Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP HCM
Văn phòng Hà Nội:
Điện thoại: 0243.7713699
Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công
Hoan, P. Giảng Võ, TP Hà Nội
Phòng Quảng cáo:
Quảng cáo: 0243.7713699 - 083.661.5993
Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn
Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT
ISSN: 0866-8043
Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM)
Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ
Thư tòa soạn
Thưa quý vị bạn đọc,
Trong bối cảnh thức ăn chiếm gần 2/3 tổng chi phí sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản, những tiến bộ trong nghiên cứu dinh dưỡng đóng vai trò quyết định. Dinh dưỡng thủy sản không chỉ dừng lại ở việc xác định tỷ lệ protein, lipid hay năng lượng tối ưu cho tăng trưởng, mà đã tiến sâu vào cấp độ phân tử và tế bào.
Cùng với đó, tính bền vững trong nuôi trồng thủy sản phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng giảm phát thải, tối ưu hóa sử dụng dinh dưỡng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng sản phẩm. Chính
vì vậy, thức ăn carbon thấp, công nghệ giảm thải và quản lý cho ăn chính
xác nổi lên như những trụ cột chiến lược.
Công nghệ sinh học hiện đại đang đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa dinh dưỡng chính xác. Trong dài hạn, tương lai của dinh dưỡng thủy sản nằm ở sự hội tụ giữa khoa học phân tử, công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo.
Các cơ sở dữ liệu lớn về nhu cầu dinh dưỡng, kết hợp với hệ thống cho ăn thông minh dựa trên IoT và AI, sẽ cho phép tối ưu hóa khẩu phần theo thời gian thực. Đây không chỉ là chìa khóa nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn là nền tảng để nuôi trồng thủy sản trở thành ngành sản xuất thực phẩm bền vững, đóng góp thiết thực vào an ninh lương thực toàn cầu trong thế kỷ XXI.
“Dinh dưỡng thông minh” sẽ là chủ đề chính của Tạp chí Thủy sản Việt Nam phát hành trong tháng 07. Trên số báo này, Tạp chí sẽ thông tin tới bạn đọc quá trình tái định hình ngành dinh dưỡng thủy sản; vai trò và ứng dụng thực tế của dinh dưỡng thông minh trong nuôi trồng thủy sản.
Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 07 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp.
Trân trọng! Ban Biên tập
18
Không chỉ nuôi tôm, hãy nuôi cả hệ sinh thái
Oanh Thảo
20
Kiểm soát virus TiLV và truy
xuất nguồn gốc cá rô phi
phục vụ xuất khẩu
Kim Tiến
24
Nhận biết và phòng bệnh
đốm trắng (WSSV) trên tôm nuôi
Diệu Châu
28
Xuất khẩu tôm: Tăng trưởng
nhưng vẫn chưa hết lo
Xuân Trường
30
Cá bống mú mở hướng sinh
kế cho ngư dân ven biển
Bảo Hân
42
Từ “phép thử” Brazil
nhìn lại ngành cá rô phi
Việt Nam
Hồng Hà
46
Phát huy tiềm năng
nuôi cá biển lồng bè
Diệu Châu
48
Đặt nền tảng kỹ thuật cho
nuôi cá biển công nghiệp
Thùy Khánh
58
Viên nén probiotic thế hệ mới
giúp tăng cường sức khỏe cá
và hiệu suất ương nuôi
Hà An
50
Vì sao nhiều trại tôm vẫn
thua lỗ dù đã đầu tư hàng
tỷ đồng?
B.H.N
62
Kiểm soát bệnh đỏ thân
trên tôm hùm
Đặng Hồng Đức
63
Giải quyết vấn đề đất phèn
trong ao nuôi tôm
Thái Nam Việt
Xuất khẩu thủy sản 6 tháng năm
2026 đạt 5,7 tỷ USD
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận kết quả tích cực với tổng kim ngạch đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 6/2026, giá trị xuất khẩu của ngành hàng này ước đạt khoảng 1,03 tỷ USD. Về cơ cấu thị trường, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là ba đối tác tiêu thụ lớn nhất, chiếm thị phần lần lượt 25%, 15% và 13,7%. Tuy nhiên, bức tranh xuất khẩu cho thấy sự phân hóa mạnh mẽ giữa các khu vực. Trung Quốc đóng vai trò động lực chính khi kim ngạch xuất khẩu tăng vọt 41,7%, trở thành thị trường tăng trưởng mạnh nhất trong nhóm 15 đối tác lớn nhất của thủy sản Việt Nam. Kế đến, thị trường Nhật Bản cũng duy trì đà tăng nhẹ 0,8%. Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang Hoa Kỳ sụt giảm 8,3%, ghi nhận mức giảm sâu nhất trong nhóm các thị trường chủ lực. Như vậy, thủy sản đang là một trong những ngành hàng duy trì tốt đà tăng trưởng hai con số nhờ nhu cầu thị trường cải thiện, trong đó sự bứt phá mạnh mẽ từ Trung Quốc đã giúp toàn ngành giữ vững đà tăng trưởng bất chấp sự sụt giảm tại thị trường Hoa Kỳ.
Chính thức vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản
Ngày 30/6, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lễ công bố chính thức vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản (bắt đầu hoạt động từ ngày 1/7/2026). Đây là dấu mốc quan trọng trong lộ trình xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia. Đến nay, hệ thống đã tích hợp thông tin, dữ liệu của hơn 18.500 sản phẩm thuộc 181 nhóm sản phẩm từ 170 doanh nghiệp tại 24 tỉnh, thành
phố. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh truy xuất nguồn gốc là xu thế tất yếu nhằm minh bạch thông tin, xây dựng thương hiệu và nâng cao sức cạnh tranh để chinh phục các thị trường khó tính. Quá trình triển khai phải bảo đảm trọng tâm, đơn giản, thuận tiện, phù hợp với điều kiện thực tế và tuyệt đối không biến thành thủ tục hành chính phát sinh. Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi triển khai, trong đó ưu tiên các nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực, hàng xuất khẩu và các mặt hàng có yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm. Nền tảng này được xác định là công cụ quan trọng giúp các doanh nghiệp minh bạch hóa toàn bộ quá trình sản xuất, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế.
Nghị định 246/2026 Phạt vi phạm thủy
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 246/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 18/8/2026) quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực thủy sản với mức tối đa 1 tỷ đồng
đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức. Trọng tâm của Nghị định là chế tài nghiêm khắc nhằm xử lý các hành vi khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Cụ thể, phạt tiền từ 800 triệu đến 1 tỷ đồng đối với chủ tàu có chiều dài từ 24 mét trở lên không có giấy phép, khai thác trái phép tại vùng biển nước ngoài hoặc vùng quản lý của Tổ chức nghề cá khu vực. Hành vi sử dụng tàu cá hoạt động sai vùng biển quy định bị phạt từ 20 triệu đến 100 triệu đồng tùy chiều dài tàu.
Trong lĩnh vực nuôi trồng, mức phạt lên tới 70
triệu đồng cho vi phạm nuôi vượt hạn mức, sai quy hoạch hoặc sử dụng loài ngoài danh mục. Các vi phạm về xuất nhập khẩu thủy sản sống như nhập sai mục đích, để thủy sản phát tán ra tự nhiên hoặc xuất khẩu loài cấm chịu mức phạt 10 - 50 triệu đồng. Ngoài phạt tiền, tổ chức và cá nhân vi phạm còn bị tước giấy phép, tịch thu phương tiện hoặc đình chỉ hoạt động. Việc ban hành Nghị định tạo khung pháp lý chặt chẽ, góp phần ngăn chặn triệt để vi phạm IUU và chuẩn hóa hoạt động toàn ngành.
VASEP kiến nghị gỡ vướng luật cho doanh nghiệp thủy sản
Ngày 07/7/2026,
khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) gửi công văn số 102/CV-VASEP tới Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội góp ý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật lĩnh vực nông nghiệp, môi trường. VASEP đề xuất bổ sung cơ chế pháp lý cho phép nguyên liệu thủy sản nhập khẩu chuyển đổi mục đích sử dụng giữa chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, gắn với quy trình kiểm dịch phù hợp nhằm giảm chi phí, tránh lãng phí. Về hoạt động khai thác, Hiệp hội kiến nghị sửa đổi quy định phân vùng biển linh hoạt, phù hợp với đặc điểm nghề cá, năng lực thực tế của tàu cá và yêu cầu chống khai thác IUU. Đồng thời, VASEP đề xuất luật hóa nguyên tắc số hóa, liên thông dữ liệu trong toàn bộ chuỗi cung ứng; áp dụng thủ tục truy xuất nguồn gốc đơn giản hóa đối với nghề cá quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, cần bổ sung chính sách phát triển nguồn nguyên liệu thủy sản hợp pháp, ổn định và có khả năng truy xuất phục vụ xuất khẩu. Những kiến nghị này sẽ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thực tiễn, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy ngành thủy sản phát triển minh bạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Cước vận tải biển tăng vọt, xuất khẩu thủy sản gặp khó
Từ đầu tháng 5/2026, thị trường vận tải biển quốc tế chứng kiến đợt tăng giá cước mạnh trên nhiều tuyến trọng điểm, tác động trực tiếp đến chi phí logistics của ngành xuất khẩu thủy sản. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), giá cước tăng vọt vào nửa cuối tháng 6/2026, đặc biệt ở các tuyến kết nối châu Á với Bắc Mỹ và châu Âu. Cụ thể, cước vận chuyển đến cảng Los Angeles (Mỹ) trong giai đoạn từ 15 đến 30/6 đạt khoảng 6.500 USD/container, tăng 27% so với nửa đầu tháng 6/2026. Đáng chú ý, tuyến đi Canada ghi nhận mức tăng mạnh hơn, cước đến Toronto hay Montreal vượt ngưỡng 10.000 USD/container, tăng 73% so với cuối tháng 5 và cao gấp đôi so với đầu năm. Bà Nguyễn Thị Vân Hà, chuyên gia VASEP, nhận định đợt tăng giá này gây sức ép lớn về chi phí và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt với các hợp đồng giá bán cố định. Thủy sản đông lạnh còn phải gánh thêm chi phí bảo quản nghiêm ngặt như container lạnh, lưu kho bãi và phụ phí. Việc cước phí
Thủy sản 6 tháng đầu năm tăng 4,88%
nhờ nuôi trồng
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 6 tháng đầu năm 2026, giá
trị tăng thêm của ngành thủy sản đạt 4,88%, đóng góp 1,56% vào GDP cả nước. Động lực chính đến từ lĩnh vực nuôi trồng với sản
lượng đạt gần 3 triệu tấn (tăng 5,7%), nâng tổng sản lượng thủy sản lên 4,95 triệu tấn (tăng 3,6%). Cụ thể, các đối tượng chủ lực
Ngành thủy sản đang đi đúng định hướng “giảm khai thác, tăng nuôi trồng” Ảnh: ST
đều tăng trưởng khá: cá tra đạt 935,4 nghìn tấn (tăng 5%), tôm thẻ chân trắng đạt 494,3 nghìn tấn (tăng 9,5%) và nuôi biển bứt phá với mức tăng 11,7%. Trái lại, hoạt động khai thác chỉ duy trì mức tăng 0,6%, đạt 1,96 triệu tấn. Xu hướng này phản ánh đúng định hướng “giảm khai thác, tăng nuôi trồng” do Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá qua giai đoạn 2021 - 2025. Nhờ ứng dụng công nghệ cao và đẩy mạnh chế biến, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2025 đã đạt gần 11,3 tỷ USD, trong đó cơ cấu sản lượng nuôi trồng chiếm tới 61,1%. Kết quả này tạo nền tảng vững chắc để giai đoạn 2026 - 2030, ngành thủy sản tiếp tục chuyển đổi mô hình thành công theo định hướng “xanh - sạchcó trách nhiệm”, gia tăng giá trị và phát triển bền vững.
thang làm thay đổi tương quan cạnh tranh, khiến hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
chịu sức ép lớn hơn tại thị trường Mỹ so với các nguồn cung lân cận có lợi thế logistics như Ecuador hay các nước Nam Mỹ.
Hà Tĩnh
Giá dầu giảm mạnh, ngư dân đẩy
mạnh vươn khơi
Việc giá dầu diesel giảm sâu đang tạo động lực lớn giúp ngư dân tỉnh Hà Tĩnh tích cực vươn khơi bám biển, nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản. Hiện tại, giá nhiên liệu đã giảm khoảng 43%, xuống mức 21.590 đồng/lít so với đỉnh gần 38.000 đồng/lít vào cuối tháng 3/2026. Nhiên liệu vốn chiếm 40 - 50% tổng chi phí mỗi chuyến biển, do đó mức giảm này giúp ngư dân tiết kiệm đáng kể chi phí, mạnh dạn đầu tư cho các chuyến bám biển dài ngày ở ngư trường xa. Điển hình, một chuyến biển 3 ngày tiêu thụ 600 lít dầu nay thu lãi hơn 9 triệu đồng, cao hơn 4 triệu đồng so với lúc giá dầu đạt đỉnh. Nhờ chi phí đầu vào giảm và giá bán hải sản ổn định, hoạt động tại các cảng cá như Cửa Nhượng và Cửa Sót diễn ra rất nhộn nhịp. Theo Ban Quản lý các cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Hà Tĩnh, từ đầu tháng 6 đến nay, toàn tỉnh đón hơn 2.300 lượt tàu thuyền cập bến, bốc dỡ gần 300 tấn thủy sản, tăng khoảng 20% so với tháng 5/2026. Ông Đinh Sỹ Long, Phó Giám đốc Ban Quản lý cho biết, ngành chuyên môn đang tích cực
cung cấp thông tin ngư trường và hướng dẫn
ngư dân nâng cấp tàu cá nhằm duy trì nhịp độ
khai thác hiệu quả trong cao điểm vụ cá Nam.
Quảng Trị Bảo vệ vùng nuôi tôm mùa nắng nóng
Nắng nóng gay gắt kéo dài tại tỉnh Quảng
Trị đang làm biến động môi trường ao nuôi, gia tăng mầm bệnh và trực tiếp gây thiệt hại cho nghề nuôi tôm. Tại Hợp tác xã (HTX)
Nuôi trồng thủy sản Vĩnh Thành quy mô 70 ha, khoảng 40% diện tích ao nuôi đã bị ảnh hưởng. Nhiều hộ ghi nhận mức thiệt hại 5080 triệu đồng do tôm 30 - 40 ngày tuổi mắc bệnh phân trắng và hoại tử gan tụy cấp tính. Nguyên nhân do nhiệt độ cao làm giảm ôxy hòa tan và phát sinh khí độc. Tuy nhiên, tại HTX Phan Hiền, nhờ áp dụng giải pháp ngắt vụ phơi ao gần ba tháng nhằm cắt mầm bệnh, phần lớn diện tích vẫn phát triển ổn định, một số hộ đã thu lãi 15 - 40 triệu đồng từ việc thu tỉa. Trước diễn biến phức tạp của hiện tượng
El Nino, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nguyễn Đức Trung yêu cầu cán bộ bám sát cơ sở, hướng dẫn người dân duy trì mực nước ao, vận hành quạt khí liên tục và bổ sung khoáng chất, vitamin C. Việc chủ động ứng phó, kiểm soát chặt chẽ quy trình kỹ thuật và điều chỉnh mật độ nuôi là giải pháp then chốt giúp hạn chế thiệt hại, duy trì hiệu quả sản xuất trong thời tiết cực đoan.
Đồng Tháp Siết chặt quản lý tàu cá, quyết liệt chống IUU
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh Đồng Tháp đẩy mạnh kiểm soát đội tàu và thực thi nghiêm các quy định chống khai thác IUU nhằm góp phần gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC). Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo chống khai thác IUU, địa phương đã hoàn thành 14/14 nhiệm vụ được Thủ tướng giao. Hiện 100% tàu cá đang hoạt động đã được cấp phép; 881 tàu lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS). Lực lượng chức năng duy trì trực ban 24/7, đồng thời giám sát chặt chẽ 145 tàu cá không đủ điều kiện. Tại hai cảng cá loại II (Mỹ Tho và Vàm Láng), tỉnh đã tiếp nhận 3.408 lượt tàu cập bến, bốc dỡ hơn 20.243 tấn thủy sản. Toàn bộ sản lượng cùng 40 giấy xác nhận (hơn 85 tấn) và 9 giấy chứng nhận nguồn gốc (hơn 188 tấn) đều được cập nhật đồng bộ lên hệ thống điện tử eCDT. Công tác thực thi pháp luật được triển khai kiên quyết với 53 vụ vi phạm IUU bị xử phạt gần 4 tỷ đồng. Nhờ các giải pháp đồng bộ, từ đầu năm đến nay, Đồng Tháp không ghi nhận tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài và không phát hiện vi phạm trong hồ sơ xuất khẩu sang châu Âu. Thời gian tới, tỉnh tiếp tục tăng cường tuần tra, kiểm soát tàu cá xuất nhập bến, kiên quyết không để vi phạm xảy ra nhằm sớm gỡ cảnh báo của EC.
Bình An
WA2026
Hội nghị Nuôi trồng Thủy sản Thế giới 2026 (WA2026) diễn ra từ ngày 2 - 5/6 tại Singapore đã quy tụ hơn 2.000 chuyên gia, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách từ khắp thế giới nhằm thúc đẩy đổi mới, phát triển bền vững và tăng cường an ninh lương thực toàn cầu.
Với chủ đề “Thúc đẩy sản xuất năng suất cao thông qua dinh dưỡng, sức khỏe, di truyền và tài nguyên”, sự kiện khẳng định vai trò của Singapore như một trung tâm đổi mới trong ngành nuôi trồng thủy sản. Hội nghị có hơn 100 gian hàng triển lãm cùng chương trình khoa học quy mô lớn với 550 báo cáo, gồm 381 bài trình bày miệng và 169 poster điện tử.
Các phiên thảo luận tập trung vào những vấn đề trọng tâm như dinh dưỡng thủy sản, nguyên liệu thức ăn thay thế, sức khỏe động vật thủy sinh, di truyền, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và các mô hình sản xuất bền vững. Các diễn giả nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới công nghệ, hợp tác quốc tế và phát triển có trách nhiệm để đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, các chuyến tham quan thực tế tại cơ sở nghiên cứu và trang trại nuôi hiện đại đã giúp người tham dự tiếp cận các công nghệ mới về giống, quản lý môi trường, an toàn sinh học và tự động hóa sản xuất. WA2026 cũng vinh danh các cá nhân, tổ chức và sinh viên có đóng góp nổi bật cho ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu.
Scotland
Cá hồi nuôi chứa hàm lượng vitamin D3 cao
Một báo cáo mới của Viện Rowett thuộc Đại học Aberdeen cho thấy cá hồi nuôi tại Scotland chứa hàm lượng vitamin D3 cao hơn đáng kể so với các dữ liệu trước đây của Anh và Na Uy. Các mẫu cá hồi được phân tích trong giai đoạn 2024 - 2025 chứa khoảng 9 microgam vitamin D3/100 g, so với 5 microgam trong dữ liệu của Anh năm 2003 và 7 microgam trong dữ liệu của Na Uy. Báo cáo khẳng định cá hồi Scotland vẫn là nguồn cung cấp dồi dào vitamin D, axit béo omega-3 (EPA và DHA) và protein chất lượng cao. Các nghiên cứu được tổng hợp cho thấy việc tiêu thụ cá thường xuyên có tác động tốt
tới sức khỏe, cụ thể, nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch vành thấp hơn 21% và nguy cơ đột quỵ thấp hơn 9%.
Ngoài ra, một nghiên cứu tại Scotland ghi nhận việc ăn cá hồi thường xuyên giúp giảm 15% triglyceride trong máu, giảm 7% cholesterol LDL (“xấu”), tăng 5% cholesterol HDL (“tốt”) và hỗ trợ kiểm soát huyết áp. Báo cáo cũng cho biết việc tiêu thụ cá trong thai kỳ có thể mang lại lợi ích cho sự phát triển nhận thức và hành vi của trẻ em.
Brazil
Công bố kết quả đánh giá omega-3
Tính trên mỗi kg DHA omega-3, tác động
đến biến đổi khí hậu giảm 18 - 23%, lượng nước sử dụng giảm 44 - 54%, đồng thời giảm tác động đến sử dụng đất và phát thải bụi mịn. Những kết quả này đạt được nhờ tối ưu hóa chủng tảo, nâng cao hiệu suất sản xuất và cải thiện hoạt động tìm nguồn cung ứng.
Nghiên cứu cũng cho thấy DHA từ tảo của
Corbion có dấu chân carbon thấp hơn khoảng
40 - 50% so với mức trung bình của dầu cá, góp phần giảm áp lực lên nguồn tài nguyên biển và đa dạng hóa nguồn cung omega-3.
Đánh giá được thực hiện theo các tiêu chuẩn
ISO quốc tế, sử dụng dữ liệu cập nhật từ nhà máy sản xuất omega-3 từ tảo của Corbion tại Brazil. Sản phẩm được sản xuất bằng công nghệ lên men quy mô lớn với nguyên liệu có
CON SỐ & SỰ KIỆN
1 TỶ ĐỒNG
Là mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính do cá nhân thực hiện trong lĩnh vực thủy sản (với tổ chức là 2 tỷ đồng), theo quy định tại Nghị định 246/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 18/8/2026.
4,95 TRIỆU TẤN
Là tổng sản lượng thủy sản thu hoạch của cả nước trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 3,6% so với cùng kỳ. Trong đó, lĩnh vực nuôi trồng với sản lượng đạt gần 3 triệu tấn (tăng 5,7%), nâng tổng sản lượng thủy sản lên 4,95 triệu tấn (tăng 3,6%).
nguồn gốc bền vững và năng lượng tái tạo từ phụ phẩm mía đường.
Corbion cho biết các sản phẩm DHA từ tảo của công ty giúp khách hàng trong lĩnh vực thủy sản, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thú cưng và dinh dưỡng con người đáp ứng đồng thời các mục tiêu về hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững.
Đài Loan
AquaTech Taiwan 2026
Sự kiện sẽ diễn ra từ ngày 8 - 10/9/2026 tại TaiNEX 1 (Đài Bắc, Đài Loan) trong khuôn khổ Tuần lễ Nông nghiệp Thông minh Đài Loan. Đây là một trong những triển lãm chuyên ngành nuôi trồng thủy sản hàng đầu châu Á, quy tụ các doanh nghiệp, chuyên gia và nhà cung cấp công nghệ từ nhiều quốc gia. Triển lãm diễn ra trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản Đài Loan đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, nguồn nước hạn chế, chi phí sản xuất tăng và thiếu hụt lao động. Điều này thúc đẩy nhu cầu áp dụng các công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí và phát triển bền vững.
Tiếp nối thành công của kỳ triển lãm trước với hơn 770 gian hàng và 21.000 khách tham quan từ 69 quốc gia, AquaTech Taiwan 2026 được kỳ vọng sẽ tiếp tục là điểm kết nối quan trọng giữa các nhà cung cấp công nghệ toàn cầu và ngành nuôi trồng thủy sản châu Á.
Hoàng Dương
5,7 TỶ USD
Là kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Trung Quốc vươn lên thành thị trường tăng trưởng mạnh nhất (tăng 41,7%).
21.590 ĐỒNG/LÍT
Là mức giá dầu diesel đã giảm sâu thời gian gần đây (giảm khoảng 43% so với mức đỉnh 38.000 đồng/lít). Điều này giúp giảm đáng kể chi phí chuyến biển, tạo động lực lớn để ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.
Dinh dưỡng thông minh
hình
Trong xu thế chuyển đổi số và phát triển bền vững, dinh dưỡng thông minh đang trở thành hướng đi mới giúp ngành thủy sản tối ưu hiệu quả sản xuất, nâng cao sức khỏe vật nuôi và giảm tác động môi trường. TS. Nguyễn Duy Hòa – Giám đốc Kỹ thuật toàn cầu ngành hàng Empyreal, Tập đoàn Cargill chia sẻ góc nhìn về vai trò của khoa học, công nghệ và
dữ liệu trong định hình tương lai ngành thủy sản.
Phóng viên: Trong bối cảnh ngành thủy sản bước vào giai đoạn chuyển đổi 4.0, “dinh dưỡng thông minh” nên được hiểu như thế nào? Điều gì tạo nên sự khác biệt giữa giải pháp dinh dưỡng thông minh và giải pháp truyền thống, thưa ông?
TS. Nguyễn Duy Hòa: Theo tôi, dinh dưỡng thông minh (Smart Nutrition) là cách tiếp cận mới trong nuôi trồng thủy sản, kết hợp khoa học dinh dưỡng chính xác với dữ liệu, công nghệ cảm biến, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo nhằm xây dựng khẩu phần tối ưu cho vật nuôi, phù hợp với nhu cầu sinh học và điều kiện môi trường nuôi thực tế. Qua đó, hướng tới tối ưu đồng thời năng suất, sức khỏe vật nuôi, hiệu quả kinh tế và tính bền vững của toàn bộ chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị.
Trong nhiều năm, ngành thức ăn thủy sản chủ yếu tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu
về protein, lipid, vitamin và khoáng chất cho vật nuôi. Tuy nhiên, một giải pháp dinh dưỡng thông minh cần giải quyết nhiều vấn đề hơn, như: Vật nuôi có hấp thu tối đa các chất dinh dưỡng hay không; hệ vi sinh đường ruột có được cải thiện không; khả năng chống chịu stress và dịch bệnh có được nâng cao không; lượng chất thải ra môi trường và tác động đến hiệu ứng nhà kính có được giảm thiểu không và cuối cùng là hiệu quả kinh tế, lợi nhuận của người nuôi có được tối ưu hay không. Sự khác biệt cốt lõi nằm ở cách tiếp cận. Nếu giải pháp truyền thống tập trung tối ưu thành phần nguyên liệu thức ăn nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi và kiểm soát chi phí công thức, thì dinh dưỡng thông minh hướng tới tối ưu kết quả cuối cùng của cả hệ thống sản xuất. Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa khoa học dinh dưỡng chính xác, nguồn nguyên liệu có giá trị sinh học cao, nguyên liệu và phụ gia chức năng, công nghệ sản xuất hiện đại cùng khả năng phân tích dữ liệu để tạo ra giá trị cao nhất trên mỗi kilogram thức ăn được sử dụng.
Phóng
nuôi không tạo ra lợi nhuận từ việc mua thức ăn với giá thấp hơn, mà từ việc sản xuất được nhiều sản phẩm hơn với chi phí tối ưu hơn. Vì vậy, yếu tố cần quan tâm không chỉ là giá mỗi kilogram thức ăn, mà là chi phí để tạo ra một kilogram tôm hoặc cá thương phẩm. Một chương trình dinh dưỡng thông minh có thể cải thiện hiệu quả kinh tế thông qua nhiều yếu tố đồng thời, bao gồm áp dụng khoa học dinh dưỡng chính xác, xây dựng chiến lược cho ăn phù hợp dựa trên hiểu biết về sinh học vật nuôi, kết hợp với các công nghệ hiện đại như cảm biến, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI). Những giải pháp này giúp cải thiện chất lượng nước ao nuôi, nâng cao sức khỏe vật nuôi, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng, từ đó hướng tới mục tiêu cuối cùng là gia tăng năng suất trên một đơn vị diện tích và giảm chi phí sản xuất trên mỗi kilogram tăng trọng. Ví dụ, đối với con tôm, về mặt khoa học dinh dưỡng cần đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng dinh dưỡng và sức khỏe vật nuôi trong giai đoạn đầu (45 ngày đầu tiên) để cải thiện tỷ lệ sống đến giai đoạn thu hoạch. Khi vật nuôi có nền tảng sức khỏe
TS. Nguyễn Duy Hòa
Cargill
dựa trên lợi tức đầu tư (Return on Investment - ROI) thay vì chỉ xem xét giá bán sản phẩm.
Phóng viên: Các thị trường xuất khẩu ngày càng chú trọng đến phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và dấu chân carbon của sản phẩm thủy sản. Theo ông, dinh dưỡng có thể đóng góp như thế nào vào mục tiêu giảm tác động môi trường của ngành?
TS. Nguyễn Duy Hòa: Dấu chân carbon hay hiệu ứng nhà kính không chỉ phản ánh lượng khí thải CO 2 mà còn bao gồm nhiều loại khí thải khác như methane (CH 4 ), nitơ oxit (N 2 O) và các khí fluor. Tuy nhiên, các loại khí thải này được quy đổi về cùng một
đơn vị tiêu chuẩn là lượng CO 2 tương đương trên mỗi đơn vị sản phẩm. Trong ngành
thủy sản, dấu chân carbon là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm thức ăn, hệ thống nuôi, công nghệ sản xuất và hoạt
động chế biến.
Ở góc độ thức ăn, dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tác động môi trường, không chỉ thông qua việc giảm sử dụng các nguồn nguyên liệu có dấu chân carbon cao trong công thức, mà còn thông qua việc xây dựng chương trình dinh dưỡng giúp vật nuôi tiêu hóa và hấp thu hiệu quả hơn, từ đó giảm lượng chất thải ra môi trường và hạn chế phát thải khí nhà kính.
Việc giảm tác động môi trường cần được nhìn nhận ở phạm vi rộng hơn, bao gồm giảm phát thải khí nhà kính, hạn chế lượng nitơ và phospho thải ra môi trường, đồng thời giảm áp lực lên đa dạng sinh học và nguồn lợi tự nhiên. Ví dụ, mặc dù bột cá có dấu chân carbon thấp hơn so với một số nguồn đạm thực vật như đậu nành, nhưng xu hướng giảm phụ thuộc vào bột cá trong thức ăn thủy sản vẫn ngày càng được quan tâm nhằm hướng tới sự bền vững, bởi việc khai thác quá mức nguồn nguyên liệu này có thể ảnh hưởng đến sản lượng cá tự nhiên, hệ sinh thái và đa dạng nguồn lợi thủy sản.
Dinh dưỡng vì thế là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao tính bền vững của ngành thủy sản. Việc lựa chọn các nguồn nguyên liệu có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng, giá trị phát thải thấp và được sản xuất có trách nhiệm sẽ tạo tác động tích cực đến toàn bộ chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, dinh dưỡng chính xác giúp giảm lượng nitơ và phospho thải ra môi trường. Khi khả năng tiêu hóa được cải thiện, vật nuôi có thể sử dụng hiệu quả hơn từng đơn vị dinh dưỡng, giúp giảm hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và giảm lượng nguyên liệu cần thiết để sản xuất một kilogram thủy sản.
Tôi cho rằng, trong tương lai gần, mỗi công thức thức ăn sẽ không chỉ bao gồm bảng thành phần dinh dưỡng mà còn đi kèm với
các chỉ số về dấu chân carbon, khả năng truy xuất nguồn gốc và các tiêu chí ESG. Đây sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng trên thị trường quốc tế.
Phóng viên: Theo ông, trong tương lai, liệu ngành thủy sản có thể tiến tới mô hình dinh dưỡng “máy đo”, tức là xây dựng giải pháp phù hợp với từng loài nuôi, từng giai đoạn phát triển và từng điều kiện sản xuất cụ thể hay không?
TS. Nguyễn Duy Hòa: Tôi tin rằng đây là xu hướng tất yếu. Nói cách khác, thức ăn trong tương lai sẽ không còn là một sản phẩm cố định mà sẽ trở thành một giải pháp linh hoạt, được tối ưu hóa theo từng điều kiện sản xuất cụ thể.
Ngành thủy sản đang chuyển từ tư duy “một công thức cho tất cả” sang dinh dưỡng chính xác (Precision Nutrition). Theo đó, giải pháp dinh dưỡng sẽ được thiết kế dựa trên nhiều yếu tố như loài nuôi, đặc điểm di truyền, giai đoạn phát triển, điều kiện môi trường, chất lượng nước, mật độ nuôi, hệ thống canh tác (như nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh) và công nghệ nuôi (như Biofloc, hệ thống nuôi tuần hoàn RAS, nuôi thay nước…). Khi dữ liệu từ trang trại được thu thập và phân tích liên tục, công thức thức ăn hoàn toàn có thể được điều chỉnh theo thời gian thực, nhằm đáp ứng chính xác hơn nhu cầu của vật nuôi và mục tiêu sản xuất.
Phóng viên: Dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa đang ngày càng được ứng dụng trong nuôi thủy sản. Ông dự đoán những công nghệ này sẽ thay đổi cách quản lý dinh dưỡng và vận hành trang trại nuôi trong tương lai như thế nào?
TS. Nguyễn Duy Hòa: Tôi tin rằng trí tuệ nhân tạo sẽ tạo ra một bước chuyển lớn trong quản lý dinh dưỡng nói riêng và vận hành hệ thống sản xuất nói chung. Với sự phát triển của công nghệ, người nuôi có thể theo dõi và quản lý hoạt động trang trại từ xa một cách hiệu quả hơn.
Các cảm biến, camera dưới nước, hệ thống quan trắc môi trường và thiết bị cho ăn tự động sẽ liên tục cung cấp dữ liệu về chất lượng nước, hoạt động bắt mồi, tốc độ tăng trưởng và tình trạng sức khỏe của vật nuôi. Những dữ liệu này sẽ
tuệ nhân tạo (AI) để phân tích theo thời gian thực, từ đó đưa ra các khuyến nghị về lượng thức ăn, thời điểm cho ăn, loại thức ăn phù hợp, đồng thời có khả năng dự báo sớm nguy cơ stress hoặc dịch bệnh. Điều này không chỉ giúp giảm lãng phí thức ăn mà còn góp phần ổn định môi trường ao nuôi, nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và giảm rủi ro trong sản xuất. Theo tôi, trong tương lai, thức ăn sẽ không chỉ đơn thuần là một sản phẩm đầu vào mà sẽ trở thành một phần trong hệ sinh thái quản lý số, nơi dinh dưỡng, môi trường và sức khỏe vật nuôi được quản lý như một hệ thống thống nhất.
Phóng viên: Từ góc nhìn kỹ thuật của một chuyên gia, những xu hướng nghiên cứu và đổi mới nào trong lĩnh vực dinh dưỡng thủy sản đang được quan tâm và có khả năng tạo ra những thay đổi lớn trong thời gian tới?
TS. Nguyễn Duy Hòa: Theo tôi, có năm xu hướng chính sẽ định hình lĩnh vực dinh dưỡng thủy sản trong thập kỷ tới.
Thứ nhất là sự phát triển của các nguồn đạm sáng tạo (innovative proteins) thế hệ mới, bao gồm protein lên men, protein đơn bào, protein từ côn trùng và các nguồn protein có hoạt tính sinh học cao. Những nguồn nguyên liệu này nhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn
“
Tôi tin rằng tương lai của ngành thủy sản sẽ không được quyết định bởi doanh nghiệp nào sản xuất thức ăn với chi phí thấp nhất, mà bởi doanh nghiệp nào tạo ra nhiều giá trị nhất trên mỗi kilogram thức ăn đã sử dụng. Dinh dưỡng thông minh sẽ là cầu nối giữa khoa học, công nghệ và phát triển bền vững, giúp người nuôi nâng cao hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu.
“
tài nguyên biển, đồng thời góp phần nâng cao sức khỏe và hiệu quả nuôi của vật nuôi. Một số hướng nghiên cứu nổi bật gồm:
Protein lên men tạo acid hữu cơ và peptide sinh học.
Protein đơn bào.
Protein từ côn trùng.
Protein từ tảo biển, rong biển.
Protein vi khuẩn (bacterial protein).
Protein tái sử dụng từ phụ phẩm (upcycle proteins).
Thứ hai là dinh dưỡng chính xác (Precision Nutrition), trong đó trọng tâm đang chuyển dịch từ việc chỉ quan tâm đến hàm lượng protein thô sang khả năng cung cấp acid amin tiêu hóa, peptide hoạt tính sinh học và hiệu quả sử dụng dinh dưỡng thực tế của vật nuôi.
Thứ ba là dinh dưỡng chức năng, tập trung vào việc cải thiện sức khỏe đường ruột, tăng cường miễn dịch và nâng cao khả năng chống chịu của vật nuôi thông qua các hợp chất sinh
học như postbiotics, các nhóm chất chống stress, chống ôxy hóa, kháng khuẩn tự nhiên, cùng với việc bổ sung vitamin và khoáng chất thay vì phụ thuộc vào kháng sinh.
Thứ tư là dinh dưỡng số (Digital Nutrition), trong đó dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các mô hình dự báo sẽ đóng vai trò hỗ trợ xây dựng, điều chỉnh chương trình dinh dưỡng phù hợp với điều kiện thực tế của từng trang trại.
Thứ năm, mọi đổi mới trong lĩnh vực dinh dưỡng thủy sản sẽ hướng đến mục tiêu chung là “Produce More with Less”, tạo ra nhiều sản phẩm hơn với ít tài nguyên hơn, giảm phát thải hơn và nâng cao hiệu quả kinh tế. Đây cũng chính là hướng đi quan trọng để ngành thủy sản phát triển bền vững trong dài hạn. Trân trọng cảm ơn ông!
Không chỉ nuôi tôm, hãy nuôi cả
hệ sinh thái
Trong bối cảnh nuôi trồng thủy sản ngày càng phát
triển theo hướng thâm canh, thách thức của ngành
không chỉ là gia tăng sản lượng mà còn là bảo vệ và
phục hồi hệ sinh thái, nền tảng quyết định sự ổn định,
hiệu quả và tính bền vững của mỗi vụ nuôi.
Ảnh: istock
Những tín hiệu dưới mặt nước
Từ những vùng nước từng là nơi nuôi
dưỡng sinh kế của cộng đồng, nhiều thủy vực đang dần phát đi những tín hiệu cảnh báo.
Có nơi nguồn nước suy giảm chất lượng, có nơi hoạt động sản xuất tạo áp lực vượt quá khả năng phục hồi của môi trường, có nơi vật nuôi trở thành tín hiệu cuối cùng báo hiệu những thay đổi đang diễn ra dưới mặt nước. Nhìn riêng lẻ, đó có thể là những câu chuyện của từng địa phương, từng vùng nuôi, từng loại hình sản xuất khác nhau. Nhưng đặt trong bức tranh chung của ngành thủy sản, những biến động ấy đang phản ánh một thực tế đáng suy ngẫm: Sức khỏe của hệ sinh thái thủy vực đang trở thành nền tảng quyết định hiệu quả và khả năng phát triển bền vững của nghề nuôi.
Điều đáng nói là hệ sinh thái hiếm khi suy yếu trong một ngày. Sự mất cân bằng thường bắt đầu từ những thay đổi âm thầm mà con người khó nhận thấy bằng mắt thường:
Lượng chất hữu cơ tích tụ ngày càng nhiều, khả năng tự làm sạch của nguồn nước suy giảm, cấu trúc sinh học thay đổi, các nhóm sinh vật có lợi bị ảnh hưởng.
Đến khi những biểu hiện rõ ràng xuất hiện như nước biến động, vật nuôi giảm sức khỏe, dịch bệnh gia tăng hay năng suất suy giảm, đó có thể chỉ là kết quả cuối cùng của một quá trình đã diễn ra từ trước.
Hệ sinh thái luôn lên tiếng trước khi vật nuôi lên tiếng.
Đây cũng là lời nhắc nhở quan trọng đối với nghề nuôi thủy sản hiện đại: Muốn tạo ra những sản phẩm chất lượng, trước hết phải duy trì một môi trường đủ khỏe để nuôi dưỡng sự sống.
Nền tảng của một vụ nuôi
Trong mỗi vụ, người nuôi thường dành nhiều sự quan tâm cho những yếu tố có thể quan sát và đo lường được: Con giống, thức ăn, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống hay kích cỡ thu hoạch.
Mỗi ngày, họ theo dõi màu nước, kiểm tra sức ăn của đàn tôm, điều chỉnh lượng thức ăn và xử lý những thay đổi bất thường để bảo vệ thành quả sản xuất. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu, bởi vật nuôi chính là kết quả cuối cùng của cả một quá trình đầu tư.
Nhưng phía dưới mặt nước là một thế giới khác đang âm thầm vận hành. Một ao nuôi
không chỉ là nơi chứa vật nuôi, mà là một hệ thống sống với hàng triệu mối liên kết sinh học diễn ra mỗi ngày. Vi sinh vật, tảo, động vật phù du cùng nhiều nhóm sinh vật nhỏ bé khác tham gia vào quá trình phân hủy chất hữu cơ, chuyển hóa dinh dưỡng và duy trì sự ổn định của môi trường.
Những yếu tố ấy không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng lại quyết định khả năng vận hành của cả hệ thống nuôi.
Khi môi trường duy trì được trạng thái cân bằng, các quá trình sinh học diễn ra ổn định hơn, vật nuôi có điều kiện phát triển tốt hơn và người nuôi cũng chủ động hơn trong việc kiểm soát rủi ro.
Ngược lại, khi nền tảng sinh học suy yếu, những dấu hiệu bất thường bắt đầu xuất
hiện: Chất hữu cơ tích tụ, chất lượng nước biến động, các yếu tố bất lợi gia tăng và sức chống chịu của vật nuôi giảm xuống.
Điều đáng lưu ý là phần lớn những thay
đổi này không xuất hiện ngay trên đàn tôm.
Chúng thường bắt đầu từ môi trường trước khi trở thành vấn đề mà người nuôi có thể quan sát được.
Vì vậy, việc chỉ tập trung xử lý khi tôm giảm ăn, chậm lớn hay phát sinh dấu hiệu bất thường nhiều khi đồng nghĩa với việc giải quyết phần ngọn của một quá trình đã diễn ra từ trước.
Thực chất, người nuôi không chỉ đang chăm sóc một đàn tôm. Họ đang quản lý nền tảng sự sống của cả vụ nuôi.
Từ nuôi con tôm đến nuôi hệ sinh thái
Trong tự nhiên, không có hệ sinh thái nào tồn tại nhờ một yếu tố duy nhất.
Một khu rừng khỏe mạnh không chỉ nhờ cây xanh, mà còn cần đất, nước, vi sinh vật và hàng triệu mối liên kết sinh học khác. Một ao nuôi cũng vận hành theo nguyên lý tương tự.
Con tôm là sản phẩm cuối cùng của một hệ thống, nhưng chất lượng của sản phẩm ấy phụ thuộc vào sức khỏe của môi trường đã tạo ra nó.
Vì vậy, “nuôi hệ sinh thái” không có nghĩa là để tự nhiên vận hành một cách thụ động.
Đó là cách tiếp cận chủ động dựa trên hiểu biết khoa học, trong đó người nuôi quản lý tổng thể các yếu tố tạo nên sự ổn định của hệ thống.
Đó là quản lý nền đáy ao, kiểm soát lượng chất hữu cơ, duy trì hệ vi sinh có lợi, ổn định
chất lượng nước, tối ưu dinh dưỡng và vận hành mô hình nuôi phù hợp với khả năng phục hồi của môi trường.
Đây cũng là sự chuyển đổi quan trọng trong tư duy phát triển của ngành thủy sản. Từ xử lý sự cố sang phòng ngừa rủi ro. Từ chữa bệnh cho vật nuôi sang quản lý sức khỏe hệ thống. Từ chạy theo sản lượng sang tạo ra giá trị bền vững.
Sự phát triển của khoa học công nghệ đang mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành thủy sản thông qua các giải pháp như quan trắc môi trường tự động, quản lý dữ liệu, công nghệ sinh học, dinh dưỡng chính xác và mô hình nuôi tuần hoàn.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với một tư duy đúng về mối quan hệ giữa sản xuất và môi trường. Một ao nuôi thành công không phải là ao có nhiều đầu vào nhất. Đó là ao có khả năng vận hành ổn định, sử dụng hiệu quả nguồn lực và duy trì được sức khỏe của hệ sinh thái qua nhiều vụ nuôi. Trong tương lai, thành công của ngành thủy sản có lẽ sẽ không chỉ được đo bằng sản lượng thu hoạch, mà còn bằng khả năng duy trì những nền tảng tự nhiên giúp hoạt động sản xuất tiếp tục phát triển.
Người nông dân gieo hạt xuống đất với niềm tin rằng ngày mai cây sẽ mọc lên. Người nuôi thủy sản cũng gửi niềm tin của mình xuống mặt nước, nơi những điều mắt thường không nhìn thấy đang âm thầm tạo nên sự sống.
Nuôi hệ sinh thái cũng là một hành trình của niềm tin và sự kiên nhẫn. Bởi không phải điều gì tốt đẹp cũng cho kết quả ngay lập tức. Nhưng mọi giá trị bền vững đều bắt đầu từ những điều nhỏ bé: Từ những vi sinh vật đang cần mẫn làm việc dưới đáy ao, từ những chu trình sinh học đang lặng lẽ vận hành mỗi ngày.
Giống như đất nuôi dưỡng cây xanh, hệ sinh thái nuôi dưỡng những vụ mùa thủy sản. Lặng lẽ, bền bỉ và không ngừng tạo nên nền tảng cho sự sống.
CHUYÊN TRANG VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT THỦY SẢN - CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
Kiểm soát virus TiLV và truy xuất nguồn gốc cá rô phi phục vụ xuất khẩu
Ngành cá rô phi Việt Nam đang ghi nhận dư địa tăng trưởng tích cực tại Brazil. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, yêu cầu kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là virus TiLV, cùng với hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc đang trở thành hai trụ cột quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng quản lý và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Tiềm năng cá rô phi
Cá rô phi là đối tượng nuôi thủy
sản có tiềm năng phát triển, phù
hợp với điều kiện sinh thái của
Việt Nam, có khả năng mở rộng
sản xuất, chế biến và xuất khẩu.
Giai đoạn 2015 - 2025, diện tích
nuôi cá rô phi tăng từ 25,7 nghìn ha lên 42 nghìn ha; sản lượng tăng từ 187,8 nghìn tấn lên 420 nghìn tấn, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 8,4%/năm.
Kim ngạch xuất khẩu cá rô phi
của Việt Nam cũng tăng nhanh trong những năm gần đây, từ khoảng 17 triệu USD năm 2023 lên 41 triệu USD năm 2024 và đạt 99,3 triệu USD năm 2025. Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 53 triệu USD năm 2025; Brazil đạt 11 triệu USD, tăng trên 70 lần so với năm 2024. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá rô phi sang Brazil đạt khoảng 41 triệu USD, chiếm 54,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam, đưa Brazil trở thành một trong những thị trường trọng điểm của ngành hàng cá rô phi Việt Nam.
Rào cản thương mại
Sự tăng trưởng nhanh của ngành cá rô phi mở ra nhiều cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, song đồng thời cũng đặt ra yêu
cầu phải đáp ứng ngày càng cao các quy định kỹ thuật và kiểm dịch của các nước nhập khẩu.
Cùng với xu hướng hội nhập sâu rộng, thị trường thủy sản toàn cầu đang chuyển dịch từ việc áp dụng hàng rào thuế quan sang tăng cường các biện pháp quản lý kỹ thuật. Nếu trước đây chất
lượng thành phẩm là tiêu chí đánh giá chủ yếu thì hiện nay, nhiều quốc gia yêu cầu kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất, từ con giống, cơ sở/vùng nuôi, điều kiện nuôi, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh đến khả năng truy xuất nguồn gốc của từng lô hàng.
Xu hướng này phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng
chống dịch bệnh xuyên biên giới.
Đối với sản phẩm thủy sản nuôi, đặc biệt là cá rô phi, việc đáp ứng
đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật không
chỉ là điều kiện để hàng hóa được thông quan mà còn là yếu tố quyết
định khả năng duy trì thị trường
xuất khẩu trong dài hạn.
Trong số các thị trường nhập
khẩu, Brazil đang trở thành điểm
đến quan trọng của cá rô phi Việt
Nam. Theo Cục Thủy sản và Kiểm
ngư, dư địa tại thị trường này còn
rất lớn. Tuy nhiên, song hành với
cơ hội là những yêu cầu ngày
càng nghiêm ngặt về kiểm dịch
động vật thủy sản và kiểm soát
dịch bệnh.
Tháng 12/2025, trên cơ sở đánh
giá rủi ro nhập khẩu đối với sản
phẩm cá rô phi và các quan ngại
được nêu từ phía ngành sản xuất
thủy sản trong nước Brazil liên quan đến nguy cơ xâm nhập TiLV, Cơ quan Thú y (DSA) thuộc Bộ
Nông nghiệp và Chăn nuôi Brazil (MAPA) đã ban hành Quy định số
RIG.PJ.DP.AQUA.EX.AH.DEZ.25
(có hiệu lực từ ngày 16/12/2025)
cập nhật yêu cầu về chứng nhận an toàn thực phẩm và an toàn dịch
bệnh trong chứng thư cấp cho các lô hàng thủy sản xuất khẩu vào Brazil. Theo đó, đối với một
số nhóm sản phẩm cá rô phi, quy
định yêu cầu sản phẩm phải có
nguồn gốc từ quốc gia, khu vực
hoặc vùng lãnh thổ được tuyên
bố/báo cáo không có TiLV theo
quy định của Tổ chức Thú y thế
giới (WOAH), hoặc lô hàng phải
được lấy mẫu, xét nghiệm TiLV
theo phương pháp, quy trình được
Cơ quan Thú y Brazil chấp thuận.
Đồng thời, tại cấp bang, một
số địa phương của Brazil đã ban
hành hoặc xem xét các biện pháp
riêng đối với cá rô phi nhập khẩu,
gồm hạn chế lưu thông, thương
mại hóa, kinh doanh, phân phối,
lưu kho, chế biến hoặc điều chỉnh
thuế đối với sản phẩm nhập khẩu.
Theo thông tin từ Đại sứ quán Việt
Nam tại một số bang của Brazil
đã xuất hiện các biện pháp hoặc
động thái kiểm soát, hạn chế đối
với cá rô phi nhập khẩu.
Mặc dù các biện pháp này còn
phải trải qua nhiều bước xem xét trước khi có hiệu lực đầy đủ, nhưng đây là tín hiệu cho thấy các yêu cầu kỹ thuật đối với cá rô phi nhập khẩu sẽ tiếp tục được siết chặt trong thời gian tới. Điều này
đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu phải chủ động thích ứng thay vì chờ
đến khi thị trường áp dụng các quy định mới.
Trong bối cảnh đó, kiểm soát
hiệu quả virus TiLV và bảo đảm
truy xuất nguồn gốc được xem là
hai yêu cầu then chốt để đáp ứng các quy định của nước nhập khẩu.
Đây không chỉ là điều kiện phục
vụ công tác kiểm dịch, cấp chứng
nhận hay thông quan hàng hóa mà
còn góp phần nâng cao tính minh
bạch của chuỗi sản xuất, củng cố
niềm tin của nhà nhập khẩu và
người tiêu dùng. Về lâu dài, việc
chủ động đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật quốc tế sẽ giúp ngành cá rô phi Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và phát triển theo hướng bền vững.
Kiểm soát virus TiLV trong hệ thống nuôi
TiLV hiện được nhiều quốc gia ghi nhận là một trong những tác nhân gây bệnh đáng quan ngại đối với cá rô phi nuôi thương phẩm. Sự xuất hiện và lây lan của mầm bệnh không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế, mà còn có thể trở thành yếu tố rủi ro trong kiểm dịch, làm phát sinh các rào cản kỹ thuật đối với hoạt động xuất khẩu. Hiện nay, các bệnh do virus gây ra trên thủy sản chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Do đó, hướng tiếp cận hiệu quả nhất vẫn là phòng ngừa từ sớm thông qua việc thiết lập hệ thống an toàn sinh học đồng bộ, kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào và duy trì môi trường nuôi ổn định trong suốt chu kỳ sản xuất. Theo khuyến cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, đối với các cơ sở nuôi cá bố mẹ, nguồn nước sử dụng trong sinh sản phải được xử lý đạt yêu cầu kỹ thuật, hạn chế tối đa nguy cơ mang mầm bệnh. Cá bố mẹ đưa vào khai thác phải có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, không biểu hiện dấu hiệu bất thường
dịch. Thức ăn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì sức khỏe
phải bảo đảm an toàn sinh học, không mang tác nhân gây bệnh. Với thức ăn tươi sống, quy trình xử
lý trước khi cho ăn cần được thực hiện nghiêm ngặt nhằm giảm thiểu nguy cơ truyền lây. Đối với thức ăn công nghiệp, yêu cầu bảo quản
đúng điều kiện, tránh ẩm mốc, suy giảm chất lượng hoặc nhiễm khuẩn trong quá trình lưu trữ.
Song song đó, việc sử dụng thuốc thú y thủy sản, chế phẩm sinh học và sản phẩm xử lý môi trường phải tuân thủ đúng danh mục được phép lưu hành, đồng thời thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn và nhà sản xuất, tránh lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích.
Ở khâu sản xuất giống, nguy
cơ lây nhiễm chéo giữa các bể, giữa các lứa ương được đánh giá là một trong những yếu tố rủi ro lớn đối với sự an toàn của toàn bộ hệ thống. Vì vậy, việc vệ sinh, tiêu độc khử trùng bể đẻ và bể ương trước - sau mỗi vụ được xem là yêu cầu bắt buộc.
Dụng cụ phục vụ sản xuất cần được phân tách theo từng khu vực, từng bể sử dụng riêng
biệt và tiến hành khử trùng ngay
sau khi sử dụng. Quy trình kiểm soát người ra vào, phương tiện vận chuyển và các yếu tố trung
gian cũng phải được thiết lập
chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa nguy cơ xâm nhập mầm bệnh từ
bên ngoài.
Ngoài ra, các đối tượng sinh vật
trung gian như chim ăn cá hoặc các loài có khả năng mang mầm
bệnh từ môi trường tự nhiên vào
khu vực sản xuất cũng cần được kiểm soát bằng biện pháp phù hợp, góp phần duy trì an toàn sinh học tổng thể.
Đối với nuôi thương phẩm, việc
lựa chọn con giống chất lượng
cao, có nguồn gốc rõ ràng và đã qua kiểm dịch là yếu tố đầu tiên
quyết định mức độ an toàn của cả chu kỳ nuôi. Mật độ thả cần được tính toán phù hợp với điều kiện ao nuôi, khả năng chịu tải môi trường và hệ thống quản lý kỹ thuật.
Trong quá trình nuôi, duy trì chất lượng nước ổn định, kết hợp vệ sinh định kỳ khu vực ao và dụng cụ sử dụng giúp hạn chế sự tích tụ mầm bệnh. Bên cạnh đó, cần sử dụng lượng thức ăn
Quản lý chặt chẽ quy trình sản xuất giúp nâng cao chất lượng và
khả năng truy xuất nguồn gốc
phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, tránh dư thừa gây ô nhiễm môi trường nước.
Người nuôi cần theo dõi sức khỏe đàn cá hằng ngày, kịp thời phát hiện các biểu hiện bất thường như giảm ăn, bơi lội không bình thường hoặc hiện tượng chết rải rác kéo dài. Khi xuất hiện dấu hiệu nghi ngờ, việc thông báo sớm cho cơ quan chuyên môn để được kiểm tra và hướng dẫn xử lý là hết sức cần thiết, nhằm hạn chế nguy cơ lan rộng trong cơ sở/vùng nuôi.
Trong hệ thống nuôi lồng bè, khu vực nuôi cần bảo đảm dòng chảy thông thoáng, khoảng cách giữa các lồng được bố trí hợp lý để tránh hiện tượng tích tụ chất thải và giảm nguy cơ lây lan mầm bệnh giữa các đơn vị nuôi. Dụng cụ sử dụng trong nuôi lồng phải được phân tách theo từng lồng, từng bè và thực hiện vệ sinh, khử trùng sau mỗi lần sử dụng. Chất thải, cá chết hoặc cá bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng các biện pháp phù hợp như vôi hoặc hóa chất được phép sử dụng trong nuôi trồng, tuân thủ hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.
Để xử lý môi trường nước, tăng sức đề kháng cho thủy sản, cơ sở nuôi chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép và theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản hoặc thú y. Ngừng sử dụng trước khi thu hoạch theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Minh bạch chuỗi sản xuất Nếu việc phòng, chống dịch bệnh góp phần tạo ra đàn cá khỏe mạnh, hạn chế thiệt hại trong quá
trình nuôi thì hệ thống truy xuất
nguồn gốc sẽ là căn cứ chứng minh toàn bộ quy trình sản xuất
được thực hiện theo đúng quy định, đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản
lý và thị trường nhập khẩu.
Để chủ động phòng ngừa rủi ro, ổn định sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu cá rô phi, Cục Thủy sản và
Kiểm ngư đề nghị các Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức phổ biến, hướng dẫn các cơ sở sản xuất giống, cơ sở nuôi, cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến, xuất khẩu cá rô phi trên địa bàn thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý giống thủy sản, điều kiện nuôi trồng thủy sản, phòng chống dịch bệnh động vật thủy sản, an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; tham khảo, áp dụng phù hợp các biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên cá rô phi theo Hướng dẫn của Cục Thủy sản và Kiểm ngư ban hành kèm theo Quyết định số 172/QĐ-TSKN ngày 16/4/2026.
Chỉ đạo cơ quan chuyên môn trực thuộc tăng cường quản lý chất lượng giống cá rô phi; kiểm soát nguồn gốc cá giống đưa vào sản xuất; hướng dẫn cơ sở sản xuất, ương dưỡng, kinh doanh giống thực hiện ghi chép, lưu giữ hồ sơ nguồn gốc, hồ sơ mua bán, vận chuyển giống và các thông tin có liên quan. Không sử dụng, vận chuyển, kinh doanh cá giống
không rõ nguồn gốc, chưa qua
kiểm dịch theo quy định.
Đồng thời, hướng dẫn các cơ
sở nuôi, cơ sở chế biến, xuất khẩu cá rô phi chuẩn bị và lưu giữ đầy
đủ hồ sơ kỹ thuật phục vụ tiêu thụ
trong nước và xuất khẩu, tối thiểu gồm: nguồn gốc giống; cơ sở/ vùng nuôi; nhật ký nuôi; tình hình
quản lý sức khỏe thủy sản; kết quả
giám sát, xét nghiệm dịch bệnh khi có yêu cầu; hồ sơ thu hoạch, vận chuyển; hồ sơ cơ sở cung cấp nguyên liệu; hồ sơ truy xuất
nguồn gốc và các chứng nhận có liên quan.
Đối với các cơ sở sản xuất giống, nuôi thương phẩm, thu mua, chế biến và xuất khẩu cần xây dựng, duy trì và hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Thông tin ghi nhận bao gồm con giống, cơ sở/vùng nuôi, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, hóa chất, chế phẩm xử lý môi trường, quá trình nuôi, thu hoạch, vận chuyển, chế biến đến xuất khẩu. Dữ liệu phải được lưu trữ đầy đủ, khoa học và sẵn sàng cung cấp khi cơ quan có thẩm quyền trong nước hoặc nước nhập khẩu yêu cầu.
Cùng với đó, cần chủ động thực hiện hoặc phối hợp thực hiện giám sát, lấy mẫu xét nghiệm các chỉ tiêu dịch bệnh theo yêu cầu của nước nhập khẩu đối với từng lô hàng, từng nhóm sản phẩm; lưu giữ kết quả xét nghiệm, hồ sơ lấy mẫu, thông tin cơ sở/vùng nuôi, lô nguyên liệu và lô hàng xuất khẩu theo quy định.
Khi phát sinh yêu cầu cụ thể liên quan đến TiLV chủ động liên hệ với Cục Chăn nuôi và Thú y để được hướng dẫn về phương pháp lấy mẫu, xét nghiệm và lựa chọn phòng thử nghiệm phù hợp với yêu cầu của nước nhập khẩu.
Kim Tiến
Tài liệu tham khảo:
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026) Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên cá rô phi (Ban hành kèm theo Quyết định số 172/ QĐ-TSKN ngày 16 tháng 04 năm 2026).
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026) Công văn số 2081/TSKNBTS ngày 15 tháng 06 năm 2026 về việc triển khai các biện pháp quản lý và chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật đối với cá rô phi phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang thị trường Brazil.
Nhận biết và phòng bệnh
đốm trắng (WSSV) trên tôm nuôi
Bệnh đốm trắng tiếp tục là một trong những thách thức lớn đối với nghề nuôi tôm khi có tốc độ lây lan nhanh và tỷ lệ gây chết cao. Trong điều kiện môi trường nuôi biến động, việc nhận biết sớm triệu chứng và chủ động phòng bệnh được xem là giải pháp quan trọng để bảo vệ an toàn ao nuôi.
Nguyên nhân
Bệnh do White Spot Syndrome Virus (WSSV), thuộc chi Whispovirus, họ Nimaviridae gây ra. Đây là loại virus có cấu trúc DNA sợi đôi, có màng bao lipid nên nhạy cảm với các chất diệt khuẩn nồng độ cao.
Đặc điểm dịch tễ
- Loài cảm nhiễm: Tôm sú (Penaeus monodon), tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei), tôm nương (P. chinensis), tôm he Nhật Bản (P. japonicus), tôm bạc (P. merguiensis), tôm thẻ (P. semisulcatus), tôm rảo (Metapenaeus ensis); các loài giáp xác tự nhiên (cua, còng, tôm hoang dã) đóng vai trò là vật chủ mang mầm bệnh. - Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm có thể cảm nhiễm ở mọi giai đoạn từ hậu ấu trùng đến trưởng thành; trong đó nhạy cảm nhất là giai đoạn từ 20 - 45 ngày và 60 - 65 ngày sau khi thả nuôi.
- Mùa vụ xuất hiện bệnh: Thường bùng phát mạnh vào các giai đoạn giao mùa khi thời tiết thay đổi đột ngột. Tại miền Bắc tập trung từ tháng 5 - 7; miền Trung từ tháng 2 - 5 và miền Nam từ tháng 11 - 3 năm sau.
- Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh mang tính toàn cầu và xuất hiện ở hầu hết các vùng nuôi tôm tại Việt Nam, chiếm 40 - 50% tổng số ổ dịch báo cáo hằng năm.
- Phương thức truyền lây:
+ Truyền ngang: Qua nguồn nước, bùn đáy, thức ăn tươi sống, xác tôm chết, dụng cụ, phương tiện, người nuôi. Nguồn nước cấp chung chưa xử lý, không có ao lắng, hoặc thức ăn tươi sống chưa khử trùng. Các loài trung gian như giáp xác nhỏ, giun nhiều tơ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, mực, chim ăn tôm có thể phát tán virus giữa các ao hoặc vùng nuôi.
+ Truyền dọc: Từ tôm bố mẹ sang trứng, ấu trùng và hậu ấu trùng. Tôm bố mẹ mang mầm
bệnh dù không biểu hiện vẫn có thể truyền virus cho thế hệ sau.
Dấu hiệu bệnh lý
- Giai đoạn cấp tính: Tôm giảm ăn đột ngột hoặc bỏ ăn hoàn toàn, bơi lờ đờ, mất phương hướng và tấp mép bờ. Thân tôm chuyển sang màu hồng đỏ, vỏ dễ bong tróc, máu loãng và chậm đông. Triệu chứng đặc trưng là các đốm trắng tròn (đường kính 0,5 - 2 mm) xuất hiện dày đặc bên dưới lớp vỏ giáp đầu ngực và các đốt bụng. Tỷ lệ chết có thể đạt 80100% chỉ trong vòng 2 - 5 ngày.
- Giai đoạn mãn tính: Tôm nhiễm virus nhưng không biểu hiện dấu hiệu lâm sàng hoặc đốm trắng thưa thớt, thường xuất hiện trong điều kiện môi trường thuận lợi, ít biến động và không bị stress.
Chẩn đoán xét nghiệm Mẫu bệnh phẩm (mang, chân bơi hoặc tôm nguyên con) được cố định ngay trong dung dịch cồn 90 - 95% theo tỷ lệ 1:10. Thực hiện xét nghiệm bằng kỹ thuật PCR hoặc Realtime PCR theo tiêu chuẩn TCVN 8710-3:2019
tại phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
Phòng, chống dịch bệnh
Đối với cơ sở nuôi tôm bố mẹ
- Nguồn nước: Nước cấp vào hệ thống phải qua lưới lọc để loại bỏ vật chủ trung gian, kết hợp xử lý bằng hóa chất (Chlorine, Iodine), tia UV hoặc lọc tinh để diệt trừ mầm bệnh trước khi đưa vào hệ thống sản xuất. Nước được xử lý đảm bảo chất lượng theo quy định. - Nguồn gốc, chất lượng tôm bố mẹ: Chỉ sử
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, hoạt động phòng, chống dịch bệnh trên tôm nước lợ phải được triển khai theo nguyên tắc “phòng bệnh là chính”, tăng cường tính chủ động trong giám sát mầm bệnh và an toàn sinh học. Tuyệt đối không sử dụng kháng sinh với mục đích phòng bệnh.
dụng tôm bố mẹ sạch bệnh (SPF), có nguồn gốc rõ ràng. Việc quản lý, sử dụng tôm bố mẹ phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT ngày 09/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT ngày 13/01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản và các quy định pháp luật có liên quan. - Thức ăn: Sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến bảo đảm chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng quy cách, không bị nhiễm nấm mốc, nhiễm khuẩn. Đối với thức ăn tươi sống (như giun nhiều tơ, mực, hàu…), phải được xử lý phù hợp và kiểm soát mầm bệnh (ưu tiên kiểm tra bằng phương pháp PCR khi cần thiết), bảo đảm không mang mầm bệnh trước khi cho tôm ăn. - Sử dụng thuốc, hóa chất, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đối với cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống - Xử lý nguồn nước: Nước phải được khử trùng triệt để; khuyến khích sử dụng hệ thống màng siêu lọc hoặc Ozone để loại bỏ vi khuẩn Vibrio - Vệ sinh bể và dụng cụ: Các bể
phải được vệ sinh, sát trùng bằng Chlorine nồng độ cao hoặc hóa chất kiềm mạnh trước
và sau mỗi đợt sản xuất. Sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng bể và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
- Xử lý ấu trùng: Thực hiện rửa ấu trùng Nauplius hoặc trứng tôm bằng dung dịch Formol (100 - 200 ppm) hoặc Iodine (1 - 2 ppm) để tiêu diệt mầm bệnh bám ngoài vỏ.
- Giám sát sức khỏe:
+ Bổ sung vitamin, khoáng chất để tăng đề kháng cho tôm giống.
+ Kiểm tra định kỳ các yếu tố môi trường (hàm lượng ôxy hòa tan pH, độ kiềm, khí độc).
+ Thực hiện xét nghiệm PCR định kỳ 100% các lô tôm hậu ấu trùng (PL) trước khi xuất bán nhằm cắt đứt chuỗi lây truyền dịch bệnh.
- Quản lý chất thải: Xác tôm và chất thải phải được thu gom, xử lý bằng hóa chất đúng quy định trước khi xả ra môi trường.
Đối với cơ sở nuôi tôm thương phẩm
- Lựa chọn con giống: Sử dụng giống khỏe mạnh, nguồn gốc từ đàn bố mẹ SPF và đã
được kiểm dịch theo quy định.
- Ao lắng và ao xử lý nước độc lập; cấp nước qua màng lọc tinh. Thiết kế hệ thống xi phông đáy để loại bỏ chất thải hữu cơ và mầm bệnh.
- Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học:
+ Trang bị lưới chắn chim, rào chắn ngăn chặn vật chủ trung gian như cua, còng.
+ Sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng ao và khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
+ Hạn chế người lạ vào khu vực nuôi; thực hiện vệ sinh, khử trùng người và phương tiện khi ra vào cơ sở.
- Quản lý môi trường và dinh dưỡng:
+ Duy trì các chỉ tiêu môi trường ổn định, hàm lượng ôxy hòa tan (DO > 5 mg/L), pH 7,5 - 8,3, hạn chế thay nước đột ngột gây stress cho tôm.
+ Sử dụng thức ăn chất lượng, bổ sung men vi sinh, Vitamin C, khoáng chất và chất kích thích miễn dịch (β-glucan) để nâng cao sức đề kháng.
+ Sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ để ức chế vi khuẩn có hại ( Vibrio spp.) và ổn định hệ vi sinh vật ao nuôi.
- Giám sát và báo cáo:
+ Theo dõi sức khỏe tôm hàng ngày; khuyến khích lấy mẫu xét nghiệm định kỳ 2 - 4 tuần/ lần để phát hiện sớm mầm bệnh.
+ Khi tôm có dấu hiệu bệnh lý hoặc chết bất thường, phải báo cáo ngay cho cơ quan chức năng trong vòng 48 - 72 giờ.
+ Tuyệt đối không xả nước ao bệnh ra môi trường khi chưa qua xử lý khử trùng bằng Chlorine (nồng độ ≥ 30 ppm) trong ít nhất 7 ngày.
- Quản lý chất thải: Xác tôm và chất thải phải được thu gom, xử lý bằng hóa chất đúng quy định trước khi xả ra môi trường.
Xây dựng và triển khai kế hoạch giám sát dịch bệnh
Công tác giám sát dịch bệnh phải được thực hiện thường xuyên nhằm phát hiện sớm tác nhân gây bệnh, kịp thời bao vây và xử lý ổ dịch ngay từ diện hẹp.
Giám sát chủ động: - Chủ cơ sở nuôi phải chủ động lấy mẫu xét nghiệm theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành để nhận diện sớm các nguy cơ nhiễm mầm bệnh nguy hiểm.
- Tần suất kiểm tra: Khuyến khích lấy mẫu tôm xét nghiệm tầm soát mầm bệnh định kỳ ít nhất 01 lần/tháng (hoặc 2 - 4 tuần/lần) đối với tôm nuôi thương phẩm, đặc biệt tại các vùng nuôi thâm canh, siêu thâm canh mật độ cao hoặc trong giai đoạn thời tiết biến động. Đối với trại sản xuất giống: Thực hiện xét nghiệm PCR định kỳ 100% các lô tôm hậu
ấu trùng (PL) trước khi xuất bán để đảm bảo cung cấp giống sạch bệnh ra thị trường.
Giám sát bị động:
- Khi phát hiện tôm nuôi có biểu hiện bệnh lý truyền nhiễm, chết nhanh với số lượng lớn hoặc chết bất thường không rõ nguyên nhân, chủ cơ sở phải thực hiện khai báo ngay lập tức.
- Địa chỉ tiếp nhận: Nhân viên thú y cấp xã, UBND cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thú y thủy sản nơi gần nhất qua điện thoại, văn bản hoặc trực tiếp.
- Thời hạn báo cáo: Không quá 48 giờ đối với vùng đồng bằng và 72 giờ đối với vùng sâu, vùng xa tính từ thời điểm phát hiện dấu hiệu bệnh.
- Phối hợp lấy mẫu: Chủ cơ sở phối hợp với cán bộ chuyên môn để kiểm tra và lấy mẫu gửi phòng thử nghiệm đủ năng lực. Mẫu bệnh phẩm được cố định ngay trong cồn Ethanol 90% - 95% với tỷ lệ thể tích 1:10 để đảm bảo chất lượng xét nghiệm PCR.
Xử lý kết quả dương tính:
- Thông báo: Chủ cơ sở phải thông báo cho các hộ nuôi xung quanh để cùng triển khai
biện pháp phòng bệnh, tránh dịch lây lan trên diện rộng.
- Cô lập ao bị bệnh: Ngừng ngay việc cho ăn, tuyệt đối không thay nước hoặc xả nước chưa qua xử lý ra môi trường chung nhằm chặn đứng dòng lây lan.
- Tiêu hủy tôm bệnh:
+ Tiêu hủy trực tiếp trong ao bằng hóa chất Chlorine (nồng độ 40 - 100 ppm) hoặc vôi bột để tiêu diệt hoàn toàn sinh khối tôm nhiễm bệnh.
+ Xác tôm sau tiêu hủy bắt buộc phải ngâm trong ao ít nhất 07 ngày để hóa chất tiêu diệt triệt để mầm bệnh ẩn sâu trong mô
tế bào và để dư lượng hóa chất tự phân hủy trước khi xả thải.
+ Thu hoạch: Trường hợp tôm đạt kích cỡ thương phẩm, khuyến khích thu hoạch sớm và chỉ được phép vận chuyển tôm ra ngoài vùng có dịch sau khi đã xử lý theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y và hướng dẫn thực hiện của UBND xã.
- Xử lý tôm chưa đạt kích cỡ thu hoạch:
+ Nếu tôm dương tính nhưng chưa có dấu hiệu lâm sàng: Tăng cường chăm sóc, bổ sung Vitamin C, Vitamin E, khoáng chất và các chất kích thích miễn dịch (β-glucan) để nâng cao sức đề kháng.
+ Nếu tôm có biểu hiện bệnh lý rõ rệt: Cân nhắc thu hoạch hoặc tiêu hủy tùy theo mức độ thiệt hại và giá trị kinh tế tại thời điểm đó.
- Vệ sinh môi trường: Khử trùng triệt để nước và bùn đáy ao bệnh bằng Chlorine nồng
độ ≥ 30 ppm; tiêu độc dụng cụ, lưới, thiết bị quạt nước và khu vực bờ ao bằng hóa chất sát trùng mạnh.
- Giám sát các ao chưa bị bệnh: Theo dõi chặt chẽ sức khỏe tôm và các chỉ tiêu môi trường; thực hiện an toàn sinh học nghiêm ngặt, hạn chế người và dụng cụ di chuyển giữa các ao để tránh lây nhiễm chéo.
Diệu Châu
Tài liệu tham khảo:
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026). Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên tôm nước lợ ( Ban hành kèm theo Quyết định số 123/QĐ-TSKN ngày 20 tháng 03 năm 2026)
Duy trì môi trường ao nuôi ổn định là chìa khóa
phòng bệnh
Xuất khẩu tôm
Tăng trưởng
nhưng vẫn
chưa hết lo
xuất khẩu tôm
cả nước ước đạt 2,3 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng
kỳ và chiếm 40,5% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu
chung của toàn ngành thủy sản. Tuy nhiên, phía sau
con số tăng trưởng đầy ấn tượng trên, các doanh
nghiệp ngành tôm vẫn chưa hết nỗi lo khi áp lực về
chi phí, thị trường, locgistics… vẫn tiềm ẩn nhiều
nguy cơ khó đoán định.
Khó khăn chồng chất 6 tháng đầu năm 2026 được các doanh nghiệp ghi nhận là khoảng thời gian hết sức khó khăn, chủ yếu đến từ các vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế, chi phí cũng như các vấn đề phát sinh từ nội tại. Thị trường
Hoa Kỳ được doanh nghiệp nhìn nhận là nơi khởi phát nhiều khó khăn, thách thức và cũng là thị trường có nhiều bất định nhất. Đó là mức thuế chống bán phá giá cao; là mức thuế bổ sung 10%
trong 150 ngày; là hàng loạt yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe, như: kiểm soát dư lượng kháng sinh, truy xuất nguồn gốc… khiến xuất khẩu tôm sang Hoa Kỳ trong những tháng đầu năm giảm sâu so với cùng kỳ.
Còn tại EU, đây là thị trường vốn đòi hỏi khắt khe về chuỗi cung ứng bền vững, phúc lợi
động vật, môi trường và tỷ lệ
bao bì tái chế… trong khi tỷ lệ
tôm Việt Nam đạt chứng nhận
ASC (Aquaculture Stewardship
Council) còn thấp so với Ecuador
(khoảng 30 - 40%), khiến cho
việc tiếp cận các hệ thống phân phối cao cấp tại châu Âu ngày
càng khó khăn hơn, kém cạnh tranh hơn, nhất là những phân
khúc cùng mã hàng với Ecuador.
Chưa hết, Ấn Độ cũng đang tăng tốc mạnh, đã hoàn tất đàm phán
Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU vào đầu năm 2026, mở ra lợi thế thuế quan mới tại thị trường này. Ngoài ra, Indonesia
cũng là đối thủ cạnh tranh đáng
kể về quy mô sản xuất.
Một vấn đề cũng khiến doanh
nghiệp hết sức đau đầu đó chính
là chi phí logistics ngày càng
leo thang theo đà căng thẳng
của chiến sự Trung Đông. Theo các doanh nghiệp, cước vận tải
container quốc tế thời gian qua
đang tiến gần mức cao nhất trong
gần hai năm, trong bối cảnh nhu
cầu đặt chỗ tăng mạnh từ các
nhà nhập khẩu Hoa Kỳ do lo ngại
các mức thuế mới. Điều này khiến
mùa nhập khẩu cuối năm đến
sớm hơn thường lệ, làm gia tăng
áp lực lên toàn bộ thị trường vận tải biển - đặc biệt là các tuyến đi Hoa Kỳ và EU vốn phụ thuộc lớn vào container lạnh và yêu cầu nghiêm ngặt về nhiệt độ, lịch tàu. Sự gia tăng đáng kể cước vận tải biển quốc tế được doanh nghiệp đánh giá như là “sát thủ thầm lặng” đã và đang bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp. Chiến sự Trung Đông không chỉ đẩy cước vận tải biển quốc tế tăng cao mà còn làm tăng hầu hết các chi phí đầu vào của doanh nghiệp do giá xăng dầu đồng loạt tăng cao làm tăng giá thành sản phẩm. Trong khi đó, từ sau Tết Nguyên Đán, sức tiêu thụ tại các thị trường xuất khẩu lớn vẫn còn yếu; trong khi nguồn cung tôm nguyên liệu trong nước lại khá dồi dào khiến giá tôm nguyên liệu lẫn tôm chế biến thành phẩm đều giảm
chuyển sang nuôi tôm kích cỡ lớn để bán giá cao, trong khi thị trường lại có nhu cầu cao về tôm cỡ trung và cỡ nhỏ do người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, khiến doanh nghiệp gặp khó trong ký kết đơn hàng cũng như kế hoạch thu mua nguyên liệu.
Vẫn tăng trưởng trong thế khó Tuy khó khăn ngày một nhiều hơn, nhưng ngành tôm cũng có được không ít yếu tố thuận lợi góp phần duy trì đà tăng trưởng khá ấn tượng trong 6 tháng đầu năm. Đó là nhu cầu đặc biệt mạnh ở nhóm tôm sú, tôm hùm và các sản phẩm phục vụ phân khúc tiêu dùng cao cấp, nhà hàng tại thị trường Trung Quốc (gồm cả Hồng Kông), đưa Trung
Quốc trở thành động lực tăng trưởng chính của toàn ngành thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng. Việt Nam đã vươn lên dẫn đầu thị phần tôm hùm nhập khẩu vào Trung Quốc với hơn 24.000 tấn, chiếm khoảng 34,5%, nhờ đối thủ cạnh tranh chính là Canada bị áp thuế bổ sung 25%, cùng lợi thế địa lý gần, thời gian giao hàng nhanh và khả năng cung ứng hàng sống là những yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam bứt phá tại phân khúc này.
Riêng thị trường EU vẫn giữ đà tăng trưởng ổn định, với mức tăng khoảng 28% trong giai đoạn đầu năm cho thấy nhu cầu tại thị trường châu Âu vẫn duy trì, dù mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Thị trường Hoa Kỳ dù tính chung 6 tháng là gần như đi ngang, nhưng với tín hiệu phục hồi trong tháng 6 sau giai đoạn sụt giảm mạnh đầu năm do áp lực thuế quan, mở ra triển vọng sáng sủa hơn cho con tôm Việt Nam trong 6 tháng cuối năm, nhất là ở phân khúc hàng giá trị gia tăng. Theo đánh giá của doanh nghiệp, đến đầu tháng 6, giá tôm
nguyên liệu thế giới đã gần như
chạm đáy nên đây cũng là lúc các hệ thống phân phối quốc tế
lên kế hoạch tăng cường dự trữ hàng, chuẩn bị cho mùa tiêu thụ cao điểm cuối năm. Đối với thị
trường lớn khác là Nhật Bản, ưu
thế tuyệt đối vẫn nghiêng về phía con tôm Việt Nam, nên vẫn có sự tăng trưởng nhất định, dù chưa như kỳ vọng.
Với những thuận lợi, khó khăn trên, theo đánh giá của Hiệp hội
Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản
Việt Nam (VASEP), ngành tôm
vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn
tượng trong 6 tháng đầu năm, dù
bức tranh tăng trưởng ấy không
hề bằng phẳng. Điều này rất dễ
nhận thấy qua hai tháng đầu năm, khi đà tăng trưởng được đẩy lên
mức 20% nhờ lực kéo từ một số
thị trường lớn, nhưng từ cuối quý
I, khi áp lực chi phí đầu vào ngày
càng tăng thêm trong khi giá bán
trên đà giảm dần, cùng với đó là
những rào cản thương mại tại các
thị trường chủ lực ngày càng siết
chặt hơn, xuất khẩu lại quay đầu
giảm. Tuy nhiên, bước sang tháng
5, đà sụt giảm bị chặn đứng, dấu
hiệu phục hồi đã dần quay trở lại
đưa kim ngạch xuất khẩu tôm
tháng 6 đạt 445,9 triệu USD, tăng
20,7% so với cùng kỳ và cũng là
mức tăng trưởng cao nhất kể từ
đầu năm. Kết quả này được đánh
giá là rất tích cực nhằm tạo đà cho ngành tôm bước vào giai
đoạn tăng tốc mạnh mẽ trong nửa cuối năm.
Rủi ro và triển vọng
Đối với con tôm, cuối năm luôn được xem là mùa tiêu thụ cao điểm do đây thời điểm diễn ra các dịp lễ hội, Giáng sinh và
Tết Dương lịch… nên hầu hết các thị trường nhập khẩu tôm lớn, như: Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật… đều có nhu cầu nguồn hàng cao để phục vụ người tiêu dùng. Trong khi đó, các dự báo
đều cho thấy, tồn kho tại các nước nhập khẩu đã giảm mạnh trong nửa đầu năm và nguồn cung tôm thế giới sẽ giảm, mở ra dư địa cho các đơn hàng mới. Nhóm thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, ASEAN và Hàn
Quốc… tiếp tục cho thấy đà tăng
trưởng tốt và được kỳ vọng là
điểm tựa chính để duy trì đà xuất khẩu. Mặt khác, nhu cầu tiêu thụ tôm trong giai đoạn này chủ yếu
nằm ở phân khúc hàng chế biến
sâu, giá trị gia tăng vốn là lợi thế
của doanh nghiệp Việt Nam nên
sự kỳ vọng về khả năng bứt tốc
trong giai đoạn này là hoàn toàn có cơ sở.
Điều này cũng chính là cơ sở
để VASEP đưa ra nhận định rằng,
áp lực đối với ngành tôm trong
nửa cuối năm 2026 sẽ không
đến từ phía nhu cầu thị trường nhiều, mà chủ yếu đến từ chi phí vận chuyển, nguồn nguyên liệu và các rào cản thương mại quốc tế. Theo đó, cước vận tải biển được dự báo tiếp tục xu
hướng tăng, có nguy cơ ăn mòn lợi nhuận doanh nghiệp và làm
chậm tiến độ giao hàng, đặc biệt trên các tuyến đi Hoa Kỳ và EU.
Rủi ro chính sách thuế tại Hoa Kỳ, như: các đợt rà soát hành chính thuế chống bán phá giá và thuế đối ứng vẫn là biến số lớn nhất tác động đến triển vọng thị
trường này trong nửa cuối năm.
Chi phí nuôi tôm có nguy cơ tiếp
tục tăng thêm khoảng 5-7% mỗi
quý nếu xu hướng giá thức ăn, con giống và chi phí vận chuyển
không hạ nhiệt, gây áp lực trực
tiếp lên giá thành nguyên liệu và
biên lợi nhuận của doanh nghiệp
chế biến.
Theo ông Hồ Quốc Lực – Chủ
tịch HĐQT Công ty Cổ phần
Thực phẩm Sao Ta, cạnh tranh
từ Ecuador, Ấn Độ và Indonesia
dự kiến sẽ càng gay gắt hơn, đặc
biệt tại thị trường EU khi Ấn Độ có
thêm lợi thế thuế quan nhờ FTA
vừa hoàn tất đàm phán. Ông Lực chia sẻ: “Eucador hiện có tôm thẻ cỡ lớn rất nhiều, giá thành rẻ và hầu hết đều đạt chuẩn ASC nên chúng ta chỉ có thể cạnh tranh với họ ở những phân khúc mà họ chưa làm được. Riêng thị trường Nhật vốn là thế mạnh của con tôm Việt Nam, nên sự cạnh tranh chủ yếu đến từ các doanh nghiệp Việt Nam là chính”. Theo tìm hiểu của phóng viên Tạp chí Thủy sản Việt Nam, hiện hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam lẫn nhà nhập khẩu các nước đều lo ngại rủi ro đến sự bất định của chi phí và chính sách nên việc ký kết các đơn hàng mới đều diễn ra hết sức thận trọng. Trước cơ hội và rủi ro đan xen, theo VASEP, nửa cuối năm 2026, ngành tôm cần tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng tại các thị trường đang tích cực như: Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc; củng cố năng lực tuân thủ tại các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; kiểm soát tốt chi phí đầu vào và chi phí logistics; đồng thời tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao. Nên xem việc chủ động chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch hồ sơ xuất xứ và nâng cao năng lực quản trị là giải pháp thiết yếu nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý tại thị trường Hoa Kỳ, duy trì niềm tin với các nhà nhập khẩu. Trên cơ sở đó, VASEP dự báo, xuất khẩu tôm 6 tháng cuối năm 2026 sẽ tiếp tục xu hướng tăng trưởng, song với tốc độ thận trọng hơn so với kỳ vọng ban đầu. Còn theo các doanh nghiệp, doanh số xuất khẩu theo kế hoạch nhiều khả năng vẫn sẽ đạt, nhưng chỉ tiêu về lợi nhuận sẽ là rất khó do có sự tăng mạnh của cả chi phí đầu vào lẫn chi phí bán hàng, nhất là chi phí cho cước vận tải biển quốc tế.
Xuân Trường
Cá
bống mú mở hướng sinh kế cho ngư dân ven biển
Từ những hộ dân không có đất sản xuất đến những gia đình
tận dụng vuông tôm, ao bỏ trống hay lồng bè ven sông, mô hình
nuôi cá bống mú đang tạo thêm sinh kế, giúp nhiều hộ ở Cà Mau
từng bước thoát nghèo. Với hiệu quả kinh tế khá cao cùng chính
sách hỗ trợ của địa phương, mô hình này đang tiếp tục được
nhân rộng tại nhiều vùng ven biển.
Kỳ vọng từ những mô hình hỗ trợ sinh kế
Từ hơn 10 năm trước, cá bống mú đã là đối tượng nuôi được không ít hộ dân khó khăn của tỉnh Cà Mau lựa chọn để phát triển kinh tế.
Không có đất sản xuất, nhiều năm trước, cuộc sống của vợ chồng anh Hồ Văn Hậu và chị Trần Thị Mai Thi ở khu vực cửa sông Cái Đôi Vàm (Cà Mau) chủ yếu dựa vào những công việc thời vụ. Thu nhập bấp bênh khiến gia đình nhiều năm thuộc diện hộ nghèo.
Bước ngoặt đến khi gia đình được tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ để đầu tư lồng bè nuôi cá bống mú. Tận dụng mặt nước ngay trước nhà, gia đình anh Hồ Văn Hậu bắt đầu nuôi thử nghiệm với số lượng nhỏ. Sau khoảng
7 tháng chăm sóc, cá đạt trọng lượng hơn 1 kg/con, được thương lái thu mua ngay tại bè
với giá từ 200.000 - 250.000 đồng/kg. Hiệu quả kinh tế mang lại vượt xa kỳ vọng, giúp gia đình có nguồn thu ổn định, từng bước thoát nghèo và vươn lên khá giả.
Anh Hậu cho biết, hiện gia đình duy trì hai lồng bè nuôi thương phẩm cùng một lồng nhỏ
để ương cá giống, bảo đảm có cá gối vụ quanh năm. Nhờ có nguồn thu ổn định từ cá bống mú, cuộc sống của gia đình đã thay đổi rõ rệt.
Không chỉ gia đình anh Hậu, nhiều hộ dân ven biển của tỉnh
Cà Mau cũng đang tìm thấy hướng phát triển kinh tế từ cá bống mú. Tại huyện Ngọc Hiển, ông Trần Quyết Định đầu tư ba ao nuôi với diện tích hơn 1.800 m², thả khoảng 4.000 con giống.
Sau 8 tháng, cá đạt trọng lượng khoảng 800 g/con, bán với giá từ 160.000 - 180.000 đồng/kg, thu lãi trên 160 triệu đồng.
Theo chia sẻ của người nuôi, cá bống mú có nhiều ưu điểm như chịu mặn tốt, ít dịch bệnh, thức ăn chủ yếu là cá tạp nên chi phí không quá lớn. Đầu ra cũng khá thuận lợi vì đây là loài thủy sản có giá trị cao, được các nhà hàng và thương lái thu mua thường xuyên.
Để tạo thêm sinh kế cho người dân, đầu năm 2025, UBND tỉnh
Cà Mau ban hành Đề án hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình chính sách giai đoạn 2025 - 2027 với tổng nguồn lực hơn 578 tỷ đồng.
Trong đó, các địa bàn ven biển và vùng chịu tác động của biến
đổi khí hậu được ưu tiên hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và phát triển mô
hình sản xuất phù hợp.
Bên cạnh việc hỗ trợ người
dân tiếp cận nguồn vốn, địa phương sẽ tăng cường tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn quy trình nuôi an toàn, đồng thời kết nối doanh nghiệp để mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Đây được xem là điều kiện quan trọng để mô hình cá bống mú tiếp tục phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.
Tận dụng ao “trống” để tăng thu nhập
Điểm mạnh của mô hình nuôi cá bống mú là các hộ dân có thể
tận dụng hiệu quả những diện tích mặt nước sẵn có.
Trước đây, nhiều hộ dân ở xã Nguyễn Việt Khái và Cái Đôi
Vàm thường để trống các ao sau khi kết thúc vụ nuôi tôm công
nghiệp hoặc chỉ khai thác một vụ trong năm. Qua quá trình thử nghiệm, người dân nhận thấy
đây là điều kiện phù hợp để phát triển thêm đối tượng cá bống mú, góp phần tăng giá trị trên cùng diện tích sản xuất.
Ban đầu, cá được nuôi hoàn toàn trong ao đất. Tuy nhiên, sau nhiều vụ liên tiếp, người dân nhận thấy cá chậm lớn và dễ phát sinh dịch bệnh. Từ thực tế đó, bà con đã chủ động thay đổi phương thức sản xuất.
Hiện nay, hình thức phổ biến là nuôi kết hợp trong vuông tôm. Cá giống được ương trong ao đến khi đạt khoảng 300500g thì chuyển sang lồng bè
đặt ngay trong vuông hoặc khu vực cửa sông để tiếp tục nuôi thương phẩm. Môi trường nước
lưu thông tốt giúp cá phát triển nhanh hơn, tỷ lệ hao hụt thấp và chất lượng thịt được thị trường
đánh giá cao.
Đối với những hộ không có
đất sản xuất như gia đình anh Hồ Văn Hậu, việc tận dụng mặt nước ven sông để đặt lồng bè trở thành hướng đi hiệu quả. Chỉ với vài lồng nuôi, người dân đã có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định mà không cần đầu tư diện tích đất lớn. Trong khi đó, những hộ có vuông tôm lại lựa chọn nuôi xen canh với cua, sò huyết và các đối tượng thủy sản khác. Cách làm này không chỉ tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên mà còn giúp phân tán rủi ro trong sản xuất.
Gia đình ông Lâm Văn Kía là một ví dụ. Với 2 ha vuông tôm, ngoài nguồn thu khoảng 40 triệu đồng mỗi năm từ nuôi tôm, ông cải tạo khoảng 200 m² ao để ương cá bống mú. Khi cá đạt kích cỡ phù hợp, ông chuyển sang lồng bè trong vuông tôm để nuôi thương phẩm. Nhờ vậy, mỗi năm gia đình có thêm khoảng 40 triệu đồng từ cá bống mú.
Tương tự, gia đình anh Nguyễn Thành Nhân với 5,2 ha nuôi tôm, cua, sò huyết kết hợp cá bống mú đạt tổng thu nhập khoảng 150 triệu đồng mỗi năm, trong đó cá bống mú đóng góp khoảng 30 triệu đồng. Dù không phải nguồn thu chính, nhưng đây là khoản thu bổ sung đáng kể giúp nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng diện tích sản xuất. Thực tế cho thấy, mô hình nuôi cá bống mú không chỉ tạo việc làm và tăng thu nhập cho các hộ có điều kiện sản xuất mà còn mở ra cơ hội phát triển sinh kế cho những gia đình ít đất hoặc không có đất. Việc tận
sông
phát triển đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao đã góp phần khai thác hiệu quả tài nguyên sẵn có, giảm lãng phí diện tích mặt nước.
Trong bối cảnh ngành thủy sản đang hướng đến phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, mô hình nuôi cá bống mú đang chứng minh hiệu quả không chỉ ở giá trị kinh tế mà còn ở khả năng tạo sinh kế lâu dài cho người dân vùng ven biển. Nếu tiếp tục được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, con giống và liên kết tiêu thụ, đây sẽ là một trong những mô hình góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm nghèo bền vững và nâng cao thu nhập cho ngư dân Cà Mau.
Từ “phép thử” Brazil
nhìn lại ngành cá rô phi
Việt Nam
Theo Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, nguyên Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, dự luật cấm nhập khẩu cá rô phi của Brazil không chỉ là một rào cản
thương mại, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc
ngành hàng nếu muốn cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế. Ngành hàng cá rô phi cần xây dựng
Dự luật 6.331/2025 (của Ủy ban Nông
nghiệp, Chăn nuôi, Cung ứng và Phát triển Nông thôn (CAPADR) thuộc Hạ viện Brazil quy định cấm nhập khẩu cá rô phi)
đang được Quốc hội nước này xem xét khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lo ngại. Tuy nhiên, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn cho rằng, điều đáng quan tâm không chỉ là khả năng mất một thị trường lớn, mà còn là những vấn đề nội tại của ngành cá rô phi Việt Nam đã bộc lộ trước các rào cản thương mại ngày càng khắt khe.
Không nên chỉ nhìn Brazil như một rủi ro
Theo Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Dự luật 6.331/2025 hiện mới được Ủy ban Nông nghiệp, Chăn nuôi, Cung ứng và Phát triển Nông thôn (CAPADR) của Hạ viện Brazil thông qua và vẫn phải trải qua nhiều bước trước khi có hiệu lực. Dù vậy, việc Brazil, một trong những thị trường nhập khẩu cá rô phi lớn của Việt Nam, đề xuất lệnh cấm đã là tín
hiệu đáng để ngành hàng nhìn nhận lại chiến lược phát triển.
“Nếu thị trường Brazil bị đóng lại, tác động sẽ không chỉ dừng ở doanh nghiệp xuất khẩu mà sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ chuỗi giá trị, từ người nuôi, cơ sở sản xuất giống, doanh nghiệp chế biến đến các đơn vị cung ứng vật tư, dịch vụ”, ông Tuấn nhận định.
Theo Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, bài học ở đây không đơn thuần là nguy cơ mất một thị trường, mà còn là sự phụ thuộc ngày càng lớn vào một số thị trường xuất khẩu. Khi một thị trường thay đổi chính sách, toàn ngành lập tức chịu sức ép.
Dự luật 6.331/2025 được phía Brazil cho là nhằm ngăn ngừa nguy cơ mất an toàn sinh học, đặc biệt liên quan đến Tilapia Lake virus (TiLV) trên cá rô phi. Tuy nhiên, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn cho rằng, cần nhìn nhận vấn đề ở nhiều góc độ. Bởi Brazil cũng là quốc gia có ngành sản xuất cá rô phi phát triển mạnh, do
đó, bên cạnh yếu tố kỹ thuật, thì việc bảo vệ sản xuất trong nước là điều khó tránh khỏi. Đây cũng là xu hướng chung của thương mại quốc tế. Khi thuế quan dần được cắt giảm, các quốc gia sẽ sử dụng nhiều hơn những hàng rào kỹ thuật về dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc, môi trường và phát triển bền vững. Điều đó đồng nghĩa, nếu ngành cá rô phi Việt Nam không nâng cao tiêu chuẩn sản xuất thì những rào cản tương tự hoàn toàn có thể xuất hiện ở nhiều thị trường khác, không riêng Brazil.
Thế mạnh vẫn còn, nhưng chưa tạo được lợi thế bền vững
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn nhận định, cá rô phi Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển xuất khẩu như điều kiện tự nhiên thuận lợi, năng
lực chế biến thủy sản lớn và kinh nghiệm sản xuất hàng xuất khẩu. Một số doanh nghiệp đã đầu tư chế biến sâu, phát triển sản phẩm giá trị gia tăng để đáp ứng các thị trường khó tính như Nhật Bản. Đây là hướng đi đúng thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm phi lê đông lạnh. Tuy nhiên, những lợi thế này chưa được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh bền vững. Theo ông, ngành hàng cá rô phi Việt Nam vẫn có nhiều vấn đề tồn tại, như chất lượng con giống chưa đồng đều, vùng nuôi đạt chuẩn quốc tế còn hạn chế, việc kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc chưa thực sự đồng bộ. Đặc biệt, ngành còn thiếu một chiến lược phát triển tổng thể cũng như một thương hiệu quốc gia đủ mạnh.
“Nếu vẫn cạnh tranh chủ yếu bằng giá thì lợi thế đó sẽ không bền vững. Điều thị trường cần ngày càng nhiều là chất lượng, sự ổn định và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Muốn giữ thị trường Brazil, cá rô phi Việt Nam cần phải thay đổi từ gốc. Trước mắt, các cơ quan chức năng Việt Nam cần tăng cường trao đổi với Brazil thông qua các kênh ngoại giao và kỹ thuật để cung cấp đầy đủ bằng chứng khoa học về kiểm soát dịch bệnh, an toàn sinh học và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Quan trọng hơn, ngành hàng này cần nâng cao năng lực nội tại. Cụ thể, cần xây dựng chiến lược phát triển cá rô phi quốc gia với các mục tiêu rõ ràng về chất lượng con giống, vùng nuôi an toàn dịch bệnh, ứng dụng khoa học - công nghệ, tiêu chuẩn sản xuất và xây dựng thương hiệu. Cùng với đó là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm giảm phụ thuộc
vào một vài thị trường lớn. Trong đó, Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và một số thị trường Trung Đông vẫn còn nhiều dư địa nếu doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng cao. Hơn hết, doanh nghiệp cũng cần chuyển từ tư duy mở rộng sản lượng sang nâng cao giá trị sản phẩm, đầu tư chế biến sâu, phát triển các dòng sản phẩm phù hợp với từng thị trường và tăng khả năng cạnh tranh bằng chất lượng thay vì chỉ bằng giá.
“Phép thử” cho cả ngành hàng
Theo Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, dự luật cấm nhập khẩu cá rô phi của Brazil có thể chưa trở thành hiện thực, nó có thể chỉ là một biến cố ngắn hạn, nhưng những vấn đề mà nó đặt ra lại mang tính dài hạn.
Nếu coi đây chỉ là một khó khăn trước mắt và chờ kết quả đàm phán, ngành hàng cá rô phi sẽ tiếp tục đối mặt với những rào cản tương tự trong tương lai. Ngược lại, nếu xem đó là cảnh báo với ngành hàng cần củng cố, xây dựng toàn bộ chuỗi giá trị bền vững, từ con giống, vùng nuôi, quản lý dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc đến xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, cá rô phi Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc hơn để giữ được thị trường Brazil cũng như chinh phục những thị trường khó tính khác.
Nhìn ở góc độ đó, “phép thử” Brazil không chỉ là câu chuyện của một thị trường xuất khẩu, mà là phép thử đối với năng lực cạnh tranh và chiến lược phát triển dài hạn của toàn ngành cá rô phi Việt Nam.
Brazil hiện là thị trường tăng trưởng nhanh đối với cá rô phi Việt Nam. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi sang Brazil đạt 148.000 USD; năm 2025 đạt khoảng 11 triệu USD và 5 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 34 triệu USD, chiếm khoảng 54% tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam.
Hồng Hà
Phát huy tiềm năng nuôi cá biển lồng bè
Nghề nuôi cá biển lồng bè được xem là hướng đi giàu tiềm năng, song thực tế sản xuất vẫn còn nhiều nút thắt cần tháo gỡ để phát triển bền vững.
Ảnh: Báo
Tiềm năng
Những năm gần đây, cùng với chủ trương giảm dần cường lực khai thác hải sản và phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, nuôi cá biển lồng bè ngày càng được nhiều địa phương ven biển quan tâm đầu tư. Từ các tỉnh phía Bắc như Quảng Ninh, Hải Phòng đến khu
vực miền Trung và Nam Bộ như Khánh Hòa, Đắk Lắk, An Giang… nghề nuôi cá biển đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung, góp phần đa dạng hóa sinh kế cho cộng đồng ngư dân và nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích mặt nước. Đối tượng nuôi cá biển cũng ngày càng đa dạng. Hiện nay, nhiều loài cá biển có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất như cá bớp, cá chim vây vàng, cá mú, cá hồng Mỹ, cá giò… Đây đều là những đối tượng có tốc độ sinh trưởng
dùng thực phẩm giàu dinh dưỡng, có nguồn gốc rõ ràng và được nuôi theo quy trình an toàn, các sản phẩm cá biển ngày càng được thị trường trong nước đón nhận. Không chỉ phục vụ tiêu dùng nội địa, nhiều loài cá biển còn có tiềm năng xuất khẩu sang các thị trường có giá trị cao nếu đáp ứng yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm.
Không ít thách thức
Mặc dù có nhiều tiềm năng, nghề nuôi cá biển lồng bè vẫn đang đối mặt với không ít rào cản, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và tính bền vững của ngành.
Trước hết, hạn chế lớn nhất nằm ở công tác quy hoạch vùng nuôi. Tại nhiều địa phương, hoạt động nuôi lồng bè vẫn diễn ra tự phát, phân tán, thiếu sự đồng bộ trong bố trí không gian sản xuất. Sự chồng lấn giữa các khu vực nuôi, giao thông thủy và du lịch biển không chỉ gây áp lực lên môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro sản xuất, đặc biệt trong mùa mưa bão. Khi chưa có quy hoạch tổng thể và cơ chế quản lý chặt chẽ, quá trình mở rộng quy mô nuôi thường gặp nhiều khó khăn và thiếu tính ổn định lâu dài.
Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt cũng là yếu tố tác động mạnh đến nghề nuôi cá biển. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới, sóng lớn và biến động nhiệt độ nước biển ngày càng diễn biến khó lường. Điều này khiến hệ thống lồng bè truyền thống, đặc biệt là lồng gỗ, dễ bị hư hỏng, cuốn trôi hoặc gây thiệt hại lớn về sản lượng. Trong khi đó, việc chuyển đổi sang các loại lồng nuôi hiện đại vẫn chưa đồng đều do chi phí đầu tư ban đầu cao. Vấn đề con giống cũng là một trong những nút thắt quan trọng. Hiện nay, nguồn giống cá biển chất lượng còn phụ thuộc nhiều vào khai thác tự nhiên hoặc nhập khẩu, dẫn đến tình trạng thiếu ổn định về số lượng và chất lượng. Một số loài cá có giá trị kinh tế cao chưa chủ động được giống nhân tạo hoàn toàn, khiến người nuôi bị động trong kế hoạch sản xuất và tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh do giống không đảm bảo.
Cùng với đó, chi phí đầu vào của nghề nuôi cá biển ngày càng tăng, đặc biệt là thức ăn công nghiệp. Thức ăn chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản xuất, còn giá bán sản
phẩm lại phụ thuộc nhiều vào thị trường, dễ biến động theo mùa vụ và cung - cầu. Điều này khiến biên lợi nhuận của người nuôi thiếu ổn định, nhất là đối với các hộ sản xuất nhỏ lẻ, chưa có sự liên kết. Ô nhiễm môi trường và dịch bệnh cũng đang là những thách thức lớn đối với nghề nuôi cá biển hiện nay. Việc nuôi mật độ cao tại một số khu vực dẫn đến nguy cơ ô nhiễm cục bộ nguồn nước, tích tụ chất thải hữu cơ và phát sinh mầm bệnh. Trong điều kiện môi trường biển biến động, dịch bệnh có thể lây lan nhanh giữa các lồng, gây thiệt hại trên diện rộng nếu không có biện pháp kiểm soát hiệu quả.
Ngoài những khó khăn trong sản xuất, đầu ra của cá biển nuôi vẫn chưa thực sự ổn định. Phần lớn sản phẩm được tiêu thụ dưới dạng tươi sống, chưa qua chế biến sâu nên giá trị gia tăng còn thấp. Trong khi đó, liên kết giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến và hệ thống phân phối chưa chặt chẽ, thiếu các hợp đồng tiêu thụ dài hạn, khiến tình trạng “được mùa mất giá” vẫn diễn ra ở một số địa phương.
Phát triển nuôi biển hiện đại
Trước những cơ hội và thách thức đan xen, nghề nuôi cá biển lồng bè cần được định hướng phát triển theo hướng bền vững, gắn với các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và quản lý rủi ro.
Trong đó, quy hoạch vùng nuôi được xác
định là một giải pháp nền tảng cần được ưu tiên triển khai. Các địa phương ven biển cần xác định rõ không gian phát triển nuôi biển theo hướng tập trung, có tính liên kết và đồng bộ với các ngành kinh tế khác như du lịch, giao thông và bảo tồn hệ sinh thái. Quy hoạch bài bản không chỉ giúp giảm xung đột trong sử dụng mặt nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư hạ tầng, tổ chức sản xuất quy mô lớn và quản lý môi trường hiệu quả hơn.
Song song với quy hoạch, cần hiện đại hóa hệ thống lồng nuôi để nâng cao khả năng chống chịu trước điều kiện thời tiết cực đoan. Xu hướng chuyển đổi từ lồng gỗ truyền thống sang lồng vật liệu mới như HDPE đang được nhiều địa phương khuyến khích. Loại lồng này có độ bền cao, khả năng chịu sóng gió tốt,
xa bờ, giảm thiểu thiệt hại do bão và áp thấp nhiệt đới gây ra.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh chủ động nguồn giống cá biển chất lượng cao thông qua đầu tư nghiên cứu, sản xuất giống nhân tạo. Việc giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên không chỉ giúp ổn định nguồn cung mà còn góp phần kiểm soát dịch bệnh ngay từ đầu vào, nâng cao tỷ lệ sống và hiệu quả nuôi. Đây là yếu tố then chốt để hình thành chuỗi sản xuất khép kín trong nuôi biển. Ứng dụng khoa học - công nghệ cũng được xem là hướng đi tất yếu trong giai đoạn tới. Các hệ thống quan trắc môi trường biển tự động, thiết bị giám sát từ xa, công nghệ IoT trong quản lý lồng nuôi hay tự động hóa trong cho ăn đang từng bước được triển khai tại nhiều mô hình. Những giải pháp này giúp người nuôi chủ động theo dõi các yếu tố môi trường, kịp thời điều chỉnh hoạt động sản xuất, giảm thiểu rủi ro và tối ưu chi phí. Ngoài ra, cần tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị. Hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác và liên kết với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sẽ giúp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm cá biển. Khi có hợp đồng tiêu thụ ổn định, người nuôi sẽ giảm được áp lực về đầu ra, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn thị trường.
Một giải pháp quan trọng khác là phát triển chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường tiêu thụ. Thay vì phụ thuộc vào tiêu thụ tươi sống, việc đầu tư vào chế biến, bảo quản và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cá biển nuôi sẽ giúp gia tăng giá trị, mở rộng thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu bền vững. Đồng thời, áp dụng các tiêu chuẩn như VietGAP, ASC và truy xuất nguồn gốc sẽ góp phần nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường.
Trong tiến trình chuyển từ nuôi biển quy
mô nhỏ sang sản xuất công nghiệp, việc
xây dựng Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)
về cơ sở nuôi cá biển công nghiệp được
xem là bước đi quan trọng nhằm hình
thành nền tảng kỹ thuật thống nhất cho
toàn ngành.
Không chỉ chuẩn hóa
hoạt động đầu tư, xây dựng và vận hành
các trang trại nuôi biển, bộ tiêu
chuẩn còn được kỳ vọng tạo cơ
sở cho đăng kiểm, bảo hiểm, tín dụng và thu hút đầu tư, góp phần phát triển nuôi biển theo hướng
hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Từ khoảng trống tiêu chuẩn
đến yêu cầu phát triển
Việt Nam được đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển nuôi biển quy mô công nghiệp. Trong bối cảnh nguồn lợi khai thác thủy sản suy giảm, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và yêu cầu thị trường ngày càng cao, phát triển
nuôi biển được xác định là một trong những hướng đi quan trọng của ngành thủy sản.
Tuy nhiên, để nuôi biển trở thành một ngành sản xuất công nghiệp đúng nghĩa, không chỉ cần công nghệ, vốn đầu tư hay quy hoạch không gian biển mà còn cần một hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất. Đây là nền tảng để các địa phương, doanh nghiệp và người dân có chung “ngôn ngữ kỹ thuật” trong quá trình đầu tư, xây dựng và vận hành các trang trại nuôi biển. Chính từ yêu cầu đó, mới đây, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp
Trang trại cá chẽm nuôi biển của Australis t ại v ịnh Vân Phong, Khánh Hòa
môn, nhà khoa học và doanh nghiệp tổ chức cuộc họp lấy ý kiến xây dựng Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về nuôi cá biển công nghiệp. Đây là lần đầu tiên dự thảo bộ tiêu chuẩn được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình xây dựng khung kỹ thuật thống nhất cho ngành nuôi biển công nghiệp.
Theo Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân, nhiều năm qua, với sự hỗ trợ của các chuyên gia, doanh nghiệp và các dự án hợp tác quốc tế, đặc biệt là với Na Uy, ngành thủy sản đã từng bước xây dựng được hệ thống đào tạo nghề cho đội ngũ
vận hành trang trại nuôi biển, nhiều tài liệu kỹ thuật, quy trình hướng dẫn và mô hình nuôi biển công nghiệp phù hợp với điều
kiện nước ta.
Tuy nhiên, hệ thống tiêu chuẩn phục vụ phát triển nuôi biển vẫn chưa hoàn chỉnh. Đến nay, Việt Nam mới ban hành TCVN
13997:2024 quy định yêu cầu kỹ thuật đối với lồng tròn HDPE nuôi cá biển quy mô công nghiệp.
Trong khi đó, một trang trại nuôi biển hiện đại là tổ hợp của nhiều
hạng mục từ khảo sát vị trí, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành
đến bảo trì và quản lý rủi ro.
Theo ông Luân, việc xây dựng
TCVN về cơ sở nuôi cá biển
công nghiệp chính là để lấp đầy
khoảng trống này.
“Đây là lần đầu tiên dự thảo
Tiêu chuẩn Việt Nam về cơ sở
nuôi cá biển công nghiệp được
đưa ra lấy ý kiến rộng rãi. Chúng
tôi kỳ vọng, bộ tiêu chuẩn sẽ trở
thành tài liệu nền tảng đầu tiên
hướng dẫn đầu tư, xây dựng và
vận hành các trang trại nuôi cá
biển công nghiệp ở Việt Nam”,
Cục trưởng Cục Thủy sản và
Kiểm ngư nhấn mạnh.
Khi có một hệ thống tiêu chuẩn
thống nhất, hoạt động nuôi biển
sẽ từng bước chuyển từ sản xuất
dựa nhiều vào kinh nghiệm sang
quản lý bằng các yêu cầu kỹ thuật
cụ thể, qua đó giảm thiểu rủi ro và
nâng cao hiệu quả đầu tư.
Xây dựng “ngôn ngữ chung”
cho ngành nuôi biển
Bộ tiêu chuẩn được xây dựng
trên cơ sở kế thừa các tiêu chuẩn
hiện có của Việt Nam, đồng thời
tham khảo kinh nghiệm từ các
quốc gia có ngành nuôi biển
phát triển như Na Uy cũng như hướng dẫn của Tổ chức Lương
thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO).
Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo
sẽ không áp dụng máy móc các
tiêu chuẩn quốc tế mà sẽ điều
chỉnh phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm hải dương học
và thực tiễn sản xuất của Việt
Nam. Trong thời gian tới, Cục
Thủy sản và Kiểm ngư sẽ tiếp tục
phối hợp với các đơn vị chuyên
môn bổ sung dữ liệu về thủy văn, môi trường và đặc điểm từng
vùng biển nhằm bảo đảm tính
khả thi khi áp dụng.
Một điểm được nhiều chuyên gia đồng tình là bộ TCVN không
chỉ phục vụ cơ quan quản lý
mà còn tạo ra hệ thống tiêu chí
chung để doanh nghiệp và người
nuôi cùng áp dụng.
PGS.TS Thái Thanh Bình, Phó
Hiệu trưởng Trường Cao đẳng
Kinh tế Thủy sản cho rằng, việc
xây dựng tiêu chuẩn quốc gia là
rất cần thiết nhưng cũng là nhiệm
vụ không đơn giản. Nếu quy định
quá đơn giản sẽ khó đáp ứng yêu
cầu quản lý, trong khi nếu quá
chặt chẽ lại làm giảm khả năng
áp dụng trên thực tế.
Theo ông Bình, bộ tiêu chuẩn
nên tập trung vào các yêu cầu cốt lõi đối với hạ tầng và công
trình nuôi như quy mô cơ sở, mức độ số hóa, tự động hóa, khả năng
truy xuất nguồn gốc, an toàn môi trường, an toàn sản phẩm và an toàn lao động. Bên cạnh đó, các tiêu chí về hệ thống điện, cấp nước, giám sát, khả năng chống chịu sóng gió, bảo vệ công trình và vận hành trong điều kiện biển động cũng cần được quy định rõ ràng để bảo đảm tính thống nhất
khi triển khai.
Ông Lưu Văn Huy, Quyền Giám
đốc Trung tâm Đăng kiểm tàu cá chia sẻ, hiện nay việc thiếu tiêu
chuẩn kỹ thuật là rào cản lớn đối với công tác đăng kiểm, chứng nhận, bảo hiểm cũng như cấp tín dụng cho các dự án nuôi biển công nghiệp. Khi chưa có căn cứ kỹ thuật để đánh giá mức độ an toàn của hệ thống lồng nuôi và toàn bộ trang trại, các doanh
nghiệp bảo hiểm khó xác định mức độ rủi ro, trong khi các tổ chức tín dụng cũng thiếu cơ sở để xem xét cấp vốn đầu tư. Ở góc độ doanh nghiệp, trong giai đoạn đầu nên tập trung vào các yêu cầu kỹ thuật cốt lõi nhằm sớm ban hành bộ tiêu chuẩn, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi từ lồng nuôi truyền thống sang hệ thống lồng HDPE và các mô hình nuôi biển công nghệ cao.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đề xuất nghiên cứu mở rộng phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn theo hướng phát triển nuôi biển đa loài, kết hợp nuôi cá với rong biển, nhuyễn thể và du lịch trải nghiệm nhằm khai thác hiệu quả hơn không gian biển.
Theo kế hoạch, bộ Tiêu chuẩn Việt Nam về cơ sở nuôi cá biển công nghiệp sẽ được xây dựng trong giai đoạn 2026 - 2027 với sự tham gia của các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các địa phương ven biển.
Cục trưởng Trần Đình Luân thông tin, sau khi hoàn thiện tài liệu kỹ thuật nền, Cục Thủy sản và Kiểm ngư sẽ tiếp tục xây dựng hướng dẫn kỹ thuật về vận hành trang trại nuôi biển công nghiệp để các địa phương và doanh nghiệp nghiên cứu, áp dụng. Dự thảo tiêu chuẩn cũng sẽ tiếp tục được lấy ý kiến rộng rãi trước khi hoàn thiện theo đúng quy trình xây dựng Tiêu chuẩn Việt Nam. Ông Luân nhấn mạnh, bộ tiêu chuẩn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi vừa đáp ứng yêu cầu quản lý, vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên và thực tiễn sản xuất của nước ta.
Thùy Khánh
Ảnh: Forbes
FAO dự báo mức tăng trưởng
thương mại thủy sản toàn cầu
sẽ giảm trong
thập kỷ tới
Theo báo cáo “Thực trạng Khai thác và Nuôi trồng Thủy sản
Thế giới” (SOFIA) mới nhất từ Tổ chức Lương thực và Nông
nghiệp Liên hợp quốc (FAO), sản lượng khai thác và nuôi trồng
thủy sản được cải thiện rõ rệt, cùng với nhu cầu tiêu dùng tăng
vọt, đã thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành thương
mại thủy sản toàn cầu trong 50 năm qua. Tuy nhiên, đà tăng
trưởng này sẽ giảm trong thập kỷ tới.
TTrong số mới nhất của ấn phẩm SOFIA, FAO cho biết, vào năm 2024, tổng giá trị thương mại quốc tế các sản phẩm thủy sản với sự tham gia của 230 quốc gia và vùng lãnh thổ
đạt 186 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu cá, loài giáp xác, loài thân mềm và các sản phẩm
động vật thủy sinh khác chiếm 99% tổng giá trị, tương đương khoảng 184 tỷ USD. 2 tỷ USD còn lại đến từ tảo và các sản phẩm thủy sinh khác như bọt biển và vỏ sò.
Từ năm 1976 đến năm 2024, giá trị xuất khẩu thủy sản toàn cầu tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 6,8%. Báo cáo chỉ ra rằng, sự tăng trưởng này được củng cố bởi những cải tiến trong công nghệ lưu trữ, bảo quản, vận tải, logistics và chế biến, cũng như giá cả cạnh tranh và các chính sách thương mại hiệu quả hơn.
Các quốc gia và khu vực xuất nhập khẩu hàng đầu
Năm 2024, châu Âu và châu Á tiếp tục giữ vững vị trí là các châu lục xuất khẩu dẫn đầu, lần lượt chiếm 38% và 34% tổng giá trị xuất khẩu. Tiếp theo là châu Mỹ Latinh và vùng Caribe (15%), Bắc Mỹ (6%), châu Phi (5%) và châu Đại Dương (2%).
Bên cạnh vị thế là nhà sản xuất thủy sản hàng đầu toàn cầu, Trung Quốc cũng là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới kể từ năm 2002. Vào năm 2024, doanh số từ thị trường quốc tế của quốc gia này ước đạt 20,1 tỷ USD, với các sản phẩm được vận chuyển đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Na Uy là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn thứ hai với kim ngạch xuất khẩu kỷ lục 16 tỷ USD, tiếp theo là Việt Nam với giá trị thương mại đạt 10,5 tỷ USD và Ecuador đạt 9,2 tỷ USD.
Về phía nhập khẩu:
Liên minh Châu Âu (EU) tiếp tục là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất năm 2024, với giá trị hàng hóa nhập vào khối đạt 63,2 tỷ USD.
Hoa Kỳ là quốc gia nhập khẩu đơn lẻ lớn nhất thế giới khi chi 26,9 tỷ USD để mua sản phẩm từ nước ngoài, chiếm 15% lượng nhập khẩu toàn cầu.
Trung Quốc và Nhật Bản theo sau với tổng giá trị nhập khẩu lần lượt là 22 tỷ USD và 12,6 tỷ USD.
Các nhóm thủy sản thống trị thị trường
Cá thống trị thương mại toàn cầu khi chiếm tới 68% tổng giá trị. Loài giáp xác theo sau với 22%, và loài thân mềm cùng các loài động vật thủy sinh không xương sống khác đóng góp 11%.
Kể từ năm 2013, họ cá hồi là nhóm loài có giá trị thương mại cao nhất. Vào năm 2024, nhóm này chiếm 21% tổng giá trị – khoảng
38,1 tỷ USD. Các nhóm loài quan trọng khác tính theo giá trị xuất khẩu bao gồm: Tôm các loại: chiếm 16% tổng giá trị, đạt 28,7 tỷ USD.
Cá ngừ: chiếm 10%, đạt 17,7 tỷ USD. Cá tuyết, cá hake và cá haddock: chiếm 8%, đạt 15 tỷ USD.
Dự báo giai đoạn đến năm 2034 và những yếu tố bất định Trong thập kỷ tới, báo cáo SOFIA dự kiến tỷ trọng xuất khẩu trên tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản vào năm 2034 sẽ ở mức 35% (30% nếu không tính thương mại nội khối EU), thấp hơn mức 36% của năm 2024. Sự sụt giảm trong tăng trưởng thương mại này phản ánh việc mở rộng sản xuất chậm lại, tiêu dùng
vẫn là các thị trường nhập khẩu hàng đầu, tiêu thụ 50% tổng lượng nhập khẩu thủy sản phục vụ tiêu dùng (so với mức 52% vào năm 2024).
Về giá cả, báo cáo kỳ vọng giá các sản phẩm thủy sản khai thác và nuôi trồng sẽ tăng vừa phải đến năm 2034, do nhu cầu tiếp tục tăng, chi phí đầu vào cao hơn và tăng trưởng nguồn cung bị hạn chế. Giá sản phẩm nuôi trồng dự kiến sẽ tăng nhanh hơn một chút so với giá thủy sản khai thác tự nhiên, phản ánh chi phí thức ăn, năng lượng và chi phí tuân thủ quy định cao hơn. Giá bột cá và dầu cá dự kiến sẽ duy trì ở mức tương đối cao trong suốt giai đoạn này do nhu cầu mạnh mẽ từ ngành nuôi trồng thủy sản và dư địa mở rộng nguồn cung bị hạn chế. Thừa nhận rằng dự báo của mình được xây dựng dựa trên các giả định về điều kiện kinh tế, khung chính sách, nguồn tài nguyên sẵn có và sự ổn định môi trường, FAO cảnh báo có thể tồn tại những sai lệch và dẫn đến kết quả khác. Nguyên nhân gây ra sự bất ổn là diễn biến địa chính trị, thay đổi trong chính sách thương mại, biến động kinh tế vĩ mô và sự chuyển dịch trong hành vi của người tiêu dùng. Đặc biệt, biến đổi khí hậu và các dạng biến động khác đang đặt ra những rủi ro ngày càng lớn cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản, với những tác động có xu hướng phân bổ không đồng đều giữa các khu vực và hệ thống sản xuất khác nhau.
Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng tích cực trong nửa
đầu năm 2026
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng trong
6 tháng đầu năm 2026, với kim ngạch đạt khoảng 5,8 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 6/2026, xuất khẩu thủy sản đạt gần 1,1 tỷ USD, tăng khoảng 21%.
Tôm tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt khi đạt kim ngạch 2,3 tỷ USD trong nửa đầu năm, tăng 13,6%. Cá tra đứng thứ hai với 1,1 tỷ USD, tăng 12,1%. Trong khi đó, xuất khẩu cá ngừ giảm nhẹ 2% do chịu tác động từ yêu cầu khai thác bền vững và nhu cầu thị trường.
Về thị trường, Trung Quốc tiếp tục là điểm đến lớn nhất của thủy sản
Việt Nam với kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD, tăng gần 38%. Hoa Kỳ duy trì vị trí quan trọng với gần 900 triệu USD, song doanh nghiệp đang đối mặt với cạnh tranh và các rào cản thương mại ngày càng gia tăng. Hàn
Quốc, ASEAN và các thị trường nhỏ cũng ghi nhận tăng trưởng tích
cực, cho thấy hiệu quả từ chiến lược đa dạng hóa thị trường. Tuy nhiên, ngành thủy sản vẫn chịu áp lực từ chi phí logistics, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và xu hướng đơn hàng ngắn hơn. Doanh nghiệp cần tiếp tục linh hoạt trong sản xuất, thị trường và cơ cấu sản phẩm để duy trì đà tăng trưởng.
Quảng Trị Nghề cá nục hấp Cửa Việt tất bật giữa mùa nắng nóng
Giữa thời tiết nắng nóng gay gắt và gió Lào đặc trưng của miền Trung, người dân làm nghề cá nục hấp tại Cửa Việt (Quảng Trị) vẫn miệt mài lao động để duy trì sinh kế. Cá sau khi thu mua từ tàu cá được rửa sạch, sơ chế, hấp chín ở nhiệt độ cao rồi phơi dưới nắng trước khi đóng gói, tiêu thụ tại nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh. Hiện cá nục hấp thành phẩm có giá bán từ 45.000 – 60.000 đồng/kg tùy loại. Nhờ hương vị đặc trưng và chất lượng ổn định, sản phẩm ngày càng được thị trường ưa chuộng. Dù điều kiện làm việc khắc nghiệt, những người lao động nơi cửa biển vẫn bền bỉ bám nghề, góp phần gìn giữ nghề chế biến truyền thống và nâng cao giá trị hải sản địa phương.
Gia Lai
Giá tôm giảm, người nuôi chịu áp lực từ chi phí đầu vào Giá tôm thẻ chân trắng tại nhiều vùng nuôi trọng điểm tiếp tục giảm trong khi chi phí sản xuất vẫn ở mức cao, khiến người nuôi đối mặt với áp lực lớn về lợi nhuận. Tại Gia Lai, tôm cỡ 100 con/kg hiện được thu mua khoảng 90.000 đồng/kg, giảm khoảng 20.000 đồng/kg so với trước. Tại Vĩnh Long, tôm cỡ 30 con/kg có giá 105.000 – 115.000 đồng/ kg, còn tôm cỡ 40 con/kg chỉ đạt 90.000 – 100.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá thức ăn, con giống, điện và vật tư nuôi vẫn duy trì ở mức cao, làm gia tăng giá thành sản xuất. Trước diễn biến này, nhiều hộ nuôi lựa chọn kéo dài thời gian thu hoạch hoặc tạm ngưng thả giống để hạn chế thua lỗ. Theo ngành nông nghiệp, giá tôm giảm chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu tại một số thị trường phục hồi chậm, trong khi nguồn cung từ các nước sản xuất lớn vẫn dồi dào. Người nuôi được khuyến cáo tối ưu chi phí, tăng cường an toàn sinh học và chủ động kế hoạch sản xuất theo diễn biến thị trường.
ĐBSCL
Chi phí đầu vào tăng, người nuôi tôm chịu áp lực kép
Giá vật tư đầu vào phục vụ nuôi tôm tiếp tục tăng trong bối cảnh giá tôm thương phẩm duy trì ở mức thấp, khiến người nuôi đối mặt với áp lực lớn về hiệu quả sản xuất. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, chi phí logistics tăng đã đẩy giá thức ăn thủy sản tăng khoảng 7 – 10%, kéo giá thành nuôi tăng thêm 5 – 10%. Trong khi đó, giá con giống, hóa chất và chế phẩm sinh học cũng tăng khoảng 10 – 15%. Ở chiều ngược lại, giá tôm thương phẩm tại nhiều tỉnh ĐBSCL tiếp tục giảm, với tôm cỡ 30 con/kg chỉ còn khoảng 118.000 – 120.000 đồng/kg, còn tôm cỡ 40 con/kg xuống hơn 90.000 đồng/kg. Trước áp lực chi phí và giá bán giảm, ngành chuyên môn khuyến cáo người nuôi tối ưu sử dụng vật tư, điều chỉnh mật độ thả nuôi, áp dụng quy trình kỹ thuật phù hợp và tăng cường liên kết nguồn cung đầu vào nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế rủi ro.
Giá thức ăn tăng, nuôi tôm công nghệ cao tối ưu chi phí
Thức ăn vẫn là khoản chi phí lớn nhất trong nuôi tôm, chiếm khoảng 55 – 65% tổng giá thành sản xuất. Từ đầu tháng 6/2026, nhiều doanh nghiệp đã điều chỉnh tăng giá thức ăn thủy sản thêm 1.200 – 1.500 đồng/kg, tạo thêm áp lực cho người nuôi. Tuy nhiên, tại các vùng nuôi tôm công nghệ cao ở TP Cần Thơ, hoạt động sản xuất vẫn duy trì ổn định nhờ áp dụng các giải pháp quản lý thức ăn và môi trường ao nuôi hiệu quả. Theo các doanh nghiệp, thức ăn chiếm khoảng 60% giá thành ở mô hình nuôi nhỏ lẻ nhưng chỉ khoảng 40% tại các trang trại công nghệ cao.
Giá tôm thẻ chân trắng nguyên liệu tại Vĩnh Long tiếp tục lao dốc, khiến nhiều hộ nuôi không có lãi, phải kéo dài thời gian thu hoạch hoặc tạm ngưng thả giống vụ mới. Hiện, tôm cỡ 30 con/kg được thu mua ở mức 105.000 – 115.000 đồng/kg, còn tôm cỡ 40 con/kg chỉ đạt 90.000 – 100.000 đồng/kg, giảm 20.000 – 30.000 đồng/kg so với hai tuần trước. Theo ngành nông nghiệp địa phương, giá giảm do nhu cầu nhập khẩu tại nhiều thị trường lớn phục hồi chậm, trong khi nguồn cung từ các nước sản xuất tôm vẫn dồi dào và cạnh tranh. Dù vậy, nuôi tôm vẫn là ngành sản xuất chủ lực của tỉnh.
Cà Mau Sản lượng ruốc dồi dào, ngư dân Cà Mau kỳ vọng trúng mùa
Ngư dân các xã ven biển Tây tỉnh Cà Mau như Sông Đốc, Đá Bạc và Cái Đôi Vàm đang bước vào mùa khai thác ruốc với tín hiệu khả quan khi sản lượng đạt cao ngay từ đầu vụ. Theo ngư dân, mỗi chuyến biển thu được trung bình từ 500 kg ruốc tươi trở lên, hứa hẹn một vụ mùa bội thu kéo dài đến hết tháng 9 (âm lịch). Hiện giá ruốc tươi dao động 10.000 – 15.000 đồng/kg, trong khi ruốc khô được thu mua ở mức 60.000 – 70.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí, mỗi tàu khai thác có thể đạt thu nhập bình quân trên 13 triệu đồng/ngày.
Lan Khuê
Andhra Pradesh hạ giá thức ăn thủy sản để hỗ trợ người nuôi
Chính quyền bang Andhra Pradesh (Ấn Độ) đã làm trung gian thành công cho một thỏa thuận giữa các nhà sản xuất thức ăn thủy sản và người nuôi trồng thủy sản nhằm giảm giá thức ăn và ổn định thị trường. Sau cuộc họp do Thủ hiến N. Chandrababu Naidu chủ trì, các bên thống nhất giảm giá bán lẻ tối đa của thức ăn thủy sản thêm 4 INR/kg, từ khoảng 112 INR xuống 108 INR/kg (tương đương giảm từ 1,34 xuống 1,29 USD/kg).
Biện pháp này được kỳ vọng sẽ giảm áp lực chi phí cho người nuôi tôm và cá trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào tăng cao. Các doanh nghiệp sản xuất thức ăn cho biết giá đậu nành và bột cá leo thang, cùng với việc không thể nhập khẩu đậu nành giá rẻ từ Mỹ, đã khiến chi phí sản xuất tăng mạnh. Để đảm bảo ổn định lâu dài, Chính phủ Ấn Độ sẽ thành lập một ủy ban gồm đại diện ngành nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp thức ăn và cơ quan quản lý nhằm xây dựng cơ chế định giá bền vững trong vòng 20 ngày. Ủy ban cũng sẽ xem xét các vấn đề về chế biến và môi trường.
Người nuôi đánh giá cao sự hỗ trợ của Chính phủ, đặc biệt là chương trình trợ giá điện trị giá 185 triệu USD trong hai năm qua, đồng thời kỳ vọng các vấn đề về bảo hiểm, nước nuôi và cơ sở hạ tầng sẽ tiếp tục
được giải quyết.
* Tỷ giá hối đoái: 1 INR = 0,011 USD
Giá thủy sản toàn cầu tăng do nguồn cung thắt chặt
Thị trường thủy sản thế giới bước vào năm 2026 với diễn biến tích cực hơn dự báo khi nhu cầu tiêu dùng tại nhiều nền kinh tế lớn vẫn duy trì ổn định bất chấp những bất ổn địa chính trị và thương mại. Theo báo cáo mới nhất của Rabobank, nguồn cung đối với nhiều loài nuôi chủ lực như tôm, cá hồi và cá biển đang tăng chậm hơn so với nhu cầu. Lạm phát hạ nhiệt tại Mỹ và châu Âu giúp sức mua phục hồi, trong khi các nhà nhập khẩu tiếp tục bổ sung hàng tồn kho sau giai đoạn cắt giảm mạnh năm 2024–2025. Tuy nhiên, thị trường vẫn đối mặt nhiều rủi ro từ biến đổi khí hậu, chi phí logistics và các chính sách thuế quan mới. Các chuyên gia nhận định giá thủy sản có khả năng duy trì ở mức tương đối cao trong nửa cuối năm 2026, đặc biệt với các mặt hàng có nguồn cung hạn chế như tôm cỡ lớn và các sản phẩm giá trị gia tăng.
Giá cá hồi giảm do nguồn cung tăng mạnh
Ngành cá hồi thế giới đang chứng kiến áp lực giảm giá khi sản lượng tại các quốc gia sản xuất lớn tăng nhanh hơn dự kiến. Các tổ chức tài chính như Pareto Securities và SEB đã đồng loạt hạ dự báo giá cá hồi
Đại Tây Dương năm 2026 sau khi nguồn cung toàn cầu trong quý I tăng hơn 12% so với cùng kỳ năm trước.
Chile là quốc gia ghi nhận mức tăng trưởng sản lượng mạnh nhất, trong khi Na Uy cũng nâng dự báo sản lượng năm nay. Mặc dù nhu cầu tại châu Á tiếp tục tăng trưởng tích cực, lượng cung bổ sung đã khiến giá cá hồi không thể duy trì mức cao như năm 2025.
Nhiều nhà phân tích cho rằng thị trường sẽ còn chịu áp lực trong ngắn hạn, nhưng đà giảm có thể chậm lại từ cuối năm nếu tăng trưởng sản lượng suy yếu. Điều này cho thấy thị trường cá hồi đang bước vào giai đoạn cân bằng mới sau nhiều năm giá tăng mạnh do thiếu hụt nguồn cung.
El Niño đẩy giá bột cá lên mức kỷ lục
Hiện tượng El Niño tiếp tục tác động mạnh đến ngành thủy sản toàn cầu khi làm suy giảm nghiêm trọng trữ lượng cá cơm ngoài khơi Peru –nguồn nguyên liệu sản xuất bột cá lớn nhất thế giới. Chính phủ Peru đã phải áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nhằm bảo vệ nguồn lợi.
Việc nguồn cung cá cơm sụt giảm đã khiến giá bột cá trên thị trường quốc tế tăng lên gần 3.000 USD/tấn, mức cao nhất trong nhiều năm. Đây là nguyên liệu quan trọng trong thức ăn cho tôm, cá hồi và nhiều loài thủy sản nuôi khác.
Các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản đang tìm cách thay thế một phần bột cá bằng protein thực vật hoặc côn trùng, song quá trình chuyển đổi cần thời gian. Giới phân tích cảnh báo chi phí thức ăn tăng có thể khiến giá thành sản xuất thủy sản toàn cầu tăng thêm 20–25%, gây áp lực lên người tiêu dùng trong thời gian tới.
Chi phí nhiên liệu và logistics làm gia tăng biến động
giá hải sản
Thị trường hải sản quốc tế đang chịu ảnh hưởng từ chi phí vận tải và năng lượng tăng cao do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Giá dầu tăng đã kéo theo chi phí khai thác, chế biến, bảo quản lạnh và vận chuyển thủy sản leo thang trên toàn cầu.
Theo các doanh nghiệp chế biến lớn, giá nhiều mặt hàng như cá ngừ đóng hộp, cá mòi và các sản phẩm đông lạnh đã tăng đáng kể trong quý II/2026. Riêng giá cá ngừ nguyên liệu tại một số thị trường châu Á đã vượt xa mức dự báo đầu năm.
Ngoài yếu tố nhiên liệu, các doanh nghiệp còn phải đối mặt với chi phí bao bì, lao động và bảo hiểm vận chuyển tăng. Các chuyên gia cho rằng thị trường thủy sản nửa cuối năm sẽ tiếp tục biến động mạnh khi giá cả chịu tác động đồng thời từ thương mại quốc tế, tỷ giá ngoại tệ và tình hình chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thị trường tôm thế giới biến động sau những thay đổi về thuế quan
Các điều chỉnh chính sách thương mại giữa Mỹ và một số đối tác xuất khẩu lớn đang tạo ra những thay đổi đáng chú ý trên thị trường tôm toàn cầu. Sau khi Mỹ và Ấn Độ đạt thỏa thuận giảm thuế vào đầu năm 2026, xuất khẩu tôm của Ấn Độ sang thị trường Mỹ bắt đầu phục hồi sau giai đoạn sụt giảm mạnh.
Trong khi đó, Ecuador, Việt Nam và một số quốc gia châu Á khác đang cạnh tranh quyết liệt hơn để giành thị phần tại Mỹ và châu Âu. Các nhà nhập khẩu ngày càng ưu tiên nguồn cung ổn định, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và giá cả cạnh tranh.
Theo giới phân tích, sự dịch chuyển dòng thương mại có thể tạo ra những biến động đáng kể về giá tôm trong nửa cuối năm. Những quốc gia có lợi thế về chi phí sản xuất và logistics sẽ là bên hưởng lợi lớn nhất từ xu hướng này.
Bột côn trùng
và sự cân bằng dinh dưỡng
trong thức ăn cho các loài
thủy sản mới nổi
lệ proteinlipid tối ưu trong khẩu phần ăn cho cá trắng hồ (Coregonus clupeaformis), đồng thời ủng hộ tính khả thi của việc sử dụng bột côn trùng như một
thành phần bền vững trong thức ăn thương mại.
Các nhà nghiên cứu đã
đánh giá tác động của các mức protein và lipid khác nhau, cùng với việc bổ sung bột ấu trùng ruồi lính đen (BSF), đến hiệu suất tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần hệ vi sinh vật đường ruột ở cá trắng
hồ – một loài đang ngày càng được quan tâm trong phát triển nuôi trồng thủy sản ở Bắc Mỹ. Có nguồn
gốc từ vùng Ngũ Đại Hồ, cá trắng
hồ từ lâu đã là một loài quan trọng
đối với nhiều cộng đồng bản địa, những người đã đánh bắt chúng hàng nghìn năm nay.
Thử nghiệm cho ăn trong nước lạnh 16 tuần
Thử nghiệm cho ăn được tiến hành trong 16 tuần ở nhiệt độ 8,5°C sử dụng 450 con cá trắng
hồ cả đực và cái. Cá được chia vào một trong bốn chế độ ăn thử nghiệm được xây dựng bằng
Chế độ ăn giàu protein – giàu
lipid tương đương với chế độ
ăn kiểm soát thương mại
Kết quả cho thấy, cá được
cho ăn chế độ ăn kiểm soát
thương mại Bluewater (BCC) và
chế độ ăn giàu protein – giàu
lipid (HPHL) đạt hiệu quả tăng
trưởng, khả năng tiêu hóa và
giữ lại chất dinh dưỡng tốt nhất.
Trọng lượng cuối kỳ đạt mức
tương tự ở cả hai nhóm, với giá
trị cao hơn một chút ở nhóm
điều trị BCC. Mức tăng khối
lượng cũng có xu hướng tương tự giữa hai nhóm. Hệ số chuyển
đổi thức ăn (FCR) và tỷ lệ hiệu
quả sử dụng protein (PER)
không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nghiệm thức.
Tuy nhiên, chế độ ăn thương
mại (BCC) dẫn đến tích lũy mỡ nhiều hơn xung quanh các cơ quan nội tạng, điều này không
được ưa chuộng trong quá trình
phần ăn trong các thí nghiệm để
đánh giá tiềm năng của nó như
một nguồn protein thay thế. Kết
quả cho thấy việc bổ sung bột
ruồi lính đen không ảnh hưởng
đáng kể đến hiệu suất tăng
trưởng hoặc khả năng sử dụng
thức ăn so với các khẩu phần ăn
có cùng công thức dinh dưỡng
nhưng không có bột ấu trùng.
Khả năng tiêu hóa cao và phản
ứng cơ thể
Hệ số tiêu hóa biểu kiến cao
ở tất cả các nghiệm thức đối với
cả protein và lipid, cho thấy khả
năng sử dụng chất dinh dưỡng
hiệu quả. Phân tích thành phần
toàn thân cho thấy cá được cho
ăn khẩu phần có hàm lượng
lipid cao hơn tích lũy nhiều mỡ
hơn trong cơ thể, trong khi hàm
lượng nước giảm tương ứng. Kết
quả này phản ánh phản ứng sinh
lý bình thường của cá trước sự
gia tăng hàm lượng lipid trong khẩu phần.
Kết quả về hệ vi sinh vật
đường ruột
Phân tích hệ vi sinh vật cho thấy, Proteobacteria chiếm ưu thế trong cộng đồng vi khuẩn
đường ruột ở tất cả các nghiệm
thức, chiếm hơn 75% tổng số
lượng. Các chi vi khuẩn phổ
đường ruột giữa các khẩu phần
ăn, các thay đổi này không đạt ý nghĩa thống kê, cho thấy cấu trúc hệ vi sinh vật nhìn chung vẫn ổn định trong điều kiện thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng công thức thức ăn phù hợp đối với cá trắng hồ. Nó cũng nhấn mạnh tiềm năng của protein có nguồn gốc từ côn trùng như một lựa chọn thay thế bền vững trong công thức thức ăn thủy sản trong bối cảnh áp lực ngày càng tăng đối với các nguyên liệu biển. Nhìn chung, các phát hiện cung cấp thông tin cơ bản hữu ích cho cá trắng hồ, một đối tượng nuôi còn tương đối mới và chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu thêm về mức độ bổ sung bột côn trùng cao hơn và công thức khẩu phần ăn được cải tiến trong suốt các giai đoạn sản xuất để hỗ trợ tốt hơn cho sự phát triển thương mại của nghề nuôi cá trắng hồ.
“Cần nhiều nghiên cứu hơn về thức ăn và di truyền của cá trắng hồ để hỗ trợ loài mới được nuôi này,” Tiến sĩ David Huyben, Trợ lý Giáo sư Nuôi trồng Thủy sản và Chủ nhiệm Khoa Khoa học Sinh học Động vật, Trung tâm Thủy sản, Đại học Guelph, Guelph, Canada cho biết.
thiết kế giai thừa 2×2, với hai mức protein (48% hoặc 54%) và hai mức lipid (12% hoặc 18%), cho phép các nhà nghiên cứu so sánh
chế biến vì nó có thể làm giảm năng suất thịt. Ngược lại, chế
Cảnh Dương (theo Aquafeed) Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Aquaculture Nutrition
tỷ lệ protein-lipid khác nhau, so với chế độ ăn kiểm soát thương
mại. Hai chế độ ăn giàu protein cũng bao gồm 5% bột ấu trùng ruồi lính đen (BSF) nguyên chất như một phần thay thế bột cá.
Nghiên cứu này đánh giá hiệu suất tăng trưởng, khả năng sử dụng thức ăn, khả năng tiêu hóa biểu kiến, thành phần toàn thân và cấu trúc cộng đồng vi khuẩn đường ruột.
độ ăn HPHL cho kết quả tăng trưởng tương tự nhưng với sự
phân bố mỡ cân đối hơn trong cơ
thể, phù hợp hơn cho mục đích
sản xuất. Nghiên cứu đã xác định yỷ lệ protein/lipid 54:18 là công
thức mang lại hiệu quả tổng thể
cao nhất về tăng trưởng và sử
dụng dinh dưỡng.
Việc bổ sung bột ấu trùng cho
thấy triển vọng khả quan
Bột ấu trùng ruồi lính đen được bổ
biến nhất bao gồm Shewanella, Aeromonas, Photobacterium, Pseudomonas và Vibrio. Mặc dù ghi nhận một số khác biệt về mức độ đa dạng của hệ vi sinh vật
Viên nén probiotic
thế hệ mới giúp tăng cường sức khỏe
cá và hiệu suất ương nuôi
Viên nén probiotic SanolifeTM PRO-TAB chìm chậm
mới với nhiều tác dụng đồng thời như: cải thiện
sức khỏe đường ruột, tỷ lệ sống sót và hiệu quả
hoạt động trong hệ thống ương nuôi cá. Điều này giúp đơn giản hóa các sản phẩm cần sử dụng
trong quá trình ương nuôi.
Tại triển lãm thương mại
Hiệp hội Nuôi trồng
Thủy sản Thế giới (WAS) Singapore 2026, INVE Aquaculture, một công ty công nghệ sinh học toàn cầu chuyên về các giải pháp đổi mới cho nuôi trồng thủy sản, đã công bố sản phẩm Sanolife™ PRO-TAB, một loại viên nén probiotic thế hệ mới
được thiết kế để tăng cường sức khỏe, khả năng phục hồi và tỷ lệ sống sót của cá trong giai đoạn ương nuôi và tiền nuôi quan trọng. Ương giống là một trong những giai đoạn nhạy cảm nhất trong sản xuất cá. Tỷ lệ tử vong có thể tăng lên trong giai đoạn này và đã được chứng minh khoa học qua nhiều thử nghiệm rằng việc sử dụng probiotic trong nước hoặc tốt hơn nữa là trộn với thức ăn có thể làm giảm
đáng kể tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, việc bổ sung probiotic vào thức
ăn không phải lúc nào cũng dễ dàng. Các trại sản xuất giống và
ương nuôi thường phải đối mặt
với tình trạng lượng probiotic
được vật nuôi hấp thụ không
đồng đều, hoạt chất bị rửa trôi
trong nước trước khi được tiêu
thụ và quy trình chuẩn bị thức ăn
tương đối phức tạp, tốn nhiều
công sức. Sanolife™ PRO-TAB
giải quyết những thách thức này
thông qua công nghệ phân phối
mới, đảm bảo lượng probiotic
được vật nuôi hấp thụ ổn định
đồng thời đơn giản hóa các hoạt
động hằng ngày của trang trại.
Sanolife™ PRO-TAB được sản
xuất dưới dạng viên nén chìm
chậm, chứa nồng độ cao lợi
khuẩn Bacillus, cho phép đưa
trực tiếp vào ruột cá. Viên nén
có công nghệ phủ tiên tiến giúp
ngăn ngừa sự thất thoát chất
dinh dưỡng và duy trì khả năng
sống của lợi khuẩn trong nước, đảm bảo việc hấp thụ lợi khuẩn
ổn định và hiệu quả.
“Người nuôi cá ngày càng cần những giải pháp kết hợp hiệu quả
sinh học với sự đơn giản trong
vận hành,” ông Thomas Raynaud, Giám đốc Sản phẩm Thức ăn
Công thức tại INVE Aquaculture
cho biết. “Sanolife™ PRO-TAB
đại diện cho thế hệ công nghệ
cung cấp lợi khuẩn mới, đảm
bảo việc hấp thụ ổn định, hỗ trợ
sức khỏe đường ruột cho cá và
giúp người nuôi cá quản lý giai
đoạn ương giống quan trọng một
cách tự tin và hiệu quả hơn.”
Để đảm bảo độ tin cậy này, các
nhóm nghiên cứu và phát triển
của INVE đã tập trung vào việc tối ưu hóa cả công thức lợi khuẩn và hệ thống phân phối.
“Các ứng dụng lợi khuẩn truyền thống trong nuôi trồng thủy sản thường gặp khó khăn về tính ổn định và khả năng hấp thụ nhất quán,” bà Barbara Hostins, Trưởng nhóm Nghiên cứu và Phát triển Sức khỏe tại INVE Aquaculture cho biết. “Với Sanolife™ PRO-TAB, chúng tôi đã thiết kế một hệ thống phân phối giúp bảo vệ bào tử probiotic, ngăn ngừa sự thất thoát chất dinh dưỡng và
tôi hỗ trợ cân bằng hệ vi sinh vật và khả năng phục hồi của cá một cách đáng tin cậy hơn nhiều.”
Các viên nén này cũng có tính hấp dẫn cao, kích thích hành vi ăn uống và khuyến khích cá phát hiện, đuổi theo và ăn chúng trong giai đoạn chìm. Điều này đảm bảo việc tiêu thụ probiotic đáng tin cậy đồng thời hỗ trợ cải thiện hiệu quả cho ăn và hệ thống sạch hơn.
Được thiết kế để dễ sử dụng, Sanolife™ PRO-TAB không cần chuẩn bị lớp phủ bề mặt và có thể được sử dụng thủ công hoặc thông qua máy cho ăn tự động,
giúp giảm đáng kể sức lao động và giảm thiểu rủi ro sai sót của con người so với các loại bột hoặc viên nén probiotic truyền thống.
“Trong giai đoạn ương nuôi, cá đặc biệt dễ bị tổn thương bởi các sự kiện gây căng thẳng
như phân loại, xử lý và biến động môi trường, dẫn đến suy
giảm miễn dịch và do đó dễ bị tấn công bởi vi khuẩn hơn,” bà
Valentina Carbone, Chuyên gia
kỹ thuật toàn cầu về cá tại INVE
Aquaculture cho biết. “Một giải
pháp như Sanolife™ PRO-TAB
giúp người nuôi vượt qua giai
đoạn nhạy cảm đó bằng cách
đảm bảo cá liên tục hấp thụ
probiotic trong khi vẫn duy trì
hành vi ăn uống tốt và khả năng kháng vi khuẩn gây bệnh. Trên thực tế, điều này dẫn đến cá
khỏe mạnh hơn, tỷ lệ sống sót
được cải thiện và hiệu suất ương
nuôi ổn định hơn.”
Sanolife™ PRO-TAB có hai
kích cỡ viên nén: 2 mm cho cá con giai đoạn đầu ương nuôi và
5 mm cho cá trước khi trưởng
thành, hỗ trợ cá có trọng lượng
từ khoảng 2 g đến 80 g. Với độ
ổn định trong nước tuyệt vời và
khả năng cung cấp probiotic nhất quán, sản phẩm hỗ trợ cải
thiện tỷ lệ sống sót, tăng trưởng và khả năng phục hồi trong suốt chu kỳ ương nuôi.
Bằng cách tăng cường hệ vi sinh đường ruột và hỗ trợ khả năng phục hồi của cá trong điều kiện căng thẳng, Sanolife™ PROTAB bổ sung cho các chiến lược quản lý sức khỏe hiện đại trong các trại giống và ao nuôi. Đồng thời, sản phẩm này góp phần cải thiện việc sử dụng thức ăn, giảm lãng phí và mang lại kết quả sản xuất ổn định hơn.
Vì sao nhiều trại tôm vẫn thua lỗ dù đã đầu
tư hàng tỷ đồng?
“Một trại tôm đầu tư hàng tỷ đồng cho ao nuôi, hệ thống sục khí, con giống chất lượng và thức ăn cao
cấp. Thế nhưng chỉ sau vài tháng, tôm chậm lớn, tỷ lệ sống giảm, chi phí thức ăn, hóa chất, vật tư tăng cao, thậm chí có vụ nuôi phải thu hoạch sớm để cắt lỗ”. Đây không còn là câu chuyện hiếm gặp mà đang là thực trạng của các trang trại tôm hiện nay.
Phần lớn người nuôi tập trung vào con giống, thức ăn và phòng bệnh, nhưng lại vô tình bỏ qua yếu tố quyết định hiệu quả của vụ nuôi: chất lượng nước. Trong các ao nuôi tôm mật độ cao, thức ăn dư thừa, chất thải hữu cơ và bùn đáy liên tục tích tụ, làm giảm hàm lượng ôxy hòa tan (DO), đồng thời làm gia tăng các hợp chất độc hại như amoniac (NH3) và nitrit (NO2). Những điều kiện này tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn gây hại phát triển và làm mất cân bằng hệ sinh thái nước. Khi hàm lượng ôxy suy giảm và chất lượng nước ngày càng xấu đi, tôm sẽ bị stress, hệ miễn dịch suy yếu, hiệu quả sử dụng thức ăn giảm và phải tiêu
tốn nhiều thức ăn hơn để đạt
được cùng một mức tăng trưởng.
Tình trạng thiếu ôxy cũng làm tăng nguy cơ tôm nổi đầu vào ban
đêm – một dấu hiệu rõ ràng của việc thiếu ôxy. Hậu quả là người
nuôi phải tốn nhiều chi phí hơn cho việc xử lý nước, đối mặt với nguy cơ bùng phát dịch bệnh cao hơn và chịu những tổn thất kinh
tế đáng kể trong suốt chu kỳ nuôi.
Công nghệ NanoBubbles
B.H.N giúp tạo ra môi trường nước tối ưu, cải thiện điều kiện nuôi và kiểm soát hiệu quả mầm bệnh ngay từ nguồn. Nhờ đó, người nuôi không chỉ gia tăng
năng suất, tối ưu lợi nhuận mà
còn an tâm hướng đến một mô
hình nuôi bền vững.
Đó là lý do nhiều trang trại nuôi
tôm hiện đại trên thế giới đang
chuyển từ tư duy “xử lý khi có
sự cố” sang “chủ động duy trì
chất lượng nước ổn định” bằng
Công nghệ NanoBubbles
Không giống như các bọt khí
thông thường, bọt khí Nano có kích thước cực nhỏ, có thể lơ lửng
trong nước trong thời gian dài và
phân tán đồng đều khắp toàn bộ ao nuôi. Bọt khí Nano có đặc tính không kết tụ với nhau khi hoạt
động độc lập, vì vậy chúng duy trì kích thước siêu nhỏ trong thời gian dài. Điều này giúp ôxy hòa tan vào nước hiệu quả hơn, cải thiện khả năng tuần hoàn nước và tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật có lợi phát triển. Nhờ đó, công nghệ Nano Bubble giúp
duy trì chất lượng nước ổn định, giảm sự tích tụ của các hợp chất
độc hại và chất thải hữu cơ, đồng thời giảm nhu cầu thay nước và sử dụng hóa chất xử lý. Nhằm đáp ứng nhu cầu của
các trang trại nuôi tôm quy mô lớn, Công ty TNHH B.H.N đã phát triển dòng Máy tạo siêu bọt khí NanoBubbles NN22-90 với công suất lên đến 250 m³/ giờ (1.100 GPM). Hệ thống vận hành hoàn toàn tự động, cấp khí trực tiếp mà không cần sử dụng máy nén khí. Chúng tôi ứng dụng NanoBubbles kết hợp ozone để hỗ trợ khử trùng nguồn nước, loại bỏ vi khuẩn nhân lên trong màng sinh học (biofilm) và giảm chi phí xử lý môi trường. Qua nghiên cứu
và vận hành thực tế, hệ thống sẽ duy trì hàm lượng ôxy hòa tan
(DO) 8 ppm trên toàn bộ ao nuôi – mức tối ưu để nuôi tôm, mặc dù chúng tôi có thể nâng DO lên mức rất cao.
Để tối ưu chi phí sản xuất và đảm bảo về chất lượng ngày càng khắt khe hiện nay, việc kiểm soát môi trường nước ngay từ đầu là rất quan trọng. Khi chất lượng nước được duy trì ổn định, người nuôi sẽ giảm được rủi ro dịch bệnh, tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả của cả vụ nuôi. Đầu tư vào công nghệ NanoBubbles không đơn thuần là đầu tư vào một thiết bị, mà là đầu tư vào sự ổn định, năng suất và lợi nhuận bền vững cho tương lai.
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N
Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM
Số điện thoại: 028.668.101.95/96
B.H.N
Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com
Kiểm soát bệnh đỏ thân
trên tôm hùm
Tôm hùm là loài đặc sản có giá trị kinh tế cao.
Vì vậy, phong trào nuôi tôm hùm ngày càng phát
triển ở nước ta, số lồng bè tăng nhanh và hiện nay
môi trường nước biển khu vực nuôi đã ô nhiễm.
Sự suy thoái môi trường đã làm bùng phát dịch
bệnh trên tôm, trong đó, có bệnh đỏ thân. Bệnh
gây thiệt hại cho người nuôi, ảnh hưởng tỷ lệ
sống, làm giảm sản lượng tôm hùm nuôi.
Nguyên nhân
Do tôm bị nhiễm vi khuẩn Vibrio alginolyticus. Vi khuẩn này phát triển mạnh trong môi trường ô nhiễm, hàm lượng ôxy kém, nhiều khí độc,… Khi nhiễm vào, cơ thể tôm vi khuẩn sẽ tấn công mô gan tụy gây hoại tử, tôm biểu hiện đỏ thân. Bệnh xảy ra quanh năm và nhiều nhất là vào mùa hè, gây chết tôm hùm nuôi từ rải rác đến hàng loạt.
Biểu hiện
Khi nhiễm bệnh, tôm hùm
bệnh có biểu hiện tách đàn kém
linh hoạt, bắt mồi chậm. Quan
sát màu sắc tôm có màu tím đỏ
bầm ở vùng giáp đầu ngực, vùng
bụng và nếu bệnh nhiễm nặng
tôm sẽ đỏ toàn thân, tôm yếu
dần, bỏ ăn và chết.
Phòng trị bệnh
Thực hiện biện pháp phòng
bệnh tổng hợp. Lựa chọn mua con giống có chất lượng và phải được kiểm dịch theo đúng quy định. Thả tôm hùm mật độ vừa phải, thường xuyên lặn xuống vệ sinh đáy lồng, duy trì luồng nước chảy thông thoáng (mỗi khi thủy triều lên xuống). Lựa chọn thức ăn luôn tươi sống và rõ nguồn gốc, trước khi cho tôm hùm ăn, cần bổ sung kèm Vitamin C, các vitamin tổng hợp khác như A, D, E, B… cũng như enzyme tiêu hóa và các chất tăng cường chức năng gan. Mục đích giúp tôm hùm hấp thu tốt thức ăn với đầy đủ dưỡng chất, tăng sức đề kháng, chống lại sự xâm nhập mầm bệnh từ bên ngoài, giúp tôm vượt qua dịch bệnh. Hàng ngày cần kiểm tra tình trạng thức ăn thừa để đánh giá sức khỏe tôm và điều chỉnh lượng mồi cho tôm ăn hợp lý.
Bên cạnh đó, người nuôi phải thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin quan trắc, cảnh báo môi trường, dịch bệnh của ngành
chức năng để kịp thời áp dụng các biện pháp phòng, chống hiệu quả.
Trong quá trình chăm sóc và theo dõi tôm hùm, nếu thấy có dấu hiệu tôm có hiện tượng tách đàn, đỏ thân thì tiến hành điều trị bằng kháng sinh ngay cho cả lồng nuôi tôm chung trong bè. Sử dụng kháng sinh đặc trị là BIO OXYTETRA for aqua hoặc BIO DOXY 500 for Aqua với liều 5 g/kg thức ăn, sau đó trộn thêm chất kết dính BIO LECITHIN để bọc thuốc dính với thức ăn tôm, tránh thất thoát thuốc. Cho tôm ăn liên tục trong 7 – 8 ngày, 1 cữ/ ngày vào lúc chiều tối. Sau điều trị bổ sung men enzyme và các
vitamin cần thiết sẽ giúp tôm mau hồi phục, vượt qua bệnh dịch. Đặng Hồng
liên doanh Bio Pharmachemie
Giải quyết vấn đề đất phèn trong ao nuôi tôm
ất phèn chiếm 63,40%
tổng lượng đất ở Việt
Nam. Trong đó, diện tích
đất nhiễm phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là 41,1%.
Có 2 loại phèn ảnh hưởng đến ao tôm hiện nay:
- Phèn sắt (nước đỏ): muối kép của sắt (III) sunfat kết hợp với muối của kim loại kiềm hay amoni. Loại phèn này làm nước đỏ, chân, mang, đuôi tôm vàng. - Phèn nhôm (nước trong): muối sunfat kép của kali và nhôm. Khi ao có phèn nhôm, nước rất trong khó lên màu, tôm rất chậm lớn.
Ảnh hưởng của phèn đến sự phát triển của tôm:
- Khó gây màu nước do tảo phát triển chậm, đặc biệt đối với tôm con (PL) ở giai đoạn đầu thì màu nước cực kỳ quan trọng. - Làm giảm pH trong ao nuôi, mà pH là một trong các yếu tố quan trọng trong quá trình nuôi, tăng độc tính của khí độc. - pH thấp làm tôm stress, kém ăn, khó lột xác, mềm vỏ, chậm lớn, tôm màu xám đen, hợp chất phèn lơ lửng bám vào mang, cản trở quá trình hô hấp của tôm - pH thấp ảnh hưởng đến sự hoạt hóa các Enzyme trong ao.
Từ đó làm cho việc sử dụng các sản phẩm vi sinh hoặc chế phẩm sinh học xử lý nước đáy, bổ sung thức ăn không hiệu quả.
Để hạn chế phèn trong ao ta nên: - Chọn địa điểm xây dựng ao nuôi ở các vùng đất ít bị nhiễm phèn; chuẩn bị và cải tạo ao nuôi thật kỹ, bón lót vôi đáy ao, sên rửa lại nhiều lần cho sạch trước khi cấp nước vào ao nuôi;
xử lý nguồn nước cấp vào thật
sạch, nên sử dụng kít kiểm môi
trường để xem có hàm lượng sắt
trong nước cấp không.
Cách xử lý ao bị nhiễm phèn:
1. Lót bạt toàn bộ nền đáy và
bờ ao:
Đây là cách sử dụng màng bạt
để bao bọc lót xuống đáy ao hồ
nuôi tôm Các loại bạt này thường
được làm từ chất liệu nhựa với
kích thước, độ dày khác nhau
phù hợp với diện tích của ao tôm và nhu cầu sử dụng của các hộ
nuôi tôm cá. Các vật liệu phổ biến
nhất của bạt lót ao nuôi tôm đó
chính là HDPE, PVC và cao su EPDM. Đây đều là các nguyên liệu nguyên sinh có độ bền cao đồng thời không gây độc hại cho tôm giống và người sử dụng. Cách
này có tác dụng chính trong ngăn phèn, chống xói mòn, tạo môi trường nuôi hợp vệ sinh, hạn chế rủi ro bệnh tật ở tôm nuôi.
2. Sử dụng hóa chất (EDTA hoặc vôi):
Vôi: Cách xử lý này được rất nhiều hộ nuôi sử dụng. Nhưng là thực tế có những ao độ phèn cao, 1000m2 phải dùng cả một tấn vôi
mới ngăn chặn được. Đó chính là điểm hạn chế của cách xử lý này.
Sử dụng số lượng quá lớn, vừa tốn công tạt vừa gây tốn kém chi phí.
Đánh EDTA cũng là một cách hay để ngăn chặn phèn sắt tức thời, phèn nhôm EDTA không có tác dụng nhiều, khi đánh EDTA, nó sẽ làm kết tủa Fe trong nước, giảm phèn và chìm xuống đáy ao, khi người nuôi quạt nước thì vô tình kéo kết tủa của phèn sắt lên luôn thì nó cứ tồn tại trong môi trường nước, không hết triệt để, vài ngày phải đánh lại.
Điểm hạn chế của hai cách xử lý này là:
Chi phí rất cao: Lót bạt, vệ sinh ao bạt, khó gây màu nước, nhân công.
Sử dụng hóa chất khối lượng lớn gây tốn kém chi phí và công tạt.
Hóa chất chỉ giải quyết được phèn nhôm, phèn sắt không có tác dụng nhiều.
Phèn vẫn còn tồn dư trong nước chứ không mất đi, có thể bị xì phèn sau những trận mưa.
3. Sử dụng vi sinh xử lý phèn: Hiện nay, sử dụng vi sinh cũng là cách xử lý phèn trong ao nuôi tôm được rất nhiều hộ nuôi áp dụng. Vi sinh có thể tồn tại trong môi trường nước phèn giúp ôxy hóa được cả phèn sắt và nhôm, vi sinh sẽ thúc đẩy quá trình chuyển hóa phèn nhanh chóng thành các hợp chất tan được trong nước. Vi sinh cũng có công dụng phân
hủy các chất hữu cơ dư thừa, thức ăn, xác tảo, phân... giúp giảm khí
độc, giảm mùi hôi của ao nuôi.
Ưu điểm của phương pháp này
là tiết kiệm, thân thiện môi trường và hiệu quả cao và kéo dài.
Hiện nay, Công ty Thái Nam Việt đã nghiên cứu và phát triển thành công dòng sản phẩm vi sinh đặc biệt có khả năng phân hủy cả phèn sắt và phèn nhôm trong ao nuôi một cách hiệu quả. Sau 3 ngày sử dụng sản phẩm, màu nước ao sẽ trong xanh đẹp, tôm khỏe hơn, ăn lên mồi. Chỉ khi giải quyết được vấn đề phèn trong ao nuôi thì việc sử dụng các sản phẩm vi sinh xử lý nước đáy mới hiệu quả AQUALUM CONC – sản phẩm vi sinh xử lý phèn – hiệu quả ngay từ lần đầu tiên sử dụng – hiệu quả cho cả phèn sắt và phèn nhôm: Mọi chi tiết vui lòng liên hệ: 091 686 5938 hoặc website: www.thainamviet.com để biết thêm thông tin chi tiết. Công ty chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày giải pháp cho các vấn đề khác trong ao nuôi ở số tiếp theo. Mời quý bà con đón đọc.
Thái Nam Việt
Trước và sau khi xử lý phèn bằng AQUALUM CONC
VINHTHINH BIOSTADT
Thành công với mô hình nuôi 90 ngày và bộ đôi ESOMAX – STOP EHPi
Trước áp lực dịch bệnh, đặc biệt là hội chứng tôm
chậm lớn do EHP kết hợp với phân trắng, việc
chuyển từ tư duy xử lý sang phòng bệnh chủ động
đang trở thành xu hướng tất yếu trong nuôi tôm hiện
nay. Mô hình nuôi 90 ngày của Vinhthinh Biostadt
kết hợp “bộ đôi” ESOMAX và STOP EHPi đã ghi nhận những kết quả tích cực qua thực tế triển khai, giúp
người nuôi kiểm soát rủi ro, ổn định môi trường ao
nuôi và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Theo khảo sát thực tế trên thị trường thì các bệnh tôm đang gây nhiều lo lắng nhất cho Người nuôi là hội chứng tôm chậm lớn và phân trắng (do sự kết hợp giữa EHP và bội nhiễm bởi vi khuẩn vibrio). Bệnh này rất phổ biến hiện nay và gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho Người nuôi. Không giống như các bệnh gây chết cấp tính như đốm trắng hay gan tụy (EMS), “hội chứng tôm chậm lớn và phân trắng nặng” làm cho tôm tăng trưởng kém, rất chậm lớn, FCR cao làm chi phí gia tăng, tôm hao nhiều và kéo dài, nếu điều trị theo các phương pháp trước đây thì không còn hiệu quả và tái bệnh rất nhanh.
Một điểm đáng chú ý là phần lớn các sự cố bị “hội chứng tôm chậm lớn và phân trắng nặng” thường xảy ra trong giai đoạn tôm 25 - 45 ngày thả nuôi. Đây là giai đoạn tôm dễ nhiễm bệnh
do còn nhỏ, hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, sức đề kháng không cao. Chính vì vậy, việc áp dụng mô hình quản lý dịch bệnh mang tính hệ thống và chủ động phòng bệnh ngay từ ban đầu đóng vai trò hết sức quan trọng ngăn
ngừa bệnh chậm lớn và phân trắng nặng, mang lại hiệu quả
cho vụ nuôi.
Theo báo cáo tổng kết mô hình năm 2025 của Phòng kỹ thuậtVinhthinh Biostadt, toàn đơn vị
đã triển khai tổng cộng 553 ao nuôi, áp dụng theo mô hình nuôi
90 ngày của Vinhthinh Biostadt với trọng tâm là giải pháp phòng
bệnh 60 ngày, đã mang lại lợi ích thiết thực cho người nuôi tôm
nhất là người nuôi vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Báo cáo
cho thấy tỷ lệ các mô hình của
Công ty không nhiễm bệnh là rất
cao dù tình hình dịch bệnh phức
tạp. Đặc biệt, tỷ lệ nhiễm hai
bệnh nguy hiểm phổ biến hiện
nay là EHP và bệnh phân trắng
đều được kiểm soát ở mức thấp rất nhiều so với tình hình chung. Cụ thể, tỷ lệ nhiễm EHP ở mô hình ao bạt là khoảng 9,05%, ao đất khoảng 8,06%. Đối với bệnh phân trắng, ao bạt ghi nhận tỷ lệ khoảng 5,35%, trong khi ao đất là 4,84%. Các bệnh khác như EMS/Gan tụy, TPD đều xuất hiện
ở tỷ lệ thấp. Kết quả này cho
thấy mô hình nuôi 90 ngày với quy trình phòng bệnh 60 ngày của Vinhthinh Biostadt đang phát huy hiệu quả tốt trong việc kiểm soát các nhóm bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm. Không chỉ kiểm soát bệnh tốt, mô hình nuôi 90 ngày của
Vinhthinh Biostadt còn mang lại hiệu quả kinh tế thực tế cho người nuôi khi giúp tôm vượt qua giai đoạn rủi ro cao trong những tháng đầu. Số liệu cho thấy tỷ lệ mô hình có thời gian nuôi vượt qua mốc 60 ngày đạt gần 80% Đây là chỉ số rất quan trọng bởi giai đoạn sau 60 ngày được xem là thời điểm giúp người nuôi vượt qua ngưỡng thua lỗ, gia tăng cơ hội thu hoạch thành công và nâng cao lợi nhuận. Một điểm lưu ý, vào giai đoạn 3 tháng cuối năm 2025 khi thời tiết chuyển lạnh thì bệnh EHP gây chậm lớn và bệnh phân trắng bùng phát mạnh. Vinhthinh Biostadt thực hiện khảo sát
thêm trên 156 ao nuôi có sử dụng “Bộ đôi” ESOMAX và STOP EHPi trong phòng bệnh chủ động EHP và phân trắng nặng ( Vibrio & EHP kết hợp) qua phân tích thì cho thấy rằng: Có 02 nhóm khách hàng với cách áp dụng “Bộ đôi” trong nuôi tôm với 02 tình huống khác nhau:
Nhóm 1: Chủ động sử dụng “Bộ Đôi” ESOMAX và STOP EHPi ngay từ đầu sau khi thả tôm.
Nhóm 2: Chủ động sử dụng “Bộ Đôi” ESOMAX và STOP
EHPi khi thấy có ao tôm có nguy cơ bị nhiễm bệnh (nguy cơ dịch bệnh từ xung quanh, biến động môi trường và sức khỏe tôm…)
Kết quả ghi nhận được như sau:
“Bộ đôi” góp phần giúp tôm nuôi vượt 60 ngày nuôi trong giai đoạn thời tiết không thuận lợi và dịch bệnh phức tạp trên 75%.
Nhóm Ao nuôi sử dụng “Bộ đôi” phòng bệnh chủ động ngay từ đầu thì có hiệu quả cao hơn: Tỷ lệ ao nuôi vượt 60 ngày là 80%, tỷ lệ ao nuôi không bị nhiễm EHP & phân trắng là 97%.
Áp dụng “Bộ đôi” kết hợp nuôi theo qui trình bài bản, đặc biệt là mô hình 90 ngày Vinhthinh Biostadt thì có tỷ lệ nhiễm bệnh EHP & phân trắng gây chậm lớn thấp nhất (tỷ lệ nhiễm chỉ 3%).
Qua kết quả khảo sát từ thực tế, Vinhthinh Biostadt khuyến khích người nuôi chú trọng áp dụng qui trình nuôi bài bản kết hợp cho ăn “Bộ đôi” ESOMAX và STOP EHPi ngay từ đầu vụ nhằm chủ động kiểm soát bệnh gan tụy, phân trắng & EHP gây chậm lớn.
Các kết quả thực tế trên cho thấy mô hình nuôi 90 ngày của Vinhthinh Biostadt với phác đồ phòng bệnh 60 ngày, trong đó sử dụng “Bộ Đôi” ESOMAX và STOP EHPi không chỉ giúp kiểm
Chia sẻ của khách hàng khi áp dụng mô hình nuôi 90 ngày Vinhthinh Biostadt và có sử dụng “Bộ đôi” ESOMAX & STOP EHPi
Anh Ngoan, tại Cái Nước, Cà Mau, thực hiện theo mô hình phòng bệnh 90 ngày Vinhthinh Biostadt đã nuôi thành công 2 vụ liên tiếp và sử dụng “Bộ Đôi” ESOMAX và STOP EHPi ngay từ đầu thả tôm. Chỉ với 02 ao lót bạt, diện tích 1.400 m²/ao, thả 500.000 PL. Sau 116 ngày nuôi, Anh Ngoan thu tổng cộng 9,7 tấn tôm, size 24-25 con/kg, lợi nhuận hàng tỷ đồng. Anh chia sẻ: “Áp dụng quy trình nuôi của Công ty Vinhthinh Biostadt và sử dụng “Bộ Đôi” ESOMAX và
STOP EHPi ngay từ đầu tôm tăng trưởng tốt, đồng đều, đường ruột ổn định, tôm không bị EHP và phân trắng”.
Trang trại nuôi tôm của Anh Bình, Thạnh Phú, Bến Tre nuôi theo mô hình phòng bệnh 90 ngày Vinhthinh Biostadt
trên ao bạt diện tích 3.000 m2, với lượng giống thả 600.000
PL. Sau 102 ngày nuôi, anh thu size 28 con/kg, tổng sản lượng hơn 18 tấn, anh lời hơn 2 tỷ đồng. Theo anh đánh giá:
“Nuôi theo quy trình Công ty Vinhthinh phòng được các bệnh thường gặp trên tôm, gan ruột tốt, và quan trọng hơn hết là chi phí thấp do môi trường ổn định, giúp tôm
tăng trưởng nhanh, rút ngắn ngày nuôi”.
Một khách khác ở Cà Mau là anh Tám Sơn, đây là vụ nuôi thứ 6 thành công liên tiếp cùng “Bộ Đôi” ESOMAX và
STOP EHPi. Chỉ với 02 ao nuôi lót bạt 1.300 m2 /ao, anh thả 400.000 PL. Khi tôm được 105 ngày, anh thu tỉa ở size 24 con/kg và nuôi tiếp đến 111 ngày anh thu toàn bộ với size 19 con/kg, tổng lượng cho cả 2 đợt là 12,5 tấn. Anh đánh giá rất cao quy trình của Công ty và nhất là hiệu quả “Bộ Đôi” ESOMAX và STOP EHPi trong phòng ngừa bệnh EHP và phân trắng.
soát hiệu quả dịch bệnh mà còn tạo sự ổn định môi trường nuôi, từ đó thúc đẩy tăng trưởng, rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế. Điều này cũng khẳng định giải pháp “phòng bệnh chủ động ngay từ đầu” kết hợp nuôi theo quy trình bài bản là giải pháp
thay thế hoàn toàn kháng sinh
không còn phù hợp.
Công ty Vinhthinh Biostadt
chúng tôi, xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến Quý đối
tác, quý khách hàng, bà con đã tin tưởng và luôn đồng hành cùng
Công ty trong suốt thời gian qua. Chúng tôi cam kết sẽ luôn nổ lực, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, luôn “tay chung tay” cùng Quý khách hàng, hướng tới xây dựng một ngành thủy sản Việt Nam phát triển, chất lượng và bền vững.
VINHTHINH
Hành trình tạo nên tôm giống
C.P. tăng trưởng vượt trội
Mỗi con tôm giống là kết quả của một quy trình sản xuất được kiểm
soát xuyên suốt, từ nguồn tôm bố mẹ đến khi xuất bán.
Với hệ thống gần 20 trại sản xuất tôm giống trải dài từ tỉnh Quảng Trị đến Cà Mau, công suất khoảng 40 tỷ con tôm giống mỗi năm, trại tôm giống C.P. Việt Nam vận hành quy trình sản xuất thống nhất từ nguồn tôm bố mẹ, hệ thống xử lý nước, dinh dưỡng, an toàn sinh học đến phòng thí nghiệm. Sự đồng bộ trong công nghệ, quy trình và quản lý chất lượng đã tạo nên nguồn tôm giống sạch bệnh, đồng đều và đáp ứng nhu cầu mua tôm giống của nhiều vùng nuôi trên cả nước. Khởi đầu từ nguồn gen chọn lọc Nguồn tôm bố mẹ được nhập khẩu từ trung tâm lai tạo và di truyền giống của C.P. GROUP tại Thái Lan. Đàn tôm được cách ly,
kiểm tra và giám sát toàn diện bằng công nghệ Real-time PCR và quản lý theo chế độ dinh dưỡng chuyên biệt trước khi đưa vào sinh sản, tạo nền tảng cho đàn tôm giống khỏe mạnh và đồng đều. Sự kết hợp giữa nguồn gen được chọn lọc, quy trình an toàn sinh học và chế độ dinh dưỡng chuyên biệt tạo nền tảng cho chất lượng tôm giống ngay từ giai đoạn đầu.
Kiểm soát nguồn nước từ đầu vào Trại tôm giống C.P. Việt Nam chủ động lựa chọn nguồn nước biển an toàn trước khi lấy vào thông qua hệ thống kiểm tra, giám sát và theo dõi chất lượng nước biển định kỳ tại các vùng biển thuộc khu vực trại giống.
Nguồn nước biển trước khi đưa vào bể
ương được xử lý qua nhiều công đoạn nhằm loại bỏ tạp chất và các tác nhân gây bệnh. Hệ thống siêu lọc Ultra Filter có kích thước lỗ màng lọc hoặc lỗ lọc khoảng 0,01 micromet giữ vai trò quan trọng trong quy trình xử lý, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nước. Sau xử lý, nguồn nước tiếp tục được kiểm tra bằng các phương pháp hóa
học, vi sinh và công nghệ Real-time PCR trước khi đưa vào sản xuất.
Dinh dưỡng cho giai đoạn đầu đời
Thông qua hệ thống Photobioreactor hiện đại, các trại tôm giống C.P. Việt Nam chủ động sản xuất tảo tươi Thalassiosira giàu EPA, protein và vitamin. Việc sử dụng tảo tươi giúp bảo toàn giá trị dinh dưỡng, tăng khả năng hấp thu và hỗ trợ sự phát triển của hệ tiêu hóa, tạo nền tảng cho đàn tôm giống khỏe mạnh và đồng đều. Nguồn dinh dưỡng phù hợp trong giai đoạn ấu trùng góp phần nâng cao sức khỏe, khả năng bắt mồi và sự phát triển đồng đều của tôm giống. Kiểm chứng chất lượng bằng khoa học công nghệ Mỗi lô tôm giống đều được kiểm tra từ nguồn nước, thức ăn, tôm bố mẹ đến tôm post trước khi xuất bán. Công tác kiểm nghiệm được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên phòng thí nghiệm có trình độ chuyên môn cao. Toàn bộ hệ thống quản lý chất lượng của C.P. Việt Nam được xây dựng và
vận hành theo các tiêu chuẩn quốc tế như: ISO 9001, ISO 14001, BAP và Global G.A.P. Nhờ đó, mầm bệnh được phát hiện sớm, chất lượng từng lô tôm giống được kiểm soát ổn định và quá trình đánh giá, truy xuất nguồn gốc được thực hiện một cách nhất quán trước khi xuất bán.
Từ quy trình đến chất lượng con giống
Chất lượng tôm giống không đến từ một công đoạn riêng lẻ mà là kết quả của cả một quy trình được kiểm soát đồng bộ, từ nguồn gen, môi trường sản xuất, dinh dưỡng đến hệ thống kiểm nghiệm. Chính sự nhất quán trong từng mắt xích đã tạo nên những đàn tôm giống khỏe mạnh, sạch bệnh và đồng đều, đồng thời thể hiện cam kết của C.P. Việt Nam trong việc đồng hành cùng người nuôi hướng đến hiệu quả sản xuất và sự phát triển bền vững của ngành tôm.
Nuôi tôm công nghệ cao trên vùng đất
khó
Từ phương thức nuôi truyền thống, ông Cao Văn Ba (xã Giao Ninh, tỉnh Ninh Bình) đã mạnh dạn chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng ứng
dụng công nghệ cao theo tiêu chuẩn VietGAP. Mô hình mang lại năng
suất cao, doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm.
Bước ngoặt từ đổi mới tư duy
Xuất thân trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ông Cao Văn Ba luôn trăn trở tìm hướng phát triển kinh tế trên chính mảnh đất quê hương. Sau khi cải tạo vùng đất hoang hóa thành ao nuôi, ông lần lượt thử sức với cá rô, cá chép nhưng hiệu quả không như mong muốn. Tìm kiếm đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao hơn, ông chuyển sang nuôi tôm sú và ngay vụ đầu tiên đã thu được kết quả khả quan.
Tuy nhiên, thành công ban đầu không kéo dài. Sau vài vụ nuôi, ao tôm liên tục xuất hiện các bệnh như đen mang, mềm vỏ khiến sản lượng sụt giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, những vụ nuôi sau không còn thuận lợi như kỳ vọng. Tôm thường xuyên mắc các bệnh
như đen mang, mềm vỏ, làm năng suất và hiệu quả kinh tế giảm sút. Qua nhiều lần tìm
hiểu, ông nhận thấy yếu tố môi trường nước và phương thức quản lý ao nuôi là hai yếu tố quyết định. Nếu không kiểm soát tốt chất lượng nước, dịch bệnh rất dễ bùng phát.
Từ thực tế đó, ông Ba đã dành nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu, tham quan các vùng nuôi tôm trong và ngoài tỉnh để học hỏi kỹ thuật. Theo đó, ông nhận thấy tôm thẻ chân trắng có nhiều ưu điểm như tốc độ sinh trưởng nhanh, phù hợp với hình thức nuôi thâm canh và dễ áp dụng các quy trình quản lý hiện đại. Đây cũng là thời điểm ông quyết định thay đổi toàn bộ định hướng sản xuất, chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng và đầu tư theo hướng công nghệ cao thay vì tiếp tục phương thức truyền thống.
Đầu tư công nghệ
Để hiện thực hóa mục tiêu nuôi tôm bền vững, ông Ba mạnh dạn vay vốn, từng bước xây dựng hệ thống nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP. Đến nay, trang trại có quy mô hơn 5 ha với hệ thống ao nổi lót bạt, mái che điều tiết nhiệt độ, ao lắng, ao xử lý nước và khu vực nuôi được bố trí khép kín. Mô hình giúp kiểm soát tốt các yếu tố
trái vụ trong điều kiện mùa đông miền Bắc. Theo ông Ba, nuôi tôm công nghệ cao không chỉ là đầu tư cơ sở hạ tầng mà còn phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật. Trước mỗi vụ nuôi, ao được tháo cạn, vệ sinh sạch sẽ, phơi đáy từ 10 - 15 ngày, sau đó xử lý bằng vôi và cấp nước qua hệ thống lọc trước khi thả giống. Trong suốt quá trình nuôi, các chỉ tiêu như pH, độ kiềm, ôxy hòa tan, nhiệt độ và chất lượng nước được theo dõi thường xuyên để kịp thời điều chỉnh, hạn chế phát sinh dịch bệnh. Việc đầu tư đồng bộ đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Bình quân mỗi ha nuôi đạt năng suất khoảng 40 - 50 tấn tôm thương phẩm, cao gấp khoảng ba lần so với phương thức nuôi truyền thống. Dù chi phí đầu tư ban đầu lên tới hơn 1 tỷ đồng/ha, mô hình vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ tôm có tỷ lệ sống cao, năng suất ổn định và có thể sản xuất nhiều vụ trong năm.
Hiện nay, mỗi năm trang trại của ông Ba cung ứng ra thị trường từ 100 - 150 tấn tôm thương phẩm, mang lại doanh thu hàng tỷ đồng và tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 10 lao động địa phương. Không chỉ phát triển kinh tế gia đình, ông còn tích cực chia sẻ kinh nghiệm kỹ thuật cho các hộ nuôi trong vùng với vai trò Chủ nhiệm Hợp tác xã Nuôi trồng thủy hải sản xã Giao Ninh. Mô hình của ông được xem là minh chứng cho hiệu quả của việc chuyển đổi từ nuôi truyền thống sang nuôi ứng dụng công nghệ cao, góp phần nâng cao giá trị và tính bền vững của nghề nuôi tôm.
Hỏi: Cần lựa chọn và sử dụng thức ăn cho tôm như thế nào để giảm chi phí vụ nuôi? (Phan Hoàng Phùng, xã Quảng Trung, tỉnh Quảng Trị)
Trả lời:
Thức ăn chiếm đến 50 - 60% chi phí sản xuất và là yếu tố quan trọng trong nuôi tôm. Khi cho ăn, lượng thức ăn thất thoát ở dưới bùn đáy ao và trong nước khoảng 20%. Lượng thức ăn dư thừa này sau khi phân hủy sẽ tạo điều kiện cho tảo trong ao nuôi phát triển mạnh và khiến đáy ao bị bẩn. Tảo và các vi sinh vật trong ao sẽ sản sinh ra nhiều khí độc và gây tiêu hao ôxy.
Do đó, người nuôi nên chọn loại thức ăn đúng tiêu chuẩn để đảm bảo chất lượng tốt; đồng thời, chọn cỡ thức ăn phải phù hợp với cỡ tôm. Cân đối lượng thức ăn phù hợp với sản lượng tôm có trong ao nuôi để tận dụng hết nguồn thức ăn và ít tốn chi phí xử lý nước.
Cho tôm ăn hơi thiếu hoặc vừa đủ góp phần tiết kiệm chi phí, vẫn đảm bảo tôm nuôi phát triển. Vì vậy, người nuôi có thể cân nhắc giảm lượng thức ăn xuống khoảng 70%. Khi thời tiết nắng gắt khó chịu hay thời điểm tôm lột xác hoặc có sự thay đổi đột ngột môi trường ao nuôi, cũng nên giảm lượng thức ăn vì lúc đó tôm sẽ
ăn ít hơn. Tôm thường sẽ ăn nhiều vào lúc mặt trời mọc và lúc mặt trời lặn, do đó, nên giảm lượng thức ăn vào ban đêm, và tăng lượng cho ăn vào ban ngày.
Qua nghiên cứu cho thấy, để thức ăn
được sử dụng hiệu quả, nên cho ăn nhiều lần trong ngày (6 - 7 lần/ngày) hoặc các hộ có đủ điều kiện khuyến cáo lắp đặt hệ thống máy cho ăn.
Ngoài ra, việc gây màu nước, tạo nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu để tôm sử dụng giúp tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của tôm tăng cao, thúc đẩy tôm lớn nhanh, giảm lượng thức ăn công nghiệp, giảm FCR.
Hỏi: Trong điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài, cần quản lý ao nuôi thủy sản như thế nào để giảm rủi ro cho vật nuôi?
(Nguyễn Văn Đạt, xã Vĩnh Trinh, TP Cần Thơ)
Trả lời: Nắng nóng kéo dài làm nhiệt độ nước tăng cao, ôxy hòa tan giảm và thúc đẩy sự phát triển của tảo, vi khuẩn cũng như khí
độc trong ao nuôi. Đây là điều kiện bất lợi đối với cả tôm và cá.
Trước hết, cần duy trì mực nước ao phù hợp nhằm hạn chế biến động nhiệt độ. Đối với ao nuôi cá nước ngọt, nên giữ mực nước từ 1,5 - 2 m; đối với ao nuôi tôm cần duy trì độ sâu thích hợp theo từng giai đoạn phát triển. Khi nắng nóng kéo dài, cần cấp bổ sung nước sạch vào ao vào sáng sớm hoặc chiều mát để giảm nhiệt độ nước, tránh cấp nước vào thời điểm giữa trưa dễ gây sốc nhiệt cho thủy sản.
Người nuôi nên vận hành quạt nước, máy sục khí thường xuyên, nhất là vào ban đêm và rạng sáng - thời điểm ôxy trong ao giảm thấp nhất. Đối với các ao nuôi mật độ cao, cần bố trí đủ thiết bị tạo ôxy nhằm bảo đảm môi trường ổn định và hạn chế hiện tượng thủy sản nổi đầu do thiếu ôxy.
Định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học nhằm phân hủy chất hữu cơ, giảm bùn đáy và hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Đồng thời, cần thay nước theo nguyên tắc từ từ, tránh thay nước đột ngột với lượng lớn khiến môi trường ao biến động mạnh.
Đối với ao nuôi tôm, cần đặc biệt chú ý quản lý tảo trong ao. Nắng nóng kéo dài dễ làm tảo phát triển mạnh, gây hiện tượng tảo tàn khiến môi trường nước biến động
đột ngột, làm giảm ôxy và phát sinh khí
độc. Người nuôi cần theo dõi màu nước thường xuyên; khi mật độ tảo quá dày cần thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp như thay nước, sử dụng chế phẩm sinh học hoặc khoáng chất để ổn định môi trường.
Hỏi: Độ mặn biến động thường xuyên có ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ sinh trưởng của các loài nhuyễn thể? (Phạm Hải Yến, xã Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh)
Trả lời: Độ mặn là một trong những yếu tố môi trường quyết định tốc độ sinh trưởng và
khả năng thích nghi của nhuyễn thể. Mỗi loài có ngưỡng chịu đựng khác nhau, tuy nhiên khi độ mặn thay đổi quá nhanh hoặc kéo dài ngoài khoảng thích hợp, nhuyễn thể sẽ giảm hoạt động lọc nước và bắt mồi, tiêu tốn nhiều năng lượng để điều hòa áp suất thẩm thấu, dẫn đến chậm lớn và giảm tỷ lệ sống.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu, các hiện tượng mưa lớn, xâm nhập mặn hoặc nắng nóng kéo dài khiến độ mặn dao động mạnh hơn trước. Vì vậy, người nuôi cần theo dõi độ mặn định kỳ, lựa chọn thời điểm thả giống phù hợp với mùa vụ và ưu tiên sử dụng con giống có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh. Đối với mô hình nuôi lồng, bè hoặc dây treo, việc điều chỉnh vị trí nuôi theo diễn biến môi trường cũng góp phần giảm tác động bất lợi và duy trì tốc độ sinh trưởng của vật nuôi.
Hỏi: Sau mưa lớn kéo dài, cá bớp nuôi lồng bè thường giảm ăn. Người nuôi cần áp dụng những biện pháp nào để hạn chế thiệt hại?
(Nguyễn Thế Vinh, đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi)
Trả lời:
Mưa lớn làm giảm độ mặn, thay đổi nhiệt độ và các yếu tố môi trường xung quanh lồng nuôi, khiến cá bớp bị stress và giảm khả năng bắt mồi. Trong giai đoạn này, người nuôi không nên cho ăn theo khẩu phần thông thường mà cần điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp với sức ăn của cá, tránh dư thừa gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời, thường xuyên theo dõi độ mặn, ôxy hòa tan và dòng chảy khu vực nuôi; vệ sinh lưới lồng để tăng khả năng lưu thông nước. Bên cạnh đó, có thể bổ sung Vitamin C, khoáng chất và các chất tăng cường miễn dịch vào khẩu phần ăn khi cá bắt đầu ăn trở lại nhằm giúp cá phục hồi nhanh và nâng cao sức đề kháng trước các tác nhân gây bệnh.
Mô hình nuôi cá rô phi công nghệ cao tại HTX Xuyên Việt
Hải Phòng
Phát triển thủy sản công nghệ cao thích ứng
biến đổi khí hậu
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm và
đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị
trường xuất khẩu, Hải Phòng đang thúc đẩy chuyển
đổi mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng ứng
dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và liên kết chuỗi
giá trị. Đây là nội dung trọng tâm được trao đổi tại
Diễn đàn Khuyến nông @ năm 2026 do Sở Nông
nghiệp và Môi trường Hải Phòng tổ chức.
Tiềm năng lớn cho phát triển nuôi thủy sản
Sau khi mở rộng địa giới hành
chính, Hải Phòng sở hữu khoảng 54.600 ha có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS), gồm khoảng 22.800 ha nuôi nước ngọt, 14.400 ha nuôi nước lợ và khoảng 17.400 ha có tiềm năng phát triển nuôi biển. Đây được xem là lợi thế quan trọng để thành phố mở rộng quy mô sản xuất, phát triển các vùng nuôi tập trung và hình thành chuỗi giá trị thủy sản.
Thực hiện Chương trình quốc gia phát triển NTTS giai đoạn 2021-2030, ngành thủy sản Hải Phòng đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Đến năm 2025, diện tích NTTS đạt gần 24.000 ha; sản lượng nuôi trồng ước đạt hơn 200.000 tấn, tăng trên 21% so với năm 2021; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt hơn 5%/năm.
Trong cơ cấu sản xuất, cá rô phi tiếp tục là đối tượng nuôi chủ lực với khoảng 8.000 ha, chiếm hơn một phần ba tổng diện tích
nuôi trồng thủy sản. Nhiều mô hình nuôi thâm canh, áp dụng tiêu chuẩn VietGAP và công nghệ Biofloc đạt năng suất trên 20 tấn/ha.
Nuôi cá lồng trên sông cũng phát triển mạnh với hơn 8.900 ô lồng, cho sản lượng khoảng 26.000 tấn mỗi năm. Đối với thủy sản nước mặn và nước lợ, Hải Phòng hiện có khoảng 1.700 ha nuôi tôm sú và từ 400 đến 500 ha nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh, năng suất đạt từ 1025 tấn/ha.
Ngoài ra, thành phố đã hình thành vùng nuôi nhuyễn thể tập trung khoảng 1.900 ha cùng 117 cơ sở nuôi lồng bè tại khu vực Cát Bà. Các mô hình sản xuất kết hợp như rươi - cáy - lúa hay thủy sảnlúa tiếp tục phát huy hiệu quả, vừa tạo thêm thu
nuôi truyền thống cho lợi nhuận khoảng 150-300 triệu đồng/ha/ năm thì nhiều mô hình ứng dụng
công nghệ cao hiện đạt giá trị sản xuất từ 500 triệu đồng đến trên 1 tỷ đồng/ha/năm.
Công nghệ cao là hướng đi tất yếu
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành thủy sản Hải Phòng đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và chi phí sản xuất ngày càng tăng. Cùng với đó, các thị trường nhập khẩu cũng đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải.
Theo ông Vũ Bá Công, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng, giai đoạn 2026-2030, thành phố đặt mục tiêu duy trì diện tích NTTS khoảng 24.000 ha, tổng sản lượng nuôi trồng đạt trên 1,16 triệu tấn trong cả giai đoạn và tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 5,4%/năm.
Để đạt mục tiêu này, Hải Phòng sẽ tập trung phát triển NTTS theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và sản xuất xanh. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nuôi nhằm tạo động lực đổi mới mô hình sản xuất.
Theo các chuyên gia, phát triển NTTS công nghệ cao không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn góp phần kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí, tiết kiệm tài nguyên
và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Tiến sĩ Đoàn Thanh Loan, giảng
viên Bộ môn Môi trường và Bệnh, Khoa Thủy sản (Học viện Nông
nghiệp Việt Nam) cho rằng, biến
đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải
đổi mới mô hình phát triển ngành thủy sản.
Bà Loan nhấn mạnh, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển
đổi số sẽ tạo nền tảng để phát
triển thủy sản xanh, sinh thái, phát thải thấp và bền vững, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Xây dựng chuỗi liên kết nâng cao giá trị
Tại diễn đàn, đại diện Chi cục Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y Hải
Phòng đề xuất nhiều giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất, trong đó có việc nâng cao chất lượng giống; quy
hoạch vùng nuôi tập trung; phát
triển nuôi công nghệ cao, nuôi
tuần hoàn và nuôi an toàn sinh học; tăng cường quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh.
Bên cạnh đó, ngành thủy sản cần đẩy mạnh ứng dụng hệ thống cho ăn tự động, công nghệ Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng số trong quản lý vùng nuôi, truy xuất nguồn gốc và giám sát sản xuất.
Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, ông Lê Văn Việt, Chủ tịch Hội
đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp
tác xã Sản xuất và Thương mại thủy sản Xuyên Việt cho rằng, cá
rô phi vẫn là ngành hàng có nhiều
dư địa phát triển nhờ khả năng
thích nghi tốt, chi phí sản xuất cạnh tranh và tiềm năng mở rộng
thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo ông, ngành hàng này vẫn gặp không ít khó khăn do quy mô sản xuất còn phân tán, chất lượng con giống chưa đồng đều, chi phí đầu tư công nghệ cao lớn và tác động của biến đổi khí hậu.
Từ thực tiễn sản xuất, Hợp tác xã Xuyên Việt đề xuất phát triển chuỗi giá trị đồng bộ từ con giống, thức ăn, vùng nuôi đến chế biến và tiêu thụ; đồng thời tăng cường liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý để tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm.
Theo ông Việt, mục tiêu của phát triển thủy sản công nghệ cao không chỉ là nâng cao sản lượng mà quan trọng hơn là tạo ra giá trị gia tăng và thu nhập bền vững cho người nuôi thông qua chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ.
Trong khuôn khổ chương trình, các đại biểu cũng tham quan mô hình NTTS công nghệ cao tại Hợp tác xã Sản xuất và Thương mại thủy sản Xuyên Việt. Mô hình ứng dụng nhiều giải pháp công nghệ hiện đại trong quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh và tổ chức sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí và tăng giá trị sản phẩm. Diễn đàn Khuyến nông @ năm 2026 được kỳ vọng sẽ góp phần thúc đẩy chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nuôi; đồng thời tạo động lực để Hải Phòng phát triển các vùng NTTS tập trung, ứng dụng công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, hướng tới xây dựng ngành thủy sản hiện đại, xanh và bền vững.
Thùy Khánh
Đối thoại trực tiếp giữa người NTTS với các chuyên gia
Ảnh: TTKNQG
Tinh dầu kinh giới thay thế kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản Cần giải pháp thay thế Những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới liên tục chịu tác động từ các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Trong đó, các vi khuẩn như Aeromonas hydrophila, Streptococcus agalactiae và Edwardsiella ictaluri được xác định là những tác nhân gây thiệt hại nghiêm trọng cho các loài cá nước ngọt, đặc biệt là cá tra.
Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản đối mặt với áp lực từ dịch bệnh và lạm dụng kháng sinh, việc tìm kiếm các giải pháp thay thế an toàn, bền vững đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu về tinh dầu rau kinh giới cho thấy nhiều triển vọng khi không chỉ có khả năng kháng khuẩn hiệu quả mà còn góp phần giảm thiểu rủi ro môi trường và hiện tượng kháng thuốc.
Để kiểm soát dịch bệnh, người nuôi thường sử dụng kháng sinh như một giải pháp nhanh chóng và phổ biến. Tuy nhiên, việc lạm dụng các nhóm kháng sinh như Phenicol, Tetracycline hay Sulfonamide đã dẫn đến nhiều hệ lụy đáng lo ngại. Không chỉ làm gia tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc, việc sử dụng kháng sinh tràn lan còn gây ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và chất lượng sản phẩm thủy sản. Thực tế cho thấy, tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong nuôi cá tại Việt Nam vẫn ở mức cao, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tìm kiếm các giải pháp thay thế an toàn hơn, thân thiện với môi trường nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả phòng và trị bệnh.
Hướng đi phù hợp
Trong xu thế phát triển nông nghiệp bền vững, các chế phẩm sinh học có nguồn gốc
tự nhiên đang ngày càng được quan tâm. Trong đó, tinh dầu thảo dược được đánh giá là một trong những giải pháp tiềm năng nhờ chứa nhiều hợp chất hoạt tính sinh học.
Tinh dầu (Essential oils - EO) là hỗn hợp các chất chuyển hóa thứ cấp được chiết xuất từ nhiều bộ phận của thực vật như lá, hoa, hạt hoặc quả. Các hợp chất như flavonoid, tannin, quercetin hay lecithin có trong tinh dầu có khả năng chống ôxy hóa, kháng khuẩn và hỗ trợ giải độc hiệu quả. Việc sử dụng tinh dầu thảo dược trong nuôi trồng thủy sản không chỉ giúp kiểm soát mầm bệnh mà còn góp phần cải thiện sức khỏe vật nuôi, tăng khả năng đề kháng và giảm phụ thuộc vào kháng sinh. Đây được xem là hướng đi phù hợp với xu thế sản xuất sạch, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Kinh giới ( Elsholtzia ciliata) là một loại cây thảo quen thuộc, thuộc họ Hoa môi ( Lamiaceae), phân bố rộng rãi tại nhiều khu vực như Đông Á, châu Phi và một số quốc gia châu Âu. Tại Việt Nam, cây kinh giới không chỉ được sử dụng như một loại rau gia vị mà còn là vị thuốc quý trong y học cổ truyền.
Theo y học hiện đại, kinh giới có nhiều tác dụng như kháng viêm, hạ sốt, chống dị ứng, giãn phế quản và hỗ trợ tuần hoàn máu. Đặc biệt, các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng trong dịch chiết của cây kinh giới có chứa hàng chục hợp chất hóa học quan trọng, trong đó nổi bật là các nhóm terpenoid và steroid.
Kết quả nghiên cứu của Trần Phúc Đạt và cộng sự (2017) cho thấy, thành phần hóa học có trong dịch chiết của cây kinh giới được gieo trồng ở Việt Nam phân tích bằng GC-MS nhận biết được 34 hợp chất với 7 axit béo, 4 flavonoid, 20 terpenoid và steroid và một số hợp chất khác. Thành phần chính gồm terpenoid và steroid như phytol (35,42%), β-sitosterol (15,18%) và nerolidol (9,07%).
Trong đó, có nhiều chất có hoạt tính kháng khuẩn tốt, có khả năng kháng ôxy hóa, kháng viêm được ứng dụng nhiều trong công nghiệp dược phẩm.
Bên cạnh đó, theo Guo và cộng sự (2012), các hợp chất chiết xuất và các hợp chất tinh khiết có trong cây kinh giới có khả năng kháng virus, kháng khuẩn, chống viêm, chống ôxy hóa và một số hoạt động khác.
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu bước đầu đã chứng minh hiệu quả của dịch chiết kinh giới trong việc phòng bệnh gan thận mủ và cải thiện tăng trưởng ở cá tra. Tuy nhiên, các dữ liệu chuyên sâu về khả năng ức chế vi khuẩn, đặc biệt là giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC), vẫn còn hạn chế.
Nhằm làm rõ tiềm năng ứng dụng của kinh giới trong nuôi trồng thủy sản, nhóm tác giả thuộc Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã thực hiện một nghiên cứu để đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu chiết xuất từ loại cây này.
Nghiên cứu đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu rau kinh giới ( Elsholtzia ciliata) đối với ba chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến trên cá nước ngọt gồm Aeromonas hydrophila (Att1), Edwardsiella ictaluri (Ecd20) và Streptococcus agalactiae (Svb2).
Tinh dầu được chiết xuất bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước có hỗ trợ vi sóng và phân tích thành phần bằng kỹ thuật GC-MS.
Triển vọng cao
Kết quả thí nghiệm cho thấy tinh dầu kinh giới có khả năng ức chế rõ rệt đối với cả ba chủng vi khuẩn. Hiệu quả kháng khuẩn tăng lên khi kéo dài thời gian xử lý vi sóng và tăng nồng độ tinh dầu.
Cụ thể, trong điều kiện xử lý vi sóng từ 2 đến 8 phút, công suất 500W và nồng độ tinh dầu từ 5 - 15%, chủng Edwardsiella ictaluri (Ecd20) thể hiện độ nhạy cao nhất. Vòng kháng khuẩn đạt tới 31,67 mm ở nồng độ 15% sau 8 phút xử lý - mức ức chế rất đáng kể.
Tiếp theo là Aeromonas hydrophila (Att1) với vòng kháng khuẩn đạt 18 mm, trong khi Streptococcus agalactiae (Svb2) có mức độ nhạy thấp hơn nhưng vẫn ghi nhận sự cải thiện rõ rệt theo nồng độ và thời gian xử lý. Giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) cũng cho thấy hiệu quả của tinh dầu. Cụ thể, MIC đối với Ecd20 là 0,39 mg/ml, Svb2 là 0,78 mg/ml và Att1 là 1,56 mg/ml. Những con số này chứng minh tinh dầu kinh giới có khả năng kháng khuẩn mạnh, đặc biệt với một số chủng vi khuẩn nguy hiểm.
Phân tích GC-MS cho thấy tinh dầu kinh giới chứa nhiều hợp chất quan trọng góp phần tạo nên hoạt tính sinh học. Trong đó, các thành phần chính gồm Linoleic axit (26,64%), Oleic axit (16,97%), Citral (10,9%), beta-cis-Ocimene (7,38%) và beta-Caryophyllene (7,56%).
Các hợp chất này được biết đến với khả năng phá vỡ màng tế bào vi khuẩn, ức chế quá trình trao đổi chất và làm suy giảm khả năng sinh trưởng của vi sinh vật gây bệnh. Sự kết hợp của nhiều hoạt chất trong tinh dầu giúp tạo ra hiệu ứng hiệp đồng, nâng cao hiệu quả kháng khuẩn.
Đáng chú ý, việc ứng dụng công nghệ vi sóng trong quá trình chiết xuất đã giúp tăng cường hoạt tính của tinh dầu. Thời gian xử lý 8 phút được xác định là tối ưu, mang lại hiệu quả kháng khuẩn cao nhất.
Kết quả nghiên cứu đã mở ra triển vọng lớn cho việc ứng dụng tinh dầu kinh giới trong nuôi trồng thủy sản. Với khả năng kháng khuẩn hiệu quả, nguồn gốc tự nhiên và thân thiện với môi trường, tinh dầu có thể trở thành giải pháp thay thế kháng sinh trong phòng và trị bệnh cho cá.
Không chỉ giúp giảm nguy cơ kháng thuốc, việc sử dụng tinh dầu còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và xuất khẩu. Đồng thời, đây cũng là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.
Tuy nhiên, để đưa vào ứng dụng rộng rãi, cần có thêm các nghiên cứu về liều lượng tối ưu, phương thức sử dụng và hiệu quả trong điều kiện nuôi thực tế. Việc kết hợp tinh dầu với các giải pháp quản lý môi trường và dinh dưỡng hợp lý sẽ giúp phát huy tối đa hiệu quả.
Quản lý sức khỏe cá
trong suốt chu kỳ nuôi
Trong quy trình nuôi cá, quản lý sức khỏe được
xem là một chuỗi các biện pháp kỹ thuật liên hoàn, từ chuẩn bị ao nuôi, lựa chọn con giống
đến chăm sóc và giám sát môi trường. Mỗi khâu
đều góp phần quyết định thành công của vụ nuôi.
Bắt đầu từ khâu chuẩn bị
Quản lý sức khỏe đàn cá cần được triển khai ngay từ trước khi thả giống. Ao nuôi, bể nuôi hoặc lồng nuôi phải được vệ sinh sạch sẽ, loại bỏ chất thải, bùn đáy và các tác nhân có thể lưu giữ mầm bệnh từ vụ trước. Đối với ao đất, cần thực hiện cải tạo đáy, bón vôi để ổn định pH, đồng thời phơi đáy theo đúng thời gian nhằm cắt đứt vòng đời của nhiều loại vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm gây bệnh. Nguồn nước cấp cần được xử lý trước khi đưa vào hệ thống nuôi. Tùy điều kiện thực tế, có thể sử dụng ao lắng kết hợp lắng lọc cơ học, khử trùng bằng hóa chất được phép sử dụng hoặc áp dụng chế phẩm sinh học để nâng cao chất lượng
nước. Việc chủ động kiểm soát nguồn nước giúp giảm đáng kể nguy cơ đưa mầm bệnh từ bên ngoài vào ao nuôi.
Bên cạnh đó, hệ thống cấp và thoát nước cần được bố trí riêng biệt, hạn chế lây nhiễm chéo giữa các ao. Các dụng cụ như vợt,
Cá giống khỏe mạnh thường có kích cỡ đồng đều, bơi lội nhanh nhẹn, phản xạ tốt với kích thích bên ngoài, màu sắc tự nhiên, không dị hình, không trầy xước hoặc xuất huyết. Trước khi thả nuôi, nên quan sát hoạt động của cá trong bể chứa để phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường.
Quá trình vận chuyển và thả giống cũng cần được thực hiện đúng kỹ thuật. Cá cần được cân bằng nhiệt độ và các yếu tố môi
trường trước khi thả nhằm hạn chế sốc. Không nên thả cá vào thời điểm nắng gắt hoặc khi môi trường nước biến động mạnh.
Quản lý môi trường
Trong suốt chu kỳ nuôi, chất
lượng môi trường luôn là yếu tố tác động trực tiếp đến sức khỏe
đàn cá. Phần lớn các bệnh trên cá không chỉ xuất phát từ mầm bệnh mà còn liên quan đến sự suy giảm chất lượng nước khiến sức đề kháng của cá giảm sút.
Người nuôi cần theo dõi thường xuyên các chỉ tiêu như nhiệt độ, pH, hàm lượng ôxy hòa tan, độ kiềm, amoniac (NH3 ), nitrit (NO2-) và mật độ tảo. Việc kiểm tra định kỳ giúp phát hiện sớm các biến động bất lợi để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.
biện pháp ổn định môi trường nhằm giảm stress cho cá.
Chế độ dinh dưỡng hợp lý
Thức ăn không chỉ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng mà còn
ảnh hưởng trực tiếp đến hệ miễn
dịch của cá. Vì vậy, cần lựa chọn
thức ăn có chất lượng tốt, phù
hợp với từng loài và từng giai
đoạn phát triển.
Lượng thức ăn cần được điều
chỉnh dựa trên trọng lượng đàn
cá, nhiệt độ nước, thời tiết và
khả năng bắt mồi thực tế. Cho
ăn quá nhiều không chỉ làm tăng
hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)
mà còn gây ô nhiễm môi trường do lượng thức ăn dư thừa phân
hủy trong nước.
Ngược lại, khẩu phần quá thấp
khiến cá chậm lớn, sức đề kháng
suy giảm và dễ mắc bệnh khi
điều kiện môi trường bất lợi.
Trong một số giai đoạn nhạy
cảm như chuyển mùa, sau mưa lớn, vận chuyển hoặc phân cỡ
đàn cá, có thể bổ sung Vitamin C, Vitamin E, khoáng chất hoặc các
chế phẩm hỗ trợ miễn dịch theo hướng dẫn của nhà sản xuất để
tăng khả năng chống chịu của cá.
Theo dõi đàn cá hằng ngày
Quan sát là biện pháp đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao trong quản lý sức khỏe đàn cá.
Hằng ngày, người nuôi nên dành
thời gian theo dõi hoạt động bơi lội, khả năng bắt mồi, màu nước và các biểu hiện bất thường.
Một số dấu hiệu cần đặc biệt
lưu ý gồm cá nổi đầu kéo dài, bơi
tách đàn, phản ứng chậm, giảm
ăn, đổi màu cơ thể, xuất hiện
đốm đỏ, loét da, xù vảy hoặc phân trắng. Đây có thể là những
tín hiệu ban đầu của tình trạng
thiếu ôxy, sốc môi trường hoặc
bệnh truyền nhiễm.
Khi phát hiện dấu hiệu bất
thường, cần kiểm tra ngay các chỉ
tiêu môi trường trước khi nghĩ đến
việc sử dụng thuốc. Thực tế cho
thấy nhiều trường hợp cá giảm ăn
hoặc nổi đầu bắt nguồn từ chất
lượng nước suy giảm chứ không
phải do tác nhân gây bệnh.
Quản lý theo từng giai đoạn
Mỗi giai đoạn sinh trưởng có
những yêu cầu chăm sóc khác nhau. Giai đoạn cá giống cần ưu
tiên ổn định môi trường và giảm
tối đa các yếu tố gây stress. Khi cá bước vào giai đoạn tăng
trưởng mạnh, cần tập trung quản lý khẩu phần ăn, chất lượng nước
và mật độ nuôi.
Ở giai đoạn gần thu hoạch, lượng chất thải hữu cơ trong ao thường tăng cao do sinh khối
lớn. Vì vậy, phải tăng cường kiểm soát ôxy hòa tan, xử lý đáy ao và duy trì môi trường ổn định
để hạn chế phát sinh dịch bệnh, đồng thời đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Đối với ao nuôi thâm canh, cần duy trì hệ thống quạt nước hoặc sục khí hoạt động hợp lý, đặc biệt vào ban đêm và rạng sáng khi hàm lượng ôxy hòa tan thường giảm thấp. Đồng thời, cần định kỳ xi phông chất thải, hạn chế tích tụ chất hữu cơ dưới đáy ao - môi trường thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn phát triển. Trong điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài hoặc mưa lớn, các chỉ tiêu môi trường thường biến động mạnh. Người nuôi cần tăng cường theo dõi chất lượng nước, điều chỉnh lượng thức ăn và có Khi các yếu tố này được kiểm soát tốt, đàn cá sẽ duy trì sức đề kháng cao, giảm nguy cơ bùng phát dịch bệnh, hạn chế sử dụng hóa chất và kháng sinh, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như hiệu quả kinh tế của người nuôi. Đây cũng là nền tảng để phát triển nghề nuôi cá theo hướng an toàn, bền vững và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
đó điều chỉnh quy trình chăm sóc phù hợp.
Chủ động phòng bệnh
Trong nuôi thủy sản, phòng bệnh luôn mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn điều trị. Người nuôi cần thực hiện đồng bộ các biện pháp an toàn sinh học nhằm hạn chế nguy cơ xâm nhập và phát tán mầm bệnh.
Việc định kỳ kiểm tra tốc độ tăng trưởng, hệ số FCR và tỷ lệ sống cũng giúp người nuôi đánh giá hiệu quả quản lý sức khỏe, từ
Các biện pháp quan trọng bao gồm kiểm soát người và phương tiện ra vào khu nuôi, vệ sinh dụng cụ thường xuyên, xử lý nước cấp, tiêu hủy xác cá chết đúng quy định và không xả nước chưa xử lý ra môi trường. Đối với một số đối tượng nuôi có vaccine phòng bệnh, cần thực hiện đầy đủ theo khuyến cáo của cơ quan chuyên môn hoặc nhà sản xuất. Đồng thời, hạn chế sử dụng kháng sinh khi chưa xác định rõ nguyên nhân gây bệnh nhằm tránh hiện tượng kháng thuốc và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Ghi chép nhật ký nuôi Một nội dung thường bị xem nhẹ nhưng rất cần thiết là xây dựng nhật ký nuôi. Các thông tin như ngày thả giống, nguồn giống, lượng thức ăn, tốc độ tăng trưởng, chất lượng nước, thời tiết, các lần xử lý môi trường và tình hình dịch bệnh cần được ghi chép đầy đủ. Nhật ký không chỉ giúp truy xuất nguyên nhân khi xảy ra sự cố mà còn là cơ sở để đánh giá hiệu quả của từng biện pháp kỹ thuật, rút kinh nghiệm cho các vụ nuôi tiếp theo. Đối với các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hay ASC, đây cũng là yêu cầu quan trọng trong quản lý sản xuất.