Page 1

PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG CHO SỨC KHỎE HOÀN CHỈNH HƯỚNG DẪN HOÀN CHỈNH ĐỂ PHÒNG CHỐNG HƠN 200 BỆNH TẬT VÀ RỐI LOẠN THEO TỰ NHIÊN

BỆNH XƯƠNG KHỚP – BONE AND JOINT DISORDERS VIÊM THẤP KHỚP – VIÊM CỘT SỐNG DÍNH KHỚP – THOÁI HÓA KHỚP – GÚTNHIỄM TRÙNG XƯƠNG KHỚP – VIÊM BAO HOẠT DỊCH NGÓN CHÂN CÁI – VIÊM TÚI THANH MẠC – LOÃNG XƯƠNG


Mục đích chính của thực dưỡng là tạo điều kiện thuận lợi cho cơ thể tự điều chỉnh lập lại quân bình, và để cơ thể tự chữa bệnh tật chứ không thay thế cơ thể và chữa bệnh cho cơ thể dù là bằng thuốc hay bằng những món ăn. Những món ăn dưới này không phải là thuốc trị bệnh mà chỉ hỗ trợ thuận lợi cho cơ thể tự phục hồi mà thôi.

Hầu hết các câu hỏi thường gặp là “Ăn cái gì để chữa bệnh này của tôi ?” Câu hỏi này có phần khá lệch lạc đối với với thực dưỡng, bạn nên biết ngay từ đầu như vậy kẻo biến thực dưỡng thành dùng những thức ăn để đối chứng trị liệu, không nên lắm. Việc lệch đường này tuy chỉ có 1 ly, nhưng sẽ sai 1 dặm về sau này, đó là khi hết bệnh thì không ăn nữa.

Thực dưỡng không phải là một phương pháp chữa bệnh, mà là một nghệ thuật sống quân bình để có một đời sống an vui tự tại.


BỆNH XƯƠNG KHỚP Các bệnh xương khớp thông thường bao gồm viêm tấy ở kẽ ngón chân cái, bàn chân phẳng, vẹo xương sống, viêm túi thanh mạc, viêm khớp, thấp khớp và loãng xương. Tìm thêm trong phần “Ung thư xương” trong “Ung thư”, “Các bệnh về đĩa đệm” (“Nervous System Conditions and Disorders”), “Bệnh bàn chân và chân”, “Bệnh về cơ bắp” và “Hội chứng ống cổ tay” trong phần “Repetitive Stress Injuries” để thảo luận về các tình trạng có liên quan. Trong xã hội hiện đại, các chứng cứng khớp, sưng tấy và xơ cứng của xương và khớp được xem như những điều tự nhiên khi về già, và hàng triệu người đã bị tàn tật bởi vì sự thoái hóa của xương và khớp. Một loạt các thiết bị kéo, đeo, khuôn bó bột và thanh nẹp được dùng để điều trị các tình trạng bị trật, sai khớp. Một bộ các loại thuốc và quy trình y tế, bao gồm cả phẫu thuật đã được dùng trong nhiều ca bệnh. Thực tế thì trong xã hội truyền thống ngày xưa, các bệnh về xương khớp là hiếm gặp và không phải do nguyên nhân tuổi già. Một chế độ ăn tự nhiên, cân bằng, tập trung vào các loại ngũ cốc nguyên cám và rau củ, sẽ mang lại một cấu trúc xương khỏe mạnh suốt cuộc đời.

TRIỆU CHỨNG Các triệu chứng sau đây có thể xuất hiện khi mắc các bệnh về xương khớp : 1. Sưng tấy, viêm nhiễm, đau. 2. Xơ, cứng và căng. 3. Lỏng, mềm hay sưng đỏ. 4. Phù nề. 5. Đi lại, co duỗi hay hoạt động gặp khó khăn. 6. Mắc các bệnh về đầu gối. 7. Gặp vấn đề về thăng bằng.


NGUYÊN NHÂN 1. Tổng quan, xương, khớp và hệ thống xương là cứng, đặc và chắc hơn các hệ thống cơ quan khác, chúng được xếp vào dạng tương đối dương tính. Xương khớp khỏe mạnh được là nhờ các loại ngũ cốc nguyên cám, các loại đậu, rau củ hay rong biển và các loại thực phẩm tăng cường chức năng khác, đặc biệt là các thực phẩm giàu khoáng chất, như miso, tương đậu nành, muối biển và rong biển. Xương và khớp hấp dẫn các đồ có tính cực âm, chúng có thể bị phá hủy nếu chúng ta ăn quá nhiều đường, thực phẩm từ bơ sữa, đồ nhiều dầu mỡ, các chất kích thích, gia vị, đồ uống có cồn, thuốc tây và các thực phẩm có tính bành trướng khác. Xương khớp cũng có thể bị suy yếu bởi các thực phẩm cực dương như thịt gia súc, gia cầm, trứng và các thực phẩm động vật khác làm axit hóa cơ thể. 2. Trong y học và triết lý phương Đông, xương bị chi phối bởi thận (bầu dục) và bàng quang và các chức năng liên quan của chúng, bao gồm bàng quang kinh, kéo dài từ đỉnh đầu, chạy dọc theo toàn bộ xương sống, xuống đến cả chân và bàn chân. Các thực phẩm ăn uống đặc biệt nuôi dưỡng các cơ quan này cùng chức năng của chúng là ngũ cốc nguyên cám, các loại đậu, rong biển, rau củ sấy khô và các thực phẩm sấy khô khác, và muối biển chất lượng cao cùng nước tự nhiên. Năng lượng của thận-bàng quang mang lại sinh khí, sức mạnh và độ dẻo dai cho xương, khớp và các cấu trúc xương khác. 3. Xương khớp bị sưng tấy hay viêm nhiễm có nguyên nhân từ các yếu tố cực âm (như đường, kem hay cà chua) hoặc bởi sự kết hợp của các yếu tố cực dương và cực âm (bao gồm thịt gia súc, gia cầm, trứng, quá nhiều muối hay quá nhiều đồ nướng). 4. Xương bị mềm hoặc biến dạng có nguyên nhân từ các yếu tố cực âm. 5. Xương bị cứng đờ và biến dạng có nguyên nhân từ sự kết hợp của các yếu tố cực dương và cực âm.

6. Xương bị cong bất thường vào trong kèm theo biến dạng có nguyên nhân bởi các yếu tố cực dương. 7. Tình trạng xương bị nhiễm trùng có nguyên nhân từ các yếu tố cực âm. 8. Cứng khớp có nguyên nhân từ các yếu tố cực dương. 9. Xương khớp bị xơ cứng có nguyên nhân từ sự kết hợp của các yếu tố cực dương và cực âm.

CÁC DẠNG BỆNH Viêm khớp. Viêm khớp là bệnh mà khớp có biểu hiện sưng tấy hay bị viêm nhiễm và là một trong những căn bệnh phổ biến nhất trong xã hội hiện đại. Y học hiện đại đã khám phá ra có hơn 100 loại viêm khớp khác nhau. Tuy nhiên, từ góc nhìn Thực dưỡng, chúng có thể đơn giản được chia thành (1) loại có nguyên nhân từ các yếu tố cực dương, làm cho khớp bị co rút và căng, (2) loại có nguyên nhân từ các yếu tố cực âm, làm cho khớp bị bọc bởi chất béo, sưng phồng và đè lên dây thần kinh, hoặc (3) loại có nguyên nhân từ sự kết hợp của các yếu tố cực dương và cực âm. Nói chung, viêm khớp thể hiện sự lão hóa sớm. Khi còn khỏe mạnh, khớp và cơ bắp của trẻ con còn mềm và linh hoạt. Sự linh hoạt của cơ thể chúng thể hiện ở tình trạng tâm lý của chúng : tính nhạy bén, sẵn sàng tiếp thu cái mới, hăng hái, nhiệt tình và sáng tạo. Viêm khớp thì ngược lại : tâm trí và cơ thể trở nên cứng nhắc, thiếu linh hoạt. Các dạng chính của viêm khớp bao gồm :


các loại ngũ cốc khác. Tạm thời nên tránh ăn hoặc giảm thiểu tối đa yến mạch cán dẹt. Yến mạch chưa cán có thể ăn 10 ngày 1 lần. Tránh ăn các loại bánh như bánh quy (cookies), bánh quy giòn (crackers). Mỗi tuần có thể ăn vài lần một lượng nhỏ bánh mỳ chua sourdough, tốt nhất là nên hấp. Mì Udon có thể ăn vài lần mỗi tuần nhưng nên tránh ăn mì Soba đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Nên tránh hoặc giảm thiểu lượng kiều mạch và seitan (mì căn) ăn vào vì chúng có thể gây chảy mủ. Viêm thấp khớp (Rheumatoid arthritis). Viêm khớp dạng thấp, hay còn gọi là bệnh thấp khớp, viêm màng hoạt dịch, xuất hiện chủ yếu ở phụ nữ độ tuổi trên 40. Tỉ lệ này ở nam giới bằng một phần ba. Căn bệnh này cũng có thể xuất hiện ở trẻ em, đặc biệt là các em nữ từ 2 đến 5 tuổi. Triệu chứng chính là sự viêm nhiễm và các cơn đau dữ dội có chu kỳ ở bàn tay, cánh tay, chân và bàn chân, đi kèm theo đó là cơ thể mệt mỏi và bị mất ngủ. Khớp đốt ngón tay cũng đặc biệt bị ảnh hưởng. Các cơ quan khác trong cơ thể như tim, phổi, dây thần kinh, cơ bắp và mắt, cũng có thể bị tổn hại. Ở những độ tuổi già hơn, viêm thấp khớp có thể xuất hiện ở các ngón tay hoặc làm biến dạng bàn tay và bàn chân. Y học hiện đại coi viêm thấp khớp như một bệnh tự miễn dịch. Viêm thấp khớp thường được điều trị bằng thuốc aspirin và các thuốc kháng viêm khác. Đối với những ca nặng hơn, có thể áp dụng phương pháp tiêm hóc môn corticosteroid hoặc phẫu thuật. Dưới góc nhìn về năng lượng, viêm thấp khớp là tình trạng rối loạn khi thừa yếu tố âm, do ăn quá nhiều kem, sữa, sữa chua hay các thực phẩm từ bơ sữa khác; bột mỳ trắng trong bánh mỳ và bánh ngọt; các loại đồ ăn nhiều chất béo; đường, socola, kẹo và các chất ngọt cô đặc khác; quá nhiều trái cây và nước ép trái cây; thực phẩm từ vùng nhiệt đới; gia vị; chất kích thích; chất cồn và các loại thuốc tây. Để điều trị viêm thấp khớp, hãy tuân theo Bảng hướng dẫn số #1, chú ý thêm những điều sau : Gạo lứt hạt ngắn nên là ngũ cốc chính, kèm thêm kê, hạt lúa mì lứt, đại mạch và

Đối với súp miso, nên dùng xen kẽ luân phiên mugi miso và hatcho miso, nên dùng nhiều loại rau củ để nấu súp như củ cải, rau xanh lá và các loại rau củ có vị ngọt. Sự đa dạng trong việc dùng rau củ mỗi ngày là rất quan trọng. Tuy nhiên, củ cải và lá củ cải đặc biệt hữu ích cho tình trạng bệnh này và nên được dùng thường xuyên. Tránh sử dụng dầu mỡ khi nấu ăn trong tháng đầu tiên. Có thể áp chảo rau củ với nước thay vì dầu. Trong tháng thứ 2, có thể dùng dầu mỡ 1 lần/tuần khi xào rau củ và 2 lần/tuần trong tháng thứ 3. Tránh dùng các loại salad sống. Các loại rau được chế biến theo kiểu KINPIRA và các loại củ được chế biến theo kiểu NISHIME rất tốt cho bệnh viêm thấp khớp và nên ăn vài lần một tuần. Củ cải, cải củ turnip, cà rốt và các loại rau xanh lá có tính co rút khác đặc biệt hữu ích cho bệnh viêm thấp khớp. Tránh dùng các loại đậu trong tháng đầu tiên, rồi sau đó dùng 2-3 lần trong tháng thứ 2. Rong biển có thể dùng đều đặn, nhưng chỉ với một lượng nhỏ. Muối vừng có thể chế biến với tỉ lệ vừng : muối là 16:1. Mơ muối có thể dùng 2-3 lần/tuần, lá tía tô cũng vậy. Gia vị Nori và Tekka cũng tốt cho bệnh này. Nếu khớp bị đau, hãy tránh dùng mơ muối và dấm mơ muối đến khi tình trạng được cải thiện. Tạm thời hạn chế tối thiểu dưa muối cũng như các đồ chua. Có thể ăn vài lát Takuan (củ cải muối kiểu Nhật) vài lần một tuần. Cá thịt trắng có thể ăn 1-2 lần/tuần, bằng cách hấp, luộc hoặc nấu canh. Tránh dùng trái cây tươi và nước ép trái cây, những đồ có thể làm trầm trọng thêm tình trạng sưng viêm. Nếu thật sự thèm trái cây thì có thể


ăn một lượng nhỏ, nhưng cần được nấu kĩ với một ít muối biển. Đào khô hoặc đào nấu chín cũng đặc biệt hữu ích và có thể dùng thường xuyên. Vào mùa hè, có thể ăn một chút đào tươi với muối biển. Tránh hoặc giảm thiểu tối đa các loại hạt và bơ từ hạt (hạt điều, óc chó, hạnh nhân, …). Còn các loại hạt giống (như hạt bí, …) thỉnh thoảng có thể ăn nhưng cần được luộc hoặc nướng sơ qua (không tẩm ướp gia vị), nhưng nên tránh ăn hạt hướng dương hoặc chỉ ăn vào mùa hè. Hạt dẻ thỉnh thoảng có thể ăn chung với gạo tẻ, gạo nếp hoặc đậu đỏ nhỏ (adzuki). Nói chung nên hạn chế tối đa đồ ngọt và các đồ tráng miệng, chỉ nên dùng các nguyên liệu có chất lượng cao. Có thể uống nửa cốc nước ép cà rốt 1-2 lần/tuần trừ khi bị đau ở khớp. Gia vị nên dùng ở mức vừa phải. Tạm thời tránh dùng gừng và củ cải ngựa (wasabi) cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện.

4. CHÁO GẠO LỨT RANG có tính làm dịu các vết đau. Ăn cháo với mơ muối, bột lá tía tô hoặc muối vừng 3-4 lần/tuần. 5. Hãy làm trà đậu đỏ nhỏ (adzuki), trà gạo lứt, trà củ cải khô và trà nấm đông cô. Uống 1-2 chén mỗi ngày trong vòng 2 tuần. Sau đó, uống 2-3 lần mỗi tuần. Việc này có thể làm cải thiện chức năng của thận và gián tiếp giúp cải thiện bệnh viêm thấp khớp. Điều trị viêm thấp khớp cho thanh thiếu niên cũng giống người lớn như đã nêu ở trên. Nó có thể đi kèm các triệu chứng sốt mãn tính và thiếu máu, có nguyên nhân từ việc dùng quá nhiều thực phẩm âm tính. Đọc thêm phần ”Thiếu máu” trong chương “Chảy máu và rối loạn máu” để biết thêm thông tin. Ảnh hưởng về thể chất, đặc biệt là chế độ ăn của bà mẹ trong lúc mang thai, có thể là một nhân tố bắt đầu cho căn bệnh này cũng như chế độ ăn lúc còn thơ ấu.

Những phương thuốc điều trị tại nhà sau đây cũng rất hữu ích cho bệnh viêm thấp khớp : 1. Uống nước rau củ có vị ngọt (cà rốt, bí đỏ…) mỗi sáng và mỗi tối trong 3-4 tuần. 2. Cải thiện sự lưu thông tuần hoàn máu bằng cách thực hiện 1 trong những cách sau : Đắp GẠC GỪNG 15 phút mỗi ngày ở vùng cơ bị xơ cứng. Tiếp tục làm như vậy trong vòng 2 tuần. Nếu GẠC GỪNG có tác dụng quá mạnh thì thử dùng KHĂN NÓNG. Hoặc chà DẦU VỪNG-GỪNG nghiền lên vùng bị xơ cứng, sau đó lau sạch dầu bằng khăn ấm. Cách này có thể làm hàng ngày trong vòng 2-3 tuần. 3. Trong trường hợp bị viêm nhiễm hoặc tấy đỏ ở bàn tay, ngón tay, gót chân hay các vùng khác thì đắp trực tiếp CAO LÁ BẮP CẢI tươi. Cũng có thể dùng CAO PHỔ TAI để thay thế. Áp cao như vậy 2-3 tiếng một lần và làm 2 lần mỗi ngày hoặc áp cao trước khi đi ngủ và để qua đêm.

Viêm cột sống dính khớp (Ankylosing spondylitis). Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là sự dính lại của các khớp, dẫn đến việc xương sống bị viêm và uốn cong. Bệnh này xuất hiện với tỉ lệ 1 trên 100 người, chủ yếu ở nam giới có độ tuổi từ 20 đến 40. Nó thường xuyên bắt đầu ở khung chậu hoặc lưng dưới và di chuyển lên phía trên. Các triệu chứng có thể đi kèm như : đau lưng dưới, đau ngực khi hít vào, giảm cân, mệt mỏi và lưng bị cúi rạp. Trong khi bệnh VCSDK có vẻ như là một bệnh mang tính dương, co rút nhưng thực sự nguyên nhân gây bệnh là do ăn quá nhiều thực phẩm và đồ uống có


tính âm. Những thực phẩm âm tính này làm xương phình ra và dính vào nhau và các mô bị thít chặt lại. Vì vậy, bệnh này có thể ảnh hưởng đến cả những người ăn chay mà vẫn ăn trứng sữa như những người ăn nhiều thịt động vật. Bệnh VCSDK thường được điều trị bằng thuốc kháng viêm và được cho là không thể chữa khỏi hoàn toàn. Nhưng với một chế độ ăn đúng, bệnh này có thể được kiểm soát mà không cần dùng thuốc và trong nhiều trường hợp bệnh này có thể chữa khỏi. Nguyên nhân chính gây bệnh là các thực phẩm có tính nhầy, đặc biệt là bột mỳ trắng, mật ong, yến mạch, khoai tây nghiền, quả bơ và các thực phẩm khác có xu hướng gây ra sự phình nở và bết dính. Các thực phẩm trong chế độ ăn hiện đại ngày ngay như thịt, trứng, các thực phẩm từ bơ sữa, đường và thực phẩm có nguồn gốc nhiệt đới, tạo ra tình trạng nhiễm axit trong cơ thể cũng là những nhân tố góp phần gây ra bệnh. Để điều trị bệnh VCSDK, hãy tuân theo Bảng hướng dẫn số 1, đồng thời chú ý : tránh hoàn toàn các thực phẩm có tính nhầy, kể cả là bánh mochi chất lượng cao hay natto cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Nên chọn thực phẩm chính là ngũ cốc nguyên cám, tạm thời tránh ăn cả các loại mỳ. Ăn ngũ cốc, rau củ và các thực phẩm khác riêng rẽ, không trộn hay nấu các thực phẩm lẫn với nhau. Nấu các thức ăn chính trong thời gian dài, tránh việc khuấy và trộn thức ăn. Nên nấu SÚP MISO đặc thường xuyên cùng với gừng nạo và hành tăm. RAU CỦ NẤU KIỂU KINPIRA cũng rất tốt cho bệnh này, nên dùng 3-4 lần/tuần và thỉnh thoảng nên dùng SÚP KIỂU KINPIRA. Lá của củ cải hay cải củ turnip áp chảo và cho thêm ít tương lúc cuối cũng rất tốt cho bệnh này. Hạn chế ăn đậu phụ, giới hạn ở mức 1/3 miếng 1 tuần. Hạn chế ăn tempeh ở mức 7-10 ngày ăn 1 lần. Hạn chế dầu mỡ, dùng dầu vừng 3 lần/tuần nếu thấy thèm. Tránh hoặc giảm thiểu tối đa trái cây và nếu thật sự thèm thì chỉ ăn một lượng nhỏ và đã được nấu kĩ. Tránh hoàn toàn các loại hạt và bơ từ các loại hạt (hạt

vừng thì vẫn có thể dùng). Gia vị nên dùng là MISOHÀNH LÁ và MƠ MUỐI (1-2 quả 1 ngày). Bột sắn dây cũng rất tốt cho bệnh này. Tránh hoàn toàn hoặc giảm thiểu tối đa các đồ ngọt và đồ tráng miệng, bao gồm cả các đồ làm từ mạch nha lúa mạch hay siro gạo. Như một phương thức điều trị tại nhà, hãy chuẩn bị đồ uống đặc biệt bao gồm củ cải khô, đậu đỏ nhỏ (adzuki) và một ít nấm đông cô khô được nấu chung với nhau. Ngoài ra, nên nấu củ cải khô, cà rốt và ngưu bàng, cho nước nhiều thêm 4 lần, đun sôi trong vòng 25 phút và thêm một ít muối lúc cuối. GẠC GỪNG đắp lên cột sống có thể làm giảm viêm sưng và phục hồi sự linh hoạt của cột sống.

Thoái hóa khớp (Osteoarthritis). Thoái hóa khớp có nguyên nhân do sự lão hóa của sụn hay do các mô khớp bị mất đi và thỉnh thoảng là do sự phát triển của khối u xương ở trong khớp. Đây là dạng phổ biến nhất của bệnh viêm khớp, đặc biệt hay xuất hiện ở độ tuổi trung niên. Bệnh này có biểu hiện rõ ràng nhất ở xương sống và chân, có thể gây tổn hại, biến dạng đến dây thần kinh và các cơ bắp, đồng thời gây ra sự khó khăn trong cử động. Về mặt năng lượng, thoái hóa khớp có nguyên nhân từ các yếu tố dương tính mạnh như thịt, trứng, đạm và mỡ động vật; sản phẩm từ bơ sữa, đặc biệt là phô mai cứng, mặn; dùng quá nhiều thực phẩm nướng lò từ bột mì cứng; khoai tây chiên; dùng quá nhiều muối và thức ăn mặn; ăn uống nhiều các đồ lạnh. Mặc dù không phải nguyên nhân chính nhưng đường và các chất tạo ngọt tinh chế, trái cây và nước ép, thực phẩm nhiệt đới, ngũ cốc


tính chế, gia vị, chất kích thích, đồ uống có cồn và các loại thuốc Tây có thể làm tình trạng bệnh nặng thêm, đặc biệt có thể gia tăng sự phát triển các gai xương. Để điều trị thoái hóa khớp, hãy tuân theo Bảng hướng dẫn số 2 cho rối loạn có nguyên nhân do yếu tố cực dương, nếu bệnh do cả các yếu tố cực âm thì hãy tuân theo Bảng hướng dẫn số 3. Đồng thời chú ý những điều sau : Gạo lứt hạt ngắn nên là ngũ cốc chính, lúa mạch, kê và ngô còn nguyên lõi nên là ngũ cốc chính thức 2. Lúa mạch có thể ăn thường xuyên, ăn cùng với gạo hay nấu súp 2-3 lần/tuần. Tạm thời nên tránh hoặc giảm thiểu đối đa yến mạch cán dẹt và các loại ngũ cốc vỡ hay nghiền vụn. Yến mạch nguyên hạt (chưa cán) có thể 10 ngày ăn 1 lần. Các loại đồ nướng, cứng như bánh quy (cookies), bánh quy giòn (crackers) hay khoai tây lát mỏng (chips) nên tránh ăn. Một lượng nhỏ bánh mì chua sourdough có thể ăn vài lần một tuần, tốt nhất là nên hấp. Có thể ăn mì Udon vài lần một tuần nhưng cần tránh ăn mì Soba cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Tương tự như vậy cần tránh hoặc giảm thiểu tối đa kiều mạch và mì căn (seitan) vì nó có thể làm gia tăng sự chảy mủ. Dùng miso nhạt hay tương để nêm gia vị, tránh ăn mặn. Có thể ăn súp miso hàng ngày, nấu với rong wakame và các loại rau củ khác, đặc biệt là củ cải, nấm đông cô, các loại rau xanh lá và bày biện với hành tăm thái mỏng hay rau mùi tây. Đa dạng hóa các loại rau ăn hàng ngày là một điều quan trọng. Tuy nhiên, rau bồ công anh (Dandellion) nấu chín rất tốt cho bệnh thoái hóa khớp và có thể ăn 2-3 lần/tuần. Trong tháng đầu tiên cần tránh dùng dầu mỡ. Có thể dùng một lượng nhỏ dầu vừng khi nấu nướng nhưng cần tránh dùng các loại dầu sống (raw oil). Tránh dùng các loại salad cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Hãy tuân theo những hướng dẫn chuẩn cho các loại đậu và các sản phẩm từ đậu. Nếu bị thừa cân, tránh dùng các loại đậu to trong 1 tháng và sau đó chỉ ăn ở mức 7-10 ngày 1 lần. Muối vừng nên làm ở tỉ lệ 16:1

vừng:muối. Mơ hoặc mận muối có thể ăn 2-3 lần/tuần, hoặc có thể dùng một lượng nhỏ dấm gạo lứt hay dấm mơ muối. Rau củ muối xổi, nhạt hoặc dưa bắp cải muối kiểu Đức (sauerkraut) nên được dùng thường xuyên. Cá thịt trắng có thể ăn 1-2 lần/tuần, bằng cách hấp, luộc hoặc nấu súp nhưng nên tránh các loại cá có nhiều chất béo như cá ngừ hay cá hồi. Hoa quả ôn đới nấu chín có thể ăn 2-3 lần/tuần. Mận rất hữu ích cho bệnh này và có thể ăn thường xuyên hơn. Giảm thiểu tối đa hoa quả tươi cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Tránh hoặc giới hạn các loại hạt (hạt điều, hạnh nhân, óc chó,…) và bơ từ hạt. Thỉnh thoảng có thể ăn các loại hạt giống (hạt bí,…) nhưng cần được luộc hoặc nướng sơ qua (không thêm gia vị), tránh ăn hạt hướng dương hoặc chỉ ăn vào mùa hè. Hạt dẻ thỉnh thoảng có thể dùng, đặc biệt là ăn với gạo tẻ, gạo nếp hay đậu đỏ nhỏ (adzuki). Giới hạn các loại bánh gạo, bỏng ngô hay các loại bỏng ngũ cốc vì chúng có thể làm khô và gây ra hiện tượng co rút. Gia vị nên dùng ở mức vừa phải. Tuân theo các hướng dẫn tiêu chuẩn về đồ uống. Trà lúa mạch rang hay trà hạt lúa mạch đặc biệt tốt cho bệnh thoái hóa khớp và có thể dùng trà cành bancha để thay thế. Cà phê bồ công anh cũng được khuyến khích và có thể dùng vài lần một tuần như một trợ phương. Những cách điều trị tại nhà sau đây được khuyến khích dùng cho bệnh thoái hóa khớp : 1. Dầu có thể được dùng hàng ngày khi nấu ăn. Nó cần thiết cho việc hấp thu muối khoáng trong xương. Thường xuyên dùng món bột okara áp chảo với một ít dầu vừng và thêm chút tương vào lúc cuối. Okara là một loại bột chứa các thành phần không tan trong nước còn lại khi làm đậu phụ. Nó không thường xuyên có ở các cửa hàng bán thực phẩm tự nhiên nhưng có thể làm dễ dàng tại nhà khi làm đậu phụ. 2. Những món khác cũng dùng dầu được khuyến khích ăn là lá củ cải hoặc cải củ turnip thái nhỏ và áp


chảo với một ít dầu vừng và thêm chút tương vào lúc cuối. 3. SÚP KINPIRA rất tốt cho bệnh thoái hóa khớp, hãy nấu 2-3 lần/tuần. 4. Nấu món hầm đặc biệt cho bệnh thoái hóa khớp và loãng xương [Gồm 2 phần đậu vàng hoặc đen ngâm qua đêm, 1 phần phổ tai, 1 phần nấm đông cô khô, 1 phần cà rốt , 1 phần hành tây, 1 phần bí đỏ, 2 phần lá củ cải hoặc rau lá xanh, tất cả cắt nhỏ nấu với lượng nước gấp 5 lần trong nửa tiếng hoặc hơn. Lúc nấu gần xong, nêm thêm miso ít năm (<1 năm) hoặc nửa miso ít năm với nửa miso lâu năm (2-3 năm)]. 5. Đối với khớp bị đau, hãy đắp khăn nóng hoặc GẠC GỪNG để tăng sự lưu thông tuần hoàn máu và giảm sự xơ cứng, trường hợp bị viêm thì CAO ĐẬU PHỤ hay CAO RAU XANH LÁ được khuyên dùng. Nên lau chùi làm sạch toàn thân 2 lần một ngày với khăn nóng và ẩm, vào buổi sáng và tối. Hàng ngày nên đi bộ 30 phút hoặc tập các bài thể dục nhẹ. Hàng ngày có thể tắm nhanh bằng vòi hoa sen hay tắm trong bồn.

Bệnh Gút (Gout). Bệnh Gút có biểu hiện sưng viêm và đau ở khớp, đặc biệt là ở ngón chân cái, nhưng thỉnh thoảng cũng có thể đau ở đầu gối, khuỷu tay, ngón tay cái hay các ngón tay khác. Những cơn đau thường xuyên xảy ra bất chợt vào buổi đêm và cứ lặp lại theo chu kỳ. 90% người mắc bệnh Gút là nam giới ở độ tuổi trung niên, đặc biệt là những người bị thừa cân hay huyết áp cao. Bệnh này thường được điều trị bằng thuốc chống viêm không steroid hay

tiêm corticosteroid. Bệnh Gút có nguyên nhân do sự kết hợp của những thức ăn vô cùng mất quân bình, như thịt với đồ uống có cồn, pho mát và rượu, các loại sốt đặc và nước thịt, đồ ngọt tráng miệng, các thức ăn và đồ uống cay hay lạnh. Sự kết hợp của các yếu tố cực âm và cực dương tạo ra các tinh thể axit uric trong phần thịt mềm của bàn tay, bàn chân và thỉnh thoảng còn xuất hiện ở dái tai. Sự hình thành của các tinh thể này giống như sự hình thành của sỏi thận hay sỏi mật. Triệu chứng phổ biến nhất của bệnh Gút là những cơn đau ở ngón chân cái, do sự quá tải của lá lách hay gan và những kinh mạch gắn liền với chúng kết thúc ở ngón chân cái. Để điều trị bệnh Gút, hãy tuân theo Bảng hướng dẫn số 3. Đồng thời chú ý những điều sau : Gạo lứt hạt ngắn nên là nguồn ngũ cốc chính, và kê là nguồn ngũ cốc thứ 2, ngoài ra còn lúa mạch, ngô tươi và các loại ngũ cốc khác. Tạm thời nên tránh hoặc giảm thiểu tối đa yến mạch cán dẹt và các loại ngũ cốc vỡ, nghiền vụn khác. Các loại đồ nướng, cứng như bánh quy (cookies), bánh quy giòn (crackers) hay khoai tây lát mỏng (chips) nên tránh ăn. Tuy nhiên, có thể ăn bánh mỳ chua sourdough 2-3 lần/tuần, và nên hấp bánh thay vì nướng. Có thể ăn mì Udon vài lần một tuần nhưng cần tránh ăn mì Soba cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Tương tự như vậy, tránh dùng hoặc giảm thiểu tối đa kiều mạch và mì căn (Seitan), vì chúng có thể làm gia tăng sự chảy mủ. SÚP MISO có thể dùng hàng ngày với rong biển wakame và các loại rau củ khác, đặc biệt là củ cải, nấm đông cô và các loại rau xanh lá. Cần đa dạng hóa các loại rau ăn mỗi ngày. Bắp cải đặc biệt tốt cho bệnh Gút và nên được nấu thường xuyên, cũng như các loại rau củ có tính ngọt khác như bí đỏ hay hành tây. ĐẬU ĐỎ ADZUKI NẤU VỚI BÍ ĐỎ VÀ PHỔ TAI nên ăn 2-4 lần/tuần và sẽ bổ sung thêm chất ngọt. Hạn chế tối đa việc dùng dầu mỡ. Nếu bị viêm sưng thì cần tạm thời dừng việc dùng dầu mỡ. Mặt khác, có thể dùng một lượng nhỏ dầu vừng trong món áp chảo.


Hãy tuân theo những hướng dẫn chuẩn cho các loại đậu và các sản phẩm từ đậu. Nếu bị thừa cân, tránh dùng các loại đậu to trong 1 tháng và sau đó chỉ ăn ở mức 7-10 ngày 1 lần. Muối vừng nên làm ở tỉ lệ 16:1 vừng:muối. Mơ hoặc mận muối có thể ăn 2-3 lần/tuần, hoặc có thể dùng một lượng nhỏ dấm gạo lứt hay dấm mơ muối. Rau củ muối xổi, nhạt hoặc dưa bắp cải muối kiểu Đức (sauerkraut) nên được dùng thường xuyên. Nên tránh ăn thịt cá, nguyên nhân chính gây ra bệnh này nhưng nếu thèm thì có thể ăn cá thịt trắng 1-2 lần/tuần, bằng cách hấp, luộc hoặc nấu súp nhưng nên tránh các loại cá có nhiều chất béo như cá ngừ hay cá hồi. Hoa quả ôn đới tươi, nấu chín hay phơi khô có thể ăn 2-3 lần/tuần. Tránh hoặc giới hạn các loại hạt (hạt điều, hạnh nhân, óc chó,…) và bơ từ hạt. Thỉnh thoảng có thể ăn các loại hạt giống (hạt bí,…) nhưng cần được luộc hoặc nướng sơ qua (không thêm gia vị), tránh ăn hạt hướng dương hoặc chỉ ăn vào mùa hè. Hạt dẻ thỉnh thoảng có thể dùng, đặc biệt là ăn với gạo tẻ, gạo nếp hay đậu đỏ nhỏ (adzuki). Giới hạn các loại bánh gạo, bỏng ngô hay các loại bỏng ngũ cốc vì chúng có thể làm khô và gây ra hiện tượng co rút. Nên dùng gia vị ở mức vừa phải. Tránh dùng gừng hay củ cải ngựa (wasabi) cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Hãy tuân theo những chỉ dẫn tiêu chuẩn về đồ uống. Có thể uống nước ép cà rốt vài lần một tuần. Đặc biệt nên tránh uống những đồ uống lạnh và có đá, cũng không nên uống quá nhiều nước. NƯỚC RAU CỦ NGỌT có thể uống 2-3 lần/tuần trong 1 tháng hay lâu hơn. Một thức uống đặc biệt bao gồm 1/3 cup (1 cup = 250ml) củ cải tươi bào, 1/3 cup cà rốt bào và 1/3 cup nước, đun nhỏ lửa tầm 2-3 phút và cuối cùng thêm ít tương, hãy dùng 2-3 lần/tuần trong 1 tháng. TRÀ PHỔ TAI cũng được khuyến khích dùng và có thể uống vài lần một tuần cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Đối với khớp bị đau, có thể đắp trực tiếp CAO ĐẬU PHỤ VÀ RAU XANH LÁ lên vùng bị đau. Cũng có thể dùng riêng đậu phụ và rau xanh lá để đắp. Đắp

khi bị đau, 2-3 lần/tuần trong vòng 1 tháng. Đắp GẠC GỪNG nóng lên vùng thận 2 lần một tháng. Tuy nhiên, với những ai bị những cơn đau cấp tính do sưng viêm thì nên thận trọng, không nên đắp gạc gừng hay ngâm chân nước gừng cho đến khi cơn đau giảm bớt. Nên lau chùi làm sạch toàn thân 2 lần một ngày với khăn nóng và ẩm, vào buổi sáng và tối. Hàng ngày nên đi bộ 30 phút hoặc tập các bài thể dục nhẹ. Hàng ngày có thể tắm nhanh bằng vòi hoa sen hay tắm trong bồn. Tốt nhất nên bỏ thuốc, vì thuốc lá rất dương, gây ra sự co rút mạnh. Nếu ngón chân cái bị đau thì nên đi tất chất cotton.

Nhiễm trùng xương khớp. Nhiễm trùng xương và khớp bao gồm viêm xương tủy (osteomyelitis) và viêm khớp nhiễm trùng (infectious arthritis).

Viêm xương tủy (osteomyelitis) có nguyên nhân từ việc nhiễm trùng khuẩn hay nấm làm phần bên trong của xương bị sưng viêm. Sự sưng viêm này có thể đè lên mạch máu ở trong tủy xương, ngăn cản sự cung cấp máu và trong một số trường hợp xấu có thể làm một phần của xương bị hoại tử thành các mảnh xương mục. Viêm xương tủy thường xuất hiện ở cuối xương cánh tay hoặc xương chân của trẻ nhỏ hay ở xương sống của người lớn. Những bệnh nhân chạy thận phúc mạc (kidney dialysis) và những người dùng


nhiều thuốc Tây có nguy cơ cao mắc bệnh này. Vi khuẩn liên quan tới bệnh lao hay các bệnh nhiễm khuẩn khác cũng có thể lan ra ngay cạnh các mô xương. Phẫu thuật là cách thông thường để ngăn chặn sự lây lan này. Thuốc kháng sinh cũng thường xuyên được kê để điều trị tình trạng nhiễm khuẩn, và có thể phẫu thuật để loại bỏ các áp-xe và điều trị các biến chứng khác.

về môi trường cũng như cách sống có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng hay làm cho sự nhiễm trùng lan rộng. Tuân theo một chế độ ăn Thực dưỡng đúng chuẩn, hơi thiên về các yếu tố dương có chất lượng tốt, sẽ giúp điều trị tình trạng nhiễm trùng xương và khớp. Tuân theo Bảng hướng dẫn số 1 và đọc thêm ”Các bệnh nhiễm trùng” để biết thêm các lời khuyên về chế độ ăn và các phương thức điều trị tại nhà.

Sự nhiễm trùng trong dịch và mô khớp được gọi là bệnh viêm khớp nhiễm trùng (infectious arthritis). Một lượng lớn các loại vi khuẩn, vi rút, nấm có thể gây ra nhiễm trùng khớp như staph, strep, parvoviruses, HIV, và các vi rút liên quan đến bệnh sởi, quai bị và viêm gan B. Trẻ sơ sinh, trẻ em hay người lớn đều dễ mắc phải bệnh này. Các triệu chứng bao gồm khớp bị tấy đỏ, ấm và sưng phồng, đồng thời kèm sốt và cảm thấy ớn lạnh. Khớp đầu gối, vai, cổ tay, hông, ngón tay và khuỷu tay là các nơi dễ bị nhiễm trùng. Khánh sinh thường được chỉ định để điều trị tình trạng này, và truyền vào trong tĩnh mạch để tới được vùng bị nhiễm trùng, và mủ sẽ được hút ra bằng cách dùng kim hoặc phẫu thuật. Cả hai bệnh viêm xương tủy và nhiễm trùng xương khớp đều được coi là sự rỗi loạn do các yếu tố cực âm. Giống như các tình trạng nhiễm trùng khác, bệnh có nguyên nhân do máu, bạch huyết và các dịch trong cơ thể bị nhiễm axit, tạo ra một môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật sinh sôi và nảy nở. Nguyên nhân chính là việc dùng quá nhiều đồ ăn và đồ uống cực âm, bao gồm đường, socola và các loại chất ngọt tinh tế khác; sữa, kem, phô mai tươi và các thực phẩm từ bơ sữa khác; bột mỳ trắng và các loại ngũ cốc tinh chế khác; quá nhiều trái cây và nước ép trái cây; thực phẩm nhiệt đới; đồ uống đóng chai, nước khoáng hay uống quá nhiều nước; chất kích thích; gia vị; đồ uống có cồn; thuốc Tây (đặc biệt là kháng sinh), và các yếu tố môi trường cũng như cách sống có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng hay làm sự nhiễm trùng lây lan mạnh thêm. Sự can thiệp y khoa quá độ, bao gồm chụp X-quang, dùng các loại thuốc Tây, và các yếu tố

Chứng viêm bao hoạt dịch ngón chân cái (Bunion). Bunion là một cục u bướu sưng lên ở ngón chân cái. Chúng thường xuyên đi kèm sự tấy đỏ và đau đớn, đặc biệt là khi đi bộ. Các u bunion thường được điều trị bằng thuốc kháng viêm, kem bôi giảm đau, giày chỉnh hình, và trong trường hợp bị nặng thì có thể phẫu thuật. Về mặt năng lượng, u bunion hình thành ở ngón chân cái dọc theo kinh mạch lá lách/tụy (kinh Tỳ), nơi liên quan đến việc chuyển hóa đường của cơ thể. Ăn quá nhiều đường, socola, mật ong và các chất ngọt tinh chế khác hay các loại đường đơn từ hoa quả và sữa và các sản phẩm từ bơ sữa hoặc các loại thực phẩm có tính bành trướng mạnh là nguyên nhân của việc sưng viêm ở nơi này. Ngoài việc không nên ăn các loại thực phẩm trên, nên tuân thủ một chế độ ăn cân bằng, tập trung vào ngũ cốc lứt và rau củ. Có thể đắp GẠC GỪNG lên vùng bị đau hay NGÂM CHÂN bằng nước gừng để làm giảm sự đau đớn và loại bỏ sự


ứ đọng tại vùng bị viêm. Hãy tuân theo Bảng hướng dẫn số 1.

Viêm túi thanh mạc (Bursitis). Viêm túi thanh mạc là sự viêm, sưng và đau đớn ở vai, khuỷu tay, hông, đầu gối, bàn tay hay bàn chân, đặc biệt là khi vận động hoặc giãn các khớp. Một mạng lưới gồm 150 bao hoạt dịch (bursae) giúp bôi trơn xương, gân và dây chằng của cơ thể, giúp chúng có thể cử động. Sức ép quá lớn lên khớp sẽ chèn ép các bao hoạt dịch gây ra các triệu chứng như trên. Bệnh này thường được điều trị bằng thuốc kháng viêm, liệu pháp sức nóng sâu (deep-heat therapy), sóng siêu âm và một vài trường hợp có thể phẫu thuật. Tình trạng vôi hóa có thể xuất hiện nếu viêm túi thanh mạc không được chữa trị, kết quả là khớp có thể bị tổn thương vĩnh viễn và cử động sẽ bị hạn chế. Từ góc độ Thực dưỡng, viêm túi thanh mạc có nguyên nhân từ chế độ ăn kết hợp các yếu tố cực dương và cực âm, như thịt gia súc và đường, thịt gia cầm và gia vị, các thực phẩm từ bơ sữa hay ăn uống quá nhiều trái cây, nước ép và các loại rau củ có nguồn gốc nhiệt đới. Sự trao đổi năng lượng từ các thức ăn này gây ra hiện tượng quá bành trướng hay quá co rút làm cho các khớp mất tính đàn hồi hay tiết ra quá nhiều dịch khớp. Viêm túi thanh mạc có thể được phòng tránh và điều trị bằng cách tuân theo một chế độ ăn Thực dưỡng tiêu chuẩn. Hãy tham khảo Bảng hướng dẫn số 3 và các lời khuyên ở dưới. Chà sát

toàn thân sẽ giúp giảm bớt các cơn đau và cải thiện sự lưu thông năng lượng. KHĂN NÓNG, GẠC GỪNG, hay ĐẮP MUỐI có thể làm giảm sự đau nhức. Tuy nhiên trong trường hợp có sự viêm sưng, nên dùng các biện pháp đắp nguội để thay thế.

Chứng loãng xương (Osteoporosis). Chứng loãng xương là sự thưa bớt hay mất các mô xương, dẫn đến việc xương bị giòn và dễ gãy. Nó có thể dẫn tới việc xương sống bị cong hay gãy, lưng đau thường xuyên, triệu chứng “dowager’s hump” (cong cột sống không bình thường do bệnh loãng xương cột sống, thường thấy nhất ở phụ nữ cao tuổi), xương hông bị gãy. Ở Mỹ, theo ước tính có 1.3 triệu ca gãy xương hàng năm do căn bệnh này, chủ yếu ở cột sống, hông và cổ tay. 80% người mắc phải là phụ nữ, và khoảng 1/3 số phụ nữ cao tuổi bị gãy xương hông bị chết do nguyên nhân viêm phổi, có các cục đông máu, hay các biến chứng khác trong vòng 6 tháng. Đàn ông trước tuổi 70 hiếm khi mắc phải chứng loãng xương. Các triệu chứng của bệnh loãng xương bao gồm đau lưng, mất dần chiều cao, tư thế bị gù, mất xương quai hàm, gặp các vấn đề về răng nướu, “da bị trong suốt”. Người ta tin rằng phụ nữ dễ mắc chứng loãng xương hơn là do khi vào thời kỳ mãn kinh, sự sản sinh estrogen giảm, dẫn đến việc mất canxi trong xương. Thông thường, chứng loãng xương được điều trị bằng liệu pháp thay thế hóc môn để kích thích sự phát triển và tăng mật độ của xương. Estrogen nhân tạo sẽ giúp duy trì mật độ xương và làm giảm nguy cơ gãy xương hông và cổ


tay. Sữa và các thực phẩm từ sữa chứa nhiều canxi, hay đồ hải sản đóng hộp (như cá ngừ, cá hồi, tôm, cá mòi) và thịt gia cầm thường được khuyến khích ăn, đồng thời bổ sung vitamin D và phơi nắng nhiều hơn. Từ góc độ Thực dưỡng, nguyên nhân chính gây là chứng loãng xương là sự tiêu thụ quá nhiều thịt, các sản phẩm từ bơ sữa làm rút hết canxi, photpho và các khoáng chất khác ra khỏi xương. Quá nhiều muối, cà phê, đồ uống có cồn và hút thuốc lá cũng là những nguyên nhân gây bệnh. Những chất có tính cực dương hay cực âm này làm cho máu và cơ thể bị nhiễm axit đồng thời rút hết các khoáng chất dự trữ trong xương ra để duy trì độ kiềm cho cơ thể. Kết quả là xương, răng và nướu đều bị suy yếu. Những nghiên cứu y khoa mới đây đã cho thấy việc dùng các thực phẩm từ bơ sữa để bổ sung canxi thực ra lại có tác dụng ngược lại, là rút hết các chất khoáng có trong xương ra. Liệu pháp thay thế hóc môn có thể làm giảm xác suất xương bị gãy nhưng kéo theo việc tăng nguy cơ mắc phải những căn bệnh nguy hiểm khác. Một chế độ ăn uống cân bằng có thể giúp phòng chống bệnh loãng xương và trong nhiều trường hợp còn có thể phục hồi lại các khoáng chất trong xương. Một số xương bị mất có thể do yếu tố tuổi già nhưng thậm chí trong một số trường hợp, mật độ xương có thể tăng lên tới 90% sau 1 đến 2 năm ăn uống cẩn thận. Tuân theo chế độ ăn uống Thực dưỡng tiêu chuẩn, tránh dùng các thực phẩm cực dương hoặc cực âm, dùng muối và gia vị ở mức nhạt tới vừa phải. Hãy tránh dùng dấm hay các trái cây họ cam, bao gồm cả chanh vì chúng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Hãy tham khảo Bảng hướng dẫn số 3. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều nguồn canxi tự nhiên như cải lá xanh, cải lá xoăn, lá của cải củ turnip, cải xoong và các loại rau xanh lá khác; natto, đậu phụ, đậu đỏ to (kidney beans) và các loại đậu khác; rong biển, đặc biệt là rong hiziki và wakame; hạt vừng, hạnh nhân và hạt hướng dương.

Những phương thức điều trị tại nhà sau được khuyến khích áp dụng cho chứng loãng xương : 1. Có thể dùng dầu để nấu ăn hàng ngày khi bị loãng xương vì nó rất cần thiết trong việc phục hồi lại khoáng chất có trong xương. Thường xuyên nấu món bột okara áp chảo với ít dầu vừng và thêm chút tương vào lúc cuối. Okara là một loại bột chứa các thành phần không tan trong nước còn lại khi làm đậu phụ. Nó không thường xuyên có ở các cửa hàng bán thực phẩm tự nhiên nhưng có thể làm dễ dàng tại nhà khi làm đậu phụ. 2. Một số món khác cũng dùng dầu được khuyến khích là lá củ cải hay lá cải củ turnip thái nhỏ, áp chảo với ít dầu vừng và thêm chút tương vào lúc cuối. 3. SÚP KINPIRA cũng rất tốt cho chứng loãng xương. Hãy nấu 2-3 lần/tuần. Đối với bệnh này, có thể nấu cùng với lá củ cải, lá cải củ turnip, cải xanh, cải xoăn và các loại rau lá xanh khác. 4. Nấu món hầm đặc biệt cho bệnh thoái hóa khớp và loãng xương. [Gồm 2 phần đậu vàng hoặc đen ngâm qua đêm, 1 phần phổ tai, 1 phần nấm đông cô khô, 1 phần cà rốt , 1 phần hành tây, 1 phần bí đỏ, 2 phần lá củ cải hoặc rau lá xanh, tất cả cắt nhỏ nấu với lượng nước gấp 5 lần trong nửa tiếng hoặc hơn. Lúc nấu gần xong, nêm thêm miso ít năm (<1 năm) hoặc nửa miso ít năm với nửa miso lâu năm (2-3 năm)].

Chứng cong vẹo cột sống (Scoliosis). Chứng cong vẹo cột sống là hiện tượng cột sống bị cong sang phía bên của trục cơ thể hay hiện tượng vẹo xoay của các thân đốt sống theo trục của mặt phẳng ngang, tạo


thành hình chữ C hay chữ S. Trong khi thỉnh thoảng do nguyên nhân bẩm sinh, chứng cong vẹo cột sống thường xuất hiện sớm ở độ tuổi thiếu niên. Cả trai và gái đều có nguy cơ mắc phải bệnh này nhưng thường thì tỉ lệ nữ mắc phải cao hơn. Các triệu chứng bao gồm cơ thể bị nghiêng hẳn sang một bên, 2 vai bị lệch, chân này dài hơn chân kia, hông bị lệch sang một bên, lưng bị cong hay xương sườn bị lồi ra. Chứng cong vẹo cột sống có thể không gây ra đau đớn nhưng có thể dẫn tới các bệnh về đĩa đệm, viêm khớp, đau dây thần kinh tọa và các biến chứng khác. Bại não, viêm tủy xám (bại liệt), hay các chứng bệnh về cơ bắp, xương và dây thần kinh đều có thể dẫn đến chứng cong vẹo cột sống, hay thậm chí là gẫy xương lưng và các chấn thương nghiêm trọng khác. Thực hiện các bài tập do các chuyên gia y khoa đưa ra, sử dụng các bộ nẹp chỉnh hình và phẫu thuật được sử dụng trong các trường hợp nghiêm trọng hơn. Từ góc độ năng lượng, chứng cong vẹo cột sống là một bệnh liên quan tới yếu tố âm, có nguyên nhân từ sự mất độ cứng và tính dương của cột sống và tuyến năng lượng trung tâm. Bình thường, lưng được sắp theo chiều dọc. Tuy nhiên, việc dùng quá nhiều đường, socola, mật ong, và các loại đồ ngọt khác; sữa, kem, sữa chua và các sản phẩm từ bơ sữa; bánh quy (cookies), bánh quy giòn (crackers) và bánh ngọt làm từ bột mỳ trắng; trái cây và nước ép; khoai tây, cà chua, và các loại rau củ nhiệt đới khác; gia vị; đồ uống có tính kích thích như trà thảo mộc hay đồ uống có ga; và các thực phẩm có tính bành trướng khác sẽ làm mềm và suy yếu cột sống, gây ra việc cột sống bị cong vẹo. Để phòng chống và điều trị chứng cong vẹo cột sống, cần tuân thủ một chế độ ăn Thực dưỡng đúng chuẩn. Nên chọn ngũ cốc nguyên cám là thực phẩm trung tâm trong mỗi bữa ăn, đặc biệt là gạo lứt, kê và lúa mạch, thỉnh thoảng có thể ăn kiều mạch nguyên hạt hay mì soba. Đậu và các sản phẩm từ đậu có thể ăn thường xuyên, cũng như các loại rau tươi được chế biến theo nhiều cách khác nhau, và nên ăn một ít rong biển giàu khoáng chất mỗi ngày. Nên thêm một lượng nhỏ muối, miso và tương khi nêm gia vị. Giảm

thiểu các sản phẩm từ bột mỳ, thức ăn sống, trái cây và nước ép, đồ ngọt và các thức ăn dầu mỡ khác cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Hãy tham khảo Bảng hướng dẫn số 1. Chà sát toàn thân và dọc theo cột sống bằng GỪNG 1-2 lần mỗi ngày. Đắp GẠC GỪNG ở vùng thận 2 lần/tuần cũng rất hữu ích cho tình trạng bệnh.

GIẢI PHÁP CHẾ ĐỘ ĂN Dưới đây là những hướng dẫn chung cho các bệnh về xương khớp, với từng loại bệnh riêng biệt thì đã có những chú ý ở phần trên. 1. Nên chọn các loại ngũ cốc nguyên cám thay vì ngũ cốc tinh chế làm thực phẩm chính trong mỗi bữa ăn. Kiều mạch rất tốt trong việc làm khỏe xương khớp của cả trẻ em lẫn người lớn. Tuy nhiên, cần tránh dùng kiều mạch hay mì soba nếu các cơ quan trong cơ thể đang ở trong tình trạng bị co rút quá mức. Gạo đen hay các loại ngũ cốc đen, sẫm màu khác cũng giúp nuôi dưỡng hệ thống xương nhưng có thể quá dương tính đối với những ai mắc bệnh viêm khớp và các bệnh có tính chất co rút. 2. Giảm thiểu các sản phẩm từ bột mỳ ở mức nhiều nhất có thể. Có thể ăn mì vài lần một tuần, đặc biệt là udon, somen hay spaghetti từ bột mỳ nguyên cám. 3. Tránh dùng các loại đường đơn (bao gồm đường tinh chế, mật ong và socola). 4. Tránh ăn các loại thịt động vật. Tuy nhiên, đối với hải sản hay các loại cá thịt trắng như cá vược sông (perch), cá hồi cầu vồng (trout), cá bơn thì có thể ăn 1-2 lần/tuần. 5. Các loại đậu cũng giúp làm khỏe xương khớp. Nên ăn các loại đậu nhỏ như đậu đỏ adzuki, đậu lăng (lentils), đậu gà và đậu đen. Có thể ăn các sản phẩm từ đậu thường xuyên, đặc biệt là đậu phụ khô. 6. Trong số các loại rau củ thì củ cải khô, nấm đông cô khô và các loại rau mùa đông như cải xoăn (kale)


đặc biệt tốt trong việc nuôi dưỡng hệ thống xương. Đối với các bệnh có tính co rút, nên ăn các loại rau lá xanh. 7. Cần tránh việc dùng quá nhiều dầu, có thể dùng 1 lượng nhỏ dầu vừng hay dầu thực vật chất lượng cao khi bị một số bệnh về xương khớp. Tránh dùng dầu sống (chưa nấu). 8. Các loại rong biển cũng rất tốt trong việc nuôi dưỡng xương khớp, đặc biệt là phổ tai, nhưng có thể quá dương đối với các bệnh có tính co rút. 9. Lượng muối (miso, tương và muối biển) dùng hàng ngày nên ở mức vừa phải, điều chỉnh chút ít tùy tình trạng bệnh. 10. Như một nguyên tắc, cần tránh hoặc giảm thiểu tối đa hoa quả và nước ép, ngoại trừ khi cơ thể trong tình trạng quá dương thì có thể ăn một lượng nhỏ. Hoa quả khô, các loại hoa quả đen, đậm màu như mâm xôi hay dưa hấu khá thích hợp cho xương khớp đang trong tình trạng co rút. 11. Giới hạn việc ăn các loại hạt hay bơ từ hạt. Tuy nhiên, vẫn có thể ăn hạt dẻ hay vừng đen. 12. Giảm lượng nước uống xuống mức vừa phải nhưng không nên giảm nhiều quá. Bên cạnh TRÀ CÀNH BANCHA, nên dùng các loại trà tốt cho chức năng thận hay cấu trúc xương như TRÀ ĐẬU ĐỎ ADZUKI, TRÀ PHỔ TAI, thỉnh thoảng có thể uống TRÀ MU. 14. Giảm lượng thức ăn ăn vào và nhai kĩ hơn. 15. Tránh ăn khuya.

LỐI SỐNG 1. Dậy sớm và ngủ sớm. Sống năng động, tích cực cả về thể chất lẫn tinh thần. 2. Nên tập thể thao nhưng ở mức vừa phải, không nên tập quá sức.

3. Tránh hoặc giới hạn việc sử dụng các thiết bị phát ra bức xạ điện từ như máy vi tính, tivi, điện thoại và các thiết bị điện tử khác, cũng như hạn chế việc chụp X-quang và các phương pháp y tế khác. Xương dễ bị tổn thương bởi các bức xạ. 4. Tránh mặc đồ len và quần áo từ sợi tổng hợp, đặc biệt là nylon vì có thể gây kích ứng cho da, xương và khớp. Mặc đồ lót và dùng vỏ ga gối bằng chất liệu cotton. 5. Cần giữ ấm vùng lưng dưới và thận, đặc biệt là vào mùa đông và khi trời lạnh. 6. Tránh việc tắm quá lâu, vì có thể gây ra việc khoáng chất bị rút ra khỏi cơ thể, nguyên nhân của việc mất xương.

ĐIỀU TRỊ TẠI NHÀ Một số hướng dẫn dưới đây có thể giúp ích trong việc điều trị các bệnh về xương khớp. Tần suất và thời gian của các điều trị tùy thuộc vào thể trạng từng người và mức độ nghiêm trọng của từng bệnh. 1. TRÀ ĐẬU ĐỎ ADZUKI rất tốt cho chức năng thận và việc phát triển xương. Đun trà với ít muối và 1 miếng phổ tai, uống 1-2 cốc 2-3 lần mỗi tuần để phục hồi các chức năng thận. 2. TRÀ CÀ RỐT – CỦ CẢI giúp loại bỏ dầu mỡ và tình trạng các cặn ứ đọng trong cơ thể. Mỗi ngày uống 1 cốc nhỏ, uống trong 5 ngày và sau đó cứ cách 2-3 ngày uống 1 lần trong vài tuần. 3. TRÀ CỦ CẢI – NẤM ĐÔNG CÔ cũng rất tốt trong việc loại bỏ chất béo tích tụ trong cơ thể. Cách 3 ngày uống 1 lần trong vòng 1 tháng. 4. NƯỚC GẠO, phần váng nổi lên sau khi nấu cơm gạo lứt, có thể dùng thường xuyên để điều hòa chức năng của thận, mật và xương. 5. Đối với các bệnh dương tính, có thể uống TRÀ ĐỖ ĐEN 3 lần/ngày trong vài ngày để dễ chịu hơn.


6. Đối với các bệnh âm tính, uống UME-SHO KUZU (Bột sắn quấy trong với mơ muối và tương) 3 ngày 1 lần trong vài tuần để tăng cường sinh lực cho cơ thể.

14. CAO ĐẬU PHỤ VÀ LÁ XANH kết hợp được sự hiệu quả của đậu phụ tươi và rau lá xanh cũng giúp hạ sốt và làm dễ chịu các vùng bị sưng viêm.

7. Món hầm đặc biệt cho bệnh thoái hóa hớp và loãng xương [Gồm 2 phần đậu vàng hoặc đen ngâm qua đêm, 1 phần phổ tai, 1 phần nấm đông cô khô, 1 phần cà rốt , 1 phần hành tây, 1 phần bí đỏ, 2 phần lá củ cải hoặc rau lá xanh, tất cả cắt nhỏ nấu với lượng nước gấp 5 lần trong nửa tiếng hoặc hơn. Lúc nấu gần xong, nêm thêm miso ít năm (<1 năm) hoặc nửa miso ít năm với nửa miso lâu năm (2-3 năm)] rất tốt cho các bệnh về xương khớp.

15. Đắp muối có thể làm ấm và xoa dịu các vết đau ở vai, lưng dưới và các vùng khác trên cơ thể. Như các biện pháp đắp nóng khác, không nên áp dụng khi vùng định đắp bị sưng viêm hay nóng. 16. Trong trường hợp xương khớp bị xơ cứng, hãy đắp GỪNG NGHIỀN VỚI DẦU VỪNG trong 10-15 phút rồi sau đó lau sạch dầu bằng khăn ấm. Có thể áp dụng cách này mỗi ngày trong 2-3 tuần.

8. SÚP KINPIRA cũng rất tốt và có thể ăn dùng 2-3 lần/tuần cho nhiều tình trạng bệnh.

CẨN TRỌNG

9. Chà sát toàn thân bằng nước gừng 1-2 lần mỗi ngày, bao gồm cả phần cột sống sẽ giúp tăng lưu thông tuần hoàn máu và năng lượng thể chất lẫn tinh thần.

1. Cần đến gặp chuyên gia về y tế hay vật lí trị liệu trong trường hợp bị gãy xưng, xuất huyết trong và các trường hợp nghiêm trọng khác.

10. Có thể đắp KHĂN NÓNG lên các vùng bị đau để giảm cơn đau. Giữ khăn nóng ở vị trí cần đắp cho đến khi khăn nguội đi, rồi làm nóng lại khăn và tiếp tục đắp 5-10 phút cho đến khi vùng được đắp chuyển đỏ và ấm lên. Chú ý : Khăn nóng hay các biện pháp đắp nóng khác không nên áp dụng cho các vùng xương khớp đang bị sưng viêm, nóng. Các biện pháp đắp nguội như CAO ĐẬU PHỤ và CAO LÁ XANH thích hợp hơn trong những trường hợp này.

2. Các liệu pháp trị liệu dùng bức xạ có thể làm xương bị phình, đưa tới việc bị đau, thấy không thoải mái và các biến chứng về lâu dài khác. Một vài trường hợp, liệu pháp trị liệu dùng bức xạ có thể thích hợp nhưng cần hạn chế tần suất và liều lượng ở mức tối đa có thể. Ở những thời gian này, cần tăng thêm một chút miso, rong biển, MUỐI VỪNG, MƠ/MẬN MUỐI, và các gia vị chứa muối khác để giảm bớt các ảnh hưởng của bức xạ.

11. Có thể đắp GẠC GỪNG lên vùng thận, lưng dưới và cột sống vài lần mỗi tuần để giảm sự trì trệ và tăng cường lưu thông máu và năng lượng, đồng thời làm giãn và mềm các khớp bị xơ cứng. Tuy nhiên, không nên đắp lên các vùng bị sưng viêm, nóng. Thay hoặc bỏ miếng gạc khi gạc bị nguội. 12. Đắp CAO ĐẬU PHỤ để giúp hạ sốt hay làm dễ chịu các vùng khớp bị sưng viêm. 13. CAO LÁ XANH cũng giúp hạ sốt và làm dễ chịu các khớp bị sưng viêm. Đắp trực tiếp lên vùng bị sưng. Thay hoặc bỏ miếng gạc khi gạc bị nguội.

BẰNG CHỨNG Y HỌC ĂN QUÁ NHIỀU THỊT ĐỘNG VẬT GÂY MẤT XƯƠNG Việc nạp quá nhiều đạm từ thịt động vật, các thực phẩm từ bơ sữa có thể gây ra những tác động có hại tới xương. Trong một nghiên cứu về việc chuyển hóa đạm, các nhà khoa học tại trung tâm y tế Montefiore và trường cao đẳng y tế Albert Einstein ở New York đã báo cáo rằng một chế độ ăn có nhiều thịt và các sản phẩm từ sữa tạo ra một lượng lớn axit, chủ yếu là các gốc sunfat và photphat, ngăn cản việc hấp thu


canxi của xương. Các loại rau củ, trái cây và các thực phẩm thực vật có tính kiềm khác có thể trung hòa bớt axit trong cơ thể, làm giảm gánh nặng cho thận, ngăn chặn sự mất canxi và mất xương.

xương đồng thời mang lại nhiều lợi ích khác cho sức khỏe.

Nguồn : U. S. Barzel and L. K. Massey, “Excess Dietary Protein Can Adversely Affect Bone”, Journal of Nutrion 128(6):1051-53, 1998.

Nguồn : L. H. Kushi et al., “Health Implications of Mediterranean Diets in Light of Contemporary Knowledge: Plant Foods and Dairy Products”, American Journal of Clinical Nutrition 6(6 Suppl):1407S-1415S, 1995.

THỊT CÓ LIÊN QUAN TỚI CHỨNG LOÃNG XƯƠNG

VIỆC CHO THÊM FLO VÀO NƯỚC CÓ THỂ GÂY HẠI

Theo một nghiên cứu về người Inuit (Eskimo), một chế độ ăn có nhiều thịt có thể là nguyên ngân gây ra chững loãng xương. Những người Inuit có tỉ lệ mắc chững loãng xương cao nhất trên thế giới. Trong một nghiên cứu bao gồm 217 trẻ em, 89 người lớn và 107 người già là người Inuit sống ở Alaska, xương của những người này có lượng khoáng chất thấp hơn, độ tuổi bắt đầu có hiện tượng mất xương sớm hơn, và mức độ loãng xương cao hơn so với người Mĩ. Điều này được cho là có nguyên nhân từ việc họ tuân theo chế độ ăn hiện đại có nhiều thịt bò, lợn và các loại thịt động vật khác. Thời xưa, người Inuit truyền thống ăn thịt cá voi, các loại cá và hải sản, các loại thú săn khác nhưng lại ít mắc bệnh loãng xương hơn cho đến khi hamburger, đường và các loại thực phẩm chế biến sẵn khác xuất hiện trong thực đơn của họ.

Việc cho thêm flo vào nước có thể gây hai cho xương. Trong một báo cáo, các nhà nghiên cứu người Úc đã chỉ ra rằng việc cho thêm flo vào nước có thể phá hủy xương, dẫn đến việc gãy xương hông, xương bị nhiễm flo, bệnh xacôm xương (osteosarcomas) và các bệnh khác.

Nguồn : R. Mazess and W.Mather, “Bone Mineral Content of North Alaskan Eskimos”, American Journal of Clinical Nutrion 27:196-25, 1974. CÁC THỰC PHẨM TỪ SỮA LÀM TĂNG NGUY CƠ GÃY XƯƠNG Các sản phẩm từ sữa không hề có chức năng bảo vệ xương khỏi nguy cơ bị gãy, dựa trên một bài phê bình trong một tài liệu khoa học. Các nhà nghiên cứu tại đại học Minnesota tìm ra rằng việc dùng nhiều các sản phẩm từ sữa có thể tăng nguy cơ mắc bệnh. Bên cạnh đó, họ còn có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng một chế độ ăn có nhiều ngũ cốc nguyên cám, rau củ và trái cây giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh về thoái hóa

Nguồn : M. Diesendort et al., “New Evidence on Flouridation”, Australian and New Zealand Journal of Public Health 21(2):187-90, 1997.

TÌNH TRẠNG BỆNH VIÊM THẤP KHỚP ĐƯỢC CẢI THIỆN NHỜ ĂN CHAY Trong một nghiên cứu chọn ra ngẫu nhiên 66 bệnh nhân mắc bệnh viêm thấp khớp, các nhà khoa học cho biết những người ăn chay (không ăn các loại thịt và các sản phẩm từ sữa) có sự cải thiện đến 40% so với 4% của những người ăn theo chế độ ăn hiện đại. “Mức độ kháng thể immunoglobulin G (IgG) đối với gliadin và beta-lactoglobulin giảm ở nhóm ăn chay nhưng không giảm ở các nhóm nghiên cứu khác”. Các nhà khoa học kết luận rằng một chế độ ăn gồm nhiều ngũ cốc nguyên cám, rau củ và các thực phẩm có nguồn gốc thực vật chất lượng khác có thể giúp ích cho các bệnh nhân viêm thấp khớp. Nguồn : I. Hafstraim et al., “A Vegan Diet Free of Gluten Improves the Symptoms of Rheumatoid Arthritis”, Rheumatology 40(10):1175-79, 2001.


CÁC TRƯỜNG HỢP TRONG LỊCH SỬ THỰC DƯỠNG GIÚP ỔN ĐỊNH TÌNH TRẠNG LOÃNG XƯƠNG Gale Jack đã rất sốc khi nha sĩ nói với cô ấy rằng, “Cô mắc chứng loãng xương nặng nhất trong những ca bệnh tôi từng gặp ở phụ nữ ở độ tuổi này”. Trong nhiều năm lớn lên và dạy học ở Texas, hàng ngày cô đã ăn rất nhiều pho mát, trứng, sữa, thịt, cá. Sau đó cô dùng các loại thực phẩm chức năng bổ sung canxi. Do sự suy giảm về sức khỏe, bao gồm việc bị u nang buồng trứng và các bệnh của phụ nữ khác, cô ấy bắt đầu theo chế độ Thực dưỡng và tình trạng của cô đã dần được cải thiện. Loại bỏ hoàn toàn thịt động vật, thỉnh thoảng có ăn một ít cá thịt trắng, giảm thiểu việc ăn bánh mỳ và các sản phẩm từ bột mỳ, tình trạng xương của cô ấy ngày càng ổn định hơn, u nang biến mất và rồi cô trở thành một người tư vấn và dạy

nấu ăn Thực dưỡng. “Loãng xương là một mối hiểm họa thầm lặng đối với những ai không hiểu được trật tự vũ trụ hay từ chối sống hòa hợp với vũ trụ”, cô nhận xét. “Đối với những ai hiểu được âm dương, việc duy trì xương và răng chắc khỏe tuy không phải việc đơn giản nhưng hoàn toàn có thể làm được”. Nguồn : Gale Jack and Wendy Esko, editors, Women’s Health Guide (Becket: One Peaceful World Press, 1997), pp. 79-83.

BẢNG 17. CÁC BỆNH VỀ XƯƠNG KHỚP 1. Do yếu tố Âm 2. Do yếu tố Dương Triệu chứng tiêu biểu Sưng Khớp bị nén chặt Viêm Viêm Bị mềm hay biến dạng Bất động Bị nhiễm trùng Cong bất thường ra phía ngoài Cong bất thường vào phía trong Bệnh Nhiễm trùng khớp Thoái hóa khớp Viêm cột sống dính khớp Gù lưng Chứng viêm bao hoạt dịch ngón chân cái (Bunion) Bàn chân bẹt Bàn chân vẹo (Club foot) Bệnh to cực (Acromegaly) Chứng cong vẹo cột sống Bệnh còi xương Hội chứng ống cổ chân Thoát vị đĩa đệm cột sống Ung thư xương Trật khớp thường xuyên

3. Do yếu tố Âm và Dương kết hợp Sưng Viêm Xơ cứng Bị cứng hay biến dạng Cong bất thường Viêm thấp khớp Gút Loãng xương Viêm túi thanh mạc Bệnh Paget xương Gai (cựa) xương Hội chứng ống cổ tay U ác tính

Benh xuong khop  
Advertisement