THÁNG 12 2023
TẠP CHÍ
KIẾN TRÚC CẢNH QUAN
PHẠM THỊ QUẾ TRÂN- 21510501759 GVHD: HUỲNH THỊ MAI PHƯƠNG
MỤC LỤC
02
CẢNH QUAN CẢNH QUAN TỰ NHIÊN VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI KIẾN TRÚC CẢNH QUAN
13
XU HƯỚNG XU HƯỚNG TRONG THIẾT KẾ CẢNH QUAN ĐƯƠNG ĐẠI Ở TRUNG QUỐC
29
THÀNH PHỐ BỌT BIỂN GIẢI PHÁP CHỐNG NGẬP ĐÔ THỊ DƯỚI GÓC NHÌN THIẾT KẾ CẢNH QUAN KINH NGHIỆM TỪ “THÀNH PHỐ BỌT BIỂN” CỦA TRUNG QUỐC
1
Thuật ngữ “Cảnh quan tự nhiên” lần đầu tiên được sử dụng gắn liền với nghệ thuật hội họa phong cảnh và nghệ thuật làm vườn thế kỷ 17, 18 tại Châu Âu, nhằm nhấn mạnh sự tương phản và đối lập giữa phong cách nghệ thuật chuẩn mực và phong cách nghệ thuật tự nhiên hơn, gần gũi với thiên nhiên
CHỦ ĐỀ 1:
CẢNH QUAN CẢNH QUAN TỰ NHIÊN VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI KIẾN TRÚC CẢNH QUAN Còn trong nghệ thuật làm vườn, tiền thân của ngành KTCQ, thuật ngữ “Cảnh quan tự nhiên” dần được nhận thức và gắn liền với sự hình thành của phong cách vườn Anh thời kỳ cuối Phục Hưng sau đó lan rộng ra khắp châu Âu. Sang thế kỷ 18, những kiểu cách vườn hình học trang trọng, cứng nhắc đã bị phá bỏ vì không còn phù hợp với một nước Anh trong bối cảnh đang thay đổi theo hướng đẩy mạnh phát triển khoa học
Nghệ thuật vẽ tranh phong cảnh được biết đến như một thể loại hội họa độc lập của phương Tây chỉ xuất hiện từ thời kỳ Phục hưng đã dần dần định hình thuật ngữ “Cảnh quan tự nhiên” trong nghệ thuật. Tranh phong cảnh đặt cảnh quan tự nhiên trong bối cảnh nghệ thuật, thường mô tả các ngọn núi, thung lũng, vùng nước, cánh đồng, rừng và bờ biển,..
kỹ thuật, khám phá chinh phục tự nhiên và sự thay đổi thị hiếu và lý thuyết thẩm mỹ của tầng lớp quý tộc tư sản, giai cấp mới hình thành có vai trò quan trọng kiến tạo một xã hội Anh kiểu mới. Điều đó đòi hỏi sự hình thành một phong cách vườn Anh mới “tự nhiên” hơn và không bị gò bó bởi các chuẩn mực cứng nhắc trong thiết kế sân vườn cổ điển. “Cảnh quan” vườn Anh thời kỳ này được tạo ra như một lăng kính mà qua đó, người ta có thể thấy được phong cảnh thiên nhiên.
2
“ Cụm từ “Cảnh quan thiên nhiên” được tìm thấy chính
thống
lần
đầu
trong
bài
báo
“The
Morphology of Landscape” (Hình thái học của cảnh quan) được xuất bản năm 1925 của nhà địa lý học người Mỹ Carl O. Sauer (1889 – 1975).
Nhà địa lý học Otto Schlüter (1872 – 1959) đã đưa ra
định
nghĩa
cho
hai
dạng
cảnh
quan:
Urlandschaft (cảnh quan nguyên thủy) hoặc cảnh quan tồn tại trước khi những thay đổi lớn do con người gây ra và Kulturlandschaft (cảnh quan văn hóa) là cảnh quan do văn hóa con người tạo ra. Căn cứ vào cảnh quan tồn tại một cách tự nhiên hay khôi phục lại cảnh quan một cách tự nhiên, nên phân loại thành hai dạng cảnh quan tự nhiên là cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan phục hồi tự nhiên.
3
CẢNH QUAN THIÊN NHIÊN “Cảnh quan thiên nhiên” là cảnh quan nguyên thủy tồn tại trước khi nó bị tác động bởi văn hóa con người, được tạo thành từ các thành phần tự nhiên gồm địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật. Đây là các thành phần của môi trường tự nhiên, do đó cảnh quan thiên nhiên được coi là một phần của môi trường tự nhiên.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ hay “nguyên thủy” gần như không còn tồn tại. Nếu có, chúng ta chỉ có thể tìm thấy ở các vùng đất có điều kiện khắc nghiệt nhất trên trái đất, nơi con người không thể hoặc khó có thể tiếp cận như vùng đáy biển sâu nhất, một số khu vực nhỏ ở Bắc cực và Nam cực, một số khu vực trên đỉnh núi Himalaya (Tuyết Sơn),…
4
CẢNH QUAN PHỤC HỒI TỰ NHIÊN
“Cảnh quan phục hồi tự nhiên’’ được hiểu là
Tuy nhiên, quan điểm của khoa học hiện đại
cảnh quan đã có sự tác động ít hoặc nhiều
lại đang hướng tới cái nhìn toàn diện về tự
bởi con người, tuy nhiên khi không còn bị
nhiên, theo đó không tách rời con người
ảnh hưởng nhiều bởi con người, cảnh quan đó có thể trở lại trạng thái tự nhiên hoặc gần tự nhiên dưới cơ chế phục hồi tự nhiên của các yếu tố địa chất, thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh học, và các yếu tố khác …
khỏi thiên nhiên, nhìn nhận tác động của con người cũng là một dạng tác động tự nhiên giống như tai biến thiên nhiên và sau khi không còn hoặc khi hạn chế tối đa các tác động đó thì thiên nhiên sẽ tự động phục hồi lại cảnh quan theo cách thức và cơ chế tự nhiên nhất.
5
CẢNH QUAN TỰ NHIÊN VÀ KIẾN TRÚC CẢNH QUAN Sự can thiệp có chủ đích của con người là một tác nhân quan trọng đẩy mạnh quá trình hình thành cảnh quan tự nhiên phục hồi bằng cách kiểm soát và hạn chế các tác động tiêu cực của con người và can thiệp thúc đẩy chủ động quá trình phục hồi của tự nhiên. Sông băng ở biên giới giữa Alaska, Mỹ và Canada: Kluane-Wrangell-St. Elias, Hệ thống công viên Vịnh Elias-GlacierTatshenshini-Alsek, vùng hoang dã Yukon và Alaska…là những dẫn chứng cao nhất của cảnh quan tự nhiên đã phục hồi lại nhờ nỗ lực của con người trong việc gìn giữ và bảo vệ thiên nhiên. Mãi đến sau đó, nhu cầu khôi phục lại tự nhiên và cảnh quan ở Bắc Mỹ và Châu Âu vốn bị tàn phá nặng nề bởi quá trình công nghiệp hóa vô tội vạ trước đó và sự xuất hiện của các trường phái kiến trúc hữu cơ, kiến trúc sinh thái… mới dần đem đến một xu hướng mới trong thiết kế kiến trúc nói chung và KTCQ nói riêng, chú trọng cảnh quan tự nhiên và các yếu tố thiên nhiên hơn.Còn trường phái kiến trúc hữu cơ lại đưa kiến trúc phương tây đi theo một hướng đi mới với mục đích xoay quanh việc giải quyết mối liên hệ giữa kiến trúc và thiên nhiên
6
Còn ở phương Đông, con người sớm có
Các chương trình khôi phục, nâng cao
nhận thức về thiên nhiên và mối liên hệ
chất lượng cảnh quan tự nhiên và kế
của con người, xã hội với thế giới tự
hoạch lập các khu bảo tồn tự nhiên để
nhiên, thể hiện qua học thuyết “Thiên
bảo vệ hệ sinh thái như: Các dự án quy
nhân hợp nhất”. Nó chỉ ra mối quan hệ
hoạch hành lang chim ở các nước châu
tam giác: Thiên nhiên – con người – xã
Âu; hành lang động vật hoang dã ở
hội (ở đây được biểu hiện dưới hình thức
Milwaukee; hành lang hươu nai ở Canada;
kiến trúc hay đô thị, vẫn được coi là cái
chương trình khôi phục và bảo tồn vùng
bình chứa xã hội loài người), như vậy
hoang dã Yukon và Alaska; khu bảo tồn
cũng thống nhất với quan điểm KTCQ
thiên nhiên Bướm chúa ở bang Michiacan
hiện đại. Vì vậy, trong nghệ thuật cảnh
(Mexico), … đặc biệt là sự phát triển
quan sân vườn của phương Đông luôn thể
mạnh mẽ của ngành sinh thái cảnh quan
hiện sự hài hòa, đề cao hòa hợp với cảnh
thế giới từ nửa cuối thế kỉ 20 đã cung cấp
quan tự nhiên, thuận theo các quy luật
cho kiến trúc cảnh quan một công cụ
vận động của tự nhiên, thể hiện rõ sự
hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ quan
hiểu biết sâu sắc về nguyên lý âm –
trọng khác là quy hoạch, khôi phục và
dương, ngũ hành và vận dụng nhuần
bảo tồn cảnh quan tự nhiên dành cho thế
nhuyễn các nguyên lý này để hướng tới
hệ mai sau.
việc tổ chức một môi trường sống hài hòa với cảnh quan tự nhiên.
7
Trong nguyên lý âm dương chú trọng hai nguyên tắc: Âm dương luôn gắn bó và chuyển hóa cho nhau, trong âm có dương trong dương có âm và cực âm sẽ chuyển dương cực dương sẽ chuyển âm. Còn trong ngũ hành chú trọng vấn đề tương sinh và tương khắc giữa các hành. Người Việt Nam nhận thức mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, bao hàm cả con người đều có thể quy về và không nằm ngoài các quy luật âm – dương, ngũ hành. Theo đó một môi trường sống hài hòa phù hợp cho con người phải là một môi trường cân bằng được âm dương, ngũ hành trong cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân tạo, hay còn gọi là Triết lí sống quân bình. Để đạt được sự cân bằng đó cần có hai thái độ ứng xử với môi trường tự nhiên: Thuận theo (hòa hợp, thống nhất) và khắc chế, chuyển đổi (chinh phục, cải tạo).
8
CHỦ ĐỀ 2:
XU HƯỚNG CẢNH QUAN TỰ NHIÊN VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI KIẾN TRÚC CẢNH QUAN Trung Quốc là một trong những cái nôi của nền văn minh thế giới, nghệ thuật thiết kế vườn cảnh Trung Quốc đã có mấy nghìn năm lịch sử. Vườn cảnh đầu tiên được xây dựng ở Trung Quốc là vào cuối triều đại nhà Thương (1700 – 1027 TCN). Nghệ thuật thiết kế sân vườn Trung Quốc phát triển rực rỡ vào triều đại nhà Minh (1368 – 1644) và nhà Thanh (1636 – 1912) để lại cho hậu thế nhiều khu vườn nổi tiếng với giá trị nghệ thuật rất cao đã được đưa vào danh sách di sản văn hóa thế giới như Di Hòa Viên và các vườn cảnh ở Tô Châu Trong bối cảnh hiện nay khi xu hướng toàn cầu hóa đã diễn ra hết sức mạnh mẽ, sự khác biệt giữa văn hóa Phương Đông và Phương Tây, vấn đề hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường cũng đưa tới những thách thức chưa từng có đối với ngành thiết kế cảnh quan. Để thích ứng với hoàn cảnh mới, ngành thiết kế cảnh quan ở Trung Quốc cũng có những bước phát triển mạnh mẽ, chủ yếu tập trung vào hai xu hướng đó là thiết kế đương đại gắn liền với văn hóa bản địa và thiết kế đương đại gắn liền với phát triển bền vững.
Bắt nguồn từ văn hóa bản địa, tái hiện truyền thống dưới góc nhìn thiết kế cảnh quan đương đại. Xuất phát từ sự mâu thuẫn giữa toàn cầu hóa và văn hóa bản địa, sự đối lập giữa việc phát triển đô thị và gìn giữ đặc trưng nơi chốn, tư tưởng thiết kế cần nhấn mạnh việc bắt nguồn và trải nghiệm địa điểm. Trong thời đại mà sự toàn cầu hóa tiếp tục phát triển, đe dọa lớn đến văn hóa khu vực và quốc gia, thì lý luận và thực tiễn của thiết kế bản địa có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng lý luận và thực tiễn của thiết kế nói chung.
Tư tưởng thiết kế chủ yếu xoay quanh những vấn đề sau: Mang văn hóa Trung Hoa thẩm thấu vào trong thiết kế; Nhất thể hóa kiến trúc và cảnh quan; Kế thừa và phát triển có chọn lọc văn hóa bản địa; Hoài cổ và quảng bá văn hóa bản địa; Tôn trọng và đề cao văn hóa tín ngưỡng; Theo đuổi chất thơ trong thiết kế.
9
NHỮNG CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU
1. Sân vườn cảnh quan Bảo tàng Mỹ thuật gạch đỏ Bắc Kinh Tư tưởng chủ đạo trong thiết kế là phê phán sự tách biệt giữa kiến trúc và cảnh quan, sự khuôn mẫu nhàm chán của các thiết kế cảnh quan đương đại, đề cao tư tưởng nhất thể hóa kiến trúc và cảnh quan, dùng ngôn ngữ thiết kế đương đại tái hiện văn hóa và không gian sân vườn truyền thống Trung Quốc. Từ tổng thể bố cục, chi tiết sân vườn, đến thủ pháp phối kết đá cảnh, cây xanh, sử dụng vật liệu… đều thể hiện sự sáng tạo dựa trên chất liệu truyền thống, phản ánh truyền thống dưới góc nhìn thiết kế đương đại.
2. Vườn Yue Yuan Thiết kế YueYuan ứng dụng thủ pháp tối giản trong phối kết cây xanh và sử dụng vật liệu đá, thể hiện sự xử lý vật liệu tinh tế trong thiết kế cảnh quan đương đại. Sự độc đáo của cảnh quan YueYuan đến từ việc lựa chọn và sử dụng một cách thích hợp các yếu tố cảnh quan nước, đá và thực vật. Trong không gian vườn, sự luân chuyển của thời gian, sự thay đổi của bóng đổ hô ứng với sự biến chuyển linh động của không gian cảnh quan, kết hợp với những chi tiết hiện đại và những đường cong uyển chuyển của nghệ thuật điêu khắc đá Hoa Cương đã đem đến cho con người một trải nghiệm không gian hoàn toàn khác biệt.
10
BẮT NGUỒN TỪ SINH THÁI, TẠO LẬP CẢNH QUAN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Tư tưởng thiết kế cảnh quan sinh thái là sự chuyển biến từ con người là trung tâm sang lấy tự nhiên là trung tâm, nhấn mạnh việc bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên là giá trị cốt lõi. Thiết kế cảnh quan sinh thái kế thừa tư tưởng phát triển bền vững, chú trọng mối liên hệ chặt chẽ của con người với tài nguyên thiên nhiên, thông qua việc tái sử dụng phế thải và tiết kiệm tài nguyên. Trong khái niệm cảnh quan sinh thái, ý nghĩa nội hàm của cảnh quan không giới hạn bởi một khu vực có phong cảnh đẹp đơn thuần, thiết kế cảnh quan không chỉ là xử lý những vấn đề thuần túy về phương diện thị giác, tỷ lệ, màu sắc, đường nét mà cần quan tâm đến những vấn đề lớn hơn như môi trường, những mối liên hệ giữa không gian sống của con người và môi trường tự nhiên.
Trong thiết kế cảnh quan sinh thái, nhà thiết kế cần chú trọng kết hợp giữa sinh thái học và những nguyên tắc mỹ học trong cảnh quan. KTS cảnh quan cần phải có những kiến thức về khoa học sinh thái một cách hệ thống. Những lĩnh vực sinh thái học như sinh thái học thực vật, sinh thái học thủy văn, sinh thái học môi trường v.v. đều đóng vai trò định hướng quan trọng trong thiết kế cảnh quan sinh thái. Tư tưởng thiết kế chủ yếu xoay quanh những vấn đề sau: Lấy thế giới tự nhiên làm trung tâm; Thoát khỏi tư tưởng thẩm mỹ truyền thống; Lấy thiết kế sinh thái làm chủ đạo.
11
Công viên sinh thái QiJiang Trung Sơn Công viên sinh thái QiJiang nằm ở TP Trung Sơn tỉnh Quảng Đông, là một công trình cải tạo từ một nhà máy đóng tàu, diện tích công viên rộng 11 ha trong đó có 3,6 ha là không gian mặt nước. Hiện trạng vẫn giữ nguyên kết cấu chính của các xưởng đóng tàu và các trang thiết bị cơ khí khác. Các hạng mục thiết kế cải tạo bao gồm: cải tạo và tái sử dụng tháp nước cũ, tái sử dụng ống khói, cẩu tháp, đường ray và các trang thiết bị cơ khí. Phương án thiết kế công viên chú trọng nhấn mạnh tư tưởng tái sử dụng, phục hồi sinh thái các cơ sở công nghiệp bị bỏ hoang.
12
ĐẶC TRƯNG THIẾT KẾ SINH THÁI THỂ HIỆN TRÊN BA PHƯƠNG DIỆN (1) Bảo tồn: Bảo tồn các hệ thống và yếu tố tự nhiên, về cơ bản giữ nguyên dạng mặt nước và kè bờ, giữ nguyên vị trí các cây cổ thụ. Bảo tồn các cấu trúc cũ, giữ nguyên các kết cấu thép, bê tông, ống khói tháp nước v.v. của nhà xưởng cũ. Bảo tồn những thiết bị cũ của nhà xưởng như cẩu tháp, tích hợp trong thiết kế, trở thành nhân tố cảnh quan quan trọng đem lại trải nghiệm phong phú về địa điểm.
(2) Biến đổi và tái sử dụng: Thiết kế công viên không theo đuổi vẻ đẹp của hình thức, đường nét, mà thể hiện sự ngẫu nhiên được hình thành theo nguyên tắc kinh tế và hiệu quả, sự ngẫu nhiên bao gồm cấu trúc mạng chằng chịt của hệ thống đường đi bộ, trật tự không gian, vườn hoa, lớp lát v.v. Tái sử dụng bao gồm tận dụng lại những kết cấu nhà xưởng và trang thiết bị cũ.
(3) Tái hiện và thiết kế mới: Vật liệu gốc trong khu nhà xưởng như thép, gạch đỏ, vật liệu địa phương đều được tận dụng để tái thiết kế, với mục đích thỏa mãn công năng sử dụng và hiển thị loại hình cảnh quan mới.
13
KẾT LUẬN Ngành cảnh quan đương đại Trung Quốc đang từng bước chuyển mình, ứng phó với việc văn hóa bản địa và môi trường hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng. Các thiết kế cảnh quan đương đại Trung Quốc thể hiện rõ được hướng đi riêng, đó là triệt để khai thác các nhân tố văn hóa bản địa phong phú và đa dạng; gìn giữ và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, với mục đích cuối cùng là tạo lập một môi trường sống tốt, bền vững cho con người. Ngành thiết kế cảnh quan ở Việt Nam cũng cần đáp ứng được những yêu cầu của thời đại và bắt nhịp với các xu hướng, trào lưu của cảnh quan thế giới. Thiết kế cảnh quan đương đại Việt Nam không thể dừng lại ở việc sao chép hoặc mô phỏng các thiết kế cảnh quan nước ngoài, mà thông qua quá trình chắt lọc những kinh nghiệm của thế giới, thiết kế cảnh quan đương đại Việt Nam cần được lồng ghép những nội hàm của văn hóa bản địa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt, giúp con người Việt Nam gắn bó với môi trường sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững.
14
CHỦ ĐỀ 3:
THÀNH PHỐ BỌT BIỂN “TP bọt biển” – Kinh nghiệm chống ngập đô thị dưới góc nhìn thiết kế cảnh quan của Trung Quốc Với 30 dự án thí điểm và tổng vốn hỗ trợ khoảng 1,8 tỷ nhân dân tệ, Trung Quốc ban đầu thúc đẩy dự án “thành phố bọt biển” (sponge city) với mục tiêu là giảm ngập lụt và tận dụng nước mưa. Song, nó cũng đã khiến nhiệt độ thành phố dịu đi. Vào năm 2015, Trung Quốc ra hướng dẫn xây dựng những thành phố bọt biển, với mục tiêu là 80% thành phố áp dụng mô hình này, và có thể tái chế 70% lượng nước mưa cho đến năm 2030, theo Economist. Theo hướng dẫn, mô hình thành phố bọt biển thay đổi các bề mặt cứng, như đường và vỉa hè, thành các bề mặt thấm nước có thể hấp thụ, làm sạch và lưu trữ nước, sau đó tái sử dụng nước này cho nhiều mục đích. Ở những nơi khác trên thế giới, các dự án cơ sở hạ tầng tương tự được gọi là phát triển tác động thấp, cơ sở hạ tầng xanh hoặc thiết kế đô thị nhạy cảm với nước.
Sự biến đổi khí hậu toàn cầu kéo theo hiện tượng mưa lũ thất thường, dẫn đến thực trạng các đô thị đông dân cư thường xuyên bị ngập úng mỗi khi có mưa. Phương pháp thoát nước cũ (dựa trên nguyên tắc nước mưa rơi xuống sẽ được các hệ thống cống thoát nước dẫn chảy vào hồ chứa), dẫn đến tình trạng khi có lượng mưa to bất thường trong một thời điểm thì hệ thống thoát nước của TP sẽ bị quá tải, ngập úng. Các nhà khoa học liên ngành đã đề xuất các giải pháp chống ngập mới dựa trên nguyên tắc là thu nước mưa tại chỗ thay vì dẫn nước chảy vào cống, hồ chứa, giúp đạt hiệu quả cao trong việc chống ngập cho các đô thị lớn. Biện pháp này của các nhà khoa học có cơ chế hoạt động đơn giản như một miếng bọt biển. Khái niệm “bọt biển” ở đây giống như một phép ẩn dụ mô tả cho sự tích trữ tự nhiên, có tính mềm dẻo, linh hoạt (độ đàn hồi cao). Một đô thị mà đặc trưng sinh thái thể hiện qua sự thẩm thấu và thanh lọc tự nhiên và hàm chứa những giá trị triết lý sâu sắc được gọi là “TP bọt biển – Sponge City”.
Trung Quốc là một trong những quốc gia hứng chịu nhiều đợt mưa lũ nhất trên thế giới, do đó, giới chức và các nhà khoa học của nước này luôn để tâm nghiên cứu tìm giải pháp chống lại hiện tượng biến đổi khí hậu nhằm giảm thiểu những thiệt hại do thiên tai gây ra. Năm 2017, Trung Quốc đã bắt đầu triển khai xây dựng hàng loạt dự án “TP bọt biển” với nguồn kinh phí khổng lồ. So với việc quản lý thoát nước thông thường (tập trung gia cố, mở rộng hệ thống công trình hạ tầng thoát nước của đô thị), tính triết lý của khái niệm “TP bọt biển” có nhiều khác biệt, chủ yếu bao gồm những nội hàm sau:
15
Trung Quốc là một trong những quốc gia hứng chịu nhiều đợt mưa lũ nhất trên thế giới, do đó, giới chức và các nhà khoa học của nước này luôn để tâm nghiên cứu tìm giải pháp chống lại hiện tượng biến đổi khí hậu nhằm giảm thiểu những thiệt hại do thiên tai gây ra. Năm 2017, Trung Quốc đã bắt đầu triển khai xây dựng hàng loạt dự án “TP bọt biển” với nguồn kinh phí khổng lồ. So với việc quản lý thoát nước thông thường (tập trung gia cố, mở rộng hệ thống công trình hạ tầng thoát nước của đô thị), tính triết lý của khái niệm “TP bọt biển” có nhiều khác biệt, chủ yếu bao gồm những nội hàm sau:
Giá trị từ một hệ sinh thái hoàn chỉnh: Thông điệp từ tự nhiên là mỗi hạt mưa đều có một giá trị riêng, giá trị đó không chỉ mang lại lợi ích cho con người hay một sự vật nhất định mà nó đem lại lợi ích cho toàn bộ hệ sinh thái. Vì vậy, công dụng chính của “miếng bọt biển” là nâng niu và lưu giữ từng giọt nước mưa; Giải quyết vấn đề thu nước tại chỗ: Không cần thông qua hệ thống hạ tầng kỹ thuật để dẫn nước sang nơi khác (tập trung vào việc trữ nước thay vì thoát nước sang nơi khác); Chú trọng sự phân tán, không khuyến khích việc tập trung. Dưới góc nhìn sinh thái đương đại, việc tập trung cả một mạng lưới cơ sở hạ tầng hoặc hệ thống các công trình trị thủy để đối phó với các quá trình biến đổi tự nhiên như lũ lụt đều không phải là giải pháp hướng tới phát triển bền vững, tính triết lý của “bọt biển” là phân tán, từ hàng triệu đơn vị tế bào kiến tạo nên một hệ sinh thái hoàn chỉnh; Chậm lại thay vì tăng tốc, thu nạp thay vì đào thải, triết lý “bọt biển” là làm giảm tốc độ dòng chảy để nước lũ đủ thời gian thẩm thấu và nuôi dưỡng hệ thực vật.
Đề cao việc phản ứng mềm dẻo, linh hoạt với nước lũ thay vì nhấn mạnh tính đối kháng, cứng nhắc. Triết lý “bọt biển” là đề cao tính đàn hồi, biến việc đối đầu thành sự cộng sinh hài hòa.Để hoàn thành những mục tiêu của “TP bọt biển” việc quy hoạch và thiết kế tập trung ứng phó và giải quyết vấn đề nước lũ, ngập úng với ba chiến lược chính: Hấp thụ, giảm tốc và thích ứng.
16
Châu Hải xây dựng hơn 115 km2 cơ sở hạ tầng thành phố bọt biển kể từ năm 2016, chiếm gần 1/4 tổng diện tích xây dựng đô thị. Thành phố này hiện nay có vỉa hè bằng gạch hoặc bê tông xốp, đường nhựa xốp, mái nhà xanh, bờ sông xanh, bồn chứa sinh học, ao, vùng đất ngập nước mưa, đầm lầy cỏ và vùng đệm thảm thực vật.
Các “thành phố bọt biển” đã thành công trong việc giảm thiểu các vấn đề ngập lụt đô thị. Chúng cũng có lợi ích bất ngờ là giảm rủi ro tử vong do nhiệt ở đô thị. Hiện nay, người dân ở nhiều nước châu Á đang đối mặt với nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng do nắng nóng kỷ lục. Hôm 18/4, truyền thông cho biết Thái Lan lần đầu chạm ngưỡng 45 độ C tại một số khu vực. Lào cũng lần đầu ghi nhận kỷ lục 42,7 độ C. Trong khi đó, tại Nam Á, ít nhất 11 người chết tại Ấn Độ do say nắng hôm 16/4, Guardian cho hay. Trước tình trạng nắng nóng, những giải pháp với mục tiêu ban đầu là ngăn chặn lũ lụt ở Trung Quốc cũng mang lại kết quả tích cực trong ứng phó nắng nóng kéo dài.
Việc triển khai các thành phố bọt biển có thể giảm nhiệt độ đô thị. Theo nghiên cứu tại Quảng Châu, việc dùng gạch và bê tông xốp có thể giảm nhiệt độ bề mặt vỉa hè 12-20 độ C, và nhiệt độ không khí có thể giảm tới 1 độ C. Trong khi đó, mô hình mái nhà xanh (sử dụng thảm thực vật che phủ các tòa nhà) có mục đích chính là giảm lượng mưa chảy xuống mặt đường gây ngập lụt, cũng có những hiệu quả trong việc giảm nhiệt độ xung quanh. Ngoài việc giảm nhiệt độ và lũ lụt, thành phố bọt biển có thể mang lại lợi ích về tài chính và xã hội, theo Eco Business.
17
Các công trình thành phố bọt biển cũng nâng cao đời sống xã hội thông qua việc giảm nhiệt độ môi trường xung quanh, cải thiện tiện nghi nhiệt ngoài trời, giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do nhiệt, đồng thời giảm bớt áp lực tiêu thụ năng lượng. Ngành công nghiệp cùng khu vực tư nhân có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính và phối hợp xây dựng mô hình này với chính phủ. Các dự án khác để giảm nhiệt đô thị từ đó có thể được thực hiện thông qua mô hình thành phố bọt biển, từ tòa nhà xanh, thành phố thông minh, thành phố rừng và xử lý khói bụi. Vẫn còn đó những thách thức về kỹ thuật, kinh tế và xã hội, song các dự án thí điểm là cách để đánh giá hiệu quả và giảm thiểu rủi ro. Với Châu Hải, thành phố này vẫn có tốc độ phát triển kinh tế ổn định, bên cạnh đầu tư cho các dự án xanh. Tăng trưởng GDP năm 2022 của thành phố đạt 2,3%, cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với trung bình của các thành phố tại tỉnh Quảng Đông. Đây có thể là ví dụ để các thành phố khác trên thế giới nghiên cứu và áp dụng nhằm giải quyết tình trạng nắng nóng và biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/motso-xu-huong-trong-thiet...oc.html https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/giaiphap-chong-ngap-do-thi...oc.htm https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyenmuc/canh-quan-tu-nhien-va-kien-...an.html https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyenmuc/thanh-pho-bot-bien-mang-loi...oc.html
CẢM ƠN CÔ ĐÃ ĐÓN NHẬN BÀI VIẾT CỦA EM Ạ