1 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
ĐẶC SAN CỦA HIỆP HỘI GIA CẦM VIỆT NAM
SỐ 112 THÁNG 8/2026
Ảnh: Masan
CHUẨN HÓA GIẾT MỔ, KIỂM SOÁT DỊCH BỆNH
>>18-19
Special Issue Animal Farming www.nguoichannuoi.vn
Giá: 30.000 đ
2 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
3 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
4 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
5 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
6 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
7 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
8
MỤC LỤC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Ảnh: ST
MỤC LỤC
9
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
50
10
MỤC LỤC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
ĐẶC SAN CƠ QUAN CHỦ QUẢN Hiệp hội Gia cầm Việt Nam HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP TS. Nguyễn Thanh Sơn TS. Nguyễn Quý Khiêm Nhà báo Dương Xuân Hùng Nhà báo Đỗ Huy Hoàn Thư ký tòa soạn Nguyễn Chi TỔNG BIÊN TẬP TS. Nguyễn Thanh Sơn TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP Nhà báo Đỗ Huy Hoàn HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành CỘNG TÁC NỘI DUNG Thu Hồng; Vũ Mưa; Kim Tiến; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Thùy Khánh; Sao Mai; Quỳnh Nga... MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn KỸ THUẬT VI TÍNH: Sao Mai TÒA SOẠN P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KDT An Hưng, phường Hà Đông, Hà Nội. Điện thoại: 0243 77 11 756; Email: nguoichannuoivn@gmail.com Website: nguoichannuoi.vn TRỊ SỰ Nguyễn Thanh Đức GIẤY PHÉP XUẤT BẢN: 156/GP-XBĐS Khuôn khổ: 23,5 x 31 cm Nơi in: Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM) LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: Ms. Ánh: 0963 555 554 Ms. Ngọc: 098 999 1977 Ms. Na: 0978 233 492 Email: quangcaoncn@gmail.com LIÊN HỆ ĐẶT BÁO: Ms. Ngọc Ánh: 0963 555 554 Email: phathanhtggc@mail.com SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936 Tên tài khoản ngân hàng: TẠP CHÍ THẾ GIỚI GIA CẦM Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Tràng An Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 012022001 Địa chỉ Ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội Ấn phẩm sử dụng sản phẩm giấy thân thiện với môi trường.
Thưa quý vị bạn đọc! Trong 6 tháng đầu năm, cả nước ghi nhận 697 ổ dịch tả heo châu Phi tại 28 tỉnh, thành phố, tăng gần 60% so với cùng kỳ. Bệnh lở mồm long móng trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, đáng chú ý là sự xuất hiện và lan rộng của chủng virus SAT1 với độc lực cao. Mặt khác, từ nay đến cuối năm, hoạt động mua bán, vận chuyển và giết mổ gia súc, gia cầm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cũng gia tăng, kéo theo nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Theo đó, việc quản lý kiểm soát chặt hoạt động giết mổ động vật cần được quan tâm chú trọng. Các chuyên gia cho rằng, ngành giết mổ và chế biến thịt cần được định hướng lại theo lộ trình rõ ràng, không chỉ mở rộng quy mô mà phải tái cấu trúc toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững. Theo đó, cần chuyển mạnh từ mô hình giết mổ nhỏ lẻ sang tập trung, chuẩn hóa và có kiểm soát, phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ giết mổ công nghiệp đạt khoảng 70% đối với gia súc và 50% đối với gia cầm. Đồng thời, chế biến sâu được xác định là trục tăng trưởng chính, với mục tiêu nâng tỷ lệ thịt được chế biến lên 40 - 50%. Sáng 12/8/2026, tại TP Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình sản xuất, thị trường giống gia cầm 7 tháng đầu năm, dự báo 5 tháng cuối năm 2026 và xây dựng các kịch bản sản xuất, thương mại gia cầm năm 2027. Chia sẻ tại Hội nghị, ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam cho biết, mặc dù giá bán hầu hết các sản phẩm gia cầm đang ở mức khá thấp, nhưng trong 7 tháng đầu năm, nguồn cung gia cầm vẫn tăng mạnh, cả năm có thể tăng trên 4%. Riêng 6 tháng đầu năm, nguồn cung đã tăng khoảng 3,8%. Dự báo năm 2027, ngành chăn nuôi gia cầm vẫn sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là biến động giá thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y. Từ đầu năm đến nay, giá thức ăn chăn nuôi đã tăng khoảng 5 đợt, tạo áp lực đáng kể lên chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Một vấn đề đáng lưu ý khác là trong bối cảnh thị trường đang có dấu hiệu dư cung, khối doanh nghiệp FDI vẫn có kế hoạch tiếp tục tăng đàn và mở rộng sản lượng. Đây là yếu tố mà các doanh nghiệp trong nước cần đặc biệt cân nhắc khi xây dựng kế hoạch sản xuất cho năm 2027 và những năm tiếp theo, nhằm chủ động cân đối cung cầu và hạn chế rủi ro. Trên thị trường thế giới, Triển lãm chăn nuôi ở châu Âu (VIV Europe Utrecht, Hà Lan) đã mang đến bức tranh toàn cảnh về một ngành công nghiệp đang trải qua những biến chuyển sâu sắc trên phạm vi toàn cầu, đồng thời tác động trực tiếp đến châu Á. Các chuyên gia nhận định, trong bối cảnh chi phí sản xuất tiếp tục chịu áp lực, các quyết định mua sắm ngày càng đòi hỏi phải cân bằng giữa năng lực cạnh tranh và quản trị rủi ro. Tương lai có thể sẽ không còn được định hình bởi một thị trường toàn cầu thống nhất, mà bởi nhiều thị trường có sự kết nối với nhau nhưng vận hành theo những thực tế thương mại và chính trị khác nhau. Trên đây là một trong những nội dung chính đã được cập nhật thông tin trong ấn phẩm Người Chăn nuôi phát hành kỳ tháng 8 này, mời quý độc giả đón đọc! Trân trọng!
BAN BIÊN TẬP
MỤC LỤC
11
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
16 Theo dòng thời sự Kích hoạt các “lá chắn” ngăn dịch cúm gia cầm
22 Nhìn ra thế giới Ba xu hướng tái định hình ngành chăn nuôi toàn cầu 18
24 Thị trường Liên kết để phát triển bền vững ngành giống gia cầm 44 Dinh dưỡng 5 sáng kiến mở lối ngành dinh dưỡng chăn nuôi 48
52 Khoa học kỹ thuật 6 giải pháp đổi mới sáng tạo dành riêng cho ngành chăn nuôi heo 58 Khoa học kỹ thuật Những vấn đề đáng quan tâm của ngành thức ăn chăn nuôi 2026
54
12
TIN TỨC SỰ KIỆN NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
7 tháng năm 2026, xuất khẩu chăn nuôi tăng 33,2% Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 7 tháng năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt gần 22,2 tỷ USD, tăng 2,4%; chăn nuôi đạt 455 triệu USD, tăng 33,2%. Từ ngày 1/7/2026, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia đã chính thức vận hành, hỗ trợ tính minh bạch cho hàng hóa Việt Nam. Bộ đặt mục tiêu cả năm đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt mốc 74 tỷ USD, với 8 mặt hàng trọng điểm: gỗ và sản phẩm gỗ (17,7 tỷ USD), thủy sản (12,034 tỷ USD), rau quả (9,81 tỷ USD), cà phê (9,64 tỷ USD), hạt điều (5,42 tỷ USD), sắn và sản phẩm sắn (1,34 tỷ USD), chè (239 triệu USD). Riêng sản phẩm chăn nuôi được đặt mục tiêu đạt 686 triệu USD trong năm 2026.
HÀ MY
Phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường Mới đây, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; ứng dụng các công nghệ này để tạo ra sản phẩm quy mô công nghiệp, đáp ứng nhu cầu trong nước và phục vụ xuất khẩu. Để đạt mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm phát triển khoa học và công nghệ; xây dựng tiềm lực công nghiệp sinh học; phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường; hoàn thiện cơ chế, chính sách; tăng cường hợp tác quốc tế và đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức.
VÂN ANH
VIỆN CHĂN NUÔI VÀ THÚ Y VIỆT NAM
Đẩy mạnh triển khai 75 nhiệm vụ khoa học công nghệ Ngày 24/7, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai kế hoạch 6 tháng cuối năm 2026. Viện hiện quản lý 75 nhiệm vụ khoa học công nghệ ở nhiều cấp độ - từ 2 nhiệm vụ cấp Nhà nước, 42 nhiệm vụ cấp Bộ, đến 15 dự án hợp tác quốc tế và 14 nhiệm vụ phối hợp với địa phương, doanh nghiệp. Song song đó, Viện đang xúc tiến ký kết hợp đồng với các Bộ liên quan và chuẩn bị hồ sơ để tiếp tục đấu thầu các đề tài mới cho giai đoạn 2027, bao gồm cả những nhiệm vụ gắn với Nghị quyết 57. Sáu tháng cuối năm, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam xác định tiếp tục phát huy thế mạnh nghiên cứu, đồng thời tăng cường sản xuất, kinh doanh con giống và vaccine nhằm hoàn thành các chỉ tiêu đề ra cho cả năm 2026.
TẠ TRANG
Bàn giải pháp phát triển bền vững ngành ong Việt Nam Phí kiểm dịch thỏ cao gấp 15 lần gia cầm, hiệp hội Ngày 20 - 21/7/2026, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối kêu cứu hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình tổ chức Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp phát triển nuôi ong bền vững gắn với thương hiệu sản phẩm”. Việt Nam hiện có khoảng 1,3 - 1,4 triệu đàn ong với trên 35.000 hộ nuôi và 31 doanh nghiệp xuất khẩu, sản lượng mật ong đạt hơn 57.000 tấn năm 2024 và ước 59.225 tấn năm 2025. Tại Diễn đàn, các chuyên gia đề xuất nhiều giải pháp: nâng cao chất lượng giống ong, kiểm soát dịch bệnh, phát triển hợp tác xã và liên kết chuỗi, xây dựng thương hiệu gắn với truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm OCOP và mở rộng thị trường. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững ngành ong đến năm 2030”, hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia cho mật ong Việt Nam và giảm dần thuế chống bán phá giá tại Mỹ.
NGỌC LAN
Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam vừa kiến nghị Thủ tướng xem xét lại mức phí kiểm soát giết mổ đối với thỏ, hiện đang ở mức 3.000 đồng/con, trong khi gia cầm chỉ 200 đồng/con và heo dưới 15 kg là 700 đồng/con - cao hơn gia cầm tới 15 lần và heo 4 lần. Theo Hiệp hội, mức phí này không tương xứng với giá trị thương phẩm của thỏ (thường chỉ 2 - 3 kg/con), làm tăng chi phí sản xuất và giảm sức cạnh tranh của thịt thỏ, trong khi đây là ngành đang được khuyến khích phát triển. Hiệp hội đề xuất Bộ Tài chính phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa Thông tư 101/2020/TT-BTC, giảm phí kiểm soát giết mổ đối với thỏ xuống mức phù hợp với thực tiễn sản xuất, đề xuất bằng mức áp dụng đối với gia cầm hoặc xây dựng mức thu trên cơ sở đánh giá đầy đủ chi phí thực hiện dịch vụ công và đặc điểm của ngành chăn nuôi thỏ...
MINH NGUYỆT
TIN TỨC SỰ KIỆN
13
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Giảm nửa thời gian làm thủ tục hành chính Trong 6 tháng đầu năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cắt giảm 8.987 ngày giải quyết thủ tục hành chính, tương ứng giảm 53,39%; tiết kiệm khoảng 5.310 tỷ đồng chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, tương ứng giảm 54,73%. Số thủ tục hành chính cấp Bộ cũng giảm mạnh từ 267 xuống còn 148, Bộ được Chính phủ biểu dương vì vượt chỉ tiêu được giao. Cùng đó, Bộ đẩy mạnh phân cấp cho địa phương với 58 thủ tục được phân quyền, 108 thủ tục bị bãi bỏ và 88 thủ tục được đơn giản hóa. Về chuyển đổi số, Bộ đã hợp nhất hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính trên toàn ngành từ 1/1/2026, cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho gần 500 thủ tục, đồng thời kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đăng ký doanh nghiệp để giảm giấy tờ cho người dân.
tấn thức ăn Premix và 21,6 tấn các loại thức ăn bổ sung dạng hỗn hợp khác). Cơ quan chuyên môn khuyến nghị tiếp tục tăng cường kiểm tra điều kiện sản xuất, chất lượng nguyên liệu, quy trình sản xuất, ghi nhãn và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Các địa phương cần đẩy mạnh thanh tra, lấy mẫu giám sát để kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm về chất cấm hay an toàn thực phẩm; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, ổn định nguồn nguyên liệu và phát triển sản phẩm phù hợp nhu cầu thị trường.
VŨ PHƯƠNG
NGHỆ AN
Chi gần 94 tỷ đồng hỗ trợ chăn nuôi thiệt hại vì dịch bệnh VŨ HIỀN
Tăng cường quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc thú y Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Công văn số 8300/ BNNMT-CNTY gửi Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường quản lý hoạt động sản xuất, nhập khẩu, buôn bán và sử dụng thuốc thú y. Theo đó, các địa phương thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra cơ sở sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh; lấy mẫu kiểm tra chất lượng, thu hồi, tiêu hủy sản phẩm vi phạm và xử lý theo thẩm quyền. Trường hợp có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý hình sự theo quy định. Đồng thời, giao các cơ quan chức năng địa phương điều tra, xử lý các tổ chức, cá nhân kinh doanh, sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc kém chất lượng, thuốc giả, thuốc cấm, thuốc chưa được phép lưu hành, ghi sai nhãn mác, cũng như việc bán và sử dụng nguyên liệu kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản khi có dấu hiệu vi phạm.
HẢI LÝ
Đẩy mạnh kiểm soát chất cấm trong chăn nuôi Cục Chăn nuôi và Thú y vừa ban hành văn bản số 2833/CNTYKD&TYCĐ gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị tăng cường kiểm tra, giám sát dịch bệnh động vật, vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi. Theo đó, hoạt động kiểm tra sẽ tập trung tại các tuyến giao thông trọng điểm, chợ đầu mối, cơ sở chăn nuôi, điểm thu gom, cơ sở giết mổ, các cơ sở kinh doanh cũng như phương tiện vận chuyển động vật và sản phẩm động vật có dấu hiệu vi phạm. Trong đó, việc phát hiện và xử lý hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Cùng đó, yêu cầu xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về chăn nuôi, thú y và an toàn thực phẩm, đặc biệt là hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi…
BẢO BÌNH
HÀ NỘI
Sản xuất thức ăn chăn nuôi đạt hơn 32.500 tấn Trong tháng 7, có 21 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tham gia báo cáo tình hình sản xuất thức ăn chăn nuôi. Tổng sản lượng đạt 32.578,7 tấn, phục vụ sản xuất chăn nuôi trên địa bàn và các khu vực lân cận; trong đó, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc đạt 32.374 tấn, thức ăn bổ sung dạng hỗn hợp đạt 204,7 tấn (183,1
Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Nghệ An, từ ngày 1/1 đến 24/7/2025, toàn tỉnh có 36.618 con heo và 5.450 con gia cầm bị tiêu hủy do nhiễm dịch tả heo châu Phi và cúm gia cầm. UBND tỉnh đã chi gần 94 tỷ đồng hỗ trợ các hộ chăn nuôi bị thiệt hại. Đối với heo bị nhiễm dịch tả châu Phi được hỗ trợ theo mức 40.000 đồng/kg (áp dụng theo Nghị định 116/NĐ-CP) cho các trường hợp nằm trong vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp, vùng đệm hoặc buộc phải tiêu hủy theo quy định. Hiện Chi cục tiếp tục phối hợp các địa phương rà soát, tổng hợp thiệt hại phát sinh sau ngày 24/7/2025 để đề xuất tỉnh bố trí kinh phí hỗ trợ trong các đợt tiếp theo.
THÙY DƯƠNG
GIA LAI
Phê duyệt hai dự án chăn nuôi công nghệ cao vốn hơn 3.600 tỷ đồng UBND tỉnh Gia Lai đã chấp thuận chủ trương đầu tư hai dự án của Công ty TNHH Thịnh Phát - Muyuan Gia Lai tại xã Pờ Tó, với tổng vốn hơn 3.615 tỷ đồng, hướng tới xây dựng chuỗi chăn nuôi khép kín quy mô lớn. Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi rộng gần 6,6 ha có công suất 360.000 tấn/năm, vốn đầu tư 515 tỷ đồng. Trang trại chăn nuôi heo công nghệ cao trên diện tích hơn 106 ha, vốn 3.100 tỷ đồng, gồm hai khu Pờ Tó 1 và Pờ Tó 2 với tổng công suất 16.200 con heo nái và 209.000 con heo thịt mỗi lứa. Nhà máy thức ăn dự kiến khởi công quý IV/2026, hoạt động từ quý I/2028; trang trại heo cũng khởi công cùng thời điểm và đi vào sản xuất từ quý I/2028.
BẢO TRÂM
AN GIANG
Quy định “vùng đỏ” cấm nuôi chim yến An Giang hiện có khoảng 4.475 nhà nuôi chim yến, sản lượng tổ yến thu hoạch 35 - 40 tấn/năm. Tỉnh đã quy định rõ các “vùng đỏ” tuyệt đối cấm nuôi chim yến, gồm: Khu di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, khu du lịch, các cơ sở tôn giáo, trường học, bệnh viện, trung tâm y tế và chợ; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, khu vực đất cảng hàng không, sân bay dân dụng; khu cộng đồng dân cư hiện hữu; khu công nghiệp, cụm công nghiệp… Vùng được phép nuôi chim yến là khu vực nằm ngoài phạm vi 300 m tính từ ranh giới các khu vực cấm nêu trên, đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về tiếng ồn và vệ sinh theo Nghị định của Chính phủ.
TRẦN VÂN
14
THEO DÒNG THỜI SỰ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
VPA
Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Chăn nuôi và Luật Thú y Sau khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp việc triển khai Luật Chăn nuôi và Luật Thú y đã bộc lộ những bất cập phát sinh trong quá trình thực thi. Trước thực tiễn này, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) đã gửi kiến nghị tới Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, nhằm tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y.
Từ thực trạng này, VPA đề xuất tăng cường cơ chế hậu kiểm đối với các trang trại quy mô vừa và nhỏ thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tiền kiểm để giảm tải cho địa phương. Đồng thời, cần mở rộng xã hội hóa hoạt động kiểm soát giết mổ, cho phép các tổ chức hành nghề thú y tư nhân tham gia dưới sự giám sát từ xa của cơ quan quản lý.
Khoảng trống nhân lực
Cần đồng bộ quy hoạch, kiểm dịch, quản lý dữ liệu
Đây được coi là một trong những rào cản lớn trong quá trình thực thi triển khai áp dụng Luật Chăn nuôi và Luật Thú y vào thực tiễn. Theo VPA, trước đây, việc kiểm tra điều kiện chăn nuôi trang trại, quản lý cơ sở giết mổ nhỏ lẻ hay cấp chứng nhận hành nghề thú y thuộc thẩm quyền cấp huyện. Khi tổ chức lại bộ máy, nhiều nhiệm vụ được chuyển lên cấp tỉnh hoặc giao cho cấp xã nhưng chưa được bổ sung đầy đủ nguồn nhân lực chuyên môn, dẫn đến quá tải hoặc khó triển khai trên thực tế.
Tiêu biểu là việc phê duyệt địa điểm chăn nuôi và vùng an toàn dịch bệnh. Khi phân cấp về địa phương, chủ đầu tư vừa phải đáp ứng các yêu cầu về khu vực được phép chăn nuôi theo Luật Chăn nuôi, vừa phải xin thẩm định về vùng an toàn dịch bệnh theo Luật Thú y. Hai quy trình này được thực hiện độc lập, dẫn đến kéo dài thời gian và phát sinh chi phí. Do đó, VPA đề xuất hợp nhất quy trình thẩm định, cho phép cơ quan chuyên môn đánh giá đồng thời các tiêu chí về chăn nuôi, an toàn sinh học, dịch tễ và các điều
kiện liên quan trong cùng một bộ hồ sơ. Đối với hoạt động kiểm dịch, theo VPA việc kiểm tra lâm sàng trực tiếp trước khi cấp giấy kiểm dịch vận chuyển động vật ra khỏi địa phương đang tạo áp lực lớn về nhân lực cho hệ thống thú y cơ sở. Trong khi đó, nhiều cơ sở chăn nuôi đã được công nhận an toàn dịch bệnh và được quản lý bằng mã số định danh. Vì vậy, đề xuất luật hóa cơ chế miễn kiểm tra lâm sàng trực tiếp đối với vật nuôi xuất phát từ các cơ sở đã được chứng nhận an toàn dịch bệnh, thay thế bằng hình thức kiểm dịch điện tử dựa trên cơ sở dữ liệu quốc gia. Ngoài ra, sự khác biệt trong quy định về khoảng cách an toàn sinh học cũng là một vấn đề được doanh nghiệp và địa phương quan tâm. Bởi, Luật Chăn nuôi quy định khoảng cách an toàn sinh học bằng các thông số cụ thể đối với khu dân cư, trường học hoặc nguồn nước, trong khi Luật Thú y lại áp dụng khái niệm khoảng cách dịch tễ dựa trên nguy cơ lây lan dịch bệnh. Sự tồn tại song song của hai hệ tiêu chí khiến nhiều địa
VĂN BẢN CUỘC SỐNG
15
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
phương gặp khó khi cấp phép cho trang trại. Theo đó, VPA kiến nghị xây dựng một bộ tiêu chí thống nhất về khoảng cách an toàn chăn nuôi và dịch tễ, đồng thời giao UBND cấp tỉnh chủ động điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế. Mặt khác, việc quản lý dữ liệu chăn nuôi và giám sát dịch bệnh hiện vẫn vận hành theo hai hệ thống riêng biệt. UBND cấp xã nắm dữ liệu đàn vật nuôi, trong khi cơ quan thú y quản lý dữ liệu dịch tễ. Sự phân tán này khiến việc theo dõi tiêm phòng, kiểm soát dịch bệnh và xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn. VPA đề xuất xây dựng sổ tay điện tử chăn nuôi - thú y đối với hộ gia đình, tích hợp dữ liệu kê khai vật nuôi với lịch tiêm phòng và giám sát dịch bệnh nhằm hình thành hệ thống quản lý đồng bộ trên nền tảng số.
Chồng chéo trong xử lý chất thải chăn nuôi
Theo Luật Chăn nuôi, chất thải chăn nuôi như phân, nước thải hoặc đệm lót sinh học sau xử lý được xem là nguồn tài nguyên, phụ phẩm phục vụ kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, Luật Thú y vẫn áp dụng cơ chế kiểm soát liên quan đến nguồn gốc mầm bệnh và các yêu cầu về kiểm dịch, vệ sinh thú y. Sự khác biệt trong cách tiếp cận này khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi vận chuyển chất thải chăn nuôi đã qua xử lý để sản xuất phân bón hữu cơ hoặc tái sử dụng. Ngoài việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường theo quy định của Luật Chăn nuôi, doanh nghiệp còn phải thực hiện thêm các thủ tục kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật theo quy định của Luật Thú y, làm gia tăng chi phí và thời gian thực hiện. Để tháo gỡ vướng mắc, Hiệp hội kiến nghị làm rõ ranh giới pháp lý giữa hai luật. Theo đó, đối với chất thải chăn nuôi đã được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường chăn nuôi, cần miễn áp dụng các thủ tục kiểm dịch vận chuyển động vật và sản phẩm động vật.
Gỡ khó về quản lý thuốc thú y
Ngoài các nội dung liên quan đến Luật Chăn nuôi và Luật Thú y, VPA cũng đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn trong lĩnh vực quản lý thuốc thú y. Theo VPA, quy định về nguyên liệu thuốc thú y hiện yêu cầu cơ sở sản xuất phải sử dụng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn GMP hoặc tương đương. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chuẩn được coi là tương đương GMP, gây lúng túng cho doanh nghiệp khi nhập khẩu nguyên liệu như axit amin, vitamin, chất chống ôxy hóa hoặc chất ổn định. Bên cạnh đó, danh mục hoạt chất được phép sử dụng trong thú y chưa được cập nhật kịp thời theo tiến bộ khoa học quốc tế cũng như nhu cầu thực tiễn của các thị trường xuất khẩu. Điều này làm hạn chế khả năng tiếp cận công nghệ mới và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó, VPA kiến nghị chuyển từ cơ chế ban hành danh mục hoạt chất được phép sử dụng sang danh mục các hoạt chất bị cấm sử dụng. Cách tiếp cận này được cho là phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và tạo điều kiện cho doanh nghiệp linh hoạt trong nghiên cứu, sản xuất. Bên cạnh đó, về thời hạn của Giấy chứng nhận lưu hành sản phẩm thuốc thú y, Hiệp hội đề nghị bãi bỏ quy định thời hạn 5 năm đối với giấy chứng nhận lưu hành thuốc thú y và chế phẩm sinh học. Theo đó, việc chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, tránh đứt gãy chuỗi cung ứng và vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý.
VÂN ANH
Quản lý mật độ chăn nuôi cần tính sức chịu tải của môi trường Sáng 7/8, tại thảo luận tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Như So - Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam đề xuất Ban soạn thảo nghiên cứu đổi mới phương thức quản lý mật độ chăn nuôi dựa trên đánh giá rủi ro và sức chịu tải môi trường để tạo hành lang pháp lý cho chăn nuôi công nghệ cao phát triển. Trong thời gian qua, nhiều quy định pháp luật bộc lộ sự chồng chéo, gia tăng chi phí tuân thủ và kéo dài thời gian cho doanh nghiệp. Việc chuyển đổi mạnh mẽ từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” trên cơ sở quản lý rủi ro, áp dụng nguyên tắc “một thủ tục - một đầu mối” và “dữ liệu chia sẻ một lần”, vừa giúp giảm tải cho kinh doanh, vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Về quản lý mật độ chăn nuôi (Điều 53 Luật Chăn nuôi), mật độ chăn nuôi hiện được tính theo số đơn vị vật nuôi (ĐVN) trên diện tích đất nông nghiệp. Cách tính này chỉ phù hợp với chăn nuôi truyền thống. Hiện nay đã xuất hiện các mô hình chăn nuôi công nghệ cao nhiều tầng (như mô hình trang trại cao tầng tại Trung Quốc và một số nước), nuôi hàng trăm nghìn đến hàng triệu con trên một diện tích đất rất nhỏ. Theo đó, nếu tính theo diện tích đất, chỉ số ĐVN/ha sẽ vọt tăng gấp nhiều lần, dễ bị coi là vượt ngưỡng quy định. Nếu tính theo tổng diện tích sàn xây dựng, pháp luật hiện hành lại chưa có quy định hay cơ sở pháp lý để hướng dẫn. Ngoài ra, việc quy đổi mật độ chăn nuôi trên tổng diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh có thể gây sai lệch đánh giá sức chịu tải môi trường cục bộ. Một tổ hợp cao tầng tập trung lượng vật nuôi lớn có thể gây ô nhiễm nghiêm trọng về nước thải, khí thải, giao thông và nguy cơ dịch bệnh tại khu vực đó, dù chỉ số chung toàn tỉnh vẫn trong ngưỡng an toàn. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo (dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường) nghiên cứu đổi mới phương thức quản lý mật độ chăn nuôi dựa trên đánh giá rủi ro và sức chịu tải môi trường. Cần tính đến: tổng diện tích sàn chăn nuôi, năng lực xử lý chất thải, công nghệ áp dụng và điều kiện an toàn sinh học. Có như vậy mới vừa tạo hành lang pháp lý cho chăn nuôi công nghệ cao phát triển, vừa kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường và mang tính dự báo trước sự phát triển của khoa học công nghệ.
ÔNG NGUYỄN NHƯ SO
Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh - Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam
16
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
KÍCH HOẠT CÁC “LÁ CHẮN” NGĂN DỊCH CÚM GIA CẦM Trong bối cảnh hoạt động chăn nuôi bước vào giai đoạn tăng đàn phục vụ nhu cầu thị trường cuối năm, dịch cúm gia cầm lại đang trở thành thách thức lớn khi xuất hiện tại nhiều địa phương với tốc độ gia tăng đáng lo ngại. Tiêm vaccine còn thấp, nguy cơ dịch lan rộng
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước ghi nhận 50 ổ dịch cúm gia cầm tại 15 tỉnh, thành phố, tăng 8 địa phương và gấp 3,8 lần về số ổ dịch so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số gia cầm mắc bệnh lên tới 223.914 con, tăng 8,3 lần; số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 239.871 con, tăng 7,7 lần. Diễn biến dịch tiếp tục phức tạp trong những tháng gần đây. Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, từ đầu năm đến cuối tháng 6, cả nước đã ghi nhận 80 ổ dịch tại 73 xã, phường thuộc 17 tỉnh, thành phố, làm hơn 349.400 con gia cầm chết hoặc phải tiêu hủy. Đến cuối tháng 6, vẫn còn 26 ổ dịch tại 9 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày, tập trung chủ yếu tại Ninh Bình (6 ổ dịch), Thanh Hóa (5 ổ), Cao Bằng (4 ổ), Nghệ An (3 ổ), Khánh Hòa, Điện Biên, Tuyên Quang (mỗi địa phương 2 ổ), cùng Bắc Ninh và Đà Nẵng (mỗi địa phương 1 ổ). Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn,
nguy cơ dịch bệnh tiếp tục phát sinh trong thời gian tới vẫn ở mức cao do nhiều yếu tố bất lợi. Hoạt động tái đàn, thu gom, vận chuyển, giết mổ và buôn bán gia cầm diễn ra thường xuyên, trong khi chăn nuôi nhỏ lẻ chưa bảo đảm an toàn sinh học vẫn phổ biến. Bên cạnh đó, tỷ lệ tiêm phòng tại nhiều địa phương còn thấp, chưa tạo được “lá chắn” miễn dịch đủ mạnh cho đàn gia cầm. Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay là tiến độ tiêm phòng vaccine cúm gia cầm còn chậm. Kết quả tổng hợp đợt tiêm phòng thứ nhất năm 2026 cho thấy, mới có hơn 127,17 triệu con gia cầm được tiêm vaccine trên tổng số hơn 247,21 triệu con thuộc diện phải tiêm, đạt tỷ lệ 51,44%. Nhiều địa phương có tỷ lệ tiêm phòng rất thấp như Lâm Đồng chỉ đạt 0,51%; Tuyên Quang 2,32%; Đà Nẵng 3,48%; Lai Châu 3,72%; Gia Lai 8,6%; Thái Nguyên 18,78%. Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, tỷ lệ bao phủ này chưa đủ để tạo miễn dịch cộng đồng cho đàn gia cầm, làm gia tăng nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh. Bên cạnh đó, một
số địa phương còn chưa thống kê đầy đủ tổng đàn thuộc diện tiêm hoặc số liệu báo cáo chưa thống nhất, gây khó khăn cho công tác chỉ đạo, điều hành. Trước diễn biến trên, Cục Chăn nuôi và Thú y đã ban hành Công văn số 2685/CNTYDT đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố tham mưu UBND cấp tỉnh chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống dịch; thực hiện nghiêm Luật Thú y và Quyết định số 779/QĐ-TTg ngày 2/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch quốc gia phòng, chống bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng và dịch tả heo châu Phi giai đoạn 2026 - 2030. Đối với các địa phương còn ổ dịch chưa qua 21 ngày, Cục yêu cầu bố trí cán bộ thú y bám sát cơ sở, khẩn trương điều tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm, xác định phạm vi ảnh hưởng và tổ chức tiêu hủy triệt để gia cầm mắc bệnh hoặc nghi mắc bệnh. Đồng thời, thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia cầm ra vào vùng dịch.
THEO DÒNG THỜI SỰ
17
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Các địa phương cũng phải rà soát đến từng hộ chăn nuôi để nắm chắc tổng đàn, đặc biệt là các hộ nuôi nhỏ lẻ và đàn gia cầm mới phát sinh nhằm tổ chức tiêm phòng bổ sung kịp thời. Vaccine sử dụng phải phù hợp với chủng virus lưu hành, bảo đảm tiêm đúng đối tượng, đúng kỹ thuật và duy trì tỷ lệ bảo hộ liên tục. Song song với công tác tiêm phòng, Cục Chăn nuôi và Thú y yêu cầu tăng cường kiểm soát việc vận chuyển, giết mổ, kinh doanh gia cầm; xử lý nghiêm các hành vi giấu dịch, bán chạy gia cầm bệnh, vứt xác động vật chết ra môi trường hoặc vận chuyển gia cầm không rõ nguồn gốc. Đặc biệt, 9 tỉnh, thành phố đang còn ổ dịch phải cập nhật tiến độ xử lý hằng ngày trên hệ thống VAHIS và báo cáo kết quả định kỳ về Cục cho đến khi đủ điều kiện công bố hết dịch. Trước đó, ngày 20/5/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Công văn số 5055/BNNMT-CNTY yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương triển khai Kế hoạch quốc gia phòng, chống bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng và dịch tả heo châu Phi giai đoạn 2026 - 2030. Bộ đề nghị các địa phương xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch phù hợp với tình hình thực tế, bố trí đủ kinh phí, bảo đảm tỷ lệ tiêm phòng theo mục tiêu của Kế hoạch quốc gia. Khi xuất hiện ổ dịch phải tổ chức tiêm phòng bao vây ngay tại vùng dịch, vùng uy hiếp và khu vực nguy cơ cao. Bộ cũng yêu cầu tăng cường giám sát dịch bệnh theo hướng chủ động tại các cơ sở chăn nuôi, chợ đầu mối, điểm tập kết, cơ sở giết mổ, tuyến vận chuyển và khu vực biên giới; thường xuyên lấy mẫu giám sát, cảnh báo sớm nguy cơ phát sinh dịch. Cùng với đó là đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, không giấu dịch, không bán chạy gia cầm mắc bệnh, không vứt xác động vật ra môi trường. Đối với công tác quản lý, Bộ yêu cầu các địa phương cập nhật đầy đủ dữ liệu về tổng đàn, kết quả tiêm phòng, ổ dịch, xét nghiệm và vùng nguy cơ nhằm phục vụ công tác điều hành thống nhất từ Trung ương đến cơ sở.
Các địa phương khẩn trương khoanh vùng, dập dịch
Là một trong những địa phương còn ghi nhận ổ dịch, Nghệ An đang tập trung cao cho công tác khống chế dịch bệnh. Ngành nông nghiệp tỉnh đã cấp phát 100.000 liều vaccine cùng 1.000 tấn hóa chất phục vụ tiêu độc, khử trùng; đồng thời yêu cầu các
Nguồn: Cổng TTĐT tỉnh Tuyên Quang
địa phương tăng cường giám sát đến từng cơ sở chăn nuôi, phát hiện sớm, lấy mẫu xét nghiệm và xử lý ngay khi phát sinh ổ dịch. Các khu vực có dịch được huy động tối đa lực lượng để khoanh vùng, tiêu hủy gia cầm mắc bệnh, không để dịch kéo dài hoặc lan sang địa bàn khác. Song song với đó là rà soát tổng đàn để tổ chức tiêm phòng bổ sung, ưu tiên vùng dịch, vùng nguy cơ cao và các địa phương từng xuất hiện dịch. Theo ông Trần Võ Ba, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Nghệ An, so với cùng kỳ năm 2025, dịch cúm gia cầm năm nay gia tăng cả về số ổ dịch và số gia cầm mắc bệnh. Một trong những nguyên nhân chính là người dân tăng đàn mạnh sau vụ hè thu, trong khi tỷ lệ tiêm vaccine mới đạt khoảng 50%, nhiều đàn gia cầm xảy ra dịch chưa được tiêm phòng. Từ đầu năm đến nay, Nghệ An đã ghi nhận dịch tại một số địa phương như xã Hùng Châu, phường Hoàng Mai và xã Quỳnh Sơn. Khoảng 60.000 con gia cầm đã bị tiêu hủy để khống chế dịch, trong đó riêng xã Hùng Châu tiêu hủy khoảng 18.000 con, phường Hoàng Mai khoảng 19.000 con. Tại Bắc Ninh, nơi vừa xuất hiện ổ dịch cúm A/H5N1 trong tháng 7, ngành nông nghiệp cũng đang triển khai đồng bộ các
biện pháp ứng phó. Hai ổ dịch tại xã Đông Cứu và xã Đại Lai đã buộc phải tiêu hủy 3.091 con gia cầm. Kết quả giám sát tại các hộ kinh doanh gia cầm ở phường Thuận Thành còn phát hiện hai mẫu dương tính với virus cúm A/H5N1. Với tổng đàn khoảng 26,3 triệu con gia cầm, Bắc Ninh được đánh giá là địa phương có nguy cơ cao do mật độ chăn nuôi lớn. Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu tăng cường giám sát tại chợ gia cầm sống, điểm thu gom, cơ sở giết mổ; tổ chức tiêm phòng đầy đủ, đồng thời kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển, kinh doanh gia cầm không rõ nguồn gốc. Theo các chuyên gia, trong bối cảnh thời tiết diễn biến thất thường, hoạt động chăn nuôi, vận chuyển gia cầm diễn ra sôi động và tỷ lệ tiêm phòng tại nhiều nơi còn thấp, nguy cơ dịch cúm gia cầm tiếp tục phát sinh vẫn rất lớn. Vì vậy, việc xử lý dứt điểm các ổ dịch hiện hữu, nâng nhanh tỷ lệ tiêm vaccine, tăng cường chăn nuôi an toàn sinh học và kiểm soát chặt lưu thông gia cầm được xem là những giải pháp then chốt để bảo vệ ngành chăn nuôi, bảo đảm nguồn cung thực phẩm và hạn chế nguy cơ lây truyền virus sang người.
THÙY KHÁNH
18
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Chuẩn hóa giết mổ, KIỂM SOÁT DỊCH BỆNH Công tác kiểm soát giết mổ động vật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển theo hướng an toàn, bền vững. Lỗ hổng giết mổ nhỏ lẻ
Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Quảng Ninh có 6 cơ sở giết mổ động vật tập trung được giao về cấp xã quản lý. Trong khi đó, nhiều thú y viên và cộng tác viên thú y đã nghỉ việc theo chế độ. Toàn tỉnh hiện chỉ còn 9 kiểm soát viên làm việc tại 6 cơ sở tập trung, trong khi có hơn 600 điểm giết mổ nhỏ lẻ, phần lớn không có lực lượng thú y kiểm soát trực tiếp. Thực tế này dẫn đến việc kiểm soát hoạt động giết mổ nhất là tại các cơ sở nhỏ lẻ gặp vô vàn khó khăn. Thực tế cho thấy, các lò mổ trái phép thường hoạt động vào ban đêm hoặc rạng sáng, phân tán ở khu dân cư, khu vực ven đô nhằm né tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng. Nhiều cơ sở không có hệ thống xử lý chất thải, không bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, không kiểm dịch động vật trước và sau giết mổ. Theo kết quả rà soát của Chi cục Trồng trọt và Chăn nuôi Hà Tĩnh, toàn tỉnh hiện có 33 cơ sở giết mổ động vật đang hoạt động. Trong số đó chỉ có 6 cơ sở có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm;
21 cơ sở Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm hết hạn, chưa được cấp lại và 6 cơ sở không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận an toàn thực phẩm. Thực trạng nhiều cơ sở giết mổ tập trung (nơi làm việc của lực lượng kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ) chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện về an toàn thực phẩm diễn ra trong bối cảnh công tác kiểm soát giết mổ tại Hà Tĩnh cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn. Đồng Nai là địa phương có ngành chăn nuôi phát triển hàng đầu cả nước, đồng thời là nguồn cung thực phẩm lớn cho TP Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành phía Nam. Thời gian qua, hàng loạt lò mổ gia súc không phép ở Đồng Nai bị cơ quan Công an cùng các lực lượng chức năng phát hiện, xử lý, thu giữ hàng tấn thịt động vật không rõ nguồn gốc. Thậm chí là heo đã chết trước khi giết mổ, nghi nhiễm bệnh nhưng các đối tượng vẫn làm thịt, chế biến thành thịt heo quay bán cho người tiêu dùng.
Siết chặt quản lý
Theo quy định của Luật Thú y năm 2015, động vật đưa vào giết mổ để kinh doanh phải
được kiểm soát bởi cơ quan chuyên ngành thú y trước và sau khi giết mổ. Việc kiểm soát nhằm phát hiện, loại bỏ kịp thời động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh hoặc sản phẩm không bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, không để lưu thông trên thị trường, góp phần ngăn ngừa nguy cơ lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như dịch tả heo châu Phi, cúm gia cầm, lở mồm long móng và các bệnh truyền từ động vật sang người. Bên cạnh đó, các cơ sở giết mổ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường; thực hiện thu gom, xử lý chất thải theo đúng quy định; chỉ giết mổ động vật có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh và chấp hành nghiêm việc kiểm soát của cơ quan chuyên môn. Đặc biệt, từ ngày 1/8/2026, Nghị định số 204/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y chính thức có hiệu lực, với nhiều quy định mới nhằm tăng cường tính răn đe đối với các hành vi vi phạm. Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 50 triệu đồng, đối với tổ chức là 100 triệu đồng. Các hành vi vi phạm như giết mổ động vật không đúng
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ
19
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
quy định; giết mổ động vật mắc bệnh hoặc nghi mắc bệnh; không thực hiện kiểm soát giết mổ; vận chuyển, kinh doanh động vật và sản phẩm động vật không bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y; làm lây lan dịch bệnh động vật... đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Mới đây, Cục Chăn nuôi và Thú y đã ban hành văn bản số 2833/CNTY-KD&TYCĐ gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị tăng cường kiểm tra, giám sát dịch bệnh động vật, vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi. Theo đó, các cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương cần chủ trì, phối hợp với lực lượng Công an, Quản lý thị trường, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan tăng cường kiểm tra hoạt động vận chuyển, thu gom, kinh doanh và giết mổ động vật, sản phẩm động vật. Hoạt động kiểm tra sẽ tập trung tại các tuyến giao thông trọng điểm, chợ đầu mối, cơ sở chăn nuôi, điểm thu gom, cơ sở giết mổ, các cơ sở kinh doanh cũng như phương tiện vận chuyển động vật và sản phẩm động vật có dấu hiệu vi phạm. Trong đó, việc phát hiện và xử lý hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ về quản lý hoạt động giết mổ tại cơ sở; ngày 22/6/2026, Cục Chăn nuôi và Thú y ban hành Quyết định số 258/QĐ-CNTY-KD&TYCĐ về tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ về kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đối với động vật, sản phẩm động vật. Mục tiêu phổ biến, cập nhật và hướng dẫn thống nhất các quy định pháp luật mới về công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ; kiểm tra vệ sinh thú y đối với động vật, sản phẩm động vật. Đặc biệt, chương trình tập huấn tập trung quán triệt và hướng dẫn triển khai các quy định mới của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Văn bản số 18/VBHN-BNNMT ngày 17/7/2026 quy định về kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y; Thông tư số 01/2026/ TT-BNNMT ngày 1/1/2026 quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn và Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT ngày 13/1/2026 quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản). Đồng thời, phân tích những điểm mới, những nội dung sửa đổi, bổ sung; trao đổi, thảo luận và giải đáp các tình huống phát sinh trong thực tiễn.
ÔNG PHẠM VĂN DUY
Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường Ngành giết mổ và chế biến thịt cần được định hướng lại theo lộ trình rõ ràng, không chỉ mở rộng quy mô mà phải tái cấu trúc toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững. Trước hết, cần chuyển mạnh từ mô hình giết mổ nhỏ lẻ sang tập trung, chuẩn hóa và có kiểm soát. Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ giết mổ công nghiệp đạt khoảng 70% đối với gia súc và 50% đối với gia cầm. Song song, chế biến sâu được xác định là trục tăng trưởng chính của ngành thịt, với mục tiêu nâng tỷ lệ thịt được chế biến lên 40 - 50% vào năm 2030. Một “mắt xích” then chốt khác là phát triển logistics lạnh, từ kho bảo quản đến vận chuyển. Bên cạnh đó, việc xây dựng vùng nguyên liệu an toàn dịch bệnh, gắn với truy xuất nguồn gốc, cũng là yêu cầu bắt buộc. Để đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, đặc biệt là xuất khẩu, vùng nguyên liệu cần đi kèm các tiêu chuẩn như VietGAHP và hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử.
Xây dựng lộ trình giết mổ bài bản
Các chuyên gia cho rằng ngành giết mổ và chế biến thịt cần được định hướng lại theo lộ trình rõ ràng, không chỉ mở rộng quy mô mà phải tái cấu trúc toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững. Theo đó, cần chuyển mạnh từ mô hình giết mổ nhỏ lẻ sang tập trung, chuẩn hóa và có kiểm soát, phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ giết mổ công nghiệp đạt khoảng 70% đối với gia súc và 50% đối với gia cầm. Đồng thời, chế biến sâu được xác định là trục tăng trưởng chính, với mục tiêu nâng tỷ lệ thịt được chế biến lên 40 - 50%. Bên cạnh đó, cần phát triển hệ thống logistics lạnh, xây dựng vùng nguyên liệu an toàn dịch bệnh gắn với truy xuất nguồn gốc; nâng cao tính tự chủ về nguyên liệu, đa dạng hóa nguồn cung và tối ưu hóa chi phí logistics. Về lâu dài, phát triển vùng nguyên liệu trong nước và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp sẽ là hướng đi bền vững. UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch số 371/KH-UBND về xây dựng cơ sở giết mổ động vật và quản lý hoạt động giết mổ, kinh doanh sản phẩm động vật trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030; với mục tiêu từng bước hình thành hệ thống giết mổ bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường, đồng thời xử lý dứt điểm các điểm giết mổ tự phát vào năm 2030. Song song với việc đầu tư hệ thống cơ sở giết mổ, tỉnh đặt mục tiêu từng bước nâng cao tỷ lệ kiểm soát giết mổ. Đến năm 2030, phấn đấu 100%
động vật giết mổ để kinh doanh được kiểm soát; 100% sản phẩm động vật tươi sống lưu thông trên thị trường tại các siêu thị, chợ dân sinh ở khu vực tập trung đông dân cư có dấu kiểm soát giết mổ hoặc tem vệ sinh thú y theo quy định. UBND tỉnh Quảng Ninh cũng ban hành Văn bản số 3342/UBND-TC yêu cầu các địa phương tăng cường quản lý hoạt động giết mổ động vật, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về thú y, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng, chống dịch bệnh. Theo đó, các địa phương phải chủ động rà soát, bố trí quỹ đất, thu hút đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ tập trung. Đối với những địa bàn chưa có cơ sở giết mổ tập trung, được xem xét bố trí từ 1 - 2 điểm giết mổ tập trung tạm thời có điều kiện. Đồng thời, khẩn trương thống kê, phân loại các cơ sở giết mổ trên địa bàn, xây dựng lộ trình chấm dứt hoạt động đối với các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, không bảo đảm điều kiện, hoàn thành trước ngày 31/10/2026. UBND tỉnh cũng yêu cầu các địa phương thành lập tổ kiểm tra liên ngành, tăng cường kiểm tra thường xuyên và đột xuất; kiên quyết đình chỉ, chấm dứt hoạt động đối với các điểm giết mổ trái phép, không bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng, chống dịch bệnh. Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các hộ giết mổ động vật chuyển vào hoạt động tại các cơ sở giết mổ tập trung.
HỒNG HẠNH
20
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
KIỂM SOÁT GIẾT MỔ
“MẮT XÍCH” QUYẾT ĐỊNH để phát triển chăn nuôi bền vững Việc thành phố Hà Nội quyết liệt sắp xếp lại mạng lưới giết mổ không chỉ nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm mà còn là bước đi quan trọng trong tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững. Yêu cầu lớn trong thay đổi phương thức quản lý
Là trung tâm tiêu dùng lớn nhất cả nước với dân số thường xuyên trên 10 triệu người, Hà Nội đồng thời cũng là một trong những địa phương có quy mô chăn nuôi đứng đầu Việt Nam. Thành phố hiện duy trì tổng đàn heo khoảng 1,3 - 1,4 triệu con; đàn gia cầm trên 40 triệu con; đàn trâu, bò gần 170 nghìn con. Chăn nuôi đóng góp hơn một nửa giá trị sản xuất nông nghiệp của Hà Nội và giữ vai trò chủ lực trong bảo đảm nguồn cung thực phẩm cho Thủ đô, bình quân hàng năm, cung ứng cho thị trường trên 450.000 tấn thịt hơi các loại. Thành phố đã hình thành được 76 xã chăn nuôi trọng điểm, 5.351 trang trại chăn nuôi quy mô lớn, vừa, nhỏ ngoài khu dân cư. Trong những năm qua, UBND thành phố Hà Nội đẩy mạnh phát triển các vùng chăn nuôi tập trung, xa khu dân cư. Đến nay, thành phố đã quy hoạch 128 khu chăn nuôi tập trung với 11 khu chăn nuôi bò sữa; 67 khu chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt; 106 khu chăn nuôi heo và 98 khu chăn nuôi gia cầm. Cùng đó, để phù hợp với quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã rà soát, tham mưu đề xuất quy hoạch phát triển chăn nuôi tập trung tại 24 xã. Theo ông Nguyễn Đình Đảng, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thủy sản và Thú y Hà Nội, định hướng của thành phố trong giai đoạn tới là giảm dần, tiến tới xóa bỏ chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư. Đẩy mạnh chăn nuôi tập trung, chăn nuôi trang trại tại các xã theo quy hoạch. Hình thành các chuỗi liên kết từ sản xuất - giết mổ - chế biến - tiêu thụ gắn với kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm. Quy mô sản xuất lớn đồng nghĩa với áp lực rất lớn đối với công tác kiểm soát dịch bệnh, thú y và an toàn thực phẩm. Mỗi ngày,
hàng chục nghìn con gia súc, gia cầm được đưa vào giết mổ để phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Chỉ cần một khâu trong chuỗi sản xuất không được kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ mất an toàn thực phẩm sẽ lan rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Trong chuỗi sản xuất đó, giết mổ được xem là “nút thắt” quan trọng nhất. Nếu không kiểm soát được hoạt động giết mổ thì việc truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch động vật, kiểm soát dịch bệnh cũng như chất lượng sản phẩm gần như không thể thực hiện đầy đủ. Đây cũng là lý do Hà Nội xác định an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề cần ưu tiên tháo gỡ, trong đó quản lý giết mổ là nhiệm vụ trọng tâm.
Giết mổ nhỏ lẻ - điểm nghẽn của chuỗi thực phẩm an toàn
Mặc dù hệ thống pháp luật về thú y, an toàn thực phẩm và xử lý vi phạm đã tương đối đầy đủ, nhưng nhiều năm qua Hà Nội vẫn gặp khó khăn trong việc đưa hoạt động giết mổ vào nền nếp. Theo thống kê của ngành chuyên môn, lực lượng thú y mỗi ngày chỉ kiểm soát được khoảng 80.000 con gia cầm, 5.000 con heo và 150 con trâu, bò, tương đương khoảng 65% lượng tiêu thụ trên địa bàn. Khoảng 35% sản lượng còn lại vẫn được giết mổ tại các cơ sở nhỏ lẻ, phân tán, gây khó khăn cho công tác kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng sản phẩm. Điều đáng nói, đây không đơn thuần là câu chuyện quản lý hành chính. Hệ thống giết mổ nhỏ lẻ hình thành từ nhiều năm, gắn với tập quán sản xuất và sinh kế của hàng nghìn hộ dân. Trong khi đó, người tiêu dùng vẫn có thói quen sử dụng “thịt nóng”, khiến nhu cầu giết mổ ngay trong khu dân cư vẫn tồn tại. Nếu áp dụng biện pháp hành chính cứng nhắc, đóng cửa đồng loạt các lò mổ nhỏ lẻ mà chưa có phương án thay thế, nguy cơ
đứt gãy nguồn cung thực phẩm hoàn toàn có thể xảy ra. Đây chính là bài toán khó khiến Hà Nội nhiều năm chưa thể xử lý dứt điểm vấn đề này. Trong các giải pháp được đưa ra, thành phố Hà Nội không lựa chọn phương án “đóng cửa bằng mọi giá”, mà xây dựng lộ trình chuyển đổi phù hợp với thực tiễn. Theo Kế hoạch 283/KH-UBND về quản lý giết mổ, vận chuyển, kinh doanh động vật và sản phẩm động vật trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2030 ban hành ngày 20/10/2025 và các văn bản chỉ đạo mới của UBND thành phố, trước mắt Hà Nội tập trung chấm dứt các cơ sở giết mổ không phép, đồng thời hình thành các điểm giết mổ tập trung tạm thời để tiếp nhận các hộ giết mổ nhỏ lẻ. Sau giai đoạn chuyển tiếp, thành phố sẽ từng bước đầu tư các cơ sở giết mổ công nghiệp quy mô lớn, gắn với chế biến sâu và logistics hiện đại. Sau hơn 8 tháng triển khai Kế hoạch 283/ KH-UBND, thành phố đã chấm dứt hoạt động của 273 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, giảm hơn 40% so với trước đây. Đến nay, Hà Nội còn 428 cơ sở giết mổ, gồm 9 cơ sở công nghiệp, 26 cơ sở bán công nghiệp và 393 cơ sở giết
→ Theo Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản Hà Nội, hiện toàn thành phố còn 428 cơ sở giết mổ, gồm 9 cơ sở công nghiệp, 26 cơ sở bán công nghiệp và 393 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ tập trung tạm thời. Trong đó, 39 cơ sở giết mổ tập trung và tập trung tạm thời đang được cơ quan thú y kiểm soát theo đúng quy định.
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ
21
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
mổ tập trung tạm thời; trong đó 39 cơ sở đang được cơ quan thú y kiểm soát thường xuyên. Hiện, bình quân mỗi ngày, các điểm giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tạm thời cung cấp khoảng 800 tấn thịt sơ chế có kiểm soát ra thị trường, chiếm khoảng 80% lượng thịt tiêu dùng, tăng khoảng 30% so với trước khi triển khai Kế hoạch số 283. Theo ông Tạ Văn Tường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, thời gian tới, ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục phối hợp, đôn đốc các xã, phường thực hiện Kế hoạch số 283/KH-UBND, bảo đảm hình thành hệ thống cơ sở giết mổ đáp ứng nhu cầu của từng địa phương và từng bước thay thế hoàn toàn hoạt động giết mổ nhỏ lẻ, phấn đấu đến năm 2030 cơ bản hoàn thành việc chuyển hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn Hà Nội vào các cơ sở giết mổ tập trung.
Nâng tầm ngành chăn nuôi
Về lâu dài, mục tiêu của Hà Nội không chỉ là giảm số lượng lò mổ nhỏ lẻ mà là xây dựng chuỗi chăn nuôi an toàn, minh bạch từ trang trại đến bàn ăn. Khi hệ thống giết mổ tập trung được hoàn thiện, toàn bộ quá trình kiểm dịch, kiểm soát thú y, truy xuất nguồn gốc và xử lý chất thải sẽ được thực hiện đồng bộ. Điều này giúp giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh, hạn chế ô nhiễm môi trường, đồng thời nâng cao chất lượng sản
➢ Đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tiếp tục hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc các địa phương thực hiện kế hoạch trên cơ sở các chính sách hiện nay để nghiên cứu hỗ trợ các điểm giết mổ tạm thời, tập trung. Cùng đó, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội xây dựng dữ liệu, phần mềm để theo dõi, kiểm soát, đánh giá các hoạt động của điểm giết mổ tạm thời, tập trung nhằm hiện đại hóa công tác quản lý. Các sở, ban, ngành khác có liên quan phối hợp chặt chẽ với Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà nội để thực hiện nhiệm vụ an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu về nguồn cung. ÔNG BÙI DUY CƯỜNG
Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội
phẩm đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại. Đây cũng là nền tảng để Hà Nội thúc đẩy phát triển thịt mát, mở rộng các chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người chăn nuôi, từng bước thay thế phương thức sản xuất nhỏ lẻ bằng chăn nuôi công nghệ cao. Theo định hướng của ngành nông nghiệp thành phố, thời gian tới sẽ tiếp tục hoàn thiện quy hoạch mạng lưới giết mổ tập trung, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư các tổ hợp giết mổ hiện đại gắn với chế biến sâu, đồng thời xây dựng các vùng chăn nuôi an toàn, phát triển chuỗi liên kết từ sản xuất
đến tiêu thụ và kiểm soát an toàn thực phẩm ngay từ khâu sản xuất. Có thể thấy, việc siết chặt quản lý giết mổ không chỉ nhằm xử lý các cơ sở vi phạm mà còn là bước đi mang tính chiến lược trong quá trình tái cơ cấu ngành chăn nuôi Hà Nội. Khi “mắt xích” giết mổ được kiểm soát hiệu quả, Hà Nội sẽ hình thành chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, nâng cao niềm tin của người tiêu dùng và tạo nền tảng để ngành chăn nuôi phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh cao hơn trong những năm tới.
BẢO HÂN
22
NHÌN RA THẾ GIỚI NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Ba xu hướng tái định hình ngành chăn nuôi toàn cầu Những tín hiệu tại VIV Europe 2026 cho thấy, ngành chăn nuôi toàn cầu đang bước vào giai đoạn tái định hình với ba xu hướng nổi bật: phân cực thị trường, gia tăng hợp nhất doanh nghiệp và ưu tiên các giải pháp mang lại hiệu quả thực tiễn. Phân hóa thành hai cực
Triển lãm chăn nuôi ở châu Âu (VIV Europe Utrecht, Hà Lan) đã mang đến bức tranh toàn cảnh về một ngành công nghiệp đang trải qua những biến chuyển sâu sắc trên phạm vi toàn cầu, đồng thời đang tác động trực tiếp đến châu Á. Một điểm đáng chú ý là sự hiện diện khá khiêm tốn của các doanh nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với xu hướng “phi toàn cầu hóa”. Thương mại quốc tế, chuyển giao công nghệ và đầu tư vẫn tiếp tục kết nối các thị trường. Song, điều đang dần hình thành là một mô hình toàn cầu hóa có tính chọn lọc hơn. Khắp châu Á, các doanh nghiệp Trung Quốc đã trở thành những mắt xích quan trọng trong lĩnh vực phụ gia thức ăn chăn nuôi, thiết bị, tự động hóa, hệ thống kiểm soát khí hậu và công nghệ sản xuất. Năng lực cạnh tranh về giá, tốc độ giao hàng và hỗ trợ kỹ thuật khiến họ trở thành đối tác khó có thể bỏ qua. Trong khi đó, tại các thị trường phương Tây, xu hướng thận trọng ngày càng rõ nét. Những lo ngại liên quan đến địa chính trị,
khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, yêu cầu pháp lý và sự phụ thuộc mang tính chiến lược đang tác động đáng kể đến quyết định mua sắm. Kết quả là không phải một nền kinh tế toàn cầu khép kín, mà là sự hình thành của hai hệ sinh thái thương mại khác biệt: một cởi mở hơn với sự tham gia của các doanh nghiệp công nghiệp Trung Quốc và một vận hành theo hướng chọn lọc hơn. Đối với các nhà sản xuất chăn nuôi châu Á, sự phân hóa này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngành chăn nuôi gia cầm và gia súc phụ thuộc vào nguồn cung ổn định về thiết bị, nguyên liệu và công nghệ. Trong bối cảnh chi phí sản xuất tiếp tục chịu áp lực, các quyết định mua sắm ngày càng đòi hỏi phải cân bằng giữa năng lực cạnh tranh và quản trị rủi ro. Tương lai có thể sẽ không còn được định hình bởi một thị trường toàn cầu thống nhất, mà bởi nhiều thị trường có sự kết nối với nhau nhưng vận hành theo những thực tế thương mại và chính trị khác nhau.
Làn sóng hợp nhất gia tăng
Trong nhiều thập kỷ, ngành chăn nuôi
phát triển nhờ sự đa dạng của các doanh nghiệp gia đình, các nhà cung cấp chuyên biệt và những doanh nghiệp tiên phong đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, áp lực về kinh tế và công nghệ đang làm thay đổi bức tranh này. Sự gia tăng về độ phức tạp của hệ thống sản xuất, chi phí nghiên cứu và phát triển ngày càng cao, các yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt hơn cùng nhu cầu xây dựng mạng lưới dịch vụ rộng khắp đang tạo lợi thế rõ rệt cho các doanh nghiệp quy mô lớn. Xu hướng hợp nhất đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực, từ sản xuất thiết bị, thuốc thú y, phụ gia thức ăn chăn nuôi đến các hệ thống sản xuất tích hợp. Điều đó không làm giảm vai trò của các doanh nghiệp nhỏ. Trong nhiều trường hợp, họ vẫn là nguồn cung cấp các sáng kiến đổi mới và chuyên môn ở những phân khúc ngách. Tuy nhiên, vị thế dẫn đầu thị trường ngày càng gắn liền với khả năng đầu tư vào công nghệ, hỗ trợ khách hàng trên phạm vi nhiều khu vực và vận hành ở quy mô lớn. Đối với các doanh nghiệp châu Á, nơi quá trình hợp nhất đã diễn ra rõ nét trong
23
NHÌN RA THẾ GIỚI NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
các lĩnh vực gia cầm, thức ăn chăn nuôi và sản xuất chăn nuôi tích hợp, thông điệp rất rõ ràng: quy mô, năng lực và các quan hệ đối tác chiến lược sẽ ngày càng trở thành những yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh.
TRUNG QUỐC
Siết hạn ngạch thịt bò, chuỗi cung Giá trị thực tiễn trở lại vị trí trung tâm ứng toàn cầu dịch chuyển Có lẽ tín hiệu tích cực nhất là việc ngành chăn nuôi đang quay trở lại với các giá trị thực tiễn. Trong nhiều năm, các cuộc thảo luận của ngành chủ yếu xoay quanh những tầm nhìn đầy tham vọng về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ của tương lai. Dù đổi mới sáng tạo vẫn giữ vai trò thiết yếu, bầu không khí tại VIV Europe lần này cho thấy cách tiếp cận đã thực tế hơn. Các nhà sản xuất hiện phải đối mặt với hàng loạt thách thức như chi phí đầu vào biến động, thiếu hụt lao động, yêu cầu về phát triển bền vững, nguy cơ dịch bệnh và biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp. Vì vậy, người mua đang ưu tiên tìm kiếm những công nghệ có thể mang lại các cải thiện rõ ràng về hiệu quả, năng suất và lợi nhuận. Những giải pháp thu hút nhiều sự quan tâm nhất không nhất thiết là các ý tưởng mang tính tương lai, mà là những công nghệ có thể giúp nhà sản xuất giảm chi phí, nâng cao hiệu suất và giải quyết ngay các vấn đề trong hoạt động sản xuất. Sự thay đổi này phản ánh mức độ trưởng thành hơn của ngành chăn nuôi. Đổi mới sáng tạo không còn được đánh giá chỉ dựa trên tiềm năng, mà được đo bằng khả năng tạo ra giá trị hữu hình. Các doanh nghiệp trong khu vực châu Á đang đối mặt với những thách thức tương tự các đối tác châu Âu, từ áp lực về biên lợi nhuận, yêu cầu phát triển bền vững, sự thay đổi trong nhu cầu của người tiêu dùng đến mức độ phức tạp ngày càng gia tăng trong vận hành. Theo các chuyên gia tại VIV Europe, thành công trong tương lai của doanh nghiệp chăn nuôi sẽ phụ thuộc vào ba năng lực cốt lõi: thích ứng với một thị trường toàn cầu ngày càng phân cực, xây dựng quy mô và các mối quan hệ đối tác cần thiết để duy trì năng lực cạnh tranh, đồng thời đầu tư vào các công nghệ mang lại hiệu quả thực tiễn. Dù ngành chăn nuôi vẫn mang tính toàn cầu, các quy luật cạnh tranh đang thay đổi. Những doanh nghiệp biết thích ứng với thực tế mới, cân bằng giữa hiệu quả, khả năng chống chịu và đổi mới sáng tạo sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn trong những năm tới.
TUẤN MINH
Theo Asia Livestock
Hạn ngạch tự vệ đối với thịt bò nhập khẩu của Trung Quốc đang cạn kiệt, buộc hai nhà cung cấp lớn nhất là Brazil và Australia phải tìm đầu ra mới, khiến dòng chảy thương mại toàn cầu thay đổi trong những tháng cuối năm. Brazil và Australia đối mặt áp lực
Theo số liệu do Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố ngày 20/5, tính đến hết ngày 30/4, Brazil đã sử dụng 55,4% hạn ngạch tự vệ. Trong khi đó, Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết, Australia đã tiêu thụ tới 80% hạn ngạch tính đến ngày 15/5. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu và thương nhân nhận định hạn ngạch của Brazil trên thực tế sẽ được lấp đầy khi các lô hàng cập cảng Trung Quốc vào khoảng tháng 9, còn hạn ngạch của Australia nhiều khả năng sẽ sớm được sử dụng hết. Việc các doanh nghiệp Brazil và Australia đẩy mạnh giao hàng trước thời điểm hết hạn ngạch đã góp phần nâng giá xuất khẩu thịt bò của cả hai nước. Cuối tháng 5, Platts (thuộc S&P Global Commodity Insights) định giá thịt bò Australia loại 90CL theo điều kiện FCA ở mức 7.631 USD/tấn (ngày 29/5), trong khi chỉ số Platts Brazil Beef Marker đạt 6.511 USD/tấn theo điều kiện FCA cảng Santos.
Brazil cân nhắc chia sẻ gánh nặng thuế quan
Khi Brazil tiến gần ngưỡng hạn ngạch xuất khẩu, thị trường ngày càng quan tâm đến việc khoản thuế bổ sung 55% đối với lượng hàng vượt hạn ngạch sẽ do bên nào gánh chịu. Các nguồn tin thương mại tại Brazil và châu Á hiện đưa ra những đánh giá khác nhau. Theo ông Yan Jun, chuyên gia phân tích thị trường thịt bò tại Trung Quốc, giá bán cùng với nhu cầu tiêu thụ yếu tại nước này sẽ hạn chế đáng kể khả năng nhập khẩu thịt bò Brazil vượt hạn ngạch. Một doanh nghiệp xuất khẩu Brazil nhận định lượng hàng tồn kho tại Trung Quốc vẫn ở mức cao, trong khi sức mua chưa thực sự cải thiện. Theo doanh nghiệp này, các nhà xuất khẩu Brazil khó có đủ dư địa để giảm giá khoảng 25%, còn phía người mua Trung
Quốc cũng không sẵn sàng trả thêm 25% để bù phần thuế phát sinh.
Tìm kiếm thị trường thay thế
Trước nguy cơ xuất khẩu sang Trung Quốc bị gián đoạn sau khi hết hạn ngạch, các doanh nghiệp Brazil và Australia đang tăng tốc mở rộng sang những thị trường mới. Theo một doanh nghiệp xuất khẩu Brazil, Mỹ sẽ trở thành thị trường đặc biệt quan trọng đối với thịt bò Brazil trong năm nay. Nếu giá giảm, thị trường nội địa cũng có thể hấp thụ thêm một phần sản lượng, song khả năng này chỉ ở mức hạn chế. Cạnh đó, Đông Nam Á được xem là khu vực tiềm năng và đang trở thành trọng tâm phát triển của các doanh nghiệp Brazil trong năm nay. Một số nhà nhập khẩu tại Trung Quốc cho rằng, các doanh nghiệp Brazil có thể xuất khẩu thịt bò sang Uruguay để đáp ứng nhu cầu tại thị trường này, đồng thời tận dụng hạn ngạch xuất khẩu của Uruguay để đưa hàng vào Trung Quốc. Australia đang chuyển hướng sang Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc như những thị trường tiêu thụ chủ lực. Một doanh nghiệp xuất khẩu tại bang New South Wales cho biết, thịt bò chăn thả sẽ được ưu tiên xuất sang Mỹ, trong khi thịt bò nuôi bằng ngũ cốc chủ yếu hướng tới thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. Tại nhiều quốc gia châu Á khác, các nhà nhập khẩu hiện chủ yếu mua theo nhu cầu ngắn hạn do kỳ vọng giá thịt bò sẽ giảm khi Brazil và Australia chuyển một phần nguồn cung sang các thị trường thay thế. Xu hướng này có thể tạo ra những biến động mới đối với thương mại thịt bò quốc tế trong thời gian tới.
VŨ ĐỨC
Theo Agribiz
24
THỊ TRƯỜNG NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
LIÊN KẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH GIỐNG GIA CẦM Sáng 12/8/2026, tại TP Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình sản xuất, thị trường giống gia cầm 7 tháng đầu năm, dự báo 5 tháng cuối năm 2026 và xây dựng các kịch bản sản xuất, thương mại gia cầm năm 2027. Thị trường giống chịu sức ép kép
Theo báo cáo tại hội nghị, 7 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng con giống gia cầm 1 ngày tuổi (DOC) cung ứng ra thị trường ước đạt khoảng 532,5 - 570,2 triệu con, đáp ứng nhu cầu mở rộng tổng đàn. Tuy nhiên, từ quý II, thị trường bắt đầu chịu áp lực dư cung, khiến hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp giống bị ảnh hưởng. Các đại biểu nhận định, thị trường giống đang chịu tác động đồng thời của sức mua, giá gia cầm thương phẩm, chi phí đầu vào và diễn biến dịch bệnh. Doanh nghiệp giống phải duy trì đàn bố mẹ với chi phí lớn, trong khi giá con giống thương phẩm biến động, gây khó khăn cho việc xây dựng kế hoạch sản xuất và đầu tư. Ở các mắt xích khác, doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi chịu ảnh hưởng từ biến động giá nguyên liệu, nhất là các nguyên liệu phụ thuộc thị trường thế giới. Doanh nghiệp thuốc thú y cũng chịu áp lực chi phí đầu vào và phải tăng cường các giải pháp phòng, chống dịch bệnh trong bối cảnh nguy cơ dịch bệnh trên đàn gia cầm vẫn hiện hữu. Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, hiệu quả kinh doanh của ngành giống không thể đứng độc
lập mà được quyết định bởi “ba chân kiềng”: giống - thức ăn - thuốc thú y. Trong đó, con giống tốt là tiền đề nâng cao năng suất; thức ăn chiếm khoảng 65 - 70% giá thành chăn nuôi; còn thuốc thú y là yếu tố bảo vệ sức khỏe đàn vật nuôi và nguồn vốn của trang trại. “Khối doanh nghiệp giống phải gồng gánh chi phí nuôi giữ đàn bố mẹ quá lớn trong khi giá giống thương phẩm bấp bênh. Doanh nghiệp thức ăn lao đao vì giá nguyên liệu nhập khẩu trồi sụt, còn doanh nghiệp thú y chịu áp lực từ chi phí nguyên liệu và dịch bệnh”, ông Nguyễn Thanh Sơn phân tích. Chưa kể, tình trạng giống không rõ nguồn gốc, giống kém chất lượng, giống “chui” lưu thông trên thị trường cũng được nhiều đại biểu cảnh báo. Nếu không được kiểm soát, đây không chỉ là rủi ro đối với người chăn nuôi mà còn tạo cạnh tranh không bình đẳng, bào mòn lợi nhuận của những doanh nghiệp đầu tư bài bản vào công nghệ, đàn giống và kiểm soát chất lượng.
“Ba nhà” liên kết để giảm chi phí
Từ những sức ép trên, các đại biểu cho rằng bài toán nâng cao hiệu quả ngành giống không thể chỉ giải quyết ở khâu sản xuất
DOC mà cần đặt trong mối liên kết của toàn bộ chuỗi giá trị. Theo đó, các doanh nghiệp giống, thức ăn và thuốc thú y cần chuyển từ quan hệ cung ứng đơn lẻ sang hợp tác chuỗi, cùng hướng tới mục tiêu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và bảo vệ thị trường. Ông Nguyễn Thanh Sơn đề nghị, doanh nghiệp thức ăn và thuốc thú y trong Hiệp hội nghiên cứu chính sách thương mại, chiết khấu phù hợp đối với các trang trại vệ tinh, trang trại liên kết với doanh nghiệp giống. Khi chi phí đầu vào được giảm, doanh nghiệp giống sẽ có thêm dư địa hạ giá thành con giống, qua đó kích thích người chăn nuôi tái đàn và duy trì thị phần. Cùng với liên kết thương mại, các doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực quản trị, quản trị chi phí và tinh gọn bộ máy để tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ngày càng khốc liệt. Thêm vào đó, doanh nghiệp sản xuất giống cần đồng bộ dữ liệu về quy mô đàn bố mẹ, năng lực sản xuất và dự báo nhu cầu thị trường. Việc chủ động thông tin sẽ giúp hạn chế tình trạng cung vượt cầu cục bộ, dẫn đến cạnh tranh bằng giá và làm suy yếu hiệu quả của chính các doanh nghiệp trong chuỗi. Điều này sẽ làm tăng tính minh bạch cho thị
THỊ TRƯỜNG
25
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
trường, đồng thời giúp doanh nghiệp có cơ sở điều chỉnh sản xuất, đầu tư và thương mại phù hợp.
Tăng cường truy xuất nguồn gốc, kiểm soát giống gia cầm lưu thông
Hội nghị cũng đặt vấn đề nghiên cứu khả năng hình thành liên minh các nhà sản xuất giống gà lông màu, nhằm tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin và từng bước điều tiết cung - cầu trên thị trường. Đây được xem là một trong những giải pháp góp phần hạn chế tình trạng sản xuất tự phát, chạy theo tín hiệu giá ngắn hạn, dẫn đến dư thừa con giống. Bên cạnh đó, các đại biểu cho rằng cần siết chặt quản lý nguồn gốc giống gia cầm, đặc biệt đối với giống nhập lậu, giống không có giấy tờ hoặc không được kiểm soát về chất lượng và kiểm dịch thú y. Công tác kiểm tra cần được tăng cường tại các tuyến biên giới, cửa khẩu, các điểm trung chuyển và cơ sở kinh doanh giống gia cầm, kịp thời phát hiện, ngăn chặn việc vận chuyển, tiêu thụ giống không rõ nguồn gốc. Đặc biệt, cần đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc con giống từ cơ sở sản xuất đến các khâu lưu thông và chăn nuôi, bảo đảm mỗi lô giống khi đưa ra thị trường có đầy đủ thông tin về cơ sở sản xuất, nguồn gốc đàn bố mẹ, tiêu chuẩn chất lượng, tình trạng kiểm dịch và các giấy tờ liên quan. Việc số hóa dữ liệu, từng bước xây dựng hệ thống truy xuất thống nhất cũng sẽ giúp cơ quan quản lý nhanh chóng xác định nguồn gốc khi xảy ra vấn đề về chất lượng hoặc dịch bệnh. Các trường hợp kinh doanh giống không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc cần được xử lý nghiêm. Qua đó, vừa bảo đảm quyền lợi người chăn nuôi, nâng cao chất lượng con giống, hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh, vừa tạo môi trường cạnh tranh minh bạch, công bằng và bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất giống chân chính trong nước.
Chủ động nhiều kịch bản cho năm 2027
Trước những biến động khó lường của thị trường, hội nghị dành nhiều thời gian thảo luận các kịch bản phát triển ngành gia cầm năm 2027. Trong đó, kịch bản cơ sở được định hướng duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 3 - 3,5%, trong khi kịch bản đột phá tập trung mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và tìm kiếm cơ hội xuất khẩu sản phẩm gia cầm, con giống. Ở chiều ngược lại, ngành giống gia cầm cũng phải chuẩn bị kịch bản ứng phó nếu giá nguyên liệu thức ăn nhập khẩu tăng mạnh, sức mua suy giảm hoặc dịch bệnh diễn biến
→ Mặc dù giá bán hầu hết các sản phẩm gia cầm đang ở mức khá thấp, nhưng trong 7 tháng đầu năm, nguồn cung gia cầm vẫn tăng mạnh, cả năm có thể tăng trên 4%. Riêng 6 tháng đầu năm, nguồn cung đã tăng khoảng 3,8%. Dự báo năm 2027, ngành chăn nuôi gia cầm vẫn sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là biến động giá thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y. Từ đầu năm đến nay, giá thức ăn chăn nuôi đã tăng khoảng 5 đợt, tạo áp lực đáng kể lên chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Một vấn đề đáng lưu ý khác là trong bối cảnh thị trường đang có dấu hiệu dư cung, khối doanh nghiệp FDI vẫn có kế hoạch tiếp tục tăng đàn và mở rộng sản lượng. Đây là yếu tố mà các doanh nghiệp trong nước cần đặc biệt cân nhắc khi xây dựng kế hoạch sản xuất cho năm 2027 và những năm tiếp theo, nhằm chủ động cân đối cung - cầu và hạn chế rủi ro. ÔNG NGUYỄN THANH SƠN Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam
Toàn cảnh Hội nghị
phức tạp. Việc chuẩn bị từ sớm được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về đàn giống, nguyên liệu, sản phẩm thú y và thị trường tiêu thụ. Theo Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn, thị trường từ nay đến năm 2027 sẽ còn nhiều cạnh tranh và không cho phép doanh nghiệp hoạt động thiếu chủ động. Vì vậy, toàn chuỗi cần hành động quyết liệt hơn để tối ưu hóa hiệu quả, giảm giá thành và nâng cao sức cạnh tranh. Hội nghị cũng dành thời gian góp ý Dự thảo Thông tư quản lý giống vật nuôi đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến. Trong đó, các đại biểu tập trung phản ánh những vướng mắc phát sinh trong thực tế sản xuất, kinh doanh giống gia cầm; đề xuất làm rõ, điều chỉnh và bổ sung các quy định, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng giống, kiểm soát giống lưu thông trên
Ảnh: NA
thị trường và bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng. Ông Nguyễn Thanh Sơn đề nghị các đại biểu thẳng thắn phản biện những nội dung còn bất cập trong Dự thảo cũng như các thủ tục hành chính liên quan. Hiệp hội sẽ tổng hợp đầy đủ ý kiến để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách. Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, việc hoàn thiện hành lang pháp lý được kỳ vọng vừa nâng cao chất lượng con giống, bảo vệ người chăn nuôi, vừa tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư lâu dài vào nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất giống. Trong 5 tháng cuối năm 2026, Hiệp hội sẽ tiếp tục tập trung kết nối doanh nghiệp, hỗ trợ hội viên, cập nhật thông tin thị trường, thúc đẩy hợp tác và tăng cường tiếng nói chung của ngành.
NGỌC ÁNH
26
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Giá heo hơi duy trì đà tăng trong tháng 7 Thị trường heo hơi trong tháng 7/2026 tiếp tục xu hướng giảm trên phạm vi cả nước, với mức giá phổ biến dao động từ 62.000 67.000 đồng/kg, thấp hơn so với tháng trước. Tại khu vực miền Bắc, giá heo hơi dao động từ 65.000 - 67.000 đồng/kg, giảm 1.000 - 3.000 đồng/kg so với tháng 6. Miền Trung và Tây Nguyên ghi nhận mức giá 63.000 - 65.000 đồng/kg, giảm từ 1.000 - 4.000 đồng/kg. Trong khi đó, khu vực miền Nam có mức giá thấp nhất cả nước, phổ biến từ 62.000 - 64.000 đồng/kg. Giá giảm 1.000 - 5.000 đồng/kg trong những ngày đầu tháng, sau đó nhích lên nhẹ và duy trì ổn định đến cuối tháng. Thị trường heo hơi đang trong giai đoạn điều chỉnh sau thời gian duy trì ở mức cao. Dù có tín hiệu phục hồi nhẹ tại miền Nam vào cuối tháng, mặt bằng giá chung vẫn thấp tháng 6, phản ánh cung - cầu thị trường đang dần cân bằng.
Xuất khẩu thịt sang Trung Quốc tăng mạnh Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, trong quý II/2026, Việt Nam xuất khẩu 4,6 nghìn tấn thịt và sản phẩm thịt, trị giá 29,4 triệu USD. So với quý I/2026, lượng xuất khẩu tăng 1,7% nhưng kim ngạch giảm 11,8%; so với cùng kỳ năm 2025, lượng giảm 25,4% và giá trị giảm 2,3%. Trung Quốc và Hồng Kông tiếp tục là hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của thịt và sản phẩm thịt Việt Nam. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,6 nghìn tấn, trị giá 10,8 triệu USD, chiếm hơn 35% tổng lượng xuất khẩu. Trong khi đó, xuất khẩu sang Hồng Kông đạt 1,1 nghìn tấn, trị giá 9,3 triệu USD, giảm 37,1% về lượng và 44,6% về trị giá so với quý I/2026.
Nhập khẩu thịt 6 tháng đầu năm tăng hơn 36% về giá trị Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 494,3 nghìn tấn thịt và sản phẩm từ thịt, trị giá 1,46 tỷ USD, tăng 9,6% về lượng và 36,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Trong quý II, Ấn Độ, Mỹ, Brazil, Australia và Tây Ban Nha là năm thị trường cung cấp thịt lớn nhất cho Việt Nam. Trong đó, Ấn Độ tiếp tục dẫn đầu với 56,6 nghìn tấn, trị giá 254,27 triệu USD, tăng 9,8% về lượng và 22% về trị giá so với quý I/2026. So với cùng kỳ năm 2025, nhập khẩu từ thị trường này tăng mạnh 40,9% về lượng và 78,3% về trị giá.
Nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi tiếp tục tăng giá bán Từ ngày 10/8, nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán, đánh dấu lần tăng thứ 5 kể từ đầu năm 2026. Mức điều chỉnh phổ biến từ 160 - 200 đồng/kg, tùy theo từng dòng sản phẩm và doanh nghiệp. Theo ghi nhận, đợt tăng giá lần này được áp dụng tại nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành, chủ yếu đối với các sản phẩm thức ăn cho heo, gia cầm và gia súc. Một số dòng sản phẩm chuyên biệt có mức tăng cao hơn, trong khi thức ăn thủy sản tại một số doanh nghiệp vẫn giữ nguyên giá. Việc giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng đang tạo thêm áp lực lên người chăn nuôi trong bối cảnh giá nhiều sản phẩm chăn nuôi chưa phục hồi tương xứng. Trước diễn biến này, người chăn nuôi được khuyến cáo chủ động cân đối kế hoạch tái đàn, tối ưu khẩu phần thức ăn và nâng cao hiệu quả quản lý.
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Giá bò phục hồi, áp lực từ thịt nhập khẩu vẫn chưa giảm Giá bò hơi tại nhiều địa phương đã phục hồi lên 78.000 - 82.000 đồng/kg, tăng khoảng 5.000 - 8.000 đồng/kg so với đầu năm, giúp người chăn nuôi cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, việc tái đàn vẫn thận trọng do chi phí chăn nuôi cao. Dù thị trường trong nước có tín hiệu tích cực, ngành chăn nuôi bò vẫn chịu sức ép lớn từ thịt bò nhập khẩu. Nhiều sản phẩm thịt bò đông lạnh nhập khẩu được bán với giá chỉ 170.000 - 250.000 đồng/kg đối với các phần phổ thông, trong khi một số loại thịt bò nhập khẩu cao cấp có giá từ 350.000 - 600.000 đồng/kg, tạo sức ép cạnh tranh đáng kể đối với bò thịt trong nước. Các chuyên gia cho rằng, ngành chăn nuôi bò cần nâng cao năng suất, giảm chi phí và phát triển chuỗi liên kết để tăng sức cạnh tranh.
PHÚ THỌ
Nuôi hươu cho thu nhập trên 500 triệu đồng/năm Từ mô hình ban đầu chỉ 8 con, đến nay gia đình ông Nguyễn Hữu Oánh, khu Đá Cổng, xã Vân Bán (Phú Thọ) đã phát triển đàn hươu lên gần 100 con, mỗi năm thu hoạch gần 20 kg nhung hươu và cung cấp khoảng 40 con giống ra thị trường. Hiện nhung hươu có giá khoảng 16 triệu đồng/kg, trong khi hươu giống 1 năm tuổi được bán với giá 15 - 25 triệu đồng/con. Nhờ đó, mô hình mang lại lợi nhuận trên 500 triệu đồng/năm. Theo ông Oánh, hươu là vật nuôi dễ chăm sóc, ít dịch bệnh, thức ăn chủ yếu là cỏ, lá cây và phụ phẩm nông nghiệp nên chi phí chăn nuôi không cao. Mô hình đang được nhiều hộ dân trong và ngoài địa phương đến tham quan, học tập và nhân rộng, mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững cho người chăn nuôi.
HÀ NỘI
Mở hướng chăn nuôi bền vững từ con đặc sản Tận dụng diện tích đất chuyển đổi và nhu cầu thị trường, nhiều hộ dân ở xã Phượng Dực (Hà Nội) đã phát triển mô hình nuôi dúi, chồn hương theo hướng an toàn, thân thiện môi trường, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đáng chú ý, chồn hương thương phẩm có giá khoảng 15 - 16 triệu đồng/con, giúp nhiều trang trại thu lãi hàng tỷ đồng mỗi năm. Theo chính quyền địa phương, mô hình có ưu điểm là ít tốn diện tích, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có, ít phát sinh chất thải và có đầu ra ổn định nhờ nhu cầu tiêu thụ đặc sản ngày càng tăng. Đây được xem là hướng phát triển chăn nuôi xanh, bền vững, phù hợp để nhân rộng tại các vùng nông thôn.
NGHỆ AN
Làm giàu từ mô hình chăn nuôi tổng hợp Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, anh Lô Văn Danh, Bí thư Chi đoàn bản Tạt (xã Yên Hòa, Nghệ An), đã phát triển mô hình kinh tế tổng hợp với 600 con gà thịt, cùng heo, vịt, cá và đuông dừa. Nhờ tận dụng nguồn thức ăn sẵn có như ngô, sắn, chuối rừng, mô hình giúp giảm chi phí chăn nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế. Mỗi năm, sau khi trừ chi phí, gia đình anh thu lãi khoảng 70 - 80 triệu đồng. Không chỉ làm kinh tế giỏi, anh Danh còn tích cực chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhiều đoàn viên, thanh niên địa phương khởi nghiệp, góp phần lan tỏa tinh thần làm giàu trên chính quê hương.
ANH VŨ
(Tổng hợp)
27
28
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Giá heo toàn cầu suy yếu Theo cập nhật quý III/2026 của chuyên gia thị trường heo John Strak, triển vọng giá heo thế giới vẫn ảm đạm. Theo đó, tính đến 1/6/2026, đàn heo tại Mỹ là 73,67 triệu con, gần như không đổi so với năm 2025, tuy nhiên giá heo lại thấp hơn nhiều. Tại EU, giá heo giảm khoảng 24% do mất cân bằng cung - cầu, dịch bệnh hạn chế xuất khẩu từ Tây Ban Nha, và nắng nóng cực đoan làm giảm nhu cầu tiêu thụ. Nhiều nước trong khu vực yêu cầu hỗ trợ khẩn cấp cho ngành chăn nuôi. Tại Trung Quốc, nhập khẩu thịt heo giảm khoảng 1/4 trong nửa đầu năm 2026. Giá heo vẫn ở mức đáy do dư cung nghiêm trọng. Chính quyền nước này đã đưa ra quy định mới buộc các doanh nghiệp lớn giảm công suất, kiểm soát vỗ béo và giảm trọng lượng giết mổ. Theo John Strak, giai đoạn giảm giá thịt heo trên toàn cầu không có dấu hiệu chững lại, càng không có dấu hiệu đảo chiều. Giá thịt heo dự kiến sẽ ở mức thấp trong giai đoạn cuối năm. Hơn thế, chuỗi cung ứng có thể gián đoạn nếu xung đột Iran leo thang, trong khi người tiêu dùng vẫn thắt chặt chi tiêu.
ANH Giá gia cầm theo tháng tại Mỹ
Nguồn: USDA
Tổng mức sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi heo tại Anh được ghi nhận qua hệ thống eMB, kèm đường mục tiêu hằng năm giai đoạn 2015–2028 (mgPCU)
Nguồn eMB, AHDB
Sản lượng sữa giảm do nắng nóng Đợt nắng nóng kỷ lục vào tháng 5 và 6/2026 đã khiến sản lượng sữa tại Anh sụt giảm mạnh. Theo phân tích của Đơn vị Tình báo Năng lượng và Khí hậu (ECIU), hai đợt nắng nóng khiến lượng sữa giao từ nông trại giảm tổng cộng khoảng 25 triệu pint (1 pint Anh tương đương 0,568 lít), trong đó đợt nắng nóng tháng 6 gây thiệt hại lớn hơn (khoảng 16,5 triệu pint trong 9 ngày). Điều đáng chú ý là tháng 5 vốn là mùa cao điểm sản xuất sữa, nhưng năm nay sản lượng gần như không tăng so với tháng 4 (chỉ 0,08%, trong khi bình thường tăng 2 - 4%). Nguyên nhân là bò bị stress nhiệt: khi nhiệt độ và độ ẩm tăng cao, bò phải ưu tiên điều hòa thân nhiệt thay vì sản xuất sữa, có thể khiến năng suất sữa giảm tới 20%/con trong trường hợp nghiêm trọng. Đồng thời, chuỗi cung ứng lạnh cũng chịu áp lực lớn hơn vì hệ thống làm lạnh của Anh chưa được thiết kế để chịu mức nhiệt cực đoan như hiện nay.
EU
• Điều tra chống bán phá giá vịt Bắc Kinh nhập từ Trung Quốc Ngày 9/7, Ủy ban châu Âu (EC) chính thức mở cuộc điều tra về cáo buộc bán phá giá đối với mặt hàng vịt Bắc Kinh nhập khẩu từ Trung Quốc, sau khi 5 nhà sản xuất lớn của EU nộp đơn khiếu nại. Đơn khiếu nại cho rằng, khối lượng nhập khẩu lớn cùng giá bán thấp của vịt Trung Quốc đã ảnh hưởng xấu đến doanh số, giá bán và thị phần của ngành sản xuất EU. Diện điều tra bao gồm nhiều dạng thịt vịt Bắc Kinh như nguyên con, cắt miếng, tươi, đông lạnh, ướp muối, xông khói… EC cho biết, sẽ xem xét dữ liệu nhập khẩu và thị trường năm 2025 để xác định xem có hành vi bán phá giá hay không. Nếu kết luận có bán phá giá và gây thiệt hại cho ngành sản xuất EU, khối có thể áp thuế chống bán phá giá đối với vịt Bắc Kinh nhập từ Trung Quốc.
• Siết nhập khẩu thịt bò Brazil, đẩy giá tăng và gây lo ngại lan sang Anh EU dự kiến cấm nhập khẩu thịt bò và gia cầm từ Brazil từ tháng 9/2026 do lo ngại nước này chưa tuân thủ quy định cấm dùng kháng
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ
29
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
sinh kích thích tăng trưởng ở vật nuôi. Theo Rabobank, Brazil chiếm 25% lượng thịt bò nhập khẩu của EU năm 2025, nên nếu lệnh cấm xảy ra sẽ đẩy giá thịt bò tại khối này tăng, dù có thể được bù đắp một phần nhờ nguồn cung từ Argentina, Uruguay và Australia. Phía Brazil phản ứng gay gắt, cho rằng yêu cầu kiểm tra kháng sinh của EU là “không thể chấp nhận được”. Lo ngại các nhà xuất khẩu Brazil sẽ chuyển hướng sang thị trường Anh khi mất thị trường EU, làm giá thịt bò nhập khẩu rẻ hơn và gây sức ép lên nông dân trong nước, NFU Scotland cùng nhóm Scottish Red Meat Resilience Group đã kêu gọi Chính phủ Anh áp dụng tiêu chuẩn nhập khẩu tương đương EU và tăng cường ghi nhãn xuất xứ để bảo vệ người tiêu dùng và ngành chăn nuôi nội địa.
ARGENTINA
Được phép xuất khẩu thịt bò sang Indonesia Mới đây, Argentina đã chính thức được cấp phép xuất khẩu thịt bò và nội tạng sang Indonesia. Thỏa thuận này là một cột mốc quan trọng, giúp ngành nông nghiệp Argentina đa dạng hóa thị trường và cung cấp nguồn thịt bò chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ lớn tại quốc gia Đông Nam Á. Đồng thời, giúp Indonesia giảm sự phụ thuộc lâu nay vào các nhà cung cấp truyền thống như Australia và Ấn Độ. Tất cả các lô hàng xuất khẩu phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về chứng nhận kiểm dịch động vật và đặc biệt là quy định chứng nhận Halal, do hơn 87% dân số Indonesia theo đạo Hồi. Indonesia hiện là quốc gia đông dân thứ tư thế giới, với gần 288 triệu dân, nhu cầu tiêu thụ thịt rất lớn, nhưng sản lượng nội địa chỉ đáp ứng được khoảng 65%.
TRUNG QUỐC
Nhập khẩu thịt heo của giảm 26,4% trong nửa đầu năm 2026 Trong 6 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc đã nhập khẩu 390.000 tấn thịt heo, giảm 26,4% so với cùng kỳ năm 2025; lượng phụ phẩm từ heo đạt 590.000 tấn, giảm 4,8%. Số liệu theo tháng cho thấy lượng thịt heo nhập khẩu duy trì ở mức thấp trong suốt 6 tháng đầu năm 2026, dao động 50.000 - 70.000 tấn/tháng, thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2025. Như vậy, nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh sau giai đoạn nhập khẩu ở mức rất cao trong các năm 2020 và 2021. Lượng thịt heo nhập khẩu trong nửa đầu năm 2026 gần bằng 1/5 so với cùng kỳ năm 2021, khi vượt 2,3 triệu tấn. Trong khi đó, nhập khẩu phụ phẩm từ heo vẫn duy trì tương đối ổn định trong những năm gần đây.
TÂY BAN NHA
Sản xuất thức ăn chăn nuôi dự kiến ổn định Theo số liệu từ Hiệp hội các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi tổng hợp Tây Ban Nha (CESFAC), năm 2025, nước này đã sản xuất được 30,861 triệu tấn thức ăn chăn nuôi, tăng khoảng 1,7 triệu tấn so với năm 2024. Trong đó, sản lượng thức ăn cho heo chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt gần 13,4 triệu tấn (hơn 45% tổng sản lượng); thức ăn gia súc đạt 8 triệu tấn; thức ăn gia cầm gần 5,6 triệu tấn. CESFAC dự báo sản lượng năm 2026 sẽ duy trì ổn định, ở mức khoảng 30,9 triệu tấn; thức ăn gia súc dự kiến đạt 8,2 triệu tấn; thức ăn gia cầm dự báo tăng thêm 115.000 tấn.
HÀ LAN
Đàn heo tiếp tục giảm mạnh Theo Cục Thống kê Hà Lan (CBS), tổng đàn heo nước này tính đến tháng 5/2026 chỉ còn khoảng 9,25 triệu con, giảm khoảng 520.000 con (tương đương 5,3%) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, số heo nái giảm 3% xuống còn khoảng 820.000 con; số heo con giảm 5,4% còn khoảng 4,25 triệu con và số heo nuôi vỗ béo giảm mạnh nhất, 6%, còn khoảng 4,18 triệu con. Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này đến từ các chương trình mua lại của chính phủ (LBV và LBV+), theo đó nhiều hộ chăn nuôi heo đã đóng cửa vĩnh viễn trang trại để đổi lấy khoản đền bù.
ĐỨC DŨNG
(Tổng hợp)
30 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
31 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
32
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
33
34
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Thị trường giống gia cầm CÂN BẰNG CUNG - CẦU, TRÁNH DƯ THỪA Sau giai đoạn tăng trưởng nóng và rơi vào tình trạng dư cung trong quý II/2026, thị trường giống gia cầm đang đứng trước yêu cầu điều chỉnh mạnh về sản lượng, chất lượng và phương thức tổ chức sản xuất. Bước sang năm 2027, bài toán không còn là sản xuất được bao nhiêu con giống, mà là sản xuất bao nhiêu cho phù hợp với sức mua và khả năng hấp thụ của thị trường. Cùng lắng nghe chia sẻ của đại diện các doanh nghiệp hàng đầu về lĩnh vực sản xuất giống gia cầm xung quanh câu chuyện này. SONG KHÁNH (Thực hiện)
ÔNG NGUYỄN HỮU VINH
Phó Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, Giám đốc Công ty VMC Việt Nam
ĐẨY MẠNH LIÊN MINH GIỮA CÁC NHÀ SẢN XUẤT TRONG NƯỚC
Theo tôi, các doanh nghiệp nước ngoài như C.P, Japfa đã có chiến lược phân khúc thị trường rõ ràng, dài hạn và sở hữu nguồn lực tài chính, công nghệ mạnh. Vì vậy, doanh nghiệp trong nước cần xác định đúng lợi thế của mình, lựa chọn phân khúc phù hợp thay vì đối đầu trực diện. Đây là cách để các doanh nghiệp có thể cùng tồn tại, phát triển và nâng cao sức cạnh tranh. Một vấn đề quan trọng khác là cần thúc đẩy liên minh giữa các nhà sản xuất trong nước. Hiện, nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động khá riêng lẻ, thiếu chia sẻ thông tin về thị trường, sản xuất và kinh nghiệm. Nếu tăng cường liên kết, các doanh nghiệp có thể bổ trợ cho nhau về nguồn lực, dữ liệu và thị trường, từ đó nâng cao khả năng sống chung với các tập đoàn lớn. Về lâu dài, chúng ta cần đặt mục tiêu xây dựng những doanh nghiệp, tập đoàn đủ mạnh của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực gà lông màu. Việt Nam có nguồn gen phong phú, đa dạng và đây là lợi thế cần được khai thác, đầu tư bài bản để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trong khu vực. Ngay trong Hiệp hội, các doanh nghiệp như Minh Dư, Dabaco, Cao Khanh... đã chiếm tỷ trọng đáng kể trong thị trường gà lông màu. Đây là cơ sở để nghiên cứu hình thành một liên minh hoặc cơ chế hợp tác chung, cùng chia sẻ thông tin, phối hợp sản xuất và phát triển thị trường. Doanh nghiệp muốn lớn mạnh không thể chỉ đi một mình; liên kết để tạo sức mạnh chung là hướng đi cần được tính đến nghiêm túc.
ÔNG TRỊNH QUANG THANH
Phó Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Olmix Việt Nam
TĂNG CƯỜNG CHIA SẺ THÔNG TIN, DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG
Trong bối cảnh thị trường chăn nuôi còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp cần tập trung vào yếu tố mình có thể kiểm soát, đó là nâng cao năng suất, tối ưu chi phí và giảm giá thành sản xuất; trong khi giá cả và cung cầu thị trường cần có sự phối hợp, điều tiết ở tầm ngành. Thực tế tại một số nước cho thấy vai trò của hiệp hội trong chia sẻ dữ liệu và điều tiết sản xuất rất rõ nét, trong khi Việt Nam vẫn còn thiếu cơ chế phối hợp và tiếng nói chung. Do vậy, kiến nghị ngành tăng cường chia sẻ thông tin, dự báo thị trường để chủ động kế hoạch sản xuất, tránh mất cân đối cung - cầu. Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải cách thủ tục kiểm tra, hợp quy đối với thức ăn chăn nuôi nhập khẩu nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp; đồng thời tháo gỡ các vướng mắc trong nhập khẩu thiết bị, hóa chất và sinh phẩm phục vụ phòng thí nghiệm, qua đó nâng cao năng lực chẩn đoán, giám sát và kiểm soát dịch bệnh. Đây là những giải pháp thiết thực nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tạo điều kiện để ngành gia cầm phát triển ổn định, bền vững.
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
35
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
ÔNG BẠCH QUỐC THẮNG Tổng Giám đốc Công ty GreenVET
QUYẾT LIỆT TRONG CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH VÀ QUẢN LÝ THÚ Y
Với kinh nghiệm 6 năm kiên trì “đấu tranh” về vấn đề hợp quy sản phẩm, dù các quy định hiện nay còn nhiều bất cập, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước như Cục Chăn nuôi và Cục Thú y vẫn luôn lắng nghe nếu doanh nghiệp thể hiện thái độ mạnh mẽ, quyết liệt và có cơ sở chuyên môn vững chắc. Hiệp hội cần đóng vai trò là “tiếng nói chuyên môn trọng lượng” để giúp các cơ quan chức năng thấu hiểu và tháo gỡ những rào cản kỹ thuật phi lý. Để thực hiện điều này một cách hệ thống, đề xuất thành lập Ban Pháp chế của Hiệp hội để sát sao góp ý, sửa đổi các dự thảo thông tư, nghị định và Luật Chăn nuôi. Bên cạnh rào cản chính sách, tình hình nhập khẩu cũng có nhiều nút thắt cần tháo gỡ. Trong khi doanh nghiệp nội địa đang gặp khó khăn chồng chất khi xin giấy phép nhập khẩu nguyên liệu (như trứng có phôi từ Indonesia) để sản xuất vaccine, thì các đối tác nhập khẩu đã nộp đơn xin nhập khẩu chính ngạch trứng và con giống vào Việt Nam từ nhiều năm trước. Dự báo trong tương lai gần, khi việc nhập khẩu này được chính thức hóa, áp lực lên các doanh nghiệp giống nội địa như Minh Dư hay Cao Khanh sẽ là “vô cùng lớn”. Vì vậy, không nên chủ quan trước hàng nhập khẩu vì sản phẩm của họ không chỉ rẻ mà còn có chất lượng rất tốt. Thực tế đáng suy ngẫm hiện nay là hơn 90% nguyên liệu sản xuất thuốc thú y và phụ gia tại Việt Nam đã có nguồn gốc từ nhập khẩu. Trước bối cảnh đó, doanh nghiệp kêu gọi Hiệp hội cần có những bước chuẩn bị chiến lược và tác động chính sách kịp thời để bảo vệ sản xuất trong nước trước kịch bản thị trường mở cửa hoàn toàn.
ÔNG NGUYỄN NHƯ PHÁN
Phó Giám đốc Công ty Gà giống Dabaco
YẾU TỐ THEN CHỐT TỪ QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ LINH HOẠT SẢN XUẤT
Thị trường giống và chăn nuôi gia cầm đang chịu sức ép ngày càng lớn khi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp gia tăng, trong khi sức mua chưa có dấu hiệu cải thiện rõ rệt. Các doanh nghiệp có chuỗi sản xuất, phân phối hoàn chỉnh đang có lợi thế lớn về nguồn vốn và khả năng duy trì sản xuất. Trong khi đó, nhiều cơ sở quy mô nhỏ và hệ thống phân phối truyền thống đang gặp khó khăn, nhất là trước yêu cầu ngày càng chặt chẽ về giết mổ tập trung. Một vấn đề đáng quan tâm khác là công tác thống kê đàn và sản lượng vẫn còn nhiều bất cập. Tình trạng chăn nuôi, ấp nở tự phát tại một số địa phương khiến việc xác định chính xác nguồn cung trên thị trường rất khó khăn. Bởi, khi giá giống tăng, người dân đẩy mạnh ấp nở; khi giá giảm lại chuyển hướng sang tiêu thụ trứng hoặc các sản phẩm khác, khiến cung - cầu biến động khó dự báo. Bên cạnh đó, hàng giả, hàng nhái và gà nhập lậu tiếp tục tạo thêm áp lực cho các doanh nghiệp sản xuất giống chính thống. Trước những diễn biến này, Dabaco xác định quản trị rủi ro và linh hoạt sản xuất là yếu tố then chốt. Doanh nghiệp sẵn sàng điều chỉnh kế hoạch, thậm chí cắt giảm hoặc dừng sản xuất khi hiệu quả không đảm bảo. Đồng thời, Dabaco đang phát triển các dòng giống mới, trong đó có J số 1, hướng tới rút ngắn thời gian nuôi, tăng trọng lượng, giảm giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng thịt. Dabaco đã chủ động giảm khoảng 30% năng suất tại một số đơn vị ở Bình Phước và Bắc Ninh. Việc chủ động điều tiết sản lượng là cần thiết nhằm hạn chế rủi ro dư cung, trong bối cảnh sức mua yếu, giá gà giảm sâu và dòng tiền của người chăn nuôi cũng như doanh nghiệp đang chịu nhiều áp lực.
ÔNG NGUYỄN QUỐC TRUNG Tổng Giám đốc Công ty CP 3F Việt
ĐIỀU TIẾT SẢN LƯỢNG CON GIỐNG, TRÁNH ĐỔ VỠ THỊ TRƯỜNG
Hiện nay, bên cạnh các doanh nghiệp chuyên sản xuất giống, các tập đoàn FDI và doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng đang ngày càng tham gia sâu vào lĩnh vực này. Greenfeed là một ví dụ, đơn vị hiện duy trì sản lượng khoảng 1,2 - 1,5 triệu con giống/tháng và dự kiến tăng gấp đôi vào năm sau. Theo đó, để hóa giải thách thức này, đề xuất các đơn vị chuyên về giống cần tăng cường liên kết, thậm chí đàm phán với các doanh nghiệp sản xuất thức ăn để điều tiết sản lượng, tránh tình trạng cung vượt cầu gây đổ vỡ thị trường. Có thể thấy, thị trường giai đoạn cuối năm 2026 dự báo sẽ rất khó khăn khi giá thức ăn chăn nuôi có xu hướng tăng lại từ tháng 8 do ảnh hưởng của hạn hán tại Brazil, Argentina và biến động chính trị toàn cầu. Trong khi chi phí đầu vào tăng, nguồn cung con giống lại có dấu hiệu tăng mạnh, đặc biệt kế hoạch nhập khẩu giống gà trắng cho năm 2027 dự kiến sẽ tăng thêm khoảng 5 - 6%.
36
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
BÀ PHẠM THỊ THANH BÌNH
Quản lý sản xuất gia công gà màu toàn quốc, Công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam
CHẤT LƯỢNG LÀ ĐÍCH ĐẾN CUỐI CÙNG CỦA CHUỖI SẢN XUẤT
Minh bạch số liệu thị trường là yếu tố quan trọng để ngành gia cầm nâng cao khả năng dự báo và chủ động sản xuất. Doanh nghiệp đồng tình với việc chia sẻ dữ liệu, bởi thực tế số liệu sản xuất, kinh doanh sớm muộn cũng phản ánh vào thị trường. Bên cạnh đó, ngành cần thay đổi tư duy về sản phẩm: con giống chưa phải sản phẩm cuối cùng, mà gà thịt cung ứng cho người tiêu dùng mới là đích đến của cả chuỗi. Giá gà màu năm 2024 - 2025 ở mức cao, vì vậy việc điều chỉnh giảm trong năm 2026 là diễn biến tất yếu. Tuy nhiên, thị trường năm nay đang khó khăn hơn, giá có xu hướng duy trì thấp đến hết quý III và có thể cải thiện từ quý IV. Trong cơ cấu giá thành, thức ăn chăn nuôi là yếu tố tác động lớn nhất, chiếm khoảng 70 - 80% giá thành 1 kg thịt gà, phụ thuộc nhiều vào giá nguyên liệu nhập khẩu và tỷ giá. Trong năm 2026, Japfa vẫn duy trì sản xuất ổn định, khoảng 4 triệu gà trắng và 4 triệu gà màu mỗi tháng, không điều chỉnh sản lượng theo biến động ngắn hạn. Doanh nghiệp đã xây dựng kế hoạch 2027 - 2028 với mục tiêu tăng trưởng gấp đôi, tập trung mở rộng các phân khúc gà màu dài ngày, ngắn ngày. Với mô hình 95% chăn nuôi gia công, Japfa xác định đồng hành dài hạn cùng người nuôi, chấp nhận chia sẻ rủi ro thị trường thay vì cắt giảm đàn theo giá tức thời. Theo doanh nghiệp, sự ổn định, công bằng và minh bạch trong hợp tác là nền tảng giữ chân hộ chăn nuôi, bảo đảm thu nhập và góp phần xây dựng chuỗi gia cầm phát triển bền vững.
ÔNG NGUYỄN HUY TUYẾN
Giám đốc Kinh doanh Công ty TNHH Giống gia cầm Cao Khanh
KIỂM SOÁT VÀ GIẢM THỰC CHẤT ĐÀN BỐ MẸ
Phân khúc gà màu đang đối mặt với tình trạng cung vượt cầu nghiêm trọng, khi nhiều doanh nghiệp tăng đàn nhanh nhưng chưa có dự báo đầy đủ về sức mua và diễn biến thị trường. Nguồn cung tăng trong khi đầu ra hạn chế đang tạo áp lực lớn lên giá gà, hiệu quả chăn nuôi và cả hệ thống sản xuất giống. Một vấn đề đáng lo ngại khác là sự cạnh tranh ngày càng lớn khi các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi mở rộng sang lĩnh vực giống. Việc các tập đoàn có tiềm lực mạnh cùng tham gia sâu vào khâu sản xuất giống có thể làm mất cân đối thị trường, tạo thêm áp lực cho những doanh nghiệp giống truyền thống, đặc biệt trong bối cảnh nguồn cung hiện đã ở mức cao. Trước thực trạng này, giải pháp quan trọng nhất là kiểm soát và giảm thực chất đàn bố mẹ. Nếu các doanh nghiệp chỉ giảm sản lượng giống thương phẩm nhưng vẫn duy trì quy mô đàn bố mẹ lớn thì tình trạng dư cung khó được giải quyết. Vì vậy, cần có sự điều chỉnh đồng bộ từ nguồn cung đầu vào, qua đó từng bước đưa thị trường về trạng thái cân bằng. Cùng đó là vai trò của sự liên kết và minh bạch thông tin trong VPA. Các thành viên cần thẳng thắn chia sẻ số liệu về đàn bố mẹ, sản lượng và kế hoạch sản xuất để có cơ sở đánh giá cung - cầu và cùng điều tiết thị trường. Chỉ khi doanh nghiệp cùng nhìn về một hướng, chủ động chia sẻ thông tin và chấp nhận điều chỉnh sản xuất, thị trường giống gà màu mới có thể thoát khỏi vòng xoáy dư thừa và phục hồi ổn định.
ÔNG NGUYỄN MẬU THẾ
Giám Đốc Kinh Doanh phòng con giống - Khu vực Miền Trung & Miền Nam, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam
MINH BẠCH NGUỒN CUNG, CHỦ ĐỘNG CÂN ĐỐI SẢN XUẤT
Những tháng đầu năm 2026, ngành chăn nuôi tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn khi phần lớn sản phẩm được tiêu thụ dưới giá thành, khiến cả người nuôi và doanh nghiệp chịu thua lỗ. Trong bối cảnh này, minh bạch thông tin về nguồn cung, đặc biệt từ khâu đầu vào, là yêu cầu cần thiết để các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, hạn chế nguy cơ dư thừa. C.P. Việt Nam hiện không có kế hoạch tăng đàn gà lông màu, mà tập trung phát triển con giống và phối hợp với các doanh nghiệp trong nước có thế mạnh ở phân khúc này. Sản lượng gà nuôi gia công của C.P khoảng 1 triệu con/tuần, trong đó lượng bán giống ra thị trường khoảng 100.000 con/tuần. Xuất khẩu sản phẩm gia cầm đang mở ra hướng phát triển quan trọng nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng và an toàn sinh học. Một trong những rào cản lớn hiện nay là kiểm soát Salmonella. Có thời điểm doanh nghiệp thiếu nguyên liệu cho đơn hàng xuất khẩu do gà từ các hộ chăn nuôi chưa đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn này. Do đó, Công ty kiến nghị VPA và cơ quan chức năng tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát Salmonella, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý nguồn đầu vào đồng bộ, tạo điều kiện để ngành chăn nuôi nâng cao chất lượng và phát triển xuất khẩu bền vững. Theo doanh nghiệp, minh bạch số liệu và phối hợp trong toàn ngành sẽ là nền tảng quan trọng để cân đối cung - cầu và giảm rủi ro thị trường.
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
37
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
NANOBUBBLE
Giải pháp nâng cao chất lượng nước uống và xử lý nước thải chăn nuôi Tăng cường ôxy hòa tan với Nanobubble
Nanobubble là công nghệ tạo ra các bọt khí có kích thước cực nhỏ, diện tích bề mặt lớn và khả năng tồn tại trong nước lâu hơn so với bọt khí thông thường. Khi ứng dụng Nanobubble O₂ vào hệ thống nước uống, công nghệ giúp tăng cường quá trình truyền ôxy và nâng cao DO - Dissolved Ôxygen (ôxy hòa tan). Duy trì DO phù hợp góp phần tạo môi trường nước thuận lợi hơn cho hệ thống cấp nước và điều kiện chăn nuôi. Công nghệ Nanobubble cũng đang được quan tâm trong các nghiên cứu về nước giàu ôxy cho vật nuôi, đặc biệt về khả năng duy trì DO và những tác động tiềm năng đối với sức khỏe, phúc lợi và hiệu suất chăn nuôi.
Hỗ trợ kiểm soát Biofilm và chất lượng nước
Ngoài tăng ôxy hòa tan, Nanobubble có thể được sử dụng trong quy trình quản lý và xử lý nước nguồn nước ngầm, hỗ trợ kiểm soát chất hữu cơ, mùi và các điều kiện thuận lợi cho sự hình thành Biofilm. Đối với nguồn nước ngầm, giải pháp có thể kết hợp với lọc nước, Nanobubble/ Ozone khử trùng nước ngầm và vệ sinh đường ống định kỳ. Sự kết hợp này giúp hạn chế tích tụ cặn bẩn và chất hữu cơ, cung cấp nước uống an toàn, đảm bảo sức khỏe sẽ giúp vật nuôi khỏe mạnh và trang trại phát triển thịnh vượng. hỗ trợ duy trì hệ thống cấp nước sạch và ổn định hơn.
Nanobubble kết hợp Ozone
Khi cần tăng cường khả năng xử lý và khử trùng, Nanobubble
có thể kết hợp với Ozone (O₃). Ozone có khả năng ôxy hóa mạnh, trong khi Nanobubble giúp tăng diện tích tiếp xúc giữa khí và nước, hỗ trợ quá trình truyền khối và ôxy hóa. Giải pháp Nanobubble + Ozone có thể hỗ trợ kiểm soát vi sinh vật, chất hữu cơ, màu và mùi trong nước, tùy thuộc vào đặc tính nguồn nước và mục tiêu xử lý.
Tích hợp hệ thống nước tự động
Nanobubble có thể tích hợp vào hệ thống cấp nước tự động theo quy trình: Nguồn nước → Lọc → Bồn chứa → Nanobubble/Ozone → Đường ống → Núm uống → Heo/Gà Thiết bị có thể được lắp đặt tại bồn chứa hoặc trên tuyến cấp nước. Công suất được lựa chọn dựa trên quy mô đàn, lưu lượng nước, chất lượng nước đầu vào và mục tiêu xử lý, giúp giải pháp phù hợp với từng mô hình trang trại.
Ứng dụng trong xử lý nước thải
Nanobubble cũng có tiềm năng ứng dụng trong xử lý nước thải chăn nuôi. Nanobubble O₂ giúp tăng cường truyền ôxy, hỗ trợ quá trình xử lý sinh học và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của hệ vi sinh. Khi kết hợp với Ozone, công nghệ có thể hỗ trợ ôxy hóa chất hữu cơ, màu và mùi, đồng thời hỗ trợ kiểm soát các hợp chất gây mùi như H₂S và NH₃, tùy theo đặc tính nước thải. Nanobubble có thể được tích hợp tại bể điều hòa, bể sinh học hoặc các công đoạn xử lý chuyên sâu, đóng vai trò bổ trợ cho hệ thống hiện hữu. Việc lựa chọn công suất, loại khí, thời gian xử lý và vị trí lắp đặt cần dựa
trên lưu lượng, tải lượng ô nhiễm và yêu cầu đầu ra.
Giải pháp Nanobubble B.H.N
Với khả năng tăng cường ôxy hòa tan, hỗ trợ kiểm soát chất hữu cơ, mùi và chất lượng nước, Nanobubble có thể ứng dụng trong chăn nuôi heo, gia cầm, thủy sản, nông nghiệp và xử lý nước thải. B.H.N Nanobubble cung cấp giải pháp được thiết kế
theo quy mô trang trại, lưu lượng và điều kiện nguồn nước thực tế, có thể tích hợp với hệ thống cấp nước và điều khiển tự động. Giải pháp hướng đến nâng cao hiệu quả quản lý nước, giảm áp lực vệ sinh - bảo trì, tối ưu vận hành và xây dựng mô hình chăn nuôi hiện đại, ổn định và bền vững.
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP.HCM Số điện thoại: 028.668.101.95 Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com
B.H.N
38
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
KIỂM SOÁT CÁC YẾU TỐ KHÓ LƯỜNG
QUẢN LÝ GÀ THỊT TRONG CHUỒNG HỞ Chuồng nuôi gà thịt hở phụ thuộc vào thông gió tự nhiên nên việc kiểm soát môi trường khó khăn hơn chuồng kín. Tuy nhiên, thành công của mô hình này phụ thuộc chủ yếu vào cách quản lý chuồng nuôi.
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
39
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Kiểm soát nhiệt độ: Thách thức lớn nhất
Việc kiểm soát nhiệt độ bắt đầu ngay từ khâu thiết kế chuồng nuôi. Mái chuồng nên có kết cấu hai hoặc ba đỉnh để không khí nóng thoát ra nhanh, đặc biệt khi mái không có lớp cách nhiệt. Phần mái cần nhô ra ngoài tường chuồng từ 1 - 1,5 m nhằm ngăn ánh nắng trực tiếp và nước mưa hắt vào đàn gà, đồng thời lắp lưới che từ mép mái xuống sát mặt đất. Vật liệu lợp mái màu trắng hoặc có bề mặt phản quang sẽ giúp hạn chế hấp thụ nhiệt, trong khi lớp cách nhiệt dưới mái có tác dụng giảm lượng nhiệt bức xạ truyền vào chuồng. Trồng thảm thực vật quanh chuồng có sàn dạng nan giúp giảm nhiệt độ bề mặt đất so với nền đất trống. Cây xanh cũng tạo bóng mát, nhưng cần cân nhắc nguy cơ thu hút chim và động vật gặm nhấm đến khu vực chăn nuôi.
Úm gà con
Úm gà trong chuồng hở thường gặp nhiều thách thức hơn. Để giữ nhiệt cho gà con, khu vực úm thường được quây kín bằng rèm nhựa tạo thành lều úm. Ban ngày, có thể mở một phần rèm để thải khí độc, tăng trao đổi không khí và làm khô chất độn chuồng. Mức độ mở rèm phụ thuộc vào điều kiện môi trường và biểu hiện của đàn gà. Ban đêm vẫn cần duy trì một lượng thông gió nhất định nhằm ngăn khí độc tích tụ, đặc biệt khi sử dụng thiết bị sưởi. Nếu úm trên sàn nan, nên phủ vải hoặc lưới lên khu vực úm, sau đó rải chất độn chuồng để tạo nền ấm cho gà con.
Quản lý rèm: Công cụ điều tiết quan trọng nhất
Trong chuồng hở, việc quản lý thông gió phải điều chỉnh liên tục. Nhiệt độ ban ngày thường cao, trong khi ban đêm hoặc khi trời mưa, gà rất dễ bị lạnh. Rèm có tác dụng giữ nhiệt, chắn nắng trực tiếp và ngăn nước mưa, nhưng cũng cần được mở để tăng trao đổi không khí, giảm độ ẩm và làm khô chất độn chuồng. Rèm nên được thiết kế để có thể kéo lên hoặc hạ xuống dễ dàng. Trong hai tuần đầu, mục tiêu là giữ ấm cho gà đồng thời vẫn đảm bảo thông gió đầy đủ. Sau ngày thứ hai, có thể tăng khoảng hở phía trên rèm để không khí lưu thông. Từ ngày thứ 14 trở đi, bắt đầu mở dần phần dưới của rèm nhằm tăng cường thông gió. Mức độ mở rèm cần được điều chỉnh linh hoạt để cân bằng giữa chất lượng không khí, nhiệt độ và sự thoải mái của đàn gà.
Ở chuồng hở, kỹ năng chăm sóc đàn gà có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì rèm phải được điều chỉnh nhiều lần cả ngày lẫn đêm theo sự thay đổi của thời tiết và phản ứng của đàn gà. Nhân viên trại cần thường xuyên kiểm tra sự phân bố của gà trong chuồng, hoạt động ăn uống, độ khô của chất độn chuồng, chất lượng không khí (không bụi, không mùi khó chịu), tình trạng vận hành của thiết bị và kịp thời điều chỉnh khi cần thiết. Quạt tuần hoàn giúp tăng lưu lượng không khí và tạo hiệu ứng làm mát nhờ gió trong những ngày nắng nóng. Quạt nên được bố trí thổi dọc theo chiều dài chuồng hoặc theo hướng chéo. Hệ thống phun sương hoặc tạo sương mịn có thể kết hợp với quạt để làm mát nhờ bay hơi, nhưng không nên sử dụng khi độ ẩm không khí vượt quá 80%.
Mật độ nuôi
Chuồng hở thường nuôi với mật độ thấp hơn chuồng kín. Khi nhiệt độ môi trường tăng, cần giảm mật độ nuôi để gà có đủ không gian tỏa nhiệt cơ thể. Nên sử dụng hàng rào phân đàn để duy trì mật độ phân bố đồng đều trong toàn bộ chuồng. Chuồng hở không được khuyến nghị đối với đàn gà nuôi đến khối lượng từ 3 kg trở lên.
Chế độ cho ăn
Khi nhiệt độ môi trường tăng cao, gà sẽ giảm lượng ăn. Vì vậy, nên tránh cho ăn vào thời điểm nóng nhất trong ngày và sử dụng viên thức ăn hoặc thức ăn mảnh có chất lượng cao nhất để giảm năng lượng tiêu tốn trong quá trình ăn. Người chăn nuôi cũng nên trao đổi với hãng cung cấp thức ăn để bổ sung các Vitamin như E, D, C và B3, đồng thời điều chỉnh cân bằng điện giải trong khẩu phần, bởi những biện pháp này đã được chứng minh giúp tăng khả năng chịu nhiệt của đàn gà. Nước uống sạch, mới phải luôn được cung cấp đầy đủ. Gà có xu hướng thích nước mát; nước quá ấm sẽ làm giảm lượng nước uống, từ đó kéo theo giảm lượng thức ăn tiêu thụ. Để giữ nước mát hơn, có thể định kỳ xả đường ống, bọc cách nhiệt cho đường ống và bồn chứa, tránh sử dụng bồn nước màu
đen đặt dưới ánh nắng trực tiếp, đồng thời chôn ngầm bồn chứa hoặc đường ống nếu điều kiện cho phép.
Rủi ro an toàn sinh học cao hơn
Chuồng hở có nguy cơ mất an toàn sinh học cao hơn, do đó các biện pháp phòng dịch phải được thực hiện nghiêm ngặt. Cần lắp đặt hệ thống ngăn chim hoang hiệu quả tại tất cả các vị trí thông thoáng của chuồng. Phát quang hoặc cắt tỉa toàn bộ cây cỏ trong phạm vi 3 m quanh chuồng để hạn chế nơi trú ẩn của chuột và các động vật khác. Thường xuyên đặt bả và kiểm tra dấu hiệu hoạt động của động vật gặm nhấm. Hạn chế tối đa số người ra vào khu chăn nuôi; tất cả khách và nhân viên phải thay quần áo, giày dép trước khi vào trại. Giữa các chuồng nuôi cần thay giày và sát khuẩn tay. Công tác vệ sinh, khử trùng chuồng nuôi và thiết bị giữa các lứa gà phải được thực hiện kỹ lưỡng, đồng thời nên kéo dài tối đa thời gian trống chuồng giữa hai lứa nuôi. Trong hệ thống chuồng hở, thành công phụ thuộc vào khả năng theo dõi sát sao, điều chỉnh kịp thời và phản ứng nhanh trước những thay đổi của điều kiện môi trường. Trước các yếu tố ngoại cảnh biến động mỗi ngày, những người chăn nuôi thành công nhất luôn là những người ứng phó nhanh nhất.
AVIAGEN
→ Để biết thêm thông tin, truy cập Trung tâm Thông tin Aviagen hoặc quét mã QR.
40
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
KIỂM SOÁT GUMBORO VÀ H9N2
Tăng cường miễn dịch để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm Trong bối cảnh ngành chăn nuôi gia cầm đang đối mặt với áp lực dịch bệnh ngày càng lớn, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm gây suy giảm miễn dịch và làm giảm năng suất đàn vật nuôi, việc cập nhật các tiến bộ khoa học và giải pháp phòng bệnh hiệu quả trở thành yêu cầu cấp thiết. Đây cũng là nội dung trọng tâm của Hội thảo: “Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 - Bảo hộ tối ưu, nâng cao hiệu quả” do Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam phối hợp với Olmix Asialand Việt Nam tổ chức ngày 23/7 tại TP Hồ Chí Minh. Gumboro và H9N2 tiếp tục là thách thức lớn đối với ngành gia cầm
Mặc dù công tác phòng, chống dịch bệnh trên gia cầm đã đạt nhiều kết quả tích cực trong những năm gần đây, song Gumboro và cúm gia cầm độc lực thấp H9N2 vẫn được đánh giá là hai bệnh có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sản xuất. Không chỉ gây thiệt hại trực tiếp, các bệnh này còn làm suy giảm hệ miễn dịch, tạo điều kiện để nhiều bệnh kế phát xuất hiện, từ đó làm tăng chi phí thuốc thú y, kéo dài thời gian nuôi và giảm hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi. Trong bối cảnh ngành chăn nuôi hướng đến phát triển bền vững, giảm sử dụng kháng sinh, nâng cao an toàn sinh học và đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, việc xây dựng chương trình phòng bệnh chủ động dựa trên cơ sở khoa học đang trở thành xu hướng tất yếu. Phát biểu khai mạc hội thảo, bà Đào Thị Hương Giang, Giám đốc Ngành hàng Gia cầm, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam cho biết, ngành chăn nuôi gia cầm hiện
không chỉ dựa trên các cơ sở lý thuyết mà còn được đánh giá thông qua hiệu quả thực tiễn của từng lứa nuôi, từ tỷ lệ sống, độ đồng đều của đàn đến năng suất và hiệu quả kinh tế. Theo bà, những năm gần đây, người chăn nuôi đang phải đối mặt với nhiều thách thức do dịch bệnh, trong đó nổi bật là bệnh Gumboro và cúm gia cầm độc lực thấp H9N2. Đây không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà còn là mối quan tâm tại nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả châu Âu, khi nhiều tác nhân gây bệnh có xu hướng tái xuất hiện và diễn biến ngày càng phức tạp. Trong bối cảnh đó, việc cập nhật các tiến bộ khoa học, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn từ sản xuất và trao đổi về các giải pháp phòng bệnh hiệu quả là hết sức cần thiết. Đây cũng là mục tiêu của hội thảo, nhằm tạo diễn đàn kết nối giữa các chuyên gia, doanh nghiệp và người chăn nuôi để cùng thảo luận, tìm kiếm những giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển ngành gia cầm theo hướng bền vững.
Cập nhật diễn biến dịch tễ và những tín hiệu từ thực địa
Một trong những nội dung thu hút nhiều sự quan tâm tại Hội thảo là phần trình bày của ThS. BSTY Nguyễn Thị Thu Năm, Giám đốc Bệnh viện Thú y, Giảng viên Bộ môn Bệnh truyền nhiễm và Thú y cộng đồng, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh. Theo chuyên gia, bệnh Gumboro và cúm gia cầm H9N2 vẫn lưu hành tại nhiều khu vực với mức độ khác nhau. Trong đó, Gumboro là bệnh gây tổn thương cơ quan miễn dịch của gia cầm, làm giảm khả năng đáp ứng miễn dịch đối với vaccine cũng như tăng nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm khác. Trong khi đó, H9N2 tuy được xếp vào nhóm cúm gia cầm độc lực thấp nhưng có khả năng gây thiệt hại đáng kể về năng suất, làm giảm tăng trọng, giảm sản lượng trứng và tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh khác phát triển. Các phân tích tại Hội thảo cho thấy việc nhận diện sớm nguy cơ, đánh giá đúng tình hình dịch tễ và xây dựng chương trình phòng
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
41
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
bệnh phù hợp với từng mô hình chăn nuôi sẽ giúp giảm đáng kể thiệt hại kinh tế cho người sản xuất. Tiếp nối chương trình, ThS. BSTY Đỗ Duy Hòa, Quản lý Kỹ thuật Gia cầm, Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam, đã chia sẻ những ghi nhận thực tế với chủ đề “Bệnh Gumboro - Những tín hiệu cảnh báo từ thực địa tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Bộ”. Thông qua các số liệu và trường hợp thực tế tại trang trại, chuyên gia đã phân tích xu hướng lưu hành của bệnh cũng như những yếu tố làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch trong điều kiện chăn nuôi hiện nay. Những thông tin này giúp các doanh nghiệp và người chăn nuôi có thêm cơ sở để điều chỉnh chương trình phòng bệnh, đồng thời nâng cao hiệu quả giám sát sức khỏe đàn gia cầm ngay từ giai đoạn đầu. Các đại biểu tham dự đánh giá, việc kết hợp giữa dữ liệu nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn từ hiện trường mang lại góc nhìn toàn diện hơn về công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt trong bối cảnh nhiều mầm bệnh có xu hướng biến đổi và lưu hành phức tạp.
Bà Đào Thị Hương Giang, Giám đốc Ngành hàng Gia cầm, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam phát biểu tại Hội thảo
Giám đốc Bệnh viện Thú y, Giảng viên Bộ môn Bệnh truyền nhiễm và Thú y cộng đồng, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, ThS. BSTY Nguyễn Thị Thu Năm
ThS. BSTY Đỗ Duy Hòa, Quản lý Kỹ thuật Gia cầm, Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam chia sẻ về bệnh Gumboro trên gia cầm
BSTY Nguyễn Minh Đức, Quản lý Kỹ thuật Gia cầm, Olmix Asialand Việt Nam giới thiệu các giải pháp hỗ trợ tăng cường khả năng bảo vệ đàn vật nuôi
Hướng tới chiến lược phòng bệnh toàn diện
Không chỉ dừng lại ở việc phân tích nguy cơ dịch bệnh, Hội thảo còn tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ đàn gia cầm. BSTY Nguyễn Minh Đức, Quản lý Kỹ thuật Gia cầm, Olmix Asialand Việt Nam, đã giới thiệu các giải pháp hỗ trợ tăng cường khả năng bảo vệ đàn vật nuôi trước áp lực dịch bệnh, góp phần cải thiện năng suất và hiệu quả sản xuất. Theo ông, trong điều kiện chăn nuôi hiện đại, hiệu quả phòng bệnh không chỉ phụ thuộc vào vaccine mà cần được xây dựng trên nền tảng quản lý tổng thể, bao gồm an toàn sinh học, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe đường ruột, quản lý môi trường chuồng nuôi và chương trình miễn dịch phù hợp. Bên cạnh các bài tham luận, phần thảo luận mở cũng thu hút sự tham gia sôi nổi của đông đảo khách mời. Các doanh nghiệp, bác sĩ thú y và người chăn nuôi đã trao đổi trực tiếp với chuyên gia về nhiều vấn đề phát sinh trong thực tế như hiệu quả vaccine, quản lý miễn dịch, kiểm soát dịch bệnh trong điều kiện mật độ chăn nuôi cao cũng như các giải pháp tối ưu chi phí nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả phòng bệnh. Theo các chuyên gia, trước yêu cầu phát triển ngành chăn nuôi theo hướng an toàn
ThS. BSTY Nguyễn Đức Dũng, Giám đốc Ngành hàng Gia cầm, Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam phát biểu bế mạc Hội thảo
sinh học, giảm phát thải và nâng cao chất lượng sản phẩm, công tác kiểm soát dịch bệnh cần được thực hiện theo hướng chủ động thay vì chỉ xử lý khi dịch xảy ra. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, theo dõi sát diễn biến dịch tễ và phối hợp giữa doanh nghiệp, cơ quan chuyên môn và người chăn nuôi sẽ góp phần xây dựng chuỗi sản xuất gia cầm bền vững hơn. Phát biểu bế mạc Hội thảo, ThS. BSTY Nguyễn Đức Dũng, Giám đốc Ngành hàng Gia cầm, Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam cho biết, kiểm soát hiệu quả Gumboro và H9N2 không chỉ giúp duy trì năng suất chăn nuôi mà còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm gia cầm cung ứng cho thị trường. Ông khẳng định, doanh nghiệp sẽ tiếp tục đồng hành cùng ngành chăn nuôi thông qua các giải pháp phòng
→ Thông qua Hội thảo này, Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam và Olmix Asialand Việt Nam tiếp tục tạo cầu nối giữa giới chuyên môn và người chăn nuôi, góp phần lan tỏa những tiến bộ khoa học và kinh nghiệm thực tiễn, hướng tới mục tiêu phát triển ngành gia cầm Việt Nam theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.
bệnh, chương trình hỗ trợ kỹ thuật và hoạt động hợp tác với các đối tác trong ngành. Hội thảo cũng cho thấy xu hướng ngày càng rõ nét của ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam trong việc chuyển từ tư duy “điều trị bệnh” sang “quản lý sức khỏe đàn vật nuôi”. Trong đó, việc kết hợp giữa nghiên cứu khoa học, giám sát dịch tễ, giải pháp miễn dịch và quản lý trang trại được xem là nền tảng giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiểu rủi ro và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế.
OANH THẢO
42
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Hùng Nhơn và De Heus mở rộng hợp tác đầu tư nông nghiệp tại Đắk Lắk Ngày 31/7, tại trụ sở HĐND và UBND tỉnh Đắk Lắk, lãnh đạo UBND tỉnh đã có buổi làm việc với Tập đoàn Hùng Nhơn và Tập đoàn De Heus nhằm trao đổi định hướng phát triển chuỗi liên kết nông nghiệp công nghệ cao và mở rộng hợp tác đầu tư trên địa bàn.
T
ại buổi làm việc, De Heus và Hùng Nhơn đề xuất phát triển hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao theo chuỗi giá trị khép kín, gồm vùng nguyên liệu, sản xuất thức ăn chăn nuôi, con giống, chăn nuôi công nghệ cao và chế biến. Đề xuất được xây dựng trên nền tảng hoạt động của Khu chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao DHN Đắk Lắk tại xã Ea M’Droh. Dự án có diện tích gần 50 ha, tổng vốn đầu tư gần 1.000 tỷ đồng, được phát triển theo tiêu chuẩn quốc tế với quy mô 2.500 con heo giống cụ kỵ, 9.000 con heo giống ông bà và 21.000 con heo thịt mỗi lứa. Dự án hiện tạo việc làm ổn định cho hơn 100 lao động địa phương, đồng thời cung cấp nguồn con giống chất lượng cao và hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi hiện đại. Theo kế hoạch, hai tập đoàn sẽ nghiên cứu đầu tư Khu chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao DHN Đắk Lắk 2 với tổng vốn dự kiến khoảng 1.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2027 - 2029. Dự án được đề xuất khảo sát tại các xã Ea Súp, Buôn Đôn, Ea Wer và Ea M’Droh, với quy mô 2.500 con heo giống cụ kỵ. Sau khi hoàn thành, hệ thống dự án được kỳ vọng cung cấp khoảng 50.000 con heo giống bố mẹ mỗi năm, đáp ứng nhu cầu con giống chất lượng cao cho khu vực Tây Nguyên và miền Trung. Song song với phát triển chăn nuôi, De Heus và Hùng Nhơn cũng đặt mục tiêu mở rộng vùng nguyên liệu ngô liên kết tại Đắk Lắk từ khoảng 100.000 tấn lên 300.000 tấn mỗi năm thông qua hợp tác với nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương. Để hoàn thiện chuỗi giá trị, hai doanh nghiệp còn đề xuất nghiên cứu đầu tư tổ hợp chế biến nguyên liệu và sản xuất thức ăn chăn nuôi, gồm nhà máy sấy ngô và nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm gắn với vùng nguyên liệu. Chuỗi sản xuất được định hướng vận hành theo tiêu chuẩn an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Ông Johan van den Ban, Tổng Giám đốc De Heus Việt Nam và châu Á chia sẻ, De Heus mong muốn đồng hành cùng Đắk Lắk xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao theo chuỗi giá trị khép kín, kết nối từ vùng nguyên liệu, sản xuất thức ăn chăn nuôi đến chăn nuôi và chế biến. Theo ông, khi các mắt xích trong chuỗi được liên kết đồng bộ, doanh nghiệp sẽ chủ động nguồn nguyên liệu, người nông dân có đầu ra ổn định, địa phương gia tăng giá trị nông sản và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nông nghiệp trong nước cũng như quốc tế. Ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Hùng Nhơn bày tỏ, mục tiêu của Hùng Nhơn và De Heus là đầu tư lâu dài, hình thành hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với lợi thế của từng địa phương. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, các dự án còn hướng đến chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường liên kết với nông dân và xây dựng vùng chăn nuôi
an toàn dịch bệnh. Doanh nghiệp kiến nghị tỉnh hỗ trợ giới thiệu các địa điểm phù hợp quy hoạch, hướng dẫn thủ tục đầu tư và kết nối với các địa phương để phát triển vùng nguyên liệu, đồng thời tiếp tục đồng hành trong việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân, hợp tác xã nhằm xây dựng chuỗi sản xuất bền vững. Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Đỗ Hữu Huy khẳng định, địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi, giao các sở, ngành phối hợp với doanh nghiệp nghiên cứu, hoàn thiện các đề xuất đầu tư theo đúng quy định, đồng thời kỳ vọng De Heus và Hùng Nhơn tiếp tục mở rộng hoạt động, góp phần hình thành các chuỗi liên kết nông nghiệp hiện đại, bền vững, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế nông nghiệp của Đắk Lắk và từng bước đưa địa phương trở thành trung tâm nông nghiệp công nghệ cao của khu vực Tây Nguyên.
MINH KHUÊ
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
43
44
DINH DƯỠNG NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
5MỞ SÁNG KIẾN LỐI NGÀNH DINH DƯỠNG CHĂN NUÔI
Hơn 100 sáng kiến đến từ chuỗi giá trị thức ăn chăn nuôi trên toàn cầu đã tham gia Giải thưởng Tác động bền vững 2026 do Misset International tổ chức. Dưới đây là 5 dự án xuất sắc nhất góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm phát thải và thúc đẩy phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi thế giới. 1. Novonesis: Men vi sinh bền nhiệt nâng cao năng suất và giảm phát thải
Chế phẩm probiotic Bovacillus của Novonesis gồm hai chủng vi khuẩn sinh bào tử có khả năng chịu được điều kiện chế biến thức ăn chăn nuôi, kể cả quá trình ép viên ở nhiệt độ cao. Nhờ đó, Bovacillus có thể bổ sung trực tiếp vào thức ăn mà không cần thay đổi quy trình sản xuất hiện có. Theo các nghiên cứu, sản phẩm hoạt động thông qua hai cơ chế: cân bằng hệ vi sinh đường ruột và kích thích hoạt động của các enzyme tiêu hóa, giúp tăng khả năng tiêu hóa chất xơ. Kết quả thử nghiệm trên nhiều đàn bò cho thấy sản lượng sữa tăng khoảng 1 kg/con/ngày, trong khi hiệu quả sử dụng thức ăn cải thiện 3 - 4%. Ở vật nuôi còn non, probiotic này giúp giảm tỷ lệ mắc các bệnh tiêu hóa và hô hấp, đồng thời tăng tốc độ sinh trưởng. Nhờ nâng cao khả năng tận dụng dinh dưỡng, Bovacillus góp phần giảm lượng thức ăn và phát thải khí nhà kính trên mỗi đơn vị sản phẩm.
2. ADM: Chương trình nông nghiệp tái sinh quy mô toàn cầu
Chương trình hỗ trợ nông dân áp dụng các biện pháp canh tác tái sinh thông qua ưu đãi tài chính, tư vấn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ số. Đồng thời, ADM đóng vai trò kết nối người trồng trọt với các doanh nghiệp thực
phẩm và thức ăn chăn nuôi, nhằm mở rộng thị trường cho nguyên liệu sản xuất bền vững. Tại Ba Lan, chương trình đã triển khai trên hơn 5.000 ha với các hệ thống luân canh lúa mì và cải dầu. Dữ liệu từ đồng ruộng được thu thập để đánh giá phát thải khí nhà kính, khả năng tích lũy carbon trong đất và mức độ đa dạng sinh học. Đến năm 2024, chương trình đã thu hút hơn 28.000 nông dân trên diện tích vượt 5 triệu mẫu Anh, giúp cắt giảm trên 1 triệu tấn CO₂ tương đương, đồng thời gia tăng lượng carbon lưu giữ trong đất. Hiện sáng kiến đang tiếp tục mở rộng tại nhiều quốc gia châu Âu, kết hợp nền tảng dữ liệu số và công nghệ giám sát vệ tinh nhằm xác minh hiệu quả thực hiện các mô hình canh tác tái sinh.
3. Protein tuần hoàn thay thế đậu tương nhập khẩu
Một nguyên liệu giàu protein được sản xuất từ phụ phẩm ethanol sinh học của Đại học Nottingham Trent cũng góp mặt trong danh sách chung kết nhờ mở ra hướng đi mới cho ngành thức ăn chăn nuôi châu Âu. Sản phẩm tận dụng phụ phẩm từ các nhà máy sản xuất ethanol sinh học để tạo ra nguồn protein chất lượng cao, góp phần giải quyết hai thách thức lớn của chăn nuôi châu Âu: phụ thuộc vào đậu tương nhập khẩu và khai thác chưa hiệu quả các dòng phụ phẩm
sinh học. Khác với đậu tương thường gắn với nguy cơ phá rừng, phát thải từ vận chuyển và biến động giá cả, nguồn protein mới được sản xuất ngay tại các nhà máy lọc sinh học hiện hữu, không cần mở rộng diện tích đất canh tác. Nguyên liệu có thể thay thế một phần khô đậu trong khẩu phần gia cầm và thủy sản mà vẫn duy trì năng suất vật nuôi. Đánh giá vòng đời sản phẩm cho thấy lượng phát thải khí nhà kính từ thức ăn có thể giảm tới 20%, tùy theo tỷ lệ phối trộn và đối tượng vật nuôi. Cạnh đó, sản phẩm có hàm lượng xơ thấp hơn nhiều phụ phẩm truyền thống, giúp nâng cao khả năng tiêu hóa và sử dụng dưỡng chất.
4. ChainCraft: Biến phụ phẩm nông nghiệp thành axit béo chuỗi trung bình
ChainCraft được vinh danh nhờ công nghệ lên men độc quyền chuyển đổi phụ phẩm nông nghiệp và thực phẩm thành axit béo chuỗi trung bình (MCFAs) có nguồn gốc sinh học, nguyên liệu giá trị cao cho ngành thức ăn chăn nuôi. Thông thường, MCFAs được sản xuất từ dầu cọ, dầu dừa hoặc nguyên liệu hóa thạch, vốn đối mặt với nhiều sức ép về phá rừng, biến động thị trường và các quy định mới như Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Trong khi đó, ChainCraft
DINH DƯỠNG
45
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp địa phương có nguy cơ bị thải bỏ để sản xuất C-Craft, mang lại khả năng truy xuất nguồn gốc tốt hơn và cường độ phát thải carbon thấp hơn. Công nghệ được phát triển từ Đại học Wageningen & Research, hiện đã được thương mại hóa tại Amsterdam và đang tiếp tục mở rộng với nhà máy quy mô lớn tại Ter Apelkanaal. MCFAs chủ yếu được sử dụng trong dinh dưỡng giai đoạn đầu của vật nuôi, giúp phát triển hệ tiêu hóa, kiểm soát các tác nhân gây bệnh như E. coli và Salmonella, đồng thời cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn và tốc độ tăng trưởng.
5. ANCA: Mô hình hóa chu trình dinh dưỡng cho chăn nuôi bò sữa
Hệ thống Annual Nutrient Cycle Assessment (ANCA), còn được biết đến tại Hà Lan với tên gọi KringloopWijzer được phát triển bởi Đại học Wageningen & Research phối hợp với ngành sữa Hà Lan. ANCA tính toán dòng luân chuyển nitơ, phospho, lượng phát thải, sử dụng thức ăn và phân bón, từ đó xây dựng bộ chỉ số chuẩn hóa đánh giá hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và tác động môi trường. Hầu hết các trang trại bò sữa tại Hà Lan đang áp dụng và tích hợp ANCA vào hệ thống báo cáo phát triển bền vững của nhiều doanh nghiệp chế biến sữa. Ở cấp độ trang trại, ANCA là công cụ hỗ trợ ra quyết định, giúp xác định những điểm thất thoát dinh dưỡng, tối ưu hóa sử dụng thức ăn, đất và phân chuồng. Theo các kết quả ghi nhận, hệ thống góp phần nâng cao năng suất, giảm lượng vật tư đầu vào, cắt giảm phát thải và hạn chế thất thoát dinh dưỡng.
VŨ ĐỨC
Theo Allaboutfeed
Giải thưởng Tác động Bền vững được trao nhằm ghi nhận thành quả phát triển loại protein lên men từ ngô; quy trình này giúp thu hồi các thành phần giàu protein từ phụ phẩm của quá trình sản xuất nhiên liệu sinh học (bioethanol) từ ngũ cốc, qua đó kết nối các hệ thống sản xuất thực phẩm và nhiên liệu.
Hương mâm xôi nâng cao lượng ăn cho heo con cai sữa Bổ sung hương mâm xôi vào khẩu phần giúp tăng tính ngon miệng của thức ăn, kích thích heo con ăn nhiều hơn, giảm tác động của stress cai sữa và cải thiện tăng trưởng. Để giúp heo con vượt qua giai đoạn cai sữa thuận lợi, duy trì lượng ăn ổn định là yếu tố then chốt. Trong đó, việc sử dụng các chất tạo hương và tạo ngọt được nghiên cứu bài bản có thể làm tăng độ ngon miệng của thức ăn, cải thiện khả năng chấp nhận thức ăn, góp phần giảm stress và duy trì mức tiêu thụ thức ăn ổn định.
Hương trái cây đỏ giúp heo con ăn tốt hơn
Trong dinh dưỡng heo con, các hương sữa, kem hay vani thường được sử dụng nhằm tạo cảm giác quen thuộc với sữa mẹ, giúp ổn định lượng ăn trong thời kỳ cai sữa. Tương tự, các hương trái cây đỏ, đặc biệt là hương mâm xôi, cũng đang được đánh giá là giải pháp đầy triển vọng nhằm cải thiện khả năng thu nhận thức ăn và nâng cao phúc lợi động vật. Heo con có xu hướng ưa thích vị ngọt. Hương mâm xôi kết hợp giữa vị ngọt và mùi thơm đặc trưng của trái cây chín, mô phỏng hương vị của các loại quả giàu năng lượng và dưỡng chất mà động vật có xu hướng lựa chọn trong tự nhiên. Do đó, loại hương này có khả năng tạo sức hấp dẫn cao đối với heo con. Bổ sung hương trái cây đỏ không chỉ đáp ứng tập tính lựa chọn thức ăn tự nhiên mà còn góp phần cải thiện khả năng chấp nhận thức ăn trong giai đoạn chuyển đổi từ sữa sang thức ăn rắn. Khi heo con ăn sớm và duy trì lượng ăn ổn định, quá trình cai sữa diễn ra thuận lợi hơn, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng và sức khỏe tổng thể.
Đánh giá hương mâm xôi Bigarol Raspberry P
Một nghiên cứu thực địa tại Đức đã đánh giá ảnh hưởng của các mức bổ sung khác nhau của hương mâm xôi Bigarol Raspberry P (Phytobiotics) đối với năng suất của heo con sau cai sữa. Nghiên cứu được thực hiện trên 256 heo con cai sữa lúc 3 tuần tuổi, khối lượng trung bình 7,6 kg. Đàn heo được lấy từ một trang trại thương mại và nuôi tại cơ sở nghiên cứu
Haus Düsse (Bad Sassendorf, Đức). Mỗi ô chuồng nuôi 8 con, các chỉ tiêu gồm khối lượng cơ thể, lượng thức ăn thu nhận và tăng khối lượng được theo dõi hằng tuần trong suốt 5 tuần. Các cá thể được chia ngẫu nhiên thành bốn nghiệm thức: Đối chứng: không bổ sung hương mâm xôi; nghiệm thức 2: bổ sung 100 g Bigarol Raspberry P/tấn thức ăn; nghiệm thức 3: bổ sung 200 g/tấn thức ăn; nghiệm thức 4: bổ sung 400 g/tấn thức ăn. Sản phẩm được phối trộn vào thức ăn trước khi ép viên. Công thức của Bigarol Raspberry P được thiết kế có khả năng chịu nhiệt tốt, giúp duy trì hương vị và hiệu quả sau quá trình sản xuất thức ăn viên.
Kết quả khả quan
Kết quả cho thấy, các nhóm được bổ sung Bigarol Raspberry P đều có lượng thức ăn thu nhận trung bình hằng ngày (ADFI) và tăng khối lượng trung bình hằng ngày (ADG) cao hơn so với nhóm đối chứng. Đáng chú ý, nghiệm thức bổ sung 100 g Bigarol Raspberry P/tấn thức ăn mang lại hiệu quả nổi bật nhất, đạt mức cải thiện ADFI và ADG cao hơn không chỉ so với đối chứng mà còn so với các mức bổ sung 200 g và 400 g/tấn thức ăn. Bổ sung Bigarol Raspberry P vào khẩu phần giúp nâng cao khả năng chấp nhận thức ăn, cải thiện tính ngon miệng của thức ăn và hỗ trợ heo con chuyển đổi thuận lợi từ sữa mẹ sang thức ăn rắn. Nhờ đó, heo con duy trì lượng ăn tốt hơn trong giai đoạn cai sữa. Ngoài kích thích lượng ăn, hương mâm xôi còn góp phần giảm stress cai sữa, kích thích cảm giác thèm ăn và cải thiện phúc lợi động vật. Những kết quả từ nghiên cứu thực địa khẳng định các chất tạo hương được phát triển phù hợp không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn mà còn là công cụ hữu ích trong các chương trình dinh dưỡng hiện đại, nhằm tối ưu năng suất và sức khỏe đàn heo.
DŨNG NGUYÊN Theo Pigprogress
46
MÔ HÌNH CÔNG NGHỆ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Ứng dụng công nghệ, cựu chiến binh thu lãi 300 triệu đồng mỗi lứa gà Từ một khu đất hoang hóa, sình lầy, cựu chiến binh Đỗ Văn Đẳng tại TP Hải Phòng đã gây dựng trang trại nuôi gà khép kín quy mô 25.000 con, mỗi năm cung cấp 120 - 150 tấn gà thương phẩm, thu lãi hàng trăm triệu đồng. Bắt đầu từ vùng đất khó
Sau khi rời quân ngũ, ông Đỗ Văn Đẳng, ở thôn Vĩnh Hòa, xã Ninh Giang, thành phố Hải Phòng, trở về quê sản xuất nông nghiệp. Ông dành nhiều thời gian tìm hiểu các mô hình sản xuất mới, khảo sát quỹ đất tại địa phương để tìm cơ hội phát triển kinh tế. Trong quá trình tìm kiếm, ông nhận thấy, khu đất từng được sử dụng để nuôi thủy sản nhưng bị bỏ hoang trong thời gian dài do địa hình thấp, nhiều bùn lầy có thể tận dụng để làm trang trại chăn nuôi. Năm 2020, ông Đẳng huy động vốn từ ngân hàng, người thân và bạn bè đầu tư cải tạo khu đất rộng khoảng 1,5 mẫu. Sau nhiều tháng, vùng đất sình lầy dần hình thành khu trang trại với hai dãy chuồng nuôi được đầu tư theo hướng khép kín. Những ngày đầu, trang trại của ông nuôi gia công gà trắng. Sau thời gian trực tiếp sản xuất, ông bắt đầu nhận thấy mô hình này còn hạn chế, nhất là khi thời tiết thay đổi, đàn gà dễ chịu tác động, trong khi chất lượng sản phẩm chưa phù hợp với phân khúc thị trường mà ông hướng tới. Từ thực tế đó, ông Đẳng chuyển sang nuôi gà lông màu. Sự thay đổi không đơn giản, bởi gà lông màu có thời gian nuôi dài hơn, khoảng 4 tháng/lứa. Tuy nhiên, theo ông, giống gà này có sức đề kháng tốt, thích nghi với điều kiện thời tiết, ít phụ thuộc vào kháng sinh nếu được chăm sóc đúng quy trình. Đặc biệt, thịt gà thơm, chắc và được người tiêu dùng ưa chuộng. Thay vì chạy theo thời gian nuôi ngắn, ông lựa chọn hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, kiểm soát chặt quy trình chăn nuôi và giảm các yếu tố rủi ro. Từ kinh nghiệm thực tế tích lũy qua từng lứa nuôi, ông từng bước hoàn thiện quy trình chăm sóc đàn gà theo hướng an toàn sinh học. Các khâu từ vệ sinh chuồng trại, kiểm soát môi trường, cung cấp thức ăn, nước uống đến theo dõi sức khỏe vật nuôi đều được thực hiện theo quy trình thống nhất.
Ông Đẳng bên trang trại gà
Công nghệ giúp giảm sức người, tăng hiệu quả
Hiện trang trại duy trì khoảng 25.000 con gà, được bố trí tại hai khu chuồng nuôi khép kín. Một trong những yếu tố tạo nên hiệu quả của mô hình là việc mạnh dạn đầu tư công nghệ tự động hóa. Hệ thống cảm biến được lắp đặt để theo dõi các thông số về nhiệt độ, độ ẩm và điều kiện môi trường trong chuồng nuôi. Khi nhiệt độ thay đổi, hệ thống thông gió có thể tự động điều chỉnh, nhằm duy trì môi trường phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của đàn gà. Hệ thống cho ăn và cung cấp nước cũng được tự động hóa, giúp hạn chế hao hụt thức ăn, giảm nhân công và bảo đảm đàn gà được chăm sóc đồng đều. Các thiết bị trong trại được kết nối internet. Thông qua điện thoại thông minh, người nuôi có thể theo dõi hoạt động của hệ thống ngay cả khi không trực tiếp có mặt. Quản lý từ xa giúp ông chủ động hơn trong kiểm soát đàn gà, nhất là khi các thông số môi trường có sự thay đổi. Hạn chế việc con
Ảnh: Báo Dân Việt
người phải ra vào chuồng nuôi nhiều lần cũng góp phần giảm nguy cơ đưa mầm bệnh từ bên ngoài vào khu vực chăn nuôi. Mỗi năm, mô hình chăn nuôi của ông Đẳng xuất bán khoảng 2,5 lứa gà, sản lượng đạt từ 120 - 150 tấn. Mỗi lứa, sản lượng gà xuất chuồng khoảng 60 tấn. Trừ các chi phí, trang trại đạt lợi nhuận khoảng 250 - 300 triệu đồng mỗi lứa. Ông Đẳng xác định, đầu ra và giá thành là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất. Giá gà thương phẩm có thời điểm giảm mạnh, trong khi giá thức ăn, chi phí điện và các khoản đầu vào khác liên tục biến động. Vì vậy, tiết kiệm chi phí, giảm hao hụt và nâng cao chất lượng đàn nuôi luôn được ông đặt lên hàng đầu. Theo ông Đẳng, làm nông nghiệp hiện nay không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm. Người chăn nuôi cần chủ động tiếp cận khoa học kỹ thuật, cập nhật phương thức sản xuất mới và tính toán hiệu quả ngay từ khi bắt đầu đầu tư.
NAM LINH
47
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CANADA
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Mô hình trại nuôi heo đa năng Không chỉ sản xuất heo con cai sữa, Trung tâm Phát triển Heo Québec (CDPQ) tại Canada còn ứng dụng mô hình chăn nuôi chính xác, tạo nền tảng triển khai hàng chục nghiên cứu về dinh dưỡng, phúc lợi động vật và phát triển bền vững.
Sản xuất gắn liền nghiên cứu
Trung tâm Phát triển Heo Québec (CDPQ) là trại nái sinh sản với khoảng 675 nái, áp dụng hệ thống sản xuất theo lứa 4 tuần, gồm 5 nhóm, mỗi nhóm khoảng 140 con. Mô hình quản lý theo lứa giúp duy trì tình trạng an toàn sinh học cao, đồng thời đảm bảo nguồn vật nuôi ổn định phục vụ các nghiên cứu. Toàn bộ cơ sở được thiết kế nhằm tối ưu phúc lợi động vật và hiệu quả nghiên cứu. Trong đó, bốn nhóm nái đang ở giai đoạn mang thai, mỗi nhóm tiếp tục được chia thành hai đàn khoảng 70 con để tách riêng nái hậu bị và nái lứa 2 với các nái nhiều lứa. Mỗi đàn được trang bị 4 trạm cho ăn điện tử chính xác. Nhóm còn lại được nuôi tại khu đẻ. Tất cả nái đều được nhận diện bằng thẻ điện tử. Ở giai đoạn mang thai, nái được nuôi theo nhóm với hệ thống cho ăn tự động tích hợp công nghệ nhận diện RFID. Hệ thống cho phép xây dựng đường cong dinh dưỡng riêng cho từng cá thể và triển khai đồng thời tới 6 nghiệm thức nhờ 4 tuyến cấp thức ăn kết nối với các silo của trang trại. Ngoài ra, mỗi trạm còn tích hợp bộ phối trộn thức ăn chính xác với nhiều phễu chứa, cho phép áp dụng kỹ thuật phối trộn khẩu phần theo tỷ lệ được kiểm soát chặt chẽ. Đây là nền tảng để vừa tối ưu hiệu quả sử dụng thức ăn, vừa triển khai nhiều thí nghiệm dinh dưỡng trên cùng hệ thống. Mô hình này tiếp tục được duy trì trong giai đoạn nuôi con. Mỗi ô đẻ đều có 4 tuyến cấp thức ăn cùng bộ phối trộn hai phễu, giúp duy trì liên tục các nghiệm thức từ thời kỳ mang thai đến sau khi đẻ. Khu chuồng đẻ chủ yếu sử dụng ô đẻ truyền thống nhưng
cũng bố trí một số ô cho phép thả nái sau sinh, hoặc trang bị hệ thống nâng chống đè cùng ổ úm mở rộng dành cho heo con để phục vụ các nghiên cứu chuyên biệt. Toàn bộ không khí trong chuồng được lọc bằng hệ thống áp suất dương. Nhiệt độ, độ ẩm và nồng độ khí được kiểm soát tự động, kết hợp tấm làm mát vào mùa hè. Đồng thời, hệ thống cảm biến liên tục theo dõi lượng thức ăn, nước uống và hành vi ăn của nái, tạo điều kiện nghiên cứu về lượng ăn, khả năng điều hòa thân nhiệt, các rối loạn tiêu hóa cũng như phản ứng trước stress nhiệt.
Cho ăn chính xác theo nhu cầu
Một trong những hướng nghiên cứu trọng tâm là cho ăn chính xác, điều chỉnh lượng dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu thực tế của từng nái. Trong nghiên cứu trên 393 nái hậu bị qua ba chu kỳ sinh sản, các mức lysine khác nhau được so sánh. Kết quả cho thấy vẫn có thể duy trì năng suất sinh sản dù giảm lượng dinh dưỡng cung cấp; thậm chí ở một số nghiệm thức, số heo con cai sữa tăng thêm 0,6 con/nái, trong khi tỷ lệ chết giảm 5%. Một hướng nghiên cứu khác tập trung vào phospho (P) và canxi (Ca) trên 121 nái qua hai chu kỳ sinh sản. Kết quả cho thấy, có thể giảm lượng P và Ca trong khẩu phần mà vẫn duy trì năng suất đàn con, đồng thời tăng độ dày mỡ lưng khi đẻ thêm 1,5 mm và giảm khoảng 5% tỷ lệ chết lưu cũng như tỷ lệ chết.
Vi chất dinh dưỡng và ngũ cốc thay thế
Bổ sung vitamin trong giai đoạn mang thai và nuôi con cũng là nội dung nghiên cứu quan trọng. Trên 60 nái, khi tăng mức bổ sung vitamin lên 50% so với khuyến nghị của NRC (chẳng hạn vitamin D từ 200 IU lên
2.000 IU), các nhà nghiên cứu ghi nhận đàn con đồng đều hơn khi sinh và tỷ lệ chết ở nái hậu bị giảm khoảng 4%. Kết quả cho thấy, nhu cầu vitamin của nái hậu bị và các dòng nái năng suất cao có thể đang bị đánh giá thấp, đặc biệt trong điều kiện chuyển hóa mạnh, dù mức huy động dự trữ cơ thể trong thời kỳ nuôi con cũng thay đổi theo khẩu phần. CDPQ cũng đánh giá khả năng thay thế ngũ cốc truyền thống bằng lúa mạch đen trong khẩu phần nái mang thai. Qua nghiên cứu trên 245 nái, lúa mạch đen chứng minh là nguyên liệu khả thi cả về năng suất lẫn sức khỏe. Khẩu phần này giúp giảm tỷ lệ chết lưu và tỷ lệ chết trong 24 giờ đầu sau sinh mà không ảnh hưởng đến khối lượng sơ sinh.
Hướng đến chăn nuôi thông minh
CDPQ sẽ tiếp tục phát triển theo hướng tích hợp dinh dưỡng, sức khỏe, phúc lợi động vật và công nghệ giám sát thông minh. Các dự án mới sẽ tập trung vào chiến lược bổ sung canxi trong giai đoạn chuyển tiếp sang đẻ, tối ưu nguồn và mức bổ sung selen nhằm cải thiện sức khỏe sau cai sữa, cũng như đánh giá tác động của tuổi cai sữa và quá trình vận chuyển đến phúc lợi và năng suất của heo con. CDPQ đang phối hợp với Đại học Laval và nhiều đơn vị nghiên cứu để triển khai dự án điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột của nái. Mục tiêu là tối ưu hệ vi sinh của mẹ nhằm truyền khả năng miễn dịch tự nhiên tốt hơn cho heo con, từ đó giảm phụ thuộc vào kháng sinh sau cai sữa.
MI LAN
Theo Pig333
48
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Thực khuẩn thể kết hợp tinh dầu kiểm soát vi khuẩn kháng thuốc Trước áp lực gia tăng của vi khuẩn kháng kháng sinh trong chăn nuôi, các nhà khoa học Tây Ban Nha đang nghiên cứu giải pháp kết hợp thực khuẩn thể với tinh dầu, nhằm kiểm soát các tác nhân gây bệnh như Salmonella và Escherichia coli (E. coli). Hướng tiếp cận này được kỳ vọng góp phần giảm sử dụng kháng sinh, nâng cao an toàn sinh học và hạn chế nguy cơ lan truyền vi khuẩn kháng thuốc trong chuỗi thực phẩm. Hướng tiếp cận mới
Nhóm nghiên cứu CampySalmo thuộc Đại học CEU Cardenal Herrera (Valencia, Tây Ban Nha), do GS.TS Clara Marín Orenga đứng đầu, vừa công bố kết quả nghiên cứu về việc kết hợp thực khuẩn thể (bacteriophage) với các hợp chất hoạt tính có nguồn gốc từ tinh dầu để kiểm soát vi khuẩn đa kháng thuốc tại trang trại chăn nuôi. Theo nhóm nghiên cứu, sự kết hợp này không chỉ giúp giảm mật độ các vi khuẩn gây bệnh mà còn góp phần hạn chế sử dụng kháng sinh, hướng tới mô hình chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững hơn về kinh tế cũng như môi trường. GS.TS Clara Marín Orenga cho biết, trong bối cảnh nhiều hoạt chất khử trùng hiệu quả đối với Salmonella không còn được sử dụng, ngành chăn nuôi cần những giải pháp thay thế có hiệu quả, chi phí hợp lý, dễ áp dụng và an toàn đối với vật nuôi, con người cũng như môi trường.
Phát huy ưu điểm của thực khuẩn thể và tinh dầu
Thực khuẩn thể là virus chuyên biệt có khả năng nhận diện và tiêu diệt vi khuẩn
đích. Nhờ tính đặc hiệu cao, chúng có thể kiểm soát các vi khuẩn như Salmonella mà ít ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật có lợi. Giải pháp này đã được nghiên cứu và ứng dụng trong ngành gia cầm, tuy nhiên việc sử dụng tại các trang trại chăn nuôi heo vẫn còn khá hạn chế. Dù mang lại nhiều triển vọng, các nhà nghiên cứu cho rằng thực khuẩn thể không phải là giải pháp duy nhất. Việc sử dụng thực khuẩn thể trong thời gian dài có thể tạo áp lực chọn lọc, dẫn đến sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn kháng thực khuẩn thể. Vì vậy, cần kết hợp với các chất kháng khuẩn tự nhiên để nâng cao hiệu quả kiểm soát mầm bệnh. Theo GS.TS Clara Marín Orenga, tinh dầu thực vật đang được xem là một trong những giải pháp thay thế đầy triển vọng nhờ đặc tính kháng khuẩn đã được kiểm chứng. Trong điều kiện thực địa, eugenol, carvacrol và cinnamaldehyde cho thấy khả năng kiểm soát vi khuẩn gây bệnh vượt trội.
Cơ chế tác động bổ sung
Các hợp chất trong tinh dầu thể hiện hoạt tính kháng khuẩn thông qua nhiều cơ chế
khác nhau, bao gồm phá hủy tính toàn vẹn của màng tế bào, ức chế hoạt động của các hệ enzyme thiết yếu và làm rò rỉ các thành phần nội bào, từ đó làm giảm khả năng sống và sinh trưởng của vi khuẩn. Trong khi đó, thực khuẩn thể tan (lytic bacteriophage) tiêu diệt vi khuẩn theo cơ chế đặc hiệu. Chúng nhận diện và gắn lên các thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào vi khuẩn, bơm vật liệu di truyền vào tế bào chủ, sau đó nhân lên nhờ bộ máy sinh tổng hợp của vi khuẩn và kết thúc chu trình bằng quá trình ly giải tế bào để giải phóng các hạt thực khuẩn thể thế hệ mới. Sự khác biệt về cơ chế tác động giúp hai giải pháp này hỗ trợ lẫn nhau, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát các vi khuẩn kháng kháng sinh trong chăn nuôi. Theo các nhà nghiên cứu, việc kết hợp thực khuẩn thể với các hoạt chất có nguồn gốc tự nhiên mở ra hướng đi tiềm năng trong kiểm soát vi khuẩn gây bệnh, giảm phụ thuộc vào kháng sinh và tăng cường an toàn sinh học cho ngành chăn nuôi trong tương lai.
THÁI THUẬN
Theo Pigprogress
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
49
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Tái tạo hồng cầu và vận chuyển ôxy: Cơ chế gốc định hình màu sắc thịt
Màu sắc là một trong những đặc tính dễ nhận biết nhất khi đánh giá thịt heo. Tuy nhiên, phía sau màu sắc của miếng thịt là một chuỗi quá trình sinh lý liên quan đến ôxy, hemoglobin và myoglobin. Myoglobin là một protein quan trọng trong mô cơ, có liên quan trực tiếp đến màu sắc của thịt. Trong cơ thể, hemoglobin trong hồng cầu đảm nhiệm việc vận chuyển ôxy từ phổi đến các mô tiêu thụ ôxy, trong đó có mô cơ. Ôxy sau đó được chuyển giao cho myoglobin tại mô cơ, nơi ôxy được dự trữ và sử dụng. Trạng thái của myoglobin cùng với mức cung cấp ôxy và sự hiện diện của hemoglobin là những yếu tố liên quan đến màu sắc của mô cơ. Điều này cho thấy chất lượng thịt không chỉ là câu chuyện diễn ra tại thời điểm giết mổ. Trạng thái sinh lý của vật nuôi trước đó, trong đó có quá trình tạo hồng cầu và vận chuyển ôxy, cũng là một mắt xích trong chuỗi hình thành chất lượng sản phẩm cuối cùng. Hồng cầu có vòng đời khoảng 90 - 120 ngày. Trong quá trình này, hồng cầu được hình thành, trưởng thành và đưa vào hệ tuần hoàn để đảm nhiệm chức năng vận chuyển ôxy. Khi hồng cầu già bị loại bỏ, các thành phần của chúng tiếp tục được chuyển hóa và tái sử dụng. Khi quá trình tái tạo hồng cầu không đạt được tiềm năng vốn có, vật nuôi có thể xuất hiện những biểu hiện như da nhợt nhạt, mất độ bóng của da và lông, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng.
Kiểm soát stress ôxy hóa và biến đổi pH để hạn chế thịt nhão, chảy nước
Vận chuyển, nhiệt độ và quá trình giết mổ là những yếu tố có thể tạo ra stress đối với vật nuôi. Đặc biệt, stress ôxy hóa làm gia tăng các loại ôxy phản ứng (ROS), từ đó có thể tác động đến lipid, protein và trạng thái của các phân tử liên quan đến màu sắc thịt. Theo tài liệu kỹ thuật, sự ôxy hóa có thể làm thay đổi trạng thái của sắt trong nhân HEM của myoglobin, qua đó ảnh hưởng đến màu đỏ tự nhiên của thịt. Đồng thời, quá trình ôxy hóa lipid và protein có thể tác động đến kết cấu, độ dẻo và mùi vị của thịt. Ở một góc độ khác, sự thay đổi pH sau giết mổ cũng có liên quan đến trạng thái thịt. Khi tuần hoàn ngừng cung cấp ôxy cho cơ, quá trình chuyển hóa trong cơ vẫn tiếp tục. Glycogen được chuyển hóa trong điều kiện thiếu ôxy và tạo ra axit lactic. Nếu axit lactic được tạo ra quá mức, pH thịt có thể giảm xuống, làm gia tăng nguy cơ thịt nhão và chảy nước. Vì vậy, bên cạnh các biện pháp quản lý tại trang trại và khâu giết mổ, dinh dưỡng đang được tiếp cận như một trong những công cụ có thể góp phần hỗ trợ trạng thái sinh lý của vật nuôi và chất lượng sản phẩm cuối cùng.
Cơ chế tác động của phụ gia phytogenics PIGRED PLUS trong việc tối ưu chất lượng thịt heo
Trong xu hướng tìm kiếm những giải pháp dinh dưỡng có nguồn gốc tự nhiên, phụ gia phytogenic đang được quan tâm
trong ngành chăn nuôi nhờ khả năng cung cấp các hoạt chất có hoạt tính sinh học. Trên cơ sở đó, TVOne Việt Nam phát triển PIGRED PLUS - phụ gia thức ăn chăn nuôi từ chiết xuất thực vật (Phytogenics) theo định hướng hỗ trợ các quá trình sinh lý có liên quan đến ngoại hình vật nuôi và chất lượng thịt. Công thức sản phẩm gồm các nhóm hoạt chất chính như Ginsenosides, Anthocyanins và peptide lên men. Ginsenosides: Hỗ trợ quá trình tăng sinh và biệt hóa tế bào tiền hồng cầu tại tủy xương, tăng khả năng vận chuyển ôxy đến các mô, trong đó có mô cơ. Anthocyanins: Chống ôxy hóa, hỗ trợ trung hòa các gốc tự do và hạn chế những biến đổi ôxy hóa có thể ảnh hưởng đến trạng thái của myoglobin. Ginsenosides và phytogenics trong PIGRED PLUS hạn chế sự hình thành quá mức của axit lactic sau giết mổ, qua đó hỗ trợ duy trì pH thịt ở mức phù hợp và hạn chế tình trạng thịt nhão, chảy nước. Với dòng sản phẩm phụ gia phytogenics như PIGRED PLUS, TVOne Việt Nam tập trung vào việc khai thác các hoạt chất phytogenic, nhằm hỗ trợ những quá trình sinh lý có liên quan đến tạo hồng cầu, vận chuyển ôxy, kiểm soát stress ôxy hóa và chất lượng thịt. Đây là một hướng tiếp cận cho thấy vai trò ngày càng mở rộng của dinh dưỡng trong chuỗi giá trị chăn nuôi từ tối ưu hiệu quả đàn nuôi đến nâng cao chất lượng sản phẩm sau giết mổ.
TV ONE
50
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
52
KHOA HỌC KỸ THUẬT
6
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Giải pháp đổi mới sáng tạo dành riêng cho ngành chăn nuôi heo
Những sáng kiến này sẽ được vinh danh tại triển lãm chăn nuôi quốc tế SPACE, diễn ra ở Rennes (Pháp) từ ngày 15 - 17/9/2026 tới đây. cho ăn chính xác dành cho nái 1Hệheothống
Materneo 4.0 là hệ thống cho ăn chính xác dành cho heo nái trong chuồng đẻ, được phát triển bởi Asserva - một công ty chuyên về thiết bị chăn nuôi của Pháp. Hệ thống này thay thế các kế hoạch cho ăn lý thuyết bằng cơ chế điều chỉnh linh hoạt cho từng cá thể. Quá trình cho ăn được kiểm soát theo thời gian thực dựa trên hành vi, lượng thức ăn thực tế tiêu thụ và khả năng thu nhận thức ăn của heo nái. Hệ thống tích hợp tính năng cân heo con tự động để theo dõi tốc độ tăng trưởng. Sự thay đổi về trọng lượng của cả đàn heo con đóng vai trò là chỉ số trực tiếp giúp điều chỉnh chế độ dinh dưỡng trước khi xảy ra những tổn thất có thể quan sát được. Hệ thống bao gồm 3 mô đun: phân phối thức ăn riêng biệt theo từng khẩu phần nhỏ; đo lường hiệu suất của vật nuôi và thuật toán dinh dưỡng. Mục tiêu đặt ra: tối đa hóa tốc độ tăng trọng bình quân hàng ngày (ADG) của heo con trong giai đoạn quan trọng này, đồng thời duy trì thể trạng heo nái để tối ưu hóa khả năng hồi phục và hiệu suất sinh sản trong tương lai. Mỗi ô chuồng trở thành một đơn vị tự chủ đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu.
2Mô hình lấy tinh dịch heo đực
Giá đỡ lấy tinh heo đực là dụng cụ thiết yếu trong quy trình thu thập tinh dịch phục vụ thụ tinh nhân tạo. Điểm nổi bật của thiết bị nằm ở kết cấu thông minh, giúp việc vệ sinh trở nên dễ dàng và hiệu quả nhờ các bộ phận có thể tiếp cận thuận tiện. Về vật liệu, khung giá được làm từ thép không gỉ - loại vật liệu bền bỉ và có khả năng chống ăn mòn cao - trong khi bề mặt tiếp xúc phía
Materneo 4.0 với mục tiêu duy trì thể trạng heo nái để tối ưu hóa khả năng hồi phục và hiệu suất sinh sản trong tương lai
trên được làm từ Corian, một loại vật liệu kết hợp giữa nhựa resin và bột khoáng. Corian có đặc tính không xốp và chịu lực tốt. Chính sự kết hợp của các đặc điểm cải tiến này đã tạo nên một thiết bị có thiết kế tối ưu về mặt công thái học và độ bền cao, đồng thời giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn trong quá trình thu thập tinh dịch.
phát hiện tổn thương của heo 3Tựthịtđộng
Pig’Scan là hệ thống tự động ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích thân thịt heo, được thiết kế nhằm giám sát phúc lợi động vật, tình trạng cắn đuôi và các chỉ số sức khỏe tại các cơ sở giết mổ. Hệ thống thực hiện thu thập hình ảnh đồng bộ từ nhiều góc độ (vùng lưng, đầu và đuôi) để tự động định lượng chiều dài đuôi, các vết thương do cắn đuôi, vết trầy xước trên lưng, dấu hiệu đánh nhau, chấn thương do vận chuyển và một số
Ảnh: Asserva
chỉ số tiềm năng về hành vi ngược đãi động vật. Nhờ các thuật toán thị giác máy tính và khả năng truy xuất nguồn gốc bằng RFID, hệ thống chuyển đổi các quan sát vốn mang tính chủ quan thành dữ liệu kỹ thuật số có giá trị thống kê. Việc phân tích vùng lưng của thân thịt giúp phát hiện các vết trầy xước, vết va đập và tổn thương, qua đó chỉ ra những vấn đề liên quan đến căng thẳng (stress), quá trình vận chuyển, mật độ nuôi nhốt hoặc quy trình chăn nuôi. Hệ thống cung cấp các phép đo chuẩn hóa và có tính nhất quán, tự động lưu trữ bằng chứng hình ảnh, đồng thời giảm bớt khối lượng công việc giám sát thủ công.
giản hóa việc quản lý xác động vật 4Đơn
Sanihouse, công trình do Innovlap và Maison Bleue thiết kế, là cơ sở chuyên dụng để xử lý xác động vật tại các trang trại. Cơ
KHOA HỌC KỸ THUẬT
53
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
sở này được xây dựng từ các cấu kiện bê tông cốt thép đúc sẵn có lớp cách nhiệt, kết hợp với hệ thống bao gồm sàn thao tác bằng thép không gỉ và các cửa vận hành tự động bằng động cơ. Hệ thống này giúp việc di chuyển xác động vật trở nên dễ dàng và an toàn hơn. Cơ chế vận hành bằng động cơ của sàn thao tác được đồng bộ hóa với hoạt động đóng/mở cửa, đồng thời có kích thước phù hợp để chứa các thùng chuyên dụng dùng cho quy trình xử lý xác động vật. Các thùng này sẽ tự động di chuyển sang phía “khu vực trang trại” để tiếp nhận xác động vật, hoặc sang phía “khu vực công cộng” để đơn vị dịch vụ xử lý có thể tự động thu gom mà không cần đi vào khuôn viên trang trại. Nhờ việc cách ly xác động vật trong một cơ sở có lớp cách nhiệt, dễ dàng vệ sinh và khử trùng, cùng với cơ chế cho phép đơn vị dịch vụ tiếp cận độc lập và giảm thiểu các thao tác xử lý thủ công, hệ thống này vừa đảm bảo tuân thủ các quy định về y tế, vừa đơn giản hóa quy trình quản lý xác động vật cho người chăn nuôi.
5 Ước tính trọng lượng heo con tự động
Smart Weight là tính năng bổ sung cho nền tảng Smart Counting, được thiết kế dành cho heo con có trọng lượng lên đến 10 kg khi xuất khỏi khu vực đẻ. Khi heo di chuyển qua lối đi có gắn thiết bị đếm, hệ thống sẽ tự động theo dõi chúng qua nhiều hình ảnh, tổng hợp các số đo trực quan và ước tính trọng lượng trung bình cũng như mức độ phân tán trọng lượng của cả đàn mà không cần cân thủ công hay phải đưa heo đi vòng qua trạm cân xe tải. Người dùng chỉ cần thực hiện thao tác hiệu chuẩn đơn giản; hệ thống không yêu cầu lắp đặt tại chỗ hay quy trình bảo trì phòng ngừa chuyên biệt. Nhờ đó, thiết bị đếm trở thành công cụ quản lý sản xuất khách quan, cung cấp dữ liệu tức thời kèm dấu thời gian và có khả năng tích hợp vào phần mềm quản lý trang trại. Giải pháp này mang lại độ chính xác, tính nhất quán cùng một chỉ số mới về độ đồng đều. Xét về mặt kinh tế, hệ thống giúp giảm thời gian thu gom và chi phí vận chuyển, đồng thời hỗ trợ mô hình đăng ký dịch vụ định kỳ.
6
Công cụ đánh giá dinh dưỡng - môi trường cho ngành chăn nuôi
Viện Nghiên cứu Thịt heo và Chăn nuôi Heo Pháp (IFIP) sẽ ra mắt Foodbasket7 tại triển lãm SPACE; đây là một công cụ trực tuyến miễn phí cho phép người dùng hiểu rõ hơn về những hệ quả từ các lựa chọn thực phẩm của mình. Người dùng có thể tạo một giỏ thực phẩm hàng tuần chỉ trong vài phút, và công cụ này sẽ cung cấp phần đánh giá trực quan, đơn giản dựa trên hai khía cạnh bổ trợ lẫn nhau: chất lượng dinh dưỡng của thực phẩm, thông qua việc đáp ứng 28 loại dưỡng chất thiết yếu (protein, vitamin, khoáng chất, axit béo) được xác định dựa trên hồ sơ người dùng (tuổi, giới tính và mức độ hoạt động thể chất); các tác động môi trường của giỏ thực phẩm, chẳng hạn như lượng khí thải nhà kính, mức tiêu thụ nước, diện tích đất sử dụng… Điểm đổi mới của nó nằm ở cách tiếp cận toàn diện, cho phép thực hiện suy luận ở quy mô của toàn bộ chế độ ăn thay vì dựa trên từng loại thực phẩm riêng lẻ. Đối với ngành chăn nuôi, Foodbasket7 cung cấp một khung phân tích khoa học cho phép đánh giá giá trị đóng góp của các sản phẩm từ động vật vào một chế độ ăn uống lành mạnh, đa dạng và bền vững, thông qua việc tích hợp yếu tố mật độ dinh dưỡng của thực phẩm.
TĂNG SANG
Theo Food & Agribusiness
NOVUS ra mắt nền tảng kỹ thuật số về nguyên liệu thức ăn chăn nuôi Công ty tiên phong trong lĩnh vực dinh dưỡng thông minh Novus vừa công bố ra mắt NOVUS® Raw Material Compendium một nền tảng kỹ thuật số được thiết kế, nhằm hỗ trợ các chiến lược phối trộn thức ăn chăn nuôi dựa trên dữ liệu và thông tin xác thực. Nền tảng này (có thể truy cập tại novusint.com/ rawmaterial) cung cấp cho các chuyên gia dinh dưỡng và người xây dựng công thức thức ăn một nguồn dữ liệu tập trung, giúp họ đánh giá sự biến động của nguyên liệu, so sánh hàm lượng dinh dưỡng từ các cơ sở dữ liệu uy tín, phân tích dữ liệu nội bộ về nguyên liệu và tìm hiểu các loại nguyên liệu thay thế. Bằng cách tích hợp nhiều nguồn dữ liệu vào một công cụ duy nhất, NOVUS đang góp phần đơn giản hóa một quy trình vốn thường phức tạp và tốn nhiều thời gian. Tiến sĩ Thú y Marisol Castillo, Giám đốc điều hành mảng giải pháp toàn cầu về heo của NOVUS cho biết, nền tảng kỹ thuật số này cung cấp thông tin chi tiết về thành phần dinh dưỡng của các loại nguyên liệu protein có nguồn gốc thực vật và động vật, chẳng hạn như khô nhân cọ, khô đậu tương, bã rượu khô (DDGS), bột lông vũ, bột cá và các loại khác. Dữ liệu về nguyên liệu được sử dụng dựa trên các nguồn tham chiếu uy tín toàn cầu, bao gồm Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (NRC), Hiệp hội Động vật học Pháp (AFZ), Viện Nghiên cứu Quốc gia Pháp về Nông nghiệp, Thực phẩm và Môi trường (INRAE), Quỹ Phát triển Dinh dưỡng Động vật Tây Ban Nha (FEDNA), Cục Thức ăn Chăn nuôi Trung ương (CVB) và Bảng dữ liệu dinh dưỡng cho gia cầm và heo của Brazil. Sau khi tạo tài khoản tại novusint.com/rawmaterial, người dùng có thể chọn các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và dưỡng chất, so sánh các chỉ số giữa các bộ dữ liệu, cũng như xuất biểu đồ và bảng so sánh để phục vụ việc phân tích chuyên sâu. Công cụ này cũng cho phép người dùng tải lên bộ dữ liệu nguyên liệu của riêng mình để so sánh với các dữ liệu tham chiếu có sẵn trong một môi trường riêng tư và bảo mật. Ông Castillo chia sẻ: “Việc tập hợp các bộ dữ liệu này tại một nơi giúp hoạt động đánh giá nguyên liệu trở nên nhất quán hơn và hỗ trợ tối ưu hóa quy trình đưa ra quyết định về công thức phối trộn. Giải pháp này giúp các chuyên gia dinh dưỡng làm việc hiệu quả hơn, đồng thời vẫn đảm bảo quyền sở hữu và tính bảo mật đối với dữ liệu của chính họ”.
NOVUS
54
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
ROBOT AI TỐI ƯU HÓA HIỆU QUẢ TIÊM VACCINE KHÔNG KIM TRÊN HEO Việc tích hợp công nghệ robot và trí tuệ nhân tạo (AI) vào lĩnh vực chăn nuôi, nhằm nâng cao hiệu quả và giảm sự phụ thuộc vào lao động thủ công ngày một được mở rộng. Mới đây, các nhà khoa học Trung Quốc đã phát triển và giới thiệu robot ứng dụng AI có khả năng tự động xác định vị trí tiêm và tiêm vaccine không kim cho heo với tỷ lệ thành công 93,3%. Công nghệ này được kỳ vọng góp phần giảm nguy cơ lây nhiễm chéo, tiết kiệm lao động và thúc đẩy quá trình tự động hóa trong các trang trại chăn nuôi quy mô lớn. Tiêm phòng là một công việc thiết yếu nhưng đòi hỏi nhiều nguồn lực trong chăn nuôi heo, đặc biệt là đối với heo giống - nhóm cần được tiêm nhiều lần trong suốt chu kỳ sản xuất. Theo phương thức truyền thống, công việc này phụ thuộc vào nhân công, dẫn đến các vấn đề như gãy kim, bỏ sót mũi tiêm và tiêm sai vị trí. Một nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Nông lâm Bắc Kinh đã phát triển robot tiêm vaccine không kim cho heo sử dụng AI và thị giác máy tính. Thiết bị có khả năng tự động nhận diện vị trí gốc đuôi của vật nuôi, theo dõi chuyển động theo thời gian thực và thực hiện tiêm vaccine mà không cần sử
dụng kim tiêm truyền thống. Robot này sử dụng cánh tay máy 6 trục cùng công nghệ AI tiên tiến để thực hiện tiêm vaccine ngay khi heo đang ăn, qua đó giúp giảm bớt căng thẳng cho vật nuôi trong quá trình này. Quy trình tiêm phòng trong chăn nuôi heo truyền thống thường tốn nhiều công sức và dễ xảy ra sai sót; robot này được thiết kế để giải quyết các vấn đề đó nhờ khả năng tự động hóa và độ chính xác cao. Theo kết quả thử nghiệm tại một trang trại ở thành phố Tần Hoàng Đảo, tỉnh Hà Bắc, robot đạt tỷ lệ tiêm thành công 93,3%, trong đó 95,2% mũi tiêm được thực hiện theo phương vuông góc với vị trí mục tiêu. Thời gian trung bình để hoàn thành một lần tiêm chỉ khoảng 7,9 s/con. Hệ thống sử dụng thuật toán nhận diện gốc đuôi dựa trên mô hình AI cải tiến YOLOv8n. Thuật toán đạt độ chính xác
95,8%, tỷ lệ thu hồi 93,5% và chỉ số mAP đạt 97,1%. Robot kết hợp camera chiều sâu, cánh tay robot 6 trục và nền tảng điều hướng tự động để tính toán chính xác vị trí cũng như góc tiêm phù hợp ngay cả khi vật nuôi di chuyển. Khác với phương pháp tiêm truyền thống, công nghệ không kim sử dụng áp lực cao để đưa vaccine xuyên qua da. Giải pháp này giúp loại bỏ nguy cơ gãy kim, giảm lây nhiễm chéo giữa các cá thể và hạn chế căng thẳng cho vật nuôi trong quá trình tiêm phòng. Đây là những vấn đề đang được ngành chăn nuôi quy mô lớn đặc biệt quan tâm khi yêu cầu về an toàn sinh học ngày càng cao. Nhóm nghiên cứu cho biết, robot được phát triển nhằm giải quyết tình trạng thiếu lao động tại các trang trại hiện đại, đồng thời nâng cao tính đồng nhất trong quy trình tiêm phòng. Hệ thống điều khiển tích hợp
KHOA HỌC KỸ THUẬT
55
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Robot Operating System, cho phép phối hợp giữa điều hướng, nhận diện hình ảnh và điều khiển cánh tay robot để thực hiện quy trình khép kín từ xác định vị trí đến hoàn thành mũi tiêm. Trước đó, nguyên mẫu robot đã trải qua hơn 500 lần thử nghiệm tại trang trại để tối ưu khả năng nhận diện, điều hướng và độ chính xác khi tiêm. Các nhà nghiên cứu nhận định công nghệ này có tiềm năng hỗ trợ các trang trại chăn nuôi heo quy mô lớn giảm phụ thuộc vào lao động thủ công, nâng cao hiệu quả phòng bệnh và thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình chăn nuôi thông minh. Ông Li Bin, đại diện Trung tâm Nghiên cứu Thiết bị Thông minh nhận định, công nghệ này là một bước tiến hướng tới mô hình chăn nuôi heo thông minh và tự động hóa hơn. Sáng kiến này phản ánh nỗ lực của Trung Quốc trong việc tích hợp công nghệ robot và AI vào lĩnh vực chăn nuôi, nhằm nâng cao hiệu quả và giảm sự phụ thuộc vào lao động thủ công. Trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu về thịt heo vẫn ở mức cao, những đổi mới như vậy có thể đóng vai trò then chốt trong việc đáp ứng nhu cầu sản xuất, đồng thời giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực và cải thiện phúc lợi động vật. Bước đột phá này có thể báo hiệu một sự chuyển dịch rộng rãi hơn sang tự động hóa trong chăn nuôi, với những ứng dụng tiềm năng vượt xa phạm vi tiêm phòng. Trước mắt, tỷ lệ thành công hơn 93% của robot này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nỗ lực hướng tới các phương thức canh tác thông minh và bền vững hơn.
ĐĂNG KHÔI
Nguồn: South China Morning Post
➢Thị trường thiết bị tiêm vaccine không dùng kim cho động vật toàn cầu được định giá ở mức 0,8 tỷ USD vào năm 2025 và dự kiến sẽ đạt 1,7 tỷ USD vào năm 2034, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) ổn định là 8,2% trong suốt giai đoạn dự báo từ năm 2026 đến năm 2034.
Hệ thống X-quang dựa trên AI hỗ trợ chuẩn đoán độ chắc khỏe của xương gà Các nhà nghiên cứu tại Viện Roslin đã giới thiệu một công cụ hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo (AI), sử dụng hình ảnh chụp X-quang để dự đoán độ chắc khỏe của xương chân ở gà. Công nghệ này mang lại phương pháp nhanh chóng và có khả năng mở rộng quy mô hơn để đánh giá sức khỏe bộ xương trong các chương trình chọn giống gia cầm. Các nhà nghiên cứu đã tìm cách đánh giá vấn đề tổn thương xương, đặc biệt là ở gà mái đẻ. Tình trạng gãy xương có thể xảy ra do áp lực thể chất từ quá trình sản xuất trứng và sự di chuyển trong hệ thống chuồng trại; điều này cho thấy sức khỏe bộ xương là yếu tố then chốt trong công tác đảm bảo phúc lợi cho vật nuôi. Công cụ này mang lại bước cải tiến so với các phương pháp hiện hành vốn chậm và tốn nhiều công sức, thường dựa vào việc phân tích thủ công hình ảnh X-quang hoặc kiểm tra trực tiếp xương của gia cầm sau khi đã giết mổ. Công cụ này được xây dựng dựa trên các hệ thống AI phổ biến đã được tùy chỉnh cho nhiệm vụ này, đồng thời có thể vận hành trên cơ sở hạ tầng máy tính tiêu chuẩn, giúp việc triển khai trong các chương trình chọn giống trở nên thuận tiện hơn. Ông Ian Dunn, Giáo sư chuyên ngành Sinh học Gia cầm tại Viện Roslin, cho biết: “Việc ứng dụng công nghệ theo những phương thức sáng tạo để giải quyết các vấn đề về phúc lợi trong ngành chăn nuôi gia cầm sẽ mở ra cơ hội tiến bộ ở những lĩnh vực mà trước đây việc xử lý gặp nhiều khó khăn hoặc không khả thi”. Tanmay Debnath, nghiên cứu sinh kiêm tác giả chính của công trình tại Viện Roslin, chia sẻ: “Chúng tôi đã chứng minh rằng có thể sử dụng hình ảnh X-quang để xác định chỉ số độ chắc khỏe của xương với độ hữu ích tương đương các phương pháp truyền thống. Xét về khía cạnh di truyền, kết quả thu được rất khả quan; những cá thể gia cầm được AI đánh giá là có xương chắc khỏe hơn cũng chính là nhóm mà chúng tôi sẽ lựa chọn nếu áp dụng các phương pháp kiểm tra truyền thống”. Mô hình AI này hoạt động bằng cách xác định xương chày của gà từ hình ảnh chụp X-quang. Sau đó, phân tích các đặc điểm trên hình ảnh để dự đoán độ chắc khỏe của xương. Theo các nhà nghiên cứu, công cụ
này được phát triển dựa trên hơn 900 hình ảnh X-quang cho thấy sự tương quan chặt chẽ với kết quả đo độ chắc khỏe của xương bằng các phương pháp kiểm tra thủ công tiêu chuẩn. Nó cũng mang lại hiệu quả vượt trội so với việc đánh giá thủ công qua hình ảnh X-quang, đồng thời tiết kiệm đáng kể thời gian và công sức. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các chỉ số đo lường thu được từ công cụ AI này tương thích chặt chẽ với các yếu tố di truyền quy định độ chắc khỏe của xương; điều này có nghĩa là công cụ này có thể được sử dụng để xác định những cá thể chim hoặc dòng giống có xương chắc khỏe hơn, từ đó hỗ trợ việc đưa ra các quyết định trong công tác nhân giống. Do phương pháp này chỉ sử dụng dữ liệu hình ảnh, các dự đoán có thể được đưa ra nhanh chóng sau khi hệ thống đã được huấn luyện, mở ra tiềm năng đánh giá độ chắc khỏe của xương trên quy mô lớn. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, ngành chăn nuôi gia cầm thường dựa vào việc đánh giá số lượng lớn gia cầm để đưa ra quyết định chọn giống, tuy nhiên những hạn chế thực tế khiến việc đo lường thường xuyên một số đặc điểm quan trọng trở nên khó khăn. Bằng cách cung cấp phương pháp đánh giá độ chắc khỏe của xương nhanh chóng, không xâm lấn và có khả năng triển khai trên quy mô lớn, công cụ này có thể giúp khắc phục những hạn chế nêu trên và hỗ trợ nỗ lực giảm thiểu tình trạng gãy xương ở các đàn gia cầm thương phẩm. “Việc ứng dụng công nghệ theo những phương thức mới mẻ để giải quyết các vấn đề về phúc lợi trong ngành chăn nuôi gia cầm sẽ mở ra cơ hội đạt được tiến bộ ở những lĩnh vực mà trước đây việc xử lý được coi là bất khả thi”, ông Ian Dunn, chia sẻ thêm.
AN AN
Theo The University of Edinburgh
56
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Lựa chọn dạng lysine tổng hợp phù hợp trong thức ăn chăn nuôi heo Lysine là axit amin thiết yếu đầu tiên cần được cân đối trong khẩu phần của heo, đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng, tích lũy protein và hiệu quả sử dụng thức ăn. Hiện nay, L-Lysine HCl và L-Lysine Sulfate là hai dạng lysine tổng hợp được sử dụng phổ biến trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Mỗi sản phẩm có những đặc điểm riêng về thành phần, giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế, đòi hỏi người xây dựng khẩu phần cần lựa chọn phù hợp với mục tiêu sản xuất. Lysine là axit amin thiết yếu đầu tiên hạn chế trong khẩu phần của heo sử dụng nguyên liệu chính là ngô và khô đậu tương. Do cơ thể heo không thể tự tổng hợp lysine với lượng đáp ứng nhu cầu sinh trưởng, việc bổ sung lysine tổng hợp đã trở thành giải pháp quan trọng nhằm cân đối axit amin, giảm hàm lượng protein thô trong khẩu phần và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc cân bằng lysine theo mô hình protein lý tưởng (Ideal Protein) giúp cải thiện tốc độ tăng trọng, giảm hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), tăng tỷ lệ nạc và giảm lượng nitơ bài thải ra môi trường.
L-Lysine HCl - Nguồn lysine tinh khiết cao
L-Lysine HCl được sản xuất bằng công nghệ lên men vi sinh, sau đó tinh chế để đạt hàm lượng lysine rất cao. Hàm lượng lysine trong sản phẩm thường đạt khoảng 78 - 80% (tính theo lysine hoạt tính), tương đương khoảng 98,5% L-Lysine HCl. Ưu điểm lớn nhất của dạng HCl là nồng độ lysine cao, giúp nhà máy thức ăn chăn nuôi dễ dàng xây dựng công thức với độ chính xác lớn, đặc biệt đối với các khẩu phần yêu cầu cân đối axit amin nghiêm ngặt như thức ăn cho heo con sau cai sữa, heo giống và heo nuôi theo mô hình protein thấp. Do chứa rất ít tạp chất, L-Lysine HCl có
độ ổn định cao trong quá trình bảo quản và ít ảnh hưởng đến đặc tính vật lý của thức ăn. Đây cũng là lý do dạng HCl được sử dụng rộng rãi tại các nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp quy mô lớn. Tuy nhiên, quá trình tinh chế làm mất gần như toàn bộ các thành phần dinh dưỡng khác của môi trường lên men. Vì vậy, ngoài lysine, sản phẩm gần như không cung cấp thêm protein, năng lượng hay các chất dinh dưỡng có giá trị khác.
L-Lysine Sulfate - Giải pháp dinh dưỡng toàn diện hơn
Khác với dạng HCl, L-Lysine Sulfate được sản xuất bằng cách giữ lại phần lớn sinh khối vi sinh sau quá trình lên men. Vì vậy, ngoài khoảng 55% lysine, sản phẩm còn chứa protein thô, phốt pho, các axit amin khác, vitamin nhóm B và một số khoáng vi lượng. Nhờ thành phần dinh dưỡng đa dạng, L-Lysine Sulfate không chỉ bổ sung lysine mà còn đóng góp thêm giá trị dinh dưỡng cho khẩu phần. Nhiều nghiên cứu cho thấy sinh khối vi sinh trong sản phẩm có khả năng cải thiện khả năng tiêu hóa và hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột ở vật nuôi. Một ưu điểm đáng chú ý khác là L-Lysine Sulfate không chứa ion clo như dạng HCl. Điều này giúp hạn chế nguy cơ làm tăng cân bằng điện giải trong khẩu phần khi sử
dụng với tỷ lệ cao, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng hoặc khẩu phần đã chứa nhiều muối khoáng. Bên cạnh đó, giá thành tính trên mỗi kg sản phẩm thường thấp hơn so với L-Lysine HCl, giúp nhiều nhà máy thức ăn tối ưu chi phí nguyên liệu khi xây dựng công thức. Tuy nhiên, do hàm lượng lysine hoạt tính thấp hơn nên lượng bổ sung vào khẩu phần sẽ nhiều hơn để đạt cùng mức lysine tiêu chuẩn. Điều này đòi hỏi chuyên gia dinh dưỡng phải tính toán chính xác nhằm tránh làm thay đổi tỷ lệ phối trộn của các nguyên liệu khác.
So sánh hiệu quả sử dụng trong khẩu phần heo
Về mặt sinh học, nhiều nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Mỹ (NRC), Liên đoàn các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi châu Âu (FEFAC) và các trường đại học cho thấy, nếu được cân đối theo đúng lượng lysine tiêu hóa hồi tràng chuẩn hóa (SID Lysine), cả L-Lysine HCl và L-Lysine Sulfate đều mang lại tốc độ tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ thịt nạc tương đương. Do đó, hiệu quả sử dụng không phụ thuộc vào dạng lysine mà phụ thuộc vào cách xây dựng công thức khẩu phần và chất lượng sản phẩm của nhà sản xuất. Đối với heo con sau cai sữa, nơi yêu cầu
KHOA HỌC KỸ THUẬT
57
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
mật độ dinh dưỡng cao và công thức chính xác, L-Lysine HCl thường được ưu tiên nhờ hàm lượng lysine cao và khả năng phối trộn linh hoạt. Ở giai đoạn heo sinh trưởng và heo vỗ béo, L-Lysine Sulfate lại trở thành lựa chọn hấp dẫn khi có thể cung cấp đồng thời lysine và một phần protein từ sinh khối lên men, góp phần giảm giá thành khẩu phần mà vẫn duy trì năng suất.
Camera thông minh hé lộ cách gà thịt phản ứng với tình trạng sốc nhiệt
Một nghiên cứu mới sử dụng công nghệ thị giác máy tính tiên tiến đã mang lại cái nhìn mới về sự thay đổi hành vi của gà thịt trong suốt chu kỳ chăn nuôi; qua đó cung cấp cho người chăn nuôi các công cụ mới để giám sát phúc lợi vật nuôi, phát hiện sớm các vấn đề và quản lý tình Tiêu chí lựa chọn trong thực tế Trong bối cảnh giá nguyên liệu thức ăn trạng sốc nhiệt hiệu quả hơn. liên tục biến động, việc lựa chọn dạng lysine không nên chỉ dựa trên giá bán của sản phẩm mà cần đánh giá trên cơ sở chi phí của mỗi đơn vị lysine tiêu hóa thực sự cung cấp cho vật nuôi. Đối với các nhà máy sản xuất thức ăn quy mô lớn, sử dụng phần mềm cân bằng khẩu phần theo mô hình protein lý tưởng sẽ giúp xác định chính xác hiệu quả kinh tế giữa hai dạng lysine trong từng công thức cụ thể. Ngoài yếu tố giá thành, doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến độ ổn định chất lượng, uy tín của nhà cung cấp, khả năng truy xuất nguồn gốc, độ đồng đều giữa các lô sản xuất và các chỉ tiêu về an toàn như kim loại nặng, độc tố và vi sinh vật.
Khuyến nghị lựa chọn
Trong điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện nay, không có dạng lysine nào được xem là tốt nhất trong mọi trường hợp. Việc lựa chọn cần dựa trên mục tiêu dinh dưỡng, đối tượng vật nuôi và hiệu quả kinh tế của từng công thức. L-Lysine HCl phù hợp với các khẩu phần yêu cầu hàm lượng lysine cao, độ chính xác lớn và mật độ dinh dưỡng cao, đặc biệt đối với thức ăn cho heo con và heo giống. Trong khi đó, L-Lysine Sulfate là giải pháp kinh tế cho thức ăn heo sinh trưởng và heo thịt nhờ khả năng cung cấp thêm protein và các dưỡng chất từ sinh khối lên men. Xu hướng hiện nay của nhiều nhà máy thức ăn chăn nuôi là không sử dụng cố định một dạng lysine mà linh hoạt lựa chọn hoặc kết hợp cả hai dạng, dựa trên giá nguyên liệu, yêu cầu dinh dưỡng và mục tiêu tối ưu chi phí. Đây được xem là giải pháp giúp vừa đảm bảo hiệu quả tăng trưởng của đàn heo, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất trong bối cảnh ngành chăn nuôi ngày càng chú trọng đến tính bền vững và khả năng cạnh tranh.
HOÀNG NGÂN
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi 1.120 con gà thịt giống Ross 308 qua 4 chu kỳ sản xuất, sử dụng hệ thống giám sát đa camera có khả năng theo dõi chuyển động của gà trong độ tuổi từ 8 đến 40 ngày. Công nghệ này tự động đo lường mức độ hoạt động cũng như hành vi ăn và uống, mang lại cái nhìn chưa từng có về sự thay đổi hành vi của gà thịt trong quá trình sinh trưởng. Hệ thống sử dụng 4 camera kết hợp với các thuật toán trí tuệ nhân tạo để tự động theo dõi đàn gia cầm. Các nhà nghiên cứu đã đạt được độ chính xác cao trong việc theo dõi, bất chấp sự thay đổi đáng kể về kích thước của gia cầm trong suốt giai đoạn sinh trưởng kéo dài 6 tuần. Khác với các phương pháp đánh giá phúc lợi truyền thống vốn phụ thuộc vào việc quan sát thủ công định kỳ, các hệ thống tự động có thể giám sát liên tục mà không gây xáo trộn cho đàn gia cầm. Điều này mở ra cơ hội phát hiện những thay đổi bất thường về hành vi từ rất sớm, trước khi các vấn đề này kịp biểu hiện rõ rệt qua hiệu suất chăn nuôi hay tỷ lệ tử vong.
Độ tuổi có tác động lớn đến mức độ hoạt động
Khi gà thịt lớn lên, mức độ di chuyển tổng thể giảm đi đáng kể. Các hoạt động cường độ cao, chẳng hạn như chạy, bắt đầu giảm từ khi gà mới 15 ngày tuổi và giảm nhanh hơn so với các chuyển động cường độ thấp. Đến khoảng 30 ngày tuổi, mức độ hoạt động ở tất cả các nhóm hành vi đều thấp hơn rõ rệt. Đối với người chăn nuôi, phát hiện này rất quan trọng vì mức độ vận động có thể đóng vai trò như một tín hiệu cảnh báo sớm. Những sai lệch đáng kể so với mô hình vận động dự kiến có thể là dấu hiệu của các vấn đề mới phát sinh liên quan đến phúc lợi động vật, chẳng hạn như chứng què, các rối loạn về chân hoặc các vấn đề trong quy trình quản lý chăn nuôi.
Căng thẳng nhiệt làm thay đổi hành vi của gia cầm
Nghiên cứu cũng mang lại những hiểu biết giá trị về phản ứng của gia cầm đối với tình trạng căng thẳng nhiệt. Trong những khoảng thời gian nhiệt độ chuồng nuôi đạt mức xấp xỉ 29 - 30°C, gia cầm dành nhiều thời gian hơn đáng kể ở khu vực máng uống và ít thời gian hơn ở khu vực máng ăn. Sự thay đổi hành vi này mở ra một cơ hội thực tiễn cho người chăn nuôi gia cầm. Việc theo dõi tần suất sử dụng máng uống và máng ăn có thể cung cấp chỉ dấu nhạy bén hơn về tình trạng căng thẳng nhiệt so với việc chỉ dựa vào mức độ hoạt động. Hành vi uống nước gia tăng đột ngột kết hợp với việc giảm tần suất đến máng ăn có thể đóng vai trò là tín hiệu cảnh báo sớm cho thấy gia cầm đang gặp khó khăn trong việc thích nghi với nhiệt độ tăng cao. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hành vi của gia cầm tuân theo các nhịp sinh học hàng ngày rõ rệt. Mức độ hoạt động thường đạt đỉnh điểm vào buổi sáng và giữa ngày, sau đó giảm dần. Trong các giai đoạn chịu áp lực nhiệt, hoạt động ăn uống bị hạn chế khi nhiệt độ còn cao, nhưng lại gia tăng trở lại vào buổi tối khi điều kiện môi trường trở lại bình thường. Kết quả này có lẽ sẽ nhận được sự đồng tình từ những người chăn nuôi, những người thường quan sát thấy gia cầm có xu hướng bù đắp lượng thức ăn bị thiếu hụt vào ban ngày bằng cách ăn nhiều hơn vào thời điểm muộn hơn trong ngày. Những phát hiện này khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì kiểm soát môi trường hiệu quả và tạo điều kiện cho gia cầm phục hồi sau các giai đoạn chịu áp lực nhiệt.
TONY MCDOUGAL
58
KHOA HỌC KỸ THUẬT
Những vấn đề đáng quan tâm CỦA NGÀNH THỨC ĂN CHĂN NUÔI NĂM 2026 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
Mới đây, Alltech đã phát hành báo cáo Báo cáo Triển vọng Nông - Thực phẩm năm 2026. Báo cáo làm nổi bật các xu hướng chính trong ngành thức ăn chăn nuôi đang định hình tương lai của lĩnh vực này. Cùng điểm lại những vấn đề chính được đề cập tại bản báo cáo lần này. 1. Liệu sự tăng trưởng về sản lượng 2. Dịch bệnh có trở thành rủi ro chiến thức ăn chăn nuôi toàn cầu có thực sự lược lớn nhất trong ngành sản xuất là “thực tế”? protein toàn cầu? Báo cáo ghi nhận mức tăng 2,9% về sản lượng thức ăn chăn nuôi toàn cầu; tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: bao nhiêu phần trăm trong mức tăng trưởng đó phản ánh nhu cầu thực sự đối với đạm động vật, thay vì chỉ là kết quả của quá trình công nghiệp hóa và việc cải thiện phương pháp đo lường sản lượng thức ăn? Một phần đáng kể mức tăng được ghi nhận trong năm 2025 bắt nguồn từ việc Trung Quốc chuyển đổi từ hình thức tự phối trộn thức ăn tại trang trại sang sử dụng thức ăn chăn nuôi thương mại; sự thay đổi này đã làm tăng số liệu về tổng sản lượng mà không nhất thiết đi kèm với sự gia tăng thực tế về mức tiêu thụ.
Dịch bệnh trên động vật không còn là sự gián đoạn nhất thời mà đã trở thành một yếu tố thường trực trong hoạt động sản xuất protein hiện đại. Các loại dịch bệnh như cúm gia cầm độc lực cao (HPAI), dịch tả heo châu Phi (ASF) và ruồi giòi Tân Thế giới (NWS) đang tác động mạnh mẽ đến luồng thương mại, biên lợi nhuận và các khoản đầu tư vào an toàn sinh học trên toàn cầu. Hiện nay, những vấn đề then chốt đối với ngành bao gồm: liệu các hệ thống an toàn sinh học hiện tại có còn đáp ứng được yêu cầu hay không, tốc độ mở rộng của các thỏa thuận thương mại dựa trên phân vùng dịch tễ, và khả năng duy trì xuất khẩu của các quốc gia trong thời gian xảy ra dịch bệnh. Thỏa thuận phân vùng giữa Canada và Philippines đặc biệt có khả năng trở thành tâm điểm trong các cuộc thảo luận về thương mại thịt heo.
Hướng tới năm 2026 và xa hơn nữa, các nhà sản xuất sở hữu cơ sở hạ tầng an toàn sinh học tiên tiến nhiều khả năng sẽ duy trì được biên lợi nhuận ngày càng tăng và lợi thế cạnh tranh so với những đơn vị không nhận thức đúng mức về mối đe dọa thường trực từ dịch bệnh.
3. Thịt gia cầm có đang trở thành nguồn cung cấp protein chủ đạo trên toàn cầu?
Thịt gia cầm tiếp tục dẫn đầu đà tăng trưởng toàn cầu trong số các nguồn protein nhờ giá cả phải chăng và hiệu quả sản xuất
KHOA HỌC KỸ THUẬT
59
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
cao. Khoảng cách ngày càng lớn giữa thịt gia cầm và thịt đỏ báo hiệu một sự thay đổi mang tính cấu trúc, có thể kéo dài trong dài hạn, đối với thói quen tiêu thụ protein toàn cầu. Trong bối cảnh áp lực lạm phát vẫn tiếp diễn, thịt gia cầm ngày càng được xem là nguồn protein dễ tiếp cận nhất đối với người tiêu dùng, đặc biệt là tại các thị trường mới nổi. Các nhận định từ giới chuyên môn trong ngành thường xếp thịt gia cầm và thủy sản vào nhóm những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhất trên toàn cầu.
4. Bắc Mỹ có đang bước vào chu kỳ sụt giảm dài hạn về quy mô đàn gia súc?
Đây có thể là một trong những câu hỏi chiến lược quan trọng nhất đối với thị trường ngũ cốc, các trại vỗ béo và doanh nghiệp chế biến thịt bò trong những năm tới, khi quy mô đàn gia súc tại Bắc Mỹ vẫn ở mức thấp kỷ lục, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ xảy ra một chu kỳ sụt giảm kéo dài. Thời điểm tái đàn, sự phụ thuộc của khu vực vào nguồn hàng nhập khẩu, cũng như mức độ dễ bị tổn thương trước dịch bệnh và/hoặc các gián đoạn thương mại sẽ là những yếu tố then chốt định hình ngành công nghiệp thịt bò và thị trường ngũ cốc trong giai đoạn 3 đến 5 năm tới.
5. Mỹ Latinh có thể duy trì vai trò là “giỏ cung cấp protein” của thế giới trước những mối đe dọa về địa chính trị và sinh học?
Mỹ Latinh vẫn tiếp tục là khu vực dẫn đầu toàn cầu về xuất khẩu gia cầm, thịt heo và thủy sản. Tuy nhiên, khu vực này cũng phải đối mặt với những thách thức và rủi ro đáng kể, bao gồm áp lực dịch bệnh (như HPAI và NWS), bất ổn địa chính trị, các rào cản thuế quan, biến động thời tiết và sự phụ thuộc vào xuất khẩu - tất cả đều có nguy cơ gây ra gián đoạn. Câu hỏi then chốt đặt ra là liệu Mỹ Latinh có thể duy trì vị thế dẫn đầu về tăng trưởng trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng bị phân mảnh, cũng như liệu kỷ nguyên “tăng trưởng dễ dàng” có đang dần khép lại hay không. Chủ đề về tương lai của ngành protein tại Mỹ Latinh dự kiến sẽ là tâm điểm trong các cuộc thảo luận giữa các nhà xuất khẩu, các công ty thức ăn chăn nuôi đa quốc gia và các doanh nghiệp chế biến protein.
từ tăng trưởng thông qua mở rộng đàn sang tăng trưởng thông qua năng suất và hiệu quả. Các công nghệ như dinh dưỡng chính xác, tối ưu hóa sức khỏe đường ruột và quản lý chăn nuôi dựa trên trí tuệ nhân tạo đang trở thành yếu tố then chốt để cải thiện hiệu suất. Sự chuyển đổi này có tác động lớn đến toàn bộ chuỗi giá trị, đặc biệt là đối với phụ gia thức ăn chăn nuôi và phối trộn lại, công nghệ sinh học và các giải pháp nông nghiệp kỹ thuật số. Sẽ rất thú vị để xem những công nghệ mới nào sẽ thúc đẩy những bước tiến hiệu quả tiếp theo và nếu chúng tạo ra tác động đáng kể, những nhà đổi mới tạo ra và áp dụng những công nghệ đó sẽ nổi lên dẫn đầu.
7. Liệu các quy định về phát triển bền vững có làm chậm sự phát triển của châu Âu một cách vĩnh viễn?
Châu Âu vẫn là một thị trường kiên cường nhưng bị hạn chế, đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ các quy định về môi trường, rủi ro dịch bệnh và các mục tiêu phát triển bền vững. Các chính sách nghiêm ngặt hơn về phát thải carbon và metan có thể định hình lại các ngành chăn nuôi gia súc nhai lại và có thể chuyển sản xuất sang các khu vực có chi phí thấp hơn với ít ràng buộc về quy định hơn. Thách thức chính là liệu châu Âu có thể duy trì khả năng cạnh tranh toàn cầu trong khuôn khổ đang phát triển này hay không. Điều này sẽ đặc biệt ảnh hưởng đến các nhà sản xuất sữa và thịt bò.
với cơ cấu chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi trên toàn thế giới. Những gián đoạn liên tục, bao gồm sự bất ổn trong vận tải biển, xung đột thương mại, biến động cước phí vận chuyển và sự phân mảnh khu vực cho thấy tình trạng bất ổn của chuỗi cung ứng đang dần trở thành “trạng thái bình thường mới”. Để ứng phó với tình hình này, các nhà sản xuất và doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi nhiều khả năng sẽ tiếp tục tái cấu trúc chiến lược tìm kiếm nguồn cung và nội địa hóa chuỗi cung ứng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các thị trường phụ thuộc vào nhập khẩu tại khu vực Trung Đông và Châu Á - Thái Bình Dương.
8. Ngành thức ăn cho thú cưng có đang chuyển từ giai đoạn tăng trưởng bùng nổ sang giai đoạn bão hòa? 10. Những khu vực nào sẽ là tâm điểm Trong năm 2025, sản lượng thức ăn cho tiếp theo cho sự tăng trưởng mạnh mẽ thú cưng toàn cầu chỉ tăng ở mức khiêm của ngành thức ăn chăn nuôi? tốn là 2,4%, cho thấy ngành này có thể đang chuyển mình từ giai đoạn mở rộng nhanh chóng sang giai đoạn tăng trưởng ổn định hơn. Mặc dù, tốc độ tăng trưởng về sản lượng đang chậm lại, xu hướng cao cấp hóa sản phẩm dự kiến vẫn sẽ tiếp tục gia tăng. Các yếu tố đặc thù theo khu vực, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng chậm hơn tại Bắc Mỹ cùng sự thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng (bao gồm cả xu hướng nuôi các giống mèo nhỏ và các loại thú cưng khác) cũng có thể tác động đến nhu cầu thức ăn trong dài hạn.
9. Những gián đoạn do bất ổn địa chính 6. Hiệu quả sử dụng thức ăn chăn nuôi trị có đang trở thành một khoản chi phí thường trực trong hoạt động sản hiện nay có quan trọng hơn việc mở xuất thức ăn chăn nuôi toàn cầu? rộng đàn gia súc? Các nhà sản xuất chăn nuôi đang chuyển
→ Một trong những thông điệp cốt lõi và mạnh mẽ nhất của Báo cáo Triển vọng Nông - Thực phẩm năm 2026 là: khả năng thích ứng chứ không chỉ là sự tăng trưởng mới là yếu tố định hình nên thành công hiện nay. Các nhà sản xuất cần phải xoay xở trước những biến động không ngừng, đồng thời bảo vệ biên lợi nhuận thông qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động, kiểm soát chi phí và thực hiện các khoản đầu tư mang tính chiến lược.
Các rủi ro địa chính trị ngày càng gắn liền
Châu Phi đang nổi lên như một trong những khu vực có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất; sản lượng thức ăn chăn nuôi tại đây dự kiến tăng 11,5% trong năm 2025 nhờ quá trình thương mại hóa và việc ngày càng nhiều nơi áp dụng sử dụng thức ăn hỗn hợp. Châu Phi mang lại cơ hội tăng trưởng dài hạn đầy hứa hẹn, mặc dù vẫn còn đó những thách thức về cơ sở hạ tầng, biến động tiền tệ và rủi ro đầu tư. Nếu giải quyết được các vấn đề này, đây có thể trở thành điểm đến thu hút các công ty đa quốc gia đẩy mạnh đầu tư. Việc xác định các trung tâm sản xuất nguồn đạm trọng điểm trong tương lai tại châu Phi sẽ đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển này.
TĂNG SANG Theo Alltech
60 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
61 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
62 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
63 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026
64 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 112 - 8/2026