Phương thức sinh sản của CÔN TRÙNG No.5 Lưu hành nội bộ Nhận dạng, Chu kỳ sống Các bước Tiến hành điều tra và đánh giá nguồn sinh sống GIÁN
PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
Quý độc giả thân mến!
Côn trùng lớp động vật có số lượng cá thể đông đúc nhất và sinh sống ở khắp mọi nơi dù ở nhà chung cư hay nhà mặt đất thì côn trùng cũng có thể xâm nhập và gây hại. Điều này chứng tỏ chúng là lớp động vật rất thành công trong việc thích nghi với hoàn cảnh sống với các phương thức sinh sản vô cùng đa dạng, giúp chúng tồn tại và phát triển giống nòi một cách mạnh mẽ. Ở số Tạp chí này, Ban biên tập xin mời Quý vị cùng tìm hiểu sâu hơn về các phương thức sinh sản của côn trùng.
Trong thế giới loài côn trùng thì Gián là một trong số những loài xuất hiện gây nhiều phiền toái cho cuộc sống con người. Chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi, từ những tòa nhà thương mại cho tới các tòa nhà công cộng, dân dụng, các khu căn hộ. Vì vậy gián thường là mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng và cần được kiểm soát hiệu quả. Mọi người có thể tham khảo thêm những phương pháp kiểm soát và cách phòng tránh để Gián không gây hại đối với con người.
Ban biên tập chúng tôi rất hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự yêu mến đón đọc của Quý độc giả.
Trân trọng!
CHỊU TRÁCH NHIỆM NỘI DUNG
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP
Đỗ Thị Dương
Bùi Tuấn Anh
Nguyễn Thị Yến
Nguyễn Kim Thi
Hà Thị Hạnh Vân
Nguyễn Bảo Đại
Nguyễn Tiến Dũng
Phạm Hoàng Tú
Ngô Thùy Dung
Nguyễn Văn Thọ
TỔNG BIÊN TẬP
Nguyễn Tất Hồng Dương
PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
Đỗ Thị Dương
BIÊN TẬP & THIẾT KẾ
Phòng Phát triển Cộng đồng
LIFE BALANCE
BÌNH MINH XANH
www.facebook.com/lifebalance.vn www.lifebalance.vn
pestmanagement.vn www.facebook.com/pestmanagement.vn
- Insect ecologyPhương thức sinh sản của côn trùng
-Seasonal pestNhận dạng, Chu kỳ sống Cơ chế sinh sản và Tác hại của Gián
- Pest ControlCác bước tiến hành điều tra và đánh giá nguồn sinh sống của Gián
30 16 06
THỨC SINH SẢN CỦA CÔN TRÙNG
Sinh sản lưỡng tính (Bisexual) Đây là hình thức sinh sản phổ biến nhất ở các loài côn trùng. Các cá thể mang tính đực và các cá thể mang tính cái giao phối với nhau. Trứng được thụ tinh sẽ phát triển thành một cá thể mới. Ví dụ: 2n : Ong cái, n: Ong đực
06 PHƯƠNG
Sinh sản đơn tính (Parthenogenesis)
Đây là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, trứng của con cái đẻ ra không qua thụ tinh nhưng vẫn có thể phát dục được. Từ trứng không được thụ tinh phát triển cho toàn con đực như ở nhện đỏ, cho toàn con cái như ở rệp sáp hoặc cho cả cá thể đực và cái như ở rệp muội họ Aphididae.
Hiện tượng đực cái cùng cơ thể (Hermaphrodite)
Một số loài côn trùng trong cơ thể mang cả tính đực và tính cái, ví dụ rệp sáp xơ hại cam (Icerya purchassi M.) trong quần thể có 90-99 % cá thể có hiện tượng đực cái cùng cơ thể, chỉ có 1-10 % cá thể đực, không có cá thể nào có tính cái hoàn chỉnh.
07
Muỗi năn (Cecidomyidae)
Muỗi chỉ hồng
(Chironomidae)
Sinh sản thời kỳ sâu non (Paedogenesis)
Đây là hình thức sinh sản đặc biệt và hiếm thấy, ví dụ: họ muỗi năn (Cecidomyidae), muỗi chỉ hồng (Chironomidae) thuộc bộ hai cánh (Diptera). Buồng trứng ở thời kỳ sâu non đã chín và không cần qua thụ tinh phát dục thành sâu non.
Sâu non phát dục trong cơ thể mẹ được nuôi dưỡng bằng chất dinh dưỡng trong cơ thể sâu mẹ, sau khi hoàn thành giai đoạn phát dục thì sâu non đục thủng cơ thể mẹ chui ra và tiếp tục phương thức sinh sản của sâu mẹ.
08
Rệp muội (Aphididae)
Hiện tượng thai sinh
Là phương thức sinh sản mà trứng nở ra trong cơ thể mẹ rồi đẻ sâu non trực tiếp ra ngoài. Hiện tượng này thường gặp ở côn trùng họ rệp muội (Aphididae), ruồi ký sinh (Tachinidae), ruồi nhà (Muscidae) …
Sinh sản nhiều phôi (Polygenesis)
Từ một trứng do kết quả phân cắt của tế bào tạo ra nhiều phôi, số lượng phôi khác nhau tuỳ theo loài côn trùng, ít nhất là 2 nhiều nhất có thể tới 3000. Hình thức sinh sản này thường gặp ở những loài ong ký sinh như họ ong nhỏ (Chalcidae), ong kén nhỏ (Braconidae) và ong cự
09
(Ichneumonidae) … Họ ong nhỏ (Chalcidae) Ong kén nhỏ (Braconidae)
BIẾN THÁI
CỦA CÔN TRÙNG
Biến thái không hoàn toàn
Là biến thái mà quá trình phát dục cá thể trải qua 3 giai đoạn: Trứng - sâu non - trưởng thành. Thường gặp ở bộ cánh thẳng (cào cào, châu chấu), bộ cánh nửa (bọ xít dài hại lúa, bọ xít muỗi hại chè). Đặc điểm: Hình thái của các loại sâu non và trưởng thành hoàn toàn giống nhau, chỉ khác nhau về kích thước, mức độ phát dục của cơ quan sinh dục và mức độ phát triển mầm cánh.
10
BIẾN THÁI KHÔNG HOÀN TOÀN
11
12
Biến thái hoàn toàn
Là loại biến thái mà quá trình phát dục cơ thể trải qua 4 giai đoạn: Trứng - sâu non - nhộng - trưởng thành. Đặc điểm của biến thái này là hình thái bên ngoài và cấu tạo bên trong của sâu non và trưởng thành hoàn toàn khác nhau. Ví dụ: Sâu đục thân lúa, sâu cắn gié, sâu cuốn lá, sâu xám hại ngô, ong, kiến
13
QUAN HỆ
GIỮA CÁC LOÀI CÔN TRÙNG
1. Quan hệ cộng sinh: Điển hình là quan hệ giữa kiến và rệp. Rệp hút dịch cây, tiết ra chất đường mà kiến ưu thích. Kiến đến nơi có rệp để sử dụng các chất đường mà rệp thải ra làm thức ăn, đồng thời bảo vệ rệp khi bị kẻ thù tấn công. Mùa đông, kiến còn mang rệp vào tổ của mình để chống rét.
2. Quan hệ nô lệ: Điển hình là quan hệ giữa kiến Formica Sanguine và kiến Formica pusca.
3. Quan hệ kí sinh: Ký sinh trứng, ký sinh, sâu non.
14
HIỆN TƯỢNG NGỪNG PHÁT DỤC
Ngừng phát dục của côn trùng: là hiện tượng khi côn trùng gặp những điều kiện ngoại cảnh bất lợi là nhiệt độ quá thấp hoặc nhiệt độ quá cao côn trùng rơi vào trạng thái ngừng phát dục. Trong suốt thời gian ngừng PD côn trùng không ăn, không hoạt động, mọi quá trình trao đổi chất bị ngừng trệ hoặc chỉ tiến hành ở mức độ thấp. Trạng thái ngừng phát dục của côn trùng gồm 3 trạng thái: Ngừng phát dục bắt buộc, ngừng phát dục tự do và hiện tượng hôn mê. Hôn mê: Là hiện tượng khi côn trùng bị tác dộng đột ngột bởi điều kiện bất lợi thì côn trùng sẽ ngừng hoạt động, sự trao đổi chất bị giảm sút, cường độ trao đổi chất trong trạng thái hôn mê. Đó là trạng thái cơ thể chưa kịp chuẩn bị những điều kiện sinh lý để đối phó với hoàn cảnh xấu.
Nếu cường độ tác động của các yếu tố quá mạnh thì trao đổi chất bị tổn thương nghiêm trọng, cơ thể lâu phục hồi trở lại trạng thái ban đầu. Ngừng phát dục tự do: là hiện tượng côn trùng bị tác động bởi điều kiện ngoại cảnh bất lợi và côn trùng đã chủ động thay đổi điều kiện sinh lý để đối phó kịp thời với điều kiện bất lợi đó. Do đó khi điều kiện ngoại cảnh thích hợp trở lại, côn trùng nhanh chóng hồi phục lại trạng thái ban đầu. Ngừng phát dục bắt buộc: Mang tính chất di truyền và tương đối bền vững. Ở trạng thái này cho dù điều kiện ngoại cảnh có thích hợp trở lại nhưng trạng thái ngừng dục này vẫn tiếp tục một thời gian nhất định mới chấm dứt.
15
GIÁN
Gián là một trong những loài dịch hại gia đình phổ biến nhất, chúng cũng là loài gây phiền toái nghiêm trọng cũng như tiềm ẩn nguy cơ cho sức khỏe cộng đồng. Gián có kích thước từ dưới 1/2 inch đến gần 2 inch và chủ yếu là côn trùng ăn đêm, ăn nhiều chất hữu cơ. Hầu hết các con gián đều trú ngụ trong các khe tối và ẩm ướt khi không kiếm ăn. Chúng có khả năng bò nhanh và có thể leo lên các bề mặt gồ ghề, một số loài khác khi trưởng thành lại có thể bay những quãng ngắn hoặc lướt khi nhiệt độ ấm. Tuy nhiên, hầu hết các loài gián không có cánh, cánh yếu, hoặc không bay được.
16
17
NHẬN DẠNG & CHU KỲ SỐNG
Một số người nhầm lẫn gián với bọ cánh cứng, nhưng gián trưởng thành có cánh màng và không có cánh trước dày và cứng của bọ cánh cứng. Gián là loài côn trùng có kích thước từ trung bình đến lớn theo thứ tự Blattodea (superrorder Dic tyoptera). Chúng là loài côn trùng thân rộng, dẹt với râu dài và phần hình khiên nổi rõ phía sau đầu gọi là pronotum, chúng cũng thuộc bộ Dictyoptera với mối.
Hầu như tất cả các loài gián đều hoạt động về đêm, chúng có xu hướng phân tán khi bị quấy rầy. Những gián non hoặc chưa trưởng thành, được gọi là nhộng, sẽ biến thái hoàn toàn khi chúng phát triển và lớn lên thành con trưởng thành, có nghĩa là chúng giống con trưởng thành ở thói quen kiếm ăn nhưng cánh phát triển chưa đầy đủ và không sinh sản tích cực. Ngay sau khi lột xác, gián sẽ có màu trắng, nhưng trong vòng vài giờ phần da bên ngoài khi cứng hơn sẽ chuyển thành màu sẫm. Nhộng gián nhất được tìm thấy nhiều nhất trong quần thể đồng ruộng.
18
19
SINH HỌC
Gián là loài côn trùng săn mồi và ăn tạp. Chúng có thể tồn tại ở gần như bất cứ môi trường nào từ hố phân cho đến nhà vệ sinh. Chúng cũng có thể gặm nhấm các đồ vật không phải là thức ăn như băng dánh, lông, kẹp sách, xà phòng và ngay cả những con gián khác.
Chúng là loài động vật hoạt động về đêm và ví vậy hoạt động của chúng đạt đến đỉnh điểm khi chúng tìm kiếm thức ăn và nước uống vào ban đêm. Ban ngày chúng ẩn náu ở những vết nứt chật hẹp ở những nơi mà cơ thể chúng tiếp xúc được vào cả hai mặt phẳng vào cùng một thời điểm- trừ khi chúng quá đông do đó tất cả các giai đoạn phát triển diễn ra tại cùng một vị trí. gián có xu hướng tập trung ở góc ngách và thường di chuyển dọc theo bờ tường hoặc các bề mặt.
20
ĐẶC TÍNH
Gián thường sản xuất ra một loại mùi đặc biệt để gửi tín hiệu đến các loài gián cùng loài vì chúng sẽ bị hấp dấn tới nguồn phát ra. Vì mùi này có trong phân gián, đàn gián sẽ bị thu hút đến khu vực đã bị những con gián khác gây nhiễm khuẩn.
Sự phát triển của loài gián chịu ảnh hưởng bởi chất lượng thức ăn, độ ẩm, nhiệt độ và thời gian của một ngày. Gían cái đẻ các bọc trứng chứa trứng gián sẽ nở từ bên trong bọc và từ đó xuất hiện nhộng gián. Vỏ trứng thường bị phân hủy hoặc dán vào các bề mặt trước khi trứng nở.
Loài gián thể hiện sự tương thích không hoàn toàn giữa nhộng gián và gián trưởng thành. Nhộng xuất hiện từ trong vỏ trứng và trải qua 5-12 giai đoạn lột xác trong vòng một năm, mỗi lần tạo ra một đàn nhộng lớn hơn để cuối cùng bước vào giai đoạn trưởng thành. Ngay khi trở thành gián trưởng thành, gián có thể sinh sản ttong vòng từ 2-3 tuần ngay sau đó.
21
TÁC HẠI
Mọi người thường tìm cách xua đuổi nếu tìm thấy gián trong nhà, theo đó, sự xâm nhập của gián trong nhà cũng là nguồn gây dị ứng nghiêm trọng và là yếu tố gây nguy cơ phát triển bệnh hen suyễn ở trẻ em, đặc biệt là trong môi trường nhà chung cư. Mức độ của các chất gây dị ứng có sự tương quan với cả mật độ và các điều kiện xâm nhập, ví dụ như nhà cửa hư hỏng và điều kiện vệ sinh kém.
22
Trong tất cả các loài gián ở California, gián Đức là loài phiền phức nhất; chúng sống và sinh sản ở các vị trí chuẩn bị thực phẩm trong nhà và có thể gây ra các mối lo ngại về sức khỏe đến từ ô nhiễm thực phẩm và các chất gây dị ứng. Gián Đức có thể xuất hiện trong nhà, trường học, nhà hàng, bệnh viện, nhà kho, căn hộ và bởi hầu như trong bất kỳ công trình kiến trúc nào cũng có khu vực chuẩn bị hoặc cất giữ thực phẩm. Chúng làm ô nhiễm thực phẩm và dụng cụ ăn uống, phá hủy các sản phẩm bằng vải và giấy, đồng thời để lại các vết bẩn và mùi khó chịu lên bề mặt chúng tiếp xúc. Gián Mỹ tiếp xúc với chất bài tiết của con người trong cống rãnh hoặc với phân vật nuôi ở ngoài trời nên chúng có thể lan truyền các vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm (Salmonella spp. Và Shigella spp.). Gián Đức được cho là có khả năng lây truyền nhiều sinh vật gây bệnh như Staph ylococcus spp., Streptococcus spp., Virus viêm gan và vi khuẩn coliform, hoặc thậm chí bệnh thương hàn và bệnh kiết lỵ.
23
Sự xuất hiện của gián là một mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Gían gây ô nhiễm môi trường bằng cách thải phân, thức ăn đã nhiểm khuẩn và làm hỏng các vật liệu bằng mùi đặc trưng của chúng. Gián trực tiếp gây nhiễm khuẩn thức ăn và bề mặt sử dụng để chuẩn bị thức ăn ví chúng di chuyển từ vật liệu bị nhiễm khuẩn sang thức ăn hoặc qua con đường vận chuyển phân của các loài côn trùng khác. Vì vậy chúng liên quan đến sự lây lan của các loại vi rút gây bệnh, vi khuẩn, nấm và nấm mốc bao gồm ngộ độc thức phẩm (vi rút Salmonella, khuẩn E.Coli, Clostridium, kiết lị, viêm ruột, bại liệt, viêm gan và bệnh lao.
24
ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
Vai trò vec tơ vật lí của gián có nghĩa quan trọng vì:
1. Vòng đơi của gián không phụ thuộc vào mùa khí hậu và vì vậy chúng có thể truyền bệnh trong suốt cả năm.
2. Gián thích cư ngụ ở những môi trường ấm, ẩm và có nhiệt độ được kiểm soát như nhà bếp hoặc bệnh viện, điều này gia tăng sự tiếp xúc của chúng với các sinh vật gây bệnh.
3. Nhộng gián có cùng môi trường sống, hành vi sinh học và nhu cầu về nguồn cung thức ăn do đó nhộng gián cũng đóng vai trò vector truyền bệnh tương tự như gián trưởng thành.
4. Một số loài gián (ví dụ như gián Đức) thường cư trú trong nhà hoặc ở những môi trường khép kín làm gia tăng sự tiếp xúc của chúng với con người.
5. Là loài động vật hoạt động về đêm, khó có thể phát hiện sự hiện của chúng.
6. Một số loài gián thường bò thay vì bay, thời gian chúng tiếp xúc với nguồn vật liệu bị nhiễm khuẩn tăng lên.
Môi trường bị gián xâm nhập có khả năng chứa các mảnh khung xương gián và phân có thể gây dị ứng, đặc biệt đối với những người nhạy cảm khi hít phải hoặc ăn phải. Vì vậy, các chất dư thừa gây dị ứng có thể tồn đọng và đóng vai trò giống như chat gây nhiễm khuẩn đang hoạt động, do đó cần làm vệ sinh toàn bộ khu vực sau khi thực hiện các biện pháp xử lí.
Không nên xem nhẹ ảnh hưởng về mặt tâm lí gây ra do sự hiện diện của gián. Những người chịu tác động của gián có thể trải qua tình trạng lo lắng và căng thẳng cao dẫn đến những mối quan ngại về sức khỏe, cảm giác dễ bị tổn thương và hoặc cảm giác xấu hổ. Điều này cũng nên được kĩ thuật viên kiểm soát côn trùng cân nhắc vì nó có thể ảnh hưởng đến kết quả báo cáo về hoạt động của gián - đặc biệt là ở khu dân cư.
25
CƠ CHẾ
Sinh Sản
Gián là loài mắn đẻ; ví dụ gián Đức có thể sinh sản 20,000 ngìn gián con trong vòng 12 tháng. Một số loài gián cái cũng có thể sinh sản mà không cần giao phối.
Gián Đức (Blattella germanica)
Gián cái đã giao phối tạo đẻ ra vỏ bỏ trứng gắn vào phần cuối bụng gián (không giống như gián Đông Phương) trong thời gian một tháng trước khi vỏ bọc trứng rụng 1 đến 2 ngày trước khi trứng nở. Gían cái sẽ cố gắng dấu vỏ bọc trứng ở gần nguồn thức ăn và cách xa những chú gián khác. Vỏ bọc trứng có lớp ngoài dày và có chiều dài khoảng 8mm,màu nâu và chứa từ 30-40 trứng. Những con nhộng gián đầu tiên có chiều dài 3mm và không có cánh, và chúng nhanh chóng chiếm những vết rạn nứt nhỏ ngay tại nơi chúng nở ra.
Nhộng gián trảng qua 5-7 lần lột xác để trở thành gián trưởng thành. Qúa trình phát triển của gián chịu tác động mạnh mẽ của nhiệt độ, ví dụ như ở nhiệt độ 25 độC, quá trình trưởng thành cần 3.5 tháng tuy nhiên quá trình này cũng có thể dao động từ 74 đến 85 ngày. gián trưởng thành sống trong khoảng 8.5 tháng ở nhiệt độ 25 độC. Trong mỗi năm có thể có 4 thế hệ gián ra đời và gián đẻ trứng thường xuyên hơn trong điều kiện thời tiết nóng ấm. Trong khoảng thời gian 1 tháng giữa mỗi lần đẻ trứng, mỗi chú gián cái có thể đẻ từ 4 đến 8 vỏ trứng.
26
Gián Đông Phương (blatta orientalis)
Gián cái có thể sinh 8 vỏ trứng trong suốt vòng đời của chúng. Vỏ bọc trứng dày có màu nâu đỏ và có chiều dài 9mm. Mỗi vỏ trứng có chứa 16 nhộng gián nở sau 6 tuần nhưng chúng có thể kéo dài từ 300 đến 800 ngày trong điều kiện nhiệt độ thấp. Trong trường hợp này, vỏ trứng giống như một quả bom sinh học chờ đợi nở trứng và bắt đầu phá hoại.
Gián cái mang vỏ trứng trong vòng 30 giờ và sau đóc thả vỏ bọc trứng hoặc gắn vỏ bọc vào một bề mặt được bảo vệ gần nguồn thức ăn. Vỏ bọc trứng có thể che lấp bởi bụi bẩn. Nhộng iasn trải qua 7-10 lần lột xác trước khi đạt đến giai đoạn trưởng thành, quá trình này có thể kéo dài từ 10 tháng đến 2 năm tùy vào nhiệt độ và nguồn cung cấp thức ăn. Với mỗi chú gián con mọc cánh, râu và các bộ phận khác phát triển, nhộng gián dần trở thành gián trưởng thành. Gián trưởng thành sống trong khoảng 4.5 tháng ở nhiệt độ 25 độ C. Mỗi chú gián con và con cháu của chúng có thể tạo ra gần 200 gián con mỗi năm. Tuy nhiên, nếu khu vực được vệ sinh sạch sẽ, quá trình phát triển của gián sẽ bị chậm lại.
27
Gián Mỹ (periplaneta Americana)
Loài gián này không phổ biến ở Anh vì chúng không chịu được khí hậu lạnh như gián Đông Phương và gián Đức, vì vậy hoạt động phá hoại của chúng diễn ra chủ yếu ở các cảng, nơi tập trung nhiều hoạt động vận chuyển. Chúng sẽ tập trung ở những khu vực chuẩn bị và kho chứa thực phẩm, và xung quanh đường ống dẫn nước và ở những khu vực có nhiệt độ và độ ẩm cao ví dụ như nhà kính,vườn thú, và những môi trường tập trung đông người….
Gián cái sẽ đẻ trứng trong vòng vài giờ hoặc vài ngày trước khi nhộng xuất hiện. Vỏ bọc trứng chứa 10 đến 15 trứng được thả rơi hoặc đặt ở một môi trường thích hợp thông thường ở những nơi có độ ẩm cao gần nuồn thức ăn.
28
Gián nâu (supella longipalpa)
Gián nâu cần môi trường nóng để tồn tại, nhiệt độ sinh trưởng lí tưởng của chúng là trên 27 độ C. Mặc dù không xuất hiện thường xuyên nhưng chúng đang dần trở thành loại côn trùng phổ biến ở Anh và thường được tìm thấy ở các vị trí đặt công tắc điện, đồ điện gia dụng, vỏ bọc mô tơ.
Gián Úc (periplaneta australasie)
Loài gián này không xuất hiện nhiều ở Anh do chúng cần sinh sống trong điều kiện môi trường nóng ẩm. Ví vậy loài gián này thường được tìm thấy ở khi nhà kính, nơi trồng các loại thực vật vật trong bồn, chính là nguồn phát sinh của gián và ở các cửa hàng thú nuôi, đặc biệt là những nơi có số lượng bể cá lớn. Gián cái đẻ một bọc trứng chứa khoảng 16 trứng sẽ nở sau khoảng 80 ngày.
29
30 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ NGUỒN SINH SỐNG CỦA GIÁN
31
1. Các bước chuẩn bị
Sự xâm nhập của gián thường rất khó kiểm soát vì chúng thường tỏa đi vào các nơi khó tiếp cận. Chính vì thế việc kiểm soát thành công loài gián trở nên vô cùng phức tạp và phụ thuộc vào các phương pháp kiểm soát cụ thể đối với loài này. Khả năng gián sinh sôi nảy nở nhanh chóng chỉ khiến cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn, nên các biện pháp xử lý đều phải loại bỏ được một lượng lớn loài côn trùng này nhằm tránh bùng phát sau này. Các biện pháp kiểm soát côn trùng tích hợp có vai trò quan trọng khi những biện pháp xử lý cục bộ không hiệu quả cho tất cả mọi điểm, trừ những điểm nhỏ và tập trung.
32
Theo đó, việc kiểm tra để khẳng định sự tồn tại của côn trùng, loài côn trùng và mức độ phân tán của gián là rất cần thiết và phải được tiến hành một cách khoa học. Kỹ thuật viên sẽ cần các hướng tiếp cận thông thoáng tới tất cả mọi khu vực bị gián xâm nhập trong phòng hoặc trong toàn bộ khu nhà. Với các nhà riêng, cần đảm bảo rằng người thuê nhà hoàn toàn ý thức được mức độ xâm nhập của gián trong nhà của họ.
33
34
Kỹ thuật viên cũng cần các thiết bị bảo hộ cá nhân thích hợp, trong đó loại và tính chất của thiết bị phụ thuộc vào việc kỹ thuật viên đang tiến hành đánh giá mức độ xâm nhập của gián hay đang tiến hành xử lý côn trùng. Do đó các thiết bị bảo hộ cá nhân sẽ được cung cấp cho kỹ thuật viên dựa theo hướng dẫn diệt côn trùng và tuân theo bản đánh giá nguy hại phù hợp và đầy đủ. Tóm lại, kỹ thuật viên sẽ được cung cấp ít nhất là găng tay vô trùng và (tùy theo công thức chất diệt côn trùng được sử dụng) một mặt nạ phù hợp. Một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến xử lý không hiệu quả là không xác định được phạm
35
vi hoạt động của gián. Do đó các kỹ thuật viên phải có đủ thời gian để tiến hành điều tra. Điều này không những tăng khả năng xử lý thành công mà còn cung cấp các chỉ số như thời gian cần thiết để tiến hành xử lý.
2. Với nhà riêng
Kỹ thuật viên phải chắc chắn về nơi nhìn thấy gián hoặc bằng chứng về sự tồn tại hoạt động của gián. Kỹ thuật viên phải cố gắng xác định con đường gián xâm nhập vào nhà cũng như các khu vực/ dịch vụ cần thiết phải xử lý. Cần phải kiểm tra các khu vực không hợp vệ sinh hoặc bừa bãi và cần phải hỏi người thuê nhà về các biện pháp kiểm soát trước đó, mức độ hoạt động và lý do tạo nên các điều kiện hiện tại trong nhà, nếu người thuê biết.
36
37
3. Với các tòa nhà thương mại lớn
Một khi gián đã xâm nhập với mật độ cao vào các tòa nhà đông dân cư, (ví dụ như khách sạn) thì chúng sẽ nhanh chóng phát tán khắp khu nhà. Nếu như khu vực này không được xử lý, nó sẽ trở thành một nguồn chứa cho sự xâm nhập trở lại của gián, đặc biệt trong trường hợp túi bào tử của gián còn sót lại. Tương tự, kỹ thuật viên cũng cần phải hỏi người thuê nhà ngay từ đầu xem họ có phàn nàn hay quan sát thấy gián xuất hiện hay không. Tuy nhiên nếu có thể, phải liên lạc với các nhân viên bảo vệ và bảo quản nhà vì họ biết nhiều thông tin chi tiết về sự xân nhập của gián hơn các nhân viên quản lý.
38
Trong mọi trường hợp, việc lập kế hoạch cho tòa nhà để từ đó kỹ thuật viên nắm rõ bố trí tòa nhà là rất hữu ích. Các phòng/ khu vực sát cạnh với những khu bị gián xâm nhập cũng phải được kiểm tra. Kỹ thuật viên phải thu thập đầy đủ thông tin để đảm bảo ghi chép một cách chính xác, lưu ý những khu vực đã ghi nhận được bằng chứng về sự hoạt động của gián. Dựa vào những bằng chứng từ việc khảo sát, kỹ thuật viên sẽ khẳng định về sự tồn tại và phạm vi hoạt động của gián nếu có và ghi chép lại các thông tin chi tiết. Kỹ thuật viên cũng cần ghi lại các yếu tố bổ sung một cách chi tiết.
39
Khi tiến hành bất cứ đánh giá nào, kỹ thuật viên đều phải đánh giá cả tòa nhà chứ không được đánh giá riêng các căn hộ, dựa vào kích thước và tính chất của tòa nhà cũng như phạm vi hoạt động của gián, kỹ thuật viên phải đưa ra nhận xét cho nhân viên quản lý/ cấp cao liên quan cũng như các cơ quan liên quan nhằm đảm bảo an toàn cho việc kiểm soát côn trùng ngay từ khi bắt đầu. Các cơ quan này bao gồm các nhân viên sức khỏe môi trường, các nhân viên trong khu nhầ hoặc đại diện của bất kì tổ chức khách hàng nào quản lý khu nhà và đại diện người thuê nhà trong khu nhà. Khi tiến hành xử lý các tòa nhà lớn hoặc các tòa nhà có gián xâm nhập trên diện rộng, các nhân viên cấp cao,nhân viên quản lý nên soạn một bản kế hoạch kiểm soát chi tiết để cung cấp cho các bên tham gia vào việc cung cấp nguyên liệu và tiến hành đánh giá công việc xử lý. Các kế hoạch cần phải dựa trên những tiêu chuẩn đã kể trên.
40
41
4.Tiến hành điều tra
Mục đích của việc điều tra là nhằm cung cấp đầy đủ thông tincho kỹ thuật viên tiến hành đán giá mức độ phân bố và mức độ nghiêm trọng của gián xâm nhập từ đó đưa ra kế hoạch xử lý. Các chỗ ẩn náu của gián đã phát hiện từ trước cần phải được kiểm tra bao gồm những điểm được lưu ý trong phần sau. Cần thu thập đầy đủ thông tin để đảm bảo ghi nhận được chính xác, lưu ý các khu vực nơi bằng chứng về sự xâm nhập của gián đã được ghi nhận. Bố trí các phòng/địa điểm phải được vẽ rõ để cho thấy địa điểm và mức độ của các hoạt động của gián. Các phòng và các không gian bên cạnh (cả hai bên, trên và dưới) cũng cần được kiểm tra tương tự.
Các cuộc kiểm tra và ban đêm có thể được yêu cầu và trong một số trường hợp phải sử dụng đèn ánh sáng đỏ. Việc kiểm tra có khả năng yêu cầu việc sử dụng bẫy côn trùng (trong phần sau) hoặc việc sử dụng bình xịt pyrethroid xịt quanh và xịt vào khu vực tiềm tàng gián ẩn trú sẽ khiến gián chạy ra, mặc dù biện pháp này không đạt hiệu quả cao đối với gián Đông phương.
42
43
5. Dấu hiệu hoạt động của gián
Số lượng gián quan sát được thường chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ số gián. Việc xâm nhập của gián có khả năng xảy ra ở các khe, các vật liệu thô và các bao gói, hoặc gián xâm nhập qua các khe do lỗi cấu trúc, các nắp cống hỏng, các lỗ thông hơi mở và dưới cửa. Bằng chứng cho các hoạt động của gián bao gồm: Các dấu vết
Sự xâm nhập trên diện rộng của gián có thể hoàn toàn được che giấu vào ban ngày nhưng những dấu vết do gián để lại trên mặt bằng chính là bằng chứng cho sự tồn tại của gián. Những vệt màu nâu, không đồng đều là chất bài tiết lỏng của gián khi có sẵn nước. chúng thường được phát hiện gần tổ gián.
Mùi
Số lượng gián lớn sẽ tạo ra mùi chua đặc trưng từ phân gián, chất bài tiết và do côn trùng chết. Mùi này có thể được phát hiện trong khu vực có nhiều gián.
44
45
46
Các tổ gián
Gián Đức đặc biệt thích các địa điểm sau:
» Trong bếp, đằng sau và dưới lò, bồn rửa và các khoang bếp
» Xung quanh ống nước, lò, đặc biệt nơi ống nước xuyên qua tường
» Trong tủ bếp, dưới bàn, đằng sau gạch lát tường
» Trong bếp và các khu vực ăn uống, nơi gián có thể được tìm ra bên trong ổ điện và các ổ cắm ba chân
» Lỗ thông hơi và hệ thống ống
Gián Đông phương đặc biệt yêu thích các địa điểm sau:
» Hầm, ống nước, ống nhiệt, nhà kho, nồi đun, chân bếp và các lỗ dưới sàn nhà
» Gạch và các kẽ nứt trong xi măng
» Công trình phụ, cống rãnh, nền đất mấp mô, khu vực đổ rác và các mẩu rác
Gián sống
» Gián sống có thể được tìm thấy trong tổ gián khi soi đèn hoặc xịt bình xịt pyrethroid. (cần cẩn thận để tránh hơi xịt tiếp xúc với chất gây nổ hoặc với lửa)
» Kiểm tra vào ban đêm có thể giúp xác định khu vực phá hoại của gián
» Đặt bẫy gián vào ban đêm sẽ cho hiệu quả cao hơn việc kiểm tra bằng mắt thường vào ban đêm
47
6. Hạn chế vết hở nứt khi xây dựng Tòa nhà
Những cải thiện trong kết cấu tòa nhà nhằm chặn đường đi của gián sẽ giúp hạn chế sự xâm nhập của gián và hỗ trợ cho công tác xử lý đang tiến hành. Do đó công tác kiểm tra cần phải tìm ra bằng chứng về lỗi hoặc hư hại trong cấu trúc tòa nhà có tiềm năng tạo đường đi và tạo tổ gián. Ví dụ như việc kiểm tra các rãnh và đường nứt xung quanh bếp, bồn tắm và các ống dẫn nước và thoát nước, các khe nứt trên sàn nhà, gạch và cửa sổ, cửa ra vào bên ngoài có thể loại bỏ hầu hết nơi trú ẩn và giúp giảm số lượng gián. Tùy thuộc vào loại gián mà các biện pháp kiểm tra để chắc chắn về những khu tổ gián và/hoặc các lỗi có khả năng ảnh hưởng tới sự phân bố của gián và hiệu quả của công tác xử lý. Các thiết kế hoặc các thay đổi trong cấu trúc được cải thiện sẽ giúp giảm đường vào của gián và sự hình thành của gián.
48
49
7. Các điều kiện vệ sinh
Các điều kiện vệ sinh được cải thiện sẽ không giúp giảm lượng gián hiện tại nhưng lại là một yếu tố quan trọng để ngăn gián xâm nhập từ đầu và nâng cao chất lượng vệ sinh sẽ giúp giảm một lượng lớn lượng gián hiện tại. Do đó kỹ thuật viên phải xác định các khu vực có thể là tổ gián và điều kiện, bao gồm:
» Các mẩu thức ăn, thức ăn thừa vương vãi trên các bề mặt, giá, tủ và sàn
» Bát đĩa chưa rửa
» Các khu vực bẩn dưới tủ lạnh, lò, bồn rửa và nội thất
» Bảo quản thức ăn kém (bao gồm cả thức ăn cho động vật)
» Khay thức ăn động vật chưa rửa
» Các thức ăn trong tủ lạnh hoặc tủ chạn không đậy kỹ
» Thùng rác không sạch sẽ và tràn ra ngoài
» Tích lũy rác hoặc vật bẩn
50
» Các nguồn nước tràn từ vòi, ống, bể chứa nước nhà vệ sinh, chậu rửa, bẫy nước thải, hồ, ẩm ướt hoặc ngưng tụ và lưu trữ nước
» Nhà vệ sinh, bồn rửa, bồn tắm bị hỏng hoặc bị vỡ
» Ống nước thải bị hỏng hoặc bị vỡ
» Việc tích lũy không cần thiết hoặc lộn xộn của các vật rác như thùng các tông, đống giấy báo, tạp chí và quần áo
Dựa vào những bằng chứng từ cuộc kiểm tra, kỹ thuật viên đưa ra khẳng định về sự tồn tại của gián và ghi chép lại một cách chi tiết.
51
lifebalance.vn pestmanagement.vn