Skip to main content

TSVN 5

Page 1


Ban Biên tập

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Dương Xuân Hùng, Cố vấn

Hoàng Hải Đăng, Thư ký Tòa soạn

Phạm Thu Hồng, Nhà báo

Dương Nam Anh, Nhà báo

Trần Thị Kim Tiến, Nhà báo

Trần Anh Thư, Phóng viên

Chủ nhiệm

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Phụ trách

Đỗ Huy Hoàn, Phó Tổng Biên tập

Chuyên gia

Nguyễn Chu Hồi, Phó Giáo sư - Tiến sĩ

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Trần Đình Luân, Tiến sĩ

Nguyễn Thanh Phương, Giáo sư - Tiến sĩ

Đào Trọng Hiếu, Tiến sĩ

Lê Văn Khoa, Tiến sĩ

Nguyễn Duy Hòa, Tiến sĩ

Nguyễn Khắc Bát, Tiến sĩ

Hồ Quốc Lực, Tiến sĩ

Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Thủy sản Minh Phú

Mỹ thuật: Two Nguyễn

Trình bày: Phạm Dương

Kỹ thuật: Đăng Kiên

Hình ảnh: Dương Nghĩa

Đọc bản in: Anh Thư

Tòa soạn:

Điện thoại: 028.62777616

Email: toasoan@thuysanvietnam.com.vn

Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP HCM

Văn phòng Hà Nội:

Điện thoại: 0243.7713699

Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công

Hoan, P. Giảng Võ, TP Hà Nội

Phòng Quảng cáo:

Quảng cáo: 0243.7713699 - 083.661.5993

Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn

Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT

ISSN: 0866-8043

Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM)

Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ

Thư tòa soạn

Thưa quý vị bạn đọc, Mới đây, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp cùng Hội Thủy sản Việt Nam đã tổ chức thành công Triển lãm quốc tế Khoa học công nghệ thủy sản Việt Nam lần thứ nhất (VinaFIS

Expo 2026). Sự kiện quy tụ hơn 200 doanh nghiệp, tổ chức, cùng đông

đảo chuyên gia trong nước, quốc tế.

Triển lãm tập trung vào 6 nhóm lĩnh vực trọng tâm gồm: Công nghệ nuôi trồng, giống thủy sản, dinh dưỡng và phòng bệnh, máy móc thiết bị, logistics lạnh và dịch vụ hậu cần nghề cá. Việc đặt các lĩnh vực này trong cùng một không gian thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các mắt xích của chuỗi sản xuất thủy sản hiện đại.

Không chỉ là triển lãm công nghệ chuyên ngành, VinaFIS Expo 2026 còn phản ánh rõ xu hướng chuyển đổi xanh, số hóa và tái cấu trúc chuỗi

giá trị đang diễn ra trong ngành thủy sản Việt Nam.

“VinaFIS Expo 2026 - Thủy sản Việt Nam vươn mình” sẽ là chủ

chính của Tạp chí Thủy sản Việt Nam phát hành trong tháng 05. Trên số báo này, Tạp chí sẽ thông tin tới bạn đọc góc nhìn toàn cảnh Triển lãm quốc tế Khoa học công nghệ thủy sản Việt Nam lần thứ nhất, cùng những bài tham luận mang tính bước ngoặt của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực thủy sản.

Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 05 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp.

Trân trọng! Ban Biên tập

TS. Nguyễn Duy Hòa

Thái Nam Việt

C.P. Việt Nam

cá chình khép kín

Thùy Khánh

Phấn đấu sớm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” trong năm 2026

Sau đợt thanh tra lần thứ 5 (9 - 19/3/2026), Ủy ban châu Âu (EC) ghi nhận Việt Nam đã có tiến bộ trong chống khai thác IUU, nhất là xử lý tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài. Tuy nhiên, công tác chống khai thác IUU vẫn còn một số tồn tại như: Việc kiểm soát tàu cá ra vào cảng chưa triệt để; truy xuất nguồn gốc nguyên liệu thủy sản nhập khẩu chưa đồng đều; tiến độ xử lý các trường hợp vi phạm còn chậm; vẫn còn tàu cá vi phạm khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài. Đây là những vấn đề mà Đoàn Thanh tra của EC tiếp tục khuyến nghị Việt Nam khẩn trương khắc phục để sớm gỡ bỏ cảnh báo “thẻ vàng”. Trước yêu cầu này, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tập trung cao

độ, xử lý dứt điểm tồn tại; đồng thời tăng

cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm

các hành vi vi phạm, đặc biệt là tàu cá xâm phạm vùng biển nước ngoài và các trường

hợp mất kết nối giám sát hành trình, phấn đấu gỡ “thẻ vàng” trong năm 2026.

Bắc Ninh

Hiệu quả từ nuôi cá tầm lồng trên sông

Từ loài thủy sản đặc trưng vùng nước lạnh, cá tầm đã được nuôi thành công tại xã Chi Lăng và phường Mão Điền (tỉnh Bắc Ninh), mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân địa phương. Những năm đầu triển khai, người nuôi gặp khó khăn do cá chậm thích nghi môi

trường. Tuy nhiên, nhờ hỗ trợ kỹ thuật của Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh, mô hình dần ổn định và phát triển hiệu quả. Ông

Trường Văn Tài (xã Chi Lăng) cho biết: “ Mỗi

lồng cá tầm cho sản lượng 4 - 4,5 tấn. Sau khi trừ chi phí, tôi thu lãi khoảng 40 - 50 triệu đồng/lồng, cao gấp đôi so với nuôi cá truyền

thống”. Theo Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản Bắc Ninh, toàn tỉnh hiện có khoảng 15 hộ nuôi với 200 - 250 lồng, cung ứng 800 - 1.000 tấn cá/năm. Cá tầm là loài có giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi kỹ thuật nghiêm ngặt về nguồn nước và dòng chảy. Thời gian tới, ngành chuyên môn tỉnh tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật và kết nối thị trường nhằm phát triển bền vững mô hình này.

Hưng Yên

Ngư dân nâng cao ý thức chống

khai thác IUU

Ngư dân tỉnh Hưng Yên đang ngày càng nâng cao ý thức tuân thủ các quy định chống

khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), góp phần cùng cả nước hướng tới mục tiêu gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC). Tại Cảng cá

Cửa Lân, các thủ tục ra vào bến và khai thác

được ngư dân thực hiện nghiêm túc. Ngư dân Nguyễn Xuân Thứ (xã Nam Cường) cho biết: “Sau mỗi chuyến biển, việc ghi nhật

ký khai thác và báo cáo sản lượng đã trở

thành nề nếp, giúp hoạt động đánh bắt minh

bạch và thuận lợi hơn”. Hiện phần lớn ngư dân trong tỉnh đã chủ động không vi phạm vùng biển nước ngoài, khai thác đúng tuyến và phối hợp lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá. Ý thức chấp hành quy định được nâng cao, gắn với lợi ích lâu dài của nghề biển. Cùng với sự hỗ trợ của lực lượng chức năng, sự chuyển biến từ chính ngư dân đang góp phần kiểm soát tốt hoạt động khai thác, hướng tới nghề cá có trách nhiệm và bền vững.

Ninh Bình

Thủy sản là động lực tăng trưởng chính

Thủy sản tiếp tục khẳng định vai trò mũi nhọn trong cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Ninh Bình. Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 95.183 tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đóng góp lớn nhất với 74.644 tấn (tăng 5,1%). Điểm sáng nổi bật là sự tăng trưởng mạnh của tôm nuôi (tăng 8,2%) và các loại cá (tăng 5,2%). Các trạm, cơ sở giống tiếp

cung trong các vụ tiếp theo. Đối với lĩnh vực khai thác, tỉnh cũng đạt sản lượng 20.539 tấn, tăng 3,6% bất chấp việc áp dụng các quy định nghiêm ngặt về cấm khai thác có thời hạn để bảo vệ nguồn lợi sinh thái. Công tác lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) cũng đạt tỷ lệ cao (605/609 tàu), góp phần tích cực vào nỗ lực chống khai thác IUU theo tiêu chuẩn quốc tế.

Nghệ An

Triển khai mô hình nuôi cá chình tuần hoàn khép kín

Tại xã Anh Sơn, Trung tâm Khuyến nông Nghệ An vừa tổ chức bàn giao con giống và vật tư để triển khai mô hình nuôi cá chình trong bể áp dụng hệ thống nước tuần hoàn khép kín (RAS). Mô hình được thực hiện tại thôn Thạch Sơn 1 với quy mô bể nuôi 30 m³. Đợt đầu, 600 con cá chình mun giống chất lượng cao được bàn giao cho hộ dân tham gia, có trọng lượng từ 200 g/con trở lên, đảm bảo khỏe mạnh và thích nghi tốt với môi trường nuôi. Để khuyến khích người dân áp dụng kỹ thuật mới, Trung tâm Khuyến nông tỉnh hỗ trợ khoảng 70% chi phí gồm giống, thức ăn, thuốc và chế phẩm sinh học. Ngoài ra, cán bộ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn vận hành hệ thống, xử lý nước và phòng trị bệnh, đồng thời tổ chức các lớp tập huấn để người dân trong vùng có cơ hội tham quan, học hỏi kinh nghiệm thực tế. Dự kiến, sau khoảng 8 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng trên 1,2 kg/ con. Với tỷ lệ sống mục tiêu đạt từ 70% trở lên, mô hình hứa hẹn mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho hộ nuôi.

Hà Tĩnh

Ngao nuôi chết bất thường trên diện rộng

Những ngày cuối tháng 4, tại bãi bồi thôn Mai Lâm, xã Mai Phụ, hiện tượng ngao chết bất thường diễn ra trên diện rộng, gây thiệt hại lớn cho người nuôi, đặc biệt khi vụ thu hoạch đang cận kề. Theo ghi nhận, ngao chết rải rác ban đầu sau đó nhanh chóng lan rộng. Vỏ ngao trắng xóa lẫn bùn, nhiều khu vực bốc mùi do xác ngao phân hủy, khiến không

khí sản xuất trở nên ảm đạm. Nhiều hộ phải

nước lợ và giống cá tra cho các vùng nuôi trọng điểm. Việc duy trì sản xuất

Tháng 4/2026, nuôi trồng thủy sản tăng trưởng khá

Theo Báo cáo của Cục Thống kê, nuôi trồng thủy sản trong tháng 4/2026 tăng trưởng khá do thời tiết thuận lợi và mở rộng hình thức nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao. Sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 471.600 tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng cá tra tháng 4/2026 ước đạt 156.600 tấn, tăng 3,8% so cùng kỳ, do giá cá tra nguyên liệu tăng, thị trường thuận lợi khuyến

khích người dân tăng thả nuôi.

Sản lượng tôm trong tháng ước đạt 114.800 tấn, tăng 8% so cùng kỳ do giá tôm nguyên liệu và nhu cầu trong nước tăng khi sắp

bước vào kỳ nghỉ lễ. Sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 84.700 tấn, tăng 9%; tôm sú đạt 25.700 tấn, tăng 4,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 4/2026 ước đạt 360.100 tấn, tăng 0,2% so cùng kỳ. Riêng sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 335.300 tấn, tăng 0,2%. Khai thác biển bắt đầu vào vụ cá Nam,

liên tục thu gom ngao chết trong tâm trạng lo lắng, xót xa. Theo bà Nguyễn Thị Oanh, Trưởng thôn Mai Lâm, toàn thôn có 43 hộ nuôi trên 80 ha, đến nay 35 hộ bị thiệt hại với tỷ lệ 30 - 70%, ước khoảng 120 tấn ngao chết. Hiện tượng vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Trước tình hình trên, chính quyền xã Mai Phụ phối hợp Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh kiểm tra thực địa, lấy mẫu ngao và môi trường nước để phân tích nguyên nhân. Trong thời gian chờ kết quả, địa phương khuyến cáo người dân không thả giống mới, đồng thời thu gom xác ngao, vệ sinh bãi nuôi và theo dõi chặt chẽ các yếu tố môi trường nhằm hạn chế thiệt hại và nguy cơ lây lan.

Quảng Ngãi

Hiện đại hóa hoạt động khai thác thủy sản

Những năm qua, hoạt động khai thác thủy sản tại Quảng Ngãi đã có bước chuyển mạnh theo hướng hiện đại hóa, gắn với ứng dụng công nghệ trong quản lý và khai thác trên biển. Trước mỗi chuyến biển, ngư dân chủ động kiểm tra các thiết bị như máy dò cá, định vị và hệ thống giám sát hành trình (VMS). Nhiều chủ tàu cho biết việc áp dụng thiết bị hiện đại giúp xác định ngư trường chính xác hơn, giảm chi phí và tăng sản lượng. Cùng với đó, nhật ký khai thác điện tử eCDT được áp dụng thay cho ghi chép thủ công, giúp cập nhật dữ liệu về tọa độ, sản lượng và thời gian khai thác

cùng với đó giá dầu giảm mạnh so với cuối tháng trước nên ngư dân

tiếp tục ra khơi khai thác.

Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 3,04

triệu tấn, tăng 3,1% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá đạt 2,21 triệu tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 368.600 tấn, tăng 6,6%; thủy sản

khác đạt 458.800 tấn, tăng 2,9%.

theo thời gian thực, phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý minh bạch hơn. Hiện Quảng Ngãi có gần 4.900 tàu cá, trong đó khoảng 3.000 tàu dài trên 15 m. Việc ứng dụng đồng bộ công nghệ trong khai thác và quản lý tàu cá đang góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, chuẩn hóa hoạt động nghề cá và thúc đẩy phát triển theo hướng bền vững.

Gia Lai

Hơn 212 tỷ đồng hỗ trợ chuyển đổi nghề, giải bản tàu cá

UBND tỉnh Gia Lai quyết định tạm cấp hơn 212 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách tỉnh năm 2026 để thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và giải bản tàu cá không đủ điều kiện hoạt động, nhằm ổn định sinh kế cho ngư dân ven biển. Nguồn kinh phí được phân bổ cho 16 xã, phường ven biển. Một số địa phương được bố trí kinh phí lớn gồm phường Quy Nhơn hơn 49,1 tỷ đồng, xã Đề Gi gần 47 tỷ đồng, phường Quy Nhơn Đông hơn 36,68 tỷ đồng,... Trong cơ cấu nguồn vốn, kinh phí hỗ trợ giải bản tàu cá chiếm hơn 206,84 tỷ đồng; phần còn lại hơn 5,55 tỷ đồng được sử dụng cho công tác đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho ngư dân sau khi không tiếp tục tham gia khai thác thủy sản. UBND tỉnh giao Sở Tài chính thực hiện cấp phát kinh phí theo quy định; đồng thời yêu cầu các địa phương quản lý, sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, bảo đảm quy trình, thủ tục và

thực hiện thanh quyết toán đầy đủ theo quy định hiện hành.

Đồng Tháp Ngành thủy sản chủ động ứng phó thời tiết cực đoan

Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, năm 2026, ENSO có xu hướng chuyển sang trạng thái trung tính, từ giữa năm có khả năng xuất hiện El Nino, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng, hạn hán, xâm nhập mặn, mưa lớn và bão mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến nuôi trồng thủy sản. Trước tình hình trên, Chi cục Thủy sản Đồng Tháp đã ban hành văn bản yêu cầu các địa phương tăng cường quản lý, chủ động ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại và bảo đảm sản xuất ổn định. Theo đó, các địa phương cần theo dõi sát diễn biến thời tiết, nguồn nước, độ mặn; điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp thực tế; đồng thời chuẩn bị vật tư, nhân lực để ứng phó kịp thời với mưa bão, hạn hán và xâm nhập mặn. Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, kết hợp thống kê thiệt hại làm cơ sở hỗ trợ người dân khi xảy ra rủi ro. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật nuôi an toàn và cập nhật thông tin khí tượng thủy văn đến người nuôi.

Mỹ

Áp thuế chống bán phá giá sơ bộ tôm Ấn Độ

2,36-4,30%

Bộ Thương mại Mỹ (DOC) xác định sơ bộ các nhà sản xuất tôm nước ấm đông lạnh của Ấn Độ bán dưới giá trị hợp lý trong giai

đoạn 2/2024-1/2025, áp biên độ chống bán phá giá 2,36-4,30% trong kỳ rà soát hành chính lần thứ 20. Nhóm Devi chịu mức 2,36%, trong khi Sandhya Aqua Exports là 4,30%; các doanh nghiệp không bị xem xét riêng lẻ áp mức trung bình 3,33%. So với kỳ trước, biên độ của Sandhya giảm từ 5,08% và Devi giảm từ 2,71%; mức chung giảm từ 3,76% xuống 3,33%. Phạm vi rà soát thu hẹp đáng kể sau khi DOC loại 283/391 doanh nghiệp do không có giao dịch phù hợp, còn 108 đơn vị; Devi và Sandhya được chọn thẩm tra. Mức ký quỹ tiền mặt giữ nguyên đến khi có kết quả cuối cùng (dự kiến trong 120 ngày). Sau khi chốt, mức thuế sẽ áp cho các lô hàng nhập khẩu mới. Các bên có 21 ngày nộp lập luận và 5 ngày phản biện; quyết định cuối cùng dự kiến đầu 9/2026.

Ecuador

Thiếu hụt container kìm hãm xuất khẩu tôm

Ngành tôm Ecuador đang đối mặt với nút thắt logistics nghiêm trọng khi thiếu container lạnh, làm suy giảm năng lực xuất khẩu trong khi sản lượng vẫn ở mức cao.

Theo Phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia (CNA), nhiều nhà máy đóng gói đã phải vận hành kho lạnh hết công suất, buộc một số doanh nghiệp tạm ngừng thu mua do hàng không thể xuất đi kịp thời. CNA cho biết tình trạng khan hiếm container và gián đoạn thương mại toàn cầu đã khiến dòng chảy xuất khẩu bị đình trệ, dẫn tới tồn kho gia tăng và gây áp lực toàn chuỗi cung ứng. Tính chất dễ hư hỏng của tôm càng làm trầm trọng vấn đề, đòi hỏi quy trình liên tục từ thu hoạch đến vận chuyển. Hiệp hội kêu gọi phối hợp khẩn

cấp giữa cơ quan quản lý, cảng biển, đơn

vị logistics và doanh nghiệp để khôi phục

hoạt động bình thường. Cạnh đó, lệnh giới nghiêm từ 23h đến 5h sáng (3-18/5) nhằm trấn áp tội phạm tại nhiều tỉnh trọng điểm

cũng được dự báo tiếp tục gây gián đoạn sản xuất và vận chuyển tôm.

Nhật Bản

Xuất khẩu thủy sản tăng giá trị, giảm mạnh sản lượng

Xuất khẩu thủy sản của Nhật Bản trong tháng 3 ghi nhận xu hướng trái chiều khi sản lượng giảm sâu nhưng giá trị vẫn tăng. Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, tổng lượng xuất khẩu giảm 20% so với cùng kỳ, còn 45.779 tấn, trong khi kim ngạch tăng 16%, đạt 38,4 tỷ yên (khoảng 240 triệu USD). Sò điệp suy yếu rõ rệt, giảm cả về lượng (22%) lẫn giá trị (10%). Ngược lại, cá cam tăng trưởng mạnh, sản lượng tăng 61% và giá trị hơn gấp đôi. Các sản phẩm phi lê đông lạnh duy trì đà tăng ở cả hai chỉ số dù giá cao. Đáng chú ý, xuất khẩu sò điệp sang Mỹ giảm sâu, trong khi thị trường Việt Nam tăng mạnh, đặc biệt với sản phẩm tách vỏ và còn vỏ. Ở chiều ngược lại, cá cam phi lê đông lạnh tăng trưởng mạnh tại Mỹ, còn cá sống chủ yếu xuất sang Hàn Quốc. Ngoài ra, cá thu đông lạnh tăng mạnh cả về lượng và giá trị, với Việt Nam là thị trường tiêu thụ lớn. Một số mặt hàng khác như cá ngừ vằn giảm, trong khi cá ngừ vây dài tăng đáng kể.

Indonesia

Khôi phục xuất khẩu tôm sang Mỹ sau khủng hoảng nhiễm xạ

Xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã phục hồi mạnh sau sự cố nhiễm cesium-137 cuối năm 2025, với khoảng 3.400 container,

trị giá 11 nghìn tỷ rupiah (639 triệu USD), được giao tính đến ngày 26/4, theo Bộ Hàng hải và Nghề cá nước này. Phát biểu tại Food Summit 2026, quyền Tổng Thư ký Andy Artha Donny Oktopura cho biết Indonesia đã cải tổ toàn diện hệ thống kiểm soát chất lượng thủy sản, từ sản xuất, chế biến đến phân phối, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

New Zealand Mở cửa thị trường Ấn

miễn thuế hoàn toàn

New Zealand và Ấn Độ ngày 27/4 ký Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) toàn diện tại New Delhi, trong đó thủy sản giữ vai trò trung tâm. Theo thỏa thuận, thuế đối với các mặt hàng cá và hải sản chủ lực của New Zealand sẽ được xóa bỏ theo lộ trình 7 năm, giúp nước này mở rộng tiếp cận một trong những thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới. Chính phủ New Zealand cho biết 57% kim ngạch xuất khẩu sang Ấn Độ sẽ được miễn thuế ngay lập tức, tăng lên 82% khi FTA được thực thi đầy đủ, bao gồm nhiều sản phẩm thủy sản. Bộ trưởng Thương mại Todd McClay nhận định thỏa thuận sẽ tạo hàng nghìn việc làm và mang lại hàng tỷ USD giá trị xuất khẩu bổ sung, đồng thời củng cố an ninh kinh tế giữa lúc toàn cầu biến động. Tuấn Minh

3,7 TỶ USD Là giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm 2026, tăng 14 - 15% so cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng tích cực nhất là ở các nhóm hàng tôm, cá tra, mực, bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và một số sản phẩm giá trị cao.

113 Là số nhiệm vụ khoa học công nghệ trong lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư đã được triển khai vào giai đoạn 2021 - 2025. Các kết quả nghiên cứu đã đóng góp thiết thực vào sản xuất, đặc biệt là trong công tác sản xuất giống.

70%

Là mục tiêu tối thiểu về tỷ lệ kiểm soát sản lượng thủy sản khai thác qua hệ thống eCDT mà tỉnh Quảng Ninh quyết tâm đạt được đến hết tháng 5/2026. Địa phương đang tập trung dồn lực cho lộ trình số hóa để minh bạch hóa nguồn gốc thủy hải sản.

40 NGHÌN HA

Là diện tích nuôi thâm canh và siêu thâm canh của tỉnh Cà Mau hiện nay. Đây là nền tảng cốt lõi giúp tối ưu hóa năng suất, đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng sản lượng và giá trị xuất khẩu toàn ngành.

VINAFIS EXPO 2026

Điểm hẹn công nghệ của

thủy sản Việt

Diễn ra từ ngày 28 - 30/4/2026 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC, TP.HCM), VinaFIS Expo 2026 quy tụ hơn 200 doanh nghiệp, tổ chức và chuyên gia

trong nước, quốc tế. Không chỉ là triển lãm công nghệ chuyên ngành, sự kiện còn

phản ánh rõ xu hướng chuyển đổi xanh, số hóa và tái cấu trúc chuỗi giá trị đang diễn ra trong ngành thủy sản Việt Nam.

Khi công nghệ, phát triển bền vững và minh bạch chuỗi cung ứng trở thành tiêu chuẩn bắt buộc của thị trường quốc tế, ngành thủy sản Việt Nam cũng đứng trước yêu cầu phải thay đổi mô hình

tăng trưởng.

Được tổ chức bởi Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp cùng Hội Thủy sản Việt Nam, VinaFIS Expo 2026 là triển lãm quốc tế chuyên sâu về khoa học công nghệ thủy sản với quy mô lớn, quy tụ đồng thời doanh nghiệp nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu, logistics, công nghệ và nhiều tổ chức quốc tế trong cùng một không gian kết nối. Phát biểu tại lễ khai mạc, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, khoa học công nghệ sẽ là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản trong giai đoạn tới.

Khi ngành thủy sản bước vào cuộc chuyển đổi mới

Nhiều năm qua, thủy sản luôn nằm trong nhóm ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Từ tôm, cá tra cho tới các sản phẩm hải sản khai thác và chế biến, thủy sản Việt Nam đã hiện diện tại hàng trăm thị trường trên thế giới và đóng góp hàng tỷ USD kim ngạch xuất khẩu mỗi năm.

Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng là hàng loạt áp lực mà ngành đang phải đối mặt. Chi phí nuôi trồng tăng cao, dịch bệnh diễn biến phức tạp, biến đổi khí hậu tác động trực tiếp tới vùng nuôi và nguồn lợi thủy sản, trong khi các thị trường nhập khẩu liên tục siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và trách nhiệm môi trường trong chuỗi sản xuất.

Nếu trước đây lợi thế cạnh tranh lớn nhất của thủy sản Việt Nam chủ yếu đến từ điều kiện

tự nhiên, lao động dồi dào và nguồn nguyên liệu phong phú thì hiện nay, những lợi thế đó đang dần thu hẹp.

Trong giai đoạn mới, năng lực quản trị, khả năng kiểm soát chất lượng, mức độ minh bạch dữ liệu và trình độ ứng dụng công nghệ mới là những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo Ban tổ chức, triển lãm tập trung vào 6 nhóm lĩnh vực trọng tâm gồm: công nghệ nuôi

trồng, giống thủy sản, dinh

dưỡng và phòng bệnh, máy móc

thiết bị, logistics lạnh và dịch vụ

hậu cần nghề cá. Việc đặt các

lĩnh vực này trong cùng một

không gian phản ánh xu hướng liên kết chặt hơn giữa các mắt

xích của chuỗi sản xuất thủy

sản hiện đại.

Trong nhiều năm, một trong những hạn chế lớn của ngành

thủy sản Việt Nam là sự phát

triển thiếu đồng bộ giữa các mắt

xích trong chuỗi giá trị. Người nuôi gặp khó trong việc tiếp

cận công nghệ và thông tin thị

trường; doanh nghiệp chế biến

thiếu nguồn nguyên liệu ổn định; logistics lạnh chưa đáp ứng kịp

tốc độ phát triển; trong khi hoạt

động truy xuất nguồn gốc vẫn

còn nhiều bất cập.

Chính những “điểm nghẽn”

này khiến giá trị gia tăng của

ngành chưa tương xứng với tiềm

năng, dù Việt Nam luôn nằm

trong nhóm quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới.

Vì vậy, sự xuất hiện của

VinaFIS Expo 2026 không chỉ

mang ý nghĩa của một triển lãm

công nghệ mà còn cho thấy xu

hướng tái cấu trúc toàn ngành

theo hướng liên kết chặt chẽ hơn giữa sản xuất, công nghệ và thị trường.

Công nghệ đang thay đổi

cách ngành thủy sản vận hành

Dấu ấn nổi bật tại VinaFIS

Expo 2026 là sự hiện diện mạnh

hơn của công nghệ trong toàn

bộ chuỗi sản xuất thủy sản.

Nếu như cách đây khoảng

một thập kỷ, “nuôi tôm công nghệ cao” vẫn còn là khái niệm khá mới mẻ thì hiện nay, các hệ thống tự động hóa, cảm biến môi trường hay quản trị dữ liệu đã xuất hiện phổ biến tại nhiều vùng nuôi trọng điểm.

Tại triển lãm năm nay, nhiều

doanh nghiệp giới thiệu các

giải pháp ứng dụng trực tiếp vào sản xuất như hệ thống nuôi tuần hoàn, AI quản lý ao nuôi, cảm biến môi trường nước, hệ thống cho ăn tự động, truy xuất nguồn gốc bằng blockchain hay tự động hóa trong chế biến và logistics lạnh.

Công nghệ hiện không còn chỉ xuất hiện ở khâu sản xuất mà đang tham gia sâu vào toàn bộ quy trình quản trị. Từ giám sát môi trường nước, kiểm soát dịch bệnh cho tới truy xuất nguồn gốc và logistics, nhiều doanh nghiệp đang chuyển từ mô hình vận hành dựa trên kinh nghiệm sang quản trị bằng dữ liệu thời gian thực.

Các cơ sở dữ liệu số, nền tảng giám sát tàu cá, hệ thống truy xuất điện tử hay công nghệ quản lý vùng nuôi theo thời gian thực được xem là giải pháp quan

trọng nhằm đáp ứng những yêu

cầu khắt khe hơn từ thị trường

quốc tế, đặc biệt trong câu

chuyện chống khai thác IUU và minh bạch chuỗi cung ứng.

Theo nhiều chuyên gia, cạnh tranh trong ngành thủy sản hiện nay không còn đơn thuần là

cạnh tranh về sản lượng hay giá bán. Điều thị trường quan tâm nhiều hơn là khả năng kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc

và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Đó là lý do các nội dung liên quan tới chuyển đổi số, tự động hóa, công nghệ nuôi biển hay logistics lạnh trở thành chủ đề được quan tâm tại VinaFIS Expo 2026. Trong khi phần lớn doanh nghiệp thủy sản Việt Nam vẫn ở quy mô vừa và nhỏ, khoảng cách công nghệ đang trở thành rào cản lớn đối với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh. Không ít doanh nghiệp vẫn gặp khó trong việc tiếp cận vốn đầu tư, công nghệ hiện đại hay các tiêu chuẩn quốc tế về sản xuất xanh và minh bạch dữ liệu. Vì vậy, các hoạt động hội thảo chuyên đề, chuyển giao công nghệ và kết nối giao thương tại triển lãm được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận các mô hình sản xuất hiện đại hơn, đồng thời mở rộng cơ hội hợp tác quốc tế. Ở một góc độ khác, sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp công nghệ, sinh học và tự động hóa tại triển lãm cũng cho thấy cấu trúc của ngành thủy sản đang thay đổi đáng kể. Nếu trước đây, thủy sản chủ yếu gắn với hình ảnh sản xuất truyền thống thì hiện nay, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa hay nền tảng số đang dần trở thành một phần của chuỗi sản xuất. Đây không chỉ là thay đổi về công nghệ mà còn là sự chuyển dịch trong tư duy phát triển của cả ngành.

Từ áp lực xanh hóa đến yêu cầu tái cấu trúc ngành

Song song với câu chuyện công nghệ, VinaFIS Expo 2026 cũng phản ánh rõ áp lực chuyển đổi xanh mà ngành thủy sản Việt Nam đang phải đối mặt. Những năm gần đây, các thị trường nhập khẩu lớn như EU, Mỹ

hay Nhật Bản liên tục siết chặt các tiêu chuẩn liên quan tới môi trường, phát thải carbon và trách nhiệm xã hội trong chuỗi sản xuất.

Các khái niệm như “thủy sản xanh”, “kinh tế tuần hoàn”, “ESG”, “nuôi biển bền vững” hay “nghề cá có trách nhiệm” không còn mang tính khẩu hiệu mà đã trở thành yêu cầu thực tế đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Áp lực xanh hóa đang buộc ngành thủy sản thay đổi mạnh cách tiếp cận phát triển. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là gia tăng sản lượng thì hiện nay, các thị trường nhập khẩu quan tâm nhiều hơn tới phát thải carbon, trách nhiệm môi trường và tính minh bạch của chuỗi sản xuất.

Doanh nghiệp vì thế không thể chỉ cạnh tranh bằng giá thành mà buộc phải đầu tư nhiều hơn cho công nghệ, quản trị dữ liệu và tiêu chuẩn sản xuất bền vững.

Trong khuôn khổ VinaFIS Expo 2026, nhiều hội thảo chuyên đề tập trung vào các nội dung như phát triển nghề cá bền vững, cải thiện nghề cá (FIP), phục hồi hệ sinh thái biển, nuôi biển công nghệ cao và chuyển đổi số trong quản lý thủy sản.

Các hoạt động này thu hút sự tham gia của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, tạo diễn đàn trao đổi kinh nghiệm và chia sẻ giải pháp phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam trong thời gian tới.

Ngành thủy sản cũng đang dịch chuyển sang cách tiếp cận theo hệ sinh thái thay vì phát triển riêng lẻ từng khâu.

Trong nhiều năm, điểm yếu lớn của ngành không nằm ở năng lực sản xuất mà ở khả năng liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi giá trị. Người nuôi thiếu kết nối với doanh nghiệp chế biến; doanh nghiệp xuất khẩu thiếu dữ liệu vùng nguyên liệu; logistics lạnh

chưa đồng bộ; trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận vốn và công nghệ.

Hệ quả là chi phí sản xuất cao, chất lượng thiếu ổn định và giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng.

Trong xu hướng đó, các chương trình kết nối giao thương B2B tại VinaFIS Expo 2026 trở thành cầu nối quan trọng nhằm

thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với đối tác quốc tế, giữa công nghệ với sản xuất và giữa thị trường với chuỗi

cung ứng.

Theo nhiều chuyên gia, trong giai đoạn phát triển mới, cạnh tranh sẽ không còn là cạnh tranh

giữa từng doanh nghiệp riêng

lẻ mà là cạnh tranh giữa các hệ

sinh thái sản xuất. Quốc gia nào xây dựng được chuỗi liên kết

hiệu quả hơn sẽ có lợi thế lớn hơn trong cuộc đua toàn cầu.

Từ triển lãm công nghệ

đến khát vọng nâng tầm

thủy sản Việt

Không chỉ phản ánh xu hướng

phát triển mới của ngành,

VinaFIS Expo 2026 còn cho thấy khát vọng nâng tầm vị thế thủy

sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong nhiều năm, Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn chủ yếu tham gia ở khâu gia công hoặc xuất khẩu nguyên liệu, trong khi giá trị gia tăng và năng lực xây dựng thương hiệu vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của ngành.

Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển dịch mạnh hơn sang chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu cho thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Xa hơn câu chuyện xúc tiến thương mại, triển lãm đang góp phần thúc đẩy tư duy phát triển mới cho ngành thủy sản Việt Nam, nơi công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững trở thành nền tảng cạnh tranh quan trọng.

VinaFIS Expo 2026 không chỉ là một sự kiện chuyên ngành

mà còn phản chiếu hành trình chuyển đổi của thủy sản Việt

Nam trong giai đoạn mới. Ở đó là áp lực phải thay đổi nhanh hơn trước những tiêu chuẩn quốc tế khắt khe hơn; là kỳ vọng về một ngành sản xuất hiện đại, xanh và có giá trị gia tăng cao hơn; đồng thời cũng cho thấy quyết tâm của doanh nghiệp Việt trong việc từng bước nâng vị thế trên bản đồ thủy sản toàn cầu. Từ một triển lãm công nghệ, VinaFIS Expo 2026 cho thấy, thủy sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mớinơi giá trị không còn nằm ở sản lượng đơn thuần mà ở năng lực công nghệ, mức độ minh bạch và khả năng phát triển bền vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Định hướng tăng trưởng xanh

và hội nhập chuỗi giá trị toàn

cầu

trong NTTS

Ngành nuôi trồng thủy sản

(NTTS) Việt Nam đang đứng

trước bước ngoặt quan trọng khi

phải chuyển đổi mạnh mẽ sang

mô hình tăng trưởng xanh, bền

vững và có giá trị gia tăng cao.

Những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, cùng

với áp lực từ biến đổi khí hậu và

các vấn đề nội tại, đang đặt ra nhu cầu cấp thiết về một chiến

lược phát triển toàn diện, dài hạn.

Tại hội nghị hợp tác Việt Nam - Hà

Lan tổ chức ngày 29/4/2026 tại TP. Hồ Chí Minh trong khuôn khổ Vinafis Expo 2026, ông Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã nhấn mạnh định hướng chuyển đổi của ngành trong giai đoạn tới, với trọng tâm là nâng cao giá trị, phát triển bền vững và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Áp lực từ thị trường và những “nút thắt” nội tại

Trong nhiều năm qua, NTTS Việt Nam đã

đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần đưa đất nước trở thành một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Hiện nay, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có sản lượng nuôi trồng lớn nhất và top 3 về xuất khẩu thủy sản toàn cầu.

Chia sẻ tại hội nghị, ông Ngô Thế Anh cho biết, giai đoạn 2020 - 2025, diện tích nuôi trồng cả nước duy trì ổn định ở mức khoảng 1,3 triệu ha, trong khi sản lượng tăng trưởng đều, từ 4,74 triệu tấn lên hơn 6,1 triệu tấn. Đáng chú ý, sau giai đoạn sụt giảm vào năm 2023, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã phục hồi mạnh mẽ, đạt trên 8 tỷ USD vào năm 2025. Kết quả này phản ánh sự nỗ lực của toàn ngành trong việc đổi mới mô hình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành NTTS cần tiếp tục giải quyết nhiều thách thức.

Một trong những áp lực lớn nhất đối với ngành hiện nay là yêu cầu ngày càng cao từ các thị trường nhập khẩu. Các tiêu chí về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và giảm phát thải carbon đang trở thành điều kiện bắt buộc. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp và người nuôi phải thay đổi cách tiếp cận, từ sản xuất truyền thống sang mô hình hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ rệt đến hoạt động nuôi trồng, đặc biệt tại các vùng trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long. Tình trạng xâm nhập mặn, thay đổi nhiệt độ, dịch bệnh gia tăng và chi phí sản xuất leo thang đang làm gia tăng rủi ro cho người nuôi.

Ở góc độ nội tại, ngành NTTS vẫn tồn tại

nhiều hạn chế như sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán; ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển

đổi số chưa đồng bộ; chất lượng con giống chưa ổn định; hệ thống kiểm soát dịch bệnh và môi trường còn nhiều bất cập. Hạ tầng vùng nuôi và quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển quy mô lớn, hiện đại.

Theo ông Ngô Thế Anh, những vấn đề này mang tính hệ thống, đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể, đồng bộ và gắn với tái cấu trúc ngành theo chuỗi giá trị bền vững.

Trong bối cảnh đó, ngành NTTS Việt Nam đã xác định tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu trở thành lĩnh vực sản xuất chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn trong ngành thủy sản, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trọng tâm của chiến lược là phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, quản lý dựa vào hệ sinh thái và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Không chỉ chú trọng sản lượng, ngành hướng tới sự cân bằng giữa ba trụ cột là kinh tế, xã hội và môi trường.

“Chúng tôi định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản không chỉ là tăng sản lượng, mà phải đảm bảo hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường, phù hợp với chiến lược dài hạn của quốc gia”, ông Ngô Thế Anh cho biết.

Sáu nhóm giải pháp trọng tâm

Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, theo ông Ngô Thế Anh, ngành NTTS đã đề ra sáu nhóm giải pháp trọng tâm.

Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao chất lượng quy hoạch. Việc thúc

đẩy hợp tác công - tư (PPP) và phát triển các cơ chế tài chính xanh được xem là yếu tố then chốt để huy động nguồn lực cho ngành.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chuỗi phát triển bền vững, tập trung các đối tượng chủ lực như tôm, cá tra và các đối tượng kinh tế tiềm năng khác.

Thứ ba, thực hiện tái cơ cấu theo hướng tổ chức sản xuất theo chuỗi. Ngành sẽ tập trung phát triển các vùng nuôi tập trung, khuyến khích mô hình nuôi tích hợp đa giá trị và mở rộng nuôi biển xa bờ.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông minh, đặc biệt là công nghệ số, Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý và sản xuất. Xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử toàn chuỗi, đồng thời tăng cường quản lý môi trường và cảnh báo sớm dịch bệnh, rủi ro khí hậu. Thứ năm, phát triển chuỗi giá trị bền vững thông qua liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ giống, thức ăn, nuôi trồng đến chế biến và xuất khẩu. Việc tăng cường chế biến sâu và đạt các chứng nhận quốc tế như ASC, BAP, hữu cơ sẽ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, dễ dàng tiếp cận các thị trường.

Thứ sáu, ngành sẽ tập trung kiểm soát chất lượng nước, giảm phát thải, phục hồi các hệ sinh thái quan trọng như rừng ngập mặn, đầm phá và vùng ven biển. Cùng đó là giảm phụ

Ông Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư: Ngành nuôi trồng thủy sản đang chuyển dịch rõ nét từ tăng trưởng theo sản lượng sang tăng trưởng theo giá trị và hiệu quả, hướng tới phát triển bền vững hơn.

thuộc vào nguồn tự nhiên và thúc đẩy nguyên liệu thức ăn bền vững.

Hợp tác - Động lực cho chuyển đổi bền vững

Trong tiến trình chuyển đổi, hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là quan hệ Việt Nam - Hà Lan với hơn 50 năm phát triển. Hai bên đang triển khai nhiều chương trình hợp tác cụ thể, tập trung vào chuyển giao công nghệ nuôi trồng, phát triển giống, quản lý môi trường và đào tạo nguồn nhân lực. Đồng thời, các dự án cũng hướng tới mở rộng thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra và cá rô phi. Nổi bật trong hợp tác là cách tiếp cận tích hợp (combi-track), kết nối chặt chẽ giữa khu vực công và tư, từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp đến người nuôi và giới nghiên cứu. Cách tiếp cận này giúp đảm bảo tính thực tiễn và khả năng nhân rộng của các mô hình.

Cùng đó, nhiều dự án tiêu biểu cũng đã được triển khai, như ShrimpTechVietnam với mục tiêu giảm phát thải thông qua ứng dụng công nghệ IoT và năng lượng tái tạo; hay mô hình TomGoxy® Zero kết hợp nuôi tôm với phục hồi rừng ngập mặn.

Trong lĩnh vực giống, dự án AquaGene Vietnam tập trung cải thiện di truyền, nâng cao khả năng kháng bệnh. Đối với cá tra, dự án DeltaVax thúc đẩy ứng dụng vắc-xin và công nghệ nuôi tuần hoàn, giúp giảm phụ thuộc vào kháng sinh.

Ngoài ra, các sáng kiến như DeltaCare, MACIB hay Empower Youth4Food còn chú trọng đến phúc lợi động vật, bình đẳng giới và thu hút thế hệ trẻ tham gia vào ngành.

“Chúng tôi kỳ vọng hợp tác với Hà Lan sẽ tiếp tục tạo ra những đột phá về công nghệ, quản trị và tài chính, góp phần đưa ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam phát triển bền vững và có trách nhiệm hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Ngô Thế Anh khẳng định. Với định hướng rõ ràng cùng những giải pháp cụ thể và sự hỗ trợ từ hợp tác quốc tế, ngành nuôi trồng

Kiến tạo tương lai xanh

cho ngành thủy sản Việt Nam

Không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế, ngành thủy sản Việt

Nam đang nỗ lực cân bằng giữa lợi nhuận, môi trường và an sinh xã hội. Việc thực thi các tiêu chuẩn quốc tế được xem là bước đi chiến lược, giúp doanh nghiệp nội địa nâng

cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa khát vọng kiến tạo một tương lai xanh bền vững.

Định hướng tất yếu

Ngành thủy sản từ lâu đã giữ vai trò trụ cột trong nền kinh tế Việt Nam. Với đường bờ biển dài và tài nguyên phong phú, ngành không chỉ đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu mà còn là sinh kế của hàng triệu lao động.

Tuy nhiên, trước những thách thức về biến đổi khí hậu và áp lực từ thị trường toàn cầu, phát triển bền vững đã trở thành định hướng tất yếu. Đây là một quá trình vận hành dựa trên nền tảng khoa học và sự tôn trọng các quy luật tự nhiên nhằm duy trì nguồn lợi cho các thế hệ tương lai. Một mô hình bền vững thực thụ phải

đảm bảo sự cân bằng tuyệt đối giữa ba yếu tố

cốt lõi: Kinh tế, Môi trường và Xã hội.

Về kinh tế, hoạt động sản xuất phải chuyển

dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, mang lại giá trị gia tăng cao. Về môi trường, phải hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển, bảo vệ đa dạng sinh học và nguồn nước. Về xã hội, phát triển bền vững cần đảm bảo sinh kế ổn định, an toàn và phúc lợi cho cộng đồng ngư dân ven biển - những người trực tiếp giữ gìn chủ quyền và nguồn lợi biển đảo. Trong bối cảnh các thị trường lớn như Liên minh châu Âu (EU), Bắc Mỹ hay Nhật Bản ngày

càng siết chặt các quy định về truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và môi trường, việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế chính là “tấm vé thông hành” bắt buộc. Các tiêu chuẩn này đã tiến hóa thành bộ khung quản trị toàn diện, bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị: từ chọn giống, quản lý vùng nuôi đến chế biến và phân phối. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế mang lại những lợi ích đa tầng cho doanh nghiệp. Trước hết, đó là chứng nhận uy tín nhất để thâm nhập vào các phân khúc thị trường cao cấp nhất. Thứ hai, nó giúp nâng cao giá trị thương hiệu, xây dựng niềm tin vững chắc với các đối tác và người tiêu dùng quốc tế. Trong cuộc đua khốc liệt về giá, những doanh nghiệp sở hữu chứng nhận bền vững thường có lợi thế thương thảo giá bán tốt hơn, dễ dàng ký kết các hợp đồng dài hạn và duy trì sự ổn định trong đầu ra sản phẩm. Xa hơn thế, việc thực thi tiêu chuẩn còn thúc đẩy doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu lãng phí và nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ.

Chuyên gia Trương Hoàng Lạc từ SGS

Việt Nam chia sẻ tại phiên Hội thảo trong

Khuôn khổ Triển lãm Quốc tế Khoa học

Công nghệ Thủy sản Việt Nam

Việt Nam lần thứ nhất (VinaFIS Expo 2026), nhiều chuyên gia đã chia sẻ những xu hướng và giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.

Ông Đinh Xuân Lập, Phó Giám đốc Trung

tâm hợp tác quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững (ICAFIS), Hội Thủy sản

Việt Nam, nhận định: “Xu hướng tiêu dùng thế giới đang có sự dịch chuyển rõ rệt sang các sản phẩm có trách nhiệm và bền vững. Đáng chú ý, yêu cầu này không còn chỉ dừng lại ở sản phẩm cuối cùng mà lan rộng ra toàn bộ chuỗi cung ứng, từ con giống cho đến lĩnh vực thức ăn thủy sản. Các tiêu chuẩn này đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt từ quy định địa phương đến quốc tế, đặc biệt là yêu cầu truy xuất nguồn gốc phải được thực hiện xuyên suốt và minh bạch”.

Trong bối cảnh đó, Dự án cải thiện nghề cá (FIP) nổi lên như một sáng kiến chiên lược toàn cầu. FIP đóng vai trò “cầu nối” kết nối đa bên, từ ngư dân, doanh nghiệp đến các nhà bán lẻ quốc tế. Dự án không chỉ giúp nâng chuẩn khai thác để đáp ứng các yêu cầu chống khai thác bất hợp pháp (IUU) mà còn trực tiếp cải thiện thu nhập và điều kiện lao động cho ngư dân - những chủ thể quan trọng nhất trong việc bảo vệ nguồn lợi biển. Ở góc độ quản trị, ông Trương Hoàng Lạc, chuyên gia Đánh giá và Đào tạo cấp cao SGS

Việt Nam nhấn mạnh, thị trường quốc tế đang chuyển mạnh từ kiểm soát sản phẩm đơn lẻ

sang kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị. Điều này buộc doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tích hợp (bao gồm an toàn thực phẩm, an ninh thực phẩm và chống gian lận thực phẩm). Các tiêu chuẩn thuộc khuôn khổ GFSI như BRCGS, FSSC 22000 hay GlobalG.A.P. đang trở thành ngôn ngữ chung của ngành. Đặc biệt, chứng nhận Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) cho phép minh bạch hóa mọi công đoạn, tạo ra sự tin tưởng tuyệt đối cho khách hàng.

Đột phá công nghệ và tư duy sản xuất

Phát triển bền vững sẽ mãi là khẩu hiệu nếu thiếu đi sự trợ lực mạnh mẽ từ khoa học và công nghệ. Hiện nay, các doanh nghiệp thủy sản hàng đầu Việt Nam đang tiên phong trong việc thử nghiệm và nhân rộng những mô hình sản xuất thông minh, thân thiện với môi trường. Ở lĩnh vực nuôi tôm, chương trình nuôi tôm an toàn sinh học C.P. Biotic Farming của Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam là một ví dụ điển hình về sự đổi mới. Theo ông Nguyễn Đình Quang, Trưởng phòng Quản lý và phát triển sản phẩm Biotic của C.P Việt Nam, phương pháp nuôi tôm phải dựa trên an toàn sinh học, kiểm soát đồng thời tôm, mầm bệnh, môi trường. Việc chuyển dịch sang quản trị bằng vi sinh và công nghệ là hướng đi tất yếu để xóa bỏ sự phụ thuộc vào hóa chất, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả sản xuất.

Bên cạnh đó, giải pháp về quản lý màu nước ao nuôi bằng màu nhân tạo của Công ty Khoa Kỹ Sinh vật Thăng Long cũng giúp ổn định môi trường, giảm stress cho vật nuôi, từ đó tối ưu năng suất một cách bền vững.

Phát triển thủy sản bền vững là hành trình dài hơi, đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ từ mọi mắt xích trong chuỗi giá trị. Những thông tin từ Triển lãm Quốc tế Khoa học Công nghệ Thủy sản Việt Nam lần thứ nhất đã cho thấy một tín hiệu lạc quan: Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “số lượng” sang “chất lượng và trách nhiệm”. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, các nhà khoa học và doanh nghiệp, cùng với việc nâng cao nhận thức của toàn ngành.

Một mắt xích quan trọng khác trong chuỗi bền vững chính là khâu thức ăn thủy sản. TS Nguyễn Đình Hải, Quản lý Kỹ thuật Marketing, CJ BIO Việt Nam đã chỉ ra rằng, việc giảm phụ thuộc vào bột cá (nguồn protein từ khai thác tự nhiên) là chìa khóa để bảo vệ đại dương. Thay vào đó, ngành thức ăn đang hướng tới các nguồn protein chức năng thay thế, kết hợp với peptide và nucleotide để cải thiện hệ tiêu hóa và tăng cường miễn dịch cho vật nuôi. Điển hình như Nextide Aqua, nguồn protein chức năng thay thế hiệu quả một phần bột cá và mang lại lợi ích kinh tế. Nextide Aqua cùng các sáng kiến protein thay thế không đơn thuần chỉ giải quyết bài toán dinh dưỡng, mà còn là minh chứng cho tư duy kinh tế tuần hoàn. Việc tối ưu hóa những nguyên liệu mới này giúp giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và thiết lập một quy trình sản xuất khép kín - nơi phế phẩm của công đoạn này trở thành nguồn lực đầu vào cho công đoạn kế tiếp.

Cùng hướng đi tận dụng tối đa tài nguyên, bà Bùi Thị Ngọc Phi, Giám đốc kỹ thuật thủy sản của Công ty TNHH Thức ăn Gia súc Lái Thiêu, cho biết việc sử dụng astaxanthin từ phụ phẩm tôm kết hợp protein thủy phân đang tạo ra những giá trị mới. Giải pháp này không chỉ nâng cao chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm thủy sản mà còn mở ra cơ hội giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, thúc đẩy sự tự chủ cho ngành sản xuất thức ăn trong nước.

Nguyễn Hằng

Toàn cảnh các hoạt động

tại VinaFIS

Expo 2026

Diễn ra tại SECC (TP.HCM), VinaFIS Expo 2026 thu hút đông

đảo doanh nghiệp, chuyên gia, người nuôi và khách tham quan trong nước, quốc tế. Bên cạnh hoạt động trưng bày sản phẩm, triển lãm còn diễn ra nhiều

chương trình kết nối thương

mại, giới thiệu công nghệ và trải

nghiệm thực tế trong lĩnh vực thủy sản. Lễ khai

Chuyển đổi số phục vụ quản lý phúc lợi tôm

Các yêu cầu về phúc lợi động vật đang trở thành một trong những tiêu chuẩn mới định hình thương mại thủy sản toàn cầu. Nếu trước đây đây chủ yếu được xem là vấn đề đạo đức trong sản xuất, thì nay đã chuyển thành rào cản kỹ thuật bắt buộc tại nhiều thị trường nhập khẩu lớn, đặc biệt là Liên minh châu Âu (EU).

Ảnh: ST

“Tấm vé” vào thị trường EU

Người tiêu dùng châu Âu ngày càng quan tâm đến cách thức động vật được nuôi, vận chuyển và chế biến. Xu hướng này đang buộc các chuỗi bán lẻ lớn phải nâng chuẩn thu mua thủy sản, trong đó có mặt hàng tôm nhiệt đới.

Từ năm 2026, nhiều hệ thống bán lẻ lớn tại EU và Anh như Tesco, Marks & Spencer, Sainsbury’s hay Waitrose yêu cầu tôm phải được gây ngất hoàn toàn trước khi sơ chế, thay cho phương pháp sốc lạnh truyền thống. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp không chỉ cần đáp ứng yêu cầu về chất lượng hay an toàn thực phẩm mà còn phải chứng minh quy trình sản xuất mang tính nhân đạo hơn đối với vật nuôi.

Đây được xem là thay đổi mang tính bước ngoặt đối với chuỗi cung ứng tôm toàn cầu. Nếu trước kia doanh nghiệp có thể xử lý nhiều rào cản bằng hồ sơ chứng nhận hoặc thủ tục hành chính, thì nay các yêu cầu về phúc lợi động vật buộc họ phải đầu tư thực sự vào công nghệ và quy trình vận hành.

Theo đó, các nhà máy chế biến phải đầu tư hệ thống gây ngất bằng điện, thay đổi quy trình thu hoạch và tăng cường kiểm soát vận chuyển tôm sống. Ở khâu nuôi, EU cũng siết chặt yêu cầu về mật độ thả nuôi, điều kiện môi trường và hạn chế các biện pháp gây tổn thương đối với tôm bố mẹ tại trại giống. Nhiều tiêu chuẩn mới còn yêu cầu giám sát liên tục bằng camera hoặc cảm biến môi trường nước nhằm kiểm soát mức độ stress của vật nuôi.

Đáng nói là các yêu cầu này đang chuyển nhanh từ khuyến nghị đạo đức sang điều kiện bắt buộc để duy trì tư cách nhà cung cấp. Điều đó khiến câu chuyện phúc lợi

động vật không còn nằm ở trách nhiệm xã hội đơn thuần mà trở thành điều kiện cạnh tranh trực tiếp tại thị trường EU. Ở góc độ tích cực, việc đáp ứng các tiêu chuẩn phúc lợi động vật cũng mở ra cơ hội

để ngành tôm Việt Nam thoát khỏi cuộc cạnh tranh bằng giá rẻ. Tôm được nuôi trong điều kiện ít stress thường có chất lượng cơ thịt tốt hơn, màu sắc đẹp hơn và tỷ lệ hao hụt thấp hơn. Điều này giúp nâng cao giá trị sản phẩm và tạo cơ hội tham gia sâu hơn vào các phân khúc cao cấp.

Chuyển đổi số - chìa khóa đảm bảo phúc lợi tôm nuôi

Để đáp ứng các yêu cầu mới, ngành tôm không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống mà cần chuyển sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu và công nghệ số.

Trong nhiều năm, chuyển đổi số trong nuôi tôm thường được hiểu là tự động hóa cho ăn, sử dụng cảm biến môi trường hay hệ thống điều khiển ao nuôi từ xa. Tuy nhiên, một hướng tiếp cận mới đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn chuyển đổi số phục vụ quản lý phúc lợi tôm.

Phát biểu tại Hội thảo Ứng dụng giải pháp số và cơ sở dữ liệu cho phát triển thủy sản trong khuôn khổ Triển lãm VinaFis Expo 2026 vừa qua, đại diện Viện Nông nghiệp Thực phẩm (FAI), chia sẻ: Cách tiếp cận này coi dữ liệu là nền tảng cốt lõi để theo dõi sức khỏe, môi trường sống và mức độ stress của tôm trong suốt quá trình nuôi. Thay vì đánh giá cảm tính, người nuôi có thể dựa vào các chỉ số cụ thể liên quan đến môi trường nước, dinh dưỡng, sức khỏe và hành vi để điều chỉnh quy trình sản xuất kịp thời.

Các công cụ số như ứng dụng di động, hệ thống cảm biến và nền tảng lưu trữ dữ liệu đang giúp việc quản lý trở nên trực quan và hiệu quả hơn. Người nuôi có thể cập nhật dữ liệu ngay tại ao nuôi, theo dõi biến động theo thời gian và nhanh chóng phát hiện các nguy cơ ảnh hưởng đến phúc lợi vật nuôi.

“Dữ liệu được chuẩn hóa theo các ngưỡng khoa học giúp người nuôi xác định rõ trạng thái tối ưu, chấp nhận được hay nguy cấp của từng chỉ số. Đây là bước tiến quan trọng giúp ngành nuôi tôm chuyển từ mô hình sản xuất dựa vào kinh nghiệm sang mô hình dựa trên dữ liệu và khoa học”, đại diện FAI nhấn mạnh. Không chỉ phục vụ quản lý nội bộ, dữ liệu còn trở thành công cụ chứng minh trách nhiệm sản xuất với khách hàng và nhà nhập khẩu. Không chỉ vậy, chuyển đổi số còn giúp thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và người nuôi. Thông qua các nền tảng đào tạo trực tuyến, kiến thức khoa học về phúc lợi tôm được chuyển hóa thành hướng dẫn đơn giản, dễ áp dụng ngay tại trang trại. Người nuôi có thể tiếp cận các khóa học đa ngôn ngữ chỉ với điện thoại thông minh, từ đó nâng cao kỹ năng quản lý và chuẩn hóa quy trình sản xuất.

EU là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng của tôm Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 579,8 triệu USD, tăng 19,9% so với năm 2024, chiếm 12,6% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm. Tuy nhiên, để duy trì thị phần tại thị trường EU, ngành tôm buộc phải thích ứng kịp thời với các chuẩn mực mới.

Quan trọng hơn, mô hình chuyển đổi số này có tính bao trùm cao, phù hợp cả với nông hộ nhỏ, lực lượng chiếm phần lớn diện tích nuôi tôm tại Việt Nam. Các công cụ được thiết kế theo hướng chi phí thấp, dễ tiếp cận và dễ sử dụng, giúp người nuôi nhỏ lẻ cũng có cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong dài hạn, dữ liệu phúc lợi có thể trở thành một phần của hệ thống chứng nhận và xây dựng thương hiệu cho tôm Việt Nam. Các doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu này để chứng minh cam kết với sản xuất bền vững, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh tại các thị trường cao cấp.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang chuyển mạnh sang các tiêu chuẩn xanh và minh bạch, khả năng ứng dụng công nghệ số để đảm bảo phúc lợi vật nuôi sẽ là chìa khóa giúp ngành tôm Việt Nam nâng cao giá trị, giữ vững thị trường xuất khẩu và phát triển bền vững trong tương lai.

Minh bạch phải bắt đầu

từ

“gốc” của chuỗi

Áp lực với ngành thủy sản hiện không còn chỉ nằm ở giá thành hay sản lượng xuất khẩu. Từ chống khai thác IUU đến yêu cầu truy xuất nguồn gốc và phát triển xanh, thị trường đang đòi hỏi ngày càng nhiều thông tin phía sau mỗi lô hàng. Khi cạnh tranh chuyển sang tính minh bạch và độ tin cậy của chuỗi cung ứng, bài toán lớn nhất của ngành lại nằm ở chính phần “gốc” của chuỗi sản xuất.

Trong nhiều năm, thủy sản Việt Nam quen với cuộc cạnh tranh về giá. Khi chi phí đầu vào tăng, doanh nghiệp tối ưu sản xuất. Khi thị trường siết tiêu chuẩn chất lượng, ngành tập trung nâng công nghệ chế biến, mở rộng vùng nuôi đạt chứng nhận và tăng kiểm soát an toàn thực phẩm.

Nhưng vài năm gần đây, áp lực lớn hơn bắt đầu xuất hiện: Minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng. Thị trường không còn chỉ hỏi sản phẩm có đạt tiêu chuẩn hay không. Nhà nhập khẩu muốn biết nguyên liệu đến từ đâu, ai nuôi, ai khai thác, quy trình sản xuất ra sao và dữ liệu có đủ khả năng xác thực hay không.

Một container thủy sản xuất khẩu giờ không chỉ mang theo hàng hóa, mà còn đi cùng “hồ sơ” của cả quá trình sản xuất phía sau. Đó cũng là lý do truy xuất nguồn gốc, nhật ký điện tử, mã số vùng nuôi hay số hóa dữ liệu nghề cá được nhắc tới nhiều hơn trong ngành thủy sản thời gian gần đây. Từ yêu cầu chống khai thác IUU đến xu hướng tiêu dùng xanh và giảm phát thải, tất cả đang dẫn tới một đòi hỏi chung: chuỗi sản xuất phải

rõ ràng hơn. Vấn đề nằm ở chỗ, yêu cầu đó không thể giải quyết chỉ ở khâu cuối cùng.

Thị trường mua cả quy trình

Cách đây hơn một thập kỷ, lợi thế lớn của thủy sản Việt Nam nằm ở khả năng cung ứng nhanh với giá cạnh tranh. Doanh nghiệp tập trung mở rộng công suất chế biến để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh từ Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và nhiều thị trường khác. Nhưng thị trường hiện nay đã khác. Sau đại dịch COVID-19 cùng biến động địa chính trị và xu hướng tiêu dùng xanh, yêu cầu đối với thủy sản nhập khẩu ngày càng khắt khe hơn. Người mua không chỉ quan tâm chất lượng sản phẩm mà còn chú ý tới tính bền vững và mức độ minh bạch của toàn bộ quá trình sản xuất.

Một lô hàng tôm xuất khẩu hiện có thể phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chuẩn: An toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường nuôi, trách nhiệm lao động và phát thải carbon. Trong lĩnh vực khai thác, áp lực còn lớn hơn khi Việt Nam vẫn đang trong quá trình tháo gỡ “thẻ vàng” IUU của Ủy ban châu Âu (EC).

Điều này làm thay đổi cách thị trường đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thủy sản. Nếu trước đây giá bán là lợi thế quan trọng, thì hiện nay độ tin cậy của toàn bộ chuỗi lại trở thành yếu tố quyết định khả năng duy trì đơn hàng dài hạn. Nói cách khác, thị trường thế giới đang mua nhiều hơn một sản phẩm thủy sản. Họ muốn nhìn thấy cả quy trình tạo ra sản phẩm đó.

Điểm nghẽn ở đầu chuỗi

Truy xuất nguồn gốc gần như đã trở thành yêu cầu bắt buộc của ngành thủy sản. Nhưng khi đi vào thực tế, điểm nghẽn lớn nhất lại nằm ở phần đầu chuỗi.

Ở lĩnh vực khai thác biển, nhiều địa phương

đã triển khai thiết bị giám sát hành trình, nhật ký điện tử và hệ thống kiểm soát tàu cá cập cảng. Tuy nhiên, việc đồng bộ thông tin vẫn còn nhiều bất cập. Một số tàu cá vẫn duy trì thói quen ghi chép thủ công, nhiều ngư dân chưa quen với quy trình số hóa, trong khi hạ tầng tại nhiều cảng cá còn thiếu đồng bộ. Điểm nghẽn nằm ở chỗ thông tin đầu chuỗi vẫn rời rạc. Trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là ngành tôm, bài toán cũng không đơn giản hơn. Những năm gần đây, ngành liên tục thúc đẩy mã số vùng nuôi, nhật ký sản xuất điện tử và các mô hình nuôi đạt chứng nhận quốc tế. Tuy nhiên, phần lớn diện tích nuôi vẫn đến từ các hộ quy mô nhỏ và trung bình, nơi việc quản lý thông tin còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm truyền thống.

Không ít hộ nuôi vẫn ghi chép bằng sổ tay, thậm chí dựa vào trí nhớ sau mỗi vụ nuôi. Có doanh nghiệp phải thu gom thông tin từ hàng chục hộ nuôi nhỏ lẻ chỉ để hoàn thiện hồ sơ cho một lô hàng xuất khẩu.

Trong khi đó, yêu cầu từ thị trường lại đi theo hướng ngược lại: Thông tin phải chi tiết hơn, cập nhật thường xuyên hơn và có thể xác thực xuyên suốt toàn chuỗi.

Nhiều doanh nghiệp hiện đã chuyển sang xây dựng vùng nguyên liệu liên kết, đầu tư chuỗi nuôi riêng hoặc áp dụng nền tảng số trong quản lý vùng nuôi và thu mua nguyên liệu. Không ít doanh nghiệp tôm yêu cầu hộ nuôi cập nhật nhật ký điện tử, kiểm soát đầu vào thức ăn, thuốc và quy trình nuôi ngay từ đầu vụ.

Xu hướng này cho thấy cạnh tranh không còn nằm riêng ở nhà máy chế biến, mà đang

dịch chuyển sang khả năng kiểm soát dữ liệu trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Chuỗi giá trị thủy sản vì thế cũng dần chuyển thành chuỗi dữ liệu.

Minh bạch phải bắt đầu từ người nuôi Yêu cầu về minh bạch hiện không chỉ đến từ cơ quan quản lý hay các rào cản thương mại, mà còn từ chính người tiêu dùng.

Tại nhiều thị trường lớn, người mua ngày càng quan tâm tới tính bền vững của sản phẩm họ sử dụng. Một bộ phận khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, thân thiện môi trường và có trách nhiệm xã hội. Áp lực từ thị trường vì thế tiếp tục truyền ngược trở lại doanh nghiệp xuất khẩu và vùng nguyên liệu. Nếu trước đây truy xuất nguồn gốc được xem là “giá trị cộng thêm”, thì hiện nay nó đang dần trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia sâu hơn vào các thị trường cao cấp.

Vấn đề của ngành thủy sản hiện nay không còn nằm ở việc có bán được hàng hay không, mà là liệu chuỗi sản xuất có đủ minh bạch để tiếp tục đứng trong các thị trường lớn. Một chuỗi cung ứng minh bạch không thể hình thành chỉ bằng những bộ hồ sơ hoàn thiện ở khâu cuối cùng. Giá trị thực sự của truy xuất nguồn gốc nằm ở khả năng tạo lập thông tin ngay từ đầu chuỗi, nơi con giống được thả nuôi, nơi tàu cá rời bến và nơi nguyên liệu được thu hoạch.

Điều đó cũng đồng nghĩa người nuôi và ngư dân sẽ trở thành mắt xích quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi của ngành thủy sản những năm tới.

Muốn xây dựng hệ thống thông tin đồng bộ, trước hết cần giúp người sản xuất có khả năng tham gia vào hệ thống đó. Đây không chỉ là câu chuyện thiết bị hay phần mềm, mà còn là câu chuyện thay đổi thói quen sản xuất và tạo động lực đủ lớn để người dân sẵn sàng tham gia.

Trong cuộc cạnh tranh mới của ngành thủy sản, sản lượng có thể tạo ra lợi thế ngắn hạn, nhưng chỉ sự minh bạch mới giữ được thị trường lâu dài.

Cánh cửa mở ra

tầm nhìn và cơ hội mới

Các sự kiện hội chợ, triển lãm thủy sản trong

và ngoài nước là nơi để doanh nghiệp có thể học hỏi, cập nhật xu hướng thị trường, các tiến bộ khoa học công nghệ mới. Không những thế, đây còn là nơi để doanh nghiệp tăng cường khả năng kết nối, đánh giá đối tác.

Hàng năm, trên thế giới

thường diễn ra các kỳ hội chợ thủy sản quốc tế lớn, như: Hội chợ thủy sản Bắc Mỹ tại Boston (Mỹ); Hội chợ triển lãm thủy sản toàn cầu Seafood Expo Global tại Barcelona (Tây Ban Nha); Hội chợ Brussels (Bỉ); Hội chợ thủy sản Trạm Giang (Trung Quốc).

Tại Việt Nam, mới đây Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp cùng Hội Thủy sản Việt Nam đã tổ chức thành công Triển lãm Quốc tế Khoa học Công nghệ Thủy sản Việt Nam lần thứ nhất (VinaFIS Expo 2026). Đây được xem là

một trong những kênh xúc tiến

thương mại (XTTM) có tính chiến

lược, là đòn bẩy quan trọng giúp

doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu thị

trường, để có thể chủ động hơn

trong các hợp đồng thương mại

hay mở rộng thị trường tiêu thụ,

thị phần tại những thị trường lớn,

như: Mỹ, EU, Mỹ Latinh… nên thu

hút khá đông các doanh nghiệp

thủy sản lớn trong nước tham dự.

Mặc dù là quốc gia xuất khẩu

thủy sản lớn trên thế giới, nhưng

nhìn chung, hình ảnh, thương hiệu

thủy sản Việt Nam đối với người tiêu

dùng thế giới vẫn còn một khoảng

cách nhất định. Điều này lý giải vì

sao các doanh nghiệp ngày càng

quan tâm, tham gia nhiều hơn các

kỳ hội chợ, triển lãm chuyên ngành

thủy sản trong nước lẫn quốc tế.

Không những thế, doanh nghiệp

còn xem đây là cơ hội để người tiêu

dùng trong nước và thế giới biết

đến nhiều hơn các sản phẩm thủy

sản của Việt Nam.

Bà Trương Thị Lệ Khanh –

Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần

Vĩnh Hoàn từng chia sẻ: “Thông qua các kỳ hội chợ, triễn lãm trong nước và quốc tế, cùng với hiệu ứng tích cực từ truyền thông đã giúp phục hồi thị trường châu Âu cho con cá tra, giúp việc xuất

khẩu ngày càng thuận lợi hơn.

Có thể nói, các hội chợ, triển lãm thủy sản trong nước và quốc tế ngày càng được doanh nghiệp coi trọng, xem đây là một trong những kênh XTTM thiết thực và

hiệu quả nhất”.

Cũng liên quan đến cá tra, tại

Triển lãm Seafood Show Latin America lần thứ 4, tổ chức tại

Brazil vào tháng 10/2025, đại

diện của công ty Vĩnh Hoàn đánh giá Brazil hiện nằm trong top 3 thị trường nhập khẩu cá tra lớn nhất thế giới, sau Trung Quốc và Hoa Kỳ, đồng thời là thị trường có mức độ cạnh tranh cao về giá. Vì vậy, Vĩnh Hoàn đang tập

trung theo đuổi phân khúc chất lượng tốt và đáp ứng các yêu cầu của thị trường theo tiêu chuẩn của MAPA (Bộ Nông nghiệp và Chăn nuôi Brazil), đồng thời mở rộng vào nhóm khách hàng ưu tiên tiêu chuẩn cao và ổn định lâu dài. Ngoài cá tra, đây là dịp quan trọng để quảng bá hình ảnh ngành thủy sản và sản phẩm chủ lực, như: tôm, nhuyễn thể… nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các công ty như Vĩnh Hoàn, I.D.I, GODACO, đã tham dự với vai trò trưng bày và kết nối đối tác tại Brazil. Việc tham gia sự kiện mang lại những lợi thế cho các doanh nghiệp như: mở rộng thị trường xuất khẩu, tìm kiếm hợp tác đầu tư - gia công - chế biến, và cập nhật công nghệ mới trong ngành. Theo bà Phạm Hồng Trang, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Brazil, việc tham dự Triển lãm Seafood Show Mỹ Latinh 2025 giúp doanh nghiệp Việt

Nam không chỉ mở rộng cánh

cửa vào thị trường Brazil mà còn

góp phần nâng tầm vị thế của thủy sản Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh, thông qua đó tiếp cận trực tiếp các nhà nhập khẩu, siêu thị, chuỗi nhà hàng và nhà bán lẻ Brazil cũng như khu vực, đồng thời nâng cao hình ảnh thương hiệu trên thị trường quốc tế. Với sự chuẩn bị chuyên nghiệp như từ việc điều chỉnh bao bì, nhãn mác theo chuẩn tiếng Bồ Đào Nha/Tây Ban Nha, giới thiệu sản phẩm phù hợp thị hiếu đến xây dựng chiến lược truyền thông và kế hoạch

hậu triển lãm và chiến lược dài hạn, đây sẽ là bước tiến đáng kể trong hành trình đa dạng hóa thị trường xuất khẩu của Việt Nam.

Theo đánh giá của các doanh nghiệp, các kỳ hội chợ, triển lãm chuyên ngành trong nước và quốc tế cũng chính là cơ hội vàng

để doanh nghiệp gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với nhà nhập khẩu, nhà

phân phối và hệ thống bán lẻ. Điều

này rút ngắn thời gian tìm kiếm, đánh giá khả năng hợp tác, tăng cơ hội ký kết hợp đồng. Không những thế, doanh nghiệp còn có cơ hội giới thiệu các sản phẩm mới, các mặt hàng thế mạnh (ví dụ: cá tra, sản phẩm OCOP) đến người tiêu dùng và đối tác, nâng cao nhận diện thương hiệu.

Ngoài ra, các hội chợ, triển lãm quốc tế, trong nước còn giúp doanh nghiệp tiếp cận xu hướng tiêu dùng xanh, thân thiện với môi trường, từ đó thay đổi tư duy sản xuất và chế biến để đáp ứng tiêu chuẩn cao của các thị trường khó tính như EU. Tham gia các sự kiện quốc tế giúp doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội xuất khẩu mới, mở rộng thị phần ngoài các thị trường

truyền thống, ví dụ như thị trường

Mỹ Latinh, thị trường Halal...

Bên lề Hội chợ thủy sản Boston, ông Hồ Quốc Lực - Chủ tịch HĐQT CTCP Thực phẩm Sao

Ta từng có cuộc gặp gỡ với ông

Ngô Húa, một doanh nhân Việt thành đạt trong lĩnh vực kinh doanh thủy sản ở California và là người có tâm huyết góp sức cho con tôm, con cá tra Việt.

“Không chỉ là nhà nhập khẩu cá tra Việt lớn nhất ở Hoa Kỳ, ông Húa đưa chúng tôi tìm hiểu các trại tôm bố mẹ nổi tiếng ở Hawaii với hy vọng làm cầu nối để ngành nuôi tôm Việt có nguồn tôm giống tốt nhất. Và cũng trong lần gặp gỡ đó, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm

về đối thủ cạnh tranh lớn của con tôm Việt là Ecuador, bởi ông Húa cũng là nhà nhập khẩu Hoa Kỳ nhập tôm Ecuador lớn nhất. Rồi nghe anh Húa nói về cơ hội kinh doanh cá chẽm. Cá chẽm là một trong năm con cá thịt trắng có sản lượng lớn của thế giới. Nuôi cá chẽm ít bị cạnh tranh như cá rô phi...”, ông Lực chia sẻ. Câu chuyện XTTM từ các hội chợ, triển lãm chuyên ngành

thủy sản quốc tế và trong nước vẫn còn nhiều và doanh nghiệp mong muốn sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng trong việc tổ chức các đoàn tham gia hội chợ, triển lãm uy tín, đặc biệt là trong bối cảnh rào cản kỹ thuật và yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng cao. Chuyển từ XTTM truyền thống sang các hoạt động chuyên sâu, hướng tới các thị trường mục tiêu cụ thể, chú trọng các hội chợ đặc thù. Bởi, theo các doanh nghiệp, hội chợ và triển lãm chuyên ngành không chỉ là nơi giới thiệu sản phẩm mà còn là không gian chiến lược cho việc kết nối chuỗi cung ứng, từ người nuôi trồng, nhà cung cấp, doanh nghiệp chế biến đến hệ thống bán lẻ, giúp doanh nghiệp thủy sản nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Xuân Trường

Giảm

thiểu

rủi ro trong nuôi thủy sản

trước biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực

đoan, gây tác động trực tiếp đến

môi trường nuôi trồng thủy sản.

Trong bối cảnh đó, nhiều cơ sở

sản xuất đứng trước nguy cơ rủi ro cao về dịch bệnh, năng suất và

chi phí, đặt ra yêu cầu cấp thiết

về các giải pháp thích ứng để phát triển bền vững.

Thách thức khí hậu

Trong bối cảnh hiện nay, biến đổi khí hậu

không còn là xu hướng dài hạn mang tính cảnh báo, mà đã bước sang giai đoạn tác động trực tiếp, rõ rệt và ngày càng cực đoan hơn. Các báo cáo khí tượng cho thấy nhiệt độ trung bình toàn cầu liên tục tăng, đi kèm với sự gia tăng về tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết bất thường.

Khác với nhiều lĩnh vực nông nghiệp khác, thủy sản phụ thuộc gần như hoàn toàn vào môi trường nước - một yếu tố có tính biến

động cao và dễ bị tác động bởi khí hậu. Khi nền nhiệt tăng, cấu trúc sinh thái của nguồn nước thay đổi theo hướng bất lợi, kéo theo sự mất cân bằng trong chuỗi sinh học dưới nước. Những biến đổi mang tính nền tảng này không chỉ làm thay đổi điều kiện sống của vật

nuôi mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ chu trình sản xuất, từ con giống, quá trình sinh trưởng đến chất lượng sản phẩm cuối cùng. Đáng chú ý, biến đổi khí hậu không chỉ làm gia tăng các yếu tố bất lợi đơn lẻ mà còn tạo ra sự cộng hưởng rủi ro. Các hiện tượng như thời tiết cực đoan, suy giảm chất lượng nguồn nước và biến động môi trường xảy ra với tần suất dày hơn, khiến khả năng dự đoán và kiểm soát trong sản xuất ngày càng khó khăn. Điều này làm cho hoạt động nuôi trồng thủy sản vốn đã mang tính rủi ro tự nhiên càng trở nên nhạy cảm hơn trước các tác động bên ngoài. Bên cạnh yếu tố sinh thái, biến đổi khí hậu còn làm thay đổi cấu trúc chi phí và hiệu quả sản xuất trong ngành thủy sản. Áp lực thích ứng buộc người nuôi phải gia tăng

Biến đổi khí hậu đang đặt ngành nuôi

trồng thủy sản trước nhiều thách thức lớn, nhưng đồng thời cũng mở ra cơ hội để tái cấu trúc ngành theo hướng hiện

đại hơn. Khi các giải pháp kỹ thuật, tổ

chức sản xuất và chính sách hỗ trợ được

triển khai đồng bộ, khả năng thích ứng

của ngành sẽ được nâng cao, từ đó giảm

thiểu rủi ro và hướng tới phát triển ổn

định, bền vững trong dài hạn.

phòng ngừa rủi ro, trong khi tính ổn định của sản lượng lại có xu hướng giảm. Sự mất cân

đối này khiến bài toán kinh tế trong nuôi trồng thủy sản trở nên phức tạp hơn, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tiêu thụ biến động.

Tác động nặng nề

Trên thực tế, tại nhiều vùng nuôi trọng điểm, đặc biệt là khu vực ven biển và đồng bằng, các cơ sở nuôi trồng thủy sản đang chịu tác

động nặng nề từ biến đổi khí hậu. Một trong những vấn đề nổi bật là sự thiếu ổn định của môi trường nước. Nhiệt độ tăng cao vào mùa nắng kéo dài khiến nước ao nuôi nóng lên nhanh chóng, làm giảm hàm lượng ôxy hòa tan. Trong điều kiện đó, các đối tượng nuôi như tôm, cá dễ bị stress, giảm ăn, chậm lớn và dễ mắc bệnh.

Ngược lại, vào mùa mưa, lượng nước lớn

đổ về làm thay đổi đột ngột các chỉ tiêu môi trường như độ mặn, pH và độ kiềm. Sự thay đổi nhanh này khiến hệ sinh thái trong ao nuôi mất cân bằng, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển. Nhiều hộ nuôi ghi nhận tình trạng tôm, cá chết rải rác hoặc bùng phát dịch bệnh chỉ sau vài ngày mưa lớn kéo dài.

Bên cạnh yếu tố môi trường, dịch bệnh trong nuôi thủy sản cũng đang có xu hướng gia tăng cả về mức độ lẫn tần suất. Các bệnh nguy hiểm như hoại tử gan tụy cấp trên tôm, bệnh đốm trắng, bệnh gan thận mủ trên cá,… xuất hiện ngày càng phổ biến và khó kiểm soát hơn. Nguyên nhân không chỉ đến từ mầm bệnh mà còn do sức đề kháng của vật nuôi suy giảm trong điều kiện môi trường biến động.

Một thực trạng đáng chú ý khác là phần lớn cơ sở nuôi vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm truyền thống. Việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, đặc biệt là hệ thống ao lắng, ao xử lý nước và thiết bị quan trắc môi trường còn hạn chế. Nhiều hộ nuôi vẫn sử dụng nguồn nước trực tiếp từ tự nhiên mà chưa qua xử lý, làm tăng nguy cơ đưa mầm bệnh vào ao nuôi ngay từ đầu vụ.

Cùng với đó, công tác quản lý môi trường và theo dõi các chỉ số kỹ thuật còn mang tính thủ công, thiếu công cụ hỗ trợ hiện đại. Điều này khiến người nuôi khó phát hiện sớm các biến động bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời. Khi sự cố xảy ra, thiệt hại thường đã ở mức đáng kể.

Giải pháp thích ứng

Trước những thách thức ngày càng lớn từ

phương

thức nuôi trồng thủy sản theo hướng chủ động thích ứng là yêu cầu tất yếu. Trước hết, cần tăng cường đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng nuôi, đặc biệt là các công trình xử lý nước như ao lắng, ao dự trữ và hệ thống lọc nước. Đây là giải pháp nền tảng giúp kiểm soát chất lượng nguồn nước trước khi đưa vào ao nuôi, giảm thiểu nguy cơ phát sinh dịch bệnh.

Cải thiện các biện pháp quản lý cũng là giải pháp hiệu quả hướng tới thích ứng với biến đổi khí hậu. Đặc biệt, nâng cao độ an toàn sinh học, xem xét giảm mật độ thả giống và có sự đảm bảo về địa điểm nuôi. Việc thực hiện các biện pháp quản lý tốt nhất trên mọi khía cạnh sản xuất sẽ cải thiện khả năng phục hồi tổng thể của trại nuôi. Song song với đó, phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ. Các hệ thống quan trắc môi trường tự động, thiết bị đo các chỉ số nước theo thời gian thực và công nghệ cảnh báo sớm cần được phổ biến rộng rãi hơn đến người nuôi. Việc này giúp nâng cao khả năng dự báo và phản ứng nhanh trước các biến động bất lợi, hạn chế thiệt hại. Một giải pháp quan trọng khác là chuyển đổi đối tượng nuôi theo hướng phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu. Ưu tiên lựa chọn các giống có khả năng thích nghi tốt, chịu được biên độ môi trường rộng và ít rủi ro dịch bệnh sẽ giúp giảm áp lực cho người nuôi. Đồng thời, sử dụng con giống chất lượng cao, được kiểm dịch chặt chẽ cũng cần được chú trọng.

Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị đóng vai trò quan trọng trong giảm thiểu rủi ro. Khi tham gia hợp tác xã hoặc liên kết với doanh nghiệp, người nuôi không chỉ được hỗ trợ về kỹ thuật mà còn đảm bảo đầu ra ổn định hơn, giảm phụ thuộc vào thương lái và hạn chế rủi ro thị trường.

Ngoài ra, công tác quy hoạch vùng nuôi cần được thực hiện bài bản, gắn với điều kiện sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường. Việc phân vùng nuôi hợp lý, tránh tập trung quá mức cũng giúp giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh trên diện rộng khi xảy ra sự cố.

Giá trị gia tăng cao từ mô hình

NUÔI HÀU TREO DÂY

Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, chi phí đầu

tư thấp và đầu ra ổn định, nuôi hàu đang mở

ra cơ hội làm giàu bền vững tại nhiều địa

phương ven biển trên cả nước. Mô hình này

không chỉ giúp ngư dân cải thiện thu nhập

mà còn mở ra hướng đi mới gắn với phát

triển du lịch sinh thái, cộng đồng.

Khởi phát sinh kế cho ngư dân

Quảng Ninh

Từ năm 2006, Viện nghiên cứu

Nuôi trồng thủy sản I đã phối

hợp với Công ty TNHH Đầu

tư Phát triển Sản xuất Hạ Long (BIM Group) nhập

hàu Thái Bình Dương từ

Đài Loan về nuôi và thử

nghiệm sản xuất giống ở xã Thắng Lợi, huyện Vân

Đồn. Đối tượng nuôi này phù hợp với với vùng biển

Vân Đồn, Cẩm Phả nên nghề nuôi nơi đây có điều kiện phát triển mạnh, trở thành nguồn sinh kế quan trọng của hàng trăm hộ dân ven biển.

Dọc nhiều địa phương ven biển, cửa sông của tỉnh Quảng

Ninh, hình ảnh những bè tre, bè gỗ nổi trên mặt nước với hàng nghìn dây hàu buông dài đã trở nên quen thuộc, tạo nên một “cánh đồng thủy sản” đặc trưng giữa sông nước.

Người nuôi hàu tại cửa sông Chanh (thị xã Quảng Yên) cho biết, mỗi bè nuôi có diện tích lên tới hàng nghìn mét vuông, được kết cấu từ tre, gỗ và phao nổi. Trên mỗi dây treo có thể gắn từ 30 - 40 con hàu, với tổng trọng lượng lên tới 15 - 20 kg/dây khi thu hoạch. Nuôi hàu gần như không mất chi phí thức ăn nhờ tận dụng nguồn tảo và phù du trong tự nhiên, giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất so với nhiều đối tượng nuôi khác.

Trong khi đó, hiệu quả kinh

tế từ mô hình này khá rõ nét. Với quy mô hàng chục bè nuôi, mỗi vụ thu hoạch có thể đạt sản lượng từ vài chục đến hàng chục

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài, nhiều vịnh kín gió, cửa sông và đầm phá với độ mặn ổn định từ 15 - 30‰, rất thích hợp cho hàu phát triển. Hơn nữa, so với tôm hoặc cá biển, hàu ít bệnh, không cần dùng kháng sinh, không lo dịch bệnh bùng phát diện rộng.

tấn hàu thương phẩm mỗi bè, mang lại doanh thu hàng trăm

triệu đồng. Thị trường tiêu thụ ổn

định, đặc biệt là xuất khẩu sang

Trung Quốc.

Nghề nuôi hàu giúp người dân

ven biển yên tâm bám nghề, bám

biển. Việc tận dụng mặt nước

vùng cửa sông để phát triển nuôi

trồng thủy sản góp phần giảm áp

lực khai thác tự nhiên, đồng thời

tạo sinh kế bền vững hơn trong

bối cảnh nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm. Tuy vậy, nghề này

cũng đòi hỏi người dân phải nắm

vững kỹ thuật, đặc biệt là theo

dõi độ mặn, mùa sinh sản và các yếu tố môi trường. Nếu không

kiểm soát tốt, hàu có thể bị bệnh

hoặc chết hàng loạt. Đây chính là

thách thức đặt ra trong quá trình

phát triển nghề theo hướng ổn

định, lâu dài.

Phát triển nghề mới tại Đà Nẵng

Không chỉ phát triển mạnh ở miền Bắc, nghề nuôi hàu những

năm gần đây còn được mở rộng tại các địa phương miền Trung, trong đó có Đà Nẵng. Tại các vùng ven biển và xã đảo, người

dân đã bắt đầu chuyển đổi từ các

hình thức nuôi truyền thống sang

mô hình nuôi hàu bằng bè dây, một phương pháp linh hoạt và ít

rủi ro hơn.

Mô hình hàu treo dây tại xã

Tam Anh, TP Đà Nẵng được khởi

doanh thu hàng trăm triệu đồng, đồng thời tạo việc làm ổn định

cho 20 - 30 lao động địa phương.

Theo ông Nguyễn Hoài Toàn, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tam Anh, mô hình nuôi hàu đại dương của nông dân Trần Công Thành trên

sông Trường Giang là hướng đi mới

và mang lại giá trị kinh tế cao.

Khác với bè tre truyền thống

dễ hư hỏng trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, mô hình bè dây sử dụng hệ thống cọc tre cố định kết hợp dây cước và phao nổi. Khi thủy triều lên xuống, hệ thống này có thể tự điều chỉnh theo mực nước mà vẫn giữ ổn định cho hàu sinh trưởng.

Thực tế cho thấy, với điều kiện thuận lợi, người nuôi có thể đạt 1 - 2 vụ mỗi năm. Sản lượng hàng

chục tấn mỗi hộ không còn là

hiếm, mang lại doanh thu hàng

trăm triệu đồng. Quan trọng hơn, mô hình này đã mở ra một nghề mới cho người dân ven biển Đà Nẵng, nơi trước đây chủ yếu dựa vào khai thác hải sản tự nhiên.

Từ nuôi trồng thủy sản đến

điểm nhấn du lịch

Một trong những hướng đi

đáng chú ý của nghề nuôi hàu

hiện nay là kết hợp với phát triển du lịch, tiêu biểu tại các vùng

nuôi như Long Sơn (tỉnh Bà RịaVũng Tàu cũ).

Ông Nguyễn Công Thức, thôn

 Mô hình hàu treo dây phát triển rất mạnh tại tỉnh Quảng Ninh

Ảnh: Diễn đàn DN

phát từ hộ gia đình ông Trần Công

Thành. Với 5 ha mặt nước nuôi

hàu đại dương trên sông Trường

Giang, mỗi năm ông Thành xuất bán 300 - 400 tấn hàu vỏ, cho

2, xã Long Sơn, chia sẻ, nuôi hàu

chi phí không lớn, kỹ thuật đơn giản, chủ yếu bỏ công lao động chăm sóc, đầu ra và giá cả khá ổn định do được hợp tác xã thu mua

nên người nuôi yên tâm sản xuất. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi như nguồn nước giàu phù du, độ mặn ổn định, hàu nuôi ở đây phát triển nhanh, cho chất lượng thịt thơm ngon, được thị trường ưa chuộng. Điều này tạo nền tảng để xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương, đồng thời thu hút khách du lịch đến trải nghiệm. Theo lãnh đạo xã Long Sơn, từ những năm 1990, một số người dân bắt đầu nuôi thủy sản bằng lồng bè, trong đó phần lớn là hàu. Nghề nuôi ngày càng phát triển, cộng với phong cảnh sơn thủy hữu tình đã góp phần phát triển du lịch tại vùng đất này. Du khách đến các vùng nuôi hàu được trực tiếp ra bè, xem quy trình nuôi, thu hoạch và chế biến hàu tại chỗ. Những nhà hàng nổi giữa sông nước, với các món hàu tươi sống như nướng, hấp, ăn sống… đã trở thành điểm nhấn độc đáo, mang lại trải nghiệm khó quên. Mô hình kết hợp nuôi trồng thủy sản và du lịch tại Long Sơn mang lại nhiều lợi ích kép. Một mặt, giúp nâng cao giá trị sản phẩm thông qua tiêu thụ tại chỗ, mặt khác, góp phần quảng bá thương hiệu địa phương. Từ thực tế tại Quảng Ninh, Đà Nẵng và các địa phương khác, có thể thấy nghề nuôi hàu đang dần khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế ven biển. Không chỉ là sinh kế ổn định cho người dân, nghề này còn mở ra hướng đi mới gắn với du lịch và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh ngành thủy sản đang chuyển mình theo hướng hiện đại, thân thiện môi trường, nghề nuôi hàu từ những bè tre mộc mạc trên sông nước, đang viết nên câu chuyện mới về sự thích ứng, sáng tạo và phát triển bền vững của người dân ven biển Việt Nam.

Gỡ “nút thắt”

để mở rộng và quản lý hiệu quả

khu bảo tồn biển Việt Nam

Hệ thống khu bảo tồn biển được xác định là “lá chắn xanh”

quan trọng để phục hồi nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng

sinh học và phát triển kinh tế biển bền vững. Tuy nhiên,

cùng với những kết quả tích cực, công tác bảo tồn biển tại nước ta vẫn đối mặt nhiều thách thức.

Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần rộng hơn 18.400ha

Vai trò đặc biệt quan trọng

Tại Hội thảo “Giải pháp thiết lập và quản

lý hiệu quả các khu bảo tồn biển Việt Nam

đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” tổ

chức mới đây tại Khánh Hòa, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đã công bố báo cáo đánh giá kết

quả thực hiện quy hoạch khu bảo tồn biển

Việt Nam đến năm 2025 và kế hoạch triển khai giai đoạn 2026 - 2030.

Theo báo cáo, mục tiêu quy hoạch hệ thống

khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2030

gồm 11 khu bảo tồn biển cấp quốc gia và 16 khu bảo tồn biển cấp tỉnh, với tổng diện tích

vùng biển được khoanh vùng bảo tồn khoảng 463.587ha, chiếm khoảng 0,463% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia thuộc quyền tài phán của Việt Nam.

Trong số 11 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, nhiều khu đang được triển khai dự án thành lập hoặc điều chỉnh như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà - Long Châu, Bạch Long Vỹ hay Vịnh Nha Trang. Một số khu khác đã được xác định gồm Núi Chúa, Côn Đảo, Song Tử, Nam Yết và Thuyền Chài. Ở cấp tỉnh, quy hoạch xác định 16 khu bảo tồn biển trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang như Cô Tô - Đảo Trần, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Hòn Cau, Phú Quốc hay Nam Du - Hòn Sơn.

Hiện nay, Việt Nam đã có 7 khu bảo tồn biển được thành lập theo pháp luật thủy sản gồm Bạch Long Vỹ, Cô Tô - Đảo Trần, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Cau, Cà Mau và Phú Quốc. Đồng thời, có thêm 5 khu vực biển được quản lý trong các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên

Ảnh: ST

nhiên gồm Vườn quốc gia Núi Chúa, Côn Đảo, Cù Lao Chàm, Bái Tử Long và Cát Bà. Tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn hiện đạt khoảng 215.191ha, tương đương khoảng 46,44% mục tiêu diện tích bảo tồn biển đến năm 2030.

Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng

Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhận định: “Hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ là nền

tảng duy trì đa dạng sinh học mà còn là nơi

cư trú, sinh sản của nhiều loài thủy sinh quý

hiếm. Việc bảo tồn các hệ sinh thái này, thông qua phát triển hiệu quả hệ thống khu

bảo tồn biển, chính là giải pháp then chốt để bảo vệ các loài, phục hồi nguồn lợi và bảo

đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong dài hạn”.

Theo ông Hùng, trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản suy giảm, ô nhiễm môi trường biển gia tăng và biến đổi khí hậu ngày càng tác

động mạnh đến hệ sinh thái ven biển, việc tăng

cường hiệu quả quản lý các khu bảo tồn biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế biển xanh và sinh kế lâu dài của cộng đồng ngư dân.

Nhiều “nút thắt” cần được tháo gỡ

Bên cạnh những kết quả tích cực, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai quy hoạch khu bảo tồn biển. Nổi bật là tình trạng suy giảm nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái biển bị tác động mạnh; ô nhiễm môi trường biển; vi phạm pháp luật trong các khu bảo tồn biển còn diễn ra; nguồn nhân lực cho công tác bảo tồn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý; tổ chức bộ máy quản lý chưa thống nhất, đồng bộ. Ngoài ra, việc thiếu định mức kinh tế kỹ thuật cho phục hồi san hô, cỏ biển, thiếu biên chế và nguồn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cũng đang là những “nút thắt” lớn.

Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong thành lập và quản lý khu bảo tồn biển, đại diện Sở

Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ninh cho biết, tỉnh xác định, đánh giá khoa học là nền tảng quan trọng trong thành lập khu bảo tồn biển. Ranh giới và các phân khu chức năng được xây dựng trên cơ sở khảo sát đa dạng sinh học, rạn san hô, thảm cỏ biển và bãi đẻ tự nhiên của các loài thủy sinh.

Đặc biệt, địa phương coi sự đồng thuận của cộng đồng là “chìa khóa” quyết định thành công. Trong quá trình triển khai dự án thành lập Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức đối thoại trực tiếp với các hộ dân nuôi trồng, khai thác thủy sản trong vùng dự kiến bảo tồn. Kết quả, 100% hộ dân trong khu vực dự án đồng ý và ủng hộ phương án thành lập khu bảo tồn biển. Tỉnh lựa chọn mô hình giao Ban Quản lý

Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử quản lý khu bảo tồn biển nhằm tận dụng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện tuần tra kiểm soát và cơ chế tự chủ tài chính sẵn có.

Trong khi đó, tại Quảng Ngãi, việc điều chỉnh ranh giới và diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn được xem là bước đi cần thiết nhằm hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn với nhu cầu phát triển kinh tế biển, du lịch và quốc phòng - an ninh.

Theo báo cáo của Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn, khu bảo tồn được thành lập từ năm 2016 với tổng diện tích 9.613ha. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, địa phương đã triển khai điều chỉnh quy hoạch theo hướng phù hợp với Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2045. Sau điều chỉnh, tổng diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn còn 8.100ha. Các phân khu chức năng được bố trí lại hợp lý hơn nhằm tăng hiệu quả quản lý và giảm xung đột với nhu cầu phát triển không gian biển của địa phương. Đáng chú ý, quá trình lấy ý kiến cộng đồng được triển khai tại 6 thôn trên địa bàn đặc khu Lý Sơn với kết quả 100% ý kiến đồng thuận với phương án điều chỉnh. Từ thực tiễn triển khai, đại diện Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn Lý Sơn đề xuất, cần đồng bộ quy hoạch khu bảo tồn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường dữ liệu khoa học; bổ sung kinh phí cho điều tra, tuần tra, cắm phao và xây dựng hạ tầng quản lý; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi sinh kế cho ngư dân thông qua du lịch cộng đồng và nuôi biển bền vững. Để hoàn thành mục tiêu đến năm 2030, Phó Cục trưởng Nguyễn Quang Hùng nêu rõ, giai đoạn tới, Cục Thủy sản và Kiểm ngư sẽ tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm như thành lập mới các khu bảo tồn biển; điều chỉnh ranh giới, diện tích các khu bảo tồn; triển khai đề án thí điểm giao tổ chức ngoài công lập quản lý khu bảo tồn biển; ban hành bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển; đầu tư cơ sở hạ tầng; xây dựng các trung tâm cứu hộ thú biển, rùa biển; phục hồi san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn và đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững, các khu bảo tồn biển không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn đa dạng sinh học mà còn đóng vai trò quan trọng trong phục hồi nguồn lợi thủy sản, phát triển du lịch sinh thái, bảo vệ sinh kế cộng đồng và tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.

Thị trường tôm châu Á

Giá biến động mạnh, nhiều ẩn số Năm 2025, nguồn cung tôm toàn cầu tăng nhưng không đồng đều - Mỹ Latinh dẫn dắt và châu Á chịu áp lực từ dịch bệnh, chi phí và quy định. Giá tại ao nuôi biến động mạnh, trong khi triển vọng vẫn phụ thuộc vào sản xuất và rào cản thị trường.

Nguồn cung tăng, phân hóa sâu

Sản lượng tôm toàn cầu năm 2025 được dự báo tăng nhẹ so với năm 2024, chủ yếu nhờ động lực từ châu Á và Mỹ Latinh. Tại Shrimp Summit 2025 tổ chức ở Bali, nhóm phân tích Kontali ước tính sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 5,84 triệu tấn, tăng 6% so với mức 5,5 triệu tấn của năm trước. Tuy nhiên, các dự báo khác thận trọng hơn. Tại Responsible Seafood Summit 2025 ở Colombia, khảo sát của RaboResearch và Liên minh Thủy sản toàn cầu cho thấy mức tăng trưởng chỉ 2-3%, đưa tổng sản lượng lên khoảng 6,1 triệu tấn. Trong khi đó, nguồn cung tôm sú toàn cầu được ghi nhận tăng 4%, dẫn đầu bởi Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh.

Ở cấp độ quốc gia, Ecuador tiếp tục là điểm sáng tăng trưởng với mức dự báo 15%18%, đạt khoảng 1,75 triệu tấn. Sau giai đoạn 2024 mang tính củng cố, nhiều trang trại đổi chủ đã quay lại sản xuất trong năm 2025, tạo nền tảng cho đà tăng tiếp diễn sang năm 2026. Mô hình nuôi ba giai đoạn

với mật độ thả thấp hơn châu Á, hệ thống ương giống và gần bốn vụ nuôi mỗi năm giúp quốc gia này duy trì vị thế dẫn đầu. Đáng chú ý, xu hướng sáp nhập trang trại và tăng mật

độ thả tại vùng nước lợ thấp đang làm thay đổi cấu trúc ngành.

Ngược lại, châu Á chỉ ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 2%, với xu hướng suy giảm tại Đông Nam Á và sản lượng gần như đi ngang ở Ấn Độ. Một số tín hiệu trái chiều xuất hiện khi Ấn Độ có thể tăng khoảng 5%, trong khi Việt Nam và Thái Lan giảm lần lượt 2% và 1%, còn Indonesia gần như không tăng trưởng. Những khác biệt này phản ánh rõ sự phân hóa về điều kiện sản xuất, chi phí và khả năng kiểm soát dịch bệnh giữa các quốc gia.

Dịch bệnh, chi phí định hình sản lượng

Tại Trung Quốc, sản lượng tôm thẻ năm 2025 chịu áp lực từ dịch bệnh và quy định môi trường. Số liệu thống kê cho thấy tổng sản lượng đạt khoảng 2,37 triệu tấn, trong đó 1,53 triệu tấn từ hệ thống nước mặn và 880.000 tấn từ nuôi nước ngọt. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đưa ra ước tính thấp hơn, khoảng 1,7 triệu tấn. Việc siết chặt khai thác nước ngầm, xử lý nước thải cùng với dịch EHP và sự suy giảm đầu tư vào nhà kính

khiến sản lượng có xu hướng giảm so với năm 2024. Mô hình nuôi thâm canh trong nhà kính quy mô nhỏ từng là động lực tăng

trưởng, nhưng gần đây nhiều cơ sở tại Giang Tô và Sơn Đông đã đóng cửa. Tại Ấn Độ, sản lượng năm 2025 đạt khoảng

1,05 triệu tấn, trong đó tôm thẻ chiếm áp đảo. Những cải thiện trong ba năm qua đến từ điều chỉnh mật độ thả, áp dụng thu hoạch tỉa nhiều lần và phát triển hệ thống ương giống. Dịch EHP vẫn tồn tại nhưng đã được kiểm soát tốt hơn thông qua lựa chọn con giống và điều chỉnh chu kỳ nuôi. Nông

dân ngày càng quan tâm đến nguồn gốc di truyền của tôm post, với các dòng cân bằng, tăng trưởng nhanh hoặc chịu bệnh tốt. Một số khu vực phía nam áp dụng luân canh giữa tôm thẻ và tôm sú, giúp tăng số vụ nuôi lên tới 5 vụ trong hai năm. Đồng thời, thị trường nội địa được chú trọng hơn khi nông dân tự xây dựng kênh tiêu thụ tại địa phương. Tại Việt Nam, sản lượng tôm thẻ có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn dao động lớn, từ 470.000 đến 600.000 tấn. Tỷ lệ tiêu thụ xuất khẩu và nội địa ở mức 70:30, trong đó thị trường trong nước đóng vai trò hấp thụ các cỡ tôm trung bình với biến động giá cao hơn. Dịch bệnh TPD trong quý I/2025 gây thiệt hại lớn ở cả trại giống và ao nuôi, làm giảm niềm tin của người nuôi và trì hoãn thả giống. Tỷ lệ sống giảm xuống khoảng 50% tại nhiều vùng nuôi mật độ cao. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc tại Đồng bằng sông Cửu Long với cải thiện hạ tầng ao nuôi, hệ thống xử lý nước và quản trị rủi ro đã giúp tăng tính ổn định sản xuất. Xu hướng chuyển dịch từ hộ nuôi nhỏ sang trang trại lớn cũng đang diễn ra rõ nét.

Tại Thái Lan và Indonesia, sản lượng tiếp tục ở mức thấp. Thái Lan chịu ảnh hưởng từ lũ lụt và nhiệt độ thấp, làm bùng phát các bệnh như đốm trắng và đầu vàng, trong khi Indonesia đối mặt với EHP, AHPND và vấn

đề mật độ thả quá cao. Một số khu vực đã cải thiện năng suất bằng cách giảm mật độ và nâng cấp hệ thống cấp nước. Tuy nhiên, chiến lược khai thác môi trường quá mức để duy trì sản lượng đang đặt ra câu hỏi về tính bền vững dài hạn.

Về thương mại, các yếu tố thuế quan và chiến lược thị trường tiếp tục định hình dòng chảy xuất khẩu. Ecuador tận dụng mức thuế thấp tại Mỹ để đẩy mạnh sản phẩm giá trị gia tăng, trong khi Indonesia chuyển hướng một phần sang thị trường Trung Quốc. Ấn Độ gia tăng xuất khẩu sang cả Trung Quốc và EU, đồng thời nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu. Bước sang năm 2026, triển vọng của ngành tôm châu Á được đánh giá là không chắc chắn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Indonesia có thể phục hồi sản lượng nếu các doanh nghiệp lớn nối lại hoạt động, trong khi Ấn Độ đứng trước yêu cầu mở rộng tiêu thụ nội địa để giảm phụ thuộc xuất khẩu. Một thách thức lớn là quy định mới của EU về kiểm soát kháng sinh, yêu cầu các nước xuất khẩu phải nằm trong danh sách được phê duyệt trước tháng 9/2026, nếu không sẽ bị chặn xuất khẩu.

Đối với Việt Nam, rào cản phi thuế quan mới từ EU và Anh về phúc lợi động vật sẽ buộc doanh nghiệp phải thay đổi quy trình xử lý sau thu hoạch, đặc biệt là yêu cầu gây mê hoàn toàn trước khi làm lạnh. Trong khi đó, Thái Lan đặt mục tiêu phục hồi ngành tôm lên 400.000 tấn thông qua chính sách quốc gia và tận dụng lợi thế thuế quan tại thị trường Mỹ.

Tổng thể, năm 2026 được dự báo là giai đoạn chuyển tiếp đầy thách thức, khi ngành tôm châu Á phải thích ứng với tăng trưởng sản xuất không đồng đều, biến động giá, thay đổi chiến lược xuất khẩu và các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế.

Biến động giá, triển vọng khó lường Năm 2025 chứng kiến biến động mạnh về giá tôm tại ao nuôi, phản ánh rõ tác động của dịch bệnh và nguồn cung. Việt Nam ghi nhận mức giá cao nhất đối với tôm thẻ cỡ 60 con/ kg, đạt khoảng 4,84 USD/kg vào cuối năm, tiếp theo là Ấn Độ, Ecuador và Indonesia. Sự chênh lệch giá giữa các thị trường đã thúc đẩy hoạt động thương mại, trong đó Ấn Độ tăng xuất khẩu sang Việt Nam để phục vụ tái chế biến. Indonesia, với mức giá thấp nhất, còn chịu thêm áp lực từ các sự cố an toàn thực phẩm, khiến giá giảm sâu hơn trong nửa cuối năm.

Hà Tĩnh

Hải sản tăng giá 10 - 15% trong mùa du lịch

Bước vào cao điểm du lịch, thị trường hải sản tại Hà Tĩnh ghi nhận sức mua tăng mạnh, kéo theo giá nhiều mặt hàng nhích lên khoảng 10 - 15% so với đầu tháng 4. Theo ghi nhận tại các cảng cá địa phương, nguồn cung khá dồi dào với các mặt hàng chủ lực như mực, tôm, cá thu. Hiện mực ống được giao dịch ở mức 500.000650.000 đồng/kg, tôm vằn 300.000 - 380.000 đồng/kg và cá thu dao động 250.000- 270.000 đồng/kg. Ngư dân tại xã Thiên Cầm cho biết đang tận dụng điều kiện thời tiết thuận lợi để tăng tần suất vươn khơi trong dịp lễ. Trung bình mỗi chuyến biển mang lại sản lượng khả quan, giúp nhiều tàu thu lãi tốt sau khi trừ chi phí. Nhu

cầu tiêu thụ tăng cao từ các nhà hàng, khu du lịch và thương lái

được kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ mặt bằng giá ổn định ở mức cao trong

ngắn hạn, góp phần cải thiện thu nhập cho ngư dân và thúc đẩy giao thương thủy sản khu vực miền Trung.

Giá ghẹ tăng cao

Thị trường ghẹ tại Hà Tĩnh ghi nhận diễn biến tích cực trong những ngày đầu mùa du lịch khi giá bán duy trì ở mức cao, tạo động lực cho ngư dân đẩy mạnh vươn khơi khai thác. Hiện ghẹ tươi được thu mua trong khoảng 300.000 - 500.000 đồng/kg, tăng 10 - 15% so với ngày thường. Chất lượng ghẹ vào thời điểm này được đánh giá cao, thịt chắc, ngọt, phù hợp nhu cầu tiêu dùng và phục vụ du lịch. Theo ghi nhận, nhiều tàu cá liên tục trúng luồng ghẹ, với sản lượng hàng chục kg mỗi chuyến. Tổng sản lượng khai thác tại một số khu vực ven biển đạt gần 1 tấn chỉ trong vài ngày, góp phần cải thiện đáng kể thu nhập cho ngư dân. Sức mua tăng mạnh từ thương lái và các cơ sở dịch vụ ăn uống giúp thị trường duy trì trạng thái “hút hàng”, qua đó giữ giá ở mức cao trong ngắn hạn. Đây được xem là yếu tố hỗ trợ tích cực cho hoạt động khai thác thủy sản ven biển trong giai đoạn cao điểm du lịch.

Thanh Hóa

Thị trường thủy sản sôi động trở lại

Thị trường hải sản tại Thanh Hóa trong dịp nghỉ lễ 30/4 - 1/5 ghi

nhận diễn biến sôi động, với sức mua tăng mạnh dù mặt bằng giá

đồng loạt đi lên. Nhu cầu tiêu thụ tăng cao từ cả hộ gia đình lẫn khối nhà hàng, khách sạn đã thúc đẩy giao dịch tại các chợ dân sinh và đại lý hải sản. Khảo sát cho thấy giá nhiều mặt hàng tăng từ 20 - 40% so với trước lễ. Cụ thể, tôm hùm dao động 1,2 - 1,5 triệu đồng/kg, tăng 150.000 - 350.000 đồng/kg; cua, ghẹ ở mức 350.000 - 800.000 đồng/kg, tăng 70.000 - 100.000 đồng/kg; mực đạt 200.000 - 400.000 đồng/kg, tăng 50.000 - 80.000 đồng/kg. Các loại cá, tôm, ốc khác cũng tăng thêm khoảng 20.000 - 50.000 đồng/kg. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhu cầu tiêu dùng tăng đột biến trong kỳ nghỉ, trong khi nguồn cung chịu áp lực khi các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống tăng cường thu mua. Dù giá tăng, sản lượng tiêu thụ tại nhiều đại lý vẫn ghi nhận mức tăng 50 - 70%, cho thấy sức hấp thụ thị trường tích cực và xu hướng tiêu dùng hải sản tươi sống tiếp tục duy trì ở mức cao trong ngắn hạn.

Lâm Đồng

Ngư dân đón “lộc biển” ở Phan Rí Cửa

Dịp nghỉ lễ 30/4 - 1/5, hoạt động khai thác và giao dịch hải sản tại khu vực Phan Rí Cửa diễn ra sôi động, phản ánh nhu cầu tiêu thụ tăng cao trong mùa du lịch. Dù sản lượng khai thác giảm do ảnh hưởng thời tiết, giá bán các mặt hàng hải sản vẫn duy trì xu hướng tăng, góp phần cải thiện thu nhập cho ngư dân. Tại các bến sò địa phương, nguồn cung chủ yếu là các loại sò, ốc tươi sống được tiêu thụ ngay sau khi cập bến. Giá nhiều mặt hàng ghi nhận tăng từ 5.000 - 50.000 đồng/kg so với ngày thường. Cụ thể, sò điệp bay khoảng 120.000 đồng/kg, sò ngọt 350.000 đồng/kg, ốc vôi 270.000 đồng/kg, trong khi các loại phổ thông như ốc giấy, sò lông dao động từ 30.00040.000 đồng/kg. Nhu cầu thu mua tăng mạnh từ thương lái và phục vụ du lịch khiến thị trường luôn trong tình trạng “hút hàng”, dù sản lượng không cao.

Vĩnh Long Thị trường hải sản giao dịch sôi động tại cảng cá Đại An

Bước vào mùa khai thác, khu vực cảng cá Đại An ghi nhận hoạt động giao thương sôi động khi tàu thuyền liên tục cập bến, nguồn cung hải sản dồi dào. Theo ghi nhận, cơ cấu sản phẩm mùa này tập trung vào mực và các loại cá phổ thông. Mực tươi được giao dịch ở mức 100.000 - 110.000 đồng/kg, trong khi các loại cá như cá đù, cá mối, cá tạp dao động 20.000 - 30.000 đồng/kg, giữ xu hướng ổn định so với trước đó. Hiệu quả khai thác phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết và nguồn lợi từng chuyến biển. Trung bình mỗi chuyến đi kéo dài 20 - 30 ngày, chi phí khoảng 15 - 20 triệu đồng; trong điều kiện thuận lợi, ngư dân có thể đạt lợi nhuận 30 - 40 triệu đồng/tháng sau khi trừ chi phí. Nhìn chung, mặt bằng giá không biến động mạnh nhưng sức tiêu thụ ổn định từ thương lái giúp thị trường duy trì cân bằng cung – cầu, tạo điều kiện để ngư dân yên tâm bám biển trong giai đoạn vào vụ.

Cà Mau

Giá cua biển tăng mạnh, thị trường sôi động dịp lễ

Trong dịp nghỉ lễ 30/4 – 1/5, thị trường cua biển tại Cà Mau ghi nhận diễn biến tăng giá rõ rệt do nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Theo ghi nhận, giá cua các loại tăng từ 30.000 –120.000 đồng/kg so với trước lễ, phản ánh sức mua mạnh từ thị trường nội địa. Hiện cua gạch được thu mua ở mức khoảng 700.000 đồng/kg, cua y (trên 300g/con) khoảng 300.000 đồng/kg, trong khi cua loại nhỏ hơn dao động quanh 200.000 đồng/ kg. Nguyên nhân chính đến từ nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh trong kỳ nghỉ, đặc biệt tại các đô thị và khu du lịch, khiến thương lái đẩy mạnh thu mua. Trong khi đó, nguồn cung không tăng tương ứng, góp phần giữ giá ở mức cao. Dù giá tăng, hoạt động giao dịch vẫn diễn ra sôi động, giúp người nuôi và khai thác cua cải thiện thu nhập. Diễn biến này cho thấy thị trường hải sản khu vực ĐBSCL tiếp tục hưởng lợi từ yếu tố mùa vụ và nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn tăng cao.

Mỹ

Chênh lệch giá tôm tiến sát ngưỡng lịch sử, biên lợi nhuận bị siết chặt

Thị trường tôm Mỹ đang chịu áp lực cấu trúc khi các mức chênh lệch giá giữa các phân khúc tiến gần ngưỡng hỗ trợ/kháng cự lịch sử. Dù giá bán buôn tăng 15,8% kể từ khi áp thuế, mức này vẫn thấp hơn đáng kể so với chi phí tăng 16-37% do thuế, cho thấy biên lợi nhuận toàn chuỗi bị thu hẹp. Khoảng 5 điểm % tăng giá diễn ra ngay sau khi áp thuế (từ 1/4/2025), song phần còn lại không đủ bù chi phí, chưa kể các khoản phát sinh như lưu kho, vận chuyển, môi giới hải quan. Giá bán không tăng kịp chi phí đi kèm với nhập khẩu suy giảm từ tháng 8, phản ánh nhu cầu nhạy cảm với giá. Các sản phẩm giá trị gia tăng (tôm chín, bóc vỏ) hấp thụ chi phí tốt hơn, trong khi HLSO gần như đi ngang. Nhiều chênh lệch giá đã chạm vùng cảnh báo điều chỉnh: EZP-HLSO vượt 1 USD/pound; CTO-PDTO quanh 1,01 USD/pound; PDTO-EZP ở đáy lịch sử. Australia

Tập đoàn hải sản Australia KB Seafood Co. sẽ tiếp quản nhà máy chế biến tôm hùm đá Indian Ocean Rock Lobster tại Cervantes (Tây Australia) từ ngày 1/7/2026, nâng gấp đôi công suất chế biến và mở rộng mạnh mẽ hoạt động tại bờ Tây. Theo thông báo, KB Seafood tiếp nhận toàn bộ đội ngũ nhân sự của nhà máy, đồng thời duy trì các mối quan hệ sẵn có với ngư dân, khách hàng và nhà cung cấp. Thương vụ giúp gia đình Thompson, sáng lập Indian Ocean Rock Lobster năm 2008, tập trung vào hoạt động khai thác và phát triển nhà hàng The Lobster Shack. Với KB Seafood (thành lập năm 1926), đây là bước nhảy vọt về năng lực, củng cố vị thế trong ngành tôm hùm đá Tây Australia – phân khúc hướng tới các thị trường cao cấp như châu Á. Đáng chú ý, Trung Quốc đã mở cửa trở lại thị trường nhập khẩu tôm hùm từ năm 2024 sau 4 năm gián đoạn.

Châu Âu

Triển khai chương trình cá ngừ Thương mại

Công bằng

tại Maldives

Trước Ngày Cá ngừ Thế giới (2/5), công ty thủy sản Thụy Sĩ Blueyou khởi động chương trình cá ngừ đạt chứng nhận Fair Trade tại Maldives, hợp tác cùng Fair Trade USA. Sáng kiến kết nối khai thác bền vững, phục hồi biển và phát triển cộng đồng trong chuỗi cung ứng thủy sản. Chương trình bao phủ 25 cộng đồng trên 8 đảo san hô, dự kiến mang lại lợi ích cho khoảng 30.000 người, gồm 2.500 ngư dân và 500 phụ nữ nuôi hải sâm gắn với phục hồi rong biển. Nguồn hải sản chủ lực là cá ngừ vằn và cá ngừ vây vàng, đánh bắt bằng phương pháp câu truyền thống thân thiện môi trường. Dự án hướng tới mở rộng lên 200 tàu, sản lượng 20.000 tấn/năm, tăng tiếp cận thị trường châu Âu và Bắc Mỹ, đồng thời cải thiện thu nhập và tài trợ hơn 700.000 USD cho các quỹ phát triển cộng đồng. Chương trình cũng thúc đẩy vai trò phụ nữ, bảo vệ rong biển, giảm phát thải và xây dựng mô hình kinh tế biển xanh có thể nhân rộng cho các quốc đảo.

Cua tuyết tăng giá mạnh tại Nhật Bản

Giá cua tuyết từ vùng Viễn Đông Nga tại thị trường Nhật Bản đang tăng mạnh, chủ yếu do nhu cầu bùng nổ từ mô hình nhà hàng buffet cua, đặc biệt phục vụ khách du lịch quốc tế. Theo Minato Shimbun, cuối tháng 3, giá bán buôn nội địa đối với cỡ lớn đạt 2.600-2.800 JPY/kg, tăng 20-30% so với cùng kỳ năm trước. Dù vẫn rẻ hơn cua tuyết Opilio (khoảng 3.500 JPY/kg), khoảng cách giá đang thu hẹp đáng kể. Đáng chú ý, cua cỡ trung tăng tới 40%, còn cua cỡ nhỏ tăng tới 60% so với năm ngoái. Các doanh nghiệp cho biết nhà hàng buffet thường ưu tiên nhập hàng theo mức giá, từ rẻ đến đắt, để tối ưu chi phí. Nguồn cung năm 2026 hiện còn hạn chế, với giá chào xuất khẩu cua tuyết đỏ đông lạnh cỡ lớn gần 15 USD/kg. Dự kiến, giá nội địa sẽ dao động 2.000-3.000 JPY/kg. Hoạt động khai thác sẽ khởi động từ giữa tháng 4 đối với cua tuyết đỏ và từ tháng 6 với cua tuyết gai.

Canada

Giá tôm hùm sống giảm mạnh do cung tăng, cầu

yếu

Mùa khai thác tôm hùm mùa xuân tại Canada mở sớm hơn thường lệ ở nhiều khu vực, khiến nguồn cung tăng nhanh trong bối cảnh nhu cầu vẫn trầm lắng. Lượng hàng dồi dào gây áp lực giảm giá rõ rệt: giá

tại bờ Canada lao dốc từ khoảng 14 CAD xuống 9 CAD chỉ trong thời gian ngắn và có thể tiếp tục giảm khi sản lượng tăng. Tại Mỹ, giá tôm hùm cứng New England cỡ 1,25 lb đã giảm gần 40% từ đầu tháng 4, thấp hơn hơn 20% so với trung bình 5 năm. Người mua duy trì tâm lý thận trọng, chủ yếu mua đủ dùng, hạn chế tích trữ do kỳ vọng giá còn giảm. Bất ổn kinh tế vĩ mô, chi phí nhiên liệu và vận tải cao tiếp tục kìm hãm nhu cầu. Việc mùa vụ khởi động sớm cùng khoảng cách xa giữa Lễ Phục Sinh và Ngày của Mẹ khiến cung tăng nhưng cầu chưa phục hồi tương ứng. Dù Trung Quốc đã dỡ bỏ thuế 25% từ 1/3/2026, mở lại kênh xuất khẩu quan trọng, thị trường này vẫn nhạy cảm về giá. Giá tôm hùm dự kiến chạm đáy theo mùa vào nửa đầu tháng 5, song thời điểm ổn định còn phụ thuộc vào tốc độ hồi phục nhu cầu.

Nhật Bản

Nhập khẩu cá tuyết đen tăng, giá leo thang

Nhật Bản ghi nhận nhập khẩu cá tuyết đen đông lạnh năm 2025 tăng 4% so với cùng kỳ, đạt 11.188 tấn, theo Minato Shimbun. Giá nhập khẩu bình quân tăng mạnh 13%, từ 1.133 JPY/kg lên 1.280 JPY/kg, đẩy tổng kim ngạch lên mức kỷ lục 14,3 tỷ JPY. Đà tăng giá được cho là chịu tác động từ xu hướng tăng chung của các loài cá béo trên toàn cầu, chi phí khai thác leo thang và tâm lý mệt mỏi vì giá thấp tại Mỹ – nguồn cung chủ lực. Diễn biến thị trường cho thấy chu kỳ biến động rõ rệt: giá tăng cao giai đoạn 2012-2017 khiến nhu cầu Nhật Bản co lại; sau đó hạ nhiệt do điều chỉnh sản lượng và tác động của COVID-19, giúp tiêu thụ phục hồi ở phân khúc cá cỡ nhỏ. Từ 2024, áp lực tăng giá quay trở lại. Hai tháng đầu 2026, lượng nhập tăng 9% nhưng giá bình quân giảm 12%. Giới phân phối nhận định xu hướng sắp tới phụ thuộc lớn vào các nhà nhập khẩu chủ chốt tại Nhật và doanh nghiệp chế biến Mỹ.

Tuấn Minh

Tiềm năng lớn nhưng biến động hiệu quả

Cá rô phi từ lâu đã trở thành một trong những loài nuôi chủ lực của thủy sản thế giới, đặc biệt tại châu Á và các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, Indonesia, Thái Lan hay Ai Cập. Với khả năng thích nghi rộng, chi phí sản xuất thấp và thị trường tiêu thụ ổn định, rô phi được xem là protein của tương lai khi nhu cầu thực phẩm toàn cầu gia tăng.

Tuy nhiên, hiệu quả nuôi rô phi thương phẩm biến động rất lớn giữa các trang trại, thậm chí giữa các lô nuôi trong cùng một hệ thống. Dữ liệu từ hàng trăm lô sản xuất giai đoạn 20202024 cho thấy hệ số chuyển đổi thức ăn kinh tế (eFCR) của rô phi dao động mạnh, từ mức tốt nhất khoảng 1,32 đến mức kém hơn lên tới 1,74. Khoảng chênh lệch này tương đương với mức tiết kiệm lên tới 280 kg thức ăn/tấn cá, hay khoảng 200 USD/tấn - một con số có ý nghĩa quyết định đến lợi nhuận. Nguyên nhân của sự biến động này không đơn thuần ở chất lượng thức ăn, mà do nhiều yếu tố: quản lý cho ăn, chất lượng nước, sức khỏe đàn cá và điều kiện môi trường. Ví dụ, hàm lượng oxy hòa tan (DO) thấp có thể làm giảm đáng kể lượng thức ăn tiêu thụ, từ đó kéo giảm tăng trưởng. Các biến động nhỏ về môi trường cũng có thể dẫn đến khác biệt lớn về hiệu suất.

Một điểm đáng chú ý khác là quan niệm phổ biến trong ngành cho rằng biến động là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, các phân tích dữ liệu quy mô lớn từ hàng nghìn lứa nuôi đã chỉ ra rằng phần lớn các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng, FCR và tỷ lệ sống đều có thể nhận diện và kiểm soát. Vấn đề nằm ở việc thiếu các công cụ phân tích và chiến lược tích hợp đủ linh hoạt và chính xác. Do đó, dinh dưỡng không chỉ cung cấp năng lượng và protein, mà trở thành một công cụ chiến lược để kiểm soát hiệu quả sản xuất.

Cạnh đó, các axit hữu cơ và muối của chúng (như natri butyrate, formate) góp phần cải thiện sức khỏe đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất. Men vi sinh, prebiotic và postbiotic giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột –yếu tố nền tảng của sức khỏe tổng thể.

Một hướng đi mới đầy tiềm năng là sử dụng protein tế bào đơn và protein thủy phân, không chỉ cung cấp dinh dưỡng mà còn mang lại các peptide hoạt tính sinh học hỗ trợ miễn dịch. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thị trường hiện có rất nhiều phụ gia được quảng bá với hiệu quả khác nhau. Việc lựa chọn cần dựa trên bằng chứng khoa học và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng hệ thống nuôi. Ngoài ra, quản lý cho ăn cũng đóng vai trò quan trọng. Việc cho ăn quá mức có thể cải thiện nhẹ tăng trưởng nhưng lại làm FCR xấu đi đáng kể. Ngược lại, hạn chế thức ăn ở mức hợp lý (ví dụ 90% so với nhu cầu tối đa) có thể giúp tối ưu chi phí mà không ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng và tỷ lệ sống.

Nâng cao chất lượng phi lê và kiểm soát chất thải

Bên cạnh tăng trưởng và tỷ lệ sống, chất lượng sản phẩm, đặc biệt là tỷ lệ và chất lượng phi lê đang trở thành tiêu chí ngày càng quan trọng trong chuỗi giá trị rô phi. Người tiêu dùng và nhà nhập khẩu ngày càng yêu cầu cao về màu sắc, cấu trúc thịt và giá trị dinh dưỡng.

Dinh dưỡng đóng vai trò trung tâm trong việc đạt được các tiêu chí này. Thành phần nguyên liệu, đặc biệt là nguồn protein, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu hóa và tích lũy mô cơ. Ví dụ, khô đậu nành từ các nguồn khác nhau

Chìa khóa nâng cao tỷ lệ sống và ổn định tăng trưởng Một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong nuôi rô phi là nâng cao tỷ lệ sống, đặc biệt trong điều kiện nuôi thâm canh nơi áp lực bệnh và stress môi trường luôn hiện hữu. Các giải pháp y tế truyền thống như vaccine hay kháng sinh thường gặp hạn chế về chi phí, logistics và hiệu quả kéo dài, nhất là với các loài nước ấm có chu kỳ nuôi dài. Do đó, dinh dưỡng nổi lên như giải pháp khả thi và bền vững hơn. Thức ăn không chỉ cung cấp dưỡng chất mà còn đóng vai trò như một hệ thống phòng thủ chủ động, giúp cá tăng khả năng chống chịu với bệnh tật và stress. Nhiều nhóm hợp chất đã được chứng minh có hiệu quả trong việc cải thiện miễn dịch và sức khỏe cá rô phi. Trong đó, vitamin C và E liều cao giúp tăng cường khả năng chống oxy hóa và giảm stress. Các polysaccharide như beta-glucan hay mannan oligosaccharides (MOS) có tác dụng kích thích hệ miễn dịch tự nhiên. Nucleotide hỗ trợ tái tạo tế bào và phục hồi mô, trong khi các hợp chất phenolic và phytochemical từ thực vật giúp kháng khuẩn và chống viêm.

có hệ số tiêu hóa khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng và năng suất phi lê. Việc cân đối axit amin, đặc biệt là lysine, methionine và threonine, có tác động rõ rệt đến hiệu quả sử dụng protein và phát triển cơ thịt. Các nghiên cứu cho thấy việc bổ sung lysine theo mức tối ưu có thể cải thiện đáng kể năng suất phi lê mà không cần tăng tổng hàm lượng protein thô, qua đó giảm chi phí và lượng chất thải nitrogen.

Cạnh đó, một mục tiêu ngày càng quan trọng là kiểm soát chất thải, đặc biệt trong các hệ thống nuôi thâm canh. Chất thải rắn (phân) không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước và sức khỏe đàn cá.

Các chiến lược dinh dưỡng có thể

lượng cao, enzyme tiêu hóa và các phụ gia hỗ trợ đường ruột giúp giảm lượng chất dinh dưỡng không tiêu hóa bị thải ra môi trường. Ngoài ra, việc thiết kế khẩu phần phù hợp với nhu cầu thực tế của cá theo từng giai đoạn phát triển cũng giúp tránh dư thừa dinh dưỡng – nguyên nhân chính gây ô nhiễm. Khi kết hợp với quản lý cho ăn chính xác (dựa trên dữ liệu và công cụ mô hình hóa), lượng thức ăn lãng phí có thể được giảm đáng kể. Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng dinh dưỡng chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được tích hợp với quản lý môi trường và vận hành. Như nhiều dữ liệu đã chỉ ra, cùng một loại thức ăn có thể cho kết quả rất khác nhau tùy thuộc vào cách quản lý. Do đó, chiến lược dinh dưỡng hiệu quả phải là một phần của hệ thống quản lý tổng thể, dựa trên dữ liệu và liên tục được điều chỉnh. Ngành nuôi cá rô phi đang bước vào giai đoạn chuyển đổi từ mở rộng sản lượng sang tối ưu hiệu quả và bền vững. Trong đó, dinh dưỡng không chỉ là yếu tố đầu vào mà là công cụ chiến lược, giúp cải thiện tăng trưởng, nâng cao miễn dịch, tối ưu chất lượng sản phẩm và giảm tác động môi trường. Những trại nuôi biết khai thác đúng sức mạnh của dinh dưỡng sẽ dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt của ngành.

chương trình chọn giống tôm thẻ suốt hơn 20 năm, mang giải pháp chuyên sâu đến VINAFIS

Trong ngành tôm, con giống luôn là nền tảng của một vụ nuôi thành công. Con giống khỏe mạnh, tăng trưởng tốt từ lâu đã là yêu cầu cốt lõi của người nuôi ở mọi thời điểm. Tuy nhiên, khi môi trường nuôi ngày càng biến động, dịch bệnh phức tạp hơn và yêu cầu thị trường ngày càng cao, tiêu chí cho con giống hôm nay cũng được nâng lên một tầm mới. Bên cạnh sức khỏe và tốc độ tăng trưởng, ngành tôm cần những thế hệ giống được phát triển trên nền tảng khoa học, có khả năng thích nghi tốt, ổn định hơn và mang lại hiệu quả bền vững cho người nuôi.

Ít ai biết rằng, Việt Úc đã khởi động hành trình này từ hơn hai thập kỷ trước, thời điểm ngành tôm Việt Nam gần như chưa có đơn vị nào nhìn thấy con đường phát triển dài hạn từ gốc là khoa học di truyền và con giống. Ngay từ những ngày đầu, Việt Úc đã đầu tư bài bản vào cơ sở vật chất, trung tâm nghiên cứu, công nghệ tiên tiến và hợp tác cùng các chuyên gia trong nước và ngoài nước để xây nền móng cho tương lai ngành tôm. Gần đây, Việt Úc tiếp tục tiên phong ứng dụng

Genomics trong chương trình chọn giống tôm ở Việt Nam: công nghệ được xem là chìa khóa của chọn giống thế hệ mới trên thế giới. điều này góp phần củng cố vị thế dẫn đầu của Việt Úc hôm nay.

Tại VINAFIS, sự kiện lớn quy tụ cộng đồng thủy sản, chuyên gia và doanh nghiệp hàng đầu ngành tôm Việt Nam, Việt Úc mang đến

Vinafis

điểm nhấn đặc biệt khi chia sẻ

chuyên sâu về chương trình chọn

giống tôm thẻ bài bản cùng các

ứng dụng khoa học di truyền và

công nghệ Genomics, nền tảng

tạo nên những thế hệ con giống

chất lượng cao cho ngành tôm

Việt Nam.

Chọn giống hiện đại bắt đầu

từ chương trình đánh giá di truyền bài bản

Trong thực tế, một con tôm

lớn nhanh chưa chắc là con tôm

có khả năng truyền đặc tính tốt

cho đời sau. Sự tăng trưởng có thể đến từ điều kiện môi trường

thuận lợi, chế độ chăm sóc tốt

hoặc nhiều yếu tố khác ngoài

di truyền. Vì vậy, muốn cải tiến đàn giống một cách bền vững, cần phải xác định được giá trị di truyền thật sự của từng cá thể. Đó là lý do Việt Úc triển khai chương trình Đánh giá Di truyền (Genetic Evaluation), phương pháp đang được ứng dụng trong các ngành chăn nuôi tiên tiến trên thế giới. Chương trình này giúp dự

đoán Giá trị giống ước tính (EBV) của từng cá thể, tức khả năng truyền những đặc tính tốt như tăng trưởng, tỷ lệ sống hay khả năng thích nghi cho thế hệ sau.

Để đưa ra dự đoán chính xác, hệ thống không dựa vào một yếu tố đơn lẻ mà tổng hợp đồng thời nhiều lớp dữ liệu: từ phả hệ nhiều thế hệ của đàn bố mẹ, dữ liệu thực tế về tăng trưởng và tỷ lệ sống, cho đến các thông số môi trường như độ mặn, nhiệt độ, thời tiết và điều kiện ao nuôi.

Tất cả được xử lý bằng mô hình

thống kê hiện đại nhằm tách biệt ảnh hưởng của di truyền với tác

động từ môi trường.

Với hơn 15 năm dữ liệu được tích lũy bài bản, có độ chính xác cao và chiều sâu từ hệ thống cây gia phả, Việt Úc đã nâng tầm công tác chọn giống: không chỉ chọn những con “nhìn tốt”, mà chọn đúng những cá thể có khả năng tạo ra thế hệ vượt trội hơn qua từng năm.

Genetic Gain – thước đo cho sự tiến bộ của đàn giống Một chương trình chọn giống chỉ thực sự có giá trị khi có thể chứng minh rằng đàn giống ngày càng tốt lên qua thời gian. Trong khoa học di truyền, điều này được đo bằng chỉ số Genetic Gain, hay còn gọi là tiến bộ di truyền. Trong khoa học chọn giống, Accuracy là thước đo độ chính xác của phương pháp chọn lọc. Khi ứng dụng chỉ số EBV (Giá trị giống ước tính), Accuracy phản ánh mức độ tin cậy của việc dự đoán tiềm năng di truyền của từng cá thể. Selection Intensity là mức

độ chọn lọc khắt khe để tìm ra những cá thể ưu tú nhất. Genetic Variance thể hiện độ đa dạng di truyền của tính trạng đang được cải thiện, còn Generation Interval là khoảng cách thời gian giữa hai thế hệ kế tiếp nhau. Khi kết hợp các yếu tố này, ngành di truyền sử dụng chỉ số Genetic Gain để đo lường mức tiến bộ của đàn giống – hay nói đơn giản là sau mỗi thế hệ, con giống đã được cải thiện

đến đâu về tăng trưởng, tỷ lệ sống và khả năng chống chịu.

Cả bốn yếu tố độ chính xác của phương pháp chọn giống, áp lực chọn lọc, phương sai di truyền, và khoảng cách thế hệ đều ảnh hưởng đến genetic gain của từng tính trạng với mức độ khác nhau. Đối với chương trình chọn giống tôm thẻ chân trắng thì độ chính xác của chương trình chọn giông, cụ thể là độ chính xác của EBV có ảnh hưởng lớn nhất đến

sự thay đổi của genetic gain. Đây là chỉ số thể hiện mức độ tin cậy của việc dự đoán giá trị giống. Accuracy càng cao, khả năng chọn đúng cá thể ưu tú càng lớn, giúp cải tiến di truyền tính trạng mong muốn càng nhanh.

Để nâng Accuracy, Việt Úc đầu tư liên tục vào ba nền tảng cốt lõi: hệ dữ liệu lớn được tích lũy hơn hai Thập kỷ, cây gia phả di truyền có chiều sâu nhiều thế hệ và các mô hình toán học hiện đại có khả năng xử lý hàng triệu điểm dữ liệu trong điều kiện nuôi thực tế.

Tuy nhiên, bước nhảy vọt lớn nhất nằm ở công nghệ Genomics.

Genomics: Việt Úc giải mã di truyền phân tử, nhận diện chính xác khác biệt ưu thế của từng cá thể tôm.

Thông tin hệ gen giúp nâng cao độ chính xác của EBV theo hai cách quan trọng.

Thứ nhất, dữ liệu hệ gen được sử dụng để điều chỉnh những sai sót trong thông tin phả hệ. Do phả hệ được ghi chép bởi con người, quá trình lưu trữ và quản lý khó tránh khỏi rủi ro nhầm

lẫn. Trong khi đó, công nghệ giải trình tự gen cho phép xác định

chính xác mối quan hệ huyết

thống giữa các cá thể trong cùng

quần thể. Nhờ vậy, những sai

lệch trong phả hệ có thể được phát hiện và điều chỉnh, giúp việc

ước tính EBV trở nên tin cậy hơn.

Thứ hai, thông tin hệ gen giúp

tăng mức độ liên kết giữa các cá thể trong quần thể. Nếu chỉ dựa vào phả hệ, mối quan hệ di truyền thường chỉ được xác định trong

phạm vi cùng gia đình như chung bố mẹ, ông bà hay tổ tiên. Khi đó, dữ liệu đo lường của một số cá thể

chủ yếu chỉ hỗ trợ cho việc đánh giá các cá thể cùng dòng họ.

Tuy nhiên, với Genomics, mức

độ tương đồng di truyền giữa các

cá thể được xác định trực tiếp

thông qua ADN, kể cả khi chúng không thuộc cùng một gia đình.

Điều này cho phép sử dụng dữ

liệu từ nhiều cá thể khác nhau

trong toàn quần thể để ước tính

EBV cho từng cá thể cụ thể. Khi nhiều nguồn thông tin hơn được

đưa vào phân tích, độ chính xác

của EBV cũng được nâng lên rõ

rệt so với phương pháp không sử dụng Genomics.

Đây là bước tiến mang tính đột phá trong chọn giống, đặc biệt

đối với tính trạng tỷ lệ sống. Khi

chưa có thông tin hệ gen, các cá

thể là anh em ruột trong cùng một

gia đình thường được xem có tiềm

năng di truyền tương đương nhau, nên chỉ số EBV gần như giống nhau và rất khó phân biệt cá thể nào vượt trội hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ sống là tính trạng chịu ảnh hưởng bởi nhiều gen khác nhau. Vì vậy,

dù cùng một gia đình, mỗi cá thể vẫn có thể mang tổ hợp gen riêng biệt. Chỉ khi ứng dụng Genomics, những khác biệt này mới được nhận diện rõ ràng, từ đó tạo ra sự khác biệt trong EBV giữa các cá thể và giúp chọn lọc chính xác những con có tiềm năng có tỷ lệ sống cao hơn.

Không chỉ với tỷ lệ sống, Genomics còn nâng cao độ chính xác trong đánh giá di truyền đối với các tính trạng có hệ số di truyền cao như tăng trưởng hay tuổi sinh sản lần đầu của tôm cái.

Có thể nói, công nghệ này giúp cải thiện độ chính xác cho hầu hết các tính trạng ghi nhận được trong nông nghiệp hiện đại.

Đó là lý do trên thế giới, Genomics được xem là xu hướng

tất yếu của các chương trình

chọn giống hiện đại. Tại Việt Nam, Việt Úc đang là đơn vị tiên phong đầu tư bài bản vào lĩnh vực này cho ngành tôm.

Từ phòng nghiên cứu đến thành quả mang tên Biệt đội

Tứ Siêu VU-S26

Những đầu tư về khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra giá trị ngoài ao nuôi. Biệt đội Tứ Siêu VU-S26 chính là thành quả tiêu biểu từ chiến lược nghiên cứu di truyền dài hạn của Việt Úc.

Bốn dòng tôm được phát triển

theo những định hướng rõ ràng: Siêu 60 nổi bật về tốc độ tăng trưởng, Siêu Bền Bỉ tích hợp vừa tăng trưởng tốt vừa có tỷ lệ sống cao, Siêu Chống Chịu tập trung

nâng tỷ lệ sống và giảm rủi ro, trong khi Siêu Hạ Mặn mở ra cơ hội nuôi hiệu quả ở các vùng có

độ mặn thấp.

Đằng sau những tính trạng nổi

bật ấy không phải là sự ngẫu nhiên, mà là kết quả của nhiều năm chọn lọc có định hướng, được dẫn dắt bằng dữ liệu, mô hình toán học và nền tảng Genomics.

Khi khoa học mang đến sự thịnh vượng bền vững cho người nuôi Với người nuôi tôm, giá trị cuối cùng không nằm ở những thuật ngữ công nghệ, mà ở hiệu quả thực tế: con giống khỏe hơn, vụ nuôi chủ động hơn, rủi ro thấp hơn và lợi nhuận bền vững hơn. Đó cũng là triết lý mà Việt Úc theo đuổi suốt nhiều năm qua: đầu tư vào những điều khó nhìn thấy nhất như dữ liệu, gen và khoa học, để tạo ra những giá trị dễ nhìn thấy nhất ngoài ao nuôi đó là Biệt đội Tứ Siêu VU-S26 được phát triển theo từng nhu cầu nuôi thực tế: tăng trưởng nhanh, bền bỉ trước biến động môi trường, nâng cao tỷ lệ sống và thích nghi tốt ở vùng độ mặn thấp. Đây không chỉ là con giống mới, mà là những giải pháp được nghiên cứu để đồng hành cùng người nuôi trên nhiều vùng miền khác nhau. Từ bản đồ ADN đến từng vụ mùa trên khắp cả nước, Việt Úc đang cùng bà con Sải bước chân S – Khơi nguồn thịnh vượng, mở ra chương mới cho ngành tôm Việt Nam: chương của khoa học, của công nghệ và của những thế hệ con giống được tạo ra cho tương lai.

Vinhthinh Biostadt và dấu ấn

giải thưởng vàng tại VinaFIS Expo 2026

Công ty Vinhthinh

Biostadt đã 4 lần liên tiếp

được vinh danh trong

Top 10 doanh nghiệp

xuất sắc, đạt Danh hiệu

Chất lượng Vàng Thủy

sản Việt Nam. Năm

2026, Công ty tiếp tục

đạt thành tích Chất lượng

Vàng cho dòng sản

phẩm ESOMAX. Thành tích này khẳng định uy tín, năng lực sản xuất và

cam kết chất lượng bền vững của doanh nghiệp trong ngành thủy sản

Vinhthinh Biostadt đã

cùng đồng hành với

ngành thủy sản Việt

Nam hơn 25 năm. Công ty với

chiến lược kinh doanh xuyên

suốt là cung cấp các sản phẩm

chất lượng hàng đầu thế giới đi

cùng giải pháp kỹ thuật hiệu quả,

phù hợp với điều kiện Việt Nam

để phục vụ khách hàng, thông qua chương trình “Chuỗi cung ứng giá trị - Hướng đến phát

triển bền vững”

Chương trình này cung cấp cho

khách hàng toàn bộ sản phẩm

đầu vào từ con giống, các chế

phẩm và sản phẩm giúp quản lí

ao nuôi, chăm sóc sức khỏe tôm

…, cùng với việc chuyển giao kỹ thuật ương vèo mật độ cao và

nuôi nhiều giai đoạn, áp dụng

quy trình nuôi 90 ngày với phác

đồ phòng bệnh 60 ngày nuôi

đầu tiên. Qua đó, khách hàng

được tiếp cận chuỗi cung ứng

vật tư đầu vào có chất lượng và

đồng bộ, truy xuất nguồn gốc nhanh chóng và rõ ràng, trách

nhiệm cũng cụ thể. Người tham gia được hỗ trợ nhiều chính sách

bảo vệ lợi ích khi hợp tác, giảm

chi phí sản xuất.

Sự kiện VINAFIS EXPO 2026

vừa diễn ra tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC) đã trở thành “trạm tiếp nối” quan trọng để Vinhthinh Biostadt đưa

chương trình “Chuỗi cung ứng

giá trị - Hướng đến phát triển

bền vững” đến nhiều khách

hàng, đối tác trong nước & bàn

bè quốc tế.

Sự kiện diễn ra trong 02 ngày 28 & 29.4, nhưng ngay từ những

ngày đầu khai mạc, khu vực trưng bày của Vinhthinh Biostadt đã trở thành điểm đến thu hút đông

đảo khách tham quan, từ các

chuyên gia đầu ngành đến các chủ trang trại và hệ thống đại lý từ khắp các tỉnh thành nuôi tôm trọng điểm.

Điểm nhấn rực rỡ nhất trong

sự kiện, Vinhthinh Biostadt đã ghi dấu ấn thành công khi sản phẩm ESOMAX được xướng

tên cho Giải thưởng Chất lượng

Vàng từ Bộ Nông nghiệp & Môi trường, Hội Thủy sản Việt

Nam. Thành tích này không chỉ là một cột mốc danh giá, mà còn

là sự bảo chứng về uy tín thương

hiệu & năng lực của Vinhthinh

Biostadt trong chiến lược cung

cấp sản phẩm chất lượng nhất, giải pháp phù hợp nhất cho người nuôi trong tình hình dịch bệnh EHP & phân trắng gay gắt hiện nay.

Chia sẻ về cột mốc quan trọng này, đại diện ban lãnh đạo Vinhthinh Biostadt khẳng định: “Giải thưởng Chất lượng Vàng

cho ESOMAX là lời khẳng

định cho vị thế dẫn dắt của Vinhthinh Biostadt trong việc cung ứng các giải pháp sinh học cao cấp cho ngành tôm.

Chúng tôi không chỉ mang về một sản phẩm, mà mang về một giải pháp mới trong phòng bệnh chủ động. Thành công của sản phẩm ESOMAX là thành quả từ chiến lược sáng suốt, cẩn trọng trong giải pháp kỹ thuật và sự tận tâm đồng hành cùng người nuôi trên từng ao nuôi. Đây là động lực để Vinhthinh Biostadt tiếp tục bứt phá, mang đến những giá trị thực chất nhất, giúp người nông dân làm chủ vụ nuôi trước mọi thách thức.”

Bên cạnh đó, hiện nay Vinhthinh Biostadt đã phát triển và triển khai giải pháp mới kết hợp “Bộ Đôi” ESOMAX và STOP EHPi để phòng bệnh chủ động EHP & phân trắng gây chậm lớn do EHP và Vibrio kết hợp. Giải pháp đang được ứng dụng rộng rãi và mang đến thành công lớn cho khách hàng thời gian vừa qua. Đồng thời, “Bộ Đôi” nhận được rất nhiều sự quan tâm từ cộng đồng khách tham quan tại sự kiện.

Vinhthinh Biostadt xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý khách hàng, đối tác đã ghé thăm và đồng hành cùng chúng tôi tại VINAFIS EXPO 2026. Chúng tôi cam kết sẽ tiếp tục nỗ lực vì một ngành thủy sản Việt Nam thịnh vượng và bền vững.

Vinhthinh Biostadt

Nguồn đạm tuyệt vời thay thế bột cá

trong thức ăn tôm

Tôm là loài giáp xác không tăng trưởng theo mô hình của sinh vật bậc cao, thay vào đó nó tăng trưởng theo mô hình bậc thang sau mỗi lần lột xác. Đó cũng là một trong các lý do tại sao bột cá là nguồn đạm thiết yếu cho thức ăn tôm. Không chỉ vì bột cá là nguồn đạm tiêu hóa cao và cân đối a xít amin, nó còn giàu về a xít béo và peptide sinh học, hầu như không có carbohydrates và không có kháng dưỡng, đặc biệt chứa nhiều cholesterol—Một dẫn xuất quan trọng cho sự tổng hợp hormone lột xác (molting steroid hormones). Tuy nhiên, dưới áp lực gia tăng nhu cầu bột cá từ ngành công nghiệp thức ăn vật nuôi, áp lực giá bột cá ngày càng tăng cao trong khi sản lượng đánh bắt cá hạn chế và việc đánh bắt làm giảm đa dạng sinh học tự nhiên; vì thế, áp lực giảm bột cá trong thức ăn tôm từ các nhà nhập khẩu và chứng nhận sản phẩm để đáp ứng tiêu chuẩn bền vững ngày càng tăng. Sự thay thế bột cá đòi hỏi cung cấp nguồn đạm chất lượng và tiêu hóa cao, cân bằng a xít amin trong khi phải giàu dinh dưỡng sức khỏe, đặc biệt là peptides và cholesterol để đáp ứng cân bằng dinh dưỡng và giảm chi phí công thức. Bài báo này đánh giá các thách thức và xu thế thay thế bột cá của các nguồn đạm khác nhau và giới thiệu sản phẩm MOTIV – là một phức hợp đạm bắp của Cargill (69% đạm) cung cấp giải pháp tuyệt vời cho thay thế bột cá trong thức ăn tôm.

Thách thức sản phẩm thay thế bột cá Tôm và các loài cá dữ (cá biển, cá hồi trout, cá hồi salmon, chình,…) là các loài sử dụng bột cá nhiều nhất (Hình 1).

- Bột cá là nguồn đạm cao cấp với dẫn dụ và ngon miệng cao, cân đối a xít amin, giàu peptides sinh học, cholesterol, phospholipids và a xít béo Omega-3, không chứa kháng dưỡng và hầu như rất ít carbohydrates; vì thế, nó đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng cho tôm và các loài cá dữ ăn thiên động vật.

- Các nguồn đạm thực vật thay thế bột cá có một số nhược điểm cơ bản về giới hạn một số a xít amin thiết yếu. Chẳng hạn, methionine thấp trong đạm đậu nành trong khi lysine thấp trong đạm bắp (corn gluten meal) hay lysine và arginine thấp trong đạm lúa mì (wheat gluten meal). Hàm lượng cao của carbohydrates trong đạm thực vật (23-24% carbohydrates trong đạm đậu nành hay 26.5-27% carbohydrates trong đạm bắp corn gluten meal) cũng là một yếu tố bất lợi cho các loài cá dữ ăn thiên động vật là các loài sử dụng nhiều bột cá. Thêm vào đó, tính dẫn dụ và ngon miệng kém, đi kèm kháng dưỡng cao và đặc biệt sự vắng mặt cholesterol là các thách thức và rào cản lớn khi thay thế bột cá bằng đạm đậu nành ở liều cao hơn 5%.

- Bột gia cầm hay bột lông vũ thủy phân là các nguồn đạm tốt để thay thế bột cá. Tuy nhiên, liều lượng thay thế cũng bị giới hạn do hàm lượng tro của chúng khá cao và nguồn cholesterol thấp (hàm lượng tối ưu cũng không nên vượt quáS 5% khi thay thế bột cá).

- Các đạm đơn bào và bột đạm côn trùng là nguồn đạm đầy hứa hẹn cho thay thế bột cá nhưng công nghệ sản xuất chưa khẳng định tính ổn định chất lượng cũng như sản lượng chưa đáp ứng quy mô thương mại và giá bán quá cao là những rào cản cho việc sử dụng chúng để thay thế bột cá.

MOTIV – Nguồn đạm tuyệt vời thay thế bột cá

MOTIV là sản phẩm công nghệ của Cargill sử dụng việc tách chiết đạm tinh khiết và các quy trình lên men đặc biệt để tạo ra nguồn a xít hữu cơ và peptides sinh học trong khi gia tăng hàm lượng a xít amin lysine. Vì thế, Motiv giải quyết được các hạn chế của các nguồn đạm thay thế bột cá đã được đề cập ở trên.

- MOTIV là một sản phẩm phức hợp đạm cân đối a xít amin (69% đạm, cao methionine và lysine tương đối tốt), thấp carbohydrates (1.7%) và rất thấp chất xơ (< 1%), không chứa kháng dưỡng và vì thế nó là nguồn đạm tuyệt vời đáp ứng tiêu chuẩn thay thế bột cá.

- MOTIV giàu về dinh dưỡng sức khỏe, bao gồm a xít hữu cơ (7.2%), peptides sinh học, sắc tố carotenoids. Những dinh dưỡng sức khỏe này không chỉ giúp ngon miệng mà còn giúp chống stress, kháng khuẩn và tăng cường sức khỏe đường ruột.

- MOTIV giàu phytosterols (xấp xỉ 0.6%) là nguồn dinh dưỡng quan trọng để cân bằng cholesterol khi thay thế bột cá do nguồn cholesterol bổ sung rất đắt đỏ là một trong các rào cản chính của các nguyên liệu thay thế bột cá đã đề cập bên trên khi thay thế bột cá trong thức ăn tôm.

- MOTIV bản chất tự nhiên làm từ đạm bắp nên giá trị “dấu chân carbon” thấp hơn nhiều so với các nguồn đạm đậu

Cách tiếp cận thay thế bột cá bằng MOTIV Mặc dù Motiv khá cao về a xít béo Omega-6 (Linoleic acid), giới hạn duy nhất của MOTIV khi thay bột cá là sự vắng mặt hầu hết các a xít béo quan trọng trong MOTIV, bao gồm EPA, DHA và ARA, là những a xít béo quan trọng có nhiều trong bột cá. Vì thế, để thay thế bột cá bằng MOTIV chỉ đòi hỏi sự phối hợp Motiv với các nguồn nguyên liệu bền vững & giàu a xít béo quan trọng (chẳng hạn bột Krill, bột tảo biển hay rong biển giàu Omega-3) hoặc dầu cá biển giàu Omega-3 để cân bằng các a xít béo này (EPA, DHA, ARA) cũng như cần bổ sung thêm Taurine, là a xít amin có mặt nhiều trong bột cá và nó đóng vai trò quan trọng không chỉ ngon miệng mà giúp kiểm soát và cân bằng áp suất thẩm thấu trong môi trường nuôi có biến động độ mặn của tôm và cá biển.

Tiếp cận sản xuất thức ăn chức năng bằng MOTIV Bởi vì MOTIV là nguồn đạm chất lượng cao giàu dinh dưỡng sức khỏe chức năng nên có thế phối hợp Motiv với các nguồn đạm chức năng chất lượng cao khác (bột Krill, bột cá chất lượng cao, chiết xuất tế bào nấm men, chiết xuất rong biển hay tảo biển), khoáng hữu cơ (đặc biệt khoáng selenium hữu cơ), và các vitamin sức khỏe (A, E, C and D3) để sản xuất thức ăn chức năng cho tôm.

Liều dùng tối ưu của MOTIV khi thay thế bột cá hay bột gia cầm trong thức ăn tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei).

MOTIV đã được thử nghiệm và đánh giá trên tôm thẻ chân trắng ( Penaeus vannamei ) ở quy mô trong nhà và ao nuôi thương mại nhằm thay thế bột cá hay bột gia cầm trong thức ăn tôm thẻ chân trắng. Kết quả cho thấy liều tối ưu của MOTIV là từ 7.5% đến 10%

MOTIV trong công thức thức ăn tôm. Thông qua thử nghiệm và đánh giá, tôm thẻ đáp ứng tốt hơn về tăng trưởng và tỉ lệ sống cũng như hệ số thức ăn FCR thấp hơn và màu sắc tôm đỏ đậm hơn khi cho tôm ăn thức ăn có MOTIV tối thiểu 60 ngày đến thu hoạch. Thêm vào đó, ở liều lượng tối thiểu 7.5% MOTIV trong công thức thức ăn tôm có thể giúp tiết kiệm đáng kể lượng astaxanthin bổ sung, ước tính xấp xỉ tiết kiệm khoảng 20 dollar Mỹ/tấn thức ăn. Các bảng dưới đây cho thấy đáp ứng hiệu quả của tôm thẻ chân trắng và các tiếp cận điển hình khi thay thế bột cá hay bột gia cầm trong thức ăn tôm.

Bảng 1. Thử nghiệm trên tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)

lượng cuối trung

bình (g)

lệ sống trung bình (%)

c

Trọng lượng đầu (0,61g), 90 ngày nuôi trong gièo đặt trong ao (10 lần lặp cho mỗi nghiệm thức thức ăn)

Tài liệu tham khảo: Hua và ctv, 2019. The future of aquatic Protein: Implications for protein sources in aquaculture diets.

IAFFD.COM

Macusi và ctv, 2023. Protein Fishmeal Replacement in Aquaculture: A Systematic Review and Implications on Growth and Adaptation Viability. Sustainability.

TS. Nguyễn Duy Hòa Giám đốc kỹ thuật toàn cầu, Ngành hàng Empyreal 75 & Motiv, Tập đoàn Cargill Tel: + 84(0)703515168 - Email: duyhoa_nguyen@cargill.com

Nanobubbles

Giải pháp tối ưu giúp

trại tôm giảm chi phí

đến 70%, tăng tỷ lệ sống lên hơn 90%

Trong bối cảnh ngành nuôi tôm ngày càng cạnh tranh, bài toán lớn nhất của ngư dân không chỉ là

tăng sản lượng mà còn phải giảm chi phí vận hành.

Thực tế cho thấy, chi phí sản xuất, môi trường nước không ổn định đang làm giảm đáng kể lợi

nhuận của nhiều trại tôm.

Trước những thách thức đó, công nghệ NanoBubbles đã trở thành giải pháp tối ưu trong ngành thủy sản nhờ khả năng cải thiện môi trường nước vượt trội và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Khác với cách sục khí truyền thống, NanoBubbles tạo ra các bọt khí siêu nhỏ tồn tại lâu trong nước, phân bố đồng đều và duy trì hàm lượng oxy hòa tan ở mức ổn định. Nhờ đó, tôm giảm stress, khỏe mạnh hơn và hạn chế tình trạng nổi đầu vào ban đêm. Theo nghiên cứu thực tế, NanoBubbles giúp tiết kiệm từ 10 - 25% chi phí điện năng so với sục khí thông thường, thậm chí có nghiên cứu ghi nhận hiệu quả cao hơn đến 400%, với mức tiêu thụ điện chỉ bằng 1/20 phương pháp truyền thống. Công nghệ này còn hỗ trợ tôm trao đổi chất, rút ngắn chu kỳ sinh trưởng, giúp ngư dân tiết kiệm đáng kể chi phí thức ăn.

Không chỉ tối ưu chi phí, NanoBubbles còn hỗ trợ xử lý môi trường nước hiệu quả, giảm

bùn đáy ao và loại bỏ khí độc như H2 S, amoniac. Nguồn nước sạch

giúp hạn chế vi khuẩn gây hại, giảm nhu cầu sử dụng hóa chất và kháng sinh, từ đó giảm chi phí, nguy cơ dịch bệnh và nâng cao chất lượng tôm.

Nhiều mô hình đã ghi nhận tỷ lệ sống tăng mạnh, lên đến trên 90% trong điều kiện nuôi ổn định. Một số báo cáo ghi nhận NanoBubbles

giúp đạt tỷ lệ sống lên đến 9999,6%, trong khi phương pháp

thông thường chỉ đạt khoảng 6476%. Nhờ hàm lượng oxy luôn duy trì ở mức bão hòa, các trại tôm có thể tăng mật độ thả nuôi gấp 2 - 3

lần để tăng năng suất.

Công ty TNHH B.H.N đã phát triển dòng Máy tạo NanoBubbles Công suất NN22

- 250 với lưu lượng lớn lên đến

250 m³/giờ (1.100 GPM), vận hành hoàn toàn tự động và cấp khí trực tiếp không cần máy nén khí. Hệ thống giúp giảm đáng

kể chi phí sản xuất và mang lại

hiệu quả vận hành ổn định cho các trại tôm. Mặc dù chúng tôi có thể nâng hàm lượng oxy hòa tan (DO) lên mức rất cao, nhưng

qua quá trình nghiên cứu và thực

tế vận hành, nhận thấy rằng mức

Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N

ưu

nuôi tôm là 8 ppm ở mọi vị trí trong trại nuôi. Vì vậy, chúng tôi đã phát triển giải pháp giúp duy trì đồng đều mức DO 8 ppm trên toàn bộ ao tôm. NanoBubbles không chỉ là giải pháp công nghệ mà còn là “đòn bẩy lợi nhuận” giúp ngư dân giảm chi phí, tăng năng suất và phát triển bền vững trong dài hạn.

Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM

Số điện thoại: 028.668.101.95/96

Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com

B.H.N

Giải pháp quản lý sức khỏe và kiểm soát dịch bệnh trên tôm trong

Sáng 06/5, Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ phối

hợp với Công ty Cổ phần Sản xuất Kinh doanh Vật tư

và Thuốc Thú y (Vemedim Corporation) tổ chức Hội

nghị khoa học Thủy sản Đại học Cần Thơ năm 2026

với chủ đề “Quản lý sức khỏe và kiểm soát dịch bệnh

trên tôm trong điều kiện hiện nay”.

Sự kiện được tổ chức như một diễn đàn kết nối tri thức học thuật và thực tiễn sản xuất trong bối cảnh ngành nuôi tôm đang đối mặt với nhiều thách thức.

Tham dự Hội nghị có GS.TS.

Nguyễn Thanh Phương - Bí thư

Đảng ủy; GS.TS. Vũ Ngọc Út -

Hiệu trưởng Trường Thủy sản, Trưởng Ban tổ chức; ThS. Lưu

Phước Hậu - Phó Tổng Giám

đốc Thường trực, Tổng Công ty Vemedim Corporation và đông

đảo các nhà khoa học, chuyên

gia, đại diện cộng đồng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.

Hội nghị còn có sự tham dự

của đại diện lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh

vực thủy sản đến từ nhiều địa phương khu vực Đồng bằng sông

Cửu Long, gồm Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố như Cần Thơ, Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang; cùng

đại diện các Chi cục Thủy sản, Kiểm ngư, Chăn nuôi và Thú y, Trung tâm Khuyến nông và Dịch

vụ nông nghiệp trong khu vực.

Theo GS.TS Vũ Ngọc Út, Hiệu

trưởng Trường Thủy sản (Đại học

ThS. Lưu Phước Hậu - Phó Tổng Giám đốc Thường trực, Tổng Công ty Vemedim Corporation chia sẻ tại Hội nghị trường dưới tác động của biến đổi

Cần Thơ), các bệnh như: hoại tử gan tụy cấp, đốm trắng và đặc

biệt là bệnh vi bào tử trùng (EHP)

không chỉ gây thiệt hại kinh tế tức thời mà còn làm suy giảm

hiệu quả sản xuất một cách âm

thầm nhưng kéo dài. Đáng chú ý, mầm bệnh hiện nay liên quan chặt chẽ đến biến động môi

ứng bị động” sang “phòng ngừa chủ động” và từ “tăng trưởng bằng mọi giá” sang “phát triển bền vững dựa trên cân bằng sinh thái”.

Nuôi tôm càng ngày càng khó, do đó, thay vì trở thành chuyên gia xử lý khi bệnh đã xảy ra, người nuôi cần quản trị rủi ro ngay từ khâu đầu tiên. Người nuôi cần thực hiện đúng quy trình ngay từ đầu, từ khâu chọn tôm bố mẹ, con giống cho đến việc thiết lập hệ thống an toàn sinh học và khả năng phát hiện bệnh sớm.

Dưới góc độ dinh dưỡng và an toàn sinh học, TS. Lê Thị Hải Yến, Phó Giám đốc Trung tâm R&D (Vemedim Corporation) nhấn mạnh, trong nuôi tôm an toàn sinh học, việc sử dụng chế phẩm sinh học (probiotics) đóng vai trò then chốt nhằm thay thế kháng sinh và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi. Các nhóm vi sinh phổ biến hiện nay bao gồm nhóm vi khuẩn tạo bào tử như Bacillus với ưu điểm bền nhiệt, hoạt động tốt trong môi trường khắc nghiệt

để ức chế vi khuẩn có hại.

Bên cạnh đó, nhóm vi khuẩn

lactic giúp hỗ trợ tiêu hóa và

hấp thụ dưỡng chất trong đường

ruột, trong khi nhóm vi sinh

quang dưỡng đóng vai trò quan

trọng trong việc xử lý khí độc trong ao nuôi.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã

được cập nhật, cung cấp các

thông tin về tình hình dịch bệnh

trên tôm và các giải pháp, mô hình hiệu quả nhằm quản lý sức

khỏe và kiểm soát dịch bệnh trên

tôm, nhất là tôm nước lợ.

Thông tin về các kết quả

nghiên cứu mới cũng được đưa

ra và trao đổi, thảo luận tại Hội nghị, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện nuôi

tại các vùng nuôi tôm chủ lực của nước ta hiện nay và các vấn

đề mấu chốt đảm bảo nuôi tôm thành công.

Với nội dung gắn liền thực tiễn và sự tham gia của nhiều chuyên gia uy tín, Hội nghị đã tạo ra không gian trao đổi đa chiều, góp

phần làm rõ các thách thức và

định hướng giải pháp cho ngành nuôi tôm trong giai đoạn mới.

Các kết quả thảo luận không chỉ cung cấp thông tin hữu ích cho người nuôi và doanh nghiệp, mà

còn đóng góp vào việc nâng cao năng lực quản lý dịch bệnh, thúc đẩy phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam.

Danh sách các bài tham luận tại Hội nghị: Quản lý môi trường & dịch bệnh ao nuôi tôm – GS.TS. Trương Quốc Phú; Tầm quan trọng của con giống trong nuôi tôm hiện nay – ThS. Trình Trung Phi; Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi khu vực miền Trung – ThS. Lê Thành Cường; Cập nhật các biện pháp phòng và kiểm soát bệnh do vi bào tử EHP ở tôm nuôi – GS.TS. Đặng Thị Hoàng Oanh; Giải pháp dinh dưỡng tăng cường sức khỏe tôm nuôi – PGS.TS. Nguyễn Như Trí; Ứng dụng chế phẩm sinh học hiệu quả trong nuôi tôm – TS. Lê Thị Hải Yến; Làm chủ dữ liệu để kiểm soát rủi ro trong nuôi tôm thời đại số – ThS. Đặng Bình Thành; Các vấn đề mấu chốt đảm bảo nuôi tôm thành công –Mr. Trần Chí Hiếu.

Giang Lăng
GS.TS Vũ Ngọc Út, Hiệu trưởng Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ) và TS. Lê Thị Hải Yến, Phó Giám đốc Trung tâm R&D phát biểu tại hội nghị

ít bột cá

Trong xu hướng phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, ngành thức

ăn đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng cắt giảm hàm lượng bột cá trong khẩu phần thương mại. Tuy nhiên, việc thay thế nguồn

protein chất lượng cao này thường đi kèm những “chi phí sinh học”

tiềm ẩn như gia tăng viêm ruột, suy giảm miễn dịch và tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh (Robert và nnk., 2014).

Công thức thức ăn hiện đại không còn

chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu

axit amin, mà còn phải cung cấp các

hoạt chất sinh học chức năng nhằm hạn chế

các tác động tiêu cực nói trên. Đạm thủy phân

từ biển đang được chứng minh là mắt xích quan trọng, đóng vai trò như một “lá chắn sinh học”, giúp tăng cường sức khỏe và tỷ lệ sống cho cả cá và tôm trong các hệ thống nuôi thâm canh.

Khám phá sức mạnh của cryptide: Cơ chế hỗ trợ sức khỏe chức năng Ưu điểm nổi bật của các dòng đạm thủy phân từ biển như PEPTITOM của Aquaproducts nằm ở cấu trúc phân tử đặc thù. Thông qua quy trình thủy phân enzyme được kiểm soát nghiêm ngặt, sản phẩm chứa hàm lượng cao các peptide có trọng lượng phân tử thấp, trong đó hơn 90% dưới 1.000 Dalton.

Trong các dòng đạm thủy phân từ tôm, hemocyanin là tiền chất chiếm ưu thế (Robert và nnk., 2014). Sau quá trình phân cắt, các peptide có nguồn gốc từ hemocyanin hoạt động như những kháng sinh tự nhiên, mang lại đặc tính kháng khuẩn, chống oxy hóa và kháng virus (Yang và nnk., 2018; Coates và Nairn, 2014). Các peptide kích thước nhỏ này không chỉ có khả năng tiêu hóa cao mà còn kích thích hệ miễn dịch bẩm sinh của vật nuôi, tạo nên lớp bảo vệ chức năng mà bột cá truyền thống hay protein thực vật khó có thể thay thế (Robert và nnk., 2014). “Lá

Tối ưu hiệu suất nuôi cá trong khẩu phần ít bột cá Việc cắt giảm bột cá thường làm suy giảm sức khỏe đường ruột. Tuy nhiên, các thử nghiệm tại Đại học Quốc gia Jeju cho thấy đạm thủy phân từ biển có thể khắc phục khoảng trống này. Trên các loài như cá bơn vỉ (Paralichthys olivaceus) và cá tráp đỏ (Pagrus major), việc bổ sung đạm thủy phân trong khẩu phần giúp kích hoạt mạnh các gen kháng viêm như IL-10 và TGF-β, đồng thời ức chế các tín hiệu gây viêm. Không chỉ tác động lên biểu hiện gen, các thành phần chức năng này còn tối ưu môi trường vật lý của hệ tiêu hóa. Cá được bổ sung đạm thủy phân từ biển ghi nhận chiều cao nhung mao ruột tăng lên, từ đó cải thiện khả năng hấp thu dưỡng chất và cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột.

Cụ thể, việc bổ sung PEPTITOM giúp gia tăng lợi khuẩn Lactobacillus spp., đồng thời làm giảm đáng kể mật độ vi khuẩn Vibrio có khả năng gây bệnh. Sự ổn định của hệ tiêu hóa được xem là yếu tố then chốt để duy trì tăng trưởng ổn định trong các khẩu phần ít bột cá.

Sức khỏe tôm: Gia tăng khả năng chống chịu trước mầm bệnh mới nổi Đối với ngành nuôi tôm, thách thức từ việc cắt giảm bột cá thường đi kèm nguy cơ bùng phát các

tử gan tụy cấp

Những con cá tráp giống khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều trong một thí nghiệm tại Phòng thí nghiệm Dinh dưỡng và Thức ăn Thủy sản, ngành Khoa học Biển, Đại học Quốc gia Jeju, Hàn Quốc.

(EMS/AHPND). Nghiên cứu do Phòng thí nghiệm ShrimpVet (Việt Nam) thực hiện đã làm rõ vai trò chức năng của peptide biển trên tôm thẻ chân trắng ( Penaeus vannamei ). Kết quả cho thấy, việc bổ sung 4% đạm thủy phân từ biển vào khẩu phần ít bột cá (5%) giúp tôm đạt, thậm chí vượt hiệu suất tăng trưởng của khẩu phần tiêu chuẩn chứa 20% bột cá. Điều này phản ánh hiệu quả “tiết kiệm bột cá”, khi giá trị hoạt tính sinh học của protein có thể bù đắp cho việc giảm tỷ lệ nguyên liệu biển truyền thống.

Chỉ số quan trọng nhất: Tỷ lệ sống vượt trội dưới áp lực dịch bệnh Bằng chứng thuyết phục nhất về hiệu quả của đạm thủy phân từ biển nằm ở khả năng cải thiện tỷ lệ sống của vật nuôi khi đối mặt với mầm bệnh. Trong bối cảnh hiện nay, dinh dưỡng không còn là yếu tố tách biệt mà phải gắn liền với khả năng kháng bệnh.

Trên cá: Trong thử nghiệm gây nhiễm Edwardsiella tarda, cá bơn vỉ và cá tráp đỏ được bổ sung PEPTITOM đạt tỷ lệ sống cao nhất trong tất cả các nghiệm thức. Các chỉ số miễn dịch bẩm sinh như hoạt tính lysozyme và myeloperoxidase (MPO) gia

tăng rõ rệt, tạo hàng rào bảo vệ hiệu quả ngay từ giai đoạn đầu và giúp giảm đáng kể tỷ lệ tử vong.

 Trên tôm: Hiệu quả bảo vệ cũng được ghi nhận rõ rệt trong thử nghiệm gây nhiễm EMS/AHPND bằng phương pháp ngâm. Tôm được bổ sung PEPTITOM đạt tỷ lệ sống 54,17%, cao hơn đáng kể so với khẩu phần ít bột cá nền (45%) và cả nhóm đối chứng có hàm lượng bột cá cao (46,67%).

Chiến lược bổ sung đạm thủy phân: Tối ưu hiệu suất khi giảm bột cá

Việc ứng dụng hiệu quả đạm thủy phân từ biển không chỉ phụ thuộc vào hoạt tính sinh học mà còn ở chiến lược bổ sung phù hợp.

Khi được sử dụng đúng cách, PEPTITOM cho phép cắt giảm đáng kể bột cá mà vẫn duy trì, thậm chí nâng cao hiệu suất nuôi.

Chiến lược thay thế cốt lõi

Đạm thủy phân từ biển chủ yếu được sử dụng như thành phần chức năng thay thế trực tiếp cho bột cá trong công thức thức ăn thủy sản. Tỷ lệ thay thế phổ biến dao động từ 1:1

đến 1:3 (PEPTITOM:bột cá), tùy thuộc đối tượng nuôi, yêu cầu công thức và định vị thị trường của sản phẩm thức ăn.

Theo khuyến nghị chung, mức bổ sung nền từ 2 – 5% phù hợp cho đa số ứng dụng, vừa đảm bảo giá trị dinh dưỡng, vừa mang lại hiệu quả chức năng mà không làm thay đổi lớn cấu trúc công thức.

Tối ưu theo từng đối tượng nuôi

Dữ liệu thử nghiệm cho thấy mức bổ sung tối ưu thay đổi tùy theo loài và mục tiêu sản xuất:

 Cá bơn: Mức bổ sung 20% giúp bù đắp hiệu quả việc giảm bột cá từ 65% xuống 25%, đồng thời mang lại tăng trưởng cao nhất trong thử nghiệm, vượt cả khẩu phần đối chứng nhiều bột cá (Đại học Jeju, 2026).

 Cá tráp đỏ: Mức bổ sung 10% được khuyến nghị nhằm thu hẹp khoảng cách hiệu suất trong các khẩu phần ít bột cá (giảm từ 30% xuống 10%). Trong khi đó, mức 5% đã giúp cải thiện tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn, nhưng cần 10% để đạt tương đương hoàn toàn với khẩu phần giàu bột cá (Đại học Jeju, 2026).

 Tôm thẻ chân trắng: Mức bổ sung 4% đặc biệt hiệu quả trong các khẩu phần cực thấp bột cá (~5%), giúp tôm đạt hoặc vượt hiệu suất của khẩu phần chứa 20% bột cá,

đồng thời cải thiện rõ rệt tỷ lệ sống dưới áp lực dịch bệnh (ShrimpVet, 2026).

Định hướng ứng dụng chuyên biệt

Ngoài vai trò thay thế protein, đạm thủy phân từ biển nên được ứng dụng chiến lược tại những giai đoạn mà giá trị hoạt tính sinh học mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất:

 Dinh dưỡng cho giai đoạn ấu trùng và con giống: Ở giai đoạn đầu đời, tỷ lệ sống thường là rào cản lớn nhất do vật nuôi nhạy cảm với stress và mầm bệnh. PEPTITOM cung cấp các peptide hoạt tính sinh học giúp kích thích miễn dịch bẩm sinh như lysozyme và MPO, tăng cường cơ chế phòng vệ và cải thiện tỷ lệ sống.

 Các giai đoạn stress và chuyển tiếp: Việc bổ sung vào thức ăn chức năng trong quá trình phân cỡ, vận chuyển hoặc biến động môi trường giúp tăng cường miễn dịch bẩm sinh và hệ thống chống oxy hóa, qua đó giảm nguy cơ hao hụt.

 Công thức bền vững: PEPTITOM được xem là công cụ quan trọng giúp giảm hệ số

FIFO (Fish In: Fish Out) và cải thiện hiệu quả môi trường mà không ảnh hưởng tốc độ tăng

trưởng, đáp ứng yêu cầu quản lý và xu hướng thị trường hướng tới phát triển bền vững.

Sự cộng hưởng trong công thức và khả năng dẫn dụ Nhờ hàm lượng axit amin tự do cao, đạm thủy phân từ biển còn đóng vai trò như chất dẫn dụ tự nhiên hiệu quả. Điều này cho phép các nhà sản xuất nâng tỷ lệ sử dụng các nguồn

đạm thay thế vốn kém

Aquaproducts là doanh nghiệp chuyên nghiên cứu và cung ứng các hợp chất hoạt tính sinh học từ

nhằm nâng cao hiệu suất và sức khỏe vật nuôi thủy sản. Chúng tôi tập trung vào việc giải quyết các thách thức lớn của ngành như cắt giảm bột cá và quản lý rủi ro dịch bệnh thông qua các dòng đạm thủy phân từ biển đột phá. Để tìm hiểu thêm về các giải pháp tối ưu cho công thức thức ăn, vui lòng truy cập https:// aquaproducts.org/

Kết luận: Giải pháp chiến lược cho ngành thức ăn hiện đại Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản ngày càng gia tăng sử dụng các nguồn đạm thay thế, đạm thủy phân từ biển đã chuyển từ vai trò “phụ gia tùy chọn” sang giải pháp chiến lược thiết yếu. Với khả năng cung cấp dưỡng chất dễ hấp thu cùng hệ thống cryptide tăng cường miễn dịch, các sản phẩm như PEPTITOM góp phần duy trì sức khỏe và tỷ lệ sống ổn định cho vật nuôi. Đối với nhà sản xuất, điều này đồng nghĩa với việc giảm rủi ro trong quá trình nuôi, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu của

nuôi trước những áp lực môi trường và dịch bệnh ngày càng gia tăng.

and Hein Pyae

Paul Vincent, Thomas Levallois, Mirasha Hasanthi,

Cải tiến công tác ương giống

giúp nâng cao tỷ lệ sống và

Tình hình giống cá tra hiện nay chất lượng vẫn chưa ổn định, cá tra bột ương nuôi tỷ lệ sống rất thấp (dưới 10%)… việc tìm nguồn cá tra giống chất lượng là nhu cầu có thực. Con giống tốt góp phần nâng cao tỷ lệ sống cũng

như giúp cá tra nuôi mau lớn, đạt năng suất cao.

ể có nguồn cá tra giống chất lượng cao, ngoài việc cần làm tốt khâu chọn lọc nguồn cá bố mẹ, nuôi vỗ cá tra bố mẹ đúng cách thì khâu ương cá tra bột lên cá tra giống cũng cực kỳ quan trọng, giúp cho cá tra giống đạt tỷ lệ sống cao, cá giống kháng bệnh tốt, nuôi mau lớn… Kỹ thuật ương nuôi cá tra bột: – Chuẩn bị tốt ao ương: Cải tạo ao loại bỏ mầm bệnh, gây màu nước, ương nuôi luân trùng, trứng nước làm thức ăn tự nhiên cho cá tra bột trong giai đoạn 15 ngày đầu tiên ương nuôi cá.

– Thời điểm thả nuôi cá tra bột: Nên thả cá lúc trời mát (tốt nhất là buổi sáng hoặc chiều mát), kết hợp tạt BIO ANTISHOCK (liều 1 kg/1.000 m3 nước) trước khi thả cá 20 – 30 phút giúp chống sốc cho cá.

– Chăm sóc nuôi dưỡng: Cá tra bột những ngày đầu sẽ ăn thức ăn tự nhiên có trong nước như nhóm luân trùng, trứng nước có trong ao… và sau 10 ngày bổ sung thêm thức ăn tinh (công nghiệp) chuyên cá giống, kết hợp bổ sung dinh dưỡng BIO NUTRIFISH. Sau 15 – 20 ngày cá có thể ăn thức ăn công nghiệp. Thức ăn nên trộn kèm men Enzyme tiêu hóa, Vitamin C, Beta Glucan, cho cá

giống ăn mỗi ngày để giúp cá con tăng sức đề kháng, mau lớn…

– Kiểm soát môi trường, chất lượng nước luôn tốt: Có chế độ thay nước và diệt khuẩn định kỳ (khoảng 10 – 15 ngày/lần bằng Iodine hoặc BIO PARACIDE for Aqua), nhằm giảm mật độ vi khuẩn có hại trong ao ương.

Kết hợp tạt Zeolite giúp lắng chất hữu cơ lơ lửng và cấy vi sinh bổ sung vi khuẩn có lợi (BIO BACTER hoặc BIO SUPERBAC) cải thiện, làm sạch nguồn nước ao cá, giúp cá phát triển tốt.

– Phòng trị bệnh: Có 2 nhóm bệnh thường gặp trong quá trình ương cá tra giống.

Cá bị ngoại ký sinh trùng: Biểu hiện cá sậm mình, cá ngứa ngáy, bơi lờ đờ chết rải rác sau 15 – 20 ngày ương cá giống. Giải pháp cho vấn đề này là định kỳ 2 đến 3 tuần trộn 1 đợt BIO ANTIPA (thành phần Praziquantel) ngày 1 cữ trong 2 ngày liên tiếp.

Cá bệnh do bị nhiễm khuẩn: Thường gặp là xuất huyết và gan thận mủ, cá bị nhiễm nặng có thể khiến cá giống hao hụt (chết) đến 80 – 90%. Giải pháp dùng kháng sinh điều trị bệnh. Có nhiều kháng sinh để trị bệnh này như Flor, Amox, Oxytetra, Doxy… Tuy nhiên để điều trị

người nuôi cần gửi mẫu bệnh về phòng Lab phân tích làm kháng sinh đồ, nhằm xác định mức độ nhạy cảm của kháng sinh với vi khuẩn gây bệnh để chọn kháng sinh điều trị cho phù hợp, đạt kết quả cao. Với cá tra bột lấy từ nguồn bố mẹ tốt, môi trường nuôi thông thoáng, chế độ dinh dưỡng phù hợp… sẽ cho đàn cá giống khỏe mạnh, lớn nhanh, tăng tỷ lệ sống cao, là yếu tố quan trọng góp phần tăng năng suất cao khi đưa cá giống vào nuôi thương phẩm.

Đặng Hồng Đức Cố vấn kỹ thuật thủy sản Công ty Bio Pharmachemie

Bệnh đường ruột trên tôm và biện pháp

ệnh đường ruột ở tôm khá phổ biến với các biểu hiện bệnh như phân trắng, đứt khúc, trống ruột, phân loãng... kéo dài có thể dẫn đến hư gan tụy của tôm. Bệnh thường xảy ra ở tôm nuôi sau 1 tháng, mức độ xảy ra nhiều nhất vào giai đoạn 60 - 90 ngày tuổi, gây ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của vụ nuôi, nếu không phòng và điều trị kịp thời sẽ làm giảm năng suất và chất lượng tôm nuôi.

Nguyên nhân

Nhiễm vi khuẩn Vibrio spp: Khi chất lượng nước kém, mật độ Vibrio tăng cao, xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh cho tôm. Hầu hết các chủng Vibrio đều có khả năng gây bệnh, khi vào đường ruột, vi khuẩn phá hủy thành ruột gây viêm, tôm không ăn được dẫn đến trống ruột, đứt khúc.

Nhiễm ký sinh trùng Gregarine (trùng 2 tế bào): Khi tôm ăn phải ký chủ của loài Gregarine này như nhuyễn thể 2 mãnh vỏ, giun nhiều tơ, ốc... sẽ bị ấu trùng xâm nhập vào ruột, phát triển thành dạng trưởng thành, sống ký sinh và bám vào thành ruột. Khi mật độ Gregarine dày đặc sẽ làm tắc nghẽn ruột, hình thành những tổn thương ở đường ruột tạo điều kiện cho tác nhân cơ hội tấn công gây bệnh cho tôm nuôi. Thức ăn:

- Tôm ăn thức ăn bị ẩm mốc, nhiễm khuẩn gây ngộ độc cho tôm

- Tôm ăn phải tảo độc trong ao như tảo lam: Loài tảo độc này sẽ tiết độc tố làm tê liệt lớp biểu bì mô ruột, làm ruột không hấp thu được thức ăn, tôm yếu và bị bênh.

Môi trường:

- Thời tiết thất thường như mưa nắng kéo dài cũng làm cho tôm yếu, bỏ ăn làm cho ruột trống

- Chất lượng nước kém: Nước đục, nhiều bọt dơ, tảo tàn, tảo nở hoa, khí độc... làm cho tôm stress, ăn kém hoặc bỏ ăn.

Khi đường ruột tôm bị tổn thương và suy giảm các chức năng của cơ quan này, tôm không hấp thụ được thức ăn làm giảm sức khỏe tôm, cùng với sự tấn công của các tác nhân cơ hội sẽ làm tôm bệnh nghiêm trọng hơn và chết.

AQUAFEED/AQUAMEDICA

Men đường ruột Ức chế phân trắng, phân loãng, trống ruột, đứt khúc sau 3 ngày.

Tác hại

AQ – 6S

Vi sinh xử lý môi trường

Chế phẩm vi sinh chuyên xử lý tảo, chất hữu cơ dư thừa và bùn đáy ao nuôi,ức chế triệt để Vibrio spp. …

Mặc dù không gây chết hàng loạt trong thời gian ngắn, nhưng sẽ làm tôm bị bệnh mãn tính, khó điều trị. Tôm bị bệnh, bỏ ăn, không bắt mồi, còi cọc, không lớn, hoạt động yếu gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm nuôi.

Các biện pháp phòng chống bệnh

đường ruột

Kiểm soát tốt chất lượng nước: Diệt khuẩn

định kỳ, xử lý chất hữu cơ dư thừa, bùn đáy ao, tảo độc, thường xuyên kiểm tra nồng độ ôxy hòa tan (>4 ppm) tốt nhất là 5 ppm (kích thích tôm ăn khỏe, lớn nhanh, ít bị bệnh tấn công).

Kiểm soát chất lượng thức ăn và lượng

cho ăn: Đảm bảo thức ăn sạch, hạn chế lượng thức ăn dư thừa gây ô nhiễm hữu cơ.

Tăng sức đề kháng và diệt mầm bệnh trong đường ruột tôm.

Sử dụng chế phẩm sinh học:

- Chế phẩm vi sinh: Ổn định hệ vi khuẩn đường ruột, tăng mật độ vi khuẩn có lợi trong đường ruột tôm; chủng vi sinh đặc hiệu chuyên ức chế ký sinh trùng; vi sinh xử lý nước và đáy ao nuôi để phân hủy chất hữu cơ, thức ăn dư thừa.

- Chế phẩm Enzyme: Enzyme hỗ trợ tiêu hóa, Enzyme cắt tảo độc, xử lý nước ao ô

Chế phẩm vi sinh đặc hiệu chuyên ức chế ký sinh trùng

nhiễm hữu cơ.

Đề xuất giải pháp từ Công ty Thái Nam Việt Bệnh đường ruột ở tôm nuôi tuy không gây chết hàng loạt nhưng lại làm giảm chất lượng tôm và năng suất vụ nuôi, do đó, cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, việc điều trị bệnh có thể nhanh chóng và hiệu quả nhưng sẽ gây ảnh hưởng đến sự phát triển sau đó của tôm nuôi, do đó bệnh này chủ yếu phòng là chính. Sử dụng chế phẩm sinh học sẽ giải quyết được vấn đề mục tiêu và đảm bảo cho sự tăng trưởng và sức khỏe tôm, hạn chế được thiệt hại và nâng cao năng suất.

59 63 66

Email: info@thainamviet.com

Website: thainamviet.com

Thái Nam Việt
BATENDO

Hội nghị kinh doanh tôm toàn quốc 2026

ĐOÀN KẾT SỨC MẠNH CHINH PHỤC MỤC TIÊU

Vừa qua, Hội nghị Kinh doanh Tôm Toàn quốc 2026 đã diễn ra thành

công tại Thành phố Đà Lạt với sự tham dự của Ban Lãnh đạo cùng

toàn thể cán bộ, công nhân viên trên cả nước. Sự kiện là dịp quan

trọng để nhìn lại chặng đường đã qua, đồng thời triển khai định hướng phát triển cho năm 2026 trong khí thế mới và quyết tâm mới.

Với chủ đề “Đoàn kết sức mạnh –Chinh phục mục tiêu”, hội nghị đã khẳng định vai trò của tinh thần đoàn kết trong hành trình chinh phục những mục tiêu mới. Tại chương trình, Ban Lãnh đạo đã chia sẻ định hướng chiến lược, các mục tiêu trọng tâm và kế hoạch hành động trong năm 2026, qua đó tiếp thêm động lực để toàn thể cán bộ, công nhân viên đồng lòng nỗ lực, nâng cao hiệu quả công việc và quyết tâm hoàn thành các mục tiêu đề ra. Một trong những nội dung nổi bật của hội nghị là lễ vinh danh các tập thể đạt thành

tích xuất sắc, có bước đột phá về doanh số trong Quý I năm 2026. Đây không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng cho những nỗ lực bền bỉ, mà còn lan tỏa tinh thần đổi mới, sáng tạo và quyết tâm chinh phục mục tiêu trong toàn đội ngũ.

Bên cạnh đó, đội ngũ kinh doanh trên toàn quốc đã cùng thể hiện cam kết hoàn thành và vượt kế hoạch năm 2026, với quyết tâm cao và tinh thần sẵn sàng chinh phục mục tiêu mới.

Trong khuôn khổ sự kiện, các hoạt động Teambuilding và Gala Dinner cũng diễn ra sôi

nổi, mang đến không khí gắn kết và nhiều cảm xúc đáng nhớ. Những khoảnh khắc sẻ chia, giao lưu và đồng hành tiếp tục khẳng định giá trị của sức mạnh tập thể – yếu tố quan trọng tạo nên thành công bền vững.

Hội nghị Kinh doanh Tôm Toàn quốc 2026 khép lại thành công tốt đẹp, mở ra hành trình mới với niềm tin, quyết tâm và tinh thần sẵn sàng chinh phục những mục tiêu đã đề ra trong năm 2026.

Trạm nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước lợ

Chặng

đường 65 năm xây dựng và phát triển(1)

Trải qua 65 năm, Trạm Nghiên

cứu Nuôi trồng Thủy sản Nước lợ

(Trạm) đã khẳng định vai trò là cơ

sở nghiên cứu nòng cốt, góp phần

đặt nền móng và thúc đẩy sự phát

triển của ngành tại Việt Nam. Từ

điều kiện ban đầu còn hạn chế,

Trạm đã vươn lên trở thành đơn vị

có uy tín trong nghiên cứu, chuyển

giao công nghệ và hỗ trợ sản xuất.

Chặng đường 65 năm của Trạm gắn

liền với quá trình chuyển đổi của

ngành thủy sản – từ sản xuất nhỏ

lẻ, phụ thuộc tự nhiên sang ngành

kinh tế có trình độ công nghệ cao

và hội nhập quốc tế sâu rộng.

1. Lịch sử phát triển qua các thời kỳ

(1) Lịch sử phát triển

1961 thành lập Trạm Nghiên cứu Nuôi Hải sản (thuộc Tổng cục Thủy sản); 1967 Trạm sáp nhập với Trạm Nghiên cứu Biển lấy tên là

Trạm Nghiên cứu Hải sản; Tháng 5/1971 tách ra thành Trạm Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản nước lợ; 1976 nâng cấp thành Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản. Năm 1983, tên Viện, một bộ phận bộ khoa học và trang thiết bị được chuyển vào TP. Hồ Chí Minh; bộ phân còn lại sáp nhập vào Viện Nghiên cứu Hải sản nhưng vẫn giữ tên Trạm Nghiên cứu NTTS nước lợ. Năm 2000, Trạm được tái lập trực thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I. Hiện nay, Trạm là cơ sở thực nghiệm thuộc hệ thống nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy sản. Dù nhiều lần thay đổi tổ chức, từ năm 1971

đến nay Trạm vẫn ổn định tên gọi và địa điểm tại Km 13, đường 14 (nay là đường 353 –Phạm Văn Đồng, nơi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp quyết định giao mặt bằng). Bất chấp biến động về cơ cấu và nguồn lực, Trạm luôn duy trì hoạt động nghiên cứu, đóng góp quan trọng cho khoa học và công nghệ ngành thủy sản.

Chuyên gia Liên Xô hướng dẫn kỹ thuật đánh lưới kéo đáy trên tàu Việt Nam (1961-1962)

(2) Những cán bộ quản lý và khoa học đã từng gắn bó với Trạm

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Trạm đã quy tụ nhiều thế hệ cán bộ tâm huyết, có đóng góp quan trọng cho nghiên cứu và sản xuất.

Về quản lý, có các gương mặt tiêu biểu trong từng thời kỳ như: KS. Trần Nhất Anh; TS. Trịnh Hoàng Trữ; TS. Phạm Thế; TS. Vũ Văn Liễu; PGS.TS. Đỗ Văn Khương; TS. Vũ Văn Dũng; KS. Mai Công Khuê; TS. Cao Văn Hạnh; ThS. Bùi Văn Điền..., những người đã dẫn dắt Trạm qua từng giai đoạn.

Đội ngũ cán bộ khoa học gồm nhiều cá nhân giàu kinh nghiệm như: KS. Vũ Văn Toàn; KS. Đinh Ngọc Chất; KS. Hồ Hữu Nhượng; KS. Đào Mạnh Muộn; KS. Đỗ Khắc Khoan; TS. Đoàn Văn Đẩu; KS. Nguyễn Trọng Hường; KS. Nguyễn Quốc Lập; Trần Văn Tựa; Đinh Trọng Ly; KS. Phạm Thị Tuyên; KS. Hà Quang Hiến; KS. Đỗ Đức Hạnh; TS. Lê Viễn Chí; KS. Hà Đức Thắng; KS. Đông Xuân Vĩnh; TS. Nguyễn Ngọc Uyển; Ks. Hoàng Thị Phượng; TS. Trần Thế Mưu và nhiều cán bộ khác.

Dù trong thời chiến hay thời bình, các thế hệ cán bộ luôn kiên trì vượt khó, hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần xây dựng nền tảng và uy tín khoa học.

(3) Những tồn tại trong công tác quản lý

Từ khi thành lập, Trạm đã trải qua nhiều lần điều chỉnh tổ chức (luân chuyển nhân sự, tách – nhập đơn vị). Dù nhằm thích ứng với bối cảnh mới, các thay đổi mang tính gián đoạn đã

làm suy giảm tính ổn định, gây đứt gãy trong tích lũy tri thức, suy yếu tính kế thừa và phân tán nguồn lực, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành và năng lực nghiên cứu dài hạn. Bên

cạnh đó, việc đầu tư cơ sở vật chất trong một số giai đoạn chưa đồng bộ, dẫn đến xuống cấp và thiếu liên kết, hạn chế khả năng triển khai nghiên cứu quy mô lớn và thích ứng với yêu

cầu mới. Công tác quản lý và điều phối nguồn lực cũng còn hạn chế, đặc biệt trong việc duy trì tính liên tục chiến lược và tích lũy năng lực cốt lõi, làm gián đoạn quá trình hình thành lợi thế chuyên môn dài hạn của Trạm.

2. Các giai đoạn phát triển – Từ ổn định đến đổi mới và hội nhập Giai đoạn củng cố và mở rộng (1961 –1975)

Trong giai đoạn này, Trạm tập trung hoàn thiện cơ cấu tổ chức, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo cán bộ và nghiên cứu; đồng thời phát triển và chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật nuôi: Tôm he, Rong câu, cá Rô phi, nuôi tăng sản trong đầm nước lợ. Quy mô nghiên cứu được mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương ven biển. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả nuôi trồng. Đặc biệt, Trạm nhận

được sự hỗ trợ của nhiều chuyên gia quốc tế, như chuyên gia Nhật Bản Suzuki (trước năm 1966) trong lĩnh vực nhuyễn thể; chuyên gia Maeno (1973–1976) về sản xuất giống và

nuôi tôm biển. Về rong biển, đoàn chuyên gia Đức do GS. W. Brucker làm trưởng đoàn đã làm việc tại Trạm trong giai đoạn 1973–1978, với sự tham gia của các chuyên gia như H. Wit, TS. Eugen (lĩnh vực trồng rong) và TS. Erdman (lĩnh vực chế biến)... Giai đoạn đổi mới và phát triển (1975 –2000)

Trong bối cảnh đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế, Trạm chủ động cập nhật các tiến bộ khoa học – công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất giống, nuôi trồng, thức ăn và quản lý môi trường nuôi. Các đối tượng nuôi chủ lực bao gồm tôm he, tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cùng với các đối tượng kinh

tế khác như rong biển, nhuyễn thể và một số

loài cá nước lợ. Hoạt động khoa học được mở rộng cả về quy mô và chiều sâu, tạo nền tảng cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành.

Trong giai đoạn này, Trạm đã triển khai nhiều chương trình, dự án quan trọng như: Dự án VIE-76-007 do FAO tài trợ về phát triển nghề tôm (ký năm 1976); Chương trình 08A về phát triển tôm và rong câu (từ năm 1980); tiếp đó là Chương trình KN04 kéo dài đến năm 1992. Trong lĩnh vực rong biển, Trạm còn hợp tác với đoàn chuyên gia Nga do ông Romanhuc dẫn đầu trong giai đoạn 1989–1990.

Giai đoạn hiện đại hóa và hội nhập (từ 2000 đến nay)

Trong giai đoạn này, trên nền tảng những chuyển biến từ cuối thập niên 1990 đến giữa những năm 2000, Trạm từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất, nâng cao năng lực nghiên cứu và mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế. Đặc biệt, với sự hỗ trợ của các dự án phi chính phủ (AIDA), hệ thống cơ sở thực nghiệm và phòng thí nghiệm được nâng cấp; đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn.

Trong giai đoạn này, Trạm cũng tham gia triển khai Chương trình 224 (theo Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg), thực hiện từ năm 2000

đến 2010, với trọng tâm là phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Các hướng nghiên cứu mới như nuôi trồng bền vững, ứng dụng công nghệ cao, quản lý môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng được chú trọng, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành trong bối cảnh mới.

Tóm lại, với sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế, nguồn lực từ các chương trình, dự

án trong và ngoài nước, cùng nỗ lực bền bỉ của đội ngũ cán bộ qua nhiều thế hệ, Trạm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Nước lợ đã giữ vai trò tiên phong trong việc đặt nền tảng khoa học – công nghệ cho ngành. Đồng thời, Trạm góp phần phát triển các kỹ thuật cốt lõi, tích lũy tri thức và đào tạo nguồn nhân lực, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển và mở rộng của ngành trong các giai đoạn tiếp theo. Ở góc độ hệ thống, những đóng góp này mang tính “đặt nền”, thể hiện qua việc hình thành các chuẩn mực ban đầu về nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao công nghệ trong điều kiện nước lợ của Việt Nam. Các kết quả và kinh nghiệm tích lũy đã tạo hiệu ứng lan tỏa, hỗ trợ hình thành mạng lưới nghiên cứu – sản xuất, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách và phát triển bền vững. Qua đó, Trạm không chỉ là một đơn vị nghiên cứu, mà còn là một mắt xích quan trọng trong cấu trúc phát triển dài hạn của ngành.

3. Những thành tựu nổi bật Suốt 65 năm qua, Trạm đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; đồng thời là nơi cung cấp nhiều cán bộ lãnh đạo cho Bộ qua các thời kỳ. Các kết quả nghiên cứu và ứng dụng của Trạm đã góp phần thúc đẩy phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản nước lợ, nâng cao giá trị kinh tế và vị thế của ngành trên thị trường trong nước và quốc tế. Một số thành tưu đã được ứng dụng ra sản xuất có hiệu quả: (1) Lĩnh vực Giáp xác Từ những năm 1970, thông qua hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản và Liên Hợp Quốc (Maeno, Kitaka, Delmendo…), Trạm đã lần đầu tiên thực hiện thành công sinh sản nhân tạo và nuôi tôm biển, do KS. Vũ Văn Toàn chủ trì. Đây là bước đột phá, đặt nền móng cho sự phát triển của ngành nuôi tôm ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, Trạm đã xây dựng và hoàn thiện các quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi tôm biển (tôm he, tôm sú), bao gồm nuôi vỗ tôm bố mẹ, kích thích sinh sản, ương ấp, cắt mắt và sản xuất thức ăn (2) . Đồng thời, Trạm phát triển quy trình sản xuất giống và nuôi cua (cua sông, cua biển), góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi có giá trị kinh tế. Bên cạnh đó, Trạm đã xây dựng các quy trình nuôi từ quảng canh cải tiến đến thâm

canh cho tôm nước lợ, đặc biệt áp dụng thành công mô hình nuôi tôm ít thay nước của Thái Lan trong điều kiện Việt Nam. Ngoài ra, Trạm cũng nghiên cứu và bước đầu xây dựng quy trình sản xuất giống và nuôi rươi vùng nước lợ ven sông.

( 2) Về thức ăn tươi sống

Trạm đã lần đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu, phân lập và nuôi cấy thành công nhiều loài sinh vật làm thức ăn tự nhiên cho ấu trùng thủy sản, bao gồm thực vật phù du (khuê tảo, lục tảo…) và động vật phù du (luân trùng, Copepoda, Artemia).

Trên cơ sở đó, Trạm xây dựng và hoàn thiện các quy trình nuôi sinh khối tảo đơn bào và động vật phù du; đặc biệt phát triển thành công quy trình nuôi Artemia trong ruộng muối và ứng dụng hiệu quả ở quy mô sản xuất (3) Các kết quả này góp phần quan trọng vào việc chủ động nguồn thức ăn trong sản xuất giống, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của ngành.

( 3) Lĩnh vực Rong biển

Trạm đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong nghiên cứu và phát triển rong biển, góp phần đặt nền tảng cho khai thác và nuôi trồng hiệu quả nguồn lợi này.

Cụ thể, Trạm đã điều tra, đánh giá hiện trạng và phân bố các loài rong biển, làm cơ sở cho quy hoạch vùng nuôi; nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất và lưu giữ giống, đảm bảo nguồn giống ổn định; áp dụng phương pháp đồng vị phóng xạ, cũng như gây đột biến chon tạo giống bằng giải pháp chiếu xạ; xây dựng và chuyển giao các quy trình trồng Rong câu theo các hình thức từ quảng canh cải tiến đến thâm canh, phù hợp với từng vùng sinh thái. Đồng thời, Trạm cũng đề xuất các biện pháp quản lý và phòng trừ rong tạp hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Những kết quả này đã thúc đẩy phát triển nghề trồng rong biển theo hướng bền vững, đồng thời mở rộng tiềm năng khai thác kinh tế từ nguồn tài nguyên ven biển. (4) Về nhuyễn thể

Từ các mô hình nuôi hàu đáy và hàu dàn bè sử dụng nguồn giống tự nhiên tại khu vực cửa

sông Nam Triệu, Trạm đã từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo và cải tiến các mô hình nuôi theo hướng nâng cao năng suất, hiệu quả.

Đến nay, nhiều sản phẩm nhuyễn thể đã được thương mại hóa, có mặt trong các hệ thống

phân phối hiện đại và tham gia xuất khẩu, góp phần gia tăng giá trị kinh tế cho ngành. Bên cạnh đó, Trạm đạt được tiến bộ trong nghiên cứu và phát triển kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai nước mặn và nước ngọt; các quy trình ngày càng hoàn thiện và đã triển khai các mô hình nuôi thương phẩm. Sản phẩm ngọc trai đã có mặt trên thị trường trong nước và từng bước tiếp cận thị trường quốc tế. (5) Lĩnh vự nuôi cá biển Từ các nghiên cứu ban đầu về thành phần loài trong thủy vực nước lợ, Trạm đã xây dựng danh mục các loài cá có giá trị kinh tế, làm cơ sở lựa chọn đối tượng nuôi. Từ kỹ thuật thu gom giống tự nhiên phục vụ nuôi quảng canh, Trạm đã tiến tới nghiên cứu, sản xuất giống và nuôi thành công nhiều loài cá nước lợ và nước mặn. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu về sinh học sinh sản được triển khai đồng bộ, từ nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản đến ương ấp trứng và ấu trùng. Các kết quả nghiên cứu đã góp phần làm chủ quy trình sinh sản nhân tạo, tạo nền tảng cho phát triển nuôi cá biển ở quy mô sản xuất.

4. Thách thức và định hướng phát triển

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và áp lực dịch bệnh ngày càng gia tăng, nuôi trồng thủy sản nước lợ đang bước vào giai đoạn phát triển với mức độ rủi ro và yêu cầu công nghệ cao hơn. Điều này đòi hỏi Trạm không chỉ duy trì vai trò nghiên cứu ứng dụng truyền thống, mà còn phải nâng cấp năng lực theo hướng tích hợp, liên ngành và thích ứng nhanh, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý môi trường, an toàn sinh học và công nghệ nuôi bền vững.

Tuy nhiên, trong quá trình cơ cấu lại hệ thống nghiên cứu, nhận thức và đánh giá về vai trò của Trạm ở một số cấp quản lý chưa thực sự đầy đủ và nhất quán. Việc chưa nhìn nhận đúng giá trị tích lũy từ hơn 65 năm hình thành và phát triển đã phần nào dẫn đến sự thiếu hụt về ưu tiên đầu tư. Hệ quả là cơ sở vật chất và hệ thống phòng thí nghiệm xuống cấp, không theo kịp yêu cầu nghiên cứu hiện đại; đồng thời, nguồn nhân lực có xu hướng phân tán, làm suy giảm năng lực tích lũy và triển khai các chương trình nghiên cứu dài hạn. Những hạn chế này, nếu không được khắc phục kịp thời, có thể làm gián đoạn vai trò đầu mối của Trạm trong hệ thống nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của ngành.

5. Thay cho lời kết

Chặng đường 65 năm xây dựng và phát triển là minh chứng cho những nỗ lực bền bỉ của nhiều thế hệ cán bộ Trạm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Nước lợ. Những thành tựu đạt được trong nghiên cứu giáp xác, rong biển, nhuyễn thể và cá biển không chỉ là các dấu mốc quan trọng mà còn đặt nền móng vững chắc cho các giai đoạn phát triển tiếp theo, tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài và bền vững của ngành nuôi trồng thủy sản. Các kết quả nghiên cứu ban đầu về sinh sản nhân tạo, sản xuất giống, thức ăn tươi sống và kỹ thuật nuôi đã góp phần hình thành các nguyên lý và quy trình công nghệ cốt lõi. Những nền tảng này tiếp tục được kế thừa, bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn, giúp ngành nuôi trồng thủy sản từng bước chuyển từ phụ thuộc vào tự nhiên sang chủ động về công nghệ và nguồn giống, đồng thời phát triển theo hướng thâm canh, hiện đại và hiệu quả hơn. Các thành tựu này không chỉ được phổ biến rộng rãi tới người nuôi trong nước thông qua hoạt động dạy nghề và chuyển giao công nghệ, mà còn được chia sẻ, đào tạo cho nguồn nhân lực chất lượng cao của nhiều quốc gia như Cuba, Senegal và UAE.., qua đó khẳng định uy tín và năng lực chuyên môn của Trạm trên trường quốc tế. Phát huy truyền thống và tinh thần đổi mới, Trạm cần được cơ cấu lại một cách phù hợp, đồng thời tăng cường nguồn lực để tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Ghi chú

(1): Bài viết của tập thể cán bộ Trạm Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Nước lợ nhân kỷ niệm 65 năm thành lập; (2): Giải thưởng nhà nước: QĐ: 391 ngày 01/9/ 2000 về cụm đề tài Nghiên cứu xây dựng công nghệ sản xuất giống một số loài tôm biển; (3): Huy chương vàng về Hội chợ về Đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi Artemia thu trứng và sinh khối ở ruộng muối”; 1998 Đề tài 08A.0404

Nuôi tôm tích hợp bền vững

Từ một trang trại nuôi hàu nhỏ, YHL Aquatic tại Desaru (Malaysia) đã phát triển thành mô hình nuôi tôm công nghệ cao, tích hợp đa loài (IMTA) tiên phong, kiểm soát môi trường hiệu

quả và tối ưu năng suất.

Từ hàu sang tôm

Công ty YHL Aquatic Sdn Bhd là cái tên nổi bật trong ngành tôm Malaysia với hướng tiếp cận dựa trên công nghệ sinh học, đổi mới sáng tạo và quản trị sản xuất chặt chẽ.

Thành lập cách đây 7 năm tại Desaru, bang Johor, YHL hiện sở hữu trang trại quy mô 107,7 ha, trở thành một trong những cơ sở nuôi tôm lớn nhất khu vực. Không chỉ dừng ở nuôi thương phẩm, doanh nghiệp còn đầu

tư đồng bộ chuỗi sản xuất giống với trại ương tại Mersing và trung tâm nhân giống bố mẹ (BMC). Đây là bước đi chiến lược nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu và nâng cao năng lực ngành tôm nội địa.

Năm 2025, YHL được vinh danh với giải thưởng “Xuất sắc châu Á về sản xuất giống tôm biển”, ghi nhận thành tựu nổi bật trong sản xuất tôm post (PL) và thực hành nuôi trồng thủy sản tích hợp đa dinh dưỡng (IMTA). Trước đó, doanh nghiệp cũng giành giải thưởng phát triển bền vững liên quan đến bảo vệ hệ sinh thái biển, khẳng định định hướng phát triển xanh và có trách nhiệm.

Người sáng lập Low Yuan Heng, một kỹ sư công nghệ thực phẩm, đến với nuôi trồng thủy sản khá tình cờ. Ban đầu, ông đầu tư nuôi hàu với lợi thế nguồn giống tự nhiên quanh năm. Tuy nhiên, chu kỳ nuôi dài tới 8 tháng và dòng tiền chậm khiến ông tìm kiếm giải pháp tối ưu hơn.

Nuôi tôm thẻ chân trắng được lựa chọn như một hướng đi bổ trợ, giúp tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và cải thiện dòng tiền. Từ đó, mô hình tích hợp dần hình thành, kết hợp nhiều đối tượng nuôi trong cùng hệ sinh thái.

IMTA – chìa khóa giải bài toán môi trường Điểm nổi bật của YHL là áp dụng mô hình

IMTA, trong đó các loài sinh vật ở các bậc dinh dưỡng khác nhau được nuôi kết hợp nhằm tận dụng chất thải và giảm ô nhiễm. Nước thải từ ao tôm được dẫn qua hệ thống ao lắng, sau đó tiếp tục xử lý bằng cá rô phi, cá măng, nhuyễn thể và thực vật thủy sinh.

Đặc biệt, hệ thống còn tận dụng nước để nuôi copepod – nguồn thức ăn sống cho cá giống. Cách làm này không chỉ giảm tải chất hữu cơ, hạn chế hiện tượng phú dưỡng mà còn tái chế chất thải thành sinh khối có giá trị.

Hiện YHL dành khoảng 3,64 ha cho khu IMTA – một trong những mô hình đầu tiên tại Malaysia. Dù chưa hoàn thiện hoàn toàn, nhưng hiệu quả môi trường và kinh tế đã bước đầu được ghi nhận.

Trang trại tôm của YHL được phát triển theo từng giai đoạn từ năm 2017. Từ ao nhỏ 0,1 ha ban đầu, đến nay hệ thống đã mở rộng lên 67 ao nuôi với diện tích mỗi ao đạt 0,4 ha, độ sâu 1,5-1,8 m. Toàn bộ ao và bờ được lót bạt HDPE để phù hợp với nền đất cát.

Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp chủ động giảm mật độ từ 200 PL/m² xuống 150 PL/m² khi mở rộng quy mô. Theo ông Low, mục tiêu không phải tối đa sản lượng bằng mọi giá mà là đảm bảo tính ổn định và bền vững dài hạn.

Mỗi giai đoạn đều có hệ thống lọc và hồ chứa riêng, giúp kiểm soát dịch bệnh và chất lượng nước hiệu quả hơn.

Năm 2024, sản lượng tôm của YHL đạt 945 tấn, mục tiêu 1.500 tấn trong năm 2025. Mô hình thu hoạch tỉa nhiều lần giúp duy trì nguồn cung ổn định 4-5 tấn/ngày cho các thị trường lớn như Kuala Lumpur, Johor Bahru và Singapore.

Tôm thương phẩm được đánh giá cao về màu sắc và chất lượng nhờ cải thiện di truyền. Đổi mới công nghệ và kiểm soát dịch bệnh Một trong những bước ngoặt của YHL là việc áp dụng giai đoạn ương trước khi thả nuôi thương phẩm. Mô hình này giúp phát hiện sớm bệnh EHP ngay từ khi tôm đạt 1g, thay vì chờ đến 40 ngày như phương pháp truyền thống. Ngoài ra, doanh nghiệp hợp tác với các nhà khoa học Thái Lan để phát triển dòng tôm bố mẹ có tốc độ tăng trưởng nhanh và khả năng kháng bệnh cao. Sau 49 thế hệ chọn lọc, giống tôm của YHL đạt tăng trưởng 0,4-0,5 g/ngày và tỷ lệ sống khoảng 80%.

Các cải tiến khác bao gồm: Sử dụng chiết xuất dứa kết hợp probiotic Bacillus để hạn chế hội chứng phân trắng; Tự sản xuất vi khuẩn quang hợp (PSB) và EM để cải thiện môi trường ao nuôi; Duy trì oxy hòa tan ổn định ở mức 5 ppm bằng hệ thống quạt nước và sục khí. Trang trại hiện có khoảng 60 lao động cùng đội ngũ kỹ thuật được đào tạo bài bản. Hệ thống cho ăn tự động giúp tối ưu hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở mức 1,2-1,3, dù vẫn phụ thuộc vào kỹ năng vận hành của từng kỹ thuật viên. Ông Low Yuan Heng chia sẻ, có ba yếu tố then chốt tạo nên thành công cho trang trại YHL: Tích hợp hệ sinh thái để giảm ô nhiễm, tăng hiệu quả tài nguyên; Đầu tư giống và công nghệ nhằm chủ động kiểm soát chất lượng đầu vào; và ưu tiên ổn định thay vì tăng trưởng nóng để giảm rủi ro dài hạn. Mô hình này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, cách tiếp cận này còn góp phần bảo vệ môi trường – yếu tố ngày càng trở nên sống còn đối với ngành nuôi trồng thủy sản.

Giá bán dao động 19,5-29,5 MYR/kg tùy kích cỡ, trong khi chi phí sản xuất khoảng 19,5 MYR/kg, đảm bảo biên lợi nhuận hợp lý.

Mi Lan

Theo Fishfarmingexpert Malaysia

Nuôi cá chình tại Khánh Hòa

Nuôi cá chình khép kín mở hướng làm giàu cho

nông dân

Với giá trị kinh tế cao cùng khả năng thích ứng

tốt trong môi trường nuôi công nghệ cao, cá

chình đang trở thành đối tượng thủy sản tiềm

năng tại nhiều địa phương. Thông qua hỗ trợ

về kỹ thuật, con giống và vốn từ ngành khuyến

nông, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư mô

hình nuôi cá chình tuần hoàn khép kín, từng

bước tạo sinh kế ổn định và nâng cao thu nhập.

Quy trình nuôi chặt chẽ

Khu nuôi cá chình hoa của Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Vạn Xuân được đặt tại xã Suối Dầu, tỉnh Khánh Hòa. Những dãy bể xi măng được che chắn cẩn thận, gần như tách biệt với bên ngoài bởi cá chình vốn là loài nhạy cảm với ánh sáng mạnh và tiếng động lớn.

Bên trong các bể nuôi, hệ thống sục khí hoạt động liên tục, dòng nước được kiểm soát nghiêm ngặt để duy trì môi trường ổn định cho cá sinh trưởng. Đây cũng là mô hình đang được

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Viện Nghiên cứu thủy sản và doanh nghiệp triển khai nhằm mở ra hướng nuôi mới cho người dân nuôi thủy sản nước ngọt.

Theo ông Trần Thanh Vũ, quản lý sản xuất của Công ty

TNHH Nuôi trồng thủy sản Vạn Xuân, đơn vị hiện triển khai mô hình nuôi cá chình hoa trên diện tích khoảng 3 ha. Mỗi năm, công ty cung ứng khoảng 500.000 con giống và 50 tấn cá thương phẩm ra thị trường, góp phần bảo đảm nguồn giống chất lượng cho nhiều tỉnh, thành trong cả nước.

Ông Vũ cho biết, cá chình hoa là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao nhưng yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt hơn nhiều loại thủy sản nước ngọt khác. Từ khâu con giống, thức ăn đến quản lý môi trường đều phải thực hiện theo quy trình khép kín, hướng công nghiệp hóa. “Cá chình rất nhạy cảm với ánh sáng và tiếng động nên khu vực nuôi phải che chắn kỹ, giữ môi trường ổn định. Nếu quản lý

không tốt chất lượng nước hoặc chế độ chăm sóc thì cá dễ bị stress, ảnh hưởng đến sinh trưởng”, ông Vũ cho hay.

Tại khu nuôi, cá được phân loại theo kích cỡ và nuôi trong các bể xi măng khác nhau. Những con cá nhỏ được nuôi ở bể diện tích vừa phải, sau đó chuyển dần sang bể lớn hơn khi tăng trưởng nhằm bảo đảm không gian phát triển.

Ông Ngô Minh Khang, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước ngọt miền Trung chia sẻ, trong quá trình nuôi, mực nước trong bể thường duy trì khoảng 50 cm và được cấp oxy liên tục bằng hệ thống thổi khí. Việc kiểm soát chặt chẽ từ môi trường nước, chất lượng con giống đến thức ăn và phòng bệnh giúp đàn cá phát triển ổn định, giảm rủi ro dịch bệnh.

Theo ông Khang, cá chình bột sau khi được đánh bắt từ tự nhiên sẽ được ương dưỡng khoảng một năm để đạt kích cỡ giống tiêu chuẩn khoảng 100 g/con. Sau đó tiếp tục nuôi thêm khoảng một năm nữa, cá có thể đạt trọng lượng khoảng 1 kg/con và đủ tiêu chuẩn xuất bán loại 1 với giá dao động từ 400.000 - 600.000 đồng/kg.

“Nếu tiếp tục nuôi thêm từ 2 - 3 năm, cá có thể đạt trọng lượng từ 2 - 5 kg/con, giá trị kinh tế tăng lên đáng kể”, ông Khang thông tin.

Khuyến nông đồng hành cùng người nuôi Từ năm 2024 đến nay, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã

giao Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Vạn Xuân chủ trì thực hiện Dự án xây dựng mô hình nuôi thương phẩm cá chình hoa đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao tại một số tỉnh miền Trung, trong đó có Khánh Hòa.

Trong quá trình triển khai, Trung tâm Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước ngọt miền Trung trực tiếp tham gia hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao quy trình nuôi nhằm giúp người dân tiếp cận đối tượng thủy sản có giá trị cao này.

Qua thực tế triển khai nhiều năm tại Khánh Hòa, các đơn vị chuyên môn đánh giá điều kiện khí hậu, môi trường và nguồn nước tại địa phương phù hợp cho cá chình sinh trưởng và phát triển. Khi áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, cá tăng trưởng tốt, tỷ lệ hao hụt thấp, dịch bệnh được kiểm soát nên hiệu quả kinh tế khá tích cực. Hiệu quả bước đầu từ mô hình đã thu hút nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ dân đến tham quan, tìm hiểu để học hỏi kinh nghiệm. Bà Nguyễn Thị Thúy, ở thôn Tân Xương, xã Suối Dầu cho biết, sau khi tham quan mô hình nuôi cá chình hoa tại Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Vạn Xuân, bà nhận thấy đây là hướng sản xuất có nhiều tiềm năng.

Tuy nhiên, theo bà Thúy, trở ngại lớn nhất hiện nay vẫn là vốn đầu tư ban đầu và yêu cầu kỹ thuật tương đối cao.

“Để đầu tư khoảng 200 m² bể nuôi phải cần hơn 300 triệu

đồng cho xây dựng hạ tầng và mua con giống. Đây là số tiền khá lớn đối với nông dân. Ngoài ra, người nuôi cũng cần được hỗ trợ kỹ thuật, con giống và thức ăn vì cá chình đòi hỏi chăm sóc bài bản”, bà Thúy chia sẻ.

Nhân rộng mô hình nuôi tuần hoàn khép kín

Không chỉ tại Khánh Hòa, mô hình nuôi cá chình ứng dụng công nghệ cao cũng đang được triển khai tại nhiều địa phương khác. Mới đây, ngày 9/4/2026, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nghệ An tổ chức bàn giao con giống và thức ăn cho hộ tham gia mô hình “Nuôi cá chình trong bể sử dụng hệ thống nước tuần hoàn khép kín” tại xã Anh Sơn.

Mô hình được triển khai với quy mô 30 m³ bể nuôi, thả 600 con cá chình mun. Cá giống được lựa chọn từ cơ sở sản xuất uy tín, có chất lượng cao, kích cỡ đồng đều từ 200 g/con trở lên. Theo kế hoạch, sau khoảng 8 tháng nuôi, cá dự kiến đạt trọng lượng trên 1,2 kg/con với tỷ lệ sống đạt từ 70% trở lên. Để bảo đảm hiệu quả, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nghệ An lựa chọn hộ dân có đủ điều kiện về nhân lực, diện tích bể nuôi và vị trí thuận lợi để triển khai mô hình. Hộ tham gia được hỗ trợ 70% chi phí con giống, thức ăn, thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học.

Trong quá trình nuôi, cán bộ khuyến nông trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, xử lý môi trường nước định kỳ cũng như phòng trị một số bệnh thường gặp trên cá chình. Điểm đáng chú ý của mô hình là áp dụng hệ thống nước tuần hoàn khép kín nhằm tiết kiệm nước, kiểm soát tốt môi trường nuôi và hạn chế ô nhiễm.

Theo đánh giá của ngành chuyên môn, cá chình là đối tượng nuôi có tiềm năng phát triển bởi giá trị thương phẩm cao, nhu cầu thị trường ổn định và phù hợp với xu hướng nuôi thủy sản ứng dụng công nghệ cao. Tuy vậy, để mô hình phát triển bền vững, cần tiếp tục có sự đồng hành của ngành khuyến nông trong chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ vốn, liên kết tiêu thụ sản phẩm và xây dựng chuỗi sản xuất ổn định.

Thực tế từ Khánh Hòa đến Nghệ An cho thấy, khi được hỗ trợ đúng hướng, người dân hoàn toàn có thể tiếp cận và làm chủ các mô hình nuôi thủy sản công nghệ cao. Không chỉ tạo thêm nguồn thu nhập, mô hình nuôi cá chình còn mở ra cơ hội chuyển đổi sinh

kế cho nhiều hộ dân trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp đang

cần những hướng đi mới hiệu quả và bền vững hơn.

Kỹ thuật nuôi cá rô phi trong lồng lưới

Kỹ thuật nuôi cá rô phi trong lồng lưới là giải

pháp hiệu quả giúp tận

dụng mặt nước và nâng cao năng suất. Để thành

công, người nuôi cần nắm vững các yếu tố như chọn giống, thiết

kế lồng và quản lý môi

trường nước.

Thiết kế khung, lồng lưới

Vật liệu: Vật liệu để làm khung

lồng là tre, luồng già có đường

kính từ 12 - 15 cm. Thùng 200 lít dùng để làm phao, dây thép dùng

để buộc chặt phao vào khung

lồng, mỏ neo và dây neo dùng để

cố định cụm lồng và bè, giữ cho

lồng không bị nước lũ cuốn trôi và dông bão phá hủy.

Thiết kế khung lồng: Khung lồng có kích thước 7,8 x 6 m. Mỗi

khung có 2 khoang trống, mỗi khoang trống có kích thước 6,6 x 2,2 m, đây là chỗ để mắc lồng nuôi, tại mỗi khoang trống này treo được 3 lồng có kích thước 2x2x2 (m). Khung lồng có 2 mặt, mặt trên và mặt lưới, mỗi mặt

được làm bằng 10 cây tre (mỗi

khung lồng cần 20 cây tre). Các góc nối của khung lồng cố định bằng thép đường kính 8 mm.

Phao: Thùng phi làm phao nổi có đường kính là 0,5 m và chiều dài 1,2 m. Các phao được cột chặt vào khung lồng bằng 4 cây tre, 2 cây ở mặt trên khung và 2 cây ở mặt dưới khung. Mặt trên và mặt dưới khung lồng ép chặt với

phao nhờ có các sợi thép đường kính = 8 mm cố định. Do thùng phi hình trụ nên dùng dây thép (đường kính = 2 mm) cột chặt với khung tre. Mặt lưới khung lồng chìm dưới nước, mặt trên khung lồng lát tre cây (hoặc ván gỗ thông) tạo thành đường đi. Thiết kế lồng lưới: Lồng nuôi làm bằng lưới sợi nilon mắt lưới

A10, sợi 210/9, có kích thước: 2x2x2 (m).

Vị trí đặt lồng

Thủy vực (sông, hồ) nơi đặt lồng nuôi cá phải là nơi nước sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp. Môi trường nước nuôi phải đảm bảo những chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa sau: trị số pH 7,5 - 8; hàm lượng ôxy hòa tan > 5 mg/ lít; amoniac < 0,01 mg/lít; H2 S < 0,01 mg/lít. Địa điểm đặt lồng phải là nơi thoáng gió, không bị bóng cây che nắng, không đặt lồng ở những nơi cuối eo ngách trong hồ, điểm đặt lồng trên sông là nơi có lưu tốc dòng chảy đạt 0,2 - 0,3 m/giây.

Độ sâu điểm đặt lồng trên sông, hồ tối thiểu phải đạt 4 m nước (tính ở thời điểm mực nước xuống thấp nhất).

Số lượng lồng nuôi đặt trên đoạn sông phải đảm bảo sao cho dòng chảy lưu thông qua tất cả các lồng. Mỗi cụm lồng không quá 50 chiếc lồng có kích thước 2 x 2 x 2 (m). Các cụm lồng cách nhau 10 - 15 m. Ở hồ, tổng diện tích lồng chiếm < 5% diện tích mặt hồ.

Chọn các địa điểm đặt lồng đảm bảo không ảnh hưởng đến giao thông đường thủy, không

ảnh hưởng đến dòng chảy và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác. Nên chọn những vị trí giao thông thuận lợi, có nguồn điện lưới và trật tự an ninh xã hội tốt.

Thả cá giống

Cá giống: Nên sử dụng cá

rô phi đơn tính (đực) dòng GIFT

đảm bảo chất lượng tốt, có tỷ lệ đực > 95% để nuôi trong lồng trên sông, hồ.

Cỡ cá giống: Thả cá giống lớn, cỡ cá tối thiểu là 20 g/con để có thể chịu được dòng chảy mạnh, sống lớn khi thả trong lồng và đảm bảo tỷ lệ sống cao ngay từ khi mới thả giống.

Mật độ: Thả 100 con/m³ (lồng ngập nước).

Mùa vụ thả giống: Bắt đầu từ tháng 3 khi nhiệt độ nước thủy vực trên 20°C, chậm nhất là vào tháng 5 - 6 để đảm bảo thu hoạch vào tháng 11 - 12 (ở các tỉnh phía Bắc).

Cho ăn và chăm sóc

Thức ăn: Dùng thức ăn công nghiệp (hay tự chế) có hàm

lượng đạm thô từ 20 - 26%. Chế

độ cho ăn theo bảng 1.

Trường hợp nuôi cá bằng thức

ăn công nghiệp dạng viên nổi thì lồng phải có màng chắn để ngăn

thức ăn không trôi ra ngoài lồng. Màng chắn thức ăn làm bằng

lưới có mắt lưới nhỏ hơn kích

thước của viên thức ăn.

Thức ăn tự chế cho cá nuôi trong

lồng theo công thức sau: Cám gạo: 60%, bột đậu tương: 10%, bột cá: 10%, rau xanh: 15%, khoáng, vitamin: 5%. Hoặc cám gạo: 40%, khô dầu lạc, bột cá: 20%.

Trong trường hợp cho cá ăn

bằng thức ăn tự chế hoặc thức

ăn dạng viên chìm thì đáy của

lồng cá phải được làm bằng lưới

cước có mắt lưới dày để giữ cho

thức ăn không lọt qua đáy lồng

rơi xuống đáy sông, hồ.

Hỗn hợp thức ăn được trộn theo

công thức trên đã nấu chín, đùn

viên hoặc để nguội nắm thành

bánh cho cá ăn. Cho cá ăn từ từ, ít một để cá ăn hết thức ăn, tránh

không để cá tranh ăn, làm tan thức

ăn, rơi ra ngoài lồng, gây thất thoát thức ăn và ô nhiễm nước.

Chăm sóc

Hàng ngày theo dõi hoạt động bơi lội, khả năng bắt mồi và chất thải của cá trong các lồng nuôi.

Chú ý các hiện tượng bất thường

của cá trong lồng. Nếu có dấu hiệu nghi ngờ cá nhiễm bệnh, cần tách đàn và xử lý kịp thời.

Điều chỉnh lượng thức ăn theo thời tiết và sức ăn của cá, tránh

dư thừa gây ô nhiễm nước. Định

kỳ bổ sung vitamin, khoáng chất

để tăng sức đề kháng cho cá.

Hạn chế lạm dụng thuốc kháng sinh trong quá trình nuôi.

Định kỳ 1 lần/tuần vệ sinh lồng, dùng bàn chải nhựa cọ sạch các

cạnh bên lồng lưới. Việc vệ sinh

lồng tiến hành trước các bữa ăn

của cá. Trong quá trình vệ sinh

cần kiểm tra lồng, phát hiện kịp

thời các mắt lưới gần rách để kịp

thời vá lại nhằm hạn chế cá thoát

ra khỏi lồng.

Thường xuyên kiểm tra các

yếu tố như nhiệt độ, pH, hàm

lượng ôxy hòa tan để kịp thời

điều chỉnh, tránh biến động đột

ngột ảnh hưởng đến đàn cá.

Cỡ cá (g/con) Hàm lượng đạm thô của thức ăn (%) Lượng thức ăn/khối lượng cá/ngày

Bảng 1: Chế độ cho cá ăn trong thời gian nuôi trong lồng lưới (thức ăn viên nổi)

Vào mùa mưa lũ phải kiểm tra các dây neo lồng, di chuyển lồng vào vị trí an toàn khi có bão, lũ và nước chảy xiết.

Thu hoạch

Sau 4 - 5 tháng nuôi, cá đạt cỡ thương phẩm (500 g/con) thì có thể tiến hành thu tỉa cá lớn. Cá nhỏ hơn tiếp tục được nuôi, đến cuối vụ tiến hành thu hoạch toàn bộ.

Cá có thể được nuôi trong thời gian từ 5 - 6 tháng để toàn bộ cá

đạt kích thước thương phẩm thì thu hết.

Sản phẩm có thể được tiêu thụ ngay tại địa phương, chuyển

đi bán ở các thị xã, thành phố.

Khi có một sản lượng lớn cá thu hoạch đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì có thể bá cho các nhà máy chế biến xuất khẩu thủy sản.

Nguyễn Hằng

Cá rô phi lớn nhanh, tốc

độ sinh trưởng phụ thuộc vào nhiệt độ, thức ăn và mật độ nuôi. Trong dòng cá rô phi, cá nuôi có tốc độ sinh trưởng tốt nhất hiện nay là dòng GIFT.

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook