Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP HCM
Văn phòng Hà Nội:
Điện thoại: 0243.7713699
Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công
Hoan, P. Giảng Võ, TP Hà Nội
Phòng Quảng cáo:
Quảng cáo: 0243.7713699 - 083.661.5993
Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn
Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT
ISSN: 0866-8043
Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM)
Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ
Thư tòa soạn
Thưa quý vị bạn đọc, Năm 2026, ngành thủy sản hướng tới mục tiêu xuất khẩu 12 tỷ USD trong bối cảnh đầy thách thức từ các rào cản thương mại, rào cản kỹ thuật và xu hướng chuyển đổi xanh.
Để vượt qua những khó khăn này, sự nỗ lực bền bỉ và năng lực thích ứng của các doanh nghiệp thủy sản chính là mắt xích vô cùng quan trọng. Tiếng nói và góc nhìn thực tiễn từ doanh nghiệp không chỉ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn cho chuỗi giá trị, mà còn tiếp thêm động lực để cộng đồng nông - ngư dân vững tâm sản xuất. Gần hai thập kỷ qua, Tạp chí Thủy sản Việt Nam luôn tự hào khi được sát cánh và đồng hành cùng các doanh nghiệp và nông - ngư dân. Sự ủng hộ của quý vị chính là động lực để Tạp chí làm tốt sứ mệnh cầu nối thông tin, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người làm nghề cá.
Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, Ban Biên tập Tạp chí Thủy sản Việt Nam ra số báo đặc biệt với chủ đề: “Báo chí và doanh nghiệp - Song hành kiến tạo”. Trên số báo này, hệ sinh thái báo chí - truyền thông thời đại số của Tạp chí sẽ được giới thiệu tới bạn đọc; cùng với đó là góc nhìn từ các doanh nghiệp thủy sản về vai trò của báo chí trong việc xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu.
Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 06 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp.
Trân trọng! Ban Biên tập
14
Giải pháp nâng cao an toàn, vệ sinh lao động trên tàu cá
khai thác thủy sản xa bờ
Nghiệp đoàn Nghề cá Việt Nam
16
Cần phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt và phản biện
của báo chí
Thu Hồng
18
Tạp chí hãy là nơi “đặt vấn đề lớn” cho ngành
Xuân Trường
20
Khơi thông tín dụng, tiếp sức cho tăng trưởng
thủy sản
Phương Nhi
22
Tâm tư người làm báo
Bạch
Giữa biển lớn thông tin cần tin nhanh hay tin đúng?
Oanh Thảo
Giảm phụ thuộc hóa chất trong nuôi trồng thủy sản
58
Quản lý thức ăn trong ao nuôi tôm thẻ ngoài trời
Dũng Nguyên
60
Tại sao chất lượng đậu nành đang định hình lại thức ăn thủy sản?
Hoàng Dương
65
Sự kết hợp giữa enzyme và vi sinh trong xử lý nhớt bạt
Thái Nam Việt
66
Thay đổi từ nuôi thủy sản kết hợp trồng rừng ngập mặn
Bảo Hân
50
Sau năm 2030, tương lai của các nguyên liệu biển sẽ
đi về đâu?
Hoàng My
Tôm giống CP: Đột phá tốc
độ lớn
C.P. Việt Nam
70
Quảng Ngãi
Mở hướng làm giàu từ nuôi cá chình
Thanh Hiếu
Xuất khẩu thủy sản 5/2026 tháng
đạt 4,67 tỷ USD
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), lũy kế 5 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 4,67 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ. Tôm và cá tra là động lực chính, kim ngạch lần lượt đạt 1,9 tỷ USD (tăng 11,5%) và 905 triệu USD (tăng 12,6%). Trung Quốc và Hồng Kông dẫn đầu thị trường nhập khẩu với 1,2 tỷ USD, tăng đột biến 40,5%. Tuy nhiên, từ ngày 1/6/2026, Trung Quốc chính thức áp dụng Lệnh 280 thay thế Lệnh 248, siết chặt tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc. Trái ngược đà tăng này, xuất khẩu sang Hoa Kỳ và EU giảm lần lượt 10% (còn 689 triệu USD) và 2,2% (còn 435,6 triệu USD) do sức ép từ quy định IUU và phòng vệ thương mại. Nhóm hải sản ghi nhận mức tăng 18 - 22,8%
ở các mặt hàng mực, bạch tuộc, cua ghẹ và nhuyễn thể, riêng cá ngừ giảm 6% (còn 372 triệu USD) do thiếu hụt nguyên liệu. Bất chấp áp lực cạnh tranh và chi phí đầu vào tăng cao, VASEP vẫn dự báo xuất khẩu thủy sản năm
2026 sẽ tăng 8 - 10%, vượt 12 tỷ USD nếu các ngành hàng duy trì được lợi thế cạnh tranh và tháo gỡ thành công vướng mắc IUU.
VASEP kiến nghị Mỹ miễn thuế 12,5% với thủy sản xuất khẩu
Trước đề xuất áp thuế bổ sung 12,5% của
Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) theo Mục 301, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã gửi kiến nghị lên Cục Phòng vệ thương mại nhằm bảo vệ
các mặt hàng chủ lực. Mỹ hiện là thị trường trọng điểm của thủy sản Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu dao động từ 1,8 đến 2,1 tỷ USD mỗi năm. VASEP đề nghị phía Mỹ không
áp dụng thuế đại trà và đưa các nhóm hàng như tôm, cá tra, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể vào danh sách xem xét miễn trừ. Theo Hiệp hội, các sản phẩm này không cạnh tranh trực tiếp mà đóng vai trò bổ sung nguồn cung thiết yếu, góp phần ổn
định thị trường thực phẩm Mỹ. Việc áp dụng mức thuế 12,5% sẽ làm gia tăng chi phí trên toàn chuỗi cung ứng, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống bán lẻ và người tiêu dùng nội
địa. Đồng thời, VASEP khẳng định ngành thủy sản Việt Nam luôn nỗ lực tuân thủ các tiêu chuẩn lao động và truy xuất nguồn gốc quốc tế. Kết quả của quá trình đàm phán, đối thoại kỹ thuật và tháo gỡ rào cản thuế quan lần này sẽ tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của chuỗi xuất khẩu thủy sản hàng tỷ USD trong thời gian tới.
Liên tiếp xử lý các phương tiện vi phạm khai
thác thủy sản
Sáng 15/6, Hải đoàn Biên phòng 38 cho biết đã phát hiện, xử lý 4 vụ vi phạm pháp luật trên biển, nổi bật là các hành vi khai thác thủy sản trái phép tại vùng biển Nghệ An, Quảng Ninh và Hải Phòng. Cụ thể, từ 21 giờ đến 23 giờ 50 phút ngày 12/6, lực lượng tuần tra phối hợp cùng Đồn Biên phòng Diễn Thành (Nghệ An) phát hiện 2 tàu cá mang số hiệu NA-90946-TS và NA-80034-TS tại vùng biển Diễn Châu. Hai phương tiện này do ông Nguyễn Văn Dũng và Trần Văn Trung làm thuyền trưởng, cùng 5 thuyền viên đang có hành vi tàng trữ công cụ kích điện để khai thác thủy sản. Cơ quan chức năng đã lập biên bản, tạm giữ tang vật và đưa phương tiện về cảng Trạm Lạch Vạn để xác minh. Trước đó, ngày 11/6 tại vùng biển Quảng Ninh, Hải đoàn cũng bắt giữ 1 phương tiện với 2 đối tượng vi phạm trong lĩnh vực thủy sản, ra quyết định xử phạt hành chính 7,5 triệu đồng. Cùng đợt kiểm tra, đơn vị còn phát hiện tàu cá HP00299-TS vận chuyển trái phép 10.000 lít dầu diesel tại khu vực Bạch Long Vĩ. Hiện tại, Hải đoàn Biên phòng 38 đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng hoàn chỉnh hồ sơ, kiên quyết xử lý các vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.
Trung Quốc siết quy định, xuất khẩu tôm hùm bông gặp khó
Trung Quốc - thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam - đang siết chặt các yêu cầu kỹ thuật đối với tôm hùm bông, cụ thể là quy định chứng minh nguồn gốc từ giống nhân tạo thế hệ F2. Quy định này bắt nguồn từ việc nước này đưa tôm hùm bông vào danh mục động vật bảo vệ cấp độ 2 từ tháng 5/2023. Theo số liệu Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng 48,5%; năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đạt 858 triệu USD, trong đó thị trường Trung Quốc chiếm 845 triệu USD. Tuy nhiên, việc sản xuất giống F2 thương mại chưa phổ biến trên toàn cầu, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường khẳng định cần làm rõ cơ sở khoa học và thông lệ quốc tế về yêu cầu này với phía Trung Quốc. Dự kiến trong quý III/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ cử đoàn công tác sang Trung Quốc để đàm phán các giải pháp tháo gỡ.
Thủy sản hướng mục tiêu
USD bất chấp rào cản
Theo ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ngành thủy sản đang hướng tới mục tiêu xuất khẩu hơn 12 tỷ USD. Động lực chính tiếp tục là hai mặt hàng tôm và cá tra. Hiện sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, từ nay đến cuối năm, ngành đối mặt nhiều thách thức lớn như sức mua chậm tại Mỹ, EU và sự cạnh tranh về giá tôm. Đặc biệt, việc gỡ “thẻ vàng” IUU của EC tiếp tục là rào cản kỹ thuật khắt khe, đòi hỏi nguồn lực lớn cho truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin tàu cá. Ngành cũng chịu áp lực từ hạ tầng logistics hạn chế, giá nguyên liệu biến động và tác động của biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ dịch bệnh tại vùng nuôi. Bất chấp khó khăn, ông Trần Gia Long nhận định xuất khẩu thủy sản vẫn có triển vọng tăng
Giá cước vận tải container tăng mạnh
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
dẫn chỉ số World Container Index (WCI) của Drewry cho thấy, giá
cước vận tải container toàn cầu trong tuần đầu tháng 6/2026 đã
tăng 23% lên mức 3.433 USD/FEU, đánh dấu mức tăng mạnh
nhất từ đầu năm. Đà tăng tập trung ở các tuyến Á - Âu và xuyên
Thái Bình Dương; trong đó tuyến Thượng Hải - Los Angeles tăng
31% đạt 4.565 USD/FEU, tuyến Thượng Hải - Rotterdam tăng
25% lên 3.579 USD/FEU. Nguyên nhân do mùa vận chuyển cao
điểm đến sớm, các hãng tàu áp phụ phí PSS và nguồn cung tàu
nhàn rỗi giảm kỷ lục còn 0,6%. Thêm vào đó, tình trạng tắc nghẽn
tại các cảng lớn của châu Âu (Hamburg, Rotterdam, Antwerp) và căng thẳng địa chính trị tại Biển Đỏ buộc tàu đi vòng qua Mũi Hảo Vọng làm tăng chi phí nhiên liệu, giảm độ tin cậy lịch tàu.
Diễn biến này gây áp lực chi phí lớn cho doanh nghiệp thủy sản
xuất khẩu. VASEP khuyến nghị doanh nghiệp không nên chỉ chọn
Thanh Hóa
Bảo vệ 19.200 ha thủy sản mùa
nắng nóng
Nắng nóng kéo dài đang đe dọa trực tiếp môi trường ao nuôi và làm tăng nguy cơ dịch
bệnh trên khoảng 19.200 ha diện tích nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Thanh Hóa. Theo Chi cục Biển đảo và Thủy sản tỉnh, nhiệt độ cao làm giảm lượng ôxy hòa tan, khiến đối tượng nuôi dễ suy giảm sức đề kháng. Tại các vùng nuôi trọng điểm như xã Hoằng Châu với quy mô hơn 1.023 ha, sản lượng đạt 3.000 tấn/ năm (trong đó có 200 ha tôm thẻ chân trắng vụ xuân hè), các biện pháp ứng phó đang được siết chặt. Cơ quan chức năng tích cực điều tiết nguồn nước, khơi thông công trình thủy lợi và tổ chức quan trắc môi trường định kỳ nhằm phát cảnh báo sớm. Đồng thời, ngành chuyên môn yêu cầu người nuôi duy trì mực nước ao từ 1,5 đến 2m (cao hơn mức bình thường 30 – 40 cm), sử dụng lưới đen che phủ và tăng cường sục khí. Các hộ dân cũng chủ động hạ mật độ thả nuôi, điều chỉnh thức ăn, bổ sung khoáng chất, vitamin và tiến hành thu hoạch diện tích đạt kích cỡ thương phẩm. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật từ chính quyền đến người dân góp phần bảo vệ an toàn vùng nuôi, đảm bảo năng suất và chuỗi cung ứng thủy sản trước thời tiết cực đoan.
TP Hồ Chí Minh
Tăng cường các giải pháp chống
khai thác IUU
Nhằm ngăn chặn vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), Đồn Biên phòng Bình
Châu (Bộ đội Biên phòng TP Hồ Chí Minh)
đang triển khai đợt cao điểm tuyên truyền pháp luật cho hàng nghìn ngư dân tại xã
Bình Châu. Lực lượng chức năng đã trực tiếp phổ biến quy định của Ủy ban châu Âu (EC), nhấn mạnh 12 hành vi vi phạm IUU và hệ lụy
đối với xuất khẩu thủy sản cho chủ của hơn 600 tàu, thuyền trên địa bàn. Cùng với việc trao tặng cờ Tổ quốc, đơn vị duy trì kiểm tra
chặt chẽ hoạt động xuất nhập bến; hướng dẫn ngư dân ghi nhật ký khai thác, tuân thủ lắp đặt thiết bị giám sát hành trình và nhân rộng các mô hình tự quản như “Tổ tàu thuyền đoàn kết”, “Tổ an ninh trên biển”. Bên cạnh công tác kiểm soát trên biển, trong 10 năm qua, Đồn Biên phòng Bình Châu đã huy động hơn 1 tỷ đồng hỗ trợ sinh kế cho các gia đình khó khăn và cung cấp vật dụng thiết yếu cho hơn 300 học sinh. Các biện pháp đồng bộ này đã giúp ngư dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, cam kết khai thác đúng vùng quy định, đồng thời góp phần quan trọng vào nỗ lực gỡ rào cản xuất khẩu cho ngành thủy sản.
Vĩnh Long Thiếu hụt giống thủy sản và nỗi lo dịch bệnh
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, đến giữa tháng 6/2026, sản lượng nuôi thủy sản đạt 255.640 tấn (tăng 5,2% so với cùng kỳ), diện tích thả nuôi đạt khoảng 75.000 ha (tăng 2,1%). Dù sản xuất tăng trưởng, địa phương đang đối mặt với điểm nghẽn lớn về thiếu hụt nguồn con giống. Hiện tỉnh chỉ đáp ứng được khoảng 14% nhu cầu giống tôm thẻ chân trắng (sản lượng 3 tỷ con) và 16% giống cá tra (48 triệu con), phần lớn phải nhập từ ngoài tỉnh khiến khó kiểm soát chất lượng. Việc phụ thuộc nguồn cung cùng biến đổi môi trường đã khiến dịch bệnh diễn biến phức tạp. Trong 5 tháng đầu năm, có hơn 222 ha tôm sú (chiếm 21,3% diện tích thả nuôi) và gần 300 ha tôm thẻ chân trắng (2,5%) bị thiệt hại do các bệnh đốm trắng, gan tụy cấp và vi bào tử trùng. Giám sát tại vùng nuôi cũng cho thấy 126/225 mẫu giáp xác tự nhiên (chiếm 56%) dương tính với mầm bệnh nguy hiểm. Trước thực trạng trên, UBND tỉnh Vĩnh Long đã chỉ đạo ngành nông nghiệp siết chặt quản lý vật tư đầu vào, đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển sản xuất giống tại chỗ để chủ động nguồn cung
Tesco khởi động Thử thách Công nghệ Nông nghiệp 2026 với hai lộ trình đổi mới
Tesco, hợp tác với Leading Edge Only (LEO), thị trường đổi mới toàn cầu, mở đơn đăng ký cho Cuộc thi Thử thách Công nghệ Nông nghiệp Tesco 2026, mời các nhà đổi mới công nghệ nông nghiệp trên toàn thế giới gửi các giải pháp có thể giúp nông dân và nhà cung cấp xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm bền vững, hiệu quả và có khả năng phục hồi tốt hơn.
Thử thách năm nay sẽ bao gồm hai lộ trình đổi mới, hỗ trợ khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của từng doanh nghiệp công nghệ nông nghiệp.
Vòng thuyết trình cuối cùng dự kiến diễn ra vào 24 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở chính của Tesco ở Welwyn Garden City, Hertfordshire.
Đăng ký tham gia cuộc thi Tesco Agri-tech Challenge năm 2026 hiện đã mở và sẽ đóng vào ngày 3 tháng 7 năm 2026.
GenoMar tăng cường phúc lợi
động vật thông qua hợp tác
với FAI
GenoMar đang tăng cường cách tiếp cận
về phúc lợi động vật trong tất cả các hoạt
động thông qua quan hệ đối tác chiến lược với FAI — một tổ chức được công nhận toàn
cầu với chuyên môn khoa học về phúc lợi
động vật trên nhiều loài và hệ thống sản xuất. FAI kết hợp kiến thức khoa học với kinh nghiệm thực tiễn trong việc triển khai trên các loài trên cạn và dưới nước. Chuyên môn đó hiện đang thúc đẩy các thực hành phúc lợi trong sản xuất cá rô phi — một lĩnh vực mà GenoMar đang đóng vai trò hàng đầu.
Tất cả các đơn vị của GenoMar tại Brazil đã hoàn thành khóa đào tạo, xây dựng năng lực nội bộ về các thực hành tốt nhất trong phúc lợi động vật. Giai đoạn tiếp theo đang được tiến hành, mở rộng đào tạo và triển khai trên khắp các hoạt động tại Colombia và châu Á — đảm bảo các tiêu chuẩn nhất quán giữa các khu vực đồng thời tôn trọng thực tế địa phương. Công cụ kỹ thuật số thúc đẩy cải tiến liên tục.
Phúc lợi động vật được lồng ghép vào mọi giai đoạn sản xuất tại GenoMar. Sử dụng
khung đánh giá và công cụ kỹ thuật số của
FAI, các nhóm đánh giá điều kiện phúc lợi thông qua các chỉ số thực tế, có thể quan sát
được trên các lĩnh vực chính như:
- Hành vi của cá: kiểu bơi, khả năng phản ứng, dấu hiệu căng thẳng.
- Tình trạng thể chất: ngoại hình, thương tích, dị tật, tình trạng cơ thể.
- Thực hành xử lý: phân loại, vận chuyển và nuôi nhốt, được thực hiện để giảm thiểu căng thẳng.
- Điều kiện môi trường: chất lượng nước và mật độ nuôi.
- Quy trình vận hành: tính nhất quán của quản lý thường xuyên giữa các nhóm và đơn vị.
Nhân viên thực hiện các đánh giá này thông qua một ứng dụng tiêu chuẩn cho phép thu thập và chấm điểm dữ liệu theo thời gian thực, cho phép GenoMar chẩn đoán tình trạng hiện tại, theo dõi tiến độ và hỗ trợ các quyết định dựa trên dữ liệu trên tất cả các nhóm. Bằng cách tích hợp những thực tiễn này vào hoạt động hàng ngày, GenoMar coi phúc lợi động vật là một quá trình liên tục, có thể đo lường và dựa trên khoa học — phù hợp với sứ mệnh rộng lớn hơn của công ty về nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm và sản xuất thực phẩm bền vững.
Hội thảo
Seagriculture EU 2026
tổ chức tại Thuỵ Điển
Từ ngày 16 đến 18 tháng 6 năm 2026, Hội nghị Seagriculture EU lần thứ 15 được tổ chức
CON SỐ & SỰ KIỆN
30,69 TỶ USD
Là kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản trong 5 tháng đầu năm 2026, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 4,65 tỷ USD, tăng 10,6%.
3,9 TRIỆU TẤN
Là tổng sản lượng thủy sản của cả nước trong 5 tháng đầu năm, tăng 3,1%. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 2,3 triệu tấn, tăng 5%; sản lượng khai thác đạt 1,6 triệu tấn, tăng 0,5%.
tại Gothenberg, Thuỵ Điển. Hội thảo quy tụ các diễn giả đầu ngành khắp thế giới, nhằm chia sẻ kiến thức chuyên môn về ứng dụng rong biển làm thức ăn chăn nuôi, thực phẩm, nuôi trồng ngoài khơi, lọc sinh học rong biển và nhiều hơn nữa.
Hội nghị Seagriculture đã xây dựng được danh tiếng vững chắc là hội nghị hàng đầu cho ngành công nghiệp rong biển, được tổ chức thường niên kể từ năm 2012.
Triển lãm thương mại
Aquaculture UK 2026
Aquaculture UK quy tụ những cá nhân và công ty có mong muốn thúc đẩy tương lai của ngành nuôi trồng thủy sản, diễn ra vào ngày 16 và 17 tháng 6 năm 2026, tại Glasgow, UK.
Triển lãm quy tụ những công nghệ và sáng kiến tối tân nhất đang làm thay đổi ngành nuôi trồng thủy sản - từ trí tuệ nhân tạo và robot đến nuôi cá thông minh và hệ thống nuôi khép kín cũng như bán khép kín. Triển lãm có sự tham gia của các chuyên gia trong ngành, chia sẻ về việc cải thiện sức khỏe và phúc lợi của cá, những tiến bộ trong di truyền học, thức ăn thay thế và những phát triển mới trong hệ thống nuôi trồng tuần hoàn (RAS), tái chế chất thải và các giải pháp năng lượng lai.
3.433 USD/FEU Là giá cước vận tải container toàn cầu trong tuần đầu tháng 6/2026, tăng 23%. Đây là mức tăng mạnh nhất từ đầu năm 2026.
1,8 - 2,1 TỶ USD
Là kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ mỗi năm. Việc áp thuế bổ sung 12,5% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam có nguy cơ gây gián đoạn chuỗi cung ứng.
Hoàng My
Giải pháp
nâng cao an toàn, vệ sinh
lao động trên tàu cá khai
thác thủy sản xa bờ
Ngày 15/6/2026, tại Hà Nội, Nghiệp đoàn Nghề cá Việt Nam
tổ chức Hội thảo khoa học góp
ý nội dung báo cáo tổng hợp
nhiệm vụ khoa học về “Giải pháp
nâng cao an toàn, vệ sinh lao
động trên tàu cá khai thác thủy
sản xa bờ thuộc các Nghiệp
đoàn Nghề cá trên toàn quốc”.
Việt Nam, Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá Việt
Nam chủ trì.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện báo cáo nghiên cứu về thực trạng điều kiện lao
động, các yếu tố nguy cơ và giải pháp bảo đảm an toàn cho người lao động trên tàu cá khai thác xa bờ.
Theo báo cáo nghiên cứu, khai thác thủy sản xa bờ là một trong những lĩnh vực lao
Tham dự Hội thảo có đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Công đoàn Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam, Nghiệp đoàn Nghề cá Việt Nam, Cục Thủy sản và Kiểm ngư; Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam (Trung Tâm kinh tế và Quy hoạch Thủy sản), Viện Khoa học và An toàn vệ sinh lao động; Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường, Trung Tâm Khuyến nông Quốc gia, Hội Thủy sản Việt Nam, các cơ quan chuyên ngành thủy sản, các viện nghiên cứu, cùng các chuyên gia trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động và nghề cá. Hội thảo do ông Đỗ Tiến Dũng, Phó Chủ tịch Công đoàn Nông nghiệp và Môi trường
động có mức độ rủi ro cao do người lao động thường xuyên làm việc trong môi trường biển khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của thời tiết, sóng gió, điều kiện sinh hoạt hạn chế và phải xa đất liền trong thời gian dài. Hiện nay, hoạt động khai thác thủy sản xa bờ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng ngư trường, thời gian bám biển kéo dài và cường độ lao động cao cũng làm gia tăng nguy cơ tai nạn, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của ngư dân.
Các ý kiến tại Hội thảo cho rằng, những nguy cơ thường gặp đối với lao động nghề cá gồm tai nạn do máy móc, thiết bị khai thác; trượt ngã trên boong tàu; sự cố cháy nổ, đâm va; ảnh hưởng của thời tiết bất lợi và hạn chế trong kỹ năng ứng phó tình huống khẩn cấp trên biển. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, lao động nghề cá hiện còn gặp nhiều khó khăn như
thiếu hụt nhân lực có kỹ năng, điều kiện làm việc nặng nhọc, thời gian lao động kéo dài và việc tiếp cận các chương trình đào tạo an toàn lao động còn hạn chế. Tại Hội thảo, các chuyên gia đã đề xuất nhiều nhóm giải pháp quan trọng như: tăng cường đào tạo, huấn luyện kỹ năng an toàn cho thuyền viên; nâng cao nhận thức của ngư dân về phòng ngừa rủi ro; cải thiện trang thiết bị bảo hộ, cứu sinh; ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý an toàn tàu cá; đồng thời tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn và nghiệp đoàn nghề cá trong hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi người lao động.
Các đại biểu thống nhất nhận định rằng, việc xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ về an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa quan trọng, nhằm giảm thiểu tai nạn, bảo vệ sức khỏe ngư dân, góp phần phát triển nghề cá Việt Nam theo hướng hiện đại, bền vững và có trách nhiệm. Hội thảo là diễn đàn quan trọng để các nhà quản lý, nhà khoa học và tổ chức đại diện người lao động cùng trao đổi, hoàn thiện các luận cứ khoa học, làm cơ sở đề xuất chính sách và giải pháp thực tiễn trong thời gian tới.
Ảnh: ST
Cần phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt và phản biện của báo chí
Đánh giá về nửa chặng đường thực hiện Chiến lược
phát triển thủy sản giai đoạn 2021 - 2030, TS. Phạm
Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, nguyên
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản cho rằng, ngành đã đạt được nhiều kết quả tích cực về tăng
trưởng sản lượng, xuất khẩu và phát triển nuôi biển.
Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Thủy sản Việt Nam, ông cũng nhấn mạnh vai trò ngày càng quan trọng của báo
chí trong kết nối chính sách, phản ánh thực tiễn và định hướng phát triển ngành trong thời đại số.
Ngành thủy sản có nhiều
chuyển biến tích cực
Phóng viên: Ngành thủy sản
Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu đáng kể trong sản xuất và xuất khẩu, ông đánh giá như thế nào về chặng đường
phát triển của ngành những năm
qua, đặc biệt trong bối cảnh hội
nhập quốc tế sâu rộng hiện nay?
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn: Nếu
nhìn lại từ khi Chiến lược phát triển
thủy sản giai đoạn 2021 - 2030
được triển khai đến nay, có thể
thấy ngành thủy sản Việt Nam đã
đạt được nhiều kết quả tích cực.
Trước hết là các chỉ tiêu về sản
lượng và xuất khẩu. Năm 2021, tổng sản lượng thủy sản đạt
khoảng 8,8 triệu tấn, đến hết năm
2025 đã đạt gần 9,8 triệu tấn, tăng thêm khoảng 1 triệu tấn. Giá
trị xuất khẩu thủy sản cũng tăng
từ khoảng 8,9 tỷ USD năm 2021
lên 11,3 tỷ USD vào năm 2025.
Trong lĩnh vực nuôi trồng, tốc
độ phát triển cũng khá ấn tượng.
Cụ thể, sản lượng thủy sản nuôi từ khoảng 4,8 triệu tấn năm 2021 đã
tăng lên hơn 6,1 triệu tấn vào năm
2025, chiếm khoảng 64% tổng
sản lượng thủy sản. Đặc biệt,
nuôi biển đã có bước phát triển mạnh, với sản lượng đạt khoảng 850.000 tấn vào cuối năm 2025. Bên cạnh đó, công tác quản lý nghề cá đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hầu hết tàu cá có chiều dài từ 15 mét trở lên được lắp đặt thiết bị giám sát hành trình. Mặc dù vấn đề gỡ “thẻ vàng” của Liên minh châu Âu vẫn chưa hoàn tất, nhưng Việt Nam đã có những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các quy định chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), đồng thời tăng cường truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành. Cùng với đó, ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng được nâng cao. Các hoạt động thả giống tái tạo nguồn lợi ngày càng được mở rộng và trở thành phong trào ở nhiều địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển nghề cá theo hướng bền vững.
Phóng viên: Bên cạnh những kết quả đạt được, theo ông, đâu là những hạn chế của ngành thủy sản hiện nay?
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn: Tôi cho rằng hạn chế lớn nhất nằm ở lĩnh vực khai thác thủy sản. Theo định hướng
TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản
lượng khai thác vẫn duy trì ở mức
khoảng 3,8 triệu tấn. Điều này cho thấy mục tiêu giảm cường lực khai
thác chưa đạt được như kỳ vọng.
Thêm vào đó, mặc dù công
tác quản lý tàu cá đã được tăng cường, nhưng việc quản lý đội tàu
nhỏ dưới 15 mét hoạt động ven bờ vẫn còn nhiều bất cập. Các biện pháp như phân vùng khai thác, khu vực cấm khai thác, khai
thác theo mùa vụ hay theo hạn ngạch vẫn triển khai rất chậm và chưa tạo được chuyển biến rõ rệt. Một vấn đề khác là việc giảm số lượng tàu cá mới chỉ đạt được về mặt số lượng, trong khi các giải pháp hỗ trợ sinh kế cho ngư dân khi chuyển đổi nghề nghiệp chưa
được triển khai tương xứng.
Nhìn chung, ngành thủy sản vẫn phát triển và đạt nhiều chỉ tiêu quan trọng, nhưng những mục tiêu liên quan đến khai thác bền vững và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vẫn còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu đặt ra.
Báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng
Phóng viên: Thưa ông, đồng hành cùng sự phát triển của ngành thủy sản trong thời gian qua, báo chí đã và đang giữ vai trò như thế nào?
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn: Theo tôi, báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của ngành thủy sản cũng như đời sống kinh tế - xã hội nói chung.
Trước hết, báo chí là cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân. Thông qua báo chí, các chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước được truyền tải kịp thời đến cộng đồng những người làm thủy sản, giúp nâng cao nhận thức và thúc đẩy việc thực thi chính sách trong thực tiễn.
Ở chiều ngược lại, báo chí cũng là kênh phản ánh tâm tư, nguyện
vọng, những khó khăn, vướng
mắc của ngư dân, người nuôi trồng thủy sản và doanh nghiệp
đến các cơ quan quản lý. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà
hoạch định chính sách có thêm thông tin thực tiễn, từ đó điều
chỉnh hoặc hoàn thiện các cơ chế, chính sách phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của ngành.
Bên cạnh vai trò thông tin, báo chí còn là kênh chuyển giao tri thức rất hiệu quả. Những tiến bộ khoa học công nghệ, các mô hình sản xuất tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, thông tin thị trường trong nước và quốc tế đều được báo chí truyền tải nhanh chóng đến người sản xuất và doanh nghiệp. Điều này giúp nâng
cao năng lực cạnh tranh, giảm rủi
ro và tạo động lực đổi mới sáng tạo
trong toàn ngành.
Đặc biệt, trong bối cảnh ngành
thủy sản đang hướng tới phát
triển bền vững, hội nhập sâu
rộng với thị trường thế giới và
thực hiện các cam kết quốc tế về
chống khai thác hải sản bất hợp
pháp (IUU), bảo vệ môi trường và
bảo tồn nguồn lợi thủy sản, báo
chí có vai trò quan trọng trong
việc tuyên truyền, nâng cao nhận
thức cộng đồng và tạo sự đồng
thuận xã hội đối với các mục tiêu
phát triển dài hạn của ngành.
Ngoài ra, báo chí còn góp phần quảng bá hình ảnh thủy sản Việt
Nam, tôn vinh những mô hình
sản xuất hiệu quả, những doanh
nghiệp, tập thể và cá nhân tiêu biểu, qua đó lan tỏa các giá trị tích cực và tạo động lực cho sự phát triển của toàn ngành.
Có thể nói, báo chí không chỉ là kênh thông tin đơn thuần mà còn
là một lực lượng đồng hành, góp phần thúc đẩy sự phát triển hiện
đại, hiệu quả và bền vững của ngành thủy sản Việt Nam.
Phóng viên: Riêng đối với
Tạp chí Thủy sản Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về những
đóng góp của Tạp chí trong thời gian qua?
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn: Tôi
đánh giá rất cao vai trò và những
đóng góp của Tạp chí Thủy sản
Việt Nam đối với sự phát triển của
ngành. Tạp chí vừa là cơ quan
ngôn luận của Hội Thủy sản Việt Nam, vừa là kênh truyền tải hiệu
quả các thông tin khoa học công
nghệ, thị trường và chính sách
đến cộng đồng những người làm
thủy sản trên cả nước.
Trong nhiều năm qua, Tạp chí
đã phản ánh khá đầy đủ các hoạt
động của ngành thủy sản, giới
thiệu những mô hình sản xuất hiệu
quả, những xu hướng phát triển
mới, đồng thời truyền tải tiếng
nói của nông - ngư dân và doanh
nghiệp đến các cơ quan quản lý.
Không chỉ làm tốt nhiệm vụ thông tin tuyên truyền, Tạp chí còn đóng góp tích cực vào việc
quảng bá thương hiệu, tôn vinh các sản phẩm và doanh nghiệp tiêu biểu của ngành thủy sản, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn ngành.
Phóng viên: Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, theo ông, Tạp chí Thủy sản Việt Nam cần đổi mới theo hướng nào để phát triển hiệu quả hơn?
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn: Theo tôi, trước hết Tạp chí cần đẩy mạnh chuyển đổi số. Xu hướng
hiện nay cho thấy, việc truyền tải thông tin thông qua các nền tảng
số sẽ giúp tiếp cận độc giả rộng
hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn
so với hình thức xuất bản truyền
thống. Vì vậy, Tạp chí cần từng
bước chuyển trọng tâm từ báo in sang các nền tảng số phù hợp với
xu thế phát triển của truyền thông
hiện đại.
Thứ hai, Tạp chí cần phát huy mạnh hơn vai trò cầu nối hai chiều giữa cơ quan quản lý với người dân và doanh nghiệp. Hiện nay, chiều thông tin từ cơ quan quản lý đến cơ
sở được thực hiện khá tốt, nhưng ở chiều ngược lại - tức là phản ánh những khó khăn, bất cập và đề xuất từ thực tiễn sản xuất, vẫn cần được tăng cường hơn nữa. Tôi cho rằng, Tạp chí không nên chỉ tuyên truyền khi chính sách đã ban hành mà cần tham gia từ sớm, ngay trong quá trình xây dựng chính sách. Việc giới thiệu các dự thảo, định hướng chính sách và tạo diễn đàn để người dân, doanh nghiệp góp ý sẽ giúp các chính sách khi ban hành sát thực tiễn hơn.
Ngoài ra, Tạp chí cũng nên xây dựng các nền tảng tương tác số để độc giả dễ dàng tiếp cận, trao đổi thông tin và tham gia thảo luận. Xa hơn nữa, các bạn cần hướng tới vai trò dẫn dắt dư luận chuyên ngành thông qua việc dự báo xu hướng phát triển, tổ chức các diễn đàn trao đổi và khơi mở những vấn đề mới của ngành thủy sản.
Phóng viên: Nhân dịp kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, ông có điều gì muốn gửi gắm tới đội ngũ những người làm báo?
Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn: Trước hết, với tư cách là một độc giả, tôi xin gửi lời cảm ơn tới đội ngũ những người làm báo đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và ngành thủy sản nói riêng. Tôi chúc các nhà báo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và tiếp tục giữ vững nhiệt huyết nghề nghiệp. Đồng thời, tôi cũng mong muốn đội ngũ báo chí sẽ tiếp tục dấn thân, sáng tạo và mang đến cho xã hội những tác phẩm có giá trị, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của bạn đọc.
Trân trọng cảm ơn ông!
Ông Hồ Quốc Lực
Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần
Thực phẩm Sao Ta
Tạp chí hãy là nơi
“đặt vấn đề lớn”
cho ngành
Không chỉ là một độc giả, một cộng tác viên thường
xuyên, lâu năm, ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT
Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta còn là một người bạn đồng hành có trách nhiệm với Tạp chí Thủy sản
Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng
Việt Nam 21/6, ông đã dành cho Tạp chí buổi trao đổi
thẳng thắn, chân tình, cởi mở xoay quanh vấn đề vai
trò của báo chí trong truyền thông thương hiệu doanh
nghiệp. Tạp chí Thủy sản Việt Nam xin trân trọng giới
thiệu nội dung cuộc trao đổi này.
Phóng viên: Bên cạnh quảng cáo thì truyền thông thương hiệu doanh nghiệp là một trong những chiến lược kinh doanh không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp. Vậy ông đánh giá thế nào về vai trò của báo chí trong truyền thông thương hiệu doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh hiện nay?
Ông Hồ Quốc Lực: Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, thương hiệu doanh nghiệp không còn đơn thuần là logo hay sản phẩm, mà là uy tín, trách nhiệm xã hội, tính minh bạch, năng lực quản trị và khát vọng phát triển bền vững. Những giá trị
đó cần một kênh truyền thông có
độ tin cậy cao để lan tỏa, và báo chí chính là cầu nối quan trọng
nhất. Nếu quảng cáo giúp doanh
nghiệp “xuất hiện” thì báo chí giúp doanh nghiệp “được tin cậy”. Đó là khác biệt rất lớn và cũng là
lời giải thích vì sao báo chí luôn
giữ vai trò rất quan trọng trong
việc hình thành, củng cố và nâng tầm thương hiệu doanh nghiệp.
Hay nói một cách khác, một nền
báo chí mạnh sẽ góp phần tạo
nên một cộng đồng doanh nghiệp
mạnh. Ngược lại, nếu báo chí chỉ
chạy theo thông tin giật gân hoặc khai thác bề nổi, doanh nghiệp rất dễ bị tổn thương về hình ảnh và thương hiệu.
Đối với doanh nghiệp thủy sản, vai trò này càng đặc biệt hơn vì ngành đang đối diện rất nhiều áp lực về: rào cản kỹ thuật và thương mại; những thông tin bất lợi về môi trường, lao động, dư lượng; sự cạnh tranh khốc liệt từ các quốc gia khác và đặc biệt là yêu cầu phát triển xanh, minh bạch và bền vững. Trong bối cảnh đó, báo chí không chỉ làm nhiệm vụ
đưa tin, mà còn đồng hành cùng doanh nghiệp bảo vệ hình ảnh ngành hàng; giải thích đúng bản
chất các vấn đề để tránh dư luận
phiến diện; góp phần tạo dựng
niềm tin với thị trường quốc tế; lan tỏa những mô hình tốt, cách
làm hay và phản ánh tâm tư, khó khăn của doanh nghiệp đến cơ quan quản lý.
Phóng viên: Ông vừa nhắc
đến lĩnh vực thủy sản, vậy theo
ông Tạp chí Thủy sản Việt Nam
đã có những đóng góp gì trong
truyền thông thương hiệu thủy sản Việt Nam?
Ông Hồ Quốc Lực: Với tôi, sau nhiều năm tiếp xúc với kênh thông tin chuyên ngành này (Tạp chí Thủy sản Việt Nam), tôi thấy rằng, trong khi nhiều cơ quan báo chí thiên về tin nhanh, Tạp chí vẫn giữ được bản sắc chuyên ngành tương đối rõ, rất đáng ghi nhận. Thứ nhất, giữ được vai trò là tiếng nói chuyên ngành, khi luôn duy trì được vị trí là một kênh thông tin tương đối chuyên sâu của ngành thủy sản, nhất là trong các lĩnh vực: nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu, chính sách ngành, khoa học kỹ thuật và thông tin thị trường. Thứ hai là hiểu ngành, hiểu người nuôi, hiểu doanh nghiệp nên nhiều bài viết của Tạp chí mang tính chia sẻ, đồng hành chứ không chỉ đưa tin đơn thuần, giúp Tạp chí luôn gần gũi với cộng đồng doanh nghiệp và người nuôi. Điều này
rất quan trọng vì người làm báo chuyên ngành nếu không “sống cùng ngành” thì rất khó để phản ánh đúng thực tế của ngành. Thứ ba là Tạp chí đã có những đóng góp không nhỏ trong việc lan tỏa các mô hình sản xuất tốt. Điều này thể hiện qua những vấn đề như: nuôi tôm công nghệ cao, nuôi xanh, giảm phát thải, chuyển đổi số, phát triển bền vững, liên kết chuỗi… đã được Tạp chí quan tâm truyền tải khá sớm, góp phần tạo nhận thức tích cực trong cộng đồng ngành thủy sản.
Phóng viên: Vâng! Cảm ơn ông đã có những ghi nhận tích cực về sự đóng góp của Tạp chí Thủy sản Việt Nam trong thời gian qua và chắc hẳn
ông cũng đã nhận thấy những hạn chế mà Tạp chí cần phải cải cách để có thể đồng hành cùng doanh nghiệp nói riêng và ngành thủy sản nói chung ngày một tốt hơn?
Ông Hồ Quốc Lực: Đúng vậy! Và dù tôi luôn nhớ đến câu “Lời thật, mất lòng”, nhưng với tư cách là một độc giả, một cộng tác viên lâu năm và nhất là mong muốn Tạp chí ngày một phát triển hơn, làm truyền thông cho ngành ngày một hiệu quả hơn, nên tôi cũng không ngại nói thẳng, nói thật về những hạn chế mà Tạp chí cần mạnh dạn cải cách trong thời gian tới. Trước hết, nhận thấy rằng, Tạp chí vẫn chưa thật sự sắc bén về tư duy phản biện ngành. Nhiều bài viết còn thiên về đưa tin sự kiện, hội nghị, phát biểu... nhưng thiếu chiều sâu phân tích. Trong khi đó, ngành thủy sản Việt Nam hiện nay đang có rất nhiều vấn đề lớn cần tiếng nói phản biện mạnh, như: chiến lược cạnh tranh quốc gia; giá thành nuôi cao; thiếu liên kết vùng nguyên liệu; cạnh tranh Ecuador, Ấn Độ;
chuyển đổi xanh; thị trường Mỹ và các vụ kiện thương mại; áp lực tiêu chuẩn ESG; vai trò khoa
học công nghệ; vấn đề giống, thức ăn, dịch bệnh… Do đó, theo tôi Tạp chí cần trở thành nơi “đặt vấn đề lớn” cho ngành, chứ không chỉ phản ánh diễn biến hằng ngày.
Phóng viên: Bên cạnh vấn đề liên quan đến tư vấn - phản biện, theo ông còn những hạn chế nào khác Tạp chí cần khắc phục?
Ông Hồ Quốc Lực: Tôi có thể chỉ ra ngay, đó là tính điều tra, dữ liệu và phân tích thị trường còn hạn chế. Đơn cử một số vấn đề thuộc dạng “nóng” của ngành, như: Vì sao Ecuador tăng trưởng mạnh? Vì sao giá thành tôm Việt Nam cao? Người tiêu dùng Mỹ đang thay đổi ra sao? Doanh nghiệp nào đang làm tốt chuyển
đổi xanh? Chuỗi giá trị nào đang thất thoát lớn nhất...? còn khá thiếu trong các số phát hành
của Tạp chí. Trong khi đó, báo chí hiện đại không chỉ là viết bài, mà phải có: dữ liệu, Inforgraphic, phân tích xu hướng, so sánh quốc tế và dự báo...
Tạp chí trong việc tiếp cận với doanh nhân, người nuôi trẻ; nhà
đầu tư và cả độc giả quốc tế nữa.
Vì vậy, theo tôi, đây là điểm mà
Tạp chí cần tập trung thay đổi mạnh mẽ nhất trong thời gian
tới. Và, đã nói thẳng rồi, tôi xin
nói luôn điểm yếu cuối cùng, đó
là Tạp chí chưa xây dựng được nhiều “tác phẩm thương hiệu”.
Một tờ báo mạnh phải có những
chuyên mục mang tính thương hiệu riêng để Độc giả luôn nhớ tới
Tạp chí như một nơi có chiều sâu và bản sắc riêng. Ví dụ, Tạp chí có thể hình thành một số chuyên mục, như: “Tầm nhìn ngành tôm
Việt Nam”; “Doanh nghiệp thủy sản tiên phong”; “Bản đồ cạnh tranh thủy sản thế giới”; “Câu chuyện chuyển đổi xanh”; “Nhật ký người nuôi”; “Diễn đàn CEO thủy sản”...
Phóng viên: Vậy ông có mong muốn và đề xuất gì để
Tạp chí Thủy sản Việt Nam làm tốt hơn trong tương lai?
Ông Hồ Quốc Lực: Tôi cũng là dân lâu năm trong ngành thủy sản nên mong muốn thì rất nhiều, nhưng chỉ xin nêu ra đây một vài mong muốn mà tôi thấy nó rất cần cho cà Tạp chí lẫn doanh nghiệp và ngành thủy sản. Thứ nhất, Tạp chí hãy trở thành “bộ não truyền thông chiến lược” của ngành thủy sản vì ngành thủy sản Việt Nam hiện đang rất cần một cơ quan báo chí có tầm nhìn chiến lược.
Để làm được điều này, Tạp chí không chỉ đưa tin, mà phải: phân tích; dẫn dắt; phản biện; dự báo; kết nối tiếng nói doanh nghiệp
với nhà quản lý. Thứ hai là Tạp
chí cần xây dựng đội ngũ phóng
viên chuyên sâu thực sự vì báo chí chuyên ngành muốn mạnh phải có người hiểu nghề, hiểu thị trường, hiểu doanh nghiệp, hiểu kỹ thuật và có khả năng phân tích quốc tế. Vấn đề thứ ba là cần đẩy mạnh chuyển đổi số mà theo tôi thì đây là việc bắt buộc. Tạp chí nên đầu tư: Kênh video chuyên ngành; podcast thủy sản; bản tin dữ liệu thị trường; AI hỗ trợ phân tích dữ liệu; Infographic; nội dung song ngữ Việt - Anh... Nếu
làm tốt, Tạp chí không chỉ phục vụ trong nước mà còn có thể trở thành một kênh tham khảo quốc tế về thủy sản Việt Nam. Thứ tư
là tăng tính đối thoại với doanh nghiệp vì doanh nghiệp rất cần được lắng nghe, được chia sẻ, được phản ánh đúng thực tế. Do đó, Tạp chí nên tổ chức nhiều hơn các diễn đàn mở, tọa đàm trực tuyến, chuyên mục phản biện hay khảo sát ngành định kỳ để từ đó tạo hệ sinh thái kết nối: Nhà nước - doanh nghiệp - người nuôi - nhà khoa học - thị trường. Một vấn đề cuối cùng là Tạp chí phải giữ được tính trung thực và bản lĩnh nghề nghiệp, bởi chỉ có sự trung thực mới tạo nên uy tín lâu dài. Điều cốt lõi là báo chí muốn đồng hành cùng doanh nghiệp thì không chỉ biết nói tốt cho doanh nghiệp mà điều doanh nghiệp cần hơn là sự trung thực, công tâm, có trách nhiệm với ngành, dám nói đúng vấn đề và dám bảo vệ cái đúng. Tôi tin rằng nếu cuộc cải tổ được thực hiện quyết liệt, Tạp chí Thủy sản Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một cơ quan báo chí chuyên ngành hiện đại; một diễn đàn chiến lược của ngành thủy sản và là người bạn đồng hành thực sự của doanh nghiệp, người nuôi và cả quá trình phát triển bền vững của thủy sản Việt Nam.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi rất thẳng thắn và chân tình này. Những nhận xét, đóng góp xác đáng của ông là rất quý giá, giúp cho việc cơ cấu, cải cách nội dung, hình thức, phương tiện truyền tải của Tạp chí Thủy sản Việt Nam thời gian tới đây được gần gũi hơn, hiệu quả hơn với yêu cầu phát triển thương hiệu doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển bền vững của toàn ngành.
Xuân Trường (Thực hiện)
Khơi thông tín dụng,
tiếp sức cho
tăng trưởng thủy sản
Trong bối cảnh ngành thủy sản
đang nỗ lực phục hồi tăng trưởng
và nâng cao năng lực cạnh tranh, nhu cầu vốn cho sản xuất, chế
biến và xuất khẩu ngày càng trở
nên cấp thiết. Việc khơi thông
dòng tín dụng được kỳ vọng sẽ
tạo thêm động lực để ngành thủy
sản đẩy mạnh đầu tư, mở rộng thị
trường và phát triển bền vững.
Áp lực vốn ngày càng lớn
Sau giai đoạn chịu tác động từ suy giảm nhu cầu tiêu dùng toàn cầu, ngành thủy sản Việt Nam đang từng bước lấy lại đà tăng trưởng. Tuy nhiên, quá trình phục hồi vẫn đối mặt với nhiều thách thức khi chi phí sản xuất duy trì ở mức cao, yêu cầu từ thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe và áp lực cạnh tranh liên tục gia tăng.
Tại các vùng nuôi trọng điểm, giá thức ăn thủy sản, con giống, vật tư môi trường, nhiên liệu và chi phí logistics vẫn là gánh nặng đối với người sản xuất. Trong khi đó, giá bán nhiều mặt hàng thủy sản chưa ổn định, khiến lợi nhuận của người nuôi và doanh nghiệp bị thu hẹp. Đối với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, áp lực còn đến từ yêu cầu đầu tư nâng cấp công nghệ, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường và phát triển bền vững từ các thị trường nhập khẩu. Những yêu cầu mới
xuất mà còn phục vụ đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm. Với các hộ nuôi và hợp tác xã, nhu cầu vốn tập trung vào cải tạo ao nuôi, đầu tư hệ thống quan trắc môi trường, nâng cao chất lượng con giống và áp dụng các quy trình nuôi an toàn sinh học. Đây đều là những khoản đầu tư cần nguồn lực tài chính đáng kể.
Tuy nhiên, thủy sản là ngành chịu ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết, dịch bệnh và biến động thị trường. Chính vì vậy, nhiều tổ chức tín dụng vẫn xem đây là lĩnh vực có mức độ rủi ro tương đối cao. Điều này phần nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người nuôi, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã hoặc các hộ sản xuất quy mô nhỏ. Trước thực tế đó, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã nhiều lần kiến nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho lĩnh
nghiệp và ngư dân thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn.
Theo VASEP, trong bối cảnh thị trường thế giới vẫn còn nhiều biến động, việc giảm chi phí vốn sẽ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và có thêm nguồn lực để đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây cũng là điều kiện quan trọng để ngành thủy sản đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc.
Mở rộng cánh cửa tiếp cận tín dụng Nhằm hỗ trợ khu vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có ngành thủy sản, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
Theo ông Trần Anh Quý, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), ngoài chính sách lãi suất ưu đãi dành cho các lĩnh vực ưu tiên, khách hàng còn
được hưởng nhiều cơ chế hỗ trợ về tài sản
bảo đảm, hạn mức vay vốn và tín dụng theo chuỗi liên kết sản xuất.
Hiện nay, mức cho vay không có tài sản bảo
đảm đối với cá nhân, hộ gia đình lên tới 300 triệu
đồng; tổ hợp tác và hộ kinh doanh được vay tối đa 500 triệu đồng; chủ trang trại được vay tới 3 tỷ
đồng; còn hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã có
thể tiếp cận khoản vay lên đến 5 tỷ đồng.
Đối với các dự án ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, khách hàng có thể được
vay tới 70 - 80% giá trị dự án hoặc phương
án sản xuất kinh doanh. Đáng chú ý, tài sản
hình thành từ vốn vay được phép sử dụng làm
tài sản bảo đảm cho khoản vay, tạo điều kiện
để doanh nghiệp và người sản xuất đầu tư đổi
mới công nghệ mà không gặp quá nhiều áp
lực về tài sản thế chấp.
Bên cạnh đó, các cơ chế tín dụng dành cho mô hình liên kết chuỗi cũng đang được đẩy mạnh. Theo quy định hiện hành, các tổ chức tín dụng có thể áp dụng hình thức quản lý dòng tiền phù hợp đối với các chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, giúp các thành viên trong chuỗi thuận lợi hơn trong tiếp cận vốn và sử dụng vốn hiệu quả.
Trong trường hợp đơn vị đầu mối thực hiện liên kết gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan hoặc bất khả kháng, ngân hàng có thể xem xét giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới để khôi phục sản xuất hoặc khoanh nợ tối đa ba năm không tính lãi. Đây là cơ chế có ý nghĩa thiết thực đối với ngành thủy sản, vốn thường xuyên chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường.
Song song với việc hoàn thiện chính sách, nhiều ngân hàng thương mại cũng triển khai các gói tín dụng ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản.
Hiện gần 20 ngân hàng thương mại đang tham gia chương trình tín dụng dành cho lĩnh vực này với tổng doanh số giải ngân lũy kế đạt trên 200.000 tỷ đồng và hơn 75.000 lượt khách hàng được vay vốn.
Agribank đang triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu và khách hàng sản xuất kinh doanh với mức lãi suất thấp hơn từ 1 - 2%/năm so với thông thường. Trong khi đó, Vietcombank áp dụng các chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp xanh và doanh nghiệp xuất nhập khẩu với mức lãi
suất ưu đãi thấp hơn từ 0,2 - 1%/năm. BIDV cũng triển khai gói tín dụng quy mô 200.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với lãi suất giảm khoảng 0,5%/năm so với mặt bằng chung.
Những chương trình này góp phần giảm áp lực chi phí tài chính, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong thu mua nguyên liệu, duy trì sản xuất và thực hiện các đơn hàng xuất khẩu.
Để dòng vốn trở thành động lực phát triển Mặc dù các chính sách hỗ trợ tín dụng đang ngày càng được hoàn thiện, song để dòng vốn thực sự phát huy hiệu quả vẫn cần sự phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, doanh nghiệp và chính quyền địa phương.
Về phía doanh nghiệp, việc nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi là yếu tố quan trọng giúp tăng khả năng tiếp cận vốn. Đối với người nuôi và hợp tác xã, việc tham gia các mô hình liên kết, sản xuất theo tiêu chuẩn và ứng dụng công nghệ sẽ góp phần giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo niềm tin cho các tổ chức tín dụng. Các địa phương cũng cần tiếp tục thúc đẩy phát triển vùng nuôi tập trung, hoàn thiện hạ tầng phục vụ sản xuất, hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết và khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi trồng, chế biến thủy sản. Khi hoạt động sản xuất được tổ chức bài bản và minh bạch hơn, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân cũng sẽ được cải thiện.
Trong dài hạn, tín dụng không chỉ là nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất thường xuyên mà còn phải trở thành đòn bẩy cho quá trình chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị gia tăng của ngành thủy sản. Khi dòng vốn được ưu tiên cho các mô hình nuôi trồng bền vững, công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và chế biến sâu, ngành thủy sản sẽ có thêm điều kiện để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Việc tiếp tục tháo gỡ những nút thắt về tín dụng, kết hợp với sự chủ động đổi mới của doanh nghiệp và người nuôi, sẽ tạo nền tảng quan trọng để ngành thủy sản duy trì đà tăng trưởng, mở rộng thị trường và phát triển theo hướng hiện đại, bền vững trong những năm tới.
TÂM TƯ NGƯỜI LÀM BÁO
Nhân dịp 21/6, các cán bộ, nhà báo, phóng
viên, biên tập viên của Tạp chí Thủy sản
Việt Nam đã có những trải lòng về nghề
nghiệp, đam mê và hành trình gắn bó với
ngành thủy sản.
Bạch Khuê
NHÀ BÁO ĐỖ HUY HOÀN
Phó Tổng Biên tập phụ trách Tạp chí Thủy sản
Việt Nam
Hơn 16 năm gắn bó với nghề báo, điều khiến tôi cảm nhận rõ nhất mình thuộc về nghề chính là những khoảnh khắc nhận ra rằng thông tin mình chuyển tải đã góp phần tạo nên những thay
đổi tích cực cho cộng đồng. Đặc biệt trong lĩnh vực thủy sản, mỗi bài viết không chỉ đơn thuần phản ánh sự kiện mà còn là cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân.
Tôi vẫn nhớ những chuyến đi đến các vùng nuôi tôm, làng chài ven biển hay những cuộc gặp gỡ với ngư dân trong lúc họ đối mặt với khó khăn. Có những câu chuyện rất bình dị nhưng chứa đựng nghị lực phi thường, khiến tôi thêm trân trọng giá trị của nghề báo và trách nhiệm của người cầm bút. Điều tôi trăn trở nhất hiện nay là môi trường truyền thông đang thay đổi với tốc độ rất nhanh. Người làm báo phải cạnh tranh với vô vàn nguồn thông tin trên mạng xã hội, trong khi yêu cầu về tính chính xác, khách quan và trách nhiệm xã hội ngày càng cao. Tuy nhiên, chính những thách thức đó cũng là động lực để những người làm báo chân chính tiếp tục theo đuổi nghề, bởi xã hội luôn cần những thông tin được kiểm chứng, những góc nhìn có chiều sâu và những giá trị tích cực. Tôi tin rằng báo chí chuyên ngành vẫn có một vai trò rất riêng và không thể thay thế. Không chỉ đồng hành cùng doanh nghiệp, người sản xuất và bà con nông, ngư dân, báo chí còn góp phần lan tỏa tri thức, phản biện chính sách và thúc đẩy sự phát triển bền vững của toàn ngành.
NHÀ BÁO PHẠM THỊ SAO MAI
Trưởng ban Trị sự Tạp chí Thủy sản Việt Nam
Là một người ngoại đạo, tôi bước chân vào nghề báo hoàn toàn bằng niềm yêu thích và cơ duyên. Nhưng chính từ ngày đồng hành cùng Tạp chí Thủy sản Việt Nam, bản thân mới nhận ra truyền thông chuyên ngành không chỉ đưa tin thuần túy, mà là sợi dây định hướng và kiến tạo giá trị thực chất.
• Với người sản xuất: Báo chí giống như một bộ lọc tin cậy, mang những mô hình hay, giải pháp kỹ thuật sát bờ ao để giúp bà con ra quyết định đúng, giữ vững sinh kế trước rủi ro.
• Với doanh nghiệp: Đây là diễn đàn vĩ mô để khẳng định tầm vóc, đưa câu chuyện chuyển đổi xanh hay đổi mới công nghệ tiếp cận trực tiếp tệp đối tác B2B chiến lược và các nhà hoạch định chính sách.
Giữa vòng xoáy thông tin tính bằng giây của mạng xã hội, giá trị cốt lõi của một tờ báo chính thống nằm ở chiều sâu. Khi thông tin
được khơi thông hai chiều - đưa tiếng nói thực chiến lên bàn nghị sự và mang giải pháp chính sách về lại ao nuôi - toàn chuỗi thủy sản sẽ có một điểm tựa vững chắc để cùng bứt phá, để không một mắt xích nào phải cô độc trước biến động thị trường.
Nhân ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, kính chúc các anh chị em đồng nghiệp luôn giữ vững “bút sắc, lòng trong, tâm sáng”, mãi là người đồng hành tin cậy để kết nối và lan tỏa những giá trị tử tế!
NHÀ BÁO HOÀNG HẢI ĐĂNG
Tổng Thư ký tòa soạn Tạp chí Thủy sản Việt Nam
Mười hai năm trong nghề, mỗi khi tới
Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, tôi thường chọn cho mình một góc thật tĩnh
lặng để nhìn lại, để chiêm nghiệm về sứ mệnh
và trách nhiệm của người cầm bút.
Nhiều đồng nghiệp vẫn nói vui rằng, bài viết của tôi “đậm mùi tôm, cá”. Nhưng để có được cái mùi đặc trưng ấy, người làm báo chuyên ngành phải thực sự thấu hiểu nỗi lòng của ngư dân, doanh nghiệp, nhất là khi họ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn để đưa ngành thủy sản Việt Nam vươn tầm thế giới. Trong bối cảnh truyền thông không ngừng thay đổi, mỗi nhà báo, phóng viên, biên tập viên của Tạp chí Thủy sản Việt Nam luôn cố gắng trau dồi nghiệp vụ, giữ vững bản lĩnh nghề nghiệp, thích ứng với công nghệ và thời cuộc, đưa Tạp chí thực sự trở thành cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và bà con ngư dân; xây dựng mạng lưới thông tin rộng khắp, nhanh chóng, tin cậy, thiết thực, phục vụ bạn đọc.
NHÀ BÁO TRẦN THỊ KIM TIẾN
Có những người đến với nghề báo bằng đam
mê, cũng có người bén duyên từ một cơ hội
tình cờ. Dù bắt đầu từ đâu, theo thời gian, mỗi
người đều tìm thấy lý do để gắn bó với nghề.
Với tôi, điều đáng quý nhất sau nhiều năm làm
báo không phải là những dấu mốc hay thành tích
cá nhân, mà là được góp một phần nhỏ vào việc kết nối thông tin, lan tỏa kiến thức và đồng hành cùng sự phát triển của ngành thủy sản.
Nghề báo mang đến cho tôi cơ hội được tiếp cận những câu chuyện, những con người và những góc nhìn đa dạng trong ngành. Đó có thể là niềm vui của người nuôi khi vụ sản xuất thành công, những trăn trở của doanh nghiệp trước biến động thị trường hay nỗ lực của các nhà khoa học trong hành trình tìm lời giải cho những thách thức của ngành.
Tôi luôn tin rằng báo chí chuyên ngành thủy sản không chỉ là cầu nối giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học và người sản xuất, mà còn góp phần lan tỏa những mô hình hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật và các giá trị tích cực đến cộng đồng. Đó là công việc thầm lặng nhưng giàu ý nghĩa mà những người làm báo chuyên ngành vẫn đang kiên trì theo đuổi mỗi ngày.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi hiểu rằng mình vẫn còn nhiều điều cần học hỏi. Nếu được gửi một lời nhắn tới những người trẻ bước vào nghề hôm nay, tôi mong các bạn luôn giữ được sự tò mò, tinh thần cầu thị, lòng yêu nghề và trách nhiệm với từng con chữ. Bởi đó chính là hành trang quý giá nhất trên con đường làm báo. Nhân kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, xin gửi lời tri ân tới các thế hệ người làm báo đã và đang cống hiến cho nghề. Chính sự tận tâm, trách nhiệm và tình yêu nghề của họ đã góp phần tạo nên những giá trị bền vững của báo chí hôm nay.
NHÀ BÁO BẢO NGỌC
Gần 30 năm gắn bó với nghề báo, tôi đã có
cơ hội trải nghiệm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ “xông pha” ở lĩnh vực phóng sự điều tra, văn hóa - xã hội đến nông nghiệp, nông thôn. Cơ duyên đến với ngành thủy sản bắt
đầu khi tôi nhận được sự tin tưởng và tạo điều
kiện của nhà báo Dương Xuân Hùng để tham gia
xây dựng, phát triển Tạp chí Thủy sản Việt Nam. Tôi đến với ngành thủy sản nhờ sự tin tưởng và tạo điều kiện của nhà báo Dương Xuân Hùng, khi được giới thiệu về công tác tại Trung
ương Hội Nghề cá Việt Nam (nay là Hội Thủy sản Việt Nam) và tham
gia xây dựng, phát triển Tạp chí Thủy sản Việt Nam. Những ngày đầu, Tạp chí còn rất khiêm tốn, chỉ với 32 trang nội dung, phát hành mỗi tuần một số và số lượng in còn hạn chế. Trải qua nhiều năm phát triển, từ sự chung sức của nhiều thế hệ cán bộ, phóng viên và người lao động, Tạp chí Thủy sản Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế là một cơ quan báo chí chuyên ngành uy tín. Không chỉ mở rộng quy mô xuất bản với các ấn phẩm chuyên đề, kênh thông tin điện tử và hoạt động truyền thông đa dạng, Tạp chí còn trở thành cầu nối hiệu quả giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất. Tôi đến với ngành thủy sản như một cơ duyên đẹp. Những chuyến đi thực tế cùng cơ hội gặp gỡ các chuyên gia, doanh nghiệp và bà con nông, ngư dân trên khắp cả nước đã mang đến cho tôi nhiều kiến thức, trải nghiệm quý giá và thêm yêu lĩnh vực mình đang gắn bó.
Nhân dịp 21/6 ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, tôi xin gửi lời chào và lời cảm ơn trân trọng nhất đến các Quý cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đã tin tưởng, ủng hộ và đồng hành cùng với Tạp chí Thủy sản Việt Nam trong suốt thời gian qua và trên con đường phía trước. Chúng tôi luôn mong muốn rằng sự tin tưởng và đồng hành của Quý vị là niềm vinh dự và động lực to lớn, tiếp sức cho chúng tôi trong vai trò, trách nhiệm của người làm báo cùng với ngành thuỷ sản Việt Nam cùng phát triển bền vững. Kính chúc các Quý vị sức khoẻ và thành công!
NHÀ BÁO PHẠM THỊ THU HỒNG
Mặc dù không xuất hành từ trường báo, nhưng nghề nghiệp gắn bó với tôi từ sau khi tốt nghiệp đại học lại là các cơ quan truyền thông, báo chí. Đến nay, tôi đã có gần 20 năm gắn bó với nghề báo, trong đó có tới xấp xỉ 16 năm là phóng viên của Tạp chí Thủy sản Việt Nam. Nghề báo đã mang đến cho tôi cơ hội được gặp gỡ nhiều con người ở những vị trí và hoàn cảnh khác nhau, từ các nhà quản lý, chuyên gia đầu ngành, doanh nhân đến những người nông dân, ngư dân ngày đêm gắn bó với ao nuôi, đầm tôm và biển cả. Tôi từng có mặt tại các vùng nuôi thủy sản, làng chài ven biển, nhà máy chế biến; được chứng kiến những vụ thu hoạch tôm nhộn nhịp hay xuôi dòng sông Hậu qua những vùng nuôi cá tra rộng lớn. Mỗi chuyến đi là một trải nghiệm, mỗi nhân vật là một câu chuyện và mỗi bài viết là một cơ hội để học hỏi, trưởng thành hơn trong nghề.
NHÀ BÁO MAI XUÂN TRƯỜNG
Tôi bắt đầu làm cộng tác với một số tờ báo
từ những năm 1994 khi còn là một cán bộ
khuyến nông và đến năm 2000 chính thức
trở thành phóng viên của một tờ báo Đảng
địa phương. Từ đây, tôi mới xác định rằng
mình đã thật sự thuộc về nghề báo; thuộc
về hàng ngũ “Những người bạn đồng hành
của Nông – Ngư dân và doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh nông – thủy sản”. Cho đến tận bây giờ, tôi cũng không thể lý giải được rằng đây là duyên hay nghiệp nữa, mà chỉ biết rằng, sau hơn 29 năm làm báo, tình yêu và niềm đam mê báo chí trên lĩnh
vực nông nghiệp – thủy sản vẫn luôn cháy bỏng trong tôi.
Đối với báo chí chuyên ngành như tạp chí Thủy sản Việt Nam mà tôi đang gắn bó, vai trò không chỉ giúp khách hàng, đối tác biết đến doanh nghiệp nhiều hơn mà còn giúp doanh nghiệp tạo
được độ tin cậy lớn hơn với đối tác, người tiêu dùng. Từ đó, giúp xây dựng và bảo vệ thương hiệu doanh nghiệp một cách tốt hơn, hiệu quả hơn. Đối với cộng đồng thủy sản thì đây chính là một kênh thông tin chuyên sâu về: khai thác, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu, khoa học công nghệ và thông tin thị trường. Đây cũng là nơi chia sẻ và kết nối doanh nghiệp với nông dân, nhà quản lý, đối tác… đồng thời lan tỏa các mô hình sản xuất tốt, những doanh nghiệp tiên phong. Với tôi, không chỉ riêng nghề báo, mà bất kỳ ngành nghề nào cũng vậy, nếu muốn gắn bó lâu dài, muốn phát triển với nghề đều phải có tình yêu và sự đam mê và quyết tâm đi đến cùng sự đam mê đó. Không ai tự khắc giỏi nghề ngay được, mà đó là cả một quá trình luôn biết lắng nghe và không ngừng học hỏi, nhất là đối với những người không được đào tạo chuyên ngành báo chí thì điều này lại càng quan trọng. Riêng đối với những người làm báo chuyên ngành, thì ngoài việc rèn luyện kỹ năng báo chí, còn phải tìm hiểu sâu hơn về chuyên ngành của tờ báo, từ khâu: kỹ thuật, thị trường, mùa vụ, đối tượng sản xuất… đặc biệt là khả năng phân tích, dự báo tình hình sản xuất cũng như thị trường.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi càng thấm
thía rằng nghề báo không chỉ là nghề viết, nghề thông tin mà còn là nghề của sự dấn thân, học hỏi và trách nhiệm. Mỗi bài báo
được đăng tải không chỉ ghi lại hơi thở của cuộc sống mà còn là dấu ấn của những chuyến
đi, những cuộc gặp gỡ và cả sự nỗ lực không ngừng để mang đến những thông tin chân thực, hữu ích cho bạn đọc. Nhân ngày 21/6, xin gửi lời tri ân tới những người thầy, người đồng nghiệp đã đồng hành, giúp đỡ tôi trên con đường nghề nghiệp; đồng thời chúc những người làm báo luôn giữ vững ngọn lửa đam mê, bản lĩnh và trách nhiệm để tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của nền báo chí nước nhà.
PHÓNG VIÊN TRẦN ANH THƯ
Tôi đến với nghề báo bằng tất cả sự háo hức của tuổi trẻ. May mắn thay, Tạp chí Thủy sản Việt Nam là nơi đầu tiên cho tôi cơ hội học hỏi, trải nghiệm và trưởng thành trên con đường làm nghề.
Những ngày đầu bước chân vào tòa soạn, mọi thứ về ngành thủy sản đều rất mới mẻ. Từ
PHÓNG VIÊN THUỲ KHÁNH
Mười năm làm nghề là mười năm tôi được
sống với đam mê, được đi nhiều hơn, gặp nhiều hơn và học hỏi nhiều hơn. Từ những
ngày làm truyền hình, phát thanh đến báo
điện tử, báo in, mỗi môi trường làm việc đều
để lại trong tôi những bài học quý giá và những
trải nghiệm đáng nhớ.
những thuật ngữ chuyên ngành, câu chuyện về con tôm, con cá đến những vấn đề của thị trường hay sản xuất, tất cả đều là những kiến thức tôi phải kiên trì tìm hiểu và tích lũy từng ngày. Có lúc bỡ ngỡ, có lúc áp lực, nhưng cũng chính từ đó tôi học được cách quan sát, lắng nghe và nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau.
Làm nghề rồi mới hiểu, phía sau mỗi bài viết là rất nhiều công sức. Đó là những chuyến đi thực tế, những cuộc gặp gỡ với người nuôi, doanh nghiệp và các chuyên gia; là những lần trăn trở để tìm cách truyền tải thông tin một cách chính xác, dễ hiểu và gần gũi nhất với bạn đọc. Mỗi chuyến đi, mỗi câu chuyện đều mang đến cho tôi những bài học quý giá, không chỉ về nghiệp vụ mà còn về cuộc sống.
Điều tôi trân trọng nhất trong những năm đầu làm nghề là
được đồng hành cùng những đồng nghiệp giàu kinh nghiệm và
được tiếp xúc với những con người đang ngày đêm nỗ lực vì sự phát triển của ngành thủy sản. Chính họ giúp tôi hiểu rằng báo chí chuyên ngành không chỉ phản ánh thực tiễn mà còn góp phần kết nối tri thức, lan tỏa những mô hình hiệu quả và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp trước những khó khăn, thách thức.
Nhân dịp 21/6, xin kính chúc quý anh chị, đồng nghiệp luôn giữ vững nhiệt huyết, bản lĩnh và tình yêu với nghề; tiếp tục mang đến cho bạn đọc những tác phẩm báo chí giá trị.
Ba năm gần đây, tôi có cơ hội gắn bó với lĩnh vực truyền thông ngành thủy sản. Một lĩnh vực mà trước đó tôi biết chưa nhiều, nhưng càng đi, càng gặp gỡ, càng tìm hiểu, tôi càng thêm yêu và trân trọng. Công việc đã đưa tôi đến nhiều vùng đất của Tổ quốc. Mỗi chuyến đi là một lần được ngắm nhìn vẻ đẹp của quê hương, được hiểu thêm về sự giàu đẹp của biển đảo Việt Nam và những vùng đất đang từng ngày đổi thay nhờ sự phát triển của ngành thủy sản. Điều quý giá nhất không phải là những cung đường đã qua, mà là những con người tôi có cơ hội gặp gỡ. Đó là những ngư dân với những câu chuyện mộc mạc giữa biển khơi, những nông dân cần mẫn bên ao nuôi, những doanh nghiệp tâm huyết với ngành và những nhà quản lý, nhà khoa học luôn trăn trở vì sự phát triển chung.
Tôi biết ơn các anh chị đồng nghiệp đã tận tình chỉ bảo, dìu dắt trong những ngày đầu còn nhiều bỡ ngỡ. Biết ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của lãnh đạo các cấp ở Trung ương và địa phương. Biết ơn những người dân, doanh nghiệp đã tin tưởng chia sẻ câu chuyện của mình để tôi có thêm chất liệu cho nghề báo và thêm những bài học cho cuộc sống.
Nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, xin chúc các đồng nghiệp luôn giữ được ngọn lửa yêu nghề, sự tử tế trong từng tác phẩm và bản lĩnh để tiếp tục cống hiến.
Với riêng tôi, sau mười năm làm nghề, tôi vẫn thấy mình thật may mắn, biết ơn và hạnh phúc vì được làm công việc mà mình yêu và trân trọng.
NGHĨA DƯƠNG
Phòng Truyền thông - Quảng cáo
Làm truyền thông trong một tạp chí chuyên ngành khiến tôi tin rằng giá trị của báo chí
hôm nay không nằm ở việc ai nói lớn hơn, mà ở việc ai giúp những câu chuyện quan trọng được lắng nghe.
Với Tạp chí Thủy sản Việt Nam, mỗi nội dung
NGỌC ÁNH
Phòng Truyền thông – Quảng cáo Hơn 10 năm gắn bó với Tạp chí Thủy sản
Việt Nam trong lĩnh vực truyền thông –quảng cáo, tôi may mắn được đồng hành cùng nhiều doanh nghiệp, tổ chức, chuyên gia và bà con làm nghề trên khắp mọi miền
đất nước. Khoảng thời gian ấy không chỉ mang đến cho tôi những trải nghiệm nghề nghiệp quý giá mà còn giúp tôi hiểu sâu sắc hơn vai trò của báo chí chuyên ngành đối với sự phát triển của ngành thủy sản Việt Nam.
Điều tôi luôn tự hào là được làm một phần trong tập thể những người đang âm thầm góp sức kết nối doanh nghiệp, người nuôi trồng, nhà khoa học và cơ quan quản lý; lan tỏa những thông tin chính xác, hữu ích và những giá trị tích cực đến cộng đồng ngành thủy sản. Hơn một thập kỷ nhìn lại, có những giai đoạn đầy thử thách, có những thành công đáng ghi nhận, nhưng trên hết là sự bền bỉ, đoàn kết và tinh thần không ngừng đổi mới của tập thể Tạp chí Thủy sản Việt Nam. Chính những điều đó đã tạo nên niềm tin để chúng tôi tiếp tục vững bước trên chặng đường phía trước.
Nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới các anh chị phóng viên, biên tập viên và đồng nghiệp tại Tạp chí Thủy sản Việt Nam. Đồng thời, kính chúc các doanh nghiệp, đối tác và cộng đồng ngành thủy sản luôn phát triển vững mạnh, đổi mới sáng tạo, mở rộng thị trường và gặt hái nhiều thành công trong chặng đường phía trước. Tự hào về chặng đường đã qua – Vững tin vào hành trình phía trước.
không chỉ là thông tin — mà là cách chúng tôi kết nối con người, góc nhìn và những chuyển động của ngành.
Nhân ngày 21/6, xin gửi lời cảm ơn tới những người làm báo vẫn
đang kiên trì với chiều sâu, sự chính xác và niềm tin vào giá trị của truyền thông có trách nhiệm.
VŨ NA
Phòng Truyền thông – Quảng cáo
Gắn bó với công tác truyền thông –
quảng cáo tại Tạp chí Thủy sản Việt Nam, tôi có cơ hội đồng hành cùng nhiều doanh nghiệp, đối tác và các tổ chức trong ngành thủy sản. Mỗi chương trình, hội thảo hay sự
kiện không chỉ là nhiệm vụ công việc mà còn giúp tôi hiểu hơn về những nỗ lực, khó khăn và kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp cũng như người làm nghề.
Công việc phía sau mặt báo tuy thầm lặng nhưng mang lại nhiều trải nghiệm ý nghĩa. Tôi được gặp gỡ những con người tâm huyết với ngành, lắng nghe những câu chuyện từ thực tiễn sản xuất và góp phần đưa hình ảnh, thương hiệu của doanh nghiệp đến gần hơn với cộng đồng. Qua đó, tôi càng nhận thấy vai trò quan trọng của truyền thông trong việc kết nối, lan tỏa thông tin và tạo dựng niềm tin.
Trong bối cảnh truyền thông ngày càng đổi mới, mỗi người làm công tác truyền thông cũng phải không ngừng học hỏi, thích ứng và sáng tạo để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp và bạn đọc. Được đồng hành cùng Tạp chí Thủy sản Việt Nam trên hành trình ấy là niềm tự hào và động lực để tôi tiếp tục gắn bó với công việc mình đã chọn.
Nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, xin chúc các anh chị, đồng nghiệp luôn dồi dào sức khỏe, giữ vững nhiệt huyết và tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của Tạp chí cũng như ngành thủy sản Việt Nam.
Hỏi - Đáp
Hỏi: Tôm nuôi được 1,5 tháng có dấu
hiệu lờ đờ, bỏ ăn, trên thân xuất hiện các đốm đen nhỏ li ti, một số con mòn râu, cụt đuôi. Hỏi đây là bệnh gì và biện pháp điều trị ra sao?
(Phạm Hải Yến, xã Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh)
Trả lời:
Theo mô tả, có thể tôm đã mắc bệnh đốm đen. Bệnh do các loài vi khuẩn có hại trong ao nuôi gây ra. Những loài vi khuẩn này có khả năng tiết ra các chất có khả năng ăn mòn lớp vỏ chitin của tôm. Chúng thường phát triển mạnh ở các ao có tình trạng giàu dinh dưỡng (ô nhiễm) và tích tụ nhiều loại khí độc như NH3, NO2 và H2S, hàm lượng ôxy hòa tan trong nước thường thấp. Ngoài vi khuẩn, nhiều nhóm sinh vật khác như động vật nguyên sinh, nấm cũng có thể xâm nhập và gây tổn thương vỏ tôm. Khi phát hiện tôm có dấu hiệu bị bệnh, cách điều trị tôm bị đốm đen như sau: Nâng pH trong ao lên trên 8 và dưới 9; Tăng cường quạt khí; Giảm 10 - 30% lượng thức ăn cho tôm ăn; Diệt khuẩn ao nuôi bằng các sản phẩm phù hợp như: Virkon A, BKC, IODINE,…; Sử dụng lại 2 - 3 lần tùy theo diễn biến bệnh của tôm. Sau 36 - 48 giờ diệt khuẩn, tiến hành cấy vi sinh bằng các chế phẩm sinh học có chứa: Bacillus spp, Lactobacillus spp, Nitrosomonas spp, Nitrobacter spp, hoặc trong thành phần có chứa các enzyme (men vi sinh) như: Protease, Lipase, Amylase; Bổ sung Vitamin C, khoáng chất, vitamin tổng hợp và hoạt chất tăng cường hệ miễn dịch cho tôm. Để phòng bệnh, cần cải tạo ao kỹ lưỡng, diệt khuẩn trước khi thả giống và kiểm tra mật độ vi khuẩn định kỳ. Lựa chọn nguồn tôm giống chất lượng, không mang mầm bệnh, đã được xét nghiệm PCR. Thả nuôi với mật độ phù hợp, không nên nuôi quá dày để tôm có không gian phát triển.
Duy trì ổn định pH: Kiểm soát độ pH trong khoảng 7,5 - 8,2. Nếu pH thấp, các kim loại nặng có thể kết tủa làm đen mang và vỏ tôm.
Luôn đảm bảo mực nước trong ao (1,21,5 m); hệ thống cung cấp ôxy cho ao luôn hoạt động tót.
Quản lý tảo và bùn: Kiểm soát mật độ tảo hợp lý, thường xuyên xi phông hút chất thải, tránh để nền đáy ao dơ và tích tụ khí độc.
Xử lý định kỳ: Sử dụng vi sinh để phân hủy
mùn bã hữu cơ, giảm thiểu vi khuẩn gây hại phát triển.
Cho ăn vừa đủ, tránh dư thừa làm ô nhiễm môi trường nước. Khi thời tiết thay đổi hoặc tôm có dấu hiệu stress, nên giảm từ 10%30% lượng thức ăn. Trộn thêm khoáng chất, vitamin C và các chất hỗ trợ chức năng gan vào khẩu phần ăn hàng ngày.
Hỏi: Làm thế nào để nhận biết sớm bệnh ở tôm? (Trần Văn Hải, xã Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình)
Trả lời:
Ao nuôi: Để quản lý tốt sức khỏe tôm nuôi, cần tiến hành quan sát những dấu hiệu trong ao nuôi. Nếu thấy tôm có hiện tượng tấp mé, nổi đầu, chim bắt mồi là những dấu hiệu cho thấy ao tôm đang thiếu ôxy, chất lượng nước xấu hoặc tôm đang nhiễm bệnh. Nếu kiểm tra thấy hàm lượng ôxy và các chỉ tiêu môi trường như NH3, H2S, NO2, pH, ôxy... vẫn trong giới hạn cho phép thì nên lấy mẫu tôm để kiểm tra sự hiện diện của bệnh nguy hiểm. Thức ăn thừa: Người nuôi cần thường xuyên theo dõi kiểm tra sàng cho tôm ăn. Nếu lượng thức ăn tôm quá nhiều hoặc quá ít thì cần phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân từ đó, điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp, tránh để thức ăn thừa làm ô nhiễm môi trường. Thông qua sàng ăn có thể đánh giá được tình trạng phân, nếu phân tôm dài, không bị đứt đoạn là tôm sinh trưởng, phát triển tốt.
Ngoại hình thay đổi: Có thể nhận biết một số bệnh trên tôm thông qua các đặc điểm về ngoại hình. Nếu màu sắc thân tôm, mang và phụ bộ thay đổi bất thường, tôm bị cong thân, đục cơ, mềm vỏ (ngoài giai đoạn lột xác), phồng rộp là một trong những biểu hiện đặc trưng của tôm bị nhiễm bệnh.
Đường ruột: Thông qua lượng thức ăn trong ruột tôm để đánh giá tình trạng sức khỏe tôm. Nếu thức ăn trong ruột đầy, chứng tỏ tôm phát triển tốt; nếu đường ruột ngắn, bị đứt đoạn cho thấy tôm trong ao đang có dấu hiệu nhiễm bệnh hoặc lượng thức ăn không đủ theo nhu cầu của tôm. Màu sắc đường ruột cũng đánh giá được sức khỏe của tôm nuôi. Thông thường tôm khỏe, tiêu hóa thức ăn tốt, đường ruột có
ăn công nghiệp thường là màu vàng nhạt hoặc vàng sáng. Nếu đường ruột tôm có màu đỏ, hồng là màu của xác chết tôm, chứng tỏ trong ao nuôi có tôm mang bệnh. Đường ruột của tôm có màu tái hay trắng đục là khi đường ruột của tôm bị rỗng, không có thức ăn. Dấu hiệu này cho thấy tôm đang nhiễm bệnh, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh.
Hỏi: Bệnh đốm đỏ trên cá thường xảy ra vào thời điểm nào? Dấu hiệu và cách phòng trị bệnh ra sao? (Nguyễn An Hòa, xã Phú Lộc, TP Huế)
Trả lời: Bệnh đốm đỏ xuất hiện nhiều nơi ở những vùng nhiệt đới lẫn ôn đới và phổ biến ở Việt Nam. Ở miền Bắc, bệnh thường xuất hiện vào cuối mùa Xuân, đầu mùa Hè (tháng 3 - 5), mùa Thu (tháng 8 - 10) khi nhiệt độ nước 25 - 300C. Bệnh xuất hiện ở một số loài cá như cá chép (khoảng 2 - 3 tuần tuổi thì cá dễ nhiễm bệnh), cá trắm cỏ, cá trôi, cá mè. Ở miền Nam, phát bệnh nhiều vào đầu mùa mưa và xuất hiện trên tất cả các giai đoạn phát triển của cá. Thường thấy nhất ở các loài cá như cá tra, cá bống tượng, cá mè vinh, cá he, cá tai tượng. Khi bị bệnh, cá kém ăn hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ trên tầng mặt, da cá tối màu, cá mất nhớt thô ráp, xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ thể, mắt lồi, hậu môn viêm xuất huyết, bụng có thể chướng to, các vây xơ rách, các vây tia cụt dần, thường gặp ở cá trắm cỏ. Tỷ lệ chết khoảng 30 - 70%.
Để trị bệnh cần dùng thuốc Tiên đắc liều 50 g/50 kg cá/ngày, cho ăn 5 - 7 ngày liên tục, thuốc được trộn vào thức ăn nấu chín để nguội hoặc trộn vào thức ăn tổng hợp trước khi cho ăn từ 30 - 60 phút.
Trong quá trình nuôi, để phòng bệnh, cần bổ sung Vitamin C vào thức ăn cho cá trước mùa bệnh: Đối với cá giống dùng 4 g/kg cá/ ngày, với cá thịt liều lượng là 2 g/kg cá/ngày, cho ăn 3 ngày liên tục.
Trước khi thời tiết chuyển mùa cần dùng thuốc Tiên Đắc trước một tháng để phòng bệnh cho cá, lượng dùng 50 g/250 kg cá/ ngày, cho ăn 3 ngày liên tục.
Doanh nghiệp và báo chí
Song hành kiến tạo
Trước những thách thức lớn của năm 2026, doanh nghiệp thủy sản và báo
chí chính thống đang siết chặt tay nhau để cùng vượt sóng lớn, kiến tạo một
tương lai xanh bền vững. Nhân ngày 21/6, hãy cùng lắng nghe những chia sẻ
thực chiến từ các nhà điều hành đầu ngành - nơi khát vọng của doanh nghiệp
hòa cùng sứ mệnh đồng hành, làm bệ phóng của truyền thông chuyên ngành.
ÔNG NGUYỄN VĂN LÂM, GIÁM
ĐỐC KINH DOANH CÔNG TY TNHH
GROBEST INDUSTRIAL (VIỆT NAM)
Chất lượng, sự tận tâm và tinh thần
đồng hành tiếp tục là những giá trị cốt lõi
định hướng sự phát triển của Grobest trong năm 2026. Chúng tôi không ngừng nâng cao tiêu chuẩn chất lượng nhằm mang đến các giải pháp dinh dưỡng tối ưu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành nuôi trồng thủy sản hiện đại.
Trước những thách thức của ngành tôm, Grobest cam kết đồng hành cùng người nuôi và đối tác thông qua chất lượng sản phẩm ổn định, giải pháp dinh dưỡng phù hợp và dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật sát với thực tiễn sản xuất. Chúng tôi tin rằng, trong chuỗi giá trị thủy sản hiện đại, thức ăn không chỉ là yếu tố đầu vào mà còn đóng vai trò quyết định hiệu quả và tính bền vững dài hạn.
Trong bối cảnh ngành thủy sản đối mặt nhiều biến động về thị trường, môi trường nuôi và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, báo chí – truyền thông giữ vai trò cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp, người nuôi và cơ quan quản lý.
Chúng tôi kỳ vọng truyền thông không chỉ cung cấp thông tin mà còn đồng hành, lan tỏa các mô hình hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật và giải pháp thực tiễn giúp người nuôi nâng cao năng suất, giảm rủi ro. Đồng thời, báo chí góp phần phản ánh kịp thời những khó khăn của ngành và định hướng thông tin chính xác, khách quan, qua đó nâng cao nhận thức về nuôi trồng thủy sản bền vững và thúc đẩy sự phát triển dài hạn của toàn ngành.
ÔNG VŨ VĂN VÂN, CEO CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ OTANICS (TOMOTA)
Suốt 5 năm qua, Tomota theo đuổi mục tiêu: giúp người nuôi tôm ra quyết định dựa trên dữ liệu của chính mình - để nuôi hiệu quả hơn, giảm rủi ro và tối ưu lợi nhuận. Với chúng tôi, bền vững là kết quả của cách vận hành đó, không phải một khẩu hiệu.
Một giải pháp do người Việt xây dựng nay đã được tin dùng tại hơn 40 quốc gia, và năm 2026 chúng tôi hướng tới 45 quốc gia. Nền tảng Tomota cũng đã phủ gần trọn chuỗi giá trị - từ trại giống, trại nuôi, thu mua đến nhà máy chế biến.
Dấu ấn chúng tôi đặt cho 2026 là khép kín mắt xích cuối cùng, nối từ nhà máy chế biến qua siêu thị đến bàn ăn người tiêu dùng.
Đích đến vẫn không đổi, một ngành tôm bền vững vận hành trên dữ liệu, minh bạch từ ao nuôi đến bàn ăn.
Trong nuôi tôm, một thông tin sai có thể khiến người nuôi mất cả vụ - từ thông tin sai lệch về dịch bệnh đến những “mẹo” xử lý
bệnh tôm thiếu cơ sở. Vì vậy, với chúng tôi, giá trị lớn nhất của báo chí không nằm ở việc đưa tin nhanh, mà ở việc kiểm chứng và lan tỏa những thông tin đáng tin cậy.
Chúng tôi mong báo chí - truyền thông là cầu nối hai chiều: vừa đưa công nghệ, kỹ thuật và những mô hình hiệu quả đến gần người nuôi, vừa phản ánh trung thực các khó khăn từ thực địa trở lại với doanh nghiệp và nhà quản lý. Khi thông tin minh bạch và
Thiên Đức
ÔNG CHUANG JIE CHENG - TỔNG GIÁM
ĐỐC TẬP ĐOÀN THĂNG LONG
Năm 2026 là một năm quan trọng đối
với Tập đoàn Thăng Long trong hành trình
tăng trưởng bền vững và chuyển đổi nâng
tầm doanh nghiệp. Trong nhiều năm qua, Thăng Long luôn kiên định với định hướng phát triển “Lấy Việt Nam làm nền
tảng, phát triển sâu ngành thủy sản và hướng tới thị trường châu Á”, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực dịch vụ kỹ thuật và quy mô sản xuất, hướng tới mục tiêu trở thành một trong những doanh nghiệp cung cấp giải pháp cho ngành thủy sản có sức cạnh tranh hàng đầu tại Việt Nam và khu vực. Về thành tựu phát triển, những năm gần đây Thăng Long liên tục mở rộng công suất và hoàn thiện hệ sinh thái sản xuất kinh doanh. Hiện nay, công ty sở hữu nhiều nhà máy thức ăn thủy sản hiện đại, sản xuất thức ăn tôm, thức ăn cá và các sản phẩm phục vụ ngành thủy sản, với tổng công suất đã vượt mốc 1 triệu tấn mỗi năm. Đồng thời, thông qua việc tối ưu hóa nguồn lực, tăng cường năng lực nghiên cứu phát triển (R&D) và nâng cao hiệu quả sản xuất, Thăng Long tiếp tục củng cố vị thế quan trọng trên thị trường thức ăn thủy sản Việt Nam. Một dấu ấn nổi bật khác trong năm 2026 là việc Thăng Long tích cực thúc đẩy chiến lược quốc tế hóa và phát triển bền vững. Công ty đã chính thức đạt được chứng nhận ASC Feed Standard, khẳng định năng lực quản lý nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội theo các tiêu chuẩn quốc tế. Đây là nền tảng quan trọng để Thăng Long cung cấp các giải pháp đáng tin cậy và có tính cạnh tranh cao hơn cho chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu.
Trong thời gian tới, Thăng Long sẽ tiếp tục tập trung vào ba chiến lược cốt lõi:
Thứ nhất, tiếp tục đầu tư vào hệ thống sản xuất hiện đại, tự động hóa và thông minh nhằm nâng cao tính ổn định của chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất.
Thứ hai, tăng cường nghiên cứu phát triển và dịch vụ kỹ thuật thị trường, mang đến cho người nuôi những sản phẩm thức ăn hiệu quả hơn cùng các giải pháp nuôi trồng toàn diện, góp phần nâng cao tỷ lệ thành công và sức cạnh tranh của ngành nuôi trồng thủy sản.
Thứ ba, thúc đẩy phát triển bền vững và mở rộng thị trường quốc tế, tích cực tìm kiếm cơ hội hợp tác tại các thị trường nước ngoài,
xây dựng doanh nghiệp thủy sản hiện đại hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường.
Thăng Long tin rằng, chỉ khi cùng phát triển với khách hàng, nhà cung cấp và các đối tác trong ngành, doanh nghiệp mới có thể đạt được sự tăng trưởng bền vững lâu dài và tạo ra nhiều giá trị hơn cho ngành thủy sản toàn cầu.
Các cơ quan báo chí và truyền thông chuyên ngành là cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp, thị trường, người nuôi và các bên liên quan trong ngành thủy sản, đồng thời đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và bền vững của ngành.
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản đang đối mặt với nhiều thách thức như biến động thị trường, kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm, phát triển bền vững và các yêu cầu ngày càng cao từ thương mại quốc tế. Thông qua các bài viết và báo cáo chuyên sâu, khách quan và kịp thời, truyền thông không chỉ giúp doanh nghiệp nắm bắt xu hướng thị trường mà còn hỗ trợ người nuôi tiếp cận các thông tin kỹ thuật và diễn biến thị trường mới nhất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh chung của toàn ngành.
Bên cạnh đó, truyền thông còn là kênh kết nối hiệu quả giữa doanh nghiệp và xã hội. Thông qua các hoạt động truyền thông chuyên nghiệp, những nỗ lực của doanh nghiệp trong đổi mới công nghệ, quản lý chất lượng, phát triển bền vững và thực hiện trách nhiệm xã hội được lan tỏa rộng rãi hơn, giúp khách hàng và đối tác hiểu rõ hơn về doanh nghiệp, từ đó nâng cao uy tín thương hiệu và củng cố niềm tin của thị trường. Trong tương lai, chúng tôi kỳ vọng truyền thông không chỉ là đơn vị truyền tải thông tin mà còn trở thành một đối tác đồng hành, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành và tạo ra các giá trị tích cực cho cộng đồng. Thông qua việc bám sát thực tiễn sản xuất, phản ánh nhu cầu của ngành, lan tỏa các mô hình thành công và cập nhật những tiến bộ công nghệ mới, truyền thông có thể hỗ trợ xây dựng cơ chế kết nối hiệu quả hơn giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người nuôi, cùng hướng tới một ngành thủy sản chất lượng cao, hiệu quả và phát triển bền vững.
Thăng Long cũng mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các cơ quan truyền thông, cùng lan tỏa những giá trị tích cực của ngành thủy sản, thúc đẩy trao đổi kỹ thuật, chia sẻ thông tin và đóng góp vào sự phát triển bền vững của ngành thủy sản Việt Nam cũng như thế giới.
ÔNG NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG, CEO
CÔNG TY CỔ PHẦN TVONE VIỆT NAM
Dấu ấn nổi bật và tầm nhìn chiến lược của TVOne Việt Nam trong năm 2026 gói gọn trong ba trụ cột: Xanh hóa – Tự chủ công nghệ – Hội nhập quốc tế.
Với việc vận hành tối đa công suất nhà máy công nghệ cao, chúng tôi tập trung bứt phá bằng các giải pháp dinh dưỡng thảo dược tiên tiến chiết xuất từ nguồn dược liệu Việt. Mục tiêu chiến lược của năm 2026 là đồng hành sâu sắc cùng các tập đoàn chăn nuôi lớn, hiện thực hóa lộ trình “Chăn nuôi sạch – Nói không với kháng sinh và hóa chất”, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng tầm vị thế nông nghiệp Việt Nam trên bản đồ xuất khẩu. Đối với TVOne Việt Nam – đơn vị tiên phong giải pháp thảo dược thay thế kháng sinh, chúng tôi kỳ vọng báo chí - truyền thông giai đoạn này sẽ đồng hành với 3 vai trò cốt lõi:
- Người mở đường tư duy “Xanh”: Chủ động lan tỏa các giải pháp công nghệ sinh học và xu hướng nuôi trồng không kháng sinh, giúp thủy sản Việt bứt phá rào cản ESG và xuất khẩu bền vững.
- Lá chắn bảo vệ chuỗi giá trị: Định hướng dư luận khách quan, kịp thời bảo vệ uy tín ngành thủy sản nội địa trước các thông tin tiêu cực, thất thiệt.
- Bệ phóng thương hiệu Việt: Tôn vinh các mô hình liên kết sạch, nâng tầm vị thế nông nghiệp công nghệ cao của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thông điệp cốt lõi: Báo chí là đối tác chiến lược cùng doanh nghiệp kiến tạo nền thủy sản bền vững, an toàn cho sức khỏe cộng đồng.
ÔNG DƯƠNG THANH TRIỀU, TỔNG GIÁM ĐỐC CÔNG TY CP BQ&Q
Năm 2026, doanh nghiệp chúng tôi tiếp tục theo đuổi định hướng phát triển bền vững trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản thông qua việc đa dạng hóa các giải pháp vi sinh, góp phần xây dựng mô hình nuôi an toàn, hiệu quả và thân thiện với môi trường. Một trong những dấu ấn đáng ghi nhận trong năm qua là việc từng bước ứng dụng chuyển đổi số thông qua nền tảng Zalo Mini App, giúp nâng cao khả năng kết nối, hỗ trợ khách hàng thuận tiện hơn, đồng thời là một phần trong định hướng số hóa hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng dịch vụ. Cùng với sự đồng hành của các đối tác và nhà cung cấp uy tín, chất lượng sản phẩm ổn định, hệ thống giao hàng linh hoạt và đội ngũ nhân sự tận tâm, chúng tôi luôn nỗ lực mang đến những giá trị thiết thực, xây dựng niềm tin và đồng hành cùng khách hàng cũng như góp phần xây dựng ngành thủy sản phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững hơn.
Chúng tôi đánh giá cao vai trò của báo chí và truyền thông trong việc đồng hành cùng các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản. Đây không chỉ là cầu nối giúp doanh nghiệp đưa thông tin và sản phẩm đến gần hơn với khách hàng và người nuôi, mà còn góp phần giới thiệu những mô hình sản xuất hiệu quả, các giải pháp mới và những định hướng phát triển bền vững của ngành. Thông qua các kênh báo chí, người nuôi cũng có thêm nhiều thông tin và kinh nghiệm hữu ích để nâng cao hiệu quả sản xuất. Sự đồng hành của báo chí đã góp phần giúp doanh nghiệp xây dựng niềm tin, tăng cường kết nối với thị trường và khách hàng. Trong thời gian tới, chúng tôi kỳ vọng các cơ quan báo chí sẽ tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp và người nuôi, chia sẻ nhiều thông tin thiết thực, những mô hình hiệu quả và các giải pháp phù hợp với thực tiễn sản xuất, qua đó góp phần thúc đẩy ngành thủy sản phát triển ổn định và bền vững hơn.
Giữa biển lớn thông tin cần tin nhanh hay tin đúng?
Trong thời đại mà thông tin xuất hiện từng phút trên mạng
xã hội và AI có thể trả lời gần như mọi câu hỏi chỉ trong vài giây, việc tiếp cận thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.
Nhưng nghịch lý là, khi thông tin càng nhiều, việc tìm được
những dữ liệu đủ tin cậy để làm cơ sở cho các quyết định
sản xuất, kinh doanh lại càng khó.
ối với ngành thủy sản, nơi mỗi quyết định đều gắn với chi phí lớn, rủi ro cao và tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu người, sự khác biệt giữa “biết một thông tin” và “hiểu đúng một thông tin” đôi khi có thể tạo ra những kết quả hoàn toàn khác nhau.
Thực tế, ngành tôm Việt Nam từng có một ví dụ điển hình. Tháng 6/2025, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) công bố kết quả sơ bộ kỳ rà soát thuế chống bán phá giá với mức thuế áp dụng cho một số doanh nghiệp Việt Nam ở mức cao bất thường. Thông tin nhanh chóng lan rộng, kéo theo lo ngại về sức cạnh tranh, đơn hàng và triển vọng xuất khẩu.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả sơ bộ. Nhiều doanh nghiệp cùng Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng phương pháp tính toán còn bất cập và tiếp tục cung cấp dữ liệu, kiến nghị để rà soát lại. Sau đó, kết quả cuối cùng đã được điều chỉnh giảm đáng kể.
Điều đáng nói là tác động đã xuất hiện ngay từ thời điểm thông tin sơ bộ được công bố. Chỉ một con số chưa hoàn chỉnh cũng đủ làm thay đổi tâm lý thị trường, thậm chí tạo cảm giác cánh cửa xuất khẩu đang bị thu hẹp.
Nhưng thực chất, vấn đề không nằm ở con số, mà ở bản chất thông tin: Đây chỉ là kết quả sơ bộ, vẫn còn nhiều yếu tố đang được xem xét và có thể thay đổi.
Câu chuyện cho thấy một thực tế quen thuộc: Đôi khi tác động lớn nhất không đến từ thông tin sai, mà từ thông tin chưa đầy đủ nhưng bị xem như kết luận cuối cùng.
Giữa dòng chảy thông tin đa chiều
Sự phát triển của công nghệ số đã thay đổi căn bản cách người làm thủy sản tiếp cận thông tin.
Ngày nay, chỉ với một chiếc điện thoại, người nuôi có thể cập nhật giá cả thị trường từng ngày; doanh nghiệp theo dõi xuất khẩu tại các thị trường lớn; cơ quan quản lý tiếp cận nhanh các báo cáo và dữ liệu trong nước và quốc tế.
Bên cạnh báo chí, hệ sinh thái thông tin cũng mở rộng mạnh mẽ với mạng xã hội, diễn đàn nghề nghiệp và các công cụ trí tuệ nhân tạo. Thông tin xuất hiện liên tục, không còn giới hạn không gian hay thời gian.
Đây là một thay đổi tích cực khi giúp người làm thủy sản tiếp cận thị trường nhanh hơn. Nhưng đồng thời, thách thức cũng lớn hơn: Không phải thông tin nào xuất hiện nhanh cũng đáng tin. Một con số có thể đúng nhưng thiếu bối cảnh. Một nhận định có thể hợp lý nhưng chưa được kiểm chứng. Một dự báo có thể hấp dẫn nhưng chưa đủ cơ sở để ra quyết định. Trong ngành thủy sản, thông tin không chỉ để tham khảo. Nó là nền tảng cho các quyết định liên quan trực tiếp
và thị trường. Khi nền tảng này thiếu chắc chắn, rủi ro sẽ tăng theo.
Không chỉ là tin tức
Câu hỏi đặt ra ngày càng rõ: Khi ai cũng có thể tiếp cận thông tin trong vài giây, báo chí chuyên ngành còn giữ vai trò gì?
Xét về tốc độ, báo chí khó cạnh tranh với mạng xã hội. Một thông tin có thể lan đến hàng nghìn người trong thời gian rất ngắn, trong khi người làm báo cần thời gian để xác minh, đối chiếu và tiếp cận vấn đề từ nhiều phía. Nhưng chính độ trễ đó lại tạo ra giá trị khác biệt. Doanh nghiệp không chỉ cần biết chuyện gì đang xảy ra, mà quan trọng hơn là hiểu vì sao nó xảy ra và tác động thực sự sẽ như thế nào. Một thông tin về giá tôm tăng chỉ có ý nghĩa khi được làm rõ nguyên nhân: Thiếu hụt nguồn cung, nhu cầu phục hồi hay biến động ngắn hạn? Xu hướng này kéo dài bao lâu và người nuôi nên điều chỉnh ra sao? Tương tự, khi các thị trường nhập khẩu ban hành quy định mới về truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải hay tiêu chuẩn môi trường, điều doanh nghiệp cần không chỉ là nội dung văn bản, mà là tác động cụ thể đến chi phí, quy trình
Ngành cá tra từng chứng kiến rõ điều này. Khi một số hình ảnh và thông tin tiêu cực
về điều kiện nuôi trồng tại Việt Nam được truyền thông nước ngoài đăng tải và lan rộng tại thị trường châu Âu, phản ứng thị trường diễn ra rất nhanh. Niềm tin của nhà nhập khẩu bị ảnh hưởng, áp lực truyền thông gia tăng và hoạt động xuất khẩu chịu tác động trong ngắn hạn.
Điều đáng chú ý là vấn đề không chỉ nằm ở nội dung thông tin, mà ở tốc độ lan truyền vượt quá khả năng kiểm chứng. Khi thông tin chưa kịp xác minh nhưng đã trở thành “nhận định phổ biến”, thị trường đã phản ứng trước khi sự thật được làm rõ.
Trong giai đoạn đó, điều giúp ngành từng bước ổn định trở lại không phải là thêm thông tin, mà là những kênh đủ uy tín để kiểm chứng, phản biện và đưa thông tin chính xác quay lại đúng đối tượng tiếp nhận.
Giá trị của sự tin cậy
Ngành thủy sản hiện đối mặt với nhiều biến động: Chi phí sản xuất tăng, cạnh tranh quốc tế gay gắt, yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cao và các thị trường liên tục thay đổi tiêu chuẩn.
Những vấn đề này không thể được phản ánh trọn vẹn qua các bản tin cập nhật đơn lẻ. Chúng cần được đặt trong bối cảnh dài hạn, phân tích và theo dõi liên tục. Bởi doanh
nghiệp không thiếu nơi để đọc tin. Điều họ cần hơn là những góc nhìn giúp họ nhìn xa hơn thực tế trước mắt. AI sẽ tiếp tục phát triển, công nghệ cũng tiếp tục thay đổi cách con người xử lý thông tin. Nhưng báo chí vẫn giữ những giá trị khó thay thế: kiểm chứng thực tế, đối chiếu nguồn tin và lắng nghe trực tiếp từ những người trong chuỗi sản xuất.
Đó là những chuyến đi đến vùng nuôi, nhà máy hay cảng cá. Là những cuộc trao đổi trực tiếp với doanh nghiệp, người nuôi, nhà khoa học và cơ quan quản lý. Và trên hết là trách nhiệm đối với từng thông tin được công bố. Một thuật toán có thể xử lý hàng nghìn dữ liệu trong thời gian ngắn, nhưng trách nhiệm mới là nền tảng tạo nên uy tín của báo chí. Mỗi bài viết không chỉ là dữ liệu và câu chữ, mà là cả một quá trình xác
lý
số là: Thông
càng nhiều thì
tin cậy càng trở nên khan hiếm. Đó cũng là lý do báo chí chuyên ngành không cạnh tranh bằng tốc độ hay công nghệ, mà bằng khả năng giúp người đọc phân biệt đâu là thông tin đã được kiểm chứng, đâu là tín hiệu thực sự có giá trị. Giữa biển lớn thông tin hôm nay, điều quan trọng không phải là biết nhiều hơn, mà là tin đúng hơn. Và đó cũng chính là giá trị cốt lõi mà báo chí chuyên ngành cần tiếp tục theo đuổi trong kỷ nguyên số: Không chạy đua bằng tốc độ, mà khẳng định vai trò bằng sự chính xác, trách nhiệm và niềm tin.
mối nguy gây mất an toàn thực phẩm (MRLs) khoa học và minh bạch
“Chì (Pb), Thủy ngân (Hg), Arsen
vô cơ (As vô cơ) và Cadimi (Cd)
là 4 kim loại nặng gây hại nghiêm
trọng tới sức khỏe người dùng.
Nếu người ăn phải thực phẩm
nhiễm các kim loại nặng này vượt
mức tối đa cho phép (MRLs) và
tích tụ nhiều ngày sẽ gây ra các
bệnh hiểm nghèo, phổ biến là
ung thư. Do vậy cần quy định rõ
ràng và kiểm soát chặt chẽ”, ông
Nguyễn Tử Cương, Nguyên Cục
trưởng Cục Quản lý Chất lượng
Nông Lâm sản và Thủy sản, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và
Môi trường), Ủy viên Ban chấp
hành Hội Thủy sản Việt Nam trao
đổi với Tạp chí Thủy sản Việt Nam.
Góp ý chung
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tổ chức lấy ý kiến cho Dự thảo Quy chuẩn quy
định mức giới hạn an toàn thực phẩm (MRLs)
đối với nhóm sản phẩm thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Theo Dự thảo Quy chuẩn này, nhóm thực phẩm chịu sự điều chỉnh gồm: Sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật và sản phẩm có nguồn gốc từ động vật. Đối với sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật, các chỉ tiêu an toàn thực phẩm bị giám sát gồm: Mức giới hạn nhiễm kim loại nặng (Arsen – As; Cadimi – Cd; Chì –Pb; Thuỷ ngân – Hg; Thiếc – Sn) và mức giới hạn nhiễm các mối nguy vi sinh vật (Vi khuẩn; Vi rút; Nấm: Ký sinh trùng).
Trao đổi với phóng viên về Dự thảo Quy chuẩn, ông Nguyễn Tử Cương, Nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Uỷ viên thường vụ, Ban chấp hành Hội Thủy sản Việt Nam đã đưa ra các góp ý: “Thứ nhất, trong Dự thảo này, chúng ta không tự đánh giá nguy cơ (RA) mà tham khảo CODEX – Tổ chức về an toàn thực phẩm do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp thành lập; Liên minh châu Âu – EU; Trung Quốc; Đài Loan (Trung Quốc) để lựa chọn mức quy định của Việt Nam, nhưng không nêu nguyên tắc lựa chọn mức giới hạn tối đa cho phép (MRLs), mà cảm tính (khi lấy theo CODEX, lúc lại theo EU hoặc Trung Quốc-mặc dù có quy định của CODEX). Cách làm này rất nguy hiểm.
Thứ hai, về chỉ tiêu Arsen: Vì Arsen dưới dạng hữu cơ không gây hại cho sức khỏe người dùng. Do vậy, không quy định Arsen tổng mà cần ghi là Arsen vô cơ cho tất cả các thị trường, bao gồm thực phẩm sản xuất và tiêu dùng tại
Việt Nam. Riêng thị trường Trung Quốc phải quy định Arsen tổng, thì họ mới nhập hàng, nếu có cách quy đổi ra Arsen vô cơ thì ghi rõ cách quy đổi; bằng không thì quy định Arsen tổng cho riêng thị trường Trung Quốc.
Thứ ba, về thuật ngữ trong văn bản này, cần quy định chính xác, đơn nghĩa, ví dụ: Cần ghi là kim loại nặng Chì (Pb), Thủy ngân (Hg), Arsen vô cơ (As vô cơ) và Cadmi (Cd) có trong sản phẩm thực phẩm là thực vật. Không ghi là “ô nhiễm” hoặc “thực phẩm chung chung” nhưng nội dung Quy chuẩn lại chỉ là Thực phẩm là thực vật”. Thứ tư, Dự thảo cần ghi rõ đối tượng điều chỉnh là: (1) Thực phẩm là sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật từ nước ngoài nhập vào Việt Nam; (2) Thực phẩm là sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật sản xuất tại Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài; (3) Thực phẩm là sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật sản xuất tại Việt Nam và tiêu dùng tại Việt Nam”, Nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản nêu quan điểm.
Chọn mức giới hạn tối đa cho phép (MRLs) như thế nào?
Theo ông Nguyễn Tử Cương, hiện nay Việt Nam chưa tổ chức đánh giá nguy cơ (Risk Assessment - RA) cho các chỉ tiêu nêu trong Dự thảo Quy chuẩn, khi quy định các mức giới hạn tối đa cho phép (MRLs) nên theo nguyên tắc ưu tiên sau:
Ưu tiên 1: Nếu CODEX có quy định thì lấy theo mức của CODEX và áp dụng cho tất cả các đối tượng và tất cả các thị trường. Vì CODEX dựa trên đánh giá nguy cơ cho từng mối nguy và được Hội đồng khoa học của 193 quốc gia thành viên (trong đó có Việt Nam) thông qua. Nếu có quốc gia nhập khẩu quy định mức giới hạn tối đa cho phép (MRLs) thấp hơn (chặt hơn mức của CODEX) thì quy định mức đó để áp dụng cho riêng thực phẩm xuất khẩu vào nước đó. Ưu tiên 2: Đối với chỉ tiêu chưa có trong quy định của CODEX thì tham khảo quy định của những khối quốc gia hay quốc gia rất mạnh về đánh giá nguy cơ (RA) như: EU, Australia, Mỹ, Nhật, Hàn quốc để đưa vào quy chuẩn của Việt Nam… Tuy nhiên nếu nước nhập khẩu có quy định khác với quy định của mức Quy chuẩn chúng ta lựa chọn thì có thêm mức giới hạn
“Về cách ghi ký hiệu mức giới hạn tối đa cho phép (MRLs) cho từng chỉ tiêu. Tuyệt đối không ghi để dẫn tới hiểu lầm, ví dụ CODEX 0,3; EU 0,1… mà phải ghi rõ: Không cao hơn”, Nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản đề xuất.
Kiểm soát mối nguy gây mất an toàn thực phẩm như thế nào?
Chuyên gia Nguyễn Tử Cương lưu ý, kiểm soát mối nguy an toàn thực phẩm là phải kiểm soát cả quá trình sản xuất của sản phẩm: Từ chuẩn bị điều kiện sản xuất, quá trình sản xuất nguyên liệu, thu hoạch đến chế biến, lưu kho và tiêu thụ tới tay người tiêu dùng.
Nguyên tắc ngắn gọn mà HACCP (Nhận diện mối nguy gây mất an toàn thực phẩm và kiểm soát mối nguy theo nguyên tắc Phòng ngừa/Tiêu diệt/Khống chế mối nguy) đã nêu rõ: (1) Sản xuất thực phẩm là thực vật thì: Từ cái cày đến cái dĩa; (2) Sản xuất thực phẩm là động vật trên cạn thì: Từ chuồng trại tới bàn ăn; (3) Sản xuất thực phẩm là thủy sản thì: Từ ao nuôi tới bàn ăn vì mối nguy gây mất an toàn thực phẩm có nguy cơ lây nhiễm trong tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất.
Ví dụ: (1) Aflatoxin là độc tố nấm có trong thực phẩm là ngũ cốc bảo quản không tốt, nếu dùng loại ngũ cốc này làm thức ăn chăn nuôi thuỷ sản và động vật trên cạn thì sán phẩm thực phẩm của động vật trên cạn hoặc thủy sản ấy chắc chắn bị nhiễm Aflatoxin (chất gây ung thư); (2) Diệt trừ sâu bệnh cho rau hoặc chè bằng hóa chất cấm, hoặc hóa chất được phép sử dụng nhưng không ngừng sử dụng đủ thời gian quy định trước khi thu hoạch thì chắc chắn người sử dụng rau hoặc chè đó sẽ bị hại tới sức khỏe, mà phần lớn gây ra các bệnh hiếm nghèo.
“Chúng ta hay nói tới “truy xuất nguồn gốc” chính là để xem trong từng công đoạn của quá trình sản xuất có thực hiện kiểm soát mối nguy gây mất an toàn thực phẩm không và việc kiếm soát có hiệu quả không? Nếu cứ sản phẩm nào có thể truy suất nguồn gốc nhưng khi truy xuất nguồn gốc không có thông tin về kiểm soát mối nguy hoặc chỉ ghi cho có thì thật là vô nghĩa!!! ”, Nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng nông lâm sản và Thủy sản nhấn mạnh.
Linh Sam
Giảm phụ thuộc hóa chất trong nuôi trồng thủy sản
Trong xu hướng nuôi trồng thủy sản an toàn và
bền vững, chế phẩm sinh học ngày càng được
sử dụng rộng rãi để cải thiện môi trường ao
nuôi, hạn chế dịch bệnh và giảm phụ thuộc vào
hóa chất, kháng sinh. Việc áp dụng đúng cách
giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng
yêu cầu chất lượng thị trường.
Giải pháp xanh cho ao nuôi
Những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh theo hướng thâm canh và siêu thâm canh. Mật độ nuôi tăng cao giúp nâng sản lượng nhưng đồng thời cũng kéo theo nhiều hệ lụy như ô nhiễm môi trường ao nuôi, tích tụ chất hữu cơ, phát sinh khí độc và bùng phát dịch bệnh.
Trong ao nuôi thủy sản, thức ăn dư thừa, phân thải và xác sinh vật phân hủy liên tục tạo ra các chất độc như NH3, H2S, NO2. Khi các yếu tố môi trường biến động mạnh, vật nuôi dễ bị stress, giảm sức đề kháng và tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển. Nếu chỉ phụ thuộc vào hóa chất xử lý môi trường hoặc kháng sinh để phòng trị bệnh sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ như mất cân bằng hệ vi sinh ao nuôi, tồn dư kháng sinh trong sản phẩm, gia tăng hiện tượng kháng thuốc và ảnh hưởng môi trường sinh thái. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu thủy sản ngày càng siết chặt yêu cầu về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Nhiều quốc gia kiểm soát nghiêm ngặt dư lượng kháng sinh, hóa chất trong sản phẩm thủy sản. Điều này đặt ra yêu cầu người nuôi phải thay đổi phương thức sản xuất theo hướng an toàn và bền vững hơn.
Chế phẩm sinh học vì vậy trở thành giải pháp phù hợp trong xu thế hiện nay. Đây là các sản phẩm chứa vi sinh vật có lợi, enzyme hoặc các hoạt chất sinh học giúp cải thiện môi trường nuôi và hỗ trợ sức khỏe vật nuôi. Việc sử dụng chế phẩm sinh học không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào hóa chất mà còn góp phần ổn định hệ sinh thái ao nuôi một cách tự nhiên. Hiện nay, nhiều mô hình nuôi tôm, cá ứng dụng chế phẩm sinh học đã cho hiệu quả tích cực như giảm tỷ lệ bệnh, ổn định chất lượng nước, giảm chi phí xử lý môi trường và nâng cao tỷ lệ sống. Đặc biệt trong điều kiện thời tiết cực đoan, nắng nóng kéo dài hoặc mưa lớn thất thường, vai trò của chế phẩm sinh học càng trở nên quan trọng trong việc duy trì môi trường ao nuôi ổn định.
Nhiều lợi ích
Chế phẩm sinh học hiện nay được sử dụng
khá đa dạng trong nuôi trồng thủy sản, tùy theo mục đích xử lý môi trường, hỗ trợ tiêu
hóa hay tăng cường miễn dịch cho vật nuôi.
Một trong những công dụng quan trọng nhất của chế phẩm sinh học là cải thiện chất lượng nước ao nuôi. Các nhóm vi sinh có lợi
Không ít hộ nuôi hiện nay có xu hướng tăng lượng chế phẩm sinh học khi môi trường ao nuôi xuất hiện vấn
đề. Tuy nhiên, hiệu quả của vi sinh không đến tức thời như hóa chất xử lý nhanh mà cần thời gian để thiết lập lại cân bằng môi trường nước. Vì vậy, sử dụng định kỳ và chủ động phòng ngừa thường mang lại hiệu quả bền vững hơn so với chỉ xử lý khi ao nuôi đã phát sinh sự cố.
giúp phân hủy chất hữu cơ dư thừa, hạn chế tích tụ bùn đáy và giảm phát sinh khí độc như NH3, H2 S. Khi môi trường được ổn định, hàm lượng ôxy hòa tan được cải thiện, giúp vật nuôi sinh trưởng tốt hơn.
Ngoài ra, các vi sinh vật có lợi còn giúp cạnh tranh nguồn dinh dưỡng và ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh trong môi trường nước. Điều này góp phần hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh, nhất là trong các ao nuôi mật độ cao.
Trong nuôi tôm, nhiều loại chế phẩm sinh học được sử dụng định kỳ để kiểm soát tảo, ổn định màu nước và giảm hiện tượng tôm nổi đầu do thiếu ôxy. Đối với nuôi cá, chế phẩm sinh học giúp hạn chế ô nhiễm hữu cơ và giảm mùi hôi trong ao nuôi.
Bên cạnh xử lý môi trường, chế phẩm sinh học còn được bổ sung trực tiếp vào thức ăn nhằm hỗ trợ hệ tiêu hóa của vật nuôi. Các nhóm vi khuẩn có lợi và enzyme tiêu hóa giúp tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), từ đó giảm chi phí sản xuất.
Một số chế phẩm còn có tác dụng tăng cường miễn dịch, giúp vật nuôi nâng cao sức đề kháng trước điều kiện thời tiết bất lợi hoặc khi môi trường biến động. Khi hệ miễn dịch
được cải thiện, vật nuôi khỏe mạnh hơn, giảm nguy cơ nhiễm bệnh và tăng tỷ lệ sống.
Ngoài hiệu quả kỹ thuật, việc sử dụng chế phẩm sinh học còn mang lại lợi ích về môi trường và kinh tế. Môi trường ao nuôi được cải thiện sẽ hạn chế ô nhiễm nguồn nước xung quanh, giảm lượng chất thải phát sinh ra môi trường tự nhiên. Đồng thời, giảm sử dụng hóa chất và kháng sinh cũng giúp giảm chi phí xử lý ao nuôi và nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản. Hiện nay, nhiều địa phương đã khuyến khích người nuôi áp dụng chế phẩm sinh học
kết hợp với quy trình nuôi an toàn sinh học nhằm hướng tới phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản.
Sử dụng đúng cách
Mặc dù mang lại nhiều lợi ích, nhưng hiệu quả của chế phẩm sinh học phụ thuộc lớn vào cách sử dụng và điều kiện môi trường ao nuôi. Nếu sử dụng không đúng kỹ thuật, hiệu quả có thể giảm hoặc không phát huy tác dụng như mong muốn.
Trước hết, người nuôi cần lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, còn hạn sử dụng và phù hợp với mục đích sử dụng. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại chế phẩm sinh học với thành phần và công dụng khác nhau như xử lý đáy ao, xử lý nước, hỗ trợ tiêu hóa hoặc tăng miễn dịch. Vì vậy cần đọc kỹ hướng dẫn của nhà sản xuất trước khi sử dụng. Việc bảo quản chế phẩm sinh học cũng rất quan trọng. Hầu hết các sản phẩm chứa vi sinh vật sống nên cần bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp hoặc nhiệt độ quá cao để đảm bảo mật độ vi sinh có lợi. Khi sử dụng trong ao nuôi, nên tạt chế phẩm vào thời điểm trời mát như sáng sớm hoặc chiều tối để tăng khả năng hoạt động của vi sinh vật. Không nên sử dụng cùng lúc với hóa chất diệt khuẩn hoặc kháng sinh vì có thể làm giảm hoặc tiêu diệt hệ vi sinh có lợi. Người nuôi cũng cần duy trì định kỳ việc sử dụng chế phẩm sinh học thay vì chỉ dùng khi môi trường ao nuôi gặp sự cố. Việc bổ sung thường xuyên giúp hệ vi sinh có lợi phát triển ổn định, góp phần duy trì chất lượng nước và hạn chế mầm bệnh.
Bên cạnh đó, chế phẩm sinh học không phải là giải pháp thay thế hoàn toàn cho công tác quản lý ao nuôi. Để đạt hiệu quả cao, cần kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp như quản lý thức ăn hợp lý, kiểm soát mật độ nuôi, theo dõi các chỉ tiêu môi trường và duy trì hệ thống quạt nước, sục khí hoạt động hiệu quả.
Trong điều kiện thời tiết bất lợi như nắng nóng kéo dài hoặc mưa lớn liên tục, cần tăng cường theo dõi sức khỏe vật nuôi và các yếu tố môi trường để điều chỉnh lượng chế phẩm sử dụng phù hợp. Nếu môi trường ao nuôi biến động mạnh, nên xử lý từng bước để tránh gây sốc cho vật nuôi.
Thay đổi từ nuôi thủy sản
kết hợp trồng
rừng ngập mặn
Dọc dải ven biển miền Trung, các vùng đầm phá vốn là không gian sinh tồn của hàng vạn hộ ngư dân. Hiện nay, mô hình nuôi thủy sản kết hợp trồng rừng ngập mặn đang được nhiều địa phương lựa chọn như một hướng đi hiệu quả nhằm phục hồi môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.
Khi hệ sinh thái đầm phá bị tổn thương Miền Trung là khu vực thường xuyên chịu
ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, xâm nhập mặn và nước biển dâng. Những hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng dày đặc đã tác động trực tiếp đến môi trường nuôi trồng thủy sản.
Tại đầm phá Tam Giang - Cầu Hai ở TP Huế, hệ đầm phá nước lợ lớn nhất Đông Nam Á với diện tích hơn 22.000 ha, nhiều khu vực từng ghi nhận tình trạng suy giảm thảm thực vật ngập nước, chất lượng môi trường nước xuống cấp và nguồn lợi thủy sản tự nhiên giảm sút. Không
Ảnh: Báo Nhân dân
chất xử lý môi trường, mô hình nuôi thủy sản kết hợp trồng rừng ngập mặn tận dụng các giá trị tự nhiên của hệ sinh thái.
Các loài cây như bần chua, đước, mắm hay dừa nước được trồng dọc bờ đầm, ven ao nuôi hoặc tại những khu vực cửa sông, cửa biển. Hệ thống rễ cây phát triển dày đặc giúp giữ phù sa, ổn định nền đất, giảm xói lở và hấp thụ một phần chất hữu cơ dư thừa trong nước. Khi diện tích cây ngập mặn được phục hồi, nguồn thức ăn tự nhiên cũng phong phú hơn, tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động nuôi trồng thủy sản theo hướng sinh thái.
Một trong những ví dụ tiêu biểu của mô hình này là khu vực đầm Ô Loan thuộc tỉnh
Đắk Lắk (tỉnh Phú Yên cũ). Với diện tích gần
1.600 ha, đầm Ô Loan nổi tiếng là vùng sinh thái đặc trưng của miền Trung, nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, trong nhiều năm, hệ sinh thái nơi đây chịu áp lực lớn làm cho đầm phá bị tổn thương nghiêm trọng.
Mô hình nuôi thủy sản dưới tán rừng ngập mặn tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển Ảnh: Quang Lợi
Nhiều chuyên gia cho rằng, khi diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp, hệ sinh thái ven biển mất đi hàng rào bảo vệ tự nhiên. Nguồn nước dễ bị ô nhiễm hơn, khả năng tự làm sạch suy giảm, trong khi các loài thủy sinh mất nơi sinh sản và cư trú. Hệ quả là dịch bệnh trên tôm, cá xuất hiện thường xuyên hơn, chi phí sản xuất tăng lên nhưng hiệu quả kinh tế lại giảm sút.
Từ thực tiễn đó, nhiều địa phương đã triển khai các chương trình phục hồi rừng ngập mặn kết hợp với phát triển nuôi trồng thủy sản sinh thái nhằm tạo ra sự cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
Rừng ngập mặn - nền tảng cho nuôi thủy sản sinh thái
Khác với các hình thức nuôi thâm canh phụ thuộc nhiều vào thức ăn công nghiệp và hóa
Trước thực trạng đó, năm 2024, dự án trồng rừng ngập mặn quy mô lớn tại đầm Ô
Loan được triển khai với tổng kinh phí khoảng 18 tỷ đồng. Đến giữa năm 2025, khoảng 50 ha rừng ngập mặn mới đã được trồng, phần lớn diện tích cây trồng đều sinh trưởng tốt, góp phần cải thiện chất lượng môi trường nước và phục hồi cảnh quan sinh thái khu vực.
Theo ghi nhận của người dân địa phương, sau khi rừng ngập mặn được khôi phục, nhiều loài thủy sản đặc trưng như sò huyết, tôm, cua đã xuất hiện trở lại với mật độ cao hơn trước. Một số hộ dân cho biết nguồn lợi thủy sản tự nhiên tăng lên từ 3 đến 4 lần so với thời điểm chưa triển khai dự án. Nhiều người dân ở khu vực này kỳ vọng rừng mọc xanh tốt hơn, hệ sinh thái đầm Ô Loan sẽ hồi sinh mạnh mẽ, các loại thủy hải sản sẽ quay về trú ngụ, sinh kế cho người dân vùng biển sẽ ổn định. Tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển Điểm nổi bật nhất của mô hình nuôi thủy sản dưới tán rừng ngập mặn là khả năng tạo
Mô hình nuôi thủy sản kết hợp trồng rừng ngập mặn được đánh giá là giải pháp hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo tồn thiên nhiên. Đây cũng là hướng đi phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững và tăng trưởng xanh của Việt Nam.
sinh kế ổn định cho người dân. Mặc dù năng suất không quá cao như nuôi thâm canh công nghiệp, nhưng lợi nhuận lại ổn định hơn nhờ giảm chi phí đầu vào và hạn chế rủi ro. Năm 2024, Trung tâm Khuyến nông Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai) triển khai thực hiện mô hình nuôi tổng hợp các loài thủy sản dưới tán cây ngập mặn kết hợp phát triển du lịch sinh thái với quy mô 10.000 m2 tại ao nuôi anh Trương Hữu Tâm, thôn Vinh Quang 2, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước (nay là xã Tuy Phước Đông).
Với 143.000 con giống tôm sú, 1.000 con cá dìa giống và 2.000 con cua xanh giống, sau khoảng 5 tháng nuôi, tỷ lệ sống của tôm sú đạt 60%, cua xanh 40% và cá dìa 82%, lợi nhuận mang lại cho gia đình anh Tâm hơn 125 triệu đồng/ha.
Hơn nữa, mô hình nuôi tổng hợp tôm, cua, cá được đánh giá là dịch bệnh ít, bền vững, không phải lo thua lỗ. Mặt khác, do không sử dụng hóa chất, kháng sinh trong quá trình nuôi nên tạo ra sản phẩm sạch, được người tiêu dùng rất ưa chuộng. Ngoài nguồn thu từ nuôi trồng thủy sản, người dân còn được hưởng lợi từ các chương trình bảo vệ và phát triển rừng. Việc tham gia quản lý, chăm sóc rừng ngập mặn giúp tạo thêm việc làm và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Thực tế từ các vùng đầm phá miền Trung cho thấy, khi người dân được hưởng lợi trực tiếp từ việc bảo vệ hệ sinh thái, họ sẽ trở thành lực lượng tích cực nhất trong công tác bảo tồn. Và chính những cánh rừng ngập mặn đang hồi sinh hôm nay sẽ là nền tảng để xây dựng những cộng đồng ven biển phát triển xanh, thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu và có sinh kế bền vững trong tương lai.
Sau năm 2030, tương lai của các nguyên
biển sẽ đi về đâu?
Tương lai của bột cá và dầu cá được
dự báo sẽ ổn định nhưng tăng trưởng
hạn chế sau năm 2030. Trong bối cảnh
nguồn cung từ cá khai thác khó mở
rộng, ngành nguyên liệu biển đang
chuyển dần sang mô hình kinh tế tuần
hoàn với sự tham gia ngày càng lớn của
phụ phẩm thủy sản.
Các nguyên liệu biển từ lâu
đã được coi là nguyên
liệu thức ăn chiến lược
cho sản lượng nuôi trồng thủy
sản toàn cầu. Trong số 21 triệu
tấn (trọng lượng sống) sản phẩm
cá được sử dụng cho mục đích
phi thực phẩm vào năm 2034, 83% dự kiến sẽ được sử dụng
để sản xuất bột cá và dầu cá.
17% còn lại có thể được sử dụng
cho các mục đích phi thực phẩm
khác như cá cảnh, cá giống, mồi câu, dược phẩm hoặc sử dụng
làm cá tạp ở một số nơi trên thế giới (Hình 1).
Bột cá sẽ tiếp tục được sử dụng chủ yếu như một nguyên
liệu chiến lược trong thức ăn nuôi trồng thủy sản, và đến năm 2034, 84% sản lượng bột cá toàn cầu sẽ được ngành này sử dụng
làm thức ăn, so với 78% trong giai đoạn cơ sở của nghiên cứu OECD-FAO (2022-2024). Trung Quốc sẽ tiếp tục là nhà sản xuất nuôi trồng thủy sản lớn nhất, và do đó cũng là nhà tiêu thụ bột cá lớn nhất. OECD-FAO ước tính rằng Trung Quốc sẽ chiếm 42% lượng tiêu thụ bột cá toàn cầu vào năm 2034.
Mặc dù bột cá chủ yếu được sử dụng làm nguyên liệu thức ăn trong ngành nuôi trồng thủy sản, nhưng nó không phải là nguyên liệu thức ăn chính được sử dụng trong ngành này. Các nguyên liệu thức ăn khác, chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp như bột đậu nành, lúa mì, hạt cải dầu và ngô, sẽ tiếp tục đóng góp phần lớn vào nguồn cung cấp chất dinh dưỡng trong thức ăn cho
Hình 1. Sử dụng toàn cầu các nguồn tài nguyên thủy sản và nuôi trồng thủy sản, ứng dụng làm thực phẩm và phi thực phẩm. Nguồn: OECD/FAO (2025), “Triển vọng nông nghiệp OECDFAO”, Thống kê nông nghiệp OECD (cơ sở dữ liệu), http://dataexplorer.oecd.org/s/1hc
ngành này trong tương lai gần.
Sự khác biệt cơ bản về quy mô
(3.775 triệu tấn sản lượng ngũ cốc so với 6 triệu tấn sản lượng
bột cá và dầu cá năm 2022 - giải thích lý do cho điều này, cùng
với khả năng hạn chế đối với bất
kỳ sự gia tăng lớn nào về sản
lượng bột cá và dầu cá. Nghiên cứu của OECD-FAO dự báo rằng
đến năm 2034, việc sử dụng các nguyên liệu như bột đậu nành trong nuôi trồng thủy sản sẽ đạt 11 triệu tấn, trong khi lượng bột cá trong thức ăn nuôi trồng thủy sản sẽ tăng lên 4,9 triệu tấn. Lượng tiêu thụ dầu cá toàn cầu cho thấy một bức tranh khác về sự cạnh tranh ngày càng tăng giữa nuôi trồng thủy sản và thực phẩm chức năng dành cho con người. Dự báo cho thấy đến năm 2034, gần 60% lượng dầu cá (0,9 triệu tấn) sẽ được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản. Cá hồi nuôi sẽ là đối tượng tiêu thụ lớn nhất trong nuôi trồng thủy sản, với các quốc gia sản xuất cá hồi như Na Uy, Chile, Thổ Nhĩ
Kỳ và Anh tiếp tục là những nước tiêu thụ chính. Hơn 40% còn lại
sẽ được tiêu thụ chủ yếu cho con người (dược phẩm) và trong thức ăn cho vật nuôi. Nghiên cứu của OECD-FAO
dự đoán rằng lượng sản lượng
đánh bắt thủy sản được chế biến
thành bột cá và dầu cá sẽ có xu
hướng tăng trong thập kỷ tới so với thập kỷ trước. Mặc dù tổng khối lượng sẽ dao động từ 15
triệu tấn (những năm El Niño) đến 17 triệu tấn (những năm đánh bắt cao điểm), tổng nguồn tài nguyên thủy sản được sử dụng để chế biến trực tiếp (sử dụng làm thức ăn chăn nuôi) vẫn thấp hơn nhiều so với 26 triệu tấn cá được sử dụng vào những năm 1990.
Sản lượng bột cá và dầu cá toàn cầu dự kiến sẽ đạt lần lượt
5,9 triệu tấn và 1,5 triệu tấn vào năm 2034, tăng 12% đối với cả hai nguyên liệu so với giai đoạn
cơ sở. Phần lớn sự gia tăng này
có thể đến từ các sản phẩm phụ
của cá, với việc sử dụng chúng trong sản xuất bột cá tăng đều
đặn trong thập kỷ qua, đạt gần
40% (2 triệu tấn) tổng sản lượng
vào năm 2023. Điều này có khả năng sẽ tiếp tục được thúc đẩy
bởi nhu cầu ngày càng tăng đối
với phi lê cá của người tiêu dùng,
tạo ra nhiều nguồn tài nguyên phụ phẩm hơn cho sản xuất nguyên liệu biển. Đối với dầu cá, tỷ lệ có nguồn gốc từ phụ phẩm
vượt quá tỷ lệ từ bột cá do hàm lượng dầu cao trong các dòng
chất thải từ một số lĩnh vực sản xuất nuôi trồng thủy sản (ví dụ: cá hồi và cá basa). Hơn 54% (0,66 triệu tấn) tổng lượng dầu cá đến từ phụ phẩm vào năm
2023. Sự tăng trưởng này dự kiến sẽ tiếp tục, mặc dù với tốc
độ chậm hơn trong thập kỷ tới.
Nghiên cứu của OECD-FAO dự báo rằng xuất khẩu bột cá toàn
cầu sẽ tăng 8% so với giai đoạn
cơ sở, đạt 3,8 triệu tấn vào năm
2034. Peru, quốc gia xuất khẩu
bột cá lớn nhất thế giới, dự kiến
sẽ ghi nhận một trong những
tốc độ tăng trưởng cao nhất
trong thập kỷ tới, chủ yếu nhờ sự
phục hồi từ mức xuất khẩu thấp
bất thường được ghi nhận trong giai đoạn cơ sở của nghiên cứu
OECD-FAO, khi nước này trải qua
hiện tượng El Niño rất mạnh.
Trung Quốc sẽ tiếp tục là nước nhập khẩu bột cá hàng đầu thế giới, chiếm hơn một nửa tổng lượng nhập khẩu vào năm 2034.
Điều này phản ánh nhu cầu ngày càng tăng từ ngành nuôi trồng thủy sản của nước này. Ngược lại, nhập khẩu bột cá từ các nước nhập khẩu truyền thống khác, như Na Uy và Liên minh châu Âu (EU), dự kiến sẽ giảm khi Trung
Quốc chiếm thị phần sản xuất ngày càng lớn.
Xuất khẩu dầu cá được dự báo sẽ tăng 9% vào năm 2034. Peru, Việt Nam và châu Âu sẽ dẫn đầu
xuất khẩu dầu cá toàn cầu. Tại
Việt Nam, xuất khẩu dầu cá chủ yếu bao gồm dầu cá tra (cá basa)
đã qua sử dụng xuất khẩu sang
Mỹ, nơi nó cạnh tranh về giá với
dầu thực vật đã qua sử dụng. EU, Na Uy và Hoa Kỳ sẽ vẫn là các thị
trường nhập khẩu chính trong
thập kỷ tới.
Giá dầu cá dự kiến sẽ giảm cả về danh nghĩa (-7,5%) và thực tế (-26%) trong thập kỷ tới, phản ánh
mức giá cao bất thường trong giai đoạn cơ sở. Giá dầu cá cao trong giai đoạn cơ sở (2022-2024) là do
sự kết hợp giữa sản lượng đánh bắt cá cơm thấp bất thường ở Peru liên quan đến hiện tượng El Niño năm 2023 và giá dầu thực vật toàn cầu cao. Nghiên cứu của OECD-FAO dự đoán giá dầu cá sẽ giảm cho đến năm 2028 tính theo giá trị thực trước khi trở lại xu hướng tăng trưởng chậm trong lịch sử do nhu cầu tiếp tục từ thức ăn nuôi trồng thủy sản và nhu cầu tiêu dùng của con người. Giá bột cá trong thập kỷ tới được dự báo sẽ tăng theo giá trị danh nghĩa (10%) nhưng giảm theo giá trị thực (-12%). Mức giảm thực tế được dự báo sẽ thấp hơn
lịch sử vào năm 2013-2014. Giá bột cá được dự báo sẽ tiếp tục giảm trong ngắn hạn trước khi ổn định trở lại mô hình lịch sử là tương đối ổn định trung bình nhưng có khả năng biến động giá do bất kỳ tác động nào của hiện tượng El Niño có thể xảy ra trong thập kỷ tới. Nhìn chung, tương lai của các nguyên liệu biển có vẻ ổn định và đang trong giai đoạn chuyển đổi. Tăng trưởng trong thập kỷ tới sẽ bị hạn chế (~12%) và có khả năng tiếp tục bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết toàn cầu như El Niño. Ngành này sẽ ngày càng chuyển từ việc dựa vào cá hoang dã nguyên con sang sử dụng nhiều hơn các sản phẩm phụ từ cá, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tuần hoàn thực phẩm khi tìm cách giữ lại các chất dinh dưỡng quan trọng trong hệ thống thực phẩm của chúng ta. Phù hợp với xu hướng trong thập kỷ qua, thức ăn nuôi trồng thủy sản sẽ ngày càng phụ thuộc vào các sản phẩm ngũ cốc để cung cấp phần lớn chất dinh dưỡng, trong khi các nguyên liệu từ biển sẽ tiếp tục đóng vai trò chiến lược.
Quảng Trị Mực ống được giá, ngư dân tăng thu nhập mùa du lịch
Đang vào cao điểm mùa khai thác mực ống, ngư dân ven biển Quảng Trị liên tục đón những chuyến biển hiệu quả nhờ nguồn lợi dồi dào và sức mua tăng mạnh từ thị trường du lịch. Hiện mực ống tươi loại tốt được thương lái thu mua khoảng 600.000 đồng/kg, giúp nhiều tàu thuyền thu về vài triệu đồng chỉ sau một đêm khai thác. Ngoài tiêu thụ tươi tại nhà hàng, khách sạn, mực còn là nguyên liệu cho các sản phẩm giá trị gia tăng như mực một nắng và mực khô. Theo các cơ sở chế biến, giá mực một nắng thành phẩm hiện có thể đạt khoảng 1 triệu đồng/kg, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho chuỗi khai thác và chế biến hải sản địa phương.
Nghệ An Nguồn cung cá trích tăng mạnh trong vụ chiêm
Ngư dân xã Hải Châu (Nghệ An) đang bước vào giai đoạn khai thác rộ cá trích vụ chiêm với sản lượng khả quan. Mỗi chuyến biển, các bè mảng thu được từ hơn 200 kg đến gần 400 kg cá, cho thấy nguồn lợi đầu vụ khá dồi dào. Nhờ sản lượng tốt và đầu ra ổn định, nhiều hộ đạt lợi nhuận từ hơn 1 triệu đến trên 3 triệu đồng/chuyến sau khi trừ chi phí. Cá trích hiện được tiêu thụ mạnh tại các chợ dân sinh và cơ sở chế biến thủy sản, góp phần gia tăng nguồn cung cho thị trường. Kết quả khai thác tích cực đầu vụ đang tạo động lực để ngư dân tiếp tục bám biển trong thời gian tới.
Hà Tĩnh
Ghẹ đỏ vào chính vụ, giá bán duy trì ở mức tốt
Tại bến thuyền Cửa Nhượng (Hà Tĩnh), mùa khai thác ghẹ đỏ đang diễn ra sôi động với sản lượng tăng so với nhiều năm trước. Theo ngư dân địa phương, điều kiện thời tiết thuận lợi cùng nguồn lợi tự nhiên dồi dào đã giúp nhiều chuyến biển đạt hiệu quả cao. Hiện giá ghẹ tại bến dao động từ 70.000 - 200.000 đồng/kg tùy loại và kích cỡ. Nguồn cung ghẹ tăng không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến hải sản. Thị trường thuận lợi được kỳ vọng sẽ tiếp tục hỗ trợ ngư dân nâng cao thu nhập trong mùa khai thác năm nay.
Cá vàng dâng xuất hiện, thương lái thu mua mạnh
Ngư dân phường Hải Ninh (Hà Tĩnh) vừa khai thác thành công hơn 1 tấn cá vàng dâng tại vùng biển Quảng Trị. Với giá thu mua từ 300.000 - 350.000 đồng/kg, mẻ cá mang về doanh thu trên 300 triệu đồng. Cá vàng dâng là loài hải sản có giá trị kinh tế cao, nguồn cung không nhiều nên luôn được thị trường ưa chuộng. Ngay sau khi cập cảng, toàn bộ sản lượng đã được thương lái thu mua hết. Việc xuất hiện các đàn cá giá trị cao không chỉ giúp ngư dân tăng thu nhập mà còn góp phần bổ sung nguồn cung hải sản chất lượng cho thị trường miền Trung.
ĐBSCL
Cá rô đồng vào mùa, giá bán ổn định
Thị trường cá rô đồng đang bước vào giai đoạn sôi động nhất trong năm khi mùa mưa tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn cung tăng mạnh. Hiện cá rô đồng tự nhiên được giao dịch ở mức 80.000120.000 đồng/kg, trong khi cá rô nuôi dao động từ 40.000 - 60.000 đồng/kg. Nhờ chất lượng thịt chắc, béo và nhiều trứng, cá rô đồng được người tiêu dùng ưa chuộng, đặc biệt tại các tỉnh miền Tây Nam
Bộ. Nguồn hàng hiện được phân phối rộng rãi qua chợ truyền thống, siêu thị và các kênh bán hàng trực tuyến, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng.
Giá tôm nguyên liệu phục hồi, người nuôi thận trọng tái thả giống
Từ đầu tháng 5, giá tôm nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long đã phục hồi sau giai đoạn giảm sâu, góp phần cải thiện tâm lý người nuôi và thúc đẩy hoạt động thả giống vụ nuôi năm 2026. Hiện tôm thẻ chân trắng cỡ 20 – 30 con/kg được thu mua ở mức 130.000 – 186.000 đồng/ kg, cao hơn so với những tháng đầu năm. Dù giá bán khởi sắc, người nuôi vẫn duy trì tâm lý thận trọng do chi phí đầu vào tiếp tục tăng. Giá thức ăn tôm tăng thêm 1.600 – 2.600 đồng/kg, trong khi nhiều loại vật tư như bạt nhựa, chlorine và chế phẩm sinh học cũng ghi nhận mức tăng đáng kể, làm gia tăng áp lực sản xuất.
Đồng Tháp
Giá cá tra neo cao, người nuôi duy trì lợi nhuận
Giá cá tra nguyên liệu tại Đồng Tháp hiện dao động từ 32.00034.000 đồng/kg, giúp người nuôi đạt lợi nhuận khoảng 5.000 - 8.000 đồng/kg. Theo các hộ nuôi, mức giá tích cực được duy trì nhờ nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu cầu từ các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu cá tra tiếp tục ghi nhận tín hiệu khả quan tại nhiều thị trường như Trung Quốc, châu Âu, Brazil và Trung Đông. Tuy nhiên, giá cá giống và thức ăn thủy sản tăng cao vẫn là thách thức đối với người nuôi. Trong bối cảnh nhu cầu thị trường ổn định, ngành chuyên môn khuyến cáo tiếp tục kiểm soát tốt chất lượng giống và môi trường nuôi để đảm bảo hiệu quả sản xuất lâu dài.
An Giang
Giá vật tư thủy sản tăng, gây áp lực lên người nuôi
Khảo sát tại các xã vùng U Minh Thượng (An Giang) cho thấy giá nhiều loại vật tư phục vụ nuôi trồng thủy sản đang tăng so với đầu năm, làm gia tăng chi phí sản xuất cho người nuôi. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng, người nuôi đang kỳ vọng giá thủy sản thương phẩm sớm cải thiện để đảm bảo hiệu quả sản xuất và duy trì kế hoạch thả nuôi trong các tháng tới.
Oanh Thảo
Thị trường tôm Trung Quốc sôi động trở lại
Từ đầu năm 2026, Trung Quốc quay lại nhập khẩu tôm với nhịp mua mạnh hơn, đồng thời cũng đẩy mạnh hệ thống kiểm soát về kiểm dịch, an toàn thực phẩm, hồ sơ đăng ký và truy xuất hơn.
Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam có hệ thống vận hành chuyên nghiệp, đáp ứng được các điều kiện khắt khe của thị trường Trung.
Theo Shrimp Insights, số liệu của tháng 4/2026 cho thấy lượng tôm nhập khẩu tại Trung Quốc tăng 30% so với tháng 4 năm ngoái. Trong 4 tháng đầu năm, lũy kế nhập khẩu lên tới hơn 343 nghìn tấn, tăng khoảng 27%; với tổng giá trị đạt gần 1,8 tỷ USD, tăng hơn 20%. Báo cáo “Xu hướng tiêu dùng hải sản hàng đầu năm 2026” của Hội đồng hải sản Na Uy đã đưa Trung Quốc từ thị trường lớn thứ sáu nhảy vọt lên thứ ba, với tỉ lệ nhập khẩu hải sản tăng 31% về giá trị. Riêng cá hồi nhập khẩu tăng gần 50%.
Sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ này chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu
cầu mới của người tiêu dùng thành thị. Sự hội tụ các yếu tố như nhân khẩu học và xã hội khiến thị trường hải sản Trung Quốc đang trải qua quá trình chuyển đổi cấu trúc. Cụ thể, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng, tỷ lệ sinh giảm và số hộ gia đình độc thân ngày càng tăng đang cùng nhau định hình lại cách người Trung Quốc mua sắm và tiêu thụ hải sản. Không còn chỉ quan tâm về giá rẻ, người dân Trung Quốc hiện nay bắt đầu đề cao các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, độ tươi mới (cho các món sashimi), và trải nghiệm tiêu dùng. Những thay đổi về nhu cầu này khiến Trung Quốc trở thành khách hàng lớn của các mặt hàng hải sản cao cấp.
Giá cá hồi Na Uy tiếp tục giảm
Giá giao ngay của cá hồi Na Uy giảm liên tục trong ba tuần. Hiện tại, giá đang tiến gần về mức 6,46 USD. Đây là mức giá thấp nhất kể từ giữa tháng 9 năm ngoái.
Theo Akvafakta, nhà cung cấp số liệu thống kê ngành chăn nuôi thủy sản Na Uy, giá cá hồi đã giảm 0,22 USD trong tuần thứ 21 của năm 2026, chỉ còn 7,59 USD/ kg. Mức giá này gần như tương đương với cùng kỳ năm ngoái.
Tính đến cuối tháng 5/2026, trung bình giá giao ngay của cá hồi Na Uy là 8,91 USD, thấp hơn 0,87 USD so với cùng kỳ năm ngoái.
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) lên kế hoạch cho
Nhằm phục vụ cho các chương trình thực phẩm liên bang, USDA phát hành lời mời thầu cho hơn 124.000 thùng cá hồi đóng hộp và 180.000 lbs cá hồi tự nhiên, phi lê, đông lạnh.
Hạn chót nộp hồ sơ dự thầu là ngày 5/6/2026, với thời gian giao hàng dự kiến từ ngày 1/8 đến ngày 15/12/2026.
Trong thập kỷ qua, chính phủ Mỹ là khách hàng lớn của các nhà sản xuất cá hồi và cá minh thái.
Thị trường Mỹ mở cơ hội nhập khẩu ghẹ Việt Nam
Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Mỹ dành sự công nhận
tương đối với nghề khai thác ghẹ tại Việt Nam, trong khi Phillipines bị cấm từ 11/6/2026. Trong bối cảnh nguồn cung tại thị trường Mỹ bị thu hẹp, Việt Nam có cơ hội lớn trong ngắn hạn để đẩy mạnh lợi thế xuất khẩu các sản phẩm ghẹ chế biến. Về dài hạn, đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam quảng bá và tạo dấu ấn về tính chuyên nghiệp, đảm bảo hồ sơ pháp lý, kiểm soát an toàn thực phẩm cho các sản phẩm về ghẹ, nhằm tạo đà cho sự hợp tác lâu dài trong tương lai.
Sản lượng vẹm và hàu Thái Bình Dương của
tăng 5% trong năm 2025
Scotland
Theo thống kê do chính phủ Scotland công bố ngày 27/5/2026, các hộ nuôi trồng thủy sản có vỏ của Scotland đã sản xuất lượng lớn vẹm vào năm ngoái, tăng 5% từ 11,690 tấn lên 12,303 tấn.
Trong năm 2025, hơn 2,5 triệu tấn hàu nguyên vỏ đã được đưa vào thị trường tiêu dùng, tương đương 203 tấn ruột hàu.
Giá trị từ giao dịch lần đầu của ngành nuôi trồng thủy sản có vỏ ở Scotland ước tính đạt 15,1 triệu bảng Anh, tăng 8% so với năm 2024.
Giá trị tương ứng theo từng loài như sau:
- Hàu Thái Bình Dương: 1,5 triệu bảng Anh
- Hàu bản địa: 0,1 triệu bảng Anh
- Sò điệp vua: 0,07 triệu bảng Anh
- Vẹm thường: 13,4 triệu bảng Anh
Nhập khẩu cá ngừ và hải sản khác vẫn bị siết chặt vì
MMPA
Trong những tháng đầu năm 2026, do sức ép từ các quy định kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt là các yêu cầu liên quan đến Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển, lượng cá ngừ đông lạnh và các loại hải sản nhập khẩu tại Mỹ giảm.
Riêng với cá ngừ, NOAA quy định mọi lô cá ngừ đông lạnh và/hoặc chế biến nhập vào Mỹ phải có mẫu 370, khai tình trạng “an toàn với cá heo” kèm chứng từ hỗ trợ đính kèm. Quy định này đặt ra thử thách cho các doanh nghiệp Việt Nam, cần phải đảm bảo đầy đủ toàn bộ chuỗi hồ sơ, truy xuất và chứng từ mới đáp ứng được yêu cầu của đơn hàng và hạn chế rủi ro trong thời gian tới.
Tôm là nhóm hàng chịu sức ép lớn tại
thị trường Mỹ
Ngày 13/5/2026, Bộ Thương mại Mỹ công bố mức thuế chống bán phá giá sơ bộ cho hai doanh nghiệp bị đơn là 10,76% và 6,30%, và 7,56% với nhóm doanh nghiệp được hưởng mức thuế riêng. Tuy chưa phải là kết quả có hiệu lực cuối cùng nhưng công bố này đã tạo thêm sức ép lên đàm phán giá và tâm lý mua hàng của các nhà nhập khẩu Mỹ. Trong tháng 3/2026, nhập khẩu tôm tại Mỹ chỉ đạt 56,523 tấn, giảm 19% so với cùng kỳ; luỹ kế quý I đạt 181,656 tấn, giảm 11%. Điều này cho thấy các nhà nhập khẩu tôm tại Mỹ còn dè dặt trước áp lực thuế, giá cả và chi phí.
Chung Linh
Unibio mở rộng công nghệ chuyển đổi khí metan thành protein cho thị trường thức ăn chăn nuôi
toàn cầu
Unibio đang mở rộng công nghệ chuyển đổi khí metan
thành protein vi sinh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng của ngành thức ăn chăn nuôi. Với lợi thế về chi phí, hiệu quả dinh dưỡng và tính bền vững, Uniprotein® được
kỳ vọng trở thành nguồn protein thay thế tiềm năng cho
thủy sản, lợn con và thú cưng.
Unibio là một công ty công nghệ sinh
học của Đan Mạch chuyên về công nghệ lên men khí tiên tiến. Công ty chuyển đổi khí metan thành Uniprotein®, một loại protein đơn bào hoặc vi sinh vật dùng làm thức ăn chăn nuôi.
Hệ thống lò phản ứng sinh học vòng lặp thẳng đứng U-Loop ® độc quyền của công ty nuôi cấy vi khuẩn Methylococcus capsulatus và mang lại năng suất cao nhất so với bất kỳ lò phản ứng lên men khí nào hiện có trên thị trường. Quy trình này không cần đất canh tác, lượng nước tối thiểu và cho phép sản xuất ổn định quanh năm.
Cạnh tranh về giá với các loại protein truyền thống
Đối với bất kỳ nguyên liệu thức ăn chăn nuôi mới nào gia nhập thị trường, yếu tố kinh tế vẫn là một trong những rào cản lớn nhất.
Nói về Uniprotein®, Oliver Hartz (Giám đốc thương mại của Unibio) cho biết cấu trúc chi phí của công ty cho phép họ cạnh tranh với các nguồn protein truyền thống có nồng độ cao và dễ tiêu hóa, bao gồm bột cá, gluten lúa mì, protein đậu nành cô đặc và protein có nguồn gốc từ máu.
trưởng nhanh.
“Tốc độ đó là yếu tố quyết định cuối cùng xem liệu bạn có thể đạt được mức
đường, bao gồm đường mía hoặc củ cải đường và đường ngô. Những hệ thống đó đã được tối ưu hóa cao cho việc sản xuất axit amin không chứa lưu huỳnh, nhưng chúng vẫn phụ thuộc vào sự biến động của
công nghệ là rất hạn
Theo Hartz, việc lựa chọn vi sinh vật phù hợp là điều cơ bản. Protein đơn bào thường được sản xuất bằng vi khuẩn, nấm hoặc tảo, nhưng vi khuẩn mang lại lợi
sản xuất protein vi sinh từ khí metan thay vì đường, chúng tôi đã vượt qua rào cản chi phí biến đổi mà quá trình lên men dựa trên đường phải đối mặt.” Hartz cho biết rằng quá trình chuyển hóa khí metan thành protein, kết hợp với công nghệ lò phản ứng sinh học vòng thẳng đứng của Unibio, là giải pháp cạnh tranh về chi phí rõ ràng nhất khi được đặt tại các khu vực có nguồn khí dồi dào.
Vì công ty sử dụng khí metan, nên họ cũng có thể đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu năng lượng của mình bằng khí tự nhiên, giảm chi phí vận hành và cải thiện sự ổn định giá cả dài hạn.
Thị trường mục tiêu
Unibio ban đầu nhắm mục tiêu vào thị trường cá ăn thịt, tôm, lợn con cai sữa và thức ăn cao cấp cho thú cưng. Hơn 85 nghiên cứu khoa học đã được công bố hỗ trợ các ứng dụng này, cùng với các thử nghiệm thực địa của khách hàng xác nhận hiệu suất trong điều kiện thương mại.
“Điều chúng tôi nhận thấy một cách nhất quán là ở tỷ lệ bổ sung đề xuất, Uniprotein® mang lại những lợi ích vượt xa dinh dưỡng thuần túy, bao gồm tỷ lệ tử vong thấp hơn, giảm tỷ lệ mắc bệnh và cải thiện hiệu suất tăng trưởng,” Hartz nói. “Sản phẩm của chúng tôi có lợi ích kép: nó hoạt động như một nguồn protein chất lượng cao và đồng thời là một thành phần chức năng.”
“Sự kết hợp đó,” Hartz nói thêm, “có nghĩa là Uniprotein ® có khả năng đảm bảo tỷ lệ bổ sung ổn định trong công thức thức ăn chăn nuôi thay vì được luân chuyển ra vào thông qua công thức tiết kiệm chi phí nhất.”
Ví dụ, trong khẩu phần ăn của cá tráp biển và cá hồi, tỷ lệ bổ sung từ 5% đến 10% cho thấy hiệu suất tăng trưởng tương đương hoặc được cải thiện khi thay thế các thành phần protein có nồng độ cao.
Thức ăn cho thú cưng cao cấp, bao gồm cả chế độ ăn không gây dị ứng, cũng đang nổi lên như một danh mục đầy hứa hẹn cho các loại protein mới, cũng như phân khúc lợn con cai sữa, cũng đã cho thấy những lợi ích tích cực về hiệu suất.
Ngoài dinh dưỡng động vật, Unibio cũng đang theo đuổi các cơ hội trong ứng dụng thực phẩm cho người và đang tiến hành các nghiên cứu an toàn để nộp hồ sơ pháp lý trên nhiều thị trường.
Cơ hội thị trường rộng lớn với tiềm năng phát triển
Hartz nhấn mạnh rằng thị trường tiềm năng cho các nguyên liệu protein chất lượng cao đã rất lớn.
“Thị trường tiềm năng cho các nguyên liệu protein chất lượng cao này vào khoảng 8 triệu tấn,” ông nói. “Cơ sở sản xuất giai đoạn một của chúng tôi sẽ sản xuất 50.000 tấn mỗi năm, chỉ là một phần nhỏ so với nhu cầu đó. Điều đó có nghĩa là chúng tôi có thể lựa chọn nơi và đối tượng khách hàng để bán, thay vì phải cạnh tranh giành giật từng phân khúc.”
Theo Hartz, khối lượng sản xuất ban đầu có thể được hấp thụ hoàn toàn bởi thị trường thức ăn cho cá ăn thịt và tôm mà không làm gián đoạn chuỗi cung ứng hiện có.
Các cơ sở có công suất dưới 50.000 tấn mỗi năm thường không tối ưu cả về mặt kinh tế và cơ sở hạ tầng. “Khi mở rộng từ mức cơ
sở đó lên 300.000 tấn, hiệu quả kinh tế sẽ
được cải thiện đáng kể,” ông nói.
Tính bền vững vượt ra ngoài việc giảm
thiểu carbon
Hệ thống sản xuất của Unibio không cần đất canh tác và sử dụng tối thiểu nước ngọt, mang lại cho nó những chứng nhận bền vững mạnh mẽ khi nhu cầu lương thực toàn cầu tăng lên.
Hartz cho biết, những tác động rộng lớn hơn của việc sản xuất
thay thế các nguyên liệu có nguồn gốc từ cây trồng hoặc biển là đất có thể được trả lại cho sản xuất lương thực, nước ngọt được giữ lại trong lòng đất, đa dạng sinh học được bảo tồn và áp lực được giảm bớt đối với các hệ sinh thái biển vốn đã bị quá tải,” ông nói. Hartz cũng lập luận rằng, ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi đang bước vào một giai đoạn mới, trong đó các nguyên liệu thức ăn chất lượng cao, phù hợp cho con người tiêu thụ, sẽ ngày càng được chuyển hướng khỏi thức ăn chăn nuôi. Ông mô tả đây là làn sóng áp lực thứ ba đối với hệ thống lương thực toàn cầu.
“Làn sóng đầu tiên đến vào những năm 1970, khi nhận thức về tác động môi trường của con người bắt đầu gia tăng,” Hartz nói. “Làn sóng thứ hai đến vào những năm 2000 với cuộc tranh luận về lương thực so với nhiên liệu và thức ăn chăn nuôi. Giờ đây, chúng ta đang bước vào làn sóng thứ ba do biến đổi khí hậu, năng suất cây trồng thấp hơn và hệ thống lương thực ngày càng bất ổn.” Theo Hartz, Uniprotein® tránh được nhiều áp lực đó vì nó không phụ thuộc vào đất canh tác và được sản xuất trong một hệ thống công nghiệp khép kín. “Vị thế đó là một lợi thế cấu trúc sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn khi những áp lực này gia tăng,” ông nói.
Ảnh: Getty
Quản lý thức ăn trong ao nuôi tôm thẻ ngoài trời
Xây dựng quy trình cho ăn khoa học,
linh hoạt theo điều kiện thực tế là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả
kinh tế và tính bền vững của mô hình nuôi tôm ngoài trời.
Thức ăn là khoản chi phí biến đổi lớn nhất trong sản xuất tôm, chiếm 50-60% tổng chi phí.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của quản lý thức ăn đến FCR khi thu hoạch còn lớn hơn cả chất lượng thức ăn. Thực tế sản xuất cho thấy, quản lý cho ăn có thể quyết định 65-75% biến động của FCR.
Trong một hệ thống nuôi thành công, quản lý trang trại chiếm khoảng 50-60% vai trò quyết định, chất lượng và xử lý ấu trùng chiếm 20-25%, còn chất lượng thức ăn chiếm 20-25%. Cạnh đó, yếu tố con người, cụ thể là sự tận tâm và tính kỷ luật của đội ngũ kỹ thuật, giữ vai trò
then chốt trong việc đảm bảo các thao
tác được thực hiện chính xác và kịp thời.
Đường cong tăng trưởng và điều chỉnh khẩu phần
Mỗi vùng nuôi cần xây dựng một
đường cong tăng trưởng chuẩn cho tôm, làm cơ sở để theo dõi và điều chỉnh quản lý ao. Tốc độ tăng trưởng hàng ngày của từng ao cần được so sánh với đường cong này. Nếu tăng trưởng nằm trong khoảng ±10% so với chuẩn, điều kiện ao và chế độ cho ăn được xem là phù hợp. Khi tăng trưởng thấp hơn chuẩn, cần kiểm tra chất lượng nước, nền đáy và tình trạng sức khỏe tôm. Nếu các yếu tố này đạt yêu cầu, nên tăng lượng thức ăn. Ngược lại, nếu tăng trưởng vượt chuẩn, có thể điều kiện ao tốt nhưng tỷ lệ sống thấp hơn dự kiến, khi đó nên giảm lượng thức ăn để duy trì FCR hợp lý.
Chi phí và tác động của thức ăn đến
môi trường
Quản lý thức ăn hợp lý giúp kiểm soát chi phí sản xuất và ổn định hiệu quả kinh
tế. Đồng thời, việc giảm dư thừa thức ăn góp phần cải thiện chất lượng nước, hạn chế suy thoái đáy ao và giảm tích tụ chất hữu cơ.
Thức ăn dư thừa là nguyên nhân trực tiếp làm giảm chất lượng nước và gây ô nhiễm đáy ao, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và tăng trưởng của tôm.
Kích cỡ viên thức ăn và đặc điểm bắt mồi của tôm
Kích cỡ viên thức ăn hiện nay chủ yếu do yêu cầu thị trường hơn là nhu cầu sinh học của tôm. Tôm không nuốt nguyên viên mà dùng bộ hàm để cắt và nghiền trước khi ăn. Vì vậy, kích thước viên không phải yếu tố quyết định. Viên nhỏ có lợi thế là số lượng viên/ kg nhiều hơn, giúp phân bố đều hơn. Tuy nhiên, các chất dẫn dụ và vi chất hòa tan dễ bị rửa trôi nhanh hơn, đồng thời dễ thất thoát xuống lớp trầm tích đáy ao.
Thời gian và lượng cho ăn
Trong giai đoạn tôm nhỏ dưới 4g, lượng thức ăn nên được phân bổ theo
diện tích ao hơn là theo sinh khối. Giai đoạn đầu có thể áp dụng chương trình cho ăn “mù” cho đến khi tôm đạt khoảng 3,5g và bắt đầu xuất hiện trên sàng ăn.
Việc xác định khẩu phần cần linh hoạt, dựa trên quan sát thực tế thay vì chỉ phụ thuộc vào bảng cho ăn cố định.
Theo dõi tiêu thụ thức ăn bằng sàng ăn
Sàng ăn là phương pháp phổ biến để theo dõi lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày. Hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc lớn vào kinh nghiệm của kỹ thuật viên thông qua đánh giá nhiều yếu tố như lượng thức ăn còn lại, kích cỡ tôm, sinh khối ước tính, thời tiết và chất lượng nước.
Sàng ăn thường có dạng vuông hoặc tròn, thành cao khoảng 10 cm để giữ tôm khi nâng lên. Sàng được đặt cách đáy 30-50 cm và bố trí dọc theo lối đi trong ao. Mỗi ao 0,5 ha cần tối thiểu 4 sàng, ao lớn hơn cần tăng số lượng tương ứng.
Việc ước tính sinh khối dựa trên kích cỡ tôm, mật độ thả và tỷ lệ sống, tuy nhiên các thông số này thường khó xác định chính xác. Do đó, nên sử dụng trung bình lượng thức ăn tiêu thụ trong 3 ngày gần nhất để giảm sai số.
Điều chỉnh lượng cho ăn và ước tính sinh khối
Mức tiêu thụ thức ăn trên sàng là cơ sở
để điều chỉnh khẩu phần. Thông thường, lượng thức ăn có thể điều chỉnh tăng 5% hoặc giảm 10% tùy theo mức độ ăn.
Theo nguyên tắc, ít nhất 75% số sàng phải được đánh giá để quyết định điều chỉnh. Ví dụ, nếu phần lớn sàng không còn thức ăn, có thể tăng khẩu phần; nếu còn nhiều thức ăn dư, cần giảm lượng cho ăn.
Phần lớn thức ăn được tiêu thụ trong hai tháng cuối vụ nuôi, do đó giai đoạn này đòi hỏi quản lý chặt chẽ hơn.
Nguyên tắc cho ăn hiệu quả
Bảng cho ăn chỉ mang tính hướng dẫn. Trong thực tế, lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày có thể dao động 5-20%
do ảnh hưởng của nhiệt độ, ôxy hòa tan, chất lượng đáy ao và sức khỏe tôm.
Cho ăn nhiều lần với lượng nhỏ sẽ hiệu quả hơn so với ít lần nhưng lượng lớn.
Cách này giúp tôm ăn nhiều hơn, tăng
trưởng nhanh hơn và cải thiện FCR, đồng thời duy trì chất lượng nước ổn định. Tuy nhiên, mỗi lần cho ăn nên đảm bảo tối thiểu 5 kg để đạt hiệu quả phân phối.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng, FCR và môi trường
Việc tăng khẩu phần để thúc đẩy tăng trưởng có thể làm FCR tăng. Ví dụ, tăng trưởng thêm 10% có thể làm FCR tăng 0,2-0,3 điểm. Đồng thời, lượng thức ăn tăng sẽ tạo áp lực lớn hơn lên môi
trường ao.
Để đạt FCR thấp nhất, nên cho ăn
dưới mức no hoàn toàn. Tôm có thể tự
tìm thức ăn tự nhiên trong ao, nhưng nếu xuất hiện nhiều trầm tích lơ lửng, cần tăng khẩu phần.
Ảnh hưởng của chất lượng nước và
ôxy hòa tan
Chất lượng nước và đáy ao ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và
FCR. Cho ăn quá mức là nguyên nhân chính làm suy giảm môi trường. Khi điều kiện ao xấu, cần giảm lượng thức ăn và thay nước.
Ôxy hòa tan thấp và nhiệt độ thấp làm
giảm nhu cầu ăn của tôm. Khi các chỉ tiêu này không đạt tối ưu, cần giảm khẩu phần, đặc biệt vào buổi sáng khi ôxy thường thấp.
Nhiệt độ và sinh lý của tôm
Tôm là động vật biến nhiệt, nên tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường. Mỗi 1°C chênh lệch có thể làm thay đổi 8-10% tốc độ tăng trưởng.
Thông thường, tôm ăn ít vào buổi sáng và nhiều hơn vào buổi chiều. Tuy nhiên, biến động thời tiết khiến việc ước tính chính xác lượng ăn tại từng thời điểm trở nên khó khăn.
Ảnh hưởng của chọn giống và quản lý môi trường Tôm giống cải tiến di truyền có tốc độ tăng
sinh lý lớn hơn. Do đó, môi trường nuôi cần ổn định, đặc biệt là các chỉ tiêu ôxy hòa tan, pH, độ mặn và độ trong. Trong đó, ôxy hòa tan là yếu tố quan trọng nhất và cần duy trì ở mức tối thiểu 6,0 ppm. Sục khí không chỉ cung cấp ôxy mà còn giúp trộn đều các lớp nước, giảm chênh lệch nhiệt độ giữa đáy và mặt ao, từ đó cải thiện hiệu suất tăng trưởng. Quản lý cho ăn trong điều kiện biến động
Trong điều kiện thời tiết và môi trường biến động, không có mức nhu cầu dinh dưỡng cố định cho tôm. Khi bị stress, nên giảm 50% lượng thức ăn hoặc ngừng cho ăn 2-4 ngày để tôm tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và làm sạch đáy ao. Khi thay đổi kích cỡ thức ăn, cần có giai đoạn chuyển tiếp 2-3 ngày với tỷ lệ trộn 50:50 để tránh giảm lượng ăn.
Tập tính ăn và phân bố thức ăn trong ao
Tôm hoạt động mạnh về đêm và có thể tiêu thụ 50-60% lượng thức ăn vào ban đêm. Tuy nhiên, ban đêm thường có nhiệt độ và ôxy thấp, làm phức tạp hành vi ăn. Cần tránh cho ăn ở trung tâm ao, nơi tích tụ bùn và khí độc như H2 S. Khi lớp bề mặt bị xáo trộn, khí độc có thể phát tán gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tôm. Quản lý thức ăn trong nuôi tôm thẻ chân trắng là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp giữa kỹ thuật, kinh nghiệm và quan sát thực tế. Việc kiểm soát chặt chẽ khẩu phần không chỉ giúp giảm chi phí mà còn cải thiện môi trường ao nuôi, nâng cao tốc độ tăng trưởng và tối ưu FCR. Trong bối cảnh điều kiện nuôi ngoài trời luôn biến động, tính linh hoạt và khả năng điều chỉnh kịp thời chính là chìa khóa để đạt
hiệu quả sản xuất bền vững.
Dũng Nguyên
Tại sao chất lượng
đậu nành đang
Chất lượng đậu nành đang trở thành yếu tố quyết
định hiệu quả và chi phí sản xuất thức ăn thủy sản.
Tại Hội nghị Thức ăn Thủy sản Indonesia 2026, các
chuyên gia cho rằng khả năng tiêu hóa dinh dưỡng,
tác động của hư hại do nhiệt và công nghệ đánh giá
nguyên liệu sẽ ngày càng ảnh hưởng đến công thức
thức ăn và chiến lược nguồn cung của ngành.
Các diễn giả tại Hội nghị Thức ăn Thủy sản Indonesia 2026 vào ngày 7 tháng 5 vừa qua đã thảo luận về việc chất lượng đậu nành, khả năng tiêu hóa đang ngày càng trở nên quan trọng trong việc xây dựng công thức và quyết định nguồn cung ứng thức ăn thủy sản. Tương lai của ngành nuôi trồng thủy sản có thể phụ thuộc không chỉ vào nguồn cung
cấp thức ăn; mà còn phụ thuộc vào chất lượng của từng hạt đậu nành tham gia vào chuỗi cung
ứng thức ăn.
Chi phí ẩn trong chất lượng
đậu nành
Dominique Bureau, giáo sư
tại Đại học Guelph kiêm giám
đốc khoa học tại Wittaya Aqua
International, giải thích rằng
nhiều nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn đánh giá bột đậu nành
bằng các thông số cơ bản như
protein thô, hàm lượng ẩm và
hình thức bên ngoài. Tuy nhiên, những chỉ số này thường không
thể hiện được chất lượng dinh
dưỡng thực sự của sản phẩm.
Theo ông, giá trị thực sự của bột đậu nành nằm ở khả năng tiêu
hóa chất dinh dưỡng và khả năng
hấp thụ axit amin, những yếu tố
bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cách
trồng, thu hoạch, bảo quản, vận chuyển và chế biến đậu nành.
Ông Bureau nói trong bài thuyết trình của mình. “Bạn nhận được bột đậu nành, bạn phân tích nó trong phòng thí nghiệm, nhưng bạn không biết điều gì đã xảy ra với hạt đậu nành trước khi chế biến.”
Để minh họa vấn đề này, ông Bureau đã chia sẻ những quan sát từ các lô hàng đậu nành có nguồn gốc từ các quốc gia khác nhau. Trong các thử nghiệm so sánh được tiến hành tại Việt Nam, đậu nành của Mỹ nhìn chung có kích thước lớn hơn, sạch hơn, sáng hơn và ít bị hư hại hơn so với đậu nành có nguồn gốc từ Brazil, thường có màu sẫm hơn, vẻ ngoài teo tóp, hạt bị vỡ và nhiều tạp chất hơn. Ông nhấn mạnh, sự khác biệt không chỉ đơn thuần là về hình thức bên ngoài. Nghiên cứu được thực hiện với đậu nành từ Mỹ, Brazil và Argentina cho thấy sự khác biệt
đáng kể về khả năng tiêu hóa protein sau khi đậu nành được chế biến trong điều kiện giống hệt nhau. Đậu nành có nguồn gốc từ Mỹ đạt mức độ tiêu hóa protein khoảng 91%, trong khi đậu nành Brazil đạt trung bình gần 85%, còn đậu nành Argentina nằm ở giữa. Những khác biệt về khả năng tiêu hóa đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của vật nuôi. Cá và tôm được cho ăn khẩu phần chứa đậu nành chất lượng cao hơn cho thấy hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn và tốc độ tăng trưởng mạnh hơn so với vật nuôi được cho ăn khẩu phần sử dụng bột đậu nành bị hư hại do nhiệt. Cục Thống kê cho rằng, phần lớn vấn đề hư hỏng bắt nguồn từ điều kiện xử lý sau thu hoạch, đặc biệt là trong ngành đậu nành đang phát triển nhanh chóng của Brazil. Cụ thể, nông dân Brazil thường thu hoạch đậu nành sớm để trồng vụ ngô thứ hai, được gọi là safrinha, khiến đậu không đủ thời gian khô tự nhiên trên đồng ruộng. Đồng
thời, mùa thu hoạch đậu nành ở nhiều vùng của Brazil trùng với
mùa mưa lớn, buộc nông dân phải vận chuyển đậu nành với
độ ẩm vẫn còn quá cao để bảo quản và vận chuyển an toàn.
“Khi đậu nành quá ẩm, các phản ứng sinh học và hóa học bắt
đầu,” Cục Thống kê giải thích. “Nấm, vi khuẩn, sự nảy mầm, quá trình oxy hóa, tất cả các quá trình này đều tạo ra nhiệt.”
Bên trong các silo hoặc trong
quá trình vận chuyển đường dài, hiện tượng sinh nhiệt cục bộ có thể tăng nhanh, gây ra hiện
tượng mà ngành công nghiệp gọi
là “tổn hại nhiệt”. Trong những
trường hợp nghiêm trọng, nhiệt
độ nội tại tích tụ có thể tăng cao
đến mức gây ra hiện tượng tự bốc
cháy một phần khối đậu nành.
Cục Thống kê cũng chỉ ra hệ
thống sấy khô cũng là một yếu
dưỡng. Xử lý nhiệt quá mức trong quá trình chế biến bột đậu nành cũng có thể làm hỏng protein, mặc dù một lượng nhiệt nhất định là cần thiết để vô hiệu hóa các hợp chất kháng dinh dưỡng như chất ức chế trypsin.
“Chỉ có một khoảng nhiệt độ xử lý rất hẹp,” Bureau nói. “Bạn cần đủ nhiệt để phá hủy các yếu tố kháng dinh dưỡng, nhưng quá nhiều nhiệt sẽ nhanh chóng làm giảm khả năng tiêu hóa.” Nhóm của ông đã mô phỏng tác động kinh tế của bột đậu nành bị hư hại do nhiệt trong công thức thức ăn cho tôm và cá rô phi. Ngay cả hư hại ở mức độ vừa phải cũng có thể làm tăng chi phí thức ăn lên hàng chục đô la mỗi tấn, trong khi hư hại nghiêm trọng do nhiệt có thể khiến việc sản xuất thức ăn trở nên không bền vững về mặt kinh tế.
tố quan trọng. Ở nhiều vùng, đậu
nành được sấy khô bằng hệ thống
đốt củi sử dụng gỗ bạch đàn. Mặc dù tiết kiệm chi phí, các hệ thống
này có thể khiến đậu nành tiếp
xúc với nhiệt độ quá cao, không
được kiểm soát tốt, đôi khi vượt
xa phạm vi sấy lý tưởng. Hậu quả
không chỉ dừng lại ở vẻ bề ngoài.
Tổn thương do nhiệt làm thay
đổi cấu trúc axit amin và làm giảm khả năng hấp thụ chất dinh
Thiếu các phương pháp đánh giá chuẩn xác Đối với các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi, thách thức càng trở nên phức tạp hơn do thiếu các phương pháp đánh giá đáng tin cậy. Ông Bureau lập luận rằng, các chỉ số chất lượng truyền thống như độ hòa tan KOH và hoạt động urease thường không đủ để dự đoán chính xác mức độ axit amin dễ tiêu hóa. Các giải pháp trong tương lai có thể dựa vào quang phổ cận hồng ngoại (NIRS) tiên tiến kết hợp với các hệ thống học máy có khả năng nhanh chóng xác định chất lượng bột đậu nành và dự đoán khả năng tiêu hóa chính xác hơn. “Chúng ta cần sự hợp tác nhiều hơn giữa các nhà sản xuất đậu nành, nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi, nhà nghiên cứu và nhà cung cấp công nghệ,” ông nói. “Tương lai đầy hứa hẹn, nhưng ngành công nghiệp cần những công cụ tốt hơn”.
Hoàng Dương
“Vũ khí bí mật” mang lại
tiền tỷ cho
chủ trại tôm
Trong những tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất
khẩu tôm đạt khoảng 1,9 tỷ USD, cho thấy nhu cầu
tiêu thụ trên thị trường quốc tế, đặc biệt tại khu vực
châu Á, vẫn duy trì ở mức cao và sẽ tiếp tục tăng.
Đây là tiềm năng lớn cho các trại tôm phát triển và
thu được lợi nhuận cao trong tương lai.
Tuy nhiên, bên cạnh cơ
hội phát triển, ngành tôm đang đối mặt với
nhiều thách thức như chi phí sản xuất còn cao, yêu cầu chất lượng khắt khe, biến động môi trường nước và bùng phát dịch bệnh, đặc biệt trong thời điểm giao mùa.
Trước thực tế đó, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý môi trường ao nuôi đang trở thành xu hướng tất yếu. Công ty TNHH
B.H.N đã phát triển dòng Máy tạo siêu bọt khí NanoBubbles
NN22-250 công suất lên đến 250 m³/giờ (1.100 GPM), vận hành tự động và cấp khí trực tiếp không cần sử dụng máy nén khí. Qua quá trình nghiên cứu và thực tế vận hành, loại máy này sẽ luôn duy trì mức hàm lượng ôxy hòa tan (DO) 8 ppm trên toàn bộ ao nuôi - là mức tối ưu để nuôi tôm mặc dù chúng tôi có thể nâng
DO lên mức rất cao.
Công nghệ NanoBubbles tạo ra hàng tỷ bọt khí siêu nhỏ tồn tại lâu trong nước, giúp tăng hiệu quả hòa tan ôxy và luôn duy trì hàm lượng ổn định từ bề mặt đến tầng
đáy ao. Công nghệ này giúp thúc
đẩy quá trình phân hủy chất hữu
cơ, cải thiện nước, và tạo điều kiện
cho vi sinh vật có lợi phát triển xử lý khu vực tích tụ bùn và phát sinh
khí độc như NH3 và H2S.
Công nghệ này mang lại lợi
ích đáng kể không chỉ trong việc giải quyết các vấn đề vệ sinh, làm sạch và khử trùng trang trại nuôi thủy sản mà còn cả các
vấn đề khác như EMS, EHP và WSSV. Chúng tôi sử dụng máy
tạo bong bóng nano kết hợp với
ozone cung cấp khả năng khử
trùng và diệt khuẩn mà không
phát sinh thêm chi phí, đồng thời loại bỏ vi khuẩn Vibrio sinh sôi nảy nở trong quá trình nuôi trồng
thủy sản và ngăn ngừa vi khuẩn
nhân lên trong màng sinh học.
Tất nhiên, nếu cùng kết hợp sử
dụng các vi sinh vật và khoáng
chất phức hợp thì không chỉ tỷ lệ
tử vong sẽ giảm mà có thể tạo ra
những con non khỏe mạnh cho
đến khi được thu hoạch.
Đối với người nuôi tôm, môi
trường giàu ôxy giúp tôm tăng
khả năng bắt mồi, nâng cao
tốc độ tăng trưởng và cải thiện
sức đề kháng. Điều này không
chỉ giúp giảm tỷ lệ hao hụt mà
còn nâng cao năng suất và chất
lượng thu hoạch – những yếu tố quyết định hiệu quả kinh tế của mỗi vụ nuôi.
Trong bối cảnh ngành tôm hướng tới sản xuất bền vững, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và truy xuất nguồn gốc, việc đầu tư vào các
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N
công nghệ quản lý môi trường tiên tiến như NanoBubbles sẽ giúp các trang trại nâng cao năng lực cạnh tranh, tối ưu chi phí sản xuất và tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
B.H.N
Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM
Số điện thoại: 028.668.101.95/96
Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com
Bệnh do Streptococcus spp gây ra trên cá rô phi, cá
Trong những năm gần đây, cá rô phi, cá điêu hồng được nuôi rộng rãi ở các tỉnh miền Đông và miền
Tây Nam bộ. Trong đó mô hình nuôi
lồng bè phát triển mạnh nhất, hàng năm cung cấp cho TP. HCM và các
tỉnh một sản lượng cá rất lớn. Tuy nhiên sự phát triển của nghề nuôi cá trong thời gian gần đây phải đối
mặt với nhiều rủi ro, trong đó dịch
bệnh do Streptococcus spp gây ra, khá phổ biến.
Nhiều công trình nghiên cứu về dịch
bệnh xảy ra trên cá đã cho thấy vi khuẩn Streptococcus spp là một trong những nguyên nhân gây bệnh, làm thiệt hại lớn cho người nuôi cá rô phi và điêu hồng ở Việt Nam (Đặng thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương, 2012; Trần xuân Hạnh, và các cộng sự, 2013).
Tác nhân và biểu hiện bệnh:
Tác nhân chính của bệnh này là do vi khuẩn Streptococcus spp gây ra. Các biểu hiện: Khi cá bị nhiễm vi khuẩn Streptococcus spp thường thấy có một số biểu hiện bên ngoài như cơ thể sậm màu, một bên hoặc hai bên mắt bị lồi và đục, xuất huyết ở các vây và xương nắp mang. Cá bị bệnh vận động khó khăn, bơi không có định hướng. Não, thận và tỳ tạng là những cơ quan bị tổn thương nhiều nhất và đây là lý do gây chết cá.
Phòng trị bệnh:
Phòng bệnh:
Chọn cá giống khỏe mạnh và đồng đều về kích cỡ để thả nuôi
điêu hồng
Thả mật độ vừa phải, phù hợp với mức độ đầu tư của ao hoặc bè
Cá giống trước khi thả nuôi nên tắm nước muối 5% trong 5 - 10 phút hoặc tắm BIOOXYTETRA FOR AQUACULTURE liều 5ppm (5g/1m3 nước) ngâm trong 5 - 10 phút, để loại bỏ mầm bệnh.
Trong quá trình nuôi: Cho ăn vừa phải, tránh dư thừa thức ăn và thường xuyên bổ sung BIO NUTRI-FISH (chất dinh dưỡng) trong khẩu phần ăn để nâng sức kháng bệnh cho cá.
Hạn chế cá bị stress: Kiểm soát môi trường ao nuôi hợp lý, hạn chế ô nhiễm, hạn chế biến động lớn các thông số môi trường nước nhất là pH và nhiệt độ. Nếu nhiệt độ tăng cao là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh phát triển mạnh.
Định kỳ 1 tháng 1 lần diệt khuẩn nguồn nước nuôi cá bằng BIO-IODINE COMPLEX FOR FISH, giúp hạn chế vi khuẩn gây bệnh phát triển.
Trị bệnh: Dùng kháng sinh đặc trị BIO-OXYTETRA FOR AQUACULTURE với liều 2g/kg thức ăn. Cho ăn trong 5 - 7 ngày. Hoặc dùng kháng sinh
BIO-AMOXICILLIN 50% FOR AQUACULTURE
cũng cho kết quả rất tốt. - Liều 2g/kg thức ăn - Cho ăn trong 5 - 7 ngày Sau thời gian điều trị bằng kháng sinh nên trộn men tiêu hóa BIO-VIZYME NEW FOR FISH hoặc BIOZYME FOR FISH cho cá ăn liên tục 1 tuần để phục hồi hệ vi khuẩn có lợi trong đường ruột, giúp cá tiêu hóa và hấp thụ thức ăn tốt, nhờ vậy cá đồng đều và mau lớn.
Đặng Hồng Đức Cố vấn kỹ thuật thủy sản
Công ty Bio Pharmachemie
Sự kết hợp giữa enzyme và vi sinh
trong xử lý nhớt bạt
PROCOZOLL
Một dạng tổng hợp của 5 loại enzyme: Protease, Amylase, Cellulase, Lipase, Urease, giúp khống chế tảo độc và bùn bã hữu cơ
Nuôi tôm ao trải bạt là phương thức
đang được nhiều người nuôi lựa chọn. Màng bạt phủ khi lót sẽ ngăn chặn được xự xâm nhập của ô nhiễm hữu cơ, phèn, vi khuẩn dưới lớp bùn đáy ao…, từ đó duy trì được chất lượng nước tốt. Việc trải bạt sẽ giúp đáy ao sach, lượng thức ăn dư thừa sẽ không bị lẫn vào lớp bùn đáy nên sẽ tăng khả năng chuyển đổi thức ăn, tăng khả năng ăn ở đáy của tôm. Tuy nhiên, hiện tượng nhớt bạt hay xảy ra lại khiến người nuôi rất vất vả.
Nguyên nhân
- Thức ăn dư thừa quá nhiều và chất thải tôm lắng xuống đáy làm cho lớp bùn bã đáy ao ngày càng nhiều.
- Nguồn nước cấp bị ô nhiễm hữu cơ.
- Nước ao nuôi quá trong, ánh sáng xuyên xuống đáy ao làm cho tảo, rong nhớt phát triển.
- Nước bị nhiễm phèn, kim loại nặng lắng tụ xuống làm xuất hiện nhớt đáy.
- Sụp floc (hạt floc chết) kết hợp với vi khuẩn yếm khí sẽ hình thành nhớt bạt.
Tác hại
- Khi xảy ra hiện tượng nhớt bạt, tôm sẽ rất khó nuôi, tăng chi phí và giảm hiệu quả kinh tế.
- Nhớt bạt đáy là nơi cư trú của vi khuẩn, nấm và các động vật nguyên sinh.
- Là tác nhân gây bệnh đường ruột và gan cho tôm nuôi.
- Cạnh tranh dinh dưỡng và hạn chế sự phát triển của tảo.
- Xác rong nhớt khi phân hủy sẽ sinh ra khi độc.
- Thức ăn lẫn trong nhớt sẽ làm giảm khả năng bắt mồi của tôm.
Cách xử lý
- Chà bạt thủ công,sử dụng HCl vệ sinh bạt sau khi thu hoạch, biện pháp này rất tốn công và chi phí.
- Quản lý chặt chẽ việc cho ăn, giảm lượng thức ăn dư thừa là nguồn dinh dưỡng cho rong nhớt phát triển.
- Duy trì mực nước thích hợp, gây màu nước, tạo độ trong ổn đinh 30-40cm để tránh ánh sáng xuống đáy ao.
- Sử dụng chế phẩm sinh học:
Chế phẩm Enzyme: Protease, Amylase, Cellulase…, phân hủy tảo, chất hữu cơ dư thừa.
Chế phẩm vi sinh: chủng vi khuẩn có lợi Bacillus spp. có khả năng phân hủy chất hữu cơ dư thừa, tiết enzyme để cắt tảo.
Bacillus amyloliquefaciens
Đề xuất giải pháp
Bên cạnh các biện pháp thông thường, Công ty THÁI NAM VIỆT đã nghiên cứu và phát triển biện pháp kết hợp Enzyme và vi sinh để xử lý nhớt bạt, đem lại hiệu quả nhanh chóng, an toàn nhưng lại ít tốn chi phí và nhân công. Chỉ cần đánh 1-2 nhịp kết hợp “Enzyme-Vi sinh-Enzyme” sẽ xử lý sạch nhớt bạt trong 12-24h, giảm thiểu công sức và chi phí chà bạt. Ngoài ra, việc sử dụng định kỳ “Enzyme-Vi sinh-Enzyme” có thể hạn chế nhớt bạt, duy trì chất lượng nước tốt, giúp cho động vật thủy sản phát triển khỏe mạnh. Thái Nam Việt
Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, P. Tăng Nhơn Phú, TP. Hồ Chí Minh
ĐT: 091 686 5938 - 0853895939
Email: info@thainamviet.com
Website: thainamviet.com
phá tốc độ lớn
Trong ngành tôm, tốc độ tăng trưởng luôn là một trong những yếu tố được người nuôi đặc biệt quan tâm. Một đàn tôm lớn nhanh, phát triển đồng đều không chỉ giúp tối ưu hiệu quả sản xuất mà còn tạo tiền đề để chinh phục các kích cỡ thương phẩm giá trị cao. Thực tế tại nhiều vùng nuôi cho thấy các dòng tôm giống thế hệ mới của C.P. Việt Nam đang ghi dấu ấn bằng khả năng tăng trưởng ấn tượng, liên tục mang đến những kết quả nổi bật cho người nuôi.
Nguồn gen chọn lọc cho mục tiêu chinh
phục kích cỡ lớn
Đằng sau những kết quả tăng trưởng ấn
tượng là nền tảng di truyền được đầu tư và chọn lọc bài bản. Các dòng tôm giống CPF
TURBO G21, CPF TURBO FRESH và CPF
SUPER MONODON của C.P. Việt Nam được
phát triển từ nguồn tôm bố mẹ chọn lọc tại
Trung tâm Nghiên cứu Tôm Bố Mẹ C.P. Thái
Lan. Với định hướng phát triển tập trung vào khả năng tăng trưởng, sức khỏe và sự thích nghi với điều kiện nuôi thực tế, các dòng tôm giống này đáp ứng tốt nhu cầu nuôi tôm kích cỡ lớn đang ngày càng phổ biến hiện nay.
Chinh phục kích cỡ lớn
Thành công của một vụ nuôi không chỉ được đánh giá qua sản lượng mà còn thể hiện ở khả năng đưa tôm về những kích cỡ thương phẩm có giá trị cao. Thời gian qua, nhiều hộ nuôi sử dụng tôm giống C.P. Việt Nam đã ghi nhận những kết quả nổi bật về kích cỡ, tạo nên những dấu ấn đáng chú ý tại các vùng nuôi trọng điểm. Những thành tích này cho thấy hiệu quả của việc đầu tư vào con giống ngay từ đầu vụ, đồng thời phản ánh xu hướng ngày càng nhiều người nuôi hướng đến các đối tượng tôm có kích cỡ lớn nhằm nâng cao giá trị kinh tế và gia tăng lợi nhuận sau thu hoạch.
Đồng hành cùng người nuôi Từ những kết quả thực tế đã được ghi nhận, các dòng tôm giống C.P. Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là lựa chọn đáng tin cậy của nhiều người nuôi trên cả nước. Không ngừng cải tiến chất lượng và đồng hành cùng người nuôi, C.P. Việt Nam hướng đến mục tiêu mang lại những vụ nuôi thành công hơn, hiệu quả hơn và từng bước chinh phục những kích cỡ thương phẩm vượt trội.
C.P. Việt Nam
Nông nghiệp tích hợp
và bền vững ở Malaysia
Tại YHL Desaru, tinh thần khởi nghiệp tập trung vào việc sử dụng công nghệ sinh học và các đổi mới để xây dựng một mô hình kinh doanh nuôi tôm bền vững.
Từ hàu đến tôm thẻ chân trắng
Ông Low Yuan Heng, người sáng lập kiêm
Giám đốc điều hành của YHL, đến với nghề nuôi
tôm một cách tình cờ. Tốt nghiệp ngành khoa học thực phẩm tại Đại học Putra Malaysia, ông
Low đã có một doanh nghiệp kinh doanh phụ gia thực phẩm ổn định trước khi được khuyến
khích bắt đầu nuôi hàu vào năm 2010.
Vấn đề ông gặp phải khi khởi nghiệp nuôi hàu, là hàu cần được nuôi cấy trong tám tháng mới đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, trong khi dòng tiền dự kiến chỉ thu được sau ba năm. Để giải quyết khó khăn này, ông Low đã cân
nhắc việc nuôi tích hợp thêm loài thủy sản khác và bước vào nghề nuôi tôm như một dự án bổ trợ cho việc nuôi hàu. Khi muốn công ty lớn mạnh hơn, ông Low nhận định rằng cần duy trì được sự ổn định trong sản xuất thay vì chạy theo việc tăng sản lượng thông qua tăng mật độ nuôi.
Trước khi bắt đầu dự án, ông Low đã nghiên cứu các chính sách nuôi trồng bền vững, tham khảo công trình của Tiến sĩ Sarah J. Foster, một nhà khoa học bảo tồn biển, người đã cung cấp các hướng dẫn dựa trên khoa học cho nuôi trồng bền vững.
Ông Low áp dụng khẩu hiệu của mình, “Cứu lấy đại dương bắt đầu từ tôi”, khi thiết kế cơ sở hạ tầng và phát triển hoạt động nuôi tôm mật độ cao. Các ao nuôi đều được sục khí, nuôi cùng lúc hàu, động vật thân mềm hai mảnh vỏ và thực vật thủy sinh để lọc các chất hữu cơ. Toàn bộ nước thải được dẫn vào các ao chứa bùn và tràn liên tục vào sáu ao lắng. “Chúng tôi thả cá măng và cá rô phi để làm sạch nước và bổ sung lợi khuẩn. “
Dự án này được gọi là IMTA, với mục tiêu giải quyết vấn đề ô nhiễm trong nuôi trồng thủy sản, giảm ô nhiễm dinh dưỡng và hiện tượng phú dưỡng, đồng thời tái chế chất thải thành sinh khối có thể sử dụng được.
Tập đoàn Phát triển Kinh tế Sinh học Malaysia (Bioeconomy Corporation), trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Đổi mới (MOSTI), đã cấp chứng nhận BioNexus và công nhận là công ty thúc đẩy phát triển dựa trên sinh học (Bio-based Accelerator - BBA) cho công ty con Tropical Oyster của YHL và YHL Aquatics. Dự án này đã liên tục hỗ trợ YHL trong quá trình chuyển đổi và phát triển của họ.
Mở rộng và đổi mới
Việc xây dựng ao nuôi tôm bắt đầu vào năm 2017, bên cạnh cơ sở ươm giống hàu hiện có. Hệ thống lấy nước biển sâu 6 m và cách bờ
800 m, được YHL mua lại khi tiếp quản khu
đất trước đây dành cho trại giống cá.
Trong giai đoạn đầu tiên trên diện tích 10 mẫu Anh (4 ha), diện tích ao là 0,1 ha; trong giai đoạn thứ hai và thứ ba, diện tích ao tăng lên 0,25 ha, và trong giai đoạn 4, hiện đang được tiến hành, ao có diện tích 0,4 ha với độ sâu 1,5-1,8 m. Hiện nay, trang trại của YHL ở Desaru có tổng cộng 67 ao nuôi với cửa xả trung tâm. Việc lót ao và bờ bằng bạt HPDE dày 1 mm là cần thiết đối với khu vực có nền đất cát, nhằm hạn chế thất thoát nước và nâng cao hiệu quả.
Mỗi giai đoạn sử dụng hệ thống lọc và bể chứa riêng. Trong giai đoạn một, mật độ thả giống là 200 con/m2 nhưng giảm dần ở các giai đoạn sau. Mật độ nuôi đạt 150 PL/m2 đối với ao nuôi trong các giai đoạn sau. Năm 2024, trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng của ông Low đạt sản lượng 945 tấn, với mục tiêu cho năm 2025 là 1.500 tấn. Ông cho biết, “Mỗi chu kỳ bao gồm năm lần thu hoạch một phần để đảm bảo nguồn cung
4-5 tấn mỗi ngày cho Kuala Lumpur, Johor Baru và Singapore. Người mua đánh giá cao việc giao hàng đều đặn hằng ngày. Vào tháng 10, giá bán tại trang trại là 19,50 MYR/ kg (4,71 USD) cho tôm cỡ 70/kg và 29,50 MYR/kg (7,13 USD) cho tôm cỡ 30/kg. Giá thấp nhất cho tôm cỡ 70/kg trong năm 2025 là 15 MYR/kg. Khách hàng tìm mua tôm có kích thước 90-30 con/kg. Kích thước 25 con/ kg là kích thước lớn nhất mà họ chấp nhận. Tôi tự hào về màu sắc của tôm nhà mình, đạt điểm 24 trên thang điểm khi đã nấu chín, phản ánh đặc điểm di truyền của chúng tôi. Chi phí sản xuất của chúng tôi vào khoảng 19,50 MYR (4,71 USD) và giá bán trung bình là 24,50 MYR (5,92 USD)”.
Đổi mới giai đoạn ương giống
“Năm 2020, sau khi hoàn thành giai đoạn thứ hai, chúng tôi phải đối mặt với một đợt bùng phát nghiêm trọng bệnh do vi bào tử trùng (EHP). Chúng tôi may mắn vì đã đưa giai đoạn ương giống vào quy trình nuôi trồng. Đó là mô hình 1:1, một ao ương giống 150m3 cho một ao nuôi thương phẩm 0,1ha.
Chúng tôi thả giống với mật độ 1.000 con/ m2 trong ao ương. Với mật độ cao như vậy, tôi đã có thể phát hiện sự hiện diện của EHP ngay trong giai đoạn ương giống. Trong khi đó, nếu thả trực tiếp vào ao nuôi thương phẩm, các dấu hiệu nhiễm bệnh thường chỉ biểu hiện rõ sau khoảng 40 ngày nuôi.”
Ông Low nói thêm, “Chính vào thời điểm này, tôi đã tìm kiếm các giải pháp di truyền
thay thế. Tại Phang-Nga, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Kỹ thuật Di truyền và Công nghệ Sinh học Quốc gia Thái Lan (BIOTEC) đã sử dụng di truyền học phân tử ở tôm để điều chỉnh các đặc điểm của tôm cho nuôi trồng thủy sản. Cùng nhau, chúng tôi đã thành lập công ty con YHLF Biotech (Thái Lan) và thiết lập một trung tâm nghiên cứu quốc gia.”
Chu kỳ nuôi bắt đầu với giống PL10 từ trại giống riêng của ông ở Mersing. Chu kỳ ương giống kéo dài 21-28 ngày, và thời gian nuôi thương phẩm là 75-84 ngày. Ông Low cho biết tỷ lệ sống sót khi thu hoạch dao động quanh mức 80%. “Chúng tôi quản lý tốt nhờ các quy trình vận hành hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng trung bình hằng ngày của chúng tôi là 0,4g-0,5g, điều mà tôi cho là nhờ sử dụng tôm giống thẻ chân trắng dòng YHL-PHI TIK từ đàn tôm bố mẹ có tốc độ tăng trưởng nhanh, sức sống mạnh mẽ và khả năng kháng bệnh EHP được phát triển tại YHLF Biotech qua 49 thế hệ kể từ năm 2018.” Ông Low giải thích, “Tôm giống được chuyển đến ao nuôi thương phẩm bằng đường ống và bể chứa, toàn bộ quá trình mất khoảng bốn giờ. Tỷ lệ hao hụt trong quá trình này được duy trì ở mức 1–2%. Các ao ương được bố trí rải đều trong khu nuôi. Trước khi chuyển ao và thu hoạch, tôm được bổ sung khoáng chất và astaxanthin nhằm giảm căng thẳng và nâng cao khả năng thích nghi với các thay đổi của môi trường nuôi. Trang trại có 60 nhân viên vận hành ao nuôi, với cấu trúc quản lý ao nuôi theo thứ bậc thông thường, trong đó quản lý trang trại giám sát các giám sát viên ao nuôi. “Chúng tôi tuyển dụng kỹ thuật viên từ Sabah và Sarawak, cụ thể là sinh viên tốt nghiệp từ trường Cao đẳng Bách khoa Sandakan ở Sabah. Chúng tôi sử dụng máy cho ăn tự động, nhưng tôi nhận thấy tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) có thể dao động từ 1,2 đến 1,3 nhưng có thể lên đến 1,7-1,8 tùy thuộc vào trình độ kỹ thuật viên”.
Quảng Ngãi
Cá chình dễ nuôi, ít bệnh, phù hợp với điều kiện ao nuôi tại địa phương Ảnh: VT
Không đi theo lối mòn sản xuất quen thuộc, ông Trần Văn Đoàn rời quê
Cà Mau vào Quảng Ngãi lập nghiệp
- đã chọn cá chình làm hướng phát triển chính. Từ những thử nghiệm ban đầu đầy rủi ro, mô hình này nay không chỉ mang lại thu nhập ổn định mà còn tạo sức lan tỏa trong cộng đồng.
Doanh thu tiền tỷ
Hiện mỗi năm, gia đình ông Đoàn cung ứng ra thị trường gần 3 tấn cá chình thương phẩm, với doanh thu vượt mốc 1 tỷ đồng. Nguồn tiêu thụ chủ yếu đến từ TP Hồ Chí Minh thông qua các mối liên kết ổn định. Điều đáng chú ý là sản lượng này được duy trì đều đặn nhờ phương thức nuôi gối đầu, giúp cân đối giữa cung và cầu, hạn chế áp lực đầu ra theo mùa vụ. Để có được quy mô và hiệu quả như hiện nay là cả một quá trình tích lũy kinh nghiệm và điều chỉnh phương thức sản xuất. Theo ông Đoàn, yếu tố quyết định trong nuôi cá chình nằm ở quản lý môi trường nước và chế độ dinh dưỡng. Ao nuôi trước khi thả giống
phải được xử lý kỹ, ngâm nước trong khoảng 20 ngày, sau đó thay nước mới và bón vôi nhằm ổn định môi trường. Trong quá trình nuôi, mực nước được giữ ở mức 1,5 - 2 m để
đảm bảo điều kiện sinh trưởng.
Khác với nhiều mô hình phụ thuộc vào thức
ăn công nghiệp, ông Đoàn lựa chọn cách tự chủ nguồn thức ăn. Ông thu mua cá nhỏ từ
các hộ dân khai thác tại các lòng hồ thủy điện, cấp đông dự trữ rồi xay nhuyễn cho cá ăn định kỳ 2 ngày/lần. Cách làm này không chỉ giảm chi phí mà còn giúp cá phát triển tự nhiên, hạn chế bệnh đường ruột.
Bên cạnh đó, việc phân đàn và chuyển ao được thực hiện định kỳ nhằm nâng cao hiệu quả nuôi. Mỗi ao thả hơn 1.000 con giống, sau khoảng 8 tháng sẽ tiến hành tách đàn. Trong suốt chu kỳ, cá được chuyển ao hai lần để cải thiện môi trường nước và giảm tỷ lệ hao hụt. Sau 18 - 20 tháng, cá đạt trọng lượng từ 1,5 kg/con trở lên và có thể xuất bán.
Hướng đi táo bạo Ít ai biết rằng, mô hình này khởi đầu từ một quyết định mang tính thử nghiệm. Thời điểm năm 2012, ông Đoàn cùng gia đình rời Cà Mau lên Đăk Hà (nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi) với mong muốn tìm kiếm cơ hội mới. Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp tại địa phương còn mang tính truyền thống, việc lựa chọn một đối tượng nuôi mới như cá chình được xem là hướng đi táo bạo. Song chính sự khác biệt này đã tạo nên lợi thế cạnh tranh cho ông. Năm 2014, trên diện tích 1.000 m² đất bỏ hoang, ông Đoàn đào 3 ao và thả khoảng 20 kg cá chình giống. Khi đó, đây là đối tượng nuôi còn xa lạ tại địa phương, thị trường tiêu thụ chưa rõ ràng, khiến nhiều người e ngại. Tuy nhiên, với kinh nghiệm tích lũy từ nghề nuôi thủy sản ở quê nhà, ông vẫn kiên trì theo đuổi.
Không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế gia đình, ông Đoàn còn đóng vai trò kết nối trong sản xuất. Ông hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp con giống và hướng dẫn quy trình nuôi cho nhiều hộ dân lân cận. Đồng thời, ông liên kết bao tiêu sản phẩm, giúp người nuôi giảm bớt rủi ro về thị trường. Mỗi năm, lượng cá chình được ông hỗ trợ tiêu thụ đạt gần 30 tấn.
Kết quả của lần thử sức đầu tiên khá khả quan. Sau 18 tháng, ông thu hoạch gần 3 tạ cá thương phẩm, thu lãi khoảng 100 triệu đồng. Thành công này trở thành bước đệm để ông mở rộng quy mô trong những năm tiếp theo. Đến năm 2019, sau khi tích lũy đủ nguồn lực, ông đầu tư thêm 1,6 ha đất tại thôn Đăk Lợi (xã Đăk Ui), xây dựng 5 ao nuôi quy mô lớn hơn. Cũng từ đây, gia đình ông dừng nuôi tại 3 ao cũ ở xã Đăk Hà, chuyển hẳn về thôn Đăk Lợi sinh sống để tập trung phát triển mô hình. Đánh giá về hiệu quả thực tiễn, ông Tạ Ngọc Ngọ, Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Ui cho biết, mô hình nuôi cá chình của gia đình ông Đoàn được xem là một điển hình trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất tại địa phương. Không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình, cách làm này còn có sức lan tỏa khi được nhiều hộ dân học tập, áp dụng. Qua đó, góp phần tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống và thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển theo hướng bền vững. Thanh Hiếu
Mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại Tiên Lãng
Hải Phòng nhân rộng
mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực
hiệu quả cao
Trong bức tranh phát triển thủy sản của Hải
Phòng, bên cạnh các đối tượng nuôi truyền thống như tôm nước lợ, cá nước ngọt hay thủy sản đặc sản, tôm càng xanh đang nổi lên như một hướng đi nhiều triển vọng nhờ giá trị kinh tế cao và khả năng thích ứng với điều kiện sản xuất của địa phương.
Từ mô hình thí điểm đến doanh thu tiền tỷ
Hải Phòng có nhiều tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản với tổng diện tích hơn 11.000 ha, bao gồm cả vùng nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Trong đó, nuôi thủy sản nước ngọt tập trung tại các địa phương như Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão, Kiến Thụy và Kiến An với nhiều đối tượng nuôi đa dạng như cá trắm cỏ, cá chép, rô phi, cá lăng, tôm càng xanh và cá cảnh. Tôm càng xanh được đưa vào nuôi tại địa phương từ cuối những năm 1998 và được đánh giá là đối tượng có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, trong thời gian dài, việc phát triển còn gặp nhiều hạn chế do người dân chủ yếu nuôi theo phương thức truyền thống, trình độ kỹ thuật chưa đồng đều, chất lượng giống chưa ổn định và tỷ lệ tôm cái trong ao nuôi thường cao hơn tôm đực.
Theo các chuyên gia thủy sản, tôm đực có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, kích cỡ thương phẩm lớn hơn và giá trị kinh tế cao hơn tôm cái. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ sản xuất và nuôi tôm càng xanh toàn đực được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Nhằm khai thác tiềm năng này, những năm qua Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng đã triển khai nhiều mô hình trình diễn tại các địa phương trọng điểm. Một trong những mô hình tiêu biểu được thực hiện năm 2022 tại hộ ông Nguyễn Văn Đạm, xã An Lão với quy mô 1 ha. Dù đã có nhiều năm kinh nghiệm nuôi tôm càng xanh, hiệu quả sản xuất trước đó của gia đình ông vẫn chưa thực sự như mong muốn do
về giống và kỹ thuật.
Khi tham gia mô hình khuyến nông, ông Đạm được hỗ trợ con giống, thức ăn và hướng dẫn quy trình nuôi bài bản, năng suất và tỷ lệ sống của tôm được cải thiện rõ rệt. Chi phí sản xuất giảm trong khi chất lượng sản phẩm được nâng lên.
Từ thành công ban đầu, ông Đạm tiếp tục mở rộng diện tích nuôi lên khoảng 7 ha. Hiện mỗi năm gia đình ông thu hoạch khoảng 15 tấn tôm thương phẩm với giá bán trung bình hơn 300.000 đồng/kg. Theo ông, mặc dù năng suất tôm càng xanh thấp hơn so với tôm thẻ chân trắng, song giá bán cao và ít xảy ra dịch bệnh hơn nên hiệu quả kinh tế tổng thể vẫn rất khả quan.
Hiệu quả vượt trội từ mô hình nuôi toàn đực Năm 2024, Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng tiếp tục triển khai mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại hộ ông Phạm Văn Nhiêu, xã Tiên Minh với quy mô thử nghiệm 0,7 ha. Đây là hộ dân đáp ứng đầy đủ các điều kiện tham gia dự án và cam kết thực hiện nghiêm quy trình kỹ thuật cũng như các yêu cầu của mô hình.
Trong quá trình triển khai, ngoài việc được hỗ trợ 50% chi phí giống, thức ăn, thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học, hộ nuôi còn được đội ngũ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng trực tiếp hướng dẫn và theo dõi thường xuyên.
Đáng chú ý, Trung tâm đã bố trí một thạc sĩ và một kỹ sư chuyên ngành nuôi trồng thủy sản tham gia hỗ trợ kỹ thuật. Đây là những cán bộ đã được đào tạo về bệnh học thủy sản, dịch tễ học và quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt VietGAP, đủ năng lực hướng dẫn người dân áp dụng quy trình nuôi tiên tiến.
Không chỉ hỗ trợ kỹ thuật, đơn vị còn kết nối với doanh nghiệp để xây dựng liên kết tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch. Theo đó, người dân thực hiện đúng quy trình sản xuất, còn doanh nghiệp cam kết thu mua theo hợp đồng, góp phần giảm bớt áp lực đầu ra cho người nuôi.
Kết quả thực tế cho thấy, mô hình đạt hiệu quả cao. Các chuyên gia đánh giá, tỷ lệ sống của tôm tăng từ 4-10%, năng suất tăng từ 25-80% trong khi chi phí sản xuất giảm so với phương thức nuôi truyền thống. Đặc biệt, khi kết thúc vụ nuôi, lợi nhuận bình quân đạt gần 900 triệu đồng, cao hơn từ 3055% so với mô hình đối chứng.
Ông Nhiêu chia sẻ, mô hình nuôi truyền thống thường chịu tác động lớn từ biến động môi trường và nguy cơ dịch bệnh. Tuy nhiên, việc áp dụng quy trình kỹ thuật mới cùng hệ thống quản lý môi trường bằng chế phẩm sinh học đã giúp kiểm soát tốt các yếu tố bất lợi, tạo ra sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP và yêu cầu an toàn thực phẩm.
Hướng đi mới cho thủy sản nước ngọt
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh, Trưởng phòng Chuyển giao Kỹ thuật thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng, kết quả từ các mô hình thời gian qua cho thấy, công nghệ nuôi tôm
càng xanh toàn đực hai giai đoạn mang lại nhiều lợi ích về kinh
tế, xã hội và môi trường. Thông qua việc hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, người nuôi từng bước thay đổi tư duy sản xuất theo hướng chuyên nghiệp, an toàn và bền vững hơn. Bà Thanh thông tin, hiện nay diện tích nuôi tôm càng xanh thương phẩm tại Hải Phòng mới đạt hơn 30 ha, tập trung chủ yếu tại các xã An Lão, Kiến Thụy và khu vực Kiến An. Tiềm năng phát triển vẫn còn rất lớn nếu người dân được tiếp cận
đầy đủ về kỹ thuật, vốn và thị trường.
Một trong những điểm nổi bật của các mô hình là áp dụng quy trình nuôi hai giai đoạn. Theo đó, tôm giống được ương trong các ao có diện tích nhỏ trước khi chuyển sang ao nuôi thương phẩm. Phương thức này giúp người nuôi dễ dàng quản
lý, theo dõi sức khỏe đàn tôm và giảm tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn đầu. Khi chuyển sang ao nuôi thương phẩm, tôm đã đạt kích cỡ lớn hơn nên thời gian nuôi được rút ngắn, giảm áp lực lên môi trường ao nuôi và hạn chế rủi ro do dịch bệnh. Ngoài ra, công nghệ hai giai đoạn còn cho phép nâng cao mật độ nuôi, tăng năng suất, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng mặt nước. Đặc biệt, lượng nước thải phát sinh thấp hơn so với phương thức nuôi truyền thống, góp phần hạn chế tác động đến môi trường xung quanh. Trên cơ sở những kết quả đạt được, năm 2026, thực hiện Quyết định số 179/QĐ-SNNMT ngày 19/3/2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng về phê duyệt nhiệm vụ và dự toán kinh phí thực hiện xây dựng mô hình khuyến nông lĩnh vực thủy sản, mới đây Ban Quản lý rừng và Khuyến nông Hải Phòng đã tổ chức bàn giao tôm càng xanh toàn đực giống và vật tư cho các hộ tham gia mô hình “Nuôi tôm càng xanh toàn đực hai giai đoạn theo VietGAP gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm” tại xã An Trường và xã Chấn Hưng. Mô hình được triển khai với quy mô giai đoạn 1 là 1.800 m³ ao ương và giai đoạn 2 là 10.000 m² ao nuôi thương phẩm. Thời gian tới, cùng với việc theo dõi, hỗ trợ kỹ thuật và giám sát quá trình thực hiện, ngành khuyến nông Hải Phòng sẽ tiếp tục chuyển giao công nghệ và nhân rộng mô hình tại nhiều địa phương, doanh nghiệp và cơ sở nuôi trên địa bàn.
Thùy Khánh
Giải pháp
giảm FCR trong nuôi trồng
thủy sản
Trong nuôi trồng thủy sản, thức ăn chiếm 50 - 70% chi phí sản xuất. Do đó, giảm FCR (hệ số chuyển
đổi thức ăn) là giải pháp quan trọng nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế, giảm giá thành và hướng tới nuôi bền vững.
Chọn giống tốt
Con giống chất lượng cao là
yếu tố đầu tiên quyết định khả
năng sử dụng thức ăn hiệu quả.
Giống khỏe mạnh, đồng đều
kích cỡ, không mang mầm bệnh
sẽ có khả năng bắt mồi tốt, tăng
trưởng nhanh và chuyển hóa
thức ăn hiệu quả hơn.
Ngược lại, giống yếu hoặc
nhiễm bệnh tiềm ẩn thường tăng
trưởng chậm, hao hụt cao, kéo
dài thời gian nuôi và tăng lượng
thức ăn tiêu tốn. Trong nhiều
trường hợp, người nuôi cho
rằng FCR cao do thức ăn, nhưng
nguyên nhân thực tế lại xuất phát
từ chất lượng giống.
Đối với tôm, cần ưu tiên sử dụng giống SPF hoặc giống đã qua kiểm dịch, có kết quả xét nghiệm âm tính với các bệnh nguy hiểm như EMS, EHP, đốm trắng. Với cá nuôi công nghiệp, nên chọn giống có tốc độ tăng trưởng tốt, phản xạ bắt mồi nhanh và tỷ lệ dị hình thấp. Ngoài ra, việc thả giống đồng
đều kích cỡ giúp hạn chế phân đàn, giảm cạnh tranh thức ăn và nâng cao hiệu quả sử dụng khẩu phần.
Kiểm soát môi trường ao nuôi
Môi trường ao nuôi ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng tiêu hóa
và hấp thu dinh dưỡng của thủy sản. Khi các yếu tố môi trường biến động bất lợi, vật nuôi giảm ăn hoặc tiêu tốn nhiều năng lượng cho quá trình thích nghi, dẫn đến FCR tăng cao. Các chỉ tiêu môi trường cần được kiểm soát chặt chẽ trong ao nuôi bao gồm ôxy hòa tan (DO), pH, độ kiềm, nhiệt độ, các khí độc như NH 3 và NO 2 , độ mặn, cũng như mật độ tảo và lượng chất hữu cơ tích tụ ở đáy ao. Việc duy trì các yếu tố này trong ngưỡng phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định môi trường và nâng cao hiệu quả nuôi.
FCR là chỉ số phản ánh tổng thể kỹ thuật nuôi, quản lý thức ăn, môi trường và sức khỏe vật nuôi. FCR cao không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn là dấu hiệu cảnh báo hệ thống nuôi đang mất cân bằng.
Trong đó, ôxy hòa tan là yếu
tố đặc biệt quan trọng. Khi DO thấp, tôm, cá giảm bắt mồi và khả năng chuyển hóa thức ăn suy giảm rõ rệt. Nhiều nghiên cứu cho thấy chỉ cần DO giảm dưới 4 mg/L, FCR có thể tăng mạnh dù
khẩu phần ăn không thay đổi.
Người nuôi cần bố trí hệ thống quạt nước, sục khí hợp lý, đặc biệt vào ban đêm và rạng sáng. Với mô hình nuôi mật độ cao, nên bổ sung ôxy đáy để hạn chế vùng thiếu ôxy cục bộ.
Song song đó, cần kiểm soát lượng chất hữu cơ tích tụ thông qua xi phông đáy, sử dụng vi sinh định kỳ và hạn chế dư thừa thức
ăn. Đáy ao sạch giúp giảm khí
độc, ổn định hệ vi sinh và cải thiện sức khỏe đường ruột vật nuôi.
Lựa chọn thức ăn phù hợp
Thức ăn chất lượng cao không
nhất thiết là loại có chi phí lớn mà
cần phù hợp với đối tượng nuôi và
điều kiện canh tác. Khi lựa chọn
thức ăn, cần chú ý đến sự cân đối dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa
cao, độ bền viên tốt, ít bụi mịn và phù hợp với kích cỡ miệng ăn của vật nuôi. Thức ăn có độ bền viên
kém, dễ tan trong nước không
chỉ làm thất thoát dinh dưỡng mà
còn gia tăng chất thải hữu cơ, ảnh hưởng xấu đến môi trường ao nuôi và làm tăng FCR.
Sử dụng đúng loại thức ăn theo từng giai đoạn phát triển của thủy sản.
Ngoài ra, cần lưu ý bảo quản
thức ăn đúng cách. Thức ăn bị
ẩm mốc sẽ làm giảm giá trị dinh
dưỡng và ảnh hưởng sức khỏe
vật nuôi. Một sai lầm phổ biến là
thay đổi thức ăn liên tục trong vụ
nuôi. Điều này có thể gây rối loạn
tiêu hóa và ảnh hưởng hệ vi sinh
đường ruột, từ đó làm tăng FCR.
Quản lý cho ăn
Trong thực tế, phần lớn trường
hợp FCR cao đều liên quan trực
tiếp đến kỹ thuật cho ăn chưa
hợp lý. Cho ăn quá nhiều dẫn đến
dư thừa thức ăn, gây lãng phí và
ô nhiễm môi trường. Ngược lại, cho ăn thiếu làm vật nuôi chậm
lớn, kéo dài thời gian nuôi và giảm hiệu quả tăng trưởng.
Người nuôi cần điều chỉnh khẩu
phần theo nhu cầu thực tế của vật nuôi, dựa trên giai đoạn phát triển, điều kiện thời tiết, sức khỏe, chất lượng nước và tốc độ tăng trưởng.
Trong thời tiết xấu, mưa kéo dài hoặc khi môi trường ao nuôi biến động, nên giảm lượng thức ăn nhằm hạn chế dư thừa, tránh gây ô nhiễm nước và làm tăng FCR.
Việc chia nhỏ khẩu phần thành
nhiều lần giúp tăng khả năng hấp
thu dinh dưỡng và hạn chế thất
thoát thức ăn. Đối với tôm nuôi
thâm canh, có thể cho ăn 4 - 6 cữ/ ngày; cá nuôi công nghiệp thường
2 - 4 cữ/ngày tùy giai đoạn.
Sử dụng sàng ăn đối với tôm
hoặc quan sát phản ứng bắt mồi
ở cá giúp điều chỉnh khẩu phần
chính xác hơn. Đây là biện pháp
đơn giản nhưng rất hiệu quả trong kiểm soát FCR.
Nhiều trang trại hiện áp dụng máy cho ăn tự động, cảm biến âm thanh hoặc hệ thống AI để kiểm soát lượng thức ăn theo nhu cầu thực tế. Công nghệ này giúp giảm thất thoát, tăng độ đồng đều và cải thiện đáng kể FCR.
Tăng cường sức khỏe
đường ruột
Đường ruột khỏe giúp thủy sản hấp thu dinh dưỡng tốt hơn và chuyển hóa thức ăn hiệu quả
hơn. Hiện nay, nhiều mô hình
nuôi đã chú trọng bổ sung các
chế phẩm như probiotic, enzyme
tiêu hóa, axit hữu cơ và thảo
dược nhằm hỗ trợ đường ruột.
Những sản phẩm này giúp cải thiện hệ vi sinh có lợi, tăng khả
năng tiêu hóa protein và giảm
nguy cơ mắc bệnh đường ruột.
Đối với tôm, các bệnh như phân
trắng hoặc EHP có thể làm giảm
khả năng hấp thu dinh dưỡng, khiến FCR tăng cao.
Mật độ quá cao khiến vật nuôi cạnh tranh ôxy và thức ăn, đồng
thời làm môi trường nhanh suy giảm. Điều này khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại và FCR tăng cao. Vì vậy, người nuôi cần lựa chọn mật độ thả phù hợp với hệ thống quạt khí, khả năng xử lý nước, trình độ quản lý và thiết kế ao nuôi. Trong nhiều trường hợp, việc giảm mật độ hợp lý không chỉ giúp cải thiện điều kiện môi trường và tăng tỷ lệ sống mà còn góp phần giảm FCR, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế tổng thể của vụ nuôi.
Phòng bệnh Khi thủy sản mắc bệnh, phần lớn năng lượng sẽ được sử dụng cho phản ứng miễn dịch thay vì tăng trưởng. Đây là nguyên nhân khiến FCR tăng rất nhanh trong các ao nuôi xảy ra dịch bệnh. Do đó, cần thực hiện nghiêm các biện pháp an toàn sinh học trong suốt quá trình nuôi, bao gồm cải tạo ao kỹ trước vụ nuôi, kiểm soát chặt chẽ nguồn nước đầu vào, khử trùng dụng cụ và trang thiết bị, hạn chế lây nhiễm chéo giữa các ao, đồng thời theo dõi sức khỏe vật nuôi định kỳ. Việc phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường sẽ giúp người nuôi có biện pháp xử lý kịp thời, qua đó giảm thiểu rủi ro và hạn chế thiệt hại.
Ứng dụng công nghệ Ứng dụng công nghệ số trong quản lý FCR đang trở thành xu hướng phổ biến nhằm tối ưu hiệu quả cho ăn trong nuôi trồng thủy sản. Các hệ thống quản lý hiện đại có thể theo dõi lượng thức ăn theo thời gian thực, phân tích tốc độ tăng trưởng, dự báo nhu cầu thức ăn, cảnh báo các yếu tố môi trường bất lợi và tự động tính toán FCR. Nhờ đó, người nuôi có thể kịp thời điều chỉnh chiến lược quản lý, giảm thất thoát thức ăn và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Quy trình kỹ thuật
nuôi cá mú lồng bè
Nuôi cá mú lồng bè
mang lại giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi kỹ thuật nghiêm ngặt để tránh dịch bệnh. Bài
viết hướng dẫn chi tiết quy trình kỹ thuật nuôi cá mú lồng bè từ chọn
giống đến chăm sóc, giúp tối ưu chi phí và
đạt năng suất cao.
Chọn vị trí nuôi lồng
Vị trí tốt cho nuôi lồng cá lồng,
cần đủ độ sâu và bảo đảm đáy
lồng cách đáy biển lúc triều thấp ít nhất 2 - 3 m; tốc độ chảy thích
hợp từ 0,2 - 0,6 m/giây; nền đáy
là đáy cát hay sỏi; đảm bảo hàm
lượng ôxy từ 4 - 6 mg/lít, nhiệt độ 25 - 30 0 C và độ mặn từ 2733‰.
Tránh những nơi có sóng to, gió lớn như sóng cao trên 2 m và tốc độ dòng chảy 1 m/giây vì có thể làm hư hỏng lồng, trôi thức ăn, làm cho cá hoạt động yếu gây
chậm lớn và sinh bệnh; nơi có nhiều rong biển, cỏ biển hay san hô; nơi nước chảy quá yếu hay nước đứng vì có thể dẫn đến cá chết do thiếu ôxy, thức ăn thừa, mùn bã cũng tích lũy ở đáy lồng
gây ô nhiễm; đặc biệt cần tránh xa những nơi gây ô nhiễm dầu, ô nhiễm chất thải công nghiệp,
nước thải sinh hoạt và tàu bè.
Thiết kế lồng
Lồng truyền thống: Thông
thường một giàn lồng được thiết
kế gồm nhiều ô lồng nhỏ, mỗi ô lồng có kích cỡ 3 x 3 x 3 m hay
5 x 5 x 4 (m). Như thế sẽ thuận lợi cho việc phân cỡ và thả giống
được đồng loạt cho từng lồng riêng, đồng thời để trống một
lồng không nuôi cá với mục đích thay lồng khi xử lý bệnh cá hay xử
lý rong tảo bám quanh lồng.
Mặc dù có thể sử dụng các vật
liệu rẻ tiền như tre, gỗ... để làm
lồng như nhiều nơi trước đây, song sẽ dễ bị hư hỏng. Vì thế, chỉ nên làm khung trên lồng bằng gỗ với kích cỡ thông thường loại 8 x 15 cm.
Khung đáy lồng dùng bằng
ống nước đường kính 15/21 và
được mạ kẽm để tăng tuổi thọ
lồng. Lưới lồng tốt nhất nên là Polyetylen không gút, hay cũng có thể thay thế bằng Polyamide.
Kích thước mắt lưới có thể thay đổi tùy vào kích cỡ cá nuôi. Cỡ cá 1 - 2 cm dùng mắt lưới 0,5 cm, cỡ cá 5 - 10 cm dùng mắt lưới 1 cm; cỡ cá 20 - 30 cm dùng mắt lưới 2 cm và cỡ cá trên 25 cm dùng mắt lưới 4 cm.
Để giữ bè nổi, dùng phao bằng thùng nhựa (1 x 0,6 m) hay thùng phuy được sơn kỹ và bố trí nâng khung gỗ. Số lượng phao có thể thay đổi tùy theo lồng, bè nuôi có thể có nhà hoặc không. Cố
định hay lồng dây treo để tránh bị nước cuốn trôi. Số lượng neo thường 4 cái và dây neo lớn đường kính = 24 mm với chiều dài khoảng 30 - 50 m. Ngoài ra ở các vùng cạn ven bờ có thể phát triển kiểu lồng cố định bằng cách dùng lưới và cọc gỗ bao quanh khu nuôi. Lồng
Ảnh: ST
chống chịu va đập, kéo căng tốt hơn so với nhựa PE (Polyethyene) thông thường, đồng thời chống lại sự hòa tan, ăn mòn bởi hóa chất, tác nhân môi trường khác. Lồng nuôi HDPE có các dạng như: Hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật.
Nguồn giống nuôi
Tốt nhất là chọn nguồn giống sinh sản nhân tạo ở các trại cá uy tín (đồng kích cỡ, đủ số lượng), hạn chế chọn cá từ nguồn khai thác tự nhiên.
Lựa chọn con giống có thân hình thuôn dài, cân đối. Không dị hình, dị tật. Không bị xây xát và không có dấu hiệu bệnh lý.
Cá giống đồng đều về kích thước, hơn kém nhau không quá 2 cm. Cá khỏe mạnh, bơi quấn theo đàn trong bể, lồng lưu giữ giống.
Chọn cá giống có kích cỡ càng lớn càng tốt vì cá giống càng lớn thì tỷ lệ hao hụt càng ít. Tùy điều kiện có thể lựa chọn theo 2 loại kích cỡ sau: Cỡ giống nhỏ (kích thước 10 - 12 cm) và cỡ giống lớn (kích thước 15 - 20 cm).
Thuần hóa cá giống nhằm nâng cao tỷ lệ sống, tránh cá bị sốc do môi trường chủ yếu liên quan đến 2 yếu tố là nhiệt độ và độ mặn. Hai hình thức vận chuyển phổ biến hiện nay là vận chuyển kín bằng bao nilon chứa ôxy và vận chuyển hở bằng thùng vận chuyển chuyên dụng.
Thả cá giống
Thời điểm thả cá giống phải phù hợp với mùa vụ con giống và thời tiết, khí hậu. Mùa vụ thả cá
mú thường từ tháng 4 - 6 ở miền
Bắc và quanh năm ở miền Nam.
Mật độ thả phụ thuộc vào kích cỡ cá giống và điều kiện nhiệt
độ nuôi. Ở các vùng phía Bắc có nhiệt độ thấp có thể thả với
mật độ 40 - 60 con/m 3 lồng với
cỡ cá 10 - 12 cm; cỡ giống 100 -
150 g/con, thả 20 - 30 con/m3 . Ở những vùng có nhiệt độ cao hơn như miền Trung và miền Nam
thường thả thưa hơn với mật độ
15 - 25 con/m3 lồng kích cỡ cá 10 - 12 cm.
Chọn cá cùng cỡ thả vào một lồng để tránh cạnh tranh mồi và
ăn thịt lẫn nhau.
Khi thả cá cần ngâm túi cá trong lồng chuẩn bị nuôi khoảng 15 - 20 phút để cân bằng nhiệt
độ trong túi với môi trường. Sau đó mở miệng túi cho nước tràn vào từ từ, nghiêng túi cho cá bơi dần ra ngoài. Không mở túi đổ cá ngay ra lồng, cá sẽ bị sốc. Khi thả cá cần thao tác nhẹ nhàng, trường hợp cá yếu do vận chuyển, nên nhốt riêng cá trong
thùng có sục khí cho đến khi cá hoạt động bình thường mới thả.
Thả cá giống vào lúc trời mát, sáng sớm 6 - 8 giờ hoặc chiều muộn 16 - 17 giờ.
Thức ăn
Thức ăn cho cá nuôi chủ yếu
là các loại cá tạp và thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng protein từ 38 - 47% và lipid là 9% (Giri et al., 2004; Giri et al., 2007). Khi cho cá ăn bằng cá tạp, nên chọn cá tươi, sạch để tránh gây bệnh cho cá nuôi. Trước khi cho cá ăn cần loại bỏ các sinh vật ký sinh trên cá tạp bằng cách
ngâm trong nước ngọt. Tùy vào kích cỡ cá có thể cho ăn cá tạp xay nhuyễn hay cắt khúc.
Cá được cho ăn 1 - 2 lần/ngày, định kỳ bổ sung Vitamin C cho cá ăn 2 - 3 lần/tuần và lượng
Vitamin C dao động từ 3 - 5 g/kg thức ăn (thức ăn trộn với Vitamin C và áo dầu mực bên ngoài).
Chăm sóc
Theo dõi hoạt động của cá hằng ngày, nếu cá có dấu hiệu
cọ vào lưới hoặc nổi lờ đờ trên
mặt và tập trung vào những nơi có nhiều ôxy thì cần bắt cá để
kiểm tra các loài giáp xác ký sinh hay ký sinh trùng.
Tốt nhất nên định kỳ tắm cá 15 - 20 ngày/lần nhằm ngăn ngừa
bệnh ký sinh trên cá nuôi. Các
loại hóa chất có thể tắm cá như: formalin 30 ppm trong 30 phút; hydrogen hydroxide (H2 O2 ) 30 ppm trong 30 phút hoặc có thể
tắm bằng nước ngọt 3 - 5 phút.
Việc xử lý cá phải được thực hiện cẩn thận để hạn chế gây sốc cá.
Ngoài ra, trong quá trình nuôi cần phải thường xuyên theo dõi lồng, đề phòng lồng bị hư hỏng do cá hay sinh vật khác như cua cắn phá lưới hoặc do sóng gió.
Ngoài ra lồng cũng dễ bị các sinh vật khác bám vào làm nước không lưu thông. Vì vậy cần cọ rửa hay thay lồng định kỳ. Phân cỡ và điều chỉnh mật độ cá nuôi định kỳ mỗi tháng một lần.
Thu hoạch
Tùy theo kích cỡ cá giống nuôi, sau 3 tháng có thể thu tỉa những con lớn. Sau 6 - 12 tháng, hầu hết cá đạt khối lượng 0,50,8 kg thì thu hoạch đồng loạt.