Vòng đời & phân loại
côn trùng
Phân loại các loài kiến Phương pháp kiểm soát và xử lý kiến
No.2 Lưu hành nội bộ
Xin chào Quý độc giả! Trong môi trường sống của các loài động vật, côn trùng có rất nhiều hệ sinh thái khác nhau. Mỗi loài côn trùng lại có sự đa dạng và phong phú riêng. Trong Tạp chí “Insect ecology” số tiếp theo này, chúng tôi giới thiệu đến Quý vị hệ sinh thái côn trùng với đặc điểm vòng đời của chúng. Tìm hiểu sự khác nhau giữa từng loài với cách phân loại công trùng. Cùng Ban biên tập tiếp tục tìm hiểu loài côn trùng theo mùa với sự đa dạng phân loại của từng loài kiến. Với khí hậu và môi trường thay đổi thường xuyên, côn trùng có thể xuất hiện ở bất cứ đâu dù ở nhà cao tầng hay nhà mặt đất thì côn trùng cũng có thể xâm nhập và gây hại. Để giúp Quý vị có thêm thông tin về cách xử lý, chúng tôi cung cấp giải pháp về kiểm soát côn trùng và nhận thấy đây là ngành cần thiết, cấp bách cho sức khỏe con người. Cùng trong cuốn Tạp chí này, mọi người cũng có thể tham khảo thêm những phương pháp kiểm soát kiến, quy trình xử lý khi có kiến xuất hiện trong khu vực của bạn. Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được sự đón đọc của Quý độc giả. Trân trọng!
Dương
Đỗ Thị Dương PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
CHỊU TRÁCH NHIỆM NỘI DUNG
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP Đỗ Thị Dương Bùi Tuấn Anh Nguyễn Thị Yến Nguyễn Kim Thi Hà Thị Hạnh Vân Nguyễn Bảo Đại Nguyễn Tiến Dũng Phạm Hoàng Tú Ngô Thùy Dung Nguyễn Văn Thọ
TỔNG BIÊN TẬP Nguyễn Tất Hồng Dương
PHÓ TỔNG BIÊN TẬP Đỗ Thị Dương
BIÊN TẬP & THIẾT KẾ Phòng Phát triển Cộng đồng
LIFE BALANCE
www.lifebalance.vn www.facebook.com/lifebalance.vn
BÌNH MINH XANH
pestmanagement.vn www.facebook.com/pestmanagement.vn
06
- Insect ecologyVòng đời côn trùng và Phân loại côn trùng
20
-Seasonal pestPhân loại các loài kiến
48 - Pest Control Phường pháp kiểm soát xử lý kiến
Vòng đời của
CÔN CÔN TRÙNG TRÙNG
06
Việc hiểu rõ về vòng đời của côn trùng sẽ giúp ta có các xác định phù hợp như: xác định xem có cần quản lý dịch hại hay không và nếu có, thì thời điểm tốt nhất là khi nào. Kiến thức về vòng đời của côn trùng có thể giúp ta xác định: > Giai đoạn sống của côn trùng có thể gây hại cho cây trồng > Giai đoạn sống của côn trùng dễ quản lý nhất > Các lựa chọn sinh trưởng như chọn giống kháng sâu bệnh hoặc điều chỉnh thời gian trồng để đảm bảo cây trồng không ở giai đoạn mẫn cảm khi dịch hại hoạt động mạnh nhất > Cách mà điều kiện sinh thái và khí hậu địa phương có thể ảnh hưởng đến chu kỳ sống của côn trùng
07
Các loại côn trùng có thể trông khác nhau trong các giai đoạn phát triển và việc có thể nhận ra các giai đoạn đó sẽ quyết định thời điểm quản lý cần thiết và thời điểm quản lý thích hợp. Quá trình côn trùng thay đổi trong suốt cuộc đời của chúng được gọi là quá trình “metamorphosis” hay còn gọi là "biến thái hình thức", thuật ngữ này là sự kết hợp của hai từ Hy Lạp: meta có nghĩa là “thay đổi” và morphe có nghĩa là “hình thức”. Biến thái hình thức là sự thay đổi rõ rệt hoặc đột ngột về hình thức hoặc cấu trúc, một số giống loài côn trùng nguyên thủy chẳng hạn như bọ đuôi bật và cá bạc, chúng không trải qua biến thái hình thức mà gia tăng kích thước trong khi vẫn giữ nguyên các đặc tính trước đó.
08
Ví dụ, hành động sâu bướm làm rụng lá cây hoa lạc tiên là một dấu hiệu đáng báo động cho đến khi xác định những con sâu bướm đó là dạng ấu trùng của loài bướm. Nếu xử lý những con sâu bướm bằng thuốc trừ sâu thì ta sẽ bỏ lỡ giai đoạn trưởng thành tuyệt đẹp của loài thụ phấn có lợi này. Giun đốt là ấu trùng bướm đêm ẩn nấp dưới rác hoặc đất vào ban ngày, chui ra ngoài trong bóng tối để ăn cây. Hình dạng ấu trùng tựa như những quả trứng nhỏ, vì vậy bằng cách xử lý cỏ dại và chất thải đúng thì có thể giảm đáng kể số lượng của chúng vào mùa thu bởi ấu trùng sẽ khó quản lý hơn nhiều vào mùa xuân.
09
trứng sâu bướm
nhộng/kén
con trưởng thành lột xác
“Dần dần” (không đầy đủ) và “hoàn chỉnh” là mô tả về số lượng các bộ phận riêng biệt có trong quá trình biến thái hình thức. Côn trùng trải qua quá trình biến thái hình thức dần dần hoặc không hoàn toàn sẽ lớn hơn nhưng nhìn chung hình dáng của chúng sẽ không thay đổi đáng kể khi trưởng thành.
10
Ba giai đoạn biến thái hình thức là trứng, nhộng và trưởng thành: >> Nhộng trùng (côn trùng chưa trưởng
thành) có mắt và râu, giống với con trưởng thành, và thường có thói quen kiếm ăn giống nhau; tuy nhiên, nhộng lại nhỏ hơn và không có cánh. >> Ở bộ phận cánh có thể chứa các
miếng đệm và cánh vẫn đang trong quá trình phát triển ở những con nhộng non. >> Trong quá trình nhộng phát triển
thành con trưởng thành, chúng đã trải qua một loạt các lần lột xác, nơi bộ xương cũ sẽ rụng đi và bộ xương mới hình thành, bộ xương ngoài mới sẽ mở rộng và sau đó cứng lại. >> Giai đoạn sống giữa mỗi lần lột xác
sẽ là một tuổi và số lượng cá thể và tần suất lột xác thay đổi đáng kể theo loài và ở một mức độ nào đó theo nguồn cung cấp thức ăn, nhiệt độ và độ ẩm. Bọ tai, châu chấu và họ hàng của chúng, bọ và họ hàng của chúng, gián và mối là nhữn ví dụ về côn trùng trải qua quá trình biến thái dần dần.
11
Hầu hết các loài côn trùng đều trải qua quá trình biến thái hình thức hoàn toàn hay có thể hiểu là trải qua bốn giai đoạn riêng biệt: trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành. > Ấu trùng có thể có hoặc không có chân, râu hoặc mắt nên đôi khi chúng trông giống như con giun hoặc những sinh vật có gai hoặc tóc bao phủ xung quanh.
12
>
Ấu trùng có thể lột xác vài lần nhưng nhìn chung sẽ không thay đổi hình thức cho đến khi chúng chuyển sang giai đoạn nhộng. Trong giai đoạn nhộng, côn trùng sẽ không hoạt động và không ăn nhưng vẫn có sự thay đổi sâu sắc nên trong giai đoạn này ột số côn trùng quay kén hoặc mạng, hoặc cuộn lá quanh cơ thể để bảo vệ. Trong quá trình nhộng, nhiều mô và cấu trúc bị phá vỡ hoàn toàn và cấu trúc của con trưởng thành dần được hình thành.
>
Giai đoạn trưởng thành sẽ không giống với giai đoạn ấu trùng và côn trùng có thể sẽ có một môi trường sống hoàn toàn khác. Côn trùng trưởng thành sẽ dành thời gian ngắn để sinh sản, thức ăn của nó thường khác hoàn toàn so với thức ăn ở giai đoạn ấu trùng. Bọ cánh cứng, bướm, kiến, ong, bướm đêm, ong bắp cày, ruồi và bọ chét là ví dụ cho những côn trùng trải qua quá trình biến thái hình thức hoàn toàn.
13
Phân loại
CÔN CÔN TRÙNG TRÙNG
Việc xác định hàng nghìn loài côn trùng sẽ không thể thực hiện được nếu không thiếu vắng một hệ thống phân loại tiêu chuẩn. Tương tự như giới thực vật, giới động vật có các phân loại chính được gọi là "nhóm ngành". Một số nhóm ngành là dịch hại trong vườn gồm: > Nhóm ngành chân khớp (côn trùng, nhện, tôm càng xanh) > Nhóm ngành giun tròn (giun đũa, giun tròn, trichina) > Nhóm ngành giun dẹp (giun dẹp, sán lá, sán dây) > Nhóm ngành thân mềm (ốc, sên, trai)
14
15
Bảng 1. Các lớp của ngành Chân khớp.
Lớp
Ví dụ
Các phần cơ thể
Đôi chân
Giáp mềm
tôm càng xanh,
2
5
mọt gỗ Nhện
Nhện, ve
1 hoặc 2
4
Chân đốt
Giun đất
2
12
Côn trùng
bọ cánh cứng,
3
3
bướm
Hơn 3/4 số động vật trên trái đất đều thộc nhóm ngành Chân khớp (Arthro có nghĩa là "khớp nối" và poda có nghĩa là "chân") với những đặc điểm chung gồm các phần phụ ghép nối, có khớp với nhau; xương ngoài; các cơ quan phân đoạn và đối xứng nhau. Người ta phân chia nhóm ngành Chân khớp thành tầng lớp khác nhau. Bảng 1 mô tả một số tầng lớp quan trọng và trình bày một số đặc điểm dùng để phân biệt côn trùng với các tầng lớp chân khớp khác. Để một động vật chân khớp được xép vào lớp Côn trùng thì nó phải có ba đoạn cơ thể với ba cặp chân.
16
17
Các chuyên gia chia nhỏ các tầng lớp theo bộ, mỗi bộ côn trùng lại được chia thành các nhóm gọi là họ côn trùng với tên gia đình kết thúc bằng idae: Aphididae (rệp), Muscidae (ruồi nhà), và Blattidae (gián). Các họ côn trùng lại chia thành nhiều chi và loài, có thể hiểu đây là những cấp độ cụ thể nhất của hệ thống phân loại. Sau đây sẽ là ví dụ về phân loại họ ruồi: Nhóm ngành ............ Arthropoda Tầng lớp ................. Côn trùng Bộ ................ Diptera Họ ............. Muscidae Chi ............. Musca Loài ............. domestica Côn trùng thường có tên chung và đôi khi một loài có thể có một số tên chung, ví dụ, "bọ cánh cứng" đề cập đến toàn bộ bộ Coleoptera, bao gồm hàng nghìn loài khác nhau. Thuật ngữ "bướm đêm" dùng để chỉ hàng nghìn loài trong bộ Lepidoptera.
18
Bảng 2. Một số phân loại nhóm của lớp côn trùng và đặc điểm của chúng.
Ví dụ
Hình thái biến thái
Phần miệng
Bộ cánh
hoàn thiện
Bọ cánh cứng
Bọ, mọt
Hoàn toàn
nhai
2 cặp
Bọ đuôi bật
Bọ đuôi bật
Không
nhai
không
Bọ cánh da
Kiến đuôi kim
Dần dần
nhai
2 cặp
Ruồi
Ruồi
Hoàn toàn
nhai, mút
1 cặp
Bọ rệp
Bọ, rệp vảy
Dần dần
xuyên-mút
2 cặp
Bọ cánh màng
Ong, kiến
Hoàn toàn
nhai
2 cặp
Mối
Mối
Dần dần
nhai
2 cặp
Bọ cánh vẩy
Bướm,
Hoàn toàn
nhai, hút
2 cặp
Hoàn toàn
nhai
2 cặp
Dần dần
nhai
2 cặp
bướm đêm Bọ cánh gân
Chuồn chuồn cỏ, kiến sư tử, rệp nước
Bọ cánh thẳng
Dế mèn, châu chấu
Bọ chét
Bọ chét
Hoàn toàn
nhai
không
Bọ cánh viền
Bọ trĩ
Dần dần
hút
2 cặp
Họ ba đuôi
Bọ bạc
Dần dần
nhai
không
19
PHÂN LOẠI KIẾN
Kiến là một trong những loài gây hại phổ biến nhất trong các hộ gia đình. Chúng cũng được nhìn thấy trong các nhà hàng, bệnh viện, văn phòng, nhà kho và các tòa nhà khác, nơi chúng tìm thức ăn và nước uống. Hầu hết các loài kiến đều có thể cắn bằng bộ hàm có hình dạng như gọng kìm của chúng (một số ít thực sự làm được và một số có nọc độc). Tuy nhiên, chúng là loài gây hại khó chịu chủ yếu vì chúng xuất hiện với số lượng lớn và có thể làm tổ trong các khoảng trống trên tường hoặc các phần khác của các cấu trúc xây dựng. Kiến làm nhiễm bẩn và phá hủy một số nông sản, thực phẩm dự trữ. Một số loài nhất định làm ố hoặc gây ra các lỗ cắn li ti cho các sản phẩm dệt may. Khi ở trên các cây trồng ngoài trời, kiến bảo vệ và chăm sóc các loại côn trùng tiết ra nấm mật (rệp, vảy mềm và rệp sáp), điều này có thể cản trở quá trình kiểm soát sinh học tự nhiên của những loài gây hại này. Trong tự nhiên, kiến có thể sở hữu các chức năng có lợi bằng cách tiêu diệt một số loài côn trùng gây hại và làm cho đất thoáng khí.
20
21
Kiến thuộc bộ côn trùng Bộ cánh màng và là họ hàng gần của ong và ong bắp cày. Kiến, giống như nhiều loài bọ cánh cứng khác, là côn trùng có tính cộng đồng cao với nhiệm vụ được phân chia cho các loại khác nhau, hoặc các thành viên, của các cá thể trưởng thành. Kiến chúa tiến hành các chức năng sinh sản của một đàn, đẻ trứng và tham gia kiếm ăn và dọn dẹp. Các kiến thợ giống cái không có khả năng sinh sản sẽ thu thập thức ăn, cho ăn và chăm sóc ấu trùng, xây dựng đường hầm và bảo vệ nơi làm tổ.
22
Các kiến thợ không phải lúc nào cũng có cùng kích thước trong một loài nhất định như trường hợp của kiến thợ mộc đen. Những kiến thợ lớn hơn có hàm dưới phát triển tốt được gọi là kiến quân lính. Con đực không tham gia vào các hoạt động bảo vệ nơi làm tổ của chúng; Mục đích rõ ràng duy nhất của chúng là giao phối với ong chúa, sau đó con đực sẽ chết. Con đực thường có cánh và giữ đôi cánh của nó cho đến khi chết. Con đực thường lớn hơn kiến thợ, nhưng nhỏ hơn con cái sinh sản. Một số ít con đực được cho ăn và chăm sóc bởi kiến thợ.
Sự khác biệt cơ bản giữa kiến và mối Kiến có vòng eo hẹp hoặc bị bó ép lại; nghĩa là, cơ thể của chúng rất mỏng ở nơi kết hợp giữa bụng và ngực. Ngoài ra, râu của chúng có hình khuỷu tay, nghĩa là mỗi râu trông giống như một cánh tay uốn cong ở khuỷu tay. Kiến trưởng thành có cánh hoàn toàn thường bị nhầm lẫn với những con mối cánh, nhưng chúng có thể dễ dàng được phân biệt dựa trên những điều sau đây:
Kiến
Mối
1. Kiến có râu hình khuỷu tay và mối có râu thẳng, giống như hạt. 2. Kiến có các đường thắt lưng bó lại, trong khi cơ thể của mối hầu như có chiều rộng như nhau từ đầu đến cuối (hoặc mối có vòng eo rộng). 3. Đôi cánh trước của kiến dài hơn đôi cánh sau của chúng, trong khi cả hai cặp cánh của mối có chiều dài tương đương nhau.
23
VÒNG ĐỜI CỦA KIẾN
Kiến phát triển theo thể biến thái hoàn toàn; do đó các giai đoạn phát triển là trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành. Trứng cực kỳ nhỏ và có hình dạng khác nhau tùy theo loài. Khi trứng nở, một ấu trùng mềm, không chân được tạo ra. Sau khi ăn và đi qua một số lần lột xác, ấu trùng sẽ hóa thành nhộng.
24
Nhộng giống con trưởng thành, nhưng mềm, màu trắng và không di chuyển hoặc kiếm ăn. Con trưởng thành có thể mất vài ngày để trưởng thành hoàn toàn sau khi xuất hiện từ giai đoạn nhộng. Cần từ sáu đến tám tuần hoặc hơn để phát triển từ trứng đến giai đoạn trưởng thành tùy thuộc vào loài và điều kiện khí hậu.
Kiến cần nước để uống và sẽ di chuyển một khoảng cách xa để lấy nước nếu cần thiết. Đây thường là lý do ta tìm thấy kiến trong nhà bếp hoặc phòng tắm của các khu dân cư hoặc các tòa nhà thương mại. Các loài kiến xâm nhập vào nhà ở và các công trình kiến trúc bao gồm kiến Argentina, kiến dừa, kiến pharaoh, tên ăn trộm và kiến mộc. Các loài khác như kiến lửa ngoại nhập có thể là loài gây hại không thường xuyên trong nhà. Kiến nông nghiệp, kiến ngô, kiến kim tự tháp và các loài kiến khác làm tổ ngoài trời nhưng đôi khi cũng xâm nhập vào các cấu trúc xây dựng.
25
KIẾN ACROBAT
(Crematogaster spp)
Kiến Acrobat có xu hướng ăn rệp và rệp sáp cho nấm mốc và cũng ăn các loại côn trùng khác. Chúng thường tổ chức các đàn của chúng trong hoặc dưới các khúc gỗ và gốc cây mục nát trong tự nhiên và đôi khi sống trong các tổ do kiến thợ mộc đào bị bỏ hoang nếu gỗ đủ ẩm. Chúng cũng có thể đào các ngăn tổ bày nhỏ của riêng mình trong các tấm ván lợp mái ướt, vách ngăn nhà, xà nhà hiên, cột nhà, tấm ngưỡng cửa hoặc bất kỳ phần nào của cấu trúc mà gỗ không bị khô hoàn toàn. Giống như kiến vỉa hè, đàn kiến Acrobat thỉnh thoảng đổ rác của chúng đi. Nó bao gồm dăm bào gỗ nhỏ như của kiến thợ mộc. Sự khác biệt giữa kiến Acrobat và kiến thợ mộc là những mảnh vụn của kiến Acrobat nhỏ hơn và luôn có màu sẫm do nấm. Kiến Acrobat có thể kiếm ăn trong nhà bếp. Kiến cần nước để uống và sẽ di chuyển một khoảng cách xa để lấy nước nếu cần thiết. Đây thường là lý do ta tìm thấy kiến trong nhà bếp hoặc phòng tắm của các khu dân cư hoặc các tòa nhà thương mại.
26
Khi nghi ngờ có sự xâm nhập của kiến Acrobat, hãy tìm nơi kết cấu bằng gỗ bị rò rỉ nước. Thay đổi môi trường sống là cách tốt nhất để kiểm soát sự xâm nhập. Điều này có thể được thực hiện bằng cách loại bỏ và thay thế gỗ bị hư hỏng, thay đổi độ cao và chuyển hướng các đường thoát nước mà hướng nước về phía kết cấu bằng gỗ và làm sạch hoặc thay thế các máng xối. Cắt tỉa các cành cây nhô ra ngoài để giữ cho gỗ không bị khô và di chuyển các khúc gỗ, gốc cây, lá và cỏ xén ra khỏi các công trình kiến trúc. Thay đổi môi trường sống là giải pháp lâu dài tốt nhất, nhưng việc sử dụng thuốc xịt tiếp xúc có thể cần thiết đối với các vấn đề dai dẳng không dứt
27
KIẾN ARGENTINA (Iridomyrmex humilisn)
Kiến Argentina kiếm ăn trong nhà hàng, cửa hàng tạp hóa, văn phòng, trường học, nhà kho và bất kỳ địa điểm nào khác khi có thức ăn và nước uống thích hợp. Đây là một loài dịch hại dai dẳng và rất khó kiểm soát khi chúng đã làm tổ bên trong hoặc gần một tòa nhà. Loài kiến này không phải là một loài bản địa, nhưng nó đã được du nhập vào Hoa Kỳ vào khoảng năm 1890.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Con thợ trưởng thành dài khoảng 0.3 cm và có màu nâu nhạt đến sẫm. Kiến chúa có màu sáng hơn và dài từ 0.47 đến 0.65 cm; vài trăm mối chúa có thể sống trong một đàn lớn duy nhất. Kiến Argentina thường làm tổ trong đất và thường di chuyển đến các tòa nhà hoặc dọc theo vỉa hè. Chúng cũng xây tổ dưới các tấm ván, cây cỏ và đôi khi dưới các tòa nhà.
28
Khi đi kiếm ăn, hàng nghìn kiến thợ tạo thành những con đường mòn dài từ tổ đến vị trí kiếm thức ăn. Có thể nhìn thấy kiến di chuyển theo cả hai hướng dọc theo những con đường mòn này.Tất cả các kiến thợ chia sẻ thức ăn với nhau và với các kiến chúa của nơi làm tổ. Đôi khi chúng làm tổ trong khoảng trống trên tường hoặc trong đất của cây trồng trong nhà nếu điều kiện thích hợp.
Kiến chúa đẻ những quả trứng nhỏ màu trắng quanh năm. Sản lượng tối đa, từ 20 đến 30 trứng mỗi ngày cho mỗi con chúa, xảy ra trong các tháng thời tiết ấm áp. Thời gian ấp trứng trung bình là 28 ngày trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Sau khi nở, ấu trùng vẫn ở trong tổ và được kiến thợ trưởng thành cho ăn, chăm chút và bảo vệ. Giai đoạn ấu trùng kéo dài khoảng 31 ngày và giai đoạn nhộng mất khoảng hai tuần. Khi thời tiết ấm áp, các nơi làm tổ thường chia thành các nhóm nhỏ hơn và di cư đến gần nguồn cung cấp thực phẩm hơn. Vào mùa đông, chúng lại tập hợp thành những đàn lớn hơn. Giao phối thường diễn ra trong tổ hơn là trên chuyến di cư. Kiến chúa có thể sống lâu đến 15 năm.
Bên trong một tòa nhà, kiến Argentina ăn đường, xirô, mật ong, nước hoa quả và thịt. Ngoài trời, nó bị thu hút bởi chất tiết ngọt, dính gọi là mật rệp do rệp vảy mềm và rệp tiết ra. Nó cũng ăn côn trùng chết, động vật chân đốt khác và các mô phân hủy từ động vật chết. Chế độ ăn đa dạng này hỗ trợ cho sự tồn tại và sự thành công của nơi làm tổ vì hầu như luôn có sẵn một số thức ăn. Khả năng sinh sản cao của kiến Argentina (là kết quả của số lượng lớn kiến chúa trong mỗi đàn) và khả năng thích nghi nhanh chóng của đàn kiến và định cư thành tổ trong nhiều tòa nhà và địa điểm tự nhiên cũng góp phần vào sự thành công của loài này. Các nơi làm tổ mới có thể được thiết lập nhanh chóng và phát triển nhanh về kích thước bởi vì kiến chúa giao phối trong tổ và tham gia vào quá trình kiếm ăn và chăm sóc của ấu trùng. Kiến Argentina không có kẻ thù tự nhiên
29
KIẾN ĐẦU TO
(Pheidole spp)
Loài kiến này được tìm thấy trong và xung quanh nhà, nhưng nó chủ yếu là loài ăn hạt làm tổ trong đất. Chi họ kiến này có một điểm đáng chú ý đối là những cái đầu lớn của những con kiến lính. Ở một số loài Pheidole, những cái đầu khổng lồ của kiến lính được kiến thợ loại bỏ trước mùa đông. Rõ ràng điều này là vì mục đích để nuôi những con kiến lính mới dễ hơn là nuôi những con cũ. Những con kiến này có thể vào nhà làm ô nhiễm nhiều loại thức ăn. Trong tự nhiên, chúng ăn côn trùng sống và chết, hạt giống và rệp vừng.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Tùy thuộc vào loài, kiến thợ đầu to loại nhỏ có chiều dài từ 0.16 cm đến 0.25 cm. kiến thợ lớn (kiến lính) có chiều dài từ 0.25 cm đến 0.36 cm. Các râu có 12 phân đoạn với một bộ ba phân đoạn riêng biệt. Đầu của kiến thợ chính rất lớn so với kích thước của cơ thể.
30
KIẾN THỢ MỘC
(Camponotus spp)
Loài kiến này thường được tìm thấy trong các khúc gỗ mục nát trong rừng và do thói quen ở và đào gỗ nên chúng được đặt cho cái tên chung là “kiến thợ mộc”. Chúng thường là loài gây hại trên bãi cỏ cũng như trong nhà. Các công trình kiến trúc có thể bị đe dọa bởi kiến thợ mộc. Những con kiến chân dài di chuyển nhanh nhẹn này được xếp trong số những loài kiến lớn nhất.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Các kiến thợ có kích thước khác nhau rất nhiều từ 0.42 đến 0.85 cm với các kiến chúa có chiều dài từ 1.27 cm đến 2.54 cm. Hầu hết các loài kiến có màu từ nâu sẫm đến đen nhưng một số có màu đỏ và đen. Các kiến thợ của nhóm này không cắn, nhưng có khả năng gây ra vết cắn đau đớn.
31
KIẾN NGÔ
(Lasius alienus)
Tổ của những loài kiến này rất phổ biến trên các cánh đồng. Trong và xung quanh nhà, chúng có thể được tìm thấy giữa các viên gạch trong tường, dưới đá, trong các vết nứt trên vỉa hè, trong bãi cỏ, v.v. Tổ của chúng có thể mở rộng ra để tạo thành một khu gò. Loài kiến này sẽ vào nhà để tìm đồ ngọt và trở thành một vấn đề cho môi trường trong nhà. Chúng cũng sẽ ăn mật của các loài côn trùng khác và rất dễ gây bệnh trên các loài côn trùng khác. Loài kiến này có kích thước vừa phải (0.25 cm), có màu nâu và thường được tìm thấy cùng với loài rệp phổ biến trên rễ ngô.
32
33
KIẾN ĐIÊN
Loài (Paratrechina kiến này có thân hình rất mảnh mai dài khoảng 0.32 cm; nó chỉ có một dốt và có màu nâu sẫm bóng, gần như màu đen. Nó có thể được tìm thấy ở một số địa điểm rải rác ở Arkansas. Kiến điên có hình dáng độc nhất vô nhị. Mỗi cái râu và chân sau đều dài bằng thân. Những con kiến này không bò theo nhau, nhưng số lượng lớn đi theo các con đường dọc theo tường móng, vỉa hè, v.v. Cái tên “Kiến điên” được đặt từ dáng đi nhanh nhẹn, lắt léo của nó; với số lượng lớn, nó chạy rất nhanh, không thể tập trung vào một cá nhân duy nhất. Một số nơi làm tổ của chúng trở nên rộng lớn và có thể được quan sát thấy cả bên ngoài và bên trong trong một khu chung cư. Các cá thể tăng giảm trong mùa hè, phục hồi trở lại sau thời tiết ẩm ướt, suy giảm trong thời tiết khô. Kiến điên chấp nhận thực đơn đa dạng gồm các loại thức ăn bao gồm côn trùng và đặc biệt thích tập trung nhiều ấu trùng ruồi nhà, rác và phế liệu nhà bếp.
Nơi chúng làm tổ đã nhiều lần được du nhập vào Hoa Kỳ với các loài thực vật từ Nam Mỹ, Puerto Rico và Philippines. Các nơi làm tổ tồn tại bên ngoài ở miền nam Hoa Kỳ và có thể đông đúc trong các tòa nhà ở phía bắc phạm vi của nó. Sự phá hoại của kiến điên nhanh chóng
34
longicornis)
thu hút sự chú ý bằng hoạt động của chúng. Khi ra ngoài, hãy kiểm tra các hố ga, khoảng không gian trống, giếng cửa sổ và các đống rác thải. Bên trong nhà, hãy kiểm tra các phòng chứa rác và nhà bếp cũng như các căn hộ. Đặc biệt chú ý đến lối vào qua cửa ra vào và cửa sổ ở tầng trệt.
Điều tra các kết nối như rãnh ống giữa nhà bếp và phòng chứa rác. Thay đổi môi trường sống được khuyến khích để kiểm soát được loài gây hại này. Thực hiện tiêu chuẩn cao nhất về vệ sinh trong gia đình, dịch vụ ăn uống thương mại và cơ sở chế biến thực phẩm. Luôn giữ khu vực để thực phẩm sạch sẽ sau khi nấu nướng. Thực hành kiểm soát lịch đổ rác (đổ trước khi trời tối) và duy trì các phòng chứa rác, thùng rác và môi trường xung quanh chúng sạch sẽ. Bọc kín xung quanh cửa ra vào và cửa sổ và tường thấp. Bụi trong các hố ga bị nhiễm bẩn và các khoảng trống được bảo vệ khác giết chết một số lượng lớn lũ kiến. Sự xâm nhập nhiều của Kiến Điên cần được theo dõi và xử lý cho đến khi kiểm soát được quần thể. Giám sát các khu vực hỗ trợ dân số cao như phòng chứa rác.
35
KIẾN LỬA PHƯƠNG NAM (Solenopsis xyloni)
Kiến lửa này là loài bản địa có ở hầu khắp miền Nam. Tuy nhiên, hiện nay chúng đã vắng bóng ở nhiều khu vực chúng từng xuất hiện rất nhiều vì áp lực từ loài kiến lửa ngoại nhập. Loài này là một loài kiến ngoài trời làm tổ trong lòng đất. Các tổ trên mặt đất cũng lớn như tổ của các loài ngoại nhập, nhưng được làm phẳng hơn. Tổ của các loài kiến lửa ngoại nhập có hình dạng giống hình nón hơn. Tuy nhiên, điều này thay đổi đáng kể theo loại đất và điều kiện độ ẩm.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Các kiến thợ có chiều dài từ 0.25 đến 0.5 cm. Đầu không to ra nhiều và cuống chân có hai đoạn. Đoạn đầu tiên của cuống có hình dạng hẹp với đỉnh nhọn như lưỡi kiếm. Ngực của kiến thợ được khắc rất nhiều với nhiều đường gờ. Màu sắc thay đổi từ đỏ đến đen. Kiến lửa có ba răng trái ngược với kiến lửa ngoại nhập, có bốn răng.
36
Tầm quan trọng Loài kiến lửa này là kẻ săn mồi quan trọng của tất cả các loài kiến. Vì vậy, không nên loại bỏ nó mà không có lý do chính đáng, đặc biệt là vì nó không hung dữ như kiến lửa ngoại nhập. Thông thường, một khi nó bị loại bỏ khỏi một khu vực, các loài kiến lửa ngoại nhập sẽ di chuyển vào hốc trống. Tuy nhiên, vết đốt của kiến lửa “bản địa” gây đau đớn. Các vết đốt đủ có thể dẫn đến chết gia cầm và chim non. Do không có bản tính hung hăng quá mức, chúng ít có khả năng gây ra các vấn đề nhức nhối hơn.
37
KIẾN LỬA ĐỎ NGOẠI NHẬP (Solenopsis richteri) Có hai loài kiến lửa ngoại nhập. Kiến lửa ngoại nhập đen, Solenopsis richteri, vào Hoa Kỳ vào năm 1918 hoặc sớm hơn. Loài kiến đỏ ngoại nhập, tên khoa học là Solenopsis invicta, đã không du nhập vào Hoa Kỳ cho đến khoảng năm 1940 và đã lây lan nhanh chóng. Loài kiến này hiện đang phá hoại nhiều bang miền nam, bao gồm cả 2/3 vùng thấp hơn của Arkansas.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Kiến lửa ngoại nhập có chiều dài từ 0.32 đến 0.64 cm và màu nâu đỏ đến đen. Chúng là côn trùng sống theo cộng đồng và sống thành đàn lên đến 200.000 cá thể. Đàn kiến lửa bao gồm kiến chúa, con đực và con cái có cánh (kiến chúa còn trinh), kiến thợ và kiến con (trứng, ấu trùng và nhộng). Vì xử lí kiến lửa bản địa là điều không cần thiết hoặc không mong muốn, nên điều quan trọng là ta phải biết sự khác biệt giữa kiến lửa bản địa và kiến lửa ngoại nhập đỏ. Đầu của kiến thợ lớn ngoại nhập không rộng hơn bụng, trong khi đầu của kiến lửa bản địa lớn hơn bụng. Tổ kiến lửa ngoại nhập có hình tròn, hình nón; Tổ của kiến lửa bản địa có hình dạng bất thường. Tuy nhiên, trên đất cát, những ụ kiến lửa ngoại nhập không giữ được hình dạng.
38
Đặc tính sinh vật học Các con cái sinh sản có cánh chủ yếu rời khỏi đàn kiến lửa trên các chuyến di cư để giao phối vào cuối mùa xuân và mùa hè, mặc dù có thể xảy ra việc lập bầy đàn vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Những con kiến giao phối trong khi bay, và những con cái tiếp đất để bắt đầu một nơi làm tổ mới. Hầu hết các con cái đều bay hoặc bị thổi bay cách tổ ít hơn một dặm, nhưng một số có thể bay quãng đường dài 12 dặm hoặc hơn. Tổ kiến lửa thường phổ biến ở những nơi thoáng, nhiều nắng. Đồng cỏ và các vùng đất nông nghiệp khác, ven đường và sân nhà thường bị ảnh hưởng. Ở những vùng đất nặng, mỗi đàn kiến lửa ngoại nhập trưởng thành có thể xây dựng một gò đất đôi khi cao tới 60 cm và đường kính 90 cm. Ở nhiều khu vực bị nhiễm nặng, có tới 50 nơi làm tổ trưởng thành trên mỗi mẫu đất. Việc có từ 20 đến 30 ụ kiến trên một mẫu đất là phổ biến. Ở những khu vực mới bị xâm nhập, có thể có vài trăm tổ nhỏ, mới trên một mẫu đất. Kiến lửa ngoại nhập đạt được mật độ lớn nhất trong các khu vực cần chăm sóc nhiều như bãi cỏ, công viên, ven đường, đồng cỏ và các khu vực bị xáo trộn bởi lũ lụt,
39
Tầm quan trọng Kiến lửa ngoại nhập là một loài kiến nhỏ, hung dữ và gây ra thiệt hại khó tính bằng tiền. Trong các khu vực cảnh quan, các gò đất lớn của nó rất khó coi. Vết đốt gây đau và rát của nó dẫn đến mụn mủ có thể mất đến mười ngày để chữa lành. Nếu chúng vỡ ra, mụn mủ có thể bị nhiễm trùng. Một số người có phản ứng dị ứng với vết đốt của kiến lửa. Phản ứng như vậy có thể gây co giật hoặc đau tim. Một số cá thể đã chết do phản ứng dị ứng với vết đốt của kiến lửa, nhưng trường hợp này rất hiếm. Nhiều người chết vì bị ong đốt hơn là do kiến lửa đốt.
Các ụ kiến lửa trong sân nhà, sân chơi và các khu giải trí là mối nguy hiểm đối với trẻ em và vật nuôi. Ở các bang miền Nam, kiến lửa ngoại nhập thường được tìm thấy trong các hộp điện và thiết bị điều hòa không khí xung quanh nhà và cơ sở kinh doanh.
40
KIẾN NÔNG NGHIỆP (Pogonomyrmex spp)
Kiến nông nghiệp thường được tìm thấy nhiều nhất ở các bãi đậu xe, vỉa hè, bãi cỏ và các khu vực cảnh quan. Nó là một kẻ xâm lược không thường xuyên của các tòa nhà. Loài kiến này có vết đốt nguy hiểm nhất so với bất kỳ loài kiến nào ở Arkansas và thường sẽ tấn công khi bị quấy rầy.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống
Những con kiến này có kích thước tương đối lớn, dài từ 0.5 đến 1.3 cm và có nhiều màu sắc khác nhau từ đỏ đến nâu sẫm. Con đực có màu đen và đỏ. Những con kiến này có một bàn chải lông dài ở mặt dưới trên đầu. Thảm thực vật thường bị phá hủy từ các khu vực rộng lớn và thức ăn chủ yếu của chúng là hạt và ngũ cốc các loại. Các khe hở của tổ có hình dạng đặc trưng là một gò hình nan quạt.
41
KIẾN ĐEN NHỎ
(Monomorium minimum) Tổ được tìm thấy bên dưới đá, trong bãi cỏ hoặc những khu vực không có thực vật. Có thể nhận biết tổ trong đất bằng hình dáng của chúng (những hố đất mịn rất nhỏ). Loài kiến này cũng có thể lập tổ trong đồ gỗ hoặc gạch xây của các tòa nhà
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Loài kiến này khác với kiến pharaoh ở chỗ nó có màu đen tuyền và dài từ 1,5 đến 2 mm. Các râu có mười hai phân đoạn với từng nhóm ba phân đoạn. Thức ăn tự nhiên của chúng là mật ong, nhưng đồ ngọt là thức ăn ưa thích của chúng; do đó, chúng có thể xuất hiện trong nhà. Các nơi làm tổ lớn và mỗi nơi làm tổ chứa một số kiến chúa.
42
KIẾN HÔI
(Tapinoma sessile) Kiến hôi được đặt tên từ mùi hôi, mốc phát ra khi chúng bị nghiền nát. Giống như các loài kiến gây hại khác, kiến nhà có mùi đôi khi xâm nhập vào nhà và các công trình kiến trúc khác với số lượng lớn.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Mối thợ dài khoảng 3 mm và có cơ thể từ màu nâu đến đen. Nó hơi dài và rộng hơn kiến Argentina. Tổ được làm ở ngoài trời trên đất cát, đồng cỏ, khu vực nhiều cây cối, dưới đá và khúc gỗ, trên cây và gốc cây, và đôi khi trong tổ chim và động vật có vú. Trong nhà, nó sẽ làm tổ trong tường, ngưỡng cửa, dưới móng nhà, xung quanh đường ống nước và máy nước nóng hoặc dưới sàn nhà. Loài kiến này phần lớn là loài ăn ngọt và trở thành loài gây hại trong gia đình đặc biệt là sau những trận mưa làm trôi đi nhiều chất tiết mật do rệp và các côn trùng khác để lại. Ở những địa điểm mà kiến Argentina cũng là loài gây hại, kiến nhà có mùi hôi thường bị đuổi đi hoặc ra ngoài để tranh giành thức ăn.
43
KIẾN VỈA HÈ
(Tetramorium caespitum)
Kiến vỉa hè được tìm thấy ở New England, đôi khi là Trung Tây và California. Kiến vỉa hè được quan tâm vì nó xâm nhập vào nhà để kiếm thức ăn. Loài kiến này kiếm ăn trong nhà quanh năm, nhưng được quan sát thấy với số lượng nhiều nhất vào mùa hè. Các tổ ở ngoài trời dưới đá, dọc theo mép lề đường và trong các vết nứt trên vỉa hè, đặc biệt là khi tổ ở cạnh bãi cỏ. Đôi khi các miệng nhô lên nhỏ bao quanh các khe hở của tổ. Trong mùa đông, kiến thường làm tổ trong nhà ở một kẽ hở gần nguồn nhiệt như lò sưởi. Mặc dù kiến thợ có thể cắn và đốt, chúng không hung dữ hoặc gây đau đớn như kiến lửa.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Kiến thợ trên vỉa hè dài từ 0.25 đến 0.32 cm. Các râu có mười hai phân đoạn với một nhóm ba phân đoạn. Đầu và ngực được khắc rất tinh xảo với nhiều đường gờ song song chạy dọc theo chiều dọc. Có một cặp gai thứ hai ở mặt sau của lồng ngực. Cơ thể màu nâu nhạt đến đen, nhưng các phần phụ nhạt hơn. Lông phân bố dày trên toàn bộ cơ thể.
44
KIẾN PHARAOL
(Monomorium pharaonis) Kiến Pharaoh là loài gây hại đặc biệt khó chịu vì kích thước nhỏ của chúng và chúng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, bao gồm xi-rô, nước hoa quả, thạch, bánh ngọt, dầu mỡ và thậm chí cả xi đánh giày. Chúng được coi là loài gây hại trong bệnh viện vì chúng được biết là xâm nhập vào vết thương hở của bệnh nhân và cũng mang theo vi khuẩn.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Những con kiến thợ này dài từ 0.16 đến 0.21 cm và có nhiều màu sắc khác nhau từ vàng đến đỏ. Chúng có thể được phân biệt với loài kiến trộm có hình dáng tương tự bằng ba đoạn trong bộ râu của nó; kiến trộm có hai. Sử dụng ống kính cầm tay để kiểm tra râu của kiến để hỗ trợ việc nhận dạng của bạn. Những con cái đẻ từ 4 đến 12 quả trứng mỗi ngày trong suốt cả năm và năng suất cao nhất trong những mùa ấm hơn. Trong điều kiện thời tiết trung bình, trứng nở sau bảy ngày. Giai đoạn ấu trùng kéo dài 18 ngày, sau đó là giai đoạn chuẩn bị 3 ngày và thành nhộng chín ngày. Các con kiến chúa sống khoảng 39 tuần. Chế độ ăn uống của chúng bao gồm đồ ngọt và thực phẩm béo, mặc dù chất béo được ưu tiên hơn. kiến thợ cũng ăn côn trùng sống và chết. Thức ăn được mang về tổ cho kiến chúa và ấu trùng.
45
KIẾN KIM TỰ THÁP
(Dorymyrmex pyramicus) Những con kiến này xâm nhập vào nhà và trở thành loài gây hại trong vườn. Chúng xuất hiện ở Bắc Mỹ đến Argentina.
Mô tả, sự phát triển và tập tính sinh sống Chúng ăn mật ong nhưng cũng là loài ăn thịt, ăn các loài kiến và côn trùng khác. Các kiến thợ thường dài 0.32 cm với một hình chóp hoặc răng cố định trên ngực. Những con kiến này có một màu đen đồng nhất hoặc có một chút đỏ trên đầu và bụng. Những con kiến này xây dựng những tổ nhỏ hình nón thường được tìm thấy ở bên cạnh tổ của kiến nông nghiệp.
46
KIẾN TRỘM
(Solenopsis molesta) Kiến trộm là loài gây hại trong nhà và các công trình kiến trúc khác. Tên của chúng bắt nguồn từ thói quen xây tổ gần đàn kiến của các loài kiến khác và ăn trộm thức ăn của chúng. Chúng cũng giết và ăn ấu trùng của những con kiến lớn hơn. Kiến trộm là loài kiến nhỏ, có màu sáng, có thể khó nhìn thấy, đặc biệt là ở một số phần của các tòa nhà hoặc những khu vực kém ánh sáng. Chúng bị thu hút bởi thức ăn nhiều dầu mỡ, pho mát và phân động vật. Là một trong những loài kiến gây hại nhất cho ngôi nhà của chúng ta, chúng thường xuất hiện xung quanh bồn rửa bát và tủ bếp. Do kích thước của chúng, chúng có thể chui vào hầu hết mọi loại thùng chứa thực phẩm. Thói quen ăn tạp của chúng khiến chúng có thể truyền các sinh vật gây bệnh cho các vật dụng làm thức ăn. Chúng rất dai dẳng và khó kiểm soát một khi chúng đã xâm nhập vào một tòa nhà.
47
PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT VÀ XỬ LÝ KIẾN Việc kiểm tra để xác nhận sự xuất hiện và phát tán của kiến rất quan trọng. Kĩ thuật viên kiểm soát côn trùng cần được tiếp cận với tất cả các khu vực bị xâm nhập. Kiểm soát kiến ở những khu vực là nguồn thức ăn hấp dẫn hoặc ở những khu ẩm ướt. Kiến có thể xâm nhập vào nhà bếp, nhà tắm, khu văn phòng hoặc phòng ngủ. Kiểm tra dưới các bể nước, dọc đường ống dẫn nước và đường dây dẫn điện. Tìm kiếm những dấu hiệu của
đàn kiến hoặc các loài côn trùng hoạt động đơn lẻ - đây là những dấu hiệu cho thấy chúng đang tìm kiếm thức ăn hoặc nơi làm tổ. Nếu phát hiện thấy dấu hiệu di chuyển của đàn kiến, nên theo chân đoàn kiến đến vị trí chúng xâm nhập vào nhà và vị trí tổ của chúng. Kiểm tra bên trong và bên ngoài tổ kiến để tìm kiếm những kẽ hở và vết nứt là những nơi tạo lối vào cho kiến.
Nhân viên kĩ thuật cần có những Thiết bị bảo vệ cá nhân (PPE) phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể nhân viên đó đang đánh giá hoạt đông tiềm năng của đàn kiến hay thực hiện hành động kiểm soát côn trùng. Theo đó, bất cứ Thiết bị bảo vệ cá nhân nào đều phải được cung cấp cùng với hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất và tuân thủ quy trình đánh giá nguy hiểm một cách phù hợp và đầy đủ
48
Biện pháp xử lí không hóa chất Việc kiểm soát kiến đòi hỏi nỗ lực bền bỉ và sự két hợp giữa việc sử dụng biện pháp kiểm soát bằng hóa chất và không hóa chất. Nỗ lực tiêu diệt hoàn toàn kiến ở một khu vực ngoài trở là điều hoàn toàn không thực tế và thiếu tính thực hành. Nên tập trung vào việc loại bỏ kiến ở các tòa nhà và loại bỏ nguồn cung cấp thức ăn và nước uống của chúng. Giảm thiểu nguồn tập trung ở những khu vực ngoài trời của kiến ở gần các tòa nhà sẽ giảm thiểu việc kiến di chuyển vào trong nhà. Theo đó những biện pháp không chứa hóa chất nên được xem xét như một công cụ kiểm soát và chỉ được tận dụng như một biện pháp giảm thiểu kiến trong chương trình kiểm soát côn trùng tích hợp.
49
Điều chỉnh môi trường sống Để hạn chế sự xuất hiện của kiến bên ngoài tòa nhà, tất cả những kẻ hở nên được bịt kín. Kiến thường thích xây dựng lối di chuyển gần bờ tường và ở những khu vực có kết cấu ví dụ như đường dây dẫn điện hoặc ống nước và chúng cũng thường sử dụng những lối này để xâm nhập vào nhà. Do đó kĩ thuật viên cũng nên tìm kiếm vị trí kiến xâm nhập vào nhà. Đối với khu vực bên trong các tòa nhà, nên cân nhắc những yếu tố sau: Loại bỏ những vết rạn nứt, kẽ hở ở nhà bếp và những khu vực chuẩn bị, lưu trữ thức ăn. Nên để những loại thực phẩm dễ thu hút côn trùng như đường, siro, mật ong và thức ăn cho vật nuôi ở những bình đựng kín có thể rửa được để loại bỏ phần thức ăn còn thừa. Rửa sạch chai lọ đựng nước ngọt hoặc mang hẳn ra khỏi tòa nhà Dọn sạch vết dầu mỡ bị tràn Đổ rác hàng ngày và thay túi rác bên trong thùng đựng rác thường xuyên Tìm kiếm tổ trong nhà ví dụ như ở chậu cây. Nếu tìm thấy kiến trong các chậu cây, di chuyển chậu cây ra khỏi tòa nhà. Tổ kiến ngoài trời thường có mối liên hệ với những loài thực vật hỗ trợ cho hoạt động sống của một số lượng lớn các loài côn trùng tạo mật. Tránh trông các loại cây như cây dâm bụt xung quanh tòa nhà. Trồng cây, cỏ, bụi rơm cách phần móng của tòa nhà một vài cm ví những bụi cây cỏ có thể là nơi cư ngụ của kiến. Sửa đường ống nước bị rò rỉ, van và đầu bơm nước.
49
50
Phương pháp kiểm soát sử dụng hóa chất Lựa chọn công thức Công thức được lựa chọn phụ thuộc vào đặc tính môi trường của nơi thực hiện biện pháp kiểm soát. Ví dụ có thể sử dụng loại hóa chất dạng bụi ở những khu vực chứa thiết bị điện và/hoặc kẽ hở của tường, trong khi đó hóa chất dạng lỏng hoặc dạng keo có thể sử dụng ở những vị trí dễ trông thấy hơn. Dung dịch diệt côn trùng dạng xịt cũng có thể sử dụng cho tình huống tiêu diệt nhanh đặc biệt đối với kiến cánh. Ứng dụng và sử dụng thuốc trừ sâu bọ Chỉ sử dụng những loại thuốc đạt tiêu chuẩn. Thuốc trừ sâu bọ phải được sử dụng tại tất cả những khu vực được xác định nằm trong khu vực kiểm tra theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Áp dụng biện pháp kiểm soát phù hợp cùng với thiết bị bảo vệ phù hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất và những đánh giá nguy cơ phù hợp và đẩy đủ. Tuy nhiên, việc áp dung vòi phun mang lại hiệu quả chính xác hơn.
51
Nhân viên kĩ thuật cần có những Thiết bị bảo vệ cá nhân (PPE) phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể nhân viên đó đang đánh giá hoạt đông tiềm năng của đàn kiến hay thực hiện hành động kiểm soát côn trùng. Theo đó, bất cứ Thiết bị bảo vệ cá nhân nào đều phải được cung cấp cùng với hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất và tuân thủ quy trình đánh giá nguy hiểm một cách phù hợp và đầy đủt
52
Quy trình xử lý ở khu chung cư
và trung tâm thương mại Mặc dù những phương pháp được trình bày ở trên cũng áp dụng được trong các lô nhà và trung tâm thương mại, nhưng những khu nhà này vẫn có những tính chất riêng gây khó khan cho việc xử lý kiến, bao gồm: Tổ kiến (đặc biệt là tổ kiến Pharaoh) có khả năng lan rộng trong cả tòa nhà; Các cấu trúc phức tạp, gồm hệ thống ống dẫn thoát nước và các cấu trúc có nguy cơ thiệt hại hoặc hư hỏng; Các môi trường sống khác nhau trong cùng một cấu trúc nhà, gồm có nhiệt độ, độ ẩm và các tiêu chuẩn vệ sinh; Nhiều chủ đất, chủ nhà và cư dân, dẫn đến khó tiếp cận vào từng nhà trong tòa nhà để thực hiện xử lý; Hoạt động hợp pháp có thể cần được xem xét trong trường hợp cư dân không có khả năng hoặc không sẵn sàng thực hiện xử lý hoặc đảm bảo các công việc khắc phục hậu quả được hoàn tất.
53
54
Các yếu tố kể trên có khả năng khiến đàn kiến tỏa ra lộn xộn trong toàn bộ cấu trúc tòa nhà và giúp chúng tránh khỏi tiếp xúc với tất cả loại thuốc diệt côn trùng. Để hạn chế tối đa những ảnh hưởng do các yếu tố này gây ra, cần phải lên kế hoạch xử lý để điều phối số lượng, tính chất và tần suất xử lý. Kế hoạch xử lý cần bao gồm các mục sau: Thông tin chi tiết về từng căn hộ và / hoặc các phần chung và chủ nhà / cư dân; Thông tin chi tiết về khảo sát toàn bộ các khu vực, bao gồm kế hoạch cấu trúc; Thỏa thuận với cư dân, chủ đất, cơ quan thực thi pháp luật, vv; Mức độ hoạt động của kiến, bao gồm những yếu tố đã kể trên có thể ảnh hưởng tới sự thành công của việc xử lý và cách giải quyết những yếu tố này;
55
Các thông tin liên quan về địa bàn bao gồm yếu tố về trẻ nhỏ, vật nuôi và người già khuyết tật; Bản đánh giá nguy cơ đầy đủ, hợp lý sao cho thực hiện được các phương pháp xử lý và các biện pháp bảo vệ, bao gồm các quy trình xử lý độc hại cho kĩ thuật viên; Các phương pháp xử lý bao gồm địa điểm, liều lượng và loại thuốc diệt côn trùng được sử dụng; Cách đánh giá sự thành công của việc xử lý, tức là việc loại bỏ hoàn toàn kiến có đúng thực tế không và kéo dài trong thời gian bao lâu. Các thông tin liên quan khác (ví dụ như lịch sử có kiến trong tòa nhà); Theo đó, trong phần này, các quy trình xử lý được áp dụng để thực hiện xử lý trong tòa nhà lớn sẽ được nhấn mạnh. Tần suất xử lý, bao gồm những lần kiểm tra và đánh giá lại kế hoạch xử lý;
56
57
Trường hợp không có kiến xuất hiện Giải thích cho cư dân rằng không có bằng chứng cho sự xuất hiện của kiến và cam đoan với chủ nhà và/hoặc người thuê sẽ đến kiểm tra nếu có kiến xuất hiện. Cần phải ghi lại ít nhất những điều sau: Các chi tiết về từng căn hộ và phần không gian chung (bao gồm mọi thông tin chi tiết về nghề nghiệp); Tên kĩ thuật viên tham gia; Ngày kiểm tra; Khu vực được khảo sát; Kết quả khảo sát cho thấy không phát hiện có kiến; Các thông tin liên quan khác (ví dụ như tiền sử có kiến của khu nhà). Dừng đăng các khiếu nại đưa ra nhận xét trên tờ công việc hoặc hồ sơ điện tử.
58
Kết luận chưa chắc chắn Nếu không thể tìm thấy bằng chứng cho sự xuất hiện của kiến mà cư dân không chấp nhận hoặc có vài nguyên nhân khiến cho kĩ thuật viên nghi ngờ có kiến xuất hiện, thì phải xem xét lại các thiết bị theo dõi hoặc phải cùng quản lý/nhân viên cấp cao đến tận nơi xem xét. Phải cung cấp thông tin và thiết bị cho cư dân về các tiêu chuẩn vệ sinh, giữ gìn nhà cửa nếu cần thiết. Thông báo trước 2 , 3 tuần cho cư dân nếu có kiểm tra tận nơi. Cần phải ghi lại ít nhất những điều sau như một phần trong kế hoạch xử lý: Các chi tiết về từng căn hộ và/hoặc phần không gian chung (bao gồm mọi thông tin chi tiết về nghề nghiệp); Tên kĩ thuật viên tham gia; Ngày kiểm tra; Khu vực được khảo sát; Bằng chứng cho thấy khả năng có kiến; Vị trí, số lượng và loại thiết bị theo dõi; Các thông tin liên quan khác (ví dụ như tiền sử có kiến của khu nhà). Báo cáo lại những thông tin trên cho người quản lý/nhân viên cấp cao.
59
Xác nhận hoạt động của kiến Trong thực tế, mục đích của việc xử lý là kiểm soát hoàn toàn hoạt động của kiến trong tòa nhà/cấu trúc và do đó cần phải ghi lại những mục sau như một phần của kế hoạch xử lý.
Thông tin chi tiết về từng căn hộ và/hoặc phần không gian chung (bao gồm chi tiết về công việc); Tên kĩ thuật viên tham gia; Ngày kiểm tra; Thông tin chi tiết về khu vực được khảo sát; Bằng chứng cho thấy khả năng có kiến, bao gồm loại kiến và các yếu tố hình thành; Thông tin liên quan về địa điểm, bao gồm các yếu tố trẻ em, vật nuôi, người cao tuổi tàn tật; Vị trí, liều lượng và loại thuốc trừ sâu được sử dụng (trình bày dưới dạng biểu đồ thích hợp); Các thông tin liên quan khác (ví dụ như tiền sử có kiến trong tòa nhà) Báo cáo các thông tin này cho quản lý/nhân viên cấp cao.
60
Phương pháp xử lý Các công việc xử lý phải được thực hiện theo kế hoạch xử lý. Nếu sử dụng thuốc diệt côn trùng, phải thực hiện một số thay đổi so với quy trình xử lý trong nhà, bao gồm các mục sau: Phun một dải liên tục thuốc diệt côn trùng quanh các điểm ra vào như cửa chính, cửa sổ, ống thông gió, ống dẫn và thoát nước để tạo thành một rào chắn cả bên trong và bên ngoài; Xử lý các điểm tiếp xúc giữa tường và sàn nhà, các đường đi và nơi ẩn náu của kiến; Đặc biệt lưu ý các đường rãnh nhỏ có khả năng là lối vào chính của bầy kiến; Xử lý các loài kiến bay bằng thuốc diệt côn trùng dạng hơi phù hợp; Đối với kiến Pharaoh và một số loài kiến nhiệt đới khác, có nhiều phương pháp xử lý khác nha
61
Cần phải ghi lại ít nhất những điều sau: Các chi tiết về từng căn hộ và/hoặc phần không gian chung (bao gồm mọi thông tin chi tiết về nghề nghiệp); Tên kĩ thuật viên tham gia; Ngày kiểm tra; Khu vực được khảo sát; Bằng chứng cho thấy có kiến xuất hiện, bao gồm mọi yếu tố cấu thành; Các thông tin liên quan về địa điểm tiến hành xử lý, bao gồm các yếu tố về trẻ nhỏ, vật nuôi, người già tàn tật;
Các thông tin liên quan về địa điểm tiến hành xử lý, bao gồm các yếu tố về trẻ nhỏ, vật nuôi, người già tàn tật; Vị trí, số lượng và loại thuốc diệt côn trùng được sử dụng (dưới dạng biểu đồ thích hợp); Các thông tin liên quan khác (ví dụ các hoạt động của cư dân); Ngày dự kiến kiểm tra tiếp theo (nếu có). Xác định và khảo sát các tòa nhà liên quan nằm ngay trên hoặc dưới hoặc ngay bên cạnh địa điểm được chỉ định trong kế hoạch xử lý.
Kĩ thuật viên cần lý giải về bản chất của quy trình xử lý và các yêu cầu chi tiết về an toàn cho cư dân và cung cấp bản chỉ dẫn (bản dữ liệu an toàn) phù hợp, trong đó nhấn mạnh địa chỉ cư dân, ngày tháng xử lý, sản phẩm được sử dụng và những hành động cần thực hiện trong trường hợp khẩn cấp. Cần tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất và xem xét những lời khuyên sau khi xử lý.
62
Trường hợp vẫn còn kiến xuất hiện Phải đánh giá toàn bộ kế hoạch xử lý, bao gồm việc thanh tra địa bàn trong phạm vi xa hơn. Phạm vi thanh tra có thể bao gồm cả những địa điểm khác trong tòa nhà để khẳng định sự xuất hiện của kiến. Cần thảo luận thêm với cư dân, chủ đất, vv để chắc chắn rằng hoạt động của kiến không kéo dài mà không có nguyên nhân.
63
Các cuộc kiểm tra tiếp theo Cần liên tục đánh giá kế hoạch xử lý để đảm bảo tính hiệu quả của kế hoạch. Đánh giá hoạt động xử lý đã tiến hành trước khi thực hiện các hoạt động thanh tra tiếp theo đối với các khu vực bị ảnh hưởng bởi hoạt động của kiến. Tiến hành đánh giá lại tiêu chuẩn vệ sinh, dọn dẹp trong tòa nhà.
64
Cần ghi lại ít nhất những thông tin sau như một phần của kế hoạch xử lý: Chi tiết về từng căn hộ và/hoặc phần không gian chung (bao gồm thông tin cụ thể về công việc);
65
Tên kĩ thuật viên tham gia;
trong kế hoạch thực địa);
Ngày kiểm tra;
Tính chất của hoạt động giữ gìn vệ sinh đang được thực hiện và hoạt động giữ gìn vệ sinh nổi bật tại khu nhà;
Bất kì thay đổi gì trong khu nhà có khả năng ảnh hưởng đến sự an toàn và thành công của việc xử lý (nếu cần có thể làm bản đánh giá nguy cơ tiềm ẩn thực địa mới); Bằng chứng cho thấy kiến vẫn xuất hiện;
Các thông tin liên quan khác (ví dụ như hoạt động của cư dân); Ngày dự kiến kiểm tra tiếp theo (nếu có).
Cần lý giải cho cư dân về bản Khẳng định rằng các loài chất của việc xử lý, các yêu kiến đã được xác định cầu giữ gìn vệ sinh và các yêu chính xác (bao gồm việc cầu về an toàn. vào cuộc của các nhà côn Đánh giá được thời gian cho trùng học nếu cần thiết); chuyến kiểm tra tiếp theo và Mức độ hoạt động và thông báo cho cư dân trước lượng thuốc diệt côn trùng một tuần. mới được sử dụng; Vị trí, liều lượng và loại thuốc diệt côn trùng được sử dụng (bao gồm các thay đổi
Hoàn thiện quy trình Thông báo hoàn thiện quy trình xử lý theo kế hoạch xử lý. Khi không còn ghi nhận hay quan sát được dấu hiệu nào của kiến từ cư dân, cần giải thích cho cư dân về tình hình này và thông báo lại các công việc phòng ngừa chính hoặc những vấn đề vệ sinh nên lưu ý. Dừng ghi nhận những lời phàn nàn và lưu lại các bản ghi chép thường xuyên về vấn đề cần lưu ý, các đánh giá nguy cơ thực địa, ghi chép về xử lý dùng thuốc diệt côn trùng, bản copy các thư từ và văn bản liên quan.
66
50
lifebalance.vn pestmanagement.vn