BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
vectorstock.com/28062424
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection
Dạy học chuyên đề “Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường” (Vật lí 10 Chương trình giáo dục phổ thông mới) theo định hướng giáo dục STEM WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM
Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
BÁO CÁO SÁNG KIẾN I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề vô cùng cấp bách không chỉ riêng với quốc gia nào mà của toàn thế giới, không chỉ riêng với thành thị mà cả nông thôn, miền núi.Nó đe dọa đến nguồn nước, không khí, đất…ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người. Bảo vệ môi trường đã, đang và sẽ là vấn đề cấp thiết của toàn nhân loại.Việc giáo dục ý thức và trang bị kiến thức về bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ hàng đầu mà Liên Hiệp Quốc đề ra trong chiến dịch bảo vệ môi trường. Thế kỷ XXI là thế kỉ của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển khoa học kĩ thuật và công nghệ diễn ra nhanh chóng thúc đẩy sự phát triển của mọi mặt đời sống xã hội.Cùng với nó thì vấn đề ô nhiễm môi trường sẽ càng trở trầm trọng và việc bảo vệ môi trường càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước. Thế kỉ XXI đòi hỏi con người phải tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo, phát triển những phẩm chất và phát triển năng lực phù hợp để đáp ứng nhu cầu đất nước và xã hội đồng thời phải có ý thức trong gìn giữ và bảo vệ môi trường. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường” là một trong ba chuyền đề dạy học lớp 10 nhằm hình thành kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường cũng như kĩ năng tự học cho học sinh khi bắt đầu bước sang giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Đây là một nội dung mới hoàn toàn mà chương trình giáo dục cũ cũng chưa hề có. Nếu có nhắc đến thì cũng chỉ ở mức độ tích hợp mở rộng, liên hệ thực tế nếu bài học có liên quan. Mặt khác, Nghị quyết số 29-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của HS; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để HS tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.” Tuy nhiên thực tế ở các trường trung học phổ thông hiện nay, hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông nói chung và môn Vật
2 Lý nói riêng chưa mang lại hiệu quả cao, dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết. Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS thông qua khả năng vận dụng tri thức chưa thực sự được quan tâm. Việc áp dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho HS còn chưa nhiều, chưa triệt để nhất là dạy cho học sinh cách tự học, tự tìm tòi khám phá và bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh. Hoạt động kiểm tra đánh giá chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá qua điểm số, ít quan tâm quá trình tư duy xây dựng kiến thức, ít quan tâm vận dụng kiến thức nhất là vận dụng sáng tạo trong các tình huống cụ thể mới lạ, thực tế dẫn đến hệ quả là không rèn luyện được tính độc lập, tự giác sáng tạo trong quá trình học. Việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học vẫn còn mang tính chất cục bộ, chưa đồng loạt và chưa mang lại hiệu quả. Trong các trường học, các địa phương, ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường của học sinh cũng như người dâncòn chưa cao.Sự hiểu biết về ô nhiễm môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm cũng như hậu quả ô nhiễm còn hạn chế.Việc xả rác bừa bãi ra sân trường là vấn đề thường thấy.Việc đốt rơm rạ ngày mùa, những dòng sông nước đen toàn rác…là những hình ảnh quá quen thuộc đối với người dân.Học sinh cũng như người dân chưa hiểu được các tác hại của ô nhiễm môi trường cũng như sự cần thiết phải bảo bệ môi trường.Vì vậy, giáo dục cho thế hệ trẻ biết được các nguyên nhân và tầm quan trọng của môi trường là vấn đề cốt lõi để giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trườngvề lâu dài. Giáo dục cho thế hệ trẻ cũng đồng nghĩa với việc sẽ hình thành cho các em ý thức phải bảo vệ môi trường và tuyên truyền cho mọi thế hệ trong xã hội II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến Trong phân phối chương trình của bộ môn vật lí không có chuyên đề riêng hay bài đọc riêng nào để nói về môi trường cũng như giáo dục bảo vệ môi trường, đặc biệt là đề cập đến vai trò của vật lý trong giáo dục bảo vệ môi trường. Trong khi đó, Vật lí là môn khoa học mang tính thực tiễn cao, chúng ta hoàn toàn có thể đưa ra các biên pháp giáo dục bảo vệ môi trường với những ví dụ liên quan đến kiến thức và rất gần gũi với sự hiểu biết của học sinh. Trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên đã chú ý việc liên hệ kiến thức ra ngoài thực tế. Nhiều kiến thức trong vật lí có liên quan trực tiếp đến vấn đề môi trường từ đó giáo dục cho các em về ý thức xây dựng và bảo vệ môi trường.Tuy nhiên, việc làm này còn chưa thường xuyên, chỉ hạn chế ở một số bài và không đồng loạt trong giáo viên. Đa số giáo viên chỉ dạy học liên hệ, tích hợp khi có sinh hoạt chuyên đề, hay hội giảng.
3 Trong những năm gần đây, Bộ giáo dục và sở giáo dục cũng như các trường học cũng đề cập đến việc dạy học tích hợp liên môn và kiến thức về môi trường cũng là đề tài tích hợp được nhiều môn học như sinh, kỹ thuật công nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, hóa học, vật lý….nhưng cũng chưa mang lại hiệu quả và gần như đa số học sinh vẫn không chắc chắn được vật lý có liên quan gì với môi trường hay không. Mặc dù môi trường là rất quan trọng nhưng nhận thức học sinh về vấn đề môi trường cũng như ô nhiễm môi trường còn rất hạn chế. Các em không biết rằng nhiều vấn đề môi trường đang được quan tâm hiện nay đều có liên quan trực tiếp đến quá trình vật lí. Chính vì vậy, việc xây dựng một chuyên đề giáo dục học sinh vai trò của vật lí với môi trường cũng như giáo dục bảo vệ môi trường là rất cần thiết trong quá trình dạy học.Bởi chính những thế hệ trẻ này sẽ phải giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường đang ngày càng trầm trọng và cấp thiết. Muốn vậy, các em phải hiểu sâu sắc tầm quan trọng của môi trường cũng như ý thức, trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ và xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 2.1. Mục đích sáng kiến Xây dựng, thực hành dạy và học chuyên đề “Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường” (Vật lí 10- Chương trình giáo dục phổ thông mới) theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh sẽ giúp cho người học nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của môi trường đối với cá nhân,tập thể, quốc gia và thếgiới. Từ đó có thái độ, ứng xử đúng đắn trước các vấn đề về môi trường và dần hình thành nhân cách sống, ý thức trách nhiệm cho các em trong cuộc sống. Giáo dục STEM là một phương pháp dạy học đang được bộ và các trường khuyến khích. Nó giúp học sinh tự lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, rất hiệu quả và thực hành vận dụng ngay vào trong cuộc sống, giúp các em chủ động yêu thích môn học hơn và phát triển toàn diện hơn. Nếu áp dụng vào chuyên đề này thì hiệu quả học tập sẽ cao hơn và ứng dụng vào thực tiễn hơn. 2.2. Đối tượng và phạm vi sáng kiến - Đối tượng: Tiến trình dạy và học chuyên đề “Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường” (Vật lí 10- Chương trình giáo dục phổ thông mới) theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh. - Phạm vi sáng kiến: Quá trình dạy và học chuyên đề Vật lí 10 tại trường THPT Mỹ Lộc. 2.3. Giả thuyết khoa học
4 Nếu thực hiện được chuyên đề dạy học “Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường” đáp ứng được các yêu cầu của việc dạy học theo định hướng phát triển nănglực tự học của học sinh thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng tốt nhiệm vụ mà chương trình giáo dục phổ thông mới đề ra, hình thành cho các em phương pháp để tự tìm tòi và lĩnh hội kiến thức thay cho việc học thụ động trên lớp. Học sinh khi thấy được tầm quan trọng của môi trường với cuộc sống thì các em sẽ tự hình thành ý thức bảo vệ môi trường qua những hành động cụ thể, hành vi ứng xử tích cực trước các vấn đề về môi trường. Các em sẽ là những nhân tố tích cực để bảo vệ và cải thiện môi trường trong tương lai. 2.4. Nhiệm vụ sáng kiến - Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực của học sinh nói chung và năng lực tự học nói riêng. - Xác định được mục tiêu dạy học và xây dựng được nội dung dạy học chuyên đề “Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường”. 2.5. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu lí luận dạy học Vật lí. - Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực tự học của học sinh trong dạy học; cơ sở lí luận của các phương pháp dạy học ở trường phổ thông. - Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin - Phương pháp điều tra thực tiễn hoạt động dạy và học của GV và HS, điều tra thực tiễn sự hiểu biết của học sinh về môi trường trong trường THPT Mỹ Lộc - Phương pháp thực nghiệm.
5 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN DẠY HỌC VẬT LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH, DẠY HỌC STEM VÀ THỰC TRẠNG TỰ HỌC VẬT LÍ CỦA HỌC SINH, HIỂU BIẾT CỦA HỌC SINH VỀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG. 1. Dạy học vật lí theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh THPT 1.1. Khái niệm năng lực Theo quan điểm của những nhà tâm lý học thì năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Như vậy năng lực có thể được hiểu: - Thứ nhất là: chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó. - Thứ hai là: Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao. Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau: - Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành; - Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực; - Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn...; - Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp; - Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống cụ thể,... hiểu và vận dụng được các phép tính cơ bản; - Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học; - Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các chuẩn: Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/phải đạt được những gì? 1.2. Các năng lực chuyên biệt của bộ môn Vật lí được cụ thể hóa từ năng lực chung Thông qua dạy học phải phát triển cho học sinh các năng lực chung: Năng lực tự học, Năng lực giải quyết vấn đề, Năng lực sáng tạo, Năng lực tự quản lí, Năng lực giao tiếp, Năng lực hợp tác, Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, Năng lực sử dụng ngôn ngữ, Năng lực tính toán. Các năng lực
6 chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học. Từ các cách hiểu trên, chúng ta có thể nhận thấy năng lực của học sinh phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em. Từ các năng lực chung ta có thể cụ thể hóa các năng lực chuyên biệt môn Vật lí như bảng sau: Bảng 1: Bảng năng lực chuyên biệt môn Vật lí được cụ thể hóa từ năng lực chung STT Năng lực chung Năng lực trong môn Vật lí Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân 1 Năng lực tự học - Lập được kế hoạch tự học và điều chỉnh, thực hiện kế hoạch có hiệu quả. - Tìm kiếm thông tin về nguyên tắc cấu tạo, hoạt động của các ứng dụng kĩ thuật. - Đánh giá được mức độ chính xác nguồn thông tin. - Đặt được câu hỏi về hiện tượng sự vật quanh ta. - Tóm tắt được nội dung vật lí trọng tâm của văn bản. - Tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy, bản đồ khái niệm, bảng biểu, sơ đồ khối. - Tự đặt câu hỏi và thiết kế, tiến hành được phương án thí nghiệm để trả lời cho các câu hỏi đó. 2 Năng lực giải - Đặc biệt quan trọng là năng lực thực nghiệm. quyết vấn đề (Đặc Đặt được những câu hỏi về hiện tượng tự nhiên: biệt quan trọng là Hiện tượng… diễn ra như nào? Điều kiện diễn ra năng lực giải quyết hiện tượng là gì? Các đại lượng trong hiện tượng vấn đề bằng con tự nhiên có mối quan hệ với nhau như nào? Các đường thực dụng cụ có nguyên tắc cấu tạo và hoạt động như nghiệm hay còn thế nào? gọi là năng lực - Đưa ra được cách thức tìm ra câu trả lời cho các thực nghiệm) câu hỏi đã đặt ra. - Tiến hành thực hiện các cách thức tìm câu trả lời bằng suy luận lí thuyết hoặc khảo sát thực nghiệm. - Khái quát hóa rút ra kết luận từ kết quả thu được.
7 - Đánh giá độ tin cậy và kết quả thu được. 3 Năng lực sáng tạo - Thiết kế được phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết (hoặc dự đoán) - Lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu. - Giải được bài tập sáng tạo. - Lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề một cách tối ưu. 4 Năng lực tự quản lí Không có tính đặc thù Nhóm năng lực về quan hệ xã hội 5 Năng lực giao tiếp - Sử dụng được ngôn ngữ vật lí để mô tả hiện tượng. - Lập được bảng và mô tả bảng số liệu thực nghiệm. - Vẽ được đồ thị từ bảng số liệu cho trước. - Vẽ được sơ đồ thí nghiệm. - Mô tả được sơ đồ thí nghiệm. - Đưa ra các lập luận lô gic, biện chứng. 6 Năng lực hợp tác - Tiến hành thí nghiệm theo nhóm. - Tiến hành thí nghiệm theo các khu vực khác nhau. Nhóm năng lực công cụ (Các năng lực này sẽ được hình thành trong quá trình hình thành các năng lực ở trên) Năng lực sử dụng - Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng (maple, công nghệ thông coachs…) để mô hình hóa quá trình vật lí. 7 tin và truyền thông - Sử dụng phần mềm mô phỏng để mô tả đối (ICT) tượng vật lí. Năng lực sử dụng - Sử dụng ngôn ngữ vật lí, ngôn ngữ toán học để ngôn ngữ diễn tả quy luật vật lí. 8 - Sử dụng bảng biểu, đồ thị để diễn tả quy luật vật lí. - Đọc hiểu được đồ thị, bảng biểu. 1.3. Các phương pháp, hình thức dạy học Vật lí theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh Các phương pháp dạy học Vật lí theo định hướng phát triển năng lực trong dạy học thường được sử dụng và có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt Vật lí là: dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên tìm tòi khám phá.... Còn các hình thức dạy học có vai trò
8 trong việc phát triển năng lực đang được áp dụng có thể nêu ra ở đây là: dạy học phân hóa, dạy học dự án, dạy học theo trạm, góc, dạy học theo tình huống, dạy học webquest và đặc biệt là hướng dẫn tự học và bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh.... 1.4. Tổ chức hoạt động dạy học Vật lí theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh 1.4.1. Quan niệm về tự học Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là người học luôn là chủ thể nhận thức, tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập. Theo đó, quá trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS tự thực hiện, còn môi trường học, hình thức học chỉ đóng vai trò trợ giúp. Việc học chỉ có hiệu quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong học tập. Tự học là một quá trình chủ thể nhận thức tác động một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo vào đối tượng học nhằm chuyển hoá chúng thành tài sản riêng, làm cho chủ thể thay đổi và phát triển. Do cuộc sống có nhiều biến động và phát triển vì vậy để đảm bảo đáp ứng nhu cầu xã hội con người ai cũng phải tự học, song vấn đề quan trọng là tự học ở mức độ nào và tự học như thế nào… và phải hướng tới học suốt đời. Đặc điểm cơ bản quan trọng không thể thiếu của tự học là sự tự giác và kiên trì cao, sự tích cực, độc lập và sáng tạo của HS tự mình thực hiện việc học. Như vậy, tự học là sự tích cực, tự lực, chủ động của chủ thể nhận thức trong hoạt động học, quá trình tự học do người học tự thực hiện tuy nhiên, cần chú ý rằng với HS phổ thông để việc tự học đạt hiệu quả thường cần phải có sự hướng dẫn, trợ giúp của GV hay người trợ giúp. Theo đó, GV cần tạo ra môi trường để HS phát huy nội lực của mình trong quá trình khám phá kiến thức. Tự họccó hai mức độ: tự học hoàn toàn và tự học có hướng dẫn. Tự học có hướng dẫn là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng với sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của GV hay người hướng dẫn, thông qua bài giảng hoặc tài liệu hướng dẫn học. Tự học có hướng dẫn là việc học cá nhân và tự chủ, được sự giúp đỡ và tăng cường của một số yếu tố như GV hay người hướng dẫn hay công nghệ giáo dục hiện đại. Khi đó, người học là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của mình. Người thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học trong sự hợp tác với bạn, với thầy, với học liệu,…
9 Như vậy, tựhọc là tự mình thực hiện việc học. Tự học không thể thiếu trong hoạt động học, trong đó HS phải biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ý chí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kĩ năng và hoàn thiện nhân cách của mình dưới sự hướng dẫn của GV. Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào kĩ năng tự học của mỗi cá nhân và đặc biệt với HS THPT thì còn phải phụ thuộc rất lớn đến sự hướng dẫn của GV hay học liệu, phương tiện hỗ trợ,... Xét theo con đường và không gian học tập thì tự học có thể diễn ra theo các hình thức sau: Tự học không theo con đường nhà trường, học thông qua thực tế; tự học ở trường lớp. Quá trình tự học thường được diễn ra theo các giai đoạn: tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự điều chỉnh và vận dụng. Mỗi giai đoạn vừa nêu trên có các bước cơ bản để thực hiện, có thể mô tả chúng như phần dưới đây: – Giai đoạn I. Tự nghiên cứu + Bước 1. Xác định mục tiêu học tập, nội dung cần học, lên kế hoạch tự học. + Bước 2. Xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản thuộc mỗi nội dung hay chủ đề; + Bước 3. Hệ thống hoá kiến thức. Xác định quan hệ giữa kiến thức, kĩ năng mới thu nhận với nhau và với kiến thức, kĩ năng đã có; – Giai đoạn II. Tự thể hiện và hợp tác + Bước 4. Tự thể hiện; + Bước 5. Thảo luận; – Giai đoạn III. Tự điều chỉnh + Bước 6. Tự đánh giá; + Bước 7: Tự điều chỉnh; - Giai đoạn IV. Vận dụng kiến thức + Bước 8. Vận dụng kiến thức: Vận dụng tốt kiến thức, kĩ năng là bước cuối cùng của quá trình học hay tự học. 1.4.2. Vị trí, vai trò của tự học Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu lên mục tiêu cụ thể, trong đó có đề cập tới việc “phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”; trong các giải pháp có nêu “tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học”.
10 Như vậy: - Tự học được xem là một mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học; - Rèn luyện kĩ năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực cho HS trong quá trình học tập; - Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời. 1.4.3. Những thành tố cơ bản của tự học Muốn tự học, mỗi người cần thiết phải có được bốn thành tố cơ bản, là: a) Động cơ học tập gồm: – Các động cơ hứng thú nhận thức; – Các động cơ trách nhiệm trong học tập. b) Học tập có kế hoạch Để có được mục tiêu khả thi và hữu ích, HS cần xác định mục tiêu học tập của mình theo năm yếu tố sau đây: – Cụ thể và rõ ràng; – Đo lường được; – Có thách thức; – Thực tế; – Có thời gian để hoàn thành; Sau khi đã xác định được các vấn đề trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc trong kế hoạch chung một cách hợp lí, logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch như: – Học ở đâu; –Khi nào nên học tập; – Học cho giờ lí thuyết; – Học cho giờ cần phát biểu, trả bài; – Sửa đổi kế hoạch học tập. c) Thực hiện kế hoạch học tập để chiếm lĩnh kiến thức Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất. Khối lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững không,… tuỳ thuộc vào chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này. Theo đó, nó thường bao gồm các hoạt động như: – Tiếp nhận/thu thập thông tin: + Tìm kiếm thông tin: + Tiến hành thu thập thông tin: + Sắp xếp thông tin đã chọn lọc một cách hệ thống, theo từng nội dung.
11 – Xử lí thông tin: Để hình thành kĩ năng này, người học thường phải tiến hành các thao tác như: + Tóm tắt, phân loại thông tin; + Phân tích thông tin; + Tổng hợp, hệ thống hoá thông tin: – Vận dụng tri thức, thông tin: – Trao đổi, phổ biến thông tin: Để hình thành và ngày càng hoàn thiện kĩ năng này, người học thường phải thực hiện có hiệu quả các hành động như: + Hợp tác với bạn, với thầy; + Trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói hoặc viết; + Tham gia tranh luận, trao đổi, chia sẻ thông tin. d) Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập: Trong bất kì hoạt động nào đánh giá kết quả cũng đều quan trọng, vì nó giúp cho chủ thể kịp thời phát hiện ưu điểm hay thiếu sót, hạn chế và điều chỉnh các hoạt động, phù hợp với mục đích đề ra. Trong tự học, tự kiểm tra, tự đánh giá có một ý nghĩa quan trọng, đảm bảo kết quả, chất lượng của tự học. Muốn học tập có hiệu quả, nhất thiết HS phải chủ động tự giác, học bất cứ lúc nào có thể, bằng chính nội lực, vì nội lực chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển. Ngoài ra, còn rất cần tới vai trò của người thầy hay người trợ giúp với tư cách là ngoại lực trong việc giúp cho HS có được một hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ,… cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học, nhờ vào kinh nghiệm của thầy. Nhờ đó, hoạt động tự học của HS ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất. 1.4.4. Hướng dẫn học sinh tự học Để HS tự học có hiệu quả, ngoài việc tạo động cơ, hứng thú cho các em, cũng như hướng dẫn các em lập kế hoạch học tập hay tự kiểm tra đánh giá còn cần sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật tự học thông dụng. Một vàiphương pháp và kĩ thuật tự học thông dụng được đề cập như phần dưới đây: a) Hướng dẫn học sinh nghe hiệu quảtrong tự học:Biết nghe giảng đúng cách hay nghe tích cực sẽ giúp HS rút ngắn thời gian học tập, làm bài tập nhanh chóng và dễ dàng hơn, tự tin, hứng thú hơn và không ngỡ ngàng khi gặp lại các nội dung học tập, nhất là trọng tâm bài học. b) Hướng dẫn học sinh tự ghi chép hiệu quả: Ghi chép không những có thể khiến tăng cường sự tập trung mà còn là một công cụ hỗ trợ ghi nhớ. Khả năng ghi chép phụ thuộc vào từng người và được bắt nguồn từ những kinh nghiệm có sẵn. Ghi chép còn giúp chúng ta nguồn lưu trữ thông tin để sau này dùng lại hay ôn lại nếu cần. Song để ghi chép được nhanh và hiệu quả nên sử dụng các thủ
12 thuật như: dùng từ viết tắt, dùng chữ bắt đầu của một từ; dùng các kí hiệu hoặc tạo ra những từ viết tắt riêng cho mình; đặt tựa đề riêng cho đề mục và ghi lùi sang phải từng chi tiết liên quan với đề mục; dùng những chấm riêng cho từng dòng và xuống dòng cho mỗi chi tiết; chừa chỗ trống nhiều so với lề trái, khoảng 1/3 chiều ngang tờ giấy; ... Không cần ghi lại mọi thứ mà hãy tư duy, lắng nghe để hiểu và ghi được những điều quan trọng nhất. Lưu ý: c) Hướng dẫn học sinh tự đọc hiệu quả là đọc một cách tập trung và kĩ lưỡng để hiểu được chính xác những gì đọc được. Ta biết rằng một từ, một cụm từ hay một chữ, thường có hai phần là âm và nghĩa. Đứng về mặt kĩ thuật, đọc là một quá trình kết hợp lướt mắt qua các con chữ và nhập nghĩa của các con chữ đó vào đầu. d) Hướng dẫn học sinh tự đọc tích cực SQ3R (Francis Robinson, 1970)là một kĩ thuật hữu hiệu nhằm giúp ta nắm được toàn bộ nội dung thông tin của một tài liệu hay một quyển sách,…thông qua việc ta phải chú tâm tới đọc tài liệu một cách tích cực. e) Hướng dẫn học sinh ghi nhớ thông tin hiệu quả trong tự học: Ghi nhớ là quá trình tiếp nhận thông tin và lưu giữ thông tin ấy trong đầu, để sau đó có thể nhắc lại, dùng lại được. Ghi nhớ đòi hỏi yêu cầu cao với người học. Để có thể ghi nhớ thông tin nhanh và lâu, cần lưu ý hướng dẫn học sinh thực hiện các các bước sau: –Đọc đi đọc lại; – Nắm ý chính; – Trích lược những chi tiết quan trọng; – Ghi thành dàn bài; – Nhẩm trong óc; –Ghi ra giấy; – Hỏi và tự trả lời. g) Hướng dẫn học sinh liên tưởng trong tự học: Liên tưởng giúp các em phát huy tính khám phá, tính sáng tạo bằng cách kết nối một vấn đề đang học, một vấn đề đang gặp phải, cần được ghi nhớ, một vấn đề chưa thật quen thuộc, chưa thật hiểu rõ, với cái mà mình đã biết. Nhờ đó, ta sẽ dễ nhớ và dễ truy cập, sử dụng một vấn đề nào đó khi cần. Để sử các em vận dụng tốt liên tưởng, cần hướng dẫn các em tìm các luật liên tưởng: Luật đặc trưng, Luật tương phản; Luật gần nhau, Luật quan hệ. Ngoài ra còn có: Luật sáng rõ; Luật lặp lại, Luật (thời gian) xa gần.
13 Liên tưởng có thể giúp tự học, phát huy tính sáng tạo được nhiều hơn. Đây là một phương pháp tư duy thường được sử dụng, có tác dụng và cần thiết trong đời sống, trong học tập và cho suốt cuộc đời con người. h)Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ tư duy trong tự học. Trong việc học và đặc biệt là khi ôn tập, hệ thống hoá kiến thức, HS đã được làm quen với việc kẻ bảng, biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… vì vậy BĐTD được xem là hình thức ghi chép hỗ trợ tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề, một hệ thống bài tập hay một mạch kiến thức, các cách giải của một dạng bài tập,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt, BĐTD còn là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau. Do đó, việc lập BĐTD còn giúp phát huy khả năng sáng tạo của mỗi người. Để làm quen, trước hết nên cho HS tập “đọc hiểu” một vài BĐTD do GV thiết kế sẵn hoặc được cho từ mạng Internet, sách tham khảo,… tập cho HS thuyết trình, diễn giải mạch nội dung kiến thức hàm chứa trong BĐTD đó. Tiếp theo, thực hành vẽ BĐTD trên giấy hay trên bìa, trên bảng. Khi HS đã biết cách lập BĐTD, GV có thể hướng dẫn các em cách “ghi” bài theo cách sử dụng BĐTD. Hướng dẫn HS ghi theo cách hiểu của các em, tóm lược các ý chính trong SGK, ghi các nội dung mà thầy/cô mở rộng, bổ sung vào bài giảng hay các nội dung tham khảo thêm,… Khi HS đã thành thạo việc lập BĐTD, sử dụng được BĐTD trên lớp, GV hướng dẫn các em dùng BĐTD trong việc tự học ở nhà, khi ôn bài hay hệ thống kiến thức của một chủ đề, một chương. Các em có thể lập BĐTD để chuẩn bị bài mới, các em có thể đọc trước SGK, vẽ BĐTD theo cách hiểu của mình, khi đến lớp sẽ bổ sung thêm các thông tin, các nội dung khác bằng cách vẽ thêm nhánh. k)Hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT trong tự học CNTT không chỉ hiểu là máy tính và mạng Internet mà là tất cả những phương tiện kĩ thuật dùng để khởi tạo, lưu trữ, chuyển tải, chia sẻ, trao đổi thông tin. Trong dạy học, CNTT đóng vai trò quan trọng tạo ra “môi trường số” giúp GV, HS linh động hơn trong việc thu thập, xử lí, trao đổi, quản lí thông tin cũng như giao tiếp, cộng tác và đánh giá hoặc liên kết nội dung bài học với những ý tưởng thực tế của cuộc sống. Mặt khác đây cũng là nguồn để cung cấp tài liệu, giải đáp thắc mắc khó khăn cho học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự khai thác một số trang web giúp tự học Vật lý tốt như : google.com.vn;
14 youtube.com;moon.vn; hocmai.vn; kienthuc.com; violet.vn,... 2. Dạy học STEM 2.1. Khái niệm
viettelstudy.vn;
tuyensinh247.com;
STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học).Với những tiếp cận khác nhau, giáo dục STEM sẽ được hiểu và triển khai theo những cách khác nhau. Giáo viên thực hiện giáo dục STEM thông qua hoạt động dạy học để kết nối kiến thức học đường với thế giới thực, giải quyết các vấn đề thực tiễn, để nâng cao hứng thú, để hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh. Đây là phương pháp TIẾP CẬN LIÊN MÔN (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán) trong dạy học với mục tiêu: (1) nâng cao hứng thú học tập các môn học thuộc các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán; (2) vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn; (3) kết nối trường học và cộng đồng; (4) định hướng hành động, trải nghiệm trong học tập; (5) hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất người học. 2.2. Vai trò, ý nghĩa của giáo dục STEM Việc đưa giáo dục STEM vào trường phổ thông mang lại nhiều ý nghĩa, phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục phổ thông. Cụ thể là: - Đảm bảo giáo dục toàn diện: Triển khai giáo dục STEM ở nhà trường, bên cạnh các môn học đang được quan tâm như Toán, Khoa học, các lĩnh vực Công nghệ, Kỹ thuật cũng sẽ được quan tâm, đầu tư trên tất cả các phương diện về đội ngũ giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất. - Nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM: Các dự án học tập trong giáo dục STEM hướng tới việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn, học sinh được hoạt động, trải nghiệm và thấy được ý nghĩa của tri thức với cuộc sống, nhờ đó sẽ nâng cao hứng thú học tập của học sinh. - Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh: Khi triển khai các dự án học tập STEM, học sinh hợp tác với nhau, chủ động và tự lực thực hiện các nhiệm vụ học; được làm quen hoạt động có tính chất nghiên cứu khoa học. Các hoạt động nêu trên góp phần tích cực vào hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh.
15 - Kết nối trường học với cộng đồng - Hướng nghiệp, phân luồng: Tổ chức tốt giáo dục STEM ở trường phổ thông, học sinh sẽ được trải nghiệm trong các lĩnh vực STEM, đánh giá được sự phù hợp, năng khiếu, sở thích của bản thân với nghề nghiệp thuộc lĩnh vực STEM. Thực hiện tốt giáo dục STEM ở trường phổ thông cũng là cách thức thu hút học sinh theo học, lựa chọn các ngành nghề thuộc lĩnh vực STEM, các ngành nghề có nhu cầu cao về nguồn nhân lực trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. 2.3. Thiết kế bài học STEM 2.3.1. Tiêu chí xây dựng bài học STEM Tiêu chí 1: Chủ đề bài học STEM tập trung vào các vấn đề của thực tiễn Tiêu chí 2: Cấu trúc bài học STEM theo quy trình thiết kế kĩ thuật Tiêu chí 3: Phương pháp dạy học bài học STEM đưa học sinh vào hoạt động tìm tòi và khám phá, định hướng hành động, trải nghiệm và sản phẩm Tiêu chí 4: Hình thức tổ chức bài học STEM lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhóm kiến tạo Tiêu chí 5: Nội dung bài học STEM áp dụng chủ yếu từ nội dung khoa học và toán mà học sinh đã và đang học 2.3.2. Quy trình xây dựng bài học STEM Bước 1: Lựa chọn chủ đề bài học Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết Bước 3: Xây dựng tiêu chí của thiết bị/giải pháp giải quyết vấn đề Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học. 2.3.3. Kĩ thuật tổ chức các hoạt động dạy học Khi thiết kế mỗi hoạt động học để tổ chức cho học sinh thực hiện cần đảm bảo các tiêu chí sau: - Mục tiêu: mô tả rõ yêu cầu cần đạt và sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành khi thực hiện hoạt động. - Nội dung: mô tả rõ nội dung và cách thức thực hiện hoạt động (học sinh phải làm gì? làm như thế nào? làm ra sản phẩm gì?). - Sản phẩm: mô tả dự kiến sản phẩm mà học sinh có thể hoàn thành;
16 những khó khăn, sai lầm học sinh có thể mắc phải. - Đánh giá: phương án đánh giá các sản phẩm dự kiến của học sinh (tập trung làm rõ nguyên nhân khó khăn, sai lầm, chưa hoàn thiện của sản phẩm); chỉnh sửa, hoàn thiện sản phẩm để học sinh ghi nhận, sử dụng. Với những tiêu chí trên, cần tổ chức hoạt động học của học sinh trong các bài học STEM như sau: Hoạt động 1: Phát hiện vấn đề - Mục tiêu: Cần xác định rõ mục tiêu của hoạt động này là tìm hiểu, thu thập thông tin, xác định được vấn đề cần giải quyết hoặc đòi hỏi của thực tiễn theo nhiệm vụ được giao; xác định rõ tiêu chí của sản phẩm phải hoàn thành. - Nội dung: Với mục tiêu nói trên, nội dung của hoạt động này chủ yếu là tìm tòi, khám phá tình huống/hiện tượng/quá trình trong thực tiễn. Cùng một nội dung, tùy vào điều kiện, có thể tổ chức cho học sinh hoạt động ở trên lớp hoặc ngoài thực tiễn. Vấn đề quan trọng là giáo viên phải giao cho học sinh thật rõ ràng yêu cầu thu thập thông tin gì và làm gì với thông tin thu thập được. Để thực hiện hoạt động này có hiệu quả, yêu cầu học sinh hoạt động cá nhân hết sức quan trọng, sau đó mới tổ chức để học sinh trình bày, thảo luận về những gì mình thu thập được kèm theo ý kiến của cá nhân học sinh về những thông tin đó (trong nhóm, trong lớp). - Sản phẩm: Yêu cầu về sản phẩm (của hoạt động này) mà học sinh phải hoàn thành là những thông tin mà học sinh thu thập được từ việc tìm hiểu thực tiễn; ý kiến của cá nhân học sinh về hiện tượng/quá trình/tình huống thực tiễn hoặc quy trình, thiết bị công nghệ được giao tìm hiểu. Những thông tin và ý kiến cá nhân này có thể sai hoặc không hoàn thiện ở các mức độ khác nhau. Giáo viên có thể và cần phải dự đoán được các mức độ hoàn thành của sản phẩm này để định trước phương án xử lí phù hợp. - Đánh giá: Trên cơ sở các sản phẩm của cá nhân và nhóm học sinh, giáo viên đánh giá, nhận xét, giúp học sinh nêu được các câu hỏi/vấn đề cần tiếp tục giải quyết, xác định được các tiêu chí cho giải pháp (sản phẩm khoa học hoặc sản phẩm kĩ thuật) cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra. Từ đó định hướng cho hoạt động tiếp theo của học
17 sinh. Hoạt động 2: Hoạt động nghiên cứu kiến thức nền - Mục tiêu: Mục tiêu của hoạt động này là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông. - Nội dung: Về bản chất, nội dung của hoạt động này là học kiến thức mới của chương trình các môn học cần sử dụng để xây dựng và thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề đặt ra. Học sinh được hướng dẫn nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu bổ trợ, làm thực hành, thí nghiệm để chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện kĩ năng theo yêu cầu cần đạt của chương trình. Các nhà trường, giáo viên sử dụng khung thời gian dành cho việc thực hiện nội dung này của chương trình để tổ chức hoạt động học của học sinh theo phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực; tăng cường hướng dẫn học sinh tự lực nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu bổ trợ để tiếp nhận và vận dụng kiến thức (ngoài thời gian trên lớp), dành nhiều thời gian trên lớp để tổ chức cho học sinh báo cáo, thảo luận, làm thực hành, thí nghiệm để nắm vững kiến thức và phát triển các kĩ năng. - Sản phẩm: Sản phẩm mà mỗi học sinh phải hoàn thành khi nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu bổ trợ là những kiến thức cơ bản (số liệu, dữ liệu, khái niệm, định nghĩa, định luật...), lời giải cho những câu hỏi, bài tập mà giáo viên yêu cầu, kết quả thí nghiệm, thực hành theo yêu cầu của chương trình; nội dung đã thống nhất của nhóm; nhận xét, kết luận của giáo viên về kiến thức, kĩ năng cần nắm vững đề sử dụng. - Đánh giá: Căn cứ vào sản phẩm học tập của học sinh và các nhóm học sinh, giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo, thảo luận; đồng thời nhận xét, đánh giá, "chốt" kiến thức, kĩ năng để học sinh ghi nhận và sử dụng. Hoạt động 3: Hoạt động giải quyết vấn đề - Mục tiêu: Đề xuất và thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề; hoàn thành sản phẩm theo nhiệm vụ đặt ra. - Nội dung: Học sinh được tổ chức hoạt động giải quyết vấn đề theo các bước của quy trình nghiên cứu khoa học, kĩ thuật. - Sản phẩm: Có nhiều sản phẩm trung gian trong quá trình thực
18 hiện hoạt động của học sinh. Giáo viên cần dự kiến các mức độ có thể của giả thuyết khoa học/giải pháp giải quyết vấn đề; phương án thí nghiệm/thiết kế mẫu thử nghiệm để chuẩn bị cho việc định hướng học sinh thực hiện có hiệu quả. - Đánh giá: Theo từng bước trong quy trình hoạt động, giáo viên cần tổ chức cho học sinh/nhóm học sinh trao đổi, thảo luận để lựa chọn hướng đi phù hợp. Sản phẩm cuối cùng được học sinh/nhóm học sinh trình bày để giáo viên đánh giá, nhận xét, góp ý hoàn thiện. 3. Thực trạng năng lực tự học Vật lí của học sinh lớp 10 THPT Mỹ Lộc. 3.1.Thực trạng Để làm rõ thực trạng tự học môn Vật lí của học sinh, tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát đối với 390 học sinh của khối 10 trường THPT Mỹ Lộc trong thời gian 17 tháng 3 năm 2020 (Học sinh quay lại trường sau thời gian nghỉ phòng tránh dịch covid-19) thông qua phiếu (phụ lục 1) và thu được kết quả như sau: Khảo sát mức độ yêu thích môn Vật lí, tôi thu được kết quả như bảng sau: Bảng 2: Mức độ yêu thích môn Vật lí của học sinh Rất thích Thích Không thích SL TL SL TL SL TL 61 15,64% 173 44,36% 156 40% Từ bảng 2 ta thấy 44,36% học sinh thích học môn Vật lí; 15,64% học sinh rất thích học Vật lí, và lí do chủ yếu được các em đưa ra là môn Vật lí là môn học gắn liền với thực tế đời sống, giúp các em hiểu được nhiều hiện tượng tự nhiên và đặc biệt các em rất thích khám phá vũ trụ; 40% học sinh không thích học với lí do chủ yếu là Vật lí khô khan, quá khó, quá nhiều công thức và dạng bài tập, học sinh không thể hiểu hết được dẫn tới chán nản. Qua đây, tôi thấy tỉ lệ học sinh không thích học Vật lí còn cao.Vì vậy, rất cần có những biện pháp để bồi đắp tình yêu Vật lí, tạo hứng thú cho học sinh. Khảo sát mức độ tự học môn Vật lí, tôi thu được kết quả như bảng sau: Bảng 3: Khảo sát mức độ tự học môn Vật lí Thường xuyên Thỉnh thoảng Không tự học SL TL SL TL SL TL 179 45,9% 120 30,77% 91 23,33% Khảo sát về các hình thức tự học của học sinh, tôi thu được bảng sau:
19 Bảng 4: Khảo sát về các hình thức tự học của học sinh Các hình thức tự học SL TL Tự học cá nhân có hướng dẫn của thầy cô 271 69,49% Tự học theo nhóm có hướng dẫn của thầy cô 58 14,87% Tự học cá nhân không có hướng dẫn của thầy cô 41 10,51% Tự học theo nhóm không có hướng dẫn của thầy cô 20 5,13% Qua bảng 3, có 45,9% học sinh thường xuyên tự học môn Vật lí; 30,77% thỉnh thoảng mới tự học vào những lúc sắp kiểm tra hay thi giai đoạn23,33% học sinh không tự học. Bảng 4 cho thấy đa số học sinh tự học cá nhân có hướng dẫn của thầy cô; tỉ lệ học sinh tự học không cần hướng dẫn còn thấp. Qua đó, ta thấy đa số học sinh đã có ý thức tự học nhưng mới chỉ dừng lại ở mức thầy cô yêu cầu gì thì học đấy, học thụ động, học rập khuôn theo những gì được thầy cô cho ghi lại trong sách vở, học để đối phó với các bài kiểm tra, các kì thi, chứ chưa tích cực chủ động tìm hiểu kiến thức. Học sinh chủ yếu làm việc độc lập, ít khi hợp tác nhóm, khả năng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau còn yếu. 3.2. Nguyên nhân thực trạng Trong các trường trung học cơ sở, Môn vật lí tuy được học ngay từ đầu cấp nhưng vẫn được coi là môn phụ và chỉ chiếm 1 điểm trong bài thi tổ hợp của đề thi chuyển cấp nên các em không chú trọng và đầu tư. Cách ra đề kiểm tra đánh giá học sinh theo một lối mòn đã rất cũ là hỏi lí thuyết học thuộc từ sách giáo khoa; bài tập dùng để kiểm tra đánh giá phần lớn chỉ áp dụng công thức để tính toán đơn thuần; đề kiểm tra chưa gắn liền kiến thức với thực tiễn và thí nghiệm thực hành; điều đó khiến học sinh học theo xu hướng ra đề của giáo viên... Giáo viên dạy “chay” nhiều, mô tả hiện tượng Vật lí bằng các thuật ngữ khoa học trừu tượng và khó hiểu với học sinh.Giáo viên dạy Vật lí mà xa rời kiến thức thực tế trong khi đó Vật lí lại là môn học gắn liền với thực nghiệm và thực tế. Một số giáo viên bước chân vào lớp, cầm viên phấn viết ngay đề bài và cứ thế “độc diễn” tới cuối giờ học, không quan tâm tới phải đặt vấn đề vào bài và gắn các ứng dụng thực tế vào bài học cho sinh động và tăng hứng thú, hấp dẫn học sinh. Có giáo viên lại sợ mất thời gian, ngại phải chuẩn bị… Việc chưa chú trọng đến thí nghiệm trong phòng học bộ môn cũng là nguyên nhân khiến học sinh không hiểu rõ được hiện tượng thực tế, không quan sát được hiện tượng, không được trực tiếp tiến hành thí nghiệm; từ đó kém hứng thú, ghi nhớ bài học máy móc, nhanh quên kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn rất yếu kém. Bên cạnh đó, một số giáo viên còn dạy Vật lí như dạy
20 Toán, tức chỉ quan tâm tới công thức và cho học sinh áp dụng công thức tính ra đáp số dẫn tới tiết học Vật lí rất tẻ nhạt. Nguyên nhân chủ quan là nhiều học sinh chưa xác định được mục tiêu học tập đúng đắn, coi việc học là nghĩa vụ.Đặc biệt với môn vật lý các em coi là môn phụ thì việc tự học là điều khó khăn.Tự bản thân các em cần phải trả lời các câu trả lời sau: Học để làm gì? Tại sao phải học? Học có giúp ích được gì cho cuộc sống của các em sau này không?...Khi trả lời được các câu hỏi đó, thì các em mới có động cơ học tập, mới xác định được tầm quan trọng của việc học và từ đó sẽ có thái độ đúng đắn hơn trong học tập. Chính vì những nguyên nhân trên mà khi các em bước sang cấp trung học phổ thông, phần lớn các em đều mơ màng về môn vây lý cũng như vai trò của môn vật lý. Để khắc phục tình trạng trên, nhằm nâng cao hứng thú và khả năng tự học của học sinh, tôi đã từng bước vận dụng phương pháp dạy học chủ đề theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh. Phần tiếp theo, tôi sẽ trình bày phương án dạy học chuyên đề “Vật lí vời giáo dục bảo vệ môi trường” - chuyên đề Vật lí 10 (chương trình giáo dục phổ thông mới) theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh. 4. Thực trạng hiểu biết về môi trường của học sinh THPT Mỹ Lộc 4.1.Thực trạng Tôi tiến hành phát phiếu khảo sát với toàn bộ học sinh khối 10 và khảo sát thêm với 3 lớp 11A4,11A10,11A3 mà tôi tham gia giảng dạy (514 học sinh) Hỏi về tầm quan trọng của môi trường và sự cần thiết bảo vệ môi trường ta thu được kết quả sau SL
Số lượng
TL
Có
389
75,39%
Không
44
8,53%
Không quan tâm
83
16,08%
Rất quan trọng Quan trọng Ít quan trọng Không quan trọng
219 198 16 83
Tỉ lệ 42,44% 38,37% 3,1% 16,09%
Từ kết quả ta thấy, phần lớn các em đã nhận thức được tầm quan trọng của môi trường và sự cần thiết để bảo vệ môi trường, tuy nhiên vẫn còn một số nhỏ không quan tâm và không coi trọng môi trường. Khi hỏi về các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ta thấy Do giao thông 72 14% Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công 474 91,86%
21 nghiệp Sinh hoạt của người dân 516 100% Chăn nuôi 397 76,93% Ý thức người dân kém 516 100% Quản lý của cơ quan chức năng kém 489 94,77% Các em chọn tất cả các nguyên nhân nhưng nguyên nhân do giao thông chỉ có 72 người chọn. Thật ngạc nhiên khi phần lớn các em đều nghĩ rằng: giao thông không gây ô nhiễm môi trường. Và khi hỏi vật lý có liên quan đến ô nhiễm môi trường không thì càng ngạc nhiên với số liệu sau Có Không Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 381 73,84% 135 26,16% Có tới 26,16% học sinh trả lời giao thông không gây môi trường. Như vậy, kiến thức về ô nhiễm môi trường của các em còn rất hạn chế. 4.2.Nguyên nhân Trong quá trình dạy học, giáo viên gần như không hoặc rất ít tích hợp kiến thức môn học để liên hệ với kiến thức môi trường. Các phong trào, hoạt động tuyên truyền về tầm quan trọng của môi trường trong nhà trường, các địa phương không được quan tâm, rất ít và gần như không có. Vì vậy các em không có động cơ để tìm hiểu cũng như không có các hoạt động bảo vệ môi trường. Những kiến thức mà các em có được là trên ti vi, phương tiện thông tin, ngoài đời sống nhưng chỉ dừng ở mức độ nghe thấy, nhìn thấy chứ các em không đi sâu vào tìm hiểunguyên nhân. Chính vì vậy, kiến thức về môi trường của các em rất hạn chế và phong trào về môi trường gần như không có.
22 CHƯƠNG II: NỘI DUNG GIẢI PHÁP 1. Vị trí, vai trò và yêu cầu cần đạt của chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường”. 1.1. Vị trí, vai trò của chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường”trong chương trình Vật lí THPT Chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường” là chuyên đề thứ ba trong ba chuyên đề vật lý lớp 10, chương trình giáo dục phổ thông mới. Về mặt kiến thức, chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường” trình bày về khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm, năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo và các giải pháp để giảm ô nhiễm môi trường. Trong thời điểm ô nhiễm môi trường đang ngày càng trầm trọng và đe dọa đến đời sống con người không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới như hiện nay, việc dạy học chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường” có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành ý thức và trách nhiệm cho học sinh cũng như con người trong việc bảo vệ và xây dựng môi trường sống lành mạnh. Sau chuyên đề, học sinh sẽ được trang bị những kiến thức về môi trường để từ đó tự các em sẽ hình thành thói quen ứng xử trước các vấn đề môi trường. Việc ô nhiễm môi trường là do con người gây ra nên việc dạy các em ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường là biện pháp tối ưu để khắc phục tình trạng ô nhiễm trong hiện tại và tương lai. 1.2. Yêu cầu cần đạt Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường Thảo luận, đề xuất, chọn phương án và thực hiện được Nhiệm vụ học tập tìm hiểu: + Sự cần thiết bảo vệ môi trường trong chiến lược phát triển của các quốc gia. + Vai trò của cá nhân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường. Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường Thảo luận, đề xuất, chọn phương án và thực hiện được Nhiệm vụ học tập tìmhiểu: + Tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. + Sơ lược về các chất ô nhiễm trong nhiên liệu hoá thạch, mưa axit, năng lượng hạt nhân, sự suy giảm tầng ozon, sự biến đổi khí hậu. Thảo luận, đề xuất, chọn phương án và thực hiện được Nhiệm vụ học tập tìmhiểu: + Phân loại năng lượng hoá thạch và năng lượng tái tạo.
23 + Vai trò của năng lượng tái tạo. + Một số công nghệ cơ bản để thu được năng lượng tái tạo. 2. Thiết kế xây dựng chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường”theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh 2.1. Mục tiêu dạy học 2.1.1. Kiến thức, kĩ năng, thái độ. a. Kiến thức Nhận thức kiến thức vật lí [1] [1.1] Nêu được khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường. [1.2] Trình bày được đặc điểm của các chất ô nhiễm trong nhiên liệu hoá thạch, mưa axit, năng lượng hạt nhân, sự suy giảm tầng ozon, sự biến đổi khí hậu. [1.3] Phân loại được năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo. [1.4] Trình bày được vai trò của năng lượng tái tạo. [1.5] Trình bày được một số công nghệ cơ bản để thu được năng lượng tái tạo. Tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí [2] [2.1] Đề xuất được vấn đề cần tìm hiểu là tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. [2.2] Lập kế hoạch tìm hiểu tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. [2.3] Thực hiện kế hoạch tìm hiểu tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. [2.4] Viết, trình bày báo cáo, thảo luận về tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. b. Kĩ năng [3] [3.4] Nêu được giải pháp và thực hiện một số biện pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững. c. Thái độ [c.1] Khách quan, trung thực và rèn luyện được tác phong tỉ mĩ, cẩn thận trong quá trình quan sát, thu thập và xử lí số liệu. [c.2] Có tinh thần hợp tác, trách nhiệm trong hoạt động nhóm. Thái độ nghiêm tức trong học tập và công việc được giao 2.1.2 Năng lực cần phát triển [d] - Năng lực tự học - Thực hiện được các nhiệm vụ học tập theo hướng dẫn về nhà. - Năng lực giao tiếp và hợp tác: Biết cách làm việc nhóm để thực hiện được các nhiệm vụ học tập ở lớp và ở nhà thông qua phiếu học tập.
24 - Năng lực sáng tạo - Năng lực giải quyết vấn đề thông qua đặt câu hỏi khác nhau về một hiện tượng; tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác; xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới. 2.2. Chuẩn bị 2.2.1. Về tài liệu học tập và phương tiện dạy học - Giấy A0 để trình bày báo cáo hoặc bài trình chiếu powerpoint, biên bản làm việc nhóm, phiếu học tập, phiếu đánh giá hoạt động nhóm. - Giáo viên có giáo án 2.2.2. Về phương pháp và kỹ thuật dạy học chính: Làm việc nhóm, báo cáo hội thảo Kỹ thuật KWL 2.3. Tổ chức các hoạt động dạy học Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, chuyên đề được giới hạn trong 15 tiết dạy nhưng chưa phân nội dung của từng tiết. Tôi mạnh dạn phân chia các tiết theo phần hướng dẫn chung dưới đây. 2.3.1. Hướng dẫn chung Thành tố NL Nội dung hoạt Phương pháp, kỹ Căn cứ Hoạt động hình thành động (thời gian) thuật tổ chức đánh giá và phát triển - Xem video về tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay Hoạt động 1. đối với môi trường, Khởi động và giao kinh tế và khí hậu Việt [a.2.1], Kế hoạch nhiệm vụ học Nam. [a.2.2], thực hiện 1. Khởi tập.Học sinh lên - Kỹ thuật KWL [a.2.3], nhiệm vụ động kế hoạch và thực - GV triển khai nhiệm [d – NL hợp học tập của hiện nhiệm vụ. vụ học tập tới mỗi tác], [c.2] mỗi nhóm. (45 phút) nhóm. - Các nhóm xác định nhiệm vụ học tập, lập kế hoạch thực hiện Hoạt động 2.1. - Tổ chức báo cáo hội [a.1.1], - Phiếu học 2. Hình Sự cần thiết phải thảo, nhóm 1 trình bày. [a.2.4], tập số 1. thành bảo vệ môi trường - Thông báo, đàm [a.3.4], -Bài thuyết kiến thức (45 phút) thoại. [d – NL hợp trình, bản
25 - HS đặt câu hỏi cho tác], nhóm báo cáo, nhóm [c.2] báo cáo thảo luận và cử đại diện trả lời. - GV nhận xét, chốt kiến thức. Hoạt động 2.2. Tìm hiểu sơ lược về các chất ô nhiễm trong nhiên liệu hoá thạch, mưa axit, năng lượng hạt nhân, sự suy giảm tầng ozon, sự biến đổi khí hậu. (45 phút) Hoạt động 2.3. Tìm hiểu năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo. (45 phút)
Hoạt động 2.4. Tìm hiểu tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. (45 phút)
- Tổ chức báo cáo hội thảo, nhóm 2 trình bày. - Thông báo, đàm thoại. - HS đặt câu hỏi cho nhóm báo cáo, nhóm báo cáo thảo luận và cử đại diện trả lời. - GV nhận xét, chốt kiến thức. - Tổ chức báo cáo hội thảo, nhóm 3 trình bày. - Thông báo, đàm thoại. - HS đặt câu hỏi cho nhóm báo cáo, nhóm báo cáo thảo luận và cử đại diện trả lời. - GV nhận xét, chốt kiến thức. - Tổ chức báo cáo hội thảo, nhóm 4 trình bày. - Thông báo, đàm thoại. - HS đặt câu hỏi cho nhóm báo cáo, nhóm báo cáo thảo luận và cử đại diện trả lời. - GV nhận xét, chốt kiến thức.
powerpoint của nhóm báo cáo.
- Phiếu học [a.1.2],[a.2.3], tập số 2. [a.2.4] -Bài thuyết [d – NL hợp trình, bản tác]; [c.1], powerpoint [c.2] của nhóm báo cáo.
[a.1.3], [a.1.4] [a.1.5], [a.2.4], [d – NL hợp tác], [c.1], [c.2]
[a.1.5], [a.1.2], [a.2.4], [d – NL tự học], [d – NL hợp tác], [c.1], [c.2]
- Phiếu học tập số 3. -Bài thuyết trình, bản powerpoint của nhóm báo cáo.
- Phiếu học tập số 4. -Bài thuyết trình, bản powerpoint của nhóm báo cáo.
26
Hoạt động 2.5. Tìm hiểu các biện pháp bảo vệ môi trường. (45 phút)
Hoạt động 3.1. Tìm hiểu tác hại của việc đốt than trong các hộ gia đình và biện pháp khắc phục. ( 135 phút)
3. Luyện tập
4. Vận dụng, tìm tòi mở rộng
- Tổ chức báo cáo hội thảo, nhóm 5 trình bày. - Thông báo, đàm thoại. - HS đặt câu hỏi cho nhóm báo cáo, nhóm báo cáo thảo luận và cử đại diện trả lời. - GV nhận xét, chốt kiến thức. - Xem video về tác động của việc sử dụng than với môi trường, con người
- Phiếu học tập số 5. [a.3.4], -Bài thuyết [d – NL giao trình, bản tiếp và hợp powerpoint tác]; của nhóm báo cáo.
[a.2.1], -Bài thuyết [a.2.2], trình, sản - GV triển khai nhiệm [a.2.3], phẩm của vụ học tập tới mỗi [d – NL hợp nhóm . nhóm. tác], [c.2] - Các nhóm xác định nhiệm vụ học tập, lập kế hoạch thực hiện - Thăm và tìm hiểu nguyên nhân, đánh giá về tình trạng ô nhiễm [a.3.4], Hoạt động 3.2 môi trường bãi rác [d – NL tự - Phiếu học Luyện tập thành phố nam định học], tập số 6. (ngoại khóa) (thôn Lương Xá, xã [d – NL giao (225 phút) Lộc Hòa) TP và đề tiếp và hợp xuất phương án xây tác],[c.1],[c.2] dựng hệ thống xử lí cũng như hạn chế - GV hướng dẫn HS Hoạt động 4. viết một bài báo tuyên - Phiếu học Vận dụng, tìm truyền về vấn đề bảo [a.3.4], tập số 7. tòi mở rộng vệ môi trường đăng [d – NL tự (ở nhà) trên facebook cá nhân học], hoặc trên trang wed [d – NL giao
27 của nhà trường
tiếp và hợp tác]; [c.1],
- Đánh giá phản hồi 5. Củng Hoạt động 5. của độc giả khi theo cố, nhận Củng cố, nhận xét dõi bài viết tuyên xét, giao về bài học/chủ đề truyền bảo vệ môi NV về (45 phút) trường. nhà - Tổng hợp và cho điểm các nhóm 2.3.2. Tổ chức các hoạt động dạy học cụ thể Giáo án chung cho cả chuyên đề được thiết kế theo giáo án dạy học chủ đề. Tuy nhiên, khi thiết kế mỗi hoạt động học để tổ chức cho học sinh tôi bám sát vào tiến trình soạn giáo án STEM. Cụ thể như sau: Hoạt động 1. Khởi động và giao nhiệm vụ học tập a.Mục tiêu hoạt động: [a.2.1] Đề xuất được vấn đề cần tìm hiểu là tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. b. Thiết bị:video, tranh ảnh về tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. c.Cách thức tổ chức: Hoạt động GV Hoạt động HS -GV cho HS quan sát video, tranh ảnh - Quan sát, nhận thấy tác động của việc sử về tác động của việc sử dụng năng dụng năng lượng hiện nay đối với môi lượng hiện nay đối với môi trường, kinh trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. tế và khí hậu Việt Nam. - GV chia lớp thành 5 nhóm và giao - Mỗi nhóm cử được nhóm trưởng, thư kí, nhiệm vụ học tập cho mỗi nhóm. lập được kế hoạch thực hiện nhiệm vụ - GV hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập được giao. thực hiện nhiệm vụ học tập. - Các nhóm nhận tài liệu học tập. - GV cung cấp biên bản làm việc nhóm, - Nhóm trưởng phân công các nhệm vụ phiếu học tập, phiếu đánh giá hoạt động nhỏ cho các thành viên trong nhóm để nhóm. nghiên cứu tài liệu thực hiện nhiệm vụ - GV hướng dẫn cách trình bày bài báo ( về tìm hiểu them qua nhiều kênh thông cáo thuyết trình, qui định về thời gian tin ti vi, thực tế, mạng …) thực hiện d. Dự kiến sản phẩm: kế hoạch thực hiện nhiệm vụ học tập của mỗi nhóm. e. Đánh giá hoạt động:
28 Đánh giá xác nhận các thành tố năng lực [a.2.1]; [a.2.2], [a.2.2], [d – NL giao tiếp và hợp tác], [c.2] thông qua quan sátkế hoạch và nội dung thực hiện nhiệm vụ học tập của mỗi nhóm. Hoạt động 2. Hình thành kiến thức Hoạt động 2.1. Tìm hiểu sự cần thiết phải bảo vệ môi trường a. Mục tiêu hoạt động: [2.2] Thảo luận, đề xuất, chọn phương án và thực hiện được Nhiệm vụ học tập tìm hiểu: + Sự cần thiết bảo vệ môi trường trong chiến lược phát triển của các quốc gia. + Vai trò của cá nhân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường. b. Thiết bị:phiếu học tập, bài thuyết trình, powerpoint, giấy A0. c. Cách thức tổ chức: GV yêu cầu nhóm 1 tìm hiểu thông tin trong SGK, mạng internet trả lời các câu hỏi trong phiếu học tập số 1. PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 1. Môi trường là gì? Ô nhiễm môi trường là gì? Nêu một số biểu hiện của ô nhiễm môi trường. 2. Tại sao phải bảo vệ môi trường? 3. Nêu vai trò của cá nhân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường. d. Dự kiến sản phẩm:bài thuyết trình, powerpoint về Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường e. Đánh giá hoạt động:Đánh giá xác nhận các thành tố năng lực [a.1.1], [a.2.4], [a.3.4], [d – NL hợp tác], [c.2]dựa vào bài thuyết trình, powerpoint, biên bản làm việc nhóm, bản tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Hoạt động 2.2.Tìm hiểu sơ lược về các chất ô nhiễm trong nhiên liệu hoá thạch, mưa axit, năng lượng hạt nhân, sự suy giảm tầng ozon, sự biến đổi khí hậu. a. Mục tiêu hoạt động [1.2] Trình bày được đặc điểm của các chất ô nhiễm trong nhiên liệu hoá thạch, mưa axit, năng lượng hạt nhân, sự suy giảm tầng ozon, sự biến đổi khí hậu. b. Thiết bị:phiếu học tập, bài thuyết trình, powerpoint, giấy A0. c. Cách thức tổ chức: GV yêu cầu nhóm 2 tìm hiểu thông tin trong SGK, mạng internet trả lời các câu hỏi trong phiếu học tập số 2. PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 1. Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường?
29 2. Trình bày đặc điểm của các chất ô nhiễm trong nhiên liệu hoá thạch, mưa axit, năng lượng hạt nhân, sự suy giảm tầng ozon, sự biến đổi khí hậu. d. Dự kiến sản phẩm: bài thuyết trình, powerpoint về các chất ô nhiễm trong nhiên liệu hoá thạch, mưa axit, năng lượng hạt nhân, sự suy giảm tầng ozon, sự biến đổi khí hậu. e. Đánh giá hoạt động: Đánh giá xác nhận các thành tố năng lực [a.1.2], [a.2.3], [a.2.4], [c – NL hợp tác]; [d.1], [d.2]dựa vào bài thuyết trình, powerpoint, biên bản làm việc nhóm, bản tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Hoạt động 2.3.Tìm hiểu năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo. a. Mục tiêu hoạt động [1.3] Phân loại được năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo. [1.4] Trình bày được vai trò của năng lượng tái tạo. [1.5] Trình bày được một số công nghệ cơ bản để thu được năng lượng tái tạo. b. Thiết bị: phiếu học tập, bài thuyết trình, powerpoint, giấy A0. c. Cách thức tổ chức: GV yêu cầu nhóm 3 tìm hiểu thông tin trong SGK, mạng internet trả lời các câu hỏi trong phiếu học tập số 3. PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3 1. Phân loại năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo. 2. Trình bày vai trò của năng lượng tái tạo. 3. Trình bày một số công nghệ cơ bản để thu được năng lượng tái tạo. d. Dự kiến sản phẩm:bài thuyết trình, powerpoint vềnăng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo. e. Đánh giá hoạt động: Đánh giá xác nhận các thành tố năng lực [a.1.2], [a.1.4], [a.2.4], [c – NL hợp tác], [d.1], [d.2]dựa vào bài thuyết trình, powerpoint, biên bản làm việc nhóm, bản tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Hoạt động 2.4.Tìm hiểu tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. a. Mục tiêu hoạt động: [2.1] Đề xuất được vấn đề cần tìm hiểu là tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. [2.2] Lập kế hoạch tìm hiểu tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. [2.3] Thực hiện kế hoạch tìm hiểu tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam.
30 [2.4] Viết, trình bày báo cáo, thảo luận về tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. b. Thiết bị:phiếu học tập, bài thuyết trình, powerpoint, giấy A0. c. Cách thức tổ chức: GV yêu cầu nhóm 4 tìm hiểu thông tin trong SGK, mạng internet trả lời các câu hỏi trong phiếu học tập số 4. PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4 Nêu tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. d. Dự kiến sản phẩm: bài thuyết trình, powerpoint về tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. e. Đánh giá hoạt động:Đánh giá xác nhận các thành tố năng lực [a.1.4], [a.1.2], [a.2.4], [b – NL tự học], [c – NL hợp tác], [d.1], [d.2] dựa vào bài thuyết trình, powerpoint, biên bản làm việc nhóm, bản tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Hoạt động 2.5:Tìm hiểu các biện pháp bảo vệ môi trường. a Mục tiêu hoạt động: [3.4] Nêu được giải pháp và thực hiện một số biện pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững. b. Thiết bị:phiếu học tập, bài thuyết trình, powerpoint, giấy A0. c. Cách thức tổ chức: GV yêu cầu nhóm 5 tìm hiểu thông tin trong SGK, mạng internet thực hiện các nhiệm vụ trong phiếu học tập số 5. PHIẾU HỌC TẬP SỐ 5 1. Nêu các biện pháp bảo vệ môi trường. 2. Nêu khẩu hiệu bảo vệ môi trường. 3. Làm tờ rơi về bảo vệ môi trường. d. Dự kiến sản phẩm:bài thuyết trình, powerpoint về các biện pháp bảo vệ môi trường. e. Đánh giá hoạt động:Đánh giá xác nhận các thành tố năng lực [a.3.4], [c – NL giao tiếp và hợp tác]; dựa vào bài thuyết trình, powerpoint, biên bản làm việc nhóm, bản tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. 3. Hoạt động 3: Luyện tập, vận dụng: Hoạt động 3.1. Tìm hiểu tác hại của việc đốt than trong các hộ gia đình và biện pháp khắc phục.
31 Hoạt động này tôi đã soạn giáo án chi tiết theo giáo án dạy học STEM dựa trên tình hình thực tế của trường cũng như địa phương và trực tiếp dạy thực nghiệm trên lớp. NỘI DUNG GIÁO ÁN I. Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích - HS sẽ được trực tiếp việc vận dụng các kiến thức về các môn học như sinh học, toán học, vật lí, hóa học, ... để giải quyết một tình huống thực tiễn là : + Nguồn gốc và vai trò của than ( Năng lượng hóa thạch) + Hậu quả của việc sử dụng than đối với con người và môi trường sống + thiết kế phương án sử dụng năng lượng tái tạo để thay thế than trong sinh hoạt gia đình (bếp đun sử dụng củi, trấu hoặc để thay bếp than). 2. Yêu cầu - HS thấy được ý nghĩa và sự gắn kết các kiến thức của các môn học trong nhà trường trong khi giải quyết các vấn đề của thực tiễn. -Đảm bảo tính trải nghiệm của người học trong các giai đoạn: + Tìm hiểu các kiến thức cần thiết về nguồn năng lượng than. + Thiết kế các phương án hạn chế sự ảnh hưởng của than đối với con người và môi trường + Thực hiện phương án chế tạo bếp sử dụng năng lượng tái tạo từ trấu, củi rơm, rạ….để thay thế năng lượng từ than. - Đảm bảo tính tự học, hợp tác trong quá trình giải quyết vấn đề của người học II. Tiến trình dạy học Hoạt động 1: Xác định vấn đề hoặc nhu cầu thực tiễn a. Mục đích hạt động - Học sinh thấy được than là một loại nguyên liệu đang được sử dụng rất phổ biến ở khắp mọi nơi trên thế giới cũng như các gia đình Việt Nam, từ thành thị đến nông thôn dưới nhiều hình thức: bếp than tổ ong, kếp than kíp lê, bếp than cám…với nhiều mục đích: sưởi ấm, nấu, nướng,…Nhưng bộ y tế lại cảnh báo người dân không sử dụng bếp than, đặc biệt ở thành thị và một số tỉnh thành như Hà Nội cũng đã kí quyết định cấm sử dụng bếp than trong gia đình cũng như trên đường phố. Từ đó học sinh phát hiện ra vấn đề cần giải quyết là : + Tại sao than lại được sử dụng rộng rãi trong các hộ gia đình từ thành thị đến nông thôn nhưng bộ y tế lại khuyến khích không sử dụng. + Tìm được nguồn năng lượng tái tạo có sẵn như: trấu, củi, rơm rạ để thay thế
32 được than trong các hộ gia đình. + Hình thành ý tưởng thiết kế chiếc bếp để sử dụng được các nguồn nguyên liệu đó. b. Nội dung hoạt động Cho học sinh xem các hình ảnh về : - Các sản phẩm của than: than cám, than kíp lê, than tổ ong,… - Các hoạt động sử dụng than trong đời sống(nướng, sưởi, đun nấu…) Các khuyến cáo của bộ y tế cungc như của một số tỉnh về việc hạn chế cũng như cấm sử dụng than tổ ong Đặt vấn đề: Tại sao than được sử dụng rộng rãi và có ích cho sinh hoạt con người như vậy mà chúng ta lại phải hạn chế sử dụng và phải lấy nguyên liệu nào để thay thế vai trò của than? Học sinh nhận ra vấn đề là phải tìm hiểu nguồn gốc, ưu nhược điểm của than và phương án thay thế than. c. Dự kiến sản phẩm Học sinh các nhóm đặt ra mục tiêu: cần nghiên cứu về nguồn gốc, nhược điểm khi đốt than cũng như phương án giải quyết vấn đề. d. Cách thức tổ chức hoạt dộng Học sinh hoạt động nhóm để tìm hiểu nguồn gốc, ưu nhược điểm của than và phương án thay thế than. Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền a. Mục đích hoạt động: Học sinh sử dụng kiến thức của các môn sinh học, hóa học, vật lý để tìm hiểu về nguồn gốc của than cũng như ưu điểm và tác hại của than với con người và môi trường. b. Nội dung hoạt động Học sinh phải sử dụng được các kiến thức các môn học để xử lí: + Môn sinh: tìm hiểu quá trình hình thành than, mưa axit sẽ ảnh hưởng thế nào đến nguồn nước và sự phát triển của động thực vật. + Môn Hóa: chỉ ra các phản ứng hóa học khi đốt than, và các khí này có đặc điểm gì, tạo thành axit như nào ? + Môn lý: năng lượng hóa thạch, chỉ ra các chất ô nhiễm trong nhiên liệu than, sự hình thành mưa axit, hiệu ứng nhà kính, + Môn đia lí: Sự suy giảm diện tích rừng, các hiện tượng lũ lụt, hạn hán, băng tan và các hiện tượng thời tiết khí hậu biến đổi. + Môn giáo dục công dân: ý thức của con người khi sử dụng than cũng như nhận thức của họ về tác hại của than.
33 + Toán học: Tính toán được lượng than tiêu thụ của hộ gia đình từ đó suy ra lượng tiêu thụ của trung bình của toàn thế giới và lượng khí thải vào tự nhiên. c. Dự kiến sản phẩm Bài báo cáo của các nhóm học sinh d. Cách thức tổ chức hoạt dộng Học sinh hoạt động theo nhóm để hoàn thành nhiệm vụ đề ra. Hoạt động 3: Đề xuất các giải pháp khả dĩ a. Mục đích hoạt động - Các nhóm đưa ra được các giải pháp để khắc phục những hậu quả của việc sử dụng than - Các nhóm vấn đáp, đặt câu hỏi cho các giải pháp của nhóm bạn, tập trung vào hai nhóm giải pháp chính là: + Tìm một nguồn nhiên liệu tái tạo được và có sẵn trong các gia đình để thay thế than vì than là nguồn năng lượng không thể tái tạo nên sẽ ngày càng cạn kiệt. + Tìm các phương án để xử lí các khí độc do than thải ra môi trường. b. Nội dung hoạt động - Học sinh đưa ra phương án để khắc phục hậu quả của than và giải thích cho các phương án của nhóm mình - Học sinh xây dựng mô hình thiết kế và thuyết trình trước lớp. c. Dự kiến sản phẩm Bài thuyết trình của các nhóm và các sản phẩm mô hình d. Cách thức tổ chức hoạt dộng - Các nhóm thảo luận và đưa ra phương án giải quyết - Giáo viên đặt câu hỏi định hướng cho các nhóm: + Hãy tận dụng nguồn nguyên liệu có sẵn trong các hộ gia đình và dễ tái tạo như: củi, trấu, rơm rạ,…? + Phương án đưa ra phải đơn giản, phù hợp với quy mô sinh hoạt của gia đình và mọi người dễ sử dụng và phải an toàn. Hoạt động 4: Lựa chọn giải pháp tổt nhất a. Mục đích hoạt động Từ các giải pháp của các nhóm, chúng ta lựa chọn ra một giải pháp tốt nhất Học sinh vận dụng kiến thức các mon học vào để giải quyết vấn đề: + Môn Toán: tính toán, thiết kế một bếp củi có kích thước phù hợp với hộ gia đình và mục đích sử dụng + Môn lý: Lựa chọn vật liệu chịu nhiệt nào,độ co dãn như nào, làm sao hạn
34 chế mất nhiệt ra môi trường và an toàn cho người sử dụng,… + Môn hóa: khí thải, chất thải ra gồm những gì?Có tính chất như nào + Môn sinh: Các khí thải và chất thải có ảnh hưởng gì đến môi trường và con người? b. Nội dung hoạt động Các giải pháp đưa ra của các nhóm phải đáp ứng được những câu hỏi sau: + Có an toàn cho con người không + Có hạn chế được tối đa lượng khí độc thải ra môi trường hay không + Tận dụng được các nguồn nguyên liệu có sẵn và dễ tái tạo được không + Điều kiện để các hộ gia đình áp dụng giải pháp c. Dự kiến sản phẩm Một phương án tối ưu nhất từ các giải pháp đã đưa ra d. Cách thức tổ chức hoạt dộng Học sinh hoạt động theo nhóm Từ các gợi ý của giáo viên và ưu nhược điểm của các phương án để thống nhất chọn ra một phương án tối ưu. Hoạt động 5: Chế tạo mẫu thử nghiệm a. Mục đích hoạt động Căn cứ vào phương án đã đươc phê duyệt, học sinh lựa chọn vật liệu để thiết kế mô hình. b. Nội dung hoạt động Học sinh tiến hành làm mô hình Trong quá trình thiết kế, học sinh sẽ được thực hành và nhận ra những kiến thức còn thiếu xót để khắc phục. c. Dự kiến sản phẩm Mô hình mô phỏng hoặc mẫu thử nghiệm sản phẩm bằng các chất liệu, hình thức khác nhau d. Cách thức tổ chức hoạt dộng Các thành viên trong nhóm hoạt động để thiết kế sản phẩm. Hoạt động 6: Thử nghiệm và đánh giá a. Mục đích hoạt động Học sinh các nhóm tiến hành thử nghiệm mô hình của nhóm mình và cả lớptheo dõi để tìm ra các ưu điểm cũng hạn chế của sản phẩm. b. Nội dung hoạt động Từng nhóm lên thử nghiệm sản phẩm của nhóm mình và thuyết trình Các nhóm khác theo dõi và chuẩn bị câu hỏi phản biện c. Dự kiến sản phẩm
35 Bài thuyết trình sản phẩm của các nhóm. Câu hỏi phản biện của các nhóm bạn d. Cách thức tổ chức hoạt dộng Một vài bạn đại diện nhóm lên thử nghiệm và thuyết trình sản phảm của nhóm mình trước cả lớp. Các nhóm còn lại theo dõi và chuẩn bị câu hỏi để phản biện Hoạt động 7: Chia sẻ và thảo luận a. Mục đích hoạt động Tổ chức cho học sinh thảo luận về sản phẩm của các nhóm để tìm ra hạn chế của các sản phẩm. b. Nội dung hoạt động Học sinh các nhóm thảo luận từng sản phẩm dựa trên các tiêu chí: + Có an toàn cho con người không + Có hạn chế được tối đa lượng khí độc thải ra môi trường hay không + Tận dụng được các nguồn nguyên liệu có sẵn và dễ tái tạo được không + Điều kiện để các hộ gia đình áp dụng giải pháp c. Dự kiến sản phẩm Các ưu nhược điểm của sản phẩm của mỗi nhóm. d. Cách thức tổ chức hoạt dộng Các nhóm trưng bày sản phẩm trước lớp và trả lời câu hỏi lớp đưa ra Dưới lớp đặt câu hỏi phản biện cho từng sản phẩm Hoạt động 8: Điều chỉnh thiết kế a. Mục đích hoạt động Bổ sung, điều chỉnh để hoàn thiện thiết kế b. Nội dung hoạt động Các nhóm ghi nhận các hạn chế của sản phẩm, thảo luận đề tìm cách khắc phục c. Dự kiến sản phẩm Bản ghi chép các hạn chế và cách khắc phục của mỗi nhóm. d. Cách thức tổ chức hoạt dộng Học sinh làm việc theo nhóm để tìm hướng khắc phục những hạn chế của sản phẩm. Giáo viên bổ sung và nhận xét giao các nhóm về nhà hoàn thiện sản phẩm. Hoạt động 3.2 :Tổ chức ngoại khóa cho học sinh tìm hiểu bãi rác thành phố Nam Định. a. Mục tiêu hoạt động: [2.4] Viết, trình bày báo cáo về tác động của bãi rác thành phố đối với môi
36 trường xung quanh. [3.4] Nêu được giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thành phố nam đinh và đưa ra mô hình xây dựng lò đốt rác . b. Thiết bị: phiếu học tập, bài báo cáo. c. Cách thức tổ chức: GV tổ chức cho lớp đi tìm hiểu bãi rác thành phố và yêu cầu cá nhân học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập trong phiếu học tập số 6 PHIẾU HỌC TẬP SỐ 6 1. Viết báo cáo về tác động của bãi rác thành phố đối với môi trường xung quanh. 2. Nêu được giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường bãi rác thành phố. 3. Đưa ra phương án, mô hình xây dựng lò đốt rác để xử lí rác nhưng phải không gây ô nhiễm môi trường. d. Dự kiến sản phẩm: bài báo cáo về tác động của bãi rác đối với môi trường xung quanh và giải pháp khắc phục. - Mô hình lò đốt rác thải để xử lí rác nhưng phải bảo vệ môi trường. e. Đánh giá hoạt động: quan sát tinh thần học tập và bài báo cáo, sản phẩm mô hình các nhóm. 4. Hoạt động 4. Tìm tòi, mở rộng, sáng tạo: a. Mục tiêu hoạt động: [2.4] Viết, trình bày báo cáo, thảo luận về tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam. [3.4] Nêu được giải pháp và thực hiện một số biện pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững. b. Thiết bị:phiếu học tập. c. Cách thức tổ chức: GV yêu cầu các nhóm học sinh viết một bài báo tuyên truyền bảo vệ môi trường để đăng trên trang facebook cá nhân hoặc trang web của nhà trường. PHIẾU HỌC TẬP SỐ 7 N1:Em hãy viết một bài báo tuyên truyền bảo vệ môi trường để đăng trên trang facebook cá nhân hoặc trang wed của nhà trường. N2: Nêu các biện pháp bảo vệ môi trường THPT Mỹ Lộc N3: Nêu các biện pháp bảo vệ môi trường nơi các em đang sống N4: Nêu các biện pháp để nâng cao chất lượng môi trường sống d. Dự kiến sản phẩm:bài báo tuyên truyền bảo vệ môi trường để đăng trên trang facebook cá nhân hoặc trang web của nhà trường. e. Đánh giá hoạt động:chất lượng, hình thức của bài báo và kết quả bình
37 luận. 5. Hoạt động 5. Củng cố, nhận xét, giao nhiệm vụ về nhà: a. Mục tiêu hoạt động: đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chủ đề học tập. b. Cách thức tổ chức: Hoạt động GV Hoạt động HS - GV đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện - Rút kinh nghiệm trong quá trình chủ đề học tập. thực hiện học tập chủ đề. - GV đánh giá bài viết tuyên truyền bảo vệ - Củng cố các năng lực thu được sau môi trường và những phản hồi của độc giả khi thực hiện học tập chủ đề. cũng như hiệu ứng tích cực mà các bài viết này mang lại. - GV thông báo điểm học tập chủ đề cho học sinh. III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN MANG LẠI 1. Kết quả đạt được hiện nay so với trước khi áp dụng sáng kiến 1.1. Tiến hành thực nghiệm. Tôi đã thiết kế và tiến hành dạy thực nghiệm chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường cho của học sinh trường THPT Mỹ Lộc trên phần mềm ZOOM , kết hợp ZALO, FACEBOOK cho lớp 10A6 (ban tự nhiên) và lớp 10a7 ( ban xã hội ) trong thời gian các em nghỉ dịch COVID 19 từ ngày 22/3 đến 22/4/2020. Tôi cũng đã thực hiện trên lớp tiết dạy của hoạt động luyện tập củng cố với nội dung: “Tìm hiểu tác hại của việc đốt than trong các hộ gia đình và biện pháp khắc phục” theo phương pháp dạy học STEM trong thời gian các em trở lại trường. 1.2 . Đánh giá thực nghiệm. 1.2.1. Đánh giá định tính Qua quá trình dạy học thực nghiệm đã tiến hành, tôi thấy rằng: HS rất hứng thú với nội dung bảo vệ môi trường, tích cực tự giác học tập, tìm hiểu thêm kiến thức từ các nguồn thông tin bên ngoài, có tinh thần và kĩ năng làm việc nhóm hiệu quả. Các em rất hứng thú xây dựng bài thuyết trình bằng powerpoit và thuyết trình rất tự tin, hiệu quả. Nhận định chung cho rằng - nếu phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học kết hợp tổ chức các hoạt động STEM được áp dụng tốt thì sẽ giúp học sinh có phương pháp tự học hiệu quả không chỉ đối với môn Vật lí mà còn áp dụng được cho tất cả các môn học khác nhằm nâng cao hiệu quả học tập. Trong quá trình tự học
38 tiếp cận kiến thức, học sinh cũng được hình thành và phát triển nhiều năng lực cần thiết khác. 1.2.2. Đánh giá định lượng. Đánh giá định lượng dựa vào kết quả của bài kiểm tra nhanh15 phút chuyên đề “vật lí với giáo dục bảo bệ môi trường” tại lớp 10A6. 10A7 khi các em quay trở lại trường để kiểm nghiệm tính hiệu quả của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh. Ta thu được kết quả sau: Điểm Tỉ lệ Tỉ lệ Lớp trung bình điểm dưới 5 điểm 8-10 10A6 –TN 8,68 0,00% 90,11% 10A7- XH 8,6 0,00% 89,08% Ta thấy,mặc dù học trên ZOOM và các phần mềm hỗ trợ khác gặp nhiều khó khăn vì nghẽn mạng, không quản lý được thái độ học tập cũng như việc ghi chép của các em nhưng kết quả cho thấy dù là học sinh của ban tự nhiên hay ban xã hội thì kết quả thu được cũng chênh lệch không đáng kể và tương đối cao. Chứng tỏ, phương pháp này rất hiệu quả trong việc tiếp thu , khắc sâu kiến thức và tạo sự hứng thú học tập cho học sinh. Thông qua tiết dạy STEM trên lớp, tôi thấy các em đã chủ động vận dụng, khắc sâu kiến thức và bước đầu biết thiết kế một chiếc bếp sử dụng năng lượng tái tạo (có sẵn trong gia đình như củi, lá ) và thân thiện với môi trường. 2. Hiệu quả kinh tế: Không có 3. Hiệu quả về mặt xã hội: Từ các kết quả về mặt định tính và định lượng ở trên chúng ta thấy rằng dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh, dạy học STEM có cơ sở lí luận, cơ sở lí thuyết, cơ sở thực nghiệm khẳng định tính đúng đắn của nó. Nếu phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giảng dạy ở cấp THPT thì sẽ mang lại hiệu quả cao trong quá trình học tập của học sinh. Sáng kiến này một phần giúp học sinh nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực nhận thức, trí thông minh, sáng tạo, phát huy tính tích cực và hình thành phương pháp học tập hiệu quả cho học sinh, đặc biệt là phương pháp tự học, giúp cho học sinh yêu thích môn Vật lí hơn và tự tin, chủ động hơn trong việc lĩnh hội kiến thức. Chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường” được thực hiện trong quá trình các em học online tại nhà, học sinh không được trực tiếp làm việc
39 nhóm cũng như giáo viên không được quan sát, định hướng, hỗ trợ quá trình các em làm việc nhưng kết quả thu được là rất khả quan. Nếu được áp dụng dạy học trực tiếp trên lớp và kết hợp với trải nghiệm thực tiễn ở các nhà máy nhiệt điện hay làng nghề, khu công nghiệp... để các em sẽ có một cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về môi trường cũng như vai trò của mình thì tôi nghĩ hiệu quả thu được sẽ khả quan hơn nhiều. Trong bài báo cáo của các nhóm, các em cũng tích hợp được nhiều kiến thức của các môn học khác như toán, sinh, hóa, địa,....vào để giải quyết vấn đề đưa ra.Tôi thấy, tích hợp liên môn đã được thể hiện rất rõ ràng trong dạy học chủ đề theo định hướng phát triển năng lực của học sinh cũng như dạy học STEM và phương pháp dạy học này sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện hơn. 4. Khả năng áp dụng và nhân rộng Sáng kiến áp dụng trong thực tế dạy học chuyên đề “Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường” theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh ở trường THPT Mỹ Lộc nói riêng và hoàn toàn áp dụng cho các trường THPT khác trong tỉnh Nam Định nói chung có cùng điều kiện. 5. Kết luận và kiến nghị Mục tiêu của giáo dục là phải đào tạo ra những con người có tâm, có tầm nhìn, có kiến thức sâu rộng và biết vận dụng kiến thức trau dồi, tích lũy được vào thực tiễn cuộc sống. Muốn đạt được mục tiêu đó thì việc cần làm đầu tiên chính là đổi mới phương pháp dạy học. Đây không phải là câu chuyện đơn giản, giải quyết trong một sớm một chiều, cần có một lộ trình nhất định, đặc biệt là nỗ lực, ý chí, từ nhiều phía, các cấp quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên đến đối tượng học sinh. Chuyên đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường” là chuyên đề mới nằm trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Trong thời gian nghỉ dịch học online tại nhà, tôi đã mạnh dạn soạn giáo án trước theo định hướng giáo dục STEM cũng như định hướng phát triển phẩm chất năng lực của học sinh và áp dụng dạy học online luôn cho học sinh trên các phầm mềm hỗ trợ , giao cho các em viết bài đăng trên facebook và sau thời gian nghỉ dịch quay lại trường tôi kiểm tra lại kiến thức bằng bài kiểm tra 15 phút (với 20 câu hỏi), đồng thời thực hiện trên lớp tiết dạy của hoạt động luyện tập củng cố với nội dung: “Tìm hiểu tác hại của việc đốt than trong các hộ gia đình và biện pháp khắc phục” theo phương pháp dạy học STEM thì thu được kết quả rất tốt. Trong quá trình dạy, tôi nhận thấy: + Tình huống khởi động đóng vai trò quan trọng, gây được sự tò mò, hứng thú học tập của học sinh khi tiếp cận nội dung mới của bài học.
40 + Phương pháp này phát huy được năng lực sáng tạo, tích cực của học sinh. + Học sinh lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng, gắn kiến thức Vật lí với thực tiễn cuộc sống, nâng cao kết quả học tập. + Tuy nhiên, khi dậy học theo phương pháp mới, người giáo viên phải tốn nhiều thời gian, phải vất vả, tìm tòi, sáng tạo rất nhiều trong khâu thiết kế, soạn bài, chuẩn bị, sử dụng nhiều phương án, tình huống sư phạm, chuyên môn để dẫn dắt, gợi mở học sinh tìm hiểu, suy nghĩ, tư duy... Vì vậy người giáo viên phải có tính kiên trì, quyết tâm rất lớn. Qua quá trình công tác, nhất là sau khi tổ chức dạy học chủ đề “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường, tôi xin có một số đề xuất, kiến nghị sau: *Với Bộ GD&ĐT: tiếp tục điều chỉnh nội dung dạy học, tạo thêm điều kiện cho GV thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu của chương trình. *Đối với Sở GD&ĐT Nam Định: giao toàn quyền cho các trường chủ động xây dựng nội dung, kế hoạch dạy học phù hợp với điều kiện của từng trường, dạy những kiến thức tích hợp, liên môn nào nhằm kiện toàn kiến thức một cách có hệ thống nhưng không trùng lặp, gây áp lực cho cả thầy và trò. *Đối với trường THPT Mỹ Lộc: Cần tạo sự chủ động cho GV, giúp GV ý thức và hiểu hơn tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học.Có kế hoạch học buổi hai hợp lí để học sinh có thời gian tự học và làm việc nhóm hiệu quả. Tổ chức nhiều hơn các buổi hoạt động ngoại khóa cho học sinh về các hoạt động liên quan đến xây dựng và bảo về môi trường, thường xuyên tuyên truyền trên loa trường về hậu quả của ô nhiễm môi trường cũng như ý thức bảo vệ môi trường. Thường xuyên tổ chức các hội thảo chuyên đề, tiết dạy mẫu STEM để giáo viên được học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn cũng như các phương pháp dạy học tích cực.Giám hiệu nhà trường thường xuyên dự giờ, thăm lớp, động viên tinh thần dạy học của thầy và trò. Tổ nhóm chuyên môn cần tăng cường tập huấn về giáo dục STEM, các kĩ thuật dạy học tích cực đặc biệt là kĩ thuật dạy học chủ đề theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh trong các buổi họp tổ. *Đối với giáo viên: Thầy cô phải thay đổi phương pháp dạy học, phải có tư duy đổi mới gắn kiến thức Vật lí với thực tế và thí nghiệm thực hành.Vật lí là một trong những môn học khó trong trường phổ thông, nếu không có bài giảng, phương pháp phù hợp, dễ làm cho học sinh thụ động tiếp thu. Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn
41 cầu thì nhiệm vụ của thầy cô giáo không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà quan trọng hơn là phải dạy cho các em phương pháp tư duy, phương pháp tự học, tự tìm kiếm thông tin, tự giải quyết vấn đề… GV cần chú trọng việc hướng dẫn học sinh tự học các nội dung kiến thức có trong chương trình. Thời gian dư do giảm bớt bài, hoặc giảm bớt nội dung trong từng bài, GV không đưa thêm nội dung khác vào dạy mà dùng để củng cố kiến thức và rèn kĩ năng đã học (trong bài đó hoặc bài trước) cho học sinh hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp, hướng học sinh đến việc rèn luyện các kỹ năng sống, tạo sự thoải mái cho các em đồng thời giúp các em có hứng thú học tập. Muốn làm được điều đó thì ngoài sự nhiệt huyết, chăm chút trong việc soạn giáo án GV còn phải nắm rõ năng lực học tập của từng học sinh, GV không được “cào bằng” tất cả học sinh mà phải biết phân loại học sinh giỏi để khuyến khích các em học nâng cao, học sinh yếu kém để kèm cặp sao cho đạt kiến thức chung. Bên cạnh đó cách thức kiểm tra đánh giá cũng phải thay đổi theo định hướng phát triển năng lực của học sinh. Trong dạy học, để đánh giá phát huy được hiệu quả của nó trong việc điều chỉnh hoạt động dạy học và trong việc xác nhận trình độ của học sinh sau một thời gian học tập thì đánh giá nên có cả hai loại ‘đánh giá quá trình’ và ‘đánh giá kết quả’. Các căn cứ, minh chứng là sản phẩm của các hoạt động học tập của học sinh nên được quy ra điểm số (có thể theo thang điểm 10 hoặc một loại thang điểm khác). Ta gọi điểm đánh giá quá trình, sau khi đã quy theo thang điểm 10, là điểm ĐG 1 và điểm của bài kiểm tra kiến thức, khả năng vận dụng kiến thức gọi là điểm ĐG2. Hai loại điểm thu được có thể gộp chung thành điểm trung bình với hệ số 2 tính cho điểm ĐG 1 hoặc để tách thành 2 loại điểm đánh giá cho việc hoạt động học tập của học sinh. Cần tích hợp kiến thức môi trường trong các bài giảng. Đối với các kiến thức môi trường , nếu gần gũi thiết thực, gắn liền với hoạt động thực tiễn của địa phương thì nên hướngdẫn giúp các em tự đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường. Đối với các kiếnthức môi trường chưa thể áp dụng (không có điều kiện áp dụng) tại địa phương thì giáo viên nên cung cấp thông tin và hình ảnh đầy đủ giúp các em mở rộng hiểu biết của mình. *Đối với học sinh: Học sinh là chủ thể của quá trình tự học.Để tự học đạt hiệu quả thì yếu tố quyết định chính là học sinh. Học sinh cần xác định đúng đắn mục tiêu của quá trình học tập, xuất phát từ sở thích, nhu cầu của bản thân mà hình thành ý thức tự giác học tập. Khi đã có ý thức tự học thì phải thiết lập và thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học, tham khảo ý kiến của cha mẹ, thầy cô, bạn bè để có phương pháp tự học hiệu quả cho bản thân.
42 Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra được từ thực tế qua quá trình giảng dạy môn Vật lí và dạu chuyên đề này. Tuy nhiên vì điều kiện thời gian, cũng như tình hình thực tế nhận thức của học sinh và năng lực cá nhân có hạn nên việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong đồng nghiệp góp ý để tôi tiến bộ hơn nữa trong chuyên môn và chuyên đề nayd được hoàn thiện hơn. IV. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN Tôi xin cam đoan sáng kiến này không sao chép của bất kì ai hoặc vi phạm bản quyền của tác giả nào. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Sở giáo dục và Đào tạo. CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (xác nhận) ..……………………………………… (Kí tên, đóng dấu)
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN (Ký tên)
43 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ GD&ĐT (2017). Tài liệu tập huấn phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn học sinh tự học môn vật lý (dành cho cán bộ quản lí, giáo viên trung học phổ thông) 2. . Bộ GD&ĐT (2018) . Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018. 3. Tiến sĩ Vũ Đình Chuẩn. Trao đổi một số vấn đề chung về chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 ( dành cho cán bộ quản lý đi tập huấn tại thành phố vinh ngày 13 tháng 8 năm 2019). 4. Bộ GD&ĐT (2018) . Chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật Lí 5. Google.com.vn. 6. Tài liệu hội thảo giáo dục STEM trong trường trung học của bộ giáo dục.
44 PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1 PHIẾU KHẢO SÁT NĂNG LỰC TỰ HỌC MÔN VẬT LÍ Khảo sát mức độ yêu thích môn Vật lí Câu 1: Em có thích học môn Vật lí không? Vì sao? A. Rất thích. Vì…………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… B. Thích. Vì…………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… C. Không thích. Vì…………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… Khảo sát mức độ tự học môn Vật lí Câu 2: Em có thường xuyên tự học môn Vật lí không? A. Thường xuyên. B. Thỉnh thoảng. C. Không tự học. Khảo sát các hình thức tự học môn Vật lí Câu 3: Em tự học Vật lí theo hình thức nào? A. Tự học cá nhân có hướng dẫn của thầy cô. B. Tự học theo nhóm có hướng dẫn của thầy cô. C. Tự học cá nhân không có hướng dẫn của thầy cô. D. Tự học theo nhóm không có hướng dẫn của thầy cô.
45 PHỤ LỤC 2 PHIẾU ĐIỀU TRA HIỂU BIẾT HỌC SINH VỀ MÔI TRƯỜNG Họ và tên……………………………………………….Lớp…………….. Câu 1: Theo bạn môi trường có quan trọng không? Không quan trọng Ít quan trọng Quan trọng Rất quan trọng Không quan tâm Câu 2: Theo bạn có cần thiết phải bảo vệ môi trường không? Có Không Không quan tâm Câu 3:Theo bạn có những nguyên nhân nào gây ô nhiễm môi trường? Giao thông Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Sinh hoạt của người dân Chăn nuôi Ý thức của người dân kém Do quản lý của cơ quan chức năng kém Câu 4: Bạn có biết hoạt động bảo vệ môi trường đang diễn ra ở địa phương, trường học không? Không biết Không quan tâm Biết Kể tên các hoạt động mà bạn biết: …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… Câu 5: Bạn biết được các vấn đề môi trường thông qua các phương tiện nào? Các phương tiện truyền thông: đài, tivi, mạng, báo….. Các cơ quan quản lí môi trường xã, huyện… Dư luận người dân Câu 6: Bạn đã có hoạt động gì để bảo vệ môi trường chưa? Kể tên (nếu có) …………………………………………………………………………………… Câu 7: Theo bạn để môi trường tốt hơn thì ai là người thực hiện: Người dân
46 Cơ quan quản lí môi trường Bâu 8: Có thể cho biết vấn đề môi trường ở khu vực bạn quan tâm hiện nay: Không khí ô nhiễm, bụi, mùi hôi Tiếng ồn Ô nhiễm nước ở kênh rạch, sông hồ Rác thải Bạn cho biết nguyên nhân: Câu 9: Bạn có giải pháp gì để bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… ……………………..…………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… Câu 10: Theo bạn vấn đề môi trường có liên quan đến lĩnh vực vật lí không? Có Không
47 PHỤ LỤC 3 PHIẾU ĐÁNH GIÁ BÀI TRÌNH BÀY ĐA PHƯƠNG TIỆN (điểm tối đa: 100, sau đó quy đổi ra thang điểm 10) Tên nhóm:………………
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ Nội dung
Hình thức Nói
ĐIỂM TỐI ĐA
Hoàn thành tất cả các phần của nhiệm vụ
20
Nội dung đã trả lời toàn bộ câu hỏi định hướng
20
Trang trí cho powerpoint phù hợp với nội dung
15
Có hình ảnh minh họa và video kèm theo.
10
Thực tập trước khi nói.
5
Nói rõ và dễ hiểu
5
Trình bày tự tin
5
Dùng từ chính xác
5
Giải thích ý nghĩa hình vẽ
5
Trả lời các câu hỏi
5
Đúng yêu cầu về hình thức trình bày
5
Tổng
100
ĐIỂM CỦA GV
ĐIỂM CỦA HỌC SINH
NHẬN XÉT
48 PHỤ LỤC 4 Bảng tự chấm điểm của học sinh khi hoạt động nhóm
Tiêu chí
Họ và tên
Sự nhiệt tình tham gia công việc
Đưa ra ý kiến Tạo môi trường và ý tưởng mới hợp tác, thân để thực hiện thiện nhiệm vụ
Tổ chức và hướng dẫn cả nhóm
Hoàn thành nhiệm vụ hiệu quả
Tổng điểm
49 PHỤ LỤC 5 PHIẾU ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM NHÓM (Điểm tối đa: 100, sau đó quy đổi ra thang điểm 10) Tên nhóm:…………………………..……………………. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
Nội dung
Hình thức
ĐIỂM TỐI ĐA
Nội dung đầy đủ
20
Phù hợp với mục tiêu
20
Có sự sáng tạo
10
Trình bày đẹp
10
Hình ảnh minh họa phù hợp
10
Sáng tạo Có logic Cuốn hút Tổng
10 10 10 100
ĐIỂM CỦA GV
NHẬN XÉT
50 PHỤ LỤC 6 BÀI KIỂM TRA 15 PHÚT ( chuyên đề vật lý với giáo dục bảo vệ môi trường) Câu 1: Trong một số nhà máy, người ta thường xây dựng những ống khói cao vì: A. Ống khói cao có tác dụng tạo ra sự truyền nhiệt tốt. B. Ống khói cao có tác dụng tạo ra sự bức xạ nhiệt tốt. C. Ống khói cao có tác dụng tạo ra sự đối lưu tốt. D. Ống khói cao có tác dụng tạo ra sự dẫn nhiệt tốt. Câu 2: Trong các sự truyền nhiệt dưới đây, sự truyền nhiệt nào không phải là bức xạ nhiệt? A. Sự truyền nhiệt từ mặt trời tới Trái Đất. B. Sự truyền nhiệt từ bếp lò tới người đứng gần bếp lò. C. Sự truyền nhiệt từ đầu bị nóng sang đầu lạnh của một thanh đồng. D. Sự truyền nhiệt từ dây tóc bóng đèn điện đang sáng ra khoảng không gian bên trong bóng đèn. Câu 3: Hậu quả của việc phá rừng: A. Gây ra lũ lụt, xói mòn đất đai. B.Tăng nhiệt độ trái đất, gây hiệu ứng nhà kính. C. Giảm lượng nước ngầm trên trái đất. D. Cả 3 đáp án trên. Câu 4: Các hoạt động khai thác và vận chuyển dầu có thể làm rò rỉ dầu lửa. Lớp dầu này ngăn cản việc hòa tan Oxi vào nước vì vậy nhiều sinh vật không lấy được Oxi sẽ bị chết. Nguyên nhân nào dẫn đến dầu nổi trên mặt nước? A. Do dầu không hòa tan trong nước. B. Do khối lượng riêng của dầu nhỏ hơn khối lượng riêng của nước. C. Do dầu không hòa tan trong nước và khối lượng riêng của dầu lớn hơn khối lượng riêng của nước. D. Do dầu không hòa tan trong nước và khối lượng riêng của dầu nhỏ hơn khối lượng riêng của nước. Câu 5: Sử dụng chất nổ để đánh cá sẽ gây ra một áp suất rất lớn. Dưới tác dụng của áp suất này, hầu hết các sinh vật bị chết. Việc đánh bắt cá bằng chất nổ gây ra tác dụng hủy diệt sinh vật, ô nhiễm môi trường sinh thái. Chúng ta không nên làm gì? A. Không sử dụng chất nổ để đánh bắt cá. B. Sử dụng chất nổ để đánh bắt cá dưới suối khi có người lớn đi cùng. C. Tuyên truyền người dân không sử dụng chất nổ để đánh bắt cá.
51 D. Khi phát hiện có người sử dụng chất nổ để đánh bắt cá, kịp thời báo với người lớn và chính quyền địa phương. Câu 6: Tác dụng của rừng đối với đời sống con người? Chọn đáp án đúng nhất: A. Giảm sự thoát hơi nước để giữ độ ẩm cho đất. B. Rừng là lá phổi xanh, điều hoà khí hậu. C. Rễ cây rừng bám vào đất, giữ đất không bị xói mòn rửa trôi đất. D. Cả 3 đáp án trên. Câu 7: Việc sử dụng chất nổ trong khai thác đá có thể dẫn đến hậu quả nào sau đây: A. Làm đổ vỡ các công trình xây dựng, giao thông lân cận. B. Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người. C. Có thể xảy ra những tai nạn lao động đáng tiếc cho công nhân. D. Cả A, B, C đều đúng. Câu 9: Tác dụng của độ ẩm không khí đối với con người và sinh vật: A. Giúp điều hoà khí hậu. B. Chống xói mòn đất. C. Tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh vật sinh sôi và phát triển. D. Cung cấp ô xi cho trái đất. Câu 10: Chỗ có nhiều giun đất, cây cối phát triển tốt là vì: A. Cây hút được nước rễ hơn. B. Cây dễ bám vào lòng đất hơn. C. Cây lấy được nhiều ô xi từ lòng đất. D. Cả ba đáp án trên. Câu 11: Trong các biện pháp dưới đây, biện pháp nào giúp ta bảo vệ rừng: A. Tham gia các phong trào trồng cây xanh. B. Có ý thức bảo vệ rừng. C. Tuyên truyền cho mọi người biết về tác dụng của cây xanh nói chung và của rừng nói chung tới cuộc sống của con người. D. Cả ba đáp án trên. Câu 12: Hậu quả của “hiệu ứng nhà kính”: A. Băng tan ở hai cực làm nước biển dâng lên. B. Nguy cơ tuyệt chủng của một số loài động thực vật chỉ quen sống trong băng giá. C. Nhiệt độ mỗi năm tăng thêm 0,1-0,20C làm các nước châu Phi thiếu nước ngọt trầm trọng. D. Cả 3 đáp án trên.
52 Câu 13: Rễ cây, thân cây lại hút được nước giúp cây sinh trưởng vàphát triển nhờ vào hiện tượng A. mao dẫn. C. dính ướt. B. căng bề mặt chất lỏng. D. cả ba hiện tượng trên. Câu 14: Khi trồng những cây lâu năm tại sao người ta hay trồng xen những cây thấp trên mặt nước? A.Tăng gia sản xuất B. phủ xanh mặt đất, chống xói mòn. C. giữ độ ẩm cho mặt đất, hạn chế sự bay hơi nước. D. Cả ba phương án trên Câu 15: Nhiệt truyền từ mặt trời qua các cửa kính làm nóng không khí trong nhà và các vật trong phòng nhờ hình thức truyền nhiệt nào? A. Bức xạ nhiệt. C. Dẫn nhiệt B. Đối lưu. D. Cách nhiệt Câu 16. Trong quá trình lưu thông, các phương tiện giao thông đường bộ gây ô nhiễm môi trường do A. làm phát sinh các bụi cao su, bụi khí và bụi kim loại. B. tạo ma sát làm nóng mặt đường C. tạo ra tiếng ồn. D. làm phát sinh các bụi cao su, bụi khí và bụi kim loại và tạo ra tiếng ồn. Câu 17: Đâu không phải năng lượng hóa thạch: A. Dầu mỏ. C.Gỗ. B. Khí thiên nhiên. D. Than đá. Câu 18: Việc làm nào của con người là nguyên nhân chính làm trái đất nóng lên. A. Chặt phá rừng. B. Dùng nhiên liệu hóa thạch tạo ra năng lượng. C.Xả rác bừa bãi. D. Cả ba nguyên nhân trên. Câu 19: Đâu không phải là nguồn năng lượng tái tạo A. Năng lượng gió. C. Năng lượng mặt trời. B. Năng lượng hạt nhân D. Năng lượng thủy triều Câu 20: Đâu là nhược điểm của việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch: A.Tăng lượng khí thải cacbon, ảnh hưởng xấu đến sức khở con người. B. Là nguồn năng lượng rẻ tiền và có sẵn. C. Năng lượng phát ra từ nhiên liệu hóa thạch rất lớn. D.Thời gian khai thác nhanh, dễ sử dụng.
53 MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG CÔ VÀ TRÒ
54
55
56 Học sinh thuyết trình
57
58 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TIẾT DẠY
59
60
61
62 Bài bài báo tuyên truyền môi trường đăng trên trang facebook cá nhân của Học sinh( ảnh chụp trên facebook)
63
64
65
66
67
68 MỤC LỤC Trang I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến 2 II. Mô tả giải pháp 3 Chương I: Cơ sở lí luận 6 1. Dạy học vật lí theo định hướng phát triển năng lực tự học 6 của học sinh THPT 2. Dạy học STEM 15 3. Thực trạng năng lực tự học Vật lý của học sinh THPT 19 Mỹ Lộc 4. Thực trạng hiểu biết về môi trường của học sinh THPT 21 Mỹ Lộc Chương II: Nội dung giải pháp 23 1. Vị trí, vai trò và yêu cầu cần đạt của chuyên đề “Vật lí 23 với giáo dục bảo vệ môi trường” 1.1. Vị trí, vai trò 23 1.2 Yêu cầu cần đạt 28 2. Thiết kế xây dựng chủ đề dạy học chuyên đề “Vật lí với 29 giáo dục về bảo vệ môi trường” theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh III. Hiệu quả do sáng kiến mang lại 38 1. Kết quả đạt được sau khi áp dụng sáng kiến 38 2. Hiệu quả về mặt kinh tế 39 3. Hiệu quả về mặt xã hội 39 4.Khả năng áp dụng và nhân rộng 39 5. Kết luận chung 40 IV. Cam kết không sao chép và vi phạm bản quyền 42 PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
69