Page 1

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Viện Ngân hàng – Tài chính

BÀI TẬP NHÓM Đề tài: “Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ở Việt Nam

Lớp:

Ngân hàng CLC 56

Bộ môn:

Ngân hàng phát triển

Nhóm:

Nguyễn Văn Quý Nguyễn Thảo Ly Đỗ Khánh Huyền Lê Thị Nhật Thảo Nguyễn Linh Trang

1


MỤC LỤC I.

TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG HỖ TRỢ XUẤT KHẨU CỦA NHÀ NƯỚC: .................. 4 1.

Khái niệm: ............................................................................................................................ 4

2.

Vai trò:.................................................................................................................................. 4 2.1. Đối với doanh nghiệp: ...................................................................................................... 4 2.2. Đối với quốc gia: ............................................................................................................... 4

3. Phân loại tín dụng hỗ trợ xuất khẩu và vai trò: ....................................................................... 4 3.1. Bảo hiểm tín dụng: ........................................................................................................... 4 3.2. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu: ............................................................................................ 5 3.3. Cho thuê tài chính: ........................................................................................................... 8 3.4. Cấp tín dụng xuất khẩu: .................................................................................................... 8 II.

THỰC TRẠNG HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP: .................................................................................. 9 A. Thực trạng và Nguyên nhân .................................................................................................... 9 1. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: .............................................................................................. 9 2. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu: ............................................................................................. 10 3. Cho thuê tài chính:............................................................................................................. 11 4. Cho vay xuất khẩu (cấp tín dụng xuất khẩu): .................................................................... 12 B. Một số Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của nhà nước: .................................................................................................................................. 13 1. Giải pháp đẩy mạnh triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: .......................................... 13 2. Giải pháp thúc đẩy cho thuê tài chính: .............................................................................. 14

III.

LIÊN HỆ THỰC TIỄN ............................................................................................................ 14

Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê. ........................................................................ 14 Cầu và thị trường nước nhập khẩu. ...................................................................................... 15

2


Giá cả và chất lượng. ............................................................................................................. 15 Kênh và dịch vụ phân phối. ................................................................................................... 15 Môi trường cạnh tranh. ......................................................................................................... 16 Yếu tố về sản xuất chế biến. .................................................................................................. 16 Các nhân tố thuộc về quản lý. ............................................................................................... 16 Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu cà phê. ............................................................ 17 Chính sách thuế xuất nhập khẩu. ............................................. Error! Bookmark not defined. Chính sách tín dụng xuất khẩu. ............................................................................................. 17 Chính sách tỷ giá hối đoái. ..................................................................................................... 18 Chính sách bảo hiểm xuất khẩu............................................................................................. 19

3


I.

TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG HỖ TRỢ XUẤT KHẨU CỦA NHÀ NƯỚC: 1. KHÁI NIỆM -

Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay.

-

Khái niệm tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đã được định nghĩa cụ thể trong Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ban hành kèm theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ như sau: “Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu là ưu đãi của Nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cá nhân phát triển sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước”.

2. VAI TRÒ 2.1. Đối với doanh nghiệp: - Hỗ trợ về vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cá nhân phát triển sản xuất – kinh doanh hàng xuất khẩu. - Giúp cho các doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào từ đó tăng khả năng cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. - Giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu được các rủi ro trong hoạt động sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu. 2.2. Đối với quốc gia: Đẩy mạnh xuất khẩu, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu ngoại tệ để cải thiện cán cân thương mại quốc tế, kìm hãm và hạn chế trình trạng nhập siêu… từ đó thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế. 3. PHÂN LOẠI TÍN DỤNG HỖ TRỢ XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ: 3.1. Bảo hiểm tín dụng: - Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đã được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhưng hiện nay mới được triển khai thí điểm ở Việt Nam. - Bảo hiểm tín dụng: là hình thức bảo đảm tài chính cho nhà xuất khẩu trong các hợp đồng xuất nhập khẩu có điều kiện thanh toán theo hình thức tín dụng mở trước những rủi ro nợ xấu, mất khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu do mất khả năng thanh toán, phá sản hoặc vì bất ổn chính trị tại quốc gia nhập khẩu.

4


- Đối với các doanh nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu giúp bảo vệ tài chính cho nhà xuất khẩu trong trường hợp mất khả năng thanh toán; tạo ra sự thuận lợi trong việc đi vay từ các tổ chức tín dụng để tăng lượng hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, tăng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, giúp doanh nghiệp xuất khẩu tăng doanh số bán hàng theo những điều khoản tín dụng cạnh tranh... - Đối với các quốc gia, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ sự phát triển hoạt động tín dụng xuất khẩu an toàn, hiệu quả nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, tạo ra việc làm, tăng thu ngoại hối để cải thiện cán cân thương mại quốc tế. 

Chính sách của Nhà nước về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu:

Theo Quyết định 2011/QĐ-TTg, đối tượng tham gia bảo hiểm là các thương nhân xuất khẩu hàng hóa thuộc 2 nhóm mặt hàng. Nhóm 1 gồm 9 nhóm mặt hàng: Thủy sản, gạo, cà phê, rau quả, cao su, hạt tiêu, nhân điều, chè, sắn và các sản phẩm từ sắn. Nhóm 2 gồm 14 nhóm mặt hàng: Dệt may, giày dép, điện tử và linh kiện máy tính, gốm sứ, thủy tinh, mây tre cói và thảm, sản phẩm gỗ, sản phẩm chất dẻo, dây điện và cáp điện, xe đạp và phụ tùng, túi xách, vali, mũ, ô dù, sản phẩm từ sắt thép, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải. Với 2 nhóm mặt hàng trên nhìn chung Chính phủ khuyến khích triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở phần lớn các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam trừ các mặt hàng thuộc nhóm tài nguyên khoáng sản. Ngân sách nhà nước hỗ trợ triển khai thực hiện, mức độ hỗ trợ do Bộ Tài chính quyết định. Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Bảo hiểm, các Hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp bảo hiểm được lựa chọn triển khai có trách nhiệm đẩy mạnh phổ biến, nâng cao nhận thức về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và khuyến khích thương nhân xuất khẩu hàng hóa tham gia. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp các Bộ, cơ quan liên quan thường xuyên cung cấp thông tin về các quốc gia, ngành hàng, tổ chức nhập khẩu, thông tin rủi ro thị trường của các thị trường xuất khẩu chủ yếu. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo và khuyến khích các thương nhân xuất khẩu trên địa bàn tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

3.2. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu: a. Chính sách của Nhà nước về bảo lãnh tín dụng xuất khẩu: Theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP: - Bên bảo lãnh là Ngân hàng Phát triển Việt Nam. - Bên được bảo lãnh là nhà xuất khẩu được Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh. - Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức cho nhà xuất khẩu vay vốn.

5


- Đối tượng bảo lãnh là nhà xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu hàng hoá thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu, nhưng không vay vốn tín dụng xuất khẩu của nhà nước. - Thời hạn bảo lãnh phù hợp với thời hạn vay vốn theo Hợp đồng tín dụng đã ký giữa nhà xuất khẩu với tổ chức tín dụng nhưng tối đa là 12 tháng. - Mức bảo lãnh cho nhà xuất khẩu vay vốn không quá 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu hoặc giá trị L/C. - Nhà xuất khẩu được bảo lãnh phải trả phí bảo lãnh bằng 1%/năm trên số dư tín dụng được bảo lãnh. - Trách nhiệm tài chính khi nhà xuất khẩu không trả được nợ: + Sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày khoản vay đến hạn, chủ đầu tư không trả được nợ, tổ chức tín dụng có yêu cầu bằng văn bản gửi Ngân hàng Phát triển Việt Nam trả nợ thay. + Ngân hàng Phát triển Việt Nam có trách nhiệm trả nợ cho tổ chức tín dụng thay chủ đầu tư phần vốn vay quá hạn đã nhận bảo lãnh khi nhận được yêu cầu trả nợ thay. + Nhà xuất khẩu phải nhận nợ bắt buộc và có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam về số tiền trả nợ thay với lãi suất phạt bằng 150% lãi suất vay vốn của tổ chức tín dụng. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu là hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đã được triển khai tại Việt Nam từ cuối năm 2006 theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 do Chính phủ ban hành quy định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu có 2 trường hợp:  Nhà nước bảo lãnh trước ngân hàng cho nhà xuất khẩu: Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thuộc các nước đang phát triển như Việt Nam khi thực hiện các thương vụ đều phải vay vốn các ngân hàng thương mại. Nhưng muốn ngân hàng cấp tín dụng cần phải thế chấp hoặc cần có sự bảo lãnh nào đó. Trong trường hợp này, nhà nước đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp vay, nếu có rủi ro gì đối với khoản tín dụng đó nhà nước sẽ chịu.  Nhà nước bảo lãnh trước khoản tín dụng mà nhà xuất khẩu thực hiện cấp cho nhà nhập khẩu: Để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, nhiều doanh nghiệp thực hiện việc bán chịu hoặc trả chậm với lãi suất ưu đãi đối với người mua hàng nước ngoài. Việc bán hàng như vậy thường có những rủi ro do nguyên nhân kinh tế hoặc nguyên nhân chính trị dẫn đến sự mất vốn. Trong trường hợp đó, để khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn xuất khẩu hàng bằng cách bán chịu, Nhà nước đứng ra bảo lãnh, đền bù nếu bị mất vốn.

6


Nhà nước đứng ra bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, ngoài việc thúc đẩy xuất khẩu còn nâng cao được giá bán hàng. Đây là một hình thức khá phổ biến trong chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của nhiều nước để mở rộng xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường.  Chính sách của Nhà nước về bảo lãnh tín dụng xuất khẩu: Theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP: - Bên bảo lãnh là Ngân hàng Phát triển Việt Nam. - Bên được bảo lãnh là nhà xuất khẩu được Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh. - Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức cho nhà xuất khẩu vay vốn. - Đối tượng bảo lãnh là nhà xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu hàng hoá thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu, nhưng không vay vốn tín dụng xuất khẩu của nhà nước. - Thời hạn bảo lãnh phù hợp với thời hạn vay vốn theo Hợp đồng tín dụng đã ký giữa nhà xuất khẩu với tổ chức tín dụng nhưng tối đa là 12 tháng. - Mức bảo lãnh cho nhà xuất khẩu vay vốn không quá 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu hoặc giá trị L/C. - Nhà xuất khẩu được bảo lãnh phải trả phí bảo lãnh bằng 1%/năm trên số dư tín dụng được bảo lãnh. - Trách nhiệm tài chính khi nhà xuất khẩu không trả được nợ: + Sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày khoản vay đến hạn, chủ đầu tư không trả được nợ, tổ chức tín dụng có yêu cầu bằng văn bản gửi Ngân hàng Phát triển Việt Nam trả nợ thay. + Ngân hàng Phát triển Việt Nam có trách nhiệm trả nợ cho tổ chức tín dụng thay chủ đầu tư phần vốn vay quá hạn đã nhận bảo lãnh khi nhận được yêu cầu trả nợ thay. + Nhà xuất khẩu phải nhận nợ bắt buộc và có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam về số tiền trả nợ thay với lãi suất phạt bằng 150% lãi suất vay vốn của tổ chức tín dụng.

7


3.3. Cho thuê tài chính: Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và bên thuê là khách hàng. Bên cho thuê (công ty cho thuê tài chính) cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê (cá nhân, tổ chức) và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê. Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu (với giá tượng trưng), mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thỏa thuận. Ở đây cần hiểu tài sản cho thuê là các máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác được công ty đứng ra mua theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản này trong suốt thời hạn cho thuê. Các công ty cho thuê tài chính không được cho thuê bất động sản, cũng không được cho vay tiền. Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp được chủ động lựa chọn tài sản (máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển…) đáp ứng được mục đích sử dụng của mình với mức chi phí phù hợp nhờ được thanh toán dần tiền thuê tùy theo năng lực trả nợ. 3.4. Cấp tín dụng xuất khẩu:  Nhà nước cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước: Trong hoạt động xuất khẩu, lượng vốn mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất và thực hiện hợp đồng thường là rất lớn. Người xuất khẩu cần có được một số vốn trước khi giao hàng và cả sau khi giao hàng, ngoài ra cũng cần thêm vốn để kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạn mà họ dành cho người mua nước ngoài. Vì vậy, trong chính sách hỗ trợ xuất khẩu không thể thiếu được việc cấp tín dụng của Chính phủ cho doanh nghiệp xuất khẩu theo những điều kiện ưu đãi. Các ngân hàng thường hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu bằng cách cung cấp tín dụng ngắn hạn trong giai đoạn trước và sau khi giao hàng. Tín dụng xuất khẩu theo mức lãi suất ưu đãi không chỉ đơn giản là giúp người xuất khẩu thực hiện được hợp đồng xuất khẩu của mình mà còn giúp họ giảm chi phí về vốn cho hàng xuất khẩu cũng như giảm giá thành xuất khẩu. Do đó tín dụng xuất khẩu làm cho nhà xuất khẩu có khả năng bán được hàng của mình theo điều kiện có lợi và hàng hóa có sức cạnh tranh lớn hơn trước đối thủ của mình.  Nhà nước cấp tín dụng cho nước ngoài: Nhà nước trực tiếp cho nước ngoài vay tiền với lãi suất ưu đãi để sử dụng số tiền đó mua hàng của nước cho vay. Nguồn vốn cho vay thường lấy từ ngân sách nhà nước. Việc cho vay này thường kèm theo các điều kiện kinh tế và chính trị có lợi cho nước cho vay.

8


Hình thức này có tác dụng giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh được xuất khẩu vì chính phủ đã tạo sẵn ra thị trường. Tuy nhiên, hình thức này chủ yếu áp dụng ở các nước có tiềm lực kinh tế mạnh, đối với các nước này phần nào giải quyết được tình trạng dư thừa hàng hóa ở trong nước. Nhiều nước đã áp dụng hình thức này như Chính phủ Nhật bản cấp ODA cho Việt Nam trong đó có điều kiện cấp cho một số doanh nghiệp để nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản. Với Việt Nam, trong điều kiện hiện nay chúng ta chưa có vốn để cho nước ngoài vay với khối lượng lớn, tuy nhiên trong những trường hợp nhất định, Chính phủ cũng nên áp dụng hình thức này để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của ta. * Chính sách của Nhà nước về cho vay xuất khẩu: - Hình thức: Cho nhà xuất khẩu vay, bao gồm cho vay trước hoặc sau khi giao hàng. - Đối tượng cho vay: Nhà xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu hàng hoá thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu được ban hành kèm theo Nghị định này. - Điều kiện cho vay: Phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả được Ngân hàng Phát triển Việt Nam thẩm định và chấp thuận cho vay. - Mức vốn cho vay: tối đa bằng 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu, hoặc giá trị L/C đối với cho vay trước khi giao hàng hoặc trị giá hối phiếu hợp lệ đối với cho vay sau khi giao hàng - Thời hạn cho vay: xác định theo khả năng thu hồi vốn phù hợp với đặc điểm của từng hợp đồng xuất khẩu và khả năng trả nợ của nhà xuất khẩu nhưng không quá 12 tháng. - Lãi suất cho vay: giao Bộ Tài chính quyết định theo nguyên tắc phù hợp với lãi suất thị trường. Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu để Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện tối đa 2 lần/năm.

II.

THỰC TRẠNG HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP: A. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 1. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: * Thực trạng sử dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở VN hiện nay

9


Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được thực hiện thí điểm tại Việt Nam từ năm 2011 đến 2013 theo Quyết định số 2011/QĐ-TTg ngày 05 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ với mục tiêu đến cuối năm 2013 3% kim ngạch xuất khẩu của chúng ta sẽ được bảo hiểm. --- Quý bổ sung --* Nguyên nhân bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chưa được triển khai mạnh mẽ ở Việt Nam: - Về phía Nhà nước: Các cơ quan nhà nước vẫn chưa có những hành động cụ thể và cần thiết để hỗ trợ cho các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng - Về phía các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng: Để bán được sản phẩm bảo hiểm này, doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng phải có mối quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp, ngân hàng nước ngoài, phải có hệ thống công nghệ thông tin tốt, dữ liệu về rủi ro đa dạng đầy đủ đối với từng quốc gia, từng lĩnh vực, ngành hàng và nguồn nhân lực có kinh nghiệm chuyên sâu… từ đó mới thẩm định được năng lực thanh toán của doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài. Các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng không thể có các điều này chỉ trong một thời gian ngăn đồng thời phải đầu tư một lượng vốn lớn trong khi chưa chắc chắn có thể thu hồi được các khoản đầu tư này. Thứ hai, do đây là sản phẩm mới nên số lượng doanh nghiệp xuất khẩu yêu cầu bảo hiểm còn hạn chế. Do đó, nếu nhận bảo hiểm cho các đối tượng này thì xác suất xảy ra tổn thất là rất lớn, không đáp ứng nguyên tắc số đông bù số ít. - Về phía doanh nghiệp xuất khẩu: Hiện đã và đang có một số hình thức hỗ trợ xuất khẩu an toàn hơn hoặc sẵn có theo thông lệ quốc tế, kết hợp với việc được trích lập dự phòng rủi ro hoặc bảo lãnh của Chính phủ đối với xuất khẩu một số mặt hàng xuất khẩu theo hợp đồng ký kết giữa các Chính phủ (như xuất khẩu gạo), đồng thời có một số hình thức thanh toán quốc tế khác có mức độ rủi ro thấp như khách hàng ứng trước, điện chuyển tiền hay mở thư tín dụng... Ngoài ra, nhận thức của các tổ chức xuất khẩu về vai trò của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu còn hạn chế, đặc biệt là đối với các tổ chức xuất khẩu lớn vì đối tác của họ là các bạn hàng lớn và lâu năm nên tâm lý chủ quan cho rủi ro người mua không thanh toán hay tỷ lệ phá sản rất thấp. Đồng thời, quan niệm mua bảo hiểm làm tăng chi phí, giá thành mà chưa nhận thức được quyền lợi của mình nếu tham gia nên chưa hình thành thói quen và nhu cầu đối với loại hình bảo hiểm này. 2. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu: Bảo lãnh tín dụng được triển khai tại Việt Nam từ năm 2007 theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20/12/2006 - Mục 2. Tuy nhiên, trong thời gian qua do chưa thực sự phát huy hiệu quả nên trong dự thảo Nghị định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước đang được hoàn thiện, Bộ Tài chính đã không đưa hình thức này vào nội dung của dự thảo.  Thực trạng triển khai bảo lãnh tín dụng xuất khẩu và nguyên nhân:

10


Như đã nói ở trên, hình thức bảo lãnh tín dụng xuất khẩu quy định trong Nghị định 151/2006/NĐ-CP trong thời gian qua chưa thực sự phát huy hiệu quả. ---- quý bổ sung ----

Mặt khác, trong năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 14/2009/QĐTTg và 60/QĐ-TTg về bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại phục vụ sản xuất kinh doanh. 3. Cho thuê tài chính: Cho đến thời điểm hiện tại Việt Nam chưa có bất cứ quy định nào về tín dụng hỗ trợ xuất khẩu thông qua hình thức cho thuê tài chính, tuy nhiên với việc ban hành Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2011 về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính thì các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cũng có thêm một kênh để nhận được hỗ trợ về tín dụng. a. Thực trạng cho thuê tài chính ở Việt Nam: Mặc dù cho thuê tài chính là loại hình cấp tín dụng trung và dài hạn khá phổ biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên, sau hơn 20 năm có mặt (cho thuê tài chính bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1996) thị trường cho thuê tài chính Việt Nam chỉ có 18 công ty được thành lập dưới các hình thức sở hữu khác nhau. Vốn điều lệ trung bình của một doanh nghiệp cho thuê tài chính là 175 tỉ đồng - rất nhỏ so với vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại. Hơn nữa, hiện nay có nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. b. Nguyên nhân cho thuê tài chính chưa phát triển ở Việt Nam: Thứ nhất, doanh nghiệp hiểu biết về kênh cấp vốn qua dịch vụ cho thuê tài chính còn hạn chế; hoạt động quảng bá, giới thiệu dịch vụ này đến doanh nghiệp còn yếu. Thứ hai, mạng lưới hoạt động của các công ty cho thuê tài chính mới chỉ có mặt tại một vài trung tâm kinh tế lớn, chưa trải rộng trong cả nước cũng như chưa có sự phối hợp với các ngân hàng thương mại để có thể quảng bá hoặc bán trọn gói sản phẩm. Thứ ba, trình độ của cán bộ kinh doanh trong các Công ty cho thuê tài chính chưa chuyên nghiệp, không năng động trong việc tiếp cận và tư vấn cho doanh nghiệp về cơ cấu nguồn vốn. Thứ tư, giá cho thuê (gồm tiền trích khấu hao tài sản thuê, phí, bảo hiểm...) hiện nay còn cao. Nếu bỏ qua các yếu tố an toàn, chi phí bỏ ra ban đầu thấp... thì cho đến hết thời hạn thanh lý hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê sẽ phải thanh toán tổng số tiền đối với tài sản thuê cao hơn so với đi vay từ các nguồn khác như ngân hàng. Như vậy, nếu tính ra lãi suất thì lãi suất

11


thuê tài chính cao hơn lãi suất vay ngân hàng, bởi vì lãi suất thuê tài chính còn phải cộng thêm các chi phí về lắp đặt, vận hành, bảo hiểm... của bên cho thuê phải bỏ ra. Thứ năm, hành lang pháp lý về cho thuê tài chính chưa hoàn thiện đồng bộ, nhiều quy định cần phải được luật hóa. Các quy định về sở hữu, về tổ chức, hoạt động, vốn điều lệ... trong các văn bản còn nhiều vấn đề phải bàn. Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản dưới luật khi quy định về cho thuê tài chính đã không phân định triệt để các khái niệm liên quan đến sở hữu, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuê trong các giai đoạn của quá trình cho thuê tài chính, giá trị cho thuê tối đa... gây cản trở đối với hoạt động cho thuê tài chính. 4. Cho vay xuất khẩu (cấp tín dụng xuất khẩu): Hiện nay, hoạt động tín dụng xuất khẩu được thực hiện thông qua đầu mối là Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Bắt đầu triển khai từ năm 2001, khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định Số 133/2001/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu. Qua hơn 10 năm thực hiện, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã cấp tín dụng xuất khẩu cho hàng trăm doanh nghiệp với doanh số cho vay tính đến tháng 10/2007 ước tính khoảng 40.000 tỉ đồng, dư nợ trên dưới 3.000 tỷ đồng. Ngày 20/12/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 151/2006/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. So với Quy chế TDXK trước đây, Nghị định 151 có những thay đổi đáng kể, phù hợp với nhu cầu thực tế và có ý nghĩa to lớn trong việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

* Những ưu điểm khi khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam: - Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam hiện nay được thực hiện thống nhất tại tất cả các chi nhánh Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên toàn quốc và áp dụng với mọi loại hình doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, không phân biệt thành phần kinh tế, quy mô doanh nghiệp, doanh nghiệp trong nước hay nước ngòai; chỉ yêu cầu đảm bảo mục tiêu sử dụng vốn vay cho sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu các mặt hàng theo danh mục quy định của Nghị định 151 và đáp ứng các yêu cầu về trình tự thủ tục vay vốn. - Thủ tục, thời gian vay vốn tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam hiện nay đã đơn giản hơn nhiều so với trước thể hiện ở số lượng giấy tờ văn bản cần cung cấp đã giảm, trình tự duyệt vay đã được quy định cụ thể, có quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận trong từng khâu hướng dẫn và tiếp nhận hồ sơ, duyệt vay và giải ngân nhằm giảm tối đã các phiền hà cho khách hàng; Khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam sẽ được hướng dẫn nhiệt tình cụ thể và được tư vấn, hỗ trợ khi cần thiết. - Tỷ lệ tài sản đảm bảo tiền vay được xác định linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng khách hàng và quan hệ tín dụng giữa khách hàng và Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Hiện nay, tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần có khi vay vốn tín dụng xuất

12


khẩu là 15% đối với hình thức cầm cố, thế chấp và 100% đối với hình thức bảo lãnh của bên thứ 3. Đối với một số trường hợp cụ thể, Ngân hàng Phát triển Việt Nam có thể xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Đây là một lợi thế lớn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam so với các ngân hàng thương mại bởi hiện nay tỷ lệ tài sản bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thường ở mức cao, có thể lên tới trên 100% giá trị khoản vay. - Đối với những khách hàng đủ điều kiện vay theo hạn mức, Ngân hàng Phát triển Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn theo hình thức này với ưu điểm giảm thiểu thủ tục hành chính, cho vay sát với nhu cầu về vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu của khách hàng. - Lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam hiện nay đang áp dụng thấp hơn so với mức lãi suất trung bình của nhiều ngân hàng thương mại. Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 203/2010/TT-BTC quy định lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư, thay thế Quyết định số 3280/QĐ-BTC ngày 25/12/2009. Theo đó, lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước bằng đồng Việt Nam sẽ tăng từ 9,6%/năm (theo quy định tại Quyết định số 3280/QĐ-BTC) lên 11,4%/năm, bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi tăng từ 6,0%/năm lên 6,6%/năm. Theo phân tích của Vụ Tài chính Ngân hàng Bộ Tài chính, lãi suất tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu được điều chỉnh tăng để phù hợp với diễn biến xu hướng tăng của lãi suất cho vay trên thị trường (sau khi Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản từ 8%/năm lên 9%/năm), đồng thời giảm số cấp bù chênh lệch lãi suất cho Ngân sách Nhà nước.

B. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG HỖ TRỢ XUẤT KHẨU CỦA NHÀ NƯỚC: 1. Giải pháp đẩy mạnh triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: - Về phía Nhà nước: Cần hỗ trợ, tạo cơ sở vốn đầu tư ban đầu cho trang bị công nghệ và tuyển dụng nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế (nhiều quốc gia không áp thuế thu nhập, thuế VAT) và có chính sách bù đắp chi phí hoạt động trong 2 - 3 năm đầu tiên. - Về phía các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: Gia tăng tìm kiếm sự hợp tác với các công ty bảo hiểm tín dụng quốc tế hàng đầu là cần thiết đối với hệ thống doanh nghiệp bảo hiểm trong nước để từ đó học hỏi kinh nghiệm, thiết lập cơ cấu chấp nhận và chuyển giao rủi ro bảo hiểm, tái bảo hiểm tín dụng phù hợp. - Về phía tổ chức xuất khẩu: Để đẩy mạnh việc tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bên cạnh ban hành các chính sách tuyên truyền, khuyến khích doanh nghiệp mua bảo hiểm, Nhà nước có thể xem xét cho phép ngân hàng hỗ trợ lãi suất nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp.

13


2. Giải pháp thúc đẩy cho thuê tài chính: 1. Lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa là mục tiêu chính, vì theo đánh giá của các chuyên gia, các doanh nghiệp này được coi là yếu, thể hiện ở sáu chữ M trong tiếng Anh là Man Power (nguồn nhân lực); Management (quản trị); Machinery (máy móc, công nghệ); Materials (vật tư); Marketing (tiếp thị), và cuối cùng là Money (vốn). Bên cạnh đó còn có một thực tế là có đến 50% doanh nghiệp phải giải thể hoặc phải tái cơ cấu sau sáu năm hoạt động. Hiện nay, ở Việt Nam số doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp. Hơn nữa, xét về bản chất, đây là một “khoản vay tài chính” và phải trả lãi (trên cơ sở tính phí thuê tài chính được trả cho đến khi hết hạn hợp đồng), và đương nhiên đã là một “khoản vay” thì rủi ro liên quan đến vay vốn luôn luôn hiện hữu và có thể dẫn đến phải áp dụng các biện pháp, thậm chí là biện pháp phá sản bất cứ khi nào nếu doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả. Do đó, để thúc đẩy thị trường cho thuê tài chính hoạt động có hiệu quả đòi hỏi sự phát triển của chính cộng đồng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi chính các doanh nghiệp là khách hàng và là mục tiêu hướng tới của các công ty cho thuê tài chính. 2. Từng bước sửa đổi, bổ sung các quy định về hoạt động liên quan đến dịch vụ cho thuê tài chính trong Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành. 3. Cần sửa đổi Nghị 16/2001/NĐ-CP để gỡ bỏ rào cản ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng cho thuê tài chính. Theo quy định của khoản 3 Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP: “Hoạt động cho thuê tài chính trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện qua các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam”. Trong khi ngân hàng hoàn toàn có thể được thực hiện hoạt động cho thuê tài chính vì đây là một hình thức cấp tín dụng, chứ hoạt động này không chỉ dành riêng cho công ty cho thuê tài chính. 4. Nhà nước, các hiệp hội và chính các công ty cho thuê tài chính cần phải quảng bá rộng rãi hơn nữa dịch vụ của mình đến cộng đồng doanh nghiệp. 5. Các công ty cho thuê tài chính cố gắng giảm các loại chi phí đầu vào nhằm hạ giá dịch vụ để thu hút khách hàng. III.

LIÊN HỆ THỰC TIỄN Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê. Nhưng tựu chung lại thì có một số nhân tố tác động sau.

14


Cầu và thị trường nước nhập khẩu. - Cũng như các loại hàng hóa khác, cà phê xuất khẩu cũng chịu tác động của cầu của nước nhập khẩu. Nếu nước nhập khẩu mà có nhu cầu cao về cà phê thì xuất khẩu cà phê của chúng ta sẽ tăng trưởng tốt và ngược lại thì nó sẽ làm giảm số lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu cà phê. Mặt khác, nhu cầu của nước nhập khẩu về loại cà phê cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu cà phê của chúng ta. Nếu nước nhập khẩu có nhu cầu cà phê cao nhưng lọai cà phê họ ưa thích là cà phê chè (Arabica), trong khi chúng ta chủ yếu xuất khẩu cà phê vối (robusta) thì cũng làm cho xuất khẩu cà phê của chúng ta giảm và ngược lại nếu họ có nhu cầu về cà phê vối thì xuất khẩu cà phê của chúng ta sẽ tăng lên. - Ngoài nhu cầu ra thì thị trường của nước nhập khẩu cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất khẩu cà phê của chúng ta. Nếu họ có nhu cầu nhưng dung lượng thị trường nhỏ thì cũng không làm tăng xuất khẩu cà phê, hoặc những yêu cầu quy định và cách thức cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu cũng ảnh hưởng tác động đến họat động xuất khẩu cà phê của chúng ta. - Môi trường cũng như chính sách của nước nhập khẩu đối với cà phê cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu cà phê của chúng ta. Cho dù người tiêu dùng nước đó có nhu cầu cao về cà phê của chúng ta nhưng chính sách của Chính phủ nước đó bảo hộ thị trường trong nước, dựng lên các hàng rào gây cản trở cho hoạt động xuất khẩu thì chúng ta cũng khó có thể thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường này được. Như thị trường Mỹ với các hàng rào về kỹ thuật như đạo luật chống khủng bố sinh học, thủ tục hải quan…cũng gây nhiều khó khăn cho các nước nhập khẩu nông sản vào thị trường này. Giá cả và chất lượng. - Bất kể hàng hóa nào cũng vậy, nếu chất lượng tốt thì có sức cạnh tranh cao và bán chạy hơn. Với cà phê cũng vậy nếu chất lượng cà phê không tốt thì không những tiêu thụ cà phê kém mà nếu có xuẩt khẩu được cũng bị ép gía thấp nên giá trị xuất khẩu là không cao. Ngược lại, chất lượng tốt không những xuất khẩu được nhiều mà giá cả còn cao nên giá trị xuất khẩu sẽ lớn. - Giá cả luôn tác động tới quan hệ cung cầu. Giá thấp thì khối lượng xuất khẩu sẽ tăng nhưng giá trị lại không tăng đáng kể thậm chí là giảm. Ngược lại khi giá cà phê cao thì khối lượng xuất khẩu có thể không tăng những giá trị xuất khẩu lại có thể tăng mạnh. Kênh và dịch vụ phân phối. - Một kênh phân phối hợp lý sẽ không những giảm chi phí trong hoạt động nâng cao sức cạnh tranh của cà phê xuất khẩu mà còn giúp cho qúa trình xuất khẩu cà phê được nhanh chóng dễ dàng và nắm bắt tốt thông tin phản hồi từ thị trường nước nhập khẩu cũng như của người cung ứng. - Dịch vụ phân phối tốt sẽ giúp cho khách hàng hài lòng hơn khi mua cà phê của chúng ta. Dịch vụ phân phối còn là vũ khí cạnh tranh hữu hiệu của các nhà xuất khẩu nhằm tăng sức cạnh tranh và xuất khẩu cà phê. Nếu như không có dịch vụ phân phối tốt hơn đối thủ cạnh tranh thì khách hàng sẽ mua hàng của đối thủ cạnh tranh mà không mua của mình cho dù cà phê của mình có gía rẻ hơn. Vì vậy dịch vụ phân phối ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu cà phê.

15


Môi trường cạnh tranh. Môi trường cạnh tranh như các thể chế, quy định, các rào cản đối với kinh doanh cà phê của nước nhập khẩu cà phê, số lượng các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu cà phê. Môi trường cạnh tranh càng gay gắt thì dễ làm giảm xuất khẩu cà phê của chúng ta nhất là khi cà phê của chúng ta là cà phê Robusta có giá trị thấp hơn cà phê Arabica. Chất lượng cà phê của chúng ta lại thấp hơn các nước khác như Braxin, Colombia, Indonesia. Làm cho việc xuất khẩu cà phê của chúng ta gặp nhiều khó khăn. Ngược lại khi thị trường cà phê thế giới có sự cạnh tranh không cao thì sẽ làm cho xuất khẩu cà phê của chúng ta có nhiều thuận lợi. Yếu tố về sản xuất chế biến. - Việc quy hoạch vùng trồng cà phê hợp lý sẽ giúp cho chúng ta khai thác được lợi thế vùng trong sản xuất cà phê. Nâng cao được năng suất chất lượng của cà phê, qua đó tạo điều kiện thuận tiện cho chế biến và xuất khẩu cà phê. - Công nghệ chế biến cũng ảnh hưởng lớn tới xuất khẩu cà phê. Nếu chúng ta có được công nghệ chế biến cà phê hiện đại với công suất lớn thì chúng ta sẽ nâng cao được giá trị của cà phê xuất khẩu. Tạo ra sức cạnh tranh mạnh cho cà phê xuât khẩu của chúng ta so với các nước xuất khẩu cà phê khác. - Việc phân bố các nhà máy chế biến, các cơ sở kinh doanh cà phê cũng như các vùng sản xuất cà phê hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê. Qua đó sẽ giảm được chi phí trong hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh của cà phê xuất khẩu trên thị trường cà phê thế giới. - Ngoài ra các yếu tố cơ sở hạ tầng cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất khẩu cà phê. Nếu có được cơ sở hạ tầng tốt thì giúp cho việc vận chuyển cà phê từ nơi sản xuất tới nơi chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê thuận tiện. Cơ sở hạ tầng tốt còn giúp cho việc chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê thuận lợi. Góp phần tăng cao khả năng cạnh tranh của của cà phê xuất khẩu, qua đó nâng cao được kết quả cũng như hiệu quả của xuất khẩu cà phê. Các nhân tố thuộc về quản lý. - Có thể nói con người có ý nghĩa quyết định trong mọi vấn đề, đặc biệt là trong kinh doanh. Với kinh doanh xuất khẩu cà phê cũng vậy, cho dù có đầy đủ các nhân tố thuận lợi khác nhưng nếu như không có những công nhân lành nghề, có khả năng vận dụng khoa học kỹ thuật cũng như có khả năng sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại trong sản xuất chế biến cà phê thì cũng làm cho hoạt động kinh doanh cà phê không có hiệu quả. - Ngoài ra, cho dù chúng ta có được mặt hàng cà phê có chất lượng và có sức cạnh tranh cao nhưng không có người am hiểu về kinh doanh xuất nhập khẩu để tham gia quản lý điều hành việc kinh doanh xuất nhập khẩu thì xuất khẩu cà phê của chúng ta cũng không thể có được kết quả tốt. - Những người làm công tác quản lý vĩ mô, hoạch định cũng giữ vai trò to lớn trong hoạt động xuất khẩu cà phê. Những nhà quản lý này sẽ cố vấn cho Chính phủ điều tiết và quản lý hoạt

16


động xuất khẩu cà phê. Xây dựng lên các chiến lược cho sự phát triển của ngành cà phê trong nước. Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu cà phê. Chính sách tín dụng xuất khẩu. a. Tác động của chính sách tín dụng đối với xuất khẩu. - Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nói riêng của Việt Nam đại đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên việc thiếu vốn kinh doanh là thường xuyên đối với các doanh nghiệp này. Vì vậy để có vốn kinh doanh, các doanh nghiệp phải đi vay của các tổ chức tín dụng. Nếu lãi suất đi vay quá lớn sẽ ảnh hưởng không tốt tới hoạt động xuất khẩu, nếu lãi suất thấp, có ưu đãi thì sẽ khuyến khích và hỗ trợ cho xuất khẩu. - Thông qua chính sách tín dụng, Nhà nước sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các ngành hàng gặp khó khăn trong kinh doanh xuất nhập khẩu. Những doanh nghiệp, ngành hàng nằm trong chiến lược phát triển của Nhà nước. b. Nội dung của chính sách tín dụng. b1. Chính sách tín dụng Ngân hàng. Các Ngân hàng thương mại là một kênh cung cấp vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu. Các doanh nghiệp khi vay vốn từ các Ngân hàng thương mại phải chịu một lãi suất nhất định gọi là lãi vay. Lãi suất Ngân hàng chịu tác động của nhiều yếu tố như lãi huy động, quan hệ cung cầu tiền, các chính sách của Ngân hàng Nhà nước như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu. Ngoài ra lãi suất Ngân hàng này đôi khi còn chịu tác động từ điều chỉnh của Nhà nước đối với các đối tượng vay khác nhau, tùy theo chiến lược và chính sách của Nhà nước. Đối với các doanh nghiệp, lãi vay Ngân hàng là một loại chi phí đầu vào của doanh nghiệp. Vì vậy sẽ làm cho chi phí kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên. Khi lãi suất vay tăng lên làm cho chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp tăng lên ảnh hưởng hoạt động xuất khẩu của họ. Do đó sẽ hạn chế các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh xuất khẩu. Khi lãi suất thấp sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh xuất khẩu. Nhưng điều này sẽ làm cho việc huy động tiền của các Ngân hàng bị hạn chế và các Ngân hàng sẽ làm ăn không hiệu quả. việc xây dựng chính sách tài chính với lãi suất thích hợp và linh hoạt là một yêu cầu cần thiết đối với Nhà nước. Có như thế mới khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của mình, các Ngân hàng hoạt động có hiệu quả còn nền kinh tế sẽ vận động lành mạnh và hiệu quả. b2. Chính sách tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển. Nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, Chính phủ đã cho thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu thông qua Quyết định số 195/2000/QĐ – TTg. Quỹ hỗ trợ xuất khẩu chính thức đi vào hoạt động năm 2001, Quỹ hỗ trợ được thành lập nhằm mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu trong trường hợp gặp khó khăn khách quan trong việc sản xuất và kinh doanh xuất khẩu.

17


Khi gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh xuất khẩu, các doanh nghiệp được Quỹ hỗ trợ cho vay không lãi suất hoặc với lãi suất ưu đãi, thấp hơn lãi suất thường tại cùng thời điểm. Trong 5 năm hoạt động Quỹ hỗ trợ đã trợ giúp rất nhiều cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu. Chính sự hỗ trợ này đã giúp cho các doanh nghiệp vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động và khuyến khích các doanh nghiệp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thông qua đầu tư tìm kiếm thị trường mới, mặt hàng mới. Ngoài ra với lãi suất tín dụng mà quỹ hỗ trợ dành cho các doanh nghiệp đã giúp cho các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn kinh doanh với chi phí thấp, giúp họ tăng hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp mình. Qua đó góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010. Chính sách tỷ giá hối đoái. 1.

Quan niệm: Tỷ giá hối đoái là tiền tệ của quốc gia này được tính bằng tiền tệ của quốc gia khác. Như vậy có hai loại tỷ giá hối đoái là tỷ giá hối đoái nội tệ và tỷ giá hối đoái ngoại tệ. - Tỷ giá hối đoái ngoại tệ là tỷ lệ đồng ngoại tệ được tính bằng đồng nội tệ. - Tỷ giá hối đoái nội tệ là đồng nội tệ được tính bằng đồng ngoại tệ. b. Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đối với xuất khẩu. - Nếu như tỷ giá ngoại tệ tăng khi đó làm cho hàng hóa trong nước rẻ tương đối so với hàng hóa trên thị trường thế giới nên sẽ tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước và do đó khuyến khích xuất khẩu. Ngược lại nếu tỷ giá này cao thì sẽ hạn chế xuất khẩu. - Nếu tỷ giá hối đoái mà không ổn định thì các doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất khẩu gặp rất nhiều rủi ro. Do đó cũng khiến cho họ e ngại khi tham gia thực hiện các hợp đồng nhất là các hợp đồng tương lai. - Cũng thông qua tỷ giá hối đoái các quốc gia có thể sẽ có những ưu đãi với nhau khi chấp nhận thanh toán bằng đồng tiền của quốc gia đó thay cho việc thanh toán bằng đồng ngoại tệ mạnh trong giao dịch thương mại quốc tế giữa hai bên. Qua đó thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của một quốc gia vào thị trường nhất định nào đó. Do tỷ giá hối đoái có các tác động lớn tới xuất nhập khẩu của các quốc gia như thế mà nhiều quốc gia trên thế giới đã điều chỉnh và xây dựng một chính sách tỷ giá hối đoái có lợi cho mình nhất để thúc đẩy xuất khẩu. Như Trung Quốc với chính sách đông Nhân dân tệ yếu hay như một năm qua Mỹ đã điều chỉnh và chạy theo chính sách làm cho đồng đô la yếu hơn các ngoại tệ khác như Euro, Yên Nhật… và nhờ đó mà Trung Quốc là nước xuất khẩu mạnh trên thế giới, cán cân mậu dịch luôn dương, còn Mỹ nhờ chính sách đồng đô la yếu mà trong một năm qua họ đã thúc đẩy xuất khẩu và tạo cạnh tranh cao so với các nước EU và Nhật Bản. Ở Việt Nam tỷ giá giữa đồng VND và USD tương đối ổn định trong nhiều năm qua. Với một sự biến động dù là nhỏ Ngân hàng Trung ương luôn có phản ứng kịp thời, linh hoạt giúp cho tỷ giá

18


có lợi cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Từ đó góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế thưo hướng bền vững. Chính sách bảo hiểm xuất khẩu. 1.

Quan niệm: Bảo hiểm là một dạng chia sẻ rủi ro gặp phải trong đời sống và trong quá trình hoạt động của mỗi cá nhân tổ chức bằng việc đóng một khoản chi phí cho tổ chức bảo hiểm gọi là phí bảo hiểm. b. Tác động của bảo hiểm đối với xuất khẩu. - Khi xuất khẩu các doanh nghiệp có thể gặp các rủi ro như rủi ro trên đường vận chuyển hàng hóa, rủi ro trong thanh toán và các rủi ro trong hoạt động khác. Nếu không có bảo hiểm thì khi các rủi ro này xảy ra các doanh nghiệp phải gánh chịu hoàn toàn mà mỗi doanh nghiệp đều các giới hạn về nguồn lực tài chính vì vậy nó sẽ làm cho doanh nghiệp bị tổn thất nặng nề, thậm chí là phá sản. Nếu có bảo hiểm, các doanh nghiệp sẽ được các đơn vị tổ chức bảo hiểm chi trả một phần thiệt hại qua đó giúp doanh nghiệp có thể hoạt động được bình thường. - Với những mặt hàng nông sản như cà phê thì ngoài những rủi ro trong vận chuyển, thanh toán thì việc sản xuất kinh doanh cà phê còn có một rủi ro rất lớn nữa là rủi ro trong sản xuất. Cà phê cũng như các cây nông sản khác điều chịu tác động rất lớn của yếu tố tự nhiên như hạn hán, lũ lụt mà những yếu tố này là khó lường. Vì vậy việc tham gia bảo hiểm sẽ giúp cho người sản xuất cà phê tránh được những rủi ro. Ngoài ra cà phê là loại hàng hóa được mua bán kỳ hạn thông qua các sàn giao dịch nên gặp rủi ro cao trong tương lai. Vì vậy tham gia bảo hiểm giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh cà phê.

19


Tài liệu tham khảo

1.

Quyết định Số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu.

2.

Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.

3.

Thông tư số 69/2007/TT-BTC ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Bộ tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.

4.

Quyết định số 2011/QĐ-TTg ngày 05 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

5.

Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21 tháng 01 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại.

6.

Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính.

7.

Phương Anh, 04/02/2010, Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: Công cụ thúc đẩy xuất khẩu, http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/baohiem/29635/

8.

Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 28/07/2010 , Hai hình thức bảo lãnh tín dụng dự kiến không đưa vào dự thảo về tín dụng xuất khẩu, http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/baodientu.chinhphu.vn/2-hinh-thuc-bao-lanh-tindung-du-kien-khong-dua-vao-du-thao-ve-tin-dung-xuat-khau/4623886.epi

9.

http://zazoreview.com

20


21

Banking  

<a href="http://google.com">123</a>

Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you