CON TÔM THÁNG 10/2026
ĐẶC SAN CỦA HỘI THỦY SẢN VIỆT NAM www.contom.vn
VIETNAM SHRIMP NEWS THÁNG 10/2026
GỠ NÚT THẮT
TRONG KINH TẾ TUẦN HOÀN (16-17)
2
CON TÔM THÁNG 10/2026
CON TÔM THÁNG 10/2026
3
4
CON TÔM THÁNG 10/2026
CON TÔM THÁNG 10/2026
5
6
CON TÔM THÁNG 10/2026
CON TÔM THÁNG 10/2026
7
8
THƯ BẠN ĐỌC
CON TÔM THÁNG 10/2026
Đặc san CON TÔM Hội Thủy sản Việt Nam CHỦ NHIỆM TS. Phạm Anh Tuấn PHỤ TRÁCH Đỗ Huy Hoàn, Phó Tổng Biên tập BAN BIÊN TẬP Dương Xuân Hùng, Cố vấn Phạm Thu Hồng, Nhà báo THƯ KÝ TÒA SOẠN Nhà báo Kim Tiến CỘNG TÁC NỘI DUNG Hải Đăng, Vũ Mưa, Anh Thư, Thảo Linh, Lê Cung, Phạm Duy Tương, Phan Thanh Cường, Nguyễn Anh, Lê Hoàng Vũ, Mai Xuân Trường KỸ THUẬT VI TÍNH Phạm Dương TÒA SOẠN Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 028.62777616 Email: toasoan.contom@gmail.com Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội Điện thoại: 0243.7713699 LIÊN HỆ QUẢNG CÁO TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM Điện thoại: 0243.7713699 DĐ: 083.661.5993 Email: quangcao@thuysanvietnam.com. vn ĐẶT MUA TẠP CHÍ Điện thoại: 0243.771.1756 Email: vuna@thuysanvietnam.com.vn TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG Tên tài khoản: TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM Số: 3106566688 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh Ấn phẩm LHNB
Thưa Quý vị bạn đọc! 9 tháng đầu năm 2026, ngành tôm Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực, với sản lượng đạt hơn 1 triệu tấn. Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu 1,4 triệu tấn tôm nước lợ trong năm nay, ngành cần thu hoạch thêm khoảng 327 nghìn tấn trong quý IV. Khi dư địa tăng diện tích nuôi không còn nhiều, kết quả cuối năm phụ thuộc chủ yếu vào năng suất, tỷ lệ sống và tiến độ thu hoạch tại các vùng nuôi trọng điểm. Cùng với áp lực hoàn thành kế hoạch, những thách thức về chi phí, môi trường và hiệu quả vụ nuôi cũng cho thấy ngành tôm cần có giải pháp đồng bộ hơn, không chỉ để duy trì đà tăng trưởng mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và TRONG KINH TẾ TUẦN HOÀN hướng đến phát triển bền vững. (16-17) Từ yêu cầu đó, kinh tế tuần hoàn mở ra hướng tiếp cận nhằm tận dụng, tái sử dụng phụ phẩm, giảm lượng chất thải phát sinh và gia tăng giá trị trong quá trình sản xuất, chế biến. Tuy nhiên, để hướng đi này phát huy hiệu quả, vẫn cần tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, nguồn lực và công nghệ, đồng thời tăng cường liên kết giữa người nuôi, doanh nghiệp chế biến và các đơn vị tham gia chuỗi giá trị. Để duy trì đà tăng trưởng đến mục tiêu phát triển bền vững, ngành tôm cần kết hợp hài hòa giữa sản lượng, hiệu quả kinh tế và trách nhiệm với môi trường; đồng thời củng cố liên kết chuỗi, nâng cao năng lực quản lý và chủ động thích ứng với những biến động của thị trường cũng như điều kiện sản xuất. Đây là những nội dung chính của Đặc san Con Tôm phát hành số tháng 10/2026. Bên cạnh đó, ấn phẩm tiếp tục cập nhật thông tin thị trường, kỹ thuật nuôi, dinh dưỡng, các mô hình tiêu biểu... Qua đó, cung cấp thêm thông tin thiết thực, góp phần hỗ trợ người nuôi và doanh nghiệp thích ứng với những yêu cầu mới của ngành. Rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, đồng hành của Quý vị! Trân trọng! BAN BIÊN TẬP CON TÔM THÁNG 10/2026
ĐẶC SAN CỦA HỘI THỦY SẢN VIỆT NAM www.contom.vn
VIETNAM SHRIMP NEWS THÁNG 10/2026
GỠ NÚT THẮT
Hộp thư Tòa soạn luôn hoan nghênh sự đóng góp và các bài viết đặc sắc về ngành tôm từ các CTV, bạn đọc gần xa. Thư và bài vở xin gửi về: Tạp chí Thủy sản Việt Nam - Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội Điện thoại: 0243.7713699 Email: toasoan.contom@gmail.com Hoặc liên hệ trực tiếp theo số điện thoại: 0374 099 498 (Ms. Kim Tiến) Website: www.thuysanvietnam.com.vn www.contom.vn
CON TÔM THÁNG 10/2026
NỘI DUNG
Theo dòng thời sự T14-15: Ngành tôm nỗ lực hoàn thành mục tiêu
Vấn đề - Sự kiện T16-17: Gỡ nút thắt trong kinh tế tuần hoàn
Tòa soạn - Bạn đọc T18-19: Siết chặt quản lý sản xuất, kinh doanh giống thủy sản
Thị trường xuất khẩu T24-25: Xuất khẩu tôm cuối năm: Đánh giá đúng, chủ động thích ứng trước biến động từ thị trường
11
Nhìn ra thế giới T30-31: Trung Quốc có thể trở thành thị trường mới của tôm Bangladesh?
Thức ăn - Dinh dưỡng T36-37: Phối hợp enzyme cải thiện tăng trưởng tôm thẻ chân trắng
Khoa học - Kỹ thuật T38: Kiểm soát bệnh đường ruột trên tôm T39: Xử lý nước đầu vào trong nuôi tôm: Có nên tìm kiếm giải pháp thay thế Chlorine?
14
Thông tin doanh nghiệp T42-43: Việt Úc kết nối công nghệ thủy sản tại hội nghị Responsible Seafood Summit 2026 T46-47: C.P. Việt Nam: 30 năm đồng hành và phát triển cùng khách hàng ngành thủy sản
Mô hình điển hình T52: Cà Mau: Lúa hữu cơ - tôm mở hướng sản xuất bền vững T53: Ecuador thành công với tôm, Đông Nam Á có thể học gì?
Đồng hành cùng nhà nông T54-55: Quản lý nguy cơ EHP trong ao tôm
24
9
10
TIN TỨC
CON TÔM THÁNG 10/2026
QUẢNG NINH
NGHỆ AN
Tăng năng suất vùng tôm
Chủ động nguồn nước nuôi tôm
Nghề tôm Quảng Ninh đang chuyển dần từ phương thức quảng canh, thâm canh truyền thống sang ứng dụng công nghệ nhằm nâng năng suất và hiệu quả. Tại xã Hải Lạng, khoảng 60 cơ sở đã đầu tư gần 300 ao có mái che, tổng diện tích khoảng 20 ha. Nhiều hộ áp dụng quy trình thâm canh 2 giai đoạn, kết hợp nhà màng, xử lý nước tuần hoàn, sục khí đáy và quan trắc môi trường. Sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng tôm của Hải Lạng đạt khoảng 2.240 tấn, tăng 17,2% so cùng kỳ. Cùng với Hải Lạng, các vùng nuôi Hà An, Đầm Hà và Hải Ninh cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước, sử dụng vi sinh và giám sát môi trường tự động. Nhờ đó, một số khu nuôi đạt năng suất 25 - 30 tấn/ha/vụ, cao hơn đáng kể so với phương thức truyền thống. THẢO ANH
Tại xã Quỳnh Anh, ông Hoàng Xuân Tin, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Nuôi trồng thủy sản Lộc Thủy, là hộ tiên phong đầu tư hạ tầng phục vụ nuôi tôm. Khoảng 15 năm trước, trước tình trạng nguồn nước sông Mai Giang ô nhiễm, ông Tin đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng hệ thống đường ống đưa nước biển trực tiếp về khu ao nuôi. Sau đó, nhiều hộ trong vùng cùng áp dụng. Hiện vùng nuôi tôm tại xã Quỳnh Anh có khoảng 80 ha, trong đó hơn 50 ha thuộc HTX Lộc Thủy. Gia đình ông Tin cũng triển khai mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng tuần hoàn khép kín. Nước sau ao nuôi được đưa qua hệ thống lọc để tách phân tôm, thức ăn thừa và chất rắn, sau đó tiếp tục xử lý, tuần hoàn trở lại hệ thống nuôi. DUY AN
NINH BÌNH
QUẢNG TRỊ
Chuyển đổi sản xuất theo hướng bền vững
Vĩnh Thủy thử nghiệm nuôi tôm sú hai giai đoạn
Tỉnh Ninh Bình đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các mô hình nuôi tôm công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Tại các xã Kim Đông, Giao Hòa, Giao Minh…, người dân từng bước chuyển từ phương thức nuôi truyền thống sang ứng dụng khoa học kỹ thuật, kiểm soát tốt môi trường và dịch bệnh. Điển hình như ông Trần Trọng Đức, xã Kim Đông đã đầu tư 20 ao nuôi khép kín, diện tích khoảng 600 - 700 m²/ao để nuôi tôm thẻ chân trắng. Các ao được lót bạt, có mái che, kết hợp hệ thống sục khí, quạt nước nhằm hạn chế tác động bất lợi của thời tiết và môi trường. Bên cạnh đó, mô hình tôm - lúa hữu cơ cũng được triển khai tại một số địa phương. Quá trình chuyển đổi góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển thủy sản theo hướng bền vững. NGUYỄN AN
Mô hình nuôi tôm sú thâm canh hai giai đoạn tại xã Vĩnh Thủy bước đầu cho kết quả tích cực. Mô hình thuộc dự án Khoa học và Công nghệ Trung ương năm 2026, triển khai tại hai hộ ở thôn Huỳnh Xá Hạ trên diện tích 1 ha. Tôm sú post 15 được kiểm tra chất lượng trước khi thả, mật độ giai đoạn đầu 800 - 1.200 con/m². Theo quy trình, tôm được ương riêng trước khi chuyển sang ao nuôi thương phẩm. Các hộ tham gia bố trí ao xử lý, ao ương và ao nuôi, qua đó chủ động kiểm soát chất lượng nước, theo dõi sức khỏe tôm. Sau hơn 100 ngày, tôm sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống đạt yêu cầu, môi trường ao ổn định. Xã Vĩnh Thủy hiện có khoảng 194,3 ha nuôi tôm. Địa phương tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả để hoàn thiện quy trình và xem xét áp dụng tại các vùng nuôi phù hợp. THANH HIẾU
THANH HÓA
Gia cố lại vùng nuôi sau mưa lũ Mưa lũ vừa qua khiến hơn 1.134 ha nuôi trồng thủy sản tại Thanh Hóa bị tràn, vỡ. Sau khi nước rút, người nuôi tập trung thu hoạch phần thủy sản còn lại, gia cố bờ bao, cống và đăng lưới, đồng thời xử lý môi trường ao. Tại xã Nga Thắng, gia đình ông Nguyễn Hữu Năm có 1,7 ha tôm, cá bị ngập, sản lượng ước thiệt hại hơn 50%. Ông đã vận hành quạt nước, sục khí, kết hợp sử dụng vôi và chế phẩm vi sinh để ổn định môi trường. Tại xã Vạn Lộc, người nuôi chủ động cấp nước mặn trở lại, bón vôi, điều chỉnh pH và xử lý ao trước khi sản xuất. Ngành chuyên môn khuyến cáo không tái thả giống ngay sau lũ. Những ao thiệt hại nặng cần tháo rửa, khử khuẩn, phơi và tu bổ; diện tích còn khả năng phục hồi tiếp tục theo dõi, chỉ bổ sung giống khi môi trường ổn định. Tôm đạt kích cỡ thương phẩm nên được thu hoạch sớm. DIỆU CHÂU
LÂM ĐỒNG
Phát triển mô hình CPF-Combine Trang trại Bảo Ý, xã Hòa Thắng, đang triển khai mô hình CPF-Combine theo quy trình khép kín gồm ương giống, nuôi thương phẩm và ao bạt, góp phần kiểm soát dịch bệnh và nâng cao năng suất. Được thành lập từ năm 2006, cơ sở từng bước đầu tư hạ tầng, thiết bị và mở rộng quy mô. Hiện trang trại có khoảng 25 ha với 100 ao nuôi tôm thẻ chân trắng, hệ thống nhà lồng, cung cấp ôxy, ao lắng và các hạng mục phục vụ sản xuất. Theo ông Bùi Thiên Bảo, Giám đốc Công ty TNHH Bảo Ý, tỷ lệ vụ nuôi thành công đạt gần 100%, sản lượng hiện hơn 700 tấn. Năm 2026, trang trại dự kiến đạt khoảng 1.000 tấn, cỡ tôm từ 25 con/kg trở lên. Mô hình đang tạo việc làm ổn định cho hơn 100 lao động địa phương. PHƯƠNG LINH
TIN TỨC
CON TÔM THÁNG 10/2026
CÀ MAU
Đạt hơn 454.000 tấn tôm sau 9 tháng Sản lượng tôm của Cà Mau trong 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 454.065 tấn, tăng 9,7% so cùng kỳ năm trước. Đây là nhóm sản phẩm đóng góp lớn vào tổng sản lượng thủy sản của tỉnh. Toàn tỉnh hiện có hơn 424.000 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích nuôi tôm khoảng 417.800 ha. Trên nền diện tích lớn, các hình thức nuôi được tổ chức phù hợp với điều kiện từng khu vực, gồm thâm canh, siêu thâm canh ứng dụng công nghệ, cùng các mô hình kết hợp tôm - cua biển, tôm - sò Thu hoạch tôm thương phẩm tại Cà Mau Ảnh: Báo Cà Mau huyết và tôm - tôm càng xanh. Cà Mau tăng cường áp dụng kỹ thuật, cải tiến quy trình, Trong quý IV, ngành nông nghiệp tiếp tục bám sát vùng nuôi, nâng năng lực quản lý tại các hợp tác xã, tổ hợp tác nhằm kiểm kiểm soát chất lượng con giống và môi trường, đồng thời hỗ trợ soát môi trường, nâng tỷ lệ sống và hiệu quả nuôi. Tỉnh cũng doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu duy trì hoạt động, góp phần phát triển vùng nguyên liệu theo các tiêu chuẩn GlobalGAP, ổn định đầu ra và nguồn nguyên liệu tôm. HUYỀN THƯƠNG BAP, ASC, VietGAP và Selva Shrimp, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. AN GIANG
VĨNH LONG
Tôm càng xanh toàn đực cho hiệu quả trên đất lúa
Đầu tư công nghệ, nâng hiệu quả vụ nghịch
Mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực luân canh trên đất lúa tại xã Vĩnh Bình, cho năng suất khoảng 1,2 - 1,7 tấn/ha, mang lại hiệu quả kinh tế khá cho người dân. Ông Trần Văn Chiếm, ấp Bình Hòa, hiện nuôi 3 ha. Vụ vừa qua, gia đình thu hoạch 1,5 tấn tôm, bán với giá 100.000 đồng/kg, thu 150 triệu đồng, lợi nhuận khoảng 50%. Hơn 300 kg tôm còn lại được tiếp tục chăm sóc để thu hoạch sau. Theo người nuôi, giống toàn đực hạn chế sinh sản trong ruộng, thuận lợi quản lý mật độ và giúp tôm tăng trưởng nhanh, có thể đạt khoảng 15 con/kg. Một số hộ còn kết hợp tôm thẻ chân trắng với tôm càng xanh, trong đó nguồn thu từ tôm thẻ chân trắng góp phần bù đắp chi phí, còn tôm càng xanh tạo thêm lợi nhuận. NGUYỄN HẰNG
Ông Đặng Văn Bảy hiện có 6 khu sản xuất tôm công nghệ cao, tổng diện tích 45 ha tại xã Thạnh Phong, tỉnh Vĩnh Long. Từ năm 2017, nhận thấy phương thức truyền thống ngày càng khó kiểm soát, ông chuyển sang đầu tư nhà lưới và các giải pháp kỹ thuật để chủ động sản xuất, nhất là trong mùa nghịch. Theo ông, nhà lưới giúp hạn chế biến động nhiệt độ, giảm nguy cơ mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập và tạo điều kiện ổn định cho tôm phát triển. Chi phí đầu tư khoảng 50 triệu đồng cho mỗi ao 1.000 m². Mô hình đã đạt chứng nhận ASC và BAP, sản phẩm chủ yếu cung cấp cho các thị trường châu Âu, Mỹ và Nhật Bản. Nhờ áp dụng quy trình sản xuất chặt chẽ, mô hình mang lại lợi nhuận khoảng 40 tỷ đồng/năm. NAM CƯỜNG
ĐỒNG THÁP
CẦN THƠ
Khép kín chuỗi giá trị tôm
Chuyển hướng sản xuất, nâng hiệu quả vùng nuôi
Đồng Tháp định hướng phát triển nuôi tôm nước lợ theo hướng công nghệ cao, tuần hoàn, ít thay nước và an toàn sinh học, gắn với chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Theo kế hoạch phát triển ngành chế biến thủy sản giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh xác định vùng ven biển phía Đông (vùng IV) phát triển nuôi tôm công nghệ cao, đồng thời khuyến khích các mô hình nuôi tuần hoàn, ít thay nước. Tỉnh cũng sẽ rà soát, tích hợp quy hoạch, tăng cường quản lý chất lượng con giống, thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường, hướng tới ổn định nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu. Trong chế biến, Đồng Tháp khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm, ứng dụng công nghệ sinh học để tận dụng phụ phẩm tôm, phát triển chitin, chitosan. LÊ LOAN
Từ 1.000 m² thử nghiệm ban đầu, ông Tăng Văn Xúa (phường Khánh Hòa) từng bước mở rộng quy mô lên 13 ha. Hiện ông áp dụng công nghệ cao với ao lót bạt, hệ thống xi phông, thiết bị cung cấp ôxy, cho ăn tự động và bổ sung vi sinh. Nước thải được xử lý qua 4 ao, kết hợp cá rô phi, rồi đưa trở lại khu vực sản xuất, giúp giảm thay nước, hạn chế dịch bệnh và ổn định môi trường. Nhờ kiểm soát tốt các yếu tố đầu vào, mô hình có thể duy trì sản xuất ổn định ngay cả trong mùa nghịch. Mỗi ao rộng 1.000 - 1.600 m² cho sản lượng 3 - 5 tấn tôm thương phẩm/vụ, mang lại lợi nhuận khoảng 2 - 3 tỷ đồng/vụ. Ngoài ra, cơ sở kinh doanh giống, thức ăn và vật tư thủy sản của gia đình đạt doanh thu khoảng 25 tỷ đồng/năm. THÁI THUẬN
11
12
TIN TỨC
THẾ GIỚI
ASC nghiên cứu cải thiện phúc lợi tôm khi giết mổ Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) vừa khởi động dự án Responsible Shrimp Slaughter Project, nhằm củng cố cơ sở khoa học và phát triển các công cụ thực tiễn để cải thiện phúc lợi tôm nuôi trong quá trình làm ngất và giết mổ. Dự án tập trung vào ba nội dung chính: xác định các thông số đã được kiểm chứng cho quá trình làm ngất và giết mổ tôm; xây dựng các chỉ số có thể đánh giá tại trang trại nhằm xác định hiệu quả của từng phương pháp; đồng thời phát triển hướng dẫn hỗ trợ xây dựng quy trình vận hành tiêu chuẩn (SOP) về giết mổ tôm có trách nhiệm. Trong quá trình triển khai, ASC sẽ phối hợp với người nuôi, doanh nghiệp chế biến, nhà bán lẻ, giới nghiên cứu và các bên liên quan khác nhằm bảo đảm giải pháp phù hợp với nhiều điều kiện nuôi và sản xuất khác nhau. Dự án cũng hướng tới hỗ trợ ngành tôm áp dụng các thực hành dựa trên bằng chứng khoa học. MỸ
Xu hướng phát triển sản phẩm tôm tiện lợi Just Shrimp lên kế hoạch ra mắt sản phẩm tôm viên chiên giòn tại gần 250 cửa hàng thuộc hệ thống bán lẻ Harris Teeter trong tháng 10/2026, nhân Tháng Hải sản Quốc gia Mỹ. Sản phẩm được chế biến từ tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương nuôi tại vùng Mazatlán, Mexico. Thông qua dòng sản phẩm này, Just Shrimp hướng đến mục tiêu giúp người tiêu dùng, đặc biệt là các gia đình, tiếp cận và sử dụng hải sản thuận tiện hơn. Tôm được chế biến thành dạng viên chiên giòn, phù hợp với nhu cầu chuẩn bị bữa ăn nhanh, dễ dùng và không đòi hỏi nhiều công đoạn chế biến. Xu hướng này phản ánh nỗ lực của thị trường Mỹ trong việc đa dạng hóa sản phẩm tôm theo hướng tiện lợi, khẩu phần phù hợp và có mức giá dễ tiếp cận hơn. Theo một khảo sát gần đây, khoảng hai phần ba người tiêu dùng cho rằng giá cả tăng khiến thủy sản và các loại đạm động vật ngày càng trở nên đắt đỏ. Đáng chú ý, khi cần thắt chặt chi tiêu, thủy sản nằm trong nhóm thực phẩm người tiêu dùng có xu hướng cắt giảm.
FDA từ chối 11 đơn hàng tôm nhập khẩu trong tháng 9 Theo số liệu của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), trong tháng 9/2026, cơ quan này từ chối 11 đơn hàng tôm nhập khẩu do phát hiện dư lượng thuốc thú y bị cấm. Con số này chiếm 10,8% trong tổng số 102 dòng hàng thủy sản bị từ chối nhập khẩu trong tháng. Đáng chú ý, 6 trong số 11 đơn hàng tôm bị từ chối (54,5%) đến từ các cơ sở có chứng nhận Thực hành Nuôi trồng Thủy sản Tốt nhất (BAP). Indonesia và Malaysia mỗi nước có 4 đơn hàng bị từ chối; Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc mỗi nước ghi nhận 1 đơn hàng. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, FDA đã từ chối 67 đơn hàng tôm nhập khẩu do phát hiện dư lượng kháng sinh. Ấn Độ đứng đầu với 16 đơn hàng, tiếp đến là Indonesia với 14 đơn hàng và Việt Nam với 11 đơn hàng.
CON TÔM THÁNG 10/2026
BioMar ra mắt BioRetain, giải pháp dinh dưỡng trong thức ăn thủy sản được phát triển qua gần 30 năm nghiên cứu, nhằm tăng khả năng hấp thu và giữ lại dưỡng chất ở cá, tôm. Kết quả thử nghiệm cho thấy giải pháp có tiềm năng cải thiện tốc độ tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức ăn và hiệu quả sử dụng dinh dưỡng. BioRetain sẽ được triển khai theo từng giai đoạn, với công thức được điều chỉnh phù hợp với từng loài nuôi và hệ thống sản xuất. Tập đoàn Guangdong Haid Group dự kiến đầu tư 30 triệu NDT (4,28 triệu USD) để nâng cấp 40 ha ao nuôi tôm tại Đông Lý, thành phố Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Dự án hướng đến phát triển mô hình nuôi tôm công nghệ cao, tích hợp hạ tầng đạt tiêu chuẩn, hệ thống quản lý thông minh, giám sát theo thời gian thực và truy xuất nguồn gốc. Đây là một phần trong chiến lược mở rộng hoạt động nuôi tôm công nghiệp của Haid tại Lôi Châu. EnviroZyme vừa ra mắt MultiBio Edge, phụ gia thức ăn kết hợp prebiotic, probiotic và postbiotic, dành cho tôm và cá. Theo doanh nghiệp, sản phẩm hỗ trợ dẫn dụ thức ăn, cải thiện tiêu hóa và tăng cường sức khỏe đường ruột. Kết quả thử nghiệm của công ty cho thấy phụ gia có khả năng ức chế vi khuẩn Vibrio định cư trên bề mặt thức ăn, đồng thời giảm độc tính tế bào liên quan đến Vibrio parahaemolyticus ở tôm. Sản phẩm được đóng gói theo quy cách 25 kg/bao. Hiệp hội Tôm Louisiana đề nghị Chính phủ Mỹ xem xét áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan và các biện pháp tự vệ nhằm bảo vệ ngành tôm trong nước trước áp lực từ tôm nhập khẩu giá thấp và khối lượng lớn. Hiệp hội cũng kiến nghị tăng cường các biện pháp chống bán phá giá, ngăn chặn gian lận xuất xứ và mở rộng chương trình ưu tiên thủy sản Mỹ. Đây mới là các đề xuất của hiệp hội, chưa phải chính sách đã được thông qua hoặc có hiệu lực.
CON TÔM THÁNG 10/2026
ECUADOR
Đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang Mỹ Ecuador đang đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang Mỹ nhằm đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Ngành tôm nước này được dự báo tăng trưởng kép hằng năm trên 10% trong năm 2026. Theo Juan Pablo Cuesta, Ủy viên thương mại của ProEcuador tại New York (Mỹ), thách thức hiện nay là tìm đầu ra phù hợp với sản lượng ngày càng tăng. Trước đây, Trung Quốc thường chiếm hơn một nửa lượng tôm xuất khẩu của Ecuador, khiến ngành hàng dễ bị ảnh hưởng khi thị trường này hạn chế nhập khẩu. Để tăng thị phần tại Mỹ, ProEcuador hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu quy định nhập khẩu, kết nối với nhà mua hàng và tham gia hội chợ thương mại. Đồng thời tổ chức các chuyến khảo sát để nhà nhập khẩu Mỹ gặp gỡ trực tiếp nhà sản xuất Ecuador. Bên cạnh mở rộng thị trường và phát triển các sản phẩm chế biến sâu để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Mỹ, doanh nghiệp Ecuador còn đẩy mạnh quảng bá xuất xứ tôm, qua đó nâng cao nhận diện sản phẩm và xây dựng quan hệ thương mại lâu dài. MALAYSIA
Cân nhắc điều chỉnh yêu cầu kiểm soát tôm nhập khẩu Malaysia sẽ áp dụng các yêu cầu kiểm soát tương đương đối với tôm Thái Lan nếu nước này tiếp tục yêu cầu kiểm tra trước xuất khẩu đối với mọi lô tôm và hạn chế nhập khẩu cá chẽm từ Malaysia. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Malaysia Datuk Chan Foong Hin cho biết, các biện pháp đáp trả có thể bao gồm xét nghiệm bắt buộc trước xuất khẩu đối với từng lô hàng, thống nhất danh mục dịch bệnh và giấy chứng nhận y tế giữa hai bên. Tuy nhiên, ông Chan cho biết đàm phán giữa hai nước đang có tiến triển. Thái Lan đã chấp nhận hệ thống kiểm soát an toàn sinh học của Malaysia và đồng ý áp dụng cơ chế luồng xanh cho các doanh nghiệp, trang trại đáp ứng tiêu chuẩn. Malaysia đề xuất mở rộng cơ chế này cho tất cả trang trại, cơ sở thu gom và nhà xuất khẩu đủ điều kiện. Các hạn chế do Thái Lan áp dụng từ năm 2017 khiến lượng tôm Malaysia xuất khẩu sang thị trường này giảm còn hơn 3.000 tấn vào năm 2024. THÁI LAN
Lũ lụt gây thiệt hại nặng cho ngành tôm Ngành tôm Thái Lan đang đối mặt với nhiều khó khăn khi lũ lụt làm gia tăng thiệt hại trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài và thị trường xuất khẩu thu hẹp. Theo Cục Thủy sản Thái Lan, tính đến ngày 14/10/2026, lũ lụt gây thiệt hại ước tính 17,503 tỷ baht, ảnh hưởng đến hơn 18.774 hộ nuôi và trên 22.400 ha diện tích sản xuất. Các khu vực chịu ảnh hưởng gồm Chachoengsao, Prachin Buri, Chon Buri, Rayong và Samut Prakan. Vùng nuôi phía Đông đóng góp khoảng 20% sản lượng tôm cả nước. Ngành tôm Thái Lan còn chịu tác động từ hội chứng chết sớm (EMS), bệnh đốm trắng và hội chứng phân trắng. Sản lượng tôm hằng năm đã giảm từ khoảng 600.000 tấn xuống còn 250.000 tấn trong hơn một thập kỷ. Các hiệp hội ngành tôm đề xuất nâng mức hỗ trợ thiệt hại, đơn giản hóa thủ tục và đẩy nhanh giải ngân nhằm giúp người nuôi khôi phục sản xuất.
TIN TỨC
Bộ Thương mại Mỹ (DOC) xác định biên độ phá giá 1,76% đối với phần lớn doanh nghiệp tôm Thái Lan trong đợt rà soát giai đoạn từ ngày 1/2/2024 đến 31/1/2025. Riêng Thai Royal Frozen Foods Co. được xác định mức biên độ 0%. Kết quả cuối cùng gần như không thay đổi so với kết quả sơ bộ. DOC hiện tiếp tục rà soát tôm nhập khẩu từ Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn tiếp theo. Tại diễn đàn ngành tôm FARM 2026 tổ chức ở Jakarta, Indonesia, đại diện ngành tôm nước này kêu gọi Chính phủ tăng cường kiểm soát nhập khẩu, bảo vệ hoạt động sản xuất trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngành tôm hiện chịu áp lực từ chi phí đầu vào tăng, thời tiết bất lợi và nguy cơ dịch bệnh. Bên cạnh các chính sách bảo hộ, chuyên gia nhấn mạnh sự cần thiết của việc cải thiện an toàn sinh học, quản lý môi trường và xử lý nước. Công ty công nghệ sinh học MicroHarvest (Đức) đang xây dựng nhà máy protein lên men có công suất 15.000 tấn/năm, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2028. Doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng sản lượng gấp 10 lần, đồng thời mở rộng thị trường sang Đông Nam Á và Nam Mỹ. Kết quả thử nghiệm trên tôm cho thấy, bổ sung 5% protein đơn bào MPX BOOST vào thức ăn giúp cải thiện tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức ăn và tỷ lệ sống khi tôm đối mặt với bệnh do Enterocytozoon hepatopenaei (EHP). ACTIPRO thuộc Tập đoàn VEOS và Veronesi (Italia) hợp tác tái chế phụ phẩm trứng thành bột trứng chức năng dùng trong thức ăn thủy sản. Quy trình khép kín giúp tận dụng nguyên liệu, giảm chất thải và tăng khả năng truy xuất nguồn gốc. Bột trứng cung cấp protein, chất béo và phospholipid, đồng thời được thử nghiệm trên nhiều loài thủy sản. Đáng chú ý, thử nghiệm trên cá hồi non ghi nhận tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến protein thô đạt 96%.
13
14
THEO DÒNG THỜI SỰ
CON TÔM THÁNG 10/2026
Duy trì hiệu quả các vùng nuôi là cơ sở để ngành tôm hoàn thành kế hoạch năm
Ảnh: Sao Ta
Ngành tôm nỗ lực hoàn thành mục tiêu Sau 9 tháng, sản lượng tôm nước lợ mới đạt 76,6% kế hoạch năm. Để chạm mốc 1,4 triệu tấn, ngành tôm cần thu hoạch thêm khoảng 327 nghìn tấn trong quý IV, giữa áp lực từ rủi ro môi trường và chi phí vụ nuôi.
Chênh lệch diện tích, sản lượng
Tại Hội thảo “Bàn giải pháp bảo đảm kế hoạch sản xuất tôm nước lợ năm 2026”, tổ chức tại Cà Mau ngày 15/10, báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, trong 9 tháng đầu năm, cả nước thả nuôi 741,3 nghìn ha tôm nước lợ, đạt 98,8% kế hoạch; sản lượng thu hoạch hơn 1 triệu tấn, bằng 76,6% kế hoạch. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tiếp tục là vùng nuôi chủ lực, chiếm hơn 87% sản lượng tôm cả nước. Chênh lệch giữa tiến độ diện tích và sản lượng cho thấy áp lực đáng kể trong những tháng cuối năm. Để đạt mục tiêu 1,4 triệu tấn, sản lượng quý IV cần đạt khoảng 327,2 nghìn tấn, bình quân hơn 100 nghìn tấn mỗi tháng. Trong khi đó, diện tích thả nuôi mới không còn nhiều dư địa tăng, khiến kết quả cả năm phụ thuộc chủ yếu vào năng suất, tỷ lệ sống và tiến độ thu hoạch của diện tích đang nuôi.
Số liệu từ các địa phương cho thấy mức độ đóng góp và kết quả thực hiện kế hoạch có sự khác biệt. An Giang đã đạt 93,56% kế hoạch sản lượng tôm; Vĩnh Long thu hoạch 241.400 tấn, tương đương gần 77% kế hoạch. Tại Cà Mau, địa phương chiếm khoảng 42% sản lượng tôm cả nước, tổng sản lượng tôm nuôi và khai thác đạt khoảng 454.000 tấn, bằng 72,8% kế hoạch; riêng tôm nuôi đạt 439.000 tấn. Cần Thơ đã thả nuôi 50.112 ha, đạt hơn 98% kế hoạch, gồm 11.278 ha tôm sú và 38.844 ha tôm thẻ chân trắng. Sản lượng thu hoạch đạt 198.373 tấn, bằng hơn 86% kế hoạch; trong đó, tôm sú đạt 20.173 tấn, tôm thẻ chân trắng đạt 178.200 tấn. Theo tính toán tại hội thảo, để hoàn thành kế hoạch, ngành tôm cần thu hoạch thêm 208,6 nghìn tấn tôm thẻ chân trắng và 118,5 nghìn tấn tôm sú. Trong đó, Cà Mau cần đóng góp khoảng 170 nghìn tấn, Vĩnh Long 70 nghìn tấn và Cần Thơ
32 nghìn tấn. Vì vậy, kết quả chung phụ thuộc đáng kể vào khả năng thu hoạch tại các vùng nuôi trọng điểm, nhất là Cà Mau. Tuy nhiên, diện tích đã thả nuôi không đồng nghĩa với diện tích còn tôm trong ao. Vì vậy, việc rà soát lượng tôm còn trong ao và dự kiến sản lượng từng tháng sẽ giúp các địa phương chủ động hơn trong điều hành vụ nuôi cuối năm. Do đó, cơ quan quản lý yêu cầu địa phương rà soát, cập nhật sản lượng có thể thu hoạch hằng tháng, làm cơ sở xây dựng kế hoạch phù hợp.
Dịch bệnh giảm, rủi ro vẫn hiện hữu
Theo hệ thống VAHIS, từ ngày 1/1 đến 8/10/2026, diện tích tôm có bệnh được ghi nhận khoảng 1.011 ha, tương đương 0,14% diện tích thả nuôi. Bệnh đốm trắng chiếm 41,5% diện tích có bệnh, tương ứng 419,4 ha, tập trung tại Vĩnh Long và Hưng Yên. Bệnh hoại tử gan tụy cấp chiếm
CON TÔM THÁNG 10/2026
15,6%; riêng Vĩnh Long chiếm khoảng 90% diện tích ghi nhận bệnh này. Tỷ lệ diện tích có bệnh được ghi nhận ở mức thấp là tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ để khẳng định rủi ro dịch bệnh đã được kiểm soát. Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng chỉ ra rằng công tác giám sát, cảnh báo tại một số địa phương chưa kịp thời, do đó vẫn có khả năng tồn tại ổ dịch chưa được phát hiện hoặc báo cáo đầy đủ. Kết quả quan trắc môi trường của Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam trong giai đoạn tháng 4 - 9 tiếp tục đặt ra những cảnh báo đáng chú ý. Ôxy hòa tan thấp hơn ngưỡng tại 86,6% số mẫu, riêng Cà Mau là 98,4%; vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, tác nhân liên quan đến bệnh hoại tử gan tụy cấp, vượt ngưỡng tại 61,6% số mẫu. Các kết quả này cho thấy điều kiện môi trường tại nhiều điểm quan trắc chưa bảo đảm, đòi hỏi người nuôi và cơ quan quản lý tăng cường theo dõi, xử lý kịp thời. Bên cạnh dịch bệnh và môi trường, chi phí con giống, thức ăn, điện, nhân công cùng biến động giá tôm tiếp tục gây sức ép lên hiệu quả vụ nuôi. Khả năng tiếp cận vốn và bảo hiểm còn hạn chế cũng khiến người nuôi khó chủ động trước các tình huống bất lợi. Vì vậy, kết quả vụ tôm cuối năm không thể chỉ đánh giá bằng sản lượng thu hoạch, mà còn cần tính đến chi phí và lợi nhuận thực tế.
Cân đối sản lượng gắn với kiểm soát rủi ro
Xét trên tổng sản lượng, mục tiêu bổ sung khoảng 327,2 nghìn tấn trong quý IV không phải không có cơ sở, nếu tiến độ thu hoạch được duy trì ở mức bình quân hơn 100 nghìn tấn mỗi tháng. Một cơ sở để kỳ vọng là hoạt động nuôi thâm canh, siêu thâm canh tại các vùng trọng điểm như Vĩnh Long, An Giang và Cà Mau vẫn được duy trì. Với năng suất cao hơn nhiều so với quảng canh và quảng canh cải tiến, các diện tích này có thể đóng góp đáng kể vào sản lượng quý IV. Theo ghi nhận của người viết, ĐBSCL vẫn còn nhiều ao tôm ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau, dự kiến thu hoạch trước khi kết thúc năm. Tuy nhiên, năng suất cao cũng đòi hỏi quản lý chặt chẽ môi trường, con giống và
kỹ thuật chăm sóc. Trước nguy cơ El Niño, nắng nóng kéo dài và chất lượng nước bất lợi, việc thu hoạch cần căn cứ vào tình trạng thực tế của từng vùng nuôi để hạn chế rủi ro. Tại hội thảo, các địa phương được yêu cầu rà soát lượng tôm còn trong ao, dự kiến sản lượng thu hoạch từng tháng từ tháng 10 đến tháng 12 theo hình thức nuôi, cỡ tôm và tỷ lệ sống. Công tác quan trắc, cảnh báo môi trường cũng cần tăng cường, nhất là tại Cà Mau và Cần Thơ, nơi ghi nhận tỷ lệ mẫu có ôxy hòa tan thấp ở mức cao. Đối với con giống, cần tăng cường xét nghiệm tác nhân gây bệnh tại cơ sở sản xuất, kinh doanh và kiểm tra chất lượng trước khi thả nuôi, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp kinh doanh giống không rõ nguồn gốc. Các địa phương cũng cần chuẩn bị phương án ứng phó với những diễn biến thời tiết bất lợi: điều chỉnh mật độ và lịch thả khi điều kiện còn thuận lợi; giãn lịch thả, khoanh vùng dịch và ưu tiên khu vực có nguồn nước bảo đảm khi rủi ro tăng cao. Cùng với giải pháp kỹ thuật, cần tăng cường liên kết giữa người nuôi, doanh nghiệp thu mua và cơ sở chế biến. Doanh nghiệp chủ động thông tin nhu cầu nguyên liệu, cỡ tôm và thời điểm thu mua; địa phương kết nối thường xuyên để cân đối lịch thu hoạch, hạn chế dồn nguồn cung. Đồng thời, tạo thuận lợi về tín dụng cho hộ nuôi, hợp tác xã có phương án khả thi, nhất là các đơn vị tham gia chuỗi liên kết. Về lâu dài, mục tiêu 1,4 triệu tấn cần gắn với hiệu quả kinh tế và tính bền vững. Nuôi thâm canh, siêu thâm canh cho năng suất cao nhưng đòi hỏi đầu tư đồng bộ hạ tầng điện, cấp thoát nước, quan trắc môi trường và nâng cao kỹ năng quản lý ao nuôi. Bên cạnh đó, khoảng 80% tôm thẻ chân trắng bố mẹ vẫn phải nhập khẩu, đặt ra yêu cầu chủ động hơn về nguồn giống. Một nền tảng dữ liệu thống nhất, cập nhật kịp thời từ địa phương đến cơ quan quản lý sẽ giúp dự báo sát hơn sản lượng thu hoạch, chủ động cân đối nguyên liệu và điều chỉnh kế hoạch theo diễn biến thực tế. XUÂN TRƯỜNG
THEO DÒNG THỜI SỰ
CON SỐ Là giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm 9 3,7 tỷ tháng đầu năm USD 2026, tăng 11% so cùng kỳ năm trước.
Là số cơ sở nuôi tôm thâm canh và quảng canh tại 400 xã Hải Lạng, tỉnh cơ sở Quảng Ninh, góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Là diện tích tôm nuôi tại xã Cổ Đạm, tỉnh Hà Tĩnh 0,13 ha phát sinh bệnh vi bào tử trùng (EHP) trong tháng 9/2026.
Là tổng diện tích nuôi tôm ứng dụng công nghệ 510 ha cao của xã Thạnh Phong, tỉnh Vĩnh Long, tính đến nay.
Là số tôm giống nước lợ Cà Mau sản xuất trong 9 tháng 48 tỷ đầu năm 2026, post đáp ứng nhu cầu thả nuôi của người dân.
15
16
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
CON TÔM THÁNG 10/2026
Gỡ nút thắt trong kinh tế tuần hoàn Tại Diễn đàn Hợp tác công - tư thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ngành tôm Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ở Cần Thơ ngày 21/9, các đại biểu chỉ ra những điểm nghẽn khiến các mô hình tuần hoàn chưa phát huy hết hiệu quả, từ thiếu liên kết vùng đến hạn chế về nguồn vốn. Hợp tác công - tư (PPP) được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những nút thắt này, kết nối nguồn lực và thúc đẩy nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Sản lượng tôm năm 2025 tăng 53% so năm 2021, chủ yếu nhờ hình thức thâm canh và siêu thâm canh
Thay đổi mục tiêu tăng trưởng
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, năm 2025, sản lượng tôm tăng 53% so năm 2021 dù diện tích nuôi gần như không đổi, chủ yếu nhờ thâm canh và siêu thâm canh. Tuy nhiên, ngành vẫn chịu sức ép từ chi phí đầu vào, tài nguyên nước, chất thải, biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, môi trường, phát thải. Ở góc độ thị trường, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết kim ngạch xuất khẩu tôm sau 9 tháng đầu năm tăng so cùng kỳ, song giá xuất khẩu và cơ cấu thị trường còn biến động. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ tăng sản lượng sang nâng hiệu quả, giá trị và tính bền vững.
Kinh tế tuần hoàn (KTTH) không chỉ giúp giảm chất thải mà còn góp phần nâng sức cạnh tranh. Theo các đại biểu tại diễn đàn, cần kết nối chuỗi nuôi, chế biến và tái sử dụng phụ phẩm, đồng thời tạo điều kiện để người nuôi tiếp cận vốn và hưởng lợi từ giá trị gia tăng.
Nhiều mô hình đã hình thành
Cục Thủy sản và Kiểm ngư xác định bốn nhóm chính của KTTH ngành tôm. Thứ nhất là tuần hoàn dựa vào hệ sinh thái, với hơn 650.000 ha áp dụng các hình thức tôm - lúa, tôm - rừng và nuôi sinh thái. Thứ hai là tuần hoàn dựa vào công nghệ, quản trị, gồm nuôi nhiều giai đoạn, biofloc, hệ thống tuần hoàn nước (RAS) và quan trắc
Ảnh: Báo Cà Mau
tự động. Theo báo cáo, các mô hình này có thể đạt năng suất 15 - 50 tấn/ha, giảm 30 - 70% lượng nước thải. Thứ ba là tận dụng phụ phẩm chế biến như đầu, vỏ tôm để sản xuất chitin, chitosan, glucosamine, protein thủy phân, thức ăn và phân bón; nhóm sản phẩm này có thể đóng góp 10 - 15% tổng giá trị chuỗi. Thứ tư là tuần hoàn vật tư, năng lượng và dịch vụ hỗ trợ, thông qua tái sử dụng bạt, ống, phao và ứng dụng điện mặt trời, điện gió. Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo tại một số mô hình thâm canh, siêu thâm canh đạt 20 - 30%. Các mô hình thực tế cho thấy nhiều hướng triển khai có thể áp dụng. Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
CON TÔM THÁNG 10/2026
Cần Thơ giới thiệu hình thức luân canh tôm - lúa, tận dụng bùn đáy ao tôm làm phân bón cho lúa; thả cá rô phi trong vèo lưới để hỗ trợ lọc tảo, chất lơ lửng; hoặc bố trí chuỗi ao tôm thẻ chân trắng - cá chốt cá nâu, tận dụng dòng nước qua từng ao. Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh kết hợp đa loài trong hệ thống tuần hoàn khép kín (CTU-RAS) của Đại học Cần Thơ. Bên cạnh đó, Công ty ADM giới thiệu hệ thống BIOSIPEC, với kết quả từ khoảng 50 vụ nuôi: tôm đạt 20 - 30 g/con sau 75 - 80 ngày, tỷ lệ sống 85%, giá thành 3,9 - 4,3 USD/kg, chưa tính chi phí khấu hao và không sử dụng kháng sinh.
Điểm nghẽn nằm ở liên kết và vốn
Dù đã đạt được những kết quả bước đầu, việc nhân rộng các giải pháp KTTH vẫn gặp nhiều trở ngại, nhất là về liên kết chuỗi và nguồn lực đầu tư. KTTH ngành tôm còn thiếu liên kết vùng, hạ tầng đồng bộ và cơ chế khuyến khích như tín dụng xanh, ưu đãi thuế. Thị trường phụ phẩm chưa phát triển, liên kết giữa người nuôi, doanh nghiệp chế biến và đơn vị tái chế còn lỏng lẻo; tiêu chuẩn kỹ thuật và công cụ đánh giá hiệu quả môi trường cũng chưa hoàn thiện. Đặc biệt, vốn là trở ngại trực tiếp đối với khả năng chuyển đổi. Theo Hatch Blue, dẫn khảo sát Agriterra, Việt Nam có khoảng 220.000 hộ nuôi tôm, diện tích bình quân 2,62 ha/hộ. Chi phí mỗi vụ khoảng 470 triệu đồng, trong đó 99% là chi phí vận hành; thức ăn chiếm 57%, con giống chiếm 20%. Với hộ thuê ao, thiếu tài sản thế chấp càng gây khó khăn khi vay vốn. Các khoản đầu tư công nghệ tuần hoàn trị giá 50.000 - 500.000 USD nằm giữa khoảng trống tài chính: quá lớn đối với tài
Ngành tôm không thiếu giải pháp tuần hoàn, nhưng cần cơ chế kết nối Nhà nước, doanh nghiệp, người nuôi và tổ chức tài chính để nhân rộng. PPP chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với cam kết đầu ra, chia sẻ lợi ích minh bạch và tiêu chí đánh giá cụ thể, qua đó nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của tôm Việt Nam.
ÔNG TRẦN ĐÌNH LUÂN, CỤC TRƯỞNG CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
KTTH giúp nâng cao hiệu quả kinh tế KTTH đã có những kết quả bước đầu trong ngành tôm, từ giảm hệ số chuyển đổi thức ăn, tiết kiệm nước và nguyên liệu đầu vào thông qua quản trị hiệu quả, đến liên kết tổ hợp tác, hợp tác xã giúp người nuôi tiếp cận vật tư chất lượng với chi phí hợp lý. Việc kết nối vùng nuôi với nhà máy chế biến cũng đạt kết quả nhất định; phụ phẩm như đầu, vỏ tôm được thu gom, chế biến thành các sản phẩm có giá trị cao hơn. Khi thực hiện đồng bộ trên toàn chuỗi, KTTH giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm tác động môi trường và sử dụng tài nguyên hợp lý hơn. Để nhân rộng các giải pháp này, cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, người nuôi, doanh nghiệp và đầu tư cho khoa học công nghệ, tài chính để thúc đẩy đổi mới. chính vi mô nhưng chưa phù hợp với nhiều kênh vay ngân hàng. Nếu người nuôi phải tự gánh chi phí chuyển đổi mà chưa có cam kết đầu ra ổn định từ doanh nghiệp, động lực đầu tư lâu dài sẽ khó duy trì.
PPP kết nối nguồn lực
Theo VASEP, thị trường không trả thêm chỉ vì sản phẩm được giới thiệu là tuần hoàn; điều người mua cần là chất lượng phù hợp và bằng chứng đáng tin cậy. Các yêu cầu ngày càng hướng đến dữ liệu xuyên chuỗi, gồm lịch sử điều trị, truy xuất từ ao nuôi đến thức ăn, mức sử dụng nước và năng lượng, phát thải và điều kiện lao động. Vì vậy, cơ chế chia sẻ giá trị cần được thiết kế ngay từ đầu, gắn trách nhiệm đầu tư với cam kết đầu ra. Hatch Blue đề xuất sử dụng bảo lãnh thay cho tài sản thế chấp, số hóa hồ sơ vụ nuôi và dòng tiền qua đại lý, đồng thời để doanh nghiệp chế biến dẫn dắt khoản vay, kết hợp đào tạo và chứng nhận cho người nuôi. Đơn vị này dẫn mô hình khoản vay xanh dương trị giá 150 triệu USD của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dành cho Thai Union vào tháng 5/2025 như một ví dụ về tài chính gắn với chuỗi giá trị. Trong khi đó, Save the Children Việt Nam kiến nghị phân bổ nguồn vốn theo mức độ trưởng thành của mô hình: viện trợ và hỗ trợ kỹ thuật ở giai đoạn đầu; vốn ưu đãi, cơ chế chia sẻ rủi ro trong quá trình chuyển đổi; sau đó mở rộng tín dụng
thương mại, tài chính chuỗi giá trị và tài chính carbon khi đáp ứng điều kiện. Cách tiếp cận này giúp giảm áp lực vốn ban đầu và gắn đầu tư với hiệu quả dài hạn. Cục Thủy sản và Kiểm ngư xác định PPP là cơ chế huy động nguồn lực để triển khai KTTH ở quy mô lớn. Theo đó, Nhà nước hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng và dữ liệu vùng nuôi, xây dựng cơ chế khuyến khích và giám sát; doanh nghiệp đầu tư công nghệ, tổ chức liên kết chuỗi và bao tiêu; người nuôi tham gia cùng sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và nguồn tài chính xanh. Các lĩnh vực có thể triển khai PPP gồm hạ tầng vùng nuôi, công nghệ tuần hoàn, chế biến sâu và tận dụng phụ phẩm, năng lượng tái tạo và liên kết chuỗi. VASEP đưa ra phương án thí điểm trong 18 tháng, do doanh nghiệp chế biến dẫn dắt, có người mua tham gia từ đầu và cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính. Sáu tháng đầu dành cho lựa chọn cụm nuôi, xây dựng số liệu nền và thống nhất tiêu chí đầu ra. Từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 18, chương trình vận hành một đến hai vụ nuôi, tối ưu sử dụng năng lượng và thử nghiệm sản phẩm phụ phẩm. Việc nhân rộng dựa trên kết quả thực tế, đánh giá qua sáu nhóm chỉ số: tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn; chi phí mỗi kg tôm; lượng nước và năng lượng sử dụng; tỷ lệ nguyên liệu đạt chuẩn; doanh thu phụ phẩm; giá bán và hợp đồng tiêu thụ. AN XUYÊN
17
18
TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC
CON TÔM THÁNG 10/2026
Siết chặt quản lý sản xuất, kinh doanh giống thủy sản Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản đặt ra những yêu cầu chặt chẽ đối với hoạt động sản xuất, ương dưỡng, khảo nghiệm và lưu thông giống thủy sản. Các chế tài nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng, nguồn gốc giống và trách nhiệm của cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Tăng trách nhiệm của cơ sở sản xuất giống
Ngày 30/9/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Văn bản hợp nhất số 90/2026/ VBHN-NĐ-BNNMT quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản, trong đó Mục 2 tập trung vào các vi phạm về giống thủy sản. Trong đó, Điều 10 quy định về sản xuất, ương dưỡng, khảo nghiệm giống; Điều 11 điều chỉnh hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; Điều 12 quy định về đặt tên giống thủy sản. Các mức phạt được phân theo tính chất, mức độ vi phạm và đối tượng giống. Những hành vi liên quan đến thông tin, hồ sơ quản lý chịu mức phạt thấp hơn, trong khi vi phạm về điều kiện sản xuất, giấy chứng nhận hoặc sản xuất giống chưa được phép có thể bị xử phạt đến 50 triệu đồng. Đối với hoạt động sản xuất, ương dưỡng, cơ sở phải đáp ứng và duy trì các điều kiện theo quy định, thực hiện đúng nội dung giấy chứng nhận, đồng thời bảo đảm yêu cầu quản lý giống thủy sản bố mẹ. Bên cạnh đó, yêu cầu cập nhật thông tin, ghi chép và lưu giữ hồ sơ phục vụ truy xuất nguồn gốc là căn cứ quan trọng để kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất và lưu
Kiểm soát chất lượng tôm bố mẹ ngay từ khâu đầu vào của trại giống
thông giống. Thực hiện đầy đủ các yêu cầu này giúp minh bạch hóa nguồn cung, hỗ trợ cơ quan chức năng xác định nguồn gốc giống khi phát sinh vi phạm, đồng thời giúp người nuôi lựa chọn con giống có thông tin rõ ràng.
Sai phạm nặng có thể bị đình chỉ
Theo Điều 10 Văn bản hợp nhất số 90/2026/VBHN-NĐBNNMT, cơ sở sẽ bị phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng đối với các hành vi không cập nhật hoặc cập nhật không đúng thông tin về hoạt động sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản; không thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản cấp tỉnh việc sử dụng giống thủy sản bố mẹ theo quy
Ảnh: Duy Học
định; hoặc không ghi chép, lưu giữ đầy đủ hồ sơ phục vụ truy xuất nguồn gốc. Đối với vi phạm về điều kiện và hoạt động sản xuất, mức phạt từ 10 - 15 triệu đồng được áp dụng cho hành vi không tuân thủ thời hạn sử dụng giống thủy sản bố mẹ; sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản không phải giống bố mẹ mà không duy trì một trong các điều kiện theo quy định; hoặc hoạt động không đúng nội dung trong Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản. Mức phạt từ 15 - 20 triệu đồng áp dụng đối với hành vi sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản bố mẹ không đúng nội dung giấy chứng nhận hoặc không duy trì điều kiện
sản xuất, ương dưỡng; sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản không phải giống bố mẹ mà không có giấy chứng nhận theo quy định; và thực hiện khảo nghiệm khi cơ sở không đáp ứng điều kiện. Đối với giống thủy sản bố mẹ, mức xử phạt được phân theo đối tượng nuôi. Hành vi sản xuất, ương dưỡng giống bố mẹ không phải đối tượng thủy sản nuôi chủ lực mà không có giấy chứng nhận bị phạt từ 20 - 30 triệu đồng. Trường hợp giống bố mẹ thuộc đối tượng thủy sản nuôi chủ lực, mức phạt tăng lên 30 - 40 triệu đồng. Cũng theo quy định tại Điều 10, mức phạt cao nhất từ 40 50 triệu đồng áp dụng đối với hành vi sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản không có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam hoặc chưa được công nhận, chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài phạt tiền, một số hành vi còn bị đình chỉ hoạt động sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản bố mẹ từ 1 - 3 tháng, gồm các trường hợp được quy định tại điểm c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 10. Hoạt động khảo nghiệm
TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC
CON TÔM THÁNG 10/2026
giống thủy sản bị đình chỉ từ 3 - 6 tháng nếu cơ sở thực hiện khảo nghiệm khi không đáp ứng điều kiện theo quy định. Về biện pháp khắc phục hậu quả, các hành vi thuộc khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 10 bị buộc chuyển đổi mục đích sử dụng giống thủy sản; nếu không đáp ứng yêu cầu chuyển đổi thì buộc tiêu hủy. Trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, Điều 11 Văn bản hợp nhất số 90 quy định mức phạt từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi xuất khẩu giống thủy sản thuộc Danh mục loài thủy sản xuất khẩu có điều kiện nhưng không đáp ứng điều kiện, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Hành vi nhập khẩu giống thủy sản không có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp được cấp phép, bị phạt từ 40 - 50 triệu đồng. Đối với vi phạm về xuất khẩu, cơ sở có thể bị buộc thả giống còn sống trở lại môi trường sống của chúng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng; nếu không đáp ứng yêu cầu chuyển đổi thì buộc tiêu hủy. Với giống nhập khẩu vi phạm, biện pháp khắc phục là buộc tái xuất; trường hợp không thể tái xuất thì buộc tiêu hủy giống thủy sản. Còn theo nội dung Điều 12, hành vi đặt tên giống thủy sản không theo quy định sẽ bị phạt từ 5 - 10 triệu đồng. Cơ sở vi phạm còn phải loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì, phương tiện kinh doanh hoặc vật phẩm thể hiện tên giống. BẢO HÂN
VĂN BẢN MỚI Ngày 14/9/2026, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) ban hành Công văn số 1211/XNK-THCS gửi các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Đài Loan thông báo về việc Đài Loan (Trung Quốc) ban hành cơ chế hạn chế nhập khẩu hàng hóa có liên quan đến lao động cưỡng bức. Văn bản nhằm phổ biến cơ chế pháp lý mới do Cơ quan quản lý kinh tế (MOEA) và Cơ quan quản lý lao động Đài Loan (MOL) ban hành ngày 30/7/2026. Cơ chế này thiết lập quy trình tiếp nhận thông tin, thẩm định và áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với hàng hóa bị nghi ngờ khai thác, sản xuất hoặc chế tạo bằng lao động cưỡng bức. Cục Xuất nhập khẩu khuyến cáo doanh nghiệp cần chủ động rà soát, kiểm tra toàn bộ chuỗi cung ứng nguyên liệu và quy trình sử dụng lao động tại cơ sở sản xuất; bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về lao động, tuyệt đối không sử dụng lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc. Đồng thời chuẩn bị sẵn sàng các hồ sơ, chứng minh nguồn gốc lao động và tính minh bạch của chuỗi cung ứng để kịp thời giải trình khi cơ quan chức năng phía Đài Loan yêu cầu, tránh rủi ro bị dừng thông quan hoặc bị cấm đưa hàng vào các Khu thương mại tự do. Ngày 22/9/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3663/QĐ-BNNMT về việc
công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ. Trong đó, 3 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung gồm: Thủ tục cấp Trung ương - Cấp và cấp lại xác nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu thủy sản khai thác hoặc chứng nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu có nguồn gốc từ thủy sản khai thác nhập khẩu theo quy định của Ủy ban quốc tế về bảo tồn cá ngừ Đại Tây Dương hoặc giấy khác có nội dung tương đương; Thủ tục cấp tỉnh - Cấp, cấp lại Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác (theo yêu cầu); Thủ tục do tổ chức quản lý cảng cá thực hiện - Xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác. Ngày 28/9/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 502/TBVPCP truyền đạt kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc ngày 25/9/2026 với các hiệp hội và doanh nghiệp xuất khẩu tiêu biểu ngành hàng nông, lâm, thủy sản. Trong đó, Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối theo dõi tình hình xuất khẩu của ngành. Chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, các địa phương và hiệp hội chủ động theo dõi sản xuất, xuất nhập khẩu các ngành hàng chủ lực để cảnh báo sớm khi có biến động về thị trường, giá cả hoặc rào cản kỹ thuật. Cùng đó, khẩn
trương nghiên cứu giải pháp chuẩn hóa, số hóa và kết nối dữ liệu vùng nguyên liệu, vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu; đàm phán mở cửa thị trường, nâng cao năng lực cảnh báo sớm. Coi chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện bắt buộc. Bộ Công Thương chủ trì theo dõi sát chính sách thương mại, rào cản phòng vệ thương mại và biến động thị trường quốc tế. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả các FTA và chủ động ứng phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại từ nước ngoài. Bộ Tài chính khẩn trương rà soát, xử lý theo thẩm quyền các vấn đề vướng mắc về thuế, phí, lệ phí, thủ tục hải quan và hoàn thuế GTGT. Đẩy mạnh số hóa, áp dụng quản lý rủi ro hiện đại, tạo thuận lợi tối đa cho thông quan hàng hóa; tuyệt đối không để thủ tục hành chính kéo dài làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân các địa phương tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng vận tải, cảng biển, hệ thống kho lạnh, bảo quản và dịch vụ logistics, đặc biệt là đối với các mặt hàng nông, thủy sản có tính mùa vụ cao. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng bảo đảm nguồn vốn ưu đãi, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng phục vụ thu mua, chế biến và giao hàng xuất khẩu trong giai đoạn cao điểm.
19
20
CON TÔM THÁNG 10/2026
CON TÔM THÁNG 10/2026
21
22
CON TÔM THÁNG 10/2026
CON TÔM THÁNG 10/2026
23
24
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
CON TÔM THÁNG 10/2026
Phát triển sản phẩm chế biến sâu đang trở thành hướng đi được nhiều doanh nghiệp lựa chọn
Ảnh: Sao Ta
XUẤT KHẨU TÔM CUỐI NĂM
Đánh giá đúng, chủ động thích ứng trước biến động từ thị trường Nhu cầu tiêu dùng gia tăng trong mùa lễ hội cuối năm, chu kỳ bổ sung tồn kho và tín hiệu tích cực từ một số thị trường đang mở ra cơ hội để xuất khẩu tôm tăng tốc trong những tháng cuối năm 2026.
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng của năm 2026 khi nhu cầu nhập khẩu tại nhiều thị trường có dấu hiệu cải thiện. Mùa tiêu dùng cuối năm, hoạt động bổ sung hàng tồn kho và sự mở rộng của các thị trường châu Á được kỳ vọng tạo thêm động lực cho doanh nghiệp gia tăng đơn hàng. Trong cơ cấu xuất khẩu, tôm tiếp tục được xác định là mặt hàng chủ lực, đóng vai trò quan trọng đối với khả năng hoàn thành mục tiêu chung. Trong 8 tháng
đầu năm 2026, xuất khẩu tôm đạt 3,29 tỷ USD, tăng 12,3% so cùng kỳ năm trước và chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.
Đánh giá đúng cơ hội và rủi ro
Trung Quốc trở thành động lực tăng trưởng chính khi kim ngạch xuất khẩu tôm sang thị trường này đạt 1,13 tỷ USD, tăng 37,6%. Tuy nhiên, sức tiêu thụ tại thị trường này đang tăng chậm hơn nhập khẩu. Ngoài ra, cơ cấu tôm Việt Nam bán
sang thị trường này có tỷ trọng tôm hùm rất lớn, khác đáng kể so với Ecuador và Ấn Độ. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải nhìn đúng từng phân khúc để đánh giá cơ hội và rủi ro. Nhu cầu tiêu dùng tại Trung Quốc và các thị trường châu Á thường có xu hướng gia tăng trước những dịp lễ hội và Tết. Đây được xem là cơ hội để doanh nghiệp thủy sản Việt Nam mở rộng lượng hàng xuất khẩu trong quý cuối năm. Việc một số nhà nhập khẩu tăng mua để
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
CON TÔM THÁNG 10/2026
bổ sung tồn kho sau giai đoạn thận trọng có thể hỗ trợ hoạt động ký kết đơn hàng mới. Khả năng tận dụng cơ hội sẽ phụ thuộc vào năng lực cung ứng, chất lượng sản phẩm và mức độ chủ động của doanh nghiệp trong việc đáp ứng yêu cầu từng thị trường.
Phát huy thế mạnh tại thị trường Mỹ
Tại thị trường Mỹ, hoạt động xuất khẩu tôm đang phải đối mặt với những khó khăn đáng kể. Mức thuế theo Điều 301 được đề cập đối với tôm Việt Nam là 12,5%, cao hơn mức 10% của một số đối thủ cạnh tranh, qua đó tạo bất lợi nhất định về giá. Ngoài ra, kết quả cuối cùng của kỳ rà soát thuế chống bán phá giá được xem là yếu tố có thể tác động trực tiếp đến đơn hàng và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), diễn biến các biện pháp thuế tại Mỹ sẽ ảnh hưởng đến giá chào bán, tốc độ nhận đơn hàng và xu hướng chuyển hướng thị trường. Nếu mức thuế duy trì ở ngưỡng cao, doanh nghiệp có thể tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu sang châu Á. Tuy nhiên, việc nhiều nhà cung cấp cùng chuyển hướng cũng có nguy cơ gia tăng cạnh tranh về giá. Trong bối cảnh đó, phát triển sản phẩm chế biến sâu và nâng cao giá trị gia tăng đang trở thành hướng đi được nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú Lê Văn Quang cho biết, Mỹ đã vượt Nhật Bản trở thành thị trường lớn nhất của doanh nghiệp. Dù tôm Việt Nam chịu thêm mức thuế 12,5% tại Mỹ, chênh lệch so với tôm của Ấn Độ và Ecuador chưa đủ lớn để làm suy giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm giá trị gia tăng. Nhu cầu tăng cũng thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng năng lực chế biến. Minh Phú đang đẩy mạnh tự động hóa, hướng tới tự động hóa 70 - 80% hoạt động sản xuất. Theo ông Quang, ngay cả khi ba nhà máy hoạt động tối đa công suất, doanh nghiệp vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu và có thể cân nhắc đầu tư thêm nhà máy nếu thị trường tiếp tục tăng trưởng.
Các vùng nuôi đạt chứng nhận tạo lợi thế cho tôm Việt Nam khi xuất khẩu
Bóc tách nhu cầu tại EU
Dù tiếp tục duy trì vị thế là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của ngành thủy sản Việt Nam, khối Liên minh châu Âu (EU) đang cho thấy những chuyển dịch rõ rệt về sức mua lẫn cơ cấu sản phẩm. Tính đến giữa tháng 9/2026, tổng giá trị xuất khẩu tôm từ Việt Nam sang EU chỉ đạt gần 374 triệu USD, giảm 5% so cùng kỳ năm trước, đóng góp khoảng 10,7% vào tổng kim ngạch xuất khẩu tôm toàn quốc. Diễn biến sụt giảm này xuất phát từ hai nguyên nhân chính, một là tâm lý phòng thủ của nhà nhập khẩu sau năm 2025 thu mua tích trữ lượng lớn, khiến các đối tác EU ưu tiên giải phóng tồn kho và thận trọng hơn trong việc ký kết các hợp đồng mới; hai là sự phân hóa giữa các tiểu vùng, khi các khu vực Nam Âu, Tây Bắc Âu và Đông Âu đang ghi nhận tốc độ phục hồi lẫn thị hiếu tiêu dùng hoàn toàn khác biệt. Trước bối cảnh người mua tại EU ngày càng khắt khe, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam cần tập trung tái định vị phân khúc khách hàng bằng cách bóc tách nhu cầu của từng thị trường ngách. Cụ thể, các kênh phân phối tại Nam Âu có
Ảnh: Báo Nông nghiệp và Môi trường
thể ưu tiên các dòng sản phẩm thô hoặc đông lạnh quy chuẩn, trong khi thị trường Tây Bắc Âu lại chuộng các mặt hàng chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và phát triển bền vững. Cùng với đó, việc tối ưu hóa quy cách và giá thành giúp cân đối giữa nhóm sản phẩm giá trị gia tăng với các dòng sản phẩm giá cạnh tranh, đáp ứng đúng túi tiền tiêu dùng giai đoạn thắt chặt chi tiêu. Đảm bảo sự ổn định của chuỗi cung ứng từ giao hàng đúng hạn, minh bạch nguồn gốc đến chất lượng đồng đều chính là điểm tựa then chốt giúp doanh nghiệp Việt chủ động linh hoạt, biến thách thức từ bước sàng lọc thị trường năm 2026 thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Một lợi thế của tôm Việt Nam là hệ thống sản xuất được chứng nhận. Bà Barbara Janker, Giám đốc Thương mại khu vực châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương (APAC) của Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản (ASC) cho biết, Việt Nam hiện là quốc gia sản xuất tôm được chứng nhận ASC lớn thứ ba thế giới xét theo sản lượng. Đây là lợi thế khi nhu cầu đối với tôm có chứng nhận tại châu Âu tiếp tục tăng. TRUNG KIÊN
25
26
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
CON TÔM THÁNG 10/2026
Xuất khẩu tôm đạt 3,7 tỷ USD Theo số liệu Hải quan Việt Nam, lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt khoảng 3,7 tỷ USD, tăng 11% so cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9, kim ngạch đạt khoảng 467,9 triệu USD, tăng 4%, cho thấy tốc độ tăng trưởng đang chậm lại. Trong khi, chi phí sản xuất cao đang tạo áp lực lên lợi nhuận và sức cạnh tranh của ngành hàng này. VASEP cho biết, giá thành sản xuất tôm nguyên liệu của Việt Nam hiện khoảng 4,25 USD/kg, cao hơn đáng kể so mức 2,4 USD/ kg của Ecuador. Chênh lệch chi phí khiến tôm Việt Nam gặp bất lợi trong cạnh tranh về giá trên thị trường quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu là sản xuất còn phân tán, chất lượng con giống chưa đồng đều, nguồn nguyên liệu thiếu ổn định, trong khi chi phí thức ăn và năng lượng ở mức cao. Bên cạnh đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và tính bền vững của chuỗi cung ứng. Đây là sức ép buộc doanh nghiệp phải cải thiện hiệu quả và tối ưu chi phí.
Tôm Việt đối mặt với áp lực cạnh tranh tại Mỹ Số liệu của VASEP cho thấy, tháng 8/2026, Mỹ nhập khẩu 79.729 tấn tôm, trị giá 676 triệu USD, tăng lần lượt 32% và 29% so cùng kỳ năm trước. Đây là mức nhập khẩu cao nhất kể từ năm 2021. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, Mỹ nhập khẩu 539.821 tấn tôm, giảm 1% so cùng kỳ, với giá trị đạt 4,681 tỷ USD. Ecuador tiếp tục dẫn đầu về nguồn cung, đạt 195.023 tấn, tăng 32%; trong khi Ấn Độ đạt 177.994 tấn, giảm 19%. Việt Nam xuất khẩu 34.476 tấn tôm sang Mỹ, giảm 8% so cùng kỳ. Nhu cầu nhập khẩu tăng trong tháng 8 mở ra cơ hội cho các nước xuất khẩu. Tuy nhiên, tôm Việt Nam vẫn đối mặt với áp lực cạnh tranh khi Ecuador tiếp tục mở rộng thị phần tại Mỹ, đòi hỏi doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu thị trường.
Thị trường EU giảm nhu cầu tôm Việt Nam Thông tin từ VASEP, tính đến ngày 15/9/2026, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Liên minh châu Âu (EU) đạt gần 374 triệu USD, giảm 5% so cùng kỳ năm trước, chiếm 10,7% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm cả nước. Trong 7 tháng đầu năm 2026, EU nhập khẩu 232.966 tấn tôm thuộc các nhóm sản phẩm được theo dõi, giảm 7% so cùng kỳ; giá trị nhập khẩu đạt 1,418 tỷ EUR, giảm 11%. Diễn biến này phản ánh xu hướng suy giảm nhu cầu tại thị trường EU sau đà tăng trưởng mạnh trong năm 2025. Theo VASEP, EU vẫn là thị trường xuất khẩu quan trọng của tôm Việt Nam, song nhu cầu có sự khác biệt giữa các khu vực. Doanh nghiệp cần điều chỉnh sản phẩm, quy cách và giá bán phù hợp với từng thị trường, đồng thời duy trì nguồn cung ổn định và nâng cao sức cạnh tranh để giữ thị phần. Diễn biến này đặt ra yêu cầu theo dõi sát sức mua, xu hướng tiêu dùng và sự thay đổi trong cơ cấu nhập khẩu của EU.
CON TÔM THÁNG 10/2026
QUẢNG TRỊ
Tôm nguyên liệu duy trì mức ổn định Thị trường tôm nguyên liệu tại Quảng Trị trong những ngày cuối tháng 9/2026 không ghi nhận biến động so cuối tháng trước. Trong đó, tôm hùm cỡ 3 - 5 con/kg có giá 1,35 triệu đồng/kg; tôm bộp cỡ 45 - 50 con/kg đạt 650.000 đồng/kg. Tôm sú cỡ 20 - 30 con/kg được thu mua ở mức 500.000 đồng/ kg, tôm thẻ chân trắng cỡ 30 - 40 con/kg đạt 450.000 đồng/ kg, còn tôm đất cỡ 40 - 50 con/kg có giá 400.000 đồng/kg. Mặt bằng giá giữa các chủng loại có sự chênh lệch đáng kể, trong đó tôm hùm có giá cao nhất, gấp hơn 3 lần tôm đất. Tuy nhiên, giá thu mua của cả 5 loại tôm đều giữ ổn định so cuối tháng 8/2026. ĐẮK LẮK
Giá tôm nguyên liệu ổn định Những ngày cuối tháng 9/2026, giá nguyên liệu tôm sú tại Phú Yên duy trì ổn định so cuối tháng 8/2026, trong khi giá tôm thẻ chân trắng có xu hướng tăng nhẹ. Cụ thể, tôm sú cỡ 50 con/kg có giá 220.000 đồng/kg, cỡ 40 con/kg đạt 250.000 đồng/kg và cỡ 30 con/kg ở mức 300.000 đồng/kg. Đối với tôm thẻ chân trắng, loại 100 con/kg đạt 92.000 đồng/kg, tăng 2.000 đồng/kg so cuối tháng trước. Nhìn chung, giá tôm sú giữ nguyên ở các cỡ được khảo sát, còn tôm thẻ chân trắng ghi nhận mức tăng nhẹ.
Tôm hùm vào mùa, giá vượt 800.000 đồng/kg Đầu tháng 10/2026, hoạt động thu hoạch tôm hùm tại vùng nuôi Vũng Chào - vịnh Xuân Đài (Đắk Lắk) nhộn nhịp trở lại sau thời gian khắc phục thiệt hại do bão số 13/2025. Giá tôm hùm hiện đạt hơn 800.000 đồng/kg, có thời điểm tiến sát 900.000 đồng/kg, tạo thuận lợi cho người nuôi trong giai đoạn tiêu thụ cuối năm. Nhiều hộ nuôi đang tập trung chăm sóc, thu hoạch tôm đạt kích cỡ thương phẩm và phân loại theo chất lượng trước khi giao cho thương lái. Mức giá hiện tại góp phần cải thiện thu nhập. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ chính. CÀ MAU
Giá tôm sú tăng, tôm thẻ chân trắng giảm nhẹ Trong những ngày cuối tháng 9/2026, giá nguyên liệu tôm tại Cà Mau biến động trái chiều so cuối tháng 8/2026. Cụ thể, tôm sú cỡ 20 con/kg giữ ổn định ở mức 300.000 đồng/kg, trong khi loại 30 con/kg tăng 5.000 đồng/kg, lên 175.000 đồng/kg. Ngược lại, tôm thẻ chân trắng cỡ 20 con/kg giảm 3.000 đồng/kg, xuống còn 262.000 đồng/kg. Như vậy, trong kỳ ghi nhận, giá tôm sú cỡ 30 con/kg tăng nhẹ, tôm sú cỡ 20 con/kg không thay đổi, còn tôm thẻ chân trắng giảm so cuối tháng trước. ANH VŨ
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
27
28
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
CON TÔM THÁNG 10/2026
THẾ GIỚI
Sản lượng bột cá tháng 8 cải thiện nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ Theo báo cáo mới của Tổ chức Nguyên liệu biển quốc tế (IFFO), nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất bột cá và dầu cá toàn cầu trong tháng 8/2026 đã cải thiện so cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tính lũy kế từ đầu năm, sản lượng bột cá vẫn thấp hơn 45%, còn dầu cá giảm 26% so năm 2025. Mức cải thiện trong tháng 8 chủ yếu đến từ Chile, Tây Ban Nha và Mỹ, nhờ lượng nguyên liệu thu được tăng đáng kể. Ngược lại, việc Peru đóng mùa khai thác cá cơm tiếp tục gây sức ép lên nguồn cung toàn cầu. Peru đóng góp khoảng 20% sản lượng bột cá và dầu cá thế giới hằng năm. Trong khi đó, nguồn nguyên liệu tại một số khu vực châu Phi và Iceland/Bắc Đại Tây Dương cũng giảm, khiến đà phục hồi chưa đủ bù đắp mức thiếu hụt tích lũy từ đầu năm. Giám đốc nghiên cứu thị trường IFFO Enrico Bachis dự báo, nguồn cung bột cá toàn cầu năm 2026 có thể giảm xuống dưới 4,6 triệu tấn, mức thấp nhất kể từ năm 2026. Nguồn cung nguyên liệu thắt chặt có thể gia tăng áp lực lên ngành thức ăn, thúc đẩy các nhà sản xuất tìm kiếm nguồn thay thế nhằm bảo đảm hoạt động chế biến và hạn chế biến động chi phí. MỸ
Nhập khẩu tôm cao nhất kể từ năm 2021 Theo số liệu mới nhất của Shrimp Insights, tháng 8/2026 Mỹ nhập khẩu 79.729 tấn tôm, trị giá 676 triệu USD, tăng lần lượt 32% về lượng và 29% về giá trị so cùng kỳ năm trước, đạt mức cao nhất kể từ năm 2021. Tuy nhiên, lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu tôm của Mỹ đạt 539.821 tấn, giảm 1% và trị giá 4,68 tỷ USD, gần như đi ngang do nhu cầu sụt giảm mạnh trong quý I và tháng 4 trước khi hồi phục từ tháng 5. Về nguồn cung trong 8 tháng đầu năm, Ecuador tiếp tục dẫn đầu với 195.023 tấn, tăng 32%; Ấn Độ đạt 177.994 tấn, giảm 19%, dù riêng tháng 8 ghi nhận mức tăng 25%; Indonesia đạt 81.507 tấn, giảm 11%; Việt Nam đạt 34.476 tấn, giảm 8%, riêng tháng 8 tăng 18% so cùng kỳ.
Hủy rà soát chống bán phá giá với 285 doanh nghiệp tôm Ấn Độ Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã hủy rà soát hành chính đối với 285 trong tổng số 393 doanh nghiệp xuất khẩu tôm Ấn Độ ban đầu thuộc diện xem xét, do các doanh nghiệp này không có lô hàng nào bị tạm dừng thanh khoản trong kỳ rà soát. Đợt rà soát hành chính lần thứ 21 được khởi xướng ngày 31/3/2026, với kỳ rà soát từ ngày 1/2/2025 đến 31/1/2026. Đợt rà soát được tiến hành theo đề nghị của Ủy ban đặc nhiệm về hành động thương mại tôm, Hiệp hội Chế biến Tôm Mỹ, Hiệp hội Tôm Mỹ, Liên minh Ngư dân Đánh bắt Tôm Mỹ cùng một số nhà sản xuất, xuất khẩu của Ấn Độ. Sau quyết định trên, còn 108 doanh nghiệp tiếp tục thuộc diện rà soát. Động thái này diễn ra trong bối cảnh DOC vừa công bố kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ 20, áp dụng cho giai đoạn từ tháng 2/2024 đến tháng 1/2025.
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
CON TÔM THÁNG 10/2026
NHẬT BẢN
Nhập khẩu tôm 8 tháng giảm 2,01% Trong tháng 8/2026, Nhật Bản nhập khẩu 18,04 nghìn tấn tôm, trị giá 166,34 triệu USD, tăng nhẹ 0,26% về lượng nhưng giảm 1,02% về trị giá so cùng kỳ năm trước. Việt Nam và Ấn Độ, hai nguồn cung hàng đầu, cùng tăng về lượng lần lượt 16,03% và 3,09%, còn Indonesia ở vị trí thứ ba giảm 12,85%. Tính chung 8 tháng đầu năm, Nhật Bản nhập 132,85 nghìn tấn tôm, giảm 2,01%; trị giá 1,23 tỷ USD, giảm 3,67%. Việt Nam dẫn đầu với 31,83 nghìn tấn (giảm 0,63%); trị giá 328,85 triệu USD (giảm 1,12%), tiếp theo là Ấn Độ với gần 25,04 nghìn tấn (tăng 4,36%) và Indonesia với 19,77 nghìn tấn (giảm 5,49%). INDONESIA
Xuất khẩu tôm phục hồi, tăng mạnh sang Mỹ Tháng 8/2026, Indonesia xuất khẩu 19.273 tấn tôm, tăng 21% so cùng kỳ năm trước; kim ngạch đạt 161 triệu USD, tăng 15%. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt 133.712 tấn, giảm 8%, với kim ngạch 1,16 tỷ USD, giảm 2%. Kết quả tháng 8 cho thấy xuất khẩu đang phục hồi sau những đợt sụt giảm mạnh trong quý I và tháng 5. Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ tôm lớn nhất của Indonesia, với 82.110 tấn trong 8 tháng, giảm 9% so cùng kỳ. Tuy nhiên, riêng tháng 8, lượng tôm xuất sang thị trường này đạt 12.031 tấn, tăng 36%, nối tiếp mức tăng 22% trong tháng 7. Ở các thị trường khác, Nhật Bản nhập khẩu 19.734 tấn tôm Indonesia, giảm 8%; Trung Quốc đạt 10.149 tấn, tăng 34%; Malaysia đạt 6.164 tấn, tăng 26%. Ngược lại, xuất khẩu sang EU giảm 38%, còn 4.428 tấn.
Thu giữ hơn 1.000 tấn tôm nhập khẩu tại Đông Java Ngày 22/9, Bộ Hàng hải và Thủy sản Indonesia (KKP) thu giữ 1.048 tấn tôm nhập khẩu tại nhiều địa điểm ở tỉnh Đông Java do nghi ngờ số hàng này được đưa trái phép vào thị trường nội địa. Theo KKP, lô hàng gồm 885 tấn tôm đỏ Argentina (84,4%), 144 tấn tôm thẻ chân trắng Ecuador (13,7%) và 19 tấn tôm hồng Canada (1,8%). Các lô hàng hiện được kiểm tra chất lượng và xác minh nguồn gốc xuất xứ. KKP cho biết động thái này nhằm bảo vệ người nuôi tôm trong nước. Cơ quan này sẽ phối hợp với Tổng cục Thuế nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm nghĩa vụ thuế liên quan đến các lô hàng. Tuy nhiên, hai doanh nghiệp ở Pasuruan là PT Baramuda Bahari và PT Megamarine Pride đã phản đối việc niêm phong hàng hóa, cho rằng KKP có thẩm quyền giám sát nhưng việc thực thi phải dựa trên căn cứ thực tế và tuân thủ thủ tục rõ ràng. Ông Johan Rosihan, thành viên Ủy ban IV Quốc hội Indonesia, cũng đề nghị KKP công khai căn cứ pháp lý, hành vi vi phạm bị nghi ngờ và tiến độ xác minh. Ông lưu ý, các biện pháp thực thi cần bảo vệ người nuôi tôm trong nước, song không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến công nhân, doanh nghiệp và kinh tế địa phương. ĐỨC DŨNG
29
30
NHÌN RA THẾ GIỚI
CON TÔM THÁNG 10/2026
Trung Quốc có thể trở thành thị trường mới của tôm Bangladesh? Ngành tôm Bangladesh đang đối mặt với nghịch lý sản lượng tăng qua từng năm nhưng tổng lượng xuất khẩu lại giảm đáng kể. Trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt tại những thị trường truyền thống, các nhà xuất khẩu nước này đang tìm kiếm đầu ra mới, trong đó Trung Quốc nổi lên như một điểm đến tiềm năng.
Điểm yếu lớn nhất cần khắc phục
Trung Quốc là thị trường tiềm năng cho tôm Bangladesh nhờ nhu cầu tiêu thụ lớn
Cơ hội rộng mở
Theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Frontiers in Aquaculture, sản lượng tôm Bangladesh tăng từ 152.520 tấn năm 2000 - 2001 lên 271.302 tấn năm 2022 2023. Tuy nhiên, xuất khẩu lại giảm theo chiều ngược lại. Trước xu hướng này, tìm kiếm đầu ra mới đang trở thành hướng đi cần thiết để ngành tôm Bangladesh duy trì đà phát triển lâu dài. Trong bối cảnh này, Trung Quốc nổi lên như một thị trường tiềm năng nhờ quy mô tiêu thụ lớn. Theo IMARC Group, thị trường tôm Trung Quốc đạt quy mô 3,8 tỷ USD năm 2025 và dự kiến tăng lên 5,3 tỷ USD vào năm 2034, với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) 3,85% trong giai đoạn 2026 - 2034.
Tận dụng lợi thế
Ảnh: Shutterstock
Nghiên cứu chỉ ra, việc Trung Quốc miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa Bangladesh tạo lợi thế đáng kể cho ngành tôm nước này. Tuy nhiên, ưu đãi thuế quan chưa đủ để bảo đảm khả năng cạnh tranh lâu dài. Để thâm nhập thị trường Trung Quốc, nhà xuất khẩu cần đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận tiêu chuẩn. Theo các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp Bangladesh phải tuân thủ quy định kỹ thuật của Trung Quốc, trong đó có yêu cầu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC). Bên cạnh đó, ngành tôm Bangladesh cần áp dụng hệ thống quản lý và tiêu chuẩn quốc tế.
Nghiên cứu mới xác định các vấn đề về an toàn thực phẩm, ô nhiễm, truy xuất nguồn gốc hạn chế và thực thi quy định chưa đầy đủ là những nguyên nhân khiến xuất khẩu tôm Bangladesh suy giảm. Nhóm nghiên cứu phân tích dữ liệu trong 33 năm, từ năm 1990 - 1991 đến 2022 - 2023, tập trung vào bằng chứng về dư lượng kháng sinh, các chất ô nhiễm, kim loại nặng, mầm bệnh và dịch bệnh trên tôm. Từ kết quả này, các nhà khoa học khuyến nghị Bangladesh cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, có khả năng kiểm soát và giám sát để đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu, đặc biệt là Trung Quốc. Về truy xuất nguồn gốc, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia kết hợp hệ thống bản đồ tương tác, tích hợp thông tin về sử dụng đất, vùng nuôi tôm, hệ thống thoát nước, tình hình dịch bệnh, sử dụng kháng sinh, tỷ lệ tôm chết và nguồn cung tôm giống sạch bệnh. Bên cạnh đó, nâng cao năng lực cung ứng cũng là thách thức đối với ngành tôm Bangladesh. Dựa trên mô hình chuỗi thời gian, nghiên cứu dự báo tổng sản lượng tôm nước này có thể giảm từ 271.302 tấn trong năm 2022 - 2023 xuống còn khoảng 201.530 tấn vào năm 2026 - 2027. Lượng tôm xuất khẩu cũng được dự báo giảm xuống còn khoảng 16.618 tấn. Dù chỉ là kết quả dự báo từ mô hình, những con số này cho thấy nguy cơ thiếu hụt nguồn cung không thể xem nhẹ. Nếu chưa giải quyết được bài toán sản lượng,
NHÌN RA THẾ GIỚI
CON TÔM THÁNG 10/2026
Bangladesh có thể gặp khó khăn trong việc tận dụng cơ hội từ thị trường Trung Quốc, ngay cả khi các rào cản về chất lượng và truy xuất nguồn gốc được cải thiện.
Ngành tôm và bài toán chi phí logistics
Với ngành hàng phải vận chuyển xuyên lục địa, sự thuận tiện, chi phí Kinh nghiệm của Việt Nam và Ấn Độ và độ tin cậy của phương thức vận tải lạnh luôn được quan tâm.
Bài học từ Ấn Độ và Việt Nam
được nghiên cứu xem là bài học tham khảo cho Bangladesh. Việt Nam phát triển các nhóm hộ nuôi, hợp tác xã, khuyến khích áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quốc tế. Trong khi đó, Ấn Độ tăng cường an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc và năng lực sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh trong nước. Từ đó, nhóm nghiên cứu khuyến nghị Bangladesh tăng cường phối hợp giữa người nuôi, doanh nghiệp chế biến, nhà xuất khẩu và cơ quan quản lý; đẩy mạnh đào tạo, kiểm soát chất lượng, cải thiện khâu sau thu hoạch và hoàn thiện truy xuất nguồn gốc. Nghiên cứu cũng đề xuất xây dựng chương trình quảng bá cấp quốc gia nhằm nâng cao nhận diện tôm Bangladesh tại Trung Quốc và các thị trường quốc tế.
Thị trường lớn nhưng nhiều đối thủ
Trong khi Bangladesh tìm cách thâm nhập thị trường Trung Quốc, các nhà cung cấp chủ lực vẫn cạnh tranh quyết liệt. Năm 2025, Ecuador dẫn đầu với 651.866 tấn tôm xuất khẩu sang Trung Quốc, giảm 3% so năm trước nhưng chiếm hơn 70% tổng lượng nhập khẩu của nước này. Cùng năm, Trung Quốc nhập khẩu 149.599 tấn tôm từ Ấn Độ, tăng 6%; 27.739 tấn từ Thái Lan, tăng 19%; 19.170 tấn từ Argentina, tăng 10%; và 13.137 tấn từ Indonesia, tăng 28%. Để gia tăng thị phần tại Trung Quốc, Bangladesh cần duy trì nguồn cung ổn định, đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, đồng thời phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng. Tôm cao cấp, tôm sống, tôm cỡ lớn và sản phẩm chế biến sâu có thể mở ra thêm cơ hội cho những nhà cung cấp đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. KHÁNH NGUYÊN
Tại Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 (Global Shrimp Forum 2026), logistics ngành tôm là một trong những chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm. Diễn giả Philip Gray đến từ Drewry, công ty chuyên cung cấp thông tin thị trường vận tải biển, đã chia sẻ nhiều góc nhìn về vấn đề này.
Logistics ngành tôm cần đặt trong tương quan vận tải biển
Số liệu từ Drewry cho thấy, lượng thực phẩm đông lạnh và các mặt hàng dễ hư hỏng khác được vận chuyển bằng đường biển tăng từ khoảng 60 triệu tấn năm 2000 lên 144 triệu tấn năm 2025. Sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản, thu nhập gia tăng và công nghệ vận tải tiên tiến hơn góp phần thúc đẩy xu hướng này. Theo ông Philip Gray, vận chuyển tôm bằng đường biển cần được nhìn nhận trong bối cảnh chuỗi cung ứng rộng lớn hơn. Chuối và thịt chiếm tỷ trọng vận chuyển cao hơn thủy sản, trong khi hàng đông lạnh chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng hàng hóa vận tải biển. Ngành tôm Ecuador được hưởng lợi từ chuỗi cung ứng phục vụ xuất khẩu chuối đã phát triển hoàn thiện, với mạng lưới tuyến vận tải toàn cầu, dịch vụ hậu cần sẵn có và cảng biển gần vùng sản xuất. Theo Drewry, kích cỡ trung bình của tàu container tăng từ 1.824 TEU năm 2000 lên 4.684 TEU năm 2025. “Đóng một con tàu lớn hơn là một chuyện. Mở rộng cảng, xin giấy phép và phát triển mạng lưới giao thông xung quanh cảng lại là một câu chuyện khác. Vì vậy, năng lực vận tải biển tăng lên có thể tạo thêm áp lực cho hạ tầng liên quan”, ông Philip Gray nhận định. Theo chuyên gia này, khi hành trình kéo dài và thời gian xử lý container tại cảng tăng lên, nhu cầu về thiết bị cũng lớn hơn.
Cước rẻ nhưng tổng chi phí chưa chắc thấp
Ông Philip Gray cho biết, cước vận chuyển hàng đông lạnh đã giảm so mức đỉnh trong đại dịch COVID-19, trước khi tăng trở lại vào năm 2026. Tuy nhiên, lựa chọn doanh nghiệp vận tải nhỏ hơn hoặc tuyến đường linh hoạt hơn chưa chắc giúp giảm chi phí. Hàng hóa vẫn có thể được vận chuyển trên cùng một con tàu hoặc phụ thuộc vào chung hệ thống hạ tầng. Vì vậy, doanh nghiệp cần so sánh tổng chi phí và độ tin cậy của cả hành trình, từ nơi sản xuất đến tay khách hàng, thay vì chỉ nhìn vào cước vận chuyển. Chuyên gia Richard Houtkoop của Share Logistics, tập đoàn logistics Hà Lan, cũng nhấn mạnh tác động của các quy trình kiểm tra đến hiệu quả vận chuyển. Ông dẫn chứng, tại Hà Lan, thủ tục kiểm tra để tôm được nhập cảng có thể mất khoảng một tuần, trong khi các phòng thí nghiệm tư nhân ở Bỉ có thể trả kết quả nhanh hơn nhiều. Vì vậy, đưa tôm qua cảng Antwerp của Bỉ thay vì Rotterdam của Hà Lan có thể giúp giảm tổng chi phí. Đối với nhà xuất khẩu tôm, cước vận chuyển chỉ là một phần của bài toán chi phí. Tuyến đường, khả năng kết nối hạ tầng và quy trình kiểm tra đều cần được tính đến. Đánh giá toàn diện chuỗi logistics sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án vận chuyển hiệu quả hơn. LINH SAM (Theo Shrimpinsights)
31
32
CON TÔM THÁNG 10/2026
THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
33
34
CON TÔM THÁNG 10/2026
CON TÔM THÁNG 10/2026
35
36
THỨC ĂN - DINH DƯỠNG
CON TÔM THÁNG 10/2026
Phối hợp enzyme cải thiện tăng trưởng tôm thẻ chân trắng Nghiên cứu mới cho thấy, khi giảm tỷ lệ bột cá từ 20% xuống 10%, việc bổ sung tổ hợp năm enzyme giúp tôm thẻ chân trắng cải thiện tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và khả năng tiêu hóa dưỡng chất.
Bột cá là nguồn protein quan trọng trong thức ăn tôm nhờ khả năng tiêu hóa tốt và thành phần dinh dưỡng cân đối. Tuy nhiên, chi phí cao và nguồn cung thiếu ổn định thúc đẩy các nhà sản xuất tăng sử dụng protein thực vật, đặc biệt là khô đậu nành. Nguyên liệu này có thể chứa các hợp chất kháng dinh dưỡng, ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất của tôm. Nghiên cứu do Mirasha Hasanthi, Rutchanee Chotikachinda, Chiow Yen Liew và Kyeong-Jun Lee thuộc Đại học Quốc gia Jeju (Hàn Quốc) và DSM Nutritional Products (Thái Lan) thực hiện. Bài báo được công bố trực tuyến ngày 23/9/2026 trên tạp chí Aquaculture, tập 627 (2027), mã bài 744566.
Enzyme trong thức ăn đạm thực vật
Khô đậu nành, lúa mì và phụ phẩm ngũ cốc cung cấp dinh dưỡng cho tôm nhưng cũng chứa các hợp chất kháng dinh dưỡng như phytate và polysaccharide phi tinh bột, làm hạn chế khả năng tiêu hóa, hấp thu. Bổ sung enzyme ngoại sinh giúp phân giải các thành phần này, cải thiện khả năng khai thác dưỡng chất từ thức ăn. Cụ thể, phytase phân giải phytate, giải phóng phosphorus và các dưỡng chất liên kết; protease hỗ trợ phân giải protein thành peptide và axit amin. Xylanase, β-glucanase và cellulase phân giải các thành phần cấu tạo thành tế bào thực vật, góp phần giải phóng dưỡng chất. Phối hợp các enzyme có cơ chất khác nhau có thể nâng cao hiệu quả tiêu hóa và sử dụng thức ăn giàu nguyên liệu thực vật.
Hình 1. Cấu trúc nhung mao ruột của tôm thẻ chân trắng sau tám tuần sử dụng các khẩu phần có tỷ lệ bột cá và mức bổ sung enzyme khác nhau. Nhóm ít bột cá không bổ sung enzyme có nhung mao thấp hơn, trong khi các nhóm bổ sung hỗn hợp XGC, đặc biệt ở mức 250 mg/kg, có chiều cao nhung mao được cải thiện rõ rệt.
Giảm một nửa tỷ lệ bột cá trong khẩu phần
Thí nghiệm sử dụng 1.080 tôm thẻ chân trắng giống, khối lượng trung bình 0,29 g/ con, bố trí trong 36 bể, mỗi bể 30 con, với bốn lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Thí nghiệm kéo dài tám tuần, tôm được cho ăn sáu lần/ngày. Chín khẩu phần được xây dựng với hàm lượng protein khoảng 40% và lipid 8%. Khẩu phần đối chứng dương chứa 20% bột cá; đối chứng âm giảm còn 10% và tăng tỷ lệ khô đậu nành để thay thế một phần protein động vật. Trên nền khẩu phần 10% bột cá, nhóm nghiên cứu bổ sung phytase (100 mg/kg thức ăn), protease (25 mg/ kg). Các khẩu phần tiếp theo được bổ sung thêm xylanase, β-glucanase hoặc hỗn hợp ba enzyme phân giải carbohydrate gồm xylanase, β-glucanase và cellulase (gọi tắt là XGC), ở hai mức 125 và 250 mg/kg thức ăn. Sau tám tuần, các chỉ tiêu được đánh giá gồm tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức
ăn, hoạt tính enzyme tiêu hóa, khả năng chống ôxy hóa, đáp ứng miễn dịch, cấu trúc và hệ vi sinh đường ruột, khả năng tiêu hóa dưỡng chất. Nhóm nghiên cứu cũng kiểm tra sức chống chịu của tôm khi tiếp xúc với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus.
Cải thiện tăng trưởng và FCR
Giảm tỷ lệ bột cá từ 20% xuống 10% làm ảnh hưởng hiệu quả tăng trưởng của tôm. Sau tám tuần, tôm ở nhóm 20% bột cá đạt khối lượng trung bình 9,78 g/con, cao hơn mức 8,58 g/con ở nhóm 10%. FCR tương ứng tăng từ 1,25 lên 1,38, cho thấy hiệu quả sử dụng thức ăn giảm. Bổ sung phytase và protease giúp cải thiện kết quả, đưa khối lượng cuối lên 9,05 g/con và giảm FCR còn 1,33. Tuy nhiên, bổ sung riêng xylanase hoặc β-glucanase trên nền khẩu phần đã có hai enzyme này không cải thiện rõ rệt tăng trưởng. Kết quả tích cực hơn ghi nhận ở nhóm bổ sung hỗn hợp XGC gồm xylanase, β-glucanase và cellulase. Với mức 250 mg/kg thức ăn, tôm đạt khối lượng cuối 9,56 g/con, tăng trọng 3,092% và FCR 1,28, tiệm cận nhóm 20% bột cá (9,78 g/con, tăng trọng
THỨC ĂN - DINH DƯỠNG
CON TÔM THÁNG 10/2026
Hình 2. Biểu hiện tương đối của một số gene liên quan đến tăng trưởng và miễn dịch ở tôm thẻ chân trắng sau tám tuần sử dụng các khẩu phần thí nghiệm. Các gene proPO và TOR thể hiện những thay đổi đáng chú ý khi bổ sung enzyme.
3,163% và FCR 1,25). Mức XGC 125 mg/kg cũng cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, nhưng FCR cao hơn mức 250 mg/kg. Tỷ lệ sống trong tám tuần đạt 96,7 100%, không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức. Như vậy, trong điều kiện nuôi bình thường, lợi ích nổi bật của tổ hợp enzyme là cải thiện tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn, không phải nâng cao tỷ lệ sống.
Tăng khả năng tiêu hóa dưỡng chất
Ở khẩu phần chứa 10% bột cá không bổ sung enzyme, tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của protein, năng lượng và phosphorus lần lượt đạt 74,9%, 69,5% và 67,9%. Khi bổ sung phytase và protease, các chỉ số này tăng tương ứng lên 78,6%, 73,2% và 77,8%. Hiệu quả cao hơn khi kết hợp thêm hỗn hợp XGC. Với mức 250 mg/kg thức ăn, tỷ lệ tiêu hóa protein đạt 83,4%, năng lượng 78,2% và phosphorus 90,2%. Tỷ lệ tiêu hóa chất xơ cũng tăng từ 25,8% ở nhóm bổ sung phytase và protease lên 43,9% khi kết hợp XGC. Kết quả cho thấy phối hợp các enzyme có khả năng phân giải nhiều nhóm cơ chất giúp cải thiện tiêu hóa dưỡng chất trong khẩu phần giàu nguyên liệu thực vật. Khi protein, năng lượng và khoáng chất được giải phóng hiệu quả hơn khỏi nền thức ăn, tôm có điều kiện sử dụng dưỡng chất tốt hơn. Trong khi đó, bổ sung riêng một enzyme không phải lúc nào cũng tạo ra cải thiện rõ rệt, nhấn mạnh vai trò phối hợp các enzyme tác động lên nhiều nhóm cơ chất khác nhau.
Cấu trúc đường ruột được cải thiện
Ở nhóm khẩu phần 20% bột cá, chiều cao nhung mao ruột trung bình đạt 62,5 µm, trong khi nhóm giảm bột cá xuống 10% không bổ sung enzyme chỉ đạt 39,6 µm. Bổ sung phytase và protease nâng chỉ số này lên 43,1 µm. Mức cải thiện rõ hơn khi kết hợp XGC, với chiều cao nhung mao đạt 57,0 µm ở liều 125 mg/kg thức ăn và 67,5 µm ở liều 250 mg/kg. Nhung mao dài hơn có thể làm tăng diện tích tiếp xúc, hỗ trợ hấp thu dưỡng chất, phù hợp với kết quả cải thiện khả năng tiêu hóa trong nghiên cứu. Theo nhóm tác giả, các enzyme phân giải carbohydrate có thể phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật, giảm tác động bất lợi của polysaccharide phi tinh bột. Tuy nhiên, do chưa đo trực tiếp độ nhớt dịch tiêu hóa, cơ chế này cần được kiểm chứng thêm.
Hỗ trợ chống ôxy hóa và điều hòa phản ứng miễn dịch
Khẩu phần chứa 10% bột cá không bổ sung enzyme làm giảm hoạt tính superoxide dismutase (SOD), glutathione peroxidase (GPx) và tăng hàm lượng malondialdehyde (MDA), một chỉ dấu của quá trình peroxy hóa lipid. Khi bổ sung phytase và protease, hoạt tính SOD và GPx tăng, còn MDA giảm từ 0,35 xuống 0,2 nmol/mg. Hoạt tính aspartate aminotransferase (AST) và alanine aminotransferase (ALT) trong dịch cơ thể tôm cũng giảm. Phân tích biểu hiện gene ghi nhận proPO và TOR lần lượt tăng 1,85 và 2,55 lần
so với nhóm khẩu phần 10% bột cá không bổ sung enzyme. proPO tham gia hệ miễn dịch bẩm sinh, còn TOR liên quan đến cảm nhận dinh dưỡng và điều hòa tăng trưởng tế bào. Bổ sung thêm enzyme phân giải carbohydrate không tạo khác biệt rõ rệt ở phần lớn chỉ tiêu chống ôxy hóa và miễn dịch. Nhìn chung, phytase và protease thể hiện tác động rõ hơn lên các chỉ dấu này, trong khi XGC cho kết quả nổi bật hơn về tiêu hóa dưỡng chất, cấu trúc đường ruột và tăng trưởng.
Hệ vi sinh đường ruột và khả năng chống Vibrio
Phân tích hệ vi sinh cho thấy Rhodobacteraceae và Flavobacteriaceae chiếm tỷ lệ đáng kể trong nhiều nghiệm thức. Các chỉ số về độ phong phú, đa dạng và cấu trúc quần xã vi khuẩn đường ruột không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức, cho thấy bổ sung enzyme chưa tạo ra thay đổi rõ rệt. Sau tám tuần nuôi, tôm được thử nghiệm cảm nhiễm bằng Vibrio parahaemolyticus. Nhóm bổ sung XGC ở mức 250 mg/kg thức ăn có xu hướng đạt tỷ lệ sống cao hơn, nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Do đó, chưa đủ cơ sở kết luận tổ hợp enzyme giúp tăng khả năng kháng bệnh. Tác động thể hiện rõ hơn ở khả năng tiêu hóa dưỡng chất, cấu trúc đường ruột và một số chỉ tiêu chống ôxy hóa.
Triển vọng
Phối hợp phytase, protease và hỗn hợp XGC giúp cải thiện tiêu hóa dưỡng chất, tăng trưởng và FCR khi giảm bột cá từ 20% xuống 10%, mở ra hướng phát triển thức ăn tôm giàu protein thực vật, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu biển. Tuy nhiên, nghiên cứu mới thực hiện trên tôm giống trong tám tuần ở điều kiện kiểm soát. Cần đánh giá thêm hiệu quả ở ao thương phẩm, độ ổn định của enzyme qua chế biến và chi phí bổ sung trước khi ứng dụng thực tế. THS LÊ XUÂN CHINH Học viện Nông nghiệp Việt Nam
37
38
KHOA HỌC - KỸ THUẬT
CON TÔM THÁNG 10/2026
Kiểm soát bệnh đường ruột trên tôm Bệnh đường ruột khá phổ biến ở tôm nuôi, với các biểu hiện như phân trắng, ruột đứt khúc, trống ruột, phân loãng… Nếu kéo dài, bệnh có thể ảnh hưởng đến gan tụy và sức khỏe tôm. Bệnh thường xuất hiện sau khoảng một tháng nuôi, phổ biến nhất ở giai đoạn tôm 60 - 90 ngày tuổi.
Nguyên nhân
- Nhiễm vi khuẩn Vibrio spp: Khi chất lượng nước kém, mật độ Vibrio tăng cao, xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh cho tôm. Hầu hết các chủng Vibrio đều có khả năng gây bệnh, khi vào đường ruột, vi khuẩn phá hủy thành ruột gây viêm, tôm không ăn được dẫn đến trống ruột, đứt khúc. - Nhiễm ký sinh trùng Gregarine (trùng 2 tế bào): Tôm có thể nhiễm Gregarine khi ăn phải ký chủ trung gian mang mầm bệnh như nhuyễn thể hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ, ốc… Sau khi xâm nhập vào ruột, ký sinh trùng phát triển và bám vào thành ruột. Nếu mật độ Gregarine cao, chúng có thể gây tổn thương đường ruột, cản trở quá trình tiêu hóa và tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh cơ hội tấn công tôm. - Thức ăn: Thức ăn bị ẩm mốc hoặc nhiễm khuẩn có thể gây rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm. Bên cạnh đó, tôm ăn phải tảo độc trong ao, có thể bị ảnh hưởng bởi độc tố, gây tổn thương mô ruột, làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng, khiến tôm suy yếu và dễ mắc bệnh. - Môi trường: Thời tiết thất thường như mưa nắng kéo dài cũng làm cho tôm yếu, bỏ ăn làm cho ruột trống. Ngoài ra, chất lượng nước kém, nước đục, tích tụ bọt bẩn, tảo tàn hoặc khí độc ở mức cao cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, làm tôm giảm bắt mồi và tăng nguy cơ mắc bệnh đường ruột.
AQUAFEED/AQUAMEDICA MEN ĐƯỜNG RUỘT
AQ - 6S VI SINH XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG
BATENDO
Ức chế phân trắng, phân loãng, trống ruột, đứt khúc sau 3 ngày
Chế phẩm vi sinh chuyên xử lý tảo, chất hữu cơ dư thừa và bùn đáy ao nuôi, ức chế triệt để Vibrio spp.
Chế phẩm vi sinh đặc hiệu chuyên ức chế ký sinh trùng
kéo dài dai dẳng và khó điều trị dứt điểm. tiêu hóa, enzyme cắt tảo độc, xử lý nước Tôm mắc bệnh thường giảm ăn hoặc bỏ ăn, ao ô nhiễm hữu cơ. bắt mồi kém, chậm lớn và hoạt động yếu.
Biện pháp phòng bệnh
- Kiểm soát tốt chất lượng nước: Diệt khuẩn định kỳ, xử lý chất hữu cơ dư thừa, bùn đáy ao, tảo độc, thường xuyên kiểm tra hàm lượng ôxy hòa tan (> 4 ppm), tốt nhất là 5 ppm (kích thích tôm ăn khỏe, lớn nhanh, ít bị bệnh tấn công). - Kiểm soát chất lượng thức ăn và lượng cho ăn: Đảm bảo thức ăn sạch, hạn chế lượng thức ăn dư thừa gây ô nhiễm hữu cơ. - Tăng sức đề kháng và diệt mầm bệnh trong đường ruột tôm: Bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học: Chế phẩm vi sinh: Ổn định hệ vi khuẩn đường ruột, tăng mật độ vi khuẩn có lợi trong đường ruột tôm; chủng vi sinh đặc hiệu chuyên ức chế ký sinh trùng; vi sinh xử lý nước và đáy ao nuôi để phân hủy Tác hại Bệnh thường không gây chết tôm hàng chất hữu cơ, thức ăn dư thừa. Chế phẩm enzyme: Enzyme hỗ trợ loạt trong thời gian ngắn, nhưng có thể
Giải pháp từ Thái Nam Việt
Mặc dù điều trị bệnh đường ruột có thể mang lại hiệu quả nhanh chóng, nhưng vẫn có nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm về sau. Vì vậy, cần ưu tiên các biện pháp phòng bệnh, trong đó sử dụng chế phẩm sinh học phù hợp giúp cải thiện môi trường đường ruột, hỗ trợ tiêu hóa, duy trì sức khỏe tôm, hạn chế thiệt hại và nâng cao năng suất. THÁI NAM VIỆT
Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Công nghệ Kỹ thuật Sinh hóa Thái Nam Việt Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, phường Tăng Nhơn Phú, TP Hồ Chí Minh ĐT: 0916 86 59 38 - 0853 89 59 39 Email: info@thainamviet.com Website: thainamviet.com
KHOA HỌC - KỸ THUẬT
CON TÔM THÁNG 10/2026
XỬ LÝ NƯỚC ĐẦU VÀO TRONG NUÔI TÔM
Có nên tìm kiếm giải pháp thay thế Chlorine? Trong nuôi tôm, an toàn sinh học bắt đầu từ việc kiểm soát nguồn nước trước khi đưa vào ao. Nước chưa được xử lý phù hợp có thể mang theo vi sinh vật, chất hữu cơ và chất lơ lửng, làm gia tăng rủi ro và gây khó khăn cho việc duy trì môi trường nuôi ổn định.
Chlorine: Hiệu quả đi cùng yêu cầu kiểm soát
Chlorine được sử dụng phổ biến trong xử lý nước nuôi tôm nhờ khả năng khử trùng. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào nồng độ, thời gian tiếp xúc, độ pH và hàm lượng chất hữu cơ trong nước. Nếu sử dụng không đúng liều lượng hoặc còn dư lượng khi cấp nước vào ao, chlorine có thể ảnh hưởng đến tôm và các sinh vật có lợi. Vì vậy, người nuôi cần kiểm soát liều lượng, theo dõi dư lượng và xác nhận nước đạt yêu cầu trước khi sử dụng.
Ozone kết hợp nanobubble: Hướng tiếp cận đáng cân nhắc
Ozone là chất ôxy hóa mạnh, có khả năng bất hoạt nhiều loại vi sinh vật và ôxy hóa một số hợp chất trong nước. Công nghệ nanobubble tạo ra các bọt khí kích thước nano, giúp tăng diện tích tiếp xúc khí - nước và hỗ trợ quá trình truyền, phân tán ozone. Khi được thiết kế và vận hành phù hợp, giải pháp ozone kết hợp nanobubble có tiềm năng hỗ trợ xử lý nước đầu vào và giảm sự phụ thuộc vào chlorine trong những điều kiện ứng dụng thích hợp. Tuy nhiên, nồng độ ozone, thời gian tiếp xúc và lượng ozone dư cần được kiểm soát để bảo đảm an toàn cho tôm.
Nanobubble và vai trò trong quản lý môi trường ao nuôi
còn phụ thuộc vào mật độ nuôi, nhiệt độ, độ mặn và mức tiêu thụ ôxy. Người nuôi Bên cạnh xử lý nước bằng ozone, hệ vẫn cần kết hợp quản lý thức ăn, loại bỏ thống nanobubble kết hợp ôxy của BHN bùn đáy và theo dõi các chỉ tiêu chất lượng hướng đến việc hỗ trợ duy trì ôxy hòa tan nước để duy trì môi trường ổn định. ổn định, thúc đẩy quá trình phân hủy chất hữu cơ và cải thiện chất lượng nước. Kết hợp công nghệ và vi sinh Khác với máy sục khí thông thường hướng đến nuôi tôm bền vững Trong thời gian tới, B.H.N Nanobubble đưa không khí vào nước thông qua các bọt khí, máy tạo nanobubble tuần hoàn Technology dự kiến ra mắt dòng men vi sinh nước, hòa trộn ôxy vào dòng nước rồi đưa chuyên dụng cho nuôi tôm, hướng đến hỗ trở lại bể hoặc ao nuôi. Cơ chế này có thể trợ sức khỏe đường ruột, tiêu hóa và sức đề tăng hiệu quả truyền ôxy và hỗ trợ duy trì kháng của tôm, đồng thời thúc đẩy phân ôxy hòa tan lâu hơn, tùy thuộc vào thiết hủy chất hữu cơ, góp phần cải thiện chất kế thiết bị và điều kiện môi trường. Nhờ lượng nước và môi trường đáy ao. Thông qua việc kết hợp công nghệ xử lý đó, hệ thống góp phần hỗ trợ cung cấp nước, cung cấp ôxy và vi sinh, BHN hướng ôxy ổn định cho tôm. Tùy theo nhu cầu ôxy và thiết kế ao đến hỗ trợ người nuôi chủ động quản lý môi nuôi, công nghệ nanobubble là phương án trường, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát có thể thay thế hệ thống sục khí truyền triển mô hình nuôi tôm bền vững. B.H.N thống. Bên cạnh đó, để đạt hiệu quả tối ưu
Thông tin liên hệ: Công ty TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96 Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh
39
40
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
Máy sục khí vừa đưa ôxy xuống nước, vừa tạo dòng chảy giúp nước trong ao chuyển động tốt hơn
Ôxy hòa tan, yếu tố then chốt trong ao tôm Thức ăn, con giống và chất lượng nước thường được đặt lên hàng đầu trong quản lý ao nuôi. Tuy nhiên, ôxy hòa tan cũng giữ vai trò trực tiếp đối với sức khỏe, khả năng bắt mồi và tăng trưởng của tôm. Ngày nay, nuôi tôm không còn đơn giản là thả giống, cho ăn rồi chờ thu hoạch. Khi mật độ tăng, lượng thức ăn, chất thải và nhu cầu ôxy của tôm cùng các sinh vật trong ao cũng tăng theo. Nếu hàm lượng ôxy hòa tan không đáp ứng đủ, tôm có thể bị ảnh hưởng từ hoạt động, khả năng bắt mồi đến tốc độ tăng trưởng. Vì vậy, bổ sung ôxy không chỉ là giải pháp khi đàn tôm có biểu hiện bất thường mà cần được tính toán ngay từ đầu vụ.
cơ cũng tiêu hao ôxy trong quá trình phân hủy. Khi lượng hữu cơ tăng, nhu cầu ôxy của toàn ao cũng tăng theo. Duy trì ôxy ổn định giúp tôm hoạt động, bắt mồi bình thường. Ngược lại, khi hàm lượng này xuống thấp, tôm dễ bị stress, giảm hoạt động và bắt mồi kém. Nếu kéo dài, đàn tôm có thể chậm lớn. Đặc biệt, thời điểm ban đêm và gần sáng thường cần được theo dõi sát do nguy cơ thiếu ôxy cao hơn. Một ao đang cho ăn tốt, tôm tăng Ao càng nhiều tôm, nhu cầu ôxy trưởng bình thường vẫn có thể thay đổi càng cao nhanh khi môi trường thiếu ôxy. Chủ động Tôm liên tục hô hấp và sử dụng ôxy. bổ sung và duy trì ôxy từ đầu vụ vì thế giúp Thức ăn dư thừa, phân tôm cùng chất hữu giảm rủi ro trong quá trình sản xuất.
Ôxy ổn định, tôm mới có điều kiện ăn và lớn
Trong quá trình nuôi, người nuôi thường dễ nhận biết những thay đổi của tôm thông qua lượng thức ăn. Khi tôm giảm ăn, bên cạnh các nguyên nhân liên quan đến sức khỏe, người nuôi cần xem xét chất lượng nước và hàm lượng ôxy. Khi ôxy không đủ, tôm phải tiêu tốn thêm năng lượng để thích nghi. Hoạt động giảm, khả năng bắt mồi bị ảnh hưởng; nếu kéo dài, tốc độ tăng trưởng khó đạt kỳ vọng. Ngược lại, môi trường ổn định tạo điều kiện để tôm hoạt động và sử dụng thức ăn hiệu quả hơn. Do đó, quản lý ôxy cũng gắn liền với quản lý thức ăn. Khi tôm ăn kém
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
ÔxyJet dưới: Motor chìm dưới nước, vận hành êm, không chiếm nhiều diện tích mặt nước, hỗ trợ bổ sung ôxy và tạo dòng nước
ÔxyJet trên: Motor đặt trên phao, thuận tiện kiểm tra và bảo dưỡng, đồng thời tạo ôxy và dòng chảy cho ao nuôi
hoặc điều kiện ao không thuận lợi, hiệu quả sử dụng thức ăn giảm, kéo theo chi phí sản xuất tăng.
Máy sục khí - đưa ôxy và tạo dòng nước
Thiết bị sục khí hiệu quả không chỉ tạo nhiều bọt trên mặt ao mà cần đưa ôxy vào nước, phân tán phù hợp và tạo dòng chảy giúp nước được luân chuyển. Đây là nguyên lý được các dòng máy sục khí FarmX áp dụng. Hiện FarmX có hai dòng chính là ÔxyJet và Đa tia, khác nhau về cơ chế tạo ôxy và cách bố trí thiết bị. Với ÔxyJet, chân vịt hút không khí từ bên ngoài, đưa xuống nước, tạo các bọt khí nhỏ và đẩy dòng nước đi xa, qua đó hỗ trợ phân bổ ôxy trong ao. Thiết bị có hai kiểu bố trí: motor đặt trên phao (ÔxyJet trên) hoặc motor chìm dưới nước (ÔxyJet dưới). ÔxyJet trên có motor đặt khô trên phao, thuận tiện cho việc kiểm tra, bảo dưỡng mà không phải đưa toàn bộ thiết bị lên bờ. Trong khi đó, ÔxyJet dưới có motor chìm hoàn toàn, ưu điểm là vận hành êm, thiết kế gọn và giảm diện tích chiếm dụng trên mặt nước. Dòng máy thứ hai là Đa tia, sử dụng bơm chìm phun tia kết hợp ống hơi mềm đưa lên mặt nước để hút không khí vào.
Máy sục khí Đa tia FarmX: Thiết kế bơm chìm kết hợp các tia phun, giúp phân tán bọt khí và bổ sung ôxy đều hơn trong ao
Khi nước đi qua khe hẹp, hiệu ứng Venturi tạo lực hút, kéo không khí vào và hòa trộn với nước. Các tia nước sau đó phân tán ôxy theo nhiều hướng, đặc biệt hỗ trợ đưa ôxy xuống khu vực tầng đáy. FarmX hiện có các mẫu 2 tia, 4 tia và 6 tia. Số lượng tia càng nhiều, phạm vi phân tán bọt khí càng rộng. Thiết bị phù hợp với các ao có diện tích nhỏ. Tuy nhiên, máy sục khí chỉ phát huy hiệu quả khi được lựa chọn và bố trí phù
hợp với diện tích ao, mật độ tôm, độ sâu, nguồn điện và hướng dòng chảy. Nếu sắp xếp không hợp lý, có khu vực nước được đảo mạnh nhưng những vị trí khác lại ít lưu thông. Do đó, trước khi đầu tư, người nuôi cần đánh giá đặc điểm ao để xác định số lượng, công suất và vị trí đặt máy phù hợp, bảo đảm ôxy được phân bổ đồng đều. FARMX
41
42
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
Việt Úc kết nối công nghệ thủy sản tại hội nghị Responsible Seafood Summit 2026 Tại Responsible Seafood Summit và TCRS Shrimp Summit 2026 do GSA (Global Seafood Alliance) tổ chức tại Bangkok (Thái Lan), câu chuyện về tương lai ngành tôm được đặt ra từ một trong những nền tảng quan trọng nhất: chất lượng con giống.
Cải thiện di truyền trên tôm nuôi: Động lực của năng lực cạnh tranh và tính bền vững
Phiên chia sẻ với chủ đề “Genetic Improvement in Farmed Shrimp: A Driver of Competitiveness and Sustainability” đã mang đến những góc nhìn mới về công nghệ di truyền trên con tôm. Phiên tham luận có sự tham gia thảo luận của các chuyên gia hàng đầu trong ngành thủy sản toàn cầu đến từ các đơn vị Saudi Aquaculture Society, Aqualma & Unima Group, Vaisakhi Bio-Marine , Texcumar và Tập đoàn Việt Úc. Ông John Buchanan, CEO Center for Aquaculture Technologies (CAT) đã nhấn mạnh rằng cải thiện di truyền là một khoản đầu tư sinh học, lợi ích tích lũy qua các thế hệ,
nên việc chọn giống tốt hơn ngày hôm nay có thể tạo ra giá trị to lớn trong nhiều năm tới. Theo đại diện từ Center for Aquaculture Technologies, trong bốn trụ cột sản xuất gồm quản lý vật nuôi, sức khỏe, dinh dưỡng và di truyền, trong đó di truyền có tốc độ phản hồi từ chậm đến trung bình nhưng giá trị cộng dồn theo thời gian. Khác với nhiều khoản đầu tư của trang trại phải mua lại, thành quả cải thiện di truyền được kế thừa qua các thế hệ sau, mỗi thế hệ bắt đầu ở mức cao hơn và lợi ích tồn tại bền vững. Chi phí của việc trì hoãn không chỉ là những năm đã mất mà còn là phần tích lũy bị bỏ lỡ trên những năm đó. Một ví dụ về trường hợp Ecuador cho thấy ngành thủy sản tại quốc gia này đã trải qua các giai đoạn từ không chọn giống, chọn lọc
Đại diện Tập đoàn Việt Úc, TS. Lữ Đức Bryce chia sẻ các góc nhìn thực tiễn về chọn lọc gen tại Việt Nam
hàng loạt, chọn lọc hàng loạt có cấu trúc đến chọn giống di truyền, sau khi đối diện với các thách thức từ dịch bệnh như Taura, dịch đốm trắng, EMS và COVID-19. Khi nói về bài toán giảm dịch bệnh, cách tiếp cận của Tập đoàn Việt Úc có điểm khác biệt đáng chú ý. TS. Lữ
Đức Bryce, Phó Tổng Giám đốc Phát triển Di truyền & Hệ gen Tập đoàn Việt Úc chia sẻ, trên thực tế, môi trường nuôi tôm luôn tiềm ẩn các tác nhân gây bệnh cho tôm, nhưng bệnh chỉ bùng phát trong ao nuôi khi xảy ra sự mất cân bằng hệ vi sinh vật trong ao nuôi hoặc/ và các yếu tố hóa - lý của nước
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
Tập đoàn Việt Úc đã có những bước đi chiến lược để trở thành Tập đoàn công nghệ thủy sản Aquatech vào năm 2030
ao nuôi có sự biến động vượt ngoài sức chịu đựng của tôm, dẫn đến tôm bị stress trong quá trình nuôi. Thay vì tạo ra dòng tôm kháng với từng bệnh thì Việt Úc chọn cách tạo ra dòng tôm có khả năng chịu đựng được stress, kết hợp với môi trường nuôi được kiểm soát để giảm thiểu stress, khi đó sẽ giảm được tôm chết do bệnh, giảm sử dụng kháng sinh hay hóa chất trong ao nuôi tôm. TS. Lữ Đức Bryce cho biết, việc kết hợp dữ liệu gen với dữ liệu thu thập từ nhiều môi trường nuôi khác nhau về thổ nhưỡng, thời tiết và điều kiện sản xuất giúp Việt Úc lựa chọn những dòng tôm có khả năng thích nghi phù hợp. “Sau khi ra mắt thành công dòng giống Siêu Tăng trưởng và Siêu Hạ mặn, chúng tôi tiếp tục hướng đến phát triển con giống phù hợp với mô hình nuôi thâm canh công nghệ cao, thân thiện với môi trường, giảm rủi ro bùng phát bệnh”, đại diện Việt Úc chia sẻ.
cao về minh bạch và trách nhiệm trong sản xuất đang buộc ngành tôm phải nhìn lại “con tôm của tương lai” một cách toàn diện hơn, trong đó truy xuất nguồn gốc là một trong những tiêu chí quan trọng. Đây là chủ đề của phiên chia sẻ “What does it take to build the shrimp of the future?” do Tập đoàn Việt Úc khởi xướng. Ông Tôn Thất Đề, thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn Việt Úc, chia sẻ công nghệ Genomics cho phép truy xuất chính xác nguồn gốc của một con tôm trên quầy kệ siêu thị về tận ao nuôi ban đầu, nếu tôm bố mẹ thuộc quần thể giống của Việt Úc. Tại Việt Nam, Việt Úc là một trong số ít doanh nghiệp có được lợi thế này, nhờ hệ sinh thái khép kín xây dựng trong 25 năm, trải dài từ Di truyền và Chọn giống (V.U GGRD), Trại giống (V.U Hatchery), Dinh dưỡng và Sức khỏe (V.U Health), Nuôi trồng thủy sản thông minh (V.U EcoFarm) đến Sản phẩm tiêu dùng Định hình “con tôm (V.U Consumer). tương lai”, hướng đến “Nhờ chuỗi giá trị khép kín AquaTech này, Việt Úc có thể truy xuất Dịch bệnh, biến đổi khí nguồn gốc từ con giống đến hậu cùng yêu cầu ngày càng bàn ăn, tạo lợi thế cạnh tranh
Phiên chia sẻ của Việt Úc thu hút sự tham gia của nhiều giáo sư, viện nghiên cứu và đối tác quốc tế
Việt Úc tìm kiếm cơ hội hợp tác tại các thị trường mục tiêu để đưa công nghệ thủy sản Việt Nam ra thế giới
rõ rệt trên thị trường quốc tế.” - Đại diện đơn vị chia sẻ. Về định hướng thị trường, đại diện Việt Úc cho biết: “Trung Quốc là thị trường đầu tiên chúng tôi nhắm đến. Song song đó, chúng tôi sẽ đóng gói và xuất khẩu công nghệ thủy sản do Việt Nam làm chủ sang các thị trường tiềm năng như Đông Nam Á, Nam Á và Bắc Mỹ.” Không chỉ trên tôm, Việt Úc còn triển khai công nghệ Genomics trên cá tra từ năm 2015 tại Đồng bằng sông Cửu Long, cho thấy khả năng mở rộng năng lực di truyền sang nhiều đối tượng thủy sản khác.
Không chỉ là dịp chia sẻ những định hướng chiến lược về khoa học, công nghệ và tương lai ngành tôm, Responsible Seafood Summit 2026 còn mở ra cơ hội để Việt Úc tăng cường trao đổi với các chuyên gia, viện nghiên cứu và đối tác toàn cầu. Qua đó, Tập đoàn tích cực tìm kiếm những cơ hội hợp tác tại các thị trường mục tiêu, tạo nền tảng cho kế hoạch mở rộng quốc tế và đưa các giải pháp công nghệ của Việt Úc đến gần hơn với ngành thủy sản thế giới. VIỆT ÚC
43
44
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
Vemedim chung tay phát triển nghề tôm bền vững Với chủ đề “Sản xuất xanh và bền vững”, khóa tập huấn người nuôi tôm chuyên nghiệp lần thứ XV do Đại học Cần Thơ phối hợp với Công ty CP Sản xuất Kinh doanh Vật tư và Thuốc Thú y (Vemedim Corporation) tổ chức, diễn ra ngày 15 - 16/10 tại Trường Thủy sản, thu hút hơn 60 học viên với 9 tham luận chuyên đề.
GS.TS Trần Ngọc Hải, Quyền Giám đốc Đại học Cần Thơ phát biểu tại khóa tập huấn
Mở đầu chương trình, PGS. TS Châu Tài Tảo, Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ, trình bày chuyên đề về nuôi tôm công nghệ cao, tuần hoàn, thân thiện môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo đảm an toàn thực phẩm. Theo PGS.TS Châu Tài Tảo, nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh theo phương thức thay nước hằng ngày tạo ra lượng nước thải và chất thải lớn, làm tăng nguy cơ ô nhiễm
môi trường và phát sinh dịch bệnh. Từ năm 2018, Đại học Cần Thơ nghiên cứu, phát triển mô hình nuôi tôm thâm canh, siêu thâm canh tuần hoàn khép kín kết hợp đa loài, mang tên CTU-IMTA-RAS, nhằm tận dụng ưu điểm của các phương thức nuôi và hạn chế những bất cập về môi trường. Một điểm đáng chú ý của mô hình là khả năng thay thế 10 20% thức ăn viên bằng bí đỏ mà vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng,
Ảnh: Vemedim
chất lượng và màu sắc tôm. Mô hình đã được ứng dụng thực tế và được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền. Sau buổi học, các học viên trực tiếp tham quan khu nuôi thực nghiệm của Trường Thủy sản để tìm hiểu quy trình vận hành. Về dinh dưỡng, GS.TS Trần Thị Thanh Hiền, Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ, phân tích nhu cầu dinh dưỡng của tôm, cách quản lý chất lượng thức ăn và phương pháp cho ăn hiệu
quả. Bên cạnh việc lựa chọn thức ăn phù hợp, người nuôi cần đọc kỹ thông tin trên bao bì, đặc biệt là thành phần dinh dưỡng, hướng dẫn sử dụng và điều kiện bảo quản, nhằm hạn chế lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Ở góc độ sức khỏe tôm, TS Lê Thụ Hải Yến, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vemedim, cho rằng lạm dụng kháng sinh trong phòng, trị bệnh có thể làm giảm hiệu
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
Các học viên tham quan mô hình nuôi tôm tuần hoàn khép kín tại khu nuôi thực nghiệm của Trường Thủy sản
quả kiểm soát dịch bệnh, đồng thời gia tăng nguy cơ tồn dư kháng sinh trong tôm thương phẩm. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường về an toàn thực phẩm, người nuôi cần giảm phụ thuộc vào kháng sinh, tăng cường giải pháp sinh học và ứng dụng công nghệ trong quản lý ao nuôi. Theo TS Yến, vi sinh có thể hỗ trợ kiểm soát vi khuẩn Vibrio có hại, phân hủy chất hữu cơ, hạn chế khí độc và góp phần cân bằng hệ vi sinh trong ao nuôi, đường ruột tôm. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào đặc tính từng chủng, khả năng thích nghi với độ mặn, pH, nhiệt độ và điều kiện thực tế. Vì vậy, người nuôi cần lựa chọn sản phẩm có cơ sở kiểm chứng qua nghiên cứu và thực nghiệm, thay vì chỉ dựa vào tên loài vi sinh. Cùng với giải pháp sinh học, quản lý môi trường được nhấn mạnh như nền tảng phòng
bệnh. GS.TS Trương Quốc Phú, giảng viên cao cấp Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ, cho biết các vấn đề như bệnh đốm trắng, phân trắng, hội chứng hoại tử gan tụy cấp (EMS) và bệnh do vi bào tử trùng EHP tiếp tục gây lo ngại cho người nuôi. Môi trường bất lợi khiến tôm dễ bị stress, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển và gây thiệt hại. Do đó, duy trì chất lượng nước ổn định và phát hiện sớm dấu hiệu bất thường là những biện pháp quan trọng để hạn chế dịch bệnh. Khi mầm bệnh đã hiện diện trong ao hoặc tôm đã nhiễm bệnh, việc điều trị thường khó khăn, tốn kém và hiệu quả không cao do nguy cơ lây lan trong môi trường nuôi. Bên cạnh các nội dung trên, chương trình còn đề cập đến tác động của biến đổi khí hậu và giải pháp thích ứng trong thủy sản; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và trí
Ảnh: Vemedim
Khóa tập huấn tạo điều kiện để người nuôi cập nhật kiến thức, trao đổi kinh nghiệm
Ảnh: Vemedim
tuệ nhân tạo; sử dụng năng lượng xanh; tư duy kinh tế trong quản lý ao nuôi. Chuyên đề về quản lý sức khỏe và kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là bệnh đường ruột và EHP, cũng nhận được sự quan tâm của học viên. GS.TS Đặng Thị Hoàng Oanh, Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ, nhấn mạnh cần nâng cao hiểu biết về đặc điểm và cơ chế lây nhiễm của EHP
AN XUYÊN
để lựa chọn biện pháp phòng ngừa, kiểm soát phù hợp, qua đó hạn chế thiệt hại trong quá trình nuôi. Khóa tập huấn tạo điều kiện để người nuôi cập nhật kiến thức, trao đổi kinh nghiệm và tiếp cận các giải pháp kỹ thuật, hướng đến nâng cao hiệu quả và tính bền vững của nghề tôm.
45
46
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
Hơn 500 đối tác, khách hàng và đại lý tham dự Hội nghị Khách hàng toàn quốc 2026
C.P. VIỆT NAM
30 năm đồng hành và phát triển cùng khách hàng ngành thủy sản Ngày 1/10/2026, tại TP. Cần Thơ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam – Ngành Kinh doanh Thức ăn Thủy sản tổ chức Hội nghị Khách hàng toàn quốc 2026 với chủ đề “30 năm Đồng hành và Phát triển”, quy tụ hơn 500 đối tác, khách hàng và đại lý trên cả nước.
Hội nghị ghi dấu chặng đường hợp tác giữa C.P. Việt Nam với khách hàng, đại lý trong phát triển sản xuất và kinh doanh thủy sản. Sự tin tưởng và gắn bó của các đối tác là nền tảng để công ty tiếp tục cải tiến sản phẩm, dịch vụ và phát triển những giải pháp phù hợp với nhu cầu tại từng vùng nuôi. Tại hội nghị, Tiến sĩ Robins McIntosh chia sẻ câu chuyện phía sau quá trình nghiên cứu, chọn lọc và lai tạo tôm bố mẹ của Tập đoàn C.P. Group – nền tảng phát triển các dòng tôm giống CPF TURBO G21, CPF TURBO FRESH, CPF SUPER MONODON và CPF HYPER MONODON. Những chia sẻ làm
rõ sự kết nối giữa nghiên cứu di truyền, phát triển con giống và nhu cầu thực tế trong nuôi thương phẩm. Một điểm nhấn của chương trình là nghi thức kích hoạt mô hình nuôi tôm sú công nghệ cao CPF HYPER MONODON. Mô hình mở ra hướng phát triển nuôi tôm sú trên ao lót bạt đáy, kết hợp nguồn giống chất lượng với quy trình kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Đặc biệt, chương trình dành những khoảnh khắc trang trọng để tôn vinh Khách hàng kinh doanh xuất sắc năm 2026 và Khách hàng tiên phong phát triển mô hình nuôi tôm sú C.P. trên ao lót bạt đáy. Hai hạng
mục ghi nhận kết quả kinh doanh nổi bật và tinh thần chủ động ứng dụng mô hình nuôi mới, đồng thời thể hiện sự tri ân đối với những khách hàng, đại lý đã luôn tin tưởng và đồng hành cùng công ty. Hội nghị khép lại trong không khí giao lưu, gắn kết giữa Ban lãnh đạo và các đối tác, khách hàng, đại lý. Tiếp nối hành trình 30 năm, C.P. Việt Nam tiếp tục chú trọng chất lượng sản phẩm, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật, lấy thành công của khách hàng làm động lực phát triển, hướng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh và hợp tác bền vững. C.P. VIỆT NAM
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
Ông Boonlap Watcharawanitchakul phát biểu khai mạc hội nghị
Tiến sĩ Robins McIntosh chia sẻ về nghiên cứu, chọn lọc và lai tạo tôm bố mẹ
Nghi thức kích hoạt mô hình nuôi tôm sú công nghệ cao CPF HYPER MONODON
Ban lãnh đạo trao giải và chúc mừng các khách hàng, đại lý được vinh danh
47
48
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
PEPTITOM
Đạm chức năng từ biển cho thủy sản Nguồn bột cá khan hiếm, chi phí nguyên liệu biến động thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm nguồn đạm dễ tiêu hóa, giàu dinh dưỡng. PEPTITOM của Aquaproducts là nguyên liệu đạm thủy phân từ đầu tôm, hướng đến đáp ứng nhu cầu này.
Sản phẩm PEPTITOM dạng bột, nguồn đạm thủy phân từ đầu tôm
Hơn 10 năm nâng giá trị phụ phẩm thủy sản
Thành lập năm 2014 bởi hai kỹ sư người Pháp Thomas Levallois và François Dupuis, Aquaproducts là doanh nghiệp công nghệ sinh học biển có trụ sở tại Singapore, chuyên chuyển hóa phụ phẩm thủy sản thành nguyên liệu đạm chức năng bằng phương pháp thủy phân enzyme. Năm 2022, doanh nghiệp hợp tác với quỹ Althelia Sustainable Ocean Fund xây dựng nhà máy Marine Biotech Vietnam (MBV) tại Long An. Nhà máy đi vào hoạt động từ tháng 6/2024, với công suất mục tiêu 10.000 tấn/năm, cung cấp nguyên liệu đạm thủy phân dạng bột cho ngành thức ăn thủy sản, chăn nuôi và thú cưng tại châu Á.
PEPTITOM - nguồn đạm thủy phân từ đầu tôm
PEPTITOM được sản xuất bằng phương pháp thủy phân enzyme đầu tôm, giúp chuyển hóa protein thành các peptide và hợp chất có giá trị dinh dưỡng. Bên cạnh đó, nguyên liệu này còn chứa các thành phần sinh học có tiềm năng hỗ trợ sức khỏe vật nuôi, trong đó có peptide kháng khuẩn. Quy trình thủy phân enzyme giúp tận
Dây chuyền sản xuất nguyên liệu PEPTITOM tại nhà máy
dụng phụ phẩm thủy sản để tạo ra nguyên 2% đối với các giai đoạn còn lại. Tỷ lệ thực liệu có giá trị gia tăng, đồng thời hạn chế tế cần được điều chỉnh theo công thức thức việc sử dụng hóa chất mạnh trong chế biến. ăn, đối tượng nuôi và mục tiêu sử dụng.
Hỗ trợ dinh dưỡng và sức khỏe vật nuôi
PEPTITOM mang lại một số lợi ích khi bổ sung vào thức ăn thủy sản, gồm: - Tăng khả năng dẫn dụ và tính ngon miệng của thức ăn; - Hỗ trợ tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng; - Cải thiện sức khỏe đường ruột và chức năng miễn dịch; - Góp phần tăng tỷ lệ sống. Sản phẩm phù hợp với thức ăn cho tôm, cá ăn thịt và các dòng thức ăn chuyên biệt, như thức ăn cho giai đoạn giống, giai đoạn chuyển tiếp hoặc thức ăn chức năng. Ngoài thủy sản, PEPTITOM còn được ứng dụng trong thức ăn cho heo con, heo nái mang thai, heo nái nuôi con và gia cầm. Tỷ lệ bổ sung theo khuyến nghị là 4% đối với thức ăn ở các giai đoạn chuyên biệt và
Kiểm soát chất lượng theo từng lô
PEPTITOM có hàm lượng đạm thô tối thiểu 58%, mức thực tế là 59 - 61%; béo thô tối thiểu 5%, tro thô tối đa 10% và độ ẩm tối đa 10%. Mỗi lô sản phẩm được phân tích tại phòng thí nghiệm nhằm kiểm soát chất lượng và hỗ trợ truy xuất nguồn gốc. Nhà máy áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm theo chứng nhận HACCP, GMP và ISO 22000. AQUAPRODUCTS Liên hệ nhận mẫu thử và tài liệu kỹ thuật: Email: contact@aquaproducts.org Điện thoại: +84 (0) 272 3 83 99 88 Website: aquaproducts.org
CON TÔM THÁNG 10/2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
49
50
HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
Doanh nghiệp chuẩn bị cao điểm cuối năm Nhu cầu tiêu dùng mùa lễ hội và khả năng bổ sung tồn kho tại các thị trường nhập khẩu mở ra cơ hội cho xuất khẩu tôm Việt Nam trong những tháng cuối năm 2026. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm đạt 3,7 tỷ USD, tăng 11% so cùng kỳ. Dù vậy, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam nhận định xuất khẩu tôm quý IV có thể giảm nhịp sau giai đoạn tăng tốc trong quý III, do nhiều đơn hàng phục vụ mùa lễ hội đã được giao sớm. Nhu cầu mua bổ sung vì thế khó duy trì mức cao như những tháng trước. Ảnh: PTC Để tận dụng cơ hội cuối năm, doanh nghiệp tôm cần chủ Doanh nghiệp tôm cần chủ động kế hoạch thu mua nguyên liệu động kế hoạch thu mua nguyên liệu, linh hoạt cơ cấu sản truy xuất nguồn gốc sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phẩm và thị trường, đồng thời kiểm soát chi phí chế biến. nhà nhập khẩu, mở rộng dư địa xuất khẩu. HUYỀN THƯƠNG Tăng cường liên kết với người nuôi, bảo đảm chất lượng và C.P. VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Tiếp tục hành động vì môi trường biển
Kết nối đào tạo với doanh nghiệp
Ngày 26/9/2026, tại khu vực biển Chí Linh, phường Rạch Dừa, TP Hồ Chí Minh, Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức chương trình “Coastal Cleanup - Hãy làm sạch biển 2026”, hưởng ứng Ngày Quốc tế Làm sạch Bờ biển. Chương trình thu hút hơn 400 tình nguyện viên, trong đó có hơn 50 cán bộ, công nhân viên C.P. Việt Nam, cùng đoàn viên, thanh niên, sinh viên và người dân địa phương tham gia. Tổng cộng 845,6 kg rác thải được thu gom và xử lý. Đây là năm thứ 6 C.P. Việt Nam duy trì hoạt động làm sạch biển. Qua các chương trình, C.P. Việt Nam và các bên đã phối hợp thu gom hơn 4 tấn rác thải đại dương. Theo ông Worawit Arunraksa, Giám đốc Phát triển bền vững C.P. Việt Nam, doanh nghiệp hướng đến quản lý chất thải theo kinh tế tuần hoàn, giảm nhựa không cần thiết, tăng tái sử dụng và tái chế. LÊ LOAN
Ngày 11 - 12/9/2026, Trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế ký Biên bản ghi nhớ (MoU) với Tập đoàn Việt Úc, hướng đến gắn đào tạo với thực tiễn và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành thủy sản. Trong khuôn khổ chương trình, đại diện Tập đoàn Việt Úc tham quan Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghệ Thủy sản của Trường, nơi đang triển khai mô hình nuôi với khoảng 2 triệu con tôm giống Việt Úc. Hai bên trao đổi kinh nghiệm, mở ra cơ hội phối hợp nghiên cứu và ứng dụng công nghệ trong thời gian tới. Cũng tại đây, sinh viên năm 3, 4 của Trường tham gia talkshow “Cách mạng số và Công nghệ sinh học ngành Tôm”, qua đó tiếp cận thêm thông tin thực tế về công nghệ và định hướng nghề nghiệp. Dịp này, Tập đoàn Việt Úc trao học bổng hỗ trợ sinh viên, góp phần khuyến khích học tập và nâng cao kỹ năng chuyên môn. THANH HIẾU
SKRETTING VIETNAM
TẬP ĐOÀN THĂNG LONG
Mở rộng hợp tác công nghệ nuôi tôm
Định hướng đạt 1 triệu tấn thức ăn thủy sản năm 2027
Skretting Vietnam và RYNAN Technologies vừa ký Biên bản ghi nhớ (MoU) tại Trà Vinh, mở ra hợp tác khai thác tiềm năng của công nghệ số, dữ liệu và dinh dưỡng trong hoạt động nuôi tôm. Trong chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao Skretting, hai bên tham quan trang trại và cơ sở RYNAN, trao đổi về ứng dụng công nghệ, quản lý dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định trong sản xuất. Theo định hướng hợp tác, kinh nghiệm của RYNAN về nuôi thông minh và công nghệ số sẽ kết hợp với chuyên môn của Skretting trong lĩnh vực dinh dưỡng thủy sản. Qua đó, hai bên cùng tìm hiểu các giải pháp kết nối dữ liệu từ ao nuôi với thông tin về dinh dưỡng, góp phần hỗ trợ người nuôi theo dõi và quản lý quá trình sản xuất hiệu quả hơn. Hoạt động này cũng mở ra hướng hợp tác giữa hai doanh nghiệp trong việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ và dữ liệu vào nuôi tôm. NGUYỄN HẰNG
Từ ngày 22 - 24/9/2026, Tập đoàn Thăng Long tổ chức Hội nghị Sơ kết kinh doanh 3 quý đầu năm và hoạch định mục tiêu năm 2027. Hội nghị là dịp đánh giá hoạt động trong 9 tháng đầu năm, đồng thời thống nhất định hướng phát triển và mục tiêu kinh doanh trong thời gian tới. Tại Hội nghị, Tập đoàn xác định mục tiêu năm 2027 hướng tới sản lượng 1 triệu tấn thức ăn thủy sản. Các nội dung được trao đổi tập trung vào mục tiêu chung, sự phối hợp giữa các đơn vị và phương hướng triển khai trong năm tới. Hội nghị cũng tạo không khí kết nối, thúc đẩy tinh thần đồng hành giữa các thành viên trong Tập đoàn. Với thông điệp “Đồng lòng - Bứt phá - Vươn tầm cao mới”, Tập đoàn Thăng Long kỳ vọng toàn đội ngũ tiếp tục phát huy tinh thần phối hợp, chủ động và quyết tâm trong chặng đường phát triển năm 2027. DUY MẠNH
HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP
CON TÔM THÁNG 10/2026
GROWMAX
HẢI ĐẠI VĨNH LONG
Đồng hành đào tạo nhân lực ngành tôm
Ra mắt website mới
Tập đoàn GrowMax và Trường Thủy sản, Đại Học Cần Thơ vừa ký kết hợp tác, hướng đến phối hợp đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và thúc đẩy ứng dụng các giải pháp trong lĩnh vực thủy sản. Theo nội dung thỏa thuận, GrowMax tạo điều kiện để sinh viên thực tập, hỗ trợ học bổng và đồng hành cùng các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường. Trường Thủy sản phối hợp với doanh nghiệp trong tuyển dụng, tổ chức hội thảo chuyên môn và triển khai nghiên cứu ở các lĩnh vực. Sau lễ ký kết, đoàn lãnh đạo Trường Thủy sản tham quan nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản của GrowMax, tìm hiểu quy mô và quy trình vận hành dây chuyền. Hoạt động này mở thêm cơ hội kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, góp phần đưa kiến thức chuyên môn, nghiên cứu và thực tiễn sản xuất đến gần nhau hơn. DIỆU CHÂU
Công ty TNHH Hải Đại Vĩnh Long đưa vào vận hành website haidaivinhlong.com, cung cấp thông tin về hoạt động, sản phẩm và dịch vụ. Trang web được thiết kế tương thích với máy tính và thiết bị di động, gồm các chuyên mục giới thiệu năng lực sản xuất, sản phẩm - dịch vụ, tin tức, tuyển dụng và thông tin liên hệ. Đây cũng là kênh để khách hàng, đối tác và người nuôi tìm hiểu các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Theo Hải Đại Vĩnh Long, việc đưa website vào hoạt động nhằm tăng cường cung cấp thông tin trực tuyến, hỗ trợ khách hàng thuận tiện hơn trong quá trình tìm kiếm sản phẩm, dịch vụ và liên hệ với doanh nghiệp. Trang thông tin điện tử mới được kỳ vọng góp phần tăng cường tương tác giữa Hải Đại Vĩnh Long với khách hàng, đối tác, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số. NAM CƯỜNG
DE HEUS
SAO TA
Thúc đẩy sản xuất theo hướng bền vững
Đạt doanh số 23,28 triệu USD trong tháng 9
Hưởng ứng Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng Ozone 16/9, De Heus tiếp tục triển khai các giải pháp hướng đến giảm tác động môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững. Doanh nghiệp thúc đẩy sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc bền vững, mở rộng ứng dụng năng lượng tái tạo tại các nhà máy nhằm giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong vận chuyển, De Heus triển khai xe bồn và hệ thống silo để giảm sử dụng bao bì, tối ưu hoạt động logistics và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, De Heus phối hợp với người nuôi xây dựng các mô hình sản xuất bền vững, hướng đến nâng cao hiệu quả và sử dụng tài nguyên có trách nhiệm. Các hoạt động trên nằm trong định hướng của De Heus nhằm từng bước giảm tác động đến môi trường, đồng thời thúc đẩy các giải pháp sản xuất bền vững. DUY AN
Trong tháng 9/2026, Công ty CP Thực phẩm Sao Ta sản xuất 2.623 tấn tôm thành phẩm, giảm gần 4% so cùng kỳ năm trước. Sản lượng tiêu thụ tôm thành phẩm trong tháng đạt 1.933 tấn, giảm 14% so cùng kỳ. Doanh số chung đạt 23,28 triệu USD, giảm 15% so cùng kỳ. Ở lĩnh vực nuôi tôm, doanh nghiệp hoàn tất thu hoạch vụ nuôi vào tuần đầu tháng 10. Quý III/2026 là giai đoạn Sao Ta tập trung thu hoạch vụ tôm chính trong năm, với sản lượng đạt mức tốt. Theo doanh nghiệp, kết quả thu hoạch này góp phần vào hoạt động kinh doanh trong quý III. Bên cạnh sản xuất và tiêu thụ, hoạt động nuôi tôm tiếp tục được doanh nghiệp duy trì theo kế hoạch, hướng đến bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến trong các tháng cuối năm. THẢO ANH
AQUA MINA
Triển khai ưu đãi hấp dẫn trong tháng 10 Trong tháng 10/2026, Công ty TNHH Aqua Mina triển khai các chương trình ưu đãi cùng giải pháp thiết bị phục vụ sản xuất thủy sản. Điểm đáng chú ý là giải pháp nâng cấp máy thổi khí Turbo thay thế máy sục khí truyền thống, hướng đến giảm nguy cơ rò rỉ dầu nhớt, tiết kiệm điện và giảm tiếng ồn khi vận hành. Khách hàng đầu tư máy thổi khí Turbo từ ngày 1 - 31/10/2026 được giảm 5%, áp dụng với số lượng có hạn. Dòng ống ôxy Nano tiêu chuẩn xuất khẩu, kích thước Ø20 x Ø14 mm, cũng được giảm từ 1,35 triệu đồng xuống 980.000 đồng/cuộn, áp dụng từ ngày 1 11/10/2026. Trước đó, trong tháng 9, Aqua Mina tổ chức chương trình Mega Live “Tròn Mùa Trăng - Đầy Vụ Tôm” và giới thiệu sản phẩm van cổng PVC phục vụ các trang trại thủy sản. THÁI THUẬN
ĐẤT MŨI
Phát triển tôm post chất lượng Khởi đầu năm 2000 với hơn 10 bể ương, Công ty TNHH Tôm giống Đất Mũi (xã Năm Căn, tỉnh Cà Mau) hiện phát triển khoảng 200 bể, cung ứng 200 - 250 triệu con post giống mỗi năm. Theo ông Nguyễn Ngọc Tân, Giám đốc Công ty, đơn vị tập trung sản xuất tôm post kích cỡ lớn, đồng thời kiểm soát chặt nguồn tôm bố mẹ và điều kiện ương. Tôm bố mẹ được ưu tiên lựa chọn từ vùng biển xa, có độ mặn cao, sau đó ương dưỡng con giống đến cỡ PL15 - PL20 trước khi cung ứng ra thị trường. Việc ương đến kích cỡ lớn giúp tôm post có thời gian thích nghi và hoàn thiện thể trạng trước khi chuyển sang ao nuôi thương phẩm, đồng thời công ty kiểm soát chặt vệ sinh, môi trường và an toàn sinh học. Định hướng của doanh nghiệp là cung ứng nguồn tôm giống có chất lượng, góp phần nâng tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của tôm sau khi thả nuôi. NGUYỄN AN
51
52
MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH
CON TÔM THÁNG 10/2026
CÀ MAU
Lúa hữu cơ - tôm mở hướng sản xuất bền vững Tận dụng điều kiện luân phiên mùa nước ngọt và nước mặn, mô hình lúa hữu cơ - tôm tại phường Láng Tròn, tỉnh Cà Mau, hướng đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giảm tác động môi trường và đa dạng hóa thu nhập.
Đoàn công tác kiểm tra mô hình canh tác lúa - tôm năm 2026
Kết quả khả quan
Tháng 6/2026, Trung tâm Công ích phường Láng Tròn phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Cà Mau kiểm tra mô hình canh tác lúa hữu cơ - tôm tại Khóm 16B và Khóm 17. Mô hình do Trung tâm Khuyến nông tỉnh đầu tư, triển khai trên diện tích 10 ha với sự tham gia của 9 hộ dân. Tại thời điểm kiểm tra, các hộ cơ bản tuân thủ quy trình kỹ thuật được hướng dẫn. Tôm sú đạt khoảng 75 ngày tuổi, kích cỡ bình quân 35 con/kg, sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống khá. Tham gia mô hình, các hộ được hỗ trợ 50% tôm sú giống gia hóa, 50% lúa giống cùng một số vật tư như vôi, men vi sinh, phân hữu cơ sinh học và thuốc diệt tạp. Tổng giá trị hỗ trợ tương đương 25,125 triệu đồng/ha.
Ảnh: Trung tâm Công ích phường Láng Tròn
Ông Tiết Tiến Dũng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Cà Mau, đánh giá mô hình phù hợp với điều kiện sinh thái tại địa phương, có tiềm năng nâng cao giá trị trên cùng diện tích, giảm chi phí đầu tư và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Ông đề nghị các hộ tiếp tục tuân thủ quy trình, theo dõi chất lượng nước và tình hình dịch bệnh để bảo đảm hiệu quả. Theo ông Lê Văn Xinh, hộ tham gia mô hình tại Khóm 17, việc được hỗ trợ giống, vật tư và hướng dẫn kỹ thuật giúp gia đình yên tâm triển khai. Đến thời điểm kiểm tra, tôm phát triển tốt, ít hao hụt; gia đình kỳ vọng mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn phương thức canh tác trước đây.
Cơ sở để mở rộng
Mô hình lúa - tôm phát huy lợi thế sinh
thái của vùng ven biển Cà Mau, nơi điều kiện nước ngọt và nước mặn thay đổi theo mùa. Người dân có thể trồng lúa trong mùa nước ngọt, sau đó chuyển sang nuôi tôm khi độ mặn phù hợp. Cách kết hợp này giúp đa dạng hóa sản phẩm, khai thác diện tích đất hiệu quả và giảm phụ thuộc vào một đối tượng sản xuất. Mô hình tại phường Láng Tròn kế thừa kết quả từ dự án khuyến nông năm 2025, triển khai trên 30 ha với 27 hộ tham gia tại các địa bàn thuộc Cà Mau. Theo báo cáo, năng suất tôm bình quân đạt 814 kg/ha, lợi nhuận trên 100 triệu đồng/ha; năng suất lúa hữu cơ khoảng 5,5 tấn/ha, một số hộ đạt 6,5 tấn/ha. Kết quả này là cơ sở để tiếp tục thử nghiệm và hoàn thiện quy trình. Tuy nhiên, hiệu quả cần được đánh giá trên tổng thu nhập từ cả hai vụ, chi phí giống và vật tư, tỷ lệ sống của tôm, chất lượng sản phẩm và khả năng tiêu thụ. Với định hướng hữu cơ, việc sử dụng vật tư cũng cần được kiểm soát, bảo đảm phù hợp quy trình kỹ thuật và yêu cầu thị trường. Thời gian tới, Trung tâm Công ích phường Láng Tròn sẽ phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Cà Mau tiếp tục theo dõi, hỗ trợ kỹ thuật và đánh giá kết quả. Về lâu dài, mô hình cần gắn với tổ chức sản xuất theo nhóm hộ, hợp tác xã, liên kết doanh nghiệp thu mua và xây dựng thương hiệu. Khi quy trình được chuẩn hóa, chất lượng bảo đảm và đầu ra ổn định, lúa hữu cơ - tôm có thể góp phần nâng cao thu nhập, phát triển sản xuất theo hướng sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cà Mau. ANH VŨ
MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH
CON TÔM THÁNG 10/2026
Ecuador thành công với tôm, Đông Nam Á có thể học gì? Ecuador vươn lên thành cường quốc tôm nhờ lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp với từng điều kiện môi trường. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ quốc gia Nam Mỹ này không thể áp dụng nguyên vẹn cho Đông Nam Á, nơi có điều kiện tự nhiên và đặc điểm ngành tôm khác biệt.
Sức mạnh bó đũa
Từ trước tới nay, ngành tôm thế giới thường theo đuổi công thức sản xuất nhanh, nhiều và rẻ. Tuy nhiên, Ecuador lại cho thấy một hướng đi khác. Tại quốc gia này, chuỗi cung ứng được tổ chức dựa trên sự liên kết giữa phương thức sản xuất với điều kiện địa lý, hạ tầng và cấu trúc thị trường. Năng lực cạnh tranh của ngành tôm Ecuador không chỉ đến từ kỹ thuật nuôi mà còn ở cách tổ chức toàn ngành. Thứ nhất, tại Đông Nam Á, trại nuôi, đơn vị cung ứng giống và doanh nghiệp chế biến thường hoạt động riêng lẻ. Trong khi đó, tại Ecuador, các trang trại liên kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp thức ăn, giống và chế biến. Khoảng 60% sản lượng tôm nước này đến từ 10 tập đoàn, doanh nghiệp chủ chốt, nhiều đơn vị đồng thời sở hữu và vận hành cơ sở chế biến. Thứ hai, Ecuador có lợi thế về quỹ đất. Mỗi trang trại tôm có thể trải rộng hàng trăm hécta, khác biệt đáng kể so quy mô nuôi phổ biến tại Đông Nam Á. Nhờ đó, dù biên lợi nhuận chỉ đạt 5 - 15 cent/kg, doanh nghiệp vẫn có thể duy trì hiệu quả nhờ quy mô lớn.
Thứ ba, Ecuador không dựa vào mật độ nuôi cao để tăng sản lượng. Người nuôi thường thả khoảng 20 PL/m², chỉ bằng 1/10 đến 1/20 mật độ tại nhiều nước Đông Nam Á. Thay vì chạy theo sản lượng, Ecuador ưu tiên tính ổn định và giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, nếu tăng mật độ để nâng năng suất, ngành tôm nước này có thể đối mặt với những thách thức tương tự Đông Nam Á.
Tối ưu hóa chứ không chỉ mở rộng công nghệ
Ecuador không quay lưng với công nghệ mà tập trung ứng dụng vào những khâu mang lại hiệu quả rõ rệt. Hệ thống cho ăn tự động được sử dụng rộng rãi, giúp giảm lãng phí thức ăn, cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn và giảm nhu cầu lao động. Thức ăn ép cũng ngày càng phổ biến, hỗ trợ tôm hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, cải thiện chất lượng nước và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Bên cạnh đó, ngành tôm Ecuador đã triển khai trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ điều khiển, giám sát. Công nghệ di truyền cũng góp phần vào thành công của ngành. Các trang trại cung cấp tôm bố mẹ chất lượng tốt cho những chương trình hợp tác nhân giống, qua đó
giảm chi phí và tạo ra nguồn tôm giống thích nghi với điều kiện nuôi thực tế.
Ngành tôm Đông Nam Á học được gì?
Theo các chuyên gia, Đông Nam Á không nên sao chép nguyên mẫu mô hình Ecuador, bởi thành công của quốc gia Nam Mỹ này gắn với điều kiện nuôi trồng đặc thù. Nguồn đất hạn chế khiến các nước Đông Nam Á phải tìm cách nâng cao sản lượng trên diện tích hiện có. Tuy nhiên, các trang trại cần chú trọng tính bền vững và lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương, chẳng hạn tận dụng trọng lực để lưu chuyển nước trong ao như cách người nuôi Ecuador áp dụng. Thay vì cạnh tranh chủ yếu bằng giá rẻ, ngành tôm Đông Nam Á cũng cần nâng cao giá trị sản phẩm, phát triển thương hiệu và tiếp cận phân khúc thị trường cao cấp. Cuối cùng, cần lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện từng vùng, phát triển quy mô dựa trên nguồn lực sẵn có, đồng thời ứng dụng kỹ thuật và công nghệ để nâng cao hiệu quả, duy trì năng suất ổn định và hướng tới phát triển bền vững. KHÁNH NGUYÊN (Theo Aquaasiapac)
53
54
ĐỒNG HÀNH CÙNG NHÀ NÔNG
CON TÔM THÁNG 10/2026
Trong suốt quá trình nuôi, duy trì các chỉ tiêu môi trường ao ở ngưỡng phù hợp
Ảnh: Undercurrentnews
Quản lý nguy cơ EHP trong ao tôm EHP là một trong những tác nhân liên quan đến tình trạng tôm chậm lớn, đặc biệt ở các hệ thống nuôi thâm canh. Do chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu hiệu quả, kiểm soát nguy cơ từ con giống, nước, đáy ao và quá trình vận hành là hướng quan trọng để hạn chế sự xâm nhập, phát tán của tác nhân này.
Chuẩn bị ao nuôi kỹ lưỡng
Sau mỗi vụ nuôi, cần tiến hành thu gom toàn bộ chất thải, nạo vét lớp bùn đáy tích tụ, đặc biệt tại khu vực gần cống thoát và vị trí tập trung chất thải. Ao nên được phơi khô đủ thời gian để làm giảm mật độ mầm bệnh và các sinh vật mang mầm bệnh còn tồn lưu. Đối với những vùng nuôi khó phơi đáy do điều kiện thời tiết hoặc nền đáy, cần kết hợp các biện pháp cải tạo phù hợp theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Đối với ao lót bạt, cần vệ sinh kỹ bạt đáy, thành ao và hệ thống thu gom chất thải trước khi đưa vào vụ nuôi mới.
Nguy cơ từ đầu vào
Con giống là một trong những nguồn đưa mầm bệnh vào ao nuôi. Người nuôi cần ưu tiên lựa chọn tôm giống từ các cơ sở sản xuất uy tín, có quy trình kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Trước khi thả, cần kiểm tra hồ sơ, nguồn gốc và tình trạng sức khỏe của lô giống;
đối với tôm sú, tôm thẻ chân trắng thuộc phạm vi áp dụng của QCVN 02-34-1:2021/ BNNPTNT, tôm bố mẹ và tôm giống phải không bị nhiễm EHP theo quy định và việc kiểm tra tác nhân gây bệnh EHP thực hiện theo TCVN 8710-12:2019. Bên cạnh đó, cần chọn giống khỏe mạnh, đồng đều về kích cỡ, phản xạ tốt và thích nghi nhanh với điều kiện môi trường. Không nên lấy nước trực tiếp vào ao nuôi khi chưa qua các biện pháp xử lý phù hợp, nhằm giảm nguy cơ đưa EHP và các tác nhân gây bệnh khác vào hệ thống sản xuất.
Hạn chế đường lây lan
Giun nhiều tơ, giáp xác nhỏ và một số loài nhuyễn thể có thể tham gia vào quá trình lưu giữ hoặc phát tán mầm bệnh EHP. Do đó, trong quá trình cải tạo và vận hành ao nuôi cần hạn chế sự xâm nhập của các sinh vật này bằng cách gia cố bờ ao, lắp đặt lưới chắn tại các cống cấp thoát nước, thường xuyên vệ sinh khu vực xung quanh
và loại bỏ các ổ cư trú của cua, còng trên bờ. Đối với thức ăn tươi sống hoặc nguyên liệu chưa qua xử lý, người nuôi cần kiểm soát chặt nguồn cung và quy trình bảo quản vì đây có thể là nguồn mang theo nhiều tác nhân gây bệnh, trong đó có EHP. Nên ưu tiên sử dụng thức ăn đã qua xử lý hoặc có nguồn gốc rõ ràng. Nếu dùng thức ăn tươi sống, cần kiểm soát nguồn gốc và xử lý phù hợp trước khi cho ăn để giảm nguy cơ mang mầm bệnh. Các phương tiện, dụng cụ vận chuyển tôm, thức ăn và vật tư cần được làm sạch, khử trùng trước và sau khi ra vào khu nuôi. Đồng thời, cần hạn chế người lạ ra vào trại và kiểm soát chặt việc đưa giống, thiết bị hoặc vật tư từ bên ngoài vào khu sản xuất. Mỗi ao nuôi cần có bộ dụng cụ riêng hoặc được vệ sinh, khử trùng kỹ trước khi sử dụng cho ao khác. Người lao động cần tuân thủ quy trình di chuyển theo hướng từ khu có nguy cơ thấp đến khu có nguy
ĐỒNG HÀNH CÙNG NHÀ NÔNG
CON TÔM THÁNG 10/2026
cơ cao nhiễm bệnh, đồng thời vệ sinh tay, định, phù hợp với từng giai đoạn phát ủng và các thiết bị sau mỗi lần làm việc. triển của tôm và tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất. Thức ăn cần được bảo quản Duy trì môi trường ổn định nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ẩm mốc và Trong suốt quá trình nuôi, duy trì các sử dụng trong thời gian khuyến cáo. chỉ tiêu môi trường ao ở ngưỡng phù hợp, Trong điều kiện thời tiết thay đổi hoặc đặc biệt là nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm khi tôm có dấu hiệu giảm bắt mồi, phải và hàm lượng ôxy hòa tan. Việc thay đổi điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp thay vì đột ngột các yếu tố này không chỉ gây duy trì khẩu phần như bình thường. stress cho tôm mà còn làm suy giảm chức Có thể bổ sung vitamin, khoáng chất và năng gan tụy, gia tăng nguy cơ phát sinh các sản phẩm hỗ trợ phù hợp nhằm hỗ trợ sức bệnh và ảnh hưởng đến sức khỏe đàn tôm. khỏe đàn tôm; việc sử dụng phải tuân thủ Song song đó, theo dõi thường xuyên quy định về sản phẩm dùng trong nuôi trồng hàm lượng amoniac (NH₃), nitrit (NO₂-) và thủy sản và hướng dẫn của nhà sản xuất. Tuy khí độc H₂S. Đây là những chỉ tiêu phản nhiên, cần lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc ánh chất lượng đáy ao và khả năng phân rõ ràng, đã được kiểm chứng về hiệu quả. hủy chất hữu cơ. Có thể sử dụng chế phẩm sinh học phù Theo dõi sức khỏe tôm Định kỳ kiểm tra trọng lượng, chiều hợp để hỗ trợ ổn định hệ vi sinh vật ao nuôi; việc sử dụng phải bảo đảm sản phẩm dài và mức độ đồng đều của đàn tôm. được phép sử dụng và theo đúng hướng Nếu sau nhiều lần kiểm tra liên tiếp, tốc độ tăng trưởng thấp hơn dự kiến hoặc tỷ dẫn của nhà sản xuất. lệ phân đàn tăng nhanh, cần xem xét khả Đảm bảo dinh dưỡng năng tôm bị nhiễm EHP hoặc gặp các vấn Lựa chọn thức ăn có chất lượng ổn đề về gan tụy. SÁCH KỸ THUẬT
Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh xen canh với lúa vùng nước lợ Đây là tài liệu chuyên môn do Trường Đại học Cần Thơ biên soạn trong khuôn khổ “Dự án Nâng cấp Trường Đại học Cần Thơ”, phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện (mã số VN14-P6). Tài liệu giới thiệu các kỹ thuật kết hợp trồng lúa với nuôi tôm càng xanh ở những khu vực chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn và có điều kiện nước lợ. Các nội dung được trình bày theo quá trình sản xuất, từ chuẩn bị ruộng, chọn và xử lý con giống, quản lý nguồn nước, cho ăn, phòng bệnh đến thu hoạch tôm thương phẩm. Cách trình bày theo từng khâu giúp người nuôi dễ theo dõi và áp dụng, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo cho cán bộ kỹ thuật, sinh viên và những người quan tâm đến mô hình tôm - lúa thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long. NGUYỄN HẰNG
Kiểm tra sàng ăn thường xuyên giúp đánh giá lượng thức ăn, đồng thời theo dõi sức khỏe đàn tôm. Quan sát gan tụy, đường ruột, vỏ, phản xạ bắt mồi và hoạt động của tôm giúp phát hiện sớm bất thường để kịp thời điều chỉnh thức ăn, môi trường và biện pháp chăm sóc.
Quản lý ao khi phát hiện nguy cơ
Khi nghi ngờ tôm nhiễm EHP, cần kết hợp theo dõi các dấu hiệu lâm sàng với xét nghiệm để khẳng định sự hiện diện của tác nhân gây bệnh. Nếu có kết quả xét nghiệm dương tính, cơ sở nuôi cần thông báo cho cơ quan chuyên môn địa phương theo quy định; đồng thời chủ động trao đổi thông tin với các cơ sở nuôi lân cận để phối hợp áp dụng biện pháp phòng ngừa phù hợp. Ngừng cho ăn và không thay nước hoặc xả nước chưa qua xử lý ra môi trường chung; thực hiện cô lập ao bị bệnh và các biện pháp xử lý theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền. LÊ LOAN
BÁCH KHOA THƯ
Tôm lá chắn Tôm lá chắn (Triops australiensis) là một loài giáp xác nước ngọt thuộc bộ Notostraca, phân bố chủ yếu ở Australia. Loài có hình thái khá đặc biệt với phần mai lớn dạng khiên bao phủ mặt lưng phía trước, phía sau là phần thân kéo dài với nhiều đôi chân bơi. Con trưởng thành thường có màu nâu vàng đến nâu sẫm, giúp chúng hòa lẫn với nền đáy. Tôm lá chắn sống chủ yếu ở các thủy vực tạm thời như ao nông, vũng nước và vùng trũng hình thành sau những đợt mưa. Chúng có khả năng thích nghi tốt với điều kiện môi trường biến động, đặc biệt là chu kỳ ngập nước và khô hạn. Thức ăn khá đa dạng, gồm mùn bã hữu cơ, tảo, các sinh vật nhỏ và vật chất hữu cơ trong nền đáy. Loài này thường hoạt động ở tầng đáy, dùng chân để đào bới, di chuyển và tìm kiếm thức ăn. Đây cũng là một trong những loài động vật có sức sống bền bỉ nhất còn tồn tại trên Trái Đất. NAM CƯỜNG
55
56
HỎI - ĐÁP
CON TÔM THÁNG 10/2026
HỎI - ĐÁP Hỏi: Sau khi diệt khuẩn nước ao, bao lâu mới được thả tôm giống? (Phạm Văn Tuyền, xã Long Thành, tỉnh Vĩnh Long) Trả lời: Không có một khoảng thời gian cố định áp dụng cho mọi trường hợp. Thời điểm thả giống phụ thuộc vào loại hóa chất sử dụng, liều lượng, chất lượng nước và khả năng phân hủy hoặc loại bỏ hoạt chất sau xử lý. Vì vậy, người nuôi cần tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất đối với từng sản phẩm, đồng thời kiểm tra lại các chỉ tiêu môi trường trước khi thả. Với ao đã xử lý hóa chất sát khuẩn, cần tạo điều kiện để hoạt chất phân hủy hoặc được loại bỏ, sau đó kiểm tra các chỉ tiêu như pH, độ kiềm, độ mặn và hàm lượng ôxy hòa tan (DO). Đồng thời, kiểm tra khả năng hoạt động của vi sinh hoặc thực hiện các biện pháp theo hướng dẫn kỹ thuật để đánh giá mức độ an toàn của nước trước khi thả giống. Không nên thả tôm ngay sau khi vừa xử lý hóa chất, kể cả khi các chỉ tiêu môi trường cơ bản chưa biến động rõ, bởi tồn dư hoạt chất có thể ảnh hưởng đến tôm giống và hệ vi sinh trong ao. Đặc biệt, nếu sử dụng các chất sát khuẩn có tính ôxy hóa mạnh, cần xác định hoạt chất đã giảm đến mức an toàn trước khi thả.
Trước khi thả, nên kiểm tra lại chất lượng nước và thuần tôm giống phù hợp với điều kiện ao. Nếu chưa xác định được hóa chất đã hết tác dụng, cần tiếp tục xử lý và kiểm tra thay vì thả giống sớm. Hỏi: Khi nào nên sử dụng vôi trong ao tôm? (Bùi Trung Thành, xã Long Điền, tỉnh Cà Mau) Trả lời: Vôi được sử dụng ở nhiều giai đoạn của vụ nuôi, từ cải tạo ao đến điều chỉnh môi trường nước. Trong giai đoạn cải tạo ao, vôi có thể được sử dụng để xử lý nền đáy, cải thiện điều kiện đất và hỗ trợ ổn định môi trường trước khi cấp nước. Sau khi thả tôm, vôi thường được sử dụng để bổ sung độ kiềm, hỗ trợ ổn định pH và hạn chế biến động môi trường, đặc biệt ở những ao có độ kiềm thấp hoặc pH dao động. Khi sử dụng, cần phân biệt các loại vôi như vôi nông nghiệp, vôi tôi và vôi nung vì tính chất và mức độ tác động khác nhau. Liều lượng cần căn cứ vào loại vôi, đặc điểm đất đáy, độ kiềm, pH và tình trạng thực tế của ao. Không nên tăng liều chỉ vì thấy pH hoặc độ kiềm thấp mà chưa xác định nguyên nhân. BAN KHKT
CON TÔM THÁNG 10/2026
HỎI - ĐÁP
57
58
CON TÔM THÁNG 10/2026
CON TÔM THÁNG 10/2026
59
60
CON TÔM THÁNG 10/2026