DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
NỘI DUNG
1. Tại sao phải dạy học tích hợp liên môn? 2.
Chúng ta đã từng dạy học tích hợp liên môn?
3. Chủ đề tích hợp liên môn
1.TẠI SAO PHẢI DẠY TÍCH HỢP LIÊN MÔN?
- Ngày xưa không có môn học hay có đa môn
- Sự thay đổi quan niệm về mục tiêu bài học
- Nhận thức lại bài học thay vì bài dạy
2. CHÚNG TA ĐÃ TỪNG DẠY TÍCH HỢP LIÊN MÔN?
Dạy học tích hợp là xu hướng chung của thế giới Một nghiên cứu về khảo sát chương trình khoảng 20 nước của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cho thấy 100% các nước đều xây dựng chương trình theo hướng tích hợp. Tiêu biểu như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Úc, Pháp, Anh, Hoa Kì, Canada, Philippines…
Tích hợp nội môn phạm vi hẹp ở THPT
Tích hợp nội môn ở phạm vừa ở THCS
Tích hợp đã có trong các phân môn: -Cơ học, Điện, Nhiệt học và Quang học trong môn Vật lý; - Tiếng Việt, Văn học và Tập làm văn trong môn Ngữ Văn...
Tích hợp đa môn ở bậc tiểu học
Tích hợp trong phạm vi rộng ở bậc tiểu học
3. CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN Các mức độ tích hợp trong dạy học KHTN - Lồng ghép: Đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, với xã hội, với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một môn học. Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ. - Vận dụng kiến thức liên môn: Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người học cần đến các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra. Các chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề hội tụ - Hòa trộn: Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp. Ở mức độ này, tiến trình dạy học là tiến trình “không môn học”
CHỦ ĐỀ CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT TRONG CƠ THỂ ĐỘNG VẬT
NỘI DUNG TÍCH HỢP Môn Hóa học: Nguyên tử: là phần tử nhỏ nhất của vật chất, không thể chia nhỏ hơn trong các quá trình hóa học Phân tử: Phân tử được tạo nên từ 2 hay nhiều nguyên tử liên kết với nhau. Mỗi phân tử có tên gọi và một công thức hóa học. Phân tử đơn chất chỉ chưa 1 loại nguyên tử. Ví dụ: O2, H2 Phân tử hợp chất chứa 2 hoặc nhiều loại nguyên tử liên kết với nhau. Ví dụ: H2O, CO2, CaCO3, H2SO4 Hợp chất hữu cơ: (C2H5OH, CH3COOH, C12H22O11…) Hợp chất vô cơ: (HCl, NaCl, HNO3, H2S…)
Môn Vật lý: Trạng thái vật chất là những hình thức khác nhau của pha của vật chất. Vật chất tồn tại ở 4 trạng thái Chất rắn có đặc điểm bởi tính chất phản kháng lại sự thay đổi hình dạng. Chất lỏng là một chất lưu mà các phân tử cấu tạo nên nó có liên kết không chặt so với liên kết rắn và có hình dạng phụ thuộc vào vật chứa nó. Chất khí là tập hợp các nguyên tử hay phân tử hay các hạt nói chung trong đó các hạt có thể tự do chuyển động trong không gian.
Trạng thái rắn
Trạng thái lỏng
Có hình dạng cố định
Có hình dạng của vật chứa Có hình dạng của vật chứa
Có thể đặt cố định ở một vị trí
Trạng thái khí
nó
nó
Có thể đổ ra được
Lan tỏa một cách nhanh chóng
Rất khó để xuyên qua
Khá dễ dàng xuyên qua
Rất dễ dàng xuyên qua
Rất khó nén
Khó nén
Dễ nén
Môn: Sinh học Sự vận chuyển vật chất trong Hệ tiêu hóa + Tiêu hóa nội bào: Chất dinh dưỡng → không bào tiêu hóa → tế bào chất (phần thức ăn không được tiêu hóa sẽ ra khỏi tế bào bằng cách xuất bào) + Túi tiêu hóa: Thức ăn → miệng → túi tiêu hóa → miệng → Chất thải + Ống tiêu hóa: Thức ăn → miệng → thực quản → dạ dày → ruột non → ruột già → hậu môn → phân
Sự vận chuyển vật chất trong Hệ tiêu hóa
Sự vận chuyển vật chất trong Hệ hô hấp + Vận chuyển qua bề mặt cơ thể: Không khí ↔ bề mặt da ↔ cơ thể + Vận chuyển qua hệ thống ống khí: Không khí ↔ lỗ thở ↔ ống khí + Vận chuyển qua mang: Không khí → miệng → mang → không khí + Vận chuyển qua ống dẫn khí vào phổi Không khí ↔ khoang mũi ↔ hầu ↔ khí quản ↔ phế quản ↔ phổi
Sự vận chuyển vật chất trong Hệ hô hấp
Sự vận chuyển vật chất trong Hệ tuần hoàn Sản phẩm của quá trình biến đổi vật chất ở các hệ tiêu hóa và hô hấp được vận chuyển bằng con đường máu đến các tế bào như sau: + Hệ tuần hoàn hở: Tim → động mạch →khoang cơ thể → tim + Hệ tuần hoàn kín: Tim →động mạch →mao mạch →tĩnh mạch →tim
Sự vận chuyển vật chất trong Hệ tuần hoàn
Sự biến đổi vật chất trong Hệ tiêu hóa Biến đổi cơ học (lí học) + Ở động vật chưa có cơ quan tiêu hóa: thức ăn được biến đổi cơ học nhờ không bào tiêu hóa di chuyển trong tế bào chất + Ở đông vật có túi tiêu hóa: Thức ăn được biến đổi cơ học nhờ sự co bóp trong túi tiêu hóa + Ở động vật có ống tiêu hóa: Thức ăn được biến đổi cơ học nhờ sự hoạt động co bóp ở các bộ phận của ống tiêu hóa
Biến đổi hóa học + Ở động vật chưa có cơ quan tiêu hóa: Thức ăn được biến đổi hóa học nhờ enzyme từ lizoxom thủy phân + Ở đông vật có túi tiêu hóa: Thức ăn được biến đổi hóa học nhờ enzyme thủy phân chất dinh dưỡng phức tạp thành chất đơn giản trong lòng túi tiêu hóa + Ở động vật có ống tiêu hóa: Thức ăn được biến đổi hóa học nhờ sự hoạt động của hệ thống enzyme đặc trưng với mỗi loại phân tử thức ăn biến những chất phức tạp thành đơn giản trong ống tiêu hóa Những chất hữu cơ đơn giản sẽ được hấp thu vào máu đi đến tế bào tại đó sảy ra quá trình tiêu hóa nội bào. Những chất không tiêu hóa được trong ống tiêu hóa sẽ thành phân và được di chuyển ra ngoài
Biến đổi sinh học Ở nhiều động vật có cơ quan tiêu hóa chuyên biệt còn có thêm sự biến đổi các chất có trong thức ăn nhờ vi sinh vật. Ví dụ: thú ăn thực vật nhờ vi sinh vật phá vỡ thành tế bào và tiết ra enzyme tiêu hóa xenlulozo
Sự biến đổi vật chất trong hệ hô hấp
Quá trình biến đổi chất khí được thực hiện nhờ hệ hô hấp, kết quả của quá trình biến đổi này thể hiện sự thay đổi trong trong thành phần chất khí khi hít vào và thở ra. Loại khí
Không khí hít vào
Không khí thở ra
O2
20,96%
16,40%
CO2
0,03%
4,10%
N2
79,01%
79,50%
- Ý nghĩa Sinh học của sự chuyển hóa vật chất: Động vật là sinh vật dị dưỡng chỉ có thể tồn tại và phát triển được nhờ chuyển hóa vật chất trong cơ thể. Quá trình chuyển hóa vật chất bao gồm các giai đoạn cơ bản là: vận chuyển và biến đổi vật chất trong cơ thể. Tùy theo bản chất hóa học của các loại vật chất khác nhau mà chúng sẽ được vận chuyển bằng các cơ chế vật lí tương ứng. Sự chuyển hóa vật chất có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của cơ thể động vật.
Thứ nhất: các kiến thức trong mỗi nội dung hoặc mỗi chủ đề liên môn, tích hợp cần hấp dẫn đối với học sinh từ đó tạo sự đam mê khi học sinh giải quyết các tình huống thực tiễn, qua đó việc ghi nhớ kiến thức không còn máy móc mà là một sự đương nhiên của qui trình tư duy.
Thứ 2: các chủ đề tích hợp, liên môn cần được bố cục logic về nội dung và hợp lí về trình tự giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau.
Thứ 3 : trong quá trình dạy học bộ môn, mỗi giáo viên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy cần có sự am hiểu về những kiến thức liên môn liên quan và các kiến thức tổng hợp.
Thứ 4: giáo viên là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học. Giáo viên các bộ môn liên quan chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ lãn nhau trong dạy học
ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN DẠY THLM
ĐÀO TẠO ĐẠI CƯƠNG THEO TỪNG NHÓM MÔN KHOA HỌC Ở BẬC ĐẠI HỌC Theo định hướng “Liberal Art Education” đối với sinh viên sư phạm ở năm 2.
Đào tạo bồi dưỡng giáo viên về tích hợp, phương pháp dạy học theo dự án và nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dung
Đưa nội dung chủ đề tích hợp liên môn là chủ đề tự chọn bắt buộc vào chương trình đào tạo giáo viên ở các trường ĐHSP và ĐHGD
Kết luận Dạy học tích hợp liên môn tiếp cận theo 1 hướng mới, đó là thông qua việc tích hợp liên môn giúp cho người học giải quyết các vấn đề trong cuộc sống dựa trên cơ sở kiến thức của nhiều môn học liên quan. Để dạy học tích hợp liên môn có hiệu quả cần hiểu rõ bản chất của liên môn và tích hợp, những điều kiện cần và đủ, những yếu tố liên quan đến quá trình tương tác giữa các môn học cũng như tính độc lập tương đối của chúng trong một chỉnh thể thống nhất. Bản chất của việc dạy học là việc người thế hệ trước giúp người thế hệ sau những hiểu biết về không gian sinh tồn của mính để thế hệ sau ngày càng thích ứng cao hơn với môi trường sống, và tích hợp liên môn là một trong những phương pháp giúp cho quá trình này trở nên hiệu quả hơn.
Trân trọng cảm ơn !