









![]()











CƠ QUAN CHỦ QUẢN
Hiệp hội Gia cầm Việt Nam
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP
TS. Nguyễn Thanh Sơn TS. Nguyễn Quý Khiêm Nhà báo Dương Xuân Hùng Nhà báo Đỗ Huy Hoàn
Thư ký tòa soạn Nguyễn Chi
TỔNG BIÊN TẬP
TS. Nguyễn Thanh Sơn
TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP
Nhà báo Đỗ Huy Hoàn
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành
CỘNG TÁC NỘI DUNG Thu Hồng; Vũ Mưa; Kim Tiến; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Thùy Khánh; Sao Mai; Quỳnh Nga...
MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn
KỸ THUẬT VI TÍNH: Sao Mai
TÒA SOẠN
P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KDT An Hưng, phường Hà Đông, Hà Nội. Điện thoại: 0243 77 11 756; Email: nguoichannuoivn@gmail.com Website: nguoichannuoi.vn
TRỊ SỰ Nguyễn Thanh Đức
GIẤY PHÉP XUẤT BẢN: 156/GP-XBĐS Khuôn khổ: 23,5 x 31 cm
Nơi in: Công ty TNHH MTV
Lê Quang Lộc (TP HCM)
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO:
Ms. Ánh: 0963 555 554
Ms. Ngọc: 098 999 1977
Ms. Na: 0978 233 492
Email: quangcaoncn@gmail.com
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO:
Ms. Ngọc Ánh: 0963 555 554
Email: phathanhtggc@mail.com
SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936
Tên tài khoản ngân hàng: TẠP CHÍ THẾ GIỚI GIA CẦM
Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
Chi nhánh Tràng An Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 012022001
Địa chỉ Ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội
Ấn phẩm sử dụng sản phẩm giấy thân thiện với môi trường.

Thưa quý vị bạn đọc!
Ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước những thách thức
mang tính bước ngoặt khi phải đồng thời đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Trong bối cảnh “chăn nuôi xanh” không còn là lựa
chọn mà trở thành xu hướng tất yếu, ngành chăn nuôi Việt Nam đang từng bước chuyển mình từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Đây chính là nền tảng để hình thành một nền chăn nuôi hiện đại, hiệu quả, thân thiện với môi trường và đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu trong những năm tới.
Một trong những điểm nổi bật trong quá trình chuyển dịch này là sự tham gia ngày càng sâu rộng của các doanh nghiệp vào chuỗi giá trị chăn nuôi. Các doanh nghiệp không chỉ đóng vai trò là nhà
đầu tư mà còn là hạt nhân liên kết, dẫn dắt các hộ chăn nuôi và hợp
tác xã tham gia vào chuỗi sản xuất khép kín. Mô hình 3F (FeedFarm- Food), quy trình khép kín từ thức ăn, trang trại đến thực phẩm bàn ăn đang nổi lên như một hướng đi và hiệu quả nhất hiện nay. Cùng với đó, các tập đoàn, thương hiệu lớn cũng mạnh dạn tiên phong đầu tư, nghiên cứu và đưa ra những giải pháp công nghệ hàng đầu ứng dụng vào sản xuất mang lại giá trị và lợi nhuận cao. Trong đó phải kể đến các giải pháp về vi sinh trong xử lý môi trường, công nghệ trong chọn tạo giống, hay bước tiến về dinh dưỡng vật nuôi…
Những yếu tố này cho thấy, ngành chăn nuôi vẫn được nhận định là mảnh đất màu mỡ, có sức hút lớn với các doanh nghiệp trong nước và thế giới; đây chính là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng ngành chăn nuôi.
Về tình hình sản xuất chăn nuôi 6 tháng đầu năm, bên cạnh dấu hiệu tích cực từ hoạt động xuất khẩu, với kim ngạch đạt 308 triệu USD (tăng 43,2% so cùng kỳ năm trước), thì diễn biến giá gia cầm nhất là giá trứng đang giảm sâu, đây là một trong những đợt suy giảm mạnh nhất của ngành trứng gia cầm kể từ sau giai đoạn khủng hoảng giá năm 2021 - 2022 khi xảy ra dịch COVID-19.
Trong ngắn hạn, người chăn nuôi vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực khi thị trường chưa tìm được điểm cân bằng mới giữa cung và cầu.
Không chỉ vậy, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi
trường, trong 5 tháng đầu năm nay lĩnh vực chăn nuôi nhập khẩu
2,2 tỷ USD tăng gần 30% so với cùng kỳ năm trước. Riêng nhóm
sản phẩm thịt và phụ phẩm ăn được dạng thịt đạt 910,5 triệu USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, giá heo hơi trong nước giảm sâu khiến người chăn nuôi đối diện nguy cơ thua lỗ.
Giải pháp được đưa ra trước thách thức này đó là ngành chăn nuôi
Việt Nam phải tiếp tục nâng cao chất lượng và năng suất để giảm giá thành. Để làm được điều này, cần có chiến lược đầu tư phát
triển chăn nuôi trang trại quy mô lớn, con giống tốt và khoa học
kỹ thuật.
Đây là những thông tin chính đã được cập nhật trong nội dung
ấn phẩm Người Chăn nuôi phát hành kỳ tháng 6 này, mời quý độc giả đón đọc!
Trân trọng!
Theo dòng thời sự
Công nghệ xanh mở hướng phát triển bền vững cho
nông nghiệp và thủy sản
Nhìn
Thông tin doanh nghiệp Hành trình đổi mới của Dabaco trong kỷ nguyên số 38
Thông tin doanh nghiệp
Aviagen Asia: Ngành gia cầm Việt Nam đang đứng


Dinh dưỡng Phân hủy độc tố DON bằng vật liệu nano và tia UV


Những người bạn đồng hành
Trong hành trình phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam luôn có sự đồng hành của đội ngũ những nhà báo, phóng viên. Không chỉ đưa tin, phản ánh sự kiện, lực lượng này còn là “cầu nối” giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nông dân. Nhân kỷ niệm 101 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, cùng Đặc san Người Chăn nuôi lắng nghe chia sẻ của các nhà báo, phóng viên xoay quanh câu chuyện làm nghề và xứ mệnh kết nối này.
VĂN BẢN CUỘC SỐNG
Hơn 16 năm gắn bó với nghề báo, điều khiến tôi cảm nhận rõ nhất mình thuộc về nghề chính là những khoảnh khắc nhận ra rằng thông tin mình chuyển tải đã góp phần tạo nên những thay đổi tích cực cho cộng đồng. Đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi, mỗi bài viết không chỉ đơn thuần phản ánh sự kiện mà còn là cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân.

Điều tôi trăn trở nhất hiện nay là môi trường truyền thông
đang thay đổi với tốc độ rất nhanh. Người làm báo phải cạnh tranh với vô vàn nguồn thông tin trên mạng xã hội, trong khi yêu cầu về tính chính xác, khách quan và trách nhiệm xã hội ngày càng cao. Tuy nhiên, chính những thách thức đó cũng là động lực để những người làm báo chân chính tiếp tục theo đuổi nghề, bởi xã hội luôn cần những thông tin được kiểm chứng, những góc nhìn có chiều sâu và những giá trị tích cực.
Tôi tin rằng báo chí chuyên ngành vẫn có một vai trò rất riêng và không thể thay thế. Không chỉ đồng hành cùng doanh nghiệp, người sản xuất và bà con nông dân, báo chí còn góp phần lan tỏa tri thức, phản biện chính sách và thúc đẩy sự phát triển bền vững của toàn ngành.
Tôi đến với ngành nông nghiệp, chăn nuôi cũng là một cái duyên, khi có cơ hội trải nghiệm và học tập thêm những kiến thức từ các
chuyên gia, nhà khoa học; từ việc đi
thực tế ở nhiều địa phương trong cả
nước, đến các vùng nuôi, gặp gỡ và
tiếp xúc với doanh nghiệp, bà con nông dân địa phương, được tiếp cận

các mô hình tiên tiến, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các sản phẩm chế biến xuất khẩu, các nhà chăn nuôi giỏi... Đối với tôi đó là những trải nghiệm vô cùng tuyệt vời mà tôi chưa bao giờ có được.
Nhân dịp 21/6 - Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, tôi xin gửi lời chào và lời cảm ơn trân trọng nhất đến các Quý cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đã tin tưởng, ủng hộ và đồng hành cùng với ấn phẩm Người Chăn nuôi trong suốt thời gian qua và trên con đường phía trước. Chúng tôi luôn mong muốn rằng sự tin tưởng và đồng hành của Quý vị là niềm vinh dự và động lực to lớn, tiếp sức cho chúng tôi trong vai trò, trách nhiệm của người làm báo cùng với ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững.
TỰ HÀO LÀ CẦU NỐI LAN TỎA GIÁ TRỊ NGÀNH CHĂN NUÔI - Nhà báo Ngọc Ánh
Với tôi, hạnh phúc của người làm báo, làm truyền thông không chỉ là ghi nhận những câu chuyện hay, phản ánh những giá trị tích cực của ngành, mà còn là được trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp, người chăn nuôi và cộng đồng, góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp vì sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi Việt Nam.
Mỗi chuyến công tác, mỗi hội thảo hay những lần gặp gỡ doanh nghiệp đều giúp tôi hiểu hơn về những nỗ lực đổi mới, sáng tạo của các đơn vị trong ngành. Đó cũng là cơ hội để tôi lắng nghe, chia sẻ và góp phần lan tỏa những câu chuyện, mô hình hiệu quả, công nghệ tiên tiến đến với cộng đồng người chăn nuôi và độc giả trên cả nước.
Tôi luôn trân trọng sự tin tưởng, đồng hành của các doanh nghiệp, đối tác đã lựa chọn Tạp chí Người Chăn Nuôi làm kênh kết nối thông tin. Chính sự tin tưởng ấy là động lực để tôi không ngừng nỗ lực, hoàn thành tốt vai trò của mình, góp phần đưa những giá trị tích cực đến gần hơn với cộng đồng.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Lãnh đạo Tạp chí cùng các anh chị em đồng nghiệp đã luôn hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi được học hỏi, trải nghiệm và trưởng thành hơn trong công việc.
Làm truyền thông trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi có thể không phải là công việc hào nhoáng, nhưng đó là nghề khiến tôi tự hào. Bởi mỗi thông tin được lan tỏa, mỗi kết nối được tạo dựng đều góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của ngành.
Nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, kính chúc quý lãnh đạo, đồng nghiệp, doanh nghiệp

Ngành nông nghiệp nói chung trong đó với lĩnh vực chăn nuôi đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng, ngành hàng cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển sản xuất xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại giá trị lớn cho cộng đồng doanh nghiệp và người nuôi. Trong hành trình đó, báo chí được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trên
mặt trận tư tưởng và truyền thông chính sách; tiếp tục truyền
cảm hứng, cổ vũ khát vọng cống hiến và lan tỏa niềm tin trong
giai đoạn phát triển mới. Điều này đòi hòi các nhà báo, phóng
viên không ngừng đổi mới sáng tạo, cải tiến nội dung, phương thức làm báo để đạt nhiều kết quả tích cực hơn nữa. Nghề báo cũng giống như bất cứ công việc nào, yêu và trân quý nghề, công việc mình làm, giữ vững được đam mê, bản lĩnh và trách nhiệm tôi tin thành quả, niềm vui sẽ đến. Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam không chỉ là ngày của riêng những người làm báo; đó cũng là ngày để xã hội tri ân một lực lượng đặc biệt trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.
NHỮNG TRẢI NGHIỆM THÚ VỊ - Nhà báo Thùy Khánh GIỮ VỮNG ĐAM MÊ VỚI NGHỀ - PV Vũ Na
NGHỀ CỦA SỰ DẤN THÂN, TRÁCH NHIỆM - Nhà báo Thu Hồng
Nghề báo đã mang đến cho tôi cơ hội được gặp gỡ nhiều con người
ở những vị trí và hoàn cảnh khác
nhau, từ các nhà quản lý, chuyên gia
đầu ngành, doanh nhân đến những
người nông dân. Mỗi chuyến đi là
một trải nghiệm, mỗi nhân vật là
một câu chuyện và mỗi bài viết là
một cơ hội để học hỏi, trưởng thành
hơn trong nghề. Nhìn lại chặng

đường đã qua, tôi càng thấm thía rằng nghề báo không chỉ là nghề viết, nghề thông tin mà còn là nghề của sự dấn thân, học hỏi và trách nhiệm. Mỗi bài báo được đăng tải không chỉ ghi lại hơi thở của cuộc sống mà còn là dấu ấn của những chuyến đi, những cuộc gặp gỡ và cả sự nỗ lực không ngừng để mang đến những thông tin chân thực, hữu ích cho bạn đọc. Nhân ngày 21/6, xin gửi lời tri ân tới những người thầy, người đồng nghiệp đã đồng hành, giúp đỡ tôi trên con đường nghề nghiệp; đồng thời chúc những người làm báo luôn giữ vững ngọn lửa đam mê, bản lĩnh và trách nhiệm để tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của nền báo chí nước nhà.
CƠ HỘI HỌC HỎI VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN - Nhà báo Kim Tiến
Nghề báo mang đến cho tôi
nhiều cơ hội để học hỏi, nhưng cũng đặt ra không ít yêu cầu về sự
chủ động, tinh thần trách nhiệm và khả năng thích ứng với những thay đổi không ngừng của môi trường truyền thông. Trong guồng quay của thông tin hiện nay, người làm báo phải luôn nỗ lực để vừa đảm bảo tính nhanh nhạy, vừa giữ vững

chất lượng và độ tin cậy của thông tin. Mỗi bài viết được đăng
tải không chỉ là kết quả của quá trình tìm hiểu, xác minh và xử lý thông tin mà còn thể hiện trách nhiệm của người làm báo
đối với bạn đọc. Nhân kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt
Nam 21/6, tôi mong muốn bản thân sẽ luôn giữ được tinh thần
cầu thị, niềm đam mê với nghề và khát vọng cống hiến. Đồng thời, xin chúc Tạp chí ngày càng phát triển, tiếp tục khẳng
định vai trò là diễn đàn tin cậy của ngành, cung cấp những thông tin chính xác, kịp thời và có giá trị thực tiễn đến bạn đọc, góp phần đồng hành cùng sự phát triển của ngành trong giai đoạn mới.
Hơn 10 năm gắn bó với nghề báo, tôi may mắn được trải nghiệm ở nhiều loại hình báo chí khác nhau, từ phát thanh, truyền hình đến báo in và báo điện tử. Mỗi môi trường đều mang đến những bài học quý giá, những kỷ niệm khó quên và cơ hội được gặp gỡ nhiều nhân vật, chứng kiến nhiều sự kiện có ý nghĩa đối với đời sống xã hội. Với tôi, báo chí không chỉ là một nghề mà còn là hành trình không ngừng học hỏi, khám phá và sẻ chia. Đặc biệt, khi theo dõi lĩnh vực chăn nuôi, tôi càng nhận thấy đây là ngành sản xuất có vai trò rất quan trọng, gắn liền với sinh kế của hàng triệu người dân và nguồn thực phẩm hằng ngày của mỗi gia đình. Chính vì vậy, mỗi thông tin được phản ánh đều cần sự khách quan, trách nhiệm và tinh thần đồng hành cùng người chăn nuôi. Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, xin kính chúc các anh, chị, em đồng nghiệp luôn dồi dào sức khỏe, giữ vững ngọn lửa đam mê, bản lĩnh nghề nghiệp và tiếp tục cống hiến những tác phẩm báo chí có giá trị vì sự phát triển của đất nước và cộng đồng.

Chúc mừng
Cách mạng Việt Nam

NGHỀ BÁO VÀ NHỮNG VUI BUỒN - Nhà báo Nguyễn Chi

Dù công tác trong nghề nhiều năm, tôi vẫn thấy rằng thật khó để nói hết đặc thù công việc của mình. Nghề báo gắn liền với mỗi chuyến đi để gặp thêm nhiều người, biết nhiều hoàn cảnh trong cuộc sống và quan trọng hơn là tìm đề tài, chất liệu báo chí, lắng nghe, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân, là cầu nối đưa những tâm tư, nguyện vọng của người dân và nhà quản lý và ngược lại. Nghề nào cũng có những vui - buồn. Nhưng đã chọn dấn thân với nghề báo, thì phải xác định vất vả, áp lực nhiều hơn thảnh thơi. Áp lực của phóng viên không chỉ là định mức tin, bài hay người cung cấp thông tin từ chối làm việc, mà họ còn xử lý những việc đột xuất, khiến nhiệm vụ, công việc đang làm phải gác lại. Tuy nhiên, áp lực cũng tạo cho người làm báo khí chất riêng, tính tự giác cao; niềm vui của người làm báo đôi khi lại là giúp bạn đọc vượt qua khó khăn, giải quyết được một việc có ý nghĩa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, người làm báo phải không ngừng trau dồi kiến thức, rèn giũa chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và luôn nhắc nhở chính mình phải “mắt sáng, lòng trong, bút sắc”, xứng đáng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa.
BÁO CHÍ CHUYÊN NGÀNH: KIẾN TẠO GIÁ TRỊ - PV Sao Mai
Là người ngoại đạo bước vào nghề bằng cơ duyên, chặng đường đồng hành cùng Tạp chí Người Chăn nuôi giúp tôi nhận ra giá trị thực chất của truyền thông chuyên ngành:
- Với người chăn nuôi: Báo chí là bộ lọc tin cậy mang giải pháp an toàn sinh học sát chuồng trại, giúp bà con chủ động ứng phó dịch bệnh và giá cả bấp bênh.

- Với doanh nghiệp: Đây là diễn đàn vĩ mô giúp khẳng định tầm vóc, đưa câu chuyện chuyển đổi xanh tiếp cận trực tiếp tệp đối tác B2B và nhà hoạch định chính sách.
Giữa vòng xoáy thông tin của mạng xã hội, giá trị của báo chí chính thống nằm ở chiều sâu. Khi thông tin được khơi thông hai chiều - đưa tiếng nói từ thực địa lên bàn nghị sự và mang chính sách về lại trang trại - toàn chuỗi chăn nuôi sẽ có điểm tựa vững chắc để cùng bứt phá trước biến động.
Nhân dịp kỷ niệm 101 năm ngày
Báo chí Cách mạng Việt Nam, tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn niềm
tự hào khi được gắn bó với nghề báo - một nghề không chỉ truyền tải

thông tin mà còn kết nối tri thức, lan tỏa giá trị tích cực đến cộng đồng. Là người làm báo trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi, tôi hiểu rằng mỗi bài viết không đơn thuần là phản ánh sự kiện mà còn là cầu nối giữa nhà quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học và người chăn nuôi. Những thông tin chính xác, kịp thời có thể giúp bà con cập nhật kỹ thuật mới, định hướng sản xuất hiệu quả hơn và thích ứng với những biến động của thị trường. Nghề báo hôm nay đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đòi hỏi người làm báo phải không ngừng học hỏi, đổi mới tư duy, nâng cao chuyên môn và giữ vững đạo đức nghề nghiệp. Tôi mong muốn tiếp tục được cống hiến, được đi nhiều hơn, lắng nghe nhiều hơn để mang đến những tác phẩm có giá trị thực tiễn, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi nước nhà.
BÁO CẦN LUÔN LUÔN ĐỔI MỚI - Nhà
Trong kỷ nguyên số, làm báo là một hành trình không ngừng
đổi mới và học hỏi. Người phóng
viên ngày nay không đơn thuần là người ghi chép tin tức, mà đã trở thành những nhà sáng tạo nội dung đa phương tiện. Đứng trước dòng chảy chuyển mình của ngành
chăn nuôi, người cầm bút càng
cần giữ vững bản lĩnh và nâng cao

chuyên môn để mang đến cho bạn đọc những thông tin chính xác, thiết thực, giàu giá trị thực tiễn.
Nhân ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, kính chúc các anh chị em đồng nghiệp luôn vững tâm với nghề, giữ trọn đam mê, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp để viết tiếp hành trình bằng những tác phẩm chất lượng. Đồng thời, chúc ngành chăn nuôi Việt Nam luôn phát triển bền vững; chúc quý doanh nghiệp cùng bà con nông dân vượt qua khó khăn, sản xuất thuận lợi, chung tay kiến tạo nhiều giá trị thịnh vượng cho nền nông nghiệp nước nhà.

Công nghệ xanh mở hướng
phát triển bền vững cho nông nghiệp và thủy sản
Với hơn 200 gian hàng trưng bày các giải pháp công nghệ tiên tiến, Triển lãm quốc tế Công nghệ Nông nghiệp và Môi trường (VietAgros 2026)
đang trở thành diễn đàn kết nối quan trọng giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và người sản xuất, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số, giảm phát thải và phát triển nông nghiệp xanh tại Việt Nam.
Ngày 9/6, tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc tế Cần Thơ, Công ty TNHH Kết nối Nông nghiệp và Môi trường Việt phối hợp với Tạp chí Người Chăn Nuôi, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ cùng Hiệp hội Thủy sản thành phố Cần Thơ tổ chức khai mạc Hội chợ Triển lãm Quốc tế Công nghệ Nông nghiệp và Môi trườngVietAgros 2026.
Với chủ đề “Kiến tạo tương lai xanh”, sự kiện năm nay quy tụ hơn 200 gian hàng của các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, nuôi trồng thủy sản, sản xuất giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, công nghệ môi trường, tự động hóa và chuyển đổi số.
Diễn ra tại trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long - khu vực sản xuất nông nghiệp và thủy sản trọng điểm của cả nước, VietAgros 2026 không chỉ là nơi giới thiệu các thành tựu khoa học kỹ thuật mới mà còn mở ra cơ hội kết nối đầu tư, chuyển giao công nghệ và xúc tiến thương mại cho cộng đồng doanh nghiệp.
Phát biểu tại lễ khai mạc, ông Hà Vũ Sơn, Giám đốc Sở Công thương thành phố Cần Thơ cho biết, VietAgros 2026 được tổ chức trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, hiện đại và bền vững. Theo ông Sơn, hội chợ không chỉ là nơi trưng bày sản phẩm và công nghệ mà còn là không gian kết nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành nông nghiệp.
Tại triển lãm, chủ đề “Nông nghiệp xanh”






được thể hiện rõ nét thông qua hàng loạt giải pháp giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nhiều doanh nghiệp mang đến các công nghệ tuần hoàn chất thải, hệ thống xử lý nước sinh học, thiết bị tiết kiệm năng lượng và các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường. Những giải pháp này được kỳ vọng sẽ giúp nông dân và doanh nghiệp từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, đặc biệt tại châu Âu, Mỹ và nhiều thị trường phát triển khác. Bên cạnh khu vực trưng bày công nghệ, triển lãm còn giới thiệu các sản phẩm OCOP, nông sản đặc trưng vùng Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều mô hình kinh tế xanh tiêu biểu của các địa phương. Theo Ban Tổ chức, thông qua sự kiện,
→ Sau 3 ngày diễn ra (9 - 11/6/2026), VietAgros đã
thu hút 5.000 lượt khách tham quan đã phần nào thể hiện một hội chợ với tầm cỡ quy mô lớn, nội dung chuyên sâu; nơi hội tụ của đông đảo cộng đồng các doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý, VietAgros
2026 đã và đang khẳng định vai trò là diễn đàn kết nối công nghệ và hợp tác phát triển nông nghiệp, thủy sản bền vững.
doanh nghiệp có cơ hội quảng bá thương hiệu, tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường, trong khi người sản xuất được tiếp cận trực tiếp những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Một trong những nội dung thu hút đông đảo khách tham quan và giới chuyên môn tại VietAgros 2026 là các giải pháp chuyển đổi số trong nuôi trồng thủy sản. Trong bối cảnh ngành thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe của thị trường, việc ứng dụng công nghệ số được xem là hướng đi tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tại các gian hàng, nhiều doanh nghiệp đã giới thiệu các hệ thống quản lý ao nuôi thông minh tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng dữ liệu hiện đại. Thông qua hệ thống cảm biến được lắp đặt trực tiếp trong ao nuôi, các chỉ tiêu môi trường quan trọng như độ pH, ôxy hòa tan, nhiệt độ và độ mặn được theo dõi liên tục theo thời gian thực.
Còn tại hội thảo chuyên đề “Chuyển đổi số và công nghệ thông minh trong nuôi trồng thủy sản”, trong khuôn khổ VietAgros 2026, các tham luận tập trung phân tích xu hướng ứng dụng AI, IoT, dữ liệu lớn (Big Data) và các nền tảng quản lý hiện đại nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí và tăng khả năng kiểm soát dịch bệnh trong sản xuất thủy sản.
Theo bà Quách Thị Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, VietAgros 2026 có ý nghĩa đặc biệt đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, sự kiện không chỉ góp phần quảng bá tiềm năng, thế mạnh của địa phương mà còn tạo cơ hội kết nối đầu tư, hợp tác kinh doanh và chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. “Trong bối cảnh ngành thủy sản đang đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, yêu cầu của thị trường và các tiêu chuẩn phát triển bền vững, việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Những giải pháp được giới thiệu tại VietAgros 2026 sẽ góp phần hỗ trợ người nuôi nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường”, bà Bình nhấn mạnh. Theo các chuyên gia, sự kết hợp giữa công nghệ môi trường, chuyển đổi số và mô hình sản xuất giảm phát thải đang mở ra một tư duy sản xuất mới cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Thay vì phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm truyền thống, người sản xuất có thể quản lý toàn bộ quy trình dựa trên dữ liệu và các công cụ phân tích hiện đại. Không chỉ giúp tiết kiệm chi phí thức ăn, năng lượng và vật tư đầu vào, mô hình này còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu. KHÁNH

Thành công của VietAgros 2026 có được là nhờ sự phối hợp chặt chẽ và tích cực của Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, Hiệp hội Thủy sản thành phố Cần Thơ cùng các đơn vị trực thuộc; sự đồng hành của các doanh nghiệp chăn nuôi, thủy sản Việt Nam và đặc biệt là các nhà tài trợ cho chương trình.
Ban Tổ chức trân trọng cảm ơn nhà tài trợ Kim cương: Công ty TNHH De Heus.
Ban Tổ chức trân trọng gửi lời tri ân đến các nhà tài trợ Vàng: Công ty TNHH Giải pháp công nghiệp MOTOLOGY; Công ty TNHH CN KT Sinh hóa Thái Nam Việt; Công ty TNHH T.E.M ENGINEERING (VIETNAM).
Ban Tổ chức cũng trân trọng gửi lời tri ân đến các nhà Đồng tài trợ: Công ty TNHH SHRIMPHARMAQUA; Công ty Cổ phần Gia Lợi; GePro Geflügel-Protein Vertriebsgesellschaft mbH & Co. KG; Thai Pacific Aquaculture; Công ty TNHHH Giải Pháp Môi Trường Nam Trinh; Công ty TNHH Thủy sản DOLIC; Công ty CP Sản xuất và Kinh doanh nhựa Tân Dương; Công ty Cổ phần Thú y MEGAVET Việt Nam. Ngoài những đóng góp vô cùng lớn từ các Nhà tài trợ, Ban Tổ chức dành lời cảm ơn đặc biệt đến gần 20 cơ quan báo chí và truyền hình Trung ương, địa phương đã đồng hành đưa tin, lan tỏa những giá trị tích cực của VietAgros 2026 đến cộng đồng, góp phần tạo tiếng vang và khẳng định thương hiệu của một sự kiện quy mô lớn như VietAgros 2026.
KIM CƯƠNG/DIAMOND

VÀNG/GOLD



ĐỒNG TÀI TRỢ/CO-SPONSORS










tiếp với sinh kế, khả năng chống chịu và phát triển nông nuôi du mục và các tác nhân trong chuỗi giá trị. Vì vậy, đóng góp vào hệ thống thực phẩm lành mạnh, bền vững
bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

“ Chuyển đổi ngành là điều thiết yếu để tăng cường an ninh lương thực ”
Chăn nuôi thông minh thích ứng khí hậu
Cải thiện thú y & sức khỏe vật nuôi

Quản lý thức ăn chăn nuôi hiệu quả

Tiêu chuẩn an toàn thực phẩm chặt chẽ

Ngành chăn nuôi Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ, từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, hướng tới chăn nuôi sạch,
sản xuất xanh, quy mô lớn và phát triển theo chuỗi giá trị khép kín. Đây không chỉ là xu thế tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn là nền tảng cho mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.
Sản xuất xanh trở thành yêu cầu bắt buộc
Nếu trước đây mục tiêu chính của ngành chăn nuôi là gia tăng sản lượng thì hiện nay, yếu tố môi trường đang trở thành một trong những tiêu chí quyết định năng lực cạnh tranh. Áp lực từ biến đổi khí hậu, cam kết phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050 cùng các tiêu chuẩn xanh của thị trường xuất khẩu đang buộc doanh nghiệp và người chăn nuôi phải thay đổi tư duy sản xuất.
Theo các chuyên gia, chất thải chăn nuôi nếu không được xử lý hiệu quả sẽ trở thành nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể. Vì vậy, các mô hình kinh tế tuần hoàn đang được xem là giải pháp tối ưu để vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tại các trang trại của TH, chất thải chăn nuôi được xử lý bằng hệ thống biogas công suất lớn, sau đó tái sử dụng làm phân bón
hữu cơ cho đồng cỏ và vùng nguyên liệu thức
ăn. Các phụ phẩm từ quá trình sản xuất tiếp
tục được tái chế để tạo thành vòng tuần hoàn khép kín.
Đại diện doanh nghiệp cho biết mô hình
“Từ đồng cỏ xanh đến ly sữa sạch” không chỉ nhằm kiểm soát chất lượng sản phẩm mà còn hướng tới mục tiêu giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và phát triển bền vững.
Nhiều doanh nghiệp khác trong ngành cũng đang theo đuổi hướng đi tương tự. Greenfeed hiện phát triển hệ sinh thái thực phẩm sạch theo mô hình 3F Plus (Feed - Farm - Food), trong đó toàn bộ chuỗi từ sản xuất thức ăn, con giống, chăn nuôi đến chế biến thực phẩm được kiểm soát đồng bộ nhằm bảo đảm chất lượng và giảm thiểu tác động môi trường.
Theo các chuyên gia nông nghiệp, sản xuất xanh không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích mà đang dần trở thành “giấy thông hành” để sản phẩm chăn nuôi Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế.
Phát triển chuỗi giá trị để nâng sức cạnh tranh
➢ Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, sức khỏe và môi trường, chăn nuôi sạch, sản xuất xanh không chỉ là câu chuyện của riêng doanh nghiệp hay người nông dân mà đã trở thành yêu cầu của toàn bộ thị trường.
Một trong những điểm yếu cố hữu của ngành chăn nuôi Việt Nam là sự liên kết còn lỏng lẻo giữa các khâu sản xuất. Người chăn nuôi thường tự tìm đầu vào và đầu ra, dẫn tới tình trạng được mùa mất giá hoặc chịu nhiều rủi ro khi thị trường biến động. Vì vậy, phát triển chuỗi giá trị đang được xem là giải pháp trọng tâm để tái cấu trúc ngành. Trong đó, các khâu từ con giống, thức ăn, chăn nuôi,
thu mua, giết mổ, chế biến đến phân phối
được kết nối chặt chẽ. Điều này giúp kiểm
soát đồng bộ chất lượng, truy xuất nguồn gốc
sản phẩm và giảm chi phí trung gian.
Thực tế cho thấy những doanh nghiệp
lớn đang đạt được nhiều lợi thế nhờ mô hình
liên kết này. Không chỉ trong lĩnh vực chăn nuôi, Greenfeed còn mở rộng sang thủy sản với hệ sinh thái sản xuất đồng bộ nhằm gia tăng giá trị sản phẩm. Đặc biệt, mô hình LINKFARM được định vị mình như một đơn vị phát triển chăn nuôi hiện đại trong hệ sinh thái của Greenfeed Việt Nam.
Mô hình này hướng tới việc kiểm soát đồng bộ từ thức ăn chăn nuôi, con giống, hệ thống trang trại cho tới thực phẩm cung cấp ra thị trường. LINKFARM không chỉ tham gia hoạt động chăn nuôi heo công nghiệp mà còn hướng đến mô hình quản trị khép kín, hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra.
Tương tự, Tập đoàn TH xây dựng chuỗi sản xuất khép kín từ vùng nguyên liệu, trang trại chăn nuôi đến nhà máy chế biến và hệ thống phân phối. Nhờ kiểm soát toàn bộ quy trình, doanh nghiệp có thể duy trì chất lượng đồng đều và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường.
Quan trọng hơn là trong chuỗi giá trị hiện đại, người nông dân không đứng ngoài cuộc. Nhiều doanh nghiệp đã triển khai mô hình hợp tác xã, liên kết sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm. Qua đó, các hộ chăn nuôi nhỏ có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thay vì sản xuất đơn lẻ như trước.
Theo các chuyên gia, khi chuỗi giá trị được hình thành đầy đủ, lợi ích không chỉ thuộc về doanh nghiệp mà còn được phân bổ hợp lý cho người nông dân, nhà chế biến và hệ thống phân phối.
Đây là yếu tố quan trọng giúp ngành chăn nuôi phát triển ổn định, hạn chế tình trạng “giải cứu” nông sản vốn từng xảy ra nhiều lần trong quá khứ.
Từ những mô hình trang trại công nghệ cao ở Nghệ An, Kon Tum đến các chuỗi sản xuất khép kín của nhiều doanh nghiệp lớn, có thể thấy ngành chăn nuôi Việt Nam đang từng bước chuyển mình từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Đây chính là nền tảng để hình thành một nền chăn nuôi hiện đại, hiệu quả, thân thiện với môi trường và đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu trong những năm tới.
CERTILLUS® ECO: Giải pháp vi sinh môi trường được Công ty ARM & HAMMER™ Animal Nutrition (Mỹ) giới thiệu tại Việt Nam. Đây là giải pháp vi sinh độc quyền giúp tối ưu môi trường chăn nuôi thông qua kiểm soát khí ammonia và ruồi, hướng tới mô hình quản lý môi trường dựa trên nền tảng khoa học chuyên sâu. Thay vì chỉ xử lý phần “ngọn”, CERTILLUS® ECO tập trung kiểm soát từ gốc thông qua hệ vi sinh vật. Điểm khác biệt của sản phẩm nằm ở quy trình sàng lọc bốn bước gồm: sàng lọc, xây dựng công thức, kiểm chứng và đặc tính hóa. Mỗi chủng vi sinh đều được giải trình tự toàn bộ hệ gene DNA nhằm bảo đảm tính chính xác về chức năng sinh học. Sản phẩm có khả năng chịu nhiệt tới 90°C trong quá trình ép viên thức ăn chăn nuôi mà vẫn duy trì hoạt tính sinh học. Với dòng phun trực tiếp, hệ vi sinh có thể tồn tại và phát triển ổn định trong điều kiện nền chuồng từ 5 - 7 ngày.
RFI là khái niệm về chỉ tiêu giảm tiêu tốn
Tập đoàn Dabaco giới thiệu. RFI = lượng thức ăn ăn vào (FI) trừ đi lượng thức ăn ước tính (EFI) thay vì phương pháp tính truyền thống là FCR (lượng thức ăn tiêu tốn/kg tăng trọng). Từ nền tảng chọn lọc theo RFI, Gà giống Dabaco đã phát triển thành công sản phẩm gà Mía số 1 - Tổ hợp lai giữa trống Mía dòng trống và mái Mía dòng mái. Trước đây, giống gà Mía truyền thống có thời gian nuôi từ 105 - 110 ngày, tiêu tốn thức ăn khoảng 2,8 - 3 kg thức ăn/ kg tăng trọng. Tuy nhiên, với việc áp dụng chỉ số RFI thời gian nuôi Mía số 1 rút ngắn xuống còn 95 - 105 ngày, trọng lượng bình quân đạt 2,3 - 2,6 kg/ con, tiêu tốn thức ăn khoảng 2,65 - 2,8 kg thức ăn/kg tăng trọng, tỷ lệ sống trên 95% và độ đồng đều cao. Thời gian tới, Dabaco tiếp tục sử dụng chỉ số RFI trong chọn lọc và nhân giống ở các thế hệ tiếp theo ở gà Mía dòng trống. Mở rộng việc sử dụng chỉ số này ở các dòng gà nội địa khác nhằm tối ưu hóa sản xuất. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu phát triển theo hướng bền vững.
Đây là công nghệ của Cargill, hướng đến nhóm heo năng suất cao vốn ngày càng phổ biến trong các trang trại quy mô lớn. Utmost™ không đơn thuần là giải pháp thức ăn mà là một hệ thống dinh dưỡng - quản lý - hỗ trợ kỹ thuật tích hợp, được xây dựng dựa trên dữ liệu thực tế, giúp tối ưu chế độ cho ăn theo từng điều kiện trang trại. Công nghệ Utmost™ được thiết kế để đảm bảo heo siêu cao sản nhận được nguồn dinh dưỡng chính xác nhất theo từng giai đoạn sinh trưởng, từ đó tối đa hóa tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và đạt trọng lượng xuất bán tối ưu. Trọng tâm của Utmost™ là ba công nghệ lõi gồm LeanMax, SmartMeta, ImmunoX, được thiết kế trên nền tảng hệ thống dinh dưỡng Cargill (Cargill CNS), kết hợp với chương trình dịch vụ kỹ thuật Master Farmer Program, trong đó mỗi công nghệ tác động lên một khía cạnh khác nhau trong quá trình sinh trưởng của heo thịt. Sự kết hợp đồng bộ này hướng tới mục tiêu tối đa tốc độ tăng cơ nạc, kiểm soát tích mỡ, giảm stress ôxy hóa và nâng cao sức đề kháng, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn. Đây là minh chứng rõ ràng cho thấy, dinh dưỡng chính xác dựa trên khoa học và dữ liệu thực tế chính là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi heo trong giai đoạn mới.
NGỌC HÂN (Tổng hợp)
Việt Nam là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong khu vực, đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi. Thu nhập của người dân tăng lên, nhu cầu tiêu thụ thịt và sản phẩm chăn nuôi ngày càng lớn đã tạo ra dư địa phát triển rất rộng cho các doanh nghiệp.
Khoảng 10 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ theo hướng công nghiệp và hiện đại. Đây là lý do
các tập đoàn hàng đầu ở trong nước và quốc tế tiếp tục mở rộng đầu tư.
Cuộc đua của doanh nghiệp nội
Chiều 4/6, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch
UBND TP Hà Nội Bùi Duy Cường chủ trì cuộc làm việc về đề xuất đầu tư Tổ hợp chăn nuôi heo nhà cao tầng công nghệ cao và nông nghiệp tuần hoàn của Công ty CP
Nông nghiệp BAF Việt Nam. Tại đây, Chủ tịch HĐQT BAF Việt Nam Trương Sỹ Bá cho biết, hiện nay đơn vị đang mong muốn đầu tư mô hình chăn nuôi heo trong nhà cao tầng và nông nghiệp tuần hoàn với quy mô khoảng 220 ha tại xã Bất Bạt. Mô hình được đầu tư khép kín với dây chuyền hiện đại, từ con giống đến heo thương phẩm. Mô hình sẽ giúp tiết kiệm được không gian đất đai, giảm tiêu tốn thức ăn và nhân công và giải quyết được áp lực môi trường. Dự án được
triển khai cùng Muyuan, tập đoàn chăn nuôi hàng đầu thế giới với tổng vốn đầu tư khoảng 12.000 tỷ đồng, quy mô 64.000 heo nái và 1,6 triệu heo thịt mỗi năm. Dự kiến công trình sẽ khởi công trong quý III/2026, đi vào vận hành từ quý III/2027 và có thể mang lại khoảng 10.000 tỷ đồng doanh thu mỗi năm khi hoạt động ổn định.
Theo ông Trương Sỹ Bá, mô hình trại heo cao tầng được kỳ vọng sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể về chi phí cho BAF. Việc tập trung chăn nuôi trên quy mô lớn giúp tối ưu công tác quản lý, trong khi hệ thống vận chuyển cám tự động từ nhà máy đến từng chuồng nuôi góp phần giảm nhu cầu nhân công và sử dụng đất hiệu quả hơn. Nhờ đó, giá thành sản xuất heo hơi có thể giảm
khoảng 3.000 - 5.000 đồng/kg. Khi dự án đi vào vận hành từ quý III/2027, lợi thế chi phí này được kỳ vọng sẽ giúp cải thiện biên lợi nhuận và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong năm 2026, BAF Việt Nam dự kiến tiếp tục mở rộng thêm 16 trang trại mới, tập trung tại Tây Nguyên và miền Trung nhằm nâng đàn heo nái lên 145.000 con, gần gấp đôi so với năm 2025, và đưa tổng đàn heo thịt vượt 1,14 triệu con. Công ty dự kiến khánh thành nhà máy thức ăn chăn nuôi thứ ba tại Bình Định với công suất 300.000 tấn/năm, đồng thời khởi công nhà máy thức ăn chăn nuôi thứ tư và thứ năm tại Tây Ninh và Hải Phòng, triển khai tổ hợp giết mổ - chế biến thực phẩm tại Đồng Nai.

Mới đây, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành nhiều quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư cho hàng loạt dự án chăn nuôi trên địa bàn với tổng số vốn lên đến hơn 1.500 tỷ đồng. Trong đó nổi bật là Dự án Trang trại chăn nuôi HT Farm có tổng vốn đầu tư 400 tỷ đồng, nhà đầu tư thực hiện là Công ty CP Chăn nuôi HT Farm. Đây là dự án sử dụng đất với diện tích đất đầu tư 309.441,2 m2; địa điểm thực hiện tại thôn Ia Ptau, xã Phú Thiện, tỉnh Gia Lai; quy mô 10.000 con heo nái, 320 con heo nọc. Mục tiêu đầu tư nhằm xây dựng trang trại chăn nuôi heo nái, heo nọc theo mô hình công nghệ khép kín. Dự án có thời gian hoạt động 50 năm; dự kiến hoàn thành và đi vào hoạt động quý IV/2027.
Ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, tỷ lệ chăn nuôi theo hình thức trang trại công nghiệp hiện nay của cả nước đã đạt từ 55 - 56% đối với gia súc và khoảng 56 - 58% đối với gia cầm. Sự chuyển dịch này là nhân tố quan trọng giúp nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng cường khả năng kiểm soát dịch bệnh cũng như an toàn thực phẩm.
Một trong những điểm nổi bật trong quá trình chuyển dịch này là sự tham gia ngày càng sâu rộng của các doanh nghiệp vào chuỗi giá trị chăn nuôi. Các doanh nghiệp không chỉ đóng vai trò là nhà đầu tư mà còn là hạt nhân liên kết, dẫn dắt các hộ chăn nuôi và hợp tác xã tham gia vào chuỗi sản xuất khép kín. Mô
hình 3F (Feed - Farm- Food), quy trình khép kín từ thức ăn, trang trại đến thực phẩm bàn ăn đang nổi lên như một hướng đi và hiệu quả nhất hiện nay. Nhiều doanh nghiệp lớn đã tiên phong trong việc triển khai các mô hình chăn nuôi thông minh những cái tên như Ba Huân, TH True Milk hay DABACO đã thiết lập các tiêu chuẩn mới cho ngành thông qua việc ứng dụng công nghệ cao trong quản lý đàn, tự động hóa chuồng trại và kiểm soát môi trường. Các trang trại hiện đại ngày nay không chỉ dừng lại ở việc tăng năng suất mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thân thiện với môi trường.
Những dự án nghìn tỷ
Theo nhận định của Bộ Nông nghiệp và
Môi trường, ngành chăn nuôi Việt Nam trước
đây chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, chiếm tới 70%.
Tuy nhiên, sự tham gia của các tập đoàn lớn
đã góp phần thay đổi cấu trúc ngành, thúc
đẩy sản xuất theo hướng công nghiệp, hiện
đại và bền vững hơn. Các doanh nghiệp tư
nhân và doanh nghiệp FDI đang trở thành

động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng ngành chăn nuôi.
Điển hình là thương hiệu hàng đầu De Heus, đơn vị này đã hợp tác với Tập đoàn Hùng Nhơn triển khai Tổ hợp Nông nghiệp Ứng dụng Công nghệ cao (DHN Tây Ninh 2), với tổng vốn gần 275 tỷ đồng đã khởi công vào tháng 4/2026. Đây là mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông nghiệp khép kín theo mô hình “con giống - chăn nuôichế biến - tiêu thụ”, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao tại đây. Không dừng lại ở phát triển các trang trại công nghệ cao, De Heus và Hùng Nhơn đang mở rộng hệ sinh thái nông nghiệp khép kín tại Tây Ninh, kết nối từ con giống, chăn nuôi, chế biến đến xuất khẩu. Với 13 dự án và tổng vốn khoảng 13.100 tỷ đồng, chuỗi liên kết tập trung xây dựng vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh, ứng dụng công nghệ tiên tiến những tập đoàn hang đầu thế giới như Bel Gà (Bỉ), Big Dutchman (Đức), Olmix (Pháp) và Boehringer Ingelheim (Đức) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Hướng tới năm 2036, chuỗi liên kết Hùng Nhơn - De Heus đặt mục tiêu 200 triệu gà giống, 25 triệu gà thịt xuất khẩu mỗi năm và 10.000 con heo cụ kỵ, từng bước hiện thực hóa doanh thu khoảng 2 tỷ USD cho toàn chuỗi.
➢ Các chuyên gia nhận định, ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển, việc các doanh nghiệp trong và ngoài nước tiếp tục mở rộng đầu tư vào lĩnh vực này cho thấy sức hút của thị trường, đồng thời phản ánh kỳ vọng vào tiềm năng tăng trưởng dài hạn của ngành hàng này.
Là một trong những nhà sản xuất protein động vật lớn nhất trong khu vực, Japfa hiện diện tại 5 quốc gia Châu Á, trụ sở chính tại Singapore. Việt Nam là thị trường lớn thứ hai của Japfa trong khu vực với chuỗi giá trị khép kín được đầu tư quy mô lớn và ứng dụng công nghệ hiện đại. 30 năm qua, Japfa không chỉ là một trong những nhà đầu tư nước ngoài thành công tại Việt Nam mà còn là đối tác gắn bó với người chăn nuôi, với các địa phương và sự phát triển chung của ngành nông nghiệp Việt Nam. Với mô hình chăn nuôi khép kín từ thức ăn chăn nuôi, con giống trang trại đến thực phẩm, Japfa Việt Nam đã góp phần thúc đẩy sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả quản trị trong ngành chăn nuôi. Nhờ tiềm lực công nghệ từ Tập đoàn Japfa, bao gồm Trung tâm Xuất sắc về Trí tuệ nhân tạo và Điện toán lượng tử tại Singapore, Japfa Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số trên toàn chuỗi sản xuất. Tại các nhà máy ấp trứng gia cầm, hệ thống camera tích hợp Al theo dõi và đánh giá chất lượng gà con theo thời gian thực; công nghệ tiêm vaccine trong trứng cũng được triển khai nhằm nâng cao tiêu chuẩn an toàn sinh học. Tại các trang trại heo, quá trình vận hành được số hóa với hệ thống giám sát dữ liệu thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu bằng trí tuệ nhân tạo. Những nỗ lực đầu tư vào công nghệ, an toàn sinh học và phát triển chuỗi cung ứng của doanh nghiệp đã mang lại những giá trị thiết thực cho người chăn nuôi cũng như người tiêu dùng Việt Nam.
Sau nhiều năm đầu tư mạnh vào công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất, Trung Quốc sở hữu một chuỗi cung ứng thịt heo ngày càng hiện đại và hiệu quả hơn, nhưng đồng thời cũng đối mặt với tình trạng dư cung kéo dài.
Tái cấu trúc từ công nghệ và quy mô
Tại Hội nghị Công nghiệp heo nái năm 2025 tổ chức ở Phúc Châu (Phúc Kiến), các chuyên gia và nhà quản lý nhận định ngành chăn nuôi heo Trung Quốc đang bước vào giai đoạn tái cơ cấu quan trọng, khi các biện pháp kiểm soát năng lực sản xuất được triển khai song song với quá trình nâng cấp chất lượng và hiệu quả hoạt động.
Trong hơn một thập kỷ qua, từ di truyền giống, dinh dưỡng, sản xuất thức ăn chăn nuôi, an toàn sinh học đến quản lý đàn bằng công nghệ số, hầu như mọi mắt xích trong chuỗi giá trị đều được cải tiến. Những đổi
mới này giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp có khả năng đầu tư lớn.
Dư cung kéo dài, giá khó phục hồi
Nếu trước đại dịch COVID-19, nhu cầu tiêu dùng thịt heo tại Trung Quốc tăng trưởng mạnh nhờ thu nhập và kinh tế cải thiện, thì bức tranh hiện nay đã khác đáng kể. Tăng trưởng tiêu dùng hậu COVID-19 chậm hơn nhiều so với trước đây, trong khi nguồn cung tiếp tục bùng nổ. Sự mất cân đối này khiến giá heo hơi duy trì ở mức thấp trong nhiều năm liên tiếp và trở thành mối lo ngại của cơ quan quản lý.
Cuối quý III/2025, tổng đàn nái sinh sản của Trung Quốc đạt 40,35 triệu con, tăng nhẹ 0,7% so cùng kỳ năm trước. Dù quy mô đàn nái nhìn chung ổn định, năng suất sinh sản liên tục được cải thiện đã giúp số lượng heo thương phẩm xuất chuồng tăng lên. Trong 9 tháng đầu năm 2025, sản lượng giết mổ đạt gần 530 triệu con, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước, trong khi sản lượng thịt heo tăng 3%, đạt 43,68 triệu tấn.
Nhiều doanh nghiệp lớn vẫn đang tiếp tục hạ giá thành sản xuất bất chấp thị trường suy yếu. Tập đoàn Muyuan, nhà sản xuất heo lớn nhất Trung Quốc cho biết, chi phí sản xuất heo hơi đã giảm xuống khoảng 11,3 NDT/kg trong tháng 10/2025 và còn tiếp tục giảm. Nhờ cải thiện tỷ lệ nuôi, tăng
trọng bình quân ngày và số heo cai sữa trên nái mỗi năm (PSY), chi phí sản xuất của doanh nghiệp liên tục
được kéo xuống. Một
phần ba sản lượng
của Muyuan hiện đã
được sản xuất với chi phí dưới 11 NDT/kg.
Nhiều doanh nghiệp lớn khác
cũng đầu tư mạnh vào công nghệ giống, dinh dưỡng, quản trị số và an toàn sinh học nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả. Điều này cho thấy quá trình giảm chi phí trong ngành vẫn chưa dừng lại. Trong khi người chăn nuôi chịu áp lực từ giá bán thấp, các doanh nghiệp giết mổ lại được hưởng lợi từ nguồn cung dồi dào. Năm 2025, lợi nhuận của ngành giết mổ được ghi nhận ở mức cao nhất trong vòng 5 năm nhờ giá thu mua heo hơi thấp và sản lượng giết mổ tăng mạnh.

Đây cũng là lý do sản lượng thịt heo vẫn tiếp tục tăng khi giá thị trường suy yếu. Với các doanh nghiệp tích hợp quy mô lớn, việc tiếp tục mở rộng sản xuất và cải thiện năng suất gần như là lựa chọn bắt buộc để duy trì lợi nhuận và đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư.
Nhập khẩu sẽ tiếp tục giảm?
Trước thực trạng dư cung kéo dài, Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần yêu cầu các doanh nghiệp lớn hạn chế mở rộng quy mô và kiểm soát đàn nái. Năm 2025, nước này còn ban hành quy định giới hạn số lượng nái trong đàn nái quốc gia nhằm kiểm soát công suất sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp hành chính vẫn đang bị đặt dấu hỏi. Trong khi số lượng nái được kiểm soát, các khoản đầu tư vào di truyền giống, an toàn sinh học và công nghệ quản lý vẫn tiếp tục gia tăng, giúp năng suất đàn heo không ngừng cải thiện.
Ông Zheng Xinping, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Phúc Kiến nhận định rằng, ngành chăn nuôi heo Trung Quốc đang dư thừa năng lực sản xuất một cách có hệ thống. Theo ông, trong vòng 5 - 10 năm tới, Trung Quốc có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước chỉ với hơn 20 triệu nái, tương đương khoảng một nửa quy mô hiện nay. Dù nhận định này được xem là khá táo bạo, nó phản ánh mối lo ngại ngày càng lớn về tình trạng dư cung kéo dài của ngành.
Trong khi đó, MARA dự báo nguồn cung thịt heo trong nửa đầu năm 2026 vẫn khá dồi dào, nhưng từ nửa cuối năm, khi quy mô sản xuất được điều chỉnh và nhu cầu phục hồi theo chu kỳ, giá heo có thể cải thiện. Dù kịch bản nào xảy ra, một xu hướng gần như đã rõ ràng: Trung Quốc sẽ ngày càng giảm phụ thuộc vào thịt heo nhập khẩu.
Đối với các doanh nghiệp cung cấp công nghệ, thiết bị và giải pháp chăn nuôi, quá trình hiện đại hóa của ngành heo Trung Quốc mở ra nhiều cơ hội mới. Ngược lại, với các quốc gia xuất khẩu thịt heo như Mỹ, Brazil hay các nước Liên minh châu Âu, đây là tín hiệu cho thấy thời kỳ tăng trưởng nhờ nhu cầu nhập khẩu khổng lồ từ Trung Quốc có thể đang dần khép lại.

SỨC ÉP TỪ NHIỀU PHÍA
Ngành gia cầm đang đứng ở giao điểm
nhạy cảm giữa năng lượng, thức ăn chăn nuôi và hệ thống logistics. Khác với gia súc nhai lại, gà phụ thuộc lớn vào khẩu phần dinh dưỡng được phối trộn chính xác, chủ yếu từ ngô và khô đậu tương, những mặt hàng giao dịch rộng rãi trên thị trường quốc tế. Khi hoạt động tại eo biển Hormuz bị gián đoạn, tác động nhanh chóng lan truyền trong toàn chuỗi cung ứng. Cước vận tải tăng do các tuyến hàng hải trở nên rủi ro hơn hoặc kéo dài hơn; phí bảo hiểm leo thang; giá nhiên liệu tăng mạnh. Tất cả những yếu tố này trực tiếp đẩy chi phí thức ăn chăn nuôi lên cao.
Không chỉ vậy, chi phí năng lượng phục vụ hệ thống thông gió, trại ấp, nhà máy chế biến và kho lạnh cũng gia tăng đáng kể. Điều này không đơn thuần tạo ra một đợt tăng chi phí cục bộ mà gây áp lực trên toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất. Trong khi thức ăn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu chi phí chăn nuôi, việc phải gánh thêm áp lực từ năng lượng và vận chuyển khiến biên lợi nhuận của doanh nghiệp bị thu hẹp đáng kể.
GIÁ TĂNG
Tại nhiều quốc gia châu Á, nhu cầu tiêu
dùng đối với thịt gà và trứng thường duy trì
ổn định, khiến các nhà sản xuất có xu hướng
chuyển một phần chi phí gia tăng sang người tiêu dùng. Hệ quả là giá bán lẻ tăng và sản phẩm gia cầm trở nên đắt đỏ hơn.
Thoạt nhìn, điều này có thể được xem là lạm phát. Tuy nhiên, bản chất vấn đề phức tạp hơn. Những gì đang diễn ra chủ yếu là sự thay đổi về giá tương đối, tức một số chi phí đầu vào tăng lên khiến giá của các mặt hàng cụ thể tăng theo, thay vì tạo ra xu hướng tăng giá trên diện rộng của toàn nền kinh tế.
Khi chi tiêu cho thực phẩm tăng, các hộ gia đình thường có xu hướng cắt giảm chi tiêu ở những lĩnh vực khác. Về lâu dài, sự suy giảm nhu cầu tại các ngành này có thể tạo áp lực giảm giá, qua đó cân bằng phần nào tác động tăng giá ban đầu. Đây là cơ chế tự điều chỉnh vốn có của thị trường trước các cú sốc.
Nếu căng thẳng tại Hormuz chỉ diễn ra ngắn hạn, chuỗi cung ứng sẽ dần thích nghi, thị trường vận tải ổn định trở lại và chi phí
đầu vào có thể hạ nhiệt. Tuy nhiên, nếu xung
đột kéo dài, nguy cơ các chi phí cao này ăn sâu vào cấu trúc sản xuất là rất lớn. Đối với ngành gia cầm, chu kỳ sản xuất ngắn mang lại khả năng thích ứng nhất định, nhưng sự phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu khiến ngành dễ bị tổn thương trước những gián đoạn kéo dài.
Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất có thể không nằm ở bản thân cuộc khủng hoảng mà ở cách các nhà hoạch định chính sách phản ứng. Những biện pháp nới lỏng tài khóa hoặc tiền tệ nhằm kiềm chế đà tăng giá có thể mang lại hiệu quả ngắn hạn, nhưng đồng thời làm méo mó tín hiệu thị trường. Nếu lượng tiền được bơm thêm vào nền kinh tế mà sản lượng không tăng tương ứng, sự dịch chuyển giá tương đối có thể chuyển hóa thành lạm phát thực sự.
Về dài hạn, điều này có thể dẫn tới các quyết định đầu tư sai lệch, phân bổ nguồn lực kém hiệu quả và gia tăng biến động của thị trường. Trong ngành gia cầm, điều đó có thể biểu hiện qua những đợt mở rộng sản xuất quá mức khi giá tăng cao giả tạo, trước khi thị trường điều chỉnh mạnh trở lại. Bài học đặt ra cho ngành là khá rõ ràng: gián đoạn tại eo biển Hormuz là cú sốc bên ngoài khó tránh khỏi, có thể làm tăng chi phí, thay đổi dòng chảy thương mại và thử thách sức chống chịu của chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, liệu cú sốc này chỉ mang tính tạm thời hay trở thành mối đe dọa dài hạn đối với ổn định giá cả sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chính sách ứng phó, thay vì yếu tố địa lý.




Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2026 ước đạt 66,5 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2026 đạt 308 triệu USD, tăng 43,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 79,3 triệu USD, tăng 2,1 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 89,2 triệu USD, tăng 8,6%. Trong khi đó, giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2026 ước đạt 472,3 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2026 đạt 2,24 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 695,3 triệu USD, tăng 20,3%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 910,5 triệu USD, tăng 26,1%.
Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 11%
Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 5 năm 2026 ước đạt 450 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 5 tháng đầu năm 2026 đạt 1,77 tỷ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2025. Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Mỹ, Argentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 22%, 17% và 12,5%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 4 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Mỹ tăng 28,4%, thị trường Trung Quốc tăng 60,1%, trong khi thị trường Argentina giảm 67,1%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canada với mức tăng 5,9 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Argentina với mức giảm 67,1%.
Giá gà thịt lông màu biến động tại ba miền
Tháng 5, giá gà thịt lông màu miền Bắc giữ mức 48.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung tăng 200 đồng/kg, hiện ở mức 43.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam tăng 600 đồng/ kg lên 45.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 10.000 đồng/kg lên 29.000 đồng/kg; miền Trung giảm 3.000 đồng/kg xuống mức 24.000 đồng/ kg; miền Nam giảm 5.000 đồng/kg, hiện là 24.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp tại miền Trung và miền Nam có xu hướng giảm do áp lực nguồn cung tăng trong khi sức mua không tăng tương ứng. Trong khi đó, giá trứng gà miền Bắc ổn định ở mức 1.300 đồng/quả; miền Trung tăng 200 đồng/quả, hiện ở mức 1.630 đồng/quả; miền Nam giữ mức 1.430 đồng/quả. Giá trứng ở mức thấp do sức mua yếu trong khi lượng trứng tồn kho cao.
Giá heo hơi tăng do nhu cầu tiêu th ụ tốt
Giá thu mua heo hơi trong nước biến động trái chiều trong tháng 5/2026. So với tháng 4/2026, giá heo hơi tại miền Bắc tăng 3.800 đồng/kg lên 67.000 - 68.000 đồng/kg. Giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên tăng 2.600 đồng/kg, dao động trong khoảng 67.000 - 68.000 đồng/kg. Giá heo hơi miền Nam giảm 800 đồng/kg, hiện đang ở mức 67.000 - 68.000 đồng/kg. Giá heo hơi tăng do nhu cầu tiêu thụ tốt. Dự báo trong ngắn hạn, giá heo hơi có thể điểu chỉnh giảm do nguồn cung heo thịt bắt đầu tăng trở lại tại một số địa phương.
Nuôi hươu lấy nhung đang trở thành mô hình chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao tại nhiều địa phương nhờ chi phí thức ăn thấp, ít dịch bệnh và đầu ra ổn định. Hươu đực từ 1,5 - 2 năm tuổi có thể cho khai thác nhung, với sản lượng từ 0,25 - 0,3 kg/lứa; hươu trưởng thành 5 năm tuổi có thể đạt 0,6 - 0,8 kg nhung/con mỗi năm. Hiện giá nhung hươu dao động từ 15 - 25 triệu đồng/kg, tương đương khoảng 1,5 - 2,5 triệu đồng/100g. Bên cạnh nguồn thu từ nhung, hươu giống cũng có giá trị cao, dao động 15 - 25 triệu đồng/con tùy độ tuổi và chất lượng. Thịt hươu được bán với giá khoảng 450.000 đồng/kg. Nhờ kết hợp khai thác nhung và bán con giống, nhiều hộ chăn nuôi đạt lợi nhuận từ 100 - 200 triệu đồng/năm, thậm chí cao hơn khi mở rộng quy mô đàn. HÀ TĨNH
Giá dê thương phẩm tại xã Sơn Tiến (Hà Tĩnh) - địa phương được xem là “thủ phủ nuôi dê” của tỉnh. Hiện dê cái thương phẩm được bán khoảng 180.000 đồng/kg, còn dê đực đẹp, đặc biệt là giống Boer, có giá tiệm cận 200.000 đồng/kg, tăng 60 - 70% so với cùng kỳ năm trước. Không chỉ dê thịt, giá dê giống cũng tăng lên trên 200.000 đồng/kg nhưng vẫn khó mua do nhiều hộ giữ lại dê cái hậu bị để mở rộng đàn. Nhờ giá bán thuận lợi, nhiều hộ chăn nuôi đạt lợi nhuận 1,8 - 2 triệu đồng mỗi con xuất chuồng. Tuy nhiên, nguồn giống khan hiếm đang khiến việc tái đàn gặp nhiều khó khăn. Theo địa phương, toàn xã Sơn Tiến hiện có hơn 8.300 con dê, lớn nhất tỉnh Hà Tĩnh. Chính quyền khuyến cáo người dân thận trọng khi mở rộng quy mô đàn, tránh tái đàn ồ ạt, bảo đảm phát triển chăn nuôi bền vững.
Nguồn cung thịt heo cơ bản đáp
Theo báo cáo của Sở Công
Thương TP Hồ Chí Minh, nguồn cung thịt heo trên địa bàn hiện vẫn cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chưa xuất hiện tình trạng thiếu hụt hoặc biến động bất thường về giá. Hoạt động cung ứng thịt heo chủ yếu thông qua hệ thống chợ đầu mối và mạng lưới thương nhân phân phối truyền thống.

Tính đến ngày 18/5/2026, tổng sản lượng thịt heo lưu thông qua hai chợ đầu mối Bình Điền và Hóc Môn đạt khoảng 535 tấn/ngày, trong đó chợ đầu mối Bình Điền đạt khoảng 202 tấn/ngày và chợ đầu mối Hóc Môn đạt khoảng 333 tấn/ngày. Nguồn cung hiện chủ yếu đến từ các doanh nghiệp chăn nuôi lớn và các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ. Được biết, sàn giao dịch thịt heo trên địa bàn thành phố được triển khai thí điểm từ ngày 6/4/2026. Theo số liệu tổng hợp đến hết phiên giao dịch ngày 18/5/2026, tổng khối lượng giao dịch qua Sàn đạt 3.852 mảnh thịt heo, tăng thêm 1.037 mảnh so với thời điểm hoàn thành tháng đầu tiên vận hành thử nghiệm.
(Tổng hợp)



Bốn thị trường nhập khẩu thịt bò lớn nhất của Úc tháng 1 - tháng 4 Nguồn DAFF

đồng euro tăng mạnh
Ngày 26/5, thị trường hợp đồng tương lai Paris đã niêm yết giá 214,25 euro/tấn lúa mì cho hợp đồng tháng 9/2026, thấp hơn mức giá 216,75 euro/tấn được niêm yết ngày 20/5. Nguyên nhân giá lúa mì giảm là do đồng euro tăng mạnh hơn, dự báo thu hoạch toàn cầu được cải thiện và Argentina giảm thuế xuất khẩu lúa mì. Theo dự báo của Hội đồng Ngũ cốc Quốc tê (IGC), sản lượng lúa mì toàn cầu đạt 820 triệu tấn trong mùa vụ 2026 - 2027, lượng tiêu thụ ước tính 827 triệu tấn.
Giá heo xuống thấp, tiêu thụ không tăng
Xuất khẩu gia cầm của Nam Phi từ 2018 đến 2025 Nguồn africanfarming

Xuất khẩu nội tạng bò của Mỹ sang Mexico và Nhật Bản Quý I-2026 và Quý I - 2025

Vào tuần thứ hai của tháng Tư, giá heo hơi tại Trung Quốc đã giảm xuống còn khoảng 10,03 CNY/kg, đánh dấu tuần giảm thứ 10 liên tiếp. Giá thịt heo bán buôn cũng giảm xuống còn khoảng 22 CNY/kg vào cuối tháng 3, thấp hơn 16,5% so với cùng kỳ năm 2025 và là mức thấp nhất trong 8 năm. Theo The Straits Times, thị trường thịt heo Trung Quốc đang rơi vào nghịch lý: nguồn cung dồi dào đẩy giá xuống mức thấp nhất trong nhiều năm, tuy nhiên nhu cầu tiêu thụ lại không tăng tương ứng. Nhiều người tiêu dùng ăn ít thịt hơn vì cho rằng thịt heo nhiều mỡ, không tốt cho sức khỏe. Dữ liệu cho thấy tỷ lệ thịt heo trong khẩu phần ăn của người dân đã giảm từ 80% xuống còn 60% trong hai thập kỷ qua.
Dỡ bỏ các hạn chế đối với xuất khẩu thịt heo từ
Tây Ban Nha
Philippines cho phép Tây Ban Nha nối lại xuất khẩu thịt heo từ ngày 22/5, theo thỏa thuận khu vực hóa đạt được giữa các cơ quan thú y của cả hai nước, dỡ bỏ các hạn chế do Chính phủ Philippines áp đặt sau khi phát hiện dịch tả heo châu Phi bùng phát ở Barcelona vào tháng 11/2025. Theo đó, Cục Chăn nuôi (BAI) của Philippines công nhận toàn bộ lãnh thổ quốc gia Tây Ban Nha là khu vực an toàn dịch bệnh, ngoại trừ tỉnh Barcelona, nơi vẫn chịu các hạn chế xuất khẩu. Giấy chứng nhận xuất khẩu gia súc (CEXGAN) có thể được cấp cho thịt và các sản phẩm thịt có ngày sản xuất sau ngày 8/5. Các sản phẩm chế biến hiện vẫn được loại trừ, vì 2 nước hiện đang trong quá trình đàm phán về quy chế. Việc mở cửa trở lại thị trường Philippines có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngành thịt heo Tây Ban Nha vì Philippines là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3, chiếm 14% tổng khối lượng xuất khẩu.
AI CẬP
Khởi động xuất khẩu bột trứng sang Trung Đông
Ai Cập đã hoàn thành chuyến xuất khẩu đầu tiên, khoảng 30 tấn bột trứng sang Jordan, đánh dấu bước tiến trong nỗ lực mở rộng xuất khẩu các sản phẩm gia cầm sang khu vực Trung Đông. Tiến sĩ Tharwat El-Zeiny, Phó Chủ tịch Liên đoàn các nhà sản xuất gia cầm
Ai Cập cho biết thêm, lô hàng thứ hai đang được chuẩn bị xuất sang UAE, đồng thời đàm phán xuất sang Iraq cũng đang được tiến hành. Nhu cầu bột trứng tại khu vực Trung Đông tăng ổn định, chủ yếu từ ngành bánh kẹo và chế biến thực phẩm.
ĐỨC DŨNG (Tổng hợp)






































Áp lực cung vượt cầu bóp nghẹt biên
ngành gia cầm quý I và II/2026
Trong quý I và đầu quý II/2026, thị trường gia cầm nội địa sụt giảm mạnh do áp lực dư cung cục bộ. Giá thu mua gà, vịt và trứng tại chuồng liên tục lao dốc, khiến người chăn nuôi chịu thua lỗ kéo dài.
Khủng hoảng thừa nguồn cung: Hệ lụy từ cuộc đua tăng đàn và sức mua yếu
Theo kết quả khảo sát thị trường của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, giá sản phẩm gia cầm hai tháng qua (tháng 4 và 5) liên tục chạm đáy mới. Khủng hoảng cung vượt cầu lần này xuất phát trực tiếp từ làn sóng mở rộng quy mô tổng đàn ồ ạt của các doanh nghiệp FDI và tập đoàn sản xuất thức ăn chăn nuôi từ cuối năm 2025. Ngược lại, sức mua tại thị trường nội địa hồi phục không như kỳ vọng, tạo ra mức chênh lệch cung - cầu nghiêm trọng.
Bảng tổng hợp giá sản phẩm gia cầm tại trại (Tháng 5 - Đầu tháng 6/2026)
Chủng
loại Khu vực Tháng 5/2026 (VNĐ/kg)
Miền Bắc
Gà Ri lai
Gà lông màu nuôi công nghiệp
Gà trắng (CN)
2 Tuần Đầu 6/2026 (VNĐ/ kg)
Diễn biến thị trường sau chuẩn hóa
50.500 - 52.000 51.000 - 54.000 Tiêu thụ tương đối ổn định Miền
Gà Mía Miền
Miền Nam 44.500 - 45.500 44.000
Trứng gà CN (đồng/ quả)
Miền Bắc 44.500 - 46.500 44.000 - 46.000 Xu hướng giảm nhẹ do nắng nóng
Miền Trung 42.000 - 44.000 41.500 - 43.500 Tồn kho tại trại tăng cao
Miền
Nam 43.500 - 44.500 43.000 - 44.000 Nguồn cung dồi dào, chợ chậm
Miền Bắc 32.000 - 33.000 34.000 - 36.000 Thiếu cung cục bộ, giá phục hồi tốt
Miền
Trung 25.000 - 26.500 29.500 - 32.000 Đảo chiều tăng theo miền Bắc
Miền
Nam 26.000 - 27.500 23.000 - 25.000 Nguồn cung tăng, giá chạm đáy
Miền Bắc 25.00 - 33.000 43.000 - 46.000 Sức mua tăng mạnh đầu mùa hè cuối tháng 5 đầu tháng 6.
Miền
Trung 30.000 - 31.000 30.000 - 35.000 Biên
Miền Nam 31.000 - 32.000 34.000 - 35.000 Nhích nhẹ vào tuần 2 tháng 6
Miền
Miền Trung 1.500 - 1.600 1.600 - 1.650
Miền
Nam 1.200 - 1.400 1.500 - 1.700

Giá thu mua các sản phẩm gia cầm tại trại trên cả nước trong tháng 5 và đầu tháng 6 năm 2026 ghi nhận sự chênh lệch rõ rệt và biến động trái chiều giữa hai miền NamBắc. Trong khi thị trường gà màu và trứng vẫn neo ở mức thấp do sức mua yếu, giá gà trắng tại miền Bắc lại có xu hướng nhích nhẹ vì khan hiếm nguồn cung cục bộ. Tại miền Bắc giá gà trắng duy trì được mức tốt hơn nhờ nguồn cung có phần thiếu hụt tạm thời.
Tại miền Nam và Đông Nam Bộ chịu áp lực dư thừa nguồn cung nặng nề nhất. Giá gà trắng tại các “thủ phủ” chăn nuôi như Đồng
Nai, Tây Ninh tụt sâu xuống quanh mốc
26.000 đồng/kg, khiến người nuôi chịu lỗ
từ 4.000 - 5.000 đồng/kg.Tháng 4 - 5/2026
chứng kiến cuộc khủng hoảng thừa nghiêm trọng nhất của ngành trứng tính từ đầu năm.
Hệ quả từ việc các trang trại và doanh nghiệp FDI ồ ạt tăng đàn gà đẻ từ cuối năm 2025
đã đẩy sản lượng trứng dội chợ diện rộng. Trứng gà công nghiệp tại hai đầu miền Bắc và miền Nam, giá trứng rớt thảm hại xuống mốc 1.300 - 1.500 đồng/quả. Trong khi giá thành sản xuất (chi phí cám nuôi, con giống, khấu hao) neo cao ở mức 1.800 - 1.900 đồng/ quả, mỗi quả trứng xuất chuồng khiến người chăn nuôi chịu lỗ từ 350 - 450 đồng/quả. Trứng vịt cũng không thoát khỏi vòng xoáy suy thoái khi chịu áp lực thặng dư nguồn cung nặng nề, giá bình quân toàn quốc dao động ở mức thấp từ 1.870 - 1.950 đồng/quả.
Nửa đầu tháng 6/2026 cục diện thị
trường thay đổi hoàn toàn chỉ trong 2 tuần
đầu tháng 6 khi cán cân cung - cầu thiết lập lại trạng thái cân bằng mới. Làn sóng giảm
đàn tự phát từ tháng trước cùng lực cầu thị
trường nhích nhẹ đã đẩy giá trứng gà tại 3 miền đồng loạt bứt phá. Miền Nam ghi nhận
mức tăng mạnh nhất (+600 đồng/quả), đưa giá trứng vượt ngưỡng 2.050 đồng/quả, giúp các trang trại chính thức thoát lỗ và bắt đầu có lãi nhẹ.
Các chuyên gia phân tích ngành hàng chỉ ra 4 nguyên nhân cốt lõi đẩy thị trường vào thế bế tắc trong quý I và đầu quý II:
Chiến lược khả thi từ chế biến sâu
Để tháo gỡ khó khăn cho ngành gia cầm, việc đẩy mạnh chế biến sâu nhằm gia tăng giá trị thương mại cho quả trứng được xem là giải pháp khả thi nhất. Các sản phẩm như trứng lỏng thanh trùng, trứng ăn liền hiện có mức tăng trưởng khá tốt, mang lại giá trị kinh tế cao hơn khoảng 30% so với việc tiêu thụ trứng tươi thông thường.
Theo ông Trương Chí Thiện, Tổng giám đốc Công ty CP Thực phẩm Vĩnh Thành Đạt, hướng đi khả thi nhất hiện nay là tiếp tục đẩy mạnh chế biến sâu các sản phẩm từ trứng nhằm tạo thêm đầu ra cho ngành chăn nuôi. Thực tế cho thấy các sản phẩm như trứng lỏng thanh trùng, trứng ăn liền hay nguyên liệu phục vụ ngành chế biến thực phẩm đang có mức tăng trưởng tích cực. Giá trị của các sản phẩm này thường cao hơn khoảng 30% so với trứng tươi thông thường. Ngoài Vĩnh Thành Đạt, một số doanh nghiệp hiện đang đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ để đẩy mạnh chế biến trứng lỏng thanh trùng, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Về kênh xuất khẩu, trong khi trứng tươi gần như không thể xuất khẩu do vướng các rào cản kiểm dịch nghiêm ngặt và quy trình bảo quản ngắn hạn, thì các mặt hàng chế biến sâu lại mở ra cơ hội lớn nhờ thời gian bảo quản dài. Điển hình, trong tháng 6 này, lô hàng trứng ăn liền đầu tiên của doanh nghiệp Việt Nam sẽ chính thức xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản sau 3 năm hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe. Các kế hoạch xuất khẩu sản phẩm trứng lỏng đông lạnh sang Hàn Quốc cũng đang được các bên khẩn trương hoàn thiện.
- Một là, áp lực dội chợ diện rộng, lịch xuất chuồng đồng loạt của các lứa gà, vịt ngắn ngày trùng với thời điểm sản lượng trứng đạt đỉnh, vượt xa khả năng hấp thụ của thị trường.
- Hai là, sức mua nội địa chạm mốc thấp, lượng tiêu thụ mặt hàng thịt, trứng tại các chợ truyền thống và hệ thống siêu thị lớn (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh) giảm mạnh. Tốc độ quay vòng hàng chậm buộc tiểu thương phải liên tục xả hàng giá rẻ.
- Ba là, bão giá chi phí đầu vào, trái ngược với đà giảm của giá bán, giá thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y bị điều chỉnh tăng liên tiếp từ đầu năm, triệt tiêu dòng tiền của các hộ nuôi nhỏ lẻ.
- Bốn là tắc nghẽn dòng xuất khẩu, kênh xuất khẩu tiểu ngạch sang thị trường lân cận như Campuchia sụt giảm tiến độ, buộc lượng hàng lớn phải quay đầu tiêu thụ nội địa.
Dự báo cục diện nửa cuối năm 2026
Thị trường được dự báo chưa thể phục hồi nhanh trong ngắn hạn, song sẽ có sự phân hóa và bứt phá rõ rệt theo lộ trình: + Giai đoạn tháng 7 - 8/2026 (Thấp điểm hè): Thị trường tiếp tục đi ngang do học sinh
nghỉ hè, hệ thống bếp ăn tập thể đóng cửa. Riêng mặt hàng trứng gia cầm được dự báo sẽ bứt phá sớm từ giữa tháng 8 (đầu tháng 7 Âm lịch) nhờ các nhà máy bánh kẹo gom hàng phục vụ mùa vụ Trung thu. + Giai đoạn tháng 9 - cuối năm 2026 (Phục hồi mạnh): Cán cân cung - cầu sẽ tự cân bằng trở lại do làn sóng “treo chuồng” của các hộ thua lỗ trong quý II. Đồng thời, nhu cầu thực phẩm tăng vọt vào mùa lễ hội, cưới hỏi và tích trữ Tết sẽ kích giá gia cầm đảo chiều. Mức giá kỳ vọng: Giá gà trắng dự báo đạt 33.000 - 35.000 đồng/kg; gà lông màu và gà ta thả vườn có khả năng tăng mạnh từ 15% - 20% so với đáy khủng hoảng.
Tuy nhiên, người chăn nuôi vẫn cần thận trọng với hai yếu tố có thể làm thay đổi cục diện giá. Giá cám và nguyên liệu nhập khẩu (ngô, đậu tương) dự báo sẽ tiếp tục neo ở mức cao hoặc tăng nhẹ đến cuối năm, gây áp lực trực tiếp lên lợi nhuận. Áp lực dịch bệnh, do thời tiết chuyển mùa cuối năm làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh (như cúm gia cầm), dễ gây biến động thất thường về nguồn cung cục bộ. THANH ĐỨC, THANH SƠN
rong ngành chăn nuôi gia
cầm hiện đại, việc ứng dụng công nghệ tự động hóa vào quá trình thu gom, phân loại và đóng gói trứng đang trở thành xu hướng tất yếu, nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí nhân công và đảm bảo chất lượng sản phẩm và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho trang trại chăn nuôi.
Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết bị tự động hóa ngành trứng gia cầm, Công ty TNHH B.H.N tự hào là đơn vị cung cấp các dòng máy phân loại trứng gà chất lượng cao, được nhiều trang trại, doanh nghiệp sản xuất trứng và cơ sở ấp nở trên toàn quốc tin tưởng lựa chọn.
Công nghệ phân loại trứng hiện đại
Máy phân loại trứng gà do B.H.N cung cấp được ứng dụng công nghệ cân điện tử chính xác cao, giúp phân loại trứng theo trọng lượng một cách nhanh chóng và đồng đều. Hệ thống vận hành ổn định, hạn chế tối đa tỷ lệ nứt vỡ trong quá trình phân loại, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và tiêu chuẩn hóa sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.
Các dòng máy được thiết kế phù hợp với nhiều quy mô sản xuất khác nhau, từ trang trại vừa và nhỏ đến các doanh nghiệp chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn. B.H.N cung cấp nhiều dòng máy phân loại trứng với công suất đa dạng: Từ Máy phân loại 10.000 - 30.000 - 60.000 trứng/ giờ. Hệ thống phân loại tự động công suất lớn 80.000 trứng/giờ.
Tùy theo nhu cầu thực tế của khách hàng, đội ngũ kỹ thuật
B.H.N sẽ tư vấn giải pháp phù hợp nhất nhằm tối ưu hiệu quả
đầu tư và vận hành.
Vì sao khách hàng ưu tiên
lựa chọn B.H.N?
Trên thị trường hiện nay có nhiều thương hiệu máy phân loại trứng khác nhau, tuy nhiên ngày càng nhiều trang trại và doanh nghiệp lớn lựa chọn B.H.N là
đối tác lâu dài bởi những lý do nổi bật. Các dòng máy do B.H.N cung cấp đã được vận hành thành công tại nhiều trang trại và doanh nghiệp trên toàn quốc là một trong những đơn vị cung cấp máy phân loại nhiều nhất tại Việt
Nam. Thiết bị hoạt động ổn định, bền bỉ và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho khách hàng.
Hỗ trợ kỹ thuật nhanh chóng
Khác với nhiều đơn vị chỉ bán thiết bị và phụ thuộc vào hỗ trợ từ nước ngoài, B.H.N sở hữu đội ngũ kỹ sư và chuyên gia kỹ thuật có mặt trực tiếp tại Việt Nam, sẵn sàng hỗ trợ khách hàng 24/7.
Mọi vấn đề kỹ thuật đều được xử lý nhanh chóng, hạn chế tối đa thời gian gián đoạn sản xuất.
Nhờ chất lượng vượt trội
cùng hiệu quả sử dụng thực tế, máy phân loại trứng B.H.N đã
được lắp đặt và vận hành thành
công tại nhiều trang trại chăn nuôi, công ty sản xuất trứng tại
Việt Nam tin dùng.
Quý khách đang tìm kiếm
một hệ thống máy phân loại trứng gà hiện đại, chính xác, bền bỉ và được hỗ trợ kỹ thuật
chuyên nghiệp, B.H.N chính là
sự lựa chọn đáng tin cậy.
B.H.N







Ngày 22/5, tại Quảng Ninh, Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco tổ chức Hội nghị khách hàng và ra mắt sản phẩm với chủ
Đưa công nghệ hiện đại vào chọn tạo giống
Chia sẻ tại hội nghị, GS.TS Đặng Vũ Bình, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp 1 (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) cho biết, Dabaco hiện là một trong những đơn vị đi đầu trong việc ứng dụng đồng thời các phương pháp chọn giống hiện đại nhằm nâng cao giá trị các giống gà nội địa.
Đến nay Dabaco đã duy trì ổn định công tác chọn lọc qua 16 thế hệ đối với gà Mía, 14 thế hệ đối với gà Hồ và lưu giữ 18 dòng thuần chủng của nhiều giống gà bản địa quý phục vụ công tác lai tạo.
Trong đó, giống gà Mía đã được chọn lọc thành công thành hai dòng riêng biệt gồm dòng trống và dòng mái; gà Hồ được phát triển thành ba dòng khác nhau, bao gồm một dòng vẫn giữ được nguồn gen quý hiếm nhưng sở hữu màu lông đẹp, định hướng phát triển thành giống mới trong tương lai. Đối với giống gà nòi, doanh nghiệp cũng đã chọn lọc được hai dòng riêng biệt qua 9 - 10 thế hệ. Một trong những nội dung thu hút sự quan tâm của giới chuyên môn tại hội nghị là việc Dabaco trở thành doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng thành công chỉ số RFI (Residual Feed Intake - lượng thức ăn dư thừa) vào công tác chọn giống gia cầm.
Để thực hiện điều này, doanh nghiệp đã tích hợp công nghệ cảm biến IoT và các giải pháp phân tích dữ liệu hiện đại nhằm theo dõi chính xác lượng thức ăn tiêu thụ của từng cá thể trong đàn.
Thông qua hệ thống thu thập dữ liệu tự động, các thông số về tăng trưởng, khả năng chuyển hóa thức ăn và sức khỏe vật nuôi được phân tích, giúp quá trình chọn lọc trở nên chính xác và hiệu quả hơn. Kết quả thực tế, việc áp dụng RFI đã mang lại hiệu quả rõ rệt. So với thế hệ trước, tốc độ tăng trưởng của đàn gà tăng khoảng 5%, trong khi hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) giảm 6,25%. Cụ thể, tăng trọng bình quân ngày tăng từ 33,52 gram/con/ngày lên 35,49 gram/con/ngày, còn hệ số FCR giảm từ 3,41 xuống 3,19.
Từ nền tảng chọn lọc bằng RFI, Dabaco đã phát triển thành công dòng gà Mía số 1. Nếu trước đây gà Mía truyền thống cần từ 120 - 130 ngày nuôi mới đạt trọng lượng thương phẩm thì nay thời gian nuôi chỉ còn khoảng 100 - 105 ngày, trọng lượng đạt từ 2,25 - 2,5 kg/con, tỷ lệ sống trên 95% và mức tiêu tốn thức ăn giảm đáng kể.
Ra mắt gà J số 1 Dabaco
Giới thiệu sản phẩm mới, ông Nguyễn Như Phán, Phó Giám đốc Công ty TNHH

MTV Gà giống Dabaco cho biết, gà J số 1 được nghiên cứu và phát triển theo công thức “2 tăng - 2 giảm”, gồm tăng năng suất, tăng chất lượng thịt; đồng thời giảm thời gian nuôi và giảm hệ số tiêu tốn thức ăn. Ở giai đoạn trên 80 ngày tuổi, gà đạt trọng lượng bình quân từ 2,45 - 2,55 kg/con. Với quy mô 1.000 con, sản lượng thịt có thể đạt từ 2,5 - 2,6 tấn. Đặc biệt, hệ số chuyển đổi thức ăn được duy trì ở mức thấp, chỉ từ 2,45 - 2,55 kg thức ăn/kg tăng trọng.
“Trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào liên tục biến động và dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thời gian nuôi ngắn và hệ số chuyển hóa thức ăn thấp chính là lợi thế lớn giúp người chăn nuôi giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế”, ông Phán chia sẻ.
Gà J số 1 Dabaco được phát triển trên ba trụ cột chính gồm tính đồng nhất về ngoại hình, hệ miễn dịch mạnh và chất lượng thịt vượt trội. Không chỉ khắc phục tình trạng phân hóa màu lông và kích cỡ thường gặp ở các dòng gà lông màu truyền thống, giống gà mới còn được tuyển chọn từ nguồn gen chất lượng cao, kết hợp quy trình kiểm soát dịch bệnh nghiêm ngặt ngay từ trong phôi nhằm nâng cao sức đề kháng và tỷ lệ nuôi sống.
Dù được cải thiện mạnh về năng suất, gà J số 1 vẫn giữ được chất lượng thịt đặc trưng của gà ta với thớ thịt săn chắc, vị ngọt thanh và hương thơm tự nhiên, đáp ứng nhu cầu của cả thị trường truyền thống và các hệ thống phân phối hiện đại.
Theo bà Trần Thị Tuyết Dung, Trưởng phòng Kỹ thuật Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco, doanh nghiệp đang từng bước chuyển đổi từ tư duy “diệt bệnh” sang “quản lý sức khỏe vật nuôi”. Mô hình được xây dựng
trên nền tảng an toàn sinh học nghiêm ngặt, chuồng nuôi tự động khép kín, nguồn nước chuẩn hóa và hệ thống dinh dưỡng tùy chỉnh 3D phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đàn gà. Doanh nghiệp sử dụng kết hợp acid hữu cơ, khoáng vi lượng, thảo dược và men vi sinh nhằm thay thế hoàn toàn kháng sinh phòng bệnh.
Kết quả, chi phí sử dụng kháng sinh giảm tới 88,76%, tỷ lệ mắc bệnh giảm hơn 67%, đồng thời hệ số FCR được tối ưu xuống còn khoảng 2,8 - 3,0. Không chỉ mang lại hiệu quả trên đàn gà thương phẩm, giải pháp này còn giúp nâng cao năng suất đàn gà đẻ, với tỷ lệ đỉnh đẻ đạt từ 95,78% đến 96,01%, kéo dài chu kỳ khai thác lên 65 - 70 tuần.
Phát biểu tại hội nghị, đại diện Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco cho rằng, ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển khi nhu cầu tiêu thụ thịt gà ngày càng gia tăng. Cùng với sự mở rộng của thị trường là áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng con giống và tối ưu hiệu quả sản xuất. Năm 2026, Dabaco xác định là giai đoạn đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, AI và các tiến bộ kỹ thuật mới vào công tác chọn tạo giống nhằm tạo ra những con giống vừa giữ được chất lượng thịt truyền thống, vừa giảm giá thành chăn nuôi để tăng khả năng cạnh tranh cho người nuôi. Cùng với đó, Công ty tập trung phát triển các giải pháp dinh dưỡng tùy chỉnh, vaccine phù hợp điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam, nhằm nâng cao sức khỏe đàn gà, giảm phụ thuộc kháng sinh và hướng tới phát triển chăn nuôi bền vững.☐

dsm-firmenich Việt Nam kết nối giải pháp mới
cho ngành gia cầm
Hội nghị New Solutions Connect 2026 do dsm-firmenich Việt Nam tổ chức đã quy tụ nhiều chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp trong ngành chăn nuôi gia cầm, nhằm chia sẻ các giải pháp khoa học, công nghệ và dinh dưỡng chính xác, hướng tới phát triển ngành chăn nuôi hiệu quả, bền vững và thích ứng với các thách thức mới.
Ngày 21/5 tại GEM Center (TP Hồ
Chí Minhh), dsm-firmenich tổ
chức hội nghị chuyên ngành “New Solutions
Connect 2026” với chủ đề “Turning Poultry
Challenges into Measurable Results” (Chuyển hóa thách thức ngành gia cầm thành kết quả đo lường được). Sự kiện thu hút đông đảo đại diện doanh nghiệp chăn nuôi, chuyên gia kỹ thuật, nhà khoa học và đối tác trong lĩnh vực gia cầm tham dự.
Phát biểu khai mạc, ông Puneet Pokhriyal, Giám đốc khu vực GPAC West của dsmfirmenich cho biết, ngành chăn nuôi gia cầm đang đối mặt với nhiều áp lực như dịch bệnh, chi phí đầu vào gia tăng, yêu cầu giảm phát thải, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm ngày
càng cao và xu hướng phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, việc kết nối giữa khoa học, dữ liệu và thực tiễn sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Hội nghị New Solutions Connect 2026 được xây dựng như một diễn đàn chuyên môn, nhằm kết nối các chuyên gia trong và ngoài nước, cùng chia sẻ những giải pháp mới cho ngành gia cầm đang chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại, chính xác và bền vững.
Tại hội nghị, nhiều chuyên đề chuyên sâu đã được trình bày, tập trung vào các vấn đề nổi bật của ngành như an toàn sinh học, quản lý dịch bệnh, kiểm soát biofilm trong
hệ thống nước uống, dinh dưỡng chính xác, mô hình dự đoán sức khỏe vật nuôi và các giải pháp tự nhiên thay thế kháng sinh.
Mở đầu chương trình chuyên môn, PGS. TS Nguyễn Tất Toàn, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh trình bày chuyên đề “Những thách thức đối với ngành chăn nuôi gia cầm: Quan điểm hiện tại và giải pháp tương lai”.
Theo PGS.TS Nguyễn Tất Toàn, ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, ngành đang chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh truyền nhiễm, giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, biến động thị trường và các yêu cầu
ngày càng khắt khe từ thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, xu hướng tiêu dùng mới cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các sản phẩm gia cầm hữu cơ, chăn nuôi theo tiêu chuẩn phúc lợi động vật và giảm sử dụng kháng sinh. Những áp lực này buộc ngành phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang mô hình chăn nuôi quy mô lớn, ứng dụng công nghệ và quản trị dữ liệu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Để phát triển bền vững, PGS.TS Nguyễn Tất Toàn cho rằng, ngành gia cầm cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như tăng cường an toàn sinh học, liên kết chuỗi giá trị, chuyển đổi số, nâng cao năng lực giết mổchế biến sâu và phát triển các giống bản địa có giá trị cao. Đồng thời, cần thúc đẩy mô hình chăn nuôi thân thiện môi trường, tái chế chất thải thành phân hữu cơ hoặc khí sinh học nhằm giảm áp lực phát thải.
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại hội nghị là chuyên đề về quản lý chất lượng nước uống và kiểm soát biofilm trong hệ thống chăn nuôi gia cầm do TS. Antonia Tacconi, Trưởng bộ phận Phát triển Kinh doanh toàn cầu của dsm-firmenich trình bày.
Theo TS. Antonia Tacconi, nước là “nguyên liệu thức ăn” được tiêu thụ nhiều nhất trong chăn nuôi nhưng thường chưa được chú trọng đúng mức trong quản lý. Trong khi đó, các nguy cơ vi sinh, hóa học và vật lý trong nước có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe đường ruột và hiệu quả chăn nuôi của đàn gia cầm. Bà cho biết, biofilmlớp màng sinh học hình thành trong đường ống nước là một trong những rủi ro lớn nhưng khó nhận biết trong hệ thống chăn nuôi hiện đại. Biofilm không chỉ bảo vệ vi khuẩn mà còn có thể kéo dài khả năng tồn lưu của virus trong hệ thống nước uống, làm giảm hiệu quả vệ sinh, sát trùng cũng như các giải pháp xử lý qua nước.
Theo các dữ liệu được trình bày tại hội nghị, ngay cả việc khử trùng bằng chlorine cũng chưa đủ để loại bỏ hoàn toàn nguy cơ vi sinh nếu biofilm đã hình thành trong hệ thống cấp nước. Điều này khiến việc kiểm soát chất lượng nước và vệ sinh đường nước trở thành yếu tố then chốt trong quản lý đàn gia cầm quy mô lớn.
Để xử lý vấn đề này, TS. Antonia Tacconi giới thiệu giải pháp Biotronic® Top Liquidsản phẩm acid hóa nước uống kết hợp acid béo chuỗi ngắn và công nghệ Permeabilizing Complex, nhằm hỗ trợ kiểm soát vi khuẩn, ổn định pH và hạn chế hình thành biofilm trong hệ thống nước.



→ Thông qua New Solutions
Connect 2026, dsm-firmenich kỳ vọng tiếp tục đồng hành cùng ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam bằng các giải pháp dựa trên khoa học, dữ liệu và mô hình dinh dưỡng - sức khỏe chính xác, góp phần nâng cao năng suất, kiểm soát rủi ro và hướng tới phát triển bền vững cho toàn chuỗi ngành hàng.
Nhiều đại biểu nhận định, trong bối cảnh ngành chăn nuôi gia cầm chịu áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, chuyên gia, cơ sở đào tạo và người chăn nuôi sẽ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình sản xuất hiệu quả, an toàn và bền vững hơn.
Đại diện Ban tổ chức hội thảo, ông Trần Đức Hưng, Giám đốc Công ty TNHH DSM Nutritional Products Việt Nam chia sẻ, trong suốt 25 năm hoạt động tại Việt Nam, dsmfirmenich luôn xem việc đồng hành cùng khách hàng và đối tác là giá trị cốt lõi trong quá trình phát triển.
Ông gửi lời cảm ơn tới các doanh nghiệp, chuyên gia và khách hàng đã tham dự New Solutions Connect 2026, đồng thời khẳng định DSM Nutritional Products Việt Nam cam kết tiếp tục đồng hành lâu dài cùng ngành chăn nuôi thông qua việc cung cấp các giải pháp khoa học, dinh dưỡng và công nghệ tiên tiến, hỗ trợ khách hàng nâng cao hiệu quả sản xuất và hướng tới phát triển bền vững. KHÁNH NGUYỄN
Một chủ đề đáng chú ý khác là giải pháp tự nhiên trong phòng ngừa và kiểm soát bệnh cầu trùng ở gia cầm do TS. Shelby Curry, Trưởng bộ phận Marketing chiến lược gia cầm và Phát triển kinh doanh của dsm-firmenich trình bày. Theo TS. Shelby Curry, xu hướng giảm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi đang thúc đẩy nhu cầu về các giải pháp dinh dưỡng và miễn dịch tự nhiên, nhằm kiểm soát bệnh cầu trùng - một trong những bệnh phổ biến gây thiệt hại lớn cho ngành gia cầm. Việc kết hợp giữa dinh dưỡng chức năng, quản lý đường ruột và các hoạt chất tự nhiên đang mở ra hướng tiếp cận mới cho chăn nuôi gia cầm hiện đại. Trong khi đó, TS. Mongkol Kaewsutas, Giám đốc Precision Services GAPAC của dsm-firmenich mang tới hội nghị chủ đề “Sức khỏe & Dinh dưỡng chính xác với mô hình dự đoán Verax™”. Theo TS. Mongkol Kaewsutas, việc ứng dụng dữ liệu lớn và công nghệ vào chăn nuôi giúp ngành gia cầm chuyển từ mô hình phản ứng sang dự đoán sớm rủi ro sức khỏe, tối ưu dinh dưỡng và nâng cao hiệu quả vận hành trang trại. Các nền tảng dự đoán dựa trên dữ liệu cho phép doanh nghiệp giám sát tình trạng đàn vật nuôi theo thời gian thực, từ đó đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn. Phiên thảo luận mở cuối chương trình do TS. Raj Murugesan, Trưởng bộ phận Marketing chiến lược theo nhóm vật nuôi và Phát triển kinh doanh toàn cầu của dsmfirmenich điều phối đã thu hút nhiều ý kiến trao đổi từ doanh nghiệp và người chăn nuôi về bài toán chi phí, dịch bệnh, hiệu quả đầu tư và xu hướng chuyển đổi công nghệ trong ngành gia cầm.

Ngành gia cầm Việt Nam
đang đứng trước cơ hội tăng trưởng lớn
Trong bối cảnh ngành gia cầm toàn cầu đang đối mặt với nhiều thách thức từ biến động giá nguyên liệu, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững, Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong những thị trường giàu tiềm năng nhất khu vực châu Á. Tạp chí Người Chăn Nuôi đã có cơ hội trao đổi với ông Dominic Elfick, Quản lý Marketing Aviagen Asia, về triển vọng phát triển của ngành gia cầm Việt Nam trong giai đoạn tới.
☐ ANH THƯ (Thực hiện)

ÔNG DOMINIC ELFICK Quản lý Marketing Aviagen Asia
PV: Trước tiên, ông có thể chia sẻ đôi nét về Aviagen cũng như định hướng phát triển của doanh nghiệp tại thị trường châu Á?
Ông Dominic Elfick: Tôi đã có hơn 30 năm làm việc cùng Aviagen và hiện đảm nhiệm vị trí Quản lý Marketing của Aviagen Asia. Khoảng thời gian đó cho tôi cơ hội được làm việc với nhiều thị trường khác nhau, từ đó có cái nhìn khá toàn diện về sự phát triển của ngành gia cầm trong khu vực.
Aviagen là một trong những doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực giống gia cầm, với trọng tâm là giống gà thịt. Bên cạnh đó, tập đoàn cũng sở hữu các thương hiệu uy tín trong lĩnh vực giống gà đẻ như Lohmann và Hy-Line.
Tại Việt Nam, chúng tôi đang cung cấp giống bố mẹ một ngày tuổi cho nhiều doanh nghiệp chăn nuôi quy mô lớn. Nguồn giống chủ yếu được nhập khẩu từ Mỹ và châu Âu, nhằm đáp ứng những tiêu chuẩn cao về chất lượng di truyền, năng suất và hiệu quả sản xuất.
Tại châu Á, mục tiêu của Aviagen là trở thành đối tác giống gia cầm được khách hàng tin tưởng và lựa chọn hàng đầu. Tuy nhiên, điều đó không chỉ đến từ chất lượng con giống. Chúng tôi luôn hướng tới việc đồng hành cùng khách hàng thông qua các giải pháp kỹ thuật, tư vấn quản lý đàn và hỗ trợ tối ưu hiệu quả sản xuất. Thành công của người chăn nuôi cũng chính là thước đo cho thành công của Aviagen, vì vậy chúng tôi mong muốn xây dựng mối quan hệ hợp tác lâu dài và cùng phát triển bền vững với khách hàng trong khu vực.
PV: Phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với ngành chăn nuôi toàn cầu. Aviagen đang đóng góp như thế nào cho mục tiêu này?
Ông Dominic Elfick: Phát triển bền vững là một trong những định hướng cốt lõi trong các chương trình chọn tạo giống của Aviagen. Nói một cách đơn giản, mục tiêu của chúng tôi là tạo ra nhiều thực phẩm hơn nhưng sử dụng ít nguồn lực hơn. Điều đó đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm áp lực lên tài nguyên và hạn chế tác động đến môi trường, trong khi vẫn duy trì hoặc nâng cao năng suất chăn nuôi.
Một trong những chỉ tiêu mà chúng tôi
đặc biệt chú trọng là hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Thông qua công tác chọn tạo giống, Aviagen không ngừng cải thiện khả năng sử
dụng thức ăn của vật nuôi, giúp đàn gà đạt tốc
độ tăng trưởng và khối lượng mong muốn với
lượng thức ăn thấp hơn.
Kể từ những năm 1970, hệ số FCR của
các dòng gà Aviagen đã được cải thiện trung bình khoảng 2 điểm mỗi năm. Đây có thể là một thay đổi không quá lớn nếu nhìn riêng lẻ, nhưng trên quy mô toàn cầu, tác động mang lại là rất đáng kể. Theo tính toán của chúng tôi, mức cải thiện này tương đương với việc giảm khoảng 1% lượng phát thải carbon mỗi năm đối với đàn gà thịt Aviagen trên toàn thế giới. Bên cạnh FCR, chúng tôi cũng tập trung vào các chỉ tiêu quan trọng khác như tốc độ tăng trưởng, năng suất sinh sản và tỷ lệ thịt.
Những cải thiện này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn góp phần sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả hơn, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.
Không chỉ dừng lại ở công tác giống, Aviagen cũng chú trọng các hoạt động phát triển bền vững trong toàn bộ quá trình vận hành doanh nghiệp. Chúng tôi triển khai nhiều chương trình tái chế, tái sử dụng, sử dụng năng lượng thay thế và các giải pháp nhằm giảm phát thải carbon.
PV: Theo ông, đâu sẽ là những thách thức lớn nhất đối với ngành gia cầm trong thời gian tới?
Ông Dominic Elfick: Trong ngắn hạn, chi phí thức ăn chăn nuôi chắc chắn vẫn sẽ là một trong những thách thức lớn nhất đối với ngành gia cầm.
Những biến động địa chính trị tại nhiều khu vực trên thế giới đang tác động trực tiếp đến thị trường nguyên liệu. Chúng ta đã chứng kiến giá ngô tăng đáng kể trong thời gian qua và nhiều khả năng giá đậu tương cũng sẽ tiếp tục chịu áp lực.
Bên cạnh đó là áp lực từ chi phí logistics.
Đối với các doanh nghiệp giống như Aviagen, việc vận chuyển con giống từ Mỹ và châu Âu sang châu Á phụ thuộc nhiều vào đường hàng không. Hiện nay, chi phí vận tải đã tăng lên
đáng kể so với trước đây, trong khi các lựa chọn vận chuyển cũng hạn chế hơn, tạo thêm áp lực cho toàn bộ chuỗi cung ứng.
Về dài hạn, tôi kỳ vọng thị trường sẽ dần ổn định hơn. Tuy nhiên, những biến động về giá cả, chuỗi cung ứng hay các yếu tố địa chính trị có thể sẽ trở thành một phần của “bình thường mới” đối với ngành chăn nuôi toàn cầu.
Một thách thức mang tính lâu dài khác là dịch bệnh. Tại Việt Nam, dịch tả heo châu Phi phần nào đã tạo điều kiện để ngành gia cầm phát triển nhanh hơn trong những năm gần đây. Tuy nhiên, nếu xảy ra các đợt bùng phát cúm gia cầm quy mô lớn, tác động đối với toàn ngành sẽ rất nghiêm trọng. Vì vậy, việc tiếp tục đầu tư vào an toàn sinh học, vaccine và các giải pháp kiểm soát dịch bệnh
là hết sức cần thiết. Về phía Aviagen, chúng tôi cũng đang đẩy mạnh nghiên cứu nhằm phát triển những dòng gà có khả năng thích nghi và chống chịu tốt hơn trước các áp lực từ môi trường chăn nuôi và dịch bệnh.
PV: Ông đánh giá như thế nào về tiềm năng phát triển của ngành gia cầm Việt Nam trong giai đoạn 5 - 10 năm tới?
Ông Dominic Elfick: Theo tôi, Việt Nam giống như một “gã khổng lồ đang thức giấc”. Nhìn vào các chỉ số kinh tế vĩ mô hiện nay có thể thấy, nền kinh tế Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng tích cực và nhiều dự báo cho thấy xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong những năm tới. Khi thu nhập người dân được cải thiện, nhu cầu tiêu thụ các nguồn protein động vật chất lượng cao cũng gia tăng, trong đó thịt gia cầm luôn là một trong những lựa chọn phổ biến nhất.
Trong khoảng 5 năm gần đây, tiêu thụ thịt gà lông trắng tại Việt Nam tăng trưởng từ 810% mỗi năm. Đây là mức tăng trưởng rất ấn tượng so với nhiều thị trường trong khu vực. Dù tốc độ này có thể chậm lại khi thị trường ngày càng phát triển, chẳng hạn giảm xuống khoảng 3% mỗi năm, thì đó vẫn là mức tăng trưởng tích cực và cho thấy ngành còn rất nhiều dư địa để mở rộng.
Tôi cũng nhận thấy dòng vốn đầu tư vào ngành gia cầm Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ. Không chỉ các doanh nghiệp trong nước mở rộng quy mô sản xuất, nhiều nhà đầu tư quốc tế cũng đang dành sự quan tâm đáng kể cho thị trường này. Đặc biệt, tôi cho rằng, chế biến sẽ là động lực tăng trưởng quan trọng của ngành trong giai đoạn tới. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào các nhà máy chế biến hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Đây là bước phát triển tất yếu, bởi giá trị gia tăng của ngành không chỉ nằm ở sản xuất mà còn ở khả năng chế biến sâu và tiếp cận những thị trường có giá trị cao hơn.
Bên cạnh đó, lượng thịt gà nhập khẩu vào Việt Nam cũng đang có xu hướng giảm dần. Nếu trước đây thịt nhập khẩu từng chiếm khoảng 30% thị trường thì hiện nay con số này chỉ còn khoảng 15%. Điều đó cho thấy năng lực sản xuất trong nước đang từng bước được nâng lên.
Nếu duy trì được đà phát triển hiện nay, tôi tin rằng trong khoảng 10 năm tới, Việt Nam hoàn toàn có khả năng tự chủ về sản xuất gia cầm. Xa hơn nữa, Việt Nam có thể trở thành một trong những trung tâm sản xuất gia cầm quan trọng của khu vực.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Cầu nối thúc đẩy hợp tác chiến lược
Ngày 24/5/2026, tại Nhà máy TVONE Việt Nam (Phú Thọ), đã diễn ra buổi tọa đàm về “Tình hình xuất nhập khẩu, chăn nuôi và xu hướng phát triển thị trường” giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc. Sự kiện là cơ hội để cập nhật bức tranh toàn cảnh về ngành chăn nuôi và là cột mốc quan trọng thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước.
Tọa đàm do Công ty Cổ phần TVONE
Việt Nam tổ chức, đã thu hút sự quan tâm lớn từ cộng đồng doanh nghiệp. Đặc biệt, sự kiện vinh dự đón tiếp đoàn doanh nghiệp Trung Quốc do Giáo sư Trương Lợi
Tường, chuyên gia uy tín từ Đại học Nhân dân Trung Quốc dẫn đầu. Với mục tiêu tìm
kiếm cơ hội hợp tác song phương, các doanh nghiệp hai nước đã cùng thảo luận sôi nổi, củng cố niềm tin về năng lực sản xuất và tiêu chuẩn chất lượng của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.
Tại buổi tọa đàm, Tiến sĩ Nguyễn Thanh
Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, đã có những chia sẻ sâu sắc về tình hình ngành gia cầm trong những tháng đầu năm 2026. Mặc dù đối mặt với không ít thách thức về dịch bệnh và giá cả thị trường, nhưng ngành gia cầm Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng ổn định.
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn cũng đưa ra những dự báo lạc quan của ngành chăn nuôi nói chung và gia cầm nói riêng trong những tháng cuối năm, đồng thời nhấn mạnh vào việc chuyển dịch sang mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và ứng dụng công nghệ cao. “Chúng tôi hy vọng rằng, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và sự đồng hành từ các chuyên gia, ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ tạo ra những giá trị bền vững, đủ sức cạnh tranh và vươn xa”, ông Sơn chia sẻ. Phát biểu tại tọa đàm, Tiến sĩ dinh dưỡng
Trần Quốc Việt đã mang đến một chủ đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của đại biểu, đó là Ứng dụng giải pháp phụ gia thức ăn chăn nuôi từ Phytogenics. Với những phân tích khoa học sâu sắc, Tiến sĩ Việt khẳng
định việc sử dụng các hợp chất có nguồn gốc thực vật (Phytogenics) không chỉ là xu hướng mà còn là giải pháp then chốt để nâng cao sức đề kháng, cải thiện hệ tiêu hóa và tối


ưu hóa năng suất vật nuôi.
Theo Tiến sĩ Trần Quốc Việt, việc chuyển giao và áp dụng thành công các giải pháp này vào quy trình sản xuất của TVONE Việt Nam chính là bước đi chiến lược, giúp doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm an toàn, chất lượng cao, đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế cũng như nhu cầu tiêu dùng thông thái hiện nay.
Nhân dịp này, đại diện lãnh đạo Công ty Cổ phần TVONE Việt Nam, đã trực tiếp dẫn đoàn doanh nghiệp Trung Quốc tham quan nhà máy, giới thiệu chi tiết về quy trình sản xuất hiện đại, khép kín cùng hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt của TVONE. Chia sẻ với đoàn tham quan về phương hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới, lãnh đạo công ty nhấn mạnh: “TVONE

sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, mở rộng quy mô sản xuất và tiên phong ứng dụng các công nghệ phụ gia thức ăn chăn nuôi tiên tiến nhằm tối ưu hóa hiệu quả cho người chăn nuôi”.
Những chia sẻ thực tế của lãnh đạo công ty đã tạo ấn tượng mạnh mẽ tới các đại biểu, một lần nữa khẳng định vị thế và tầm nhìn của TVONE trong việc trở thành đối tác tin cậy trong chuỗi cung ứng ngành chăn nuôi. Thông qua buổi tọa đàm lần này, TVONE Việt Nam khẳng định vai trò không chỉ là nhà sản xuất uy tín mà còn là đơn vị kết nối quan trọng, tạo không gian mở để doanh nghiệp hai nước Việt – Trung cùng ngồi lại, thảo luận và tìm kiếm cơ hội đầu tư.
SỰ KẾT HỢP VIỆT - HÀN
NGHIÊN CỨU PHYTOGENICS
Nền tảng cho
các giải pháp chăn nuôi thế
hệ mới

Trong bối cảnh ngành chăn nuôi toàn cầu đang từng bước
sinh và hướng tới các giải pháp tự nhiên, bền vững, Phytogenics đang trở thành một trong những lĩnh vực
Tại Việt Nam, TVOne đã lựa chọn con đường phát triển dựa trên nền tảng khoa học, thông qua sự kết hợp giữa các chuyên gia Việt Nam và Hàn Quốc, nhằm nghiên cứu và phát triển các giải pháp phụ gia từ chiết xuất thực vật phù hợp với điều kiện chăn nuôi trong nước.
Khi tri thức quốc tế được “bản địa hóa”
Nếu trước đây kháng sinh được xem là công cụ quan trọng để duy trì năng suất thì hiện nay, yêu cầu về an toàn thực phẩm, sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững đang thúc đẩy ngành chăn nuôi tìm kiếm các giải pháp thay thế hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh đó, Phytogenics - nhóm phụ gia thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ thảo dược, tinh dầu và các hoạt chất thực vật - được đánh giá là một trong những hướng đi giàu tiềm năng nhờ khả năng hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường miễn dịch và cải thiện hiệu quả sản xuất một cách tự nhiên.
TVOne Việt Nam đã xây dựng Hội đồng Tư vấn Khoa học với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước, trong đó nổi bật là Tiến sĩ Trần Quốc Việtnguyên Trưởng Bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn Chăn nuôi, Viện Chăn nuôi và Giáo sư InHo Kim - Trưởng khoa Công nghệ Sinh học và Kỹ thuật Sinh học, Đại học Dankook (Hàn Quốc).
Giá trị của sự kết hợp Việt - Hàn trong nghiên cứu Phytogenics
Trong lĩnh vực dinh dưỡng vật nuôi tại
châu Á, Giáo sư In-Ho Kim được biết đến là chuyên gia có nhiều đóng góp trong nghiên cứu dinh dưỡng heo và gia cầm. Ông từng nhận Chứng nhận Dinh dưỡng Heo bang Kansas (Mỹ), Giải thưởng Dinh dưỡng Purina Hàn Quốc và nhiều giải thưởng học thuật khác. Đồng thời, ông cũng là thành viên của nhiều tổ chức khoa học quốc tế như Hiệp hội Khoa học Động vật Mỹ (ASAS), Hiệp hội Khoa học Động vật Úc - Á (AAAP) và Hiệp hội Khoa học Động vật Hàn Quốc.
Trong khi đó, Tiến sĩ Trần Quốc Việt là một trong những chuyên gia giàu kinh nghiệm của ngành chăn nuôi Việt Nam trong lĩnh vực dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi. Với nhiều năm công tác tại Viện Chăn nuôi, ông đã tham gia nghiên cứu, tư vấn và xây dựng các giải pháp dinh dưỡng cho nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước.
Theo đại diện TVOne, giá trị lớn nhất của mô hình hợp tác này nằm ở khả năng kết nối giữa tri thức khoa học quốc tế và kinh nghiệm thực tiễn tại Việt Nam. Các chuyên gia Hàn Quốc mang đến kinh nghiệm nghiên cứu dinh dưỡng vật nuôi hiện đại, phương pháp
đánh giá khoa học tiên tiến và sự cập nhật liên
tục về xu hướng ứng dụng Phytogenics trên thế giới. Trong khi đó, các chuyên gia Việt Nam lại có lợi thế về hiểu biết điều kiện chăn
nuôi thực tế, nguồn nguyên liệu thức ăn, đặc điểm dịch bệnh cũng như nhu cầu của người chăn nuôi trong nước. Chính sự kết hợp này giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, đồng thời nâng cao khả năng
thương mại hóa các kết quả khoa học.
Từ nghiên cứu khoa học đến các giải pháp thực tiễn cho ngành chăn nuôi
Kết quả của quá trình hợp tác nghiên cứu không chỉ dừng lại ở các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm mà đã được chuyển hóa thành các dòng sản phẩm Phytogenic ứng dụng thực tế trong ngành chăn nuôi. Một trong những nhóm giải pháp trọng tâm là bộ sản phẩm hỗ trợ gia tăng năng suất vật nuôi. Thông qua việc tác động tích cực lên hệ tiêu hóa, các hoạt chất từ thực vật giúp kích thích tiết enzyme tiêu hóa, nâng cao khả năng hấp thu dưỡng chất và cải thiện sức khỏe đường ruột. Nhờ đó, vật nuôi tận dụng thức ăn hiệu quả hơn, tăng trưởng tốt hơn và giảm hao phí trong quá trình sản xuất.
Từ những nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng khoa học và sự đồng hành của các chuyên gia Việt Nam - Hàn Quốc, TVOne đang từng bước chuyển hóa tri thức thành các giải pháp Phytogenic phục vụ thực tiễn sản xuất. Không chỉ hướng đến mục tiêu nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi, những nỗ lực này còn góp phần thúc đẩy xu hướng sử dụng các giải pháp tự nhiên, giảm phụ thuộc vào kháng sinh và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường về an toàn thực phẩm. Đây cũng là hướng đi được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng một nền chăn nuôi hiện đại, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao hơn trong tương lai.







QUẢN LÝ DINH DƯỠNG VÀ SỨC KHỎE
Trước áp lực dịch bệnh ngày càng phức tạp, chi phí sản xuất gia tăng và yêu cầu giảm sử dụng kháng sinh, ngành chăn nuôi heo đang chuyển từ tư duy điều trị sang quản trị sức khỏe tổng thể. Tại Hội thảo “Quản lý dinh dưỡng và sức khỏe trong chăn nuôi heo” do Olmix tổ chức ngày 15/6 tại TP Hồ Chí Minh, các chuyên gia đã chia sẻ nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững.
Hội thảo quy tụ nhiều chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi đến từ nhiều quốc gia, cùng trao đổi về những xu hướng và thách thức đang tác động mạnh mẽ đến ngành heo toàn cầu.
Ngành chăn nuôi heo trước cơ hội tăng trưởng và những thách thức mới
Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Robert Clapham, Tổng Giám đốc Tập đoàn Olmix, cho rằng ngành chăn nuôi heo hiện đang phải đối mặt đồng thời với nhiều áp lực. Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm vẫn tiếp tục lưu hành, người chăn nuôi còn chịu tác động từ biến động giá nguyên liệu thức ăn, các yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn
thực phẩm, phúc lợi động vật và giảm phát
thải môi trường.
Theo ông Robert Clapham, để duy trì tăng trưởng bền vững, ngành chăn nuôi cần tiếp cận đồng bộ giữa dinh dưỡng và quản lý sức khỏe vật nuôi. Trong đó, sức khỏe đàn heo không chỉ là yếu tố kỹ thuật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của trang trại. Ông cũng cho rằng, dinh dưỡng đang ngày càng đóng vai trò chiến lược trong chăn nuôi hiện đại. Ngoài mục tiêu cải thiện tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn, dinh dưỡng còn góp phần nâng cao sức khỏe đường ruột, tăng cường miễn dịch, cải thiện năng suất sinh sản và khả năng chống chịu của vật nuôi trước các yếu tố bất lợi.
Cập nhật bức tranh ngành chăn nuôi tháng 6/2026, ông Trịnh Quang Thanh, Tổng
Giám đốc Olmix Asialand Việt Nam cho biết, sản xuất thịt toàn cầu năm 2026 được dự báo tăng trưởng chậm lại do sự suy giảm của nhóm thịt đỏ. Trong khi đó, ngành gia cầm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định.
Đối với ngành heo, sản lượng toàn cầu được dự báo giảm, đặc biệt tại Trung Quốc và Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ thịt trong giai đoạn 2025 - 2030 vẫn tiếp tục tăng tại nhiều khu vực, nổi bật là Nam Á và Đông Nam Á. Đây được xem là động lực quan trọng cho tăng trưởng ngành chăn nuôi trong những năm tới.
Tại Việt Nam, kinh tế vĩ mô tiếp tục tạo nền tảng thuận lợi cho tiêu dùng thực phẩm. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, mức cao nhất
kể từ năm 2011; GDP bình quân đầu người
đạt khoảng 5.026 USD. Tổng đàn heo cả
nước đạt khoảng 31,4 triệu con, duy trì tốc
độ tăng trưởng khoảng 3% mỗi năm. Tiêu thụ thịt bình quân đầu người đạt trên 63,6 kg, trong đó thịt heo vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như giá nguyên liệu thức ăn tăng do biến động địa chính trị, tốc độ tái đàn chậm, áp lực từ các quy định về môi trường và nguy cơ dịch bệnh mới phát sinh.
Dịch bệnh diễn biến phức tạp, an toàn sinh học tiếp tục là tuyến phòng thủ quan trọng
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại Hội thảo là các tham luận liên quan đến dịch tả heo châu Phi (ASF) và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn heo
Theo TS Lee Won Hyung, Chủ tịch XP Bio Inc., ASF đã làm thay đổi đáng kể cấu trúc ngành chăn nuôi heo tại nhiều quốc gia châu Á trong hơn 5 năm qua. Trung Quốc được ước tính mất từ 150 - 200 triệu con heo do dịch bệnh, trong khi tổng đàn heo tại Việt Nam từng giảm khoảng 40% trong giai đoạn cao điểm. Mặc dù, nhiều quốc gia đã phục hồi sản xuất, virus ASF vẫn tiếp tục lưu hành và nguy cơ tái bùng phát luôn hiện hữu. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các biến thể virus mới cùng những hạn chế trong quá trình phát triển vaccine khiến công tác kiểm soát dịch bệnh trở nên phức tạp hơn. TS. Lee nhận định, trong bối cảnh hiện nay, an toàn sinh học vẫn là “lá chắn” quan trọng nhất đối với ngành chăn nuôi heo. Việc kiểm soát nghiêm ngặt người, phương tiện và vật nuôi ra vào trang trại; xây dựng vùng đệm an toàn; tăng cường sát trùng, giám sát dịch tễ và đào tạo nhân sự là những giải pháp mang tính quyết định.
Cập nhật tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, PGS.TS Lê Văn Phan, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, bên cạnh chủng ASF genotype II xuất hiện từ năm 2019, Việt Nam đã ghi nhận thêm các chủng virus đột biến và chủng tái tổ hợp mới có độc lực cao. Đáng chú ý, từ năm 2023, một chủng ASF tái tổ hợp genotype I/II lần đầu tiên
được phát hiện tại Việt Nam với khả năng gây bệnh cấp tính và lây lan nhanh. Các nghiên
cứu bước đầu cho thấy những vaccine ASF thương mại hiện có chưa bảo vệ đầy đủ trước chủng virus này. Đối với PRRS, nhiều dòng virus khác nhau đang đồng thời lưu hành tại Việt Nam, trong đó có các chủng mới nổi như NADC30 và NADC34, làm giảm hiệu quả bảo hộ của vaccine hiện hành. Trong khi đó, sự xuất hiện của chủng SAT1 gây bệnh lở mồm long móng tại Trung Quốc vào đầu năm 2026 cũng được xem là tín hiệu cảnh báo đáng chú ý đối với Việt Nam, bởi các loại vaccine đang sử dụng hiện chưa tạo được miễn dịch chéo đối với chủng virus này. Theo các chuyên gia, những diễn biến mới cho thấy dịch bệnh trên đàn heo ngày càng phức tạp và khó lường. Điều này đòi hỏi người chăn nuôi phải nâng cao năng lực quản trị sức khỏe đàn vật nuôi thay vì chỉ tập trung xử lý khi dịch bệnh xảy ra.
Từ dinh dưỡng đến miễn dịch: Xây dựng sức khỏe đàn heo từ nền tảng
Nếu dịch bệnh là thách thức lớn nhất thì dinh dưỡng và miễn dịch được xem là giải pháp cốt lõi để nâng cao sức chống chịu của đàn heo trong điều kiện chăn nuôi hiện nay. Xuyên suốt các phiên thảo luận chuyên đề, các chuyên gia đều nhấn mạnh rằng sức khỏe đàn heo không bắt đầu từ thuốc hay vaccine mà từ khả năng hấp thu và sử dụng dinh dưỡng hiệu quả. Trong bối cảnh chi phí thức ăn vẫn chiếm hơn 60% giá thành sản xuất, việc tối ưu hiệu quả sử dụng thức ăn đang trở thành một trong những giải pháp quan trọng nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh của người chăn nuôi.
Nhiều tham luận cho thấy những tổn thất trong chăn nuôi không chỉ đến từ các bệnh truyền nhiễm mà còn xuất phát từ những yếu tố âm thầm như độc tố nấm mốc, mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột hoặc hiệu quả tiêu hóa kém. Đây là những nguyên nhân làm suy giảm tăng trưởng, ảnh hưởng đến khả năng miễn dịch và làm giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn.
Theo ông Trần Hữu Trang, Quản lý Sản xuất Olmix Asialand Việt Nam, xu hướng chăn nuôi hiện đại đang chuyển từ tư duy điều trị sang phòng ngừa, trong đó dinh dưỡng đóng vai trò nền tảng trong việc xây dựng sức khỏe vật nuôi từ gốc.
Một trong những nội dung được quan tâm tại Hội thảo là các giải pháp hỗ trợ tiêu hóa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Các nghiên cứu được trình bày cho thấy việc cải thiện khả năng tiêu hóa protein, năng lượng và các axit amin thiết yếu có thể giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi, đồng thời tạo điều kiện tối ưu hóa công thức khẩu phần trong bối cảnh giá nguyên liệu liên tục biến động.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng dành nhiều thời gian trao đổi về dinh dưỡng khoáng và ứng dụng hệ thống năng lượng thuần (Net Energy - NE) trong xây dựng khẩu phần. Đây được xem là những hướng tiếp cận quan trọng giúp nâng cao khả năng hấp thu dinh dưỡng, tối ưu chi phí thức ăn và giảm tác động môi trường từ hoạt động chăn nuôi.
Nếu dinh dưỡng là nền tảng thì miễn dịch chính là hàng rào bảo vệ đầu tiên của vật nuôi. Một trong những nội dung nổi bật tại hội thảo là các giải pháp nâng cao chất lượng và sản lượng sữa non ở heo nái nhằm cải thiện khả năng truyền miễn dịch từ mẹ sang con. Theo các chuyên gia, những giờ đầu sau sinh có ý nghĩa quyết định đối với khả năng sống sót và phát triển của heo con. Chất lượng miễn dịch đầu đời phụ thuộc rất lớn vào việc tiếp nhận sữa non, nguồn cung cấp kháng thể tự nhiên quan trọng nhất từ mẹ sang con.
Các nghiên cứu cho thấy, nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng sữa non như dinh dưỡng cuối thai kỳ, nguồn nước uống, điều kiện chuồng nuôi, stress nhiệt và phúc lợi động vật. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam, việc quản lý tốt các yếu tố này có thể góp phần nâng cao khả năng truyền miễn dịch và cải thiện tỷ lệ sống của heo sơ sinh. Khép lại các phiên chuyên đề, các diễn giả cùng thống nhất rằng sức khỏe đàn heo không được quyết định bởi một giải pháp đơn lẻ mà là kết quả của sự phối hợp đồng bộ giữa dinh dưỡng, miễn dịch, an toàn sinh học, môi trường chăn nuôi và công tác quản lý trang trại. OANH THẢO
tổ hợp gà thịt công nghệ cao
Tổ hợp chăn nuôi gà thịt công nghệ cao DHN Tây Ninh 2 vừa chính thức tiếp nhận lô gà đầu tiên, đánh dấu cột mốc quan trọng trong quá trình
đưa dự án vào vận hành thực tế. Đây là một trong những tổ hợp chăn nuôi gà thịt ứng dụng công nghệ cao có quy mô lớn tại khu vực Đông
Nam Á, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi Việt Nam trên thị trường quốc tế.
DHN Tây Ninh 2 do Tập đoàn Hùng Nhơn làm chủ đầu tư, được triển khai cùng đối tác chiến lược De Heus (Hà Lan) với tổng vốn đầu tư gần 275 tỷ đồng. Dự án là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông nghiệp khép kín theo mô hình “Con giốngThức ăn - Chăn nuôi - Chế biến - Tiêu thụ”, quy tụ sự tham gia của nhiều doanh nghiệp hàng đầu châu Âu.
Theo đó, Tập đoàn Hùng Nhơn đảm nhận vai trò đầu tư và vận hành trang trại; De Heus cung cấp giải pháp dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi; Bel Gà cung cấp con giống; Big Dutchman phụ trách hệ thống thiết bị và tự động hóa; Olmix cung cấp các giải pháp sinh học; Boehringer Ingelheim hỗ trợ vaccine và chăm sóc sức khỏe vật nuôi; trong khi Den Ouden GrowSolutions phát triển các giải pháp hữu cơ và cải tạo đất.
DHN Tây Ninh 2 là một trong 13 dự án nông nghiệp công nghệ cao do Hùng Nhơn và De Heus hợp tác triển khai tại tỉnh Tây Ninh với tổng vốn đầu tư khoảng 13.100 tỷ đồng. Dự án được thiết kế với công suất 5 triệu con gà thịt mỗi năm, tổng diện tích sàn hơn 74.000 m².
Theo quy hoạch đến năm 2036, toàn bộ chuỗi dự án dự kiến đạt quy mô 200 triệu gà giống, 25 triệu gà thịt xuất khẩu mỗi năm cùng 10.000 heo cụ kỵ, hướng tới doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm.
Hệ thống chuồng nuôi khép kín được tích hợp các công nghệ hiện đại trong kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, nguồn nước và thức ăn. Nhiều công đoạn sản xuất được tự động
hóa giúp tối ưu năng suất, giảm hao hụt, tăng cường an toàn sinh học và đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc của thị trường trong nước và quốc tế.
Trước đó, Hùng Nhơn và De Heus cũng đã đưa về Việt Nam 1.250 con heo cụ kỵ, ông bà chất lượng cao từ Canada của đối tác Topigs Norsvin để phục vụ Tổ hợp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao DHN Đắk Lắk, cho thấy chiến lược đầu tư dài hạn, nhằm phát triển ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại và bền vững.
Theo ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch Tập đoàn Hùng Nhơn, việc DHN Tây Ninh 2 chính thức đi vào vận hành là minh chứng cho năng lực tổ chức sản xuất cũng như sự phối hợp hiệu quả giữa các đối tác quốc tế trong các lĩnh vực con giống, dinh dưỡng, thiết bị chăn nuôi, vaccine và giải pháp sức khỏe vật nuôi.
Ngay từ thời điểm nhập trại, đàn gà một ngày tuổi đã được kiểm tra sức khỏe và đưa vào khu úm được chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, thức ăn và nước uống theo đúng quy trình kỹ thuật.
Trong suốt quá trình nuôi, đàn gà được áp dụng chương trình dinh dưỡng phù hợp theo từng giai đoạn phát triển. Đồng thời, các chương trình phòng bệnh bằng vaccine cùng các giải pháp sinh học cũng được triển khai nhằm nâng cao sức đề kháng và duy trì sự ổn định của đàn vật nuôi. Ông Weera Phongphit, Phó Tổng Giám đốc mảng sản xuất Tập đoàn Hùng Nhơn cho biết, toàn bộ quy trình sản xuất được quản lý xuyên suốt từ khâu tiếp nhận con giống, chăm sóc, theo dõi sức khỏe, quản lý khẩu phần ăn, nước uống cho đến vệ sinh và khử trùng chuồng trại sau mỗi lứa nuôi. Để bảo đảm vận hành hiệu quả ngay từ giai đoạn đầu, Hùng Nhơn và De Heus đã phối hợp cùng Boehringer Ingelheim và Olmix tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ nhân sự trực tiếp làm việc tại trang trại.
Các nội dung đào tạo tập trung vào an toàn sinh học, kỹ thuật chăm sóc gà con, kiểm soát môi trường chăn nuôi, bảo quản vaccine, theo dõi sức khỏe đàn vật nuôi và quản lý dữ liệu sản xuất theo tiêu chuẩn hiện đại.
Cũng trong dịp này, DHN Tây Ninh 2 đã tiếp nhận hệ thống kho lạnh bảo quản vaccine do Olmix và Boehringer Ingelheim trao tặng. Hệ thống góp phần bảo đảm điều kiện lưu trữ vaccine theo tiêu chuẩn kỹ thuật, nâng cao hiệu quả công tác phòng bệnh và hỗ trợ vận hành trang trại một cách ổn định, bền vững.


Ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, bất chấp áp lực từ dịch bệnh và chi phí đầu vào gia tăng. Giai đoạn 2020 - 2024, ngành ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 5,4%/năm, đạt 8,3 triệu tấn thịt hơi vào năm 2024. Trong đó, gia cầm (+6,0%) và thịt heo (+5,6%) tiếp tục là hai phân khúc chủ lực, đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng và đảm bảo nguồn cung thị trường. (Nguồn: Bộ NN&MT)
Tuy nhiên, các rủi ro như dịch tả heo châu Phi (ASF), cùng với yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn xuất khẩu, đang thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào hệ thống thú y, an toàn sinh học và mô hình sản xuất tích hợp quy mô lớn. Xu hướng chuyển dịch sang quản lý sức khỏe vật nuôi theo hướng phòng ngừa, ứng dụng công nghệ và dữ liệu không chỉ giúp tối ưu hiệu quả vận hành mà còn trở thành yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong dài hạn. Kiến tạo tương lai ngành chăn nuôi bằng đổi mới và kết nối chiến lược Vietstock Expo & Forum
được định vị là nền tảng chiến lược, nơi các nhà lãnh đạo ngành, nhà cung cấp giải pháp và cơ quan quản lý cùng hội tụ
để định hình giai đoạn phát triển tiếp theo của ngành chăn nuôi.
Sự kiện không chỉ dừng lại ở trưng bày sản phẩm mà còn tập trung thúc đẩy tăng trưởng dựa trên đổi mới thông qua chia sẻ tri thức và hợp tác cấp cao.
Vietstock 2026 dự kiến quy tụ 300+ thương hiệu, trên 10.000 m² diện tích trưng bày, chào đón
13.000 khách tham quan thương mại từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, tạo nên một nền tảng toàn diện kết nối toàn bộ chuỗi giá trị ngành chăn nuôi và thú y, từ thức ăn chăn nuôi, con giống, sức khỏe vật nuôi đến thiết bị trang trại và chế biến.
Từ các hệ thống chăn nuôi thông minh, giải pháp giống tiên tiến đến quản lý trang trại số hóa và đổi mới trong lĩnh vực thú y, người tham gia có cơ hội tiếp cận trực tiếp với các công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và khả năng thích ứng. Quan trọng hơn, Vietstock tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ đối tác chiến lược, giúp doanh nghiệp đồng phát triển giải pháp, giảm thiểu rủi ro và chủ động ứng phó với các thách thức của
ngành như dịch bệnh, biến động chi phí và yêu cầu tuân thủ môi trường.
Nâng tầm doanh nghiệp Việt tại Khu gian hàng Việt Nam để
vươn ra toàn cầu
Khu gian hàng Việt Nam giúp doanh nghiệp trong nước khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị
ngành chăn nuôi và thú y toàn cầu. Góp phần thể hiện năng lực
ngày càng nâng cao của doanh
nghiệp Việt trong việc cung cấp sản phẩm chất lượng, giải pháp
đổi mới và dịch vụ cạnh tranh,
đồng thời mở rộng hiện diện
trên thị trường quốc tế.
Với sự đồng hành và hỗ trợ từ Cục Chăn nuôi và Thú y, các
doanh nghiệp tham gia được hưởng điều kiện ưu đãi đặc biệt, bao gồm giảm đến 45% chi phí tham gia triển lãm. Chính sách này góp phần giảm rào cản tham gia, tạo điều kiện để doanh nghiệp,đặc biệt là SMEs, tiếp cận thị trường quốc tế hiệu quả hơn. Thông qua việc kết nối trực

tiếp với nhà mua hàng, nhà phân phối và đối tác chiến lược quốc
tế, Khu gian hàng Việt Nam giúp doanh nghiệp đối chiếu tiêu chuẩn toàn cầu, nâng cao định vị thương hiệu và mở rộng cơ hội xuất khẩu. Đồng thời, khu gian hàng góp phần củng cố hình ảnh
Việt Nam như một nguồn cung đáng tin cậy và điểm đến đang lên về đổi mới trong ngành chăn nuôi khu vực.
Mở khóa các quan hệ đối tác giá trị cao trong toàn bộ chuỗi giá trị ngành chăn nuôi
Vietstock Expo & Forum
được thiết kế nhằm mang lại kết
quả kinh doanh cụ thể bằng cách
kết nối các nhà ra quyết định trong toàn bộ chuỗi giá trị chăn
LIÊN HỆ:
nuôi và thú y, từ thức ăn chăn nuôi, con giống, sức khỏe vật nuôi đến thiết bị trang trại, sản xuất và chế biến. Sự kiện tạo điều kiện cho các tương tác mục tiêu, chất lượng cao, vượt xa hình thức kết nối truyền thống, tập trung vào các quan hệ hợp tác mang lại giá trị thương mại thực tế. Trong bối cảnh ngành đang tăng tốc chuyển đổi số và hướng đến phát triển bền vững, đặt gian hàng tại Vietstock 2026 là bước đi chiến lược để định vị thương hiệu, tiếp cận khách hàng trọng điểm và khai thác các cơ hội kinh doanh giá trị cao. Tham gia triển lãm không chỉ là hiện diện, mà là đầu tư cho tăng trưởng.
• Website: https://www.vietstock.org/
• Đặt gian hàng: Ms. Sophie Nguyen - Sophie.nguyen@informa.com
• Hỗ trợ tham quan: Ms. Phuong - Phuong.c@informa.com
• Hỗ trợ truyền thông: Ms. Anita Pham - Anita.pham@informa.com
Chìa khóa cắt giảm kháng sinh bền vững trong chăn nuôi heo

Cắt giảm kháng sinh đã trở thành yêu cầu tất
vừa củng cố sức khỏe đường ruột, vừa đảm bảo năng suất.
Từ lạm dụng đến kiểm soát kháng sinh
Trong hơn hai thập kỷ qua, ngành chăn nuôi heo toàn cầu tăng tốc mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt heo đã tăng hơn 33% kể từ năm 2002. Sức ép về sản lượng thúc đẩy sự mở rộng của các mô hình nuôi thâm canh với mật độ cao và tốc độ tăng trưởng nhanh. Song chính cấu trúc sản xuất này lại khiến bài toán kiểm soát dịch bệnh và duy trì sức khỏe đàn heo trở nên phức tạp và thách thức hơn bao giờ hết.
Nhằm kiểm soát bệnh truyền nhiễm và tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, kháng sinh từng được sử dụng rộng rãi trong thức ăn và
nước uống cho heo. Từ giữa thế kỷ XX, việc
bổ sung kháng sinh ở liều dưới ngưỡng điều
trị vào khẩu phần để kích thích tăng trọng và
cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) đã trở thành phương pháp chăn nuôi phổ biến trên toàn cầu. Thông qua việc điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột, giảm mật độ vi khuẩn và hạn chế phản ứng viêm, các hoạt chất này góp phần nâng cao hiệu suất tăng trưởng và
hiệu quả sử dụng thức ăn.
Tuy nhiên, theo thời gian, bằng chứng khoa học ngày càng củng cố mối liên hệ giữa việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và sự gia tăng vi khuẩn kháng thuốc ở người. Các chủng vi khuẩn này có thể truyền từ vật nuôi sang con người qua tiếp xúc trực tiếp, môi trường hoặc chuỗi thực phẩm, làm dấy lên lo ngại nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng. Trước áp lực đó, nhiều cơ quan quản lý tại Liên minh châu Âu và các khu vực khác đã siết chặt quy định, thậm chí cấm hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh như chất kích thích sinh trưởng. Những biện pháp này mang lại hiệu quả rõ rệt: trong giai đoạn 2011 - 2022, doanh số kháng sinh thú y tại một số quốc gia châu Âu đã giảm hơn 50%. Tuy nhiên, ở không ít khu vực khác, kháng sinh vẫn được sử dụng thường quy trong sản xuất chăn nuôi.
Trước thực tế đó, cắt giảm kháng sinh trong chăn nuôi heo không còn là lựa chọn mà trở thành trách nhiệm chung của toàn
chuỗi sản xuất. Bài toán này đòi hỏi một chiến lược tổng thể, với sự tham gia đồng bộ của nhà quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học và người chăn nuôi. Ở cấp độ trang trại, nâng chuẩn vệ sinh, cải thiện phúc lợi vật nuôi, siết chặt an toàn sinh học và đầu tư vào các giải pháp dinh dưỡng thay thế là những đòn bẩy quan trọng giúp giảm phụ thuộc vào kháng sinh. Đây là nền tảng để bảo đảm an ninh lương thực bền vững và duy trì hiệu lực điều trị của kháng sinh trong dài hạn.
Vì vậy, phát triển các giải pháp thay thế an toàn và hiệu quả, có khả năng duy trì năng suất đồng thời bảo toàn kháng sinh cho mục đích điều trị, đã trở thành yêu cầu trọng tâm của ngành chăn nuôi heo trong tương lai. Sức mạnh thực vật phytogenic
Phụ gia phytogenic (PFAs) bao gồm thảo mộc, gia vị, tinh dầu và các chiết xuất thực vật giàu hoạt chất sinh học. Không chỉ mang đặc tính kháng viêm, chống ôxy hóa, điều hòa miễn dịch và hỗ trợ tiêu hóa, nhiều PFAs
còn thể hiện hoạt lực sinh học rõ rệt, mở ra tiềm năng cắt giảm kháng sinh trong chăn nuôi theo hướng bền vững.
Khác với kháng sinh tổng hợp vốn tác động theo cơ chế đặc hiệu, PFAs thường phát huy hiệu quả thông qua cơ chế đa mục tiêu và tương tác hiệp lực. Chính phương thức tác động phức hợp này góp phần hạn chế nguy cơ hình thành và lan rộng hiện tượng kháng kháng sinh.
Một trong những giá trị cốt lõi của PFAs nằm ở khả năng củng cố sức khỏe đường ruột - trung tâm điều phối hấp thu dinh dưỡng, đáp ứng miễn dịch và sức đề kháng tổng thể của vật nuôi. Nhiều nghiên cứu cho thấy, phytogenic có thể kích thích lượng ăn vào, cải thiện tốc độ tăng trọng và tối ưu hệ số chuyển hóa thức ăn, từ đó mang lại hiệu quả sản xuất tương đương các chất kích thích sinh trưởng truyền thống, nhưng theo hướng an toàn và bền vững hơn.
Hiệu lực của phytogenic bắt nguồn từ hệ hợp chất hoạt tính sinh học phong phú trong thực vật. Một số thành phần thể hiện khả năng kháng khuẩn mạnh, đặc biệt trên vi khuẩn Gram dương; những thành phần khác tham gia điều biến hệ vi sinh đường ruột, ức chế vi khuẩn gây bệnh, tăng cường đáp ứng miễn dịch và nâng cao nồng độ IgA niêm mạc. Nhờ cơ chế tác động đa chiều này, phytogenic không chỉ cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), mà còn thúc đẩy tăng trọng, nâng cao khối lượng xuất chuồng và cải thiện tỷ lệ thịt xẻ.
Hiệu ứng hiệp lực giữa các hoạt chất phytogenic chính là nền tảng hình thành Anta®Phyt - giải pháp dinh dưỡng đã được kiểm chứng do Dr. Eckel Animal Nutrition phát triển tại Đức. Sản phẩm được xây dựng nhằm xử lý các thách thức cốt lõi trong chăn nuôi heo hiện đại, thông qua việc hỗ trợ tự nhiên sức khỏe đường ruột, tối ưu hiệu suất tăng trưởng và cải thiện chất lượng đầu ra. Kết quả từ nhiều thử nghiệm thực nghiệm và thực địa cho thấy, Anta®Phyt góp phần nâng cao sức bền sinh học và năng suất đàn heo, đồng thời thể hiện tiềm năng rõ rệt trong chiến lược cắt giảm kháng sinh mà vẫn duy trì hiệu quả sản xuất.
Cắt mạnh kháng sinh, bứt phá tăng trọng
Một thử nghiệm thực địa gần đây tại Peru trên 1.460 heo thịt, theo dõi từ 70 đến 145 ngày tuổi, tiếp tục khẳng định hiệu quả của Anta®Phyt trong điều kiện sản xuất thương mại. Đàn heo được bố trí theo hai nghiệm thức. Nhóm đối chứng dương tính sử dụng khẩu phần bổ sung 200 g/t Enramycin và



100 g/t Halquinol; trong khi nhóm phytogenic được bổ sung 200 g/t Anta®Phyt kết hợp 100 g/t Halquinol. Mô hình thí nghiệm được lặp lại hai chu kỳ và ghi nhận kết quả nhất quán qua các lần đánh giá.
Kết thúc giai đoạn nuôi, heo ở nhóm bổ sung Anta®Phyt đạt khối lượng xuất chuồng trung bình cao hơn 6,1 kg so với nhóm đối chứng. Đồng thời, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) được cải thiện 2,7% (tương đương 6,5 điểm). Đáng chú ý, phác đồ sử dụng kháng sinh được rút gọn đáng kể, với mức cắt giảm tới hai phần ba khi chỉ còn duy trì một hoạt chất thay vì hai như ở nghiệm thức đối chứng.
Bên cạnh đó, sản lượng thịt trên mỗi con và hiệu quả sử dụng thức ăn đều được cải thiện rõ rệt, tạo nền tảng cho mô hình nuôi bền vững và hiệu quả hơn. Các dữ liệu thu được cho thấy việc cắt giảm mạnh kháng
sinh nhưng vẫn duy trì, thậm chí nâng cao hiệu suất sản xuất là hoàn toàn khả thi khi triển khai giải pháp phytogenic phù hợp và được chuẩn hóa.
Chăn nuôi heo có trách nhiệm
Giảm sử dụng kháng sinh là thách thức nhưng cũng là yêu cầu tất yếu của chăn nuôi heo hiện đại. Khi kỷ nguyên kháng sinh kích thích tăng trưởng dần khép lại, các nhà sản xuất phải tìm kiếm những giải pháp thay thế đủ mạnh để vừa bảo vệ sức khỏe vật nuôi, vừa duy trì hiệu quả kinh tế.
Phụ gia phytogenic như Anta®Phyt đang cho thấy tiềm năng trở thành lựa chọn bền vững, giúp tối ưu FCR, cải thiện năng suất và giảm đáng kể nhu cầu kháng sinh. Việc nghiên cứu, đánh giá và triển khai rộng rãi các giải pháp thay thế này tại trang trại sẽ là bước then chốt để xây dựng ngành chăn nuôi heo hiện đại, có trách nhiệm và hướng đến tương lai bền vững.


Tuyến phòng thủ đầu
Sức khỏe đàn gia cầm đóng vai trò then chốt trong việc duy trì hiệu quả sản xuất ở mọi khâu chăn nuôi. Vì vậy, tăng cường an toàn sinh học nhằm bảo vệ phúc lợi đàn nuôi, hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh và đảm bảo an toàn thực phẩm là yêu cầu thiết yếu đối với mọi trang trại.
Một chương trình an toàn sinh học hiệu quả phải bắt đầu bằng công tác vệ sinh trang trại trước khi nhập đàn mới. Trước giai đoạn xuất bán đàn, cần xây dựng kế hoạch làm sạch tổng thể cho toàn bộ khu chăn nuôi. Khi chuồng vẫn còn ấm, tiến hành phun thuốc diệt côn trùng phù hợp và đảm bảo người thực hiện luôn sử dụng đầy đủ thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE). Tiếp đó, loại bỏ toàn bộ bụi bẩn, mạng nhện trên thiết bị và trong chuồng nuôi, đồng thời phun chất sát trùng để làm ẩm bụi. Đóng kín rèm che, đưa các thiết bị di động ra ngoài và nâng toàn bộ thiết bị cố định lên để thuận tiện cho việc vệ sinh. Toàn bộ chất độn chuồng phải được thu gom, xử lý và vận chuyển cách trang trại ít nhất 3,2 km. Sau cùng, rửa sạch chuồng trống bằng chất tẩy rửa và xả lại bằng nước nóng.
Hệ thống nước uống cần được xả, vệ sinh và súc rửa kỹ. Sử dụng dung dịch clo nồng độ cao (140 ppm) trong 24 giờ để loại bỏ màng sinh học. Sau đó, cho dung dịch axit nhẹ như axit acetic vào hệ thống trong 24 giờ nhằm loại bỏ cặn bám, rồi xả sạch. Toàn bộ thiết bị cho ăn cần được làm trống, vệ sinh và sát trùng. Chải sạch bên trong các silo chứa thức ăn và bịt kín mọi khe hở. Nếu có thể, nên xông khử trùng hệ thống cấp thức ăn.
Để hóa chất phát huy hiệu quả tối đa, mọi bề mặt phải sạch bụi bẩn và chất hữu cơ. Khi chuồng đã khô hoàn toàn, tiến hành phun chất sát trùng được phê duyệt. Việc sử dụng chất sát trùng trên bề mặt còn ướt sẽ làm pha loãng hóa chất, từ đó giảm hiệu quả khử trùng. Phần lớn các chất sát trùng không có hiệu quả đối với noãn nang cầu trùng. Tại những nơi được phép xông formol, quá trình này nên thực hiện ngay sau khi sát trùng, khi bề mặt vẫn còn ẩm. Đóng kín chuồng và không cho người vào ít nhất 24 giờ. Sau đó thông thoáng chuồng trước khi quay lại làm việc. Tiếp tục xông khử
trùng lần nữa sau khi trải chất độn chuồng mới. Phun lại thuốc diệt côn trùng trước khi nhập đàn kế tiếp.
Khu vực bên ngoài chuồng
cũng cần được rửa và sát trùng.
Đặc biệt chú ý các vị trí tích tụ nhiều bụi hoặc có mật độ di chuyển cao như khu vực dưới quạt thông gió, dưới silo thức ăn, lối đi, cửa ra vào và máng. Xung quanh chuồng nên được phủ bê tông hoặc đá sỏi. Tối thiểu cần
loại bỏ toàn bộ cỏ dại và đảm bảo khu vực không tồn đọng thiết bị hay máy móc.
Trước khi nhập đàn mới, chuồng nuôi cần được kiểm tra Salmonella và tổng số vi khuẩn. Nếu kết quả vượt ngưỡng cho phép hoặc phát hiện Salmonella, chuồng phải được vệ sinh lại và khử trùng nếu cần thiết. Thực hành tối ưu là áp dụng nguyên tắc “âm tính mới nhập đàn”, tức
chỉ đưa gia cầm vào nuôi khi các
chỉ tiêu kiểm tra đạt yêu cầu.
Việc theo dõi mật độ vi khuẩn
định kỳ theo thời gian cũng góp phần nâng cao hiệu quả vệ sinh và kiểm soát an toàn sinh học trong trang trại.
Chất lượng nước cũng cần
được giám sát ít nhất mỗi năm
một lần. Mục tiêu là không phát
hiện khuẩn coliform trong hệ
thống nước uống. Khi sử dụng clo để khử trùng hệ thống nước, nồng độ clo tự do ở cuối đường
ống nên đạt 3 - 5 ppm. Ngoài ra, có thể áp dụng các phương pháp
xử lý nước khác khi phù hợp.
Khuyến cáo xả định kỳ hệ thống nước để ngăn tích tụ màng sinh
học. Nếu phát hiện chất hữu cơ trong nước xả, cần rà soát và
điều chỉnh chương trình vệ sinh
nước uống.
Con người, quần áo và các
vật dụng mang vào trang trại là nguồn lây truyền mầm bệnh quan trọng. Vì vậy, khu chăn nuôi cần được rào chắn nhằm
hạn chế người không phận sự
ra vào, đồng thời tất cả khách
đến trại phải ghi thông tin vào
sổ theo dõi. Tốt nhất, người vào
trại nên tắm sát trùng; tối thiểu

phải thay quần áo và giày dép
sạch. Cần hạn chế tối đa việc mang thiết bị cá nhân vào khu chăn nuôi, kể cả điện thoại di động hay hộp đựng thức ăn. Mọi thiết bị đều phải được vệ sinh và sát trùng trước khi đưa vào khu vực chăn nuôi. Sử dụng giày dép riêng cho từng chuồng hoặc ít nhất phải khử trùng giữa các chuồng. Tay phải được rửa hoặc sát trùng trước khi vào khu vực nuôi gia cầm. Khi đi kiểm tra đàn, nên theo thứ tự từ đàn nhỏ tuổi đến lớn tuổi.
Chim hoang dã, côn trùng và các loài động vật khác đều có thể mang mầm bệnh. Vì vậy, cần hạn chế tối đa khả năng thu hút chúng đến trang trại. Phải dọn sạch ngay thức ăn rơi vãi và bảo quản toàn bộ thức ăn cũng như chất độn chuồng trong nhà kho kín. Không để máy móc hoặc thiết bị ngoài trời. Loại bỏ toàn
bộ rác thải và vật liệu dư thừa.
Đảm bảo lưới chắn chim và côn
trùng luôn trong tình trạng tốt.
Ngăn chim đậu hoặc làm tổ trên
các công trình trong trại. Đồng thời duy trì chương trình kiểm soát động vật gặm nhấm hiệu quả. Tất cả nguồn nước hở cần được che chắn nhằm hạn chế chim, bò sát hoặc động vật lưỡng cư tiếp cận. Khi có thể, nên áp dụng quy trình “all in/all out” (cùng vào - cùng ra) trong chăn nuôi. Việc để trống chuồng giữa các lứa nuôi sẽ giúp giảm nguy cơ lây truyền dịch bệnh. Thời gian trống chuồng tối thiểu nên đạt 7 ngày giữa các đàn; tuy nhiên, những trại từng gặp vấn đề dịch bệnh cần kéo dài thời gian này và kết hợp thêm các biện pháp vệ sinh tăng cường. An toàn sinh học không phải là biện pháp duy nhất để phòng bệnh, nhưng đó là tuyến phòng thủ đầu tiên. Quy trình vệ sinh, sát trùng triệt để kết hợp với các biện pháp quản lý phù hợp suốt quá trình nuôi sẽ giúp bảo vệ sức khỏe gia cầm và duy trì hiệu quả sản xuất.
→ Để biết thêm thông tin, truy cập
Trung tâm Thông tin Aviagen hoặc quét mã QR.

Tại Việt Nam, ngành chăn nuôi đang đứng trước áp lực kép: vừa phải đảm bảo năng suất, vừa phải đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và xuất khẩu ngày càng khắt khe. Do đó, sử dụng kháng sinh có kiểm soát không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là chiến lược sống còn của ngành chăn nuôi trong giai đoạn mới.
Chăn nuôi hiện đại đang bước vào giai
đoạn “khủng hoảng sinh học”
Phần lớn vấn đề nổi cộm trong chăn nuôi hiện nay không còn đơn thuần nằm ở sự hiện diện của mầm bệnh, mà nằm ở việc vật nuôi đang mất dần khả năng duy trì cân bằng sinh học tự nhiên. Trong nhiều hệ thống chăn nuôi hiện đại, vật nuôi phải đối mặt đồng thời với stress nhiệt, khí độc, độc tố nấm mốc, biến động khẩu phần và rối loạn hệ vi sinh đường ruột. Những yếu tố này tạo ra tình trạng viêm nền kéo dài, làm suy giảm miễn dịch và khiến cơ thể dễ bị tấn công bởi các vi khuẩn cơ hội.
Đó là lý do nhiều trang trại hiện nay rơi vào vòng luẩn quẩn “càng dùng thuốc càng khó kiểm soát bệnh”. Kháng sinh có thể làm giảm triệu chứng trong ngắn hạn, nhưng nếu nền sinh lý và miễn dịch của vật nuôi không được cải thiện thì bệnh sẽ tiếp tục tái phát dưới những dạng phức tạp hơn. Chính thực tế này đang buộc ngành chăn nuôi phải chuyển đổi từ mô hình “năng suất bằng thuốc” sang “năng suất bằng sinh học”, trong đó sức khỏe vật nuôi được quản lý như một hệ sinh thái thay vì chỉ là đối tượng điều trị bệnh.
Sử dụng có kiểm soát Một trong những hiểu lầm phổ biến hiện nay là cho rằng chăn nuôi bền vững đồng nghĩa với việc loại bỏ hoàn toàn kháng sinh. Trên thực tế, kháng sinh vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính và kiểm soát những đợt bùng phát dịch bệnh nguy hiểm. Vấn đề không nằm ở việc “có dùng hay không”, mà nằm ở tư duy sử dụng.
Trong nhiều năm trước, kháng sinh thường được sử dụng như một công cụ quản lý thường xuyên để bù đắp cho các lỗ hổng kỹ thuật trong chăn nuôi. Khi môi trường

chuồng nuôi không ổn định, mật độ quá cao hoặc khẩu phần dinh dưỡng mất cân bằng, thuốc trở thành giải pháp dễ dàng nhất để duy trì tăng trưởng. Tuy nhiên, cách tiếp cận này vô tình tạo ra áp lực chọn lọc cực lớn lên hệ vi sinh vật trong trang trại. Khi vi khuẩn liên tục tiếp xúc với kháng sinh ở nồng độ thấp hoặc thời gian kéo dài, những cá thể nhạy cảm sẽ bị tiêu diệt trong khi các cá thể mang gene kháng thuốc tiếp tục tồn tại và nhân lên. Nguy hiểm hơn, nhiều gene kháng thuốc có thể truyền ngang giữa các loài vi khuẩn thông qua plasmid di truyền. Điều này khiến tốc độ lan rộng của hiện tượng kháng kháng sinh diễn ra nhanh hơn nhiều so với khả năng phát triển thuốc mới.
Do đó, sử dụng kháng sinh có kiểm soát thực chất là chuyển vai trò của kháng sinh từ “công cụ tăng trưởng” sang “công cụ điều trị mục tiêu”. Việc dùng thuốc phải dựa trên chẩn đoán chính xác, đánh giá mức độ tổn thương và theo dõi đáp ứng điều trị thay vì sử dụng đại trà theo thói quen.
Hệ vi sinh đường ruột sẽ quyết định tương lai của chăn nuôi bền vững
Trong 10 năm gần đây, những nghiên cứu về microbiome đã làm thay đổi mạnh tư duy của ngành chăn nuôi hiện đại. Người ta nhận ra rằng hệ vi sinh đường ruột không chỉ đóng vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm điều hòa miễn dịch, chuyển hóa và phản ứng viêm của cơ thể.
Một đàn vật nuôi có microbiome ổn định thường có khả năng tăng trưởng bền vững hơn, tỷ lệ tiêu chảy thấp hơn và phản ứng miễn dịch hiệu quả hơn. Ngược lại, khi hệ vi sinh mất cân bằng, hàng loạt rối loạn sẽ xuất hiện như tăng tính thấm ruột, giảm hấp thu dinh dưỡng, viêm nền kéo dài và suy giảm miễn dịch niêm mạc. Đây chính là cơ chế nền khiến nhiều đàn heo cai sữa hoặc gia cầm tăng trọng nhanh dễ bùng phát bệnh đường ruột dù đã sử dụng kháng sinh liên tục.
Điểm đáng chú ý là việc lạm dụng kháng sinh kéo dài có thể phá hủy hệ vi sinh có lợi nhanh hơn cả khả năng phục hồi tự nhiên của cơ thể. Sau điều trị, nhiều đàn vật nuôi xuất hiện tình trạng tiêu hóa kém, phân sống, tăng FCR và chậm lớn kéo dài dù mầm bệnh chính đã được kiểm soát. Điều này cho thấy hệ vi sinh không đơn thuần là “vi khuẩn cộng sinh” mà thực chất là một phần chức năng sinh học của vật nuôi.
Xu hướng mới hiện nay không còn tập trung vào việc tiêu diệt toàn bộ vi khuẩn mà chuyển sang quản trị microbiome theo hướng có lợi. Các giải pháp như probiotic,
postbiotic, axit hữu cơ và phytogenic feed additive đang được nghiên cứu theo hướng tác động trực tiếp lên hệ vi sinh thay vì chỉ kháng khuẩn đơn thuần.
Dinh dưỡng chức năng sẽ thay thế dần vai trò tăng trưởng của kháng sinh
Một trong những lý do khiến kháng sinh từng giúp vật nuôi tăng trọng tốt là vì chúng làm giảm phản ứng viêm nền trong đường ruột. Khi mức độ viêm giảm xuống, cơ thể sẽ ít tiêu hao năng lượng cho miễn dịch và chuyển nhiều dinh dưỡng hơn cho tăng trưởng. Điều này giải thích vì sao việc cắt bỏ kháng sinh trong các hệ thống chăn nuôi cũ thường làm giảm hiệu suất tăng trọng. Tuy nhiên, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào thuốc, ngành chăn nuôi hiện đại đang chuyển sang sử dụng dinh dưỡng chức năng để kiểm soát viêm nền theo hướng sinh học hơn. Các axit hữu cơ như butyrate hiện được đánh giá rất cao vì không chỉ giảm pH đường ruột mà còn đóng vai trò nguồn năng lượng trực tiếp cho tế bào biểu mô ruột. Khi biểu mô khỏe mạnh, hàng rào miễn dịch tự nhiên sẽ được phục hồi và khả năng xâm nhập của vi khuẩn giảm rõ rệt.
Bên cạnh đó, nhiều hoạt chất từ thực vật như thymol, carvacrol, cinnamaldehyde hay curcumin đang được ứng dụng rộng rãi nhờ khả năng chống oxy hóa và điều hòa miễn dịch. Khác với kháng sinh truyền thống, các hoạt chất này ít tạo áp lực chọn lọc kháng thuốc nhưng vẫn giúp ổn định môi trường ruột và giảm stress sinh học cho vật nuôi. Trong tương lai, dinh dưỡng sẽ không còn đơn thuần là “đáp ứng nhu cầu protein và năng lượng”, mà sẽ trở thành công cụ điều khiển miễn dịch và microbiome. Đây chính là nền tảng quan trọng để giảm phụ thuộc vào kháng sinh mà vẫn duy trì hiệu quả sản xuất cao.
An toàn sinh học trở thành “kháng sinh vô hình” của trang trại
Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân sâu xa khiến dịch bệnh bùng phát không nằm ở độc lực của mầm bệnh mà nằm ở việc môi trường nuôi tạo ra áp lực stress kéo dài lên vật nuôi. Khi nồng độ NH₃ cao, độ ẩm bất ổn hoặc nhiệt độ dao động mạnh, biểu mô hô hấp và tiêu hóa sẽ liên tục bị tổn thương vi thể. Đây chính là cửa ngõ giúp vi khuẩn cơ hội dễ dàng xâm nhập. Trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, nồng độ NH₃ vượt 25 ppm có thể làm giảm hoạt động lông chuyển của khí quản, khiến khả năng tự làm sạch đường hô hấp suy giảm
➢ Bản chất của chăn nuôi bền vững không nằm ở việc “dùng ít thuốc hơn” mà nằm ở khả năng tạo ra một hệ sinh thái sinh học ổn định, nơi vật nuôi có microbiome khỏe mạnh, miễn dịch vững, môi trường nuôi ít áp lực bệnh và khả năng thích nghi cao hơn với biến động sản xuất.
nghiêm trọng. Khi đó, ngay cả những vi khuẩn cơ hội bình thường cũng có thể gây bệnh kế phát rất mạnh. Đây là lý do nhiều đàn gà dù dùng kháng sinh liên tục nhưng bệnh hô hấp vẫn tái phát. Xu hướng phát triển mới hiện nay là xem môi trường chuồng nuôi như một yếu tố miễn dịch. Các hệ thống chuồng kín áp lực âm, điều khiển thông khí tự động, kiểm soát khí độc bằng cảm biến và xử lý nước uống chống biofilm đang trở thành tiêu chuẩn của chăn nuôi bền vững.
Thực chất, đây chính là cách giảm áp lực bệnh ngay từ gốc. Khi môi trường ổn định, cơ thể vật nuôi sẽ không còn phải duy trì trạng thái stress kéo dài và nhu cầu sử dụng kháng sinh tự nhiên sẽ giảm xuống.
Công nghệ dữ liệu và AI sẽ thay đổi cách sử dụng kháng sinh
Một trong những hạn chế lớn nhất của chăn nuôi truyền thống là người nuôi thường chỉ phát hiện bệnh khi vật nuôi đã giảm ăn hoặc xuất hiện triệu chứng rõ rệt. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, phản ứng viêm và tổn thương mô thường đã diễn ra từ nhiều ngày trước. Trong tương lai, AI và cảm biến sinh học sẽ giúp ngành chăn nuôi chuyển từ “điều trị phản ứng” sang “quản trị dự báo”. Các hệ thống cảm biến hiện đã có thể theo dõi liên tục lượng nước uống, nhịp hô hấp, âm thanh đàn và mức độ vận động. Khi dữ liệu bất thường xuất hiện, hệ thống sẽ cảnh báo nguy cơ stress hoặc dịch bệnh trước khi triệu chứng lâm sàng bùng phát. Điều này cực kỳ quan trọng vì nhiều vấn đề trong chăn nuôi hiện đại thực chất bắt đầu từ stress sinh học chứ không phải từ nhiễm khuẩn. Nếu can thiệp sớm bằng môi trường, dinh dưỡng hoặc miễn dịch, nhu cầu sử dụng kháng sinh sẽ giảm rất mạnh. LÊ CUNG
Bệnh lở mồm long móng (FMD) tiếp tục là một trong những mối đe dọa dịch bệnh nguy hiểm nhất đối với ngành chăn nuôi gia súc toàn cầu.
Trong đó, chủng SAT-1 được đánh giá có nguy cơ cao do khả năng biến dị mạnh, lây lan nhanh và gây khó khăn lớn cho công tác tiêm vaccine và kiểm soát dịch tễ. Sự xuất hiện của SAT-1 không chỉ gây thiệt hại trực tiếp về năng suất mà còn tạo áp lực lớn lên an toàn sinh học và thương mại chăn nuôi tại nhiều quốc gia.
SAT-1 – Chủng FMD có khả năng biến dị và lây lan cao
SAT-1 là một trong các type huyết thanh thuộc nhóm Southern African Territories của virus lở mồm long móng (FMD). Đây là chủng có mức độ biến dị kháng nguyên rất lớn, lưu hành mạnh ở động vật móng guốc và đặc biệt nguy hiểm do khả năng tồn tại dai dẳng trong quần thể mang trùng tự nhiên như trâu rừng châu Phi. Trong những năm gần đây, SAT-1 được quan tâm nhiều hơn do nguy cơ lan rộng thông qua vận chuyển động vật, thương mại quốc tế và biến động dịch tễ toàn cầu.
Điểm đáng lo ngại nhất của SAT-1 là khả năng thay đổi cấu trúc kháng nguyên nhanh, làm giảm hiệu quả bảo hộ của vaccine. Nhiều đàn gia súc đã tiêm phòng vẫn có thể nhiễm bệnh nếu chủng vaccine không tương đồng với virus thực địa. Đây là khác biệt lớn so với một số chủng FMD truyền thống vốn ổn định hơn về mặt miễn dịch.
Cơ chế lây lan và phát tán trong đàn gia súc
Virus SAT-1 phát tán rất mạnh qua dịch mụn nước, nước bọt, phân, sữa và khí dung hô hấp. Trong điều kiện chăn nuôi mật độ cao, virus có thể lan truyền cực nhanh qua không khí mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Heo được xem là “máy khuếch đại virus” do khả năng thải lượng lớn aerosol chứa virus ra môi trường, trong khi bò lại rất nhạy cảm với nhiễm khí dung.
Một đặc điểm nguy hiểm khác là SAT-1 có thể tồn tại khá lâu trong môi trường hữu
cơ ẩm lạnh, đặc biệt trong chất độn chuồng, nước thải và dụng cụ chăn nuôi. Điều này khiến nhiều ổ dịch vẫn tiếp tục lây lan dù đã ngừng nhập đàn mới.
Trong thực tế, các yếu tố làm tăng nguy

cơ bùng phát SAT-1 gồm: Chăn nuôi mật độ cao; Vận chuyển gia súc liên vùng; Chuồng nuôi thông khí kém; Dùng chung phương tiện và dụng cụ; Không kiểm soát khách ra vào trại; Hệ thống sát trùng không triệt để. Ở các khu vực có lưu thông động vật mạnh, SAT-1 có thể lan rất nhanh giữa các trại chỉ trong thời gian ngắn nếu không có biosecurity chặt chẽ.
Tổn thương bệnh lý
năng suất
SAT-1 gây tổn thương chủ yếu tại biểu mô miệng, lưỡi, móng và đầu vú. Sau khi xâm nhập qua đường hô hấp hoặc tiêu hóa, virus nhân lên tại vùng hầu họng rồi nhanh chóng vào máu gây viremia.
Gia súc bệnh thường xuất hiện sốt cao, bỏ ăn, chảy nước bọt nhiều và hình thành mụn nước ở niêm mạc miệng. Khi mụn nước vỡ
sẽ tạo vết loét đau nghiêm trọng khiến vật nuôi giảm ăn kéo dài.
Ở bò sữa, tổn thương đầu vú gây đau khi vắt sữa, giảm tiết sữa đột ngột và tăng nguy cơ viêm vú kế phát. Nhiều trường hợp sản lượng sữa không phục hồi hoàn toàn sau bệnh.
Ở bò thịt và trâu, tổn thương móng gây đau chân nặng, giảm vận động và sụt trọng nhanh. Nếu điều kiện chuồng ẩm bẩn, vi khuẩn cơ hội dễ xâm nhập gây viêm móng, áp xe hoặc bong móng thứ phát.
SAT-1 đặc biệt nguy hiểm trên gia súc non do virus có thể gây viêm cơ tim cấp tính. Nhiều bê hoặc heo con chết đột ngột do hoại tử cơ tim trước khi xuất hiện rõ tổn thương miệng và chân.
Ngoài thiệt hại trực tiếp, SAT-1 còn làm suy giảm miễn dịch tạm thời, khiến gia súc dễ mắc thêm các bệnh kế phát đường hô hấp và tiêu hóa.
SAT-1 khó kiểm soát bằng vaccine
Khó khăn lớn nhất của SAT-1 là tốc độ biến dị kháng nguyên cao. Protein VP1 trên bề mặt virus thay đổi liên tục, làm giảm khả năng nhận diện của kháng thể.
Trong FMD, miễn dịch bảo hộ phụ thuộc rất lớn vào mức độ tương đồng giữa vaccine và virus thực địa. Nếu sai khác kháng nguyên quá lớn, kháng thể tạo ra sẽ không trung hòa hiệu quả virus lưu hành.
Đây là nguyên nhân nhiều đàn dù tiêm vaccine đầy đủ vẫn xuất hiện dịch bệnh.
Ngoài ra, miễn dịch FMD thường không kéo dài quá lâu. Trong điều kiện stress nhiệt, dinh dưỡng kém hoặc áp lực dịch cao, hiệu giá kháng thể có thể giảm nhanh chỉ sau vài tháng.
Do đó, kiểm soát SAT-1 cần kết hợp: Chọn vaccine phù hợp chủng lưu hành; theo dõi hiệu giá kháng thể định kỳ; tiêm nhắc đúng thời điểm; giám sát biến chủng thực địa.
Xu hướng hiện nay là sử dụng giải trình tự gene để đánh giá độ tương đồng giữa vaccine và virus lưu hành nhằm nâng cao hiệu quả phòng bệnh.
Biosecurity là giải pháp quan trọng nhất
Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, biosecurity vẫn là nền tảng kiểm soát SAT-1 hiệu quả nhất. Trong nhiều trường hợp, nếu
virus đã xâm nhập vào hệ thống chăn nuôi mật độ cao thì tốc độ lây lan thường vượt xa khả năng xử lý.
Điểm quan trọng nhất là ngăn virus vào trại. Các khu chăn nuôi cần kiểm soát nghiêm: Phương tiện vận chuyển; Người ra vào; Dụng cụ chăn nuôi; Gia súc mới nhập; Nguồn thức ăn và nước uống.
Các trại hiện đại thường áp dụng nguyên tắc phân vùng sạch - bẩn, sát trùng bắt buộc và cách ly gia súc nhập mới tối thiểu 2 - 3 tuần.
Ngoài ra, cần giảm tối đa áp lực stress lên vật nuôi vì stress nhiệt và khí độc làm suy giảm miễn dịch rất mạnh. Chuồng nuôi cần đảm bảo: Thông khí tốt, NH₃ thấp, nền khô, mật độ phù hợp, hạn chế biến động nhiệt độ lớn.
Một sai lầm phổ biến là chỉ tập trung vaccine mà bỏ qua môi trường nuôi. Trên thực tế, gia súc stress kéo dài thường đáp ứng miễn dịch kém hơn nhiều dù tiêm phòng đầy đủ.
Chiến lược xử
Khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ FMD SAT-1, tốc độ phản ứng là yếu tố quyết định khả năng khống chế dịch.
Việc đầu tiên là cách ly ngay khu vực bệnh, ngừng vận chuyển động vật và triển khai tiêu
độc diện rộng. Các chất sát trùng có hiệu quả với FMD gồm iodophor, glutaraldehyde, sodium hydroxide và acid citric nếu sử dụng đúng nồng độ.
Gia súc bệnh cần được chăm sóc hỗ trợ nhằm giảm mất nước và hạn chế nhiễm trùng kế phát. Thức ăn nên mềm, dễ tiêu và bổ sung điện giải, vitamin chống stress.
Trong các ổ dịch lớn, tiêu hủy bắt buộc vẫn là biện pháp cần thiết nhằm cắt đứt chuỗi lây lan, đặc biệt tại khu vực có mật độ chăn nuôi cao.
Hướng kiểm soát SAT-1 trong tương lai
Trong tương lai, kiểm soát SAT-1 sẽ không còn phụ thuộc đơn thuần vào vaccine mà chuyển sang mô hình quản trị dịch bệnh tổng hợp. Các công nghệ như AI giám sát dịch tễ, cảm biến sinh học, giải trình tự gene thời gian thực và vaccine thế hệ mới sẽ đóng vai trò quan trọng hơn.
Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi vẫn là xây dựng hệ thống chăn nuôi an toàn sinh học cao và giảm áp lực stress sinh học trên đàn gia súc. Với các chủng biến dị mạnh như SAT-1, đây là nền tảng quan trọng nhất để duy trì ổn định sản xuất và hạn chế thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi.

Cuốn sách “Trồng cỏ nuôi dê” của Nguyễn Thiện là tài liệu hữu ích dành cho người chăn nuôi dê, đặc biệt trong điều kiện phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững và tiết kiệm chi phí thức ăn. Nội dung sách tập trung giới thiệu các giống cỏ phù hợp để làm thức ăn cho dê, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản nguồn thức ăn xanh quanh năm. Bên cạnh đó, tác giả còn hướng dẫn cách xây dựng khẩu phần ăn hợp lý, tận dụng đồng cỏ tự nhiên và nâng cao hiệu quả chăn nuôi thông qua việc chủ động nguồn thức ăn tại chỗ.
Với cách trình bày dễ hiểu, gần gũi thực tế sản xuất, cuốn sách giúp người đọc nắm được những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm cần thiết để phát triển đàn dê khỏe mạnh, tăng năng suất và giảm chi phí chăn nuôi.
Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành!
Hay còn gọi là gấu túi, là một loài thú có túi đặc hữu của Australia, thuộc họ Phascolarctidae. Koala nổi tiếng với
vẻ ngoài đáng yêu, bộ lông dày màu
xám hoặc nâu, đôi tai to tròn và chiếc mũi đen lớn. Chúng sinh sống chủ yếu trong các khu rừng bạch đàn ở miền đông và đông nam Australia, trải dài từ

Queensland đến Victoria. Chúng thích nghi đặc biệt với cuộc sống trên cây, với bàn chân có móng vuốt sắc nhọn và ngón cái đối diện giúp chúng bám chắc vào cành cây. Gấu Koala thường sống đơn độc, chỉ tương tác với đồng loại trong mùa giao phối hoặc khi nuôi con. Chúng giao tiếp với nhau bằng âm thanh, mùi hương và dấu hiệu thị giác. Koala cái thường sinh một con mỗi năm, và Koala con sống trong túi của mẹ trong khoảng 6 tháng đầu đời, sau đó bám vào lưng mẹ cho đến khi được một tuổi.

Giảm áp lực dịch bệnh trên đàn heo
từ dinh dưỡng và sức khỏe
Độc tố nấm mốc trong thức ăn và các bệnh đường ruột đang âm thầm làm suy giảm năng suất, gia tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến sức khỏe đàn heo. Tại hội thảo “Dinh dưỡng và sức khỏe bền vững cho heo” diễn ra ngày 17/6 tại TP Hồ Chí Minh, các chuyên gia quốc tế đã chia sẻ những cập nhật mới về dịch tễ, cơ chế gây bệnh và các giải pháp dinh dưỡng nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi, giảm phụ thuộc vào kháng sinh và hướng tới phát triển bền vững.
Nhận diện nguy cơ từ độc tố nấm mốc
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Anawach Phuengkasem, Giám đốc sản phẩm A&P
Nutrition cho biết, ngành chăn nuôi heo đang đối mặt với nhiều thách thức từ dịch bệnh, chi phí sản xuất gia tăng và yêu cầu giảm sử dụng kháng sinh. Trong bối cảnh đó, việc tối ưu dinh dưỡng, nâng cao sức khỏe đường ruột và kiểm soát các yếu tố nguy cơ như độc tố nấm mốc ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả sản xuất và sự phát triển bền vững của ngành.
Theo ông, Hội thảo được tổ chức nhằm tạo diễn đàn để các chuyên gia và doanh nghiệp cùng chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời cập nhật những tiến bộ mới trong kiểm soát độc tố nấm mốc, bệnh đường ruột và các giải pháp dinh dưỡng hỗ trợ sức khỏe vật nuôi.
Mở đầu chương trình, PGS. Panagiotis
Tassis trình bày chuyên đề về độc tố vi nấm (mycotoxins) và những tác động đối với sức
khỏe, khả năng sinh sản cũng như năng suất của đàn heo.
Theo chuyên gia, độc tố nấm mốc được hình thành bởi các loại nấm phát triển trên nguyên liệu thức ăn trước thu hoạch, sau thu hoạch hoặc trong quá trình bảo quản. Điều kiện nhiệt độ cao và độ ẩm lớn tạo môi trường thuận lợi cho nấm mốc sinh độc tố, khiến nguy cơ nhiễm độc tố trở thành vấn đề phổ biến tại nhiều quốc gia nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Điều đáng lo ngại là các trang trại hiện nay thường không chỉ đối mặt với một loại độc tố riêng lẻ. Kết quả khảo sát trên hơn 25.000 mẫu nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi năm 2025 cho thấy, khoảng 90% số mẫu nhiễm đồng thời từ hai loại độc tố trở lên. Điều này làm gia tăng nguy cơ tương tác cộng hưởng giữa các độc tố, khiến mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi nghiêm trọng hơn so với từng loại độc tố riêng lẻ. PGS. Tassis cho biết, sáu nhóm độc tố vi nấm phổ biến và nguy hiểm nhất hiện nay
gồm Aflatoxin B1, DON (Deoxynivalenol), Zearalenone, Fumonisin, Ochratoxin A và T2 Toxin. Trong đó, Aflatoxin B1 là một trong những độc tố nguy hiểm nhất, có khả năng gây tổn thương gan nghiêm trọng, ảnh hưởng đến vật chất di truyền của tế bào và làm suy giảm tăng trưởng. DON gây tổn thương biểu mô ruột, làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng, khiến vật nuôi chán ăn, chậm lớn và suy giảm miễn dịch. Zearalenone đặc biệt nguy hiểm đối với hệ sinh sản do có cơ chế hoạt động tương tự hormone estrogen. Độc tố này có thể gây rối loạn sinh sản, giảm khả năng phối giống và ảnh hưởng đến năng suất đàn nái. Trong khi đó, Fumonisin tác động đến hệ tiêu hóa và hô hấp; Ochratoxin A gây tổn thương thận; còn T2 Toxin là tác nhân làm suy giảm miễn dịch mạnh trên vật nuôi.
Theo chuyên gia, thiệt hại do độc tố nấm mốc không chỉ thể hiện qua tỷ lệ chết hay các biểu hiện bệnh lý rõ ràng mà còn xuất
hiện dưới dạng giảm tăng trọng, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm khả năng sinh sản và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh kế phát.
Đây chính là những tổn thất kinh tế âm thầm nhưng kéo dài tại nhiều trang trại.
Bệnh đường ruột gây tổn thất lớn cho người chăn nuôi
Bên cạnh độc tố nấm mốc, các bệnh đường ruột cũng đang gây ra những tổn thất đáng kể cho ngành chăn nuôi heo.
Trong phần trình bày tiếp theo, ông Anawach Phuengkasem tập trung phân tích hai tác nhân quan trọng là Lawsonia intracellularis và Brachyspira - những vi khuẩn gây bệnh đường ruột phổ biến trên heo. Đặc biệt, Lawsonia intracellularis là nguyên nhân gây bệnh viêm hồi tràng tăng sinh (ileitis), một trong những bệnh đường ruột phổ biến trên toàn thế giới. Vi khuẩn này tấn công niêm mạc ruột, làm tổn thương cấu trúc biểu mô, giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng và ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng của vật nuôi. Các triệu chứng thường gặp bao gồm tiêu chảy, giảm tăng trọng, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn, thậm chí xuất huyết đường ruột ở những trường hợp nặng. Điều đáng chú ý là tỷ lệ lưu hành của Lawsonia intracellularis hiện ở mức rất cao tại nhiều quốc gia.
Dữ liệu được trình bày tại hội thảo cho thấy tỷ lệ phát hiện vi khuẩn này tại nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ đều vượt 90%. Riêng tại Việt Nam, khảo sát năm 2025 ghi nhận tỷ lệ dương tính lên tới 100% trong các mẫu được kiểm tra. Theo ông Anawach, điều này cho thấy mầm bệnh đang hiện diện rất phổ biến trong hệ thống chăn nuôi và cần được kiểm soát bằng các chương trình quản lý tổng thể.
Một trong những nguyên nhân khiến Lawsonia intracellularis khó kiểm soát là khả năng lây lan nhanh qua đường tiêu hóa. Chỉ cần một lượng nhỏ vi khuẩn tồn tại trong phân của heo mang mầm bệnh cũng có thể làm lây nhiễm cho những con vật khỏe mạnh. Bên cạnh đó, các yếu tố như stress, thay đổi môi trường, mật độ nuôi cao, suy giảm miễn dịch hoặc sự hiện diện của chuột và côn trùng mang mầm bệnh đều có thể làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch.
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn sẽ bám vào niêm mạc ruột, nhân lên trong các tế bào biểu mô và dần gây tổn thương cấu trúc ruột. Đáng chú ý, Lawsonia intracellularis có khả năng né tránh một phần cơ chế miễn dịch tự nhiên của vật chủ, khiến việc kiểm soát bệnh trở nên khó khăn hơn.

PGS. Panagiotis Tassis

Theo các chuyên gia, thiệt hại kinh tế do bệnh không chủ yếu đến từ các trường hợp cấp tính mà chủ yếu xuất phát từ các ca nhiễm mãn tính. Những đàn heo nhiễm bệnh kéo dài thường giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng, tăng tiêu tốn thức ăn và kéo dài thời gian xuất bán, từ đó làm gia tăng đáng kể chi phí sản xuất.
Để phát hiện bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người chăn nuôi nên kết hợp nhiều phương pháp chẩn đoán khác nhau như PCR, Real-time PCR hoặc ELISA tùy theo mục tiêu giám sát. Trong đó, PCR được đánh giá là phương pháp có độ chính xác cao trong việc xác định sự hiện diện của vi khuẩn, còn ELISA phù hợp cho các chương trình giám sát quy mô lớn.
Một trong những thông điệp nổi bật được nhấn mạnh xuyên suốt hội thảo là xu hướng giảm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
Theo các chuyên gia, thay vì phụ thuộc vào kháng sinh điều trị, ngành chăn nuôi cần chuyển dần sang các biện pháp phòng bệnh chủ động thông qua quản lý dinh dưỡng, kiểm soát độc tố nấm mốc, nâng cao sức khỏe đường ruột và tăng cường miễn dịch tự nhiên.
Đối với bệnh do Lawsonia intracellularis, các chương trình vaccine hiện vẫn đóng vai trò quan trọng. Bên cạnh đó, việc giám sát dịch tễ và chẩn đoán sớm giúp phát hiện, kiểm soát bệnh hiệu quả hơn, hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi.
Song song với đó, nhiều giải pháp dinh dưỡng mới đang được nghiên cứu và ứng

Anawach Phuengkasem,

dụng nhằm hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột, cải thiện khả năng miễn dịch và giảm áp lực sử dụng kháng sinh. Trong số này, các sản phẩm phytogenic có nguồn gốc từ thảo mộc đang nhận được nhiều sự quan tâm nhờ khả năng hỗ trợ sức khỏe đường ruột, góp phần kiểm soát mầm bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Theo đại diện A&B Nutrition, doanh nghiệp đang tập trung phát triển các giải pháp dinh dưỡng và phụ gia chức năng nhằm hỗ trợ người chăn nuôi kiểm soát dịch bệnh, nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành.
Từ câu chuyện độc tố nấm mốc đến các bệnh đường ruột, những nội dung được chia sẻ tại hội thảo cho thấy nhiều tổn thất trong chăn nuôi không đến từ các đợt dịch bùng phát lớn mà xuất phát từ những nguy cơ âm thầm, kéo dài và khó nhận biết. Việc nhận diện sớm các yếu tố rủi ro, kết hợp các giải pháp dinh dưỡng, vaccine và quản lý đàn phù hợp sẽ giúp người chăn nuôi chủ động phòng bệnh, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi heo đang chịu áp lực từ dịch bệnh, biến động giá nguyên liệu và yêu cầu giảm sử dụng kháng sinh, các chuyên gia nhận định dinh dưỡng và sức khỏe đường ruột sẽ ngày càng đóng vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững. Đây được xem là nền tảng để nâng cao năng suất, cải thiện sức khỏe đàn vật nuôi và tăng khả năng cạnh tranh của ngành chăn nuôi trong thời gian tới.



Deoxynivalenol (DON) là một trong những độc tố nấm mốc phổ biến nhất ảnh hưởng đến gia cầm, heo và bò sữa. Tại Canada, Tiến sĩ Alvin Alvarado thuộc Đại học Saskatchewan và Trung tâm Nghiên cứu
Heo Prairie đang phát triển một hướng tiếp cận mới nhằm phân hủy DON dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Bernardo Predicala. Phương pháp này kết hợp vật liệu nano graphene oxide từ tính (MGO) với công nghệ tia UV và xúc tác quang. Trước đó, MGO đã được chứng minh có khả năng giảm tới 34% nồng độ DON trong thức ăn chăn nuôi mà không ảnh hưởng đến sức khỏe hay tăng trưởng vật nuôi, trong khi tia UV kết hợp xúc tác quang cho thấy tiềm năng phân hủy độc tố thông qua các phản ứng ôxy hóa.
Hướng tiếp cận mới
Alvarado đang nghiên cứu kết hợp vật liệu nano graphene oxide từ tính (MGO) với công nghệ xúc tác quang, nhằm nâng cao hiệu quả xử lý độc tố DON. Theo ông, thành phần từ tính của MGO cho phép vật liệu được thu hồi dễ dàng sau xử lý bằng phương pháp tách từ, giúp hạn chế tồn dư hạt nano trong thức ăn chăn nuôi và đảm bảo an toàn sản phẩm. Đồng thời, graphene oxide còn giúp cải thiện hiệu quả xúc tác quang khi kết hợp với các vật liệu như oxit kẽm (ZnO) và titan dioxide (TiO₂), thông qua việc tăng khả năng phân tách điện tích và điều chỉnh khả năng hấp thụ ánh sáng. Nhờ đó, hệ thống có thể hoạt động dưới ánh sáng khả kiến thay vì chỉ phụ thuộc vào tia UV, giúp quy trình trở nên thực tiễn hơn và giảm nguy cơ ảnh hưởng
Alvarado, các chất xúc tác quang dựa trên MGO nhờ vậy trở thành giải pháp hiệu quả hơn, có thể thu hồi sau xử lý và phù hợp hơn với ứng dụng thực tế trong phân hủy DON. Trong nghiên cứu, Alvarado đã tự tổng hợp thành công các vật liệu nano-composite nền MGO và sử dụng chúng để phân hủy độc tố DON. Nhóm nghiên cứu tiếp tục đánh giá hình thái bề mặt và thành phần vật liệu bằng các kỹ thuật kính hiển vi và quang phổ, nhằm làm rõ đặc tính của nano-composite, trước khi tối ưu hóa quá trình tích hợp MGO với chất xúc tác quang để tạo thành vật liệu hoàn chỉnh. Theo Alvarado, quy trình sản xuất tương đối đơn giản, sử dụng lò vi sóng để gia nhiệt dung dịch chứa hai thành phần, sau đó tiến hành lọc, rửa và sấy khô phần vật liệu thu được.
Ông cho rằng phương pháp này có tính tương thích cao với sản xuất công nghiệp do hệ thống gia nhiệt vi sóng có thể thay thế
bằng quy trình gia nhiệt theo mẻ hoặc liên tục, trong khi các công đoạn tách rắn - lỏng và sấy khô đều đã được ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất khi mở rộng quy mô sản xuất composite MGO - xúc tác quang là duy trì tính ổn định của vật liệu nano, đòi hỏi tối ưu quy trình và kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt. Dù vậy, theo ông, với thiết bị và hệ thống kiểm soát phù hợp, công nghệ này vẫn là giải pháp đầy tiềm năng cho ứng dụng công nghiệp quy mô lớn. Kết quả phân hủy DON Để đánh giá hiệu quả của các phức hợp MGO - xúc tác quang trong phân hủy độc tố DON, Alvarado đã thử nghiệm nhiều công thức nano-composite dưới các điều kiện xử lý khác nhau, tập trung vào nồng độ vật liệu và thời gian chiếu sáng. Kết quả cho thấy, nano-composite MGO-TiO₂ mang lại hiệu quả vượt trội nhất, dù cả hai yếu tố trên đều ➢ Một hướng tiếp cận sinh học mới cũng vừa được nhóm nhà khoa học Ba Lan và Áo công bố trên tạp chí Nature. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng nấm men Debaryomyces hansenii có thể làm giảm sự phát triển của nấm Fusarium gây bệnh bạc lá (FHB) và giảm nồng độ độc tố DON liên quan. Kết quả cho thấy ứng dụng Debaryomyces hansenii giúp giảm hàm lượng DON trong hạt lúa mì tới 60%. Mức độ nghiêm trọng của bệnh FHB cũng giảm tới 80% sau hai lần xử lý bằng nấm men. Tuy nhiên, phương pháp này không làm giảm sự hiện diện của sáu loài Fusarium cụ thể được tìm thấy trong mẫu lúa mì nhiễm bệnh, cũng không ngăn chặn sự xâm nhiễm của chúng vào hạt.
ảnh hưởng đáng kể đến khả năng phân hủy độc tố.
Ở nồng độ 30 mg/ml, MGO-TiO₂ giúp giảm tới 81% hàm lượng DON sau 6 giờ tiếp xúc với ánh sáng khả kiến. Trong cùng điều kiện, MGO-ZnO đạt mức giảm 54%, thấp hơn đáng kể. Khi rút ngắn thời gian chiếu sáng xuống còn 2 giờ, hiệu quả xử lý của MGO-TiO₂ giảm xuống 62%, trong khi MGO-ZnO chỉ đạt 21,5%. Đáng chú ý, riêng MGO ở nồng độ thấp cũng cho kết quả tích cực khi giúp giảm 38% DON sau 2 giờ và đạt 68% sau 6 giờ, thậm chí cao hơn một chút so với hiệu quả của MGOTiO₂ ở mốc 2 giờ.
Song song với đánh giá hiệu quả xử lý, Alvarado cũng nghiên cứu khả năng phản ứng quang xúc tác tác động đến chất lượng lúa mì. Tuy nhiên, dựa trên các nghiên cứu trước đây và cơ chế hoạt động của hệ xúc tác nền MGO, ông cho rằng ảnh hưởng này rất hạn chế. Các nano-composite được thiết kế để hoạt động dưới ánh sáng khả kiến thay vì tia UV năng lượng cao, nhờ đó giảm nguy cơ gây tổn thương ngoài ý muốn đối với hạt ngũ cốc. Ngoài ra, đặc tính từ tính của MGO còn giúp thu hồi
hiệu quả các nano-composite sau xử lý, góp phần hạn chế nguy cơ tồn dư vật liệu trong lúa mì.
Hiện nhóm nghiên cứu vẫn tiếp tục tối ưu hóa quy trình. Theo Alvarado, bước tiếp theo là kiểm chứng hiệu quả trên lúa mì nhiễm DON tự nhiên - môi trường phức tạp hơn do các thành phần trong hạt có thể ảnh hưởng đến quá trình xử lý. Nhóm đang tập trung đánh giá các thông số vận hành quan trọng như loại ánh sáng, cường độ và thời gian chiếu sáng, cũng như loại và liều lượng nano-composite phù hợp.
Ông cho biết thách thức lớn nhất hiện nay là chuyển kết quả từ quy mô phòng thí nghiệm sang điều kiện thực tế. “Lúa mì là một hệ nền phức tạp chứa protein, tinh bột và nhiều hợp chất tự nhiên khác. Những thành phần này có thể cạnh tranh với độc tố trong phản ứng với các gốc ôxy hóa hoạt tính hoặc che chắn độc tố, từ đó làm giảm hiệu quả phân hủy. Hiệu ứng này cũng ảnh hưởng đến khả năng xuyên sáng và mức độ tiếp xúc của chất xúc tác, khiến hiệu quả xử lý trong điều kiện thực tế trở nên phức tạp hơn” - Alvarado giải thích DŨNG NGUYÊN (Theo Feed&Additives)
Dưỡng chất then chốt trong dinh dưỡng heo con giai đoạn đầu
Tỷ lệ SID Arg:Lys tối thiểu khoảng 81% có thể tối ưu hóa tăng trưởng và lượng thức ăn tiêu thụ, song bổ sung vượt ngưỡng cũng có nguy cơ làm giảm hiệu quả chăn nuôi.
Arginine (Arg) là axit amin thiết yếu có điều kiện ở heo, do khả năng tổng hợp nội sinh thường không đáp ứng đủ nhu cầu trong giai đoạn sinh trưởng nhanh.
Thúc đẩy tăng trưởng heo con sau cai sữa
Mặc dù heo có khả năng tự tổng hợp Arg, năng lực này ở giai đoạn đầu đời vẫn còn hạn chế và có thể không đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng.
Ở heo sơ sinh, Arg nội sinh chủ yếu
được tạo thành tại tế bào biểu mô ruột non thông qua quá trình chuyển hóa proline và glutamine thành citrulline, sau đó tiếp tục chuyển thành Arg nhờ hoạt động của các enzym chuyên biệt. Tuy nhiên, ở heo sau cai sữa, hoạt tính của các enzym liên quan đến quá trình này giảm đáng kể, trong khi hoạt tính arginase tại ruột lại tăng cao, khiến khoảng 40% lượng Arg hấp thu bị phân giải. Do đó, quá trình tổng hợp Arg ở giai đoạn sau cai sữa chủ yếu diễn ra tại thận thông qua citrulline có nguồn gốc từ ruột - cơ chế được gọi là “trục ruột - thận”. Điều này cho thấy dù có khả năng tổng hợp nội sinh, heo con vẫn có nguy cơ thiếu hụt Arg trong điều kiện nhu cầu sinh trưởng tăng cao.
Xuất phát từ thực tế đó, các nhà nghiên cứu tại Trại Dinh dưỡng Heo thuộc Đại học Bang Iowa (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu, nhằm xác định mức Arg tối ưu trong khẩu phần cho heo con sau cai sữa. Thí nghiệm kéo dài 41 ngày trên 480 heo con vừa cai sữa có khối lượng trung bình 6,2 kg, với các nghiệm thức sử dụng tỷ lệ SID Arg:Lys từ 45 - 145%.
Kết quả cho thấy, việc tăng tỷ lệ SID
Arg:Lys tạo ra phản ứng theo dạng bậc hai
đối với các chỉ tiêu tăng trưởng. Mức tiêu thụ thức ăn bình quân ngày (ADFI) đạt tối
đa ở tỷ lệ SID Arg:Lys khoảng 97%, trong khi tăng trọng bình quân ngày (ADG) đạt đỉnh ở mức xấp xỉ 95,7%. Khối lượng cơ thể của heo
cũng cho kết quả tương tự và xu hướng này được duy trì đến cuối thí nghiệm. Tuy nhiên, tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (G:F) không có sự thay đổi đáng kể, cho thấy sự cải thiện tăng trưởng chủ yếu đến từ khả năng kích thích tiêu thụ thức ăn hơn là nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn.
Mức Arg tối ưu
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, bổ sung Arg vào khẩu phần heo con sau cai sữa có thể cải thiện năng suất tăng trưởng và hiệu quả chăn nuôi.
Đáng chú ý, Greiner và cộng sự (2023) xác định tỷ lệ SID Arg:Lys tối ưu đạt 103% trong giai đoạn 0 - 6 ngày và 109% trong giai đoạn 6 - 20 ngày sau cai sữa, tương đối phù hợp với khoảng tin cậy 95% được ghi nhận trong nghiên cứu hiện tại.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trước vẫn tồn tại một số hạn chế do chủ yếu đánh giá mức Arg bổ sung hoặc hàm lượng Arg tổng số, chưa duy trì tỷ lệ Arg:Lys ổn định giữa các giai đoạn, đồng thời chưa kiểm soát đầy đủ các yếu tố như cân bằng nitơ hay hàm lượng các axit amin thiết yếu khác.
Kết quả nghiên cứu hiện tại cho thấy, tăng tỷ lệ SID Arg:Lys giúp cải thiện tăng trọng bình quân ngày (ADG), khối lượng cơ thể và lượng thức ăn tiêu thụ (ADFI), trong khi tỷ lệ chuyển hóa thức ăn không thay đổi, cho thấy tăng trưởng chủ yếu được thúc đẩy bởi mức tiêu thụ thức ăn. Tuy nhiên, bổ sung Arg ở mức quá cao có thể làm giảm lượng thức ăn thu nhận do gây mất cân đối axit amin. Dựa trên giới hạn dưới của khoảng tin cậy 95%, nhu cầu SID Arg:Lys tối thiểu ở heo con sau cai sữa khối lượng 6 - 13 kg được xác định khoảng 81%; vượt ngưỡng này có thể ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả tăng trưởng tổng thể. MI LAN (Theo Thepigsite)

Sức khỏe đường ruột vẫn là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả chăn nuôi gia cầm bền vững. Khi hệ thống sản xuất phát triển, một phương pháp tích hợp kết hợp dinh dưỡng, quản lý và công nghệ thức ăn tiên tiến là điều cần thiết để duy trì sức khỏe đường ruột, tối ưu hóa khả năng miễn dịch và đạt được năng suất ổn định.
Tầm quan trọng
Diễn đàn Sức khỏe Đường ruột 2026, do Nanovet Nutrition Pvt. Ltd. phối hợp với Andres Pintaluba S.A. (APSA), Tây Ban Nha tổ chức vào ngày 16/3 tại Hyderabad, đóng vai trò là một diễn đàn kỹ thuật tập trung vào vai trò quan trọng của sức khỏe đường ruột trong việc cải thiện hiệu suất chăn nuôi gia cầm, khả năng miễn dịch và hiệu quả sản xuất tổng thể.
Tại đây, Tiến sĩ H. B. Nataraja, Giám đốc điều hành của Higain Feeds & Farms Pvt. Ltd., đã có bài phát biểu nhấn mạnh những
thách thức ngày càng gia tăng trong sản xuất gia cầm và tầm quan trọng ngày càng lớn của sức khỏe đường ruột và điều hòa miễn dịch trong việc đạt được hiệu suất ổn định. Nội dung chia sẻ đã đề cập đến những thông tin chính như:
- Trục miễn dịch đường ruột (GALT) đóng vai trò quan trọng, với tình trạng viêm mãn tính và stress ôxy hóa ảnh hưởng xấu đến năng suất.
- Bệnh cầu trùng, nhiễm trùng cận lâm sàng và các yếu tố kháng dinh dưỡng tiếp tục là những nguyên nhân chính gây suy giảm
- Những cải tiến di truyền nhanh chóng ở gà thịt đã vượt quá khả năng của hệ tiêu hóa, dẫn đến sự mất cân bằng ngày càng tăng giữa tiềm năng hiệu suất và khả năng sinh lý. - Sức khỏe đường ruột là yếu tố then chốt quyết định hiệu suất, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR), tỷ lệ tử vong, tính đồng đều của đàn và lợi nhuận. - Sự chuyển hướng chất dinh dưỡng sang các phản ứng miễn dịch, cùng với sự hiện diện của các chất dinh dưỡng không được tiêu hóa, làm giảm đáng kể hiệu quả tăng trưởng.
sức khỏe đường ruột.
- Dinh dưỡng sớm, chất lượng nước và các biện pháp an toàn sinh học mạnh mẽ là rất cần thiết để thiết lập và duy trì tính toàn vẹn của đường ruột.
- Cấu trúc thức ăn, chất xơ và chức năng mề gà rất quan trọng để cải thiện quá trình tiêu hóa và sử dụng chất dinh dưỡng.
- Chất lượng và khả năng tiêu hóa protein là chìa khóa để ngăn ngừa sự mất cân bằng vi sinh vật và các rối loạn đường ruột.
Theo phân tích của TS H. B. Nataraja, các chất phụ gia thức ăn chăn nuôi thế hệ mới đang chuyển trọng tâm từ kháng sinh sang điều chỉnh hệ vi sinh vật và duy trì sức khỏe đường ruột. Các giải pháp chức năng như enzyme, axit hữu cơ và các phân tử tiên tiến (như monobutyrin và monolaurin) hỗ trợ sức khỏe đường ruột và điều hòa miễn dịch. Sản xuất gia cầm bền vững đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện, tích hợp dinh dưỡng, thực hành quản lý, sức khỏe vật nuôi và công nghệ thức ăn chăn nuôi tiên tiến.
Giải pháp đột phá từ nền tảng SAVVY™
Tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 9 về Sức
khỏe Đường ruột Gia cầm (ICPIH) tổ chức từ ngày 22 - 24/4/2026 tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ; Biofractal, một công ty hàng đầu về sinh
học chức năng và phân tích dựa trên trí tuệ nhân tạo, đã công bố nền tảng SAVVY™; một phương pháp đột phá trong đánh giá sức khỏe đường ruột ở gà; đánh dấu sự chuyển đổi từ các phương pháp chẩn đoán truyền thống sang thế hệ đo lường chức năng, cấp độ hệ thống mới. Giải pháp này vượt xa các phương pháp chẩn đoán thông thường, định nghĩa lại cách đo lường và quản lý sức khỏe đường ruột trong toàn ngành gia cầm, cho phép đo lường chức năng đường ruột ở gà trên toàn hệ thống.
TS Luis Romero, Người sáng lập và Giám đốc điều hành của Biofractal chia sẻ, trong nhiều thập kỷ, ngành công nghiệp gia cầm đã dựa vào việc chấm điểm tổn thương, mô học và các dấu ấn sinh học riêng lẻ để đánh giá sức khỏe đường ruột. Mặc dù có giá trị, những công cụ này chỉ nắm bắt được một phần nhỏ của một hệ thống sinh học lớn hơn và phức tạp hơn nhiều. Hầu hết các tổn thất về hiệu suất trong sản xuất gia cầm đều do rối loạn chức năng cận lâm sàng gây ra - các quá trình vô hình như viêm mãn tính, stress oxy hóa và suy giảm hấp thu chất dinh dưỡng mà các phương pháp thông thường không phát hiện được.
“Sức khỏe đường ruột không chỉ đơn thuần là những tổn thương có thể nhìn thấy

hoặc góc nhìn hạn chế được cung cấp bởi các chỉ số riêng lẻ hay sự thay đổi hệ vi sinh vật, mà nó là yếu tố tác động ở cấp độ hệ thống đến năng suất, khả năng phục hồi, phúc lợi và tính bền vững. Điều mà ngành công nghiệp còn thiếu là một phương pháp để có cái nhìn toàn diện về hệ thống chức năng của đường ruột, từ đó mang lại kết quả có giá trị cho người sản xuất” - TS Romero cho biết. Nền tảng SAVVY™ của Biofractal được xây dựng dựa trên phân tích biểu hiện gen và phân tích con đường sinh hóa bằng trí tuệ nhân tạo, cho phép định lượng hàng nghìn tín hiệu sinh học thành các chỉ số chức năng tích hợp. Các chỉ số này nắm bắt trạng thái sinh lý của động vật trên các lĩnh vực chính như sử dụng chất dinh dưỡng, hoạt động miễn dịch, cân bằng ôxy hóa và tính toàn vẹn của đường ruột. Thay vì tập trung vào các dấu hiệu riêng lẻ, phương pháp này cung cấp sự hiểu biết toàn diện, theo cơ chế về sức khỏe đường ruột từ góc nhìn của động vật.
Cốt lõi của sự đổi mới này là Chỉ số Gut SAVVY™, một hệ thống chấm điểm tiêu chuẩn hóa để so sánh hiệu suất của động vật với các trạng thái sinh học được xác định rõ ràng, chẳng hạn như thách thức đường ruột so với hiệu suất tối ưu. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu và các chuyên gia trong ngành nhanh chóng xác định liệu một phương pháp điều trị hoặc tình trạng nào đó đang giúp động vật đạt được hiệu quả tốt hơn hay bị suy giảm chức năng. Công nghệ này đã chứng minh được tính xác thực mạnh mẽ trên nhiều bộ dữ liệu độc
trong các thử nghiệm bệnh cầu trùng, phân
các đàn vật nuôi có hiệu suất cao, thấp và tương quan với các kết quả sản xuất chính như tỷ lệ chuyển đổi thức ăn và tỷ lệ tử vong. Điều quan trọng là, nền tảng của Biofractal cũng tiết lộ rằng các chất phụ gia thức ăn và các biện pháp can thiệp dinh dưỡng tạo ra các dấu hiệu sinh học riêng biệt, phụ thuộc vào bối cảnh, mang lại sự rõ ràng chưa từng có về cơ chế hoạt động và cho phép phân biệt sản phẩm chính xác hơn.
Ngoài các ứng dụng nghiên cứu, phương pháp này còn có ý nghĩa quan trọng đối với ngành công nghiệp. Bằng cách cung cấp mối liên hệ trực tiếp giữa sinh học và hiệu suất, nền tảng SAVVY™ cho phép phát triển sản phẩm nhanh hơn, xác thực hiệu quả hơn và cải thiện việc khắc phục sự cố đối với các thách thức thực tế như sự thay đổi FCR không rõ nguyên nhân hoặc hiệu suất chất phụ gia không nhất quán.
Hướng tới tương lai, Biofractal đang mở rộng nền tảng của mình theo hướng mô hình hóa nhận biết ngữ cảnh, nhằm mục đích cung cấp các giải pháp có khả năng mở rộng cho dinh dưỡng chính xác, quản lý sức khỏe và cải tiến di truyền trên toàn bộ chuỗi giá trị gia cầm. Với sự đổi mới này, Biofractal tự khẳng định vị thế tiên phong trong một lĩnh vực đang phát triển nhanh chóng, định nghĩa lại cách đo lường, hiểu và tối ưu hóa sức khỏe đường ruột trong sản xuất gia cầm hiện đại.
TĂNG SANG
(Theo TS Luis Romero, Người sáng lập và Giám đốc điều hành Biofractal)

Mùi hôi từ chuồng trại luôn là thách thức lớn trong chăn nuôi. Tuy nhiên, với những giải pháp thông minh từ cách bố trí chuồng, điều chỉnh khẩu phần ăn, vệ sinh và xử lý chất thải định kỳ, đến ứng dụng công nghệ hiện đại, người chăn nuôi có thể giảm mùi, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Thiết kế và quản lý chuồng trại
Chuồng trại là nơi mùi hôi sinh ra mạnh
nhất, vì vậy việc thiết kế khoa học và quản lý hợp lý là yếu tố đầu tiên để giảm mùi.
Chuồng trại xây dựng ở khu vực được phép chăn nuôi, không xây dựng trong kkhu vực thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư… Hệ thống chuồng nuôi đúng kỹ thuật, phù hợp với loài vật nuôi, số lượng vật nuôi.
Thiết kế chuồng có hệ thống thông gió tự nhiên hoặc cơ khí giúp không khí lưu thông, giảm độ ẩm và nồng độ khí NH₃, H₂S. Việc bố trí cửa sổ, quạt hút và quạt đối lưu giúp khí độc được thải ra ngoài và không tích tụ.
Sử dụng vật liệu hút ẩm như trấu, mùn cưa, rơm hoặc đệm sinh học giúp hấp thụ phân và nước tiểu, giảm khí độc sinh ra. Đệm sinh học còn giúp cải thiện vi sinh vật trong phân, làm giảm mùi.
Tách khu vực ăn, ngủ và vệ sinh giúp hạn chế mùi tích tụ. Khu vực ăn nên đặt xa khu vệ sinh; khu vệ sinh bố trí dễ dọn dẹp, thoát nước tốt.
Điều chỉnh dinh dưỡng
Chế độ ăn ảnh hưởng trực tiếp đến mùi phân và nước tiểu. Một khẩu phần hợp lý giúp giảm khí độc, nâng cao hiệu quả tiêu hóa và sức khỏe vật nuôi.
Cần đảm bảo khẩu phần cân đối protein. Thừa protein trong khẩu phần sẽ làm phân có mùi nặng. Cần tính toán lượng protein phù hợp với nhu cầu thực tế của từng đối tượng vật nuôi.
Bổ sung men tiêu hóa và chất xơ.
Probiotics, enzym tiêu hóa và chất xơ hòa tan giúp phân giải thức ăn tốt hơn, giảm khí NH₃ sinh ra từ ruột. Men vi sinh còn hỗ trợ cân bằng hệ vi sinh trong đường ruột, giảm mùi hôi từ phân.
Cho vật nuôi ăn nhiều bữa nhỏ thay vì một bữa lớn giúp giảm lượng khí phát sinh cùng lúc, hạn chế mùi hôi lan tỏa trong chuồng.
Thức ăn thừa hoặc quá ẩm dễ lên men, sinh mùi hôi. Vì vậy, kiểm soát lượng thức ăn và bảo quản đúng cách là biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả.
Vệ sinh và quản lý chất thải
Vệ sinh chuồng trại và quản lý chất thải là yếu tố then chốt trong việc giảm mùi hôi và kiểm soát vi sinh vật gây bệnh. Nếu chất thải tích tụ lâu, khí NH₃, H₂S và các hợp chất lưu huỳnh sẽ tăng mạnh, không chỉ gây mùi mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe vật nuôi và con người. Do đó, việc vệ sinh định kỳ và xử lý chất thải cần được thực hiện theo quy
trình khoa học.
Phân, nước tiểu và chất thải thừa từ chuồng trại cần được thu gom hàng ngày, tránh để ứ đọng. Hệ thống rãnh thoát nước nên dẫn đến bể chứa hoặc hố phân riêng biệt. Với gia súc lớn như bò, heo, phân nên được thu gom từng khu vực, hạn chế trộn với nước rửa chuồng để giảm quá trình phân hủy kỵ khí tạo mùi.
Các khu vực chuồng, máng ăn, máng uống và sàn chuồng nên được làm sạch ít nhất 1 - 2 lần mỗi tuần. Đối với các trang trại lớn, có thể áp dụng hệ thống rửa tự động kết hợp phun men vi sinh để hạn chế vi khuẩn gây mùi. Chuồng trại nên được phơi khô dưới ánh nắng khi có thể, giúp diệt vi khuẩn và hạn chế khí độc tích tụ.
Định kỳ phun tiêu độc khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh (1 - 2 lần/tháng) tiêu diệt các mầm bệnh, diệt ruồi muỗi và hạn chế vi khuẩn gây mùi. Ủ phân với các loại men vi sinh giúp chuyển hóa amoniac và các hợp chất lưu huỳnh, giảm mùi hôi và đồng thời tạo ra phân hữu cơ giàu dinh dưỡng. Việc ủ phân nên đảm bảo độ ẩm 5060%, đảo trộn định kỳ để cung cấp ôxy, thúc đẩy quá trình phân hủy hiếu khí và hạn chế mùi hôi sinh ra.
Tất cả chất thải thu gom về hố xử lý, rắc
vôi bột hoặc sử dụng các chế phẩm sinh hoc xử lý mùi hôi. Chế phẩm sinh học có tác dụng tăng cường quá trình phân hủy chất thải hữu cơ, ức chế sự phát triển của các loại vi khuẩn lên men gây mùi thối. Có thể rắc, phun xịt các dạng chế phẩm sinh học lên chuồng trại, phân rác thải, rãnh thoát nước hoặc dùng ủ phân hữu cơ.
Nước rửa chuồng chứa nhiều chất hữu cơ và phân tươi cần được dẫn đến hố lắng hoặc bể biogas. Tại đây, các chất thải có thể được xử lý sinh học, giảm mùi và đồng thời thu hồi khí sinh học. Ngoài ra, nước thải sau xử lý có thể dùng tưới cây hoặc bổ sung vào ao nuôi thủy sản, tránh xả trực tiếp ra môi trường.
Áp dụng công nghệ sinh học và cơ khí
Công nghệ hiện đại là chìa khóa giảm mùi hôi trong chăn nuôi, đặc biệt ở các trang trại quy mô lớn.
Hệ thống khí sinh học (biogas): Chuyển hóa phân và nước tiểu thành khí metan, vừa giảm mùi vừa tạo năng lượng phục vụ trang trại. Khí metan sinh ra có thể sử dụng đun nấu hoặc phát điện.
Máy phun sinh học: Phun men vi sinh định kỳ giúp phân giải chất thải ngay tại chuồng, ngăn mùi hôi lan tỏa. Các sản phẩm sinh học này còn hạn chế vi khuẩn gây bệnh.
Lồng nuôi, máng ăn và máng uống thông minh: Thiết kế hạn chế tiếp xúc trực tiếp giữa phân, nước tiểu với thức ăn và nguồn nước, giúp giảm tích tụ mùi hôi.
Quan trắc môi trường tự động: Hệ thống cảm biến theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ NH₃ giúp điều chỉnh thông gió và phun men vi sinh kịp thời, nâng cao hiệu quả quản lý mùi.
Chuyển đổi mô hình và nuôi kết hợp
Mô hình chăn nuôi truyền thống dễ phát sinh mùi hôi nếu không kiểm soát tốt. Việc chuyển đổi sang các mô hình mới, thân thiện môi trường sẽ giúp giảm mùi và tăng năng suất.
Chăn nuôi khép kín: Kết hợp nuôi gà, heo, bò với xử lý chất thải trong cùng hệ thống khép kín giúp kiểm soát mùi và tái sử dụng chất thải làm phân bón.
Nuôi kết hợp với thủy sản: Phân thải từ gia súc, gia cầm có thể sử dụng làm phân bón cho ao nuôi cá, tôm. Vừa giảm mùi hôi vừa tăng giá trị kinh tế.
Nuôi hữu cơ và sinh thái: Sử dụng thức ăn hữu cơ, men vi sinh, mô hình nông trại sinh thái giúp giảm hóa chất, mùi hôi và cải thiện sức khỏe vật nuôi.
Ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển dê sữa cao sản
Tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) vừa ghi nhận thành công trong việc nhân bản đồng loạt 6 cá thể dê sữa siêu năng suất. Đây là quần thể dê sữa cao sản đầu tiên được nhân bản thành công tại quốc gia này, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong ứng dụng công nghệ sinh học vào công tác chọn tạo giống vật nuôi.
Dự án do các nhà khoa học thuộc Đại học Nông Lâm Tây Bắc (Northwest A&F University) chủ trì thực hiện. Theo ông Wang Xiaolong, đại diện nhóm nghiên cứu, quần thể nhân bản bao gồm 4 cá thể đực và 2 cá thể cái. Tất cả được tái tạo từ tế bào soma của giống dê Saanen thượng hạng, vốn có năng suất sản xuất sữa bình quân đạt trên 2.800 kg/con/năm.
Bên cạnh chỉ số sản lượng vượt trội, nguồn gene được lựa chọn còn sở hữu các đặc tính sinh học ưu việt khác như: hàm lượng chất béo và protein trong sữa cao hơn hẳn so với các quần thể thông thường; đồng thời biểu hiện khả năng sinh sản ổn định, thích nghi môi trường tốt và sức đề kháng cao.
Để thực hiện dự án, các nhà khoa học đã sử dụng hệ thống nhân giống phân tử kết hợp chọn lọc gen với công nghệ nhân bản tế bào soma. Nhóm nghiên cứu tiến hành phân lập các tế bào soma chất lượng cao và tối ưu toàn bộ quy trình từ xây dựng dòng tế bào, tái tạo phôi, cấy ghép phôi cho đến theo dõi thai kỳ.
So với phương pháp lai tạo truyền thống vốn mất từ 8 đến 10 năm để hình thành một quần thể ưu tú, công nghệ nhân bản tế bào
soma cho phép tối ưu hóa thời gian và rút ngắn đáng kể chu kỳ chọn lọc giống.
Sự can thiệp của công nghệ cao được kỳ vọng sẽ giải quyết triệt để những “điểm nghẽn” cố hữu của ngành chăn nuôi dê sữa hiện nay, bao gồm: tốc độ phát triển tổng đàn chậm, khoảng cách giữa các thế hệ kéo dài, và áp lực trong việc duy trì ổn định các tính trạng di truyền tốt qua các đời F1, F2. Địa phương triển khai thí nghiệm - tỉnh Thiểm Tây - hiện là thủ phủ dê sữa lớn nhất Trung Quốc, quy tụ khoảng 40% tổng đàn và đóng góp tới 80% sản lượng các chế phẩm từ sữa dê trên thị trường nội địa. Do đó, việc làm chủ công nghệ nhân bản tại đây mang ý nghĩa chiến lược đối với chuỗi cung ứng. Thành tựu khoa học này cũng hiện thực hóa các mục tiêu cốt lõi trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 của Trung Quốc (giai đoạn 2026 - 2030). Trong đó, chính phủ nước này nhấn mạnh việc đa dạng hóa hệ thống cung ứng thực phẩm bền vững, đồng thời ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao hàm lượng chất lượng và hiệu suất kinh tế cho ngành chăn nuôi. NGUYỄN HẰNG Theo Xinhua





