên nhân ấy, thì có thể hiểu sâu hơn về đạo lý nhân quả, đi đến bản tính trùng trùng duyên khởi cảu tất cả sự vật. Như thế, đạo lý nhân quả không phải đơn giản. như nhiêu người nghĩ, ngược lại, đạo lý ấy là cơ sở của đạo lý Phật giáo, bao trùm cả nhân quả của thân thể, của tự tâm, của hoàn cảnh, bao trùm cả các pháp thế gian và xuất thế gian. Như muốn thân thể được khỏe mạnh, thì cần giữ vệ sinh và tập thể dục, muốn tâm hiền lành, thì cần phải hàng ngày suy nghĩ đến lợi ích của người khác, muốn cho nhân dân trong một nước được hạnh phúc, thì cần phải cần kiệm xây dựng nước nhà. Về thế gian, thì nhân quả là những nghiệp báo trong đường luân hồi, về xuất thế gian, thì phải tu đạo giải thoát, mới được giải thoát, phải tu các hạnh: từ, bi, hỉ, xả, phổ độ chúng sinh, thì mới thành Phật đạo. Vì phạm vi nhân quả rất rộng, nên trong đạo Phật có nhiều cách phân tích nhân quả khác nhau, do đặc biệt chú ý về phương diện này hay phương diện khác. Như về nhân, thì phải có chỗ chỉ chia làm hai thứ là sinh nhân và liễu nhân. Sinh nhân là những nguyên nhân phát sinh ra sự vật. Liễu nhân là những nguyên nhân phát hiện ra sự vật. Ví dụ: Do những điều kiện địa chất phức tạp trong lòng đất , ở một nơi nào đó, có dầu hỏa tích tụ lại thành mỏ, đó là sinh ra nhân, nhưng 51


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

cứ để ý nguyên nhân dầu mỏ dưới đất, thì nó không có tác dụng gì đáng kể. Chỉ khi nào các nhà địa chất tìm tòi, thăm dò, phát hiện ra mỏ dầu, thì người ta mới biết ở nơi ấy có dầu mỏ thật, đó là liễu nhân. Rồi nhờ phát hiện ra dầu mỏ như thế, người ta mới có thể khai thác mỏ dầu và sử dụng dầu hỏa giúp ích hàng ngày cho đời sống con người. Như thế, tuy liễu nhân không sinh ra sự vật, nhưng nó có tác dụng quan trọng là phát hiện ra những sự vật sẵn có. Theo đạo Phật, từ một hạt bụi nhỏ, cho đến tự tâm con người, tất cả đều có pháp giới tính. Tự tâm sẵn có pháp giới tính, nhưng nếu không tu học Phật pháp, phát hiện ra pháp giới tính của tự tâm, thì vẫn phải sống rồi chết, chết rồi sống, mãi mãi trong đường luân hồi. Ngược lại, khi đã phát hiện ra pháp giới tính, phát huy hiệu dụng pháp giới tính mà hóa độ quần sanh, thì sẽ đầy đủ công đức mà thành Phật đạo. Nhận rõ điểm này thì biết, việc tu học Phật pháp, chỉ là liễu nhân phát hiện ra pháp giới tính sẵn có, chứ không phải là sinh nhân, sinh ra pháp giới tính. Có chỗ thì phân tích các nhân làm ba thứ là sinh nhân, tập nhân, y nhân. Sinh nhân là những nguyên nhân cần thiết để phát sinh ra sự vật như gạo, nước, lửa v.v... có thể phát sinh ra cơm. Nhưng nếu gạo một nơi, nước một nơi, thì không thể nào thành cơm được, cần tập hợp các nguyên nhân đó lại, làm cho tác động lẫn nhau, thì mới có cơm, đó là tập nhân. Lại còn phải tập hợp nguyên nhân đó, trong hoàn cảnh nhất định, thì lửa mới đỏ, nước mới sôi, cơm mới chín, điều kiện hoàn cảnh này là y nhân. Phân tích tỷ mỷ hơn, có thể còn chia ra làm năm nhân, sau nhân, mười nhân v.v... Về duyên và quả, sự phân tích cũng có những chỗ khác nhau như thế. Để chiết chung cho dễ hiểu, đồng thời cũng có thể áp dụng cho tất cả các trường hợp này, chi phân tích các nhân làm bốn thứ là câu hữu nhân, đẳng lưu nhân, tăng thượng nhân, và di thục nhân. a) Câu hữu nhân Cau hữu nhân là những nhân cùng có một lần, kết hợp với nhau, để sinh ra quả. Nếu các nhân không kết hợp với nhau, thì tất nhiên không sinh được quả, mà đã không sinh được quả, thì nhân cũng không thành nhân nữa. Tất cả sự vaatj đều không thể tự sinh, vì trước khi sinh ra, chính mình đã không có, làm sao mà tự sinh được. Đạo lý này bác bỏ những thuyết cho rằng có ông tạo hóa hoặc có tính hỗn độn tự nhiên sinh ra, không cần có nguyên nhân gì. Đạo lý này, ngược lại, không chống với phấp giới tính, vì pháp giới tính chỉ là cái

52


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

tính trung trùng duyên khởi của sự vật, luôn luôn hiện có trong sự vật, như tính nóng của lửa, chứ không phải có trước sự vật, mà cũng không phải ở ngoài sự vật. Một sự vật cũng không thể do cái khác sinh ra, vì đối với mình, mới có cái khác, khi mình chưa có, thì cái khác với mình cũng không thành, làm sao, lại có cái khác sinh ra mình được. Đạo lý này, chỉ rõ nhân với quả đối đãi với nhau mà có, chứ không phải riêng mình tự có, và chính nơi cái quả, mới nhận được các nguyên nhân sinh ra nó, ảnh hưởng các nguyên nhân đó, vẫn tồn tại trong quả, và khi ảnh hưởng đó hết tồn tại, thì cái quả cũng bị diệt vong. Vì thế, nên nhân và quả tuy không phải đồng nhau, nhưng cũng không khác hẳn nhau được. Lại, các sự vật không phải không có nhân mà tự nhiên sinh ra. Những nhân sinh ra một vật, luôn luôn là số nhiều. Một nhân không thể sinh ra được quả, vì nếu một sự vật không chịu ảnh hưởng của một sự vật khác, thì không thay đổi, mà đã không thay đổi, thì trước sau vẫn như nhau, không sinh được gì. Đạo lý này bác cái thuyết tạo hóa, một mình sinh ra các sự vật. Muốn phát sinh ra một sự vật, cần phải có nhiều nhân cùng có một lần, kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau, rồi mới sinh được. Ví dụ như cái bàn bằng gỗ, gỗ là nguyên liệu cần thiết, nhưng cứ để gỗ y nguyên như thế, thì gỗ không thành bàn được. Cần phải có nhân công, có dụng cụ, cưa, xẻ, bào, ráp v.v... rồi mới thành cái bàn. Chính nơi kết quả là cái bàn gỗ, chúng ta có thể nhận được tác dụng của các nguyên nhân, như thứ gỗ gì làm ra bàn, dụng cụ gì đã tác động đến gỗ và sự khéo vụng của ông thợ đã sử dụng các dụng cụ ấy, để tạo thành cái bàn. Nếu chỉ có gỗ, chỉ có dụng cụ hay chỉ có nhân công thì không thể tạo thành cái bàn được. Các nhân: gỗ, dụng cụ, nhân công, cùng có một lần, kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành ra kết quả là cái bàn, thì gọi là câu hữu nhân. b) Đẳng lưu nhân Lại muốn cho có quả, các nhân cần phải liên tục kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian nhất định, vì nếu chỉ cưa xẻ mà không bào không ráp, thì cũng không thành cái bàn được. Tác dụng của mỗi nhân lại còn phải tiếp tục tồn tại nơi cái quả, thì cái quả mới khỏi diệt vong, vì nếu gỗ bị mục nát hoặc những bộ phận ráp thành cái bàn rã rời mỗi nơi mỗi cái, thì cũng không thành cái bàn được. Sự tiếp tục tồn tại của các nhân, cũng là nguyên nhân tạo thành ra quả, đó là đẳng lưu nhân c) Tăng thượng nhân 53


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ngoài những câu hữu nhân, đẳng lưu nhân, lại còn có những nhân, tuy không phải là tối cần thiết, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của quả, đó là tăng thượng nhân. Ví dụ như có hạt thóc, có nhân công gieo xuống đất, có nước, có ánh sáng mặt trời v.v... thì cây lúa có thể mọc lên và thành bông lúa với một số hạt nhất định. Nhưng nếu cày bừa kỹ, tưới nước đủ, làm cỏ tốt, bón phân nhiều, thì bông lúa sẽ có nhiều hạt hơn, việc cày bừa kỹ, tưới nước đủ, làm cỏ tốt, bón phân nhiều là tăng thượng nhân tốt của bông lúa... Ngược lại, cũng có những tăng thượng nhân xấu như bão lụt, úng v.v... làm cho kết quả của sự trồng lúa kém đi hoặc mất hẳn. Vì thế, muốn có kết quả mỹ mãn, cần phải tăng cường những tăng thượng nhân tốt và chống lại những tăng thượng nhân xấu. d) Dị thục nhân Các nhân trên kia, cái thì có trước, cái thì có sau, cái thì tiếp tục tronng một thời gian dài, cái thì tiếp tục trong một thời gian ngắn, nhưng cũng có tác động kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau để tạo thành cái quả, có phần khác với các nhân trước kia. Sự kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian dài và cuối cùng tạo thành kết quả, đó là tác dụng của dị thục nhân. Dị thục có ba nghĩa là: khác thời gian mà thành thục, khác phẩm loại mà thành thục và biến ra khác mà thành thục. Khác thời gian, là như trồng lúa ba bốn tháng trước, rồi mới gặt lúa. Khác phẩm loại, là như do nhân công, cày bừa, gieo cấy mà hạt lúa thành ra cây lúa, rồi cây lúa lại sinh ra bông lúa. Biến ra khác mà thành thục, là như các thứ phân bón, không phải là thóc, nhưng lại biến ra thóc. Tất cả các nhân đó kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian nhất định, rồi mới có tác dụng tạo thành kết quả mong muốn, nên gọi là dị thục nhân. Nhưng, các nhân có trực tiếp sinh ra quả không? Như trên đã nói, một nhân quyết định, không sinh được quả và mỗi nhân riêng biệt, đều không sinh ra được quả. Nếu các nhân trực tiếp sinh ra quả, thì đó là một điều phi lý, vì mỗi nhân đã không sinh ra được quả, như hạt ngô không sinh ra được cây lúa, thì làm sao nhiều hạt ngô, lại có thể sinh ra cây lúa được. Các nhân riêng biệt, đã không sinh ra được quả, thì vì duyên cớ gì, khi có những điều khiện nhất định kết hợp với nhau, thì lại có những kết quả giống nhau? Đó là vì, tuy khi quả sinh ra, phần lớn các nhân đều thuộc về quá khứ, đều đã thay đổi, nhưng tác dụng của các nhân đó, đã tạo điều kiện cho cái quả sinh ra như thế, thì gọi là duyên.

54


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Có người giải thích rằng, nguyên nhân chính là nguyên nhân, nguyên nhân phụ là duyên, giải thích như vậy, không được rốt ráo, vì tất cả các nhân đều không trực tiếp sinh ra quả. Duyên có rất nhiều nghĩa, khi các sự vật tác động, kết hợp, chi phối, nương tựa, ảnh hưởng, đối đãi lẫn nhau, thì đều gọi là duyên cả. Nay phân tích các duyên làm bốn thứ như sau: Nhân duyên: là cái duyên của các câu hữu nhân và dị thục nhân. Đẳng vô gián duyên: là cái duyên của đẳng lưu nhân. Sở duyên duyên: là cái duyên của hoàn cảnh, do cái này có mà cái kia có, vậy một phần thuộc về câu hữu nhân, một phần thuộc về di thục nhân. Tăng thượng duyên: là cái duyên của các tăng thượng nhân tốt và xấu. Do những duyên như thế, nên các nhân gián tiếp tạo thành ra quả. Các duyên tạo ra quả như thế, thì gọi là duyên sinh hay duyên khởi. Nếu nghiên cứu rộng thêm, thì thấy rằng, muôn sự muôn vật trong mười phương, ba đời, đều trực tiếp hoặc gián tiếp duyên khởi lẫn nhau, sự duyên khởi dây chuyền, của một sự vaatst đối với tất cả sự vật, của tất cả sự vật đối với một sự vật, thì gọi là pháp giới duyên khởi, hoặc pháp giới trùng trùng duyên khởi. Vì mọi sự vật, đều do pháp giới trùng trùng duyên khởi, nên sự phát sinh, phát triển và diệt vong của một sự vật rất phức tạp, nó cắt nghĩa, tại sao những sự vật đồng loại, thường thường không hoàn toàn giống nhau, đồng thời, nó cũng đòi hỏi người đởi phải đi sâu thêm, mở rộng nhận xét thêm mãi về tính duyên khởi của các sự vật, để gạt bỏ những duyên xấu, bồi dưỡng những duyên tốt, thì mới được kết quả theo ý muốn. Về quả, nay cũng chỉ phân tích, làm bốn thứ như sau: Sĩ dụng quả: là tác dụng của các nhân, mỗi nhân đều có tác dụng, nên mỗi nhân đều có sĩ quả riêng biệt, ví dụ như đối với cái bàn, gỗ có sĩ dụng quả của gỗ, dụng cụ có sĩ dụng quả của dụng cụ, nhân công có sĩ dụng quả của nhân công. Các sĩ dụng quả riêng biệt ấy, kết hợp lại, tạo thành cái bàn, đều có thể nhận định được nơi cái bàn, khi cái bàn còn tồn tại. Đẳng lưu quả: là kết quả của sự tiếp tục tồn tại, trong một thời gian nhất định của các tác dụng các nguyên nhân. Tăng thượng quả: là kết quả làm cho tốt hơn hoặc xấu hơn, của các tăng thượng duyên. 55


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

-

Dị thục quả: là kết quả tổng hợp hiện tại, do các duyên tạo

thành. Bốn thứ quả ấy, bao gồm được tất cả các quả, vì lỵ hệ quả của các vị bồ tát và các vị Thanh văn, Duyên giác là dị thục quả, còn lỵ hệ quả của các đức Như lai là tăng thượng quả. Đạo lý nhân quả không đơn giản, cần phải suy xét chín chắn nơi hiện thật của sự vật, thì mới đi đến kết luận gần đúng đắn. Kinh nghiệm của loài người về nhân quả khá nhiều, cần học hỏi chín chắn những kinh nghiệm ấy, phân tích tỉ mỉ theo đạo lý duyên khởi, thì việc làm mới đạt được kết quả mong muốn. Người sản xuất cần nghiên cứu nhân quả công việc mình, gạt bỏ những tăng thượng duyên xấu, bồi dưỡng những tăng thượng duyên tốt, thì kết quả của công việc mới được dồi dào. Đối với sự hiểu biết của con người cũng vậy, muốn hiểu biết môn gì thì phải học môn ấy, không thể học Toán mà biết làm Văn được, lại trong lúc học, cần phải suy nghĩ, tìm tòi, chỗ nào không rõ, phải hỏi Thầy, hỏi bạn, thì kết quả của sự học tập mới được vững vàng sâu sắc và sự áp dụng việc học trong đời sống hàng ngày mới có kết quả tốt. Chẳng những sức khỏe và học thức của một người, đều có nhân, có quả, mà xã hội loài người, trên một thế giới hay trong một nước, cũng có nhân quả của nó. Học hỏi nghiên cứu và đi sâu vào nhân quả xã hội loài người, thì có thể tạo ra những điều kiện chuyển biến những xã hội bất công xấu xa, thành những xã hội công bằng tốt đẹp. Các vị tu hành được túc mạng thông, nhớ lại các đời trước và phân tích theo đạo lý nhân quả, có thể nhận thức rõ ràng những nguyên nhân làm cho chúng sanh phải nổi chìm mãi mãi trong đường luân hồi, chết nơi này, rồi lại sinh ra nơi khác. Việc đi lên hay đi xuống trong đường luân hồi là do kết quả chung của những hoạt động về ý nghĩ, về lời nói hoặc về thân thể. Những hoạt động ấy, thì gọi là nghiệp nhân, kết quả của hoạt động ấy, thì gọi là quả báo. Cần biết rõ về nghiệp báo, luôn luôn tạo những nghiệp nhân tốt, thì nhất định khỏi sa đọa. Chẳng những thế gian có nhân quả, mà xuất thế gian cũng có nhân quả. Xuất thế gian là giải thoát ra khỏi luân hồi. Muốn được giải thoát thì tất phải diệt trừ những nguyên nhân làm cho có sống, có chết, nói một cách khác là phải tu tập những nhân giải thoát. Nói tóm lại, phàm muốn được một kết quả gì, dù là thế gian hay xuất thế gian, đều nên học hỏi nghiên cứu nhận rõ nguyên nhân của nó, cố gắng tập hợp đầy

56


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

đủ các nguyên nhân ấy, gạt bỏ những tăng thượng duyên xấu, bồi dưỡng những tăng thượng duyên tốt, thì mới chắc đạt được kết quả mong muốn. THIỆN VÀ ÁC Tiền thân của đức Phật Thích Ca, trong một thời kỳ mạt pháp, đã không tiếc thân mạng, xin cho kỳ được, một bài kệ của đạo Phật. Bài kệ ấy là: Chư ác mạc tác, Chúng thiên phụng hành. Tự tịnh kỳ ý, Thị chư Phật giáo. Nghĩa là: Các điều ác quyết định không làm Các điều thiện kính cẩn cố làm Tự làm cho ý niệm trong sạch Đó là lời dạy của Phật. Bài kệ ấy tóm tắt đường lối tu hành của đạo Phật, trong đường lối ấy bỏ ác làm thiện là bộ phận quan trọng. Nhưng thế nào là thiện, thế nào là ác? Đạo Phật chia có thiện ác vô lậu thuộc về xuất thế gian, và thiện ác hữu lậu thuộc về thế gian. Về thiện ác vô lậu, thì thiện là thuận theo pháp giới tính, ác là trái với pháp giới tính, có thể bao gồm trong câu kệ thứ ba là “tự tịnh kỳ ý” và sẽ được giải thích trong các bài sau. Bài này chỉ nói về thiện ác hữu lậu, thuộc về nhân quả thế gian. Theo nhân quả thế gian, thiện là những điều lành, lợi cho các loài hữu tình, hoặc cho đa số loài hữu tình. Ác là những điều dữ, có hại cho các loài hữu tình hay cho đa số loài hữu tình. Riêng đối với loài người, chủ yếu thiện là những điều có lợi cho người hay cho đa số người, ác là những điều có hại cho người hay đa số người. Với những định nghĩa như trên, mọi người có thể phân biệt điều thiện và điều ác. Nếu hại ít mà lợi nhiều thì vẫn là thiện, nếu hại nhiều mà lợi ít thì vẫn là ác. Để cho dễ nhớ, có thể tóm lại các điều ác thành mười điều: Ba điều ác do thân làm ra là: 1. Sát hại: nghĩa là giết chết và đánh đập hành hạ người và các loài hữu tình chủ yếu là người 57


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

2. Thân đạo: nghĩa là trộm cắp lấy trộm của người bằng những thủ đoạn không chính đáng. 3. Dâm dục: chủ yếu là tà dâm, những dâm dật quá độ, say đắm ngũ dục cũng là điều ác. 4. Vọng ngôn: nghĩa là nói dối, không nói ra có, có nói ra không. 5. Ỷ ngữ: nghĩa là nói quanh co, dua nịnh, khiêu dâm, ngụy biện, trạng thái sức phi. Nói tóm lại là nói những lời không đứng đắn. 6. Ác khẩu: nghĩa là nói lời hung dữ như chửi mắng, nguyền rủa, dọa nạt... 7. Lưỡng thiệt: nghĩa là nói hai lưỡi, gây sự bất hòa giữa người này với người khác. Ba điều ác thuộc về ý là: 8. Tham: nghĩa là ham muốn, ham muốn những điều mình ưa thích hoặc những cái gì làm cho có những điều mình ưa thích, nó làm cho tâm luôn bị ràng buộc với cảnh, đặc biệt là cảnh ngũ dục. 9. Sân: nghĩa là giận ghét, giận dữ trước những cảnh trái ý, ghét bỏ những điều làm cho mình khó chịu. 10. Si: nghĩa là si mê, si mê không biết nhân quả, si mê không tin Chánh pháp. Cả ba điều về thân, bốn điều về lời nói, ba điều về ý đã nói ở trên kia xét cho cùng, đều có hại cho các loài hữu tình, nên gọi là ác. Trái với ác là thiện. Không làm các điều ác đã là thiện rồi. Nếu lại làm thêm những điều có lọi cho các loài hữu tình thì lại càng thiện hơn nữa. Trái với 10 điều ác là 10 điều thiện như sau: 1. Không sát hại, mà cứu mạng, giúp đỡ săn sóc trong lúc hoạn nạn. 2. Không thâu đạo, mà bố thí (tài thí, pháp thí, vô úy thí). 3. Không tà dâm, mà tiết dục, nghĩa là giảm bớt những sự dâm dục. 4. Không vọng ngôn, mà nói lời thành thật 5. Không ỷ ngữ, mà nói lời đúng đắn, thẳng thắn. 6. Không ác khẩu, mà nói lời yêu mến, dịu ngọt, nhã nhặn. 7. Không lưỡng thiệt, mà nói lời hòa giải. 8. Không tham, mà phóng xả, nghĩa là đối với cảnh, thường bỏ qua không để ý lưu luyến, đắm trước. 9. Không sân, mà từ bi, biết thương xót người và các loài hữu tình. 10. Không si, mà trí tuệ, phân biệt lành dữ, chính tà.

58


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Các việc thiện này, xét cho cùng đều đem lại lợi ích cho các loài hữu tình, nên gọi là thiện. Về các nghiệp do thân làm ra hay do miệng nói ra, thường có những ý niệm sai khiến. Có những người làm những thân nghiệp ác và khẩu nghiệp ác với ý niệm thiện, như sát hại bạo chúa để cứu nhân thoát khỏi lầm than, như nói dối để cứu mạng người. Ngược lại cũng có những người làm nhữn thân nghiệp, khẩu nghiệp thiện, với ý niệm ác, như giả làm việc nhân nghĩa để lừa gạt người khác, kiếm lợi cho mình, hoặc tổ chức những nhà nuôi trẻ mồ côi với mục đích vụ lợi... vì thế, điều cốt yếu phải nhận định thiện ác nơi ý niệm, chứ không chỉ nơi việc làm bề ngoài... Có khi người ta không muốn làm điều ác, nhưng lại có thể gây thiệt hại cho người khác, như đi xe vô ý làm cho người khác bị thương, những việc như thế, chỉ có quả báo đối đãi, chứ không có quả báo nơi tâm thức. Khi nào cả ý nghiệp, thân nghiệp và khẩu nghiệp cùng làm việc thiện, thì quả báo thiện ác mới rõ ràng. Người theo đạo Phật, cần phải phân biệt thiện ác cho đứng đắn, việc gì có hại cho người hay đa số người thì quyết không làm, việc gì có lợi cho người hoặc đa số người, thì quyết làm. Trong một đời, làm việc thiện nhiều, làm điều ác ít, lại có công đức niệm Phật, tín ngưỡng vãng sinh, thì sẽ được về Tịnh độ. Ngoài ra, nếu phát bồ đề tâm mà làm các điều thiện thì sẽ được giác ngộ và chứng quả. NGHIỆP BÁO NGHIỆP BÁO là nhân quả trong đường luân hồi. Nghiệp là những hoạt động về thân thể, về lời nói hay ý nghĩ, và cái kết quả đền đáp lại những hoạt động ấy, thì gọi là Nghiệp báo. Không phải những hoạt động nào cũng có báo, những việc vô ký như đi, đứng, nằm, ngồi... không làm hại và cũng không làm lợi cho ai, thì không có nghiệp báo, hoặc nói một cách khác, chỉ có nghiệp báo vô ký, không có ảnh hưởng gì, trong đường luân hồi. Những hoạt động có quả báo rõ ràng, chia thành 3 thứ: a. Thiện nghiệp: là những nghiệp lành, có lợi cho người và đem lại quả báo tốt cho mình. b. Ác nghiệp: là việc dữ, có hại cho người và đem lại quả báo xấu cho mình.

59


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

c. Bất động nghiệp: tức là những hành động tu luyện tư tâm, làm cho không lay động trước cảnh ngũ dục, những cảnh khổ vui và những cảnh có hình tướng. Tu luyện cái tâm như thế, gọi là tu thiền định. Những người tu thiền định, quan sát tác hại của ngũ dục (muốn của, muốn sắc, muốn danh, muốn ăn ngon, muốn ngủ nghỉ) đi đến thoát ly được cái sự ưa muốn ấy, thì thân tâm khoan khoái, vui mừng vô hạn và lên được ly sinh hỷ lạc địa của sơ thiền. Từ sơ thiền, những người tu tập, làm cho tâm thường định tĩnh, không còn dính dáng gì với ngũ dục nữa, làm cho tâm luôn luôn vui mừng trong định, thì lên định sinh kỷ lạc địa của nhị thiền. Những người ở nhị thiền, thấy cái vui mừng trước kia còn quá thô động, gạt bỏ cái vui mừng ấy và chỉ hưởng sự khoan khoái, yên vui, êm diệu, thì lên duy hỷ diệu lạc địa của tam thiền. Những người ở tam thiền, xét thấy cái vui chỉ đối với các khổ mà có, gạt bỏ cái vui nhẹ nhàng, êm dịu, giữ một tâm thanh tịnh, ra ngoài vui khổ, thì lên xả niệm thanh tịnh địa của tứ thiền. Ở tứ thiền, những người thấy cái hư không làm chướng ngại tiêu diệt tướng hư không, chỉ còn cái hay biết cùng khắp vũ trụ, thì được định thức vô biên xứ. Tiêu diệt cả cái hay biết đó, vào chỗ không còn thấy gì nữa, thì được vô sở hữu xứ. Khi tiêu diệt cả cái tướng không có gì, hình như không còn tưởng niệm nữa, nhưng sự thật vẫn còn tưởng niệm, thì gọi là: định phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những người được các thiền định như trên, hiện tiền đã hưởng thụ một cảnh giới đặc biệt và đến khi xả thân, thì tự động lên các cõi trời tứ thiền và tứ không. Do tác dụng của các hành động tu tập thiền định như thế là rất mạnh, không thể bị chuyển biến, vì những nghiệp thiện và ác đã làm từ trước, nên gọi những hành động tu tập ấy, là bất động nghiệp. Bất động nghiệp, khi đã đi đến những định tứ thiền, tứ không, có tác dụng to lớn đã đành mà dầu cho chưa chắc định, cũng có nhữn quả báo rất tốt. Chính những thiện nghiệp, ác nghiệp, bất động nghiệp tổng hợp lại, tạo thành cái quả dị thục của một đời, tức là cái nghiệp báo dắt dẫn thụ sinh trong đường luân hồi. Song trong một đời, chúng sinh khi làm điều lành, khi làm điều dữ, thì sẽ do những điều gì mà chịu quả báo và quả báo ấy sẽ như thế nào? Chúng ta đều biết, mọi sự vật thay đổi mãi mãi, nhưng chỉ chuyển từ trạng thái này đến trạng thái 60


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

khác, chứ không hề mất hẳn. Ví dụ như nước nấu sôi, chuyển thành hơi nước, hơi nước gặp lạnh thì đọng lại thành nước tuy có những sự biến chuyển, nhưng chất nước không hề mất hẳn. Dù cho phân tích nước ra thành dưỡng khí và khinh khí, khinh khí vẫn tồn tại và kết hợp với những chất khác, có khi lại kết hợp trở lại thành nước, chứ không hề mất hẳn. Dầu cho phân tích các thứ dưỡng khí, khinh khí thành ra những trung hòa tử, dương điện tử, âm điện tử, thì bản chất vẫn còn, chứ không hề mất hẳn. Chẳng những các vật hữu tình như thế, mà các năng lượng vô tình như luồng điện, như từ trường v.v... có tác dụng rõ rệt, cũng không hề mất hẳn, nó chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác mà thôi. Cái tâm của chúng ta là một năng lượng vô tình, là cho thân ta sống và có hay biết, năng lượng ấy có thể chuyển biến nhiều cách, nhưng không hề mất hẳn, thì khi hết làm cho cái thân này sống, nó sẽ làm cho cái thân khác sống, đó là luân hồi. Các vị tu thiền định được túc mạng thông, nhớ lại các đời trước, kiếp trước, thì không còn nghi ngờ gì về luân hồi. Các đức Như lai được túc mạng minh, thấu rõ sự chuyển biến của vô lượng chúng sinh trong vô lượng kiếp, càng nhận rõ hơn nguyên do phức tạp của sự chuyển biến ấy. Trong những trường hợp nhất định, cũng có những chúng sinh nhớ được đời trước, do được trở lại làm người ở trên thế gian, hoặc hơn nữa ở trên đất nước của mình đã sống. Nhưng trường hợp đó rất hiếm, vì nghiệp báo rất phức tạp, sinh động và vì trong vũ trụ này, có vô lượng vô biên Phật sát, mỗi Phật sát có hàng ngàn triệu thế giới. Hiện nay chúng ta không nhớ được đời trước, song chúng ta cũng có nhận biết thân người có cái tính không thay đổi. Khi chúng ta còn bé, nhắm mắt lại thì thấy tối, đến khi đã trưởng thành, đã lớn tuổi nhắm mắt lại, chúng ta vẫn thấy tối như thế. Cái thấy tối ấy, từ bé đến lớn, không hề thay đổi, mặc dù thân thể có thay đổi. Cái thân thể có thay đổi, tất nhiên vẫn bị diệt vong, ngược lại, cái tính không thay đổi kia, trước cũng thế, sau cũng thế, thì không thể bị tiêu diệt, mà ta đã không bị tiêu diệt, thì hết đời này, tất nhiên nó phải sống đời khác, đó là luân hồi. Huống nữa, trong thế gian, mỗi người sinh ra đều có năng khiếu khác nhau, người có khiếu học văn, người có khiếu học toán, người có khiếu âm nhạc, người có khiếu hội họa, dù là những anh em một cha, một mẹ, hoặc những chị em sinh đôi, cũng vẫn mỗi người mỗi khác, không ai giống hệt ai. Lý Thái Bạch, lên 4 tuổi, đã làm được thơ hay, Pascal, lên 8 tuổi, đã giải toán. Ở nước ta, Nguyễn Trực, 15 61


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

tuổi, đã đỗ trạng nguyên, hiện tiền cũng không thiếu gì những người có năng khiếu đặc biệt, những điều đó không thể là ngẫu nhiên. Nó phải do những tập quán hiểu biết từ đời trước truyền qua đời này. Do chúng ta có cái thức tâm tiếp tục tồn tại mãi mãi, biết làm cho thân này sống, thì làm cho thân khác sống, nên mới có luân hồi. Trong một đời, tất cả những hoạt động về thân thể, về lời nói nhất là ý nghĩ, đều có ảnh hưởng ít nhiều đến thức tâm ấy, như người ở trong xưởng làm nước mắm thì tất nhiên có mùi nước mắm. Khi thức tâm chịu sự huân tập của các điều thiện nhiều hơn, thì kết quả chung là sẽ thụ sinh lên các cõi trên, đó là vì, việc thiện là việc lợi tha, do nghĩ đến lợi ích người khác mà làm, mà đã nghĩ đến người khác, thì thức tâm hoạt động rộng rãi hơn, hóa ra nhẹ nhàng và được đi lên. Ngược lại, nếu huân tập thức tâm bằng việc ác nhiều hơn, thì phải đi xuống, vì việc ác gốc nơi lòng tự kỷ, chỉ biết có mình, không nghĩ đến người khác, do đó, thức tâm hoạt động trong phạm vi hẹp hòi, hóa ra nặng nề mà phải đi xuống. Trong một đời, ít ai chỉ làm điều thiện hay chỉ làm điều ác, nên nghiệp báo cũng tùy theo sự tổng hợp ảnh hưởng của các điều thiện, ác đã làm. Ảnh hưởng điều thiện nhiều chừng nào, thì lên cao chừng ấy, ảnh hưởng điều ác nhiều chừng nào, thì xuống thấp chừng ấy, nếu ảnh hưởng thiện ác xấp xỉ ngang nhau thì quả báo không thay đổi. Những hành động tu tập thiền định, tức là bất động nghiệp có tác dụng rất lớn. Người tu hành được định nào, thì thụ sinh theo định ấy, các nghiệp khác không thể lay chuyển được. Ngoài bất động nghiệp ra, còn có những nghiệp đặc biệt, có thể lấn át phần nào ảnh hưởng của các nghiệp khác, đó là: A) Cực trọng nghiệp: là những nghiệp lành, nghiệp dữ rất to lớn, ảnh hưởng nghiệp báo chung, như cứu mạng nhiều người hoặc tàn sát nhiều người v.v... nó quyết định phần lớn sự lên, xuống trong đường luân hồi. B) Tích lập nghiệp: là những việc lành, việc dữ làm thường xuyên và thành thói quen. Do sự huân tập hàng ngày, nên nó ảnh hưởng rất lớn đến nghiệp báo chung. C) Cận tử nghiệp: là những việc làm khi gần chết, do những việc này nên mới ảnh hưởng cũng mạnh hơn những việc đã làm từ lâu.

62


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Tổng hợp những ảnh hưởng của tất cả các việc lành, dữ sau khi kể đến ảnh hưởng lớn lao của các bất động nghiệp, cực trọng nghiệp, tích tập nghiệp và cận tử nghiệp, thì có thể hình dung được nghiệp báo chung của một đời. Lại trong khi gây ra nghiệp lành, nghiệp dữ, nhất định có tác động đến người khác, nên ngoài quả báo nơi thức tâm, lại còn có quả báo đối đãi, nghĩa là khi làm lợi cho người khác, thì người khác gặp dịp sẽ làm lợi cho mình, khi làm hại người khác, thì khi có dịp người khác sẽ làm hại cho mình. Quả báo đối đãi này rất phức tạp, nó kéo từ đời này sang đời khác, khi có dịp gặp nhau, thì có sự vay trả, trả vay, khó mà lường hết được. Nghiệp báo của một đời, do sự tổng hợp ảnh hưởng của các nghiệp đã làm trong đời ấy, cộng với ảnh hưởng của các nghiệp đã làm trong các đời quá khứ. Ví dụ: sự huân tập của các nghiệp trong quá khứ đã dẫn dắt tâm thức của một chúng sanh vào loài người. Trong suốt một đời làm người, nếu chúng sinh ấy tạo một số nghiệp thiện và nghiệp ác, ảnh hưởng xấp xỉ ngang nhau, thì nghiệp báo chung của chúng sinh ấy, sau khi chết, vẫn cứ dẫn dắt vào loài người. Các sức dẫn dắt của nghiệp báo, vào loài người hay loài khác, thì gọi là nghiệp lực và nghiệp báo dẫn dắt như thế gọi là dẫn nghiệp. dẫn nghiệp dắt vào trong một loài, trong một thế giới, trong một cõi nước nhất định, còn việc thụ sinh vào gia đình nào, trong hoàn cảnh nào, với thân thể và trí thông minh như thế nào, gặp những thiện duyên, ác duyên như thế nào, thì thuộc về mãn nghiệp, tức là cái nghiệp báo đầy đủ, có kể đến phẩm chất của các nghiệp, thiện, ác và quả báo đối đãi của các nghiệp thiện, ác. Mãn nghiệp này, chỉ có tác dụng lớn trong các cõi dưới, vì từ sơ thiền trở lên, mọi người đều ở trong thiền định và mọi người đều hóa sinh, nên không có duyên nợ và sự vay trả. Muốn biết rõ dẫn nghiệp thúc đẩy thức tâm thụ sinh trong các loài như thế nào, thì cần rõ thức tâm là gì? Nói một cách ước lược, thì thực chất thức tâm là cái năng lượng làm cho nó sống, có hay biết. Bản tính của năng lượng ấy cùng khắp vũ trụ, không riêng cho một thân nào, cho một chúng sinh nào, nhưng hoạt động của năng lượng ấy, thì lại chia ra từng luồng tâm niệm, hình như khác nhau, thành ra các thể của mỗi chúng sinh. Khi chưa giác ngộ được bản tính cùng khắp, thì các nguồn tâm niệm tiếp tục hoạt động theo sự huân tập của các nghiệp, hết làm sống thân này, thì làm sống thân khác, gắn bó với thân của mỗi đời và theo nghiệp báo đi từ loài này sang loài khác.

63


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ở đây, cần phải tránh hai kiến chấp sai lầm là chấp thường và chấp đoạn. Chấp thường là chấp cái ý thức biết người, biết mình tồn tại mãi mãi. Người đời thường gọi ý thức ấy là linh hồn. Quan niệm về linh hồn, theo các ngoại đạo có những chỗ không giống nhau. Có những ngoại đạo quan niệm linh hồn là cái ý thức, có phân biệt, có biết mình biết người nhưng không có thân thể. Có những ngoại đạo quan niệm linh hồn có nhiều thân thể, hoặc có những hoạt động khác nhau, nhưng đều có phân biệt, biết mình biết người. Nói tóm lại, những quan niệm của các ngoại đạo về linh hồn, tuy có sự khác nhau, nhưng căn bản thì giống nhau ở chỗ là cái ý thức biết người, biết mình... nghĩa là cái ý thức gắn bó với một thân thể nhất đinh, như cái ý thức của chúng ta, trong lúc đang thức hay trong lúc chiêm bao. Sự thật thì ý thức ấy, dựa vào thân thể mà có, dựa vào các giác quan của thân thể mà có, chứ không thể riêng có một mình được. Ý thức đó thường gián đoạn, lúc ngủ mê, khi chết giấc, ý thức không còn hoạt động, huống nữa là chết. Vì thế, nên chấp có cái linh hồn ý thức tồn tại mãi mãi, sau khi chết là sai lầm, không hợp với chính lý. Chấp đoạn: là chấp rằng, chết rồi thì mất hẳn, như Thuận đế ngoại đạo, v.v... Chấp như thế cũng không đúng lý, vì tất cả mọi sự vật chỉ có chuyển biến, chứ không hề mất hẳn. Song cái luồng tâm niệm hết làm sống thân này, lại làm sống thân khác, có phải là thường không? Nó không phải là thường, vì nó sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, chuyển biến mãi mãi. Nhưng no có phải là đoạn không? Cũng không phải, vì nó tiếp tục không gián đoạn. Nhận biết luồng tâm niệm không phải là thường, không phải đoạn, thì mới hiểu được đạo lý luân hồi, thì mới rõ được, tuy không có gián đoạn, nhưng thức tâm lại chuyển biến mãi mãi theo sự huân tập của các nghiệp. Sự huân tập ấy, tạo thành cái dẫn nghiệp, dắt thức tâm vào các loài trong lục đạo. Nếu trong một đời người, 90 phần trăm hoặc 100 phần trăm ý niệm là những ý niệm xấu, làm tổn hại cho người hay đa số người, hoặc có tạo ra những cực trọng nghiệp, tích tập nghiệp và cận tử nghiệp rất xấu, thì phải đọa vào địa ngục. Không nên quan niệm địa ngục là nơi ngục tù, có những người chuyên môn hình phạt. Dịch theo đúng tiếng Phạn (Naraka) thì địa ngục chỉ là nơi chịu khổ, loại chịu khổ, nói một cách khác, địa ngục hỉ là loài chúng sinh, do thân thể nhỏ yếu, nên phải chịu rất nhiều đau khổ. Nếu trong một số kinh Phật miêu tả những sự đau khổ trong các địa ngục, như chính thân người bị hình phạt, đó là vì, Phật nói về địa 64


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

ngục cốt để cảnh cáo những chúng sinh ngoan cố, làm cho họ sợ mà hối cải mà thôi. Song tuy không có ai hình phạt, tuy không phải lấy thân người mà chịu, nhưng những đau khổ ở địa ngục vẫn có và có nhiều. Những vi sinh vật đã chết khi nhiệt độ lê xuống một ít, những con giun đất gặp ánh sáng mặt trời thì không sống được, có thể hình đung được cái đau khổ của địa ngục hỏa diệm, vì đối với các vật như thế, thì ở đâu cũng là lửa cả. Con kiến con sâu bị dẫm phải, thì thân thể dập nát, tất nhiên cũng chịu đau khổ như ở các địa ngục hợp sơn hợp thạch. Đó là chưa kể trong lúc gần chết, khi nhiều căn không hoạt động nữa, chỉ có cái ý thức hỗn loạn, với những cảm giác đau đớn khắp thân thể, thì cũng có thể có những chiêm bao rất dữ dội, kéo dài trong một thời gian tương đối rất lâu, cho đến khi chết hẳn. Nói tóm lại, dầu ở loài địa ngục hay ở các loài khác, thì cũng tự mình gây nghiệp, rồi tự mình chịu báo, chứ không có trung gian nào thưởng phạt cả. Nếu quan niệm một các khác, thì sẽ lạc vào ngoại đạo, chấp có ông trời tự ý thưởng phạt, mà chính mình lại không chịu nghiệp báo; không thể có ông trời như thế, vì không vật nào có thể tự sinh, vì một nhân thì không thể sinh ra nhiều quả, vì mọi sự mọi vật đều diễn biến theo nhân quả. Ngoại đạo thường chấp có ông Trời hoặc ông thần thưởng phạt các linh hồn, sự thưởng phạt đó đều có, nhất định sẽ không công bằng, vì những người thưởng phạt đó nhất định sẽ không hiểu được hết những tâm niệm sâu kín của mọi người và không thể không bị tình cảm chi phối. Ngược lại, nghiệp báo là kết quả ảnh hưởng của các ý niệm của các việc làm do ý niệm điều khiển, nên không lúc nào sai chạy được. Nếu các ý niệm ác nhiều đến 70 phần trăm, thì nghiệp báo dắt vào loài khỉ, suốt đời phải chịu đói khát. Nếu ảnh hưởng nghiệp thiện chỉ có 40 phần trăm và nghiệp ác đến 60 phần trăm, thì nghiệp báo dắt vào các loài súc vật. Nghiệp ác tương đối nặng thì làm giống có lông, tương đối nhẹ thì làm giống có cánh. Nếu những ý niệm thiện ác xấp xỉ nhau, thì trở lại làm người, thiện nhiều hơn một ít thì thông minh, ác nhiều hơn một chút thì ngu ngốc. Đạo Phật quan niệm có vô lượng, vô biên thế giới, trong đó có vô lượng, vô biên cảnh giới loài người, thiện nhiều hơn thì sanh vào những cảnh giới tốt, ác nhiều hơn thì sanh vào cảnh giới xấu. Phân tích những cảnh giới loài người khác nhau, trong các kinh thường chia ra làm bốn châu là:

65


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

1. Đông thắng thần châu: trong đó, loài người chú trọng rất nhiều về triết học, đạo đức. 2. Tây ngưu hóa châu: trong đó, loài người chú trọng rất nhiều về của cải, hàng hóa. 3. Nam thiện bộ châu: là cảnh giới triết chung giữa Đông thắng thần châu và Tây ngưu hóa châu. Trong ba châu trên, con người đều có tư hữu và hưởng thự giữa người này và người khác rất chênh lệch. 4. Bắc câu lô châu: cũng có tên là Uất đơn việt châu, trong đó, con người không có tư hữu, các thứ ăn mặc, ai cần gì có nấy, con cái đều nuôi dưỡng chung, nên con người không tham của cải và phạm tội trộm cắp. Do ở Bắc lô châu, vật chất dồi dào, đời sống sung túc nên con người không nghĩ đến riêng tư, tinh thần thoải mái, thanh khiết, con người sống lâu đến hàng ngàn tuổi và về sau, lại được sinh lên các cõi trời. Nếu ý niệm thiện rõ ràng nhiều hơn ý niệm ác, thì được sinh lên các Cõi Trời. Đạo Phật quan niệm các Cỗi Trời là những cõi trong đó, chúng sanh hưởng phúc nhiều hơn ở cõi người, chứ không phải như các thiên đường của ngoại đạo. Những người có nhiều thiện niệm, nhưng chưa thoát ly ngũ dục, thì sinh lên các cõi trời Dục giới, còn có đàn ông, đàn bà và có cả ngũ dục. Những cõi trởi thấp như Tứ thiên Vương thiên, Đao lợi Thiên, thì còn chịu ánh sáng mặt trời và còn dâm dục như ở cõi người. Các cõi Trời trên như Dạ ma Thiên, Đâu Xuất Đà Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, thì tự mình có ánh sáng, không cần ánh sáng mặt trời và sự dâm dục cũng tế nhị hơn, như ôm nhau mà nhảy, bắt tay nhau, cười duyên với nhau, hoặc liếc mát đưa tình với nhau. Khi thoát ly được ngũ dục thì lên Sơ thiền, có cái thân thể hóa sinh bằng vi tế tứ đại và không có sự phân biệt đàn ông, đàn bà. Trên Sơ thiền là Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Các cõi này đều có sát thân nên thuộc về Sắc giới. Trên các cõi Sắc giới thì có Tứ thiền không là không vô biên xứ thiên, thức vô biên xứ thiên, vô sở hữu xứ thiên và phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên, thuộc về vô Sắc giới, chỉ có tâm thức, chứ không có thân thể. Trên các cõi trời này, người ta hưởng phúc rất nhiều, có cõi sống đến hàng vạn kiếp, nhưng cuối cùng vẫn phải chết và luân hồi sang cõi khác. 66


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ngoài ra còn có các loài A Tu La, là các loài quỷ thần, tuy có thần thông nhưng hay nóng giận, nên không được sinh vào các cõi trời. Loài A Tu La rất phức tạp, có giống A Tu La ngang với loài trời, có giống ngang với loài người, có giống ngang với loài súc và giống ngang với loài quỷ. Nói tóm lại, dẫn nghiệp dắt chúng sinh vào nhiều loài khác nhau, ước lượng có thể chia làm 6 loài là: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, Loài người, Loài trời và Loài A Tu La, gọi là lục đạo. Những chúng sinh có nghiệp báo như nhau, thì có một thân thể và một hoàn cảnh giống nhau thành những bạn đồng nghiệp, tức là đồng loại. nghiệp báo về thân thể thì gọi là chính báo, nghiệp báo về hoàn cảnh thì gọi là y báo. Những chúng sinh đồng nghiệp có chính báo và y báo na ná giống nhau, nên hiểu biết nhau hơn, vì thế, những việc thiện, việc ác đối với đồng nghiệp có một tầm quan trọng đặc biệt.

Nhất là giữa các chúng sinh đồng nghiệp, thường có những quả báo đỗi đãi, một bộ phận của mãn nghiệp. Quả báo đối đãi cắt nghĩa tại sao có những sự ưa ghét, làm lợi, làm hại lẫn nhau mà không thấy nguyên nhân rõ ràng. Quả báo đối đãi lắm khi trái ngược với quả báo nơi thức tâm, như trong trường hợp làm những việc thiện có lợi cho người với ý niệm xấy, thì quả báo nơi thức tâm là xấu, những quả báo đối đãi có thể là quả báo tốt. Do ngoài quả báo nơi thức tâm, còn có quả báo đối đãi, nên nghiệp báo rất phức tạp, không thể lường hết được. Cần phân biệt nghiệp báo của Đạo Phật với số mạng của ngoại đạo. Theo ngoại đạo, những người sinh ra đều có số mạng nhất định, không thể thay đổi. Nghiệp báo thì khác hẳn, nghiệp báo không phải bất di bất dịch và thường chuyển biến theo nhân quả. Nhân quả thì chẳng những có nhân quá khứ sinh ra quả hiện tại và tương lai, mà cũng có nhân hiện tại sinh ra quả hiện tại và tương lai. Do những nhân hiện tại, có thể đem lại những quả hiện tại, nên con người có thể làm chủ phần nào vận mệnh của mình, có thể 67


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

chuyển được những nghiệp báo xấu thành những nghiệp báo tốt, những quả báo đối đãi xấu thành những nghiệp báo tốt, những quả báo đối đãi xấu thành quả báo tốt và cũng có thể luyện tập thay đổi tư tưởng, tu hành được các thiền định, hoặc được chứng những quả xuất thế gian của tam thường. Ví dụ như theo số mạng thì người nào có số mạng đỗ trạng nguyên, nhất định sẽ đỗ trạng nguyên. Nghiệp báo thì khác hẳn, người đó có thể nghiệp báo tốt, làm cho thân thể khỏe mạnh, trí tuệ thông minh, hoàn cảnh thuận lợi, để học giỏi biết nhiều, nhưng nếu người ấy không tạo ra những nhân hiện tại, chăm lo học hỏi mà chỉ chơi bời lêu lổng, chẳng những không đỗ được trạng nguyên mà còn có thể mù chữ, chẳng những không dùng được cái thông minh để học tập, mà còn có thể dùng cái thông minh để làm những điều ác, gây ra những quả báo xấu hiện tại và tương lai. Nói tóm lại, nghiệp báo chủ yếu là cái quả báo của những thiện nghiệp, ác nghiệp và bất động nghiệp đã huân tập nơi thức tâm, tổng hợp thành các nghiệp lực dẫn dắt vào loài này, loài khác để hưởng hạnh phúc hay chịu đau khổ. Như thế nghiệp nhân do tự mình gây nên, nghiệp báo do tự mình chuốc lấy, chứ không có ai thưởng phạt cả. TỨ ĐẾ Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh văn thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các đạo lý khác trong đạo Phật, vì nếu không biết luân hồi là khổ, thì không thể phát tâm cầu đạo giải thoát, nếu không biết cái khổ luân hồi do những nguyên nhân gì, thì cũng không biết được đường tu chân chính, thì không thể ra khỏi luân hồi và được chứng niết bàn. C��� đến những vị theo Bồ Tát thừa, cũng cần nhận rõ cái khổ luân hồi, mới phát được thệ nguyện rộng lớn, độ thoát chúng sinh đồng thành Phật đạo. 68


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Lần đầu tiên Phật thuyết pháp, độ cho 5 vị tỳ kheo ở Lộc Uyển, Phật đã dạy: “ Thế này là khổ, cần phải biết, thế này là tập; cần phải đoạn; thế này là diệt cần phải chứng; thế này là đạo, cần phải tu” Vì thế, tất cả đệ tử Phật, muốn phát tâm đúng đắn, cần phải nghiên cứu suy xét, biết được luân hồi là khổ, biết được những tập nhân của luân hồi cần phải đoạn, biết được chủ đạo quả diệt khổ luân hồi cần phải chứng, và biết được con đường diệt trừ tập nhân ra khỏi luân hồi, cần phải tu hành. Những đạo lý dạy về cái khổ của luân hồi, tập nhân của luân hồi, đi đến đạo quả ấy, đều là những đạo lý chắc chắn xác thật, nên gọi là tứ đế, gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. A.

KHỔ ĐẾ

Khổ đế nhận định chắc chắn luân hồi là khổ, sống chết là khổ. Thân thể của chúng sinh đối với hòan cảnh, thường sinh ra ba cái thọ: đối với cảnh nghịch thì sinh ra khổ thọ, đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thọ và đối với những cảnh không nghịch, không thuận thì sinh ra xả thọ. Nói một cách khác, là các cảnh có thể làm cho người ta hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không vui, không khổ. Nhưng cả ba cái thọ ấy cuối cùng đều sinh ra khổ cả. Khổ thọ thì sinh ra khổ, vì bản chất của nó là khổ, nên sinh ra khổ; Lạc thọ thì sinh ra hoại khổ, vì những cảnh thuận mà mình ưa thích, không thể tồn tại mãi được, đến khi nó diệt mất thì sinh ra khổ; Xả thọ thì sinh ra hành khổ, vì tuy xả thọ không có khổ vui, nhưng thân thể và hoàn cảnh, do nguyên nhân tạo thành, luôn luôn chuyển biến và lần đi đến chỗ diệt mất, nên cũng sinh ra khổ. 1.

Sinh khổ: sinh khổ có nghĩa là có sinh thì có khổ, vì đã có sinh

thì nhất định phải có diệt và vì vô thường chi phối, nên có khổ. Huống nữa, trong nhiều loài, chính trong lúc mới sinh ra, cũng đã phải chịu những cái khổ nhất định do thân thể yếu ớt và hoàn cảnh thay đổi, lại muốn duy trì được sự sống, còn phải tìm cái ăn, cái uống, phải chống cái nóng, cái rét, phải tự vệ với nhiều loài khác, 69


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

phải đối phó với những tại họa thiên nhiên và nhân tạo, v.v… nên suốt đời vất vả lo âu, đó cũng là sinh khổ. 2.

Lão khổ: Thân thể thường chuyển biến nên có lão khổ.

Người ta ai cũng muốn trẻ, muốn mạnh, nhưng sự già yếu cứ thôi thúc bên mình, cái già vào con mắt thì con mắt mờ, vào lỗ tai thì tai điếc, vào da thì da nhăn, vào xương sống thì lưng còng, cái gìa đến đâu thì suy yếu đến đó, làm cho không đủ sức thích nghi với hoàn cảnh, thay đổi và dễ mắc bệnh tật. 3.

Bệnh khổ: Lại trong đời sống, thân thể thường mắc nhiều bệnh

tật, làm cho đau khổ. Nhất là khi đã già, sức đề kháng suy kém thì càng dễ sinh bệnh. 4.

Tử khổ: tử khổ là cái khổ trong lúc chết. Chúng sanh do nghiệp

báo chịu một thân thể nào, thì gắn bó với thân thể ấy, xem thân thể ấy là thân thể duy nhất của mình, nên đến khi chết, sinh ra đau khổ vô hạn. Chúng sinh suốt đời yêu quý cái thân thể, chỉ sống với cái thân thể và do thân thể liên hệ mật thiết với người, với cảnh quanh mình, nên đến khi thân thể chết thì luyến tiếc vô hạn. Loài nào có thân thể xinh đẹp bao nhiêu, có hoàn cảnh thuận lợi bao nhiêu, thì lại càng luyến tiếc bấy nhiêu, đó là tử khổ. 5.

Cầu bất đắc khổ: ý niệm con người thường rong ruổi theo hoàn

cảnh, mong cầu những điều ưa thích. Khi mong cầu được cái này, thì lại mong cầu thêm cái khác, đến khi mong cầu chưa được, hoặc mong cầu không được thì buồn rầu và đau khổ. 6.

Ai biết ly khổ: lại sống tỏng hoàn cảnh vô thường, thì những cái

mình ưa thích cũng đều là vô thường. Khi phải xa rời những cái mình yêu thích đó, như khi mẹ mất con, chồng mất vợ, người mất của báu, thì sinh ra đau khổ vô hạn. 7.

Oán tắng hội khổ: Lại có những điều mình thù ghét, không

thích mà nó cứ đến với mình, như muốn có con hiếu thảo mà sinh con bất hiếu, 70


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

muốn có người láng giềng tốt mà phải ở với những người láng giềng xấu, muốn sống trong một chế độ tự do mà lại phải sống trong một chế độ độc tài, v.v… thì sinh ra khổ não. 8.

Ngũ ấm xí thịnh khổ: Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức,

che lấp trí tuệ, làm cho không nhân được bản chất, nên gọi là ngũ ấm. Đến khi chúng sinh phát được chánh tín, muốn trừ bỏ sự che lấp này, để được giải thoát, thì lại bị thói quen mê lầm ràng buộc, muốn trừ mà trừ không được nên sinh ra khổ. Vì thế ngũ ấm xí thịnh khổ cũng có tên là xả bất đắc khổ. Năm ấm ấy che lấp trí tuệ, như đám mây mù che lấp ánh sáng mặt trời. Khi nhận thấy thật có sắc và không, nghĩa là có những cái có hình, có tướng và không hình, không tướng thì những tư tưởng chấp thật có sắc, thật có không đó, che lấp trí tuệ làm cho không nhận rõ chân tướng của các thứ sắc, thứ không, thì duyên khởi như huyễn, không có tự tính, gọi là sắc ấm. Khi thân đối với cảnh, cảnh đối với thân, có những khổ thọ, lạc thọ và xả thọ, mà không biết các thọ ấy đều do sự đối đãi giữa thân với cảnh mà thành, chấp là thật có, thì sự cố chấp này che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ thật tướng của các thọ, đó là Thọ ấm Khi tâm đối với cảnh, với thân, sinh ra có ưa ghét, có thân sơ, thì tâm gắn bó với thân, với cảnh, tạo ra các tướng nơi thân, nơi cảnh, rồi nương theo các tướng đó, đặt ra những tên gọi, tạo thành cái cảnh danh ngôn đối với ý thức, tức là cái cảnh các sự vật có phân biệt, có tên gọi. Cảnh danh ngôn đó tòan là những tưởng tượng do ý thức biến hiện như cảnh chiêm bao. Nếu không biết như thế, lầm nhận cảnh đó là thật có ở ngoài tâm phân biệt, thì sự cố chấp này che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ được thật tướng của cảnh danh ngôn, đó là Tưởng ấm. Lại tất cả sự vật, cho đến các luồng tâm niệm, đều sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, theo duyên chuyển biến mãi mãi không thôi. Nếu không biết đạo lý duyên khởi 71


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

như huyễn, chính nơi sinh thật không có gì đáng gọi là sinh, chính nơi diệt không có gì đáng gọi là diệt, mà chấp nhận có sinh diệt, thật có sự chuyển biến, thì sự cố chấp che lấp trí tuệ làm cho không nhận rõ chân tướng của các sinh diệt, đó là Hành ấm. Lại cái thức tâm theo nghiệp báo mà hiện ra thân thể và cảnh giới hàng ngày, chịu sự huân tập của các nghiệp mà chuyển biến không ngừng. Thức tâm ấy hình như yên lặng, nhưng không phải yên lặng. Tâm thức đó, chỉ là cái dụng riêng biệt của bản tính không riêng biệt, chỉ là một nhóm thức riêng biệt, hiên ra trong thực tính viên mãn cùng khắp, cũng như những luồng sóng hiện ra trong biển cả. Nếu không biết như thế, lầm nhận luồng sóng là biển, lầm nhận cái dụng thức tâm là bản tính thanh tịnh, thì dễ lạc vào ngoại đạo, hoặc lầm nhận những quả dị thục nơi thức tâm của Thanh văn thừa và Duyên giác thừa là rốt ráo, là tối cao, tối thượng. Các điều đó che lấp trí tuệ, làm cho không nhận được bản lai tự tính, nên gọi là Thức ấm. Chỉ khi nào trừ bỏ được năm ấm, nghĩa là từ bỏ được tất cả những cố chấp mê làm che lấp trí tuệ, thì mới nhận được bản tính, nhận được với pháp giới tính, và lên quả vị Nhân địa của Như Lai. Người học đạo biết rõ năm ấm là như thế, nhưng do thói quen mê lầm, muốn thoát ly mà chưa thoát ly được, thì vẫn còn mắc xả bất đắc khổ. Người thế gian bị năm uẩn che mất tâm tính, luôn luô ở trong đường luân hồi, chịu cái khổ luân hồi mà không tìm lối giải thoát, đó là vì năm ấm quá nặng nề, quá mãnh liệt, nó làm cho phải luân hồi trong vô lượng, vô số kiếp, chịu vô lượng, vô số đau khổ, thế gọi là ngũ ấm xí thịnh khổ. Xác chết của một chúng sinh, trong nhiều đời, chồng chất lại cao hơn núi Tu Di, nước mắt của một chúng sinh, trong nhiều đời, chứa nhóm lại còn nhiều hơn nước bể, đó là kết quả của ngũ ấm xí thịnh khổ.

72


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Tất cả những điều khổ nói trên kia, xét ra quả thật là khổ, nên gọi là khổ đế. Chúng sinh trong đường luân hồi, cần suy xét chính chắn, biết rõ luân hồi là khổ, chẳng những ở tam ác đạo là khổ, mà ở các cõi trời cũng vẫn là khổ, để tăng thêm lòng mong muốn giải thoát. Việc biết luân hồi là khổ và mong muốn giải thoát là điều cần thiết yếu cho những người học đạo.

B. TẬP ĐẾ Đã biết cái khổ luân hồi thì cần suy xét nhận rõ những nguyên nhân tập hợp lại mà duyên sinh ra cái khổ đó. Phải chính nơi các khổ luân hồi mà nhận cho được nguyên nhân của nó, một cách xác thực, không nên để cho những tà thuyết mê hoặc. Phật thấy rõ những nguyên nhân của luân hồi, vì đã thiết thực biết hết những sự chuyển biến theo nghiệp báo của các chúng sinh trong vô lượng, vô số kiếp. Những nguyên nhân của luân hồi mà Phật đã dạy, có thể nhận rõ nơi cái quả luân hồi hiện tại, nó xác thật chắc chắn là nguyên nhân của luân hồi, nên gọi là Tập đế. Nói tóm lại, nguyên nhân của luân hồi là lòng khái ái, nghĩa là lòng khao khát ưa thích đối với sự sống còn, sự hay biết, đối với thân thế và hoàn cảnh, phân tích ra thì cả mười nguyên nhân chính là những tư tưởng sai lầm ràng buộc và sai khiến chúng sinh, đó là 10 kết sử. Trong 10 kết sử, có 5 cái thuộc về tính chất, là tham, sân, si, mạn, nghi, cũng có 5 tên là 5 độn sử, còn 5 cái nữa thuộc những cố

73


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

chấp về tri kiến là thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, và tà kiến, cũng có tên là 5 lợi sử. Do 10 kết sử là nguyên nhân của luân hồi, nên cần biết rõ hành tướng của nó để trừ cho kỳ hết. 1.

Tham: là đối với những cái gây ra lạc thọ hoặc hỉ thọ và những

phương tiện để có các cái đó, sinh lòng đắm trước, muốn thu góp tất cả về phần mình. 2.

Sân: là đối với những cái gây ra khổ thọ hoặc ưu thọ và những

phương tiện gây ra các cái ấy, đem lòng ghét bỏ, muốn gạt đi nơi khác, muốn trút hết cho người khác. 3.

Si: là đối với sự thật nhân quả, mê lầm không rõ, do đó phát sinh ra

những tư tưởng sai lầm và những lối tu hành không đúng Chánh pháp. Si còn có tên là vô minh, khi nào chưa trực nhận bản tánh, chưa nhập một với pháp giới tánh, thì chưa dứt sạch vô minh. 4.

Mạn: là tự đề cao mình, phân tích ra có ngã mạn, xem cái ta là quí báu

hơn hết, quá mạn là mình chỉ bằng người, lại cho là hơn người, mạn quá mạn là mình thua người, lại cho là hơn người, ty liệt mạn là chính chỗ mình thua kém người lại tự phụ là hơn người, tà mạn là tự cao tự đại với những tà pháp, với những chức vụ cao trong tà đạo, tăng thượng mạn là chưa chứng đã xưng là chứng, chưa ngộ đã xưng là ngộ, lại có cái mạn bình thường, mình có hơn người một ít mà cho là hơn nhiều. Mạn có tác hại tăng trưởng các kiến chấp sinh lòng tự mãn, làm trở ngại rất nhiều cho sự tu tập. 5.

Nghi: là đối với Chánh pháp sinh lòng do dự, không tin chắc chắn,

như đã phát lòng chánh tín với Tam Bảo, lại còn cầu thần, và quỉ, bảo rằng : “ Phật thì xa, bản nha thì gần”.

74


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

6.

Thân kiến: là chấp cái thân ngũ uẩn là ta, nhận định chắc chắn có cái

ta và không tin đạo lý vô ngã. 7.

Biên kiến: là chấp có hai bên, chấp những sự đối đãi là thật có, như

chấp thật có vô thường, có đoạn, có trước, có sau, có cao, có thấp, v.v… 8.

Kiến thủ kiến: là cố chấp những thành kiến đã có từ trước, dù được

nghe đạo lý chân thật, nhận định là đúng, cũng không chịu rời bỏ. 9.

Giới thủ kiến: là cố chấp những giới ngoại đạo đã được truyền thọ,

khi đã được nghe Chánh pháp, cũng không chịu rời bỏ. 10.

Tà kiến: là cố chấp những giới ngoại đạo tà giáo đã học được, hoặc

bác không nhân quả, hoặc tin những điều trái với nhân quả.

Mười điều kết sử này buộc con người, sai khiến con người, làm cho phải xoay chuyển mãi mãi trong đường luân hồi. Các kết sử còn chia ra có kết sử câu sinh và kết sử phân biệt. Kết sử phân biệt phụ thuộc vào ý thức, nên đến khi ý thức chứng được chân lý vô ngã, tức là kiến đạo, thì các kết sử phân biệt đều được ngoại trừ, do đó, nên gọi là kiến sử đoạn hoặc, hay là kiến hoặc. Những kết sử câu sinh là những tập quán mê lầm từ nhiều kiếp để lại và dây dưa trong tiềm thức, cần phải liên tục tu tập chánh quán lâu ngày mới đoạn trừ hết, nên cũng có tên là tư sử đoạn hoặc, hay là tư hoặc. Trong mười kết sử, có hai kết sử rất quan trọng, vì là cội gốc của tất cả phiền não mê lầm, đó là thân kiến và si kiến. Do si mê nên mặc dầu xét rõ thực tế không có cái ta riêng, cứ lại nhận là có cái ta riêng và mặc dầu, được nghe Chánh pháp, vẫn không chịu dứt bỏ sự cố chấp ấy. Như thế là do si mà có thân kiến, rồi do thân kiến mà có cái ta ch���u sống, chịu chết trong đường luân hồi. C. DIỆT ĐẾ

75


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Đã biết mười nguyên nhân của luân hồi, thì cần phải diệt trừ hết mười kết sử để ra khỏi luân hồi. Những vị đoạn được tất cả kiến hoặc trong tam giới, không còn phân biệt ngã chấp thì chứng quả Tu đã hoàn, những vị Tu đà hoàn diệt trừ được sáu phẩm tư hoặc của Dục giới, thì chứng quả Từ đà hàm, những vị diệt trừ toàn bộ chin phẩm tư hoặc của Dục giới, không trở về Dục giới nữa, thì chứng quả A na hàm. Những vị A na hàm diệt trừ hết 72 phẩm tư hoặc của các cõi Tứ thiền, Tứ không, thì chững quả A La Hán. Chứng được các đạo quả này của Thanh văn thừa, thì chắc chắn ra khỏi luân hồi, các vị Tu đà hoàn thì chứng được Hữu dư ý niết bàn, các vị A La Hán thì chứng được Vô dư ý niết bàn, nên gọi là Diệt đế.

D. ĐẠO ĐẾ Đạo đế là con đường tu hành chắc chắn diệt trừ các kết sử là tập nhân của luân hồi, để chứng quả giải thoát ra khỏi luân hồi. Phương pháp tu tập ra khỏi luân hồi rất nhiều, nay chỉ nói về hai pháp là 5 quán định tâm và 37 đạo phẩm: a ) Năm quán định tâm: Năm phép quán này, nhằm làm cho những phiền não sâu nặng nhất dừng nghỉ, nên gọi là định tâm. 1. Quán bất tịnh: Quán này xét nhận thân và cảnh đều nhơ nhớp, không sạch, dễ làm cho lòng tham dục dừng nghỉ. Đối với người thân thì xét nó, bề ngoài mồ hôi nhễ nhại, lâu ngày không tắm rửa thì hôi hám không thể chịu đươc, xét bề trong cái thân, sau lớp da mỏng thì toàn là máu, mỡ, thịt, xương rất nhơ nhớp và chứa đựng những tiểu tiện, đại tiện 76


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

rất hôi thối. Xét cho cùng thì các thân người lúc ở trong thai, lúc mới sinh đã nhơ nhớp rồi và đến khi chết thì lại càng hôi thối nhơ nhớp hơn nữa. Có phép quán bất tịnh, quán thân người khi chết rồi, rồi màu da nhợt nhạt, có từng bợt xanh, bợt tím, bụng phình to lên, rồi nứt ra, chảy nước hôi hám, cuối cùng da thịt tiêu hết, chỉ còn bộ xương, rồi bộ xương đó cũng tan nát ra đất, ra bụi, gặp một trận gió thì bụi bay hết, không còn gì là cái thân nữa. Quán thân mình như thế, quán thân mọi người cũng như thế thì đối trị được lòng dâm dục. Đối với hoàn cảnh thì quán sát tất cả đều vô thường, như hoa nở rồi tàn, không có gì đáng ưa thích cả. Loài người sống trong cảnh đất bụi, bùn lầy, ít ngày không quét, không lâu thì đã nhơ nhớp, nên trong cảnh ấy thật không có gì đáng ham muốn. Xét như vậy, thì trừ được lòng tham muốn ngoại cảnh và giữ được tâm thanh tịnh. 2. Quán từ bi: Đối với những người hay nóng giận, thì nên học phép quán từ bi để đối trị, phép này xem xét loài người chịu nhiều thứ khổ. Trong lúc sống khổ như thế, loài người lại tranh giành lợi lộc với nhau gây ra những nghiệp ác, để về sau phải chịu quả báo khổ trong nhiều đời, rất đáng thương xót. Với lòng từ bi đó, mỗi khi thấy có người bị đọa đầy, áp bức, giết hại, thì người tu hành phải hi sinh tất cả để cứu khổ, cứu nạn, đi đến diệt những kẻ hung bạo, sát nhân, để cứu vớt người lương thiện. Người tu hành, tu phép quán từ bi, luôn luôn ở về phía đa số người áp bức, không từ một hi sinh nào, một hành động đối nghịch nào mà vẫn không thù, không giận. 3. Quán nhân duyên: Quán nhân duyên là quán tất cả sự vật, dầu thân tâm, dầu cảnh giới, đều do nhân duyên hội hợp mà giả dối sinh ra, nhân duyên tan rã là 77


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

giả dối diệt mất, sự thật thì không có gì đáng gọi là thân tâm và cảnh giới cả. Pháp quán này, đối trị lòng si mê chấp thật có thâm tâm, thật có cảnh giới. 4. Quán giới phân biệt: Quán giới phân biệt là xem xét chia sẻ nơi thân, nơi cảnh thành 18 giới riêng biệt. Trong 18 giới ấy ( 6 căn, 6 trần, 6 chức) không tìm ra được cái gì gọi là ta, nhưng ngoài 18 giới ấy ra, thì không còn cái gì, có thể gọi là ta được. Như thế, cái ta chỉ do một số tâm pháp và sắc pháp kết hợp lại mà thành, chỉ có tên gọi, chứ không có thật thể. Cũng có thể phân tích cả thân và cảnh thành 5 uẩn ( sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hoặc thành 6 đại ( địa, thủy, hỏa, phong, không, thức), để thấy rõ tất cả chỉ là những tướng hòa hợp, chỉ có danh mà không có thật, trong đó không có gì đáng gọi là ngã cả. Phép quán này, đối trị được ngã kiến và làm cho nhận được các pháp đều vô ngã. 5. Quán sổ tức: đối với những người, tâm thường tán loạn, thì nên tập phép quán sổ tức. Sauk hi điều hòa hơi thở, người tu hành tập đếm hơi thở từ 1 cho đến 10, rồi bắt đầu trở lại từ 1 đến 10, phải chuyên tâm như thế, một cách rõ ràng dứt khoát, không có nhầm lẫn. Tập lâu ngày, phép sổ tức thì tâm định được định tĩnh, không còn tán loạn nữa. Những người mới tu hành, đều nên tập 5 phép quán định tâm này, tùy tự xét tâm mình, phiền não nào nặng hơn, thì tập phép đối trị phiền não ấy trước. Về sau có thể tập đủ 5 phép để cho phiền não được nhẹ nhàng và tâm được chánh định.

b) 37 đạo phẩm gồm có: Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, bát chánh đạo và thất giác chi. 1. Tứ niệm xứ: Sauk hi tu 5 phép quán định tâm, người tu hành đã được phiền não nhẹ nhàng và bắt đầu được chánh định. Nhờ có định, người tu hành phát 78


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

trí tuệ, diệt trừ 4 kiến chấp điên đảo của thế gian là: không sạch bảo là sạch, khổ bảo là vui, vô thường bảo là thường, vô ngã bảo là ngã, đồng thời phát sinh 4 chánh quán là thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Bốn chánh ấy là tứ niệm xứ gồm có: -

Quán thân bất tịnh: nghĩa là quán thấy cái thân mình không sạch sẽ,

không đáng lưu luyến. Nhờ giữ luôn quan niệm như thế, nên không bị cái thân sai khiến, ngược lại, còn sai khiến được cái thân làm các điều thiện. -

Quán thọ thị khổ: nghĩa là quán thấy có lãnh nạp thì có khổ. Thọ ược

lược có ba thứ là lạc thọ, khổ thọ và xả thọ. Khổ thọ sinh ra khổ khổ, lạc thọ sinh ra hoại khổ, xả thọ sinh ra hành khổ, nên hễ có thọ thì có khổ. -

Các thọ ấy đều sinh ra do sự đối đãi giữa thân thể và cảnh giới. Nếu

không nhân cái thân là mình, thì sẽ không bị các thọ chi phối và sẽ bớt khổ. Lại, tâm đã không nhân cái thân mình là mình, thì không gắn bó với thân và sẽ không theo cái thân, mà nhận các sự sống chết. -

Quán tâm vô thường: nghĩa là quán thấy cái tâm ý phân biệt, duyên

với cảnh danh ngôn, là vô thường. Cái ý thức ẩy rong ruổi theo cảnh, chuyển biến mãi mãi, khi ngủ mê, khi chết giấc đã không còn, huống nữa là khi chết. Thế mà trong thế gian, nhiều người lại tin rằng, cái ý thức phân biệt đó vẫn tồn tại sau khi chết, đi đến tin có cái hồn biết người, biết mình, sống mãi dưới âm phủ. -

Sự sai lầm ấy, là trở ngại cho lòng tin chắc chắn về nhân quả và

nghiệp báo. -

Người ta thường tự hào với những tri thức của mình. Sự thật thì mọi

sự hiểu biết, đều do học hỏi mà có, đều từ ngòai đưa vào, chứ cái hiểu biết riêng biệt của mình thì chẳng có là bao.

79


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Vậy chẳng những cái thân, do sự kết hợp của các thứ vật chất từ ngoài đưa đến mà thành, mà cả cái trí thức cũng do từ ngoài mà có, không có gì gọi là riêng mình và cũng không có gì gọi là chắc thật cả. Lại có ý thức đó lúc nhỏ khác, lúc lớn khác, khi chưa học khác, khi đã học khác, khi chưa tu khác, khi đã tu khác, nên quả thật là vô thường. Nhận biết ý thức là vô thường, thì phá được thường kiến chấp có cái hồn bất diệt, đồng thời cũng giác ngộ được cảnh danh ngôn là giả dối, không thật là do tâm phân biệt biến hiện. -

Quán pháp vô ngã: nghĩa là quán thấy tất cả sự vật, dầu tâm, dầu cảnh, đều không có tự tính. Tất cả sự vật ấy, đều có thể nói được, có thể nghĩ được, nên gọi là pháp. Những sự vật có hình tướng đều do nhiều bộ phận hợp lại mà thành, nên đều là Nhất hợp tướng. Nhất hợp tướng như một tập giấy, do nhiều tờ giấy kết hợp lại mà thành, mỗi tời giấy đều không phải là tập giấy. Lại, tập giấy có thể tập hợp lại với một tập giấy khác, mà thành một tập giấy lớn hơn, hoặc có thể chia ra thành hai tập giấy nhỏ hơn. Rõ ràng tập giấy chỉ có tên gọi, chứ không có thật thể. Các tâm thức, cũng đều do nhân duyên hội họp mà phát sinh. Ngoài các nhân duyên ra, cũng không tìm được cái gì là tâm thức. Lại, tất cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập. Tâm đối với cảnh, cảnh đối với thân, lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối với chết, có đối với không, tất cả sự vật đều do đối đãi mà thành và cái này có, nên cái kia có. Người tu hành giữ tâm niệm luôn luôn ở trong 4 chánh quán như thế, thì trí tuệ ngày thêm phát triển và những bậc lợi căn, có thể chứng được Tu đà hoàn. 2. Tứ chánh cần: là sự 4 sự siêng năng chân chánh tu tập bỏ ác làm thiện. Bốn sự siêng năng đó là: 80


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Những điều ác đã làm thì quyết tâm không làm nữa, những điều ác chưa làm thì quyết tâm không làm, những điều thiện đã làm thì quyết tâm làm thêm nữa, và những điều thiện chưa làm thì quyết tâm làm cho được. Tứ chánh cần là giới, nhờ tinh tiến giữ giới như thế, mà người tu hành được định tuệ phát triển, theo con đường chân chánh. 3. Tứ như ý túc: là bốn chỗ nương đứng để phát khởi 6 thứ thần thông, vì thế tứ như ý túc cũng có tên là tứ thần túc. Túc là chân, như cái chân phải nương với cái chân mới đứng được, 6 thứ thần thông phải nương với 4 thứ thần túc mới phát sinh được. Bốn thần túc là dục, tinh tiến, định và quán ( theo các kinh điển, tên của tứ thần túc có khác nhau ít nhiều, nhưng ý nghĩa vẫn giống nhau) Người tu hành khi quán 5 phép định tâm đã có định, đến khi tu tứ niệm xứ, và tứ chánh cần, thì trí tuệ phát triển thêm nhiều, nên định lại hóa thành kém thua. Vì vậy người tu hành cần phải tu tứ thần túc, để cho định tăng lên, cân xứng với tuệ. Định và tuệ cân xứng nhau, thì như con chim đủ hai cánh, làm việc gì cũng thành tựu, nên gọi là tứ như ý túc, gồm có: -

Dục như ý túc: là do quyết tâm tu hành cho định tuệ cân nhau, mà

được thần thông. -

Tinh tiến như ý túc: là do tinh tiến tu hành cho định tuệ cân nhau, mà

được thần thông. -

Định như ý túc: là do tu chánh định, mà được thần thông.

-

Quán như ý túc: là do chuyên tâm trong chánh quán, mà được thần

thông. Sáu thứ thần thông là thiên nhãn thông, thấy những cõi xa xăm, thiên nhĩ thông, nghe những tiếng ở xa, tha tâm thông, biết được ý nghĩ người khác, thần túc thông, làm được những điều biến hóa kỳ diệu, túc mạng thông, nhớ lại các đời 81


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

trước, và lậu tận thông, tiêu diệt hết mọi sự mê lầm. Trong 6 phép định thần thông, 5 phép trước chung với thế gian, duy có lậu thần thông là phép riêng xuất thế gian. Người tu hành chỉ cốt được lậu tận thông, nhưng do định tuệ cân nhau, nên cũng được các thần thông khác. 4. Ngũ căn: là 5 cái cội gốc, để phát sinh các thiện pháp gồm có: - Tín căn: là trong tâm đã ghi sâu lòng tin Tam Bảo và Tứ đế. - Tính tấn căn: là trong tâm đã ghi sâu lòng cương quyết tu hành các thiện pháp. - Niệm căn: là trong tâm luôn luôn suy xét chân lý, phân biệt chánh, tà. 5. Ngũ lực: khi 5 căn phát triển mạnh mẽ, đủ sức tăng trưởng mạnh hơn nữa các thiện pháp và đối trị hơn nữa các phiền não mê lầm thì gọi là ngũ lực. Ngũ lực gồm có tín lực, tinh tiến lực, niệm lực, định lực, và tuệ lực. 6. Bát chánh đạo: Trong nhiều kinh điển, thường theo trình tự để Thất giác tri trước bát chánh đạo. Nhưng Bát chánh đạo là đường lối tu hành trừ kiến hoặc còn thất giác tri là đường lối tu hành trừ tu hoặc, nên để Bát chánh đạo trước Thất giác tri là đúng hơn. Bát chánh đạo gồm có 8 phần: -

Chánh tri kiến: sau khi được ngũ lực, phát sinh các thiện pháp đối trị

các kiến hoặc, thì nhận rõ đạo lý tứ đế, phát ra vô lậu tuệ, hướng về niết bàn, đó là Chánh tri kiến. -

Chánh tư duy: chánh tư duy nương với chánh tri kiến, suy xét chân lý,

khiến cho chân lý vô ngã thêm tăng trưởng. -

Chánh ngữ: chánh ngữ nương với ý nghiệp thanh tịnh trong chánh tư

duy mà tu khẩu nghiệp thanh tịnh, không phát ra những lời nói sai lầm, đó là Chánh ngữ.

82


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

-

Chánh nghiệp: chánh nghiệp là nương theo ý nghiệp, thanh tịnh mà tu

thân nghiệp thanh tịnh, trừ diệt tất cả các tà nghiệp. -

Chánh mạng: chánh mạng là nương với ý nghiệp thanh tịnh mà sống

theo Chánh pháp, xa rời các tà mạng. Ba phần chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng lấy vô lậu giới là thể. -

Chánh tinh tấn: chánh tinh tấn là cố gắng duy trì theo Chánh nghiệp,

diệt trừ những kiến hoặc nhỏ nhiệm trong ba cõi. -

Chánh niệm: chánh niệm là nương với vô lậu tuệ, luôn luôn ghi nhớ

nghĩ đạo lý vô ngã, diệt trừ những kiến chấp sai lầm. -

Chánh định: chánh định là thiền định thanh tịnh vô lậu, phát sinh vô

ngã trí, giác ngộ sinh không chân như và chứng quả Tu đã hoàn. 7. Thiền giác tri: Các vị Tu đã hòan đã diệt trừ các kiến hoặc, diệt trừ phân biệt ngã chấp, vào được thánh vị, nhưng còn có nhưng tư hoặc dây dưa trong tiềm thức, gây trở ngại cho sự giác ngộ hòan tòan. Vì vậy, các vị phải nương với vô ngã trí, dùng sinh không quán để diệt trừ các tư hoặc trong chin địa. Thất giác tri cũng có tên thất giác phần, thất đẳng giác tri, hoặc thất bồ đề phần, gồm có: - Trạch pháp giác tri: là dùng trí tuệ vô lậu, phân biệt chân, ngụy. - Tinh tấn giác tri: là dũng mãnh dùng sinh không quán, mà trừ các tư hoặc, thực hành Chánh pháp - Hỷ giác tri: là vui mừng được pháp giải thoát và tùy hỉ tất cả các thiện sự. - Khinh an giác tri: là sự khoan khoái yên lành do đã diệt trừ các kiến hoặc. Sự khoan khoái yên lành này, diệt trừ được các tư hoặc nặng nề, nên cũng có tên là Trừ giác tri.

83


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

- Niệm giác tri: là luôn luôn ở trong sinh không quán, làm cho định và tuệ cân nhau. - Định giác tri: là dùng không sinh quán, đối trị các tư hoặc, làm cho tâm không tán loạn. - Hành xả giác tri: là dùng không gian sinh quán, phóng xả tất cả các pháp thế gian, không giữ một bóng dáng gì trong tâm, làm cho tâm luôn luôn được thanh tịnh sáng suốt. Các vị Tu đã hòan, nương với sinh không quán, dùng các giác chi mà đối trị các tư hoặc Khi diệt được 6 phẩm trước của tư hoặc Dục giới, thì chứng quả Tư đã hàm. Khi diệt hết 9 phẩm tư hoặc Dục giới, thì chứng quả A na hàm, không trở lại Dục giới nữa. Khi diệt trừ hết các tư hoặc của Dục giới, Tứ thiền và Tứ không thì chứng quả A la hán, hoàn toàn giải thoát ra khỏi ba cõi. THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN là phép tu hành của Duyên giác thừa, phép nà chủ yếu quan sát tất cả các sự vật, cho đến luân hồi, đều do nhân duyên mà phát khởi, nhân duyên hội họp thì gọi là sanh, nhân duyên tan rã thì gọi là diệt, sự thật vốn không có cái gì sanh, cái gì diệt cả. Trước khi Phật ra đời, cũng đã có nhiều vị tu hành giác ngộ được đạo lý nhân duyên, ra khỏi luân hồi, đó là các vị Độc giác. Các vị Độc giác thường quán tất cả sự vật, dù thân hay cảnh, dù sống hay chết, đều do các duyên hội hợp mà hóa thành như có, chứ không phải thật có. Các vị thường quán các sự vật, chỉ có tánh đối đãi, chứ không có tự tánh. Ví dụ như tờ giấy, nó có những tính cách là mỏng, là vuông, là trắng, những tính cách đó đều là đối đãi, vì mỏng đối với dày mà có, vuông đối với cái không vuông mà có, trắng 84


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

đối với cái không phải trắng mà có, lại tờ giấy là vật có hình tướng, có cũng đối với không mà thành, rõ ràng tờ giấy chỉ có những tính cách đối đãi, ngoài những tính cách ấy ra, thì không thể chỉ thế nào là tờ giấy được. Lại tờ giấy là một nhất hợp tướng, do rất nhiều cực vi kêt hợp lại mà thành, ngoài các cực vi ra, cũng không còn tờ giấy nữa. Lại tờ giấy có những nguyên nhân của tờ giấy, nơi tờ giấy, người ta có thể nhận rõ tác dụng của các nguyên nhân ấy, đã kết hợp như thế nào ngoài những tác dụng ấy ra, cũng không thể tìm cái gì là tờ giấy được. Quán sát như thế, thì nhận rõ được các tướng của sự vật đều giả dối, không thật, theo duyên mà phát hiện, theo duyên mà thay đổi, không có gì chắc thật cả. Các vị Độc giác quán như thế, thì ngộ được các pháp đều vô ngã, cảnh cũng vô ngã, thân cũng vô ngã, tâm cũng vô ngã, cho đến những sự sống, chết, đều vô ngã. Đồng thời, các vị Độc giác cũng ngộ được các pháp vô ngã như thế, theo duyên mà chuyển biến, mà thường dùng định lực quán cái có ra không, cái không ra có, làm cho càng rõ thêm sự thật của mọi sự vật, chứng được bản tánh vô ngã và ra khỏi luân hồi. Đối với những đệ tử Phật, có căn cơ quán sát nhân duyên, thì Phật dạy 12 nhân duyên phát khởi ra luân hồi, để các đệ tử ấy tu tập theo và chứng quả Duyên giác. Mười hai nhân duyên của luân hồi là một dây chuyền liên tục, chuyền từ khâu này đến khâu khác, trong một đời cũng như trong nhiều đời, 12 nhân duyên ấy là vô minh duyên ra hành, hành duyên ra thức, thức duyên ra danh sắc, danh sắc duyên ra thức, thức duyên ra danh sắc, danh sắc duyên ra lục nhập, lục nhập duyên ra xúc, xúc duyên ra thọ, thọ duyên ra ái, ái duyên ra thủ, thủ duyên ra hữu, hữu duyên ra sinh, sinh duyên ra lão tử.

85


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Cần nhận rõ hành tướng của các nhân duyên, hiểu rõ sự tác động của nhân duyên này đối với sự phát sinh của các nhân duyên khác, dùng phép quán duyên khởi, diệt trừ những khâu chính trong dây chuyền 12 nhân duyên, để đi đến chứng được đạo quả của Duyên giác thừa. 1.

Vô minh: vô minh là không sáng suốt, là mê lầm, không nhận được

bản tính duyên khởi chân thật. Do vô minh, nên không biết tất cả sự vật, dầu thân, dầu cảnh, dầu sinh, dầu diệt, dầu năng, dầu sở, dầu có, dầu không, đều do nhân duyên hội họp mà giả dối sinh ra, do nhân duyên tan rã mà giả dối mất đi, đều theo nhân duyên mà chuyển biến như huyễn, như hóa, không có thật thể. Chính vì không biết như thế, nên lầm nhận thật có cái ta, thật có cái thân, thật có hoàn cảnh, là do sự đối đãi giữa thân tâm và cảnh giới, phát khởi ra những tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng. 2.

Hành: Hành, chính là cái tâm niệm sinh diệt, chuyển biến không

ngừng ấy, nó làm cho chúng sanh nhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng của mình, chủ trương gây các nghiệp, rồi về sau gây quả báo. 3.

Thức: tâm niệm sinh diệt tiếp tục ấy, theo nghiệp báo duyên ra các

thức tâm của mỗi đời, chịu cái thân và cái cảnh của loài này hoặc loài khác. 4.

Danh sắc: cái thức theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc. Sắc, bao

gồm những cái có hình tướng, như thân và cảnh; Danh gồm những cái không có hình tướng, như các sự hay biết, nói một cách khác, là thức tâm thuộc nghiệp nào, thì hiện ra thân tâm và cảnh giới của nghiệp ấy. 5.

Lục nhập: Thân tâm đối với cảnh giới thì duyên khởi ra các sự lãnh

nạp nơi 6 giác quan, nhãn căn lãnh nạp sắc trần, nhĩ căn lãnh nạp thanh trần, tỷ căn lãnh nạp hương trần, thiệt căn lãnh nạp vị trần, thân căn lãnh nạp xúc trần và ý căn lãnh nạp pháp trần.

86


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

6.

Xúc: Do những lãnh nạp như thế, mà các trần ảnh hưởng đến tâm hay

biết sinh ra quan hệ với nhau, nên gọi là Xúc. 7.

Thọ: Do những quan hệ giữa tâm và cảnh như thế, nên sinh ra các thọ

là khổ thọ, lạc thọ, hỉ thọ, ưu thọ và xả thọ. 8.

Ai: Do các thọ đó, mà sinh lòng ưa ghét, đối với lạc thọ, hỉ thọ là ưa,

đối với khổ thọ, ưu thọ thì ghét và đã có ưa ghét thì tâm gắn bó với thân, với cảnh hơn bao giờ hết. 9.

Thủ: Do tâm gắn bó với thân, với cảnh nên không thấy được sự thật

như huyễn, như hóa, mà còn kết hợp những cảnh tượng rời rạc đã nhận nơi hiện tại, thành những sự tướng cố định, rồi từ đó chấp mọi sự vật đều thật có, sự chấp trước như thế, gọi là thủ. 10.

Hữu: Do tâm chấp trước, như những sự vật như huyễn như hóa lại

biến thành thật có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có sống và có chết, cái có như thế, tức là hữu. 11.

Sinh: Có sống, tức là có sinh, nói một cách khác, là do không rõ đạo

lý duyên khởi như huyễn, không có tự tánh, nên nhận lầm thật có sinh sống. 12.

Lão tử: Lão tử là già rồi chết. Do có sinh sống, nên có già, rồi có chết.

Mười hai nguyên nhân là một dây chuyền liên tục, chuyền từ khâu này đến khâu khác trong nhiều đời. Do có vô minh qua hành ở các đời quá khứ nên duyên khởi ra thức tâm của đời này. Thức tâm ấy, theo nghiệp báo sinh ra danh sắc, danh sắc duyên sinh ra lục nhập, lục nhập duyên sinh ra xúc, xúc duyên sinh ra thọ. Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, đều là cái quả báo dị thục của các nghiệp, đã gây ra từ trước. Khi tâm chúng sanh chịu cái quả báo đó, thì do sự đối đãi giữa thân và cảnh lại sinh ra những điều ưa ghét, đó là ái. Rồi do ưa ghét, mà gắn bó với thân và cảnh, chấp là thật có, không biết thân tâm và cảnh giới đều duyên khởi như huyễn, 87


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

đó là thủ. Do có chấp trước, nên mọi sự vật, vốn là huyễn hóa, lại biến thành thật có, thân cũng có, cảnh cũng có, ý thức phân biệt cũng có, mình cũng có, người cũng có, rồi từ đó, sinh ra có gây nghiệp và có chịu báo. Đã có gây nghiệp và đã có chịu báo, thì khi hết thân này, nghiệp báo sẽ dẫn dắt vào một thân khác trong vị lai, đó là sanh, mà đã có sanh thì nhất định có lão tử. Nếu xét các duyên, từ đời hiện tại đến đời tương lai, thì chẳng những cái vô minh sẵn có từ trước là vô minh, mà thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ cũng đều thuộc về vô minh. Hành cũng thế, chẳng những các nghiệp quá khứ là hành, mà các nghiệp hiện tại như ái, thủ, hữu, cũng đều thuộc về hành. Như thế vô minh quá khứ cộng với vô minh hiện tại và hành quá khứ cộng với hành hiện tại, cùng nhau duyên khởi ra thức tâm của nghiệp báo đời sau. Về nghiệp báo đời sau, thì trong một chữ sanh, đã gồm đủ thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ và hữu, thì một phần thuộc về sanh, một phần thuộc về lão tử. Rồi do trong đời vị lai này, có gây nghiệp, có chịu báo, nên có sanh và lão tử đời sau nữa. Do 12 nhân duyên chuyển mãi, từ khâu này đến khâu khác, trong quá khứ, hiện tại, vị lai nên chúng sanh chìm đắm mãi mãi trong đường luân hồi. Nhưng nếu xét cho cùng, thì chẳng những trong nhiều đời, mà trong một đời, chẳng những trong một đời, mà trong từng niệm, từng niệm, 12 nhân duyên vẫn khởi ra nhau, liên tục không gián đoạn. Trong một đời, thì chúng sinh trong vô minh không nhận đạo lý duyên khởi như huyễn, nên tâm mới vọng động, đó là hành. Do tâm vọng động mà có tiềm thức phát khởi liên tục theo nghiệp báo và duyên ra danh sắc, danh sắc duyên ra lục nhập, lục nhập duyên ra xúc, xúc duyên ra thọ, thọ duyên ra ái, ái duyên ra thủ, và đã có chấp thủ thì có thân tâm, có cảnh giới, có gây ra các nghiệp huân tập nơi tiềm thức, cho đến có sự sinh sống, có sự 88


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

chuyển biến, có già, có chết. Nhưng sinh, trụ, dị, diệt như thế, xét cho cùng tột, thì từng niệm, từng niệm, chúng sanh đều có, nên từng niệm, từng niệm cũng đều đầy đủ 12 nhân duyên. Trong 12 nhân duyên, thì nguyên nhân căn bản của luân hồi, tức là vô minh và nguyên nhân của tất cả sự chuyển biến trong luân hồi, tức là hành. Chỉ khi nào diệt trừ được vô minh, thì mới giác ngộ, chỉ khi nào diệt trừ được hành thì mới hết sanh diệt, vì thế các vị tu hành phép thập nhị nhân duyên, cần phải theo đạo lý duyên khởi, mà quán tất cả sự vật đều duyên sinh như huyễn, không có tự tánh, để diệt trừ vô minh. Khi phát ra trí tuệ, trừ được vô minh, thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử đều diệt hết. Nên nhận rõ 12 nhân duyên chỉ duyên sinh ra nhau và mỗi khâu, chỉ là một nhân duyên đối với khâu khác, chứ không phải tất cả các nhân duyên đối với khâu ấy, như vô minh duyên sinh ra hành, thì vô minh là một nhân duyên, trong nhiều nhân duyên sinh ra hành, chứ không phải một mình vô minh sinh ra hành. Nói vô minh duyên sinh ra hành, thì có nghĩa là, nếu thiếu vô mình là nhân duyên thì hành không phát khởi đươc. Đối với các khâu khác, thì cũng đều có nghĩa như thế. Nhưng, nếu trong tất cả các duyên tạo thành một khâu, diệt trừ được một nhân duyên, thì cái khâu ấy quyết định không sinh ra được. Chính vì vậy, ngược lại, lúc lưu chuyển, khi đã diệt trừ được vô minh, thì cả 12 nhân duyên đều được diệt trừ và người tu hành được giải thoát ra khỏi sanh tử. Trong lúc tu phép quán thập nhị nhân duyên để ra khỏi luân hồi, nhà tu hành thường quán theo đạo lý duyên khởi và bắt đầu diệt trừ những khâu quan trọng, duyên khởi ra phân đoạn sanh tử là ái, thủ và hữu. Các vị này nương theo đạo lý duyên sinh, quán biết thân cảnh đều giả dối, không thật, và các thọ sinh ra trong quan hệ giữa thân và cảnh, vốn không có gì nên diệt trừ được lòng ưa ghét. Khi lòng ưa ghét đã diệt trừ thì đối với tất cả các sắc, đều xem như bóng trong gương, 89


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

đối với tất cả các tiếng, đều xem như luồng gió thổi qua, không có gì là chắc thật và cũng không có gì đáng để ý. Do tâm đối với cảnh không phát sinh ưa ghét và thường phóng xả như thế, nên sự chấp trước cũng giảm bớt, đi đến bị tiêu diệt hết. Tâm đã không chấp trước, thì thấy mọi sự vật đều huyễn hóa, không thật có, chính khi sinh, không có gì đáng gọi là sinh, chính khi diệt không có gì đáng gọi là diệt, do đó, phát khởi được trí vô ngã, diệt trừ phân biệt ngã chấp và chứng được bậc sở tâm của Duyên giác thừa. Từ đó, các vị sơ tâm dùng trí vô ngã gột rửa lần lần các thói quen mê lầm, diệt trừ hành ấm, diệt trừ cơ sở vô minh duyên sinh ra luân hồi và lên quả vô học. Nói tóm lại, phép tu của Duyên giác thừa, cũng như các quả vị Độc giác, đều dựa v��o phép quán mọi sự, mọi vật đều do nhân duyên mà sinh, nên không có thật sinh, do nhân duyên mà diệt, nên không thật có diệt, mà chứng được đạo quả vô sinh diệt. Các vị tu theo Duyên giác thừa, còn quán các sự vật đều do duyên hợp thành và thường theo duyên mà chuyển đổi những sự vật này, hóa thành sự vật khác, để trực nhận một cách sâu sắc đạo lý duyên khởi như huyễn. Do lối tu như thế, nên các vị Độc giác và Duyên giác thường có rất nhiều thần thông và cũng hay dùng thần thông để hóa độ chúng sanh. Do các vị ấy, chứng được đạo lý Duyên khởi như huyễn nên phạm vi hóa độ chúng sanh cũng rộng lớn hơn Thanh văn thừa và chỗ giác ngộ cũng gần với Bồ tát thừa hơn. Vì thế, mà trong kinh có nơi gọi Duyên giác thừa là Trung thừa, nghĩa là cái thừa ở giữa Tiểu thừa và Đại thừa. Các vị Độc giác, khi hồi tâm hướng về Đại thừa, phát nguyện rộng lớn thì thường mau chóng chứng được những quả vị của Đại thừa.

90


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

BỒ TÁT THỪA Bồ tát thừa là đường tu hạnh của các vị Bồ tát, nhằm tự giác, giác tha, đến giác hạnh viên mãn và thành Phật đạo. Trong Thanh văn thừa và Duyên giác thừa đường lối tu hành của Phật dạy, đều dừa vào qui luật nhân quả sẵn có, trong diễn biến của sự sự, vật vật, đường lối này chủ yếu nhận rõ nguyên nhân của luân hồi, tu tập diệt trừ những nguyên nhân ấy, để ra khỏi luân hồi và được giải thoát. Còn Bồ tát thừa, thì nhằm mục đích là tự giác và giác tha, đi đến giác hạnh viên mãn. Tự giác là giác ngộ bản lai tự tánh của mình. Muốn giác ngộ được bản lai tự tánh, thì điều cốt yếu yêu là phải nhận rõ, thế nào là bản lai tự tánh. Tất cả sự vật vật có danh, có tướng, có thể nhận biết được, thì đều gọi là pháp, và đều thuộc về một giới, gọi là pháp giới. Bản tánh của pháp giới là các pháp duyên khởi ra nhau, một pháp duyên khởi ra tất cả các pháp, tất cả các pháp khởi ra một pháp, cùng 3 đời 10 phương, không thể tách rời một pháp nào với một pháp nào cả. Ví dụ, như hạt bụi là một vật có hình tướng, vật có hình tướng này không thể riêng có một mình, và chỉ có được nhờ đối với những cái không có hình tướng. Những cái không có hình tướng đó, cũng phải nhờ đối với những cái có hình tướng khác mà thành, và những cái có hình tướng khác đó, lại cũng phải nhờ đối với những cái không hình tướng khác nữa mà thành, các pháp ảnh hưởng dây chuyền nhau như thế, nên cái có của hạt bụi, là do tất cả sự vật trong 3 đời, 10 phương duyên khởi ra và chính hạt bụi, lại cũng duyên khởi ra tất cả các sự vật trong 3 đời, 10 phương. Nếu cái có hình tướng của hạt bụi không thành lập thì cái không có hình tướng cũng không thể thành lập và như thế tất cả sự vật đều hóa 91


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

thành không có tính cách gì. Cái tính của tất cả các pháp duyên khởi dây chuyền lẫn nhau, thì gọi là tánh trùng trùng duyên khởi, tánh ấy là tánh của pháp giới, nên cũng được gọi là pháp giới tánh. Dựa vào pháp giới tánh này, tất cả các pháp tác động, ảnh hưởng, chi phối…nương tựa, kết hợp, đối đãi lẫn nhau mà chuyển biến không ngừng, theo qui luật nhân quả, nên gọi pháp giới tánh là cơ sở, là then chốt của nhân quả, nghĩa là tất cả nhân quả, chỉ có thể diễn biến trong pháp giới tánh mà thôi. Tâm của chúng sanh là một pháp, trong vô lượng, vô số pháp. Đã là một pháp thì bản tánh của tâm chỉ có thể là pháp giới tánh. Vậy giác ngộ bản lai tự tánh, tức là giác ngộ pháp giới tánh của tự tâm. Pháp giới tánh của tự tâm cũng tức là pháp giới tánh của tất cả sự vật, của tất cả các pháp, không có gì sai khác. Do pháp giới tánh không có sai khác, nen gọi là như, do pháp giới tánh rõ thật là bản tính của các pháp, nên gọi là chân, vì thế nên pháp giới tánh cũng gọi là tính chân như. Giác ngộ được tánh chân như của tâm mình, thì gọi là tự giác. Pháp giới tánh là chân như, nhưng pháp giới tánh lại có khả năng duyên khởi ra mọi sự vật, mọi vật, duyên khởi ra thế giới và chúng sinh trong 10 phương 3 đời có nhiều tướng sai khác, mặc dù bản tánh vẫn là chân như, không có sai khác. Nếu chỉ nhận được cái tánh chung của các pháp là tánh chân như, thì còn chưa có nhận thức sâu sắc về pháp giới tánh, vì thế, các vị giác ngộ được bản lai tự tánh cần phải vận dụng pháp giới tánh trong nhiều trường hợp khác nhau, để thấy rõ cái dụng to lớn của pháp giới tánh, để thấy rõ pháp giới tánh duyên khởi ra các sự vật mà không hề thay đổi, pháp giới tánh tuy không hề thay đổi, mà có khả năng duyên khởi ra các sự vật. Vì thế, đi đôi với những công hạnh tự giác, các vị Bồ tát còn tu tập những công hạnh giác tha, nghĩa là hiện ra nhiều thân trong các loài, để hóa độ chúng sanh, đồng thành Phật đạo. 92


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Cả trong lúc phát tâm tu học Bồ tát thừa, các vị Bồ tát cũng đã phát đại nguyện phổ đọ chúng sanh, vì chỉ khi nào công hạnh giác tha được viên mãn, thì công hạnh tự giác mới thật viên mãn, nghĩa là chứng được toàn thể, toàn dụng của pháp giới tánh. Nếu không có công giác hạnh tha, thì chân như chỉ là các chân như tương đối, cái chân như đối với cái không chân như, như chân như vô dụng, không thể là bản tánh chân như của pháp giới tánh. Lại, cũng chỉ nhờ công hạnh giác tha, mới rõ được, thực tướng của pháp giới, thật tướng ấy, về phương diện tuyệt đối là bất khả tư nghị, nghĩa là không thể nghĩ được, không thể nói được, mà về phương diện tương đối, thì lại có thể nghĩ được, có thể nói được. Thực tướng tương đối này rất phức tạp, vì một vật dù nhỏ đến đâu, cũng đối đãi hiện ra các vũ trụ của mình và cái tướng của vật đó, cũng chuyển biến theo sự đối đãi của các vật khác. Chính vì thế, mà chúng sanh có cái thân nào, thì đồng thời cũng có cái cảnh giới đối hiện với cái thân ấy, vì thế mà một sự vật nào cũng có những tướng đối hiện trong cảnh giới của tất cả sự vật khác. Việc sự vật đối hiện lẫn nhau như thế, thì gọi là hiện hữu. Đối đãi mà thành ra có, do đối với cái này thì hóa ra thế này, đối với các khác thì hóa ra thế khác, như huyễn, như hóa, không có tự tánh, nên gọi là hiện hữu. Chỉ khi nào thực hành trong hiện hữu mà hóa độ quần sanh, thì mới nhận rõ thực tướng của pháp giới, đi đến chẳng những nhận rõ cái không sai khác về thể tánh, đi đến nhập một với pháp giới tánh và thành Phật đạo. Những phương pháp tu hành để nhập một với pháp giới tánh rất nhiều, nay chỉ xin giới thiệu hai phương pháp là: nhất tâm tam quán và lục ba la mật; A. Nhất tâm tam quán. Tâm là tâm hay biét hiện tiền của chúng ta, tâm ấy là một pháp, nên bản tánh của tâm ấy tức là pháp giới tánh. Pháp giới tánh chỉ là một, nên gọi là nhất tâm. Nhất tâm là tuyệt đối chỉ có tâm tính, ngoài tâm tính ra, không còn gì nữa, nói một 93


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

cách khác là tất cả sự vật, dầu tâm, dầu cảnh, dầu sắc, dầu không, dầu mê, dầu ngộ, dầu Phật, dầu chúng sanh, đều chỉ là tâm tính. Trong tâm tính tuyệt đối ấy, thực tế không còn cái gì, không phải là tâm tính, nên cũng không còn đối với cái gì, mà gọi là tâm tính được nữa. Người tu hành nương theo đạo lý nhất tâm này, mà tu 3 phép quán, nên gọi là nhất tâm tam quán. Ba phép quán là Không Quán, Giả Quán, Trung Quán. 1.

Không Quán: là quán tất cả sự vật nghĩ bàn được, đều do sự chi

phối của tâm phân biệt, ngoài tâm phân biệt ra, thì cũng có thể có những sự vật nghĩ bàn được, như thế tất cả các sự vật nghĩ bàn được, nghĩa là tất cả các pháp, đều do tâm phân biệt biểu hiện như huyễn, không có tự tính. Lại cái tâm tên phân biệt đó, ngoài các pháp bị phân biện ra, cũng không còn gì, do đó, chẳng những các pháp bị phân biệt và các tâm phân biệt đều không có tự tính. Không quán diệt trừ được tất cả các phân biệt và đem về vô phân biệt. 2.

Giả Quán: giả quán là quán tất cả sự vật, tuy không có tự tính,

nhưng lại có thể đối đãi hiện ra nhiều tướng sai khác, song tất cả những cái sai khác đó, chỉ là cái sai khác, trong bản tính không sai khác. Giả quán là vô phân biệt, hiện ra có phân biệt, đồng thời qui nạp tất cả những cái có phân biệt, trở về bản tính vô phân biệt. Do giả quán này, người tu hành có thể theo sự phân biệt của chúng sanh mà làm Phật sự, mà làm các công đức, nhưng vẫn không rời tách vô phân biệt. 3.

Trung Quán: trung quán là tất cả sự vật phân biệt thì có, không

phân biệt thì không, thực tế vẫn không thể nghĩ bàn được và vẫn ra ngoài cái có và cái không, cho đến ra ngoài tất cả các quan niệm đối đãi khác lần lần đi đến bản tánh chân như, theo duyên mà không thay đổi, không thay đổi mà theo duyên, phát ra bình đẳng tánh trí, nhận tất cả sự vật đều bình đẳng, cho đến Trung đạo và không Trung đạo cũng bình đẳng, bình đẳng và bất bình đẳng cũng bình đẳng từ đó 94


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

phát huy diệu dụng của chân như, đi đến nhập một với pháp giới tánh, trên cùng với Chư Phật đồng lực, dưới cùng với chúng sanh đồng một bi ngưỡng, mà thực tế cho thấy có sự sau khác giữa mình và người, giữa tâm và cảnh, giữa có và không, giữa mê và ngộ, giữa Phật và chúng sanh. Đó là chân pháp của chư Phật và của các vị pháp thân Bồ tát. B. Lục ba la mật Lục ba la mật là 6 pháp đến bờ bên kia. Bờ bên này là vô minh, bờ bên kia là trí tuệ giác, sáu phép ba la mật là những phép tu h ành, thuận theo trí tuệ tự giác, đi đến trí tuệ tự giác, nên gọi là đến bờ bên kia. Sáu phép ấy là Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và Bát nhã ba la mật. 1.

Bố thí ba la mật:

Bố thí là đem những cái mình có, mà giúp cho người thì gọi là tài thí, khi đem Chánh pháp mà dạy cho người thì gọi là pháp thí, khi đem sức mình mà cứu giúp che chở cho người thì gọi là vô úy thí, nghĩa là bố thí cái không sợ, khi người khác đang sợ hãi. Các vị Bồ tát thuận theo bản tánh không có xân tham mà tu hạnh bố thí. Trong lúc bố thí các vị không rời bản tánh chân như, nên không thấy thật có mình bố thí, thật có người chịu bố thí, thật có sự bố thí, không thấy thật có quả báo bố thí và không mong cầu quả báo ấy, nên gọi là bố thí ba la mật, khác với lối bố thí thông thường, còn phân biệt mình, có người, có sự, có vật. Do các vị Bồ tát thuận theo tâm tánh vô biên mà bố thí nên phúc đức cũng vô lượng, cũng vô biên. 2.

Trì Giới Bà La Mật

Các vị Bồ tát nhận xét bản tánh không có nhiễm trước, nên thuận theo bản tánh, tu hành phép trì giới ba la mật. Giới có ba nhóm: Nhóm thứ nhất là nhiếp luật nghi giới, gồm tất cả những luật nghi phải giữ gìn một cách nghiêm túc, khi đã lãnh thọ, để hộ trì thân tâm được thanh tịnh, xa rời các ác nghiệp. Bồ tát chấp trì luật nghi nơi thân, làm cho thân được thông suốt, chấp trì luật nghi nơi tâm, làm 95


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

cho tâm không vọng động, đi đến cả thân và tâm đều yên lặng thông suốt, không còn những niệm bất niệm và mê lầm. Nhóm thứ hai: là nhiếp thiện pháp giới, nghĩa là cái giới buộc phải làm tất cả những điều kiện hữu lậu và vô lậu, nói một cách khác là phải học làm tất cả những điều lợi cho người và cho các loài hữu tình, đồng thời, phải có học tập và tu hành tất cả các pháp môn thuận theo bản tánh thanh tịnh. Nhóm thứ ba: là nhiêu ích hữu tình giới là cái giới buộc phải tìm mọi cách làm lợi ích cho tất cả các loài hữu tình, đặc biệt là làm cho các loài hữu tình hiểu biết và tín ngưỡng Phật giáo, dẫn dắt các loài hưữ tình tu hành theo đạo giải thoát. Các vị Bồ tát chú ý đặc biệt việc hóa độ chúng sanh, vì biết rõ tất cả những phúc báo thế gian chỉ là tạm thời, duy có dắt dìu chúng sanh vào con đường giải thoát, thì mới phục vụ lợi ích lâu dài cho chúng sanh mà thôi. Trong lúc giới trì các vị Bồ tát không thấy thật có mình trì giới, không thấy thật có giới phải trì, không thấy thật có thiện, thật có ác, thật có hóa độ, thật có chúng sanh, nói một cách khác, không lúc nào rời bản tánh chân như, nên gọi là trì giới ba la mật. 3.

Nhẫn nhục Ba la mật

Nhẫn nhục Ba la mật, nếu dịch cho đúng thì phải dịch là nhẫn ba la mật, vì nhẫn có nhiều hành tướng sai khác, chứ không phải chỉ là nhẫn nhục. Nhẫn gồm 3 thứ là: an thọ khổ nhẫn, nghĩa là an tâm chịu các cảnh khổ, nại oán hại nhẫn, nghĩa là chịu đựng những sự hãm hại của kẻ thù và Đế sát pháp nhẫn, nghĩa là bền chí, quyết tâm quán sát chín chắn chân tánh của các pháp. Các vị Bồ tát thuận theo bản tánh chân như vốn không có giận ghét, không có chấp nệ mà tu hành nhẫn ba la mật. Chẳng những đối với những nghịch cảnh, có hại cho mình, Bồ tát không sanh lòng giận ghét, mà đối với những thuận cảnh, có lợi cho mình, Bồ tát cũng không sanh lòng tham trước, Bồ tát còn đi ngược lại những thói quen mê lầm nhiều đời 96


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

nhiều kiếp, kiên quyết không nhận thật có ngã, thật có pháp, m���c dầu sự thúc giục của những thói quen đó. Do tâm cương quyết ấy, Bồ tát luôn luôn tập tự tâm bằng những chánh niệm vô ngã, vô pháp, đi đến thật chứng vô sinh nhẫn và vô pháp nhẫn. Trong lúc tu hành nhẫn ba la mật, các vị Bồ tát không thấy thật có mình tu hành, thật có nhẫn phải tu, thật có đạo quả phải chứng, không hề rời bản tánh chân như, nên gọi là nhẫn ba la mật. 4.

Tinh tấn ba la mật

Các vị Bồ tát thuận theo bản tánh không có lười biếng, mà tu hành tinh tấn ba la mật. Do các vị Bồ tát thật biết sẵn có tâm tính thanh tịnh, sáng suốt như Phật không khác, nên phát tâm cương quyết tu tập phát hiện tâm tánh ấy, luôn luôn tiến mãi trên con đương Bồ Đề, nên gọi là tinh tấn. Như thế, tinh tấn không phải là cái siêng năng thông thường mà cái siêng năng tu tiến trên con đường tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Tinh tấn bao gồm tất cả các ba la mật, nó có tác dụng thcú đẩy tu tiến thêm mãi, không tự mãn với những pháp đã thực hiện được. Trong lúc tinh tấn các vị Bồ tát thuận theo bản tánh chân như, không thấy thật có pháp phải tu, không thấy thật có việc phải làm, không thấy thật có đạo quả phải chứng, nên gọi là tinh tấn ba la mật. 5. Thiền định ba la mật Thiền định dịch là Tịnh lự, có cả tịnh và lự, nghĩa là có cả sự yên lặng và sự suy nghĩ cắt nghĩa thiền định là “ tâm nhất cảnh tính” tâm nhứt cảnh tính có rất nhiều nghĩa: hàng sơ tâm tu tập thiền định chuyên tâm về một cảnh, thì chỉ được tâm nhứt cảnh, chứ chưa được tâm nhất cảnh tính. Các vị tu tập thiền định quán tất cả các cảnh đều đồng một tính, như tính chân không, tính như huyễn… thì bắt đầu được gọi là tâm nhất cảnh tính, vì tâm chỉ duyên với một tính của cảnh mà thôi. Nhưng tâm năng quán và cảnh sở quán không thể tách rời nhau, năng với sở là một, tâm với cảnh không hai, nên chỉ khi nào, đi đến tri và lý hợp nhất, năng và sở 97


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

đồng một thể tính, thì mới thật được tâm nhất cảnh tính. Các vị Bồ tát tu thiền định, nhưng vẫn thuận theo bản tánh chân như, không thấy thật có thiền định phải tu, không thấy thật có đạo quả phải chứng, nên gọi là thiền định ba la mật 6. Bát nhã ba la mật Bát nhã, thường dịch là trí tuệ, do trí tuệ ấy, phát hiện bản tánh chân như, không được một cái gì, nên cũng gọi là không tuệ. Bồ tát thuận theo bản tánh không có si mê mà tu hành trí tuệ ba la mật. trí tuệ là cái tâm sở biết lựa chọn giữa chân và vọng, giữa thật và giả, phân tích ra thì có văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Văn tuệ: là khi nghe Phật pháp, hiểu rõ ý nghĩa, bắt đầu quan niệm được bản tánh thanh tịnh sáng suốt của mình, do đó phát lòng tin chắc chắn đối với Phật pháp. Tư tuệ: là nương theo Chánh pháp đã nghe được, tự mình suy xét nơi cảnh hiện tiền, đi đến giác ngộ được bản lai tự tánh của mình, không có sai lầm . Tu tuệ: là nương theo cái trí tuệ, bắt đầu trực nhận bản tánh chân như mà tu tập gột rửa những thói quen mê lầm từ nhiều kiếp để lại, đem đến, duy có một tâm chân như, phát ra cái diệu dụng của chân như, đầy đủ vô lượng, vô biên công đức và nhập một với pháp giới tánh. Trí tuệ bát nhã của các vị Bồ tát phá tan tất cả những kiến chấp mê lầm, chấp có thật ngã, thật pháp, thuần một Trung đạo, không còn sự đối đãi gì, tuyệt nhiên không có sự phân biệt về người, về mình, về tâm, về cảnh, về thời gian, về không gian, về thường, về đoạn, về có, về không, về trung gian hay không phải trung gian, về lý, về sự, nên gọi là bát nhã ba la mật. Các vị Bồ tát vận dụng Bát nhã ba la mật mà hóa độ chúng sanh, mà đầy đủ bốn đức từ, bi, hỉ,xả. Từ là yêu mến chúng sanh, cho chúng sanh các điều vui, Bi là thương xót chúng sanh, cứu chúng sanh khỏi điều khổ, Hỉ là vui mừng khi được gặp gỡ thân cận chúng sanh, vì đó là dịp kết duyên và hóa độ, Xả là nhận rõ mọi 98


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

sự, mọi vật đều là những tướng sai khác của bản tánh không sai khác, nên tuy làm rất nhiều Phật sự, rất nhiều công đức, nhưng vẫn không thấy có ai làm, có làm cái gì và có làm cho ai, vẫn không được một cái gì cả. Vì bản tánh là chân như, ra ngoài các sự đối đãi. Trong 6 phép ba la mật, bố thí, trì giới và nhẫn nhục về phần giới, thiện định thuộc về phần định, và Bát nhã thuộc về phần tuệ, tinh tấn thì bao gồm tất cả. Giới, định, tuệ là phép vô lậu học, mà tất cả các đệ tử Phật đều phải tu trì. Có trì giới được nghiệm túc thì tâm mới yên lặng và dễ tu thiền định, có tu thiền định thì mới phát ra trí tuệ và được giải thoát. Bồ tát tu 6 phép ba la mật, thì tăng thêm tư lương về phúc đức và trí tuệ, và nhờ các tư lương ấy mà chứng được những đạo quả trên đường Bồ đề. Muốn tu theo Bồ tát thừa, trước hết cần phải phát Bồ đề tâm và muốn phát Bồ đề tâm, thì cần phải học hỏi Phật pháp, suy xét nghĩa lý để mường tượng bản lai tự tánh là như thế nào. Nếu không nhận được bản tánh chân như là duy nhất, mình và chúng sanh là đồng thể, tâm Phật và chúng sanh là bình đẳng không có sai khác, thì không thể phát nguyện Bồ đề tâm được. Vì thế, việc học hỏi Phật pháp là rất cần thiết cho những người tu theo Đạo Phật. TAM QUI Một người phát nguyện tín ngưỡng Đạo Phật, xin thọ phép tam qui trước Tam Bảo thì được gọi là tín đồ đạo Phật. Tam qui là qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng. Do Phật, Pháp, Tăng dìu dắt chúng sanh ra khỏi cái khổ luân hồi, nên chúng sanh rất quí trọng và tôn là Tam Bảo. Pháp giới tánh duyên khởi ra thế giới, chúng sanh từ vô lượng, vô số kiếp về trước. Chúng sanh thì sanh, trụ, dị, diệt, liên tục mãi mãi, thế giới thì thành, trụ, hoại, không cũng liên tục mãi mãi, không lúc nào dừng nghỉ, như bánh xe xoay tròn nên gọi là luân hồi. Chúng sanh mới sanh ra thì gọi là sanh, tiếp tục tồn tại thì gọi là trụ, chuyển biến không ngừng thì gọi là dị và cuối cùng phải chết thì gọi là diệt. Thế giới khi còn ở thể hơi vô hình thì gọi là không, khi bắt đầu đọng lại, cho đến thành một 99


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

khối đất cứng, có cây, có cỏ, có người, có vật thì gọi là thành, khi tiếp tục tồn tại không có sự thay đổi lớn lắm thì gọi là trụ, khi bắt đầu tan rã không con người, vật và cũng không còn cây cối thì gọi là hoại, và khi trở lại biến ra hơi thì gọi là không. Thời gian của một thế giới thành rồi trụ, trụ rồi hoại, hoại rồi không thì gọi là một kiếp. Mỗi thế giới có một trời riêng của thế giới ấy, phạm vi giáo hóa của một đức Phật có hàng ngàn triệu mặt trời, tức là hàng ngàn triệu thế giới, gồm lại thành một Phật sát. Vô lượng, vô biên Phật sát kết hợp với nhau thành một tầng và độ 20 tầng như thế, chồng lên nhau thì thành một hoa tạng thế giới. Trong vũ trụ, có vô lượng vô biên hoa tạng thế giới và các hoa tạng thế giới cách xa nhau đến mức mà con người không thể nào tưởng tượng nổi. Trong hàng triệu thế giới của một Phật sát, cái thì đương thành, cái thì đương trụ, cái thì đương hoại, cái thì đã thành không, nên không thể nói vũ trụ bắt đầu từ đâu và lúc nào thì diệt, mặc dầu mỗi thế giới đều có thành, trụ, hoại, không. Từ cõi tứ thiền trở lên, thì không bị sự thành, trụ, hoại, không của thế giới chi phối, nên chúng sanh ở các cõi đó, có thể sống rất nhiều kiếp. Chúng sanh luân hồi mãi mãi trong vô lượng kiếp, chịu nhiều đau khổ, nên có người đã giác ngộ muốn tìm cách ra khỏi sống, chết. Do lòng trông mong ấy của chúng sanh, nhiều ngoại đạo, tà đạo đã xuất hiện lừa gạt chúng sanh, như cho trẻ con cái bánh vẽ, hoặc bảo rằng tu đạo tiên thì trường sanh bất tử, hoặc bảo rằng, lên thiên đường thì sống mãi không chết, làm cho chúng sanh chìm đắm mãi trong bể khổ. Trong những người tìm đạo giải thoát, có một số người suy xét nơi tâm, nơi cảnh hiện tiền, phát minh ra đạo lý nhân duyên, rồi cố gắng tu tập, đi đến diệt trừ ngã chấp, ra khỏi luân hồi, đó là các vị Độc giác. Vô lượng vô số kiếp về sau, có một vị Độc giác phát từ bi rộng lớn, không nỡ để cho chúng sanh bị mãi cái khổ luân hồi, nên kiên trì hiện ra nhiều thân, trong nhiều loài mà hóa độ chúng sanh. Do tâm từ bi hóa độ ấy, Độc giác càng ngày càng phát triển khả năng độ sinh của mình, càng ngày càng đi sâu vào bản tánh của mọi sự, mọi vật, đi đến đầy đủ công đức trí tuệ, giác ngộ được pháp giới tánh, phát hiện rồi nhập một với Pháp giới tánh và thành Phật đạo, đó là đức Phật Uy âm vương, đức Phật đầu tiên trong vũ trụ vô cùng tận. nhờ công đức hóa độ của đức Phật Uy âm vương, tu theo Phật pháp, phổ độ chúng sanh và thành vô lượng chư Phật, rồi mỗi đức Phật lại truyền dạy Phật pháp, hóa độ cho vô lượng chúng sanh thành Phật độ sanh, mãi mãi như thế cho đến ngày nay, đã có vô lượng, vô số Phật. Như thế, tất cả chư Phật đều do tu tập mà thành, mặc dầu Pháp giới tánh sẵn có, không hề thêm bớt. 100


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Chư Phật giác ngộ là giác ngộ cái mê lầm của chúng sanh, chúng sanh mê lầm cái giác ngộ của Phật. Thực tế, chúng sanh chỉ là những biểu hiện của pháp giới tánh, chi do pháp giới tanh trùng trùng duyên khởi mà có. Sẵn có pháp giới tánh, chúng sanh không biết trực nhận, lại lầm nhận cái thân thường thường thay đổi, cái tâm thường thường chuyển biến là mình, lại lầm chấp có cái ta thật, có ngoại vật thật, nên phải chịu sống rồi chết, chết rồi sống, luân hồi mãi mãi trong lục đạo. Cái mê lầm như thế, thì gọi là vô minh, chỉ khi nào không còn vấp ngã chấp, pháp chấp, giác ngộ vô minh. Và dứt sạch vô minh, thì mới nhập một được với pháp tánh, tức là bản lai tự tánh. Khi nhập một được với pháp giới tánh, thì được gọi là Như Lai, vì là bản tánh chân như , theo nhân duyên phân biệt của chúng sanh, mà hiện ra vô lượng thân thể hóa độ, nên gọi là Như Lai. Các đức Như lai đều bình đẳng, không có sai khác nhưng cái duyên của các Ngài đối với chúng sanh, lại theo tâm phân biệt của chúng sanh mà có sai khác. Các đức Như Lai hiện ra vô số thân, làm nhiều việc lợi ích cho chúng sanh để kết duyên. Khi nhân duyên đã thành thục, đối với chúng sanh trong hàng ngàn triệu thế giới của một Phật sát, thì các đức Như Lai lại hiện ra thân Phật trong tất cả các thế giới ấy để hóa độ. Đức giáo chủ của chúng ta là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài là một ứng thân trong vô lượng vô biên ứng thân của Đức Phật Lô Xá Na. Ngài hiện ra thân người trong cõi này, với đủ các tướng phàm phu, rồi thị hiện xuất gia cầu đạo, thị hiện tự mình tu tập, khi nhận thấy các ngoại đạo không phải là đạo giải thoát và cuối cùng, ngồi dưới cây Bồ đề tự mình suy xét dứt sạch vô minh và thành Phật đạo. Sau khi thành Phật, đức Phật Thích Ca Mâu Ni chu du nhiều nước, thuyết pháp độ sanh, đem những phương pháp tu tập để tự giải thoát, để tự giác, giác tha, đi đến giác hạnh viên mãn, mà dạy bảo cho các hàng đệ tử. Sau khi Phật nhập diệt, các đại đệ tử của Phật kết tập những lời Phật dạy, thành các bộ kinh, các vị còn kết tập riêng những giới luật của Phật đã dạy thành các bộ luật. Lại trong khi Phật tại thế và nhất là sau khi Phật nhập diệt, nhiều vị đại đệ tử của Phật, đã có những trước tác quan trọng hoặc phân tích, hoặc qui nạp, hoặc hệ thống hóa những lời Phật dạy để giúp đỡ người đời học hỏi đạo lý của Phật, đó là những bộ luận. Các bộ kinh, bộ luật, bộ luận là ba tạng kinh điển cuả Phật giáo.

101


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Trong lúc Phật tại thế, các đệ tử Phật xuất gia cầu đạo, đều kết hợp lại thành những chúng, sống theo phép lục hòa là thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải, và lợi hòa đồng quân. Những chúng lục hòa như thế gọi là Tăng. Theo quan niệm phổ thông thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật bảo, ba tạng kinh điển là pháp bảo và các chúng xuất gia là tăng bảo. Tăng bảo là như thế, thì gọi là trụ trì Tam Bảo. Những người theo đạo Phật qui y Tam Bảo, chủ yếu là quy y với trụ trì Tam Bảo. Ngoài qui y với trụ trì Tam Bảo ra, tín đồ các pháp Đại Thừa Phật Giáo, còn qui y với thập phương Thường Trụ Tam Bảo, nghĩa là qui y với tất cả chư Phật trong 10 phương, chứ không phải là chỉ qui y với Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật; qui y với Đệ nhất nghĩa đế, tức là với đạo lý vi diệu nhất của Phật, chứ không phải chỉ qui y với Tam tạng kinh điển; qui y với vô lượng chúng Bồ tát trong 10 phương, chứ không phải chỉ qui y với Trụ Trì Tăng bảo hiện tiền. Vẫn biết, chư Phật là đồng thể, qui y với 1 đức Phật, tức là qui y với tất cả chư Phật, nhưng nếu chỉ qui y với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là một ứng thân của đức Phật Lô Xá Na, thì khó nhận được Phật là thường trụ, luôn hiện tiền, do đó, cũng không quan niệm đúng đắn được quả vị tối cao, tối thượng của chư Phật. Lại tam tạng kinh điển tuy nhiều, nhưng phương tiện của Phật và của chư Tổ, theo duyên cũng có sai khác, có kinh điển chỉ dạy về Nhân, Thiên Thừa, có kinh điển chỉ về Duyên giác thừa, Thanh văn thừa, nghĩa lý không rốt ráo và chưa phải là con đường tu hành thành Phật đạo. Về các kinh điển Đại thừa, nếu chấp chữ nghĩa trong kinh, mà không nhận rõ ý tứ, thì cũng chẳng sai khác gì, nhận ngón tay chỉ làm mặt trăng mà thôi. Vì thế, người tu hành theo phép Đại thừa, cần qui y với đạo lý chân thật, mà Phật va chư Tổ đã chỉ trong các kinh điển, nghĩa là qui y với Đệ nhất nghĩa đế, đưa đến trực nhận pháp giới tánh, tức là tâm tánh, tức là bản lai tánh. Trong Đạo Phật chúng ta hiện nay, chỉ có Thanh văn tăng, vì theo căn cơ của loài người trong cõi này, chỉ có Thanh văn tăng mới duy trì Phật pháp được lâu dài, nhưng không phải vì thế, mà không có chư vị Thập Phương Bồ tát, thể theo đại nguyện đại bi luôn luôn hiện thân trong thế giới chúng ta, để hóa độ quần sanh. Chính các vị đã hiện thân làm các vị Tổ sư, uốn nắn những lệch lạc trong Phật giáo, sáng tác nhiều bộ luận quí báu, chẳng những làm sáng tỏ thêm đạo lý của Phật dạy, mà lắm khi còn phát triển và phát minh những phương pháp tu hành 102


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

thích hợp với thời cơ làm cho Phật giáo được chấn hưng, sau những thời kỳ bị suy sụp. Vì thế, ngoài trụ trì tăng, tín đồ đạo Phật còn qui y với thập phương Bồ tát Tăng là Thường trụ Tăng Bảo. Những tín đồ đạo Phật đã phát bồ đề tâm, nên còn biết trụ trì Tam Bảo cũng không ra ngoài pháp giới tánh, tức là bản lai tự tánh của mình, thế có nghĩa là tuy có mình qui y Tam Bảo, nhưng sự thật, mình cũng là pháp giới tánh, Tam Bảo cũng là pháp giới tánh, không có Tam Bảo ra ngoài tánh của mình và cũng không có tâm mình ra ngoài Tam Bảo. Tự tánh bản lai không có nhiễm ô, không có vô minh, đó là Phật bảo. Tự tính bình đẳng, không có sai khác, tuy biến hiện ra tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, nhưng tất cả các pháp đó, đồng thời đều chỉ là tự tánh, đó là Pháp bảo. Tự tính có diệu dụng vô lượng vô biên, có hằng hà sa tính công đức, hiện ra vô số thân, là vô số Phật sự, nhưng sự thật không được một cái gì cả, đó là Tăng bảo. Tam Bảo trong tự tánh như thế là Tự tánh Tam Bảo. Người tu hành cần qui y với tự tánh Tam Bảo, để khỏi nhận lầm thật có Tam Bảo ra ngoài tâm tánh. Qui y, theo tiếng Phạn là “na mô” nghĩa là quay về nương tựa. Chúng sanh mê lầm như đứa con dại đi lạc đường. Đứa con ấy, nghe theo tiếng gọi của Cha Mẹ, thì quay về nương tựa, đi theo cha mẹ để khỏi sự lầm lạc. Chúng sanh trong mê lầm, được nghe tiếng gọi của Tam Bảo, biết quay về nương tựa với Tam Bảo, đi theo Tam Bảo trên con đường giải thoát, thì mới đi ngược lại được với dòng mê và ra khỏi luân hồi. Vậy qui y không chỉ là một nghi lễ, mà phải là một dịp phát nguyện trước Tam Bảo, cương quyết cải tà qui chánh, nói một cách khác là cương quyết đi theo Tam Bảo, chứ không lạc vào con đường khác. 1. Qui y Phật, vĩnh bất qui y thiên, Thần, Quỉ, Vật: nghĩa là qui y với Phật, nguyện vĩnh viễn không qui y với Trời, với Thần, với Quỉ, với Vật. Ngoại đạo thường mê tín theo các ông Trời, ông Thần, loài Ma Quỉ và các loài vật thành tinh, như cây, đá, cọp, rắn... tín đồ đạo Phật biết Trời, Thần, Quỉ, Vật, chỉ là những loài chúng sanh trong vòng luân hồi nên cương quyết không theo họ và chỉ qui y theo Phật để được giải thoát.

103


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Có người nói: “cha cũng kính, Mẹ cũng vái” hoặc “Phật thì xa, bản nha thì gần” hoặc “Phật cũng kính, Trời cũng sợ”, nói như thế là lẫn lộn giác ngộ với mê lầm, Phật với chúng sanh, Chánh pháp với ngoại đạo. Nên nhận rõ rằng những loài Trời, Thần, Quỉ, Vật đều mê lầm như chúng ta, đều còn bị ràng buộc trong bản nghiệp, nên không thể hiểu biết chúng ta và thường cũng không có quan hệ gì với chúng ta. Song tư tưởng của chúng ta có một sức mạnh phi thường, khi tư tưởng nhiều người tập trung tin tưởng, thì lại có thể tạo ra những Trời, Thần, Quỉ, Vật, có một số tác dụng như Trời, Thần, Quỉ, Vật đó sự thật chỉ là ảo tưởng mà thôi. Ngoài ra, khi tu hành đã khá, bắt đầu chuyển nghiệp người sang nghiệp khác, thì chúng ta có thể cảm thông với những loài khác được, nhưng sự cảm thông đó vẫn không có lợi ích gì cả, vì những chúng sanh ấy, tuy khác loài người, vẫn còn là chúng sanh, do đó, trong lúc cảm thong với nhau, họ rất có thể lôi kéo người tu hành theo các ngoại đạo. 2. Quy y pháp, vĩnh bất quy y ngoại đạo, tà giáo: nghĩa là quy y với Phật pháp, nguyện vĩnh viễn không quy y với ngoại đạo, tà giáo. Ngoại đạo là những đường lối tu hành như đạo Nho, đạo Lão, v.v... không đưa đến kết quả giải thoát. Tà giáo là những lời dạy bảo sai lầm, trái với nhân quả, tăng trưởng các nghiệp ác. Tính đồ đạo Phật, chỉ nương theo Phật pháp mà thôi, không nên xem đạo Phật cũng là một đạo như các đạo khác, không nên tìm xem kinh điển của các đạo khác, khi chưa hiểu Phật pháp, chỉ khi nào có đủ trí tuệ, phân biệt chánh tà, thì mới nên xem qua các kinh điển ngoại đạo, để chỉ trích những sai lầm và bảo vệ Chánh pháp. 3. Quy y tăng, vĩnh bất quy y tổn hữu, ác đảng: nghĩa là quy y với tăng chúng đạo Phật, nguyện vĩnh viễn không đi theo tổn hữu và ác đảng. Tăng chúng đạo Phật sống theo phép lục hòa, là hiện hữu, là thiện tri thức của chúng sanh, còn tổn hữu là một người hoặc những người xúi giục làm những điều tổn thương đến đức hạnh, đến thiện niệm và chánh niệm. Ác đảng là những bè phái gây tổn hại cho đa số người, như bè lũ phản quốc, áp bức giết hại nhân dân, phục vụ cho quyền lợi bọn xâm lược nước ngoài. Tín đồ Phật giáo chỉ quy y với Tam Bảo, quyết không theo những tổn hữu ác đảng, dù họ có khoác áo người tu hành.

104


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

-

-

Quy y Tam Bảo là ba cái nguyện mà tín đồ đạo Phật cần phải giữ trọn, thì mới xúng đáng là tín đồ đạo Phật, vì thế, không nên truyền thọ Tam quy cho những người chưa hiểu rõ và chưa phát nguyện. Quy y lúc còn nhỏ tuổi, chỉ là kết duyên, không có tác dụng xác thực, khi đã lớn hiểu rõ và biết phát nguyện, thì nên phát nguyện trước Tam Bảo, quy y đúng theo Chánh pháp. Tín đồ đạo Phật chúng ta còn tụng tam tự quy: Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô lượng tâm Tự quy y pháp, đương nguyện chúng sanh thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải. Tự quy y tăng, đương nguyện chúng sanh thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại. Nghĩa là: Tự mình quy y Phật, thì nên nguyện cho chúng sanh thấu rõ đạo Phật, phát lòng Bồ đề vô thượng. Tự mình quy y pháp, thì nên nguyện cho chúng sanh đi sâu vào đạo lý của kinh điển, trí tuệ rộng lớn như biển. Tự mình quy y tăng, thì nên nguyện cho chúng sanh có khả năng dìu dắt đại chúng tu tập, tổ chức đại chúng theo phép lục hòa, được vô ngại tự tại. Ba câu này biểu hiện sự nhận rõ về Tam Bảo và lòng từ bi, mong cho chúng sanh cũng hiểu rõ như thế và thiết thực học tập tu trì để cùng góp sức xây dựng Tam Bảo. Phát nguyện quy y Tam Bảo có lợi ích rất lớn, vì quy y Tam Bảo, tức là cải tà quy chánh, tức là làm lành, bỏ dữ. Do đó, quyết định không đọa vào ba đường dữ. Điều cốt yếu là phải phát nguyện thành thực, một lòng tin tưởng Tam Bảo, không tin những ngoại đạo tà giáo, những trời, quỉ, vật, cả trong những lúc hoạn nạn, bị khó khăn, thì mới được sự lợi ích của việc quy y Tam Bảo. Trong nước ta, thường có phong tục thờ cúng tổ tiên, tín đồ đạo Phật hiểu rằng, ông, bà, cha, mẹ, thân bằng quyến thuộc, khi đã lâm chung, trừ khi được về Tịnh độ, tất cả phải luân hồi trong lục đạo, nên không thể có cái hồn về hưởng các lễ tiến cúng, vì thế, tín đồ chỉ xem ngày kỵ lạp là những ngày kỷ niệm, và trong những ngày ấy, thường làm những việc thiện và tụng kinh

105


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

niệm Phật, để hồi hướng cho vong linh sớm giác ngộ tu theo đạo Phật và vãng sanh Tịnh độ. Xin nguyện cho tất cả chúng sanh phát tâm thiết thực quy y Tam bảo, tinh tấn tu hành, cùng thành Phật đạo. NGŨ GIỚI NGŨ GIỚI là năm giới cấm của tín đồ đạo Phật. Một người đã phát nguyện quy y Tam Bảo, không quy y thiên, thần, quỷ, vật, ngoại đạo tà giáo và tổn hữu, ác đảng, thì đã thành tín đồ đạo Phật. Nếu một đời giữ phép Tam quy này một cách nghiêm túc, không đi theo những dị đoan, mê tín thì cũng hưởng được nghiệp báo rất tốt. Ngoài ra, những tín đồ đạo Phật, dầu là thiện nam tức là ưu bà tắc, hay tín nữ tức ưu bà di, phát lòng tin chắc chắn về nhân quả, nghiệp báo và muốn tránh những điều dữ, thì nên phát nguyện giữ từ một đến năm giới cấm của tín đồ là bất sát, bất đạo, bất tà dâm, bất vọng ngã, bất ẩm tửu. Người giữ được một giới, trong năm giới thì gọi là nhất phần ưu bà tắc hoặc ưu bà di, người giữ được hai giới thì gọi là nhị phần, cho đến người giữ được năm giới gọi là toàn phần ưu bà tắc hoặc ưu bà di. Nếu chưa giữ được một giới nào, thì chỉ gọi là tam quy ưu bà tắc hay ưu bà di. Phật chia ra có nhiều hạng như thế, vì biết rõ căn cơ và hoàn cảnh của tín đồ, lắm khi không cho phép giữ đủ ngũ giới. Lại nếu thọ giới mà không giữ, thì có lỗi và mất cả lợi ích của việc giữ giới. Nên phân tích thành tướng của các giới thật rõ, để cho các tín đồ tùy sức mà thọ giới và sau đó giữ giới cho nghiêm túc. 1. Giới bất sát: giới bất sát của tín đồ là bất sát nhân, chứ không phải là giới bất sát sanh, nghĩa là tín đồ chỉ giữ giới không giết người, chứ không giữ giới giết các sinh vật khác. Trước đây, nhiều người giảng nghĩa giới bất sát của tín đồ là bất sát sanh, thế là lầm qua Bồ tát giới, một giới rất khó giữ, dành riêng cho những vị đã phát Bồ đề tâm. Vẫn biết sát sanh cũng là điều ác, nhưng trong sinh hoạt hằng ngày của tín đồ, khó mà giữ cho bất sát sanh được trọn vẹn, lại có người làm nghề nghiệp bị bắt phải sát sanh hàng ngày. Đã thọ trì thì phải giữ trọn suốt đời. Vì tất cả mọi người, bất cứ nghề nghiệp gì, đều phải có khả năng thành tín đồ đạo Phật, nên không chỉ định bất sát sanh là giới của tín đồ. Chính vì giwois không giết tất cả các sinh vật rất khó giữ, nên các bậc sa di cũng chỉ giữ giới bất sát nhân, đối với các vị tỳ khưu thì giới bất sát chia làm hai phần: giới bất sát nhân thuộc đề tử khí, nếu phạm thì không được làm tỳ khưu nữa, còn giới bất sát sanh chỉ là một giới 106


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

nhẹ, nếu cố ý phạm thì phải sám hối mà thôi. Vậy thì biết, giới của tín đồ là giới thấp nhất, chỉ có thể là giới bất sát nhân. Tất cả các pháp của Phật dạy, đều là những phương tiện hóa độ theo căn cơ của chúng sanh, nên Phật thuyết giới lúc nào cũng có mức, vì nếu quá mức thì trở nên có hại. Hiện nay, trong hàng tín đồ, nhiều người thọ Bồ tát giới mà chưa phát Bồ đề tâm, nên rốt cuộc, chẳng những không giữ được tâm giới mà cũng không giữ được cả thân giới và khẩu giới. Không tự xét mà thọ giới, rồi không giữ như vậy, thì phạm tội phỉ báng Pháp, rất có hại cho sự tu tiến. Tín đồ đạo Phật đã thọ giới bất sát nhân, thì suốt đời phải giữ cho trọn vẹn, tự mình không giết, không bảo người khác giết, cho đến khi thấy người khác giết, cũng không được tùy hỷ, nghĩa là tán thành hoặc biểu lộ sự đồng tình. Nhưng cũng có những trường hợp sau này, mà người đã thọ giới có thể giết người, mà không bị phá giới: a. Vô ý mà giết người (vô tâm sát). b. Theo pháp luật mà giết người, như quan tòa theo pháp luật mà giết người, lên án tử hình (pháp luật sát). c. Vì chức vụ mà giết người, như những người thi hành án tử hình (chức nghiệp sát). d. Để ngăn chặn sự giết người mà giết người, như giết quân xâm lược, để chúng khỏi tàn sát đồng bào (dĩ sát chỉ sát). Trong trường hợp này, giết người để cứu người là làm việc thiện, là giữ giới nghiêm chỉnh. 2. Giới bất đạo: Giới bất đạo ngăn cấm không được trộm cắp của cải của người khác, hoặc lấy của cải của người khác bằng những thủ đoạn sai trái. Giới này được phân tích như sau: a. Bất dữ thủ: nghĩa là người takhoong vui lòng cho mình lấy mà cứ lấy, như trộm cướp, ăn cắp v.v... b. Biển trá thủ: là phỉnh gạt, lừa dối để lấy của. c. Uy hiếp thủ: là dùng thế lực uy hiếp lấy của. d. Phi thời thủ: là chưa đến thời đã lấy của, như con lấy của cha mẹ trước khi được chia gia tài, người công chức tự lấy lương trước để chi dùng v.v...

107


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

e. Phi phận thủ: là không phải phận của mình được lấy mà cứ lấy, như khi phân phối tiền của chưa đúng tỷ lệ, chưa công bằng hợp lý, có lợi cho mình mà cứ lấy. f. Vô công thủ: là không có công sức gì mà cứ lấy. Ngày xưa, thường phải giải nghĩa vô công thủ là làm việc dối trá mà cứ lấy tiền công, những xét cho cùng, thì những người không lao động, sống bằng mồ hôi kẻ khác, đều ph���m tội vô công thủ. Trong những trường hợp kể trên, người đã thọ giới hoặc tự mình lấy hoặc bảo người khác lấy, hoặc thấy người khác lấy của mà tùy hỉ thì đều phạm giới. Còn nếu vô ý lấy nhầm, hoặc theo pháp luật, vì chức vụ mà lấy, hoặc lấy lại những vật bị trộm cắp trả cho người chủ cũ thì không phạm giới. 3. Giới bất tà dâm: giới này ngăn cấm những sự dâm dục không chánh đáng, phân tách ra có những hành tướng như phi phận dâm, phi thời dâm, phi xứ dâm, phi nhân dâm v.v... Nhưng cốt yếu là cấm không được làm việc dâm dục với vợ chồng người khác. Nếu tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người khác làm việc tà dâm mà tùy hỉ thì phạm giới. 4. Giới bất vọng ngữ: giới bất vọng ngữ của tín đồ là không được đại vọng ngữ, nghĩa là chưa ngộ đã bảo là ngộ, chưa chứng đã xưng là chững. Vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt, là những điều ác, không nên làm hoặc ít làm chừng nào hay chừng ấy, nhưng không quy định là giới của tín đồ, vì giới thì phải giữ trọn đời và mức của tín đồ thì khó giữ suốt đời không phạm những điều vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu và lưỡng thiệt. 5. Giới bất ẩm tửu: giới này ngăn cấm tín đồ không được uốn rượu. Bốn giới trước thuộc về tánh giới, do bản chất của các điều sát, đạo, dâm, vọng là ác, nên tín dồ đã thọ giới, thì phải tự ngăn mình suốt đời không được làm. Còn giới bất ẩm tửu thì thuộc về giá giới, vì bản tính của sự uống rượu không phải là ác, nhưng nó lại có thể tạo điều kiện cho người ta gây nên những điều ác. Vì thế, giới bất ẩm tửu không cấm tín đồ tuyệt nhiên không uống rượu và chỉ cấm không được vô cớ hoặc mượn cớ mà uống rượu, như trong các nghi lễ, thì tín đồ cũng không được uống nhiều quá, đến say sưa. Uống rượu thường xuyên hay đến say sưa, có hại cho trí thông minh và cho sự tu trì, nên trừ những trường hợp nhất định, nếu tự mình uống, bảo người khác uống, hoặc thấy người khác uống rượu say sưa mà tùy hỉ, thì phạm giới. 108


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ngược lại, tín đồ đạo Phật có thể uống một ít rượu để chữa bệnh hoặc để chia vui cùng người khác, trong các nghi lễ là không phạm giới. Trong lúc Phật tại thế, chỉ có rượu là chất độc làm hao tổn tinh thần, nên cấm không được dùng nhiều và vô cớ, hiện nay thì còn nhiều chất độc khác nguy hiểm hơn rượu, sinh ra nghiện ngập và tác hại nhiều đến trí khôn như thuốc phiện, cocain v.v... Theo tinh thần của giới này, thì cũng cần cấm cả các thứ đó, như cấm rượu. Phân tích năm giới như trên, là phân tích theo đạo lý Tiểu thừa, đã có lý, có mức và cũng có lợi nữa, vì căn cơ và hoàn cảnh của tín đồ, chỉ có thể giữ những giới thấp nhất, vì nếu đưa lên quá mức, thì tuyệt đại đa số người không dám thọ giới hoặc thọ giới rồi mà không giữ được trọn vẹn, mất cả lợi ích của việc trì giới. Hiện nay, mỗi khi có người thọ Tam quy, thì đều cho thọ ngũ giới, cả đến những em bé ba bốn tuổi cũng thế, đó là một điều sai lầm. Cần phải giảng cho nghe trước, thế nào là Tam quy, thế nào là ngũ giới, nêu ra những lợi ích của việc trì giới, để cho người ta suy nghĩ kỹ lưỡng, nếu có khả năng giữ bao nhiêu giới thì thọ bấy nhiêu, chứ không nên bao gánh cả một chuyến, rồi cuối cùng không giữ được một giới nào cả. Lợi ích trên đường tu hành không phải ở chỗ thọ nhiều giới, mà ở chỗ thọ giới nào thì giữ giới ấy cho trọn vẹn. Một tín đồ chỉ thọ một vài giới trong ngũ giới hoặc chỉ thọ Tam quy mà biết phát nguyện trọn đời, giữ gìn không phạm, thì sẽ nhân đó luôn luôn tưởng nhớ Tam Bảo, luôn luôn tự xét mình và ngăn ngừa những tâm niệm không tốt. Do đó, được nhiều lợi ích trong đường tu tập. Ngược lại, nếu thọ giới nhiều, mà không giữ nổi mà chỉ phạm một giới, thì phá mất giới thể và tâm sinh buông lỏng, không tự giữ mình, không nghĩ đến Tam Bảo, không nhớ đến nhân quả, nghiệp báo, nên đạo đức ngày càng suy kém. Giữ ngũ giới có lợi ích rất lớn. Người giữ được trọn vẹn ngũ giới là một người tốt, được mọi người tin cậy, là một người luôn luôn hướng về điều thiện, nên thường sinh lên các cõi trời. Nếu với cái tâm trì giới hướng thiện đó, người tín đồ còn biết niệm Phật và phát nguyện vãng sanh, thì sẽ được vãng sanh về các cõi tịnh độ. Giàu cho chỉ thọ được một hoặc hai giới, giàu chỉ thọ Tam quy mà giữ trọn vẹn thì nhất định cũng trở lại làm người, không bị sa đọa. 109


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

TỨ ÂN Tứ ân là bốn cái ơn. Phật dạy các hàng đệ tử phải báo đáp bốn cái ơn, là ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn nhà nước và ơn chúng sanh. 1. Ơn cha mẹ: Cha mẹ sinh thành nuôi dạy con cái, công rất lớn, công ấy rất rõ rệt, cho nên tất cả các nhà tâm lý xưa nay, đều dạy người phải báo đáp công ơn cha mẹ. Theo đạo Phật, người ta đầu thai vào nhà này hay nhà khác, không phải là không có nhân duyên và những nhân duyên ấy, đã được tạo ra từ các kiếp trước. Trong hiện tại, lòng thương của cha mẹ đối với con cái rất là to lớn, đến nỗi có thể vì con mà hi sinh tất cả. Lòng thương yêu ấy, sự chăm sóc ấy tạo ra cho người con cái phận phải báo hiếu cha mẹ, báo hiếu về sự cung cấp bằng vật chất, báo hiếu về sự yêu mến kính trọng về tinh thần. Hơn nữa, người đạo Phật còn tìm cách khuyên cha mẹ học hỏi tu tập Phật pháp, để cho được giải thoát. Vì thế mà người xuất gia, mặc dầu thoát ly gia đình, vẫn có thể báo hiếu cha mẹ một cách thiết thực. 2. Ơn thầy bạn: Cha mẹ nuôi về vật chất, thầy bạn nuôi về tinh thần, ơn ấy rất lớn, những bạn có thiện hữu và ác hữu, chỉ có thiện hữu giúp cho điều hay lẽ phải, bỏ dữ, làm lành, thì mới là ân nhân. Báo ơn thầy bạn, người đạo Phật chủ yếu là báo ơn Tam bảo, nghĩa là báo ơn Phật bằng cách cứu độ chúng sanh, phục vụ chúng sanh, báo ơn Phật bằng cách lưu thông và tuyên dương Phật pháp, báo ơn tăng bằng cách phát triển và củng cố đoàn thể, đệ tử Phật, bằng cách cứu độ chúng sanh, trên tinh thần lục hòa, ngũ đức, bằng cách giúp đỡ những người tu học và tuyên dương Chánh pháp. 3. Ơn nhà nước: nhà nước chủ yếu là cho nhân dân an nghiệp và bảo vệ đất nước, chống ngoại xâm, ơn ấy cần báo đáp, bằng cách làm tròn nhiệm vụ người dân. Trong chế độ phong kiến, quốc vương tiêu biểu cho nhà nước, nên trong các kinh dạy bảo vệ chủ quyền đất nước, hết lòng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người dân, thì mới thật có ơn. Đối với một nhà nước thật sự vì dân như thế, người đạo Phật cần phải góp phần thi hành triệt để mọi chủ trương chính sách của nhà nước, tận tâm giúp đỡ nhà nước phục vu lợi ích của nhân dân, của tổ quốc, thì mới báo đáp được công ơn ấy. 4. Ơn chúng sanh: nếu kể từ vô lượng, vô số kiếp, thì tất cả chúng sanh đều có ơn và cần phải báo đáp tất cả chúng sanh là báo ơn nhân loại cần lao nói 110


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

chung và báo ơn đồng bào lao động nói riêng. Chúng ta nên xét từ món ăn, thứ mặc, nhà ở, cho đến các món ăn về tinh thần, đều do nhân loại cần lao và chủ yếu là đồng bào lao động cung cấp cho chúng ta. Không có sự cung cấp ấy, thì chúng ta không thể sống được, đó là một ơn rất lớn, cần phải báo đáp bằng cách bảo vệ đời sống hòa bình cho nhân loại, bằng cách tận tâm phục vụ nhân dân lao động trong nước, bằng cách thiết thực biết ơn và yêu mến nhân dân lao động, mới thiết thực yêu tổ quốc. Quên mất tâm bồ đề mà tu hành các thiện pháp, gọi là hành động của ma. Kinh Hoa Nghiêm Phát tâm vô thượng bồ đề Đó chính là xuất gia Đó chính là đầy đủ giới pháp Kinh Duy Ma Cật ( phẩm La Hầu La) Tôi thuở xưa chưa PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ có những bố úy: SỢ CHẲNG ĐỦ NUÔI SỐNG SỢ TIẾNG XẤU SỢ CHẾT SỢ ĐỌA ÁC THÚ SỢ OAI ĐỨC CỦA ĐẠI CHÚNG Từ khi một phen đã phát tâm thời đều xa lìa CHẲNG CÒN KINH SỢ. TẤT CẢ CHÚNG MA VÀ NGOẠI ĐẠO KHÔNG PHÁ HOẠI ĐƯỢC KINH HOA NGHIÊM Phàm hễ có tướng, thảy đều hư vọng Nếu thấy các tướng là chẳng phải như tướng, liền thấy NHƯ LAI Pháp ta nói ra, như bè độ khách sang sông PHÁP CÒN PHẢI BỎ, HUỐNG NỮA LÀ PHI PHÁP KINH KIM CANG PHÁP MÔN NIỆM PHẬT Phật thường dạy các hàng đệ tử phải tu phép lục niệm là niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiện.

111


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Niệm Phật: là nhớ đến Phật, nhớ đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhớ đến Thập Phương Chư Phật, đã nhập một với pháp giới tính, trí tuệ không lường, từ bi rộng lớn, thường thường hộ niệm cho chúng sinh, theo duyên dìu dắt chúng sinh ra khỏi sông mê bể khổ. Niệm Pháp:là nhớ đến những lời Phật dạy, những đạo lý trong các kinh điển và những phương pháp tu trì để diệt trừ vô minh lên bờ giác ngộ Niệm Tăng: là nhớ đến các đệ tử Phật đang hòa hợp tu hành, để tự giads đi tha, đi đến giác hạnh viên mãn. Niệm giới: là nhớ đến những giới đã lĩnh thụ, thà chết không chịu phạm giới. Niệm Thí: là nhớ đến sự bố thí, luôn luôn tìm cách làm những việc tài thí, pháp thí, vô úy thí, giúp ích cho chúng sanh. Niệm Thiện: là nhớ đến mười điều lành, luôn luôn kính cẩn vâng lời, làm điều lành đẻ sau này chắc chắn được lên các cõi trời, vì thế niệm thiện cũng có tên là niệm thiên. Hàng Phật tử biết rằng, không làm điều ác cũng là niệm thiện, nên cố gắng tự răn mình không làm các điều ác. Sáu niệm như trên là chính niệm, người tu hành có giữ chánh niệm như thế, thì mới khỏi mắc tà niệm và mau thành đạo quả. Phật môn niệm Phật, chủ yếu dùng các niệm nhớ đến Phật, để giữ tâm được thanh tịnh, không mắc vào tà niệm. Pháp niệm Phật, còn để kết duyên với Phật, tạo ra cái nhân để tương lai được gần gũi Phật Trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “ Thập phương Như Lai thương nhớ chúng sanh như cha mẹ nhớ con. Nếu con trốn tránh thì tuy nhớ cũng không được gì. Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con gần nhau, không trái xa nhau. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, thì hoặc hiện tiền hoặc tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật không xa, thì không cần phương tiện, tự nhiên tâm được khai ngộ, như người ướp hương, tự có mùi hương. Trong kinh nói chư Phật sẵn có đồng thể đại bi, luôn thương xót cho chúng sinh và hộ niệm cho chúng sinh. Nếu chúng sinh hoàn toàn không nghĩ đến Phật, muốn tránh xa Phật, thì dầu Phật có thương xót, có hộ niệm, cũng không thể đem lại lợi ích gì cho chúng sanh ấy. Ngược lại, nếu chúng sanh cũng nghĩ nhớ đến Phật, hai bên cơ cảm gặp nhau, thì dầu trong đời này nghiệp báo quá nặng, không thấy Phật được, đời sau nhất định cũng sẽ thấy 112


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Phật. được thấy cận mình, lại sẵn có công đức niệm Phật từ trước, thì nhất định tâm được khai ngộ, như ướp hoa thơm thì nhất định phải có mùi thơm. Cũng vì pháp môn niệm Phật có lợi ích lớn lao như thế, nên chẳng những các hàng phàm phu, mà cho đến các vị đại Bồ tát, cũng đều nên niệm Phật để về sau được gần gũi với Phật. ở xứ ta, căn cứ vào kinh A Di Dà, hàng đệ tử thường niệm đức Phật A Di Dà để cầu xin vào thế giới Cực lạc của Ngài. Trong kinh A Di Dà, Phật mô ta thế giới Cực Lạc là một thế giới cực kỳ trang nghiêm, trong đó có đức Phật A Di Dà hiện tại đang thuyết pháp, có các chúng Bồ tát và chúng Thanh văn vô lượng vô biên, cho đến cả tiếng chim kêu gió thổi đều thuyết pháp, nhắc nhở tu hành, chúng sanh trong cõi đó, sống lâu vô số kiêp, không cần có việc ăn mặc, không có đàn ông, đàn bà, hằng ngày chỉ biết cúng dâng Tam Bảo, tinh tiến tu trì, nên trong một đời ở Tịnh độ, nhất định sẽ chứng lên các đạo quả. Thế giới Cực Lạc mà Phật đã mô tả như thế là một phương tiện hữu độ, trong đó, có thắng ứng thân đức Phật A Di Dà đang thuyết pháp độ sinh. Trong kinh A Di Dà, Phật có dạy, là không thể do nhân duyên thiện căn phúc đức ít ỏi mà được về cõi Cực Lạc. Vì thế những người tu hành pháp môn niệm Phật cần phải nắm giữ thiện niệm, phát lòng tin chắc chắn đối với Tam Bảo, làm nhiều điều phúc thiện và tránh các điều ác, để cho đủ tư lương phúc đức mà sinh về Tịnh độ. Đường tu hành theo pháp môn niệm Phật, gồm trong 3 chữ là Tín, Hạnh và Nguyện. 1. Tín: là lòng tin, tin có luân hồi, tin đạo Phật là đạo giải thoát, tin nhân quả, tin nghiệp báo, tin Tam Bảo là tăng thượng duyên rất lớn và thiết thực giữ tam qui giới, tin những đạo lý mà Phật đã dạy trong kinh điển, tin thật có thế giới Cực lạc, thật có đức Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp, tin ở lòng từ bi vô lượng của chư Phật, Bồ tát, tin ở mình có khả năng tu hành thành đạo chánh quả. Cần phải rèn đúc lòng tin cho chắc chắn, nếu hôm nay tin Tam Bảo, rồi ngày mai lại tin trời, tin thần, tin số mạng, tin có cái hồn đi xuống âm phủ, ... thì bị lòng bất tín ngăn cản, không về cõi Tịnh độ.

113


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

2. Hành: hành là thiết lập tu hành, nhớ nghĩ đức Phật A Di Đà. Tu hành niệm Phật nói chung có hai phương pháp: một là quán tưởng, hai là trì danh. a) Quán tưởng: là chuyên tâm quán ra cõi Cực lạc thế giới, quán ra đức Phật A Di Đà và chư thánh chúng, như Thập Lục Quán kinh đã dạy. Khi phép quán này được thành tựu, thấy được đức A Di Đà, chư thánh chúng và cõi Cực lạc hiện tiền, thì sẽ được về cõi Cực lạc thế giới. b) Thì danh: là chấp hành danh hiệu đức Phật A Di Đà, để nương theo danh hiệu mà nhớ đến Phật, nhớ mãi không thôi và được về Tịnh độ. c) Nhiều bộ sớ giải thường giải thích phương pháp trì danh là chuyên tâm về một cảnh để cho đắc định. Giải thích như vậy là chỉ thấy được lợi ích phép tu niệm Phật về một mặt, chứ chưa thấy hết lợi ích to lớn của mặt khác, là nhớ đến Phật và kết thiện duyên với Phật, về sau sẽ được gần gũi Phật. Vậy hai phép quán tưởng và trì danh chủ yếu là phải nhớ nghĩ đến Phật, chỉ có nhớ nghĩ đến Phật, nhớ đến trí tuệ giải thoát của Phật, nhớ đến pháp tính chân như của Phật, nhớ đến đức tính: từ, bi, hỉ, xả và vô lượng công đức của Phật, thì mới lần hồi trừ được phiền não, mê lầm, bỏ các điều ác, tu các điều thiện, dứt trừ những lòng tham, sân, si, mạn và đầy đủ tư tưởng về phúc đức và trí tuệ để được gần Phật. Nếu niệm trì danh mà tâm không nhớ nghĩ đến Phật, thì dầu có đắc định, kết quả cũng chỉ được lên các cõi trời mà thôi. 3. Nguyện: là phát nguyện cầu mong về Cực lạc thế giới, không sinh về các cõi khác. Muốn phát nguyện được đầy đủ, cần phải quan niệm cõi Cực lạc cho đúng. Nếu không học hỏi kinh điển, quan niệm về cõi Cực lạc là nơi có nhiều lạc thú ngũ dục, thì dù có làm việc phúc thiện, cũng chỉ lên trên các cõi trời Dục giới, chứ không được sinh về cõi Cực lạc. Nên quan niệm rõ: cái vui của cõi Cực lạc là cái vui về đạo, chứ không phải cái vui về ngũ dục. Ở cõi Cực lạc không có đàn ông, đàn bà, không có của riêng, không có quyền cao chức cả, hàng ngày chỉ ăn hoa và thường xuyên nghe giảng dạy Phật pháp, chung quanh toàn là những người tinh tiến tu trì đạo Phật, chứ không có những người ăn chơi trụy lạc, những cảnh phồn hoa ca hát nhảy múa. Vậy nguyện về Tịnh độ, thì phải nguyện sinh về cõi thanh tịnh, không có các điều ngũ dục, trong đó có đức Phật A Di Đà, 114


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

hiện đang thuyết pháp, có nhiều vị Bồ tát, và nhiều vị A La Hán dắt dìu trên con đường tu tập, nói một cách khác, có nhiều điều kiện để tinh tiến tu hành, ra khỏi luân hồi sinh tử. Chỉ khi nào, quan niệm về đúng cõi Cực lạc thế giới, thì phát nguyện mới đứng đắn, rồi nhờ sức phát nguyện ấy mà vãng sinh về cõi Cực lạc. Hiện nay, trong thế giới chúng ta, có rất nhiều người muốn tu hành chính quả, nhưng vì hoàn cảnh không thuận lợi, thiếu thầy, thiếu bạn, nên sự tu hành không được kết quả mong muốn. Trong chúng ta, cũng có nhiều người tiếc không được sinh ra trong lúc Phật còn tại thế, để nhờ Phật trực tiếp dạy bảo. Còn hiện nay ở thế giới Cực lạc, phật đang hiện tại thuyết pháp, lại có rất nhiều các bậc Bồ tát, các bậc Thanh văn, hiện tại đang dìu dắt những người tu hành. Vậy còn gì quí hóa bằng được sinh về cõi Cực lạc, để phát huy khả năng tu tập của mình, đi đến thành đạo chứng quả. Có người sợ, trong lúc lâm chúng, không được nhất tâm bất loạn, do đó, không được vãng sinh về cõi Tịnh độ. Sự thật, nếu lòng tin, sự tu hành và sự phát nguyện không được đúng đắn, lúc thì tin Phật, lúc thì tin trời, thần, quỉ, vật, ngoại đạo, tà giáo, nếu nhớ đến Phật thì ít, nhớ đến việc thế gian thì nhiều, hoặc miệng thì trì danh mà tâm không nhớ Phật, hoặc phát nguyện một cách chung chung, không rõ Cực lạc thế giới là thế nào, thì khó được nhất tâm bất loạn. Ngược lại nếu Tín, Hạnh, Nguyện đều đứng đắn, thì trong lúc lâm chung, chẳng những khác gì cởi cái áo cũ và thay cái áo mới, làm sao tâm còn loạn động được. Nếu bản tâm không được vững vàng, thì nên nhờ nhiều đạo hữu hộ niệm trong lúc đau ốm, để tâm mình nghĩ đến Phật một cách sâu sắc, do đó, sẽ được vãng sinh về Cực lạc thế giới. Về Cực lạc thế giới rồi, được gặp Phật, được gần gũi cái vị Bồ tát và các bậc Thanh văn, được sống lâu trong một hoàn cảnh thích hợp, thì nhất định sự tu tập sẽ tiến mau và sẽ chứng đén các đạo quả. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT Phàm người xuất gia là cất bước đến phương trời cao rộng, tâm hình khác tục. Nối thạnh giống thánh, hàng phục ma quân, nhằm đền trả bốn ân, cứu giúp ba cõi. Quy Sơn Cảnh Sách Vì Bồ tát học Bát – Nhã nên khởi tâm đại bi, phát lời nguyện rộng lớn, tinh tấn tu pháp tam muội, khắp độ các chúng sanh, không vì riêng thân 115


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

mình mà cầu giải thoát. Rồi phóng xả các duyên, dứt nghĩ muôn việc, thân tâm được nhứt như, động tĩnh không xen hở, lường sức ăn uống, không nhiều không ít, điều hòa ngủ nghỉ, không ép ngặt, không phóng túng. 10 ĐIỀU TÂM NGUYỆN 1. Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh tật, vì không tật bệnh thì tham dục dễ sanh. 2. Ở đời đừng cầu không khó khăn, vì không khó khăn thì kiêu sa nổi dậy. 3. Cứu xét tâm tánh đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu triệt. 4. Sự nghiệp đừng mong không bị chông gai, vì không bị chông gai thì chí nguyện không kiên cường. 5. Làm việc đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng thường kiêu ngạo. 6. Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. 7. Với người thì đừng mong thuận chiều ý mình, vì được thuận chiều ý mình thì tức sanh tự kiêu. 8. Thi ân đừng cầu đáp trả, vì cầu đáp trả là thi ân mà có ý mưu tính. 9. Thấy lợi đừng nhúng tay, nhúng tay thì hắc ám tâm trí. 10. Oan ức không cần bày tỏ, vì bày tỏ thì hèn nhát mà trả thù thì oán đối kéo dài. Bởi vậy Phật đã thiết lập Chánh pháp, lấy bệnh khổ làm thuốc hay. Lấy hoạn nạn làm thành công, láy gai góc làm giải thoát, lấy ma quân làm đạo bạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy bạn tệ bạc làm người giao du, lấy sự thi ân như đôi dép bỏ, lấy xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thủ. Thế nên ở trong chướng ngại mà vượt qua tất cả. Đức Thế tôn được giác ngộ chính trong mọi chướng ngại, Ương Quất hành hung, Đề Bà quấy phá, mà Phật đã giáo hóa cho thành đạo tất cả. Như vậy há không phải sự tác nghịc là sự tác thành mà sự quấy phá là sự giúp đỡ cho ta.

116


Gia đình giáo dục Phật học thường thức

Ngày nay, những người học đạo, trước hết không cần dấn mình vào mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại xáp tới thì không thể nào đối phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mà mất cả, đáng tiếc, đáng hận biết bao. LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI

117


Gia đình giáo dục