TẠP CHÍ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG S Ố 01/2 0 19
GIẤY PHÉP LAO ĐỘNG ĐIỂM MẤU CHỐT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
©2019 LE & TRAN. All rights reserved. We accept no liability for contents and information and printing/producing errors. Attorney Advertising.
Ban BiĂŞn táşp
Mr. Stephen Le Hoang Chuong Managing Partner hoangchuong.le@letranlaw.com
Ms. Hannah Huynh Thi My Hanh Senior Associate myhanh.huynh@letranlaw.com
Mr. Chad L. Meek Affiliate Counsel chadmeek@letranlaw.com
Nội dung
Quan điểm pháp lý
04
Bình luận án
07
Hỏi & đáp về lao động: Thời gian thử việc
10
Cập nhật pháp luật lao động từ 25/10
11
đến 24/12/2018
Quan điểm pháp lý
Hợp đồng lao động vô hiệu khi người lao động nước ngoài không có giấy phép lao động và hệ quả pháp lý
4
Điều 50, Bộ luật Lao động 2012 quy định
ông Tae Man Song và Công ty Huyn-
các trường hợp hợp đồng lao động vô
dai Vinashin là một ví dụ điển hình cho
hiệu (ví dụ như: toàn bộ nội dung của
việc Tòa án xác định hợp đồng lao động
hợp đồng lao động trái pháp luật, hoặc
vô hiệu do người lao động không có
người ký kết hợp đồng lao động không
giấy phép lao động. Cụ thể, ông Tae
đúng thẩm quyền, hoặc công việc mà
Man Song (quốc tịch Hàn Quốc) được
hai bên đã giao kết trong hợp đồng lao
tuyển dụng vào làm Thuyền trưởng
động là công việc bị pháp luật cấm,
tại Công ty Hyundai Vinashin từ ngày
v.v.) nhưng lại không có quy định nói rõ
11/3/1999 đến ngày 10/3/2005 theo
trường hợp hợp đồng lao động ký kết
nhiều hợp đồng lao động có thời hạn
với người lao động nước ngoài chưa
01 năm, nhưng ông Tae Man Song chỉ
có giấy phép lao động có bị vô hiệu hay
có giấy phép lao động với thời hạn từ
không, và nếu có thì rơi vào trường hợp
ngày 11/3/2001 đến ngày 10/3/2002.
nào tại Điều 50, Bộ luật Lao động 2012.
Khi hai bên xảy ra tranh chấp, ông Tae
Tuy nhiên, Điều 171.2, Bộ luật Lao động
Man Song đang thực hiện hợp đồng lao
2012 quy định nếu không có giấy phép
động thứ 6 ký ngày 11/3/2004 đến ngày
lao động thì người lao động nước ngoài
10/3/2005. Tòa án ở cả ba cấp xét xử là
sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam.
sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm
Do vậy, sẽ bất hợp lý nếu cho rằng hợp
đều nhất trí xem hợp đồng lao động ký
đồng lao động vẫn có hiệu lực trong khi
ngày 11/3/2004 đến ngày 10/3/2005
người lao động nước ngoài bị trục xuất.
là vô hiệu toàn bộ do vi phạm quy định pháp luật về giấy phép lao động. (Xem
Trên thực tế, Quyết định Giám đốc thẩm
nội dung chi tiết Quyết định Giám đốc
12/2006/LĐ-GĐT ngày 04/7/2006 của
thẩm 12/2006/LĐ-GĐT tại ĐÂY)
Hội đồng Thẩm phán Toà án Nhân dân Tối cao liên quan đến tranh chấp giữa
Về nguyên tắc chung, khi một hợp đồng
lại trường hợp của ông Tae Man Song,
vô hiệu toàn bộ, hợp đồng đó sẽ không
do ông Tae Man Song không thực hiện
có giá trị pháp lý, không làm phát sinh,
nhiệm vụ được giao và rời khỏi nơi làm
thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của
việc, Công ty Hyundai Vinashin cho rằng
các bên kể từ thời điểm được ký kết,
ông Tae Man Song tự ý bỏ việc nên ra
các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu,
thông báo huỷ bỏ hợp đồng lao động đối
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tuy
với ông Tae Man Song vì lý do ông Tae
nhiên, do đặc thù của quan hệ lao động
Man Song vi phạm cam kết trong hợp
là “mua bán” sức lao động, nên việc xử
đồng lao động (nội dung của hợp đồng
lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ
lao động cho phép Công ty Hyundai Vi-
sẽ khó hoặc không thể áp dụng nguyên
nashin có quyền chấm dứt hợp đồng lao
tắc chung như trên (khó hoặc không thể
động đối với ông Tae Man Song nếu ông
“khôi phục lại tình trạng ban đầu”). Quay
Tae Man Song “không tuân theo điều
động” của Công ty Hyundai Vinashin).
Trong thời hạn 03 ngày làm việc,
Sau đó, ông Tae Man Song khởi kiện
kể từ ngày nhận được quyết định
Công ty về việc đơn phương chấm dứt
tuyên bố hợp đồng lao động vô
hợp đồng lao động trái pháp luật. Hội
hiệu toàn bộ do công việc mà hai
đồng Thẩm phán Toà án Nhân dân Tối
bên đã giao kết trong hợp đồng lao
cao đã nhận định rằng: “[…] việc Toà án
động là công việc bị pháp luật cấm,
cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định hợp
người sử dụng lao động và người
đồng lao động đã ký giữa Công ty Hyun-
lao động có trách nhiệm giao kết
dai Vinashin với ông Tae Man Song, từ ngày 11/3/2004 đến ngày 10/3/2005 là
hợp đồng lao động mới theo quy định của pháp luật về lao động.
hợp đồng lao động vô hiệu, là có căn cứ pháp luật. Song Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lại cho rằng Công ty Hyundai Vinashin đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông Tae Man Song, nên buộc Công ty Hyundai Vinashin phải bồi thường cho ông Tae Man Song tiền lương trong những ngày không được làm việc, kể từ khi chấm dứt hợp đồng cho đến khi hết hạn hợp đồng lao động, cộng với hai tháng tiền lương theo khoản 1
Trường hợp không giao kết được
hợp đồng lao động mới thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả cho
người lao động một khoản tiền do
hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất cứ
mỗi năm làm việc bằng một tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố tại thời điểm có quyết định
tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Điều 41 Bộ luật lao động là không đúng
Như vậy, trên nguyên tắc bảo vệ người
pháp luật. Do hợp đồng lao động giữa
lao động và khuyến khích những thỏa
các bên bị vô hiệu, […] thì ông Tae Man
thuận có lợi hơn cho người lao động so
Song chỉ được hưởng các quyền lợi
với quy định của pháp luật, pháp luật lao
của người lao động do các bên đã thoả
động quy định theo hướng khắc phục vi
thuận trong hợp đồng tính đến ngày ông
phạm, tiếp tục duy trì quan hệ lao động
Tae Man Song bỏ việc chứ không phải
để bảo vệ việc làm, tiền lương cho người
đến khi hết thời hạn hợp đồng.” Như
lao động; trường hợp không thể giải
vậy, khi hợp đồng lao động bị vô hiệu
quyết được theo hướng này thì ít nhất
do không có giấy phép lao động không
cũng giải quyết quyền lợi cho người lao
có nghĩa là người sử dụng lao động
động tính đến thời điểm tuyên bố hợp
không phải trả tiền cho người lao động
đồng lao động vô hiệu. Đáng lưu ý là
cho các công việc đã thực hiện. Nhưng
mức bồi thường của người sử dụng lao
nếu các bên có tranh chấp về việc một
động trong trường hợp hợp đồng lao
bên đơn phương chấm dứt hợp đồng
động vô hiệu sẽ thấp hơn rất nhiều lần
lao động trái pháp luật thì sẽ không xử lý
so với trường hợp bị cho là đơn phương
theo hướng đơn phương chấm dứt hợp
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp
đồng lao động trái pháp luật.
luật nếu hợp đồng lao động được ký kết hợp lệ (tức là người lao động nước
Điều 11, Nghị định 44/2013/NĐ-CP quy định cách giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ như sau: Hợp đồng lao động có toàn bộ nội dung của hợp đồng trái pháp luật bị hủy bỏ khi có quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
ngoài có giấy phép lao động).
Xác định thời hạn hợp đồng lao động và giới hạn trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Trong trường hợp người lao động nước
lao động không xác định thời hạn. Do
ngoài đã được cấp giấy phép lao động
đó, có rất nhiều trường hợp doanh ng-
thì doanh nghiệp lại nhầm lẫn về thời
hiệp và người lao động nước ngoài ký
hạn của hợp đồng lao động ký kết với
kết hợp đồng lao động không xác định
người lao động nước ngoài. Hầu hết
thời hạn. Tuy nhiên, nguyên tắc chuyển
các doanh nghiệp đều áp dụng chung
hóa hợp đồng lao động trên không áp
nguyên tắc chuyển hóa loại hợp đồng
dụng cho người lao động nước ngoài,
lao động quy định tại Điều 22.2, Bộ luật
và việc ký kết hợp đồng lao động không
Lao động 2012 cho cả người lao động
xác định thời hạn với người lao động
Việt Nam và người lao động nước ngoài,
nước ngoài là trái pháp luật bởi thời
cụ thể: Khi hợp đồng lao động xác định
hạn hợp đồng lao động của người lao
thời hạn hết hạn mà người lao động vẫn
động nước ngoài sẽ luôn bị hạn chế bởi
tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30
thời hạn của giấy phép lao động (Điều
ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết
11.1, Nghị định 11/2016/NĐ-CP); do
hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao
vậy, trong mọi trường, hợp đồng lao
động mới; nếu không ký kết hợp đồng
động của người lao động nước ngoài
lao động mới thì hợp đồng đã giao kết
luôn luôn là hợp đồng xác định thời
trở thành hợp đồng lao động không xác
hạn. Việc xác định đúng thời hạn hợp
định thời hạn; trường hợp hai bên ký kết
đồng lao động sẽ làm thay đổi mức bồi
hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác
thường của người sử dụng lao động
định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm
trong trường hợp đơn phương chấm
một lần, sau đó nếu người lao động vẫn
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật,
tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng
chẳng hạn như mức bồi thường do vi
phạm thời hạn thông báo trước là 30 ngày thay vì 45
cho rằng Trường Q đã đơn phương chấm dứt hợp
ngày, bồi thường cho những ngày người lao động
đồng lao động trái pháp luật, đồng thời cho rằng hợp
không được làm việc chỉ đến tối đa thời hạn của hợp
đồng lao động của mình đã trở thành hợp đồng lao
đồng lao động.
động không xác định thời hạn theo Điều 22.2, Bộ luật Lao động 2012, nên ông H yêu cầu Trường Q phải
Một ví dụ cho trường hợp này là Bản án Phúc thẩm
bồi thường một số khoản sau đây:
640/2018/LĐ-PT ngày 28/6/2018 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (“Bản án 640”) về tra-
Số tiền tương đương với 15 ngày tiền lương do
nh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Trường Q vi phạm thời hạn báo trước 45 ngày
giữa nguyên đơn – ông H (người lao động) và bị đơn
khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
– Trường Q (người sử dụng lao động). Theo Bản
(Trường Q chỉ thông báo trước 30 ngày);
án 640, ông H (người lao động) đã ký hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 01/5/2013 đến ngày
Tiền lương những ngày không được làm việc
31/7/2015 (giấy phép lao động lần đầu được cấp ngày
tính từ ngày 01/4/2016 đến ngày xét xử phúc
10/10/2013). Sau khi hết hạn hợp đồng lao động, hai
thẩm là ngày 28/6/2018;
bên không ký kết hợp đồng lao động mới nhưng ông H vẫn tiếp tục làm việc đến hết ngày 30/3/2016 (giấy
Tiền lương những ngày nghỉ hàng năm chưa
phép lao động được cấp gia hạn từ 22/10/2015 đến
được nghỉ tính đến ngày xét xử phúc thẩm là
21/10/2017). Ngày 31/03/2016, Trường Q gửi thông
ngày 28/6/2018.
báo chấm dứt hợp đồng lao động với ông H kể từ ngày 30/4/2016 (thông báo trước 30 ngày). Ông H
(Xem nội dung chi tiết Bản án 640 tại ĐÂY)
Tuy nhiên, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định thời hạn hợp đồng lao động của ông H chỉ có thể kéo dài đến ngày 21/10/2017 theo thời hạn của giấy phép lao động. Cụ thể, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định rằng: “[…] lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt Nam (khoản 2 Điều 170 BLLĐ), và có hạn chế nhất định về công việc và thời gian lao động tại Việt Nam như: Chỉ làm những công việc mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất kinh doanh (khoản 1 Điều 170 BLLĐ); Người lao động nước ngoài phải có giấy phép lao động tại Việt Nam (Điều 171 BLLĐ); thời hạn của giấy phép lao động tối đa là 02 năm (Điều 173 BLLĐ). Tại thời điểm ông H bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì Nghị định 11/2016/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực thi hành. Theo Điều 15 Nghị định này thì người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam làm việc theo thời hạn của giấy phép lao động, và trước khi hết hạn giấy phép lao động từ 5 đến 45 ngày, nếu doanh nghiệp còn nhu cầu sử sụng lao động nước ngoài thì phải làm các thủ tục đăng ký lại giấy phép lao động, ký hợp đồng lao động mới và gửi lại cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi cấp lại giấy phép đó. Từ các quy định trên có thể thấy thời hạn của hợp đồng lao động đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là 02 năm, khi hết thời hạn của giấy phép lao động đôi bên phải ký lại hợp đồng lao động mới nếu còn nhu cầu lao động và sử dụng lao động.” Từ các cơ sở pháp lý này, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận lý do hợp đồng lao động của ông H là hợp đồng lao động không xác định thời hạn như công dân Việt Nam làm việc tại Việt Nam. Theo đó, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ yêu cầu Trường Q phải bồi thường cho ông H số tiền lương, tiền cho ngày nghỉ hàng năm tính đến hết ngày 21/10/2017 – là ngày hết hạn của giấy phép lao động thay vì tính đến ngày Tòa án cấp phúc thẩm tuyên án ngày 28/6/2018 như yêu cầu của ông H. Đồng thời, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng không chấp nhận yêu cầu của ông H đối với khoản bồi thường 15 ngày tiền lương do vi phạm thời hạn thông báo trước bởi vì hợp đồng lao động của ông H là hợp đồng lao động xác định thời hạn nên chỉ cần thời hạn báo trước là 30 ngày. Kết luận: Giấy phép lao động đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết tranh chấp lao động với người lao động nước ngoài, là cơ sở để xác định giá trị pháp lý của mối quan hệ lao động giữa các bên và giới hạn trách nhiệm của người sử dụng lao động khi có tranh chấp phát sinh. Cần lưu ý rằng, trách nhiệm đề nghị cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài thuộc về người sử dụng lao động. Trong trường người sử dụng lao động sử dụng người lao động nước ngoài mà người lao động nước ngoài chưa được cấp giấy phép lao động hoặc giấy phép lao động đã hết hạn, thì người sử dụng lao động có thể bị xử phạt từ 60.000.000 Đồng đến 150.000.000 Đồng và bị đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng (Điều 22, Nghị định 95/2013/NĐ-CP sửa đổi bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP).
Bình luận án Bản án số: 01/2018/LĐ-PT (xem chi
Tóm tắt nội dung:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Ông M là người nước ngoài, ký hợp đồng lao động xác định thời
tiết tại ĐÂY)
Tòa án xét xử: Tòa án Nhân dân Cấp
hạn với Công ty AVN từ ngày 1/12/2016 đến ngày 30/9/2018; chức
cao tại Đà Nẵng
danh: Chuyên gia Giám sát Điều hành; có Giấy phép Lao động số
Vấn đề: Tranh chấp về trường hợp
239/2016/GPLĐ ngày 01/12/2016.
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Ngày 24/3/2017, Trưởng phòng Hành chính Nhân sự của Công ty
Nguyên đơn: Ông Alparslan M (“Ông
AVN giao cho Ông M “Quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao
Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại
pháp luật, và đóng dấu treo (“Quyết định ngày 23”). Lý do chấm dứt
Người sử dụng lao động
của cấp quản lý trực tiếp, vi phạm tiếp diễn nhiều lần, không quẹt
M”) – Người lao động
động” đề ngày 23/3/2017, không có chữ ký của người đại diện theo
và Du lịch AVN (“Công ty AVN”) –
hợp đồng: không tuân thủ quy định của Công ty AVN và quyết định thẻ chấm công, không hoàn thành công việc theo đúng yêu cầu của quản lý trực tiếp. Ngày 25/3/2017, Công ty AVN ra Quyết định đề ngày 25/3/2018 cho Ông M thôi việc với lý do thay đổi cơ cấu sau khi Công ty đã lập Phương án sử dụng lao động dự kiến điều chuyển Ông M sang làm ở phòng kế toán vì Ông M có chuyên môn kế toán với điều kiện Ông M phải được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp giấy phép lao động cho vị trí nhân viên kế toán (“Quyết định ngày 25”). Yêu cầu của nguyên đơn: Ông M cho rằng Công ty AVN đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và vi phạm thời hạn báo trước theo Quyết định ngày 23. Do đó, yêu cầu Công ty (i) hủy Quyết định ngày 23, (ii) nhận Ông M trở lại làm việc, (iii) thanh toán tiền lương và các khoản khác cho thời gian Ông M không được làm việc, (iv) bồi thường 02 tháng tiền lương và (v) bồi thường thêm một khoản tiền nếu không nhận Ông M trở lại làm việc. Ý kiến của bị đơn: Công ty AVN không đồng ý với yêu cầu cầu khởi kiện của Ông M vì Quyết định ngày 23 không có giá trị pháp lý. Quyết định của Tòa án: __ Đồng ý với ý kiến của Công ty AVN, không công nhận giá trị pháp lý của Quyết định ngày 23. __ Chấp nhận việc Công ty AVN chấm dứt hợp đồng lao động với Ông M theo Quyết định ngày 25 vì lí do thay đổi cơ cấu. __ Buộc Công ty AVN thanh toán trợ cấp mất việc làm cho Ông M theo quy định của pháp luật.
10
Một số vấn đề pháp lý liên quan và bình luận Giá trị pháp lý của quyết định chấm dứt hợp đồng lao động Trong vụ việc này, tồn tại hai quyết định
các bên liên quan để lấy ý kiến trước
chấm dứt hợp đồng lao động với hai lý
khi chính thức trình lãnh đạo. Tuy nhiên,
do khác nhau là Quyết định ngày 23 và
mặc dù là bản dự thảo, nhưng Quyết
Quyết định ngày 25. Tòa án đã bác bỏ
định ngày 23 lại được người lao động sử
giá trị pháp lý của Quyết định ngày 23
dụng để khởi kiện Công ty AVN có hành
bởi vì quyết định này không được ký
vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
bởi người đại diện theo pháp luật của
động trái pháp luật và yêu cầu Công ty
Công ty AVN. Quyết định này của Tòa
AVN phải thanh toán nhiều khoản bồi
án là hợp lý, bởi vì căn cứ vào Điều 3,
thường. Thực tiễn cho thấy, không chỉ
Nghị định 05/2015/NĐ-CP, người giao
Công ty AVN mà bộ phận nhân sự của
kết hợp đồng lao động bên phía người
rất nhiều doanh nghiệp khác thường
sử dụng lao động phải là người đại diện
gửi bản dự thảo của các văn bản chấm
theo pháp luật quy định tại điều lệ của
dứt hợp đồng lao động (thông báo, thỏa
doanh nghiệp hoặc người được người
thuận chấm dứt, v.v.) và đặc biệt là các
đại diện theo pháp luật ủy quyền bằng
email thông báo trước kế hoạch chấm
văn bản; như vậy, việc chấm dứt hợp
dứt hợp đồng lao động của doanh ng-
đồng lao động phải do người đại diện
hiệp cho người lao động như một “thói
theo pháp luật hoặc người được người
quen” trong quy trình hành chính nhưng
đại diện theo pháp luật ủy quyền bằng
lại không nhận ra rủi ro tiềm ẩn của “thói
văn bản thực hiện. Quyết định ngày 23
quen” này. Bởi vì nếu các văn bản, email
do Trưởng phòng Hành chính Nhân sự
được gửi có các nội dung không phù
của Công ty AVN gửi cho Ông M nhưng
hợp có thể trở thành chứng cứ chứng
không có chữ ký của người đại diện
minh doanh nghiệp đã đơn phương
theo pháp luật là không có giá trị pháp lý.
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, dẫn đến việc doanh nghiệp phải
Thông qua vụ việc này, một lưu ý dành
gánh chịu những hậu quả bồi thường
cho doanh nghiệp đó là cần phải thận
rất lớn.
trọng khi gửi bất kỳ thông báo chấm dứt
quyết định chính thức về việc chấm dứt
nào đến cho người lao động bởi vì bất
hợp đồng lao động với người lao động,
kỳ sai sót nào cũng có thể là cơ sở để
doanh nghiệp cần phải cẩn trọng và hạn
cho người lao động tiến hành khởi kiện
chế cung cấp cho người lao động các
doanh nghiệp. Quyết định ngày 23 do
loại tài liệu có thể lưu trữ được dưới bất
Trưởng phòng Hành chính Nhân sự của
kỳ hình thức nào.
Do đó, trước khi ban hành
Công ty AVN gửi cho Ông M được lý giải là một bản dự thảo được gửi cho
11
Chứng minh lý do chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ cấu
Nghĩa vụ thông báo cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng do thay đổi cơ cấu
Thông thường, việc chứng minh lý do chấm dứt hợp đồng
Khi cho người lao động thôi việc vì lý do thay đổi cơ cấu,
lao động do thay đổi cơ cấu là rất khó bởi vì doanh nghiệp
doanh nghiệp không bị ràng buộc trách nhiệm thông báo
phải chứng minh (i) sự thay đổi này là cần thiết do nhu cầu
trước cho người lao động như trường hợp đơn phương
thực tế và (ii) doanh nghiệp đã nỗ lực trong việc bố trí công
chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 38, Bộ luật
việc mới và đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng
Lao động 2012 (thông báo trước ít nhất 30 ngày đối với
nhưng không thể giải quyết được việc làm mới mà phải
hợp đồng xác định thời hạn, hoặc ít nhất 45 ngày đối với
cho người lao động thôi việc. Ông M đã được Công ty
hợp đồng không xác định thời hạn). Điều này đã được
AVN dự kiến điều chuyển từ vị trí Chuyên gia Giám sát Điều
khẳng định bởi nhận định của Tòa án trong vụ việc của
hành sang vị trí nhân viên kế toán theo Phương án sử dụng
Công ty AVN. Tuy nhiên, trên cơ sở thực tiễn này, có thể
lao động do Công ty AVN lập. Sở Lao động – Thương
thấy ranh giới giữa việc chấm dứt hợp đồng lao động vì
binh và Xã hội nhận định về phương án điều chuyển của
lý do thay đổi cơ cấu (Điều 44, Bộ luật Lao động 2012) và
Công ty AVN như sau: hiện nay, các trường đại học, cao
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (Điều 38, Bộ
đẳng ở Việt Nam đào tạo rất tốt chuyên ngành kế toán nên
luật Lao động 2012) là rất mỏng manh và phụ thuộc rất
người lao động Việt Nam hoàn toàn đáp ứng đầy đủ yêu
nhiều vào khả năng chứng minh lý do chấm dứt hợp đồng
cầu làm việc tại vị trí này, việc sử dụng lao động nước ngoài
lao động của doanh nghiệp. Bất kỳ một sai sót nhỏ nào
là không thật sự cần thiết; do đó, vị trí nhân viên kế toán
trong quy trình cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ
của Ông M không được Sở Lao động – Thương binh và
cấu có thể dẫn đến khả năng doanh nghiệp bị xem là đơn
Xã hội cấp giấy phép lao động. Ý kiến của Sở Lao động –
phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật bởi vì về bản
Thương binh và Xã hội là một trong những cơ sở để Tòa án
chất, việc chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do thay đổi
công nhận việc Công ty AVN không thể bố trí vị trí việc làm
cơ cấu vẫn mang tính chất đơn phương xuất phát từ phía
mới và phải cho Ông M thôi việc. Mặc dù vậy, sai sót của
doanh nghiệp. Do vậy, mặc dù pháp luật lao động không
Công ty AVN là đã ra Quyết định ngày 25 chấm dứt hợp
yêu cầu nhưng doanh nghiệp vẫn nên thông báo trước cho
đồng lao động với Ông M trước khi có được đầy đủ thông
người lao động theo Điều 38.2, Bộ luật Lao động 2012 khi
tin từ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội về việc không
cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu – tức là
cấp giấy phép lao động cho vị trí công việc mới của Ông
vẫn thông báo cho người lao động trước ít nhất 30 ngày
M. Từ thực tiễn này, các doanh nghiệp cần lưu ý khi tiến
đối với hợp đồng xác định thời hạn, và ít nhất 45 ngày đối
hành cho người lao động thôi việc vì lý do thay đổi cơ cấu
với hợp đồng không xác định thời hạn.
thì phải tuân thủ quy định “thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh” trước khi tiến hành cho thôi việc người lao động (Điều 44.3, Bộ luật Lao động 2012) để đảm bảo việc chấm dứt hợp đồng lao động là đúng luật, đồng thời lưu ý tuân thủ pháp luật lao động về giấy phép lao động khi việc thay đổi cơ cấu làm ảnh hưởng đến công việc của người lao động nước ngoài.
12
Hỏi & Đáp về lao động HỎI:
ĐÁP:
Hiện tại, công ty đang áp dụng quy định thử việc như sau:
Theo quy định tại Điều 27, Bộ luật Lao động 2012 thì thời gian
1. Vị trí nhân viên vệ sinh buồng phòng: Thử việc 30 ngày. Công ty chỉ dựa trên độ phức tạp công việc nên công ty không căn cứ vào bằng cấp; có người không tốt nghiệp cấp 3 vẫn được công ty nhận vào làm việc.
và mức độ phức tạp của công việc” được xác định tùy thuộc vào
2. Các vị trí khác (lễ tân, giám sát buồng phòng, v.v.): Thử việc 60 ngày. Có người chỉ tốt nghiệp cấp 3 hoặc trung cấp nhưng vẫn được công ty nhận vào làm việc. Vậy công ty có đang áp dụng đúng quy định về thời gian thử việc tại Điều 27, Bộ luật Lao động 2012 hay không? “Điều 27. Thời gian thử việc Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây: 1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; 2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ. 3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.”
thử việc sẽ dựa vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc, không phụ thuộc vào bằng cấp mà người lao động có. “Tính chất (i) mô tả và yêu cầu công việc mà công ty đặt ra khi thông báo tuyển dụng và (ii) việc công ty tuyển dụng trên thực tế. Thông thường, công ty sử dụng bằng cấp của người lao động là một cơ sở chứng minh cho việc ứng viên đáp ứng được các yêu cầu tuyển dụng của công ty. Ví dụ: •
Nếu công ty yêu cầu ứng viên có trình độ trung cấp (được chứng minh qua bằng cấp), và thực tế công ty chỉ tuyển những người lao động có bằng trung cấp trở lên, thì có nghĩa rằng công việc đó đòi hỏi trình độ trung cấp, theo đó, thời hạn thử việc là tối đa 30 ngày.
•
Nếu công ty yêu cầu ứng viên có trình độ trung cấp (được chứng minh qua bằng cấp), nhưng thực tế công ty có tuyển những người lao động không có bằng cấp, thì có nghĩa rằng công ty đã thay đổi yêu cầu của mình, theo đó, thời hạn thử việc là tối đa 06 ngày làm việc.
Theo các trường hợp mà công ty đang áp dụng: 1. Vị trí nhân viên vệ sinh buồng phòng: Thử việc 30 ngày. Công ty chỉ dựa trên độ phức tạp công việc nên công ty không căn cứ vào bằng cấp; có người không tốt nghiệp cấp 3 vẫn được công ty nhận vào làm việc. Trường hợp này được hiểu là công ty không yêu cầu trình độ chuyên môn do có nhận người không tốt nghiệp cấp 3, do đó, thời hạn thử việc tối đa là 06 ngày làm việc. 2. Các vị trí khác (lễ tân, giám sát buồng phòng, v.v.): Thử việc 60 ngày. Có người chỉ tốt nghiệp cấp 3 hoặc trung cấp nhưng vẫn được công ty nhận vào làm việc. Trường hợp này được hiểu là công ty yêu cầu trình độ chuyên môn thấp nhất là tốt nghiệp cấp 3, do đó, thời gian thử việc tối đa cũng chỉ là 06 ngày làm việc.
13
CẬP NHẬT PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG TỪ 25/10/2018 ĐẾN 24/12/2018 1. TÌNH HÌNH THỰC THI PHÁP LUẬT STT
Cơ quan ban hành
Loại văn bản
Số hiệu
Ngày ban hành
Ngày hiệu lực/ Ngày áp dụng
Trích yếu
1
Thanh tra Bộ Lao động -
Kết luận thanh tra
Từ số 554/KL-TTr
Ngày 16/11/2018
Ngày 16/11/2018
Kết luận thanh tra việc chấp hành các qui định của pháp luật
Thương binh và Xã hội (BLĐTBXH)
đến số 563/KL-TTr
lao động tại 10 doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Điện Biên. Xem nội dung tại đây.
2. VĂN BẢN PHÁP LUẬT STT
Cơ quan ban hành
Loại văn bản
Số hiệu
Ngày ban hành
Ngày hiệu lực/ Ngày áp dụng
1
Chính phủ
Nghị định
149/2018/ NĐ-CP
Ngày 07/11/2018
Ngày 01/01/2019
Trích yếu Quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Xem nội dung tại đây.
2
Chính phủ
Nghị định
153/2018/ NĐ-CP
Ngày 07/11/2018
Ngày 24/12/2018
Quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 06 tháng. Xem nội dung tại đây.
3
Chính phủ
Nghị định
157/2018/ NĐ-CP
Ngày 16/11/2018
Ngày 01/01/2019
Nghị định quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Xem nội dung tại đây.
14
4
Bộ Công Thương
Thông tư
37/2018/ TT-BCT
Ngày 25/10/2018
Ngày 10/12/2018
Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về quản lý an toàn và kiểm định kỹ thuật an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công Thương. Xem nội dung tại đây.
5
BLĐTBXH
Thông tư
20/2018/ TT-BLĐTBXH
Ngày 26/11/2018
Ngày 01/01/2019
Hướng dẫn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện thanh tra chuyên ngành lao động, an toàn, vệ sinh lao động vào ban đêm, ngoài giờ hành chính. Xem nội dung tại đây.
6
BLĐTBXH
Thông tư
29/2018/ TT-BLĐTBXH
Ngày 25/12/2018
Ngày 01/07/2019
Thông tư ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động khi làm việc trong không gian hạn chế (QCVN 34:2018/ BLĐTBXH). Xem nội dung tại đây.
3. VĂN BẢN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH STT
Cơ quan ban hành
Loại văn bản
Số hiệu
Ngày ban hành
Ngày hiệu lực/ Ngày áp dụng
Trích yếu
1
Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
Công văn
4996/ BHXH-CSYT
Ngày 29/11/2018
Ngày 29/11/2018
Triển khai thực hiện một số nội dung theo quy định tại Nghị định 146/2018/NĐ-CP hướng dẫn về công tác thu, phát triển đối tượng tham gia BHYT; cấp và chuyển đổi mã quyền lợi trên thẻ BHYT; về quyền lợi của người tham gia BHYT; thủ tục khám chữa bệnh BHYT. Xem nội dung tại đây.
2
Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Công văn
2219/ BHXH-CĐ
Ngày 07/11/2018
Ngày 07/11/2018
Hướng dẫn nghiệp vụ về chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức. Xem nội dung tại đây.
3
Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Công văn
2273/ BHXH-QLT
Ngày 13/11/2018
Ngày 13/11/2018
Công văn hướng dẫn điều chỉnh thông tin người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Xem nội dung tại đây.
15
4
Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Công văn
2446/ BHXH-QLT
Ngày 29/11/2018
Ngày 01/12/2018
Hướng dẫn tạm thời tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài. Xem nội dung tại đây.
5
6
Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Công văn
Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Công văn
2517/ BHXH-QLT
Ngày 06/12/2018
Ngày 06/12/2018
Hướng dẫn về việc gia hạn giá trị thẻ BHYT năm 2019. Xem nội dung tại đây.
2717/ BHXH-QLT
Ngày 20/12/2018
Ngày 20/12/2018
Công văn hướng dẫn thực hiện đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN từ ngày 01/01/2019. Xem nội dung tại đây.
7
Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hà Nội
Công văn
5147/ BHXH-QLT
Ngày 27/11/2018
Ngày 27/11/2018
Công văn hướng dẫn về việc phối hợp triển khai thực hiện một số nội dung về thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN và cấp thẻ BHYT. Xem nội dung tại đây.
8
Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hà Nội
Công văn
5251/ BHXH-QLT
Ngày 03/12/2018
Ngày 03/12/2018
Hướng dẫn tạm thời tham gia BHXH bắt buộc theo Nghị định 143/2018/NĐ-CP của Chính phủ (đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam). Xem nội dung tại đây.
9
BLĐTBXH
Công văn
5139/LĐTBXHQLLĐNN
Ngày 05/12/2018
Ngày 05/12/2018
Hướng dẫn thực hiện một số nội dung liên quan đến lao động hết hợp đồng được ký hợp đồng mới tại Đài Loan mà không phải về nước. Xem nội dung tại đây.
4. DỰ THẢO STT
Cơ quan soạn thảo
Loại văn bản
Lần dự thảo
Ngày bắt đầu lấy ý kiến
Ngày kết thúc lấy ý kiến
Trích yếu
1
BLĐTBXH
Nghị định
3
_
_
Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Xem nội dung tại đây.
16
2
BLĐTBXH
Nghị định
1
Ngày 30/11/2018
Ngày 31/01/2019
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và hướng dẫn đưa người lao động sang Đài Loan, thực tập sinh sang Nhật Bản và người lao động sang Ả Rập Xê Út giúp việc gia đình. Xem nội dung tại đây.
3
BLĐTBXH
Thông tư
1
Ngày 01/11/2018
Ngày 01/01/2019
Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Xem nội dung tại đây.
4
BLĐTBXH
Thông tư
1
Ngày 07/11/2018
Ngày 07/01/2019
Hướng dẫn điều chỉnh tên nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ghi chưa đúng trong sổ bảo hiểm xã hội của người lao động. Xem nội dung tại đây.
5
BLĐTBXH
Thông tư
1
Ngày 12/11/2018
Ngày 12/01/2019
Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 166/2016/ NĐ-CP ngày 24/12/2016 của Chính phủ quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp về bảo hiểm thất nghiệp. Xem nội dung tại đây.
17
R
R
R
MENDED F OM IR EC
Highly Ranked
The winer of
2017 - 2018
Dispute Star of the Year 2017 - 2018
M
OMMENDE EC
D
D
OMMENDE EC
EXCELLENT TAX ACHIEVEMENT in the 2017 Fiscal Year
PROFESSIONAL INDEMNITY INSURANCE VALUED AT USD1,000,000 UNDER THE INSURANCE POLICY CONTRACTED WITH QBE INSURANCE (VIETNAM)
LE & TRAN Building No.9, Area 284 Nguyen Trong Tuyen Street, Ward 10, Phu Nhuan District, Ho Chi Minh City. T: (+84 28) 38 42 12 42/ F: (+84 28) 38 44 40 80 E: info@letranlaw.com/ www.letranlaw.com