Hội Thủy sản Việt Nam
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
2
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
3
4
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
5
6 Ban Biên tập Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ Dương Xuân Hùng, Cố vấn Hoàng Hải Đăng, Thư ký Tòa soạn Phạm Thu Hồng, Nhà báo Dương Nam Anh, Nhà báo Trần Thị Kim Tiến, Nhà báo Trần Anh Thư, Phóng viên Chủ nhiệm Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ Phụ trách Đỗ Huy Hoàn, Phó Tổng Biên tập Chuyên gia Nguyễn Chu Hồi, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ Trần Đình Luân, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương, Giáo sư - Tiến sĩ Đào Trọng Hiếu, Tiến sĩ Lê Văn Khoa, Tiến sĩ Nguyễn Duy Hòa, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Bát, Tiến sĩ Hồ Quốc Lực, Tiến sĩ Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Thủy sản Minh Phú Mỹ thuật: Two Nguyễn Trình bày: Phạm Dương Kỹ thuật: Đăng Kiên Hình ảnh: Dương Nghĩa Đọc bản in: Anh Thư Tòa soạn: Điện thoại: 028.62777616 Email: toasoan@thuysanvietnam.com.vn Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP HCM Văn phòng Hà Nội: Điện thoại: 0243.7713699 Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, TP Hà Nội Phòng Quảng cáo: Quảng cáo: 0243.7713699 - 083.661.5993 Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT ISSN: 0866-8043 Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM) Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ
thuysanvietnam.com.vn
Thư tòa soạn Thưa quý vị bạn đọc, Mới đây, Việt Nam và các nước thành viên của Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) gồm: Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein ra tuyên bố chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA Việt Nam - EFTA). Như vậy, sau 14 năm và trải qua 21 phiên đàm phán chính thức, hai bên đã đạt được thống nhất, mở ra giai đoạn hợp tác mới, tạo nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy thương mại, đầu tư và mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các quốc gia EFTA. Ngành thủy sản được đánh giá là một trong những ngành có triển vọng tích cực. Đối với ngành thủy sản, các nước EFTA cam kết tiếp tục duy trì việc xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm có xuất xứ từ Việt Nam ngay khi Hiệp định FTA Việt Nam – EFFTA có hiệu lực. Giới phân tích nhận định, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EFTA không nên được nhìn nhận như một cú hích về sản lượng ngay lập tức. Tuy nhiên, đây vẫn là cơ hội mới cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh thương mại toàn cầu cạnh tranh và nhiều biến động. Trên số báo này, Tạp chí Thủy sản Việt Nam sẽ thông tin tới bạn đọc những phân tích, góc nhìn chuyên sâu về những cơ hội và thách thức mà Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EFTA mang lại cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành thủy sản nói riêng. Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 08 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp. Trân trọng! Ban Biên tập
8.2026
7
MỤC LỤC
14
30
56
Cánh cửa hợp tác thương mại đầu tư Việt Nam – EFTA đang rộng mở
Chuyển đổi sinh kế ngư dân: Hướng đi bền vững cho kinh tế biển Đắk Lắk
An ninh thức ăn cho thủy sản trong thế giới biến động: Hướng tiếp cận bền vững
Linh Sam
Hồng Hà
Linh Sam
18
44
58
Từ ngành hàng tỷ USD đến hành trình xây dựng thương hiệu
Quản lý nuôi biển: Siết chặt xử lý vi phạm để phát triển bền vững
Phương Nhi
Bảo Hân
Tập đoàn Việt Úc: Công bố chiến lược chuyển đổi từ Aquafarm sang Aquatech sau 25 năm Việt Úc
20
46
62
Nguyên tắc an toàn sinh học trong sản xuất, ương dưỡng tôm giống
Gỡ “thẻ vàng” IUU bước vào giai đoạn quan trọng
Tầm quan trọng của nguồn nước đầu vào trong nuôi tôm và thủy sản
Thùy Khánh
Kim Tiến
B.H.N
24
48
64
Giảm thiểu rủi ro bệnh EHP trong nuôi tôm thâm canh
Cá rô phi là tương lai của ngành thủy sản châu Phi
Phòng bệnh xuất huyết, lở loét trên cá mú nuôi lồng bè
Diệu Châu
Khánh Nguyên
Đặng Hồng Đức
28
54
66
EFTA : Cuộc chơi đường dài cho sản phẩm chất lượng cao
Dinh dưỡng hợp lý giúp tối ưu hóa lợi nhuận ngành cá tra
Dinh dưỡng tối ưu cho nuôi trồng thủy sản
Xuân Trường
Hoàng Nguyên
New Hope Vĩnh Long
8
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
9
10 | TIN TỨC - SỰ KIỆN
VASEP xây dựng 3 kịch bản xuất khẩu thủy sản 2026 Nhằm chủ động điều hành sản xuất những tháng cuối năm, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) vừa đưa ra 3 kịch bản xuất khẩu cho năm 2026. Ở kịch bản tích cực, kim ngạch toàn ngành dự báo vượt mốc 12,5 tỷ USD (tăng trưởng trên 12%) với điều kiện các rào cản tại Hoa Kỳ được tháo gỡ hoặc chính sách thuế chuyển biến thuận lợi. Ở kịch bản cơ sở, xuất khẩu dự kiến đạt 12,1 - 12,3 tỷ USD (tăng 8 - 10%) nếu thị trường Trung Quốc duy trì đà tăng, Nhật Bản và khối CPTPP giữ mức ổn định, trong khi Hoa Kỳ và EU không sụt giảm mạnh. Đối với kịch bản thận trọng, kim ngạch chỉ đạt khoảng 11,8 12 tỷ USD (tăng 3 - 5%) khi đơn hàng lao dốc, tôm Việt Nam yếu thế trước đối thủ Ecuador, thị trường EU phục hồi chậm và các khu vực khác chững lại. Về cơ cấu ngành hàng, tôm vẫn là động lực tăng trưởng chính dù chịu áp lực cạnh tranh gay gắt. Trong khi đó, cá tra cùng nhóm cua, ghẹ, tôm hùm được đánh giá có triển vọng tích cực và còn dư địa bứt phá, đặc biệt tại thị trường Trung Quốc.
Thủy sản chịu sức ép từ thuế mới tại thị trường Hoa Kỳ Từ ngày 24/7/2026, Hoa Kỳ chính thức áp dụng vòng thuế mới theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại 1974, tạo ra sức ép cạnh tranh không nhỏ cho ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Theo quy định, thủy sản Việt Nam sẽ phải chịu mức thuế 12,5%, cao hơn 2,5 điểm phần trăm so với một số nguồn cung đối thủ như Ecuador, Ấn Độ và Indonesia (hiện áp dụng mức 10%). Tại một thị trường có tính cạnh tranh gay gắt như Hoa Kỳ, sự chênh lệch
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì phiên họp lần thứ 34 của Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp Ảnh: Vân Hồng/VOV
thuysanvietnam.com.vn
thuế quan dù nhỏ cũng đủ tác động trực tiếp đến quyết định phân bổ đơn hàng của các nhà nhập khẩu, đặc biệt đối với những mặt hàng có tính thay thế cao. Khác với các biện pháp tạm thời, thuế Mục 301 có khả năng trở thành công cụ điều tiết thương mại dài hạn trong nhiều năm tới. Mặc dù vậy, chính sách này không hoàn toàn là một cú sốc tuyệt đối. Nhiều quốc gia đối thủ lớn khác như Thái Lan, Trung Quốc, Na Uy, Chile hay Peru cũng nằm trong nhóm phải chịu chung mức thuế 12,5%. Điều này phần nào hạn chế khả năng một quốc gia riêng lẻ được hưởng lợi tuyệt đối, đồng thời đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động chuẩn bị chiến lược dài hạn nhằm duy trì vị thế và năng lực cạnh tranh.
Sản lượng thủy sản 7 tháng tăng 3,7% nhờ nuôi trồng Theo Cục Thống kê, 7 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản cả nước ước đạt 5.873,1 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ. Lĩnh vực nuôi trồng tiếp tục là động lực chính với 3.579,9 nghìn tấn (tăng 5,8%), nhờ giá nguyên liệu ổn định và nhu cầu thu mua xuất khẩu cao. Các mặt hàng chủ lực đều tăng trưởng tốt: cá tra đạt 1.090,1 nghìn tấn (tăng 4,8%), tôm thẻ chân trắng 637,1 nghìn tấn (tăng 9,1%) và tôm sú 200,4 nghìn tấn (tăng 4,2%). Song song đó, hoạt động khai thác duy trì đà tăng nhẹ 0,7%, đạt 2.293,2 nghìn tấn nhờ thời tiết thuận lợi và giá nhiên liệu giảm, giúp ngư dân yên tâm bám biển. Sự kết hợp giữa sức bật nuôi trồng và đà phục hồi khai thác đã giúp toàn ngành giữ vững nhịp độ tăng trưởng tích cực.
Phó Thủ tướng yêu cầu tạo chuyển biến thực chất trong chống khai thác IUU Thực hiện mục tiêu gỡ cảnh báo “thẻ vàng” trong năm 2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương phải tạo chuyển biến thực chất từ nay đến ngày 31/8. Về khung pháp lý, Nghị định số 246/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 18/8) đã tiếp thu các khuyến nghị mới nhất của EC, tăng mức phạt và bổ sung hình thức xử lý đối với các vi phạm IUU nghiêm trọng. Công tác quản lý đội tàu đạt kết quả tích cực với hơn
80.300 tàu cá được đăng ký trên cơ sở dữ liệu quốc gia; 99,6% tàu từ 15m trở lên đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS). Đồng thời, gần 7.600 tàu không đủ điều kiện hoạt động được lập danh sách để kiểm soát chặt chẽ. Sau đợt thanh tra lần 5, Ủy ban châu Âu (EC) đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam, đồng thời yêu cầu gửi báo cáo phản hồi trước ngày 1/10 về hiệu quả quản lý, truy xuất nguồn gốc và đặc biệt là thực thi pháp luật trên thực địa. Quyết tâm chống khai thác IUU không chỉ nhằm gỡ cảnh báo của EC, mà còn gắn với định hướng của Nghị quyết số 20-NQ/TW, hướng tới xây dựng ngành thủy sản phát triển bền vững, hiện đại và có trách nhiệm.
Thêm 12 doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được cấp phép xuất khẩu sang Đài Loan Theo Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Đài Loan (TFDA) vừa chính thức cập nhật danh sách các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đủ điều kiện xuất khẩu. Cụ thể, TFDA đã bổ sung 12 doanh nghiệp, điều chỉnh thông tin 10 cơ sở (trong đó khôi phục tư cách xuất khẩu cho 1 doanh nghiệp) và xóa tên 4 đơn vị. Với đợt phê duyệt có hiệu lực từ ngày 29/7/2026, tổng số cơ sở thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu sang thị trường Đài Loan đã nâng lên 787 doanh nghiệp. Đây là đợt cập nhật thứ hai chỉ trong vòng hai tháng qua, là kết quả phối hợp chặt chẽ giữa Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cùng các cơ quan Đài Loan trên Hệ thống quản lý số hóa thực phẩm nhập khẩu (IFDM). Việc rà soát định kỳ của TFDA nhằm bảo đảm các yêu cầu khắt khe về an toàn thực phẩm, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Động thái này tiếp tục tạo cơ sở pháp lý thuận lợi giúp doanh nghiệp thủy sản Việt Nam duy trì xuất khẩu ổn định và mở rộng thị phần tại Đài Loan. Lai Châu
Siết chặt quản lý kinh doanh, sử dụng thuốc thú y, thủy sản Ngày 6/8/2026, UBND tỉnh Lai Châu ban hành Công văn số 6723/UBND-KTN yêu cầu tăng cường quản lý, kiểm soát hoạt động kinh
8.2026
TIN TỨC - SỰ KIỆN | 11
Xuất khẩu thủy sản 7 tháng đạt gần 1,02 tỷ USD Theo VASEP, xuất khẩu thủy sản tháng 7/2026 đạt gần 1,02 tỷ USD (tăng 4,8%), củng cố triển vọng hoàn thành mục tiêu 12 tỷ USD trong năm nay. Lũy kế 7 tháng, tôm vẫn là mặt hàng chủ lực với 2,78 tỷ USD (tăng 12,6%), chủ yếu nhờ tôm hùm xuất sang Trung Quốc. Tuy nhiên, tôm đang chịu sức ép lớn tại Hoa Kỳ do thuế Section 301 lên tới 12,5%, làm giảm lợi thế cạnh tranh. Xuất khẩu cá tra đạt gần 1,3 tỷ USD (tăng 8,8%) sau 7 tháng, dù tháng 7 giảm 6,1% do thị trường lớn điều chỉnh nhu cầu. Ngành cá ngừ gặp khó khăn, kim ngạch 7 tháng giảm 1,4% (đạt 524 triệu USD) dưới tác động của thuế, quy định MMPA từ Hoa Kỳ và thẻ vàng IUU tại EU. Điểm sáng là cua ghẹ tăng đột phá 51,1% trong tháng 7. Về thị trường, Trung Quốc và Hong Kong tiếp tục là động lực tăng trưởng
doanh và sử dụng thuốc thú y, thuốc thú y thủy sản. Động thái này nhằm chấn chỉnh tình trạng buôn bán thuốc không rõ nguồn gốc, bán qua mạng và sử dụng sai quy định, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường tăng cường thanh kiểm tra, xử lý nghiêm thuốc giả, thuốc nhập lậu; đồng thời tuyên truyền người chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản tuyệt đối không dùng chất cấm hay nguyên liệu kháng sinh. Lực lượng Công an và Quản lý thị trường (Sở Công Thương) sẽ phối hợp đấu tranh, điều tra các tổ chức, cá nhân kinh doanh trái phép, đặc biệt trên không gian mạng và các sàn thương mại điện tử. Ở cấp cơ sở, UBND các xã, phường trực tiếp giám sát địa bàn, hướng dẫn người dân tuân thủ thời gian ngừng dùng thuốc trước khi thu hoạch và tổ chức tiêu hủy thuốc kém chất lượng. Hà Tĩnh
Chủ động bảo vệ vùng nuôi thủy sản mùa mưa bão Hà Tĩnh hiện có hơn 5.550 ha diện tích nuôi trồng thủy sản (bao gồm hơn 3.670 ha nuôi nước ngọt, 1.530 ha nuôi mặn lợ và 350 ha nhuyễn thể). Nhằm hạn chế thiệt hại trong mùa mưa bão, ngành chức năng và chính quyền địa phương đang khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó đồng bộ. Theo Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh, đơn vị đã ban hành văn bản chỉ đạo, đôn đốc các địa phương thực hiện phương án phòng ngừa rủi ro. Ngành chuyên môn chú trọng theo dõi sát diễn biến thời tiết, nguồn nước để kịp thời
Xuất khẩu cua ghẹ tăng đột phá Ảnh: IT./CafeF chính, đạt gần 1,74 tỷ USD (tăng 34,5%). VASEP nhận định mục tiêu 12 tỷ USD cuối năm vẫn khả thi, song tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại do các rào cản thuế quan và yêu cầu chứng nhận khắt khe từ quốc tế.
cảnh báo; đồng thời cử cán bộ hướng dẫn người dân kiểm tra, gia cố bờ ao, lồng bè, hệ thống neo buộc và cống cấp thoát nước. Đặc biệt, Chi cục liên tục khuyến cáo người nuôi khẩn trương thu hoạch sớm đối với các diện tích thủy sản đã đạt kích cỡ thương phẩm. Đồng thời, yêu cầu hộ nuôi xây dựng phương án bảo vệ phù hợp. Người dân được đôn đốc chủ động tiêu thoát nước, trang bị máy phát điện và vật tư khử khuẩn nhằm xử lý kịp thời các sự cố khi mưa lớn kéo dài. Khánh Hòa
Xử lý nghiêm vi phạm, quyết gỡ “thẻ vàng” IUU Nhằm tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC), tỉnh Khánh Hòa đang quyết liệt triển khai các giải pháp chống khai thác IUU với tinh thần không có vùng cấm. Địa phương đã xử lý nghiêm hàng loạt doanh nghiệp gian lận nguồn gốc thủy sản, tiêu biểu như đưa ra xét xử Công ty TNHH T&H Nha Trang (tịch thu 400 triệu đồng) và Công ty TNHH Thịnh Hưng (sung công quỹ hơn 1,4 tỷ đồng từ 12 lô hàng vi phạm). Ngoài ra, Công ty TNHH Cát Tiên cũng bị phạt hành chính hơn 517 triệu đồng. Về quản lý đội tàu, danh sách gần 500 tàu cá chưa đủ điều kiện đang được giám sát chặt chẽ; song song với chính sách hỗ trợ chuyển nghề và giải bản tàu cá. Dù đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ được giao, Chi cục Thủy sản và Biển đảo Khánh Hòa cho biết việc kiểm soát tàu qua hệ thống eCDT và VMS vẫn còn vướng mắc. Do đó, tỉnh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm công bố sơ đồ nghề cá trên
biển và nâng cấp các hệ thống này. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Hà khẳng định địa phương sẽ tiếp tục duy trì kỷ cương, kiên quyết ngăn chặn tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài, tạo nền tảng phát triển nghề cá hội nhập và bền vững. Cần Thơ
Sản lượng thủy sản 7 tháng tăng 6,1% Theo ngành Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản trên địa bàn tiếp tục duy trì ổn định, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và bền vững. Trong tháng 7/2026, diện tích nuôi trồng thủy sản của thành phố ước đạt 15.179 ha; trong đó diện tích tôm nước lợ chiếm 5.835 ha, cá tra khoảng 750 ha. Về sản lượng, tổng sản lượng thủy sản tháng 7 ước đạt 67.363 tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, sản lượng nuôi trồng đạt 61.005 tấn (tăng 5,1%), còn sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 5.035 tấn (tăng 27,7%). Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản của Cần Thơ ước đạt 417.109 tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 371.019 tấn (tăng 5,9%) và khai thác biển đạt 36.792 tấn (tăng 8,7%). Mức tăng trưởng tích cực này chủ yếu đến từ lĩnh vực nuôi trồng, đặc biệt là các đối tượng chủ lực như cá tra và tôm nước lợ.
Bình An (Tổng hợp)
12 | TIN TỨC - SỰ KIỆN
thuysanvietnam.com.vn
Xuất khẩu cá hồi sang châu Á tăng mạnh
Ảnh: GMRI
Mỹ nâng cao sức cạnh tranh của ngành thủy sản Khoản đầu tư trị giá 15 triệu USD vừa được Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (U.S. National Science Foundation) rót vào Sáng kiến “NSF Seafood Engine in New England”. Khoản tài trợ sẽ được giải ngân trong 2 năm với tiềm năng gia hạn tới 10 năm với ngân quỹ lên tới 160 triệu USD. Sáng kiến này nhằm mục tiêu thúc đẩy năng lực cạnh tranh của nghề cá và ngành thuỷ sản thông qua triển khai các công nghệ: trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, robotics và sản xuất tiên tiến. Đồng thời, sáng kiến hỗ trợ sự đổi mới trong toàn bộ chuỗi cung ứng thuỷ sản của Mỹ.
Thông cáo mới đây của Tổ chức Nông Lương Thế giới FAO cho biết, thương mại cá hồi toàn cầu năm 2025 tiếp tục mở rộng. Thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc hấp thụ sản lượng bổ sung từ Na Uy. Triển vọng sẽ tích cực hơn khi lượng tiêu thụ và mạng lưới phân phối của thị trường Trung Quốc đang tiếp tục phát triển. Tính chung cả khu vực, Châu Á-Thái Bình Dương đã nhập khẩu khoảng 705.000 tấn cá hồi phi lê tươi, đông lạnh và cá hồi tươi vào năm 2025, chiếm 22,7% thương mại toàn cầu và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam nằm trong nhóm các nước nhập khẩu cá hồi đông lạnh lớn trong khu vực.
Philippines siết quy định đánh bắt ghẹ xanh Cục Thủy sản và Tài nguyên Thủy sản Philippines đã ban hành Sắc lệnh Thủy sản 277 nhằm bổ sung biện pháp bảo vệ với ghẹ xanh.
Ngành thuỷ sản châu Âu đối diện thách thức giá cả Tiêu dùng cá và thủy sản đã giảm ở nhiều thị trường lớn thuộc Liên minh châu Âu (EU). Nghiên cứu mới của Ủy ban châu Âu (EC) cho thấy, trong thập kỷ qua, sự suy giảm về nhu cầu thể hiện rõ ở nhóm các thị trường thuỷ sản chủ chốt như Tây Ban Nha, Pháp, Ý… Theo nhóm nghiên cứu, tình trạng nói trên đến từ sự kết hợp nhiều nguyên nhân: giá cả tăng, sức mua giảm và thay đổi thói quen tiêu dùng. Người trẻ đang ít ăn thuỷ sản hơn và điều này sẽ tác động trực tiếp tới nhu cầu nội khối trong tương lai. Tuy vậy, giá cả vẫn đang là rào cản lớn nhất. Nghiên cứu gợi ý các giải pháp phục hồi sức tiêu thụ thuỷ sản gồm: các chiến dịch tiếp thị về lợi ích của thuỷ sản với sức khoẻ con người, đề xuất giảm thuế VAT với cá và sản phẩm thuỷ sản, các chương trình khuyến khích thế hệ trẻ tăng tiêu dùng thuỷ sản.
Ảnh: Tép bạc
Giới hạn tổng chiều dài lưới đánh bắt không quá 500 mét được áp dụng để giảm tác động tới các loại động vật biển có vú, các loài bị đe doạ hoặc có nguy cơ tuyệt chủng khác. Các quy định mới giúp Philippines đảm bảo khả năng tiếp cận thị trường thuỷ sản Mỹ. Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú yêu cầu các quốc gia xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ phải áp dụng các tiêu chuẩn bảo vệ động vật biển có vú tương đương với nước này.
Trừng phạt Nga ảnh hưởng tới bánh Filet-O-Fish của McDonald’s châu Âu Các lệnh trừng phạt thương mại Nga và quy định truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ khiến nguồn cung cá thịt trắng châu Âu gặp khủng hoảng. Nga hiện chiếm khoảng 45% sản lượng cá minh thái toàn cầu. Việc sản xuất Filet-OFish của McDonald’s tại châu Âu phụ thuộc đáng kể vào cá minh thái của Nga. Để lách trừng phạt, một phần nguồn nguyên liệu được chế biến tại Trung Quốc rồi xuất khẩu sang châu Âu. Với việc siết chặt các quy định về xuất xứ, áp dụng thuế bổ sung và xem xét cấm nhập khẩu các sản phẩm có nguồn gốc từ cá Nga, dù đã được chế biến ở nước thứ ba, nguồn cung ứng này cũng bị ảnh hưởng.
Linh San
CON SỐ & SỰ KIỆN 5,87 TRIỆU TẤN Là tổng sản lượng thủy sản cả nước trong 7 tháng đầu năm, tăng 3,7% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng là 3,58 triệu tấn, tăng 5,8%; sản lượng khai thác đạt 2,29 triệu tấn, tăng nhẹ 0,7%. 787 DOANH NGHIỆP Là tổng số cơ sở thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu sang thị trường Đài Loan. Đây là con số sau khi TFDA đã bổ sung 12 doanh nghiệp, điều chỉnh thông tin 10 cơ sở và xóa tên 4 đơn vị.
1,02 TỶ USD Là kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 7/2026, tăng 4,8% so với cùng kỳ. Lũy kế, kim ngạch xuất khẩu thủy sản 7 tháng đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%. 12,5% Là mức thuế mới mà mặt hàng thủy sản Việt Nam phải chịu khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, cao hơn 2,5 điểm phần trăm so với Ecuador, Ấn Độ và Indonesia. Mức thuế này được áp dụng từ 24/7/2026.
8.2026
13
14 | TIÊU ĐIỂM
Cánh cửa hợp tác thương mại đầu tư Việt Nam – EFTA đang rộng mở Đối với ngành thủy sản, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EFTA không nên được nhìn nhận như một cú hích về sản lượng ngay lập tức. Tuy nhiên, đây vẫn là cơ hội mới cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh thương mại toàn cầu cạnh tranh và nhiều biến động.
thuysanvietnam.com.vn
8.2026 Phác thảo bức tranh xuất khẩu thủy sản sang các nước EFTA Ngày 2/7/2026, Việt Nam và các nước thành viên của Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) gồm: Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein ra tuyên bố chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA Việt Nam - EFTA). Như vậy, sau 14 năm và trải qua 21 phiên đàm phán chính thức, hai bên đã đạt được thống nhất, mở ra giai đoạn hợp tác mới, tạo nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy thương mại, đầu tư và mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các quốc gia EFTA. Ngành thủy sản được đánh giá là một trong những ngành có triển vọng tích cực. Theo Trung tâm WTO, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đối với ngành thủy sản, các nước EFTA cam kết tiếp tục duy trì việc xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm có xuất xứ từ Việt Nam ngay khi Hiệp định FTA Việt Nam – EFFTA có hiệu lực. Thời cơ của ngành còn đến từ thực tế, trước FTA này, thủy sản Việt Nam đã có được vị trí nhất định tại các thị trường EFTA. Số liệu thống kê từ Cục Hải quan cho thấy, năm 2025, xuất khẩu thủy sản sang Thụy Sĩ đạt 34,31 triệu USD. Việt Nam là thị trường cung cấp thủy sản lớn thứ tư theo lượng (chiếm 9,46%) và thứ năm tính theo trị giá (chiếm 8,11%) trong tổng nhập khẩu của quốc gia này, theo số liệu tính đến tháng 11/2025 của Trung tâm thương mại thế giới. Các mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất sang Thuỵ Sĩ gồm: tôm các loại, cá tra, cá basa. Ngành thủy sản nội địa của quốc gia này chỉ đáp ứng 12% nhu cầu trong nước mở ra tiềm năng lớn cho doanh nghiệp Việt Nam. Đối với Na Uy, đây là quốc gia đứng vị trí thứ 2 về xuất khẩu thủy sản, trên Việt Nam một bậc. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này là 18,48 triệu USD. Xu hướng đang khả quan hơn khi trong 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang Na Uy đạt 7,027 triệu USD, tăng 36,7%. Thủy sản Việt Nam hiện diện tương đối khiêm tốn ở thị trường Iceland, với kim ngạch 6 tháng đầu năm 2026 chỉ đạt 0,43 triệu USD. Giao thương với thị trường Liechtenstein còn đạt kim ngạch nhỏ hơn. Trong năm 2025, Việt Nam chỉ xuất khẩu sang Công quốc này ở mức 0,226 triệu USD cho tất cả các mặt hàng. Dù vậy, nhìn từ góc độ lạc quan, thủy
TIÊU ĐIỂM | 15 sản Việt Nam vẫn còn dư địa cực kỳ lớn để khai thác hai thị trường EFTA nói trên. Cơ hội từ nhóm thị trường có sức mua cao, tiêu chuẩn cao Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), FTA Việt Nam – EFTA không nên được nhìn nhận như một “cú hích sản lượng” ngay lập tức, mà là cơ hội mở thêm một nhóm thị trường có sức mua cao, tiêu chuẩn cao và phù hợp với định hướng nâng giá trị sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. Đây là một thực tế hiển nhiên bởi lẽ, dù có dân số chỉ vào khoảng 15 triệu người, GDP bình quân đầu người của các nước EFTA đạt hơn 105.000 USD, cao gấp hơn 2 lần GDP bình quân đầu người của các nước thuộc Liên minh châu Âu EU. Đối với thủy sản Việt Nam, lợi ích đa dạng hoá thị trường, giảm bớt phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống không chỉ mang ý nghĩa về sản lượng. Quan trọng hơn, các sản phẩm thủy sản xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu khắt khe về chất lượng và đáp ứng tâm lý người tiêu dùng thu nhập cao. Chẳng hạn, Na Uy nằm trong tốp 10 quốc gia tiêu thụ thực phẩm hữu cơ tính trên đầu người cao nhất thế giới năm 2019, đồng nghĩa, người tiêu dùng quốc gia này sẵn sàng chi phi cao hơn cho các sản phẩm có chứng nhận hữu cơ. “Đây không phải thị trường có thể mở rộng bằng cách cạnh tranh giá đơn thuần. Cơ hội phù hợp hơn nằm ở nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng và tiêu chuẩn cao như tôm chế biến, tôm đông lạnh chất lượng cao, cá tra phi lê/ cắt portion, cá tra chế biến, cá ngừ, mực – bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và sản phẩm tiện dụng cho bán lẻ”, VASEP nhận định. Thứ hai, FTA Việt Nam – EFTA sẽ mang ưu đãi thuế và khung thương mại ổn định hơn. Các cam kết cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan sẽ giúp hàng hóa có xuất xứ Việt Nam tiếp cận EFTA thuận lợi hơn. “Dù vậy, ưu đãi thuế chỉ thực sự có giá trị khi doanh nghiệp đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ, hồ sơ chứng nhận, yêu cầu an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn kỹ thuật của từng thị trường”, VASEP lưu ý. Lợi ích thứ ba, theo VASEP là cơ hội hợp tác hai chiều. Na Uy và Iceland là những quốc gia có thế mạnh lớn về thủy sản, đặc biệt trong nuôi biển, khai thác, quản lý nguồn lợi, công nghệ lạnh, chế biến sâu và logistics.
“Chúng ta đã đưa sản phẩm thuỷ sản đến các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU, vì vậy, kể cả các nước EFTA đặt ra các yêu cầu cao, doanh nghiệp vẫn có thể đáp ứng” - PGS. TS Doãn Kế Bôn
Đặc biệt, dù Nauy và Việt Nam đều nằm trong nhóm 3 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, các ngành hàng chủ lực của hai nước không cạnh tranh trực diện với nhau. Trong khi Na Uy xuất khẩu các loài như cá hồi, cá tuyết, cua hoàng đế và tôm từ biển. Việt Nam là nhà cung cấp lớn cá tra và tôm nuôi. Vì vậy, FTA không chỉ mở cơ hội xuất khẩu, mà còn có thể thúc đẩy hợp tác về công nghệ, nguyên liệu, đầu tư, quản trị chuỗi cung ứng và phát triển sản phẩm mới. “Với các doanh nghiệp Việt Nam có năng lực chế biến, nguồn nguyên liệu thủy sản chất lượng cao từ EFTA cũng có thể hỗ trợ phát triển sản phẩm phục vụ thị trường nội địa, phần phối cho các doanh nghiệp dịch vụ lưu trú, nhà hàng, khách sạn - HORECA, bán lẻ hiện đại hoặc tái xuất”, VASEP lưu ý. Thách thức kép Xác định rõ tiềm năng, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cũng đồng thời chỉ ra các thách thức với doanh nghiệp Việt Nam muốn thâm nhập thị trường các nước EFTA. Thứ nhất là yêu cầu về tiêu chuẩn. Theo VASEP, 03 nước Na Uy, Iceland và Liechtenstein thuộc Khu vực Kinh tế châu Âu, có mức độ gắn kết cao với hệ thống tiêu chuẩn của EU; Thụy Sĩ dù không thuộc EEA nhưng cũng là thị trường có yêu cầu rất cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường, lao động và trách nhiệm xã hội. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam muốn đi xa hơn tại EFTA phải chuẩn bị từ vùng nuôi, tàu cá, nguyên liệu, nhà máy, chuỗi lạnh, nhãn mác đến chứng nhận bền vững.
16 | TIÊU ĐIỂM Thứ hai là quy tắc xuất xứ. Nhiều sản phẩm thủy sản Việt Nam sử dụng một phần nguyên liệu nhập khẩu hoặc trải qua nhiều công đoạn chế biến. Do đó, doanh nghiệp cần chờ và nghiên cứu kỹ biểu cam kết, quy tắc xuất xứ theo từng mã HS, cơ chế cộng gộp và thủ tục chứng nhận xuất xứ. Nếu không đáp ứng đúng hồ sơ, ưu đãi thuế sẽ khó chuyển thành lợi thế cạnh tranh thực tế. Thách thức thứ ba đến từ chính thị trường nội địa. Khi cánh cửa mở ra với doanh nghiệp Việt Nam tại các thị trường EFTA, cùng lúc, các sản phẩm thủy sản EFTA cũng rộng cửa xuất hiện tại thị trường Việt Nam. Nhóm sản phẩm thuộc phân khúc trung – cao cấp như cá hồi, cá thu, cá tuyết, cá thịt trắng và các sản phẩm lạnh/đông lạnh từ Na Uy, Iceland có thể cạnh tranh với sản phẩm nội địa cùng phân khúc, tại nhà hàng – khách sạn, bán lẻ hiện đại và sản phẩm tiện dụng. Nếu doanh nghiệp trong nước không nâng chất lượng sản phẩm nội địa, đầu tư chế biến sâu, phát triển thương hiệu và chuẩn hóa hệ thống phân phối, họ có thể bị hụt hơi ngay trên sân nhà. “Nhìn tổng thể, FTA Việt Nam – EFTA là một bước tiến hội nhập có ý nghĩa với ngành thủy sản, nhưng không phải là lợi thế tự động. Cơ hội sẽ thuộc về những doanh nghiệp chuẩn bị sớm về chất lượng, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, quy tắc xuất xứ, bao bì – nhãn mác và khả năng làm việc với các hệ thống bán lẻ, nhập khẩu, foodservice tại Thụy Sĩ, Na Uy và Iceland”, VASEP khẳng định. Và lời giải… Từ góc độ chuyên gia độc lập, PGS.TS Doãn Kế Bôn, Đại học Thương Mại nhận định, đối với ngành thủy sản, lợi thế từ FTA Việt Nam – EFTA là có nhưng không quá lớn. Về thương mại, bốn thị trường EFTA có thu nhập cao nhưng quy mô dân số không lớn. Đó đều không phải những thị trường xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam ở châu Âu. Bản thân các nước Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein đều có độ mở thị trường lớn với mặt hàng thủy sản. Chẳng hạn, thuế nhập khẩu phần lớn các loại thủy sản và sản phẩm thủy sản chế biến của Thụy Sĩ là 0%. Na Uy cũng áp dụng thuế MFN (Most Favored Nation) mức 0% cho nhiều loại mặt hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam… Nói vậy để thấy, dư địa để miễn giảm thuế theo FTA Việt Nam – EFTA không còn nhiều.
thuysanvietnam.com.vn
Điểm thứ hai, đi kèm với ưu đãi thuế, bất cứ FTA với các nước phát triển nào đều đi kèm với các hàng rào phi thuế quan, bao gồm các tiêu chuẩn kỹ thuật. Hàng rào phi thuế quan của các nước EFTA nhiều khả năng sẽ tương đồng với các nước EU. “Chúng ta đã đưa sản phẩm thủy sản đến các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU, vì vậy, kể cả các nước EFTA đặt ra các yêu cầu cao, doanh nghiệp vẫn có thể đáp ứng”, PGS. TS Doãn Kế Bôn khẳng định. Về khía cạnh đầu tư, trên lý thuyết, FTA Việt Nam – EFTA sẽ tạo thuận lợi hơn cho dòng FDI từ khu vực kinh tế này vào Việt Nam, đặc biệt là từ Na Uy hay Iceland. Tuy nhiên, đối với ngành thủy sản, cơ hội sẽ không nhiều như các lĩnh vực sản xuất khác. Đề cập tới vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hoàng Thuý, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thụy Điển kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia nhận định, Na Uy có thế mạnh rất lớn về năng lượng, hàng hải, thủy sản, công nghệ môi trường và tài chính xanh. Đây cũng là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu hợp tác để nâng cao năng lực sản xuất, chuyển đổi năng lượng và phát triển bền vững. Với Iceland, cơ hội có thể đến từ các lĩnh vực có tính bổ trợ cao như thủy sản, công nghệ chế biến, bảo quản lạnh, năng lượng địa nhiệt, du lịch bền vững, thực phẩm chất lượng cao và logistics lạnh.
“Iceland là thị trường nhỏ nhưng có năng lực chuyên môn sâu trong các lĩnh vực mà Việt Nam đang cần học hỏi, đặc biệt là quản lý nguồn lợi thủy sản, chế biến sâu và phát triển chuỗi giá trị dựa trên công nghệ”, bà Nguyễn Thị Hoàng Thuý gợi ý. Mới đây, theo thông tin từ Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam, trong khuôn khổ Vietfish 2026, 11 doanh nghiệp và tổ chức hàng đầu của Na Uy sẽ tăng cường các hoạt động kết nối với doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực thủy sản. Các lĩnh vực được các doanh nghiệp Na Uy quan tâm gồm công nghệ và thiết bị nuôi trồng thủy sản, thức ăn và dinh dưỡng, vaccine và sức khỏe vật nuôi, di truyền giống, công nghệ chế biến, xử lý phụ phẩm, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực. Có thể thấy, FTA Việt Nam – EFTA sẽ mở ra rất nhiều cánh cửa hợp tác cho doanh nghiệp Việt Nam. Đơn vị nào chủ động nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm sẽ giành được ưu thế và khả năng phát triển tốt hơn.
Linh Sam
8.2026
TIÊU ĐIỂM | 17
18 | TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC
thuysanvietnam.com.vn
Từ ngành hàng tỷ USD đến hành trình xây dựng thương hiệu Thủy sản Việt Nam đã khẳng định vị thế là một ngành hàng chủ lực, hiện diện tại nhiều thị trường lớn trên thế giới. Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng vẫn là bài toán về thương hiệu khi giá trị nhận diện chưa thực sự tương xứng với năng lực sản xuất.
Bài toán thương hiệu còn bỏ ngỏ Trong hơn hai thập kỷ qua, thủy sản Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, từ một ngành phát triển dựa nhiều vào lợi thế tự nhiên trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, có vị thế ngày càng rõ nét trên thị trường quốc tế. Các sản phẩm như tôm, cá tra, cá ngừ, mực, bạch tuộc… hiện đã có mặt tại nhiều thị trường lớn, đáp ứng ngày càng tốt các
yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Dù đạt được những thành tựu lớn về xuất khẩu, thủy sản Việt Nam vẫn chưa xây dựng được những thương hiệu có vị thế tương xứng. Phần lớn sản phẩm vẫn đến tay người tiêu dùng dưới nhãn hiệu của nhà nhập khẩu hoặc các hệ thống phân phối nước ngoài. Vì vậy, những giá trị mà doanh nghiệp đã đầu tư trong nhiều
năm, từ vùng nuôi đạt chuẩn, công nghệ chế biến hiện đại đến hệ thống quản lý chất lượng và các chứng nhận quốc tế, mới chủ yếu được ghi nhận trong các giao dịch B2B, thay vì trở thành những dấu ấn mà người tiêu dùng cuối cùng có thể nhận biết và ghi nhớ. Khoảng trống trong xây dựng thương hiệu phần nào bắt nguồn từ quá trình phát triển của ngành trong nhiều năm qua, khi
8.2026
TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC | 19
doanh nghiệp ưu tiên nâng cao năng lực sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu theo đơn hàng. Cách tiếp cận này đã giúp thủy sản Việt Nam nhanh chóng gia tăng thị phần, trở thành một nguồn cung quan trọng trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, việc tập trung nhiều vào sản xuất và cung ứng cũng khiến hoạt động đầu tư cho thương hiệu, phát triển thị trường tiêu dùng và xây dựng mối liên kết trực tiếp với khách hàng cuối cùng chưa được chú trọng tương xứng. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, khi nhiều quốc gia liên tục đầu tư nâng cao năng lực sản xuất và xây dựng thương hiệu, lợi thế về sản lượng hay giá thành không còn đủ để tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững. Bài toán đặt ra đối với thủy sản Việt Nam vì thế không chỉ là mở rộng thị trường xuất khẩu, mà còn là xây dựng những thương hiệu đủ sức khẳng định giá trị của sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế. Muốn làm được điều đó, mỗi ngành hàng cần được định vị bằng một câu chuyện riêng, gắn với chất lượng, nguồn gốc, con người và những cam kết phát triển bền vững.
Với ngành tôm, yêu cầu chuyển đổi cũng đang trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Việt Nam có nhiều lợi thế về kinh nghiệm nuôi, năng lực chế biến và thị trường xuất khẩu rộng lớn, nhưng sự phát triển nhanh chóng của các quốc gia sản xuất như Ecuador, Ấn Độ, Indonesia cho thấy lợi thế về giá thành không còn đủ để tạo ra khác biệt bền vững. Nếu cá tra và tôm là những ngành hàng đã tạo dựng được vị thế trên thị trường quốc tế, thì những sản phẩm tiềm năng như ốc hương lại đứng trước cơ hội xây dựng thương hiệu ngay từ giai đoạn đầu phát triển. Sở hữu lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh nghiệm nuôi và nhu cầu lớn từ nhiều thị trường châu Á, ốc hương có tiềm năng trở thành một sản phẩm giá trị cao của thủy sản Việt Nam. Để chuyển từ một mặt hàng thương mại thành một sản phẩm có thương hiệu, doanh nghiệp cần xây dựng nền tảng chuỗi giá trị đồng bộ, từ con giống, vùng nuôi, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc đến khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu.
Mỗi sản phẩm cần câu chuyện riêng Cá tra là một trong những minh chứng rõ nét cho hành trình đưa thủy sản Việt Nam vươn ra thị trường thế giới. Từ một sản phẩm chưa có vị thế rõ ràng trên thị trường quốc tế, cá tra đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực, hiện diện tại nhiều quốc gia và giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu. Khi ngành hàng đã đạt đến quy mô xuất khẩu lớn, bài toán đặt ra không chỉ là duy trì sản lượng mà còn phải nâng cao giá trị nhận diện. Cá tra Việt Nam không thể chỉ được nhìn nhận như một nguồn cung phi lê đông lạnh ổn định, mà cần được định vị bằng những giá trị khác biệt: Vùng nuôi được kiểm soát, quy trình sản xuất minh bạch, tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt và cam kết phát triển bền vững. Đằng sau mỗi sản phẩm cá tra còn là câu chuyện về dòng Mekong, những vùng nuôi gắn với sinh kế người dân và quá trình chuyển đổi sang sản xuất có trách nhiệm. Khi được truyền tải đầy đủ, những giá trị này sẽ giúp cá tra vượt ra khỏi vai trò một mặt hàng xuất khẩu để trở thành sản phẩm mang dấu ấn Việt Nam.
Từ nhà cung cấp đến đối tác có giá trị Trong chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu, thương hiệu chính là yếu tố quyết định khả năng giữ lại giá trị của mỗi quốc gia và doanh nghiệp. Không ít quốc gia có nguồn lợi tự nhiên tương đồng, nhưng những nơi xây dựng được thương hiệu mạnh thường là những nơi tạo ra sự khác biệt lớn hơn về giá trị, niềm tin và khả năng kết nối với thị trường. Na Uy là một minh chứng rõ nét. Bên cạnh năng lực sản xuất lớn, quốc gia này đã xây dựng thành công hình ảnh “Salmon from Norway” gắn với công nghệ nuôi biển, hệ thống kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển bền vững. Nhờ đó, cá hồi Na Uy không chỉ được biết đến như một nguồn nguyên liệu thủy sản, mà trở thành sản phẩm có nhận diện rõ ràng và giá trị cao trên thị trường quốc tế. Tương tự, Nhật Bản đã nâng tầm nhiều sản phẩm biển thông qua sự kết hợp giữa chất lượng, tiêu chuẩn và văn hóa ẩm thực. Một con cá ngừ hay một con sò điệp Nhật Bản không chỉ được bán như một loại nguyên liệu, mà còn mang theo câu chuyện về vùng biển, mùa vụ khai thác, kỹ thuật bảo quản và
sự tinh tế trong văn hóa ẩm thực. Chính cách gắn sản phẩm với những giá trị phía sau đã giúp thủy sản Nhật Bản tạo dựng vị thế vượt ra ngoài cuộc cạnh tranh về giá. Điểm chung của những mô hình thành công này là họ không chỉ bán sản phẩm, mà bán cả niềm tin, nguồn gốc và những giá trị được tạo dựng trong suốt quá trình sản xuất. Sự khác biệt không nằm ở việc sở hữu nguồn lợi thủy sản vượt trội hơn tất cả, mà ở khả năng biến lợi thế tự nhiên thành thương hiệu có giá trị. Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp thủy sản cũng đang từng bước chuyển đổi theo hướng này thông qua đầu tư vào vùng nguyên liệu, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm giá trị gia tăng và xây dựng các mô hình sản xuất có trách nhiệm. Tuy nhiên, để thực sự nâng cao vị thế, doanh nghiệp cần nhìn nhận thương hiệu không chỉ là công cụ marketing, mà là tài sản chiến lược quyết định khả năng cạnh tranh lâu dài. Một thương hiệu mạnh không bắt đầu từ logo hay bao bì, mà được hình thành từ chất lượng ổn định, sự minh bạch trong chuỗi sản xuất và khả năng thực hiện cam kết với khách hàng. Trong thương mại quốc tế, những doanh nghiệp sở hữu thương hiệu mạnh cũng là những đơn vị có khả năng giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi cung ứng. Xuất khẩu tỷ USD là thành quả đáng tự hào của thủy sản Việt Nam, nhưng chặng đường phía trước đòi hỏi ngành phải bước xa hơn vai trò của một nhà cung cấp. Ví dụ như, kể câu chuyện của chính mình: Câu chuyện về dòng sông Mekong, những vùng nuôi sinh thái, những con người gắn bó với nghề biển, những quy trình sản xuất đạt chuẩn quốc tế và những cam kết phát triển bền vững. Bởi cuối cùng, giá trị lớn nhất của một sản phẩm không chỉ nằm ở nơi nó được sản xuất, mà còn ở cách nó được thế giới ghi nhớ.
Phương Nhi
20
thuysanvietnam.com.vn CHUYÊN TRANG VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT THỦY SẢN - CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
Thường xuyên theo dõi khả năng tăng trưởng, tình trạng sức khỏe và các yếu tố môi trường
Ảnh: Việt Úc
Nguyên tắc an toàn sinh học trong sản xuất, ương dưỡng tôm giống An toàn sinh học là một trong những giải pháp quan trọng để sản xuất, ương dưỡng tôm giống khỏe mạnh, hạn chế nguy cơ tác nhân gây bệnh xâm nhập, tồn tại, lây lan trong cơ sở và phát tán ra môi trường.
T
heo quy định tại Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT, an toàn sinh học trong nuôi trồng thủy sản là việc áp dụng các biện pháp lý hóa, sinh học và quản lý nhằm giảm thiểu, loại trừ các tác nhân gây bệnh có nguy cơ xâm nhiễm từ bên ngoài vào, tồn tại, lây lan bên trong và phát tán ra khỏi cơ sở. Trong sản xuất, ương dưỡng tôm giống, các biện pháp này hướng đến mục tiêu: ngăn ngừa sự xâm nhập và phát tán của tác nhân gây bệnh; phát hiện sớm để xử lý kịp thời các nguy cơ dịch bệnh, giảm thiểu thiệt hại kinh tế và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Yêu cầu cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống Thiết kế cơ sở là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống kiểm soát chất lượng và an toàn sinh học; cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống phải đáp ứng các điều kiện theo Luật Thủy sản và quy định có liên quan. Việc phân khu chức năng, bố trí hệ thống xử lý nước cấp, nước thải và kiểm soát lối ra vào ngay từ đầu sẽ góp phần hạn chế lây nhiễm chéo trong quá trình sản xuất. Bố trí khu vực riêng biệt: Một cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống cần bố trí, phân
8.2026 khu phù hợp các khu nuôi tôm bố mẹ, khu sinh sản và ương ấu trùng, khu xử lý nước, khu cách ly, khu vệ sinh - khử trùng và khu xử lý chất thải; việc bố trí phải phù hợp với quy mô, công nghệ sản xuất và bảo đảm kiểm soát nguy cơ lây nhiễm chéo. Khu cách ly được bố trí để theo dõi sức khỏe tôm giống mới nhập và các đàn tôm cần theo dõi trước khi đưa vào khu sản xuất chính. Hệ thống cấp thoát nước: Cần được thiết kế, bố trí phù hợp để hạn chế nguy cơ lây nhiễm chéo. Cơ sở cần có hệ thống xử lý nước cấp, nước thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định hiện hành; nước cấp phải được kiểm soát, xử lý phù hợp trước khi đưa vào sản xuất và nước thải phải được thu gom, xử lý trước khi thải ra môi trường theo quy định. Thiết kế khu kiểm soát người và phương tiện: Cơ sở phải có hệ thống khử trùng, tiêu độc cho người, phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị và vật tư cần thiết tại lối ra, vào cơ sở và khu vực sản xuất; việc sử dụng hóa chất, nồng độ, thời gian tiếp xúc và thay dung dịch phải thực hiện theo hướng dẫn kỹ thuật, nhãn sản phẩm và quy trình của cơ sở. Khu vực thay trang phục bảo hộ cần được bố trí phù hợp để nhân viên sử dụng quần áo, ủng và trang bị chuyên dụng trước khi vào khu sản xuất. Đối với cơ sở có nhiều khu sản xuất độc lập, cần quy định chiều di chuyển một chiều hoặc thứ tự di chuyển từ khu có nguy cơ thấp đến khu có nguy cơ cao nhằm hạn chế lây nhiễm chéo. Đối với những trại có nhiều khu chức năng, nên thiết kế các điểm vệ sinh, sát trùng và bố trí dụng cụ riêng cho từng khu vực nhằm hạn chế lây nhiễm chéo trong quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, khu vực sản xuất cần được tách biệt với khu hành chính và khu tiếp khách. Cơ sở cần kiểm soát người ra, vào khu vực sản xuất; hạn chế người không có nhiệm vụ tiếp cận khu sản xuất, trường hợp cần thiết phải thực hiện các biện pháp vệ sinh, khử trùng và an toàn sinh học theo quy trình của cơ sở. Quản lý tôm bố mẹ và con giống Yêu cầu: Tôm bố mẹ phải có nguồn gốc rõ ràng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn sinh học và các quy định có liên quan. Trường hợp tôm bố mẹ, tôm giống thuộc đối tượng phải kiểm dịch thì phải thực hiện kiểm
21
An toàn sinh học trong nuôi trồng thủy sản là việc áp dụng các biện pháp lý hóa, sinh học và quản lý nhằm giảm thiểu, loại trừ các tác nhân gây bệnh có nguy cơ xâm nhiễm từ bên ngoài vào, tồn tại, lây lan bên trong, phát tán ra khỏi cơ sở, vùng nuôi trồng thủy sản (khoản 1 Điều 2 Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT).
dịch theo quy định của pháp luật về thú y. Việc lấy mẫu, xét nghiệm tác nhân gây bệnh thực hiện theo kế hoạch giám sát của cơ sở, yêu cầu của chương trình giám sát hoặc quy định áp dụng đối với từng trường hợp. Giải pháp: Để giảm thiểu rủi ro, nên ưu tiên sử dụng tôm bố mẹ SPF hoặc tôm bố mẹ có tình trạng sức khỏe được kiểm soát theo chương trình giám sát phù hợp; SPF là giải pháp quản lý rủi ro, không phải điều kiện pháp lý áp dụng chung cho mọi cơ sở. Tôm mới nhập cần được bố trí tại khu vực cách ly, theo dõi sức khỏe và áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp trước khi đưa vào khu sản xuất chính. Không sử dụng tôm bố mẹ không rõ nguồn gốc hoặc chưa được kiểm soát dịch bệnh. Chăm sóc: Trong thời gian nuôi lưu giữ, cần theo dõi thường xuyên khả năng tăng trưởng, tình trạng sức khỏe và các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, pH, hàm lượng ôxy hòa tan… Chế độ cho ăn phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của tôm bố mẹ, đồng thời quản lý lượng thức ăn hợp lý để hạn chế ô nhiễm môi trường nuôi. Định kỳ đánh giá tỷ lệ sống, tỷ lệ thành thục, sức sinh sản và các chỉ tiêu kỹ thuật khác để kịp thời phát hiện bất thường. Bên cạnh đó, cơ sở cần duy trì đầy đủ hồ sơ quản lý đàn tôm bố mẹ, bao gồm nguồn gốc, thời gian nhập, hồ sơ kiểm dịch (nếu thuộc diện kiểm dịch), kết quả xét nghiệm, quá trình chăm sóc, sử dụng thuốc thú y, chế
phẩm xử lý môi trường (nếu có) và tình hình sinh sản. Việc lưu trữ hồ sơ phục vụ truy xuất nguồn gốc, đánh giá hiệu quả sản xuất và xác định nguyên nhân khi phát sinh sự cố. Kiểm soát nguồn nước Nguồn nước là một trong những con đường chủ yếu đưa mầm bệnh vào trại sản xuất tôm giống. Các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hoặc sinh vật mang mầm bệnh có thể theo nước cấp xâm nhập vào hệ thống nuôi nếu không được xử lý triệt để. Bên cạnh đó, sự biến động của các yếu tố môi trường cũng làm tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của tôm bố mẹ và ấu trùng. Nguồn nước cấp và nước thải cần được bố trí theo nguyên tắc tách biệt nhằm hạn chế nguy cơ tái nhiễm tác nhân gây bệnh. Có ao lắng hoặc hệ thống xử lý nước: Cơ sở sản xuất cần bố trí ao lắng hoặc hệ thống xử lý nước phù hợp để lắng lọc, khử trùng và ổn định chất lượng nước trước khi cấp vào các bể sản xuất. Tùy điều kiện thực tế, có thể áp dụng kết hợp các biện pháp như lọc cơ học, lắng, khử trùng bằng hóa chất, tia UV hoặc ozone theo quy trình kỹ thuật phù hợp nhằm giảm nguy cơ tác nhân gây bệnh và sinh vật mang mầm bệnh xâm nhập. Không sử dụng trực tiếp nguồn nước chưa được kiểm soát, xử lý phù hợp với yêu cầu an toàn sinh học của cơ sở.
22 Theo dõi các chỉ tiêu môi trường và giám sát tác nhân gây bệnh định kỳ: Trong quá trình sản xuất, cần xây dựng kế hoạch theo dõi định kỳ các chỉ tiêu môi trường như nhiệt độ, pH, độ mặn, hàm lượng ôxy hòa tan, độ kiềm, amoniac (NH3), nitrit (NO2-)… Đồng thời, thực hiện lấy mẫu nguồn nước cấp để giám sát tác nhân gây bệnh theo kế hoạch giám sát của cơ sở, yêu cầu của chương trình an toàn dịch bệnh (nếu áp dụng) hoặc khi có dấu hiệu bất thường. Biện pháp kiểm soát: Kết quả theo dõi cần được tổng hợp, phân tích và đánh giá thường xuyên nhằm nhận diện sớm các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến đàn tôm giống. Khi phát hiện các chỉ tiêu môi trường không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hoặc có nguy cơ xuất hiện tác nhân gây bệnh, cơ sở cần áp dụng ngay các biện pháp kiểm soát phù hợp như tăng cường xử lý nước, điều chỉnh quy trình cấp nước, tăng tần suất quan trắc hoặc tạm dừng cấp nước mới cho đến khi bảo đảm các điều kiện an toàn. Vệ sinh, khử trùng, thu gom nước thải, chất thải Vệ sinh bể, dụng cụ, trang thiết bị: Bể nuôi, bể ương, đường ống cấp - thoát nước, dụng cụ và trang thiết bị phải được vệ sinh, khử trùng theo quy trình của cơ sở sau mỗi chu kỳ sản xuất, khi chuyển sang lứa nuôi mới hoặc khi có nguy cơ lây nhiễm; hóa chất và phương pháp khử trùng phải được sử dụng theo hướng dẫn kỹ thuật. Thu gom, xử lý chất thải, nước thải: Nước thải và chất thải phát sinh trong quá
thuysanvietnam.com.vn trình sản xuất phải được thu gom, xử lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định có liên quan; không xả thải gây phát tán tác nhân gây bệnh ra môi trường. Đối với xác tôm, bùn đáy, thức ăn thừa và chất thải rắn khác, cần thu gom kịp thời và xử lý theo quy trình của cơ sở và quy định của pháp luật, bảo đảm không làm phát tán tác nhân gây bệnh. Quản lý thức ăn tươi sống: Các loài thức ăn tươi sống như giun nhiều tơ, nhuyễn thể hoặc các loại thức ăn có nguồn gốc tự nhiên là một trong các nguồn có nguy cơ mang theo tác nhân gây bệnh nếu không được kiểm soát. Vì vậy, cần lựa chọn từ nguồn cung cấp có kiểm soát, bảo quản đúng điều kiện và xử lý phù hợp theo quy trình kỹ thuật của cơ sở trước khi sử dụng; đối với cơ sở thực hiện chương trình an toàn dịch bệnh, thức ăn tươi sống và nguồn cung cấp được đưa vào kế hoạch giám sát khi thuộc đối tượng cần kiểm soát. Không để thức ăn thừa lưu lại trong bể nuôi quá lâu vì có thể làm suy giảm chất lượng nước. Kiểm soát động vật gây hại: Cơ sở phải có biện pháp ngăn chặn động vật hoang dã, các loài động vật khác và vật chủ trung gian truyền bệnh xâm nhập vào khu vực sản xuất. Có thể sử dụng lưới chắn, rào chắn, che đậy bể nuôi và vệ sinh khu vực sản xuất phù hợp; thường xuyên kiểm tra và loại bỏ các điều kiện tạo nơi cư trú của động vật gây hại. Thường xuyên kiểm tra lưới chắn, cửa chắn côn trùng và các vị trí có nguy cơ xâm nhập của động vật trung gian truyền bệnh.
Kiểm soát chất lượng tảo góp phần hạn chế nguy cơ đưa mầm bệnh vào cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống Ảnh: Việt Úc
Kế hoạch giám sát dịch bệnh Giám sát sức khỏe đàn tôm là một nội dung quan trọng trong chương trình an toàn sinh học của trại sản xuất giống. Việc theo dõi thường xuyên giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, đánh giá nguy cơ và kịp thời áp dụng biện pháp xử lý. Đối với cơ sở đăng ký/công nhận an toàn dịch bệnh, việc giám sát phải được xây dựng và thực hiện theo kế hoạch, nội dung, phương pháp và tần suất quy định tại Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT. Xác định đối tượng, bệnh, phạm vi và thời gian giám sát: Cơ sở sản xuất cần xây dựng kế hoạch giám sát cụ thể, xác định rõ đối tượng cần theo dõi (tôm bố mẹ, ấu trùng, hậu ấu trùng, nguồn nước và thức ăn tươi sống nếu có), các bệnh, tác nhân gây bệnh cần giám sát theo quy định hiện hành, mục tiêu sản xuất, yêu cầu của thị trường hoặc tình hình dịch tễ, đồng thời quy định phạm vi và thời gian thực hiện. Xây dựng kế hoạch và thực hiện lấy mẫu định kỳ, đột xuất: Ngoài hoạt động giám sát định kỳ, cần tăng cường lấy mẫu đột xuất khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường về tỷ lệ sống, sức khỏe đàn tôm hoặc chất lượng môi trường. Mẫu giám sát phải được lấy, bảo quản, vận chuyển và xét nghiệm theo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành hoặc hướng dẫn chuyên môn; trường hợp giám sát phục vụ công nhận cơ sở an toàn dịch bệnh thì thực hiện theo yêu cầu về phòng thử nghiệm và phép thử quy định tại Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT. Hồ sơ lưu trữ kết quả giám sát, xét nghiệm: Kết quả theo dõi, lấy mẫu và xét nghiệm phải được lưu trữ đầy đủ, bao gồm thời gian, địa điểm, đối tượng giám sát, loại mẫu, kết quả xét nghiệm và các biện pháp xử lý đã thực hiện; đối với cơ sở đăng ký/ công nhận an toàn dịch bệnh, thực hiện lưu giữ thông tin, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc theo quy định. Định kỳ tổng hợp, phân tích kết quả giám sát nhằm đánh giá xu hướng phát sinh dịch bệnh và hiệu quả các biện pháp an toàn sinh học đang áp dụng. Phân công trách nhiệm thực hiện và báo cáo: Cơ sở cần phân công rõ trách nhiệm cho từng bộ phận trong việc theo dõi, lấy mẫu, tổng hợp kết quả và báo cáo. Khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ hoặc xác định có tác nhân gây bệnh, cơ sở phải thực hiện quy trình ứng phó phù hợp, bao gồm cách ly khu
8.2026
23
vực bị ảnh hưởng, hạn chế di chuyển người, dụng cụ và nước giữa các khu vực, vệ sinh, khử trùng và báo cáo cho chính quyền địa phương, cơ quan thú y theo quy định. Xây dựng phương án ứng phó dịch bệnh An toàn sinh học không chỉ tập trung vào phòng ngừa mà còn phải chuẩn bị sẵn phương án ứng phó khi dịch bệnh xảy ra. Đối với cơ sở đăng ký/công nhận an toàn dịch bệnh, kế hoạch ứng phó dịch bệnh phải được xây dựng, thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung và có biện pháp khắc phục phù hợp với thực tiễn sản xuất. Dự phòng nguồn lực ứng phó dịch bệnh: Cơ sở cần xây dựng, rà soát và cập nhật kế hoạch ứng phó dịch bệnh; dự phòng nhân lực, kinh phí, hóa chất, phương tiện, dụng cụ chuyên dùng, phương tiện bảo hộ và các nguồn lực cần thiết để xử lý dịch bệnh; có phương án xử lý tôm chết, mắc bệnh, nghi mắc bệnh theo quy định. Quy trình phát hiện và báo cáo dịch bệnh: Cơ sở cần quy định rõ quy trình phát hiện, tiếp nhận thông tin, báo cáo và xử lý khi nghi ngờ dịch bệnh. Khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ tôm mắc bệnh truyền nhiễm, phải thực hiện báo cáo cho chính quyền địa phương, cơ quan thú y theo quy định và phối hợp lấy mẫu, xét nghiệm, điều tra dịch tễ khi được yêu cầu. Biện pháp cách ly và xử lý khi nghi mắc bệnh: Khi phát hiện tôm có dấu hiệu nghi mắc bệnh, cần nhanh chóng cách ly bể hoặc khu vực bị ảnh hưởng, hạn chế di chuyển người, dụng cụ và nguồn nước giữa các khu vực; thực hiện lấy mẫu, xét nghiệm và các biện pháp xử lý theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn và quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản. Tạm dừng xuất bán tôm giống từ khu vực nghi ngờ cho đến khi có kết quả đánh giá và áp dụng đầy đủ các biện pháp kiểm soát nguy cơ theo quy trình của cơ sở. Khử trùng, tiêu độc và xử lý chất thải: Thực hiện vệ sinh, tiêu độc, khử trùng môi trường theo quy định; nước thải, xác tôm và các chất thải phát sinh phải được thu gom, xử lý phù hợp trước khi thải bỏ hoặc tiêu hủy, không để phát tán tác nhân gây bệnh ra môi trường. Báo cáo cho chính quyền địa phương và cơ quan thú y: Cơ sở phải báo cáo tình hình và biện pháp xử lý cho chính quyền địa
Thực hiện kiểm tra định kỳ tại khu vực bể ương để bảo đảm quy trình an toàn sinh học Ảnh: Việt Úc phương và cơ quan thú y theo quy định; đồng thời phối hợp với cơ quan chuyên môn trong điều tra dịch tễ, lấy mẫu, xét nghiệm và xác định nguyên nhân gây bệnh. Việc xử lý đúng quy trình góp phần kiểm soát dịch bệnh tại cơ sở và hạn chế nguy cơ lây lan sang các cơ sở, vùng nuôi lân cận.
Kim Tiến Tài liệu tham khảo: Bài trình bày “An toàn sinh học trong sản xuất tôm giống” của Cục Thủy sản và Kiểm ngư tại Hội thảo “Quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt
Nam”, Khánh Hòa, ngày 6/6/2026. Quốc hội (2015). Luật Thú y số 79/2015/ QH13 ngày 19/6/2015. Quốc hội (2017). Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022). Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2022 quy định về kiểm tra, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản; sản xuất, kinh doanh thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT ngày 13/01/2026 quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản.
24
thuysanvietnam.com.vn CHUYÊN TRANG VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT THỦY SẢN - CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
Giảm thiểu rủi ro bệnh EHP trong nuôi tôm thâm canh
Bệnh EHP không gây chết hàng loạt nhưng khiến tôm chậm lớn, phân đàn, kéo dài thời gian nuôi và làm giảm hiệu quả sản xuất. Chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp từ kiểm soát con giống, nguồn nước, thức ăn đến quản lý môi trường và an toàn sinh học là một trong những giải pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro đối với các mô hình nuôi thâm canh.
Đặc điểm bệnh EHP Nguyên nhân: Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, bệnh do vi sinh vật nhân thực nội bào Enterocytozoon hepatopenaei (EHP), một loài vi bào tử trùng nội bào, gây ra. Bào tử EHP có lớp vỏ kitin rất dày và kiên cố, giúp chúng tồn tại lâu trong điều kiện môi trường bất lợi và khó bị bất hoạt bởi các loại hóa chất khử trùng thông thường nếu không sử dụng ở nồng độ và thời gian tiếp xúc phù hợp. Loài cảm nhiễm: Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và tôm sú (Penaeus monodon) đều mẫn cảm với bệnh. Một số loài giáp xác hoang dã nhỏ, giun nhiều tơ, mực, nghêu, hàu trong môi trường tự nhiên có thể là vật chủ hoặc nguồn mang, phát tán mầm bệnh. Giai đoạn và mùa vụ xuất hiện bệnh: Giai đoạn 30 - 60 ngày tuổi thường là giai đoạn bệnh được phát hiện nhiều trong thực
tế sản xuất. Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường bùng phát vào mùa khô và những đợt nắng nóng kéo dài. Khi nhiệt độ nước trên 30°C và độ mặn trên 25‰, điều kiện môi trường có thể thuận lợi cho EHP phát triển và lây lan. Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh được ghi nhận tại nhiều vùng nuôi tôm trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh Nam Trung Bộ. Đường lây truyền: Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa, tôm ăn phải bào tử EHP trong phân, xác tôm chết, thức ăn tươi sống hoặc tiếp xúc với bùn đáy chứa bào tử EHP. Hiện chưa có bằng chứng khoa học khẳng định EHP lây truyền dọc qua buồng trứng; tuy nhiên, tôm giống có thể bị nhiễm gián tiếp từ phân và chất bài tiết của tôm bố mẹ trong môi trường bể ương. Bào tử EHP có thể tồn lưu lâu dài trong bùn đáy, vật liệu hữu cơ và một số sinh vật mang mầm bệnh,
8.2026 làm tăng nguy cơ tái phát bệnh ở các vụ nuôi tiếp theo nếu ao không được cải tạo và xử lý triệt để. Triệu chứng: Tôm nhiễm EHP thường không gây chết hàng loạt, nhưng làm giảm tốc độ tăng trưởng rõ rệt. Tôm có biểu hiện còi cọc, phân đàn mạnh (cỡ tôm không đồng đều) mặc dù vẫn tiêu thụ thức ăn tương đối nhiều. Ngoài ra, tôm thường có cơ thể gầy, một số trường hợp có thể xuất hiện vỏ mềm hoặc chậm cứng vỏ, phản xạ bơi lội chậm chạp, khả năng bắt mồi kém và hiệu quả chuyển hóa thức ăn thấp. Bệnh tích đặc trưng: Khi quan sát khối gan tụy thấy màu nhạt hơn bình thường, bị teo nhỏ lại, đôi khi xuất hiện những mảng trắng đục không đều. Đường ruột teo tóp, chứa rất ít thức ăn hoặc trống rỗng; tôm thải ra các đoạn phân đứt khúc màu trắng có thể nổi trên mặt nước. Bệnh tích vi thể: Tế bào biểu mô hình ống gan tụy bị tổn thương nặng nề, mất tính toàn vẹn và bong tróc; quan sát dưới kính hiển vi thấy các bào tử EHP hình ô-van khu trú bên trong tế bào chất. Một trong những đặc điểm khiến EHP khó kiểm soát là bệnh không gây chết hàng loạt mà âm thầm làm giảm năng suất. Nhiều ao nuôi vẫn duy trì tỷ lệ sống cao nhưng tốc độ tăng trưởng của tôm giảm rõ rệt, thời gian nuôi kéo dài và hệ số chuyển đổi thức ăn tăng lên. Điều này làm phát sinh thêm chi phí thức ăn, điện năng và nhân công, đồng thời khiến việc thu hoạch đúng cỡ thương phẩm gặp nhiều khó khăn. Kiểm soát nguồn lây từ đầu vụ Con giống: Là một trong những nguồn đưa mầm bệnh vào ao nuôi. Nếu giống mang EHP ngay từ đầu, các biện pháp quản lý trong quá trình nuôi chỉ có thể hạn chế phần nào tác động của bệnh chứ khó loại bỏ hoàn toàn. Do đó, người nuôi cần ưu tiên lựa chọn tôm giống từ các cơ sở sản xuất uy tín, có quy trình kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Trước khi thả, cần kiểm tra hồ sơ, nguồn gốc và tình trạng sức khỏe của lô giống; đối với tôm sú, tôm thẻ chân trắng thuộc phạm vi áp dụng của QCVN 02-34-1:2021/BNNPTNT, tôm bố mẹ và tôm giống phải không bị nhiễm EHP theo quy định và việc kiểm tra tác nhân gây bệnh
25
Tôm nhiễm EHP có kích cỡ không đều, vỏ mềm
EHP thực hiện theo TCVN 8710-12:2019. Đối với các mô hình nuôi thâm canh, có thể chủ động lấy mẫu xét nghiệm tại phòng thử nghiệm đủ năng lực để đánh giá nguy cơ trước khi thả giống. Bên cạnh đó, cần chọn giống khỏe mạnh, đồng đều về kích cỡ, phản xạ tốt và thích nghi nhanh với điều kiện môi trường sẽ có sức chống chịu cao hơn trước áp lực của các tác nhân gây bệnh trong quá trình nuôi. Chuẩn bị ao nuôi kỹ lưỡng: Sau mỗi vụ nuôi, cần tiến hành thu gom toàn bộ chất thải, nạo vét lớp bùn đáy tích tụ, đặc biệt tại khu vực gần cống thoát và vị trí tập trung chất thải. Ao nên được phơi khô đủ thời gian để làm giảm mật độ mầm bệnh và các sinh vật mang mầm bệnh còn tồn lưu. Đối với những vùng nuôi khó phơi đáy do điều kiện thời tiết hoặc nền đáy, cần kết hợp các biện pháp cải tạo phù hợp theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Đối với ao lót bạt, cần vệ sinh kỹ bạt đáy, thành ao và hệ thống thu gom chất thải trước khi đưa vào vụ nuôi mới. Quản lý chặt nguồn nước cấp: Nguồn nước tự nhiên luôn tiềm ẩn nguy cơ mang theo mầm bệnh, đặc biệt tại những vùng nuôi tập trung sử dụng chung hệ thống kênh cấp và thoát nước. Không nên lấy nước trực tiếp vào ao nuôi khi chưa qua các biện pháp xử lý phù hợp, nhằm giảm nguy cơ đưa EHP và các tác nhân gây bệnh khác vào hệ thống sản xuất. Việc cấp và thoát nước giữa các ao cần được tách biệt, tránh sử dụng chung đường nước hoặc xả trực tiếp từ ao nghi nhiễm sang ao khác. Các trang trại nên bố trí ao
Ảnh: Cục Chăn nuôi và Thú y
lắng riêng nhằm giữ nước trước khi cấp vào ao nuôi. Trong giai đoạn này, nước cần được lắng lọc để loại bỏ chất rắn lơ lửng, sinh vật mang mầm bệnh và các vật chủ trung gian. Sau đó, tiến hành xử lý bằng các biện pháp phù hợp, kết hợp kiểm tra các chỉ tiêu môi trường trước khi cấp sang ao nuôi. Nước thải phải được thu gom, xử lý phù hợp trước khi thải ra môi trường theo quy định pháp luật có liên quan. Loại bỏ các vật chủ trung gian: Nhiều nghiên cứu cho thấy EHP không chỉ tồn tại trên tôm mà còn có thể hiện diện ở một số sinh vật sống trong môi trường ao nuôi. Giun nhiều tơ, giáp xác nhỏ và một số loài nhuyễn thể có thể tham gia vào quá trình lưu giữ hoặc phát tán mầm bệnh. Do đó, trong quá trình cải tạo và vận hành ao nuôi cần hạn chế sự xâm nhập của các sinh vật này bằng cách gia cố bờ ao, lắp đặt lưới chắn tại các cống cấp thoát nước, thường xuyên vệ sinh khu vực xung quanh và loại bỏ các ổ cư trú của cua, còng trên bờ. Đối với thức ăn tươi sống hoặc nguyên liệu chưa qua xử lý, người nuôi cần kiểm soát chặt nguồn cung và quy trình bảo quản vì đây có thể là nguồn mang theo nhiều tác nhân gây bệnh, trong đó có EHP. Nên ưu tiên sử dụng thức ăn đã qua xử lý hoặc có nguồn gốc rõ ràng. Nếu sử dụng thức ăn tươi sống, cần kiểm soát nguồn gốc và xử lý phù hợp trước khi cho ăn để giảm nguy cơ mang mầm bệnh. Vệ sinh, khử trùng: Các phương tiện, dụng cụ vận chuyển tôm, thức ăn và vật tư cần được làm sạch, khử trùng trước và sau
26
khi ra vào khu nuôi. Đồng thời, cần hạn chế người lạ ra vào trại và kiểm soát chặt việc đưa giống, thiết bị hoặc vật tư từ bên ngoài vào khu sản xuất. Mỗi ao nuôi cần có bộ dụng cụ riêng hoặc được vệ sinh, khử trùng kỹ trước khi sử dụng cho ao khác. Người lao động cần tuân thủ quy trình di chuyển theo hướng từ khu có nguy cơ thấp đến khu có nguy cơ cao nhiễm bệnh, đồng thời vệ sinh tay, ủng và các thiết bị sau mỗi lần làm việc. Đối với các trang trại quy mô lớn, việc bố trí cổng kiểm soát, hố sát trùng, khu vực thay trang phục, lối đi riêng giữa các khu sản xuất và phân tách khu ương, khu nuôi thương phẩm với khu xử lý nước sẽ góp phần nâng cao hiệu quả an toàn sinh học và giảm nguy cơ phát tán mầm bệnh. Quản lý và chăm sóc Duy trì môi trường ổn định: Trong suốt quá trình nuôi, cần duy trì các chỉ tiêu môi trường ở ngưỡng phù hợp, đặc biệt là nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm và hàm lượng ôxy hòa tan. Việc thay đổi đột ngột các yếu tố này không chỉ gây stress cho tôm mà còn làm suy giảm chức năng gan tụy, làm gia tăng nguy cơ phát sinh bệnh và ảnh hưởng đến sức khỏe đàn tôm. Song song đó, cần theo dõi thường xuyên hàm lượng amoniac (NH 3), nitrit (NO 2-) và khí độc H2 S. Đây là những chỉ tiêu phản ánh
thuysanvietnam.com.vn
chất lượng đáy ao và khả năng phân hủy chất hữu cơ. Có thể sử dụng chế phẩm sinh học phù hợp để hỗ trợ ổn định hệ vi sinh vật ao nuôi; việc sử dụng phải bảo đảm sản phẩm được phép sử dụng và theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất. Ở các mô hình thâm canh và siêu thâm canh, cần định kỳ quan trắc môi trường, kết hợp với các thiết bị giám sát tự động nếu có điều kiện. Phát hiện sớm những biến động nhỏ sẽ giúp người nuôi chủ động điều chỉnh trước khi ảnh hưởng đến sức khỏe đàn tôm. Kiểm soát chất hữu cơ và đáy ao: Cần quản lý lượng thức ăn phù hợp với sức ăn thực tế của tôm. Người nuôi cần kiểm tra sàng ăn, điều chỉnh khẩu phần theo thời tiết, sức khỏe đàn tôm và tốc độ tăng trưởng sẽ giúp giảm lượng chất hữu cơ lắng xuống đáy ao. Định kỳ xi phông chất thải tại khu vực tập trung cặn bã, nhất là ở các ao lót bạt hoặc ao có hệ thống thu gom chất thải. Bên cạnh đó, vận hành quạt nước hợp lý nhằm tạo dòng chảy, gom chất thải về khu vực xử lý sẽ giúp đáy ao thông thoáng, hạn chế hình thành vùng yếm khí. Trong những giai đoạn thời tiết bất lợi như mưa kéo dài, nắng nóng gay gắt hoặc giao mùa, cần tăng cường theo dõi chất lượng đáy ao vì đây là thời điểm các chỉ tiêu môi trường dễ biến động, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe gan tụy.
Đảm bảo dinh dưỡng: Thực hiện chế độ dinh dưỡng cân đối sẽ góp phần duy trì sức khỏe đường ruột và gan tụy, từ đó nâng cao khả năng chống chịu của tôm trước áp lực mầm bệnh. Vì vậy, người nuôi nên lựa chọn thức ăn có chất lượng ổn định, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm và tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất. Thức ăn cần được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ẩm mốc và sử dụng trong thời gian khuyến cáo. Trong điều kiện thời tiết thay đổi hoặc khi tôm có dấu hiệu giảm bắt mồi, cần điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp thay vì duy trì khẩu phần như bình thường. Có thể bổ sung vitamin, khoáng chất và các sản phẩm hỗ trợ phù hợp nhằm hỗ trợ sức khỏe đàn tôm; việc sử dụng phải tuân thủ quy định về sản phẩm dùng trong nuôi trồng thủy sản và hướng dẫn của nhà sản xuất. Tuy nhiên, cần lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, ưu tiên các sản phẩm đã được kiểm chứng về hiệu quả. Việc sử dụng cần tuân thủ đúng liều lượng, thời điểm và cách dùng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc cán bộ kỹ thuật. Theo dõi sức khỏe tôm: Định kỳ kiểm tra trọng lượng, chiều dài và mức độ đồng đều của đàn tôm. Nếu sau nhiều lần kiểm tra liên tiếp, tốc độ tăng trưởng thấp hơn dự kiến hoặc tỷ lệ phân đàn tăng nhanh, cần xem xét khả năng tôm bị nhiễm EHP hoặc gặp các vấn đề về gan tụy. Thường xuyên kiểm tra sàng ăn không chỉ nhằm đánh giá lượng thức ăn tiêu thụ để điều chỉnh khẩu phần mà còn là biện pháp theo dõi sức khỏe đàn tôm. Thông qua việc quan sát màu sắc gan tụy, tình trạng đường ruột, độ cứng vỏ, phản xạ bắt mồi và hoạt động của tôm, người nuôi có thể phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường, từ đó kịp thời điều chỉnh chế độ cho ăn, quản lý môi trường và áp dụng các biện pháp can thiệp phù hợp. Đối với các trang trại quy mô lớn, nên xây dựng kế hoạch lấy mẫu định kỳ để xét nghiệm khi có nghi ngờ. Phát hiện sớm sẽ giúp người nuôi điều chỉnh chế độ chăm sóc, giảm thiểu thiệt hại và chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch thu hoạch. Xử lý khi tôm nhiễm bệnh Khi nghi ngờ tôm nhiễm EHP, cần kết hợp theo dõi các dấu hiệu lâm sàng với xét
8.2026
27
Trong suốt quá trình nuôi, cần duy trì các chỉ tiêu môi trường ở ngưỡng phù hợp nghiệm để khẳng định sự hiện diện của tác nhân gây bệnh. Khi có kết quả xét nghiệm dương tính, cơ sở nuôi cần thông báo cho cơ quan chuyên môn địa phương theo quy định; đồng thời chủ động trao đổi thông tin với các cơ sở nuôi lân cận để phối hợp áp dụng biện pháp phòng ngừa phù hợp. Ngừng cho ăn và không thay nước hoặc xả nước chưa qua xử lý ra môi trường chung; thực hiện cô lập ao bị bệnh và các biện pháp xử lý theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành. Trường hợp tôm đạt kích cỡ thương phẩm, có thể xem xét thu hoạch sớm trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế và nguy cơ lây lan dịch bệnh; việc vận chuyển tôm ra ngoài khu vực có dịch phải thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành và quy định hiện hành. Nếu tôm dương tính nhưng chưa có dấu hiệu lâm sàng, có thể tăng cường chăm sóc, bổ sung vitamin, khoáng chất và sản phẩm hỗ trợ phù hợp theo hướng dẫn kỹ thuật; không coi đây là biện pháp điều trị đặc hiệu EHP. Đối với trang trại có nhiều khu nuôi, nên bố trí dụng cụ riêng cho ao bệnh, hạn chế người và dụng cụ di chuyển giữa các ao để
Ảnh: ST
tránh lây nhiễm chéo. Các dụng cụ sau khi sử dụng cần được vệ sinh và khử trùng. Không xả nước ao bệnh ra môi trường khi chưa được xử lý theo quy định; đối với trường hợp áp dụng hướng dẫn tại Quyết định số 123/QĐ-TSKN, thực hiện xử lý nước và bùn đáy bằng Chlorine nồng độ ≥ 30 ppm theo thời gian xử lý được hướng dẫn, bảo đảm an toàn trước khi xả thải. Toàn bộ bùn đáy, chất thải, xác tôm và các vật liệu có nguy cơ mang mầm bệnh cần được thu gom, xử lý đúng quy định. Ao nuôi phải được vệ sinh, cải tạo và khử trùng phù hợp trước khi bước vào vụ mới theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Sau khi kết thúc vụ nuôi, cần đánh giá nguyên nhân phát sinh bệnh, rà soát toàn bộ quy trình quản lý và cập nhật các biện pháp an toàn sinh học nhằm giảm nguy cơ tái phát trong vụ nuôi tiếp theo.
Diệu Châu
Tài liệu tham khảo: Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026). Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên tôm nước lợ, ban hành kèm theo Quyết định số 123/QĐ-TSKN ngày 20/3/2026. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016). Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2016 quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 12/2024/TTBNNPTNT). Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT ngày 09/3/2026 quy định về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT ngày 13/01/2026 quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021). QCVN 02-34-1:2021/BNNPTNT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giống tôm nước lợ, tôm biển - Phần 1: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng. Bộ Khoa học và Công nghệ (2019). TCVN 8710-12:2019. Bệnh thủy sản - Phần 12: Bệnh vi bào tử do Enterocytozoon hepatopenaei ở tôm.
28 | CHẾ BIẾN
thuysanvietnam.com.vn
EFTA
Cuộc chơi đường dài cho sản phẩm chất lượng cao Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam với 4 nước thành viên Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu (EFTA) vừa được các bên ký kết có thể xem như mảnh ghép mới trong chiến lược đa dạng hóa thị trường với ngành thủy sản Việt Nam.
T
uy cánh cửa giá trị cao đã được mở ra, nhưng theo cách nhìn của doanh nghiệp, đây là một thị trường không dễ khai thác, khi vừa nhỏ lại vừa có những tiêu chuẩn hết sức khắt khe. Quy mô nhỏ nhưng dư địa còn lớn Khối EFTA bao gồm 4 quốc gia thành viên: Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtensein. Đây đều là 4 quốc gia có mức thu nhập bình quân thuộc hàng cao nhất cùng sự phát triển công nghệ, tài chính và phát triển xanh thuộc nhóm đầu châu Âu. Theo số liệu
từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hàng thủy sản Việt Nam hầu như chỉ mới xâm nhập vào 2 trong 4 quốc giá trên là: Thụy Sĩ và Na Uy với tổng kim ngạch năm 2025 vào khoảng 52,6 triệu USD; trong đó, Thụy Sĩ là 34,123 triệu USD và Na Uy là 18,479 triệu USD. Với những con số trên cho thấy, quy mô thị trường khối EFTA là không lớn, nhưng nếu nhìn vào dư địa thực sự có thể thấy, cơ hội từ thị trường EFTA là rất đáng để doanh nghiệp quan tâm, nhất là những doanh nghiệp có chiến lược dài hơi với dòng sản phẩm chất lượng cao. Các số liệu báo cáo cho thấy, Thụy Sĩ chỉ tự chủ được khoảng 12% lượng thủy sản cho nhu cầu trong nước, còn lại đều phải nhập khẩu, chủ yếu từ các nước như: Đức, Na Uy, Pháp, Hà Lan, Đan Mạch, Ý và Việt Nam với tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2023 vào khoảng 692 triệu USD. Như vậy, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Thụy Sĩ hiện chỉ mởi chiếm tỷ trọng khoảng 5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm của Thụy Sĩ, một con số rất nhỏ so với dư địa thực tế ở thị trường này. Còn đối với thị trường Na Uy, con số tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản hàng năm khoảng 1,4-1,7 tỷ USD, nhưng trong số này, chỉ có khoảng 400-500 triệu
USD thủy sản nhập khẩu phục vụ tiêu dùng trong nước, còn lại là để chế biến, tái xuất sang các quốc gia châu Âu khác. Rào cản và lợi thế Tuy cùng khối EFTA nhưng Thũy Sĩ lại áp dụng khung tiêu chuẩn riêng với yêu cầu khắt khe hơn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường, lao động và trách nhiệm. Toàn bộ tiêu chuẩn trên đều không thể dùng chung với toàn bộ hồ sơ xuất khẩu vào EU. Chỉ có Na Uy, Iceland và Liechtensein là có thể sử dụng bộ hồ sơ đã chuẩn hóa cho EU do 3 nước này thuộc Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA). Trong đó, các chứng nhận về nuôi trồng (ASC) khai thác tự nhiên (MSC) gần như là điều kiện bắt buộc để sản phẩm vào được hệ thống bán lẻ hiện đại, còn các tiêu chuẩn khác như: GlobalG.A.P hay BAP chỉ là điều kiện bổ sung theo sự chấp nhận của từng nhà nhập khẩu. Đối với quy tắc xuất xứ, nếu doanh nghiệp có sử dụng một phần nguồn nguyên liệu nhập khẩu cần kiểm soát tốt cơ chế cộng gộp xuất xứ theo từng mã HS, ưu đãi thuế quan để tận dụng tốt ưu thế cạnh tranh. Xu hướng sử dụng vật liệu tái chế, giảm nhựa dùng 1 lần, tích hợp mã QR truy xuất nguồn gốc không chỉ là yếu cầu bắt buộc, mà còn là yếu
tố cạnh tranh trong chuỗi lạnh và bao bì tại các quốc gia này. Đây là lý do lý giải vì sao, đến thời điểm hiện tại vẫn có ít doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tôm và cá tra hiện diện ở thị trường này. Tuy các tiêu chuẩn là rất khắt khe nhưng bù lại, nếu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trên hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào khối EFTA sẽ có lợi thế lớn về thuế quan và giá bán. Theo thỏa thuận đã được ký kết, 50% dòng thuế đối với hàng thủy sản sẽ về 0% ngay sau Hiệp định có hiệu lực, số còn lại sẽ giảm dần trong 3-7 năm sau đó. Đơn cử như nhóm hàng cá da trơn (bao gồm cả cá tra) từ mức 6,8% sẽ về 0% sau 3 năm. Theo các doanh nghiệp tôm và cá tra ở
8.2026
đồng bằng sông Cửu Long, để xâm nhập sâu hơn vào thị trường EFTA, doanh nghiệp cần chuẩn bị rất nhiều thứ và chỉ có những doanh nghiệp có chiến lược dài hạn mới đủ điều kiện xâm nhập thị trường này do hiệu quả tài chính của việc đầu tư sẽ không tăng ngay tức thời mà sẽ tăng dần theo thời gian. Có lẽ sẽ khó có bức tranh toàn cảnh về góc nhìn doanh nghiệp đối với thị trường này, bởi như trên đã nói, hiện vẫn có khá ít doanh nghiệp thủy sản Việt Nam chọn thị trường này do quy mô nhỏ và tiêu chuẩn khắt khe. Tuy nhiên, không vì thế mà doanh nghiệp bỏ qua thị trường này khi dư địa và cơ hội từ thuế quan đang ngày càng rõ nét hơn. Ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT
CHẾ BIẾN | 29
Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, chia sẻ: “Sao Ta vẫn chưa xuất khẩu vào khối EFTA do dân số không nhiều, dung lượng tiêu thụ không cao. Trong khối này, đáng chú ý nhất vẫn là Thụy Sĩ và hy vọng sau khi có Hiệp định Thương mại tự do giữa EFTA với Việt Nam, các doanh nghiệp trong nước sẽ có sự quan tâm hơn”. Theo cách nhìn của các doanh nghiệp, thị trường EFTA có lợi thế là ít cạnh tranh về giá, có biên lợi nhuận lớn, ít rủi ro về các biện pháp phòng vệ thương mại như thị trường Mỹ hay EU, nhưng để vào được thị trường này, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một khoảng chi phí tuân thủ ban đầu không phải là nhỏ, như: chi phí tuân thủ tiêu chuẩn, chi
phí xây dựng kênh phân phối, chi phí chứng nhận…). Đây cũng chính là bài toàn cân đối tài chính giữa chi phí gia nhập với lợi ích kỳ vọng mà doanh nghiệp luôn phải tính đến mỗi khi quyết định vào một thị trường mới. Do đó, để tận dụng ưu đãi thuế quan từ hiệp định đã được ký kết nhằm xâm nhập sâu hơn vào thị trường này, các doanh nghiệp cho rằng, bên cạnh việc xác định một chiến lược dài hơi, cần có một cách tiếp cận hợp lý và khôn ngoan hơn. Một trong những cách tiếp cận thị trường EFTA được doanh nghiệp xem là khả thi chính là ưu tiên chọn sản phẩm giá trị gia tăng, nhất là đối với sản phẩm tôm và cá tra vì đây chính là một trong những lợi thế của
doanh nghiệp thủy sản Việt Nam và cũng là nhu cầu cao của thị trường EFTA. Cách tiếp cận này sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng được ngay ưu thế về thuế quan, khi một số sản phẩm như: tôm chế biến giá trị gia tăng, tôm đông lạnh cao cấp, cá ngừ đóng hộp… sẽ được miễn hoặc giảm ngay thuế khi hiệp định có hiệu lực. Những sản phẩm này cần được chuẩn hóa các chứng nhận cho toàn chuỗi (ASC, MSC…); chuẩn hóa hồ sơ truy xuất nguồn gốc, quy tắc xuất xứ, ngay từ khâu thu mua nguyên liệu, đặc biệt là cần có bộ hồ sơ riêng cho thị trường Thụy Sĩ.
Xuân Trường
30 | SINH KẾ NGƯ DÂN
Chuyển đổi sinh kế ngư dân
Hướng đi bền vững cho kinh tế biển Đắk Lắk Trước áp lực suy giảm nguồn lợi, yêu cầu chống khai thác hải sản bất hợp pháp, tỉnh Đắk Lắk đang từng bước tái cơ cấu ngành thủy sản. Không chỉ sắp xếp lại đội tàu, tỉnh còn triển khai nhiều chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế, tạo việc làm ổn định cho ngư dân, hướng đến mục tiêu phát triển nghề cá hiện đại, có trách nhiệm và bền vững.
Đến năm 2030, tỉnh Đắk Lắk sẽ chuyển đổi dứt điểm 1.273 tàu cá hoạt động ven bờ Nguồn: ST
thuysanvietnam.com.vn Áp lực từ khai thác ven bờ Khai thác thủy sản nhiều năm qua đã trở thành sinh kế của hàng nghìn hộ dân ven biển Đắk Lắk, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Tuy nhiên, trước sức ép suy giảm nguồn lợi ven bờ, yêu cầu chống khai thác bất hợp pháp và mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững, ngành thủy sản của tỉnh đang đứng trước yêu cầu phải tái cơ cấu mạnh mẽ, bắt đầu từ việc sắp xếp lại đội tàu khai thác. Trong 6 tháng đầu năm, tổng sản lượng khai thác thủy sản của tỉnh đạt hơn 49.100 tấn, trong đó khai thác biển đạt trên 28.170 tấn. Toàn tỉnh hiện có 2.556 tàu cá với sản lượng khai thác biển bình quân khoảng 68.000 tấn mỗi năm. Mặc dù sản lượng khai thác vẫn duy trì ở mức khá, nhưng cơ cấu đội tàu đang bộc lộ nhiều bất cập. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh
8.2026 có 1.293 tàu hoạt động ven bờ, chiếm hơn 50% tổng số tàu cá. Cường lực khai thác tập trung quá lớn tại vùng ven bờ khiến nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm, hệ sinh thái biển chịu nhiều áp lực, trong khi hiệu quả khai thác của ngư dân cũng giảm theo. Bên cạnh đó, việc thực hiện các quy định chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với ngành thủy sản. Hiện 99% tàu cá của tỉnh đủ điều kiện đã được cấp phép hoạt động và 100% tàu khai thác xa bờ được lắp đặt thiết bị giám sát hành trình. Đây là những bước đi quan trọng để Đắk Lắk xây dựng nghề cá có trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Thực tế cho thấy, nếu tiếp tục duy trì số lượng lớn tàu khai thác ven bờ, nguồn lợi thủy sản sẽ ngày càng cạn kiệt, thu nhập của ngư dân khó được duy trì. Vì vậy, giảm áp lực khai thác gắn với tái cơ cấu đội tàu đang trở thành yêu cầu cấp thiết, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới của ngành thủy sản tỉnh. Tất yếu cần chuyển đổi sinh kế Nhận thức rõ việc giảm tàu khai thác chỉ có thể thành công khi người dân có sinh kế ổn định, Đắk Lắk đã xây dựng lộ trình chuyển đổi nghề cho ngư dân với nhiều chính sách hỗ trợ đồng bộ. Mục tiêu không chỉ là bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập cho ngư dân và từng bước hình thành nền kinh tế biển hiện đại. Để hiện thực hóa mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển, đầu năm 2026, UBND tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt Dự án “Chuyển đổi nghề trong khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh” với tổng kinh phí dự kiến hơn 727,5 tỷ đồng được huy động từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác và được triển khai theo lộ trình từ năm 2025 đến 2030. Mục tiêu mà tỉnh đặt ra là đến năm 2030 sẽ chuyển đổi dứt điểm 1.273 tàu cá hoạt động ven bờ và 92 tàu làm nghề lưới kéo, lưới rê sang các nghề khai thác thân thiện với môi trường hoặc chuyển sang các lĩnh vực sản xuất khác như nuôi biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, chế biến thủy sản, du lịch cộng đồng và các ngành nghề phi nông nghiệp phù hợp. Để quá trình chuyển đổi diễn ra thuận lợi, tỉnh triển khai nhiều chính sách như hỗ trợ 70% giá trị ngư cụ khi chuyển đổi nghề; hỗ trợ
SINH KẾ NGƯ DÂN | 31
Tỉnh Đắk Lắk chú trọng đẩy mạnh phát triển nuôi biển
chi phí đào tạo (tối đa 2,5 triệu đồng/người/ khóa học) cùng các khoản hỗ trợ tiền ăn, đi lại; hỗ trợ đầu tư ban đầu như trang thiết bị, vật tư, cơ sở hạ tầng, giống nuôi... để người dân yên tâm với nghề mới chuyển đổi, được thực hiện theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản. Ngoài ra, trong thời gian chuyển đổi, các thành viên thuộc hộ gia đình còn được trợ cấp mức tương đương 30 kg gạo/người/tháng trong 12 tháng nhằm bảo đảm ổn định đời sống. Tiếp đó, ngày 2/7/2026, HĐND tỉnh Đắk Lắk ban hành Nghị quyết số 05/2026/NQHĐND quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, giải bản đối với tàu cá không có nhu cầu tiếp tục hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh đến năm 2030. Mức hỗ trợ tối đa là từ 50 đến 200 triệu đồng mỗi tàu tùy kích cỡ. Chính sách này vừa góp phần giảm áp lực khai thác, vừa tạo nguồn lực để ngư dân đầu tư vào nghề mới. Nghị quyết này cũng thực hiệc chính sách hỗ trợ nhằm ổn định đời sống hộ gia đình chủ sở hữu tàu cá bị giải bản. Cụ thể, hỗ trợ bằng tiền tương đương 30 kg gạo/người/tháng, quy đổi thành tiền theo mức 15.000 đồng/kg
Nguồn: Báo Đắk Lắk
và kéo dài trong 12 tháng. Cùng đó là chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho các chủ tàu và thuyền viên là lao động trên các tàu cá bị giải bản khi tuân thủ đầy đủ các quy định... Trong chiến lược phát triển, tỉnh Đắk Lắk hướng tới mục tiêu xây dựng ngành thủy sản hiện đại, nâng tỷ lệ cơ giới hóa trong khai thác và bảo quản sản phẩm trên tàu cá lên 95%, đồng thời phát triển mạnh nuôi biển, dịch vụ hậu cần, chế biến sâu và kinh tế biển đa ngành. Chính vì thế, khi người dân được bảo đảm sinh kế lâu dài, việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản sẽ không chỉ là yêu cầu quản lý nhà nước mà còn trở thành lợi ích thiết thực của chính ngư dân. Đây được xem là nền tảng để tỉnh xây dựng nền kinh tế biển xanh, phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống cộng đồng ven biển.
Hồng Hà
32
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
33
34
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
35
36
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
37
38
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
39
40
thuysanvietnam.com.vn
ĐỐI TÁC VỮNG BỀN Thủy sản Việt Nam trân trọng cảm ơn các đối tác đã đồng hành cùng Tạp chí trong thời gian qua!
8.2026
41
42
thuysanvietnam.com.vn
BỨC TRANH TOÀN CẢNH VỀ THỊ TRƯỜNG
EFTA
Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu (EFTA) gồm 4 quốc gia phát triển hàng đầu châu Âu là Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein. Quy mô dân số khoảng 13 - 15 triệu người.
TIỀM LỰC KINH TẾ GDP
Thu nhập bình quân đầu người
Quy mô nhập khẩu
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa
Nhu cầu nhập khẩu lên tới khoảng
Giao thương mạnh mẽ, đạt khoảng
tỷ Euro mỗi năm
tỷ USD
GPD
Hơn
1.100 tỷ USD
Vượt
58.000
USD/năm, thuộc nhóm những khối kinh tế giàu có nhất thế giới
300
ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG THỊ TRƯỜNG TINH HOA Thuộc phân khúc thị trường cao cấp, sức mua lớn và sở hữu các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn rất khắt khe. TIÊU DÙNG BỀN VỮNG Người dân ưu tiên các sản phẩm có "câu chuyện" rõ ràng về đạo đức, trách nhiệm xã hội, thân thiện môi trường và có khả năng truy xuất nguồn gốc. LĨNH VỰC MŨI NHỌN Dẫn đầu thế giới về công nghệ cao, tài chính, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch và công nghiệp xanh.
700
8.2026
43
KIM NGẠCH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - EFTA (NĂM 2025)
Tổng kim ngạch hai chiều Đạt 4,8 tỷ Euro
Trong đó, Việt Nam xuất siêu
2,5 tỷ Euro
Tăng mạnh so với mức 0,5 tỷ Euro của 10 năm trước *Số liệu này không bao gồm giao dịch sản phẩm vàng của Thụy Sĩ.
DƯ ĐỊA XUẤT KHẨU Hàng hóa Việt Nam hiện mới chỉ đáp ứng chưa đến 1% tổng nhu cầu nhập khẩu của khối EFTA. Theo lộ trình, phần lớn các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam (nông, lâm, thủy sản) sẽ được hưởng mức thuế 0% ngay khi FTA Việt Nam - EFTA có hiệu lực.
CÁC MẶT HÀNG ĐƯỢC ƯA CHUỘNG Nhu cầu nhập khẩu của EFTA trùng khớp với các mặt hàng chiến lược của Việt Nam. Cụ thể
Công nghiệp và chế tạo
Công nghiệp nhẹ
Máy móc cơ khí, thiết bị điện, hàng điện tử
Hàng dệt may, da giày, đồ gỗ
Thủy sản phân khúc cao cấp Các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như tôm chế biến/đông lạnh chất lượng cao, cá tra fillet, cá ngừ, mực, bạch tuộc và các sản phẩm tiện dụng cho hệ thống bán lẻ
44 | NUÔI TRỒNG
thuysanvietnam.com.vn
Quản lý nuôi biển
Siết chặt xử lý vi phạm để phát triển bền vững Nuôi biển đang mở ra dư địa lớn cho tăng trưởng kinh tế biển và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Tuy nhiên, tình trạng nuôi tự phát, vượt quy mô cho phép, không đúng quy hoạch và gây ô nhiễm môi trường vẫn diễn ra tại nhiều địa phương. Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm được xem là giải pháp quan trọng để lập lại trật tự, hướng tới phát triển nghề nuôi biển bền vững.
Siết chặt quản lý trong nuôi trồng thủy sản trên biển để phát triển bền vững Nguồn: Báo Khánh Hòa
8.2026 Vẫn còn nhiều vi phạm phổ biến Nuôi biển được xác định là một trong những trụ cột của kinh tế biển Việt Nam. Với hơn 3.260 km bờ biển, trên 1 triệu km² vùng biển cùng hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển theo hướng công nghiệp và hiện đại. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, tổng thể tích nuôi biển của cả nước đạt trên 11 triệu m³, sản lượng ước đạt 870.000 tấn, tăng gần 6% so với năm trước. Trong đó, diện tích nuôi nhuyễn thể khoảng 59.200 ha, sản lượng đạt khoảng 470.000 tấn, còn sản lượng tôm hùm khoảng 14.500 tấn, đóng góp đáng kể vào giá trị xuất khẩu thủy sản. Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước đạt gần 5,8 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, một số nhóm hải sản tăng tích cực như cua, ghẹ và giáp xác khác đạt 206,2 triệu USD, tăng 26,2%; nhuyễn thể có vỏ đạt 155,3 triệu USD, tăng 33,1%; mực, bạch tuộc đạt 380,2 triệu USD, tăng 18,8%; riêng mặt hàng cá ngừ giảm nhẹ 2% sau 6 tháng, đạt 452,7 triệu USD. Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh này cũng đã kéo theo nhiều bất cập trong công tác quản lý nuôi biển. Một trong những hành vi vi phạm phổ biến hiện nay là việc nuôi tự phát khi chưa được giao hoặc cho thuê khu vực biển. Cụ thể, tại nhiều địa phương ven biển, người dân tự ý dựng lồng bè, quầng nuôi ở các vùng vịnh, cửa sông hoặc khu vực ven đảo mà chưa hoàn thành các thủ tục theo quy định. Điều này khiến cơ quan quản lý khó kiểm soát mật độ nuôi, quy mô sản xuất cũng như công tác bảo vệ môi trường. Cùng đó, không ít trường hợp nuôi vượt quá diện tích hoặc quy mô được cấp phép. Đơn cử như sau khi được giao một diện tích nhất định, nhiều cơ sở tiếp tục mở rộng lồng bè nhằm tăng sản lượng. Việc phát triển vượt hạn mức làm gia tăng mật độ nuôi, vượt sức tải môi trường, kéo theo nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Bên cạnh đó là tình trạng nuôi không đúng quy hoạch. Lồng bè được bố trí dày đặc, lấn chiếm bãi triều, cửa sông hoặc luồng giao thông thủy, ảnh hưởng đến hoạt động của tàu thuyền và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn hàng hải… Theo các chuyên gia, nếu không kiểm soát tốt các hành vi vi phạm, nghề nuôi biển sẽ phải đối mặt với nguy cơ suy giảm chất lượng môi trường, gia tăng dịch bệnh, giảm năng suất và
NUÔI TRỒNG | 45 ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về phát triển bền vững của thị trường quốc tế. Xử lý nghiêm để lập lại trật tự trong nuôi biển Để chấn chỉnh tình trạng nuôi biển tự phát, pháp luật đã quy định nhiều chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm. Trong đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 246/2026/NĐCP của Chính phủ ban hành ngày 29/6/2026, đối với hành vi nuôi trồng thủy sản trên biển vượt quá hạn mức được giao, mức xử phạt được áp dụng theo diện tích vi phạm. Cụ thể, vượt từ 1 ha đến dưới 3 ha bị phạt từ 10 - 20 triệu đồng; vượt từ 3 ha đến dưới 5 ha bị phạt từ 20 - 50 triệu đồng; còn vượt từ 5 ha trở lên bị phạt từ 50 - 70 triệu đồng. Ngoài ra, với các hành vi nghiêm trọng hơn như nuôi trồng khi chưa được giao hoặc cho thuê khu vực biển, đối tượng nuôi không đúng quy hoạch được địa phương phê duyệt hoặc nuôi loài thủy sản không có trong danh mục được phép kinh doanh tại Việt Nam có thể bị xử phạt từ 50 - 70 triệu đồng, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho phép mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài phạt tiền, cơ sở vi phạm còn chịu hình thức xử phạt bổ sung như bị đình chỉ hoạt động từ 3 đến 6 tháng đối với hành vi nuôi đối tượng thủy sản không được phép. Cùng đó, các tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị buộc khắc phục ô nhiễm môi trường, di dời hoặc tháo dỡ toàn bộ lồng bè xây dựng trái phép, khôi phục hiện trạng khu vực biển, hoặc chuyển đổi, tiêu hủy đối tượng nuôi vi phạm nếu không đủ điều kiện theo quy định. Mặc dù quy định xử phạt đã rõ ràng và ở mức cao, tuy nhiên, theo các chuyên gia, đây
Theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 246/2026/NĐ-CP của Chính phủ, các mức xử phạt đối với vi phạm trong nuôi biển như sau: Vượt hạn mức từ 1 ha đến dưới 3 ha phạt 10 - 20 triệu đồng; Vượt hạn mức từ 3 ha đến dưới 5 ha phạt 20 - 50 triệu đồng; Vượt hạn mức từ 5 ha trở lên phạt 50 - 70 triệu đồng; Nuôi khi chưa được giao, cho thuê khu vực biển: 50 - 70 triệu đồng; Nuôi không đúng quy hoạch: 50 70 triệu đồng; Nuôi loài thủy sản không được phép: 50 - 70 triệu đồng và có thể bị đình chỉ hoạt động từ 3 - 6 tháng.
chỉ là giải pháp trước mắt. Muốn phát triển nuôi biển bền vững, cần đồng thời hoàn thiện quy hoạch không gian biển, xác định sức tải môi trường của từng vùng nuôi, tăng cường kiểm tra, giám sát và hỗ trợ người dân chuyển đổi sang mô hình nuôi công nghệ cao, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đưa nuôi biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, việc tuân thủ pháp luật không chỉ là trách nhiệm của người nuôi mà còn là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế và xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam phát triển bền vững.
Bảo Hân
Tôm hùm là một trong những thế mạnh của nuôi biển Việt Nam Ảnh: ST
46 | PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
thuysanvietnam.com.vn
Lực lượng chấp pháp trên biển của TP. Hồ Chí Minh trao cờ tổ quốc và tuyên truyền IUU cho ngư dân đang đánh bắt trên biển Ảnh: Hoàng Nhị - TTXVN
Gỡ “thẻ vàng” IUU bước vào giai đoạn quan trọng Sau gần 8 năm nỗ lực khắc phục cảnh báo “thẻ vàng” IUU của EC, Việt Nam đang bước vào giai đoạn quyết định. Khi thể chế cơ bản đã hoàn thiện, thách thức lớn nhất hiện nay là tạo chuyển biến thực chất trong thực thi để hiện thực hóa mục tiêu ngay trong năm nay.
Từ hoàn thiện thể chế đến hành động quyết liệt Tại Phiên họp lần thứ 35 của Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) sáng 28/7, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu, từ nay đến ngày 31/8 phải tạo chuyển biến rõ nét trong thực thi pháp luật, khẩn trương hoàn thiện kế hoạch hành động khắc phục toàn diện các khuyến nghị của EC, huy động cả hệ thống chính trị dồn toàn lực để phấn đấu gỡ cảnh báo “thẻ vàng” ngay trong năm 2026. Thông điệp này không chỉ thể hiện quyết tâm của Chính phủ mà còn phản ánh thực tế sau gần 8 năm triển khai chống khai thác IUU: khung pháp lý và cơ chế quản lý nghề cá cơ bản đã được
hoàn thiện, nhưng kết quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào hiệu quả thực thi trên thực địa. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian qua công tác chống khai thác IUU đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được hoàn thiện; quản lý đội tàu, giám sát hành trình, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm từng bước đi vào nền nếp. Sau đợt thanh tra lần thứ 5 của EC vào tháng 3/2026, Chính phủ liên tiếp triển khai nhiều giải pháp như ban hành Công điện số 34/CĐ-TTg, kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia về IUU, thành lập Tổ công tác liên ngành, xây dựng hệ thống báo cáo điện tử thống nhất và tăng cường kiểm tra tại các địa phương trọng điểm. Đây
8.2026 là nền tảng quan trọng để chuẩn hóa quản lý nghề cá theo hướng minh bạch, đồng bộ. Hiện cơ sở dữ liệu VNFishbase đã cập nhật 80.332 tàu cá; gần 95% tàu còn hạn đăng kiểm, 95,7% còn giấy phép khai thác và 98,5% có giấy chứng nhận an toàn thực phẩm. Các địa phương cũng đã kiểm soát hơn 7.590 tàu không đủ điều kiện hoạt động, cập nhật 368 tàu có nguy cơ cao vi phạm IUU trên hệ thống VMS và xóa đăng ký 3.679 tàu để làm sạch dữ liệu nghề cá. Hệ thống giám sát hành trình tàu cá tiếp tục được mở rộng. Đến nay, 99,6% tàu cá có chiều dài từ 15 m trở lên đã lắp đặt thiết bị VMS; tỉ lệ tàu kết nối thường xuyên đạt 86,9%, tăng so với cùng kỳ năm trước. Số tàu mất kết nối và số tàu vượt ranh giới khai thác đều giảm khoảng 50%. Tồn tại trong thực thi pháp luật Tuy đạt nhiều kết quả tích cực, song theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng như kết luận của đoàn thanh tra EC, rào cản lớn nhất hiện nay là hiệu quả tổ chức thực thi. Trong công tác giám sát hành trình, vẫn còn 2.098 tàu mất kết nối VMS trên 6 giờ; 292 tàu mất kết nối trên 10 ngày và 189 tàu vượt ranh giới khai thác cho phép, tập trung tại một số địa phương như An Giang, Cà Mau, Lâm Đồng và Vĩnh Long. Đối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT), tỉ lệ cập nhật dữ liệu mới đạt khoảng 70%, trong khi yêu cầu là 100%. Sản lượng thủy sản được kiểm soát qua hệ thống mới đạt khoảng 30% tổng sản lượng khai thác, ảnh hưởng đến việc cấp giấy chứng nhận nguồn gốc phục vụ xuất khẩu. Công tác thực thi pháp luật tiếp tục là nội dung được EC đặc
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG | 47
Ngày 24/6/2026, Đoàn Thanh tra lần thứ 5 của EC đã có công thư thông báo kết quả thanh tra công tác chống khai thác IUU tại Việt Nam. EC tiếp tục ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam, cho rằng các giải pháp đang được triển khai đúng hướng và xử lý ngày càng căn cơ các hành vi khai thác bất hợp pháp. Tuy nhiên, EC vẫn đưa ra 38 khuyến nghị thuộc 5 nhóm vấn đề, trọng tâm chuyển sang nâng cao hiệu quả theo dõi, kiểm tra, giám sát và thực thi pháp luật; tăng cường kiểm soát truy xuất nguồn gốc nhằm ngăn chặn nguyên liệu thủy sản khai thác IUU đi vào chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
biệt quan tâm. Từ đầu năm đến nay, các lực lượng chức năng đã phát hiện trên 4.700 vụ vi phạm, xử phạt trên 1.340 vụ với tổng số tiền khoảng 42,1 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều hồ sơ đã hoàn tất xác minh nhưng chưa được xử phạt; nhiều vụ việc chưa được giải quyết trong thời hạn 60 ngày theo yêu cầu của EC. Đáng chú ý, tình trạng tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài tuy giảm mạnh nhưng chưa chấm dứt hoàn toàn. Từ đầu năm đến nay có 8 vụ, giảm 86,7% so với cùng kỳ năm 2023. Tuy nhiên, lũy kế từ năm 2024 đến nay vẫn còn 19 vụ đang tiếp tục xác minh, xử lý. Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, tồn tại chủ yếu hiện nay là công tác chỉ đạo ở một số địa phương chưa quyết liệt; xử lý vi phạm còn chậm; truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ; quản lý tàu “3 không” chưa chặt chẽ và cơ sở dữ liệu nghề cá còn phân tán. Nếu không xử lý dứt điểm, đây sẽ là rào cản lớn đối với mục tiêu gỡ “thẻ vàng”. Hướng tới nghề cá hiện đại, minh bạch Để hoàn thành mục tiêu gỡ “thẻ vàng”, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi
trường trình Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động khắc phục triệt để các khuyến nghị của EC. Kế hoạch phải cụ thể, xác định rõ từng nhiệm vụ, từng bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm thực hiện và tiến độ hoàn thành; đồng thời tổ chức hội nghị triển khai để phát động đợt cao điểm trên phạm vi cả nước. Phó Thủ tướng giao các bộ: Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương tập trung xử lý dứt điểm những tồn tại, đặc biệt là các vụ việc vi phạm phát sinh từ năm 2024 đến nay; tiếp tục thành lập các đoàn kiểm tra, tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện tại cơ sở. Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội xây dựng nền tảng quản lý nghề cá thống nhất trên toàn quốc, khắc phục tình trạng quản lý phân tán, thiếu kết nối giữa các hệ thống dữ liệu hiện nay. Với trường hợp mất kết nối VMS, phải xác định rõ nguyên nhân, phân biệt lỗi kỹ thuật và hành vi cố tình vi phạm. Nếu cố ý ngắt
kết nối để khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài cần xử lý nghiêm theo quy định. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Quốc phòng tiếp tục duy trì lực lượng tại các vùng biển trọng điểm, khu vực giáp ranh để ngăn chặn tàu cá vi phạm; Bộ Công an tập trung đấu tranh, xử lý các đường dây tổ chức đưa tàu cá khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài; Bộ Ngoại giao tăng cường phối hợp qua các kênh ngoại giao để hỗ trợ xử lý các vụ việc và kịp thời cung cấp thông tin cho địa phương. Về lâu dài, Chính phủ định hướng xây dựng chiến lược phát triển thủy sản bền vững trên cơ sở Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vừa được Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV; tổ chức lại sản xuất từ con giống, khai thác, nuôi trồng, chế biến đến xuất khẩu, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế biển và nâng cao sinh kế cho ngư dân. Nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu và các địa phương trong công tác chống khai thác IUU, Phó Thủ tướng khẳng định: “Chúng ta phải dồn toàn bộ công sức, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu gỡ thẻ vàng cho ngành thủy sản. Sau cuộc họp này, các bộ, ngành, địa phương phải triển khai ngay các nhiệm vụ đã thống nhất, chuẩn bị tốt nhất cho quá trình làm việc với EC và phấn đấu cuối năm đạt mục tiêu gỡ cảnh báo thẻ vàng”.
Thùy Khánh
48 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
Cá rô phi
là tương lai của ngành thủy sản châu Phi
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
Thị trường cá rô phi ở châu Phi được dự báo sẽ tiếp tục mở rộng khi tốc độ tăng dân số không giảm và sự thiếu hụt về protein động vật chưa được bù đắp. Doanh nghiệp nuôi trồng khu vực đang tiếp tục gia tăng sản lượng.
K
hi lứa cá rô phi đầu tiên được thả vào lồng nuôi tại hồ Kivu Rwanda chưa đầy hai năm trước, nhà sáng lập Steve Moran của Tập đoàn Thủy sản Victory Farms đặt mục tiêu đạt được sản lượng 20.000 tấn/năm trước năm 2030. Tới thời điểm này, hai cơ sở nuôi cá rô phi của tập đoàn này ở Kenya và Rwanda dự kiến thu hoạch lần lượt 18.000 tấn và 2.000 tấn cá rô phi trong năm 2026. Mục tiêu thập kỷ đạt được nhanh hơn dự kiến, và quan trọng hơn, sản lượng này chưa thấm tháp vào đâu so với nhu cầu thị trường. Theo ông Steve Moran, đây là thời điểm tốt nhất cho ngành nuôi cá rô phi ở Châu Phi. Nhu cầu rất lớn, cá rô phi là loài ăn tạm nên không cần protein từ động vật hay dầu cá. Việc sử dụng thức ăn bản địa giúp giảm rất nhiều chi phí thức ăn. Doanh nghiệp của ông đặt mục tiêu đạt sản lượng nuôi trồng trong khu vực lên mức 150.000 tấn đến 200.000 tấn trong 18 tháng tới. Chiến lược “cá nhỏ”, giá rẻ Có thể nói, bước chuyển quan trọng về chiến lược kinh doanh đã đưa Victory Farm tới thành công nhanh chóng hơn. Nguyên lý của chiến lược này là cá nhỏ hơn sẽ giúp tăng mật độ và hiệu quả nuôi, giảm chi phí để có thể đạt mức giá bán phải chăng với người dân địa phương.Trong khi thịt gà và thịt bò giao động từ 2,5 USD đến 3 USD một kg, cá rô phi nhỏ có giá dưới 2 USD một kg. Tại Kenya, ban đầu, doanh nghiệp này thu hoạch khi cá đạt 450 gram đến 500 gram. Năm ngoài, kích cỡ giảm xuống còn trung bình 380 gram. Tại Rwanda, doanh nghiệp đang giảm kích cỡ thương phẩm từ 400 – 450 gram xuống cỡ nhỏ hơn.
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 49 Chi phí thời gian cũng là một lợi ích khác của chiến lược “cá nhỏ”. Dù từ quả trứng cá rô phi tới bàn ăn cần khoảng 10 tháng, nhưng giai đoạn nuôi luồng chỉ kéo dài 150 ngày. Điều này cũng đồng nghĩa nhà sản xuất tận dụng tối đa công suất lồng nuôi, với 2,5 chu kỳ nuôi một năm. Hiện tại, Victory Farms đã có mạng lưới bán hàng gồm gần 100 chi nhánh tại Kenya, tiêu thụ 95% sản lượng cá doanh nghiệp nuôi trồng tại quốc gia này. Tại Rwanda, họ có 15 điểm bán hàng, tiêu thụ nội địa 40% sản lượng, còn 60% sản lượng còn lại xuất khẩu sang Congo thông qua thương lái. Cùng với tham vọng gia tăng sản lượng, doanh nghiệp đang đầu tư xây dựng hạ tầng logistics, kho chứa thức ăn và chuỗi cung ứng lạnh. Cùng với đó, việc mở rộng mạng lưới bán hàng tại Rwanda cũng được tiến hành với mục tiêu đạt 30-40 chi nhánh vào cuối năm 2027. Cơ hội rộng mở Không chỉ ở châu Phi, đụng độ địa chính trị làm đứt gãy chuỗi cung ứng, sản lượng đánh bắt giảm khiến nhu cầu cá rô phi và các loại cá thịt trắng gia tăng ở nhiều thị trường. Châu Âu đang dần trở thành một nhà nhập khẩu cá rô phi lớn nhằm thay thế cho nguồn cung thịt cá trắng từ Nga và đối phó với tốc độ tăng giá của cá thịt trắng truyền thống như cá tuyết hay cá harddock. Từ phía các nhà xuất khẩu, chính sách thương mại không ổn định của Chính quyền Tổng thống Donald Trump buộc hai quốc gia này phải tìm kiếm thêm những đối tác khác. Hiện Trung Quốc là nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất thế giới nhờ lợi thế về quy mô sản xuất, công nghệ chế biến và hệ thống logistics. Tuy nhiên, sản lượng cá rô phi của nước này hiện chưa trở lại mức đỉnh do lợi nhuận suy giảm, các yêu cầu môi trường ngày càng nghiêm ngặt và chu kỳ nuôi thận trọng hơn. Một số doanh nghiệp Trung Quốc đang chuyển hướng sang nâng cấp sản phẩm và nhắm tới các phân khúc giá trị cao hơn. Với Indonesia, nhu cầu cá rô phi nước này trên thị trường quốc tế đang tăng mạnh. Mỹ và châu Âu là hai nhà nhập khẩu chính. Brazil đang nổi lên như một nhà cung cấp cá rô phi đáng chú ý trên thị trường quốc tế. Để đa dạng hoá thị trường, các doanh nghiệp Brazil đã bắt đầu điều chỉnh chiến lược xuất khẩu, tăng cường mở rộng sang thị trường châu Âu.
Theo nghiên cứu của IMARC, quy mô thị trường cá rô phi toàn cầu năm 2025 ước tính 9,2 tỷ USD. Thị trường này có thể đạt 11,7 tỷ USD vào năm 2034,với tốc độ tăng trưởng CAGR là 2,72% trong giai đoạn 2026-2034. Xuất khẩu cá rô phi Việt Nam đang ở đâu? Số liệu từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi vẫn đạt 69 triệu USD, tăng 67% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó, xuất khẩu cá rô phi sang Brazil đạt 35 triệu USD, tăng 28.767% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Rào cản lớn nhất ở thị trường này là dự thảo luật cấm nhập khẩu cá rô phi. Dù dự án luật đang được Quốc hội Brazil xem xét, nhiều nhà nhập khẩu có xu hướng thận trọng hơn. Mỹ là thị trường xuất khẩu cá rô phi quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá rô phi sang thị trường Mỹ chỉ đạt 17 triệu USD, giảm 35% so với cùng kỳ năm trước. Dù vậy, một số thị trường quy mô nhỏ hơn tiếp tục ghi nhận tăng trưởng tích cực. Xuất khẩu cá rô phi sang Ả Rập Xê Út đạt 4 triệu USD, tăng 69%, sang Cộng hòa Dominica đạt 2,3 triệu USD, tăng 103%, sang Bỉ đạt 1,5 triệu USD, tăng 16%. so với cùng kỳ năm trước. Điểm sáng nổi bật nhất đến từ thị trường Nhật Bản. Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 1,4 triệu USD, tăng 54% so với cùng kỳ 2025. Đặc biệt, một doanh nghiệp Việt Nam vừa mới xuất khẩu thành công cá rô phi fillet sang Nhật Bản để chế biến sushi, sashimi. Theo Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, cá rô phi Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển xuất khẩu. Dù vậy, ngành hàng này cần nâng cao năng lực nội tại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Doanh nghiệp cần đầu tư chế biến sâu, phát triển các dòng sản phẩm phù hợp với từng thị trường và tăng khả năng cạnh tranh bằng chất lượng thay vì chỉ bằng giá.
Khánh Nguyên
50 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
thuysanvietnam.com.vn
Xuất khẩu thủy sản 6 tháng đạt 5,77 tỷ USD Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5,77 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 6, xuất khẩu đạt gần 1,1 tỷ USD, tăng 20,6%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của thủy sản Việt Nam với kim ngạch 1,39 tỷ USD, tăng gần 39% và chiếm hơn 24% tổng giá trị xuất khẩu. Nếu tính cả Hồng Kông (Trung Quốc), kim ngạch đạt 1,47 tỷ USD, tăng 36%. Tôm vẫn là mặt hàng chủ lực, đạt 2,35 tỷ USD, tăng 14,2%, trong khi cá tra đạt 1,11 tỷ USD, tăng 11,7%. Nam Định
Đặc sản cáy mật vào vụ Bước vào chính vụ từ tháng 5 đến tháng 7, cáy mật, đặc sản vùng rừng ngập mặn Nam Định, đang được thị trường tiêu thụ sôi động dù giá bán dao động 180.000 – 220.000 đồng/kg. Theo các tiểu thương, cáy mật được khai thác hoàn toàn ngoài tự nhiên tại khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy nên sản lượng hạn chế, phụ thuộc nhiều vào thủy triều và điều kiện thời tiết. Loài này sinh sống trong các hang sâu dưới gốc sú, vẹt, khiến việc khai thác khá vất vả. Trên thị trường, cáy mật cỡ lớn có khoảng 20 – 25 con/kg, cỡ nhỏ từ 30 – 35 con/kg. Hà Tĩnh
Khai thác hải sản đạt hơn 1.200 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động khai thác hải sản tại Hà Tĩnh tiếp tục duy trì tăng trưởng tích cực, với sản lượng đạt 23.016 tấn, bằng 51,2% kế hoạch năm và tăng gần 2,6% so với cùng kỳ năm 2025. Giá trị sản xuất ước đạt hơn 1.200 tỷ đồng. Mặc dù chi phí nhiên liệu, lao động và vật tư đầu vào tăng, nhiều ngư dân vẫn duy trì nhịp độ vươn khơi ổn định nhờ linh hoạt tổ chức sản xuất và khai thác hiệu quả. Tại xã Lộc Hà, sản lượng khai thác 6 tháng đầu năm đạt khoảng 1.700 tấn, giá trị 83 tỷ đồng. Theo ngành chức năng, các đối tượng khai thác chủ lực như cá cơm, cá bạc má, cá thu tiếp tục mang lại giá trị kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập cho ngư dân và tạo nguồn cung ổn định cho thị trường thủy sản trong tỉnh.
Ngư dân trúng mùa ghẹ, tôm tít Những ngày biển êm, sóng lặng, ngư dân xã Tiên Điền (Hà Tĩnh) đang bước vào vụ khai thác ghẹ và tôm tít với sản lượng khá, mang lại nguồn thu đáng kể. Theo ngư dân địa phương, đây là thời điểm ghẹ xuất hiện nhiều nhất trong năm. Tàu cá thường xuất bến từ khoảng 2 giờ sáng, đánh bắt cách bờ 4 – 5 hải lý và có chuyến thu được hàng chục kg ghẹ nếu gặp đúng luồng. Sau khi trừ chi phí nhiên liệu, nhiều chủ tàu thu lãi gần 2 triệu đồng mỗi chuyến. Sau khi cập bến, ghẹ và tôm tít được gỡ cẩn thận để đảm bảo chất lượng trước khi bán cho thương lái. Theo các đầu mối thu mua, ghẹ và tôm tít hiện được tiêu thụ tốt tại các nhà hàng, khách sạn trong khu vực, với lượng thu mua khoảng 200 kg mỗi ngày, góp phần nâng cao thu nhập cho ngư dân ven biển.
8.2026
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 51
Huế
Ghẹ xanh vào chính vụ Ngư dân xã Phú Vinh, TP. Huế đang bước vào chính vụ khai thác ghẹ xanh, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9 hằng năm, trong đó tháng 7 là thời điểm sản lượng cao nhất. Tại bãi biển Vinh Thanh Đông, tàu thuyền liên tục cập bến, mang theo những mẻ ghẹ được thương lái thu mua ngay tại bãi. Theo ngư dân địa phương, mỗi chuyến biển nếu gặp luồng ghẹ có thể khai thác khoảng 20 kg, mang về doanh thu từ 2 – 3 triệu đồng, trong khi các tàu lớn có thể đạt trên 50 kg/chuyến. Gia Lai
Hơn 7.500 tấn muối tồn đọng Theo Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai), từ đầu năm 2026 đến nay, toàn tỉnh có hơn 1.800 lao động tham gia sản xuất muối, giảm 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích sản xuất đạt 141,5 ha, giảm 8,53%, song nhờ mở rộng mô hình trải bạt ô kết tinh, sản lượng muối vẫn đạt 15.136 tấn, gần tương đương cùng kỳ năm 2025. Theo ngành chức năng, dù sản lượng được duy trì, việc tiêu thụ chậm và lượng tồn kho lớn tiếp tục là thách thức đối với ngành muối, trong bối cảnh nhiều diêm dân đã chuyển sang sinh kế khác. Lâm Đồng
Ngư dân trúng mùa cá cơm Những ngày gần đây, ngư dân tại các địa phương ven biển tỉnh Lâm Đồng liên tục trúng mùa cá cơm. Theo ngư dân, sản lượng cá cơm năm nay cao hơn cùng kỳ, trong khi giá thu mua dao động 18.000 – 20.000 đồng/kg. Mỗi chuyến biển, nhiều tàu khai thác từ 3 – 5 tấn cá cơm; sau khi cập bến, toàn bộ sản lượng đều được các cơ sở thu mua để chế biến cá khô xuất khẩu và sản xuất nước mắm. Tại khu vực Mũi Né, lượng cá cập bến tăng mạnh, có cơ sở thu mua từ 5 – 7 tấn mỗi ngày, thời điểm cao điểm lên tới vài chục tấn. Mùa cá cơm thắng lợi không chỉ giúp ngư dân tăng thu nhập mà còn tạo việc làm ổn định cho lao động bốc xếp, vận chuyển, hấp và phơi cá, với mức thu nhập khoảng 300.000 – 500.000 đồng/người/ngày. Cà Mau
Vào mùa cá khoai, ngư dân phấn khởi vì sản lượng khá Những ngày này, không khí khai thác cá khoai tại các xã ven biển Tây của Cà Mau như U Minh, Đá Bạc, Sông Đốc và Cái Đôi Vàm diễn ra sôi động khi bước vào chính vụ. Theo ngư dân địa phương, năm nay thời tiết thuận lợi, cá xuất hiện nhiều hơn nên sản lượng khai thác khá, góp phần cải thiện thu nhập. Hiện cá khoai được thương lái thu mua với giá khoảng 90.000 đồng/kg. Bình quân mỗi tàu khai thác từ 30 – 40 kg/ngày, sau khi trừ chi phí, ngư dân thu lãi khoảng 2 – 2,5 triệu đồng/ngày. Mùa cá khoai không chỉ mang lại nguồn thu ổn định cho ngư dân mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ven biển tham gia gỡ lưới, phân loại và sơ chế hải sản, với thu nhập khoảng 300.000 đồng/người/ngày. Lan Khuê
52 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
thuysanvietnam.com.vn Trung Quốc
Giá cá rô phi tăng mạnh Giá cá rô phi nguyên liệu tại các vùng nuôi trọng điểm của Trung Quốc tiếp tục tăng trong tuần 30 (20 – 26/7/2026), đánh dấu tuần tăng thứ ba liên tiếp do nguồn cung cá đạt cỡ thu hoạch ngày càng thu hẹp. Tại Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam, giá thu mua tăng khi lượng cá thương phẩm trong ao giảm sau thời gian dài người nuôi cắt giảm thả giống vì giá xuống thấp. Theo giới chuyên môn, sản lượng cá giống thả nuôi trong nửa đầu năm 2026 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, khiến nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu suy giảm trong nửa cuối năm. Trong bối cảnh nguồn cung của Trung Quốc có xu hướng giảm, các nước sản xuất khác, trong đó có Việt Nam, được kỳ vọng sẽ có thêm cơ hội mở rộng xuất khẩu cá rô phi, đặc biệt đối với sản phẩm phi lê đông lạnh và các mặt hàng giá trị gia tăng.
Giá tôm hùm Mỹ nhập khẩu phục hồi, cua tuyết Nga tăng mạnh Trong tuần 29 (13 – 19/7/2026), thị trường giáp xác sống nhập khẩu tại chợ đầu mối Thượng Hải ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá tôm hùm Mỹ phục hồi sau đợt giảm mạnh của tuần trước nhờ nhu cầu tiêu thụ tại các nhà hàng cải thiện khi thời tiết thuận lợi hơn. Trong khi đó, cua tuyết Nga tăng giá do lượng cua sống đạt tiêu chuẩn đưa về chợ tạm thời khan hiếm, thay vì xuất phát từ sự sụt giảm nguồn cung từ Nga. Đối với cua hoàng đế Nga, giá tiếp tục duy trì ổn định nhờ nguồn hàng đều đặn và nhu cầu vững từ phân khúc nhà hàng, khách sạn và tiêu dùng cao cấp. Diễn biến này cho thấy biến động giá hiện chủ yếu phản ánh yếu tố cung – cầu ngắn hạn, chưa phải tín hiệu của một chu kỳ tăng giá mới.
Tăng mạnh nhập khẩu tôm Ecuador Mặc dù Trung Quốc tăng cường kiểm soát dư lượng sodium metabisulfite đối với tôm nhập khẩu từ Ecuador, lượng hàng từ quốc gia Nam Mỹ này vẫn tiếp tục tăng. Theo Shrimp Insights, nhập khẩu tôm của Trung Quốc trong tháng 6/2026 tăng khoảng 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Ecuador vẫn là nguồn cung lớn nhất. Việc kiểm tra nghiêm ngặt hơn của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) khiến số lô hàng bị từ chối và số nhà máy Ecuador bị tạm đình chỉ xuất khẩu gia tăng. Tuy nhiên, giới phân tích nhận định các biện pháp này chưa làm thay đổi cán cân cung – cầu, bởi Ecuador vẫn duy trì lợi thế về sản lượng, giá thành cạnh tranh và khả năng cung ứng ổn định quanh năm. Canada
Xuất khẩu tôm hùm tiếp tục giảm Xuất khẩu tôm hùm Canada trong tháng 5/2026 đạt 8.629 tấn, tăng theo chu kỳ mùa vụ nhưng vẫn giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Dù sản lượng cải thiện so với các tháng đầu năm, kết quả lũy kế vẫn thấp hơn năm 2025, cho thấy ngành tiếp tục chịu áp lực tại các thị trường xuất khẩu chủ lực. Tôm hùm sống chiếm khoảng hai phần ba tổng lượng xuất khẩu, trong đó Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất, tiếp theo là Trung Quốc và EU – Anh. Tại Trung Quốc, Canada đang mất dần thị phần khi Việt Nam vươn lên trở thành nhà cung cấp tôm hùm lớn nhất.
8.2026
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 53
Châu Âu
Nguồn cung thắt chặt đẩy giá cá tuyết tăng Trong tuần 29 (13 – 19/7/2026), thị trường cá thịt trắng châu Âu tiếp tục ghi nhận giá cá tuyết (Cod) tăng do nguồn cung suy giảm, trong khi cá tuyết chấm đen (Haddock) hạ nhiệt sau giai đoạn tăng mạnh. Tại Scotland và Iceland, sản lượng khai thác giảm khi mùa đánh bắt ven biển bước vào giai đoạn kết thúc đã tạo áp lực lên nguồn cung, đặc biệt đối với các cỡ cá tuyết lớn. Tại Iceland, lượng cá tuyết nguyên con đưa ra thị trường giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu tháng 5, khiến giá nhiều quy cách tăng thêm 30 – 60 ISK/kg; riêng cá cỡ 3,5 – 5 kg hiện có giá cao hơn khoảng 47% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, giá cá tuyết chấm đen điều chỉnh giảm tại nhiều chợ nhưng vẫn được hỗ trợ bởi nguồn cung hạn chế. Nhật Bản
Xuất khẩu surimi khởi sắc Xuất khẩu surimi của Nhật Bản tiếp tục tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2026 nhờ nhu cầu cải thiện tại nhiều thị trường. Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, khối lượng xuất khẩu surimi và các sản phẩm chế biến từ surimi, bao gồm kamaboko (chả cá hấp) nhưng không tính xúc xích cá, đạt 4.186 tấn trong 5 tháng đầu năm, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, nhờ nhu cầu ổn định đối với các sản phẩm thủy sản chế biến tiện lợi.
Đề xuất tăng 25% hạn ngạch cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương cỡ lớn Nhật Bản đang thúc đẩy đề xuất tăng 25% hạn ngạch khai thác cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương cỡ lớn từ năm 2027, trong bối cảnh nguồn lợi loài cá giá trị cao này phục hồi sau nhiều năm áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ. Đề xuất được đưa ra tại cuộc họp của Ủy ban phía Bắc thuộc Ủy ban Nghề cá Trung Tây Thái Bình Dương (WCPFC) tổ chức tại Nagasaki (Nhật Bản). Cùng với việc tăng hạn ngạch đối với cá ngừ cỡ lớn (trên 30 kg), Nhật Bản đề xuất giảm 6% hạn ngạch đối với cá cỡ nhỏ nhằm bảo đảm cân bằng giữa khai thác và bảo tồn. Peru
Giá bột cá lập kỷ lục do nguồn cung thắt chặt Giá bột cá Peru tại Trung Quốc tiếp tục lập mức cao kỷ lục khi lượng tồn kho tại các cảng giảm mạnh và triển vọng nguồn cung mới từ Peru vẫn hạn chế. Bột cá Super Prime (68% protein) hiện được giao dịch ở mức khoảng 23.400 – 23.500 NDT/tấn, do nguồn cung toàn cầu tiếp tục thắt chặt. Nguyên nhân chủ yếu là mùa khai thác cá cơm tại Peru gặp nhiều trở ngại bởi tỷ lệ cá non cao và điều kiện môi trường bất lợi, buộc cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác. Trong khi đó, Trung Quốc – thị trường tiêu thụ bột cá lớn nhất thế giới – đang bước vào cao điểm sản xuất thức ăn thủy sản, khiến nhu cầu vẫn duy trì ở mức cao. Diễn biến này tiếp tục tạo áp lực lên chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản, đồng thời mở ra cơ hội cho các nước xuất khẩu bột cá như Việt Nam, Nga và Chile. Oanh Thảo
54 | THỨC ĂN DINH DƯỠNG
Dinh dưỡng hợp lý giúp tối ưu hóa lợi nhuận ngành cá tra
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
THỨC ĂN DINH DƯỠNG | 55
Chi phí thức ăn chiếm khoảng 60% - 85% tổng chi phí sản xuất của các trại nuôi cá tra khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Vì vậy, nếu cải thiện được hệ số chuyển đổi thức ăn, lợi nhuận của ngành sẽ được đảm bảo và nâng cao.
T
heo Tổ chức Nông lương Thế giới, trong năm 2023, sản lượng cá da trơn (cá tra và cá ba sa) nuôi trồng tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á là 3,41 triệu tấn cá thương phẩm, trong đó, Việt Nam đóng góp lớn nhất với 1,75 triệu tấn, chiếm 51%, vượt xa quốc gia xếp thứ hai là Indonesia với 0,35 triệu tấn, chiếm 10% tổng sản lượng. Cá tra chiếm đại đa số sản lượng, thường được thả và chăm sóc trong các ao nuôi, không phải trong lồng bè như ở các khu vực khác. Trên thực tế, quản lý việc cho ăn và các biện pháp giảm thiểu lãng phí thức ăn trong chuồng và lồng thường dễ thực hiện hơn so với ao nuôi. Tỷ lệ thu hồi fillet cũng phụ thuộc vào loại thức ăn, mật độ nuôi, phương pháp cho ăn và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Vì vậy, những dữ liệu toàn diện về yêu cầu dinh dưỡng thiết yếu của cá là cơ sở để xây dựng chế độ ăn cân bằng, đáp ứng nhu cầu trong từng giai đoạn, hỗ trợ sự sinh trưởng tối ưu của cá tra, từ đó, hạ thấp hệ số chuyển đổi thức ăn, đảm bảo hoạt động nuôi trồng có lãi và nâng cao lợi nhuận. Nhu cầu về protein (đạm) thô Trên thực tế, cá có nhu cầu protein, nhưng protein trong thức ăn được tiêu hóa thành các acid amin và peptide để cơ thể hấp thu và sử dụng. Vì vậy, protein từ cả nguồn thực vật và động vật đều có thể sử dụng
trong thức ăn cá tra, nếu bảo đảm đáp ứng đầy đủ nhu cầu acid amin thiết yếu. Hàm lượng protein trong thức ăn cho cá tra được xác định dựa trên việc ước tính lượng protein từ nguyên liệu phối trộn thức ăn, đảm bảo cung cấp đủ các acid amin cho sự sinh trưởng của cá. Thông thường, cá tra bột có nhu cầu protein trong thức ăn cao hơn, cá càng đạt khối lượng lớn thì nhu cầu protein càng giảm. Nhu cầu acid amin Hiện tại, chưa có một nghiên cứu đủ tin cậy nào về hàm lượng acid amin cần thiết cho cá tra. Chỉ biết rằng, thiếu bất kỳ loại acid amin quan trọng nào, đặc biệt là lysine (LYS) và methionine (MET) gây ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng thức ăn và sự sinh trưởng của cá tra. Theo các chuyên gia, giải pháp tốt nhất là định lượng các acid amin trong cơ thể cá tra và sau đó, sử dụng Khái niệm protein lý tưởng (ideal protein) để ước tính nhu cầu acid amin và xây dựng công thức phối trộn thức ăn phù hợp để cá có thể hấp thu và sử dụng ở mức tối ưu, từ đó, đạt được năng suất và hiệu quả nuôi cao nhất. Một số nghiên cứu mới đây đã đưa ra một vài gợi ý. Nghiên cứu của Yuangsoi và cộng sự (2016) trên chế độ ăn thử nghiệm với 4,76% bột cá, 48% bột đậu nành, 23,65% bột ngô và 4,59 đến 5% cám gạo, 8% cá và dầu đậu nành đưa ra kết luận, MET ở mức 0,63g/100g
khẩu phần khô là tốt nhất cho tăng trưởng tối đa và hiệu quả sử dụng thức ăn. Liqat et al. (2025), dựa trên thử nghiệm 6 công thức thức ăn không bột cá đưa ra kết luận, chế độ thức ăn cơ bản cho ca tra cần được bổ sung 6g/kg mỗi loại acid amin LYS, MET và threonine (Thr). Nhu cầu về lipid và axit béo Dù chưa có nghiên cứu nào về nhu cầu acid béo cụ thể của cá tra, một vài nghiên cứu đã xem xét hàm lượng lipid thích hợp để kết hợp với thức ăn cho cá. Kabir và cộng sự (2019) đã cho cá tra sinh sản tiêu thụ các chế độ dinh dưỡng với 30% protein thô, bổ sung 6%, 9% và 12% lipid từ dầu cá và dầu cọ. Từ đó, các nhà nghiên cứu nhận định, hàm lượng lipid từ 9% trở lên trong thức ăn cho hiệu suất sinh sản tốt hơn (thể hiện qua trọng lượng buồng trứng, khả năng sinh sản, trọng lượng trứng và khả năng thụ tinh) so với hàm lượng 6% lipid. Nhu cầu vitamin và khoáng chất Cho đến nay chỉ có một số ít nghiên cứu được công bố về nhu cầu vitamin của cá tra. Daniel và cộng sự đã có các nghiên cứu vào năm 2016, 2018 và 2021 về nhu cầu acid ascorbic (Vitamin C) trong chế độ dinh dưỡng của cá tra. Theo đó, việc bổ sung axit ascorbic ở chế độ ăn 350 700mg/kg mang lại hiệu quả kích thích miễn dịch cao nhất.
Về khoáng chất và các yếu tố vi lượng, bên cạnh một công bố duy nhất về nhu cầu selen (Thangarani et al., 2024), đã có nghiên cứu khác về nhu cầu kẽm của cá tra. Singh và cộng sự (2017) xác định mức bổ sung 32 mg kẽm/ kg thức ăn là phù hợp nhất, giúp cá tra đạt hiệu quả tăng trưởng và sử dụng dinh dưỡng tốt. Thay cho lời kết Thông tin dinh dưỡng chi tiết vô cùng cần thiết để phối trộn các công thức thức ăn hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá tra. Đây cũng là cơ sở cho lựa chọn dinh dưỡng thay thế cho các loại nguyên liệu thức ăn bị ảnh hưởng nguồn cung do căng thẳng địa chính trị hoặc biến đổi khí hậu. Hiện tại, các quốc gia Nam Á và Đông Nam Á đang là những nhà sản xuất cá tra lớn nhất thế giới. Do đó, việc nghiên cứu và bổ sung những hiểu biết về nhu cầu dinh dưỡng của loài cá này cần được đẩy mạnh tại chính các quốc gia trong khu vực.
Hoàng Nguyên (theo Aquaasiapac)
56 | THỨC ĂN DINH DƯỠNG
thuysanvietnam.com.vn
An ninh thức ăn cho thủy sản trong thế giới biến động
Hướng tiếp cận bền vững Ngành thủy sản đang phải đối diện với nhiều thách thức, từ căng thẳng địa chính trị, biến đổi khí hậu, khan hiếm tài nguyên tới các hàng rào thương mại và biến động thị trường. Dù vậy, trước tiên và quan trọng nhất là phải đảm bảo an ninh thức ăn, bằng không, cả ngành công nghiệp sẽ rơi vào hiểm cảnh.
Căng thẳng nguồn cung bột cá và dầu cá Từ cuối tháng 6 năm 2026, thị trường bột cá và dầu cá bước vào giai đoạn căng thẳng về nguồn cung. Nhiều biến số cùng xuất hiện tác động trực tiếp tới thị trường các nguyên liệu quan trọng cho thức ăn thủy sản. Đối với bột cá, tại quốc gia sản xuất bột cá lớn nhất trên thế giới là Peru, dù hạn ngạch khai thác cá cơm (Engraulis ringens) được nâng lên 1,914 triệu tấn nhờ trữ lượng sinh khối tăng 31% so với tháng 9/2025, cá non hiện diện ở mức độ cao trong vùng khai thác. Các cơ quan quản lý phải áp dụng các lệnh cấm khai thác cục bộ, khiến nguồn nguyên liệu giảm, gây khó khăn cho các nhà máy chế biến.
8.2026
THỨC ĂN DINH DƯỠNG | 57 của bột cá Super Prime Peru trong các hợp đồng bán trước đã tăng lên 3.100 USD/tấn, cao hơn 100 USD/tấn so với các mức chào trước đó và lập kỷ lục mới. Thị trường đang theo dõi sát tình hình khai thác tại Peru, yếu tố quyết định tới nguồn cung bột cá toàn cầu. TS May Helen Holme, Giám đốc Đổi mới Sáng tạo mảng Cá hồi của Tập đoàn thức ăn thủy sản Skretting nhận định, thức ăn thủy sản đóng vai trò trung tâm trong hiệu suất nuôi trồng, lợi nhuận và tính bền vững của ngành thủy sản. Ngành công nghiệp này đang bước vào giai đoạn mà việc đảm bảo nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn trở nên quan trọng như việc xây dựng chế độ dinh dưỡng cân bằng.
Đối với dầu cá, sản lượng dầu cá năm 2026 được dự báo sẽ giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ. Thế nhưng, khoảng 39,6% nguồn cung dầu cá toàn cầu được ngành dược phẩm và thực phẩm chức năng thu mua. Nhu cầu lớn từ các ngành nghề có biên lợi nhuận cao gây sức ép lớn lên nguồn cung cho ngành thức ăn thủy sản, vốn có biên lợi nhuận thấp hơn. Thêm vào đó, các vùng đệm dự phòng cho thị trường như tồn kho bột cá và dầu cá tại các cảng Trung Quốc đều suy giảm. Chẳng hạn, tồn kho bột cá tại các cảng Trung Quốc chỉ còn 153.800 tấn, thúc đẩy động cơ găm giữ của các đầu mối và doanh nghiệp lớn. Bước vào tháng 7/2026, giá tham chiếu CNF
Tháo gỡ nút thắt cổ chai Các nghiên cứu trong nhiều năm qua đã chứng minh dầu vi tảo, dầu thực vật biến đổi gen, côn trùng, đạm đơn bào… có thể thay thế nguyên liệu từ biển trong thức ăn cho thủy sản. Từ góc độ cân bằng dinh dưỡng, ông Zhiquiang Gao, Giám đốc Kinh doanh Tôm Toàn cầu của Tập đoàn Lachance, dù việc thay thế bột cá bằng các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật trong thức ăn thủy sản đang là xu hướng khó đảo ngược, chế độ dinh dưỡng này có thể ảnh hưởng tới tiêu hoá, hấp thụ dinh dưỡng và trao đổi chất của các loài thủy sản nuôi. Nếu không tìm ra giải pháp bảo vệ sức khoẻ của cá khi nguyên liệu thay thế các thành phần biển được sử dụng ở mức cao hơn, hiệu suất nuôi trồng thủy sản chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Theo ông Zhiquiang Gao, các nghiên cứu đã chỉ rõ, axit mật (Bile Acids, BA) là phụ gia dinh dưỡng quan trọng và an toàn, vừa thúc đẩy tiêu hóa - hấp thu chất béo, vừa bảo vệ gan và đường ruột cho cá, tôm. Việc bổ sung axit mật có thể cải thiện tốc độ tăng trưởng và hiệu quả chuyển hoá chất béo trong chế độ ăn của cá. Với tôm, bổ sung axit mật tuỳ theo từng giai đoạn nuôi không chỉ nâng cao sức đề kháng, cải thiện chuyển hóa dinh dưỡng, tăng tỷ lệ sống mà còn hướng đến mô hình nuôi tôm bền vững, tối ưu chi phí. “Tại châu Á, ngành thủy sản vẫn đang tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao. Các nhà sản xuất đang tìm kiếm các giải pháp nuôi trồng bền vững và hiệu quả. Ứng dụng axit mật
phù hợp với mục tiêu này”, ông Zhiquiang Gao nhận định. Giải pháp bao trùm Thừa nhận ưu điểm của các giải pháp thay thế thành phần biển trong thức ăn thủy sản, theo TS May Helen Holme, ngành công nghiệp này vẫn phải đối diện hai thách thức. Thứ nhất, các nguyên liệu thay thế phải đạt được quy mô thương mại hoá mới đạt được mức giá cả hợp lý. Tuy nhiên, đầu tư cho sản xuất các nguyên liệu thay thế chậm lại khi giá nguyên liệu từ biển giảm. Thứ hai, nguồn cung nguyên liệu thay thế vẫn chịu tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, căng thẳng chính trị, các biện pháp phòng vệ thương mại… Bà Holme cho rằng, bên cạnh việc tối ưu hoá hiệu quả và giảm chi phí, nâng cao năng lực thích ứng cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Điều này đòi hỏi phải đa dạng nguồn nguyên liệu thô, thiết lập các chuỗi cung ứng khu vực, giảm thiểu sự phụ thuộc vào một thành phần riêng lẻ và xây dựng các công thức dinh dưỡng có thể phản ứng linh hoạt với biến động thị trường. “Một bộ công cụ bao trùm, từ những tiến bộ trong nghiên cứu dinh dưỡng cho thủy sản, di truyền học, công nghệ sinh học đến ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu, cảm biến, cho ăn chính xác… sẽ tăng cường tính bền vững và khả năng phục hồi của ngành thủy sản. Đó là con đường tốt nhất dẫn tới thành công trong một thế giới đầy biến động như hiện nay”, TS May Helen Holme khuyến nghị.
Linh Sam
58 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Tập đoàn Việt Úc
Công bố chiến lược chuyển đổi từ Aquafarm sang Aquatech sau 25 năm Ngày 8/8 vừa qua tại Lâm Đồng, Tập đoàn Việt Úc tổ chức sự kiện 25 năm thành lập với chủ đề “Tiên Phong Công Nghệ – Vươn Tầm Thịnh Vượng”, đánh dấu cột mốc mới trong hành trình phát triển của doanh nghiệp. Tại sự kiện, Việt Úc chính thức công bố định hướng chuyển đổi từ Aquafarm sang Tập đoàn Công nghệ Thủy sản (Aquatech), lấy công nghệ di truyền và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo.
S
ự kiện diễn ra tại Trung tâm Hội nghị Happy Palace, Phan Thiết, với sự tham dự của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng; Thứ trưởng Bộ Tài Chính Lê Tấn Cận, đại diện lãnh đạo của các tỉnh Cà Mau, Khánh Hòa, An Giang, Lâm Đồng, Quảng Ninh, đại diện các cơ quan Trung ương và địa phương, tổ chức quốc tế, hiệp hội ngành hàng, viện nghiên cứu, trường đại học, các đối tác, khách hàng cùng cán bộ, nhân viên Tập đoàn Việt Úc. 25 năm xây dựng năng lực công nghệ cho ngành tôm Tại sự kiện, Tập đoàn Việt Úc
chính thức công bố định hướng chuyển đổi trở thành Tập đoàn Công nghệ Thủy sản (Aquatech). Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 25 năm, ông Tôn Thất Đề, thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn Việt Úc cho biết: “Sau giai đoạn tái cấu trúc, Việt Úc đã sẵn sàng cho giai đoạn phát triển tiếp theo, chính thức chuyển đổi từ Aquafarm sang Aquatech. Bên cạnh việc giữ vững vị thế dẫn đầu chương trình chọn giống và sản xuất giống trong nước, tiếp tục nâng thị phần từ 32% lên 50%, chúng tôi đã có những kế hoạch cụ thể để đưa con tôm Việt và công nghệ Việt đi khắp toàn cầu theo chiến lược “Lead Local – Go Global”.”
8.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 59
Ông Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Ngay từ những ngày đầu thành lập năm 2001 tại Bình Thuận, Tập đoàn Việt Úc đã lựa chọn khoa học công nghệ làm nền tảng để tạo ra sự khác biệt và giá trị bền vững. Ông Lương Thanh Văn, Chủ tịch HĐQT, nhà sáng lập Tập đoàn Việt Úc chia sẻ: “Từ rất sớm, tôi đã tin rằng công nghệ là nền tảng để làm mọi việc nhanh hơn và thay đổi tận gốc cách một doanh nghiệp vận hành, phát triển. Nếu làm đúng, ngành tôm không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn có thể mở ra một tương lai rộng lớn cho nông nghiệp Việt Nam.” Từ tầm nhìn chiến lược này, Việt Úc từng bước đưa tư duy công nghiệp vào nông nghiệp, chuyển hoạt động sản xuất từ phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm sang vận hành dựa trên quy trình, dữ liệu và độ chính xác. Việc chuẩn hóa quy trình giúp nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng, đồng bộ hoạt động và tạo điều kiện nhân rộng mô hình trên quy mô lớn. Trên nền tảng đó, Tập đoàn Việt Úc kiên trì nghiên cứu công nghệ xử lý nước, tiên phong phát triển mô hình nuôi tôm không kháng sinh và hóa chất, hướng đến sản xuất an toàn
Ông Lương Thanh Văn, Chủ tịch HĐQT, nhà sáng lập Tập đoàn Việt Úc
cho con tôm và bền vững với môi trường. Năm 2005, Tập đoàn Việt Úc bắt đầu kinh doanh tôm thẻ chân trắng; đến năm 2015 được cấp phép sản xuất tôm thẻ chân trắng bố mẹ G3 tại Việt Nam. Năm 2023, doanh nghiệp hoàn thiện chuỗi giá trị ngành tôm với 18 công ty thành viên phủ hoạt động trải dài trên cả nước, bao phủ các mắt xích quan trọng của chuỗi giá trị từ nghiên cứu di truyền, sản xuất tôm giống, nuôi thương phẩm, thức ăn, chế biến đến các giải pháp phục vụ ngành thủy sản. Sau 25 năm, nền tảng được xây dựng không chỉ là quy mô sản xuất, mà còn là năng lực nghiên cứu, dữ liệu và công nghệ. Đây cũng là cơ sở để Tập đoàn Việt Úc bước vào giai đoạn phát triển mới với định hướng tiên phong công nghệ, tạo ra những giải pháp có giá trị cao hơn cho ngành thủy sản. Từ chọn giống truyền thống đến đột phá công nghệ di truyền Genomics – nâng tầm khoa học chọn giống Một trong những thành tựu nổi bật trên hành trình công nghệ của Việt Úc là công nghệ di truyền Genomics – nền tảng
Ông Tôn Thất Đề, thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn Việt Úc
giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả của chương trình chọn giống. Hơn 15 năm đầu tư cho chương trình chọn giống, Tập đoàn Việt Úc đã xây dựng cơ sở dữ liệu với hàng triệu bản ghi dữ liệu di truyền (data records). Từ dữ liệu trại và cây phả hệ, chương trình từng bước tiến tới giải mã di truyền phân tử, cho phép nhận diện chính xác hơn khác biệt và ưu thế di truyền của từng cá thể. Trong quá trình nghiên cứu, từng cá thể tôm được gắn chip nhận diện để theo dõi danh tính, xây dựng phả hệ gia đình và thu thập dữ liệu theo từng tính trạng. Từ nền tảng này, Việt Úc từng bước giải mã cấu trúc di truyền và xây dựng bản đồ gene, tạo cơ sở dữ liệu phục vụ các quyết định khoa học trong chọn giống. Sự khác biệt của Công nghệ Genomics nằm ở khả năng đi sâu hơn những gì có thể quan sát bằng mắt thường. Một con tôm lớn nhanh chưa chắc có khả năng truyền đặc tính tăng trưởng tốt cho đời sau. Muốn cải tiến đàn giống bền vững, cần xác định được giá trị di truyền thực sự của từng cá thể. Công nghệ Genomics cho phép dự đoán Giá trị giống ước tính (Estimated Breeding Value –
EBV), qua đó xác định những cá thể ưu tú có khả năng truyền các đặc tính mong muốn như tăng trưởng, tỷ lệ sống và khả năng thích nghi cho thế hệ sau. Chọn giống vì vậy không chỉ là chọn những cá thể “nhìn tốt”, mà là chọn đúng những cá thể có tiềm năng tạo ra thế hệ vượt trội hơn. Tháng 3/2026, Việt Úc ra mắt tôm giống Tứ Siêu VU-S26, ứng dụng công nghệ Genomics và tập trung vào bốn nhóm đặc tính: tăng trưởng, thích nghi, tỷ lệ sống và năng suất cao. Đây là một trong những thành quả cụ thể của quá trình đầu tư dài hạn vào khoa học di truyền, dữ liệu và chương trình chọn giống, đưa các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào sản phẩm phục vụ thực tiễn ngành tôm. “Trên nền tảng thành công của tôm thẻ, Việt Úc tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang cá tra, cá rô phi, tôm sú và nhiều đối tượng nuôi khác. Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Di truyền và Hệ gen sẽ sớm đi vào hoạt động, với hệ thống máy móc hiện đại, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), nâng cao năng lực xử lý dữ liệu lớn để đáp ứng nhu cầu con giống cho từng vị trí sinh thái khác nhau.” – Đại diện Tập đoàn chia sẻ tại sự kiện.
60 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
Từ Aquafarm sang Aquatech Tại Lễ kỷ niệm 25 năm, Tập đoàn Việt Úc xác định bước phát triển tiếp theo không chỉ là mở rộng quy mô nuôi trồng, mà là chuyển đổi mô hình từ Aquafarm sang Aquatech – từ doanh nghiệp hoạt động trong chuỗi nuôi trồng thủy sản trở thành Tập đoàn Công nghệ Thủy sản, cung cấp công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và giải pháp toàn diện cho ngành thủy sản. Chiến lược mới được định hướng theo tinh thần “Lead Local – Go Global”: tiếp tục giữ vai trò đầu tàu trong chương trình chọn giống và sản xuất con giống trong nước, đồng thời từng bước đưa năng lực công nghệ thủy sản do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ ra thị trường quốc tế. Trong lĩnh vực giống, Tập đoàn Việt Úc đặt mục tiêu nâng thị phần tôm giống tại Việt Nam từ khoảng 32% lên 50% trong 5 năm tới. Song song đó, công nghệ di truyền Genomics tiếp tục được xác định là một trong những năng lực cốt lõi để nâng
thuysanvietnam.com.vn
cao chất lượng con giống và tạo nền tảng cho các giải pháp công nghệ mới. Xây dựng hệ sinh thái công nghệ thủy sản toàn diện Để hiện thực hóa chiến lược tăng trưởng dài hạn, Tập đoàn Việt Úc đang phát triển hệ sinh thái xoay quanh sáu trụ cột: Gen thủy sản, Giống thủy sản, Thức ăn thủy sản, Nuôi trồng thủy sản, Chế biến thủy sản và sắp ra mắt Dược thủy sản. Trong giai đoạn tiếp theo, hệ sinh thái sẽ tiếp tục được mở
rộng sang vaccine, vi sinh và các giải pháp phòng bệnh chủ động. Đồng thời, doanh nghiệp định hướng tăng cường ứng dụng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và các mô hình nuôi công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, khả năng kiểm soát và tính bền vững trong toàn chuỗi. Từ nền tảng công nghệ di truyền đến sản xuất con giống, thức ăn, nuôi trồng, chế biến và sức khỏe thủy sản, Tập đoàn Việt Úc hướng đến xây dựng một hệ sinh thái trong đó công nghệ không chỉ được ứng dụng
ở từng khâu riêng lẻ mà trở thành nền tảng kết nối toàn bộ chuỗi giá trị. “Lead Local – Go Global”: Đưa công nghệ thủy sản Việt ra thế giới Cùng với củng cố thị trường trong nước, quốc tế hóa là một trọng tâm trong lộ trình phát triển đến năm 2030. Trung Quốc được Việt Úc lựa chọn là thị trường đầu tiên trong hành trình đưa công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và các giải pháp khoa học của doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.
8.2026
Song song với mở rộng thị trường, Việt Úc định hướng xây dựng một viện nghiên cứu sinh học và di truyền đạt chuẩn quốc tế tại Hoa Kỳ, hướng tới kết nối các nhà khoa học và công nghệ tiên tiến, phục vụ nghiên cứu, tư vấn, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ do Việt Úc làm chủ. Trong lộ trình 2025 - 2030, doanh nghiệp đặt mục tiêu trở thành tập đoàn thủy sản hàng đầu với giá trị doanh nghiệp đạt một tỷ USD, hoàn thiện hệ thống quản trị hiện đại và xây dựng văn hóa doanh nghiệp vững mạnh, sẵn sàng chuyển giao cho thế hệ kế thừa để phát triển bền vững. Sau 25 năm, bước chuyển từ Aquafarm sang Aquatech đánh dấu cách Việt Úc định vị lại vai trò của mình: từ doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực tôm giống hướng đến Tập đoàn Công nghệ Thủy sản, với khoa học và đổi mới sáng tạo trở
61
thành nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng mới. Thông qua chiến lược này, Việt Úc tiếp tục theo đuổi mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam, tạo ra những giải pháp giúp người nuôi sản xuất hiệu quả và bền vững hơn, đồng thời từng bước đưa con tôm Việt và công nghệ Việt vươn ra thị trường toàn cầu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Khoa học, công nghệ sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản Phát biểu tại sự kiện, ông Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ghi nhận những đóng góp của Tập đoàn Việt Úc trong 25 năm qua, đặc biệt là việc kiên trì đầu tư vào nghiên cứu, khoa học, công nghệ và con người. Theo Thứ trưởng, giá trị trong hành trình của Việt Úc không chỉ nằm ở quy mô hay thị phần, mà còn ở
việc góp phần thúc đẩy ngành tôm chuyển từ dựa vào lợi thế tự nhiên sang dựa vào khoa học và công nghệ, từ cạnh tranh bằng sản lượng sang chất lượng và giá trị, từ tiếp nhận đến từng bước làm chủ công nghệ. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới xây dựng một ngành thủy sản có năng lực cạnh tranh cao và phát triển bền vững, Thứ trưởng nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ ngày càng giữ vai trò quyết định. Giá trị của sản phẩm thủy sản trong tương lai không chỉ được xác định bởi sản lượng mà còn bởi nguồn gen, công nghệ sinh học, dữ liệu, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc và năng lực tổ chức chuỗi giá trị. Từ thực tiễn phát triển của Việt Úc, Thứ trưởng Võ Văn Hưng kỳ vọng doanh nghiệp tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trên bốn phương diện: làm chủ các công nghệ lõi của ngành tôm; phát
triển ngành tôm xanh, tuần hoàn và phát thải thấp; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết doanh nghiệp – nhà khoa học – địa phương – người nuôi; và góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia cho tôm Việt Nam. Thứ trưởng nhấn mạnh: “Muốn có một quốc gia biển mạnh, phải có những doanh nghiệp mạnh. Muốn doanh nghiệp mạnh, phải làm chủ công nghệ. Muốn làm chủ công nghệ, phải đầu tư cho khoa học, đổi mới sáng tạo và con người.” Đồng thời, ông bày tỏ kỳ vọng Việt Úc tiếp tục là một trong những doanh nghiệp tiên phong để Việt Nam không chỉ được biết đến là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn, mà còn từng bước khẳng định vị thế quốc gia làm chủ công nghệ thủy sản.
Việt Úc
62 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Tầm quan trọng của nguồn nước đầu vào trong nuôi tôm và thủy sản Trong nuôi tôm và thủy sản, nguồn nước đầu vào là yếu tố quyết định đến chất lượng môi trường nuôi và hiệu quả sản xuất. Dù con giống tốt, thức ăn đạt tiêu chuẩn hay quy trình chăm sóc được kiểm soát chặt chẽ, nếu nguồn nước đầu vào không đảm bảo thì nguy cơ phát sinh dịch bệnh, tôm bị stress, chậm lớn và tỷ lệ hao hụt vẫn rất cao.
T
hực tế cho thấy, nước lấy từ sông, kênh, ao chứa hoặc giếng khoan thường mang theo nhiều tạp chất, chất hữu cơ, vi khuẩn, virus, nấm và các tác nhân gây bệnh. Nếu không được xử lý trước khi cấp vào ao nuôi, các mầm bệnh này có thể nhanh chóng xâm nhập và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống nuôi. Nhiều cơ sở vẫn sử dụng chlorine để khử trùng nguồn nước. Phương pháp này có hiệu quả trong một số trường hợp, nhưng đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ liều lượng và thời gian xử lý. Nếu sử dụng không đúng quy trình hoặc cấp nước quá sớm, chlorine còn dư có thể ảnh hưởng đến tôm, hệ vi sinh có lợi và làm mất cân bằng môi trường nước. Ngày nay, nhiều trang trại đang chuyển sang các giải pháp xử lý nước hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả khử khuẩn, giảm phụ thuộc vào hóa chất và cải thiện chất lượng nguồn nước. Trong đó, công nghệ Nano Bubble kết hợp Ozone là một trong những giải pháp được nhiều đơn vị quan tâm. Với kích thước bong bóng siêu
nhỏ (80–120 nm), NanoBubbles B.H.N giúp khí Ozone được phân tán đều và tồn tại lâu hơn trong nước, từ đó tăng hiệu quả tiếp xúc với vi khuẩn và các chất hữu cơ. Ozone hỗ trợ khử khuẩn, ôxy hóa và phân hủy các chất hữu cơ, khử mùi và cải thiện chất lượng nước. Sau khi hoàn thành phản ứng, Ozone tự phân hủy thành Oxy (O2), không để lại tồn dư hóa chất trong nước. Việc chủ động kiểm soát chất lượng nguồn nước đầu vào không chỉ góp phần giảm nguy cơ mang mầm bệnh vào ao nuôi mà còn giúp tạo môi trường ổn định cho tôm và thủy sản phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất và hướng đến mô hình nuôi an toàn, bền vững. Trong xu hướng nuôi trồng thủy sản hiện đại, ứng dụng công nghệ xử lý nước tiên tiến không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn góp phần xây dựng mô hình nuôi an toàn, bền vững và thân thiện với môi trường. Trong thời gian tới, B.H.N dự kiến ra mắt dòng sản phẩm vi sinh mới dành cho nuôi trồng thủy sản, bao gồm giải pháp vi sinh cải thiện chất lượng nước và
môi trường đáy ao, cùng dòng vi sinh hỗ trợ sức khỏe đường ruột, tiêu hóa và sức đề kháng. Sản phẩm được định hướng phát huy tối ưu hiệu quả khi sử dụng kết hợp với công nghệ bong bóng
Nano B.H.N, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường và sức khỏe vật nuôi trong quá trình nuôi.
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM Số điện thoại: 028.668.101.95/96 Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com
B.H.N
8.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 63
64 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Phòng bệnh xuất huyết, lở loét trên cá mú nuôi lồng bè Bệnh xuất huyết lở loét thường bùng phát vào mùa nắng nóng, gây chết hàng loạt trên cá mú nuôi lồng bè, đặc biệt tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ, làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất.
V
iệt Nam có đường bờ biển dài, nhiều vịnh và hải đảo, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá biển trong lồng bè, với các đối tượng chủ lực như cá mú (cá song), cá chim và cá giò. Hàng năm, nghề nuôi cá biển mang lại sản lượng lớn, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân ven biển. Tuy nhiên, thời gian gần đây, không ít hộ nuôi gặp thiệt hại do dịch bệnh khiến cá chết hàng loạt. Trên cá biển có thể gặp nhiều bệnh như bệnh do ký sinh trùng, bệnh xuất huyết lở loét (ghẻ), bệnh đường ruột… Trong đó, bệnh xuất huyết lở loét thường bùng phát vào mùa nắng nóng, gây chết hàng loạt trên cá mú nuôi lồng bè, đặc biệt tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ, làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất. Nguyên nhân Bệnh xuất huyết lở loét trên cá mú do vi khuẩn Vibrio spp. gây ra, thường xuất hiện ở các vùng nuôi
Cá mú con bị bệnh xuất huyết, lở loét
lồng bè có mật độ cao, lồng nuôi sử dụng trong thời gian dài và môi trường nước bị ô nhiễm. Khi kết hợp với điều kiện thời tiết nắng nóng, vi khuẩn phát triển mạnh, tấn công cá, gây bệnh xuất huyết lở loét và có thể dẫn đến chết hàng loạt nếu không được xử lý kịp thời. Dấu hiệu Dấu hiệu đầu tiên là cá giảm ăn, hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước. Vớt cá lên quan sát cá bị lở loét, hoặc xuất huyết, da cá sậm màu… Cá bị nặng thì vết lở loét rộng và sâu, vây nhợt nhạt… Các tác nhân cơ hội như nấm, protozoa, ký sinh trùng tấn công vết loét làm cho bệnh nặng thêm và gây cá chết nhanh hơn. Giải pháp phòng ngừa Nâng cao sức khỏe cho cá mú nuôi: Chọn mua cá giống từ cơ sở uy tín, có nguồn gốc rõ ràng. Sau khi vận chuyển về, nên tắm cá bằng nước ngọt trong 3 - 5 phút để giảm mầm bệnh do Vibrio spp. và loại bỏ những cá thể yếu. Tiếp theo, tắm BIO-OXYTETRA FOR AQUACULTURE với liều 100 g/m³ nước trong 15 - 30 phút. Trong quá trình nuôi, nên bổ sung Vitamin C thường xuyên vào khẩu phần ăn. Đối với cá nhỏ, kết hợp BIO NUTRI-FISH để bổ sung
dinh dưỡng. Đối với cá chậm lớn, bổ sung BIO-METASAL FOR AQUACULTURE (thành phần gồm Butaphosphan, Vitamin B12 và Vitamin C) nhằm thúc đẩy quá trình chuyển hóa thức ăn thành dinh dưỡng, giúp cá tăng trưởng tốt hơn. Khi thời tiết nắng nóng, có thể bổ sung thêm chất điện giải ELECTROLYTES để cân bằng điện giải trong cơ thể, góp phần nâng cao sức khỏe và sức chống chịu của cá. Giữ môi trường sạch và thông thoáng: Trước khi thả cá, cần vệ sinh sạch lồng bè và chuẩn bị môi trường nuôi phù hợp. Trong quá trình nuôi, duy trì chất lượng nước ổn định, bảo đảm hàm lượng ôxy hòa tan và hạn chế để nước bị ô nhiễm. Khi khu vực nuôi đứng nước, có thể vận hành máy cung cấp ôxy để giảm nguy cơ cá bị sốc. Bên cạnh đó, cần thường xuyên kiểm tra lồng bè, điều chỉnh lượng thức ăn hợp lý, không để dư thừa, đặc biệt sau các đợt mưa lớn hoặc khi thời tiết thay đổi. Đồng thời, theo dõi sức khỏe đàn cá, phát hiện và xử lý kịp thời cá bị bệnh để hạn chế lây lan thành dịch.
Trị bệnh Dùng kháng sinh BIO-OXYTETRA FOR AQUACULTURE hoặc BIODOXY 500 FOR AQUACULTURE cho cá ăn liên tục từ 5 - 7 ngày. Liều trung bình 0,1 g/kg cá. Sau khi kết thúc liệu trình kháng sinh, cho cá ăn BIO-VIZYME NEW FOR FISH để cấy lại hệ vi sinh có lợi trong đường ruột, đồng thời kết hợp BIOSORBITOL FOR FISH (với thành phần chính gồm Sorbitol, Lysin, Methionine, Inositol, Taurine và các vitamin nhóm B...) nhằm tăng cường chức năng gan. Cho cá ăn liên tục trong 7 ngày để ngăn chặn tình trạng bỏ ăn sau khi dùng kháng sinh, kích thích cá bắt mồi và giúp tiêu hóa thức ăn tốt hơn. Bên cạnh đó, tắm BIOPARACIDE FOR AQUACULTURE (thành phần Bronopol) với liều 10 ml/lồng 40 m² (thực hiện khi nước tĩnh). Sản phẩm có hiệu quả trong phòng và trị nấm, protozoa, ký sinh trùng tấn công các vết thương trên cơ thể cá, giúp cá nhanh hồi phục. Đặng Hồng Đức Cố vấn kỹ thuật Công ty liên doanh Bio Pharmachemie
8.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 65
Xử lý triệt để nấm và vi khuẩn có hại trong ao tôm giống và tôm thịt Trong sản xuất giống và nuôi tôm thương phẩm, nấm và vi khuẩn có hại là nguyên nhân gây thiệt hại nặng nề cho vụ nuôi. Đặc biệt như nấm đồng tiền (nấm chân chó) trong các ao nuôi lâu năm, nấm gây dính chân trong sản xuất giống và vi khuẩn có hại gây bệnh cho tôm nuôi.
BEC 200 Vi sinh chuyên xử lý chất hữu cơ dư thừa - ức chế triệt đển Vibrio spp., với các loài vi khuẩn như Bacillus subtilis, B. pumilus, B. amyloliquefaciens… Nguyên nhân - Nấm đồng tiền hay còn gọi là nấm chân chó, theo cách gọi dân gian của người nuôi, thực chất là một loại địa y chứ không đơn thuần là một loại nấm. - Nấm gây dính chân tôm giống thường xuất hiện ở giai đoạn Zoea 2. Khi nước cấp vào bể ương chưa được xử lý kỹ, cho ăn tảo khô quá sớm hoặc kiểm soát lượng tảo cho ăn không chặt chẽ dẫn đến dư thừa chất hữu cơ tạo điều kiện cho nấm phát triển. - Ngoài môi trường nước và bùn đáy ao, những nơi nấm bám vào cũng là nơi cư trú cho các loài vi khuẩn có hại gây bệnh cho tôm nuôi. Tác hại - Nấm đồng tiền có mùi tanh rất hấp dẫn với tôm nên tôm dễ dàng ăn phải các cá thể nấm này. Khi vào trong đường ruột, nấm sẽ sản sinh ra độc tố gây
PROCOZOLL Enzyme đậm đặc giúp phân hủy mạnh mẽ các chất hữu cơ lơ lửng, kiểm soát tảo với các loại enzyme như Protease, Amylase,.. bệnh đường ruột làm tôm bỏ ăn, từ đó tôm ốp thân, còi cọc, chậm lớn và có thể chết. - Ở giai đoạn Zoea 2, khi bị nấm gây dính chân, ấu trùng tôm sẽ không thể di chuyển để bắt mồi, không thể chuyển giai đoạn dẫn đến chết. - Khi tôm ăn phải các cá thể nấm có vi khuẩn cư trú, các vi khuẩn có hại này sẽ là tác nhân cơ hội gây bệnh khi tôm đã bị bệnh đường ruột, gây thiệt hại nặng nề cho vụ nuôi. Cách xử lý - Đối với các ao đã từng bị nhiễm nấm đồng tiền, thì bắt buộc khâu tẩy nấm và tiêu diệt bào tử nấm cần được chú trọng và xử lý một cách triệt để trước khi thả tôm, kết hợp với việc sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý nước nhằm ức chế vi khuẩn có hại và bổ sung lợi khuẩn cho môi trường. - Đối với ao nuôi đang có tôm:
SLUDGE REMOVER TABLET Vi sinh dạng viên nén chuyên xử lý nhớt bạt - ức chế nấm đồng tiền sau 24 - 48h với các chủng vi khuẩn hoạt lực mạnh như B. amyloliquefaciens B.subtilis, B. pumilus,… Phải đặc biệt lưu ý khi dùng biện pháp cơ học như chà, tẩy các cá thể nấm, vì khi làm việc này có thể vô tình làm cho các bào tử nấm phát tán mạnh hơn và các cá thể nấm khi bị chà bong tróc ra sẽ phát sinh độc tố khi tôm ăn phải. Giảm và kiểm soát lượng thức ăn cho ăn, bổ sung các dưỡng chất hỗ trợ hệ tiêu hóa tôm. Nâng cao độ đục hoặc mực nước nhằm làm giảm ánh sáng, ngăn cản cản sự quang hợp của nấm sẽ làm nấm chết. Tăng cường quạt nước, sục khí. Tránh cho ăn gần bờ
Biện pháp sinh học: bổ sung chế phẩm vi sinh ức chế nấm và vi khuẩn có hại. - Đối với nấm gây dính chân ấu trùng ở giai đoạn Zoea 2: Xử lý kỹ nguồn nước cấp vào bể ương. Kiểm soát chất lượng thức ăn và lượng cho ăn để hạn chế chất hữu cơ dư thừa. Quản lý chặt chẽ môi trường nước trong bể ương Định kỳ xi phông đáy. Biện pháp sinh học: dùng chế phẩm vi sinh xử lý nguồn nước cấp và môi trường nước trong quá trình ương nhằm ức chế vi khuẩn có hại và bổ sung lợi khuẩn để xử lý lượng chất hữu cơ dư thừa trong bể. Đề xuất giải pháp từ Thái Nam Việt Nấm và vi khuẩn có hại gây thiệt hại không nhỏ cho vụ nuôi và rất khó để xử lý nếu đã bị nhiễm. Việc phát hiện sớm nấm xuất hiện trong ao sẽ giúp cho việc xử lý nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Sử dụng chế phẩm sinh học để khống chế nấm và vi khuẩn mang lại hiệu quả cao và không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước, đảm bảo sức khỏe và sự phát triển cho ấu trùng và tôm nuôi, hạn chế được tổn thất cho vụ nuôi.
Thái Nam Việt
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT SINH HÓA THÁI NAM VIỆT Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, P. Tăng Nhơn Phú, TP. Hồ Chí Minh ĐT: 091 686 5938 - 0853895939 Email: info@thainamviet.com - Website: thainamviet.com
66 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Dinh dưỡng tối ưu cho nuôi trồng thủy sản Trong bối cảnh chi phí thức ăn chiếm phần lớn giá thành sản xuất, nâng cấp dinh dưỡng không còn đơn thuần là tăng hàm lượng protein mà hướng đến tối ưu toàn diện công thức thức ăn. Sự cân đối giữa protein, chất béo và các axit amin thiết yếu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, cải thiện tăng trưởng, tăng sức đề kháng và hướng đến sản xuất thủy sản bền vững. Tối ưu công thức thức ăn Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng, quyết định trực tiếp đến quá trình hình thành mô cơ và tốc độ tăng trưởng của tôm, cá, đồng thời cũng là nguyên liệu có giá thành cao nhất trong công thức thức ăn. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng protein không chỉ phụ thuộc vào hàm lượng mà còn ở chất lượng nguồn nguyên liệu, khả năng tiêu hóa và sự cân đối với các dưỡng chất khác, đặc biệt là các axit amin thiết yếu. Khi protein không được tiêu hóa và hấp thu hiệu quả, phần dư thừa sẽ bị đào thải, vừa làm tăng chi phí thức ăn, vừa gia tăng lượng chất
hữu cơ và các hợp chất chứa nitơ trong môi trường nuôi Bên cạnh protein, chất béo là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng trong khẩu phần thức ăn thủy sản, đồng thời hỗ trợ hấp thu các vitamin tan trong chất béo như A, D, E và K. Việc duy trì hàm lượng chất béo ở mức phù hợp không chỉ giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng cho các hoạt động sinh trưởng và trao đổi chất mà còn tạo nguồn năng lượng dự trữ, giúp tôm, cá thích nghi tốt hơn với những biến động của điều kiện môi trường. Ngoài ra, chất béo được cân đối hợp lý trong khẩu phần còn góp phần nâng cao tỷ lệ
sống, cải thiện sức khỏe và hỗ trợ đáp ứng miễn dịch của vật nuôi. Một yếu tố ngày càng được quan tâm trong công thức thức ăn hiện đại là sự cân đối giữa hai axit amin thiết yếu Methionine và Cystine. Methionine tham gia vào quá trình tổng hợp protein, hỗ trợ phát triển mô cơ và cải thiện khả năng bắt mồi. Trong khi đó, Cystine là tiền chất tham gia tổng hợp Glutathione - một chất chống ôxy hóa nội sinh có vai trò bảo vệ tế bào, đặc biệt là gan tụy của tôm và các cơ quan nội tạng của cá trước tác động của stress môi trường. Sự cân đối giữa protein, chất béo và các axit amin thiết yếu không chỉ góp phần cải thiện tốc độ tăng trưởng mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và hạn chế lượng chất thải phát sinh trong quá trình nuôi. Nâng cấp dinh dưỡng theo hướng toàn diện Từ định hướng này, Công ty New Hope Vĩnh Long đã tập trung nghiên cứu và cải tiến công thức dinh dưỡng của nhiều dòng thức ăn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng cao của người nuôi. Đối với dòng thức ăn T902 dành cho tôm thẻ chân trắng, công ty đã nâng hàm lượng protein từ
42% lên 43%, đồng thời tăng hàm lượng chất béo tổng số từ 3% lên 5% và nâng tỷ lệ Methionine + Cystine từ 0,8% lên 0,9%. Việc điều chỉnh đồng thời các chỉ tiêu dinh dưỡng giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu tăng trưởng của tôm trong điều kiện nuôi mật độ cao, đồng thời hỗ trợ cải thiện khả năng hấp thu dưỡng chất và nâng cao sức khỏe đàn tôm. Đối với các dòng thức ăn dành cho cá, chiến lược “Nâng cấp độ đạm - Nâng tầm hiệu quả” cũng được áp dụng trên nhiều sản phẩm. Cụ thể, FB32 được nâng từ 32N lên 33N và chuyển sang phiên bản FB32 Plus; DH02 và RP203 được nâng từ 30N lên 32N. Riêng DH30+, phiên bản cải tiến từ dòng RP004, không chỉ tăng hàm lượng protein mà còn nâng hàm lượng chất béo từ 3% lên 6%, góp phần cải thiện khả năng hấp thu dinh dưỡng, giúp cá tăng trưởng nhanh, đồng đều và nâng cao tỷ lệ thịt sau thu hoạch. Những cải tiến về công thức dinh dưỡng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, cải thiện FCR và cung cấp nguồn năng lượng phù hợp cho quá trình sinh trưởng của cá. Đồng thời, việc cân đối các thành phần dinh dưỡng giúp tăng khả năng hấp thu, hỗ trợ tăng trưởng đồng đều, rút ngắn thời gian nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Đây cũng là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển thủy sản theo hướng hiệu quả, tiết kiệm chi phí và bền vững. New Hope Vĩnh Long – Vì nông dân mưu lợi, vì người dùng tạo phúc! New Hope Vĩnh Long
8.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 67
MICRO-888 cao cấp
Nâng cấp chất lượng, giữ nguyên giá thành
T
rong bối cảnh ngành nuôi tôm đang gặp nhiều khó khăn, giá tôm ở mức thấp, người nuôi luôn cần những giải pháp tối ưu chi phí nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả. Thấu hiểu điều đó, Công ty TNHH Quốc tế Hải Mã quyết định nâng cấp chất lượng sản phẩm MICRO-888 nhưng vẫn giữ nguyên giá bán, nhằm đồng hành và chia sẻ cùng Quý khách hàng. MICRO-888 Cao Cấp có gì mới và nổi trội? - Tăng hàm lượng vi sinh và enzyme, giúp nâng cao hiệu quả xử lý, cải thiện môi trường ao nuôi và tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng.
- Bổ sung các vitamin thiết yếu như Vitamin K3, B1, B2, B6, E và C, giúp tăng sức đề kháng, giảm stress, hỗ trợ tôm phát triển khỏe mạnh. - Hiệu quả vượt trội hơn khoáng thông thường, nhờ sự kết hợp giữa khoáng, vi sinh, enzyme và vitamin trong cùng một sản phẩm. - Liều lượng sử dụng thấp hơn, giúp tiết kiệm chi phí cho mỗi lần xử lý nhưng vẫn mang lại hiệu quả tối ưu. Công dụng nổi bật của MICRO-888 - Tinh khoáng hữu cơ kết hợp với vi sinh, enzyme và vitamin giúp chống sốc, tăng sức đề kháng cho tôm.
- Kích thích tôm lột xác nhanh, cứng vỏ sau lột, giúp tôm khỏe, tăng trưởng tốt và hạn chế hao hụt. - Bổ sung khoáng chất cần thiết, ổn định và cân bằng pH ao nuôi, góp phần duy trì môi trường thuận lợi cho tôm phát triển. Cam kết đồng hành cùng người nuôi Chúng tôi không chỉ mang đến một sản phẩm chất lượng mà còn mong muốn đồng hành cùng
Quý khách hàng bằng những giải pháp thiết thực, giúp giảm chi phí – nâng cao hiệu quả – tối ưu lợi nhuận trong giai đoạn ngành tôm còn nhiều thách thức. MICRO-888 – Nâng cấp chất lượng, giữ nguyên giá thành. Hiệu quả vượt trội, đồng hành cùng thành công của người nuôi tôm!
Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Quốc tế Hải Mã 855 đường 2/4, Phường Bắc Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Hotline: 0363 007 768 - Website: www.haima.com.vn
Hải Mã
68 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Auqaproducts hướng đến kinh tế tuần hoàn xanh Aquaproducts phát triển công nghệ tận dụng phụ phẩm thủy sản để sản xuất protein thủy phân, hướng tới mô hình “zero waste”.
A
quaproducts được cấp phép hoạt động tại Việt Nam vào tháng 4/2023, đặt nhà máy tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc 2, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cũ, nay thuộc tỉnh Tây Ninh sau sáp nhập hành chính. Về quá trình hình thành, năm 2022 Aquaproducts hợp tác với Mirova Sustainable Ocean Fund để xây dựng nhà máy Marine Biotech Vietnam chuyên sản xuất protein thủy phân dạng bột từ phụ phẩm thủy sản. Nhà máy chính thức khánh thành và đi vào hoạt động ngày 11/6/2024. Nhà máy thủy phân tiên tiến của Aquaproducts tập trung sản xuất protein thủy phân cho thị trường thức ăn chăn nuôi châu Á và thức ăn thú cưng, đồng thời củng cố vai trò của Aquaproducts như một trung tâm cung ứng nguyên liệu biến tính chất lượng cao và bền vững trong khu vực. Ông Paul Vincent, Giám đốc sản phẩm và tiếp thị Aquaproducts cho biết, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư từ Pháp. Hiện công ty
Aquaproducts phát triển các giải pháp công nghệ sinh học biển nhằm nâng cao giá trị phụ phẩm thủy sản
phát triển ba dòng sản phẩm chính gồm bột cá biển thủy phân, bột cá hồi thủy phân và bột tôm thủy phân. Điểm đặc trưng của các sản phẩm này là được sản xuất từ phụ phẩm của ngành chế biến thủy sản như tôm, cá nhằm tối ưu giá trị nguyên liệu và giảm phát thải ra môi trường. Theo doanh nghiệp, Aquaproducts hoạt động trong các lĩnh vực gồm công nghệ sinh học biển, tái chế và nâng giá trị phụ phẩm thủy sản thông qua công nghệ thủy phân enzyme, sản xuất protein chức năng từ hải sản, nguyên liệu cho ngành thức ăn chăn nuôi, thủy sản và thức ăn thú cưng. Công ty cũng nghiên cứu chiết xuất chitin
8.2026 từ vỏ tôm để phát triển các giải pháp dinh dưỡng bền vững. Aquaproducts theo đuổi mô hình “zero waste”, tận dụng phụ phẩm thủy sản để tạo ra nguyên liệu giá trị cao, hạn chế chất thải và giảm sử dụng hóa chất mạnh trong sản xuất. Công nghệ cốt lõi là thủy phân enzyme nhằm chiết xuất protein biển, chitin phục vụ ngành thức ăn chăn nuôi và thức ăn thủy sản. Hiện nhà máy của Aquaproducts đang cung cấp nguyên liệu cho thị trường Việt Nam, đồng thời đăng ký xuất khẩu sang Trung Quốc, Thái Lan, Philippines và châu Âu. Sau hơn hai năm tham gia thị trường, công ty đã nhận được nhiều đơn hàng từ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn tại Việt Nam cùng nhiều đối tác tại Thái Lan. Trong đó, thị trường Thái Lan đặc biệt ưa chuộng sản phẩm bột cá hồi thủy phân phục vụ sản xuất thức ăn thú cưng. Do Việt Nam chưa có nguồn phụ phẩm cá hồi lớn, Aquaproducts hiện nhập nguyên liệu thủy phân từ các đối tác tại Na Uy, trong đó có Scanbio, để phục vụ sản xuất tại Việt Nam. Đồng thời, doanh nghiệp cũng hợp tác với Maqpro Biotech nhằm phát triển nguồn nguyên liệu thủy sản trong khu vực.
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 69 Theo đánh giá của doanh nghiệp và các chuyên gia phát triển bền vững của Pháp, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hiện còn lãng phí lượng lớn protein từ phụ phẩm chế biến tôm. Phần dịch sau chế biến thường bị thải trực tiếp ra môi trường, vừa gây ô nhiễm nguồn nước vừa làm thất thoát nguồn protein có giá trị cao. Aquaproducts ước tính lượng protein bị bỏ đi có thể tương đương khoảng 2 tỷ USD mỗi năm. Từ thực tế này, doanh nghiệp xây dựng mô hình tận dụng nước thải giàu protein, để cô đặc thành nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản. Giải pháp này vừa góp phần bảo vệ môi trường, vừa tạo thêm việc làm và nâng cao giá trị cho ngành chế biến thủy sản. Dự án của Aquaproducts được triển khai theo hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là xây dựng nhà máy tại Tây Ninh để cung ứng nguyên liệu cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi. Giai đoạn tiếp theo là xây dựng thêm nhà máy tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tiếp cận trực tiếp vùng nguyên liệu, giảm thời gian vận chuyển và hạn chế tình trạng phân hủy protein. Theo doanh nghiệp, nhà máy thứ hai tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện đang trong
Các sản phẩm được sản xuất từ phụ phẩm của ngành chế biến thủy sản
giai đoạn hoàn thiện. Việc đặt nhà máy gần khu vực chế biến thủy sản giúp giữ độ tươi của nguyên liệu, giảm hàm lượng đạm phân hủy (TVN), từ đó nâng cao chất lượng thành phẩm. Aquaproducts cho biết nhà máy đặt mục tiêu đạt công suất khoảng 10.000 tấn protein thủy phân dạng bột mỗi năm, hướng đến thị trường châu Á và mở rộng chuỗi nguyên liệu sinh học biển bền vững trong khu vực.
Aquaproducts
70 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
18 con/kg
Cùng sú CP thắng EHP trên ao lót bạt đáy 100% Mô hình nuôi tôm sú C.P. trên ao lót bạt đáy 100% của Anh Dương Thành Cận tại xã Long Phú, thành phố Cần Thơ với đàn tôm tăng trưởng nhanh, đạt kích cỡ khoảng 18 con/kg trong điều kiện áp lực EHP. Kết quả thực tế này thu hút sự quan tâm của nhiều hộ nuôi trong và ngoài khu vực.
Khởi đầu bằng con giống chất lượng Theo Anh Dương Thành Cận, việc lựa chọn con giống là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của cả vụ nuôi. Sau khi được đội ngũ kỹ thuật C.P. Việt Nam tư vấn, Anh quyết định lựa chọn tôm giống sú C.P. thắng EHP CPF SUPER MONODON của C.P. Việt Nam để thả nuôi trên hệ thống ao bạt đáy kết hợp máy cho ăn và thức ăn chuyên dụng dành cho tôm sú. Kết quả thực tế từ ao nuôi Sau 5 tháng nuôi, đàn tôm đạt khoảng 18 con/kg, với sản lượng dự kiến khoảng 13 tấn. Mặc dù đã đạt kích cỡ thương phẩm, anh Dương Thành Cận vẫn tiếp tục nuôi do đàn tôm còn tăng trưởng tốt và môi trường ao luôn sạch, ổn định. Theo Anh Cận, trước đây để nuôi tôm sú đạt khoảng 20 con/kg thường mất ít nhất 6
tháng. Với tôm sú C.P. thắng EHP CPF SUPER MONODON cùng quy trình nuôi hiện nay, thời gian này được rút xuống còn hơn 4 tháng, qua đó rút ngắn chu kỳ nuôi và nâng cao hiệu quả sản xuất. Quy trình nuôi tạo nên khác biệt Theo anh Dương Thành Cận, quy trình nuôi đồng bộ là một trong những yếu tố tạo nên hiệu quả của mô hình. Tôm sú C.P. thích nghi tốt trên ao lót bạt đáy 100%; việc kết hợp máy cho ăn với thức ăn chuyên dụng giúp kiểm soát lượng thức ăn, duy trì môi trường ao sạch và tạo nền tảng cho đàn tôm tăng trưởng ổn định. Điểm đến của nhiều người nuôi Những kết quả từ mô hình của anh Dương Thành Cận đã thu hút nhiều đoàn tham quan trong và ngoài khu vực đến tham quan thực tế. Tại đây, các đoàn trực tiếp quan sát đàn tôm,
8.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 71
Anh Cận cùng nhân viên C.P. thăm tôm sú nuôi trên ao bạt đáy môi trường ao nuôi, hệ thống ao lót bạt đáy 100% và quy trình chăm sóc, đồng thời trao đổi kinh nghiệm sản xuất cùng anh Cận và đội ngũ kỹ thuật C.P. Việt Nam. Đồng hành cùng người nuôi Bên cạnh chất lượng con giống, C.P. Việt Nam còn đồng hành cùng khách hàng thông qua đội ngũ kỹ thuật trong suốt quá trình nuôi. Kết quả từ mô hình của anh Dương Thành Cận cho thấy sự kết hợp giữa con giống, thức ăn chuyên dụng và giải pháp kỹ thuật đồng bộ đã phát huy hiệu quả trong điều kiện áp lực EHP.
C.P. Việt Nam
Anh Dương Thành Cận (bên trái) cùng đại diện C.P. Việt Nam tại ao nuôi
Nhiều đoàn khách hàng cùng nhân viên C.P. Việt Nam từ các khu vực đến tham quan mô hình nuôi
72 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
SOTIBAC
Chế phẩm sinh học xử lý môi trường ao nuôi hướng đến nuôi trồng thủy sản bền vững
T
rong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản đang chuyển mạnh từ phương thức xử lý môi trường bằng hóa chất sang các giải pháp sinh học. Trong xu hướng đó, các chế phẩm sinh học chứa vi sinh vật có lợi ngày càng được ứng dụng rộng rãi nhờ khả năng cải thiện chất lượng nước, phân hủy chất hữu cơ và hạn chế sự phát sinh khí độc. SOTIBAC là một trong những chế phẩm được phát triển theo định hướng này, sử dụng sự kết hợp giữa vi khuẩn Bacillus subtilis và nấm men Saccharomyces cerevisiae để hỗ trợ quản lý môi trường ao nuôi tôm và cá. Bên cạnh đó, sản phẩm SOTIBAC đã đăng ký thương hiệu bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệ.
Đồng thời, Bacillus còn có khả năng cạnh tranh dinh dưỡng và không gian sống với nhiều vi khuẩn gây bệnh, góp phần duy trì sự cân bằng hệ vi sinh trong môi trường nước. Các nghiên cứu cũng cho thấy Bacillus subtilis là một trong những chủng vi sinh được sử dụng phổ biến nhất trong chế phẩm sinh học thủy sản nhờ tính ổn định và hiệu quả xử lý môi trường. Bên cạnh đó, Saccharomyces cerevisiae đóng vai trò hỗ trợ cân bằng hệ vi sinh thông qua việc cung cấp vitamin nhóm B, acid amin, enzyme và các hoạt chất sinh học. Nấm men còn góp phần kích thích sự phát triển của các vi sinh vật có lợi khác, hỗ trợ quá trình phân hủy chất hữu cơ và góp phần cải thiện sức khỏe vật nuôi.
Thành phần vi sinh – Nền tảng tạo nên hiệu quả của SOTIBAC SOTIBAC được phối hợp từ Bacillussubtilis,Saccharomyces cerevisiae. Hàm lượng vi sinh vật có lợi đạt tối thiểu 1010 CFU/kg cho mỗi chủng, giúp bổ sung một lượng lớn vi sinh vật có ích vào hệ sinh thái ao nuôi. Bacillus subtilis là nhóm vi khuẩn hiếu khí có khả năng sinh nhiều enzyme ngoại bào như protease, amylase, lipase và cellulase. Những enzyme này giúp phân giải nhanh thức ăn dư thừa, phân tôm cá, xác tảo và các hợp chất hữu cơ tích tụ dưới đáy ao, từ đó giảm lượng bùn đáy và hạn chế sự hình thành các khí độc như NH3 và H2S.
Cơ chế cải thiện môi trường ao nuôi Khi được bổ sung vào ao, các vi sinh vật trong SOTIBAC nhanh chóng thích nghi và phát triển trong cột nước cũng như lớp bùn đáy. Chúng sử dụng các hợp chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng, thúc đẩy quá trình khoáng hóa chất hữu cơ thành các hợp chất đơn giản hơn. Nhờ đó, lượng bùn đáy giảm dần, nước ao trở nên trong hơn và hàm lượng ôxy hòa tan được duy trì ổn định. Việc giảm tích tụ chất hữu cơ đồng nghĩa với việc hạn chế nguồn cơ chất để hình thành các khí độc như amoniac (NH3), hydro sulfide (H2S) và nitrit (NO2-). Đây là những
Sản phẩm chế phẩm sinh học SOTIBAC yếu tố thường gây stress, giảm tăng trưởng và làm tăng nguy cơ bùng phát bệnh trên tôm, cá. Khi môi trường được cải thiện, vật nuôi có điều kiện sinh trưởng thuận lợi hơn, giảm hiện tượng nổi đầu, giảm sốc môi trường và nâng cao tỷ lệ sống. Lợi ích trong nuôi tôm và nuôi cá Ở các ao nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, lượng thức ăn sử dụng lớn khiến chất hữu cơ tích tụ nhanh. Việc định kỳ sử dụng SOTIBAC giúp đẩy nhanh quá trình phân hủy mùn bã hữu cơ, hạn chế hình thành lớp bùn đen dưới đáy ao, giảm mùi hôi và cải thiện độ trong của nước. Điều này góp phần duy trì môi trường ổn định, giảm áp lực của vi khuẩn gây bệnh và hỗ trợ tôm phát triển khỏe mạnh. Đối với ao nuôi cá, đặc biệt là những mô hình có mật độ cao hoặc nuôi kéo dài, sản phẩm giúp hạn chế hiện tượng nước ô nhiễm do phân cá và thức ăn dư thừa. Môi trường nước ổn định hơn giúp giảm biến động các chỉ tiêu chất lượng nước, hạn chế hiện tượng cá nổi đầu do thiếu ôxy và tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng. Xu hướng sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản Việc ứng dụng chế phẩm sinh
học đang trở thành giải pháp được khuyến khích trong nuôi trồng thủy sản hiện đại. Khác với hóa chất xử lý môi trường, vi sinh vật có lợi hoạt động theo cơ chế sinh học tự nhiên, góp phần duy trì cân bằng hệ sinh thái ao nuôi, giảm nguy cơ tồn dư hóa chất trong sản phẩm và hướng tới phát triển bền vững. Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận việc sử dụng các chủng Bacillus trong ao nuôi giúp cải thiện chất lượng nước, giảm mật độ vi khuẩn gây bệnh và nâng cao hiệu quả nuôi ở nhiều đối tượng thủy sản. Kết luận SOTIBAC là chế phẩm sinh học xử lý môi trường ao nuôi dựa trên sự kết hợp giữa Bacillus subtilis và Saccharomyces cerevisiae, hướng đến mục tiêu phân hủy nhanh chất hữu cơ, giảm khí độc, cải thiện chất lượng nước và duy trì hệ vi sinh có lợi trong ao nuôi. Khi được sử dụng đúng kỹ thuật và kết hợp với quản lý thức ăn, quản lý đáy ao và các chỉ tiêu môi trường, sản phẩm góp phần xây dựng mô hình nuôi tôm, nuôi cá an toàn sinh học, giảm rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Mỹ Phú
CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT KINH DOANH MỸ PHÚ Địa chỉ: Số 226A, Ấp Tầm Vu 1, Xã Thạnh Hòa, TP. Cần Thơ Điện thoại: 02933 953 303 Mail: myphu6473@gmail.com Website: myphubio.com.vn
8.2026
MÔ HÌNH | 73 kinh nghiệm, phần lớn các khâu trong mô hình đều được quản lý theo quy trình kỹ thuật. Hiệu quả của mô hình đã được chứng minh qua những vụ nuôi đầu tiên. Vụ gần đây, gia đình anh thu hoạch khoảng 18 tấn tôm thương phẩm. Với giá bán dao động từ 160.000 - 200.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí đầu tư và sản xuất, mô hình mang lại lợi nhuận khoảng 2 tỷ đồng.
Công nghệ mở lối cho nghề nuôi tôm Hệ thống nhà màng giúp hạn chế tác động của mưa lớn, nắng nóng và biến động nhiệt độ Ảnh: Báo Quảng Ninh
Đầu tư công nghệ không còn là lựa chọn của riêng các doanh nghiệp lớn mà đang dần trở thành hướng đi của nhiều hộ nuôi tôm. Mô hình của anh Nguyễn Văn Biền (xã Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh) cho thấy việc thay đổi phương thức sản xuất có thể giúp người nuôi chủ động hơn trong kiểm soát môi trường, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Đầu tư công nghệ Trên vùng nuôi tôm ven biển xã Hải Ninh, khu nuôi của anh Nguyễn Văn Biền gây ấn tượng với hệ thống nhà màng khép kín và các bể nuôi được bố trí đồng bộ. Bên trong, hệ thống sục khí vận hành liên tục, kết hợp các thiết bị cấp nước, xử lý nước và kiểm soát các chỉ tiêu môi trường. Hình ảnh này khác hẳn
với những ao đất truyền thống vốn chịu nhiều tác động của thời tiết và điều kiện tự nhiên. Theo anh Biền, quyết định chuyển sang nuôi tôm công nghệ cao xuất phát từ nhiều năm gắn bó với nghề. Thực tế cho thấy, chỉ một đợt mưa lớn, nắng nóng kéo dài hay biến động môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến cả vụ nuôi. Trong khi đó, yêu cầu về chất lượng sản phẩm và tính ổn định trong sản xuất ngày càng cao khiến phương thức nuôi truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế. Sau quá trình tìm hiểu, đầu năm 2024, anh quyết định đầu tư khu nuôi tôm trong nhà màng trên diện tích gần 1 ha. Toàn bộ khu nuôi gồm 29 bể nổi, mỗi bể rộng khoảng 130 m², được trang bị hệ thống xử lý nước, cấp ôxy và kiểm soát các yếu tố môi trường. Tổng vốn đầu tư lên tới hàng tỷ đồng, đây là quyết định không hề dễ dàng đối với một hộ nuôi thủy sản. Anh Biền cho biết, khi triển khai, không ít người thân và bạn bè bày tỏ sự lo ngại bởi mức đầu tư lớn trong khi mô hình còn khá mới tại địa phương. Tuy nhiên, theo anh, nếu muốn nâng cao hiệu quả thì người nuôi buộc phải thay đổi tư duy. Đầu tư công nghệ không đơn thuần để tăng năng suất mà quan trọng hơn là tạo khả năng kiểm soát tốt hơn các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi, giảm sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Thay vì nuôi theo
Hướng đi bền vững Theo anh Biền, giá trị lớn nhất của mô hình không chỉ nằm ở lợi nhuận mà còn ở sự ổn định trong sản xuất. Khi môi trường được quản lý tốt, người nuôi có thể chủ động xây dựng kế hoạch cho từng vụ, hạn chế những rủi ro phát sinh từ thời tiết và dịch bệnh. Tại mô hình của anh, các chỉ tiêu môi trường được theo dõi thường xuyên để kịp thời điều chỉnh khi cần thiết. Hệ thống nhà màng giúp hạn chế tác động của mưa lớn, nắng nóng và biến động nhiệt độ, trong khi hệ thống sục khí cùng quy trình xử lý nước góp phần duy trì điều kiện sống ổn định cho tôm. Nhờ đó, đàn tôm sinh trưởng đồng đều, tỷ lệ sống được cải thiện và nguy cơ phát sinh dịch bệnh cũng giảm đáng kể. Ngay sau khi thu hoạch, toàn bộ hệ thống bể nuôi được vệ sinh, cải tạo và xử lý trước khi bước vào chu kỳ mới. Quy trình này giúp loại bỏ chất thải, giảm mầm bệnh tồn lưu và tạo điều kiện thuận lợi cho vụ nuôi tiếp theo. Hiện gia đình anh đã thả khoảng 800.000 con giống, mở đầu một chu kỳ sản xuất mới. Mô hình của anh Nguyễn Văn Biền không còn là trường hợp riêng lẻ. Tại nhiều vùng nuôi ven biển Quảng Ninh, ngày càng có thêm những hộ mạnh dạn đầu tư nhà màng, ao lắng, hệ thống xử lý nước, thiết bị sục khí và các giải pháp quản lý môi trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Thực tế cho thấy, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dịch bệnh diễn biến phức tạp, những mô hình có khả năng kiểm soát tốt môi trường nuôi sẽ có nhiều lợi thế hơn về năng suất cũng như hiệu quả kinh tế. Mặc dù chi phí đầu tư ban đầu khá lớn, song nếu được vận hành đúng kỹ thuật, người nuôi có thể giảm đáng kể rủi ro, ổn định sản lượng và nâng cao giá trị sản phẩm.
Nguyễn Hằng
74 | MÔ HÌNH
thuysanvietnam.com.vn HỎI - ĐÁP
Hỏi: Việc bổ sung chất khoáng cho tôm nên được thực hiện vào thời điểm nào để đạt hiệu quả cao? Trong quá trình sử dụng cần lưu ý những vấn đề gì? (Phan Văn Tài, xã Giao Thủy, tỉnh Ninh Bình) Trả lời: Thời điểm bổ sung khoáng có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng hấp thu của tôm. Nên bổ sung khoáng vào buổi chiều hoặc trong khoảng từ 22 - 24 giờ, bởi đây là thời điểm tôm chuẩn bị bước vào quá trình lột xác. Trong giai đoạn này, nhu cầu ôxy của tôm tăng lên đáng kể và sau khi lột xác, tôm sẽ nhanh chóng hấp thu các khoáng chất từ môi trường nước để hình thành lớp vỏ mới. Quá trình hấp thu khoáng thường diễn ra mạnh nhất trong khoảng 2 - 4 giờ sáng, do đó việc bổ sung khoáng trước thời điểm này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng. Bên cạnh việc lựa chọn thời điểm phù hợp, người nuôi cũng cần theo dõi biểu hiện của tôm để điều chỉnh chế độ bổ sung khoáng. Nếu tôm xuất hiện tình trạng mềm vỏ kéo dài hoặc khó lột xác, có thể định kỳ bổ sung khoáng xuống ao kết hợp trộn khoáng vào thức ăn theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất nhằm hỗ trợ quá trình hình thành vỏ và phục hồi sau lột xác. Đối với tôm từ 30 - 65 ngày tuổi, đây là giai đoạn tăng trưởng mạnh, nhu cầu khoáng, đặc biệt là canxi (Ca) và magie (Mg), tăng cao. Nếu tôm sinh trưởng chậm hoặc vỏ mỏng, mềm trong giai đoạn này, người nuôi nên kiểm tra các chỉ tiêu môi trường, nhất là độ kiềm, độ cứng và hàm lượng khoáng trong nước để xác định nguyên nhân trước khi bổ sung. Việc sử dụng khoáng cần đúng loại, đúng liều lượng và phù hợp với điều kiện ao nuôi, tránh lạm dụng vì không chỉ làm tăng chi phí mà còn có thể gây mất cân bằng các ion trong môi trường nước. Ngoài ra, bổ sung khoáng chỉ phát huy hiệu quả khi kết hợp với quản lý tốt chất lượng nước, duy trì hàm lượng ôxy hòa tan thích hợp và chế độ dinh dưỡng cân đối.
Đây là những yếu tố giúp tôm hấp thu và sử dụng khoáng hiệu quả, đặc biệt trong các giai đoạn lột xác và tăng trưởng nhanh. Hỏi: Tôm trong ao có dấu hiệu nổi đầu, tiến hành kiểm tra đo thấy hàm lượng ôxy trong ao thấp dưới ngưỡng. Xin hỏi giải pháp để khắc phục hiện tượng trên? (Vũ Đình Nam, xã Hiệp Mỹ, tỉnh Vĩnh Long) Trả lời: Khi tôm có hiện tượng nổi đầu, cần khẩn cấp bật máy quạt nước; sử dụng ôxy tức thời cung cấp cho ao nuôi và Yucca. Đồng thời, tiến hành thay 30 - 50 cm nước. Nếu ao nuôi có pH và ôxy thấp, làm tăng lượng khí độc H2S gây nguy hiểm cho tôm thì cần tiến hành chạy quạt nước, sử dụng vôi CaCO3 với lượng 20 kg/1.000 m3 tạt khắp ao để tăng pH, giảm độ độc H2S. Không nên sử dụng men vi sinh xử lý đáy trong trường hợp này, bởi nó không mang lại hiệu quả. Tuyệt đối không sử dụng các hóa chất như Chlorine, BKC, Iodine… trong ao. Các ngày tiếp theo nên tiến hành giảm 50 - 70 % lượng thức ăn cho tôm hoặc ngừng cho ăn; thay nước; chạy quạt nước nhiều hơn; sử dụng men vi sinh để phân hủy mùn bã hữu cơ dưới đáy ao; xi phông đáy ao. Để phòng tránh hiện tượng này, trong suốt quá trình nuôi, cần đảm bảo hàm lượng ôxy hòa tan > 4 mg/l để giúp tôm phát triển nhanh, khỏe mạnh. Thực hiện tốt quy trình cải tạo ao. Quản lý thức ăn hợp lý. Khống chế tảo ở mật độ thích hợp; Định kỳ sử dụng các chế phẩm sinh học để phân hủy các chất hữu cơ dư thừa; thường xuyên sử dụng máy sục khí, máy thổi khí, quạt nước… để cung cấp ôxy cho ao nuôi. Tùy theo mật độ thả nuôi, thời gian nuôi mà bố trí và vận hành các loại máy sục khí, quạt nước cho phù hợp, bảo đảm cung cấp đầy đủ ôxy trong ao; Sử dụng máy đo hoặc test để kiểm tra ôxy. Định kỳ đo ôxy 2 lần/ngày vào lúc 5 - 6 giờ sáng và 14 - 15 giờ chiều để theo dõi sự biến động của ôxy và có biện pháp khắc phục kịp thời.
Hỏi: Ao nuôi tôm xuất hiện nấm đồng tiền, cần xử lý như thế nào để hạn chế ảnh hưởng đến tôm? (Nguyễn Hoàng Tuấn, phường Hòa Hiệp, tỉnh Đắk Lắk) Trả lời: Nấm đồng tiền (hay còn gọi là nấm thủy mi dạng đĩa) thường xuất hiện khi ao nuôi tích tụ nhiều chất hữu cơ, thức ăn dư thừa, tảo tàn hoặc đáy ao bẩn. Bản thân nấm đồng tiền không phải là tác nhân gây bệnh trực tiếp cho tôm, nhưng sự phát triển dày đặc của chúng phản ánh môi trường ao đang mất cân bằng, chất lượng nước suy giảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với sức khỏe vật nuôi. Khi phát hiện nấm đồng tiền, trước hết người nuôi cần kiểm tra các chỉ tiêu môi trường như pH, độ kiềm, ôxy hòa tan, hàm lượng NH3, NO2- và lượng chất hữu cơ trong ao để xác định nguyên nhân. Đồng thời, tiến hành xi phông đáy, thu gom thức ăn dư thừa và chất thải, tăng cường quạt nước nhằm cải thiện hàm lượng ôxy hòa tan và thúc đẩy quá trình phân hủy chất hữu cơ. Trong trường hợp nấm phát triển nhiều, có thể kết hợp sử dụng chế phẩm sinh học để phân hủy bùn hữu cơ, ổn định hệ vi sinh và cải thiện chất lượng nước theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Nếu cần thay nước, nên thực hiện từng phần với lượng phù hợp, tránh thay đột ngột làm tôm bị sốc. Để hạn chế nấm đồng tiền tái xuất hiện, người nuôi cần quản lý lượng thức ăn hợp lý, duy trì đáy ao sạch, định kỳ xử lý chất hữu cơ và theo dõi thường xuyên chất lượng nước. Việc kiểm soát tốt môi trường không chỉ giúp hạn chế sự phát triển của nấm mà còn giảm nguy cơ phát sinh các bệnh khác trong suốt vụ nuôi.
Ban KHKT
8.2026
MÔ HÌNH | 75
76 | KHUYẾN NÔNG
thuysanvietnam.com.vn
Lãnh đạo TTKNNA kiểm tra đàn cá bố mẹ tại Trạm giống thủy sản
Ảnh: TTKNNA
Khuyến nông sau sáp nhập
Cộng hưởng nguồn lực, nâng tầm thủy sản Trong tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy ngành nông nghiệp, mục tiêu không chỉ là tinh gọn đầu mối mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và chất lượng phục vụ sản xuất. Với lĩnh vực thủy sản, việc gắn kết nghiên cứu, sản xuất giống và chuyển giao kỹ thuật trong cùng một hệ thống càng có ý nghĩa quan trọng.
N
ghệ An là một trong những địa phương sớm triển khai mô hình này khi UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1571/QĐ-UBND ngày 21/4/2026 về việc sáp nhập Trung tâm Giống thủy sản vào Trung tâm Khuyến nông tỉnh. Sau hơn hai tháng vận hành, mô hình mới bước đầu cho thấy những chuyển biến tích cực, đặc biệt trong việc gắn kết hoạt động nghiên cứu, sản xuất giống với công tác khuyến nông, khuyến ngư và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến người nuôi.
Từ hai mắt xích thành một chuỗi thống nhất Tại Nghệ An, trước thời điểm sáp nhập, Trung tâm Giống thủy sản và Trung tâm Khuyến nông thực hiện hai nhóm nhiệm vụ có mối liên hệ mật thiết nhưng vận hành độc lập. Một bên đảm nhiệm nghiên cứu, chọn tạo, lưu giữ nguồn gen, sản xuất và cung ứng giống thủy sản; bên còn lại tập trung xây dựng mô hình trình diễn, tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn người dân áp dụng vào sản xuất.
8.2026 Cách tổ chức này giúp mỗi đơn vị phát huy chuyên môn riêng, nhưng cũng khiến quá trình đưa một tiến bộ kỹ thuật mới đến với người nuôi phải trải qua nhiều bước phối hợp, từ nghiên cứu, khảo nghiệm, xây dựng mô hình đến đào tạo và nhân rộng. Theo ông Tạ Quang Sáng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nghệ An, sau sáp nhập, mục tiêu lớn nhất không chỉ là giảm một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường, giảm đầu mối quản lý hay các bộ phận gián tiếp, mà quan trọng hơn là tạo ra sự cộng hưởng về nhân lực, cơ sở vật chất và năng lực chuyên môn. Hai đơn vị vốn có chức năng bổ trợ lẫn nhau nay được đặt trong cùng một tổ chức, giúp việc xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và triển khai các chương trình trở nên thống nhất hơn. Sau khi kiện toàn tổ chức, Trung tâm Khuyến nông Nghệ An đã thành lập Trạm Giống thủy sản trực thuộc nhằm tiếp tục duy trì các nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất giống, đồng thời kết nối chặt chẽ với hoạt động khuyến ngư và chuyển giao kỹ thuật. Toàn bộ quá trình từ nghiên cứu giống, khảo nghiệm, xây dựng mô hình trình diễn đến đào tạo và chuyển giao kỹ thuật được triển khai trong một hệ thống thống nhất. Nhờ đó, các giống mới nhanh chóng được đưa vào mô hình thực tế, tập huấn cho người nuôi và nhân rộng sản xuất, rút ngắn đáng kể khoảng cách từ nghiên cứu đến
KHUYẾN NÔNG | 77
ứng dụng. Đồng thời, việc bố trí kinh phí, nhân lực và điều chỉnh quy trình kỹ thuật cũng thuận lợi hơn nhờ được thực hiện trong cùng một đầu mối quản lý. Đây là lợi thế nổi bật của mô hình sau sáp nhập. Quá trình sáp nhập diễn ra trong thời điểm Trung tâm Khuyến nông Nghệ An đang triển khai kế hoạch sản xuất, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật năm 2026, vì vậy việc kiện toàn tổ chức, bố trí nhân lực và xây dựng kế hoạch chuyên môn gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, với sự chủ động trong điều hành và sự phối hợp của đội ngũ cán bộ, các hoạt động về thủy sản vẫn được duy trì ổn định. Trong điều kiện thị trường tiêu thụ giống còn chậm, giá bán thấp và chi phí đầu vào tăng cao, Trung tâm vẫn tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm như ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ để sản xuất. Một trong những hiệu quả dễ nhận thấy sau sáp nhập là việc khai thác đồng bộ hệ thống cơ
sở vật chất đã được đầu tư nhiều năm cho lĩnh vực giống thủy sản. Các khu sản xuất giống, khu khảo nghiệm, hệ thống ao nuôi thực nghiệm, phòng thí nghiệm cùng nhiều công trình phụ trợ không còn chỉ phục vụ riêng nhiệm vụ sản xuất giống mà được mở rộng chức năng. Các cơ sở này hiện vừa phục vụ nghiên cứu, sản xuất giống, vừa triển khai các nhiệm vụ khoa học - công nghệ, dự án khuyến nông và đào tạo thực hành cho cán bộ kỹ thuật, người dân, qua đó phát huy hiệu quả nguồn lực đã được đầu tư. Bên cạnh đó, Trung tâm còn mở rộng hoạt động lưu giữ, bảo tồn nguồn gen các loài thủy sản bản địa, khảo nghiệm những đối tượng nuôi mới phù hợp điều kiện sản xuất của Nghệ An trước khi chuyển giao ra diện rộng. Các mô hình sản xuất giống lươn, cá ngạnh, cá chình, cá diếc hay nuôi cua lột trở thành những “lớp học thực hành”, giúp người nuôi dễ tiếp thu và áp dụng ngay vào sản xuất.
Tư duy mới trong hoạt động khuyến ngư Nghiên cứu giống không dừng lại ở phòng thí nghiệm mà phải gắn với nhu cầu sản xuất. Chuyển giao kỹ thuật không chỉ dừng ở việc phổ biến quy trình mà phải giúp người nuôi áp dụng thành công. Hiệu quả của hoạt động khuyến nông vì thế được đánh giá bằng khả năng đưa tiến bộ khoa học vào thực tiễn nhanh hơn, sát hơn và mang lại giá trị rõ ràng hơn. Thực tiễn tại Trung tâm Khuyến nông Nghệ An cho thấy, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi tạo được những giá trị mới sau sáp nhập. Việc gắn kết nghiên cứu, sản xuất giống và khuyến ngư trong cùng một hệ thống đã góp phần sử dụng hiệu quả hơn nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, đồng thời rút ngắn quá trình đưa tiến bộ kỹ thuật đến với người nuôi. Trong bối cảnh ngành thủy sản hướng tới phát triển xanh, hiện đại và bền vững, mô hình của Nghệ An cũng mở ra hướng đi đối với hoạt động khuyến nông ở nhiều địa phương. Tinh gọn bộ máy không chỉ để giảm đầu mối, mà quan trọng hơn là tạo ra một tổ chức có năng lực mạnh hơn, vận hành hiệu quả hơn và đủ khả năng đồng hành cùng người sản xuất trong từng mắt xích của chuỗi giá trị thủy sản. Đây cũng là giá trị cốt lõi mà quá trình sắp xếp tổ chức hướng tới trong giai đoạn phát triển mới của ngành nông nghiệp.
Thùy Khánh
thuysanvietnam.com.vn
Phòng bệnh trên cá rô phi
Ảnh: GenoMar
78 | KHOA HỌC - KỸ THUẬT
Dịch bệnh trên cá rô phi thường phát sinh khi môi trường nuôi biến động hoặc công tác quản lý chưa bảo đảm. Chủ động phòng bệnh, kết hợp quản lý môi trường và xử lý kịp thời sẽ góp phần hạn chế thiệt hại, duy trì năng suất và hiệu quả nuôi.
T
rong thực tế sản xuất, dịch bệnh thường xuất hiện khi nhiều yếu tố bất lợi cùng tác động như mật độ nuôi quá cao, chất lượng nước suy giảm, hàm lượng ôxy hòa tan thấp, khí độc NH3 và NO2- tăng, thức ăn dư thừa hoặc thời tiết thay đổi đột ngột. Bên cạnh đó, việc sử dụng con giống không bảo đảm chất lượng, không được kiểm dịch hoặc vận chuyển, thả giống không đúng kỹ thuật cũng làm tăng nguy cơ phát sinh bệnh. Ở giai đoạn cá bột và cá giống, cá rô phi thường mẫn cảm với các bệnh do ký sinh trùng và nấm vì hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Trong giai đoạn nuôi thương phẩm, bệnh do vi khuẩn lại chiếm tỷ lệ cao hơn, đặc biệt khi cá chịu stress kéo dài hoặc môi trường ao nuôi bị ô nhiễm. Những năm gần đây, nhiều vùng nuôi đã ghi nhận hiện tượng cá chết rải rác hoặc chết hàng loạt do các bệnh do
Streptococcus và Aeromonas, gây thiệt hại đáng kể về năng suất và chi phí sản xuất. Một số bệnh thường gặp Bệnh xuất huyết do Streptococcus: Đây là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trên cá rô phi nuôi thâm canh. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn Streptococcus iniae và một số loài Streptococcus khác. Bệnh thường xuất hiện khi nhiệt độ nước cao, mật độ nuôi lớn, ôxy hòa tan thấp hoặc môi trường ao biến động mạnh. Ở giai đoạn đầu, cá giảm ăn, bơi chậm, phản ứng kém với các tác động bên ngoài. Sau đó, cá xuất hiện các dấu hiệu như mắt đỏ hoặc lồi, gốc vây và nắp mang xuất huyết, hậu môn đỏ. Khi bệnh nặng, cá bơi xoay tròn, mất phương hướng do vi khuẩn tấn công hệ thần kinh. Mổ khám có thể thấy gan, thận, lách mềm nhũn, xuất huyết hoặc hoại tử.
Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, bệnh có thể lây lan nhanh trong ao nuôi, đặc biệt ở các hệ thống nuôi mật độ cao. Ngoài thiệt hại về tỷ lệ sống, bệnh còn làm giảm tốc độ tăng trưởng và chất lượng thương phẩm. Bệnh viêm ruột do Aeromonas hydrophila: Aeromonas hydrophila là vi khuẩn Gram âm tồn tại phổ biến trong môi trường nước. Bình thường, vi khuẩn không gây bệnh, nhưng khi cá bị stress hoặc môi trường ao nuôi ô nhiễm, chúng sẽ phát triển mạnh và gây viêm ruột, xuất huyết nội tạng. Cá mắc bệnh thường giảm ăn, bơi lờ đờ, màu sắc cơ thể sẫm hơn bình thường. Hậu môn sưng đỏ, xuất huyết, bụng trướng. Khi mổ khám, ruột chứa nhiều hơi hoặc dịch, thành ruột viêm và sung huyết. Một số trường hợp còn xuất hiện xuất huyết dưới da và ở gốc các vây.
8.2026 Bệnh thường liên quan đến đáy ao tích tụ nhiều chất hữu cơ, thức ăn dư thừa hoặc nguồn nước ô nhiễm. Đây là bệnh cơ hội nên việc cải thiện môi trường nước luôn là giải pháp quan trọng song song với điều trị. Bệnh trùng bánh xe: Trùng bánh xe thuộc họ Trichodinidae là nhóm ký sinh trùng phổ biến trên cá rô phi giống. Chúng ký sinh trên da, vây và mang, làm tổn thương biểu mô và cản trở quá trình hô hấp của cá. Khi mới nhiễm bệnh, cá tiết nhiều nhớt, da xỉn màu và thường nổi thành đàn gần mặt nước. Cá có hiện tượng cọ mình vào thành ao hoặc vật thể trong nước do ngứa. Khi mật độ ký sinh trùng tăng cao, mang bị tổn thương nghiêm trọng, cá nổi đầu, bơi không định hướng, giảm ăn và có thể chết nếu không được xử lý. Bệnh thường phát triển mạnh vào thời điểm giao mùa hoặc khi chất lượng nước kém, đặc biệt ở các ao ương cá giống có mật độ nuôi cao. Bệnh nấm thủy mi: Nấm thủy mi thường xuất hiện trên cá bị xây xát, cá yếu hoặc sau khi vận chuyển, phân đàn. Biểu hiện đặc trưng là trên da, vây hoặc mang xuất hiện các đám nấm màu trắng xám giống bông gòn. Nếu không xử lý sớm, nấm lan rộng làm tổn thương da, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng thứ phát. Bệnh thường gặp trong điều kiện nhiệt độ thấp, nước bẩn hoặc khi cá bị tổn thương cơ học. Bệnh do virus TiLV (Tilapia Lake Virus): Là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên cá rô phi. Virus có khả năng gây chết ở nhiều giai đoạn phát triển, đặc biệt là cá giống và cá thương phẩm nuôi với mật độ cao. Cá mắc bệnh thường giảm ăn hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ, phản ứng chậm, tập trung gần bờ hoặc nổi đầu. Một số trường hợp xuất hiện da sẫm màu, mắt lồi, bụng trướng, mang nhợt hoặc xuất huyết nhẹ. Khi mổ khám có thể thấy gan sưng, nhợt màu hoặc xuất hiện các ổ hoại tử. Các dấu hiệu lâm sàng của TiLV khá giống nhiều bệnh khác nên cần xét nghiệm để khẳng định. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với TiLV. Phòng bệnh Trước hết, ao nuôi cần được cải tạo đúng quy trình sau mỗi vụ sản xuất. Toàn bộ nước phải được tháo cạn, chất thải và lớp bùn đáy tích tụ được loại bỏ, đặc biệt tại khu vực hố
KHOA HỌC - KỸ THUẬT | 79 gom và cống thoát nước. Đối với ao đất, nên bón vôi với liều lượng phù hợp để cải thiện pH nền đáy và tiêu diệt một phần mầm bệnh còn tồn lưu. Bờ ao, cống cấp, cống thoát và hệ thống cấp nước cần được kiểm tra, sửa chữa trước khi bước vào vụ nuôi mới. Nguồn nước cấp phải bảo đảm sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt, công nghiệp hoặc nông nghiệp. Nếu có điều kiện, nên sử dụng ao lắng để xử lý nước trước khi đưa vào ao nuôi chính. Việc lọc nước đầu vào cũng góp phần hạn chế sinh vật mang mầm bệnh xâm nhập. Con giống cần được mua từ cơ sở uy tín, có nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch. Trước khi thả, cá cần được thuần nhiệt độ và các yếu tố môi trường nhằm giảm sốc. Không nên thả giống với mật độ vượt quá khả năng quản lý vì đây là yếu tố làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Trong quá trình nuôi, cần theo dõi định kỳ các chỉ tiêu như nhiệt độ, pH, ôxy hòa tan, độ kiềm, NH3 và NO2- để kịp thời điều chỉnh khi
có biến động. Đồng thời, duy trì màu nước phù hợp, hạn chế tích tụ chất hữu cơ và định kỳ xi phông chất thải đối với các ao nuôi thâm canh. Thức ăn phải bảo đảm chất lượng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá và được cho ăn đúng khẩu phần. Cho ăn dư thừa không chỉ làm tăng chi phí mà còn gây ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện cho vi khuẩn và ký sinh trùng phát triển. Bên cạnh đó, tăng cường các biện pháp an toàn sinh học như vệ sinh, khử trùng dụng cụ trước và sau khi sử dụng, không dùng chung vợt giữa các ao khi chưa khử trùng, thu gom và xử lý cá chết đúng quy định. Người và phương tiện ra vào khu nuôi cũng cần được kiểm soát nhằm hạn chế đưa mầm bệnh từ bên ngoài vào hệ thống. Định kỳ bổ sung vitamin, khoáng chất và các chế phẩm hỗ trợ đường ruột theo hướng dẫn của nhà sản xuất giúp tăng cường sức đề kháng, đặc biệt trong giai đoạn giao mùa hoặc khi thời tiết diễn biến bất lợi. Trị bệnh Khi phát hiện cá giảm ăn, nổi đầu, bơi lờ đờ hoặc chết bất thường, người nuôi không nên vội sử dụng thuốc mà cần xác định nguyên nhân trước. Trước hết, cần kiểm tra các yếu tố môi trường như ôxy hòa tan, pH, nhiệt độ, NH3, NO2- và tình trạng đáy ao.
So với nhiều đối tượng nuôi nước ngọt khác, cá rô phi có khả năng thích nghi rộng, chịu được sự biến động nhất định của nhiệt độ, độ mặn và chất lượng nước. Tuy nhiên, khả năng chống chịu này chỉ phát huy khi môi trường nuôi được duy trì ổn định và các yêu cầu kỹ thuật được thực hiện đầy đủ. Khi các yếu tố môi trường vượt quá ngưỡng thích nghi hoặc công tác quản lý chưa phù hợp, sức đề kháng của cá sẽ suy giảm, tạo điều kiện để mầm bệnh phát triển.
Nếu xác định nguyên nhân liên quan đến môi trường, cần thay nước khi điều kiện cho phép, tăng cường sục khí, giảm lượng thức ăn và xử lý môi trường theo đúng quy trình kỹ thuật. Trường hợp nghi ngờ bệnh truyền nhiễm, nên lấy mẫu gửi cơ quan chuyên môn hoặc phòng xét nghiệm để xác định chính xác tác nhân gây bệnh. Đối với bệnh do ký sinh trùng ngoài da và mang, có thể sử dụng các loại thuốc hoặc hóa chất nằm trong danh mục được phép lưu hành theo đúng hướng dẫn sử dụng. Trong quá trình xử lý cần theo dõi chặt chẽ phản ứng của cá, bảo đảm đủ ôxy hòa tan và tránh gây sốc do thay đổi nồng độ hóa chất. Đối với các bệnh do vi khuẩn, việc sử dụng kháng sinh chỉ nên thực hiện khi đã xác định đúng tác nhân gây bệnh và có hướng dẫn của cán bộ chuyên môn. Lạm dụng kháng sinh không chỉ làm giảm hiệu quả điều trị mà còn làm gia tăng tình trạng kháng thuốc và ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm. Song song với điều trị, cần tăng cường quản lý môi trường, bổ sung dinh dưỡng hợp lý và duy trì điều kiện sống ổn định để giúp cá phục hồi nhanh hơn. Đồng thời, phải tuân thủ đầy đủ thời gian ngừng sử dụng thuốc trước khi thu hoạch nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Thái Thuận
80 | KHOA HỌC - KỸ THUẬT
thuysanvietnam.com.vn
Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi thủy sản Chuẩn bị ao là khâu kỹ thuật đầu tiên nhưng có ảnh hưởng xuyên suốt đến hiệu quả của cả vụ nuôi. Một quy trình cải tạo ao được thực hiện đầy đủ sẽ giúp loại bỏ mầm bệnh tồn lưu, cải thiện chất lượng nền đáy, ổn định môi trường nước và tạo điều kiện thuận lợi để thủy sản thích nghi sau khi thả giống.
Làm sạch ao Ngay sau khi thu hoạch, người nuôi cần tiến hành thu dọn ao càng sớm càng tốt nhằm loại bỏ các chất thải tích tụ trong suốt quá trình nuôi. Thức ăn dư thừa, phân, xác tôm, cá chết, vỏ lột, rong tảo tàn và các chất hữu cơ lắng đọng dưới đáy ao đều là nguồn phát sinh khí độc và nơi cư trú của nhiều tác nhân
gây bệnh. Nếu không được xử lý triệt để, các chất này sẽ tiếp tục phân hủy, làm gia tăng hàm lượng amoniac (NH3), nitrit (NO2) và hydro sulfua (H2S), gây bất lợi cho vụ nuôi tiếp theo. Trước tiên, tháo cạn nước trong ao, đồng thời thu gom toàn bộ rác, xác động vật thủy sản và các vật liệu còn sót lại như bao bì, dây buộc, lưới hỏng hoặc các vật
dụng phục vụ sản xuất. Những chất thải này cần được thu gom và xử lý đúng quy định, tránh vứt trực tiếp ra kênh, mương hoặc nguồn nước xung quanh vì có thể làm phát tán mầm bệnh sang các khu vực nuôi khác. Đối với ao đất, việc nạo vét bùn đáy cần được thực hiện có chọn lọc. Chỉ nên loại bỏ lớp bùn đen, bùn mềm giàu chất hữu cơ
hoặc có mùi hôi, tập trung ở khu vực giữa ao, hố thu chất thải và gần cống thoát nước. Không nên nạo vét toàn bộ lớp đất đáy vì có thể làm mất lớp nền ổn định, ảnh hưởng đến khả năng giữ nước và làm tăng chi phí cải tạo. Sau khi nạo vét, đáy ao cần được san phẳng và tạo độ dốc nhẹ về phía cống thoát hoặc hố gom chất thải. Thiết kế này giúp
Vệ sinh kỹ bề mặt bạt, loại bỏ lớp màng sinh học, cặn bẩn và chất hữu cơ bám trên đáy cũng như thành ao Ảnh: Tép Bạc
8.2026 chất thải dễ tập trung vào một vị trí trong quá trình nuôi, thuận lợi cho việc xi phông, đồng thời hạn chế hiện tượng tích tụ bùn ở nhiều khu vực trong ao. Đối với ao lót bạt, thay vì nạo vét, cần vệ sinh kỹ bề mặt bạt, loại bỏ lớp màng sinh học, cặn bẩn và chất hữu cơ bám trên đáy cũng như thành ao. Đồng thời kiểm tra các mối hàn, mép bạt, hố xi phông và hệ thống thoát đáy để phát hiện, sửa chữa kịp thời các vị trí hư hỏng trước khi bước sang các công đoạn cải tạo tiếp theo. Song song với việc xử lý đáy ao, bờ ao cũng cần được dọn sạch cỏ dại, gia cố các vị trí sạt lở, bị rò rỉ hoặc có hang của cua, còng, chuột. Một hệ thống bờ ao chắc chắn không chỉ hạn chế thất thoát nước mà còn góp phần ngăn sinh vật mang mầm bệnh xâm nhập vào khu nuôi. Phơi đáy và cải tạo Sau khi vệ sinh, đáy ao cần được phơi nhằm ôxy hóa các hợp chất hữu cơ còn sót lại, tiêu diệt nhiều tác nhân gây bệnh và cải thiện tính chất nền đáy. Đối với ao đất, thời gian phơi thường kéo dài từ 7 - 10 ngày, tùy theo điều kiện thời tiết và loại đất. Khi bề mặt đáy xuất hiện các vết nứt chân chim là có thể chuyển sang bước tiếp theo. Ở những vùng đất phèn hoặc khu vực khó thoát nước, không nên phơi quá lâu vì có thể làm ôxy hóa tầng sinh phèn, ảnh hưởng đến chất lượng môi trường khi cấp nước trở lại. Sau giai đoạn phơi đáy, tiến hành bón vôi để cải thiện pH đất, trung hòa axit và hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ. Lượng vôi sử dụng cần căn cứ vào kết quả kiểm tra pH nền đáy thay vì áp dụng một công thức chung cho mọi ao nuôi. Việc sử dụng đúng loại và đúng liều lượng sẽ giúp nâng cao
KHOA HỌC - KỸ THUẬT | 81 hiệu quả cải tạo, đồng thời hạn chế biến động môi trường sau khi cấp nước. Kiểm tra hệ thống cấp, thoát nước và thiết bị Trước khi lấy nước, cần kiểm tra toàn bộ cống cấp và cống thoát, bảo đảm không rò rỉ, đóng mở thuận tiện và được lắp lưới chắn nhằm ngăn cá tạp, cua, còng cũng như các vật chủ trung gian mang mầm bệnh. Các đường ống cấp nước, thoát nước, máy bơm, máy quạt nước, hệ thống sục khí, máy phát điện dự phòng, tủ điện và các thiết bị quan trắc cũng cần được vận hành thử. Những sự cố kỹ thuật nếu được phát hiện và khắc phục từ đầu sẽ giúp tránh gián đoạn trong quá trình nuôi, đặc biệt vào thời điểm thời tiết bất lợi hoặc khi nhu cầu ôxy của vật nuôi tăng cao. Đối với các mô hình nuôi thâm canh, mật độ lớn, việc bố trí đầy đủ hệ thống quạt nước và sục khí ngay từ đầu giúp nước lưu thông đồng đều, hạn chế hiện tượng phân tầng và giảm nguy cơ thiếu ôxy cục bộ. Chuẩn bị nguồn nước Nguồn nước là yếu tố quyết định chất lượng môi trường ao nuôi. Nếu lấy nước trực tiếp từ sông, kênh hoặc biển vào ao nuôi mà không qua xử lý, nguy cơ đưa mầm bệnh, sinh vật ngoại lai và các chất ô nhiễm vào hệ thống là rất lớn. Vì vậy, nước cấp nên được đưa qua ao lắng hoặc bể chứa để lắng cặn trước khi xử lý. Trong thời gian lưu nước, các chất lơ lửng sẽ lắng xuống đáy, giúp cải thiện độ trong và giảm lượng chất hữu cơ. Sau khi lắng, nước cần được xử lý bằng các biện pháp phù hợp để loại bỏ tác nhân gây bệnh và sinh vật không mong muốn.
Tùy điều kiện từng vùng nuôi, người nuôi có thể lựa chọn giải pháp thích hợp, đồng thời tuân thủ thời gian chờ cần thiết trước khi cấp nước sang ao nuôi nhằm bảo đảm các chất xử lý đã phát huy tác dụng và không còn ảnh hưởng đến thủy sản. Trong quá trình cấp nước, sử dụng túi lọc hoặc lưới lọc có kích thước mắt phù hợp để ngăn cá tạp, cua, còng và các sinh vật ngoại lai xâm nhập. Không nên lấy nước vào thời điểm nguồn nước ngoài môi trường bị ô nhiễm hoặc xuất hiện hiện tượng thủy triều đỏ, tảo nở hoa hay dịch bệnh tại khu vực nuôi. Ổn định môi trường Sau khi cấp đủ nước, chưa nên thả giống ngay mà cần dành thời gian để môi trường ổn định. Đây là giai đoạn quan trọng nhằm tạo sự cân bằng giữa các yếu tố lý hóa và sinh học trong ao nuôi. Người nuôi cần theo dõi thường xuyên các chỉ tiêu như nhiệt độ, pH, ôxy hòa tan, độ kiềm, độ mặn (đối với vùng nước lợ và nước mặn), độ trong, amoniac và nitrit. Chỉ khi các chỉ tiêu đạt ngưỡng phù hợp và ổn định trong nhiều ngày liên tiếp mới nên tiến hành thả giống. Ở nhiều mô hình nuôi, biện pháp gây màu nước trước khi thả giống được áp dụng nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên và hạn chế ánh sáng chiếu trực tiếp xuống đáy ao. Tuy nhiên, quá trình này cần thực hiện hợp lý để tránh hiện tượng tảo phát triển quá mức, làm biến động pH và ôxy hòa tan. Xây dựng hàng rào an toàn sinh học Những năm gần đây, an toàn sinh học trở thành yêu cầu quan trọng trong nuôi thủy sản, đặc biệt đối với các vùng nuôi tập
trung và mô hình thâm canh. Ngay từ giai đoạn chuẩn bị ao, cần bố trí khu vực vệ sinh và sát trùng cho người, phương tiện và dụng cụ trước khi vào khu nuôi. Dụng cụ sử dụng giữa các ao nên được tách riêng hoặc vệ sinh, khử trùng sau mỗi lần sử dụng để hạn chế lây lan mầm bệnh. Bên cạnh đó, áp dụng các biện pháp ngăn chim, chuột, cua, còng và động vật hoang dã xâm nhập ao nuôi. Đây là những vật chủ trung gian có thể mang theo mầm bệnh từ khu vực bên ngoài vào hệ thống sản xuất. Việc lấy nước cũng cần tuân thủ lịch thời vụ và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn tại địa phương nhằm giảm nguy cơ phát tán dịch bệnh giữa các vùng nuôi. Chuẩn bị con giống và kế hoạch thả nuôi Một ao nuôi được cải tạo tốt chỉ phát huy hiệu quả khi kết hợp với con giống đạt chất lượng. Người nuôi nên lựa chọn giống có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch theo quy định và phù hợp với điều kiện nuôi của địa phương. Trước khi thả, cần thuần nhiệt độ và các yếu tố môi trường để giảm sốc cho thủy sản. Việc thả giống nên thực hiện vào sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thời điểm nắng gắt hoặc khi thời tiết biến động mạnh. Đồng thời, người nuôi cần xây dựng kế hoạch quản lý ngay từ đầu vụ, bao gồm chế độ cho ăn, theo dõi môi trường, kiểm tra sức khỏe vật nuôi, vệ sinh ao và lịch quan trắc định kỳ. Việc chuẩn bị sẵn phương án ứng phó với mưa lớn, nắng nóng kéo dài hoặc mất điện cũng giúp giảm thiểu rủi ro trong quá trình sản xuất.
Thanh Hiếu
82
thuysanvietnam.com.vn
8.2026
83
84
thuysanvietnam.com.vn