Skip to main content

TỔ CHỨC DẠY HỌC STEM CHỦ ĐỀ “CÁC DẠNG CÂN BẰNG. CÂN BẰNG CỦA VẬT CÓ MẶT CHÂN ĐẾ” TẠI LỚP 10A5

Page 1

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG

vectorstock.com/10212086

Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TỔ CHỨC DẠY HỌC STEM CHỦ ĐỀ “CÁC DẠNG CÂN BẰNG. CÂN BẰNG CỦA VẬT CÓ MẶT CHÂN ĐẾ” TẠI LỚP 10A5 TRƯỜNG THPT NGHĨA DÂN WORD VERSION | 2022 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594


z SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN TRƯỜNG THPT NGHĨA DÂN -o0o-

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG

HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA TỔ CHỨC DẠY HỌC STEM CHỦ ĐỀ “CÁC DẠNG CÂN BẰNG. CÂN BẰNG CỦA VẬT CÓ MẶT CHÂN ĐẾ” TẠI LỚP 10A5 TRƯỜNG THPT NGHĨA DÂN

Lĩnh vực : Vật lí 10 Tác giả :

Nguyễn Thị Thiết (Nhóm trưởng) Nguyễn Thị Huế Trần Thị Lý

Giáo viên môn: Vật lí Tài liệu kèm theo: Video, Tranh ảnh, Phụ lục

Năm học 2018 - 2019 2


MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT............................................................................... 4 PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 5 1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 5 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................. 7 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 8 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 9 5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 9 6. Dự kiến đóng góp của đề tài................................................................................ 9 PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................... 10 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ NGHIÊN CỨU................................................................... 10 1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................... 10 1.1.1. Giáo dục STEM là gì? ................................................................................. 10 1.1.2. Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua dạy học chủ đề STEM .................................................................................................................... 12 1.1.2.1. Khái niệm sáng tạo của học sinh .............................................................. 12 1.1.2.2. Biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học chủ đề STEM.. 13 1.1.2.3. Biện pháp phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học chủ đề STEM................................................................................................................ 14 1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................... 14 CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP ..................................................................................... 18 2.1. Tìm hiểu về giáo dục STEM .......................................................................... 18 2.2. Xây dựng kế hoạch dạy học ........................................................................... 20 2.3. Tổ chức các hoạt động dạy học ...................................................................... 40 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM .......................................................... 51 3.1. Kết quả từ kênh thông tin phỏng vấn học sinh .............................................. 51 3.2. Kết quả từ thang đo thái độ ............................................................................ 53 3.3. Kết quả đánh giá sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh ..................... 55 3.4. Kết luận thực nghiệm ..................................................................................... 56 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN .................................................................................... 58 2


CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ .................................................................................... 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 61 PHỤ LỤC 1 ........................................................................................................... 62 PHỤ LỤC 2 ........................................................................................................... 64 PHỤ LỤC CÁC PHIẾU HỌC TẬP ...................................................................... 66 DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU Hình 1: Minh họa một giờ học STEM của học sinh ........................................... 11 Hình 2: Học sinh cần có năng lực giải quyết vấn đề........................................... 12 Hình 3: Chu trình STEM ..................................................................................... 18 Hình 4: Chu trình thiết kế kỹ thuật...................................................................... 19 Hình 5: GV giao nhiệm vụ làm búp bê cân bằng ................................................ 40 Hình 6: HS tham gia làm búp bê ......................................................................... 41 Hình 7 :HS với sản phẩm búp bê cân bằng ......................................................... 41 Hình 8: HS tham gia hoạt động xây dựng kiến thức về các dạng cân bằng ....... 42 Hình 9: GV giao nhiệm vụ xây tháp ................................................................... 42 Hình 10: HS thiết kế tháp triển lãm .................................................................... 43 Hình 11: HS tiến hành xây tháp triển lãm ........................................................... 43 Hình 12: Sản phẩm “ Tháp triển lãm” nhóm 2 ................................................... 44 Hình 13: Sản phẩm “ Tháp triển lãm” nhóm 4 ................................................... 44 Hình 14: Sản phẩm “ Tháp triển lãm” nhóm 5 ................................................... 45 Hình 15: HS thuyết trình - phát vấn sản phẩm các nhóm ................................... 45 Hình 16: Hình ảnh một số sản phẩm dự án ......................................................... 47 Hình 17: Một số sản phẩm hoàn thiện sau dự án ................................................ 48 Hình 18: Sản phẩm tháp triển lãm của học sinh sau dự án ................................. 49 Hình 19: HS thuyết trình – phát vấn sản phẩm dự án ......................................... 50 Bảng 1. Kết quả đánh giá thái độ HS trước khi tham gia giờ học ............... 53 Bảng 2 : Kết quả đánh giá thái độ HS sau khi tham gia giờ học .................. 54 Biểu đồ 1: Kết quả đo thái độ học sinh trước tác động ................................. 53 Biểu đồ 2: Kết quả đo thái độ học sinh sau tác động ..................................... 54

3


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Kí tự viết tắt GV HS THPT GD & ĐT THCS PGS.TS PHT

Tên viết tắt Giáo viên Học sinh Trung học phổ thông Giáo dục và đào tạo Trung học cơ sở Phó giáo sư - tiến sĩ Phiếu học tập

4


PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Năm học 2018 - 2019 là năm học tiếp tục triển khai Chương trình hành động của Bộ GD&ĐT về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục. Thực hiện dạy học nhằm định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh, tăng cường kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các tình huống thực tiễn, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học... Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Thành1: Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp (Khoa học - Công nghệ - Kĩ thuật - Toán) chứ không phải là một môn học, trong đó các bài học được xây dựng theo chủ đề STEM nhằm lồng ghép kiến thức Khoa học và Toán với các vấn đề trong Công nghệ và Kĩ thuật của thế giới thực. Qua đó, học sinh vừa học được kiến thức khoa học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học sinh được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến các kiến thức khoa học cần dạy. Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức thuộc các môn học có liên quan đến vấn đề đó (qua sách giáo khoa, học liệu, thiết bị thí nghiệm, thiết bị công nghệ) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra. Tóm lại, học sinh sẽ được học kiến thức gắn liền với những ứng dụng của nó trong công nghệ và kĩ thuật; vận dụng kiến thức học được để tiếp tục sáng tạo về khoa học, công nghệ và kĩ thuật. Như vậy, giáo dục STEM sẽ giúp thực hiện được mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh đáp ứng yêu cầu mới.

1

https://bigschool.vn/giao-duc-stem-trong-truong-pho-thong-khong-chi-la-ly-thuyet

5


Đồng thời đây cũng là sự chuẩn bị chủ động, tích cực của ngành giáo dục trước khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra. 2

Rào cản lớn nhất trong giáo dục truyền thống là sự tách rời giữa bốn lĩnh

vực quan trọng: khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học. Sự tách rời này sẽ đem đến một khoảng cách lớn giữa học và làm, giữa nhà trường và doanh nghiệp. Học sinh, sinh viên được đào tạo theo mô hình truyền thống sẽ mất một khoảng thời gian thực tế để hiểu được làm thế nào để cơ sở lý thuyết, nguyên lý chuyển thành các ứng dụng thực tế trong khi kiến thức đã bị mài mòn. Hơn nữa tư duy liên kết các sự vật, hiện tượng với các ứng dụng và kỹ thuật cũng rất hạn chế. Giáo dục STEM là phương pháp tiếp cận liên ngành tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để mang đến cho học sinh những trải nghiệm thực tế thực sự có ý nghĩa. Việc dạy và học STEM tăng tính hấp dẫn với học sinh, giúp học sinh hiểu sâu hơn vấn đề để đạt được hiểu quả của việc học hơn và hơn nữa cũng giúp học sinh nhìn nhận ra được sự liên hệ những gì được học. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì nhu cầu việc làm liên quan đến STEM ngày càng lớn, đòi hỏi ngành giáo dục cũng phải có những thay đổi để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Giáo dục STEM có thể tạo ra những con người đáp ứng được nhu cầu công việc của thế kỷ mới, có tác động lớn đến sự thay đổi nên kinh tế đổi mới. Trong một bài phát biểu trước thượng nghị viện Mỹ, Bill Gates đã từng nói: “Chúng ta không thể duy trì được nền kinh tế dẫn đầu toàn cầu trừ khi chúng ta xây dựng được lực lượng lao động có kiến thức và kỹ năng để sáng tạo”. Bill Gates đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục trong việc xây dựng lực lượng lao động này. Ông nói tiếp: “Chúng ta cũng không thể duy trì được 2

http://stemedu.viettinhanh.com.vn/stem-la-gi--11306.html?gclid=EAIaIQobChMI6sG4_vvg1QIVWgoqCh3bgy0EAAYASAAEgI91_D_BwE

6


một nền kinh tế sáng tạo trừ phi chúng ta có những công dân được đào tạo tốt về toán học, khoa học và kỹ thuật”. Như vậy, việc thực hiện giáo dục STEM sẽ mang lại lợi cả về kiến thức, kĩ năng, thái độ, năng lực, giá trị sống, nhân sinh quan và giá trị tiền đề để HS hòa nhập vào đời sống thực tiễn, đời sống kinh tế, văn hóa xã hội. Học kiến thức để làm gì nếu học xong các em sẽ quên và loay hoay trong mớ lộn xộn dày đặc lý thuyết khô khan, cảm thấy bế tắc, không hiểu giá trị tốt đẹp từ việc học ở trường mang lại, sợ học và ghét đi học. Cảm giác bị kìm kẹp, bế tắc và lạc lõng, khiến HS dễ tổn thương, dễ bị chi phối, dễ bị xuôi theo lối mòn. Và đặc biệt về mặt cảm xúc, ít HS chạm được đến cảm xúc hào hứng, đam mê, phấn khích mỗi tiết học. Điều đó là lãng phí, thừa thãi, tạo nên vòng luẩn quẩn, không có giá trị! Dạy học tích hợp STEM lại làm được, bằng cách hàn gắn, chữa lành thế hệ giáo dục cũ và làm nên giá trị tốt đẹp! Nhóm chúng tôi tin giá trị mà dạy học STEM mang lại không chỉ về mục tiêu kiến thức, kĩ năng, năng lực mà còn cho các em nhiều trải nghiệm lí thú, những giá trị đích thực luôn nảy sinh, phát kiến nhiều tư duy độc đáo, phát tiển năng lực sáng tạo cho học sinh. Nhận thấy, ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục STEM, nhóm nghiên cứu chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu KHSP ứng dụng “ Hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua tổ chức dạy học STEM chủ đề “ Các dạng cân bằng. Cân bằng của vật có mặt chân đế” tại lớp 10A5 trường THPT Nghĩa Dân” 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong phạm vi đề tài nghiên cứu đến nay, chưa có một công trình chuyên luận nào được công bố, nhưng đã có nhiều công trình liên quan được công bố. Có thể phân chia các công trình nghiên cứu thành các nhóm như sau: Nhóm những cuốn sách đề cập trực tiếp đến giáo dục STEM Nhóm những bài viết, hoạt động liên quan đến giáo dục STEM cho học sinh Những vấn đề chưa được làm sáng tỏ: 7


- Nhóm cuốn sách đề cập trực tiếp đến giáo dục STEM trình bày hệ thống kiến thức tổng hợp về giáo dục STEM nói chung. Tuy nhiên, để đưa vào vận dụng cho học sinh THPT trong chương trình sách giáo khoa hiện hành còn cần được nghiên cứu, vì chương trình hiện hành chưa có thời lượng cho việc dạy các chủ đề môn học STEM. - Nhóm những bài viết, hoạt động liên quan đến giáo dục STEM cho học sinh, chỉ dừng ở những bài viết rời rạc, đa số là các chủ đề dành cho học sinh tiểu học và THCS, rất khó vận dụng cho học sinh THPT trong thực tiễn. Những vấn đề đề tài nghiên cứu cần triển khai - Đối với những tài liệu đề cập giáo dục STEM cho học sinh: là cơ sở giúp đề tài triển khai tìm hiểu những hoạt động cần thiết cho dạy học STEM cho học sinh ở cấp bậc THPT, áp dụng giảng dạy 01 chủ đề trong chương trình sách giáo khoa hiện tại của môn Vật lí lớp 10, nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh. - Đối với tài liệu liên quan đến giáo dục STEM: là cơ sở, bài học cụ thể giúp đề tài tổng hợp, phân tích và vận dụng vào thực tiễn dạy học STEM cho học sinh. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu. Mục đích của đề tài là nghiên cứu chương trình sách giáo khoa môn vật lí hiện hành; hệ thống hóa, khái quát hóa những tư liệu đã có, bổ sung tư liệu mới góp phần xây dựng kế hoạch dạy học STEM dạy chủ đề: “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” cho học sinh lớp 10. Nêu lên những thành tựu, hạn chế của đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm phục vụ hiện tại. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện các mục đích nghiên cứu, trên cơ sở kế thừa những kết quả của những người đi trước, đồng thời thu thập, xử lý tư liệu mới, đề tài có nhiệm vụ sau: 8


- Đi sâu phân tích, làm rõ những hoạt động liên quan đến giáo dục STEM. - Làm rõ tiến trình dạy học STEM chủ đề: “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” môn Vật lí, lớp 10 và phát triển thành tài liệu giáo dục STEM áp dụng cho chương trình sách giáo khoa hiện hành. - Nêu lên những thành tựu, hạn chế, triển vọng của đề tài nghiên cứu. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh lớp 10A5 (năm học 2018 – 2019), trường THPT Nghĩa Dân - Kim Động - Hưng Yên . Phạm vi nghiên cứu Đề tài giới hạn về xây dựng chủ đề dạy học STEM “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” trong chương trình môn Vật lí lớp 10 sách giáo khoa hiện hành. 5. Phương pháp nghiên cứu - Các phương pháp phổ biến như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh, hệ thống hóa... - Phương pháp trọng tâm: thực nghiệm. 6. Dự kiến đóng góp của đề tài Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa, bổ sung, xử lý nguồn tư liệu một cách khoa học, dự kiến đóng góp của đề tài các vấn đề sau: - Làm rõ một cách hệ thống về giáo dục STEM cho học sinh THPT. - Xây dựng chủ đề dạy học, các hoạt động cụ thể của chủ đề STEM “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” trong chương trình môn Vật lí lớp 10 sách giáo khoa hiện hành, nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh. - Bước đầu đưa ra những đánh giá, nhận xét một cách khoa học về thành tựu, những vấn đề tồn tại của đề tài. - Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy những môn học liên quan. 9


PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 1.1. Cơ sở lí luận Mục tiêu của giáo dục phổ thông: giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luật Giáo dục (2005) 1.1.1. Giáo dục STEM là gì? STEM là cụm từ viết tắt của các từ Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Math (toán học). STEAM là STEM có thêm yếu tố Art (nghệ thuật). Giáo dục STEM về bản chất được hiểu là trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Các kiến thức và kỹ năng này (gọi là kỹ năng STEM) phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng để thực hành và tạo

ra

được

những

sản

phẩm

trong

cuộc

sống

hằng

ngày.

Chương trình giáo dục của thế kỷ 20 chủ yếu tập trung vào Khoa học (S) và Toán học (M) mà xem nhẹ vai trò của công nghệ (T) và kỹ thuật (E). Không chỉ cần Toán học và Khoa học, trong thế kỷ 21 học sinh còn cần công nghệ và kỹ thuật cũng như các kỹ năng mềm cần thiết khác. Trên thực tế nhiều phát minh công nghệ, khoa học, ứng dụng mới là kết quả của sự tích hợp công nghệ từ những chuyên ngành trên , vì vậy STEM được các nhà khoa học và giáo dục đưa ra nhằm nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của các chuyên ngành trên, như một slogan để khuyến khích việc học tập, nghiên cứu xung quanh các môn học này và các tích hợp giữa chúng trong sự phát triển khoa học kỹ thuật và ứng dụng hiện nay.

10


Hình 1: Minh họa một giờ học STEM của học sinh Giáo dục STEM tạo ra những con người có thể đáp ứng được nhu cầu công việc của thế kỷ 21, đáp ứng sự phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia và có thể tác động tích cực đến sự thay đổi của nền kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hiểu một cách đơn giản là học sinh được trang bị kỹ năng lực kỹ thuật thì sẽ có khả năng sản xuất ra đối tượng và hiểu được quy trình để làm ra nó. Học sinh phải có khả năng phân tích, tổng hợp, kết hợp để biết cách làm thế nào cân bằng các yếu tố liên quan (như khoa học, nghệ thuật, công nghệ, kỹ thuật) nhằm có được một giải pháp tốt nhất trong thiết kế và xây dựng quy trình. Ngoài ra học sinh còn có khả năng nhận ra nhu cầu và phản ứng của xã hội trong những vấn đề liên quan đến kỹ thuật. Hình ảnh minh họa dưới đây nhấn mạnh: một người có năng lực “Kĩ thuật” cũng chính là một người có năng lực “Giải quyết vấn đề” và quá trình “Xử lí kĩ thuật” cũng chính là quá trình “Giải quyết vấn đề”. 11


Hình 2: Học sinh cần có năng lực giải quyết vấn đề 1.1.2. Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua dạy học chủ đề STEM Năng lực ( Competentia – tiếng la tinh): Còn gọi là khả năng thực hiện như khả năng giải nhanh các bài tập... là một sự kết hợp linh hoạt và độc đáo của nhiều đặc điểm tâm lý của một người, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi giúp cho người đó tiếp thu dễ dàng, tập dược nhanh chóng và hoạt động đạt hiệu quả cao trong một lĩnh vực nào đó. 1.1.2.1. Khái niệm sáng tạo của học sinh Sáng tạo ( Reation) là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô [ Tập 42, tr.54] thì “ Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị giúp giải quyết một khó khăn, bế tắc nhất định”.

12


Sáng tạo của học sinh được hiểu là một quá trình hoạt động của học sinh trong việc phát hiện ra vấn đề và tìm ra cách thức để giải quyết vấn đề đó đạt hiệu quả. Kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị. 1.1.2.2. Biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học chủ đề STEM Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới. Một số năng lực sáng tạo chủ yếu: Năng lực tư duy - sáng tạo, Năng lực quan sát và sáng tạo, Năng lực tưởng tượng – liên tưởng, Năng lực phát hiện vấn đề. Đối với học sinh phổ thông tất cả những gì mà họ “ tự nghĩ ra ” khi GV chưa dạy, HS chưa đọc sách, chưa biết được, nhờ trao đổi với bạn bè đều coi như có mang tính sáng tạo. Sáng tạo là bước nhảy vọt trong sự phát triển năng lực nhận thức của HS. Một trong những đặc điểm quan trọng của hoạt động sáng tạo là vấn đề tính mới mẻ. Có thể nói quá trình sáng tạo bao gồm những đặc trưng cơ bản sau: Tính mới mẻ của sản phẩm, tính bất ngờ của phỏng đoán, tính ngẫu nhiên của phát triển, những cái làm cho quá trình sáng tạo có tính chất không nhận biết được, không điều khiển được đều có tính chất tương đối. Căn cứ sơ đồ cấu trúc năng lực sáng tạo, đặc điểm tâm lí nhận thức của học sinh trung học, các tiêu chí của chủ đề STEM, có thể chỉ ra một số biểu hiện sáng tạo trong hoạt động nhận thức của học sinh như sau: - Tự lực phát hiện vấn đề mới, tình huống mới từ những tình huống quen liên quan đến kĩ thuật - Nghiên cứu tổng quan các giải pháp kĩ thuật có sẵn, sau đó đưa ra bình luận, chất vấn, trao đổi... Từ đó đề xuất giải pháp mới. - Tự đề xuất được giải pháp kỹ thuật phù hợp đem lại hiệu quả cao mà không tham khảo các giải pháp đã có. - Tự truyền tải tri thức và kỹ năng từ lĩnh vực quen thuộc sang tình huống mới, vận dụng kiến thức đã học trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới. 13


- Đề xuất mô hình giả thuyết, đưa ra phương án thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết hay hệ quả suy ra từ giả thuyết với hiệu quả cao nhất có thể được trong những điều kiện đã cho. - Tự thiết kế sơ đồ nguyên lý, bản vẽ kỹ thuật thể hiện cấu tạo, chức năng của đối tượng kỹ thuật đang nghiên cứu. 1.1.2.3. Biện pháp phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học chủ đề STEM Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức lĩnh vực STEM để giải quyết vấn đề thực tiễn. Tổ chức cho học sinh luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết trong quá trình thực hiện chủ đề STEM. Tổ chức cho HS luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán trong quá trình thực hiện chủ đề STEM. 1.2. Cơ sở thực tiễn Trong giai đoạn hiện nay, nội dung giáo dục STEM đang được xem là giải pháp tối ưu để nâng cao giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI: “ Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống” . Mục tiêu của giáo dục phổ thông đang được chuyển hướng từ trang bị kiến thức sang trang bị năng lực cần thiết cho các em học sinh. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đang được đổi theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Giáo dục STEM được xác định là một trong những nội dung trọng tâm trong nhiệm vụ giáo dục của nhiều cơ sở giáo dục từ trung ương đến địa phương trong giai đoạn hiện nay. Hằng năm đều được Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động, tập huấn và triển khai thí điểm ở nhiều đơn vị.

14


Tình hình chung ở trường phổ thông hiện nay là phần lớn thời gian dạy và học đều ưu tiên cho việc dạy kiến thức để học sinh đáp ứng việc thi cử. Nội dung giáo dục STEM được quan tâm nhưng ít có thời gian thực hiện, thường là đưa vào lồng ghép vào các bài học ở một phần nhỏ. Do đó học sinh còn cảm thấy chán nản, không hứng thú với các hoạt động học tập. Điều này đã được khẳng định thông qua phiếu hỏi (phụ lục 1) (tiến hành vào tuần 1 tháng 10 năm 2018). Sau khi phát đi 235 phiếu hỏi đến 6 lớp học sinh khối 10 trong trường THPT Nghĩa Dân, nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận được kết quả như sau: Kết quả phiếu khảo sát Câu 1: Các em hứng thú với tiết học vật lí hiện tại ở lớp em đang học không, mức độ như thế nào? STT Nội dung 1 Rất thích, hào hứng tham gia

Số lượng 4

2

Thích

27

3

Bình thường

83

4

Căng thẳng, mệt mỏi sợ phải tham gia

75

5

Uể oải, chán nản.

36

6

Không quan tâm

10

7

Ý kiến khác

0

Câu 2: Nguyên nhân của việc hứng thú (hoặc không) là gì? STT Nội dung 1 Nhiều lý thuyết

Số lượng 179

2

Nhiều bài tập tính toán

205

3

Không gắn liền thực tiễn

168

4

Nguyên nhân khác

38

Câu 3: Ở THCS, Số lần được thực hành ở môn vật lí trong 1 năm học: STT Nội dung 1 Rất thường xuyên ( hơn 10 lần)

Số lượng 0 15


2

Thường xuyên(từ 7 đến 10 lần)

39

3

Thỉnh thoảng( từ 4 đến dưới 7 lần)

196

4

Rất ít khi( ít hơn 4 lần)

0

Câu 4: Ở THCS, Số lần tham gia các trò chơi trong học tập vật lí: ST Nội dung 1 Rất thường xuyên ( hơn 20 lần)

Số lượng 80

2

Thường xuyên(từ 15 đến 20 lần)

42

3

Thỉnh thoảng( từ 10 đến dưới 15 lần)

38

4

Rất ít khi( ít hơn 10 lần)

75

Câu 5: Ở THCS, Số lần tham gia các sản phẩm dự án các em được trải nghiệm qua môn Vật lí trong một năm học: ST Nội dung 1 Rất thường xuyên ( hơn 8 lần)

Số lượng 0

2

Thường xuyên(từ 5 đến 8 lần)

0

3

Thỉnh thoảng( từ 3 đến dưới 5 lần)

39

4

Rất ít khi( ít hơn 3 lần)

196

Câu 6: Bạn có thích được phát triển năng lực sáng tạo, tư duy kĩ thuật trong giờ học vật lí không? ST Nội dung 1 Rất thích

Số lượng 125

2

Thích

96

3

Bình thường

13

4

Không thích

01

5

Không quan tâm

0

Câu 7: Bạn muốn được làm gì trong giờ học Vật lí? Lí do?

16


…………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… (Trên 60% các em trả lời là muốn được tổ chức các hoạt động chơi mà học, học mà chơi để giờ học vui vẻ, bổ ích) Với kết quả thu được có thể thấy tỉ lệ học sinh thích học Vật lí đạt 8,5%, đa số các em chưa hứng thú với việc học môn Vật lí, với các lí do như nặng lý thuyết chiếm tỉ lệ 41,3%, nhiều bài tập tính toán chiếm tỉ lệ 49,4%, các em lại thấy ít gắn liền với thực tiễn cuộc sống chiếm tỉ lệ 87,8%, điều đó làm các em thấy căng thẳng, mệt mỏi với môn học. Đồng thời qua khảo sát chúng tôi cũng thấy ở THCS các em được trải nghiệm làm các sản phẩm dự án rất ít, số lần tham gia thực hành trong một năm học cũng không nhiều, mong muốn của các em hiện tại là được học qua trải nghiệm, thực hành để phát triển được khả năng tư duy sáng tạo ở các em (trên 90%). Năm học 2018 – 2019, tập thể giáo viên và học sinh trường THPT Nghĩa Dân luôn tích cực trong công tác dạy và học. Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, đặc biệt quan tâm đến giáo dục STEM. Việc thực hiện giáo dục tích hợp STEM là tiền đề để chuẩn bị cho việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới trong giai đoạn sắp tới. Từ kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ tương đồng giữa lớp 10A5 và toàn khối, nhóm chúng tôi quyết định chọn lớp 10A5 trường THPT Nghĩa Dân năm học 2018 – 2019 để nghiên cứu. Hy vọng với giải pháp giáo dục STEM chủ đề “Các dạng cân bằng. Cân bằng của vật có mặt chân đế” cho học sinh sẽ góp một phần hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của các em, đáp ứng yêu cầu của thế kỉ 21 là đào tạo ra những công dân toàn cầu, vừa có kiến thức, vừa có kỹ năng để giải quyết các tình huống thực tiễn.

17


CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP Để “ Hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua tổ chức dạy học STEM chủ đề “ Các dạng cân bằng. Cân bằng của vật có mặt chân đế” cho học sinh lớp 10A5 trường THPT Nghĩa Dân”, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã thực hiện giải pháp như sau: Một là “Tìm hiểu về giáo dục STEM”; Hai là “Xây dựng kế hoạch dạy học của chủ đề”; Ba là “Tổ chức các hoạt động dạy học – dạy thực nghiệm tại lớp 10A5, nhận xét đánh giá và rút ra kết luận” 2.1. Tìm hiểu về giáo dục STEM Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan, chúng tôi hiểu về chu trình STEM như sau:

Hình 3: Chu trình STEM Dựa theo chu trình STEM, có thể thiết kế hai kiểu bài học – chủ đề STEM đó là STEM SCIENCE và STEM ENGINEERING. + STEM SCIENCE hiểu đơn giản là sử dụng công nghệ để tìm ra kiến thức, bài học STEM kiểu này thường là tổ chức các hoạt động STEM mà thông

18


qua các hoạt động trải nghiệm đó, học sinh tìm tòi khám phá và phát hiện ra kiến thức. Bài học, chủ để STEM sẽ được triển khai theo mô hình 5E hoặc dạy học truy vấn. Mô hình 5E (do Bybee đề xuất và soạn thảo) dựa trên khung khái niệm và thuyết kiến tạo: “ENGAGEMENT (Gắn kết), EXPLORATION (Khám phá), EXPLANATION (Giải thích), ELABORATION / EXTENSION (Mở rộng), EVALUATION (Đánh giá)”. Ở tiểu học và trung học cơ sở, các trung tâm dạy STEM hay áp dụng mô hình 5E để dạy STEM. Ở trung học phổ thông thường áp dụng dạy học truy vấn để dạy học “tích hợp STEM”. Dạy học truy vấn trải qua 4 bước cơ bản là: “Đặt câu hỏi mở, thực nghiệm, trình bày – thảo luận, tổng kết”. + STEM ENGINEERING được hiểu là học sinh sử dụng kiến thức để tạo ra sản phẩm công nghệ (sản phẩm dự án hay một quá trình mới). Kiểu bài học STEM này khá phổ biến ở Việt Nam, nó là một quá trình sáng tạo. Quá trình dạy học chủ đề STEM – Engineering tuân theo quy trình thiết kế kỹ thuật khép kín theo sơ đồ sau:

Hình 4: Chu trình thiết kế kỹ thuật Khi dạy STEM ENGINEERING, một hoạt động thiết kế bao gồm các bước: + Nêu tình huống có vấn đề + Phân tích vật liệu (nếu cần)

19


+ Cho HS thiết kế và thực hiện giải pháp theo quy trình thiết kế kĩ thuật. + Chốt kiến thức và tổng kết bài học. 2.2. Xây dựng kế hoạch dạy học Vận dụng các kiến thức tìm hiểu được về giáo dục STEM, dựa vào cấu trúc và phân phối chương trình môn Vật lí 10 chương III – Cân bằng và chuyển động của vật rắn, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã xây dựng kế hoạch dạy học của chủ đề STEM “Các dạng cân bằng. Cân bằng của vật có mặt chân đế” gồm các hoạt động theo cả hai kiểu của giáo dục STEM: Stem – Science đối với hoạt động tìm tòi xây dựng kiến thức về các dạng cân bằng; Stem – Engineering đối với các hoạt động thiết kế “Tháp triển lãm” và “Đồ chơi cân bằng sáng tạo” theo hướng xây dựng và phát triển năng lực sáng tạo ở học sinh. Thời lượng để giảng dạy chủ đề là 02 tiết (90 phút) với nội dung cụ thể như sau: CHỦ ĐỀ STEM: “CÁC DẠNG CÂN BẰNG. CÂN BẰNG CỦA VẬT CÓ MẶT CHÂN ĐẾ” * MÔ TẢ CHỦ ĐỀ: Thông qua các hoạt động học sinh trải nghiệm làm một sản phẩm đồ chơi cân bằng. Dựa trên sản phẩm hoàn chỉnh của các nhóm, học sinh tự tìm hiểu những kiến thức liên quan như: các dạng cân bằng ( cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định) và cân bằng của vật có mặt chân đế. Dựa trên những kiến thức về các dạng cân bằng, học sinh sáng tạo các sản phẩm khác liên quan đến các trạng thái cân bằng. * Mô tả kiến thức Steam trong chủ đề: Tên phẩm

sản Khoa học (S)

Công nghệ

Kỹ thuật

Toán học

(T)

(E)

(M)

Búp bê cân Các dạng cân Đất nặn, que Hình vẽ con Tính toán khối bằng

bằng

bền, tre, xốp, rau búp bê cân lượng đất nặn, độ

không

bền, củ quả

bằng

dài que tre, hình

20


cân

dạng xốp

bằng

phiếm định Tháp

trưng Cân bằng của Giấy

bày búp bê

vật

có

mặt cứng,

chân đế

bìa Ý

tưởng Tính toán hình

băng thiết

dính, thước

kế dạng, kích thước

cách

xây miếng bìa, băng

tháp

theo dính, cách xây tháp

yêu cầu

Chuồn chuồn Các dạng cân Giấy, ghim, Hình vẽ ý Tính toán kích cân bằng

bằng

bền, bút

màu, tưởng thiết thước, tỉ lệ khối

không

bền, thước.

kế

cân

bằng

chuồn giấy bên

phiếm định Con lật đật

chuồn lượng ghim hai

cân bằng

Các dạng cân Quả

bóng Ý

tưởng Tính toán vị trí

bằng

bền, tròn,

xi làm con lật trọng tâm, khối

không

bền, măng,

bi, đật, hình vẽ lượng bê tông,

cân

bằng keo nến, bút thiết kế

phiếm định

màu, giấy

keo

nến,

kích

thước hình ảnh phù hợp

Chú hề cân Các dạng cân Giấy, bằng

đồng Hình vẽ ý Tính toán khối

bằng

bền, xu, keo nến, tưởng

không

bền, bi, sắt

cân

bằng

chú hề

làm lượng cân bằng, kích thước hình ảnh phù hợp

phiếm định Xích đu cân Cân bằng của Tre, keo nến

Hình vẽ ý Tính toán kích

bằng

tưởng

vật

có

mặt

chân đế

làm thước xích đu,

xích đu cân mặt chân đế, vị bằng

trí trọng tâm hệ vật

Tháp Effen

Cân bằng của Giấy

bìa, Hình vẽ ý Tính toán kích 21


vật

có

mặt keo nến

tưởng

chân đế

làm thước tháp, mặt

tháp

chân đế, vị trí trọng tâm hệ vật

Trò chơi xếp Cân bằng của Giấy, hình

vật

có

kéo, Hình vẽ ý Tính toán kích

mặt keo nến

chân đế

tưởng

làm thước,

trò chơi

khối

lượng khối hình, mặt chân đế, vị trí trọng tâm hệ vật

I. MỤC TIÊU CHỦ ĐỀ 1. Kiến thức: - Phát biểu được định nghĩa về các dạng cân bằng: cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định, cân bằng của vật có mặt chân đế. - Trình bày được đặc điểm về các dạng cân bằng: cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định, cân bằng của vật có mặt chân đế. - Nhận biết các trạng thái cân bằng trong đời sống hằng ngày từ đó điều chỉnh các trạng thái cân bằng cho hợp lí - HS tiếp cận và biết nguyên lí chế tạo một sản phẩm đồ chơi cân bằng từ những vật dụng cân bằng. 2. Kĩ năng: - HS đưa ra các phương án tiến hành, nguyên liệu và các giải pháp kỹ thuật để thiết kế được búp bê có độ cân bằng chính xác cao, xây được tháp có độ bền vững cao. - Giải thích được ứng dụng về các dạng cân bằng: cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định, cân bằng của vật có mặt chân đế trong đời sống. - Tính toán, thiết kế được cách làm búp bê cân bằng sáng tạo, xây được tháp có độ bền vững cao đảm bảo các tiêu chí đề ra.

22


- Trình bày, thuyết minh được sản phẩm của mình, phản biện được các ý kiến thảo luận; - Tự nhận xét, đánh giá được quá trình làm việc cá nhân và nhóm. 3. Thái độ: - Tích cực hoạt động nhóm làm sản phẩm, thảo luận và chia sẻ. - Tăng hứng thú tìm hiểu, khám phá khoa học gắn liền với thực tiễn, tạo động lực để HS phát triển và sáng tạo cái mới. - Nghiêm túc, chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học; - Có tinh thần trách nhiệm, hòa đồng, giúp đỡ nhau trong nhóm, lớp; - Có ý thức tuân thủ các tiêu chuẩn kĩ thuật và giữ gìn vệ sinh chung khi làm sản phẩm. 4. Các năng lực cần tiếp cận: * Năng lực chung: - Năng lực sáng tạo. - Năng lực giao tiếp. - Năng lực hợp tác. - Năng lực thực nghiệm. - Năng lực giải quyết vấn đề. * Năng lực chuyên biệt: - K1, K2, K3, K4, P1, P2, P3, P5, X2, X3, X7, X8, C1, C2 II. ĐỐI TƯỢNG – THỜI GIAN - Đối tượng: HS lớp 10 - Thời gian tổ chức chủ đề: Tuần 2 tháng 12 năm 2018, khi HS học đến “chương III: Cân bằng và chuyển động của vật rắn” III. HÌNH THÀNH Ý TƯỞNG

23


IV. CÂU HỎI ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG - Làm thế nào để búp bê đứng được cân bằng? - Có những dạng cân bằng nào? Đặc điểm của từng dạng cân bằng là gì? - Vận dụng trạng thái cân bằng của các vật để chế tạo những đồ chơi cân bằng khác. - Xây tháp muốn vững vàng làm như thế nào? Làm cách nào để tháp bền vững nhất? - Trình bày ứng dụng của cân bằng của vật có mặt chân đế? V. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG Tiết 1:

Búp bê cân bằng - các dạng cân bằng

1. MỤC TIÊU * Kiến thức: - Làm được búp bê đứng cân bằng từ những vật liệu đơn giản

24


- Trình bày được định nghĩa, đặc điểm của các dạng cân bằng: cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định . * Kỹ năng: - Chế tạo thành công búp bê cân bằng bền - Nhận biết được cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định. * Thái độ: - Nghiêm túc, chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học; - Yêu thích khám phá, tìm tòi và vận dụng các kiến thức học được vào giải quyết nhiệm vụ được giao. 2. CHUẨN BỊ: 2. 1.Giáo viên: - Các phiếu học tập. 2. 2. Học sinh: - Chuẩn bị các câu hỏi ở phần giao nhiệm vụ của bài trước . - Chuẩn bị các vật dụng sau đây: Tăm tre, đất nặn, kéo, giấy bìa, bút tô màu. - Bảng phụ, bút viết bảng. - Các thẻ giấy bìa, băng dính, thước. 3. PHƯƠNG PHÁP Phát vấn, hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, bàn tay nặn bột, báo cáo vòng tròn, thuyết trình. 4. TIẾN TRÌNH DẠY – HỌC: 4. 1. Ổn định lớp: 1’ 4. 2. Hoạt động khởi động : (5’) GV cho HS quan sát video Đặt câu hỏi: Video đề cập đến hiện tượng gì? HS trả lời: hiện tượng cân bằng GV đặt vấn đề vào bài: Chúng ta cùng đi chế tạo một đồ chơi cân bằng đó là “ búp bê cân bằng” để xem có những dạng cân bằng gì? Đặc điểm của các dạng cân bằng đó như thế nào? 4. 3. Hoạt động hình thành kiến thức mới: 25


Hoạt động 1: tìm hiểu về các dạng cân bằng * Mục đích: - Chế tạo thành công búp bê đứng cân bằng - Trình bày được định nghĩa, đặc điểm của các dạng cân bằng. * Chuẩn bị: - Chuẩn bị các vật dụng sau đây: Tăm tre, đất nặn, kéo, giấy bìa, bút tô màu. - Bảng phụ, bút viết bảng. * Hoạt động cụ thể: HOẠT ĐỘNG GV – HS

SẢN PHẨM - NỘI DUNG

Nhiệm vụ 1: (5’) làm búp bê cân bằng HĐ nhóm - K1, K2, K3, K4, C1, C2

* Sản phẩm:

Gv yêu cầu HS thực hiện nhiệm vụ trên Sản phẩm búp bê đứng được cân bằng.

PHT số 1 Làm búp bê cân bằng với những vật dụng đã chuẩn bị trong thời gian 5 phút Sản phẩm đổi giữa các nhóm để chấm chéo theo tiêu chí Kết quả các nhóm Nhóm 1 2 3 4 5 6 7 8

Điểm

Gv thu kết quả chấm điểm của các nhóm 26


Nhận xét quá trình làm việc của các nhóm

*Nội dung:

GV thu sản phẩm một vài nhóm

Làm búp bê cân bằng từ vật dụng đã

Yêu cầu các nhóm khác nhận xét xem chuẩn bị búp bê nào đứng được can bằng

Đổi chéo sản phẩm chấm theo tiêu

Từ đó đặt vấn đề có những dạng cân bằng chí nào? Đặc điểm của các dạng cân bằng đó? Nhiệm vụ 2: (15’) Tìm hiểu về các dạng cân bằng HĐ nhóm, kq/bảng phụ

* Sản phẩm:

- K1, K2, K3, K4, P1, P2, P3, P5, X2,

Trình bày trên bảng phụ PHT số 2

X3, X7, X8, C1, C2

* Nội dung: I. Các dạng cân bằng.

HS làm việc theo nhóm trên PHT số 2

1. Có ba dạng cân bằng là cân bằng

Kết quả trình bày bảng phụ

bền, cân bằng không bền và cân

- Phiếu học tập số 2

bằng phiếm định.

Dựa trên những sản phẩm đã làm được

Khi kéo vật ra khỏi vị trí cân bằng

của các nhóm và nghiên cứu SGK Hoàn một chút mà trọng lực của vật có xu hướng :

thiện nội dung sau đây: Nội dung Cân

Cân

bằng bằng bền

Cân bằng

+ Kéo nó trở về vị trí cân bằng, thì

phiếm định đó là vị trí cân bằng bền.

không

+ Kéo nó ra xa vị trí cân bằng thì đó

bền

là vị trí cân bằng không bền.

Định

+ Giữ nó đứng yên ở vị trí mới thì

nghĩa

đó là vị trí cân bằng phiếm định.

Đặc

2. Nguyên nhân gây ra các dạng cân

điểm về

bằng khác nhau đó là vị trí trọng

vị

tâm của vật.

trọng

trí

+ Trường hợp cân bằng không bền, 27


trọng tâm ở vị trí cao nhất so với các

tâm

vị trí lân cận. Ứng

+ Trường hợp cân bằng bền, trọng

dụng

tâm ở vị trí thấp nhất so với các vị trí lân cận.

HS trình bày theo nhóm. GV gọi một nhóm trình bày sản phẩm Các nhóm NX, bổ sung chéo nhau các kiến thức trong nhóm bạn.

+ Trường hợp cân bằng phiếm định, trọng tâm không thay đổi hoặc ở một độ cao không đổi.

GV NX, KL GV chuẩn hóa kiến thức.

Bảng kiến thức về các dạng cân bằng Nội dung

Cân bằng bền

Cân bằng không Cân bền

Định nghĩa

bằng

phiếm

định

Khi kéo vật ra Khi kéo vật ra khỏi Khi kéo vật ra khỏi khỏi vị trí cân vị trí cân bằng vật vị trí cân bằng vật bằng vật có xu có không tự trở về cân bằng ở một vị trí hướng tự trở về vị trí cân bằng ban mới vị trí cân bằng đầu ban đầu

Đặc điểm về vị trọng tâm ở vị trọng tâm ở vị trí trọng tâm không thay trí trọng tâm

trí thấp nhất so cao nhất so với các đổi hoặc ở một độ với các vị trí vị trí lân cận.

cao không đổi.

lân cận. Ứng dụng

Con lật đật

Người biểu diễn Cân bằng viên bi xiếc thường cầm theo cây gậy 28


Hoạt động 2: Tìm hiểu về cân bằng của vật có mặt chân đế. * Mục đích: - Các nhóm xây tháp thành công - Qua hoạt động xây tháp trình bày được định nghĩa mặt chân đế, đặc điểm, điều kiện cân bằng của vật có mặt chân đế. * Chuẩn bị: - Giấy bìa cứng đã cắt sẵn kích thước 7x 10 (cm), mỗi nhóm 90 miếng bìa - Kéo, thước, băng dính 30 cm. * Hoạt động cụ thể: HOẠT ĐỘNG GV – HS

SẢN PHẨM - NỘI DUNG

Nhiệm vụ 3: (15’) thi “ Xây tháp” HĐ nhóm

* Sản phẩm:

- K1, K2, K3, K4, C1, C2

Sản phẩm trình bày theo nhóm gồm:

Gv yêu cầu HS thực hiện nhiệm vụ tháp xây được, bài thuyết trình, trả lời trên PHT số 3

câu hỏi và phát vấn.

-GV phát Phiếu học tập số 3, Hướng *Nội dung: dẫn các nhóm HS thực hiện các - sản phẩm hoàn thiện ở các nhóm nhiệm vụ.

- Bảng kiến thức về cân bằng của vật có

Yêu cầu sản phẩm:

mặt chân đế

+ Chiều cao tháp 45 cm

II. Cân bằng của một vật có mặt chân

+ Khi để thú bông trên đỉnh tháp, đế. tháp vẫn cân bằng Các nhóm lần lượt thuyết trình về sản

1. Mặt chân đế. Khi vật tiếp xúc với mặt phẳng đở

phẩm của nhóm

chúng bằng cả một mặt đáy thì mặt chân

Các nhóm khác nghe, phát vấn

đế là mặt đáy của vật.

Nhóm thuyết trình trao đổi thông tin

Khi vật tiếp xúc với mặt phẵng đở chỉ

về ý tưởng, thiết kế, cách làm với các ở một số diện tích rời nhau thì mặt chân nhóm khác

đế là hình đa giác lồi nhỏ nhất bao bọc 29


Các nhóm khác chấm điểm theo tiêu tất cả các diện tích tiếp xúc đó. 2. Điều kiện cân bằng.

chí Gv chấm điểm các nhóm theo tiêu chí ( đi kèm PHT số 3)

Điều kiện cân bằng của một vật có mặt chân đế là gí của trọng lực phải xuyên

GV thu lại PHT 3 để chấm điểm các qua mặt chân đế. 3. Mức vững vàng của sự cân bằng.

nhóm. Hoàn thiện nội dung trên phiếu học

Mức vững vàng của sự cân bằng được

tập 4 theo hình thức báo cáo vòng xác định bởi độ cao của trọng tâm và tròn.

diện tích của mặt chân đế. Trọng tâm

Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.

của vật càng cao và mặt chân đế càng nhỏ thì vật càng dễ bị lật đổ và ngược

Gv thu kết quả chấm điểm của các lại. nhóm Nhận xét quá trình làm việc của các nhóm GV thu sản phẩm các nhóm Gv chuẩn hóa kiến thức Bảng chốt kiến thức về cân bằng của vật có mặt chân đế Nội dung Định

nghĩa Mặt chân đế là hình đa giác lồi nhỏ nhất bao bọc tất cả các diện

mặt chân đế Điều

Cân bằng của vật có mặt chân đế tích tiếp xúc đó.

kiện Điều kiện CB của vật có mặt chân đế là giá của trọng lực phải

CB của vật

xuyên qua mặt chân đế

Ứng dụng

Trong xây dựng tạo sự vững vàng

4. Hoạt động luyện tập : 5’ GV tổ chức trò chơi để HS củng cố kiến thức. Trò chơi “ Chim cánh cụt tìm điểm”.

30


Luật chơi: mỗi nhóm lật một con chim cánh cụt bí ẩn chứa điểm số bên dưới. Mỗi một ô có một câu hỏi để củng cố kiến thức liên quan. Nếu trả lời đúng điểm số thuộc về nhóm đó. Nếu trả lời sai nhường quyền cho nhóm khác Nội dung các câu hỏi: Câu 1. Một viên bi nằm cân bằng trong một cái lỗ trên mặt đất , dạng cân bằng của viên bi khi đó là : A. cân bằng không bền B. cân bằng bền C. cân bằng phiếm định D. lúc đầu cân bằng bền ,sau một thời chuyển thành cân bằng phiếm định Câu 2. Cân bằng của một vật là không bền khi trọng tâm của nó : A. Có vị trí không thay đổi B. Có vị trí thấp nhất C. Có vị trí cao nhất D. Ở gần mặt chân đế Câu 3. Chọn câu sai? Điều kiện cân bằng của vật rắn có mặt chân đế là A. Giá của trọng lực tác dụng lên vật rắn phải đi qua mặt chân đế. B. Đường thẳng đứng đi qua trọng tâm của vật rắn gặp mặt chân đế. C. Đường thẳng đi qua trọng tâm vật rắn gặp mặt chân đế. D. Hình chiếu của trọng lực theo phương thẳng đứng là một điểm và phải nằm trong mặt chân đế. Câu 4. Chọn câu trả lời sai A. Một vật cân bằng không bền là khi nó bị lệch khỏi VTCB đó thì trọng lực tác dụng lên nó kéo nó ra xa khỏi vị trí đó B. Một vật bị lệch khỏi trạng thái cân bằng không bền thì không tự trở về vị trí đó được C. Cân bằng không bền có trọng tâm ở vị trí thấp nhất so với các điểm lân cận D. Nghệ sĩ xiếc đang biểu diễn thăng bằng trên dây là cân bằng không bền Câu 5. Chọn câu trả lời sai 31


A. Một vật cân bằng phiếm định là khi nó bị lệch khỏi VTCB đó thì trọng lực tác dụng lên nó giữ nó ở VTCB mới B. Vật có trọng tâm càng thấp thì càng kém bền C. Cân bằng phiếm định có trọng tâm ở một vị trí xác định hay ở một độ cao không đổi D. Trái bóng bàn đặt trên bàn có cân bằng phiếm định 5. Hoạt động vận dụng, tìm tòi: 3’ Dựa vào các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế giải thích một số hiện tượng trong đời sống. Tiết 2:

ĐỒ CHƠI CÂN BẰNG SÁNG TẠO

1. SƠ ĐỒ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC DỰ ÁN dự án 1: Thiết kế đồ chơi: chuồn chuồn cân

Bước 1: Xây dựng ý

bằng, chú hề cân bằng, con lật đật.

tưởng dự án, quyết Dự án 2:Thiết kế đồ chơi : xích đu cân bằng, trò chơi xếp hình, tháp effen

Bước 2. Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án

Bước 3: Thực hiện dự án

Giai đoạn 1: Xác định rõ những kiến thức Vật lý sẽ phải sử dụng Giai đoạn 2: Đưa ra bản vẽ thiết kế các

Bước 4. Giới thiệu sản phẩm dự án

sản phẩm. Giai đoạn 3: Đưa ra mô hình tương ứng với phương án thiết kế.

Giai đoạn 4: Bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

Bước 5. Đánh giá việc thực hiện dự 32


2. MỤC TIÊU DỰ ÁN * Kiến thức: - Làm được đồ chơi khác nhau dựa trên các dạng cân bằng từ những vật liệu đơn giản - Trình bày được ý tưởng, cách làm, thiết kế về sản phẩm và kiến thức Steam liên quan đến sản phẩm * Kỹ năng: - Chế tạo thành đồ chơi về các dạng cân bằng. - Thuyết trình về sản phẩm từ thiết kế, ý tưởng, cách làm, ứng dụng của sản phẩm. - Đặt câu hỏi liên quan đến sản phẩm. * Thái độ: - Nghiêm túc, chủ động, tích cực tham gia các hoạt động làm sản phẩm của dự án; - Yêu thích khám phá, tìm tòi và vận dụng các kiến thức học được vào giải quyết nhiệm vụ được giao. 3. CHUẨN BỊ: 3.1. Giáo viên: - Phiếu giao nhiệm vụ của dự án Nhóm 1,2,3: làm dự án 1: Thiết kế đồ chơi về các dạng cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định như: chuồn chuồn cân bằng, chú hề cân bằng, con lật đật. Nhóm 4,5,6: làm dự án 2: Thiết kế đồ chơi cân bằng vật có mặt chân đế như: xích đu cân bằng, trò chơi xếp hình, tháp effen 3.2. Học sinh - Tiếp nhận nhiệm vụ của dự án - Chuẩn bị vật liệu - Tiến hành làm sản phẩm - Thuyết trình về sản phẩm, đánh giá sản phẩm 4. PHƯƠNG PHÁP: 33


Dạy học dự án, thuyết trình – phát vấn. 5. TIẾN TRÌNH DẠY – HỌC Bước 1: Xây dựng ý tưởng dự án, quyết định chủ đề Dự án 1: Thiết kế đồ chơi về các dạng cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định như: chuồn chuồn cân bằng, chú hề cân bằng, con lật đật. * Mục tiêu dự án: HS dựa trên kiến thức về các dạng cân bằng, chế tạo một số đồ chơi về các dạng cân bằng như: chuồn chuồn cân bằng, búp bê cân bằng, con lật đật, chú hề cân bằng nhằm phát huy sự sáng tạo của HS . Dự án 2: Thiết kế đồ chơi cân bằng vật có mặt chân đế như: xích đu cân bằng, trò chơi xếp hình, tháp effen * Mục tiêu dự án: Dựa trên kiến thức về cân bằng của vật có mặt chân đế HS tiến hành chế tạo một số sản phẩm như xích đu cân bằng, trò chơi xếp hình, xây tháp effen nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của HS. Bước 2. Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án * Về phía giáo viên: - Tổ chức lớp hoạt động theo nhóm, phân lớp thành 4 nhóm dựa trên sự đồng đều về tỉ lệ nam, nữ, học lực, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và địa bàn phân bố của HS trong mỗi nhóm, tạo điều kiện tốt nhất cho HS tổ chức dự án. Yêu cầu mỗi nhóm đặt tên và phân vai cho từng thành viên trong nhóm gồm: trưởng nhóm, thư kí, kĩ thuật viên, báo cáo viên, thiết kế viên,.... - Sau khi phân chia HS thành 4 nhóm nhỏ, GV tiến hành cho các nhóm thảo luận. - Cung cấp các tài liệu (các trang web, sách báo, phần mềm tin học...) liên quan đến việc thiết kế, chế tạo các sản phẩm. - Hướng dẫn HS cách thức để xây dựng kế hoạch thực hiện dự án. * Về phía học sinh: - Mỗi nhóm đề cử: trưởng nhóm, thư kí, kĩ thuật viên, báo cáo viên, thiết kế viên,… 34


- Các nhóm ghi lại số điện thoại của giáo viên để liên lạc khi gặp khó khăn cần trao đổi với giáo viên. - Các nhóm “Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án” Dự án 1: Thiết kế đồ chơi về các dạng cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định như: chuồn chuồn cân bằng, chú hề cân bằng, con lật đật. STT

Công

Thời

việc

gian

Tên thành viên

- Tìm hiểu kiến thức liên quan đến sản 3 ngày

Nhóm 1

phẩm 1

- Thu thập tài liệu liên quan đến sản phẩm - Thiết kế phương án tiến hành làm sản phẩm - Tìm kiếm nguyên vật liệu để tiến hành làm sản phẩm - Tiến hành làm sản phẩm:

5 ngày

Nhóm 2, 5

+ Con lật đật + Chuồn chuồn cân bằng + chú hề cân bằng 2

- Thử nghiệm sản phẩm Yêu cầu các sản phẩm đứng cân bằng trên giá đỡ - Trang trí sản phẩm - Vẽ bản thuyết trình về sản phẩm - Chuẩn bị bài thuyết trình về sản phẩm

Dự án 2: Thiết kế đồ chơi cân bằng vật có mặt chân đế như: Xích đu cân bằng, trò chơi xếp hình, tháp Effen 35


STT

Công việc

Thời gian

Tên thành viên

- Tìm hiểu kiến thức liên quan đến sản 3 ngày

Nhóm 3

phẩm 1

- Thu thập tài liệu liên quan đến sản phẩm - Thiết kế phương án tiến hành làm sản phẩm - Tìm kiếm nguyên vật liệu để tiến hành làm sản phẩm - Tiến hành làm sản phẩm:

5 ngày

Nhóm 4,6

+ Xích đu cân bằng + trò chơi xếp hình + tháp Effen 2

- Thử nghiệm sản phẩm Yêu cầu các sản phẩm đứng cân bằng, vững vàng nhất. - Trang trí sản phẩm - Vẽ bản thuyết trình về sản phẩm - Chuẩn bị bài thuyết trình về sản phẩm

Bước 3: Thực hiện dự án Mục đích của bước này là học sinh làm việc theo kế hoạch nêu trên để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu, đúng tiêu chí chấm điểm. * Về phía giáo viên - Hướng dẫn học sinh thực hiện các giai đoạn để thiết kế một số sản phẩm đồ chơi của HS. - GV lập bảng theo dõi tiến trình làm sản phẩm, thông tin liên lạc thường xuyên với HS để theo dõi, đánh giá quá trình hoạt động của từng HS, của nhóm. 36


Bảng theo dõi tiến trình làm sản phẩm các nhóm: Công việc

Nhóm

Thời gian

Kết quả

Nhận xét

Tìm hiểu kiến thức, thu 1 thập tài liệu liên quan đến 2 sản phẩm 3 4 5 6 Thiết kế phương án tiến 1 hành làm sản phẩm

2 3 4 5 6

Tìm kiếm nguyên vật liệu để tiến hành làm sản phẩm

1 2 3 4 5 6

Tiến hành làm sản phẩm theo các giai đoạn

1 2 3 4 5 6

Bảng thuyết trình về sản 1 phẩm 2 3 4 5 6 37


- GV cung cấp cho HS các tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án khi thực hiện dự án để khi thực hiện dự án HS tạo ra sản phẩm đúng với các tiêu chí này. Tiêu chí chấm sản phẩm các nhóm: Điểm Tiêu chí đánh giá

tối đa

Hình

Độ vững vàng

20

thức

Tính thẩm mĩ

10

HS đánh GV giá

đánh giá

Nhận xét

30

Điểm Tính

Đứng

ứng

bằng, cân bằng vật

được

cân 35

dụng có mặt chân đế Tính

Thể hiện được

sáng

tính sáng tạo

15

tạo Thuyết Thuyết trình, trả trình

20

lời câu hỏi

* Về phía học sinh: Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch và nhiệm vụ đã đề ra cho nhóm và cá nhân để tạo ra sản phẩm dự án theo các giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Xác định rõ những kiến thức Vật lý sẽ phải sử dụng * Đối với dự án 1: HS xác định rõ kiến thức cần sử dụng là đặc điểm về các dạng cân bằng: cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định * Đối với dự án 2: HS xác định rõ kiến thức cần sử dụng là đặc điểm về các dạng cân bằng của vật có mặt chân đế - Giai đoạn 2: Đưa ra bản vẽ thiết kế các sản phẩm. HS thảo luận nhóm đưa ra nhiệm vụ thiết kế cách làm, hình thức một số đồ 38


chơi ứng dụng của cân bằng như con lật đật, chuồn chuồn cân bằng, xích đu cân bằng, tháp Effen, trò chơi xếp hình. - Giai đoạn 3: Đưa ra mô hình tương ứng với phương án thiết kế. HS tiến hành làm sản phẩm dựa trên thiết kế đã xây dựng, báo cáo sơ bộ về sản phẩm của nhóm mình. Giai đoạn 4: Bổ sung, hoàn thiện sản phẩm. - Dưới sự góp ý và nhận xét của GV các nhóm HS bổ sung, hoàn thiện sản phẩm sao cho phù hợp với yêu cầu. - Các nhóm làm bài báo cáo để giới thiệu về sản phẩm của dự án. Bước 4. Giới thiệu sản phẩm dự án Mục đích của bước này là HS giới thiệu và công bố sản phẩm. * Về phía giáo viên: GV kết hợp với tổ bộ môn tổ chức buổi trải nghiệm và GV trong tổ đóng vai trò là giám khảo, theo dõi các nhóm tiến hành và trình bày sản phẩm. *Về phía học sinh: Từng nhóm tiến hành hoàn thiện sản phẩm và công bố sản phẩm thông qua bài thuyết trình, thư kí nhóm phải ghi chép những ý kiến nhận xét, đánh giá của nhóm theo các tiêu chí trong thang điểm. Bước 5. Đánh giá việc thực hiện dự án Mục đích của bước này là GV và HS đánh giá kết quả của việc thực hiện hai dự án từ đó rút ra kinh nghiệm. - Nhận xét, đánh giá, cho điểm từng nhóm một cách chính xác và công bằng theo tiêu chí sau đây PHIẾU ĐÁNH GIÁ TRONG HỌC THEO DỰ ÁN Nhóm đánh giá: STT Nội dung

Trên mức đạt Đạt (7-10 điểm)

Dưới mức Nhận xét

(5-6 điểm) đạt (< 5 điểm)

1

Nội dung

2

Giải thích 39


3

Trình bày

4

Tổ chức

5

Kiến thức

6

Sáng tạo

7

Làm

việc

nhóm 8

Tổng

* Tổng kết dự án: - Giải đáp những ý kiến của HS về những nhận xét, đánh giá của các nhóm, của GV hoặc trình bày những thắc mắc về kiến thức vừa học; - Tổng kết điểm của các nhóm, khen thưởng các nhóm, cá nhân hoàn thành tốt dự án đồng thời phê bình các nhóm và cá nhân chưa hoàn thành dự án hoặc nhiệm vụ được giao; Tổng kết dự án và tổng kết buổi học. 2.3. Tổ chức các hoạt động dạy học Sau khi xây dựng kế hoạch dạy học, chúng tôi tiến hành dạy thực nghiệm tại lớp 10A5 theo đúng kế hoạch được xây dựng. Tiết 1:

Búp bê cân bằng - các dạng cân bằng

Hoạt động 1: Tìm hiểu về các dạng cân bằng Nhiệm vụ 1: (5’) Làm búp bê cân bằng

Hình 5: GV giao nhiệm vụ làm búp bê cân bằng 40


Hình 6: HS tham gia làm búp bê

Hình 7 :HS với sản phẩm búp bê cân bằng Nhiệm vụ 2: (15’) Tìm hiểu về các dạng cân bằng

41


Hình 8: HS tham gia hoạt động xây dựng kiến thức về các dạng cân bằng Hoạt động 2: Tìm hiểu về cân bằng của vật có mặt chân đế. Nhiệm vụ 3: (15’) thi “ Xây tháp”

Hình 9: GV giao nhiệm vụ xây tháp

42


Hình 10: HS thiết kế tháp triển lãm

Hình 11: HS tiến hành xây tháp triển lãm

43


Hình 12: Sản phẩm “ Tháp triển lãm” nhóm 2

Hình 13: Sản phẩm “ Tháp triển lãm” nhóm 4 44


Hình 14: Sản phẩm “ Tháp triển lãm” nhóm 5

Hình 15: HS thuyết trình - phát vấn sản phẩm các nhóm 45


Sau hoạt động xây tháp, giáo viên tổ chức cho HS xây dựng kiến thức về “ cân bằng của vật có mặt chân đế”. Cuối buổi học, HS chơi trò chơi củng cố kiến thức, GV giao nhiệm vụ cho tiết học sau. Qua việc dạy thực nghiệm tiết 1, nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy HS rất hào hứng tham gia các hoạt động học tập. Đặc biệt là các em đã có tư duy thiết kế kỹ thuật, có thể tạo ra những sản phẩm sáng tạo rất khác nhau, đa dạng về thiết kế nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu đặt ra. Tiết 2:

ĐỒ CHƠI CÂN BẰNG SÁNG TẠO (Dạy học dự án)

Phiếu giao nhiệm vụ của dự án Nhóm 1,2,3: Làm dự án 1: Thiết kế đồ chơi về các dạng cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định như: chuồn chuồn cân bằng, chú hề cân bằng, con lật đật. Nhóm 4,5,6: Làm dự án 2: Thiết kế đồ chơi cân bằng vật có mặt chân đế như: xích đu cân bằng, trò chơi xếp hình, tháp effen Bước 1: Xây dựng ý tưởng dự án, quyết định chủ đề Bước 2. Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án Bước 3: Thực hiện dự án Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch và nhiệm vụ đã đề ra cho nhóm và cá nhân để tạo ra sản phẩm dự án theo các giai đoạn sau: - Giai đoạn 1: Xác định rõ những kiến thức Vật lý sẽ phải sử dụng - Giai đoạn 2: Đưa ra bản vẽ thiết kế các sản phẩm. HS thảo luận nhóm đưa ra nhiệm vụ thiết kế cách làm, hình thức một số đồ chơi ứng dụng của cân bằng như con lật đật, chuồn chuồn cân bằng, xích đu cân bằng, tháp Effen, trò chơi xếp hình. - Giai đoạn 3: Đưa ra mô hình tương ứng với phương án thiết kế. HS tiến hành làm sản phẩm dựa trên thiết kế đã xây dựng, báo cáo sơ bộ về sản phẩm của nhóm mình. 46


Hình 16: Hình ảnh một số sản phẩm dự án Giai đoạn 4: Bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

47


Hình 17: Một số sản phẩm hoàn thiện sau dự án

48


Hình 18: Sản phẩm tháp triển lãm của học sinh sau dự án Bước 4. Giới thiệu sản phẩm dự án 49


Hình 19: HS thuyết trình – phát vấn sản phẩm dự án

50


CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM Sau tổ chức dạy học STEM cho các em học sinh, chúng tôi nhận thấy rằng các em thấy thích thú với môn học hơn, đồng thời trong tiết học các em được chia sẻ trao đổi và thể hiện về ý tưởng của mình. Thường thì ngay đến những học sinh có hạnh kiểm xấu cũng thay đổi đến mức không ngờ. Trong nỗ lực tìm hiểu tại sao cách tiếp cận này lại hiệu quả như vậy, một số giáo viên đã hỏi thêm về cơ sở lý thuyết, những phương pháp nào được sử dụng ? Có hai quá trình hỗ trợ song song: thứ nhất là tạo ra một bầu không khí lấy giá trị làm nền tảng, thứ hai là thực hiện các hoạt động giá trị để các em được khẳng định hiểu biết khoa học kĩ thuật của bản thân trước bạn bè, thầy cô. Dự án dạy học được thiết kế dựa theo sự kết hợp vốn hiểu biết và sự sáng tạo của các em trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và tính toán. Các hoạt động giúp phát huy tối đa khả năng của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ được giao - làm cho học sinh thấy giá trị thật sự của bản thân và mang lại sự hăng say khi hợp tác làm việc. Chẳng hạn, việc cùng nhau đưa ra các ý tưởng để tìm ra phương án tối ưu khi thiết kế mô hình cân bằng búp bê hay tháp cân bằng. Cách tốt nhất ở đây là nên bắt đầu mỗi bài học về giá trị bằng một bài tập mường tượng hoặc một trò chơi, một vi deo, một tiểu phẩm hay phóng sự. Điều này sẽ giúp khơi dậy khả năng sáng tạo vốn có của tất cả học sinh, các học sinh được phát triển khả năng làm việc nhóm, được phát huy khả năng bản thân trước tập thể, hình thành năng lực làm việc tập thể của các chủ nhân tương lai của đất nước. Sau một thời gian nghiên cứu, thực hiện tổ chức dạy học STEM cho các em học sinh lớp 10A5 trường THPT Nghĩa Dân, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập các minh chứng, xử lí dữ liệu, kiểm chứng các giải pháp qua nhiều kênh thông tin: qua phỏng vấn, qua thang đo thái độ của học sinh để đánh giá khách quan hiệu quả của đề tài nghiên cứu. 3.1. Kết quả từ kênh thông tin phỏng vấn học sinh Ngay sau khi tiến hành tiết dạy thực nghiệm, chúng tôi những người trực tiếp làm đề tài nghiên cứu tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên 15 em học sinh ở lớp 51


10A5 về các giải pháp mà nhóm chúng tôi đã thực hiện góp phần hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho các em. Câu hỏi 1: Em có thích thú với nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động học tập trong chủ đề “ Các dạng cân bằng. Cân bằng của vật có mặt chân đế” mà cô giáo đã tổ chức? Số HS tham gia phỏng vấn : 15 Nội dung

Kết quả

Số HS thấy thích thú

15

Số HS thấy nhàm chán

0

HS hờ hững với các hoạt động

0

Thông qua câu trả lời của 15 học sinh khi được hỏi phỏng vấn, 15 em sau khi nhóm nghiên cứu thực hiện giải pháp nêu trên (Phần nội dung đề tài nghiên cứu), đều có chung đáp án: thích thú với nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động của chủ đề. Câu hỏi 2: Qua quá trình tham gia các hoạt động học tập, làm dự án học tập em có thấy mình được phát triển năng lực sáng tạo của bản thân không? Biểu hiện như thế nào (trong số các biểu hiện mà người phỏng vấn đưa ra)? Kết quả có 15/15 em học sinh trả lời là “quá trình tham gia các hoạt động, làm dự án học tập giúp em được phát triển năng lực sáng tạo của bản thân”. Và kết quả trong các biểu hiện mà người phỏng vấn đưa ra thì nhận được câu trả lời “có” với số lượng học sinh như sau: Số HS tham gia phỏng vấn : 15 Nội dung

Kết quả

Có thể tự đề xuất giải pháp kĩ thuật phù hợp mà không cần tham khảo các giải pháp đã có cho sản phẩm thiết kế

05

Có thể nhìn thấy cấu trúc kĩ thuật, chức năng, bản chất của sản phẩm

08

Có thể tự thiết kế sơ đồ nguyên lý, bản vẽ kĩ thuật thể hiện cấu tạo chức năng của sản phẩm, đối tượng nghiên cứu

02

52


Kết quả trên cho phép chúng tôi khẳng định hiệu quả của các giải pháp mà nhóm đã thực nghiệm. 3.2. Kết quả từ thang đo thái độ Để đánh giá khách quan hơn nữa về hiệu quả của đề tài, nhóm nghiên cứu chúng tôi xây dựng thang đo thái độ và phát phiếu trưng cầu ý kiến (phụ lục 2) tới 41 HS lớp 10A5 trường THPT Nghĩa Dân, thu thập dữ liệu và đối chứng với kết quả của Phiếu khảo sát (phụ lục 1) để nghiên cứu. Dựa theo kết quả phiếu khảo sát (phụ lục 1) đã thực hiện từ tuần 1 tháng 10 năm 2018, với 41 học sinh lớp 10A5 trường THPT Nghĩa Dân, nhóm nghiên cứu chúng tôi thu được kết quả trước tác động như sau: Bảng 1. Kết quả đánh giá thái độ HS trước khi tham gia giờ học Thái độ Rất thích Thích Bình thường Căng thẳng Uể oải, chán nản Không quan tâm Ý kiến khác

Trước tác động Số lượng(HS) Tỷ lệ (%) 0 0% 4 9,75% 16 39,02% 8 19,51% 7 17,07% 6 14,63% 0 0

Biểu đồ 1: Kết quả đo thái độ học sinh trước tác động 53


Với kết quả thu được có thể thấy đa số các em học sinh 10A5 cảm thấy bình thường, thờ ơ với việc học môn Vật lí chiếm tỉ lệ rất cao (chỉ có 4/41 HS thích học vật lí), với các lí do như nặng lý thuyết chiếm tỉ lệ 41,3%, nhiều bài tập tính toán chiếm tỉ lệ 49,4%, các em lại thấy ít gắn liền với thực tiễn cuộc sống chiếm tỉ lệ 87,8%, điều đó làm các em thấy căng thẳng, mệt mỏi với môn học. Sau khi chúng tôi tác động dạy thực nghiệm chủ đề tại lớp 10A5, lấy phiếu trưng cầu ý kiến sau tác động (phụ lục 2) với 41 học sinh lớp 10A5 trường THPT Nghĩa Dân. Chúng tôi đã thu được kết quả thực nghiệm như sau: Bảng 2 : Kết quả đánh giá thái độ HS sau khi tham gia giờ học Thái độ Rất thích Thích Bình thường Căng thẳng Uể oải, chán nản Không quan tâm Ý kiến khác

Sau tác động Số lượng (HS) Tỷ lệ (%) 11 26,8 26 63,4 4 9,8 0 0 0 0 0 0 0 0

Biểu đồ 2: Kết quả đo thái độ học sinh sau tác động Kết quả cho thấy: Thái độ tích cực của HS khi tham gia hoạt động trải nghiệm, học tích cực 54


trước tác động mà cảm thấy thích chiếm tỷ lệ rất thấp 8,5%, trong khi có 39,6 % cho là bình thường. Tuy nhiên, sau tác động tỉ lệ đã thay đổi hoàn toàn, tỉ lệ học sinh thích và rất thích tham gia chiếm tới 90,2%, số còn lại thấy bình thường, không có học sinh cảm thấy chán nản, căng thẳng hay mệt mỏi nữa. Đồng thời, kết quả khảo sát cũng cho thấy với cách tổ chức dạy học STEM các em được làm việc hợp tác nhưng cũng được phát triển ý tưởng, thể hiện vai trò của bản thân trong nhóm. Đó cũng chính là điều làm nên hiệu quả của giải pháp mà chúng tôi đã thực hiện. 3.3. Kết quả đánh giá sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Sau khi tổ chức cho học sinh lớp 10A5 vận dụng kiến thức về “Các dạng cân bằng và cân bằng của vật có mặt chân đế” vào giải quyết vấn đề thực tiễn, hoàn thành dự án học tập, thu thập các phiếu học tập và nhật kí làm dự án của các em, chúng tôi đã đánh giá được sự phát triển năng lực sáng tạo của các em với kết quả như sau: STT 1

Tiêu chí Tự lực phát hiện vấn đề mới tình huống mới từ những tình huống quen thuộc liên quan

2

Nghiên cứu tổng quan các giải pháp có sẵn, trao đổi với hs khác, đưa ra đề xuất mới, tối ưu

3

Tự đề xuất giải pháp kĩ thuật phù hợp mà không cần tham khảo các giải pháp đã có

4

Tự truyền tải tri thức và kỹ năng vào tình huống mới, điều kiện mới, hoàn cảnh mới

5

Nhìn thấy cấu trúc kĩ thuật, chức năng, bản chất của đối tượng kĩ thuật

6

Đề xuất mô hình giả thuyết, đưa ra phương án thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết

Trước

Sau tác

tác động

động

0

5

4

39

5

9

2

37

5

39

6

30

55


7

Tự thiết kế sơ đồ nguyên lý, bản vẽ kĩ thuật thể hiện cấu tạo chức năng của đối tượng nghiên

0

4

cứu Kết quả trên cho thấy, với cách tổ chức dạy học STEM hầu hết các học sinh đã phát hiện được vấn đề thực tiễn liên quan đến lĩnh vực kiến thức, từ đó tự đưa ra được các phương án giải quyết tình huống thực tiễn và trao đổi với các bạn để tìm ra những giải phấp tối ưu, điều mà theo cách dạy học thông thường các em sẽ không dám nghĩ, hoặc không có điều kiện được thể hiện sự sáng tạo của bản thân. Bên cạnh đó cũng đã phát hiện ra một số em có năng khiếu đặc biệt có thể tự tìm ra phương án thiết kế mô hình sản phẩm theo yêu cầu, chúng tôi đã yêu cầu các em chia sẻ với các bạn đồng thời cho các em đưa ra các định hướng cải tiến sản phẩm để nâng cao tính thẩm mĩ và tiết kiệm chi phí, qua đó góp phần thúc đẩy sự đam mê sáng tạo trong môn Vật lí nói riêng và trong học tập nói chung. 3.4. Kết luận thực nghiệm Thông qua quá trình thực nghiệm sư phạm về việc tổ chức dạy học theo định hường STEM về “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” cho HS lớp 10A5 ở trường THPT Nghĩa Dân theo nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp day học như đã dự kiến, đặc biệt là qua kết quả mà HS biểu hiện trong các hoạt động trải nghiệm này, chúng tôi nhận thấy việc tổ chức dạy học STEM theo hình thức hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo là có hiệu quả. Nội dung của dạy học STEM đã khắc phục được nhược điểm trong dạy học truyền thống. HS đã được tự tay thiết kế, chế tạo các sản phẩm. Qua đó, HS được hình thành và phát triển năng lực sáng tạo, được rèn luyện kĩ thuật tổng hợp, khả năng ngôn ngữ và phát triển tư duy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục môn vật lí nói riêng và các môn học khác nói chung. Hình thức tổ chức dạy học STEM mà chúng tôi đã xây dựng khá hấp dẫn, thu hút được nhiều HS tham gia nhiệt tình, có hiệu quả. Quá trình hoạt động 56


cũng chính là quá trình HS học tập và rèn luyện nhưng do hình thức tổ chức mang tính mới lạ nên HS thấy rất thoải mái, không bị gò bó, không bị áp lực như các giờ học cũ. Chính điều này khiến cho các em chiếm lĩnh tri thức một cách tự nhiên, hiệu quả đồng thời khiến cho các em tìm được sự liên hệ giữa lí thuyết và thực tiễn. Ngoài ra, còn giúp cho các em rèn luyện tác phong làm việc khoa học, tinh thần đoàn kết và tinh thần làm việc theo nhóm, khả năng làm việc tự lực. Phương pháp hướng dẫn HS theo hướng gợi mở nên kích thích HS tham gia vào các hoạt động một cách chủ động, tích cực. Thông qua việc các em đề xuất các phương án, thiết kế chế tạo dụng cụ, tìm ra các giải pháp kĩ thuật, giúp cho các em phát triển được năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, dự án là sự kết hợp đa dạng của các môn học như môn Vật lý, Công nghệ, Kỹ Thuật, Toán Học, … giúp HS có sự liên kết giữa các môn học và liên kết giữa môn học với thực tiễn. Như vậy, việc tổ chức dạy học STEM theo phương pháp dạy học dự án đã thực sự mang lại hiệu quả cao trong dạy học Vật lí ở trường THPT. Tuy nhiên trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy khó khăn lớn nhất trong quá trình thực hiện dự án, đó là: dạy học theo hình thức này mất nhiều thời gian hơn so với dạy học truyền thống, đặc biệt chiếm nhiều quỹ thời gian học tập ở nhà của HS. Hơn nữa thực nghiệm được tiến hành trên quy mô nhỏ nên kết quả thực nghiệm chưa mang tính khái quát cao, cần phải tiến hành thêm với nhiều đối tượng HS hơn nữa.

57


CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN * Qua quá trình thực hiện đề tài, đối chiếu với mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi đã đạt được những kết quả sau: - Vận dụng được cơ sở lý luận về việc đổi mới phương pháp dạy học và việc tổ chức hoạt động trải nghiệm vật lí cho HS THPT vào việc tổ chức dạy học STEM về “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” cho HS lớp 10 THPT. - Trên cơ sở điều tra tình hình dạy và học theo phương pháp dạy học dự án, tình hình thiết bị thí nghiệm phục vụ cho việc dạy và học về cchủ đề “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” chúng tôi đã tìm ra được những khó khăn, hạn chế khi tổ chức dạy học STEM. Từ đó, chúng tôi đề xuất quy trình tổ chức dạy học STEM về phần kiến thức này cho HS lớp 10 để khắc phục những hạn chế trong dạy học truyền thống. - Chúng tôi đã chế tạo thành công một số sản phẩm về “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” từ những vật liệu đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm để phục vụ cho quá trình dạy học, bổ sung tốt cho cho phòng thí nghiệm của nhà trường. - Chúng tôi đã xây dựng được nội dung tổ chức dạy học STEM là hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo các dụng cụ để tạo ra các sản phẩm và tổ chức một buổi để HS báo cáo sản phẩm và tham dự trải nghiệm. Qua buổi này, các em có điều kiện vận dụng kiến thức đã học vào việc giải thích các hiện tượng vật lí và các ứng dụng kĩ thuật có liên quan. - Chúng tôi cũng đã dự kiến hình thức tổ chức và phương pháp hướng dẫn các hoạt động dạy học STEM nói trên. Đồng thời chúng tôi cũng dự kiến những khó khăn mà HS có thể gặp phải và dự kiến phương pháp giúp đỡ các em vượt qua khó khăn. - Kết quả của quá trình thực nghiệm sư phạm cho thấy việc tổ chức dạy học STEM về “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” ở lớp 10

58


THPT là khả thi và đạt được những mục tiêu mà đề tài đã đặt ra, đặc biệt là góp phần “ Hình thành và phát triển năng lực sáng tạo” cho học sinh. Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài không nhiều, tài liệu về tổ chức dạy học STEM còn ít, điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí ở trường phổ thông dành cho hoạt động này chưa đáp ứng được yêu cầu…nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế như: Các phương án thiết kế sản phẩm chưa nhiều, sản phẩm HS làm ra có tính thẩm mĩ hoặc tính chính xác chưa cao, chưa có điều kiện thực nghiệm trên nhiều đối tượng khác nhau. Nhóm nghiên cứu chúng tôi hy vọng với đề tài nghiên cứu này, sẽ góp công sức nhỏ bé vào sự nghiệp “trồng người” của nhà trường, cũng như sự nghiệp giáo dục của đất nước thời hiện đại. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự cộng sự chân thành của tập thể GV nhà trường và rất mong những đóng góp quý báu của người đọc để đề tài nghiên cứu của nhóm được hoàn chỉnh, và có ý nghĩa sâu sắc.

59


CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ Chúng ta đang sống trong thời đại hòa nhập cao giữa các quốc gia có văn hóa khác nhau, nhu cầu trao đổi công việc và nhân lực cũng ngày một cao. Bối cảnh đó đòi hỏi ngành giáo dục cũng cần chuẩn bị cho học sinh những kỹ năng và kiến thức theo chuẩn toàn cầu. Giáo dục STEM với nhiệm vụ cung cấp các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho học sinh thế kỷ 21 sẽ là mô hình giáo dục diện rộng trong tương lai gần của thế giới. Phương pháp giáo dục STEM còn khá mới mẻ và có phương pháp tiếp cận khác trong giảng dạy và học tập nên cần được sự quan tâm và nhận thức của toàn xã hội. Những người hoạch định chính sách cần có phương pháp nâng cao nhận thức của các tầng lớp xã hội về giáo dục STEM, từ các bậc cha mẹ, giáo viên, nhà trường, đến nhữngnhà giáo dục các cấp. Cải cách giáo dục là điều tất yếu, triển khai giáo dục STEM để đón đầu xu hướng phát triển giáo dục sẽ đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển cuả đất nước trong tương lai. Để cho việc tổ chức dạy học STEM phát huy hết tác dụng của nó trong việc dạy và học chủ đề “Các dạng cân bằng, cân bằng của vật có mặt chân đế” nói riêng và chương trình vật lí THPT nói chung, chúng tôi đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo: - Tổ chức thực nghiệm sư phạm với số lượng HS lớn, ở nhiều trình độ để có được sự đánh giá tổng quát. - Tập trung nghiên cứu kĩ hơn về các thí nghiệm để chế tạo ra những dụng cụ thí nghiệm bền, đẹp, chính xác hơn và có thể sử dụng trong dạy học. - Vận dụng quy trình tổ chức dạy học STEM với các nội dung khác trong chương trình vật lí phổ thông để kích thích hứng thú của HS trong học tập vật lí, giúp phát huy tính tích cực và phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS.

60


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Thiết kế phiếu đánh giá theo phương pháp Anket [2]. Đỗ Hương Trà (2011), Các kiểu tổ chức dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. [3].

Đỗ Hương Trà (2015), Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh

Quyển 1 KHTN, NXB ĐHSP HN. [4]. Đỗ Văn Tuấn (2014), “Những điều cần biết về giáo dục STEM”, Tạp chí Tin học và Nhà trường, 182. [5]. Thái Duy Tuyên (2006), Phương pháp dạy học: truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục, Hà Nội. [6]. Xavier Roegiers (1996), Khoa sư phạm tích hợp - Hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường, NXBGD, Hà Nội. [7]. http://www.baohaiquan.vn/Pages/Chuong-trinh-giao-duc-STEM-Nhungtich- cuc-dang-duoc-nhan-rong.aspx [8]. https://baomoi.com/chuong-trinh-giao-duc-stem-nhung-tich-cuc-dangduoc- nhan-rong/c/20725184.epi [9].

https://bigschool.vn/giao-duc-stem-trong-truong-pho-thong-khong-chi-la-

ly-thuyet [10]. http://stemedu.viettinhanh.com.vn/stem-la-gi [11]. Nguyễn Thanh Nga (2018), Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM cho HS THCS và THPT, NXB ĐHSP TP Hồ Chí Minh [12]. Lương Duyên Bình (2016), Vật lí 10, NXB Giáo dục.

61


PHỤ LỤC 1 PHIẾU KHẢO SÁT VỀ TIẾT HỌC MÔN VẬT LÍ Để giúp việc tổ chức các hoạt động giờ học hiện nay, chúng tôi muốn tham khảo ý kiến các em về một số vấn đề. Các câu hỏi này chỉ nhằm tham khảo ý kiến của các em để dùng cho mục tiêu nghiên cứu và sẽ không dùng vào việc gì khác, do đó sẽ không làm ảnh hưởng đến các em. Vì vậy, các em hãy suy nghĩ và trả lời các câu hỏi thật đúng với những gì mình suy nghĩ và lựa chọn. Thông tin cá nhân: - Họ và tên: (Có thế không cần ghi)………………………………………….. - Học lớp: ………………………………Trường:…………………………….. - Năm sinh:………………………….Giới tính:……………………………. Em hãy vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu X vào ô trống ứng với sự lựa chọn của mình hoặc viết trả lời câu hỏi. Câu 1: Các em hứng thú với tiết học vật lí hiện tại ở lớp em đang học không, mức độ như thế nào? STT Nội dung 1 Rất thích, hào hứng tham gia 2

Thích

3

Bình thường

4

Căng thẳng, mệt mỏi sợ phải tham gia

5

Uể oải, chán nản.

6

Không quan tâm

7

Ý kiến khác

Câu 2: Nguyên nhân của việc hứng thú (hoặc không) là gì? Nhiều lý thuyết Nhiều bài tập tính toán Không gắn liền thực tiễn Nguyên nhân khác

62


Câu 3: Ở THCS, Số lần được thực hành trong 1 năm học: Rất thường xuyên ( hơn 10 lần) Thường xuyên(từ 7 đến 10 lần) Thỉnh thoảng( từ 4 đến dưới 7 lần) Rất ít khi( ít hơn 4 lần) Câu 4: Ở THCS, Số lần tham gia các trò chơi trong học tập: Rất thường xuyên ( hơn 20 lần) Thường xuyên(từ 15 đến 20 lần) Thỉnh thoảng( từ 10 đến dưới 15 lần) Rất ít khi( ít hơn 10 lần) Câu 5: Ở THCS, Số lần tham gia các sản phẩm dự án trải nghiệm ở môn Vật lí trong một năm học: Rất thường xuyên (hơn 8 lần) Thường xuyên (từ 5 đến 8 lần) Thỉnh thoảng (từ 3 đến dưới 5 lần) Rất ít khi (ít hơn 3 lần) Câu 6: Bạn có thích được phát triển năng lực sáng tạo, tư duy kĩ thuật trong giờ học vật lí không? Rất thích Thích Bình thường Không thích Không quan tâm Câu 7: Bạn muốn được làm gì trong giờ học Vật lí? Lí do? …………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………

63


PHỤ LỤC 2 PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN HỌC SINH Để góp phần nâng cao chất lượng giờ học hiện nay, chúng tôi xin trưng cầu ý kiến anh (chị) sau các tiết học Vật lí vừa qua. Xin anh (chị) hãy vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu X vào các ô vuông tương ứng với các câu trả lời phù hợp với ý kiến của anh ( chị) hoặc trả lời vào chỗ trống bên dưới. Xin chân thành cảm ơn! Các câu hỏi này chỉ nhằm tham khảo ý kiến của các em để dùng cho mục tiêu nghiên cứu và sẽ không dùng vào việc gì khác, do đó sẽ không làm ảnh hưởng đến các em. Vì vậy, các em hãy suy nghĩ và trả lời các câu hỏi thật đúng với những gì mình suy nghĩ và lựa chọn. Thông tin cá nhân: - Họ và tên: (Có thế không cần ghi)………………………………………….. - Học lớp: ………………………………Trường:…………………………….. - Năm sinh:………………………….Giới tính:……………………………. PHẦN A: Anh/Chị vui lòng đánh giá khách quan các nội dung sau đây theo các mức độ: 1. Hoàn toàn không đồng ý 2. Không đồng ý 3. Không ý kiến 4. Đồng ý

5. Hoàn toàn đồng ý

Đánh dấu x vào ô được chọn Câu 1: Trong tiết học, anh (chị) thích giáo viên sử dụng những phương pháp và hình thức dạy học nào? STT Nội dung 1 Thuyết trình ( không đặt câu hỏi) 2 Đàm thoại (đặt câu hỏi để SV trả lời) 3 Thảo luận nhóm và báo cáo kết quả 4 Kết hợp vừa dạy thuyết trình vừa đặt câu hỏi. 5 Sử dụng trò chơi trong dạy học 6 Sử dụng linh hoạt nhiều hoạt động trải nghiệm

1 2 3 4 5

64


Câu 2: Trong tiết học, anh (chị) có được phát triển năng lực sáng tạo của bản thân không? STT Nội dung 1 2 3 4 5 1 Tôi có nhiều cơ hội cho việc phát triển năng lực sáng 2

tạo, kiến thức cá nhân trong học tập Tôi có cơ hội làm những việc sử dụng đến khả năng sáng

tạo 3 Tôi được đưa ra ý kiến của bản thân trước tập thể Câu 3: Trong tiết học, anh (chị) có hài lòng với kết quả đạt được không? STT Nội dung 1

Tôi cảm thấy hài lòng với sản phẩm nhóm

2

Tôi muốn cải tiến thêm cho sản phẩm hoàn hảo hơn

3 4

Tôi sản phẩm nhóm tôi là tối ưu hơn nhóm bạn Tôi muốn được mỗi ngày đều được học trải nghiệm như

1 2 3 4 5

vậy Câu 4: Trong tiết học, anh (chị) cảm thấy? STT Nội dung 1

Rất thích, hào hứng tham gia

2

Thích

3

Bình thường

4

Căng thẳng, mệt mỏi sợ phải tham gia

5

Uể oải, chán nản.

6

Không quan tâm

7

Ý kiến khác

Câu 5: Anh (chị) có đề xuất gì với các tiết học vật lí vừa qua để nâng cao hiệu quả và hứng thú trong học tập? ................................................................................................................................. .................................................................................................................................

65


PHỤ LỤC CÁC PHIẾU HỌC TẬP - Phiếu học tập số 1 Làm búp bê cân bằng với những vật dụng đã chuẩn bị trong thời gian 5 phút Sản phẩm đổi giữa các nhóm để chấm chéo theo tiêu chí Bảng tiêu chí đánh giá sản phẩm của học sinh. Trường:............................................................................Lớp:........................ Nhóm:………………………………………………………………………… Điểm Tiêu chí đánh giá

tối đa

HS

đánh GV

giá

đánh giá

Nhận xét

Kĩ thuật

Tính thành thục

20

Đúng kĩ thuật

10

Điểm

30

Hình

Tính độc đáo

20

thức

Tính thẩm mĩ

10 30

Điểm Tính

Đứng

ứng

bằng

được

cân 15

dụng Thời

Đúng thời gian quy

gian

định

Tính

Thể hiện được tính

sáng

sáng tạo

10 15

tạo XẾP LOẠI Tốt

80 – 100 điểm

66


Khá

60 – 79 điểm

Trung bình

40 – 59 điểm

Yếu

Dưới 39 điểm

- Phiếu học tập số 2 Dựa trên những sản phẩm đã làm được của các nhóm và nghiên cứu SGK Hoàn thiện nội dung sau đây: Nội dung

Cân bằng bền

Cân bằng không Cân bằng phiếm định bền

Định nghĩa Đặc điểm về vị trí trọng tâm Ứng dụng - Phiếu học tập số 3 THIẾT KẾ THÁP TRIỂN LÃM THÚ BÔNG Nhóm ....................

Các thành viên:

.................................................. ..................................................

I. Trả lời câu hỏi? Khoanh tròn vào các vật liệu có thể sử dụng để xây tháp Viên bi

Băng dính

Giấy bìa

Cục bông

Lá cây

ống hút

Vải mềm

Cục tẩy

Vì sao bạn nghĩ như vậy? ................................................................................................................................... ........................................................... II. Tưởng tượng Nhóm các bạn được nhận vật liệu: - 90 tấm thẻ bằng giấy, 30cm băng dính Hãy: 67


+ Động não để nảy sinh các ý tưởng thiết kế + Liệt kê các ý tưởng hoặc vẽ hình mô tả chúng trong các ô bên dưới + Khoanh tròn ý tưởng bạn nghĩ là tốt nhất? Ý tưởng 1

Ý tưởng 2

Ý tưởng 3

Ý tưởng 4

III. Lên kế hoạch thiết kế Hướng dẫn: Vẽ sơ đồ thiết kế “Tháp triển lãm thú bông” của nhóm bạn trong ô bên dưới.

IV. Thực hiện thiết kế Hướng dẫn: Nhóm các bạn thiết kế tháp xong và trả lời các câu hỏi sau: 1. Tháp cao bao nhiêu (cm)? ..................................................... 2. Tháp có giữ được thú bông bên trên ít nhất 5s? ................ V. Cải tiến

68


Nghĩ ra một số cách mà bạn có thể làm để Tháp được thiết kế tốt hơn? Hãy viết ý tưởng của bạn dưới đây ................................................................................................................................. Hướng dẫn: Vẽ sơ đồ cải tiến thiết kế “Tháp triển lãm thú bông” của nhóm bạn trong ô bên dưới. Chú thích các bộ phận.

Yêu cầu sản phẩm: + Chiều cao tháp tối thiểu 45 cm + Khi để thú bông trên đỉnh tháp, tháp vẫn cân bằng. Tiêu chí chấm tháp Tiêu chí

Điểm

Kết quả nhóm 1

Chiều cao tháp

2

3

4

5

6

5 điểm

Mức vững vàng của tháp 5 điểm Thuyết trình

5 điểm

Phát vấn, trả lời câu hỏi

5 điểm

- Phiếu học tập 4 Nội dung

Cân bằng của vật có mặt chân đế

Định nghĩa mặt chân đế Điều kiện CB của vật Ứng dụng

69


BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ CÁC THÀNH VIÊN NHÓM NGHIÊN CỨU Tt 1

Nội dung

Người thực hiện

Nghiên cứu, lựa chọn đề tài

- Nguyễn Thị Thiết - Nguyễn Thị Huế - Trần Thị Lý

- Phát phiếu điều tra

- Nguyễn Thị Huế - Trần Thị Lý

Thời gian hoàn thành

Ghi chú

Tháng 9/2018

2

- Tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn - Tìm hiểu về giáo dục STEM.

- Tổ chức dạy thực nghiệm

- Nguyễn Thị Thiết - Trần Thị Lý - Nguyễn Thị Thiết - Nguyễn Thị Huế - Trần Thị Lý - Nguyễn Thị Thiết - Nguyễn Thị Huế - Trần Thị Lý

- Đánh giá kết quả dạy thực nghiệm

- Nguyễn Thị Thiết - Nguyễn Thị Huế - Trần Thị Lý

- Xây dựng kế hoạch chủ đề

3

- Nguyễn Thị Thiết - Nguyễn Thị Huế

Thu thập kết quả - Nguyễn Thị Huế -Từ phỏng vấn - Trần Thị Lý

Tháng 10/2018

Thực hiện với 235 HS khối 10

Tháng 11/2018 Tháng 11/2018 Tháng 12/2018

Tháng 12/2018

Tháng 12/2018 Tháng 12/2018

Thực hiện đối với 15 HS lớp 10A5

70


- Xây dựng thang đo thái độ và thực hiện lấy ý kiến - Xây dựng thang đánh giá năng lực sáng tạo của HS 4

5

- Nguyễn Thị Thiết - Nguyễn Thị Huế

Tháng 1/2019

- Nguyễn Thị Thiết - Trần Thị Lý

Tháng 1/2019

Tổng hợp đề tài nghiên cứu

- Nguyễn Thị Thiết - Nguyễn Thị Huế - Trần Thị Lý

Đầu tháng 3/2019

Rà soát, in ấn.

- Nguyễn Thị Thiết

Tháng 3/2019

Thực hiện đối với 41 HS lớp 10A5

71


LỜI CAM ĐOAN

Trên đây là nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của nhóm nghiên cứu xây dựng, viết, không sao chép nội dung của người khác!

Nghĩa Dân, ngày 18 tháng 3 năm 2019 Tác giả: Nguyễn Thị Thiết Nguyễn Thị Huế Trần Thị Lý

72


XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG THPT NGHĨA DÂN

Tổng điểm: 93

Xếp loại:

Đạt

TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CHỦ TỊCH – HIỆU TRƯỞNG (Ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

73


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook