Hành Trình Phù Sa Cuộc đời là dòng sông, có lúc phẳng lặng êm đềm trôi, có khi mạnh mẽ ầm ào vượt qua bao ghềnh thác. Trong dòng sông ký ức, dòng chảy trong tâm hồn tôi đó là những con nước lớn ròng, lên xuống theo chu kỳ vận hành của trời đất, là một dòng sông bao la chậm rãi hiền hoà chia thành hai ngả sông Hậu và sông Tiền. Vết xước của quá khứ, vết cắt của thời gian xẻ dọc xẻ ngang trong cuộc đời phiêu bạt. lờ mờ như giấc mộng, nhạt nhoà của ký ức. Đôi khi tôi tự hỏi: Tôi là ai? Tôi đang ở đâu? Khi âm vang của tiếng nước, tiếng gió như mời gọi, như gợi nhớ về quá khứ đang lan toả trên cánh đồng, trải dài qua những khu vườn kỷ niệm. Sông vẫn lặng lờ trôi. Đây cù lao dài, cửa biển Ba Động, cồn Ngao; đây chợ Lách, Mỹ An, Thiềng Đức... những nơi tôi đã sống trong thời thơ bé. Cửa biển, vàm sông, cù lao, rạch xẻo hiện dần trong ký ức, thấp thoáng bóng áo tơi nón lá hì hục lặn ngụp, chèo chống theo con nước cạnh bãi bờ, giăng câu thả lưới nuôi thân. Vàm Xếp, vàm Măng Thít, vàm Phú Phụng, từng mảng lục bình lờ lững trôi theo đàn vịt trời rợp bóng kiếm ăn. Những bầy cò vạc an nhiên trên cánh đồng lúa chín. Sông vẫn êm đềm lặng lẽ, ôi! dòng sông chảy từ sông mẹ đã có tự bao đời. Trong ký ức của tôi, những năm lên năm tuổi theo cha mẹ ngược xuôi theo dòng nước chứng kiến bao chuyện đổi dời khi chính quyền Pháp đô hộ vùng đất miền tây Nam bộ. Thế lực cầm quyền chia năm xẻ bảy, các lực lượng chia vùng Hoà Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên. Việt Minh nổi lên khắp nơi. Súng đạn lửa khói tràn ngập cuộc sống người dân. Hằng ngày, tin chiến sự truyền nhau từ gia đình này sang gia đình kế cận. Hôm nay lính Tây ruồng bố miệt Cầu Kè bắt bớ, hãm hiếp, đốt nhà, ngày hôm sau Việt Minh trừ gian diệt ác, ám sát, đốt chợ, đốt đồn, giết thả trôi sông. Sau những cuộc chiến, xác tử sĩ, thương binh được cáng, võng về tỉnh lỵ, còn dân lành thì được xuồng tam bản đưa về nhà thương thí. Bầu trời xám xịt, mưa rơi lất phất, dòng sông đêm một vài xuồng câu với ánh 1
đèn hiu hắt, phủ một màu buồn bã thê lương. Tiếng vạc kêu sương, tiếng ếch nhái ễnh ương càng làm cuộc sống của dân thêm buồn thảm. Về phía thượng nguồn, ánh sáng rực lên từ góc chân trời của phía tỉnh lỵ. từ bên kia song, tiếng ì ầm của xe chở lính báo hiệu thêm một đợt ruồng bố. Xa xa, vẳng tiếng súng trường đơn lẻ của các đồn lính giáo phái chặn ghe thuyền nạp thuế. Và, dòng sông đêm vẫn âm thầm chảy trong bóng tối mịt mù. Đêm buồn sâu thâm u, quê hương thời lửa khói, giấc ngủ tuổi thơ hồn nhiên nửa đêm giật mình sấm chớp ầm ì. Cả nhà đều tỉnh giấc, một trận mưa pháo vang rền, cha tôi kéo cả nhà dậy lùa xuống sàn. Ông trấn tĩnh, không sao đâu, chắc tàu Tây đi ruồng bố. Hằng tháng, tàu chiến Pháp từ biển về bắt đầu vào đất liền. Tất cả đại pháo được tuôn vào làng mạc hai bên bờ sông để thị uy. Từng hồi từng hồi tiếng đạn xé toạc vào không gian, rit dài trong không khí và nổ liên hồi vào làng mạc, vườn cây, vang rền giữa đêm khuya tĩnh mịch. Tiếng động cơ, tiếng sóng vỗ xô vào hai bên bờ nước làm chim vườn xao xác. Tàu Tây xuất hiện suốt tháng dài, qua lại trên sông rồi khuất dần theo dòng chảy mênh mông. Sau cơn ruồng bố, sông lại bình thản trôi trong màn đêm tĩnh mịch. Màn đêm phủ dài trên sông, mờ mờ ánh sáng của trăng thượng tuần, những dáng cây im lìm như bóng người đang đứng trầm tư, bỗng vang lên tiếng đàn kìm réo rắt lúc nhặt lúc khoan, âm thanh rơi rớt nỗi buồn trong đêm tĩnh mịch. thỉnh thoảng có tiếng mõ, tiếng chuông từ những ngôi chùa nhỏ ven sông, chợt có tiêng súng lẻ loi, tiếng súng mồ côi của người đứng gác khi giật mình thấy tiếng động từ đám lục bình trôi. Huyện Lách sau có tên là chợ Lách, một chợ nhỏ nằm bên sông Vàm Xếp, cắt ngang cù lao Minh từ phía sông Cổ Chiên xuyên qua sông Hàm Luông, chợ có bến sông, bến đò, nhà lồng, giống như tất cả các chợ huyện miền Tây Nam bộ. Dãy nhà ven sông và hai bên hông chợ là các cửa hàng mua bán đủ thứ hàng hoá, từ mắm muối, đường sữa cho đến quần áo vải sợi. Trong nhà lồng là nơi họp chợ của những người mua bán sản vật địa phương. Buổi sáng chợ họp đông đúc, đến trưa thì họ gồng gánh ra về, chỉ còn lại những người bán ế ngồi ráng thêm để bán cho hết hàng hoá. Hai bên chợ còn có những cửa hàng cố định mua bán hàng khô bách hoá hay quán ăn, cà phê, thuốc Bắc...
2
Tại huyện, ngoài đồn quân sự chính, còn có vài bót canh, cách chợ vài trăm mét có một nhà thờ Công giáo, sát chợ có một nhà thờ đạo Cao Đài. Dưới bến sông, có cầu tàu, nơi những chiếc đò máy bằng gỗ vận chuyển hoa trái từ chợ huyện lên Sài Gòn và hàng hoá từ Sài Gòn ngược lại. Những chuyến đò chở hành khách từ chợ Lách đi Vĩnh Long, Mỹ Tho, Bến Tre và ngược lại. Trên đường bộ, con đường nhỏ cán đá, vài chiếc xe ngựa chở khách lên xuống Mõ Cày, Cái Mơn, mỗi ngày hai chuyến. Lúc tôi còn nhỏ, có lần được ngồi trên xe ngựa cùng với các sơ đi về Hoà Nghĩa, các sơ rất xinh đẹp, mặc y phục của nhà thờ trông rất trang nghiêm. Tuổi thơ chóng qua, thời gian trôi nhanh, thoắt đã mười năm, hai mươi năm....như một giấc mơ. Thời gian chồng lên từng lớp, từng lớp, đan chen như mạng nhện, lúc ẩn lúc hiện như dòng sông trôi lúc cuồn cuộn, lúc lặng lờ. Hồi đó tôi vào khoảng năm tuổi, lang thang trong mảnh vườn gần nhà, bên những liếp rẫy tươi tốt, chân không chạm trên mặt đất mịn có lẫn cát phù sa. Cha tôi đứng cuốc đất từ xa, tôi tung tăng qua từng liếp rẫy, đây là giàn đậu đũa, khổ qua, dưa leo, rồi đến liếp cà tím, cà chua trĩu cành tươi thắm. Ba tôi bản chất con nhà nông, thuở nhỏ được gia đình cho học chữ Nho, đọc sách thánh hiền, làu thông kinh sử. Khi người Pháp đô hộ, chữ Quốc ngữ bắt đầu phổ biến rộng khắp, ba tôi hưởng ứng phong trào Đông Du, hớt tóc ngắn, học Quốc ngữ, sơ học, rồi tiểu học. Ông lớn lên trong khung cảnh nửa chợ nửa quê, Tây không ra Tây, Tàu chẳng ra Tàu. Tuổi thanh niên bị cuốn vào cơn lốc của lịch sử, buồn tình, ông theo học nhạc cổ, kìm cò, trống phách. Khi lớn lên lập gia đình, ba tôi theo ghe thuyền chở trái cây từ chợ Lách lên Sài Gòn mua bán nuôi sống qua ngày. Khi rảnh rỗi, ông tham gia cùng ban nhạc cổ cúng tế ở các đình chùa. Gia đình tôi lúc đó tạm trú ở chợ huyện, vì ở quê thỉnh thoảng lính Tây càn quét Việt Minh, súng đạn không bao giờ phân biệt chánh tà, không biết ai là dân thường, ai là kẻ địch. Để bảo vệ vợ con, ba tôi xin ở tạm chợ huyện, nhờ biết chữ Quốc ngữ, ba tôi được làm thu thuế chợ. Cuộc sống tạm ổn, nhưng ở một góc khác của thế sự bấy giờ, lại bị lực lượng Việt Minh xem là thành phần hợp tác với chính quyền đô hộ. Mỗi sáng, tôi theo ba tôi dạo chơi dọc bờ sông bến chợ, xem cá nược đua lũ lượt, xong về gần nhà tụ với bạn bè trang lứa, vui đùa trước sân nhà thờ huyện. Những nét vẽ đầu tiên 3
của tôi là cầm viên gạch vụn vẽ ngôi nhà thờ trên sân và những mái nhà ngói xa xa sau những lùm cây. Có lúc tôi vẽ dáng ba tôi đang cuốc đất... Trong ký ức của tôi, hình ảnh những con cá nược trọc đầu bơi theo ghe xuồng trên sông rất là ngộ nghĩnh. Thời gian sau, nghe đâu cá nược bị lính canh dùng súng bắn chết nhiều nên chúng không còn về bơi đua theo ghe xuồng nũa. Cho đến bây giờ, dòng sông đã vắng bóng cá heo nước ngọt, những sinh vật hiền hoà thông minh và thích giúp người. Cuộc sống tưởng đã yên bình như dòng sông trôi theo con nước lớn ròng, tuổi thơ vô tư trôi theo thời gian Rồi đến một ngày, kháng chiến Việt Minh lại tấn công vào chợ huyện, lửa đạn tràn ngập, nhà cháy, người chết, người bị thương, phố chợ tan tác. Gia đình tôi lại di chuyển, cả nhà bồng bế nhau xuống tam bản cùng vài gia đình hàng xóm bơi về Vàm Xếp, qua bên kia sông Cổ Chiên, xin tá túc vào một ngôi chùa Cao Đài nhỏ ở ven sông, bỏ lại sau lưng những tràng dài súng đạn liên tiếp vang vọng trong đêm. Sông đêm vẫn âm u, tiếng nước vỗ vào mạn ghe, tiếng thở dài mệt nhọc của những người lớn. Tiếng súng nổ xa dần, chiếc ghe lao nhanh về phía trước, lướt qua lau sậy, bờ dừa nước, tiến về phía bến sông có vài mái nhà lụp xụp cạnh lò gạch cũ đã bỏ phế nhiều năm. Lần lượt năm ba xuồng tam bản cùng cảnh chạy loạn ghé vào, sau khi trao đổi về tình cảnh của đoàn với người dân trên bờ chợ Cả Kè, chúng tôi chuyển vật dụng lên bờ và kéo nhau về lò gạch nơi có người chờ phân chia chỗ ở. Sáng hôm sau, mọi người giới thiệu với nhau và kể nhau nghe chuyện nơi trận chiến xảy ra và cùng nhau bàn phương cách để sống. Bên kia sông vẫn còn vài tàu chiến mũi bằng chạy dài theo bờ sông, thỉnh thoảng bắn vài loạt đạn vu vơ về phía khu vườn.
4
5
6
Chợ Cả Kè nằm cặp theo bờ sông Cổ Chiên, có con rạch nhỏ chảy vào đất liền, dẫn phù sa tưới mát cho đồng ruộng. Ở đây, có một chùa Cao Đài và một đồn lính nhỏ. Chợ nhóm chừng vài mươi người mua bán rau cải, tôm cá và vài hàng bánh dân dã. Chợ họp đến mười giờ chợ tan. Má tôi cùng chị tôi cùng làm bánh bò, bánh da lợn mỗi sáng đem ra chợ bán. Ba tôi mỗi chiều về thường kéo đàn cò cùng ban nhạc lễ. Hằng ngày, ba tôi bơi xuồng giăng lưới kéo cá ven sông nuôi sống gia đình. Cuộc sống gia đình tôi đúng là ba chìm, bảy nổi, bốn lênh đênh. ở Cả Kè được năm tháng, cả đoàn người phải bỏ lò gạch chuyển lên Phú Phụng. Về ở Phú Phụng bốn tháng, thấy cuộc sống không yên ổn, cả nhóm gồm mười gia đình kéo nhau về Vĩnh Long tìm nơi dựng lều trại để sống. Nơi đó là rạch Cá Trê, cách chợ Vĩnh Long hơn hai cây số. Về sống nơi gọi là ngoại thành nhưng không xa chợ lắm, trong khi người lớn lo tìm kế mưu sinh thì với tôi, đó là niềm vui, sự hào hứng, hân hoan khi tách khỏi ruộng vườn hoang vắng, ẩm ướt sình lầy, được nhìn thấy đường sá thênh thang, nhà cao cửa rộng, xe cộ tấp nập, chợ búa đông đúc. Cha tôi lại nhập vào nhóm đàn ca đình chùa, tối tối lại đi câu, kéo lưới. Má tôi và chị tôi mua cối đá xay bột làm bánh bán mỗi sáng cho bà con thôn xóm. Xóm nhà tôi ở dọc bờ một con rạch nhỏ, là nhánh từ sông Thiềng Đức chảy vào. Sông Thiềng Đức là một nhánh của Cổ Chiên, chảy cặp theo chợ Vĩnh Long chảy về Long Hồ và chia ra nhiều nhánh nhỏ, trong đó, một nhánh gọi là rạch Cá Trê. Cặp sông Thiềng Đức thỉnh thoảng có vài chiếc tàu Tây neo đậu gần chợ Cầu Lầu. Bà con ở xóm cầu Cá Trê thương các gia đình chạy loạn nên cho mọi người che những chòi lá dọc bên đường phía bờ sông, bên kia đường là những ngôi nhà khang trang của các thầy Thông, thầy Ký, thầy Giáo, y tá. Sau các dãy nhà là bờ vườn, bờ ruộng, có cả sân bóng đá dành cho dân trong xóm, gần chùa Cao Đài, Xã cất lên một rạp hát cải lương bằng tôn, vách lá, hàng tháng có đoàn về đây biểu diễn. Má tôi là một người phụ nữ đặc biệt, vốn xuất thân từ con nhà quan. ông ngoại tôi từ bỏ triều đình Huế về chợ Lách lập nghiệp, má tôi con dòng sau, tuy không được đi học nhưng má tôi được sinh ra trong gia đình lễ giáo, công ngôn dung hạnh vẹn toàn. Bà thuộc thơ Lục Vân Tiên, dạy con bằng những câu ca dao tục ngữ được truyền từ bà ngoại. Má tôi làm bánh rất khéo, bánh bò, da lợn, bánh đúc, bánh bèo, bánh tét được má tôi làm bán hằng ngày là nguồn 7
sống để nuôi anh em chúng tôi ăn học. Sau những giờ tần tảo mua bán, mỗi tối khi rạp hát có đoàn cải lương về thì bà đi xem không bỏ sót một đêm nào. Bà là người mê cải lương nhất xóm, tôi và chị tôi là hai khán giả theo đuôi. Tuổi thơ tôi hồn nhiên như cây cỏ theo năm tháng lớn lên trong vòng tay đùm bọc của gia đình. Ngoài những giờ học ở trường, những trò chơi của tuổi thơ vẫn còn đậm trong ký ức. Những đánh đáo, bắn đạn cu li, nhảy tràm, nhảy dây, đánh trỏng, hay những buổi đá banh, đẩy cây, bắt dế, thả diều, vật lộn và vui nhất là theo các bạn lớn hơn đi bắt cá lia thia về nuôi... Một thế giới với nhiều ước mơ, như một giấc mộng đẹp tràn đầy trong ký ức, mặc dù cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn, hằng ngày những chiếc xe quân sự vẫn chở lính ào ạt đi qua. Tầng tầng lớp lớp kỷ niệm như chồng chất lên nhau với màu sắc của tuổi thơ qua từng nét vẽ, những nét vẽ nguệch ngoạc trên nền đất hay những trang giấy cũ. Màu vàng của bông vạn thọ, màu xanh lá ớt, màu tím trái mồng tơi, màu đen than lọ nghẹ..., lớp lớp chồng nhau rồi tan biến dần trong ký ức. Những nét vẽ thơ ngây của một thời lem luốc hồn nhiên như những trò chơi con trẻ, những bàn cờ nhảy, cờ chó, cờ ca rô giống như những ký hiệu ngày xưa khi con người muốn ghi nhớ, đánh dấu thời gian khi chưa biết dùng chữ viết. Trường tôi học nằm cạnh sông Cái Cá. Vốn là ngôi đình cổ, mỗi ngày dưới bóng mát tàn cây, nhìn ngôi trường mái ngói rêu phong với kiến trúc nhà rường, các hoành phi câu đối hai bên, ngôi đình trông rất uy nghiêm. Ngoài việc dạy học theo chương trình giáo dục, thầy cô giáo thương yêu học trò như con ruột, chỉ dạy bảo ban cách sống, cách đối xử nhân ái với mọi người bằng những câu truyện kể, chuyện cổ tích Đông Tây. Từ đó tôi biết được thêm Cậu bé tí hon, Đôi hia bảy dặm, Cây đèn thần, Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Cô bé lọ lem, ngoài những chuyện Tấm Cám, Thạch Sanh Lý Thông, Phạm Công Cúc Hoa, Chàng nhái Kiển Tiên, Nàng Út ống tre mà hằng ngày tôi đọc cho má tôi nghe. Học trò vừa ham học vừa kính yêu thầy, tôi còn nhớ những thầy cô yêu quý như Thầy Tôn, Thầy Thích, thầy Vi, cô Lĩnh... Cô Lĩnh sau này là một nhà văn lớn của văn chương miền Nam, bút danh Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, những tác phẩm như Khung Rêu, Mèo Hoang, đoạt giải văn học trước 1975. Thầy Tôn, ngoài nhà giáo còn là nhà thơ. Mới vào năm đầu tiên tôi được 8
học với thầy, thấy tôi viết chữ đẹp, thầy nhờ tôi chép hàng trăm bài thơ của thầy vào cuốn sổ bìa cứng simili. Mỗi ngày, ngoài giờ học ở trường, tôi ngồi nắn nót từng chữ từng câu thơ của thầy, đọc được những cảm xúc tâm tình của con người ưu tư với cuộc đời và thời thế. Sân trường là sân đình nên rất rộng, giờ thủ công thực hành, chúng tôi được thầy cô hướng dẫn trồng rau cải, bông hoa từng ô từng lớp. Dưới tàn cây phượng già, có bán quà ăn sáng, ăn trưa. Hôm nào có ít tiền cùng bạn bè ăn kem, ăn gỏi đu đủ, hay nước đá bào xi rô rất ngon. Hằng tuần, trường phát vé xem phim cho học sinh giỏi, vé bán cho những bạn nào muốn xem ở rạp chiếu bóng dành riêng cho học sinh ở Ty tiểu học. Trước khi xem phim, được thầy giáo tóm lược nội dung. Tuổi thơ chúng tôi được mở mang thêm nhiều thế giới diệu kỳ khác qua những phim truyện nước ngoài như Tarzan, Zorro, Người nhện, Samson... Từ mái trường làng, ấn tượng cao đẹp của thầy cô giáo cho đến những bài học giáo dục từ Quốc văn giáo khoa thư, những câu chuyện cổ tích, chuyện Cái lưỡi, chuyện Sờ voi, Tô canh hẹ... giúp cho chúng tôi biết ơn người nông dân, người dệt vải, những con người sống và cống hiến cho cuộc đời cũng như biết quý trọng thời gian qua chuyện ống chỉ thần... Những năm tiểu học ở Tân Giai là những kỉ niệm khó quên của thời thơ ấu. Mỗi năm hè về, trường tổ chức thưởng cho học sinh giỏi bằng những chuyến du lịch Vũng Tàu hoặc Sài Gòn hay dự tiệc cây mùa xuân và lãnh quà tại dinh Tỉnh trưởng vào dịp Tết đến. Đây chính là hình thức lấy lòng dân của chính quyền bảo hộ hay đó là văn hoá của phương Tây ? Trẻ con chúng tôi chỉ biết đón nhận với niềm vui hồn nhiên vô tư khi lịch sử dân tộc chuyển biến từng ngày. Tiếp xúc những không gian mới lạ, những phong cảnh xinh đẹp của quê hương đất nước, giúp cho tôi thêm nghị lực, quyết chí học hành, mở mang kiến thức với nhiều hoài bão, nhiều ước mơ. Với tôi, lúc đó Sài Gòn là thành phố tươi đẹp sầm uất, ánh sáng rực rỡ, nhà cửa khang trang như mời gọi, như thúc giục. Tốt nghiệp Tiểu học xong, tôi cùng vài người bạn rủ nhau đăng ký thi vào trường Kỹ thuật Cao Thắng Sài Gòn. Cuối năm lớp nhất, trước khi rời trường tiểu học Tân Giai tôi được chọn đóng vai phò mã trong một vở kịch do cô Thuỵ Vũ viết kịch bản trong buổi lễ bãi trường, một kỷ niệm tuyệt đẹp vẫn còn mãi trong ký ức của tôi nơi mái trường thân thương của tuổi học trò. Năm 1954, tôi đậu 9
vào trường Cao Thắng, mở đầu cho cuộc phiêu lưu bằng con đường học vấn ở Sài Gòn với nhiều mơ ước lớn. Năm đó tôi vừa mười hai tuổi. Bấy giờ , gia đình chúng tôi còn rất nghèo. Cái chòi lá xập xệ ngày xưa được nới rộng hơn một chút, tôi có thêm bốn đứa em, tuy nghèo nhưng ba má tôi vẫn lo cho các con được tới trường. Việc tôi đi học ở Sài Gòn cũng là thêm một gánh nặng cho gia đình. Thời gian trôi qua, những ký ức rồi cũng dần phai, nhưng những suy tưởng thì cứ lớn lên, cứ thay đổi từng ngày như dòng sông trôi, từ suối nguồn qua ghềnh thác, thành sông mẹ rồi trôi ra biển cả. Dòng sông trong tôi vặn mình theo thời đại lịch sử, lúc thịnh lúc suy, lúc lớn lúc ròng. Hồn nước hoá thân thành mây gió muôn phương. Tiếng nước chảy rì rào, tiếng sóng vỗ rì rầm, tiếng gió thét mưa gào hoà quyện cùng nhịp đập đất trời vô tận .Uống một ngụm nước giữa dòng sông lớn, cảm nhận sự ngọt ngào muôn thuở, lan toả tình thương yêu bất tận của cuộc đời. Có khi ngồi yên lặng bên dòng sông đêm, lắng nghe hơi thở của đất trời trong đêm tĩnh lặng, tôi thường tự hỏi mình là ai? đâu là thân phận, là số mệnh của một kiếp người hữu hạn trong cái vô hạn của trời đất ? Cuộc sống thật mong manh, từng khoảnh khắc trôi qua trong chiến tranh, trong nô lệ, trong dòng chảy của lịch sử. Đầu năm học, ba tôi đưa tôi lên Sài Gòn tìm nhà quen cho tôi tá túc. Học trường công không phải tốn tiền học phí, nhưng gia đình vẫn phải lo tiền ăn hàng tháng cho tôi. May mắn năm sau, nhờ chăm chỉ cố gắng, tôi được lãnh học bổng, bớt phần lo của gia đình. Tuy môn học kỹ nghệ hoạ không đúng ý thích của tôi, những cũng giúp tôi rèn luyện kỹ thuật và ổn định chuyện học hành ở một đất nước còn nghèo, còn lạc hậu. Được nuôi dưỡng trong một môi trường giáo dục mới mẻ cũng là một diễm phúc. Giai đoạn lịch sử đất nước bấy giờ bị chia đôi. Việt Nam nằm trong thế chiến tranh ý thức hệ của các cường quốc. Dân chúng Sài Gòn và miền Nam đón hai triệu đồng bào miền Bắc di cư. Đất nước đình chiến, cuộc sống tạm ổn định, trí thức văn nghệ miền Bắc di cư vào Nam tham gia vào việc giáo dục, một số là những nhà văn nhà thơ nổi tiếng từ miền Bắc vào, một số từ nước ngoài trở về. Học được một năm, tôi biết mình lầm khi thi vào Cao Thắng, nhưng với đầu óc non nớt trẻ thơ, tôi suy nghĩ cứ học đi, tương lai sẽ tính sau. Tôi cố gắng chăm chút từng giờ học vẽ ở trường. Đầu tiên tôi được học với thầy Thịnh Del (Mỹ thuật Paris). Năm sau, gặp thầy U Văn An (Mỹ thuật Đông Dương), Thầy Trần Kim Hùng, cô Trương Thị Thịnh (Mỹ thuật Gia Định).. 10
Ngoài chương trình mỹ thuật căn bản hội hoạ, các thầy cô còn là các hoạ sĩ, gợi mở cho tôi hiểu thêm về nghệ thuật, sáng tạo. Những câu chuyện về nghề nghiệp, về kinh nghiệm sáng tác cũng như hình ảnh, cuộc đời sáng tạo, tác phẩm của các danh hoạ thế giới như Matisse, Renoir, Picasso, Gauguin, Van Gogh, Chagall mở cho tôi một thế giới nghệ thuật mới mẻ, phong phú và diệu kỳ. Tháng ngày theo gia đình trôi dạt khắp nơi, tuổi thơ mơ màng lặn ngụp, bơi lội các dòng sông trong nhũng ngày khói lửa bom đạn đã dần xa.. Tôi bây giờ một thân một mình giữa Sài Gòn đô hội, có lúc bị bệnh, bị đánh oan, phải tự chịu đựng, tự sống còn trong không gian mới, nơi không chỉ có giàu có xa hoa mà còn có nhiều con người sống trong nghèo khó đau khổ, còn có những mảnh đời cùng cực mà tôi đã gặp, đã chia sẻ, cả trong những lúc cuộc đời mình cũng chẳng hơn gì. Dòng sông ký ức đã lùi xa, những cánh đồng lúa ngát thơm, những khu vườn xanh mát rượi, những cánh diều căng gió tung tẩy giữa bầu trời đã khuất dần trong tâm hồn của tuổi thơ. Con đường của mộng mơ vẫn còn xa tít, chỉ còn lại những con hẻm tối tăm, những đôi nước nặng oằn trên vai và những buổi cơm chiều nhạt thếch vì nỗi nhớ nhà mơ hồ như con đường xa tít tắp. Ngoài việc học vẽ ở trường, tôi được học văn với thầy Nguyễn Thiệu Hùng, một nhà thơ từng đạt giải thưởng với bút danh Mai Trung Tỉnh. Thầy hướng dẫn chúng tôi đến thư viện chọn sách đọc để hiểu thêm về giá trị văn học, sức mạnh của việc mở mang kiến thức và tìm hiểu về các tác phẩm văn học trong nước và thế giới. Vì vậy, ngoài giờ học ở trường, tôi thường xuyên tới các nhà sách Khai Trí, Xuân Thu, thư viện Hoa Kỳ để tìm hiểu thêm nghệ thuật, lịch sử mỹ thuật thế giới. Sách mỹ thuật Việt Nam bấy giờ xuất hiện hiếm hoi, thiếu hẳn những bài bình luận, nghiên cứu phê bình, chỉ thấy những Tìm đẹp, Tìm hiểu hội hoạ, Câu chuyện Hội hoạ... Nhưng những câu chuyện dân gian về Trạng Quỳnh, Hoạ long điểm nhãn, Người đẹp trong tranh, Bích câu kỳ ngộ và những câu chuyện về cuộc đời các hoạ sĩ là những hành trang giúp tôi có cái nhìn về nghệ thuật, đó là sự sáng tạo, sự tìm kiếm của người nghệ sỹ trên con đường trở về bản ngã, trở về cội nguồn trong sâu thẳm của sự sáng tạo, của tâm hồn, chớ không chỉ là sự cần cù, khéo tay, góp phần hình thành trong tôi sự đam mê, dấn thân vào niềm yêu thương tuyệt đối trên hành trình nghệ thuật, một con đường đi không có điểm đến. 11
Một buổi sáng ở trường như mọi ngày, tôi cùng bạn bè tới cổng trường. Thật kỳ lạ, nhiều xe đạp với móc khoá đầy cổng, giấy thông báo viết nguệch ngoạc. Nghỉ học, xuống đường, số đông ùn ùn kéo theo gậy gộc, dây xích khoá xe, kéo về hướng Đại học Văn khoa. Phần đông không hiểu đầu đuôi chuyện gì xảy ra, không hiểu mình đang làm gì? Nhưng khí thế sôi nổi rầm rập của tuổi trẻ lôi kéo từng đoàn, từng đoàn. Có lẽ một số người hiểu được vì họ là đạo diễn khích động phong trào tuổi trẻ, còn chúng tôi chỉ là những lũ trẻ hào hứng theo đuôi. Có nhiều xe ba gác chở nước, bánh mì tiếp tế cho đoàn biểu tình, tôi hoà theo dòng người được một đoạn, rồi rẽ về hướng thư viện, tách khỏi đám bè bạn đang hừng hực xuống đường. Thời gian học quân sự ở trường, tôi may mắn nhờ khả năng biết vẽ nên chỉ lo vẽ minh hoạ các loại vũ khí cho cán bộ giảng dạy mà khỏi phải học trườn bò lê lết ngoài sân tập như các bạn bè. Đường là Đạo, đường là đời, con đường cuộc đời dẫn tôi đi qua muôn ngã, nó quanh co, chằng chịt rồi lại thênh thang, đường ngay thẳng rồi lại gập ghềnh khúc khuỷu. Tôi năm tuổi, tay cầm viên gạch vụn kéo nét vẽ đầu tiên trên nền sân nhà thờ cổ, say mê vẽ cái đẹp của thiên nhiên, hay những trang vở đầy ắp mộng mơ những hình phác hoạ để rồi lần mò vào môi trường nghệ thuật như đang bơi, bơi mãi giữa dòng sông mênh mông với nỗi cô đơn khắc khoải không rời. Mùa mưa lại về, những cơn mưa đầu mùa ào ạt, dòng nước chảy xiết, màu phù sa đỏ rực cả dòng sông. Cá tôm kéo về, ba tôi đi giăng lưới kéo cá, thỉnh thoảng gửi cho tôi nhũng ơ cá kho khô hay những lon tôm chấy. Sài Gòn những năm sáu mươi ba đầy biến động, không khí u ám buồn bã, tin chiến sự, tin chính trường tràn ngập trên các trang báo. Cuộc chiến tăng dần nhịp độ từ Bến Hải cho đến Cà Mau, các cuộc biểu tình xảy ra liên tục, công chúng tham gia không chỉ có sinh viên học sinh mà có cả nhà báo, tu sĩ... Mỹ đem cả bộ máy tinh nhuệ vào Việt Nam, các tụ điểm của Cố vấn Mỹ bị đánh chất nổ. Các phong trào chống Mỹ xảy ra khắp miền Nam. Sinh viên học sinh bị bắt vào các trường quân sự. Tuổi trẻ với nhiều mơ ước đành ngưng lại, tương lai mờ mịt đen tối. Chiến tranh bắt đầu nổ ra, tuổi trẻ đứng trước cuộc chiến đành phải chọn lựa, một số bỏ lên rừng, vô bưng tham gia kháng chiến, một số bị bắt quân dịch, cầm súng cho kẻ cầm quyền, một số không chấp nhận cuộc chiến, chém vè, trốn tránh trở nên lực lượng phản chiến. Tôi rời trường Cao Thắng, học thêm hai năm ở Bách khoa Phú Thọ và cũng nằm chung trong số phận những kẻ lừng khừng chán ghét chiến tranh. 12
13
14
Có lúc tôi tự hỏi, tôi là ai? Tôi đang ở đâu và sẽ đi về đâu? Tâm trí rối bời và những cảm xúc chồng chất không kiểm soát. Sức sống trong mỗi con người cần được nuôi dưỡng, vun bồi. Cảm xúc cũng cần được khơi dậy thông thoáng thì sự sáng tạo sẽ bùng vỡ tự thân. Tôi lần hồi bỏ hết những sự khéo léo, bỏ hết những trò múa chữ múa bút để trở về sự ngây thơ hồn nhiên, như đứa trẻ vẽ nhũng nét giản đơn kiểu những người cổ đại vẽ trên vách đá trong hang động với những xúc cảm trong suốt như mạch nước nguồn lần qua đá sỏi tràn về bình nguyên. Tôi vẽ, bôi xoá rồi lại vẽ, lại bôi xoá, hân hoan hào hứng với những màu sắc nhảy múa như những cơn lên đồng. Có đôi khi ngồi ngắm lại, cảm giác như mình đang đi lạc đã rất xa, rất xa. Để tránh việc bị bắt đi Thủ Đức, tôi cùng vài người bạn đăng ký vào Không quân ngành cơ khí với mục đích được sang Mỹ học, nhưng rủi thay năm đó họ lại tổ chức huấn luyện ở Việt Nam thay vì ở Mỹ như các khoá trước, vậy là tôi vẫn loay hoay với các bản vẽ kỹ thuật, mặc cho thế sự xoay vần. Xong khoá huấn luyện năm 1964, tôi bị chuyển về Đà Nẵng và một cuộc sống mới bắt đầu. Sau thời gian học xong cơ khí hàng không tại Sài Gòn, tôi được chuyển về phi trường Đà Nẵng. Trong thời chiến tranh, Đà Nẵng là một cứ điểm quân sự quan trọng ở miền trung, là nơi hội tụ nhiều thành phần hoạt động trong xã hội, nơi giao lưu của nhiều tầng lớp trí thức văn nghệ sỹ. Vừa qua tuổi hai mươi, tôi bắt đầu đọc sách Phật giáo, lịch sử Thiền tông, Góp nhặt cát đá, thơ văn Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Krisnamurti, Suzuki, Nhất Hạnh, Nguyễn Hiến Lê.... hiểu thêm về thân phận con người, tôi thấy mình bớt bi quan, bớt bế tắc trên con đường đi tìm chân lý. Tôi lao vào vẽ, vẽ để quên đi nỗi cô đơn, vẽ những nỗi buồn sâu kín trong tâm hồn, vẽ để tìm thấy chính mình, trở về với nhưng vui buồn đau khổ của một kiếp người, đón nhận từng khoảnh khắc cảm xúc của cuộc đời đang sống. Đà Nẵng bấy giờ đang trong cơn bão dữ, chiến tranh, bom đạn, dân chúng biểu tình đem cả bàn thờ giăng đầy đường phố, vết xích xe tăng xé nát mặt đường. Lính Mỹ, gái điếm ngập đầy phố xá. Không gian ngập ngụa sự chán chường, buồn bã, không có con đường nào bùng thoát khỏi số phận, tôi vẽ như điên cuồng . Tác phẩm là những hàng dừa cụt ngọn, những cô gái với nỗi buồn chất ngất, những bức tranh bắt nguồn từ cuộc sống hiện tại như minh chứng cho sự có mặt của tôi trong thời điểm đó. 15
Sống ở Đà Nẵng nhưng tôi vẫn luôn nhớ Vĩnh Long, nhớ con đường từ rạch Cá Trê ra cầu Công Xi Heo rồi đến chợ Vĩnh Long. Đoạn đường cong cong có nhà vẽ của hoạ sỹ Quí Hữu, ngoài vẽ bảng hiệu chữ nổi hình khối ba chiều sắc sảo, ông còn vẽ phong cảnh, tranh thờ. Mỗi lần đi qua nhà vẽ, nhìn ông làm việc, tôi vô cùng thán phục. Thời gian gia đình tôi sống ở đây, ông thường lui tới uống cà phê ở quán Đỡ buồn, tôi mới biết thêm ông vốn từ Sa Đéc- Đồng Tháp chuyển về. Ông là người khéo léo, hiểu biết chuyện đời, nói chuyện rất thu hút, ông còn là người đại diện đàng trai đi cưới vợ cho tôi sau khi ba tôi đã qua đời. Ngoài nhà vẽ Quí Hữu, tôi còn gặp một hoạ sĩ vẽ chân dung thường ngồi vẽ trước tiệm hớt tóc Tòng Bá ở chợ Vĩnh Long. Hoạ sĩ này chỉ có mặt vài tháng ở Vĩnh Long rồi di chuyển qua tỉnh khác. Trường tiểu học Tân Giai có một giáo viên dạy vẽ cho học sinh là thầy Trần Hổ, tôi được ông dạy vẽ cơ bản và thường đến nhà xem ông vẽ tranh, sau này lớn lên, tôi về Vĩnh Long mời ông tham gia triển lãm chung ở Cần Thơ. Lúc tôi học ở Sài Gòn biết thêm một hoạ sĩ tài hoa gốc Vĩnh Long là Hoạ sĩ Lê Mậu. Ông học Mỹ thuật Biên Hoà, sau đó, chuyển ra học Mỹ thuật Đông Dương. Ông dạy Mỹ thuật Biên Hoà, Gia Định cho đến lúc về hưu. Trước năm 1975, miền Tây Nam bộ có rất nhiều hoạ sĩ tài danh. An Giang có hoạ sĩ Hà Khê; Cần Thơ có Trần Đình Nghĩa; Trà Vinh có hoạ sĩ Văn Đen; Mỹ Tho có hoạ sĩ Nguyễn Thị Tâm... Sau 1975, hai miền thống nhất, nhiều hoạ sĩ gốc miền nam từ miền bắc về như Diệp Minh Châu, Ca Lê Thắng, Nguyễn Sáng, Thanh Châu, Trần Trung Tín....Số lượng hoạ sĩ càng ngày càng đông đảo. Vùng đất phù sa sản sinh nhiều tài năng nghệ thuật sáng danh trong nước và thế giới như hoạ sĩ Lê Văn Đệ từng đoạt giải La Mã. Tôi mang ơn cô Băng Lĩnh, thầy Tôn, thầy Trần Hổ, những người đã khơi mở tâm hồn nghệ thuật cho tôi và tôi dấn thân vào đó như một cái nghiệp đeo đẳng suốt đời. Chiến sự ngày càng lên cao, đêm giao thừa Tết Mậu Thân tôi và vài người bạn lang thang giữa phố Đà Nẵng. Tiếng súng nổ rền vang hoà cùng tiếng pháo, những thân người ngã xuống, chúng tôi hốt hoảng chạy giữa làn mưa đạn. Tiếng nổ trước mặt, tiếng rít sau lưng, xen lẫn tiếng còi xe cấp cứu. Tôi như đi trong cơn ác mộng, từng dãy, từng hàng băng ca sắp dài hành lang bệnh viện Duy Tân Đà Nẵng. Những thân người cháy nám, những cơ thể oằn oại đau đớn, người băng đầu băng bụng, người đứt hẵn cả hai chân, những thân thể nhàu nát, những đôi mắt hốt hoảng trợn trừng. Chẳng thể nào thể hiện hết những nỗi đau tàn khốc của chiến tranh, sự chết chóc, sự đau khổ bủa vây đầy trên mặt đât mà chúng tôi đang sống. Mang nỗi 16
đau đó, người bạn của chúng đã thực hiện bức tranh Chứng tích triển lãm ở Sài Gòn làm xao động giới hoạ sĩ, báo chí lúc bấy giờ. Sau bốn năm ở Đà Nẵng, tôi xin chuyển về Cần Thơ. Như nước về nguồn, giang hồ lưu lạc nay trở lại quê nhà,lòng tôi vui vô kể. Những năm tháng ở Đà Nẵng, không gian trải dài nửa phần đất nước, tôi đã ngắm nhìn đất nước quê hương với bao nỗi buồn vui. Từ trên cao nhìn xuống màu xanh bát ngát của núi rừng, màu hồng của đất đai , màu vàng của đồng ruộng, những mảng màu tươi xanh xen lẫn những ô vuông dài ngắn của phố xá nhà cửa như một bức tranh tuyệt đẹp với nhiều màu sắc thay đổi theo thời gian, tôi thấy lòng mình bồi hồi xúc cảm. Tiếc thay lịch sử khắc nghiệt, chiến tranh tàn khốc đã huỷ diệt từng ngày, từng ngày, hàng tấn bom đạn đã đổ xuống tàn phá quê hương. Buổi xế ở quán cà phê Mây Hồng, bạn bè tụ họp, điểm danh ai còn ai mất, hay kể chuyện xảy ra hằng ngày trên mảnh đất mình đang sống. Có lần người bạn kể chuyện nhà thơ Luân Hoán trong một lần áp tải tù binh từ tiền đồn về thị trấn, đến một đoạn đường hoang vắng gồ ghề, anh cao hứng bắn súng chỉ thiên và thả cả ba người tù binh chạy trốn vào rừng. Với chúng tôi, chiến tranh vô cùng phi nghĩa, chẳng ai muốn cầm súng bắn giết anh em cùng giòng máu, cùng màu da, cùng dân tộc mình, nhưng cái chết vẫn xảy ra hằng ngày, hằng giờ, nỗi đau thương như bao trùm khắp xóm làng khi súng đạn nổ vang. Xe vẫn chạy, bụi cuốn lên mù mịt, những người bạn nhìn nhau buồn bã, biết bao giờ cho hết chiên tranh. Làm thế nào để thoát khỏi không gian mờ mịt u ám của cuộc chiến? Những quyển sách, những câu kinh, những đạo đức, những hoà ái, những bài học ở trường như tan vỡ trong tôi. Tôi đang trốn chạy hay tìm đường thoát? Tôi là ai? tôi phải làm thế nào? tôi là người khách lạ trên quê hương hay là chứng nhân của lịch sử, tôi rối bời trong đám bùng nhùng của ý tưởng và cuộc sống cứ đẩy tôi trôi. Về Cần Thơ, tôi như cá gặp nước. Tôi trở về với dòng sông đầy ắp phù sa, về với bao kỷ niệm thuở ấu thơ. Tôi gặp gỡ bạn bè, anh em văn nghệ. Tôi lao vào sáng tác, những tác phẩm mang nỗi buồn, dấu ấn thân phận con người trong cuộc chiến. Tôi tìm thấy sự thức tỉnh trong sáng tạo, sự thánh thiện và bình an trong từng nhát cọ. Tôi tìm thấy sự truyền đạt bằng ngôn ngữ yêu thương của màu sắc. Tôi đọc thêm nhiều sách, gặp thêm nhiều người. Dường có sự thúc giục nào đó trong tôi, giúp tôi thêm nhiều niềm tin vào con đường mình đang tới. miền Tây tương đối yên tĩnh hơn, các cuộc chiến không khốc liệt như miền Trung, dù lính Mỹ và các 17
cố vấn Mỹ cũng hiện diện khắp phố. Năm 1970, tôi tổ chức triển lãm tại Thư viện Vĩnh Long. Sau đó, triển lãm nhóm tại Cần Thơ, Năm 1971, tôi triển lãm cá nhân tại Trung tâm Văn hoá Mỹ tại Cần Thơ. Năm 1973, triển lãm cá nhân tại trường Phan Thanh Giản. Sau mỗi cuộc triển lãm, tôi có thêm nhiều bạn bè văn nghệ. Trong đó, có một số hoạ sĩ như Nguyễn Thân, Ngô Bá Đản, Trần Đình Nghĩa và quen biết thêm nhiều nhà văn nhà thơ như Ngô Nguyên Nghiễm, Trần Hoài Thư, Trịnh Bửu Hoài, Trần Kiên Thảo. Chúng tôi cùng nhau thành lập quán Góp Gió để anh em văn nghệ có nơi họp mặt, giới thiệu sáng tác.Đặc biệt là quen biết thêm nhà thơ Chu Tấn và hoạ sĩ Ngy Cao Uyên. Hoạ sĩ Ngy Cao Uyên làm việc ở Cần Thơ nhưng thường xuyên về Sài Gòn hoạt động nghệ thuật, ông là một trong những người thành lập Hội hoạ sĩ trẻ Sài Gòn. Tôi gặp ông cũng là một duyên may, ông đã giúp đỡ cho tôi có môi trường để sáng tác. Ngoài giờ rảnh, ông cho phép tôi đến nhà xem kho sách về nghệ thuật thế giới mà ông đã sưu tầm, đã mua gần ba tấn sách từ Mỹ mang về. Nhờ có ông, tôi không cần phải có mặt ở phi trường, ba bốn tháng, tôi chỉ vô trình diện một lần, còn bình thường tôi ở nhà sáng tác và hoạt động văn nghệ, báo chí cùng với bạn bè. Lúc đó, Góp Gió là một quán cà phê nằm bên bờ sông Cái Khế, ngay chợ Mít Nài, là nơi để anh em văn nghệ lui tới, đủ mọi thành phần, sinh viên học sinh, lính tráng, kể cả những anh em trốn lính, đào ngũ tụ tập hoạt động văn nghệ. Chúng tôi tổ chức in báo, đọc thơ, triển lãm và có lúc mời cả gia đình nhạc sỹ Phạm Duy tổ chức đêm ca nhạc. Anh em văn nghệ góp tiền thuê nhà làm quán cà phê Góp Gió với sự hỗ trợ lớn của Trần Như Huỳnh và hoạ sĩ Ngy Cao Uyên. Góp Gió quy tụ anh em văn nghệ Cần Thơ và cả các bạn văn nghệ giang hồ lưu lạc, trốn lính, tạo nên không gian sinh hoạt thơ ca văn nghệ thuật rất sôi động. Trong những đêm thơ, hoà nhạc, bình luận văn chương lúc đó có tổ chức cả đêm thơ Quang Dũng chủ đề Đôi mắt người Sơn Tây gây tiếng vang lớn, càng ngày anh em càng đông, Phan Tấn Thi, Vũ Hữu Định, Tường Bá, Bui Đức Long có mặt thường xuyên. Hoạ sỹ Ngy Cao Uyên sáng lập ra nhà xuất bản Con Đuông và bỏ tiền in thơ cho các tác giả Bùi Giáng, Cung Trầm Tưởng, Du tử Lê, Nguyễn Tôn Nhan, Trần Hoài Thư, Thanh Nam, Trần Dạ Từ, Hồng Lĩnh, Ngy Cao Uyên, Trần Hữu Dũng, Chu Ngạn Thư. Lúc đó, tôi là người vẽ bìa cho các tập thơ, mỗi một tập là mỗi tranh bìa, không bìa nào giống nhau, đó cũng là những kỷ niệm độc đáo mà tôi đã làm cho bạn bè văn nghệ. 18
Đất nước đang lâm vào cảnh chiến tranh khốc liệt, tôi may mắn gặp một số anh em nghệ sỹ yêu thương mở không gian sống, sinh hoạt sáng tác nghệ thuật, tôi lao vào sáng tác chỉ mong đên đáp ơn đời. Trong lòng tôi lúc nào cũng luôn nhớ ơn nhà thơ Nhân Hậu, hoạ sỹ Ngy Cao Uyên hay bạn bè thân tình như Đặng Văn Cử, Lương Bạch Mai... Cuộc đời con người là một hành trình qua bao chặng đường, có những chặng bình an dễ dàng vượt qua, nhưng có những chặng khó khăn nguy hiểm cứ tưởng có thể làm ta gục ngã, nhưng với ý chí và sự quyết tâm, chúng ta có thể chinh phục những đỉnh cao hoặc đi qua những vực sâu mà chính chúng ta đôi khi cũng không biết được. Tôi lớn lên trong một gia đình nghèo khó, lênh đênh, lăn lóc trong một đất nước chiến tranh triền miên, tiếp cận những mảnh vỡ của các nền văn hoá của những dân tộc xung quanh, tôi còn hạnh phúc gặp gỡ những người anh, người bạn giúp tôi thêm nghị lực tiếp tục niềm đam mê khát vọng của mình. Tôi vẫn vẽ, vẫn sáng tác, nhưng có lúc cũng cảm thấy lạc lỏng mơ hồ. Những cảm xúc, những mơ mộng có lúc vỡ oà trong tôi, nhưng cũng có lúc chìm khuất trong bóng đêm của trí tưởng. Đôi khi tôi tự nói với chính mình, nhưng cũng có lúc tôi buông hết đễ cho dòng xúc cảm trôi đi. Tôi vẽ, rồi lại bôi xoá, rồi lại vẽ. Những nhát bay, nét cọ cào xước trong tâm tưởng, tôi như chìm trong cơn mơ. Vẽ là niềm vui, là sự giải toả những nỗi đau cùng cực trong tôi. Tôi sợ những cơn mơ với hình ảnh người chết cháy, người rên siết trong cơn đau. Tôi sợ những đôi mắt trợn trừng, những tiếng khóc nỉ non của người còn lại. Có khi tôi như người chìm đắm trong quá khứ và lạc lỏng giữa tương lai. Có đôi khi tôi quên mất mình là ai, đang ở đâu và phải làm gì? Đọc ngàn trang sách vẫn không hiểu hết, sống ngày qua ngày vẫn không biết được sẽ sống đến đâu? Màu sắc như biến ảo, đường nét như nhập nhoà. Có lúc tôi thấy mình như trẻ thơ, cứ để những nét vẽ trôi đi trong vô thức, có lúc tôi thấy mình như người cổ xưa ghi dấu những nét khắc trong hang động xa xưa. Dòng chảy của cuộc sống đã kéo tôi trôi. Có lúc tôi quăng cọ, mê đàn, mê những câu hát, câu hò, câu kinh, câu thơ trong từng trang sách . Tôi mê say tiếp cận thu lượm mọi thứ, văn chương, bình luận, nghiên cứu, sân khấu điện ảnh.. Nhưng hình như góp nhặt mọi điều bỏ vào ba lô không đáy, Túi càn khôn vẫn mãi trống không. Nhìn lại mọi chặng đường, tôi thấy mình không có gì. Mọi thứ đều mất hút. Những khoảnh khắc trôi qua thật vô nghĩa và tôi lại tiếp tục đi tìm. 19
Cần Thơ là một tỉnh thành lớn ở miền Tây nam bộ, lác đác còn vài công trình kiến trúc từ thời Pháp thuộc. Từ khi lính Mỹ có mặt ở miền nam, Cần Thơ là điểm chiến lược quân sự có hai phi trường Bình Thuỷ và Trà Nóc. Đêm về, Cần Thơ soi mình qua mặt nước sông Hậu mênh mông. Chợ Cần thơ nép mình bên bờ sông, bến Ninh Kiều ghe tàu tấp nập. Bên kia sông, xóm chài bóng đèn hiu hắt, khu vưc này tàu chiến, tàu tuần tra qua lại lên xuống trên sông suốt ngày đêm. Trên bầu trời đêm, những phi cơ thám thính ru dài tiếng động cơ vang trong gió, cùng tiếng đại bác vọng từ xa như nhắc nhở cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn. Dòng sông Hậu hiền hoà vẫn chảy theo con nước. Mùa mưa, nước đỏ ngầu do phù sa từ nguồn đổ xuống, bỗng cuộn sóng khi những chiếc tàu chiến đi qua. Ánh sáng đèn dập sóng như những mảnh thuỷ tinh tan vỡ. Đêm dường như bất an khi những chiếc xe nhà binh nối đuôi nhau, Bình Thuỷ, Cái Răng, Cái Tắc. Trong tôi phập phòng nỗi lo khi tiếng pháo kích nổ vào phi trường. Chiến tranh càng ngày càng lan rộng. Dòng sông Hậu vẫn cuộn chảy mang đầy phù sa, tôm cá nuôi dưỡng sự sống cho con người. Dòng chảy vẫn thắm đẫm tình yêu thương đồng loại. Sự đùm bọc chia sẻ của người miền Tây rất đỗi đậm đà, nó đánh thức niềm tin yêu trong tâm hồn con người lang bạt trôi nổi của tôi . Dòng sông như lòng người luôn bình dị, bao dung, dù có lúc giận hờn phút chốc rồi cũng trở về bình thản, sông vẫn lặng lờ trôi. Con đường từ Cần Thơ về Vĩnh Long hơn ba mươi cây số, mỗi tuần tôi về thăm ba má và các em ở Cầu Cá Trê. Tôi được người bạn lúc nào cũng chuẩn bị sẳn một chiếc Honda dame đầy xăng, ăn sáng xong rồi mới lên đường.Tôi có thói quen muốn đi đâu thì đi không báo trước, bất ngờ, thình lình, có khi ở lại Vĩnh Long cả tháng, bất cần kỷ luật, bất chấp hệ thống làm việc, nêu không có sự rộng lượng và bao dung của bạn bè không biết tôi sẽ ra sao?... Sinh ra từ vùng đất phù sa, đồng bằng mênh mông nằm giữa những dòng sông bao quanh, tháng ngày đối diện và soi rọi từ dòng nước bao la sâu thẳm, dòng sông dài chất chứa bao nhiêu câu chuyện cổ tích, bao nhiêu thánh tích, huyền thoại, tôi lớn lên từ những bài hát ru, câu hò câu hát dân dã yêu thương. Như một bản trường ca bất tận dòng sông chảy miệt mài theo năm tháng, theo từng mùa mưa nắng, có lúc vơi lúc đầy, lúc ngọt lúc lợ. Tôi trôi theo dòng sông như đám lục bình trôi qua bao bến bờ, lau lách. 20
21
22
Tôi ngắm nhìn dòng sông như nhìn ngắm lại khoảng đời thơ bé, hay ngắm nhìn những cồn bãi tươi xanh. Tôi ngắm nhìn những mảng màu cày xới tung hoành trên khung vải như ngắm nhìn những cánh đồng mùa trĩu hạt, hay những khu rừng xơ xác vì chất độc khai hoang. Màu sắc đỗ tràn, những vết cắt loang lỗ trên bờ tường rêu của một thời quá khứ, hay những nét mơ hồ mờ mịt của tương lai. Tôi tự hỏi, nước trôi đi đâu? nước tụ về đâu? cũng như những bước chân đi về phía mặt trời hay đi về bóng tối. Tôi ngồi im trước khung vải trắng, chẳng tìm thấy được gì trong màu sắc u ám và buồn bã, không còn phân biệt đâu là phương hướng, Đông hay Tây? Bóng tối nhập nhoà. Có tiếng chuông chùa vang vọng trong đêm, tiếng côn trùng rả rích, dòng sông vẫn thầm thì chảy về cửa biển, đêm vẫn tịch mịch cô đơn. Những khi đứng trước khung bố trắng, có khi lòng tôi buồn vô kể, dường như tôi thấy mình đâu đó, đơn độc giữa con phố khuya, nước mắt tự dưng tuôn trào. Tôi đi như trôi không phương hướng, bỏ qua hết mọi thứ suy tưởng, sách vở, lịch sử, cuộc đời, tôi hoài nghi với mọi thứ chung quanh, hoài nghi cả chính mình…nhưng may mắn thay có lần, tôi lạc vào một ngôi chùa cổ, gương mặt hiền từ, nụ cười thanh thoát của đức Phật, bình dị và bao dung, bao la và từ bi đã khiến tôi sực tỉnh. Tôi nhìn thấy những tảng đá đã bào mòn qua thời gian, những bức tường gạch rêu bám loang lỗ nhưng những nụ cười vẫn hiền hoà an nhiên, tôi quyết định trở về nhà. Đêm đầu tiên trở về Vĩnh Long bên nhà hàng xóm có đám tang một người lính trẻ. Tiếng than khóc, tiếng thở dài, những giọt lệ rơi, tiếng pháo vọng trong đêm, tiếng máy bay vần vũ, chiến sự càng ngày càng khốc liệt, tuổi trẻ Việt Nam bị vùi chôn trong những trận chiến đầy đau thương và mất mát. Biết bao tấn bom đạn đã đổ xuống, nhà cửa làng mạc tan hoang xơ xác, biết bao gia đình đã tan tác đau đớn vì sự ra đi không biết trước. Chiến tranh, chiến tranh, tôi căm ghét vô cùng. Chiến tranh tràn lan khắp mọi nơi kể từ sau cuộc chiến Mậu Thân, thảm khốc nhất là ở các tỉnh miền trung. Mùa hè đỏ lửa ở Quảng trị biết bao thanh niên tuổi trẻ cả hai phía đã ra đi. Mỗi ngày, tin chiến sự tràn ngập trên mặt báo, bệnh viện đầy thương binh, thường dân bị chiến nạn. Nhưng người nghệ sỹ, hoạ sĩ trong mọi hoàn cảnh vẫn phải sáng tác, những tác phẩm phản chiến, phản ánh cuộc chiến tàn khốc, những bài hát mong chờ hoà bình vẫn vang lên hàng ngày. Sinh viên học sinh xuống đường đòi chấm dứt chiến tranh phản đối bắt lính. Tôi 23
vẫn không bỏ qua các cuộc triển lãm, xem tác phẩm của các nhóm hoạ sỹ, ở Sài Gòn có Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Mai Chửng, Nguyễn Thanh Thu. Ở Huế có Trịnh Cung, Đinh Cường, Trương Đình Huế, Cần Thơ có Ngy Cao Uyên, Cao Bá Minh.Các không gian Hội hoạ luôn sinh động cùng với các hoạ sĩ nước ngoài như Pháp, Đài Loan ... Vẽ là tiếp năng lượng sống cho xúc cảm tâm hồn. Xem tranh, đọc sách, nghiên cứu nghệ thuật giúp tôi thêm niềm tin cái đẹp sẽ thay đổi cuộc sống. Tôi vẽ và cứ vẽ, bất chấp mọi trường phái, xu hướng, tôi cảm thấy tôi vẽ cho chính tôi, cho chính tâm hồn mình đang chịu đựng mọi nỗi đau của quê hương đất nước đang bị chiến tranh tàn phá. Tôi vẽ cho những ước mơ, những hi vọng về tương lai bình yên, vẽ cho niềm vui và tiếng cười đùa của trẻ thơ trên cánh đồng hạnh phúc. Tôi vẽ những đền đài tan hoang nhưng vẫn thấy chồi non đang lên trên gốc cây đã cháy. Những ấn tượng, trừu tượng, lập thể chan hoà trong ánh sáng và âm thanh. Tôi như kẻ đang mơ đứng lơ ngơ giữa muôn trùng màu sắc và cứ thế, tôi trôi theo dòng nước đang trôi. Thời gian trôi qua để lại bao nhiêu dấu vết trong cuộc sống, có dấu vết phớt qua nhưng cũng có những dấu tích hằn sâu không thể nào phai nhạt trong ký ức của con người. Nhờ hoạt động văn nghệ, tôi quen rất nhiều bè bạn. Những cuộc triển lãm, những sinh hoạt, họp mặt trao đổi, những gặp gỡ sáng tác, in ấn báo chí, tôi quen được rất nhiều người đầy tài năng, đầy đam mê khắp các vùng miền. Có những người bạn rất thân như anh em ruột thịt, cùng nhau chia sẻ khó khăn đau khổ cũng như chung tay gầy dựng xã hội theo mơ ước của mình. Chúng tôi tập họp những người bạn có cùng tâm ý, góp sức, góp tiền dựng lên những hội quán Văn nghệ, Vũng Tàu có quán Nhớ, Sài Gòn có quán Mù U, Vĩnh Long có Đỡ buồn. Cần Thơ có Góp Gió, Thằng Cuội. Anh em Văn nghệ các nơi thường họp mặt ở những nơi này để giới thiệu thơ nhạc mới sáng tác, hoặc trưng bày tranh ảnh vừa hoàn thành, đó còn là nơi chúng tôi họp mặt để chọn bài in báo văn nghệ như Vượt Thoát, Sóng Cửu Long, Phù Sa, Khai Nguyên. Cần Thơ vẫn là điểm nóng của cuộc chiến, mặc dù thành phố tương đối yên tĩnh, nhưng đêm đêm pháo sáng vẫn rực lên ở lộ vòng cung. Phi truờng thỉnh thoảng vẫn bị pháo kích ầm ì. Tiếng còi xe cứu thương, xe quân cảnh vẫn giăng đầy đường phố. Những cuộc bố ráp vẫn xảy ra thường xuyên. Thanh niên trốn lính, quân nhân đào ngũ phải tìm cách lẫn trốn. Xa xa vẫn 24
vọng lên tiếng súng từng tràng như tiếng bò rống từ các phi cơ tập kích vào các làng mạc liên hồi. Tuổi trẻ chúng tôi ngồi trầm ngâm bên ly cà phê trong âm thanh nhạc buồn phản chiến. Những bạn bè văn nghệ khắp nơi ngồi trong quán bên bờ sông, nhìn dòng sông trôi lấp lánh ánh đèn, ai cũng mơ một ngày quê hương hoà bình không còn tiếng súng. Đêm vẫn lặng lẽ trôi đi. Những lúc tinh thần bế tắc, không tìm được đường thoát, tương lai mờ mịt, cô đơn cùng cực, tôi có lúc bê tha, buông thả. Cuộc chiến càng lúc càng gay gắt, mỗi ngày nhìn thấy từng đoàn máy bay Mỹ mang bom tàn phá đất nước, tôi cùng các bạn bỏ ngũ trốn về quê. Trên đường về quê, đi qua những đoàn đường bị đắp mô chia cắt, những rừng dừa cụt ngọn cháy xém, những cánh đồng tan hoang vì thuốc khai hoang, có người bạn rủ chúng tôi nhảy núi, nhưng vì nhớ nhà nhớ ba má, tôi đánh liều vượt qua. Về đến nhà, cả gia đình đều vui mừng, nhưng cảnh sát, quân cảnh bố ráp tìm bắt người đào ngũ nên một tháng sau, tôi bắt buộc phải đến phi trường Tân Sơn Nhất trình diện và nhận kỷ luật. Ở Đà Nẵng, tôi tham gia các cuộc sinh hoạt văn nghệ, cùng bạn bè tổ chức sáng tác, in ấn báo chí, gặp gỡ giao lưu cùng bạn bè thơ văn nhạc hoạ đủ mọi thành phần, từ nhà báo, nhà giáo, nhà binh, cho đến bác sĩ, kỹ sư...Không gian hoạt động ngày càng rộng hơn. Miền Nam bây giờ sinh hoạt báo chí, sáng tác tương đối tự do. Cứ tập hợp một số anh em văn nghệ, sáng tác mới là có thể hình thành một tạp chí, một tập san văn nghệ. Lúc bấy giờ, Phương Tấn chủ trương tờ Cùng Khổ, tôi chỉ tham gia vài minh hoạ, trang trí bìa báo một vài số. Ngoài ra, còn có nhóm Sau lưng các Người ở Đà Nẵng, Trước mặt ở Quảng Ngãi, nhóm Tham dự ở Vĩnh Long, Khai phá ở Châu Đốc, Ý thức ở Huế, Thế Đưng, Động Đất, Thái độ, Trình Bày, Đối diện...những tác phẩm là tiếng nói của người nghệ sỹ về thân phận con người trong thời chiến, qua nhiều phong cách đa dạng. Sau khi bỏ trốn về Vĩnh Long, trình diện ở Sài Gòn, tôi được trả về Đà Nẵng. May mắn, tôi được ở dưới đơn vị một nhà thơ tên Nhân Hậu, cái tên cũng như con người ông đúng là Nhân Hậu. Biết tôi sinh hoạt cùng với anh em văn nghệ, ông mời đến nhà, sau khi nghe kể tình cảnh của tôi, ông nhẹ nhàng nói: “ tôi biết chú rất ghét chiến tranh nhưng tạm thời cứ ở đây lo sáng tác, lúc nào buồn thì ra nhà uống rượu với tôi, chú đừng bỏ trốn nữa, nếu chú bỏ ra ngoài 25
thì bộ máy chiến tranh này sẽ nghiền chú nát như cám”. Ơn ông, tôi càng ngày càng thấy thoải mái hơn để tham gia hoạt động văn nghệ cùng với bạn bè. Đầu năm 1967, tôi tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên tại trụ sở Hướng đạo Đà Nẵng, Triển lãm bán được ba tranh, còn lại 30 bức có một phụ nữ đề nghị mua hết đem về trưng bày ở một gallery Đà Nẵng. Toàn bộ số tiền bán tranh lúc đó tôi cho người bạn mượn để cưới vợ và bây giờ đã hơn năm mươi năm, chẳng bao giờ nghe anh ấy nhắc nhở tới. Với tôi, tiền bạc chỉ là phương tiện, có cũng được mà không có cũng chẳng sao, có lẻ nhờ tôi sống đơn giản và không coi trọng vật chất, tôi được bạn bè thương mến, cưu mang trong những ngày đất nước còn chiến tranh. Trong lúc quê hương tràn ngập đau khổ, chiến tranh bom đạn đổ xuống từng ngày, từng ngày, bãi biển Mỹ Khê, nơi Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng, bến cảng là kho bom đạn khổng lồ. Phi trường quân sự mở rộng, phi cơ chiến đấu ngày đêm vần vũ, đường phố ngập tràn quân lính. Đêm Đà Nẵng hoả châu thắp sáng, thỉnh thoảng còi báo động hú vang, phi trường bị pháo kích, từng đoàn tăng lội nước vận chuyển vũ khí vào sông Hàn, tiếng máy nổ rền vang của những chiến hạm trên sông. Đêm chập chờn soi bóng, cà phê Thuỷ tạ vẫn dập dìu người qua lại, thành phố tối dần. Vẳng xa, tiếng bom rền bên kia đèo Hải vân, từng lượt từng lượt những phi cơ thám sát rầm rì, ánh sáng lập loè trên nền trời đêm. Năm 1970, nhờ bán được ít tranh tôi về Vĩnh Long dựng quán cà phê Đỡ buồn. Sau đó, được hai người bạn Lương Bạch Mai và Lương Tỷ hỗ trợ thêm, quán mở rộng, trang trí mộc với tre, trúc, gỗ rừng nên thu hút nhiều bạn bè văn nghệ và sinh viên học sinh tới ủng hộ. Ngoài các anh em văn nghệ địa phương như Việt Chung Tử, Trần Mộng Hoàng, Nguyễn Sinh Từ, Nguyễn Hiền Lương, Trần Công Tân, Nguyễn Thế Đệ, Quán là nơi họp mặt thường xuyên của nhóm Du ca của Đoàn Xuân Kiên với phong trào hoạt động rất mạnh mẽ. Ở Vĩnh Long, tôi có hai người bạn đặc biệt là nhà đạo học Nguyễn Minh Tâm và Nguyễn Thế Nghiệp. Ông Nguyễn Minh Tâm cùng với ông Đào Hữu Nghĩa là người dịch sách Krisnamurti rất sớm cùng với một số sách thiền của các triết gia châu Âu, cùng với bè bạn, chúng tôi gặp nhau hàn huyên về các mạch nguồn tư tưởng triết học trên thế giới lúc bấy giờ. Nguyễn Thế Nghiệp là một người bạn rất đặc biệt. Lúc mới quen tôi, anh vừa đỗ 26
thủ khoa Đại học Luật, một người trẻ tuổi nhiệt thành, ước muốn sáng tạo xây dựng xóm làng, quê hương tươi đẹp. Anh đã cùng tôi đốn tre, vác gỗ về dựng thư viện tại quán do chính anh đề xuất. Đầu tiên, thư viện có trên một ngàn sách đủ loại cho tuổi trẻ, học sinh tham khảo. Tôi lên Sài Gòn mua thêm các sách nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật, các tạp chí Văn, Văn học, Bách khoa, Sử địa, Trình bày, Đối diện.... Phòng đọc sách hoạt động rất tốt được hơn một năm thì tỉnh trưởng Vĩnh Long quyết định xây dựng cho tỉnh một thư viện hoàn chỉnh hơn và to lớn hơn tại chợ Vĩnh Long. Bạn tôi là người thông minh, học giỏi lại rất nhiệt tình, anh luôn ao ước đất nước thống nhất, hết chiến tranh cho người dân bớt khổ. Chúng tôi ngồi với nhau hoạch định tương lai. Khi đầt nước hoà bình, anh mong muốn một ngày nào đó quê hương sẽ cường thịnh như nước Nhật và rạng danh cả Đông Nam Á, nhưng rốt cuộc anh cũng bị bắt lính và vài năm sau trở về nhà với một chân bị trọng thương. Sau 1975, tôi gặp lại anh tự pha chế sữa đậu nành bán mỗi sáng tại chợ Vĩnh Long. Một thời gian sau, anh chuyển sang chạy xe đạp ôm, rồi xe gắn máy, cuộc sống âm thầm cho đến ngày tóc bạc phơ, ông lão xe ôm cười cười lặng lẽ quên hết những ước mơ, quên cả chuyện đời, ngắm bóng mình xiêu vẹo giữa dòng đời nghiệt ngã. Còn nhà đạo học Nguyễn Minh Tâm sau mấy năm học tập cải tạo, ông trở về khu vườn nhỏ ở Vĩnh Long. Có lần tôi đến thăm ông, hai bác cháu ngồi trầm ngâm, nỗi buồn hiu hắt hằn sâu trên gương mặt của con người trí thức đam mê nghiên cứu triết học, thiền học. Vài năm sau vì bệnh tật, vì tuổi già, ông đã đi vào cõi vĩnh hằng. Có những đêm ngồi quán cà phê góc phố Cần Thơ cùng bè bạn, chợt nhớ Sài Gòn, bao kỷ niệm thân thương của thời đi học, nhớ những lần lội bộ lang thang trên hè phố dọc đường Lê Lợi qua quầy sách cũ, nhớ cà phê Thanh Thế, rạp Vĩnh Lợi, Givral, Thương xá Charner, Crystalpalace, nhớ nước mía Viễn Đông, khô bò phá lấu đường Pasteur, nhớ bạn bè chủ nhật rủ nhau đạp xe đi Bến cát, Lái thiêu. Nhớ có lần dừng lại con rạch nhỏ cặp đường xe lửa gần Ga Bình Triệu bơi lội, rượt bắt nô đùa thật thơ thới, vô tư. Những gương mặt thân quen Lê Minh Cường, Phạm Văn Ngọc, Charle Nguyễn, Đặng Văn Cử, nhớ cuối năm lãnh tiền học bổng tụ tập uống bia tán tỉnh những cô nữ sinh Gia Long, Trưng Vương dạo phố. Thời gian trôi qua, chiến tranh cùng khắp, không biết bạn bè trôi dạt phương nào, nỗi nhớ cứ nhân lên theo ngày tháng rồi cũng phôi phai. 27
Hành trình dài đời sống của con người biết bao sự thay đổi. Tôi sinh ra từ một vùng quê, lớn lên bằng tiếng ru ầu ơ trên chiếc võng thời gian, được nuôi dưỡng bằng tình yêu mộc mạc của gia đình làng xóm,văn hoá của trường quê, xô dạt lên Sài Gòn tiếp cận đời sống sinh hoạt thị thành, học hỏi tiếp thu kinh nghiệm kiến thức văn hoá nhiều nền lịch sử, kinh sách, tôn giáo nghệ thuật Đông Tây, đôi khi nhìn lại mình, cảm thấy méo mó với nhiều lăng kính, nhiều dòng chảy xuôi ngược, tôi là ai? đâu là hướng đi ? Vẫn trống rỗng, vẫn mơ hồ, như đám lục bình trôi trên mặt nước, lúc lớn trôi lên, lúc ròng trôi xuống chẳng biết về đâu? Tiếng pháo kích dồn dập, pháo nổ ầm ì, từng đoàn xe chở đầy quân lính nối đuôi nhau. Mọi người nhìn nhau ngơ ngác lo sợ. Sau cuộc chiến bùng nổ thảm khốc ở Quảng Trị, ở Huế, Đà Nẵng, Tây Nguyên, cuối cùng là Sài Gòn, thành trì chế độ Cộng hoà miền Nam sụp đổ. Quan chức, quân đội kéo nhau di tản vũ khí đạn dược, quần áo ba lô quăng vất đầy đường. Cơ quan dinh thự bỏ trống, xe cộ bỏ không, phi trường bến cảng chen lấn hỗn loạn. Trong ngày đầu chấm dứt chiến tranh trên toàn miền nam, thành phố Cần Thơ trở nên ngỗn ngang náo loạn, những người tù từ trại giam túa ra đường phố nhuộm màu xám ngắt, xe GMC, xe thiết giáp nằm im lìm bên các ụ quân sự. Người dân, người lính lẫn những người tù đổ về bến xe, chen lấn nhồi nhét trong xe, chất đầy lên mui xe, ai cũng mong trở về quê nhà, mặc cho chủ xe la hét xua đuổi. Còn lại ở thành phố, nhiều nhóm hôi của tràn vào các công thự tư gia bỏ không lôi tất cả vật dụng bàn tủ, ti vi, tủ lạnh vung vãi đầy đường. Ở các góc phố, năm bảy giải phóng quân khăn rằn quấn cổ, nón tai bèo, tay đeo băng đỏ, trang bị súng AK băng đạn vòng trước ngực, chạy tới chạy lui giữa dòng người xuôi ngược. Thỉnh thoảng vài chiếc xe Jeep cắm cờ giải phóng chở đầy người chạy tuần hành phóng loa yêu cầu trật tự. Xa xa cuối phố vài loạt đạn vang lên.
28
29
30
Sau khi quán cà phê Đỡ Buồn hoạt động ổn định, tôi về Cần Thơ cùng với bạn bè văn nghệ ngồi lại với nhau làm chương trình thực hiện tập san Văn nghệ và hội quán Góp Gió. Buổi gặp mặt đầu tiên mời rộng rãi anh em sáng tác thơ văn nhạc hoạ ở các trường Đại học Cần Thơ, trường trung học Đoàn Thị Điểm, Phan Thanh Giản, các bạn bè văn nghệ trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Vĩnh Long, Long Xuyên, Châu Đốc. Trong cuộc họp nầy, lần đầu tiên, tôi gặp nhà thơ Hồng Lĩnh, cô cùng nhóm nhà thơ nữ cùng tham dự, nhiệt thành đóng góp ý kiến cho tập san văn nghệ và đề nghị đặt tên hội quán là Tao ngộ. Cuối cùng, chúng tôi tao ngộ kết thành gia đình thơ hoạ, đám cưới chúng tôi một người bạn là thầy giáo, nhà văn phán một câu vui: “Hai anh chị này lấy nhau chắc tương lai bần cùng, rách nát, một người làm văn nghệ đã khổ, vậy mà cả hai thì càng khổ hơn.” Khởi đầu thuê nhà làm quán cà phê Góp Gió, các bạn góp tiền mua vật dụng, tôi lãnh phần trang trí quán. Ngày khai trương, bạn bè văn nghệ các nơi có mặt rất đông, báo chí Sài Gòn đưa tin, anh em văn nghệ qua lại gửi bài sáng tác cho báo. Nhà thơ Vũ Hữu Định từ miền trung vô xin tá túc, Phạm Tường Bá từ Trà Vinh lên, Đoàn Minh Hải từ Đà Nẵng về, Phan Tấn Thi, Nguyễn Thân từ Sài Gòn, ngoài ra, còn có mặt Ngô Nguyên Nghiễm, Yên Bằng, Đặng Thư Cưu, Trần Hoài Thư, Đoàn Xuân Kiên, Viên Linh, Vũ Ngọc Giao, Nguyễn Thành Xuân, Minh Nguyễn, Trần Kiêu Bạt, Ngô Bá Đản, Dương Hùng Cường, Phan Lạc Giang Đông, Hoài Giang, Tô nhược Châu, Hồ Thuỷ, Sa Vũ...Theo lời mời của hoạ sỹ Ngy Cao Uyên, gia đình Phạm Duy từ Sài Gòn đưa cả gia đình về hát một đêm tại hội quán. Một kỷ niệm rất đặc biệt với nhạc sỹ Phạm Duy, sau chương trình ca nhạc của gia đình xong, ông ngồi lại tâm sự với anh em văn nghệ. Cuối tiệc, ông còn hát tặng thêm 10 bài tục ca mà ông vừa mới sáng tác sau khi hát 10 bài đạo ca. Mãi về sau, khi ông đã 90 tuổi từ Mỹ về, tôi có dịp gặp lại ông khi cùng các bạn Pháp đến tham dự đêm nhạc ở sân khấu văn nghệ của Duy Quang. Tình cờ gặp lại nhau, tôi đến thăm hỏi ông và nhắc lại kỷ niệm, ông gọi Duy Quang đem một chai rượu tặng cho bàn chúng tôi. Đó cũng là lần cuối tôi gặp ông và Duy Quang. Vài tháng sau, tôi được tin Duy Quang mất vì ung thư và sau đó đến lượt ông. Vĩnh biệt hai người nghệ sỹ tài hoa mà tôi mến mộ, cũng xong một kiếp người trong cõi đời hữu hạn. Quán cà phê Góp Gió hoạt động được hai năm thì bắt đầu thua lỗ do không người quản lý, tiền bạc càng eo hẹp nên không nuôi nỗi anh em văn nghệ, lại thêm chiến tranh càng lúc càng lan rộng, cảnh sát, quân cảnh ruồng bố càng gắt gao nên mọi người tản lạc dần, quán giao 31
lại cho vợ Trần Như Huỳnh quản lý, chúng tôi chuyển sang dựng quán Thằng Cuội tại thành phố Cần Thơ. Quán tại nhà của anh Phan Lương Năng, một người yêu thích văn nghệ và hoạ sỹ Ngy Cao Uyên tiếp tục hỗ trợ hoạt động văn nghệ. Chúng tôi tổ chức ra mắt các tập thơ do Con Đuông ấn hành, có lần giới thiệu tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Huy Chương. Lúc đó Minh Nguyễn và Trần Mộng Hoàng cho ra mắt tập san sinh hoạt giới thiệu tác phẩm mới của bạn bè văn nghệ miền Tây. Nguyễn Thân và Ngô Bá Đản triển lãm tại nhà thờ Cái Khế. Ngy Cao Uyên, Cao Bá Minh triển lãm tranh tại Hội Việt Mỹ Cần Thơ, còn tôi tổ chức triển lãm tranh cùng với bạn bè tại trường Phan Thanh Giản...Quán cà phê Thằng Cuội hoạt động văn nghệ cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hội hoạ đã thâm nhập âm thầm vào tâm hồn tôi từ rất lâu, nó như có sẵn từ trong máu thịt của tôi, cứ vẽ cứ quẹt không chán nản, dù chẳng biết vẽ để làm gì, hình như đó là cách để tôi giải bày với cuộc đời. Tôi vẽ rồi triển lãm, rồi lại vẽ như đó là việc để tôi kết nối với mọi người như một lời tạ ơn, một lời cảm tạ vơi cuộc đời đã cho tôi sống, tôi cảm nhận và rất yêu thương mọi khoảnh khắc mà mình đang tiếp nhận.Tôi ra đi rồi lại trở về trên mảnh đất mình đang sống. Tôi bắt đầu rồi kết thúc và lại bắt đầu trong từng nhát cọ, vệt màu như dòng sông đang uốn lượn theo dòng chảy. nước lớn chảy vô, nước ròng chảy ra, chẳng thể nào ngơi nghỉ. Có những lúc dòng nước xoay tròn phá vỡ cả bờ đất, nhưng đất lỡ bên này thì lại bồi đắp bên kia, dòng phù sa tuôn chảy lại tích tụ thành những bãi cồn màu mỡ, những vệt dài tung toé màu sắc, những nét loang chảy kéo dài như dấu vết thời gian, dấu tích cuộc sống. Tôi cảm giác được tiếng cười của trẻ thơ, tiếng thở dài của bạn bè, tiếng vọng âm u từ lòng đất hay tiếng rả rích của cơn mưa chiều buồn tẻ, tiếng của không gian hay tiếng thời gian đi qua trong từng nét vẽ. Mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi một phút giây sống cùng mọi người đã cho tôi nhiều ấn tượng, những gương mặt bạn bè, người thân hằn dấu trong từng nhát cọ như những âm vang của bản hoà tấu cuộc sống đã trôi qua. Dòng sông vẫn âm thầm trôi theo từng cung bậc của thời gian và cuộc sống đang biến đổi từng phút từng giờ. Trước ngày giải phóng, một số bạn bè, trong đó, có hoạ sỹ Ngy Cao Uyên, kéo tôi ra quán cóc uống vài chai bia chia tay lần cuối và từ đó đến nay trên bốn mươi năm, chúng tôi chưa lần gặp lại, hoàn cảnh tôi còn mẹ già và vợ con nên không thể ra đi. Ngơ ngác trước sự biến đổi lớn của đất nước, tôi quyết định cùng gia đình trở về Vĩnh Long sum họp với mẹ già. 32
Cuộc chiến tranh đã chấm dứt, đa số người dân sống trong miền nam với niềm vui hoà bình, ngưng tiếng súng, bom đạn không còn, nhưng nỗi lo về những ngày sắp tới như thế nào không ai đoán trước. Những người bạn văn nghệ còn lại ngồi với nhau trong âu lo. Chiến tranh đã qua đi nhưng hậu quả còn lại thì ngỗn ngang . Thất bại của chế độ miền Nam cũng như thất bại chính sách của Đế quốc Mỹ sẽ là hồi chuông cảnh tỉnh hay là một sự thất bại của lương tri nhân loại khi mấy mươi năm trôi qua, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đau khổ đã đổ xuống đời sống một dân tộc cần cù chịu khó và hiền hoà. Rất nhiều văn chương, sách vở, tư liệu, điện ảnh, âm nhạc đã ghi dấu sự tàn khốc của chiến tranh, nỗi buồn đau của thân phận con người trong thời chiến, bày tỏ cho cùng khắp thế giới để con người cùng cảm nhận và nhắc nhở cho lương tâm con người rằng chiến tranh luôn tàn khốc. Tôi trở về Vĩnh Long trong tâm trạng buồn bã chán chường với vợ con và hai bàn tay trắng. Quán cà phê Đỡ buồn giờ cũng tan tác, không còn bạn bè văn nghệ, mọi người tứ tán, má tôi chuyển sang bán cơm tấm mỗi sáng, gói bánh tét bán buổi chiều để sống qua ngày. Nề nếp sinh hoạt hằng ngày đã thay đổi, những thành phần binh lính, hành chính, phải đi học tập chính trị để hiểu biết khái quát về cuộc chiến thắng của Mặt trận giải phóng. Mỗi gia đình được cấp sổ gạo để sống qua ngày. Thanh niên tham gia tháo dỡ đồn bót công sự , đồng tiền cũ đổi 500 lấy 1 đồng tiền mới, những gia đình thương gia, quan chức giàu có qua một đêm đánh tư sản phải bồng bế đi kinh tế mới, sống cuộc đời nghèo khổ khó khăn. Sau giải phóng, gia đình tôi có ba anh em trai, tôi và em kế tôi là lính chế độ miền nam nên phải tham gia học tập tại phường một tuần. Sau đó, tôi cùng bạn bè trong nhóm du ca thành lập đội văn nghệ, tôi đưa dàn âm thanh của quán kết hợp cùng với vài cây guitar của nhóm đi về nông thôn biểu diễn. Lúc đó ở quê cũng còn lúa gạo, gà vịt, cá, do dân tự nuôi nên cuộc sống cũng còn thoải mái, đoàn văn nghệ được bà con đùm bọc nuôi ăn nên cũng khoẻ hơn gia đình ở thành thị. Ca sĩ của đoàn là các em học sinh tham gia hoạt động du ca nên âm nhạc biểu diễn đủ thể loại, nhạc trẻ, nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc thiếu nhi. Nói chung chúng tôi sinh hoạt để bớt thấy thời gian thừa thãi vô nghĩa và đỡ phải chạy gạo hằng ngày. Đội văn nghệ hoạt động được vài tháng thì giải tán, các em học sinh trở lại trường tiếp tục học, tôi được địa phương mời ra phụ trách tổ hội hoạ thị xã để hướng dẫn các bạn trẻ kẻ vẽ khẩu hiệu và tranh cổ động cho chính quyền, tuy không phải là việc tôi yêu thích, nhưng tôi 33
cũng mong có thời gian để thực hiện ước mơ của mình. Không có màu, tôi vẽ bằng bút bi, mực tàu, màu nước và tôi vẫn tiếp tục vẽ trong điều kiện eo hẹp của cuộc sống với gia đình. Vài năm sau, tổ hội hoạ tiếp thêm các hoạ sỹ từ Sài Gòn về Vĩnh Long tìm đất sống, hoạ sĩ Trọng Đông, Lê Chánh, Dương Văn Tâm. Nhìn thấy các lò sản xuất gạch xây dựng rất nhiều vì Vĩnh Long là nơi có rất nhiều đất sét, chúng tôi hợp nhau lại xây một lò đất nung để thực hiện các tác phẩm đất nung. Với đôi tay tài hoa của các hoạ sĩ, chúng tôi thực hiện các tượng nhạc sỹ, nhà văn thế giới như Liev Tolstoi, Beethoven. Nhờ hoạ sĩ Lê Chánh giới thiệu bán cho Artexport, nhưng hàng gửi đi mà tiền chẳng trở vể nên lò cũng ngưng hoạt động sau đó. Thời gian này vợ tôi đi làm ở nhà sách thị xã, được đọc sách là điều vui thích của vợ tôi, nên dù vất vả mỗi sáng bè hai đứa con đi nhà trẻ và mang cái bụng bầu đến nhà sách với mức lương thấp nhất nhưng cũng khiến vợ tôi yên lòng. Ở Vĩnh Long được một năm, kéo thêm hoạ sỹ gốm Tam Xuyên về, nhà điêu khắc Nguyễn Minh Trí, Phạm Văn Hạng cũng xem Vĩnh Long là nơi đất lành chim đậu nên ở lại sáng tác. Có lẽ nhờ anh Huỳnh Anh Kiệt đối đãi với anh em văn nghệ không phân biệt ta, nguỵ nên lúc đó Hội Văn nghệ tập hợp rất vui, bên văn chương có Lê Long, Hồ Duy, âm nhạc có nhạc sỹ Trúc Phương, chúng tôi kết nhau làm tập san Đối thoại nhưng chỉ ra một số thì bị dẹp. Sau giải phóng, Vĩnh Long và Trà Vinh hợp lại thành tỉnh Cửu Long, có một số hoạ sỹ từ chiến khu về như Vũ Ba, Lê Phúc, Phong Ba và Nguyễn Thái Bình từ Bắc về cùng với các hoạ sĩ địa phương chúng tôi thành lập Chi hội Mỹ thuật thay cho cơ sở mỹ thuật cũ. Sau những năm hoạt động nghệ thuật tự do giờ anh em hoạ sĩ phải chịu sự gò bó của cái gọi là thông qua phác thảo rồi mới được sáng tác nên anh em rất khó chịu bức bối. Đất nước sang trang sử mới, mọi thứ như bị đảo lộn, mọi sinh hoạt đời sống xã hội thay đổi tận gốc rễ, gạo được thay thế bằng bo bo, mọi kinh doanh nằm trong tay thương nghiệp nhà nước, hàng hoá rất hiếm hoi được phân phối theo tem phiếu. Sách vở báo chí cũ bị thu gom từng nhà, từng khu phố, một số chất đống để đốt, một số thu gom về văn hoá tỉnh, rồi chở về nhà máy Tân Mai Biên Hoà tái chế. Khuôn viên công sở, bông hoa cây kiểng được thay thế bằng rẫy bắp, luống khoai.
34
Cả một thời gian dài sau giải phóng, vợ chồng tôi làm đủ nghề để tồn tại, gói bánh, làm cỏ thuê, cắt rau muống, bán chè, bán sữa đậu nành, bán báo. Má tôi bán bánh một thời gian, dân trong xóm cũng hết tiền để mua, đành phải rời nhà đi làm phụ việc cho một người quen trên phố. Cuộc sống vô cùng vất vã, cơm không có ăn, khoai luộc là món thường xuyên, đứa con trai giữa của tôi vừa đầy năm bị tiêu chảy nhiễm khuẩn, nằm bệnh viện Vĩnh Long cả tháng không hết, thân hình chỉ còn da bọc xương. Vợ chồng tôi phải bồng cháu về Cần Thơ, may mắn Bệnh viện Cần Thơ còn kho thuốc của Mỹ để lại nên sau 10 ngày tích cực truyền máu và huyết tương, sức khoẻ cháu dần phục hồi. Một tháng sau cháu xuất viện về nhà, nhìn cơ thể cháu, không ai dám nghĩ cháu sẽ bình thường nhưng trời thương, vợ chồng tôi lùng mua được Bcomplex C còn tồn kho trước 75 và mỗi ngày nấu cháo với cua đồng cho cháu ăn mà một năm sau cháu khoẻ mạnh trở lại. Chúng tôi dọn về sống ở chái sau của Miễu Quốc Công để tiện việc hoạt động của tổ hội hoạ đồng thời phụ trách việc quản lý rạp hát Miễu Quốc Công mỗi khi có gánh hát về. Lúc này các gánh Cải lương lớn tập trung ở Sài Gòn cũng lây lất hoạt động, một số diễn viên tập hợp các đoàn nhỏ lẻ về diễn ở các tỉnh, các rạp hát cũng ngưng hoạt động. Lúc đó, Văn hoá thông tin thị xã quản lý rạp hát Miễu Quốc Công, nên đây là điểm duy nhất để các đoàn về biểu diễn. Cả một thời gian dài, đêm nào chúng tôi cũng đến một hai giờ sáng mới được ngủ vì phải chờ đến khi vãn hát. Tổ hội hoạ thành lập dưới sự quản lý của phòng văn hoá thông tin thị xã, tôi, Thế Đệ và một vài thanh niên có năng khiếu vẽ được mời vào phụ trách kẻ vẽ paneau khẩu hiệu, tranh cổ động tuyên truyền cho nhà nước. Nhiều gia đình có con em thích vẽ cũng đem con gửi vào, hi vọng phát triển năng khiếu và có nghề nghiệp để sống. Dân lúc đó ai cũng nghèo khổ khó khăn, tôi nhớ có một ngày, có một người đàn ông chạy xe lôi đạp chở tới một cậu bé khoảng mười bốn tuổi còn mặc áo lam và tóc cạo như chú tiểu ở chùa , xin được vào tổ hội hoạ để học nghề và cậu bé đó là hoạ sĩ Bửu Lộc bây giờ. Sau đó đến hoạ sỹ Tín Đức cũng gia nhập vào tổ hội hoạ. Tổ hội hoạ bấy giờ rất đông bạn trẻ nhưng chỉ có ba người có lương, có gạo nên chúng tôi rất vất vả. Vợ tôi ngoài việc đi làm ở nhà sách còn kiêm nhiệm thêm việc nấu ăn cho anh em tổ hội hoạ. Lúc đó lương thực chủ yếu là bo bo, lâu lâu mới mua được vài ký gạo, nên ngày nào 35
cũng nấu một nồi bo bo to tướng, có hôm mua dừa về nạo trộn vào như nấu xôi. Vợ tôi ba giờ sáng phải thức dậy đi nộp sổ thực phẩm để canh mua được xương heo về bồi dưỡng cho anh em. Chúng tôi phải nhận vẽ bảng số xe, làm tranh gói lụa mới có thêm thu nhập nuôi sống anh em. Nhớ những ngày đi vẽ paneau khẩu hiệu thật là nguy hiểm khó khăn. Anh em phải leo cao, chênh vênh đánh đu trên cột điện, thang tre mà không có bất cứ đồ bảo hộ lao động nào, vẽ xong khẩu hiệu xuống đất rồi mà chân vẫn còn run. Ngày tháng cứ thế nặng nề trôi qua. Có lần một phụ huynh của các em thấy chúng tôi ăn uống kham khổ, ông là chủ tiệm heo quay, nên sai con đem cho mỡ và lòng heo để mọi người cải thiện. Bạn bè tôi từ Sài Gòn về kết hợp làm thêm in lụa, vấn thuốc, đá ghép để mở đường sống cho anh em. Hoà bình, hạnh phúc, hình như chỉ là cơn mơ, chúng tôi sống lây lất mà không biết mình sẽ như thế nào và tương lai thì mờ mịt. Rồi tám năm trôi qua trong nhọc nhằn, tổ hội hoạ trở thành cơ sở mỹ thuật, và Hội văn nghệ Cửu Long ra đời, vợ chồng chúng tôi xin chuyển về Hội, giao cơ sở mỹ thuật lại cho các bạn trẻ. Dù làm công việc kẻ khẩu hiệu, vẽ tranh cổ động, tôi vẫn không bỏ quên con đường văn nghệ, ở tổ hội hoạ, những ngày cuối tuần chúng tôi và các bạn văn nghệ vẫn gặp nhau, trao đổi bàn luận sáng tác, nhất là các bạn trẻ tràn đầy nhiệt tình đối với đất nước. Sự thay đổi mới mẻ của chế độ, sự hồi sinh sau chiến tranh của quê hương đầy những câu hỏi, đầy những thao thức. Chẳng phải ai cũng hiểu biết, cũng thông cảm cho chúng tôi, một thời gian có một số người không đồng ý với các cuộc họp mặt văn nghệ nên chúng tôi đành phải chia tay. Hội văn nghệ Cửu Long được thành lập, anh Huỳnh Anh Kiệt khuyên chúng tôi về hợp tác, và với sự lèo lái của anh, không gian sáng tác bắt đầu hé mở. Về Hội văn nghệ, chúng tôi không còn bị gò bó vào công việc thường nhật tẻ nhạt, chúng tôi bắt đầu đi thăm viếng, gặp gỡ bạn bè văn nghệ các tỉnh, kết nạp những anh em văn nghệ còn lang thang, tập trung cho sáng tác và bắt đầu cho ra các tạp chi văn nghệ. Tôi gặp lại các bạn văn nghệ ngày xưa như Hoài Giang, Sa Vũ, Hồ Thuỷ, Hồng Băng, Hồ Duy... Nhạc sỹ Trúc Phương sau thời gian lang thang sống với Phố thu ở Trà Vinh được anh Ba Kiệt đưa về sống tại Hội văn nghệ và phát lương, anh sáng tác trở lại và tác phẩm 9 dòng sông hò hẹn ra đời lúc đó. 36
37
38
Vợ tôi tổ chức câu lạc bộ sáng tác cho Thiếu nhi, dạy các em vẽ và làm thơ, góp bài cho trang văn nghệ thiếu nhi của tạp chí. Chúng tôi thường xuyên tổ chức triển lãm tranh của các hoạ sỹ trong tỉnh và hoạ sỹ thiếu nhi tạo thành phong trào sáng tác mạnh so với các tỉnh. Các em thiếu nhi cũng được chọn tranh tham dự các giải thưởng thế giới đều đạt kết quả tốt, vì thế được Sở tài chánh ưu ái năm nào cũng duyệt cho đi tham quan các tỉnh, nhờ vậy chúng tôi tổ chức các chuyến tham quan Huế, Hà Nội, và các tỉnh thành miền nam, dù đất nước vẫn còn bị cấm vận và sống trong thời kỳ bao cấp. Thời gian trôi qua nhanh, cuộc sống khó khăn vất vã đã cho chúng tôi biết bao kỷ niệm, bao điều lo toan, những cánh cửa ước mơ đã đóng, nhưng cánh cửa hi vọng vẫn khép hờ, chúng tôi vẫn mong vẫn đợi. Buổi sáng với bạn bè bên ly cà phê đắng quên cơn đói dày vò, chúng tôi vẫn say mê trao đổi về nghệ thuật, về văn chương. Những bức tranh tôi vẽ có khi bị xếp xó không được treo vì không phù hợp nhưng không thể làm tôi thay đổi phương cách sáng tạo, và may mắn thay, thời gian đó thế giới xoá cấm vận Việt Nam, tôi nhờ những bạn bè văn nghệ cũ giúp trở lên Sài Gòn tiếp cận lại các hoạt động nghê thuật. Sài Gòn giờ đã trở nên thành phố Hồ Chí Minh nhưng chúng tôi vẫn quen gọi là Sài Gòn, đây là một thành phố hiện đại luôn mở cửa đón nhận mọi luồng gió mới, là vùng đất nuôi dưỡng sự hưng phấn và sáng tạo cho tất cả văn nhân nghệ sỹ, dung nạp mọi xu hướng đổi mới của văn minh và thân thiện. Tôi bắt đầu tổ chức triển lãm nhóm ở Hội Mỹ thuật thành phố, sau đó là cuộc triển lãm bốn người tại Gallery Tự Do ở Sài Gòn. Bắt nhịp sự thay đổi lớn của đất nước, anh chị em hoạ sĩ bắt đầu sáng tác mạnh và trưn bày tác phẩm tại các phòng triển lãm, tôi trở thành cầu nối cho các anh em hoạ sĩ Cửu Long mang tác phẩm đến Sài Gòn và tổ chức triển lãm cho mọi người. Nhớ lại những ngày cuộc sống chật vật thiếu thốn của cả nước, anh em hoạ sĩ không có màu để vẽ, mua được hộp màu nước Leningrad đã cảm thấy hạnh phúc, tôi vẽ lên giấy Croquis treo đầy nhà, có lần một anh bạn hoạ sĩ thành phố xuống tham quan Vĩnh Long đến nhà xem đã thốt lên: “ Ông vẽ thế này làm sao ai dám cho triển lãm “. Tôi chỉ cười, tôi vẽ để thoả mãn đam mê nghệ thuật sáng tạo trong tôi. Sài Gòn mở cửa. Những người yêu nghệ thuật thế giới tò mò về Nghệ thuật Việt Nam nên họ đổ xô đến. Triển lãm ở Gallery Tự Do, tôi bán được tranh cho Blum Blossom và một tấm cho ông Thái Quang Trung ở Singapore. Từ đó, tôi quen biết ông và cùng các hoạ sĩ thành phố mang 39
tranh qua Singapore triển lãm vài lần. Sau đó, một Việt kiều ở Pháp là ông Nguyễn Văn Tuyên về Việt Nam mang tranh sang Pháp triển lãm. Tôi may mắn được ông chọn một số tranh và kết bạn với ông cho đến khi ông qua đời đột ngột vì tai biến. Về Hội văn nghệ, vợ tôi bắt đầu làm thơ lại, gom góp một số bài thơ, đươc Hội văn nghệ Vĩnh Long in một tập thơ mỏng trên giấy ngà, kể như góp mặt với đời những bài thơ buồn cho thân phận. Sau đó vợ tôi còn viết kịch bản trong nhà ngoài phố cho truyền hình thành phố diễn, nhớ lúc đó truyền hình trắng đen mỗi thứ năm xem hài kịch trong nhà ngoài phố cũng đỡ buồn. Nhìn thấy Hồng Vân, Lê Vũ Cầu, Quốc Hoà, Kim Xuân tung hứng trên sân khấu, phê phán những thói hư tật xấu của con nguòi cũng vui lây. Được diễn vài kịch bản, vợ tôi rất hào hứng định chuyển sang con đường viết kịch thì một hôm Đài truyền hình thành phố, sau khi phát tiền nhuận bút phán một câu:” Đề nghị chị viết kịch bản chỉ phê phán người dân chớ đừng phê bình cán bộ”. Vậy là con đường sáng tác kịch bản của vợ tôi tắt ngấm, cô ấy lại trở về sáng tác với ban văn nghệ thiếu nhi và chuyển sang vẽ tranh từ đó. Còn tôi, nhờ một người bạn thơ ở thành phố một lần ghé thăm nhà, thấy nhà chúng tôi xiêu vẹo xập xệ anh chở cho một khối gỗ dựng lại khang trang, sau đó anh mua màu mua bố và rước chúng tôi lên Sài Gòn để vẽ tranh. Được lo ăn ở, màu bố có sẵn, nhưng bản chất nghệ sỹ chúng tôi không thích gò bó, một thời gian sau tôi liên lạc với bạn bè nhận làm tượng, phù điêu trang trí các nhà hàng, khách sạn và cuộc trở về với Sài Gòn được tiến hành. Năm đó con trai lớn của tôi bắt đầu vào đại học nên chúng tôi mướn nhà ở Cống Bà xếp và kéo theo Thế Đệ cùng các em cháu lên sống ở Sài Gòn, bắt đầu hành trình nghệ thuật bằng con số không to tướng. Lúc đầu tôi vẽ tranh mang gửi ở các Gallery, sau đó liên lạc với cô Kim Loan ở bảo tàng, lúc đó các hành lang bảo tàng còn bỏ trống, mang toàn bộ tranh của tôi và anh em hoạ sỹ Cửu Long treo ở đó, còn vợ chồng chúng tôi ngày đi làm tượng, phù điêu trang trí cho các nhà hàng, tối về vẽ tranh sau đó, mang treo ở các nhà hàng, khách sạn cho thuê, hàng tháng tới thu tiền về nuôi con đi học.Thời đó, tranh gửi cho các gallery thường không có ghi biên nhận, nên một số gallery chủ nhân nào tốt bụng thì họ còn trả tiền, còn đa số họ chiếm dụng luôn, mà lấy lại tiền thì rất khó khăn, còn bạn bè đi nước ngoài ,có khi họ ôm cả xấp tranh đi triển lãm hoặc trao đổi với các gallery khác thì có đi mà không trở lại bao giờ. Lúc người bạn sống ở Singapore đã mang toàn bộ tranh lụa chuyện cổ tích của tôi, rồi sau đó tổ chức cho chúng tôi sang 40
Malaysia triển lãm cũng ôm hết tranh tượng của tôi và anh bạn mất vì ung thư, coi như tranh của tôi lưu lạc giang hồ không biết bao nhiêu mà kể. Cuộc đời là những dòng sông trôi, nhưng có dòng sông mênh mông bát ngát, thênh thang giữa đất trời lững lờ trôi theo con nước mang theo bao nhiêu phù sa bồi đắp bãi bờ, cũng có dòng sông nhỏ hẹp chứa đầy rác rưởi, chất thải, mang theo sự hôi hám bế tắc và tôi đã gặp những dòng chảy đầy tăm tối khắc nghiệt đó dẫy đầy trong cuộc sống bon chen giữa đô thị Sài Gòn. Đó là những con kênh chất chứa nước thải đen ngòm, những con sông không còn sự sống, nó vẫn chảy ngoằn ngoèo dưới chân người trong lòng thành phố, hay trong lòng người, khi mà cuộc sống mất dần ánh sáng, khi cái xấu cái ác càng ngày càng nhiều hơn sụ thánh thiện và lòng tốt. Những ngày bươn chải làm việc kiếm tiền nuôi con tôi gặp không ít sự chua xót cay đắng của cái gọi là trò đời, làm công trình thì bị bên A bên B ăn chặn, cắt mấy chục phần trăm. Lãnh được việc sắp hoàn thành thì phải chi cho nghiệm thu, còn không coi như bị quỵt nợ ra về tay trắng. May mắn tôi vẫn gặp được những người bạn tốt giúp vượt qua khó khăn. Năm 1995, được sự giới thiệu của hoạ sĩ Lâm Chiêu Đồng, biết tôi là người thích làm gốm, lúc đó lò gốm Cửu Long của Ba Nghĩa bắt đầu hoạt động sản xuất gốm dân dụng xuất khẩu. Tôi về Vĩnh Long, được Ba Nghĩa giúp đỡ cung cấp đất làm tượng, làm tác phẩm xong cho vào lò nung, trong thời gian ngắn các tác phẩm được hoàn thành. Nhà báo Nguyễn Thanh Bình vận động anh Hàn Tấn Quang báo Kiến Thức ngày nay hỗ trợ tổ chức triển lãm tại Gallery Xuân ở Võ Văn Tần. Đây là lần đầu tiên Tiếng nói của đất - những tác phẩm đất nung của Vĩnh Long có mặt ở Sài Gòn, tôi nhớ lúc khai mạc, hoạ sĩ Tú Duyên đến dự, ông rất thích thú xem và vỗ vai tôi nói: “ lần đầu tôi mới thấy đất có tiếng nói độc đáo như vậy, cảm ơn chú em” . Từ đó, phong trào làm gốm bắt đầu lan toả, mỗi năm Hội Mỹ thuật đưa người về Vĩnh Long kết hợp với các lò đưa anh em hoạ sĩ xuống sáng tác gốm, còn tôi được Ba Nghĩa và các lò Vĩnh Long khác hỗ trợ thực hiện mấy xe tải gốm chở về trưng bày khu du lịch Bình Quới, Văn Thánh. Lúc anh Cao Lập còn làm giám đốc khu du lịch có chi cho tôi ít tiền khi lấy gốm trưng bày, nhưng sau đó khi anh nghỉ việc thì số gốm còn lại đã trở thành tài sản của khu du lịch, không ai ngó ngàng về chi phí và công sức tôi đã bỏ ra để thực hiện các tác phẩm gốm. Âu là của đất trời trả về cho trời đất vậy.
41
Sau giải phóng vài năm, em trai kế tôi bị viêm ruột thừa nhiễm trùng, đưa vô bệnh viện mổ nhưng không đủ thuốc nên mất sớm, để lại vợ và ba đứa con còn nhỏ, vợ em tôi không đủ sức nuôi con nên đem giao cho vợ chồng tôi, lúc đó má tôi cũng ngoài sáu mươi nên còn khoẻ, hàng ngày má tôi lo nhà cửa cơm nước cho ba đứa con tôi và ba đứa cháu.Vợ chồng tôi đi làm lương không đủ sống nên làm thêm đủ thứ việc, má tôi rang đậu phọng vô bịch, chiều mang vô bãi chiếu phim bán. Thời đó thường chiếu phim ngoài trời, bán vé rẻ cho dân xem. Chiều đến, cả nhà vợ chồng con cái kéo nhau mang theo vài tờ báo lót ngồi xem phim , có khi trời mưa mọi người túa chạy như ong vỡ tổ. Một thời gian dài với sự vén khéo của má tôi , mấy đứa cháu lớn dần và tập trung học rất chăm chỉ. Mỗi sáng kế nhà có quán cà phê cóc, chúng tôi dăm ba anh em văn nghệ uống cà phê thay cho ăn sáng, lúc đó Lâm Chiêu Đồng là người bao trả cà phê cho anh em mỗi ngày, Khi Minh Thư lên Sài Gòn học đại học, vợ chồng tôi cũng bắt đầu công việc trang trí cho Sangrila Phú Thọ, làm tượng cho Trống Đồng, Trầu cau... mỗi cuối tuần, vợ chồng chúng tôi chạy về Vĩnh Long trên chiếc xe Honda lùn mua lại của nhà văn Minh Nguyễn, có hôm trời mưa suốt , chạy chậm về tới bến phà Mỹ thuận 11 giờ khuya phà ngưng chạy đành phải ngồi chờ ở quán cà phê đến 5 giờ sáng mới được qua phà. Rồi thời gian cũng trôi qua, tiếp theo Minh Triết, Minh Khoa cũng tốt nghiệp phổ thông và bước chân vào đại học, chúng tôi quyết định chuyển hẳn về sống ở Sài Gòn, vợ tôi từ một người làm thơ, nội trợ cũng trở thành điêu khắc bất đắc dĩ, chúng tôi làm tượng phù điêu trang trí có khi leo cao trên giàn giáo khắc phù điêu tường cao năm sáu mét, nhớ lại vẫn không hiểu sao mình có thể làm được như vậy. Ngày tháng nặng nề trôi qua, khi thế giới xoá cấm vận Việt Nam, các hoạ sĩ bắt đầu bung ra triển lãm, các gallery bắt đầu nở rộ bắt nhịp không gian mở cửa ngoại giao, kinh tế. Việt kiều về nước, du khách nước ngoài đổ xô vào Việt Nam tìm mua tác phẩm. Anh em hoạ sĩ bán được tranh hào hứng sáng tác, đời sống hoạ sĩ cũng thay đổi, một số hoạ sĩ trở nên giàu có, khá giả. Các hoạ sĩ ngoài Bắc cũng vào triển lãm ở Sài Gòn, tạo nên không khí mới mẻ cho nền nghệ thuật sáng tạo. Trong thời gian này ngoài các hoạ sĩ thành danh trong nhóm hoạ sĩ trẻ Sài Gòn như Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung…, còn có nhóm 10 hoạ sĩ trẻ thành phố khơi mở sự sáng tạo mạnh mẽ và đầy năng lực bật lên tiếng nói mới của nền nghệ thuật gây được tiếng vang trong nước và thế giới. Với hai hoạ sĩ đầu đàn là Ca Lê Thắng và Nguyễn Trung, các anh cùng nhà báo Nguyễn Trọng Chức thực hiện Tạp chí Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, chuyển 42
tải nhiều thông tin bài viết về hoạ sĩ, về tác phẩm rất chất lượng nhưng tiếc chỉ vài năm lại đình bản. Sự có mặt của các hoạ sĩ trẻ làm sôi động không khí sáng tạo nghệ thuật. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc đó cũng vẽ tranh và tham gia triển lãm cùng với nhóm 10 hoạ sĩ trẻ nổi tiếng như Nguyễn Thanh Bình, Trần Văn Thảo, Đỗ Hoàng Tường, Vũ Hà Nam, Hứa Thanh Bình, Nguyễn Tấn Cương... Tranh sơn mài Bắc Trung Nam của hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí được Uỷ ban thành phố mua tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật thành phố với giá 100 ngàn đô la Mỹ càng tăng thêm sự hào hứng cho các hoạ sĩ bấy giờ. Sau các cuộc triển lãm nhóm, triển lãm chung, tôi đăng ký tổ chức triển lãm cá nhân tại Hội Mỹ thuật thành phố, dịp may gặp một người là giám đốc sơn mài Lam Sơn, anh là người từng tạo công việc cho các hoạ sĩ và bán tranh Việt Nam cho các đối tác nước ngoài, anh đã mua hơn nửa phòng tranh và tượng trưng bày, giúp cho gia đình tôi vượt qua cơn khốn khó. Tranh của tôi vẽ là những cảm xúc nội tâm qua những mảng màu, những đường nét ký hiệu mang tính ước lệ không hình ảnh cụ thể nên rất ít người thích, tìm được người đồng cảm rất hiếm hoi nên rất khó bán. Người mua tranh tôi thường là bạn bè giúp đỡ chia sẻ cho cuộc sống khó khăn của người nghệ sỹ, giám đốc Sơn mài Lam Sơn cũng thế, ông trả tiền mua tranh ra nhiều đợt, mỗi đợt hai, ba triệu và cứ thế tôi có tiền đóng tiền học cho con, nhớ có lần cô Loan Hội mỹ thuật bán giúp cho tôi một tấm tranh, công ty Lam Sơn trả một bao tiền mệnh giá 200đ, thật tức cười, chở bao tiền y như bao gạo, tôi đâu thể đếm cho xuể đành chở tới tiệm vàng đổi lấy 6 chỉ vàng mà lòng vui phơi phới. Có nhiều người nói rằng bán tranh thì tiếc đứt ruột vì tác phẩm giống như đứa con mình sinh ra, còn với tôi tranh tặng cho bạn bè mà họ yêu quý là mình rất vui, còn bán được tấm tranh nào để lấy tiền sinh sống nuôi con thì vô cùng hạnh phúc. Tranh được treo trang trọng ở khách sạn, resort là thấy mãn nguyện rồi. Với tôi, sáng tác chẳng có gì cao xa, bí hiểm, nó chính là cuộc sống mỗi ngày, giống như mình đang thở, đang ăn,đang uống, nó chính là hành động để tồn tại giữa cuộc đời. Hôm nào thấy khoẻ thì vẽ hăng say như lúc cảm thấy ngon miệng thì ăn nhiều một chút, có lẽ nhờ say mê vẽ tranh nên tôi không vướng bận mọi chuyện khác của cuộc đời, tôi không phải tính toán hơn thua, bon chen kiếm tìm danh vọng. May mắn cho tôi, vợ tôi cũng là người hiểu biết, đồng cảm và nhẫn nại chịu đựng khó khăn, có chút ít tiền là trích ra mua bố mua màu cho tôi vẽ, 43
giống như có điều gì thôi thúc trong tôi vẽ để sống để thấy sự có mặt của mình trên đời này không trở nên vô nghĩa. Nhớ lần gặp hoạ sĩ Ki-em lần đầu tiên khi cô mở không gian NK tại Hội mỹ thuật, lúc đó Ki-em lấy tên là Kim Nguyễn, từ Vĩnh Long lên Hội Mỹ thuật xem triển lãm, chúng tôi gặp cô và giới thiệu tranh các hoạ sĩ Vĩnh Long, Ki-em xem xong quyết định tổ chức triển lãm cho hoạ sĩ Vĩnh Long. Với không gian giới hạn của NK SPACE, mỗi người chỉ treo được một tấm và Ki-em đã mua ủng hộ cho hoạ sĩ. Sau đó, cô cùng chúng tôi về Vĩnh Long gặp gỡ và thăm các hoạ sĩ, khi gặp hoạ sĩ Vũ Ba, cô đã mua rất nhiều tranh kí hoạ của ông. Nhìn thấy nụ cười hạnh phúc của ông lần đầu tiên bán được tranh kí hoạ không thể tả hết. Năm sau, do chuyển công tác đi nước khác, Ki-em đã tặng toàn bộ sách mỹ thuật lại cho Hội và cho chúng tôi một số, số sách đó tôi mang về Hội Vĩnh Long giao cho hoạ sĩ Bửu Lộc giữ. Ki-em là hoạ sĩ Việt lai Pháp, cha cô ngày xưa đi lính Pháp qua Việt Nam phải lòng cô gái Việt là mẹ Ki-em, bà là cán bộ cách mạng cùng với ông về Đồng bò làm kinh tế cho cơ sở cách mạng, ông bị bệnh mất sớm nên gia đình ông đưa cô về Pháp nuôi dưỡng. Tốt nghiệp và thành danh hoạ sĩ ở Pháp, Ki-em về Việt Nam làm cầu nối giao lưu cho mỹ thuật Việt Nam với nước Pháp, hoạ sĩ Minh Phương được học bổng sang Pháp tu nghiệp hai năm trong chương trình của cô. Sau những năm cùng chồng đi chu du các nước Đông Nam Á, năm 2000, Ki-em trở lại Việt Nam tìm gặp tôi, cô mua màu mua bố cho tôi vẽ và mướn một nhà xưởng để vẽ tranh. Chúng tôi cùng tổ chức các cuộc triển lãm sắp đặt Đất và nước, Những gì còn lại.... được báo chí và các bạn bè hoạt động nghệ thuật quan tâm.
44
45
46
Nhờ có sẵn bố và màu, vợ tôi cũng bắt đầu vẽ lại, tranh của cô ấy là những mảng màu tuôn chảy vẽ những bài thơ do cô sáng tác, cô bỏ hết cách vẽ có hình mà trước kia cô cũng thỉnh thoảng tham dự các cuộc triển lãm khu vực. Nguyên nhân vợ tôi thay đổi cũng rất đơn giản, năm 1995, khi tập thơ Vườn đá của vợ tôi vừa in xong liền gởi tặng cho nhà thơ Đỗ Trung Quân, lúc đó Quân phụ trách trang thơ của báo Tuổi trẻ, Quân trích đăng mấy bài thơ trên báo. Vài hôm sau, có một độc giả phản hồi rằng tại sao đất nước đang đổi mới tươi đẹp lại đăng những bài thơ nói về xã hội u ám tối tăm như thế? Vậy là Quân bị kiểm điểm và chuyển sang báo Tiếp Thị, còn thơ vợ tôi sau đó gửi đi không báo nào đăng, cô bèn vẽ lên tranh, những dòng cảm xúc với những nét nguệch ngoạc như trẻ thơ cũng là những đường nét tạo hình. Từ đó, vợ tôi thường xuyên sáng tác tranh, gốm, cùng tôi dong ruỗi khắp nơi tham gia triển lãm. Được sự hỗ trợ của Ki-em và bằng nội lực sẵn có, chúng tôi vẽ tranh, làm gốm từ Vĩnh Long ra Phù Lãng, Hội An, Bàu Trúc, Biên Hoà, Bình Dương, mỗi làng gốm đều có một nét đặc trưng làm phong phú thêm gia tài sáng tạo của chúng tôi. Vợ tôi phụ trách phong trào thiếu nhi sáng tác một thời gian dài, vui cũng nhiều mà buồn cũng không ít. Mỗi lần lên Sài Gòn về, chúng tôi chở theo giấy Tân Mai, màu vẽ mua của Hội nghệ sĩ tạo hình Việt Nam sản xuất về cho các em thiếu nhi vẽ. Có lần dám đặt cả vóc sơn mài cho các em vẽ, hướng dẫn các em vẽ tự do theo năng khiếu, nhìn tranh của các em rất ngộ nghĩnh, hồn nhiên, nên khi gửi dự thi tranh thiếu nhi, các em đạt nhiều giải thưởng. Tôi nhớ có lần gửi tranh thiếu nhi tham dự giải thưởng nhành cọ non, thiếu nhi Vĩnh Long đạt 72 giải, mà giải thưởng do Nhà văn hoá thiếu nhi và Hội Mỹ thuật vận động các doanh nghiệp sản xuất tặng quà bằng sản phẩm nên khi phát giải thật tức cười, giày nhỏ cho em lớn, áo lớn cho em nhỏ, hay những cuộn len màu mà phát ra, các em không biết sẽ sử dụng như thế nào. Có một lần chúng tôi mang tranh của các em triển lãm ở gallery của chị Kim Minh ở đường Đồng Khởi, một số tranh của các em bán được mà người mua là các hoạ sĩ thành phố, mua để ủng hộ phong trào. Thời gian này các nước Liên Xô, Ấn độ, Nhật Bản thường tổ chức các cuộc thi vẽ tranh cho các em thiếu nhi, lúc đầu vợ tôi tổ chức cho các em trong tỉnh sáng tác rồi lựa chọn tranh gửi ra Hội đồng tuyển chọn ngoài Hà Nội để dự thi, tranh gửi đi một vài lần nhưng không có phản hồi. Vốn biết tiếng Anh nên vợ tôi mang thẳng đến sứ quán Ấn độ và nhờ ông đại sứ gửi thẳng về ban tổ chức ở Ấn độ, lần đó các em đạt Huy chương vàng và 2 huy chương bạc, kết quả đã thông báo, nhưng giải thưởng gửi thẳng về Hà Nội nên chúng tôi chờ 47
lãnh giải cho các em cũng dài cả cổ. Sau đó, lần lượt các em được giải thưởng của Nhật Bản, Liên Xô và có lần chúng tôi dẫn cả đoàn thiếu nhi lên tham dự triển lãm giao lưu với thiếu nhi Xô Viết tại lãnh sự quán Liên Xô ở thành phố Hồ Chí Minh. Các cháu thiếu nhi ngày xưa giờ có cháu trở thành hoạ sĩ, có cháu làm nghề khác, nhưng đó là những kỷ niệm đẹp của thời thơ ấu và giúp cho các cháu hình thành những tâm hồn biết yêu thích cái đẹp và thực hiện những ước mơ tốt đẹp của chính mình. Buổi sáng ở vùng ven phi trường, vài vệt mây cắt ngang sườn núi, ánh sáng xuyên qua áng mây màu hồng tím rớt xuống những cánh rừng. Những người lính cầm gậy rà mìn phía trước lối đi dẫn về phía Cẩm Lệ, lác đác người dân gồng gánh thực phẩm ra chợ đi ngược về phía những người lính, những bước chân vô tư đi qua cái chết rình rập. Tôi đi theo đoàn bác sĩ Mỹ mỗi chủ nhật đi khám bệnh phát thuốc cho người dân sống ven phi trường, có lúc phát quần áo chăn mền do Hội chữ thập quốc tế tặng hay xây dựng thư viện cho trường trung học Phước Tường. Cứ tưởng làm chút ít việc công ích sẽ cảm thấy nhẹ lòng nhưng nỗi buồn càng ngày càng sâu nặng, một chút ánh sáng le lói ban mai vẫn không xoá tan màu tối đen xám xịt của những ngày mưa dầm lạnh lẽo. Tôi sống, tiếp cận với mọi người, những cuộc đời, những số phận, tôi yêu thương trân trọng mọi thứ quanh mình, từ chiếc lá, bông hoa cho đến sự mênh mông của biển cả, thâm u của rừng núi, nhưng sao tôi vẫn cảm thấy cô đơn. Tôi lạc lỏng trong cuộc sống hằng ngày, những suy tưởng, những ý niệm như nghiệp chướng cứ vây bủa quanh tôi. Nhớ lại thời kỳ cuộc sống văn nghệ sỹ, hoạ sỹ chật vật thiếu thốn của cả nước. Anh em hoạ sỹ trong tỉnh sau ngày giải phóng làm mọi việc để sống, để tồn tại nhưng vẫn tự thân tìm gặp nhau thăm hỏi trao đổi về sáng tác, không phụ thuộc vào cơ chế nhà nước, chúng tôi mở đường lên thành phố tổ chức triển lãm nhiều nơi, liên kết với bạn bè mở nhiều không gian mới, tuy khiêm tốn nhưng cũng là con đường để các hoạ sỹ tiếp cận, giao lưu với nhau. Các tác phẩm thoáng hơn, không nặng về chủ đề tư tưởng, các hoạ sỹ trở về với phong cảnh quê hương, đời sống văn hoá, sinh hoạt dân gian thu hút được những người sưu tập và thưởng lãm tranh lúc bấy giờ.
48
Lúc nhà nước bắt đầu mở cửa, Việt kiều trở về nước, tranh phong cảnh làng quê, thiếu nữ Việt Nam là những hình ảnh ký ức quê hương đườc những người con xa xứ ưa chuộng. Khi Hội Nghệ sỹ tạo hình Việt Nam thành lập chi nhánh phía nam, mở đầu là cuộc triển lãm tranh của các hoạ sĩ đồng bằng sông Cửu Long, công lớn là do hoạ sĩ Thanh Châu người Đồng Tháp. Tôi nhớ lần đó cũng góp tranh tham dự nhưng có lẽ tranh tôi không hợp với ban tuyển chọn nên bị bỏ vào phía những tranh bị loại, may sao lúc đó hoạ sĩ Dương Viên nhìn thấy nên được mang ra treo tại thành phố Cần Thơ, coi như mở đầu cho các cuộc triển lãm khu vực đồng bằng sông Cửu Long hai năm một lần và sau đó là triển lãm thường niên xoay vòng ở các tỉnh. Vĩnh Long có rất nhiều hoạ sĩ được đào tạo tại Đại học Mỹ thuật sau 1975 và rất đông hoạ sĩ trẻ trưởng thành từ phong trào nhưng sáng tác mạnh, thường xuyên tham gia các cuộc triển lãm tại Sài Gòn và đạt nhiều giải thưởng, được nhiều người yêu mến là Lâm Chiêu Đồng, Đặng Can, Tín Đức, Ánh Hồng... một số hoạ sĩ có tên trong danh sách chia buồn như Nguyễn Thái Bình, Vũ Ba, Lê Phúc, Thế Đệ... Sau khi đất nước mở cửa, các nhà sưu tập, yêu thích nghệ thuật tìm đến Việt Nam sưu tập những tác phẩm hội hoạ của dân tộc vừa thoát khỏi chiến tranh giúp cho các hoạ sĩ trở nên giàu có. Thời huy hoàng rồi cũng qua nhanh, do các gallery hám lợi, hoạ sĩ chạy theo thị trường, vẽ để bán, vẽ để xoá nghèo, nếu cần có thể chép tranh, làm tranh giả khiến những nhà sưu tập thất vọng, người mua tranh từ từ xa vắng, sức thu hút càng lúc càng giảm dần. Tuy thế, vẫn không làm nản chí những người đam mê sáng tạo nghệ thuật, một số hoạ sĩ hình thành phong cách riêng vẫn âm thầm miệt mài sáng tạo và đã có những tác phẩm xứng đáng trong trái tim của thời đại. Trong tình hình đổi mới của đất nước, hoạ sĩ được mở rộng không gian giao tiếp với thế giới bên ngoài, cách sống tư duy được cởi mở, cập nhật được nhiều thông tin sinh hoạt nghệ thuật thế giới, nhiều cuộc triển lãm giao lưu quốc tế, các hoạ sĩ trong nước ra nước ngoài triển lãm, các hoạ sĩ nước ngoài đến Việt Nam giao lưu. Thế giới phẳng đã giúp cho nghệ thuật Việt Nam không còn gò bó trong khuôn khổ. Các tác phẩm nghệ thuật Việt Nam ngày càng có giá trị trên thị trường nghệ thuật quốc tế.
49
Đứng trước một tác phẩm, sự suy nghĩ nhạt nhoà, chỉ còn lại những rung động của xúc cảm, người xem và người sáng tác như hoà một, tạo thành một sức mạnh bùng vỡ bất ngờ bởi năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ đã tác động đến người xem và biến nó thành sự sống, tạo sự hưng phấn cho mỗi tâm hồn của con người . Thế giới nghệ thuật hôm nay đã góp sức nhiều thế hệ hoạ sĩ, các nhà nghiên cứu, nhà sưu tập phát triển mạnh mẽ như suối nguồn chuyển mình vượt qua bao thác ghềnh quanh co uốn lượn thành dòng chảy của dòng sông lớn mênh mông bao la và hòa nhập vào đại dương vô tận. Tác phẩm đã xoá nhoà sự ngăn cách của cuộc sống, giúp con người gần nhau hơn không còn chia cách giữa đất nước, dân tộc, không còn biên giới, không còn xa lạ, chẳng cần diễn dịch ngôn ngữ, ai cũng có thể xem, có thể nhìn thấy và thông hiểu khi tình cảm được rộng mở, khi nghệ thuật đã thăng hoa. Nghệ thuật hiện đại, nghệ thuật đương đại hay nghệ thuật hậu hiện đại chỉ là con đường dẫn, người nghệ sỹ hôm nay tiếp xúc với nhiều thông tin, không gian sáng tạo mở rộng, nhiều phong cách, nhiều thế hệ, không còn sự cát cứ, gò bó, nhưng mỗi hoạ sĩ có phong cách riêng, có tư duy, xúc cảm riêng .Suy nghĩ về sáng tạo, chủ thể sáng tạo, là năng lượng sống, sự thăng hoa từ bản gốc của sự sống kết hợp sự tưởng tượng, đức tin, sự thiêng liêng, thiên phú cùng tu tập rèn luyện và nuôi dưỡng để hình thành, chứng và ngộ, sen trổ hoa sen, hồng trổ hoa hồng, những câu chuyện được đãi lọc, những ý tưởng tinh hoa được kết tủa, những tri thức ưu việt cùng góp phần chứng nghiệm cho sự sáng tạo liên tục và tiếp nối. Đứng trước khung vải trắng, tôi hít thở thật sâu, kéo một vệt màu khởi đầu, kêu gọi những vệt màu kế tiếp và cảm xúc như bùng vỡ. Những đường nét lôi kéo lan toả như đang bắt đầu chuyến du hành vào vùng đất lạ, lúc vươn dài, lúc lượn mình quanh co, tự nó hình thành một câu chuyện khởi nguồn từ tâm thức đang được giãi bày. Nhát cọ, vệt màu cuối cùng đã ngưng nhưng sự sáng tạo vẫn luôn thúc giục, mời gọi. Nghệ thuật luôn là sự khởi đầu và đâu là đoạn kết? Tôi tự hỏi và chợt nhận ra bản thân đang trong cuộc hành trình trở về nguyên quán và chỉ là hạt cát nhỏ nhoi trong sa mạc cuộc đời. Lê Triều Điển
50
51
Lê Triều Điển
THE JOURNEY OF ALLUVIUM Life is like a river, which at times flows smoothly, at the other time it may run wildly over rapids and water falls. In my memories the current of my soul is like the vast, slow and gentle river that bifurcates into the Hậu River and Tiền River, both of which ebb and flow according to the operating cycle of Nature. The scratches of the past and the cuts of time leave their tracks on my adventurous life. The tracks may be as faint as dreams or memories. Sometimes I wonder: Who am I? Where am I now? When the echo of the sound of water and wind is spreading on fields, and over gardens of memories, like inviting, or calling forth something in the past, the river keeps flowing silently. This is the long islet, Ba Động estuary, Cồn Ngao (Clam spit); here is the Lách Market place, Mỹ An, Thiềng Đức,... the places I used to live at in my childhood. The estuary, the river mouth, islets and arroyos cross my mind one after the other, in which looming the figures of people in palm-leaf rain coats and conical hats taking pains to do their fishing on the stream to seek their living. At the river mouth Xếp, river mouth Măng Thít, river mouth Phú Phụng, patches of water hyacinth are slowly drifting along with flocks of mallard on their forage. Flocks of storks are in equanimity on the ripe paddy fields. The river is still flowing smoothly and quietly. It comes from the Mother River which came to existence since time immemorial. In my memory, when I was five years old, I began to follow my parents up and down the water lines witnessing many changes when the French government took control of the Western South Vietnam. Multi local forces were splintered into small groups. Such religious sects as of Hòa Hảo, Cao Đài, and the Bình Xuyên camarilla rose to claim their power whilst the Việt Minh Movement rose up everywhere. People’s lives were engulfed in conflicts. News of fighting spread from house to house every day. 52
Today, French soldiers were raiding at Cầu Kè, arresting people, raping women and burning houses; the next day, Việt Minh would come setting fire to markets and temples, committing murders and threw their victims down a stream for the sake of punishing French’s lackeys and suppressing the evils. After a battle, the dead and the wounded were brought by hammocks to the township, whereas those of civilians were shipped by sampans to civil hospitals. The sky was grey. It was raining slightly. In the river at night, some fishing boats with gloomy lights from their kerosene lamps showed a shade of forlorn melancholy. The sounds of night herons and frogs made the life there more dismal. In the upper reaches of the river where the township was, the light was shining on the horizon. Across the river, the rumble of troop carriers presaged a new raid. In the distance, some discrete sounds of rifle shots from a military post of a religious sect that stopped boats on the river to collect taxes. And the river was still running silently in the darkness of the night. As the country was in war time, nights were deep and melancholy. At night, innocent children were usually startled from their sleep by the thunderbolts. That night, all members of my family were woken up by the explosions of artillery bombardment. My father drove all the folk under the trestle bed to get sheltered. “Be calm,” he assured us. “It’s probably that French boats are on their raids.” Every month, French warships coming from the sea would empty all their “big guns” at a pot shot at the villages on both sides of the river to give people a fright. Fusillade and fusillade of shells breaking through the space, whizzing in the air came down onto the villages and orchards, rumbling everywhere in the dead of night. The sounds of boat motors, and that of the waves flapping against the both banks frightened all birds in gardens. French ships kept patrolling on the river all the month and then they disappeared. After the raids, the river was peacefully running again in the quiet nights. The river was covered with the faint light of the new moon. Silent silhouettes of trees at night were like people standing thoughtfully. There came the sudden sounds of a two-stringed guitar which were very melodious, now rapid and then slow, evoking something melancholy in the quiet night. At times there were sounds of a wooden fish and a bell from some small pagodas along the river. Then there were sounds of gun shots made by some sentry who might be startled by the noise from a patch of drifting hyacinth. 53
Lách district which afterward became Chợ Lách, was a small market place situated on the Vàm Xếp River, cut across the Minh Islet from Cổ Chiên River to Hàm Luông River. The market held a wharf dock, a ferry station, and a shopping mall, like the local market places at all districts of the West of South Vietnam. The houses ranging along the river banks were shops selling all kinds of goods from fish sauce, salt, sugar, milk to clothes and textile fabrics. In the shopping mall were people selling and buying their local products. The market was crowded in the morning. At noon the market was dissipated as people were going home leaving some sellers whose products were still on shelves that they had to stay late to sell them off. On both sides of the market there were some permanent corner shops, eateries, coffee stands, and herbal medicines. At the district, beside the main military post there were some watch towers. A Catholic church was situated some hundred meters from the market place, close to which was a Caodaist Church. On the river was a wharf where engine operated wooden boats were transporting fruits from the district to Saigon and thence back with the city’s industrial goods. Buses carrying passengers were commuting from Chợ Lách to Vĩnh Long, Mỹ Tho, and Bến Tre and back. On land transport, the small macadam road was used by some chariots carrying passengers to Mõ Cày and Cái Mơn, two trips a day. When in my childhood I once rode a chariot along with some Christian nuns to Hòa Nghĩa. The nuns were very pretty; and they were clad in nun costumes that looked very solemn. The childhood had past. Time elapsed quickly. Ten years, and twenty years flew over like in a dream. Layer after layer of time overlapped; layer by layer interfaced with one another like a spider web, now it was hidden and then it appeared like a river that sometime in torrents and sometime running smoothly. Once when I was about five years old I used to wander in a garden near my house, by beds of lush vegetables; my bare feet were touching the soft soil and fine silt. My father was hoeing the soil from afar. I was running here and there over the beds and plants. This framework was for cowpeas, the others were for bitter melons, and for cucumbers, then beds of eggplants, and those branches were heavy with ripe tomatoes. My father, in essence, was a farmer, in his youth he was educated in Confucianism, he read and learned Chinese classics and history books. Under the French domination, Quốc ngữ script 54
started to be taught widely, my father responded to the Đông Du movement, wore short hair, studied Quốc ngữ script; he completed his elementary and then primary education. He grew up in a half-civilized environment which was not in Western style nor was it in Eastern style either. At his youth he was caught up in the whirlwind of history. Disappointed with things of the time, he went to study Vietnamese traditional music with national instruments. When grown up and got married, my father owned a boat carrying fruits from Chợ Lách to Saigon and sold them there for a living. In his free time, he joined a band playing traditional music at worshipping events at temples and pagodas. Because our hometown was raided time after time by French troops looking for Việt Minh, and their guns and bullets could never discriminate between the good and the bad men, nor could they know who were civilians and who were their enemies, my father lodged his family temporarily at the district market to protect his wife and children. Being a literate man as having learned Quốc ngữ script, my father was given a job as a tax collector at the market place. Our living was temporarily secured, but we were considered by Việt Minh forces as a part that cooperated with the dominating government. Every morning, I followed my father walking on the riverbank along the market to watch river porpoises swim racing against one another, then I went back near my home to join my friends, playing in front the district church. My first paintings were of a church depicted with a piece of potsherd on the courtyard, and the tiled roofs far behind groves of trees. Sometimes I drew the silhouette of my father hoeing the soil. In my memory, the images of bald-headed river porpoises swimming behind boats were so lovely. Later on, it was said that since many river porpoises had been shot and killed by military guards, they were no longer seen swimming to follow boats. So far, the river has been devoid of porpoises, those intelligent, innocuous creatures that love helping people. Life was thought to be as peaceful as is the river with its tide on the ebb and flow, the carefree days of my childhood were passing over. Then it came one day when the Viet Minh attacked the district, everything was engulfed in the fighting; houses were set on fire, people were killed and wounded, the market town was in ruin. My family weighed anchor again. We found 55
ourselves on a sampan, together with some neighbor families’, we moved to Vàm Xếp across the Cổ Chiên River to plead for shelter at a small Cao Đài temple on the river side, leaving behind us the sounds of gun fire echoing in the night. The river was gloomy at night; with the sound of water slapping on the boat sides the tired sigh of adults were heard. The sounds of gunshots were farther and farther away now. The boat rushed forward, skimming the reeds and the nypapalms, heading for the bank where some old brick kilns with dilapidated roofs had been deserted for years There came several other sampans of refugees fleeing the chaos. After having kept people residing on shore at Cả Kè market informed of our situation, we disembarked and brought our belongings to the kilns where people awaiting to be allocated accommodation. Next morning, we refugees made ourselves acquainted with one another, told something about the battle we had run away from, and discussed some ways to live on. On the other side of the river, some gunboats were moving along the river shore; they occasionally opened fire aimlessly at the gardens. The Cả Kè market was located on the bank of Cổ Chiên River; a small canal flowed into the land watering the field with its alluvium. There was here a Cao Đài Temple and a small military post. The market was comprised of about a score of people, selling and buying some fish, vegetables, and some kinds of rustic cakes. The market opened until ten o’clock in the morning. My mother and my sister made muffin cakes and pigskin cakes to sell at the market. Every day, my father drove his boat fishing on the river to bring home the bacon. He often played his two-stringed instrument with the ritual music band in the evening. My family experienced many ups and downs. After five months at Cả Kè we had to leave the kilns for Phú Phụng. Then again, after four months at Phú Phụng, seeing that our life here could not be secured, we – including ten families – moved to Vĩnh Long finding a place to settle down. The place was the Cá Trê arroyo, more than two kilometers far from the Vĩnh Long market. Living in a suburb, not very far from the market, while our parents were seeking our 56
daily bread, I felt it a great pleasure to have left the gutter for this place where we could see many beautiful houses and good roads with bustling vehicles, and crowded markets. My father again joined the ritual music group playing at temples and pagodas, and he went fishing in the evening. My mother and my elder sister bought a stone mill to grind flour for making cakes to sell to people in the neighborhood every morning. My house was in a hamlet located along a small canal which was a branch from the Thiềng Đức River. Thiềng Đức itself was a branch of Cổ Chiên River, flowing along the Vĩnh Long Market to Long Hồ and bifurcated into small branches, one of which was called Cá Trê Arroyo. On Thiềng Đức River there were sometimes a French warship anchored near Cầu Lầu Market. Villagers of Cầu Lầu village loved the refugees, and allowed them to set up their huts along the road by the river; across the road were spacious houses of local officials, teachers, and nurses. Behind the houses was orchards and paddy fields. There was also a pitch for people in the neighborhood to play soccer. An iron-sheet roofed theater was built near the Cao Đài Temple, a Cải Lương troupe would come to perform here every month. My mother was a special woman. She came from a government officials’ family. My maternal grandfather quitted the Royal Court in Huế to come back to Chợ Lách to seek a new career. My mother was his second wife’s daughter. Although not being allowed to go to school, but my mother, who had been born into a well-educated family, was educated at home with moral principles in the family tradition and she was good at the four virtues that were usually expected from an upper class lady. She learned by heart the verse novel Lục Vân Tiên; she taught her children those proverbs and folk songs that she had been taught by her mother. My mother was very good at producing kinds of homemade cakes and sold them every day to help bring up her children. After hours of hard work by day, she never missed an evening without enjoying a theatrical drama a Cải Lương troupe had come to perform at our locality. She was the one that loved most watching Cải Lương in the neighborhood. My big sister and I were her followers. My childhood was as carefree as a plant that was growing year by year in the loving care of my family. In addition to school hours, all childhood games at that time are still strong in my 57
memory now. My most interesting hobby was following some older buddies to go catching fighting fish and brought them home to rear them… My world then was with lots of wishes and dreams. It was like a beautiful dream that fills my memory although the war then was continuing; every day, many military trucks were seen filled with soldiers rushing away. Having had a little money, we would have some ice cream, or some « gỏi » of papaya, a dish made of shreds of raw papaya in sour and chili sauce, or very delicious syrup on smashed ice. Every week, good students were awarded tickets for watching film by the school. Others who wanted to enjoy watching films reserved for primary pupils might buy tickets at the Elementary Education Service. Before the film started, its content would be summarized by our teachers. Our childhood was enriched with many wonderful worlds through those foreign featured films about such characters as Tarzan, Zoro, Spiderman, Samson… The good impression we got from our teachers and from the lessons in the National Literature textbook, and such allegorical tales as the Tongue, Feeling an Elephant, a Bowl of shallot broth… from that village school taught us to be grateful to the farmers, the weavers, and those who live and contribute to life, as well as to appreciate the importance of time through the tale of the Divine spool. Layers of memories, one overlaps the other, with the colors of childhood in each drawing line doodled on the ground or on sheets of old paper. The yellow of marigold, the green of chili leaves, the purple of basella alba berries, the black of soot… one layer overlaps the other, they appear and disappear in my memory. The silly drawings in an innocent time were like children’s games that resembled those symbols people used to mark something they wanted to remember in time immemorial, when writing letters were not yet available.
58
59
60
My school, situated next to Cái Cả River, was an old communal house. Under the shade of trees, the “nhà rường” architecture of the moss covering roofed communal house with its lacquered boards and antithetical couplets on the both sides looked very solemn. Those teachers, who were teaching from the educational program, loved their students like their own children, teaching them how to live, how to treat people with kindness by telling them stories and fairy tales from peoples in the East and in the West. From such stories I learned about the Tiny boy, the seven-mile boots, the divine lamp, Snow White and the seven dwarfs, and Cinderella, besides stories of Tấm Cám, Thạch Sanh Lý Thông, Phạm Công Cúc Hoa, The Frog and Kiển Tiên, and A Little girl in the bamboo tube that I read to my mother every day. Students were eager to learn, and they loved their teachers very much. I still remember those dear teachers, Mr. Tôn, Mr. Thích, Mr. Vi, Ms. Lĩnh… Later on, Ms. Lĩnh became a great writer of South Việt Nam Literature, whose pseudo-name is Nguyễn Thị Thụy Vũ. Khung Rêu (Frame of Moss), and Mèo Hoang (Wild Cats) are her well-known works that won a literary prize in Vietnam before 1975. Mr. Tôn was a teacher and also a poet. In the first year I started my studying with him, seeing that I was good at hand writing, he asked me to re-write hundreds of his poems into a simili bound hard covered notebook. Every day, after school hours I had to sit down to write painstakingly and carefully each word of his verse, hence I could read the thoughts and feelings of the man who was concerned with life and the times. The school yard was the spacious courtyard of the communal house. On our hands-on practice, we were instructed by our teachers to grow vegetables, and flowers in cuts and beds. Under an old tree of royal poinciana there was a stall selling food for breakfast and lunch. Sometimes, The years in the primary school at Tân Giai were unforgettable in my childhood memory. Every summer, good students were awarded a trip to Vũng Tàu or Sài Gòn by the school, or a Springtree party would be thrown at the residence of the provincial governor on the Tết occasion where all students might receive gifts. Was that a way of popular mobilization by the Protectorate or of Western culture? We children just innocently welcomed it with our blithe joy whereas the national history was changing day after day.
61
Having beheld new spaces and beautiful landscapes of the homeland helped strengthening my will to study to enrich my knowledge, nursing ambitions and dreams. For me, Saigon was then a beautiful and bustling city with its bright light and spacious buildings that was quite attracting and urging me on. After finishing the primary education, some friends of mine and I urged one another to apply for the Saigon’s Cao Thắng Technical School. At the end of the last year of primary education, before l left the Tân Giai primary school, I was chosen to take the role of a Royal groom in a play written by Ms. Thụy Vũ, in the school event at the end of the school year. It is a beautiful memory in my mind about the dear school in my school life. I passed the Cao Thắng Technical School’s entrance exam in 1954, starting my adventure in education in Saigon with great dreams. I was twelve years old then. My family was very poor. Our shabby hut had been slightly expanded since I had four younger siblings. Living in poverty but my parents tried their best to send us to school. That I was going to school in Saigon was a burden on my parents. As time went by, my memories were fading away, but my thoughts kept growing, changing day after day like the river flowing, from a stream through rapids, into the mother river and then to the sea. The river in me twisted itself in historical times, as if it ebbed and flowed when the country was in prosperity as well as when it went to the dogs. The spirit of water was transformed into the wind and clouds everywhere. The humming sounds of water running, the sounds of waves flapping, and that of the winds whirling and the rain pouring mingled with the endless rhythms of the Heaven and Earth. Taking a nip of water in the middle of the big river, you could feel the natural sweetness and love spreading endlessly in life. Sometimes, sitting silently by the river in a quiet night, listening to the breath of the heaven and earth, I often wondered who I am. Where is the fate, or the destiny of a finite human life in the infinity of the heaven and earth? Life is so fragile, every moment passes in war, in slavery, in the flow of history. At the beginning of the school year, my father took me to Saigon to look for an accommodation to lodge me in. As I was going to the public school, no tuition fees were required, but my family was to pick up the tab for my monthly food. It was lucky that by the next year, thanks to my hard work I was grunted a scholarship, which was a relief of worries 62
for my family. Though the art of industrial painting was not my liking, it helped to train my techniques and secure my study in our poor and backward country. It was a blessing to be nurtured in a new educational environment. Since Vietnam was in the ideological war of the great powers, the country was then divided into two parts. The Saigoneses and people of the South received two million immigrants from the North. As the war had come to an end, people’s life was temporally stable. Many Northern intellectuals had migrated into the South; a lot of them participated in education, whereas many others were famous writers and poets, together with the ones returning from abroad. Having studied for a year, I knew I had been wrong when having enrolled in the Cao Thắng School, but with the raw mind of a fledgling, I thought I should continue studying, the future would find its answer later. I tried my best at every painting lesson at school. I studied with teacher Thịnh Del (Paris Fine Arts) at the first place. The next year, I studied with Mr. U Văn An (Indochina Fine Arts), Mr. Trần Kim Hùng, and Ms. Trương Thị Thịnh (Gia Định Fine Arts). Besides being the teachers of the basic art painting program, they were painters themselves; they suggested me more about art and creativity. Stories about one’s careers and creative experiences as well as images, and creative life and works of such world artists as Matisse, Renoir, Picasso, Gauguin, Van Gogh and Chagall opened me to a world of new, rich and wonderful arts. The time when I was in my childhood wading and swimming in the rivers and drifting everywhere with my family during the war was over. I was now a loner living in this busy city of Saigon. Sometimes I had to contend with my illness, or to stand being beaten for no reason, to survive in the new space, where there were not only the haves living in their lavish lifestyles, but also the have-nots in their abject poverty. There were also pieces of life suffering their extreme difficulties that I could not help giving them a hand even when I was not any better than they were. The river of my childhood has retreated into my memory. So have the images of fragrant rice fields, the fresh and verdant green gardens, and the kites gliding on the winds in the sky in my childhood. The path of my dreams were quite afar, what were real now were a dark alley and 63
two pails full of water heavy on my shoulders and the meal that came every dinner was tasteless in the homesickness which came as vague as a road far away. Apart from studying painting at school, I managed to study literature with Mr. Nguyễn Thiệu Hùng, a prize winning poet, whose pen name was Mai Trung Tĩnh. He instructed us to go to the library to choose books to read enriching our knowledge on literature of the country and in the world. Therefore, aside from school hours, I often went to those bookstores such as Khai Trí, and Xuân Thu, and to the American Library to acquire more knowledge on arts and art history. Vietnamese books on arts were rather few and far between at that time. There was a completely lack of commentaries on arts, researches, and criticism. Only those such magazines as Tìm Đẹp (Seeking the beauty), Tìm Hiểu Hội Họa (To understand Painting), Câu Chuyện Hội Họa (Talking on Painting)… were found available. But those folk tales about Trạng Quỳnh, Họa Long Điểm Nhản (drawing a dragon and making its eyes open), Người Đẹp Trong Tranh (The beauty in the Painting), Bích Câu Kỳ Ngộ (an interest meeting at a small stream) and stories about some artists' life were the first luggage that helped me forming a view of art, that was creativity, and the searching of an artist on his way back to his ego, returning to the deep source of creation, of his soul, not just his diligence and skill, it contributed to the formation of my passionate, engaging myself to the absolute love on the way of my art journey, a path with no destination. But those folk tales about Trạng Quỳnh, Họa Long Điểm Nhản (depicting a dragon and making its eyes open), Người Đẹp Trong Tranh (The beauty in the Painting), Bích Câu Kỳ Ngộ (an interest meeting at a small stream) and stories about some artists' life were the first luggage that helped me forming a view of art, that was creativity, and the searching of an artist on his way back to his ego, returning to the deep source of creation, of his soul, not just his diligence and skill, it contributed to the formation of my passion, engaging myself to the absolute love on the way of my art journey, a path without destination. One morning my schoolmates and I were going to school as usual. It was strange enough that the school gate was cramped with bicycles in chain locks and many scribbled notices had appeared. Stay out of school. Go down the streets. A crowd of students armed with sticks and 64
chain locks was heading towards the Saigon College of Letters. Most students could not make head or tail of what had happened, neither did they know what they were doing, but the exciting atmosphere of the youth was urging and attracting them in groups. Perhaps some of them got it, because they were the mastermind that had aroused the youths’ movement, and we were just excited kids following them. Protesters were supported with drinking water and bread by many three-wheeled vehicles. Having joined the demonstration for a while, I left the fiery crowd of my school mates and headed for the library. When attending a military training course at school I was lucky enough with my painting skill that I was appointed to illustrate kinds of weapon for the teaching staff instead of going to the training ground and doing military physical exercises as my school mates did. Tao is a way, Tao is life, the way of life lead me through many living approaches which might be like roads that were twisting and turning and being narrow, then immense and spacious; or they had been a straight roads then became tortuous and rugged. When five years old, I had taken a piece of potsherd drawing passionately on the ground of the old church yard in my village. I drew the beauty of nature. My notebooks then were filled with my dreams in sketches. Then I was fumbling in the art environment like someone swimming, he swam forever in an immense river with his loneliness and an inevitable restlessness. The rainy season was coming again, the first torrents pouring down, raining water was rushing, the whole river turned red with alluvium. Shrimps and fishes were coming down from the upper reaches of the river. My dad went fishing. At times I could receive pots of fish or prawns drily cooked sent from my family. Saigon in the first years of the sixties of last century was rather turbulent with a gloomy atmosphere. News from battle fields and political activities covered the newspapers. The war increased its fierceness from Bến Hải to Cà Mau. Demonstrations occurred continually in the streets, the participation comprised not only students but also journalists and monks… The US brought their strong forces into Vietnam. US Advisory bases were attacked with explosive or mines. Anti-American movements came into being throughout the South of Vietnam. Students were arrested and pushed into military training camps. Young men had to put off many of their dreams, their future turned gloomy and dark. The war came to its peak. Facing the war Vietnamese young men had to make their choice. Some jumped into the forest participating the resistance, others were caught into the 65
military service for the RVN whereas some others did not accept the war, and avoided fighting against any side, and became an anti-war force. I left the Cao Thắng School to spend two more years studying at the Phú Thọ Polytechnic College and shared the fate of those who were indecisive and disliked war. Sometimes I wondered who I was. Where was I going and where would I go? My mind was puzzled and my emotions were in an uncontrollable confusion. The vitality in every human being needs to be nurtured and cultivated. His emotion should also be evoked, then his creativity may break out itself. I gradually eliminated all the craftsmanship, got rid of technical performance and returned to the nature of my innocence like a child drawing as simply as those ancient people leaving their paintings on cave walls, with emotions as transparent as water from its source flowing over gravels and stones to reach the plains. I painted, erased, and painted again in an excited elation as the colors were dancing like being haunted. Sometime, I sat watching my works and I felt as if I had been straying that far, too far. In order to avoid being forces into the Military Officers Training Center at Thủ Đức, I and a few friends enlisted into the mechanical department of the Air Force with the purpose of going to the United States to study mechanics, but it was unlucky that, unlike the previous courses, this time the training was to be done in Vietnam, so that I continued to fiddle with technical drawings in spite of any changes in the world around. When the training course came to an end in 1964, I was transferred to Đà Nẳng, and a new life began. Having completed the aviation mechanics course in Saigon, I was sent to Đà Nẳng Airport. During the wartime, Đà Nẳng was an important military base in Central Vietnam, where many social activists gathered together. Circles of intellectuals and men of letters and artists also had their cultural exchanges here. At the age of early 20’s, I began reading Buddhist books, Zen history, Góp Nhặt Cát Đá (Vietnamese version of Shaseki-Shu by Muju, a Japanese Monk), Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Krisnamurti, Suzuki, Nhất Hạnh, and Nguyễn Hiến Lê… to get more understanding on human condition. I found myself less pessimistic and less deadlocked on the way to find the truth. I rushed into painting. I kept painting to forget my loneliness, and I painted my deep sorrows in my soul, to find myself, to return to the joy and sadness and the sufferings of a human life, and to receive every emotional moment of the life I was living. 66
67
68
Đà Nẳng was then in chaos and violence: war, fighting, and demonstrators brought their family altars into the streets as barricades. Street surfaces were torn apart by tank tracks. American troopers and prostitutes were seen ubiquitous. The place was flooded with boredom, sadness, and there was no way to flee one’s destiny. I was painting like crazy. In my paintings were rows of topless coconut trees, girls with their melancholy. These paintings grew out of the going life, they seemed to prove my presence at that time. Living in Đà Nẳng but I always missed Vĩnh Long, I missed the road from Cá Trê Canal to the Công Xi Heo Bridge and to Vĩnh Long market, the slightly curved road on which was the studio of artist Quý Hữu who, apart from painting shop signs with sharply written three-dimensional letters, he also painted landscapes and paintings for worshipping service. Every time dropping by his studio, looking at him working, I could not help my admiration. When my family was living here, he usually came drinking coffee at the coffee house Đỡ Buồn (lightening sadness), I learned that he had moved here from Sa Đéc – Đồng Tháp. He was clever, courteous, and a man of the world. He was a good talker. He was also the representative of my family in my wedding ceremony since my father had passed away previously. Aside from the Quý Hữu studio, I often came on a portrait painter who used to sit painting in front of the barber shop Tòng Bá at Vĩnh Long Market. This artist had come here to work for just a couple of months and then moved on to another province. The Tân Giai Primary School came by a painting teacher, Mr. Trần Hồ, who used to teach me basic lessons on painting, and I often visited his house to watch him painting. Later on, when grown up, I once came back to Vĩnh Long inviting him to join me in a common exhibition in Cần Thơ. When I was studying in Saigon, I learned about another Vĩnh Long original talented artist, Mr. Lê Mậu. He had studied at Biên Hòa Fine Arts School and then moved to the Đông Dương Fine Arts School. Later on, he taught at Biên Hòa Gia Định Fune Arts School until his retirement. Until 1975, the Southwest region acquired many talented artists: Hà Khê of An Giang, Trần Đình Nghĩa of Cần Thơ, Văn Đen of Trà Vinh, and Nguyễn thị Tâm of Mỹ Tho. After 1975, the two parts of the country were united, many South-born artists came back from the north, such as Diệp Minh Châu, Ca Lê Thắng, Nguyễn Sáng, Thanh Châu, Trần Trung Tín… The number of painters increased. Alluvial lands had produced many talented artists well known in the country and in the world, among them Lê Văn Đệ was a Rome Prize winner. I am 69
indebted to Ms. Băng Lĩnh, Mr. Tôn, Mr. Trần Hồ, who had kicked off my love of arts and I engaged myself to painting since then as my lifelong career. The war was getting higher and higher. In the Mậu Thân New Year’s eve, while I was with some of my friends wandering in Đà Nẳng streets, the sounds of gunshots were rising blended in with those of firecrackers, and people fell down dead. In deadly scare we were running for dear life under fire. Explosions broke out around mixed with the sirens from ambulances. I was like walking in a nightmare witnessing rows and rows of stretchers in the corridors of Duy Tân Hospital. Some bodies was half burnt, some people were writhing in pain, some ones had their heads and bellies in bandages, others suffered their both legs broken. Their bodies wounded and their eyes were full of scares. There was no way to describe all the devastating pain caused by the war. Death and agony were common across the place we were living at. In such a situation a friend of mine pulled off his painting “Chứng tích” (Proof) and had it displayed in his exhibition in Saigon stirring up the circles of artists and journalists at the time. Having lived in Đà Nẳng for four years, I requested and accepted to be transferred to Cần Thơ. Like water that turned back to its source, I was so thrilled to be back to my home land.Seen from high above the rich green of the mountains and forests below, the pink of soil, the yellow of paddy fields, freshly green patches interwoven with long and short square sections of streets and houses, a wonderful mosaic with beautiful colors that changed with time. I was emotionally moved. It was regretful that the history was so harsh, the country was being destroyed day after day by the war. And day after day, numerous tons of bombs were continually devastating our homeland. A muster was taken by our friends at Mây Hồng Café every afternoon to see who was present, and who had kicked the bucket, and to keep one another informed about what was happening on the day. Once, someone filled us in on something allegedly done by poet Luân Hoán. Rumors had it that once, on his way escorting prisoners of war from an outpost to town, at a rugged and deserted place, Luân Hoán discharged his gun into the sky and released the three prisoners letting them flee into the forest. As for us, the war was extremely meaningless. No one would like to shoot and kill a fellowman of the same race, the same color and the same nation. But death happened every day, every hour; pain and agony seemed to encompass the villages when gunfire was open. The friends were looking at one another sadly. When would the war end? How could one 70
escape the gloomy atmosphere of the war? Books, quotes from sutras, morals, compassion, lessons from school, all seemed to be broken in me. Was I running away or was I looking for an escape route? I asked myself who I was, and what should I do? Was I then a stranger in my home country or was I a witness of the history? I was confused in a flurry of ideas, and life kept pushing me drifting away. Back to Cần Thơ I was like a duck took to water. I returned to the river full of alluvium and the memory of my childhood. I met with my friends, those of my peers in artistic circles. I threw myself into my paintings, the works expressing sadness, impression of human being in the war. I found awakening in creativity, and holiness and peace in every brush stroke. I found the conveyance of feelings through language of love and colors. I read more books and met more people. It seemed there was something urging me that helped me gaining more faith on the way I was going on. The Southwest was relatively quiet, the war was not so fierce here as was in Central Vietnam, in spite of the presence of GIs and US advisors in many streets. In 1970, I managed to hold an exhibition at Vĩnh Long Library and later, a group exhibition took place in Cần Thơ. In 1971, a personal exhibition of mine was organized at the US Cultural Center in Cần Thơ. In 1973, I had a solo exhibition at Phan Thanh Giản School. After each exhibition I acquainted more friends in artistic realm in which such artists as Nguyễn Thân, Ngô Bá Đản, Trần Đình Nghĩa, and such poets or writers as Ngô Nguyên Nghiễm, Trần Hoài Thư, Trịnh Bửu Hoài, Trần Yên Thảo… were included. We all set up a Café named Góp Gió (Collecting Wind) as a rendezvous for friends in artist circle to meet and introduce their works. Especially I managed to make acquaintance with poet Chu Tấn and artist Ngy Cao Uyên. Ngy Cao Uyên was working in CầnThơ but he often went to Saigon for his art activities. He was one of the founders of Young Artists’ Association of Saigon. It was my luck to have encountered him since he would helped me acquiring an environment for my creativity. On his free time, I was allowed to come to his home to have a look at his collection of books on the arts of the world; he had bought nearly three tons of books from the United States. Thanks to him, I did not have to be present at the air base every day. I only signed in once in three or four months. Most the time I stayed working at home and I joined my friends in our press activities and painting. At that time, Góp Gió Café was located at Mít Nài Market on the bank of Cái Khế River, a place usually patronized 71
by all kinds of people: persons of letters and arts, students, servicemen, and those who were shirking military service, and deserters. We organized such activities as newspapers printing, poetry reading, paintings exhibitions, and we even invited Phạm Duy’s family group to perform a musical night. The existence of Góp Gió Café relied on the big support in money from people like Trần Như Huỳnh and artist Ngy Cao Uyên. Góp Gió Café gathered friends in circles of arts in Cần Thơ as well as those “knights-errant” and deserters, creating a very exciting artistic environment. Amongst poetical and musical events was a whole night reserved for Quang Dũng’s poetry on the theme “The eyes of a girl in Sơn Tây” which made a big hit. More and more men of letters came to join us. Phan Tấn Thi, Vũ Hữu Định, Tường Bá, and Bùi Đức Long were amongst those who made their presence felt regularly at the events. Artist Ngy Cao Uyên founded Con Đuông publishing house and he published poetical works of Bùi Giáng, Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê, Nguyễn Tôn Nhan, Trần Hoài Thư, Thanh Nam, Trần Dạ Từ, Hồng Lĩnh, Ngy Cao Uyên, Trần Hữu Dũng, and Chu Ngạn Thư at his expense. I was the one that prepared the covers for their works, each different cover for a book, no one resembled any others. That was a special memory of what I have done to my peers. The country was in a bitter war. I was fortunate enough to get acquaintance with some men of letters and arts who helped creating living spaces for activities of arts creation, and I threw myself into working as to express my gratitude to the life. I am always grateful to poet Nhân Hậu, artist Ngy Cao Uyên and my close friends such as Đặng Văn Cừ, and Lương Bạch Mai. Human life was like a journey through many stages, some of which were easy to go, but others were difficult and dangerous that we might think they could defeat us, but with our will and determination, we would manage to conquer those peaks or pass over chasms that sometimes we could not be aware of. I grew up in a poor family, and went through fire and water in a war torn country, getting in touch with fragments of cultures of peoples around. I was happy to have acquired the
72
friendship from those who helped me get enough aspiration and energy to continue my passion as a career. I was still doing my painting but sometimes I felt lost and had a vague feeling. Sometimes emotions and dreams seemed to bloom in me. But sometimes I sunk into the darkness of my mind. At times I talked to myself, but other times I let go of all so that all my emotions faded away. I painted, then erased and then painted again. Strokes of painting knifes or of brushes made deep scratches in my mind. I was like being sinking in a dream. Painting was my pleasure, and it was also the release of an extreme pain in me. I was afraid of dreams with the images of a man dead of being burnt, and of someone groaning with pain. I was afraid of the widening eyes and the mournful cry of the bereaved. Sometimes I was like a person who got lost in the past and was out of it in the future. At times I forgot who I was, where I was at and what to do, having read a thousand pages of book without understanding a thing, living day after day without knowing where my life would be to. Colors were like being changing virtually, drawing lines were fuzzy. Sometimes I felt myself like a child, letting drawing lines flow away in unconsciousness. Other times I saw that I was like an ancient man that was carving lines on a cave wall. The flow of life was bringing me along. There were times I let go of brushes, loving a musical instrument, loving chants and songs and melodies, and the quotes in a Buddhist sutra or a verse on a page of a book. But it seemed that all that I had collected were put into a bottomless backpack. The bag of heaven and earth is empty forever. In retrospect, I found myself having acquired nothing. Everything was out of sight. Elapsed moments were meaningless and I continued to be in the search. Cần Thơ was a big city in the Southwest region where some buildings built under French colonialism were left. Since US troops made their presence in South Vietnam, Cần Thơ became a strategic military point with two airports, Bình Thủy and Trà Nóc. At night, Cần thơ reflected over the water of the immense Hậu River. Cần Thơ Market was situated on the river bank. Ninh Kiều wharf was usually in a bustle with kinds of boats. On the other side of the river was a fishing village melancholy in dim light. This area was patrolled up and down by warships and patrol boats day and night. In the night sky, the sound of reconnaissance aircraft was heard as well as with that of artilleries that echoed from afar reminding that the war was going on. 73
The peaceful Hậu River was still running in its ebb and flow. In rainy seasons, the water, turning red with alluvium from the upper reaches of the river, raised its waves when a warship was passing. The light moving on the rippling water was like crystal fragments. Nights seemed insecured whilst military trucks following one another to Bình Thủy, Cái Răng, Cái Tắc. I was worrying hearing the exploding sounds of artillery bombardment in the airport. The war was spreading more and more. The Hậu River was still flowing bringing alluvium and fishes to support people’s life. Its flow was still impregnated with love. The mutual help and protection of people in the Southwest region was a so warm and emotional thing that waked the trust and love in the soul of a drifting person like me. The river was like a human soul, always simple and tolerant, even when it might get sulky, but it would quickly return to its peace to flow silently. The distance from Cần Thơ to Vĩnh Long was more than 30 kilometers. I went visiting my parents and my younger siblings at Cá Trê Bridge every week. A friend of mine was always ready to lend me his Honda motorbike with a gasoline tank filled, and I would hit the road in the morning after having had breakfast. My habit was that I would go anywhere I wanted to, all in a sudden, without notice. Sometimes I would stay in Vĩnh Long for a whole month, regardless of the Army’s discipline and the system’s regulations, without my friends’ generosity and tolerance I do not know what I would be. Born from the alluvial land, the vast plain between the surrounding rivers, day by day facing the vast and deep water of the long rivers containing in it many fairy tales, relics, and legends, I grew up from lullabies, and folk songs. The river, like an endless song, flows year after year, in sunny seasons and rainy seasons, in its ebb and flow with fresh water and then brackish. I was following the river as was the water hyacinth, passing many shores and reeds.
74
75
76
I looked at the river or at the freshly green islets like watching the life of my childhood. I looked at patches of colors on the canvas like watching paddy fields ready to be harvested, or like a forest devastated by clearing chemicals. Colors were spilling over, the crevices on mossy walls of the past, or the vague ambiguities of the future. I asked myself where was water running to? Where would water gather at? And I wondered whether the steps were heading towards the sun or to the darkness. I sat in silence in front of the white canvas, found nothing in the gloomy and sad colors. I completely lost my bearings, Was it the east or the west? The darkness turned everything fuzzy. The bell from a pagoda was chiming in the night, the insects were murmuring. The river was silently running into the sea. The night was so quiet and deserted. Sometimes, when standing in front the white canvas, I felt very sad. It seemed as if I was lost somewhere, alone in a street at night; unexpectedly, tears welled up in my eyes. I walked as if I was floating to no specific directions, I got rid of all consideration, books, history, and life. I felt uncertain about everything around, even uncertain about myself. But, fortunately, once l lost myself walking into an ancient pagoda where the gentle countenance of the Buddha with his very calm and peaceful smile and his tolerance and compassion enlightened me. I saw rocks being eroded away over time, walls covered with moss, but his smile was still quiet and peaceful. I decided to return home. The first night I returned to Vĩnh Long, there was a funeral of a young soldier in the neighborhood. Along with the wails, sighs, and tears, exploding sounds of artillery shells and of airplanes were heard in the night. The war became more and more violent, more Vietnamese young men were done for. So many tons of bombs were dropped bringing death and devastation to the country, many villages and houses were destroyed and, many families had to suffer unexpected bereavement. War, war, I extremely hate it. After the Mậu Thân Offensive, the war spread everywhere. The most catastrophic zone was in Central Vietnam. Numerous young men from both sides had to perish at Quảng Trị in that Red Fire Summer. Newspapers produced much coverage of the war every day. Hospitals were crammed with wounded soldiers and civilian war victims. But artists, in all circumstances, had to compose their works, anti-war works – reflecting the bitter war – songs expecting peace 77
were sounded every day. Students went down to streets demanding the end of the war, objecting to military service. Even so, I did not give any exhibitions a miss. I came to enjoy looking at the works of groups of artists in Saigon including those of Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Mai Chửng, Nguyễn Thanh Thu. In Huế there were Trịnh Cung, Đinh Cường, Trương Đình Huế. In Cần Thơ there were Ngy Cao Uyên, Cao Bá Minh. The painting spaces were always animated with foreign artists from France, Taiwan… Painting was to load living energy into one’s emotion. Watching paintings, reading books, and studying arts helped strengthening my belief that beauty would change life. I painted and kept painting regardless of schools and trends. I felt that I was painting for myself, for my own soul that was suffering the pain of my war-torn country. I painted my dreams and hopes of a peaceful future, and I painted children’s pleasure and laughter on a happy field. I painted temples in ruin but young buds rising from burnt tree stumps could be seen. Impressionism, abstractionism, and stereoscopic were in harmony with light and sounds. I was like someone standing lonely in numerous colors and thus, I was drifting along a flowing stream. Time elapsed leaving its traces on life; some were transient, but others were quite impressive and could never fade away from human memories. Thanks to literary activities I could have acquired many more friends. Exhibitions, discussion meetings, and press printing brought me many talented and passionate persons all over the region. I had many bosom friends as close as siblings that they could share our difficulties and turn their hands to the society according to their dreams. We gathered our friends who had the same interest contributing money to set up such Literary Clubs as Nhớ Club at Vũng Tàu, Mù U Club in Saigon,. Đỡ buồn Club at Vĩnh Long, Góp Gió Club and Thằng Cuội Club in Cần thơ. Persons of letters and arts from other places met one another at these clubs to choose their writing to be published in such journals as Vượt Thoát, Sóng Cửu Long, Phù Sa, and Khai Nguyên. Cần Thơ was still the hot spot of the war. Although the city was relatively quiet, but the belt road continued to be brightly lit by flares at nights. The airfield was occasionally attacked by enemy artilleries. The sirens of ambulances and Military Police vehicle were sounding in the 78
streets. Raids came down the pike quite often. Deserters and military service shirkers had to make themselves scarce. The sounds of gunfire like the cows’ bellows kept echoing repeatedly from a distance. We young men were sitting thoughtfully with a cup of coffee in anti-war music. Our friends of literary and arts coming from many places sitting in a restaurant by the riverside looking at the river glistening in the light of lights were dreaming of a day the country would be in peace, no gunshot at all would be heard. The night was quietly passing over. At times when my spirit came to a deadlock, not a way out could be found, and the future was in the dark, I cut loose and wallowed in debauchery. The war became more and more heated. Day after day I saw squadrons of US fighters carrying bombs to destroy our villages, my friends and I had to quit the military life and returning home. On our fleeing way, passing the roads cut and set under mines, coconut orchards with topless tree trunks, paddy fields devastated by clearing chemicals, one of my friends wanted me to go into the mountains with him to join the Front1 but I was missing my parents so I did not follow him. My family was in delight as I was home, but being pressed by the fact that the civilian police and the military police forces were raiding so often to look for deserters and military service shirkers, so after a month staying at home, I went to submit myself at the Tân Sơn Nhứt Airport to get my comeuppance. When in Da Nang, I participated in my friends’ cultural activities; I composed painting, printed newspapers, met and discussed literature, poetry, music and painting with my friends of all circles, including journalists, teachers, military servicemen, to doctors, engineers… Our reals of activities got wider and wider. In the South, journalism activities were relatively free now. Just gathering a number of friend writers with their new works to set up a magazine, a literary magazine. That time, Phương Tấn owned his Cùng Khổ (Poverty) Magazine. I only participated some issues of this magazines with a few illustrations and decorations. Apart from this, there was the magazine Sau Lưng Các Người (Behind your back) in Đà Nẳng, Trước Mặt (In Our Front) at Quảng ngãi, Tham Dự (Participation) at Vĩnh Long, Khai Phá (Explore) at Châu Đốc, Ý Thức (Consciousness) in Huế. Thế Đứng (Standing Position), Động Đất (Earth Quake), Thái độ (Attitude), Trình Bày 1
The National Front for the Liberation of South Vietnam. 79
(Exhibiting), Đối Diện (Opposite)… in Saigon. The works in various styles were the voice of men of letters and arts about human condition in wartime. After having fled to Vình Long and submitted myself in Saigon I was returned to Đà Nẳng. This time I was lucky to be appointed in the Unit under a poet named Nhân Hậu (meaning Humane and upright) whose name and personality were rightly humane and upright. Knowing that I had been joining other friends’ literary activities, he invited me to his home. After listening to my situation, he said softly: “I know you hate this war, but you should temporarily stay here and try to compose your work. Don’t try to flee any more, or you may be crushed by this war machine.” Thanks to him, I felt more and more comfortable joining my friends’ literary activities. In early 1967, I held my first solo exhibition at the headquarters of the Scouts of Đà Nẳng, three paintings on display in this event were sold, and a woman customer suggested that she would buy all the 30 remaining paintings to have them displayed at a gallery in Đà Nẳng. All the money earned from selling the paintings at that exhibition was borrowed by a friend of mine to marry his wife. More than fifty years have elapsed now but I have never heard him mention a word! As for me, money is just a means, and it is okay with me whether with or without it, probably because I live rather simply and never think much of material values. I was loved and helped by my friends in the days when the country was at war. While the country was suffering the war, bombs and artillery shells were pouring down onto villages every day, Mỹ Khê beach where the US troops landed when they invade Đà Nẳng in 1965, became a huge ammunition store. The military airport was expanded, fighters were whirling night and day. Streets were alive with soldiers. Đà Nẳng was brightly lit by flares at night. At times the sound of sirens rose as the airport was under artillery bombardment. Groups of amphibious tanks were transporting weapons into the Hàn River. The sound of engines from warships was roaring on the river. Light was flickering on the water. Thủy Ta coffee was crowded with patrons. The city turned darker. The sounds of bombs exploding from the other side of Hải Vân Pass were echoing. Light flickered the night sky on that direction.
80
In 1970, having sold some paintings I returned to Vĩnh Long and set up a coffee shop. It was Đỡ Buồn – (Lessening one’s sadness). Later on, with the support from two of my friends, Lương Bạch Mai and Lương Tý, the shop was enlarged and decorated in a natural fashion attracting many men of letters and arts and students to be our customers. Among our local patrons were Việt Chung Tử, Trần Mộng Hoàng, Nguyễn Sinh Từ, Nguyễn Hiền Lương, Trần Công Tân, and Nguyễn Thế Đệ. The shop was a regularly gathering place for the troubadour group of Đoàn Xuân Kiên with their good performance. In Vình Long I had two special friends, Nguyễn Minh Tâm and Nguyễn Thế Nghiệp. Nguyễn Minh Tâm the Guru, and Đào Thế Nghĩa were the two translators who had translated Krisnamurti’s works very early. They also translated some books on Zen by European philosophers. We met and talked with one another about the sources of modern thoughts of the world at the time. Nguyễn Thế Nghiệp was a very special man. When I first met him, he had just topped the list of new BA of the College of Law of Saigon University. He was a young enthusiastic man wishing to help make the country more thriving and beautiful. He and I went cutting wood and built a library at the shop on his propose. At first, the library possessed one thousand books of various topics for young readers and students. I went to Saigon to buy more books on history and arts, and such magazines as Văn (Literary), Văn học (Literature), Bách khoa (“PolyStudies”), Sử địa (History and Geography), Trình bày (Exhibiting), and Đối diện (Opposite). Our library was operated well, and a year later the provincial governor of Vĩnh Long decided to build a new, complete, and larger library by the Vĩnh Long Market. A friend of mine, Nguyễn Thứ Nghiệp, was an intelligent and well-educated person of capabilities. He always wished the country to be united, free of war to relief people from their sufferings. We sat down together planning our future. When the country were in peace, it would be flourishing like Japan and be honored in the Southeast of Asia, but eventually Nghiệp was forced into military service, and a few years later, he returned home with a leg severely wounded. After 1975, I met him. He was concocting and selling soy milk every morning at Vĩnh Long market. Sometime later, he changed his job, riding a taxi-bicycle, and then a taximotorbike. He was leading a quiet life until his hair turned grey, the old taxi-bike driver smiled quietly, putting into oblivion all his dreams in the early phase of his life, forgetting this present time, just watching his own shadow rambling in the midst of the life. 81
As for Mr. Nguyễn Minh Tâm the Guru, having spent years in a so-called “re-education camp,” when released, he returned to his small garden in Vĩnh Long. Once I paid him a visit. Both of us were sitting in our thoughts. The countenance of the intellectual who used to be enthusiastic about studying philosophy and Zen, was deeply carved with sadness. He passed away a few years later because of old age and illness. There were some nights when sitting with some friends of mine at a coffee house in a street corner in Cần Thơ I suddenly felt missing Saigon. I recalled the memories of the time in school, the times when I was walking along Lê Lợi Street, passing old books stalls; I missed the coffee at Thanh Thế’s, Vĩnh Lợi Cinema, Givral Restaurant, Charner Mart, Crystal palace; I missed Viễn Đông’s sugar cane juice, dried beef and “phá lấu” on Pasteur Street, I remember my friends we used to travel by bicycle to Bến Cát and Lái Thiêu on Sundays. I remembered that once we had stopped to swim in a small canal by the rail way near Bình Triệu station. We swam and chased after one another in carefree pleasure. I remembered the familiar faces of Lê Minh Cường, Phạm Văn Ngọc, Charle Nguyễn, and Đặng Văn Cử. At the year end, having received our scholarships we went drinking some beer and flirting girl students of Gia Long School and Trưng Vương School. Time had passed away, the war spread everywhere, I did not know where my friends were drifting to. My missing kept growing with time and then it faded with time. On the long journey of human life there are so many changes. I was born in the countryside. I grew up with lullabies in the hammock of time, being nurtured in the love of our family, educated at a countryside school. I was pushed into Saigon to get access to the life in the city, and to absorb cultural knowledge on history, religions, and arts. Sometimes I looked at myself and felt I had been distorted through many prisms, and many streams of thoughts. Who was I? Where was the direction I had to go? I was still with a hollow mind, and a vague idea. I was then like water hyacinth drifting on the water, ebb and flow, without knowing where to be at.
82
83
84
There were continuing sounds of artillery bombardment. Convoys full of soldiers were running one behind the other. People were bewildered and got the jitters. The war burst out fiercely in Quảng Trị, Huế, Đà Nẳng, Tây Nguyên, and finally, it came to Saigon, the last stronghold of the Republic of Vietnam. Government officials and soldiers deserted en mass. Their weapons and military equipment were discarded everywhere in the streets. Government offices were deserted, vehicles left unused, airports and harbors were in chaos. On the first day of the warend in the South Vietnam Cần Thơ became chaotic. Prisoners coming out of the prisons into the streets now had turned grey with military trucks and tanks deserted by military posts. Civilians, ex-soldiers, and ex-prisoners rushed to the main bus station, elbowed their ways into the buses and on the bus roofs; everybody wanted to go home in spite of the shouting and banishing of the buses’ owner. In the city, groups of looters came in government offices and private uninhabited houses to knock off all things, including furniture, TV sets, and refrigerators but these things were left all over the streets. Some members of the liberating forces with checkered scarfs around their necks, soft broad-brimmed hats on, and red band on their arms and armed with AK rifles were seen running back and forth with their loudspeakers to maintain order at street corners. Some bursts of distant gunfire from the other end of the street were heard. When the Đỡ Buồn coffee house was on an even keel, I returned to Cần Thơ joining my friends to plan for a magazine of arts and the Góp Gió (Gathering Wind) Club. The first meeting was participated by poets, writers, musicians and artisrs from Cần Thơ University, and Đoàn Thị Điểm and Phan Thanh Giản High Schools, as well as those from such neighboring provinces as Vĩnh Long, Long Xuyên, and Châu Đốc. It was at this event I first encountered poetess Hồng Lĩnh, who would later become my wife, when she and other poetesses took part in the meeting. Her group suggested that the club be named Tao Ngộ (Encounter). Finally, we – she and I – turned our encounter into a “family of poetry and painting.” At my wedding ceremony, a friend of mine who was a teacher and writer, said humorously that: “This couple might have their future in poverty. One artist usually leads his life in misery, they both are artists so their misery may be double.”
85
Off the starting blocks, a house was hired for Góp Gió coffee. The friends chipped in to buy utilities. I was responsible for decorating the house. On the opening day, many friends of us in various cultural circles from other places were all present. Press coverage of the event was found on many Saigon’s newspapers. New compositions by our friends were also sent to the newspapers and magazines there. Vũ Hữu Định, a poet from Central Vietnam came to seek shelter. Phạm Tường Bá came from Trà Vinh, Đoàn Minh Hải from Đà Nẵng, Phan Tấn Thi, Nguyễn Thân from Saigon, and in addition, there were Ngô Nguyên Nghiễm, Yên Bằng, Đặng Thư Cưu, Trần Hoài Thư, Đoàn Xuân Kiên, Viên Linh, Vũ Ngọc Giao, Nguyễn Thành Xuân, Minh Nguyễn, Trần Kiêu Bạt, Ngô Bá Đản, Dương Hùng Cường, Phan Lạc Giang Đông, Hoài Giang, Tô Nhược Châu, Hồ Thuỷ, and Sa Vũ... At Ngy Cao Uyên’s invitation, musician Phạm Duy and his whole family came and had one performance night at the club. We have a very special memory with musician Phạm Duy. After his family’s performance that night, Phạm Duy sat down and had a friendly talk with us and local musicians. He sang for everybody his 10 pieces of Buddhist-spirited songs, and then continued with 10 other pieces of secular songs he had just composed. It was not until he came back from the USA at the age of 90 did I had chance to see him again when his and his French friends attended Duy Quang’s musical performance. I came to greet him and reminded him of the old event. He had Duy Quang bring a bottle of wine to our table. That was the last time I met him and Duy Quang. A few months later I learned that Duy Quang had died of cancer, and then came his turn. That was the last time I met him and Duy Quang. Farewell to two talented artists that I admire. The Góp Gió coffee was standing for two years before getting on a slippery slope because of shortcoming in management. Money was so tight, the business was unable to support those friends in need any longer; as the war became more widespread, civilian and military policemen rounded up so often and strictly, those friends had to make themselves scarce. The coffee house was put under the management of Trần Như Huỳnh’s wife. We opened Thằng Cuội café at Phan Lương Năng’s house in Cần Thơ city. Năng was a man that loved literature and arts. Artist Ngy Cao Uyên continued to support in artical activities. We organized a book debut introducing a poetry collection by Nguyễn Huy Chương which was published by Con Đuông publisher. At that time Minh Nguyễn and Trần Mộng Hoàng released a magazine introducing new works by writers in the Southwest. Nguyễn Thân and Ngô Bá Đản had their exhibitions opened at Cái Khế Church. Ngy Cao Uyên and Cao Bá Minh had their paintings 86
displayed at the Vietnamese and American Association, Cần Thơ. As for me, I gathered some friends of mine and we displayed our paintings at Phan Thanh Giản School. Thằng Cuội coffee shop existed until April 30, 1975. Painting had seeped into my soul since long time ago, as if It was already available in my blood and flesh. I kept painting and painting without knowing what it was for. Perhaps it was the way I could express something. I painted and exhibited the paintings, and then painted again as if it were the way I connected with people and expressed my gratitude towards the life that allowed me to live. I had feeling for every moment I was in and I loved it. I had left and then returned to the land I was living on. I started and ended, and then started again in each troke of brush or each streak of color like a river snaking its way, flow and ebb, without having a rest. Sometimes the whirling water broke the bank on this side, and would raise it on the other side. Alluvium would be accumulated into fertile islets; streaks of colors were running like traces of time and that of life. I could feel the laughter of a child, the sighs of my friends and I felt the murmur underground or the quiet whisper of a light rain in the afternoon, and the sound of time elapsing in each stroke of brush. Every encounter, every minute I was with other people gave me impressions. My friends’ and my relatives’ countenance left their impressions in every of my painting stroke like the echo of a passing concert of life. The river was running silently along the time and the changes of life were coming about every minute. Before the collapse of the RVN, some friends of mine, including Ngy Cao Uyên, had me come to a greasy spoon for a beer as a farewell drinking, and more than forty years have passed but I have never seen them again since then. My circumstance at that time was that I could not leave the country leaving my old mother and my wife behind. Bewildered by the great transformation of the country, I decided to return and unite with my mother in Vĩnh Long. The war had come to its end, the best part of people in the south enjoyed their peaceful life without the fear of bombings and gunfire, but how life would be like in the time to come was unpredictable. Men of letters and arts sat together in worries. The war was over but its consequences were at sixes and sevens. The defeat of the Southern regime as well as the failure of the imperialist policy of the US would be a wake-up call or a failure of human conscience when many people had been killed, much suffering and hardship had been 87
imposed on the life of this affable and industrious people. Literature, movie, music and other arts and documents, all were marked with the cruelty of the war and the grief of human condition in wartime. People in the world are reminded that war is always cruelly destructive. I, with my wife and our children, returned to Vinh Long in a depressed mood with my empty hands. The Đỡ Buồn coffee house had gone to the dogs. My friends had scattered everywhere. My mother switched herself to selling cơm tấm, (cooked broken rice) in the morning, and bánh tét, a kind of traditional cakes, in the afternoon to earn a living. Our daily routine was changed. Former soldiers and officials of the RVN were to go to a political training class to gain a general understanding of the victory of the Liberation Front. Every family was given a food card to live on. Young people were to take part in dismantling military posts. Money was to change 500 đồng of old currency for 1 đồng in new currency. As a result of the fighting against bourgeoisie, just after a night families of merchants and wealthy officials became emptyhanded people to carry one another to New Economic Zones, leading a hard life in poverty. After being “liberated,” I and two male younger siblings who had been the rank and file of the RVN armed forces, had to go learning the Liberation Front’s policy at the ward for a week. After that, I joined my old friends of our troubadour group to form a music team. With the sound equipment from the coffee shop and a couple of guitars we went to perform in the countryside where food was still accessible since peasants still had rice and they could raise some poultry and fish; the life there was somewhat comfortable. Members of the entertainment group were supported and fed by people in the countryside so they looked somewhat healthier than people in the cities. Singers of the group were students and the music we performed was of all genres: “young music,” “yellow music,” “red music,” and “children’s music.” In a word, we engaged in such activities lest the time being meaningless, and not to have to forage for food every day. Having been in action for a few months the group had to disband. The students returned to school to continue their studies. I was invited by the locality to take charge of the painting team of the town, guiding a group of young men to pain slogans and promotional posters for the government. It was not something I love, but I had expected to have time to get the hang of my dreams. Since colors were not available, I had to paint with ballpoint pens, ink, Indian 88
ink, and watercolor. And I had to continue working in the shortcoming of my family’s living condition. A few years later, the painting team received such painters who had come from Saigon to Vĩnh Long to seek a livelihood as Trọng Đông, Lê Chánh, and Dương Văn Tâm. Since Vĩnh Long was abound in clay, we built a kiln to produce our terracotta works. With talented hands of painters, we produced busts of noted musicians and writers of the world, for example, busts of Lev Tolstoi, and Beethoven. Introduced by painter Lê Chánh, we sent our products on consignment to Artexport, but no money was ever sent back, and consequently, it was curtains for our business. During this time, my wife was working at a bookstore of the town for just a pitance. As reading was of her delight, every morning she had to bite the bullet and brought our two children to the kindergarten and lumbered to the work since she had a bun in the oven. Even so, she felt reassured. After one year of living in Vĩnh Long, I invited Tam Xuyên, a pottery artist to come; sculptors Nguyễn Minh Trí and Phạm Văn Hạng saw Vĩnh Long a good place to live, and they stayed and composed their works. It was probably that, as Mr. Huỳnh Anh Kiệt did not discriminated against persons of the former RVN, at that time the society of arts was an interesting place for men of letters and arts to patronize. On the literary part there was Lê Long, Hồ Duy, on the music circle was musician Trúc Phương. We gathered to publish a journal, Đối Thoại (Dialogue), but it was banned after the first issue. After the “liberation,” Vĩnh Long and Trà Vinh were merged into Cửu Long Province. A numbers of painters coming back from the war zone such as Vũ Ba, Lê Phúc, Phong Ba, and Nguyễn Thái Bình coming from the North, and us local painters got together to form the Fine Arts sub-association to replace the old arts entities. Having enjoyed liberal arts activities for years, we local painters now were to be restricted by the so-called approving procedure applied on drafts before the drafts could be carried out, which made us very upset. The country turned over a new leaf, everything seemed to be upside down, all social activities were changed root and branch, rice was replaced by sorghum (kao liang); all business was operated by state owned enterprises, goods became scarce and were distributed on stamps. 89
Books, magazines, journals and newspapers were to be collected from every house, every neighborhood, a part was piled up to set on fire, the other part was brought to the provincial cultural department and thence to Tân Mai Paper Factory at Biên Hòa to recycle. The precincts of governmental offices, spaces for flowers and ornamental trees were replaced by beds of corns. For a long time following the “liberation”, my wife and I had to do everything available to keep body and soul together. We made and sold cakes, hired ourselves out removing weeds on paddy fields, and harvesting water spinach, made and sold compote, soya milk, and delivered newspapers. My mother was selling her cakes in the neighborhood for some time and people did not have money to buy her cakes, so she had to put a halt at it and went to work as a janitor for the family of an acquaintance in the town. We were in desperate plight. Rice was something inaccessible. Our regular meals were cooked sweet potatoes. My second son had diarrhea and had to stay in the Vĩnh Long Hospital for a month but could not be cured. His body was skin and bones. My wife and I had to bring him back to Cần Thơ, It was fortunate that the Cần Thơ Hospital had a drug store left by the US, and after 10 days of blood transfusion, the boy was saved, and one month later he was allowed to leave the hospital. Seeing him, no one could say he would be able to recover his health. My wife and I managed to acquire B complex C which had been left after 1975, for him, and he was fed with fresh water crab porridge every day, and he got a new lease of life a year later. We moved to live in the back lean-to of the Miễu Quốc Công (The Grand Duke Temple) to facilitate the activities of the painting team and to manage the theatre at the Grand Duke Temple when a theatrical troupe would come to give their performances. At this time, big theatrical troupes in Saigon strived to do their best to keep the head above water. A number of actors and actresses tried to form small troupes to perform their programs in provinces but their activities had to be put at an end. At that point, the theatre at the Temple of the Grand Duke was under the rein of the provincial Culture and Information Department, so it was the only place all troupes could come to present their performance. For a very long time not until the small hours could we hit the hay at night when their theatrical performances came to their ends. 90
91
92
Our painting team established under the management of the town’s Culture and Information Office comprised me and Thế Đệ, and some young men who had painting skills were invited to take part in painting slogans and propaganda posters for the State. A number of families who children were interested in painting sent them to us hoping that they would develop their skills as to earn their daily bread. By that tỉme people were all poor and poor. One day, a man with his taxi-bicycle brought to us a boy of some fourteen years old in a grey robe and hair shaved, looking like a Buddhist novice. He wanted the boy to be admitted into the painting team to serve an apprenticeship. That boy then is now painter Bửu Lộc. Later, painter Tín Đức opted in to the team. The group comprised many young men but only three members could get their pay check and rice, so we really knocked ourselves out making both ends meet. My wife, apart from working at the bookstore had to cook for these members of the team. At that time kao liang (sorghum) was our main food. Acquiring a few kilograms of rice was few and far between those days. Every day we cooked a big pot of kao liang. Sometimes we bought a coconut and scraped its flesh to make a mixture of coconut flesh with kao liang like sticky rice. My wife had to get up at 3 o’clock in the morning to queue up with the food stamps in hands to buy pig bones in order to add some more nutrition to our daily meals. We had to draw registration plates for automobiles and pictures for silk wrapping on demand to get more income to survive. I still remember the days when we were really on the line drawing slogan posters. We had to climb high, swinging on an electric post or on bamboo ladders without any protective gears, and our legs kept shaking even when we had finished the work and got down onto the ground. Time was passing heavily day after day. Once, seeing our skimpy meals, a parent of a young man in our team who was the owner of a pig-roasting factory, sent us some pig fat and intestines to ameliorate our lunches. Some of my friends coming from Saigon advised us to open silk-screen printing service and rolling cigarettes as a way to eke out a living. Peace and happiness seemed to be in a dream. We were roughing it and did not know what we would be like while our future was so obscure. Eight years had passed in hardship, the painting team became an art facility, and the Cửu Long’s Art and Literature Association came into being, my wife and I became members of the Association, leaving the art facility to those young people. 93
Even when drawing slogans and painting promotional posters, I never forget my artist career. On weekends, we, especially those young people full of enthusiasm for the country, sat together to discuss something and compose our works. In the new regime, the post-war revival of the country was full of questions and restlessness. It was not that everybody understood and was in sympathy with us. Some people did not approve our arts and literary gatherings so we had to break up with one another. The Cửu Long’s Art and Literature Association was founded, Mr. Huỳnh Anh Kiệt advised us to cooperate with it under his management. A space for composing works was of art to unfold. As a member of the Association, we were no longer confined to the tedious daily work, we started to visit and meet friends of arts and literature in other provinces, admitting those disengaged artists and writers into the Association so they could concentrate themselves in composing their works, and we started to publish our magazines on arts and literature. I met again with such musicians I had acquainted as Hoài Giang, Sa Vũ, Hồ Thuỷ, Hồng Băng, Hồ Duy... Musician Trúc Phương, after having lived without fixed abode in Trà Vinh, was brought to live at the Association by Huỳnh Anh Kiệt. Being paid a salary, he began composing songs again, and the piece Chín Dòng Sông Hò hẹn (Nine rivers making promise) came out. My wife organized a creating club for children, teaching them to paint and to compose poems and their writings were sent to the column reserved for children on our magazine. We regularly organized art exhibitions for artists and children in the province to display their paintings causing a composing movement stronger than that in other provinces. Children’s paintings were also selected to participate in competition for world prizes and achieved good results. These children were approved by the provincial Finance Department to go sightseeing in other provinces every year. We organizes tours to Huế, Hà Nội, and southern provinces although the country was in subsidy period and being embargoed. Time was passing quickly. The hardship of life left in us many memories of our old worries. Our dreaming doors were closed, but the door on hope was still ajar. We still nursed our hope and we kept awaiting. Sipping a cup of bitter coffee with friends in the morning to deceive the hunger, we were still exchanging passionately with one another about arts and literature. The paintings I had created might be put in mothballs, not allowed to be displayed because they 94
were not becoming, but that would not make me change my way of creating. And, it was fortunately that the embargo had been lifted, I relied on my friends in Saigon to help me turn back to the City where I could get access to art activities. Saigon had become Hồ Chí Minh City now but we were used to calling it Saigon. This was a modern city that was always open to all new trends and was a place that fostered all writers’ and artists’ excitement and creativity; it accepted every innovation trend of civilization and friendliness. I started organizing group exhibitions at the City Fine Arts Association, followed by an exhibition of four persons’ paintings at the Tự Do Gallery in Saigon. In line with the great change of the country, we painters began to compose enthusiastically and had our works displayed at exhibition venues. I became a bridge for the painters in Cửu Long to bring their works to Saigon, and I organized exhibitions for everyone. I remember the days when the whole country was feeling the pinch, we painters did not have colors for our paintings. Having acquired a box of Leningrad watercolor was an happiness. I painted on sheets of croquis paper and hung them everywhere in my house. Once a friend-artist from the City coming to Vĩnh Long, when visiting my house gave his remark: “How could you have these paintings exhibited?” I could but smile. I painted just to satisfy my passion for art creativity. When Saigon was opened, art loving people in the world rushed to the City since they were curious about Vietnamese arts. At my exhibition at Tự Do Gallery I sold my paintings to Blum Blossom and one to Mr. Thái Quang Trung who came from Singapore. I acquainted myself with him since then, and painters in the City started to have their paintings exhibited in Singapore for a couple of times. Later on, a Vietnamese expatriate from France, Mr. Nguyễn Văn Tuyên visited Vietnam and brought some paintings of Vietnamese painters to France and had them exhibited there. He bought my paintings, and I was lucky to make friends with him and we were friends until he passed away suddenly of a stroke. Being a member of the Arts Association, my wife started composing poems again. Collecting the verses she had composed previously she had the Arts Association published them in a thin volume of ivory white paper, presenting to readers and relatives poems on her melancholy life. My wife also wrote scripts for the program of “Stories at home and in the streets” for the City Television to be broadcast on black and white TV screen on every Thursday. The programs with 95
actresses Hồng Vân and Kim Xuân, and actors Lê Vũ Cầu and Quốc Hòa in their roles hit out against bad habits in the society. Excited for having several scripts on air, my wife was thinking of turning her pen into writing TV scripts as a profession. On day, when receiving her author’s royalties she was advised that in her scripts she might criticize any civilian but never blame any member of the staff of the government system, thus ending my wife’s career as a script writer. She turned back to work in the Children’s arts and literature section of the Arts Association. As for me, a poet – a friend of mine –in the City once came visiting me at my home, seeing that my house was rather dilapidated, he offered me a cube meter of lumber to help me rebuild the house. Then he bought colors and canvas and brought us to the City to paint. Being assured of accommodation, and with colors and canvas available, but as artists we did not want anything to cramp our style, so sometime later, I got in touch with my other friends for some other jobs as to make statues and sculptural reliefs for decorating hotels and restaurants, and we looked for ways to move our family to Saigon. That year, my eldest son was admitted into college in the City, and we had to rent a house at Cống Bà Xếp area and advised Thế Đệ to bring his younger siblings to move to Saigon too. Thus we started our artistic journey with a big zero. At the outset, I painted and consigned my paintings at galleries, later, I got in touch with Ms. Kim Loan at the museum and brought all my paintings and those of painters of Cửu Long to display here as at that time the museum corridors were still empty. My wife and I were working on statues and sculptural reliefs for decorating hotels and restaurants; after day work, we returned home to paint and we lent my paintings to hotels and restaurants, and we would collect the rent money every month so that we could raise our children and sent them to school. At that time, paintings consigned to galleries often without receipts. Some gallery owners were kind enough to pay us, but most of them bilked us out of all our money. It was difficult to get the money they had sold our paintings for. Some friends of mine going abroad brought heaps of my paintings to had them exhibited or exchanged them at galleries overseas and since then I never see them and my paintings again. Another friend of mine living in Malaysia had brought all my paintings-on-silk on fairy tales and other paintings and statues to that country so that he would bring me over later to organize an exhibition, but he died of cancer, and all my paintings were lost. Nobody could know the number of my paintings drifting in the world. 96
Life is like a flowing river. There are immense and unlimited rivers running on the earth carrying much alluvium to deposit on their shores, and there are also small and narrow ones carrying trash, and waste; they were stinky and in stalemate. I met such harsh and dark streams which were anything but rare amidst the scrambling life in Saigon City. They were those channels with black waste water, the lifeless rivers, snaking their way under people’s feet in the City, or in people’s hearts, when life was losing light and when the bad and the evil were growing bigger and bigger than the holiness and the kindness. The time when I was struggling daily to bring home the bacon, I experienced a lot of bitterness of the so-called human comedies. When I was working on a project, the Party A and Party B would appropriate some tens percent from my emolument. When the project was completed I must pay those who would test and check over the job done. Without this undertable payment the check list would not be made, and as a result, I would be empty-handed because they would refused to pay their debts. I was lucky enough to have some good friends to help me get through difficulties. In 1995, introduced by painter Lâm Chiêu Đồng, who knew I liked working on pottery, I returned to Vĩnh Long where the Cửu Long pottery kiln owned by Mr. Ba Nghĩa started to produce domestic ceramics for export. Ba Nghĩa helped me by providing me with clay to make statues. When made, statues were subject to the kiln, after a short time, the products were finished. Journalist Nguyễn Thanh Bình canvassed Mr. Hàn Tấn Quang, chief editor of the Kiến Thức Ngày Nay Magazine to support our exhibition at Xuân Gallery on Võ Văn Tần Street. This was the first time the voice of clay, the terracotta of Vĩnh Long made its presence felt in Saigon. As I could remember, painter Tú Duyên was present at the opening of the exhibition. He was interested in the products. He patted on my shoulder saying: “This is the first time I see that clay has its so unique voice. Thank you, bro.” Since then, the pottery movement started to spread, every year the Fine Arts Association sent its members to pottery kilns in Vĩnh Long and they acted in unison to produce terracotta products. With the support from Mr. Ba Nghĩa and other kilns’ owners, I managed to provide the Tourist resorts of Bình Quới and Văn Thánh with some truckloads of pottery to display there. When these resorts were under the management by director Cao Lập, I was paid for the products I had lent them for displaying, but when Cao Lập was no more their director, all my pottery became the properties of the resort and no one 97
thought of my work and the expense I had paid for the products. This must be the case of “Fortune is easily found but hard to be kept.” Several years after the “liberation,” my younger brother had an infectious appendicitis, we took him to a hospital for operation, but since medicine needed for the treatment was not available, he met his end, leaving his wife and three little children. Our sister-in-law was unable to take care of her children and she left them under my care. My mother was over sixty then but she still felt fine. Every day she took care of my three children and my late brother’s three. Unable to make ends meet with a mere pittance we earned by our regular jobs, we had to do everything to improve our situation. My mother produced homemade roasted peanuts in small bags to sell at the site of open air cinema. At that time, feature films were often shown outdoors with tickets sold cheaply to the audience. In the evening, people took their whole families with some sheets of newspaper to be seated on to watch film in the open air. Sometimes it might rain and people would beat a hasty retreat like a swarm of bees when their hive was destroyed. After a long time, with my mother’s cleverness, the children grew up and studied well. There was a tiny hole-in-the-wall next to my house. Every morning we often took a cup of coffee there instead of having breakfast, and it was painter Lâm Chiêu Đồng who paid for our coffee. When Minh Thư went to Saigon for her college, my wife and I were to start decorating ShangriLa Phú Thọ, making statues for Trống Đồng Theater, and for Trầu Cau Restaurant. Every weekend, I took my wife to Vĩnh Long on my Honda motorbike which I had bought from writer Minh Nguyễn. Sometimes we were caught by the rain and we reached the Mỹ Thuận ferry too late, after 23 o’clock, when the ferries had stopped their service. We had to rough it for a while, in a coffee shop and wait until the first ferry started to move at 5 a.m. Time had passed when Minh Triết anh Minh Khoa graduated their high school and enrolled into colleges, we decided to move to Saigon and live here for good. My wife, a poet and a housewife, and before she knew it, she had become a sculptor, and we together made decorating statues and sculptural reliefs. Sometimes we had to climb onto scaffolds five or even six meters high for our work. On reminiscing about it, I do not know how I could do it.
98
99
100
Time elapsed heavily. When the embargo on Vietnam was lifted, painters began to have their exhibitions. Galleries began blooming in line with the opening in diplomacy and economy. Overseas Vietnamese came back to visit the country, and foreign tourists rushed to Vietnam to buy art works. Having their paintings bought, painters were excitedly composing new works. Artists’ life changed also, many painters became well-off. Painters from the North also came to Saigon to have their works exhibited causing a new atmosphere for creative activities. During this time, apart from well-known painters such as Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung…, of the Saigon Young Artists Association, there were 10 others of the City Young Artist Group strongly inspiring energetic creativity thus raising a new voice of arts that resonated in the country and in the world. With two leading painters, Ca Lê Thắng and Nguyễn Trung, and with journalist Nguyễn Trọng Chức, they set up the Fine Arts Journal of Hồ Chí Minh City that featured many informative articles on painters and their valuable works, but unfortunately the Journal was suspended just some years later. The presence of young artists stirred the atmosphere of artistic creation. At the time, musician Trịnh Công Sơn also painted and he took part in exhibitions with the group of 10 young well-known artists – of these were Nguyễn Thanh Bình, Trần Văn Thảo, Đỗ Hoàng Tường, Vũ Hà Nam, Hứa Thanh Bình, Nguyễn Tấn Cương…Nguyễn Gia Trí’s lacquer painting Bắc – Nam – Trung was bought at the price of US$ 100,000.00 by the City Committee and it was donated to the City Fine Arts Museum that increased the excitement among the artists then. After group and joint exhibitions, I signed up for my solo exhibition at the City Fine Arts Association. I was lucky to meet a person who was the director of Lam Sơn Lacquer Company. He was the man that created chance for Vietnamese artists to work and he sold their paintings to foreign partners. He bought the greater part of my paintings and statues displayed at the exhibition, helping me and my family to get through the hardship. My paintings were of my introspection through colors and symbolic lines and there were not specific images; not many people like them. Because few people had empathy with them, selling them was difficult. Until then, those who bought my paintings were among my friends that wished to help relieve the difficulties of an artist’s family, so did the director of Lam Sơn Lacquer Company. He paid for the paintings he had bought in many times, some million đồng each, and I was able to square up my children’s school fees. Once Ms Loan at the Fine Arts 101
Association sold one of my paintings to Lam Sơn Company and was paid with a bagful of VNđ 200 bills. It was so funny that I carried the bag of money like a bag of rice. I could not count it, and I brought the bag to a jewelry shop to exchange for more than a half an ounce of gold and I was very happy. Someone said that it was regretful to sell their paintings because their works were like their children. As for me, I would be very pleased if I presented a painting to a friend as a gift and he loved it. And it would be my great happiness when I could sell a painting to help keep our heads above water. I felt satisfied seeing my paintings hung solemnly at hotels and resorts. For me, painting is nothing high-toned, or far-reaching, or mysterious. It is everyday life, like I am breathing, eating, drinking; it is the action to survive in life. I would paint enthusiastically when feeling fine, like I might eat some more my meal when having a good appetite. It was probably that as I immersed myself in painting, I had nothing of life on my mind, I did not have to be concerned about whether I would win or lose, or to scramble for fame. I am lucky that my wife is a woman of understanding, she can identify with me and she is patient enough to stand hardship. Whenever having some money she always purchases canvas and colors for me to paint. It was like something urging me to paint to live, to feel that my existence in this world is not meaningless. I remember the time I first met painter Ki-em when she was opening an NK space at the Fine Arts Association and called herself Kim Nguyễn. She was from Vĩnh Long coming to the Fine Arts Association in HCM City to watch an exhibition. We met her and introduced her to the paintings of painters from Vĩnh Long. Ki-em decided to hold an exhibition for Vĩnh Long painters. Since the NK Space was limited, each painter could have only one work exhibited. She bought the paintings to support the painters. Later Ki-em returned to Vĩnh Long with us to visits painters there. When encountering artist Vũ Ba she bought many of his sketches. You should see Vũ Ba’s indescribably happy smiles when the first time he could sell his sketches. Next year, having to be transferred to work in another country, Ki-em gave her entire art books to the Association, and she also gave us some volumes which we brought to Vĩnh Long Association to hand over to artist Bửu Lộc to keep.
102
Ki-em is a Vietnamese-French painter. Her father had been in French military forces being sent to Vietnam. He fell in love with a Vietnamese girl who would be Ki-em’s mother. This woman was a “cadre révolutionnaire,” and the couple went to Đồng Bò to make money for her revolutionary unit. The French soldier was dead of illness, his relatives brought their daughter to France. Graduating from college and becoming a painter in France, Ki-em returned to Vietnam to be a bridge for the exchange of fine arts between Vietnam and France. Painter Minh Phương received a scholarship for a fresher course in France for two years in Ki-em’s program. After having traveled with her husband in Southeastern Asian countries for years, in 2000, Ki-em returned to Vietnam to look for me. She bought me colors and canvas, and she rented a studio for herself to paint. We joined to exhibit our installations on the theme Land and Water, What remains… that received widespread media coverage and was a matter of concern to people in artists’ circle. Since canvas and colors were already in hand, my wife began to paint again. Her paintings were pieces of running colors depicting the poems she had written. She gave up her drawing style with mirror images that she used to put into her paintings and had them displayed in some regional exhibitions. The reason causing her change was simple. In 1995, when her poetry collection “Vườn Đá” (Garden of stones) was published, she gave poet Đỗ Trung Quân a copy. Quân, at that time an editor of the poetry column on Tuổi Trẻ Newspaper, had some poems from the collection reprinted in his column on the paper. Some days later, a reader raised his voice in a comment asking why such poems speaking ill of our beautiful innovated country as a gloomy society were published in the paper. Consequently, Quân ran the gauntlet and was transferred to Sài Gòn Tiếp Thị, another magazine, and no more of my wife’s poems can ever be found published on any papers or magazine in the City. She started to depict on canvas her emotions in childish scrawls that became the style of her visual art. Since then my wife joined me composing paintings and pottery and we went everywhere to hold our exhibitions. With Ki-em’s support and with our own ability we kept painting and making pottery from Vĩnh Long to Phù Lãng, Hội An, Bàu Trúc, Biên Hoà and Bình Dương, each pottery village has its own characteristic features that enriche our experiment in artistic creation. My wife was in charge of the Children’s creation Movement for a long time, she experienced much joy and less sadness. Every time leaving Saigon for Vĩnh Long we brought along with us 103
bales of Tân Mai paper and painting colors bought in the Vietnam Graphic Artists Association to offer to tiny painters in the locality. Once we even had the gall to purchase lacquer for them to practice lacquer painting, and we guided them to depict everything on their own ability and free aptitude. Their pictures looked quite innocent and smart, so when competing for a prize, their paintings won many rewards. Once we sent children’s paintings to attend a competition for the Green Palm Prize, paintings of Vĩnh Long children won 72 prizes, but since the awards in kind given to them had been collected by the Cultural House and the Fine Arts Association from local businesses, it was rather funny that some big children received small pairs of shoes, and large shirts for small kids, or rolls of colored wool that they did not know how to use. Once we brought their paintings to display at Ms Kim Minh’s gallery on Đồng Khởi Street, a number of these paintings were bought by artists of the City in an attempt to support the movement on children. At this time, the Soviet Union, India, and Japan often organized children’s painting contests. At the outset, my wife had the children composed their works, and she chose their tours de force to send to the Selection Council in Hà Nội. Paintings had been sent for several times but not a response to be heard. Being fluent in English, my wife brought the paintings to the Indian Embassy and asked them to be sent directly to the contest in India. As a result, they won one gold and two silver medals. The results were announced but the awards were sent to Hà Nội in our desperate wait. Later on, the children took turns to win other prizes from Japan and the Soviet Union. At another time we took the whole group of children to attend an exhibition on culture exchanging with the Soviet children at the Soviet Consulate in Hồ Chí Minh City. Among those children of that time, some have now become painters, others are in different careers, but those things are beautiful memories of their childhood that may help make them aware of the beauty in life and able to carry out their good dreams. In the morning outside the airport, some clouds were lying across the mountainside. The sunlight passing through pink and purple clouds fell down onto the forests. Some soldiers with their mine detectors in hands trying to detect landmines were walking on the path leading to Cẩm Lệ. On opposite direction were peasants carrying on their shoulders their farming products to the market, wending their way towards the soldiers. They were innocently walking 104
through the lethal ground where death was lurking. I followed a group of American medicine doctors every Sunday to offer medical care to people living around the airport. Sometimes we gave them blankets and clothes donated by the International Red Cross, or we built a library for Phước Tường High School. Thinking that I might be in relief doing something for the public good, but my sadness was getting deeper. A little of morning weak light could not dispel the darkness of the cold rainy days. I was living in touch with people’s lives and destinies. I loved and admired everything around me, from a leaf, a flower to the vastness of ocean, the dense and darkness of mountain, but I still felt lonely. I was lost in daily life and in my thoughts: I felt enveloped in an imprint like karma. I was recalling the time we artists and writers were caught short quite often when the whole country was living in privation. After the “liberation” all painters in the province had to do everything to eke out an existence but always tried to see one another, exchanging information about artistic creation, regardless of the state mechanism. We managed to move to Hồ Chí Minh City holding many exhibitions, connecting with friends to open new spaces. It was rather humble though, but it was a way that artists might get in touch and interact with one another. Their works were now more open, not heavy on ideological topics; painters returned to their home country landscape, cultural life and folk activities attracting collectors and those who enjoyed beholding paintings at the time. When the country was opened, overseas Vietnamese returned to the homeland, paintings on village landscape and Vietnamese girls were images of their memories on the country were preferred by those expatriates. When a branch of Vietnam Visual Artists Association was established in the South, it opened with an exhibition of the paintings of painters in the Mekong Delta. The great merit was of artist Thanh Châu of Đồng Tháp Province. That time, I sent my works to participate the exhibition, but probably because my paintings did not meet the selection board’s demand, they were put aside with those unqualified. Fortunately that was made out by painter Dương Viên, who took them to exhibit in Cần Thơ, thus opening the biennial exhibition in the Mekong Delta, and later it became an annual exhibition in turn in provinces in the Southeast. 105
Vĩnh Long boasts many painters who were trained at the University of Fine Arts after 1975 and a lot of young artists who have developed their skills from movements and they composed profuse works. They often participate exhibitions in Saigon and won many awards. Those are much loved by people are Lâm Chiêu Đồng, Đặng Can, Tín Đức, Ánh Hồng… and a number of painters who have passed away such as Nguyễn Thái Bình, Vũ Ba, Lê Phúc, Thế Đệ... When the country was opened, collectors and arts enthusiasts came to Vietnam to collect art works of a country that had just come out of the war, which helped painters become rich. This glorious period passed quickly since avaricious galleries and artists following the market, churning out their works as a means to eradicate poverty, someone even copied their own works or others’ or make false paintings; all these frustrated the collectors, the attraction was on the wane, and gradually buyers kept their distance from them. However, the situation did not discourage those who were enthusiastic about art creating; some painters who had created their own style were silently pegging away at their works that deserved to be loved. In the renovation of the country, painters managed to widen the range of their communication with the world outside, the way of living and thinking are open, one can keep abreast with information about the art activities of the world and many international exhibitions; domestic painters can go exhibiting their works abroad, and foreign painters can come exchanging their arts in Vietnam. The world is flat, helping make Vietnamese arts no longer confined to any framework. The values of Vietnamese art works increase more and more on the international market. Standing in front of an art work, one’s thoughts turned faint, and one would throb with emotions; the viewer and the painter seemed to become one, causing a sudden breaking influence by the creative power of the artist that had impacted the viewer and turned it into life and excitement for human spirit. The going artistic world that many generations of artists, researchers, and collectors have given hands to develop and make it strong like a vast river surpassing rapids and waterfalls to integrate into the unlimited ocean. Art works would erase the separation of life, help make people close to one another; there will be no parting among countries and nations; there will be no borders, and nothing strange either; there will be no 106
need to translate language, everybody will be able to view, to see and to cotton on it when one’s feelings have been shared, and arts have flourished Modern art, contemporary art and postmodern art are just paths that lead modern artists to access much information; creative space is expanding; many styles and many generations are no more stagnated, restrained, but every painter has his own style, thinking, and feelings. Thinking of creativity and creative subjects is the living energy and the sublimation from original of life which is combined with imagination, faith, sacredness and naturality in practicing and cultivating to take shape; being enlightening and enlightenment, lotus blooms with lotus flowers, roses with roses; stories would be selected, the cream of ideas is precipitated, and the superior knowledge would verify the continuous creation and its continuation. Standing in front of the white canvas, I took a deep breath, drawing a starting trail of color inspiring the next stokes and emotions to burst. The inspiring lines were spreading as if they were starting a journey into strange land; now they were stretching out, and then they were twisting and turning, they were telling a story of themselves which had grown out of my mind that was being expressed. Last strokes of brushes and the colors have come to a halt, but the creation is always urging and inviting. Art is always the beginning, and where is its end? I asked myself and all in a sudden I realized myself I was on a journey returning to my homeland, and that I was but a tiny grain of sand in the desert of life. Lê Triều Điển Translated by Thiếu Khanh.
107
Dịch thuật:Thiếu Khanh Trình bày:Hà Nguyên Trí 108