Page 1

phương pháp THỰC DƯỠNG CHO SỨC KHỎE HOÀN CHỈNH

Hướng dẫn hoàn chỉnh để phòng chống hơn 200 bệnh tật và rối loạn theo tự nhiên

BỆNH TUYẾN TỤY - Pancreatic Problems tiểu đường - tăng insulin - hạ đường huyết - viêm tụy


PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG CHO SỨC KHỎE HOÀN CHỈNH | 2

Mục đích chính của thực dưỡng là tạo điều kiện thuận lợi cho cơ thể tự điều chỉnh lập lại quân bình, và để cơ thể tự chữa bệnh tật chứ không thay thế cơ thể và chữa bệnh cho cơ thể dù là bằng thuốc hay bằng những món ăn. Những món ăn dưới này không phải là thuốc trị bệnh mà chỉ hỗ trợ thuận lợi cho cơ thể tự phục hồi mà thôi. Hầu hết các câu hỏi thường gặp là “Ăn cái gì để chữa bệnh này của tôi ?” Câu hỏi này có phần khá lệch lạc đối với với thực dưỡng, bạn nên biết ngay từ đầu như vậy kẻo biến thực dưỡng thành dùng những thức ăn để đối chứng trị liệu, không nên lắm. Việc lệch đường này tuy chỉ có 1 ly, nhưng sẽ sai 1 dặm về sau này, đó là khi hết bệnh thì không ăn nữa. Thực dưỡng không phải là một phương pháp chữa bệnh, mà là một nghệ thuật sống quân bình để có một đời sống an vui tự tại.


T

uyến tụy, tuyến hình lá nằm ở giữa (ổ bụng) dài khoảng 5-8 inches (12,7 – 20,3 cm) & nặng khoảng 3 ounce (85 g), là nơi gây ra một số bệnh chính, bao gồm tiểu đường, hạ đường huyết, và ung thư tụy. Bệnh tiểu đường, một trong sáu nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Mỹ, vẫn tiếp tục gia tăng. Giữa những năm 1990 và 1998, trung bình tăng khoảng 33 %. Tỉ lệ mắc bệnh tiểu đường của bệnh nhân ở lứa tuổi 30 lên tới 70%. Mặc dù không quá nguy cấp hoặc đe dọa tính mạng, hạ đường huyết hiện ảnh hưởng đến rất nhiều người Mỹ, và tiềm ẩn trong nhiều vấn đề xã hội, gia đình hiện nay. Cách ăn thực dưỡng có thể thành công trong việc ngăn ngừa hoặc làm giảm những rối loạn của tuyến tụy có liên quan trực tiếp đến sự mất cân bằng lượng đường trong máu hoặc những vấn đề về tiêu hóa. TRIỆU CHỨNG 1. Sưng, co thắt, căng cứng, hoặc những triệu chứng bất thường khác ở vùng trên của bụng 2. Đói, yếu mệt, lo lắng, toát mồ hôi, run rẩy, chân hoặc tay có triệu chứng như kiến bò, chóng mặt, và thèm khát đồ ngọt, nhất là vào tầm giữa buổi chiều 3. Thay đổi tâm trạng, giận dữ, không thể tập trung được, bùng nổ cảm xúc, và có khuynh hướng có những hành vi hung hăng, bạo lực 4. Thèm ăn và uống quá mức, đi tiểu thường xuyên, giảm cân, mệt mỏi, buồn nôn (thường xuyên bị ói mửa), nhìn không rõ, tim đập mạnh, nhiễm nấm, liệt dương (ở nam giới) hoặc viêm âm đạo & gián đoạn kinh nguyệt ở nữ giới Trong y học cổ truyền phương Đông, bệnh lý tuyến tụy được phản ánh qua những dấu hiệu sau: 1. Sưng tấy, đổi màu, hoặc những triệu chứng bất thường khác trên sống mũi hoặc 2 bên thái dương. Ví dụ, mầu đậm chứng tỏ tụy đang bị quá tải bởi quá nhiều đường, đồ ngọt, nước ép, và trái cây. Những nốt mụn màu vàng nhạt được sản sinh ra bởi chất béo & dầu mỡ, từ bơ sữa, từ thức ăn động vật hoặc từ quá nhiều dầu thực vật. Các vết nám và mụn là kết quả của quá nhiều chất ngọt hoặc muối và các chất bột. Nốt ruồi ở những vùng này cho thấy quá nhiều chất béo, chất đạm động vật làm quá tải tụy & lá lách (còn gọi là tỳ). 2. Màu xanh nhạt hoặc trắng trong mắt thường liên quan đến sự phát triển của u nang, ung nhọt và u tụy.


PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG CHO SỨC KHỎE HOÀN CHỈNH | 4

3. Mọc lông giữa 2 lông mày cho thấy trong thời gian thai nghén người mẹ đã tiêu thịt 1 lượng lớn các đồ ăn động vật giàu chất béo & bơ sữa. Dấu hiệu này chỉ ra khả năng bị các bệnh về tụy, lá lách & gan. 4. Da dầu hoặc da khô cho thấy sự mất cân bằng trong việc chuyển hóa chất béo, bao gồm cả những bệnh về tuyến tụy. Sắc vàng của da chỉ ra sự xáo trộn của tuyến mật & thường là do bất thường của tụy. 5. Sưng tấy, những vết hằn, hoặc những dấu hiệu bất thường khác ở kinh mạch tỳ chỉ ra những vấn đề về tụy, đặc biệt là vùng chân dưới dưới mắt cá mở rộng tới phía ngoài của ngón cái ở mỗi bàn chân. NGUYÊN NHÂN 1. Nằm ngay dưới dạ dày, tụy nối với tá tràng thông qua ống mật chủ với gan & túi mật. Các bộ phận của tụy được biết đến là : đầu, thân & đuôi. Đầu tụy tiết ra dịch tụy trợ giúp tiêu hóa tinh bột, chất béo & đạm. Thân & đuôi tụy sản sinh ra men & hóc môn, bao gồm insulin & glucagon, là chất điều tiết lượng đường trong máu. Những hóc môn này được tiết ra bởi “đảo Langerhans” – một mạng kết nối nhiều tế bào rải rác khắp tuyến tụy với số lượng từ 200.000 đến 1,8 triệu; chúng tập trung nhiều nhất ở phần đuôi của tụy, vùng giáp với lá lách. Tuyến tụy cũng tiết ra một số lượng lớn chất bicarbonate đổ vào tá tràng, chất này trung hòa axit chảy ra từ dạ dày. Mất cân bằng trong chế độ ăn uống có thể ảnh hưởng đến cả cấu trúc và sự hoạt động của tuyến tụy, gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe. 2. Trong quá trình tiêu hóa bình thường, đường đa chất được phân tích dần dần và gần như đều đặn bằng các men tiêu hóa trong miệng, dạ dày, tụy & ruột. Đường đa chầm chậm đi vào máu sau khi đã chia nhỏ ra thành các đơn vị đường saccharide nhỏ. Trong lúc đó, độ PH của máu giữ ở mức hơi kiềm một chút. Ngược lại, đường đơn & đường đôi được chuyển hóa nhanh chóng, làm cho máu trở thành axit quá mức. Để bù lại cho trạng thái cực âm này, tuyến tụy tiến ra hóc môn dương, insulin, để lấy bớt lượng đường dư thừa và đi vào các tế bào của cơ thể. Quá trình này sinh ra năng lượng lớn trong khi đường glucose (sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa đường các loại) bị oxi hóa và cacbonic (carbon dioxide) & nước được thải ra. Tiêu thụ quá nhiều thức ăn nhanh khiến tụy mất đi khả năng điều chỉnh đường gluco tự nhiên. Và kết quả là, lượng đường trong máu hoặc quá cao (tiểu đường) hoặc quá thấp (hạ đường huyết) kinh niên.

3. Tiêu thụ quá nhiều thịt bò, thịt lợn, gà, trứng, phô mai mặn, cá ngừ, cà hồi, tôm, tôm hùm, cua và các thức ăn động vật có lượng chất béo & cholesterol cao tạo ra gánh nặng cho tụy, là nguyên nhân gây ra lượng đường thấp hoặc hạ đường huyết. 4. Tiêu thụ quá nhiều đường, mật ong, chocolate và các chất ngọt cô đặc khác; các chế phẩm từ sữa: sữa, kem, bơ, sữa chua …; các sản phẩm từ bột như bánh ngọt tinh chế, bánh xốp…; các loại rau củ nhiệt đới; gia vị; chất kích thích; cồn; thuốc; và các sản phẩm cực âm khác gây cho tụy bị yếu đi, hoặc sưng tây, dẫn đến tiểu đường, viêm tụy và các bệnh khác. 5. Ăn tối muộn hoặc ăn ngay trước khi đi ngủ thêm gánh nặng cho tụy, vì nó phải hoạt động để tiêu hóa thức ăn trong đêm thay vì được nghỉ ngơi và đầy năng lượng vào ngày hôm sau. CÁC DẠNG BỆNH Tiểu đường. Tiểu đường là một trong những bệnh dai dẳng nhất trong xã hội hiện đại. Chỉ riêng châu Mỹ đã có đến 20 triệu người phải chịu bệnh này. Tiểu đường loại 1, còn gọi là bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin (IDDM), tiểu đường ở vị thành niên, bị gây ra do thiếu insuline. Tiểu đường loại 2, còn gọi là tiểu đường không phụ thuộc insulin (NIDDM), tiểu đường ở người trưởng thành, hoặc tiểu đường bền vững, xảy ra khi tụy mất khả năng tiết insulin hiệu quả. 9 trong 10 trường hợp là thuộc tiểu đường loại 2, thường xảy ra chủ yếu ở người trên 40 tuổi và thường đi kèm với béo phì. Tiểu đường loại 1 thường xuất hiện ở những người trẻ dưới 30 tuổi. Thông thường, tuyến tụy tiết ra đủ insulin để trung hòa lượng đường dư thừa trong máu. Tuy nhiên, sau nhiều năm tiêu thụ quá mức đường tinh chế, trái cây, bơ sữa, hóa chất & các sản phẩm cực âm khác, các tế bào tuyến tụy bị giãn nở & mất khả năng tiết insulin. Đường bắt đầu xuất hiện trong nước tiểu, cơ thể mất nước và lượng muối khoáng dự trữ bị dùng hết. Việc sản xuất quá nhiều insulin thu hút các axit béo và có thể đông đặc lại thành sỏi trong ống dẫn mật hoặc ở đảo Langerhans. Tiểu đường type 1 thường đi kèm với tăng đường huyết (hyperglycemia). Nó có thể dẫn đến bệnh nhiễm axit cao trong máu (ketoacidosis) . Tiêm insulin nhân tạo và truyền muối khoáng thường được áp dụng để ngăn ngừa diễn tiến này. Nhưng do kết quả của chấn thương, tai nạn hoặc sốc đột ngột, người


bệnh có thể bị hôn mê & thậm chí tử vong. Bệnh đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp và các bệnh về thị lực khác là những triệu chứng thông thường khác, và bệnh tiểu đường là nguyên nhân chính gây ra mù mắt ở người lớn trong nước. Những vấn đề về hệ thần kinh, thận và bệnh tim có thể do diễn tiến của bệnh này gây ra. Nấm (miệng), các vấn đề về nướu (lợi răng), viêm đường tiết niệu và giảm đề kháng dẫn đến viêm nhiễm cũng thường gặp. Tiểu đường loại 1 được chữa trị bằng cách tiêm insulin, thường thì tiêm 2 lần 1 ngày hoặc nhiều hơn. Tiểu đường loại 2 thường được kiểm soát chỉ bằng ăn uống & tập thể dục. Các trường hợp khác được trị liệu bằng thuốc, đôi khi bao gồm cả insulin hoặc uống thuốc hạ đường huyết. Tiểu đường có thể được chữa trị & làm nhẹ bớt bằng việc áp dụng thực dưỡng hơi thiên về dương 1 chút dựa trên chế độ ăn cốc loại toàn phần, các loại đậu, rau củ và rong biển, được nấu hơi lâu & hơi mặn hơn. Hãy theo bảng hướng dẫn #1 và các lời khuyên ăn uống ở cuối chương. Trong nhiều trường hợp tiểu đường loại 2, nhu cầu về insulin và thuốc có thể được giảm từ 75-100% với chế độ ăn giàu chất xơ và nhiều carbohydrate (tinh bột) phức hợp. Loại 1 cũng có thể đáp ứng với can thiệp bằng ăn uống nhưng khó khăn hơn do sự yếu đuối về thể chất (cách ăn của người mẹ khi mang thai thường là quá âm); insulin có thể giảm dần dần, từ 30-40%, nếu tình trạng được cải thiện, nhưng để thuyên giảm bệnh hoàn toàn ở những người dưới 20 tuổi thì rất khó. Thêm vào đó, một số phương pháp trị liệu tại nhà sau có thể có ích:

trong tuyến tụy có thể dẫn đến tình trạng này. Theo quan điểm của thực dưỡng, bệnh tăng insulin quá mức là do tình trạng quá âm, và để giảm bớt, cần ăn dương hơn. Hãy theo bảng hướng dẫn số 2. Gạo lứt nấu với kê nên là thức ăn chính và cốc loại phải được nấu không muối. Rau củ nên dùng loại nhiều lá xanh & được nêm muối nhạt. Nên dùng 2 bữa súp mỗi ngày với miso & nước tương rất nhạt. Có thể ăn đậu lentil, đậu nành, đậu đen & các loại đậu âm tính khác nữa. Hạ đường huyết. Đường huyết thấp kinh niên hoặc bệnh hạ đường huyết là kết quả khi tuyến tụy mất đi khả năng tiết glucagon hoặc anti-insulin để tăng lượng đường huyết. Đây là hiện tượng chung trong xã hội hiện đại, với 80% dân số đã từng bị hạ đường huyết ở những cấp độ khác nhau. Bùng nổ cảm xúc và thay đổi tâm trạng thường xuyên, là do lượng đường huyết dao động dẫn đến phản ứng hưng phấn hoặc chán nản tương ứng.

Ai thèm ngọt vài lần trong ngày thường là bị hạ đường huyết. Sau 2h chiều hoặc qua đêm, khi mặt trời & bầu khí quyển hạ xuống, những người này càng thèm ngọt mãnh liệt. Nếu không có đồ ngọt, họ sẽ mệt mỏi, mất ngủ, giảm năng lượng và hiệu quả, dao động, thất vọng, trầm cảm và bất mãn. Trạng thái tình cảm của họ lên & xuống thất thường và mối quan hệ của họ với mọi người cũng vậy. Vào buổi tối, đôi khi họ không thể ăn & phải nằm dài để nghỉ ngơi. Đến đêm, toàn thân họ lạnh cóng, nhất là bàn tay & bàn chân. Họ ngủ không ngon, do đó họ cần ngủ nhiều hơn. Vào buổi sang, khi mặt trời 1. Uống nước của các loại rau có vị ngọt, 1-2 cốc mỗi & bầu khí quyển mọc lên, lượng đường trong máu họ cũng dâng lên, sức chịu đựng của trở lại & họ ngày trong từ 3-4 tuần. cảm thấy bình thường hoặc đầy sức sống. Nhưng 2. Dùng trà tương mai or sắn tương mai, cách 1 ngày vào buổi chiều, khi mà năng lượng của ban ngày và dùng 1 cốc trong 3 tuần. lượng đường huyết chìm xuống, họ lại cau có khó chịu trở lại, và các triệu chứng giống nhau xuất hiện. 3. Mỗi ngày ăn 1 lượng nhỏ ngưu bàng nấu theo kiểu Những vấn đề xung đột giữa người nam & người nữ, Kinpira với 1 lượng nhỏ dầu mè. giữa cha mẹ & con cải dễ nảy sinh. Đa phần trong số họ không nhận ra được họ có lượng đường trong 4. Mát xa cơ thể mỗi ngày để tăng tuần hoàn của máu giảm thường xuyên hoặc không nhận ra đó là toàn cơ thể. nguyên nhân cơ bản của những xung đột tình cảm. Trong nhiều trường hợp nghiêm trọng, hạ đường Bệnh Hyperinsulinism (tăng insulin quá mức). huyết có thể gây ra ù tai, ngất, run rẩy toàn thân, Tình trạng này là kết quả khi tuyến tụy tiết quá nhiều hoặc thậm chí bất tỉnh, hôn mê hoặc động kinh. Phụ insulin. Các triệu chứng của nó trái ngược với bệnh nữ trẻ & trung niên có khuynh hướng dễ bị hạ huyết tiểu đường và bao gồm cả hạ đường huyết, mệt mỏi, áp hơn nam giới. yếu cơ, khát và ra mồ hôi quá mức, lo lắng và dễ bị kích thích thần kinh. Trong những trường hợp nặng, Triệu chứng của hạ đường huyết gồm: mặt đỏ, mạch có thể kèm theo chứng động kinh & hôn mê. Quá đập không đều, dị ứng và viêm da, táo bón và tiêu liều insulin, còn gọi là sốc insulin, hoặc ung bướu chảy, nhược cơ, đau đầu, viêm ruột non, nấm can-


PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG CHO SỨC KHỎE HOÀN CHỈNH | 6

dida, có nguy cơ bị ung thơ hoặc bệnh nhiễm virus (bao gồm cả AIDS và viêm gan), thấp khớp, lãnh cảm, vô sinh và sảy thai, thiếu máu và hoa mắt chóng mặt, run rẩy toàn thân, không ổn định về tâm lý và tâm thần, bao gồm cả mệt mỏi, suy nhược, suy sụp, dễ nổi cáu, tính khí thất thường, dễ bị kích động, lo lắng, ăn uống thất thường, muốn tự tử, thiếu ước mơ và thiếu mục tiêu cuộc sống, nghi ngờ, sợ hãi, tự kỷ hoặc cô độc.

giảm sau từ 4-5 tháng theo đúng những chỉ dẫn sau:

Trong xã hội hiện đại, hạ đường huyết thường được điều trị bằng liệu pháp ăn kiêng. Chế độ ăn giàu chất xơ & carbohydrate phức chia 6 bữa ăn nhỏ mỗi ngày là chính, hạn chế đường, trái cây & rượu.

3. Nên ăn nhiều thành phần đa dạng trong các món: súp miso, đặc biệt là kê, mochi (bánh dày) & một số loại rau củ ngọt (bí đỏ, hành tây, cà rốt) nấu với rong wakame hoặc kombu.

Theo quan điểm thực dưỡng, nguyên nhân căn bản của hạ đường huyết không phải do đường hay đồ ngọt mà là trứng, gà, pho mai, bò, heo và các loại thịt, chế phẩm từ sữa, cá và hải sản, đặc biệt là tôm, tôm hùm, cua, sò, trứng cá, cá hồi, cá ngừ; và các thực phẩm từ động vật to khỏe khác. Các loại đồ ăn nướng kỹ từ bột bao gồm bánh mì, bánh quy, bánh cookies, muffins, bánh gạo và các loại thực phẩm chứa nhiều muối, nhiều khoáng chất như các loại hạt có muối cũng sẽ gây ảnh hưởng đến bệnh. Những thức ăn dương tính mạnh như thế sẽ là gánh nặng, làm tụy suy yếu và cản trợ tụy tiết glycogen. Bất cứ thức ăn nào trong những loại kể trên được chế biến ngập dầu thực vật hoặc bơ thì còn đặc biệt nguy hiểm hơn nữa. Khi mà lượng đường trong máu tụt xuống, cơ thể thèm khát đồ ăn âm có trong các loại đường, mật ong, nước ngọt & các loại đồ ngọt khác. Người bị hạ đường huyết sẽ cảm thấy ngay lập tức khi đường glucose trong thức ăn làm tăng lượng đường trong máu & tạm thời giải tỏa cho tụy. Những thứ cực âm khác dưới dạng rau củ nhiệt đới, đặc biệt những loại thuộc nhóm âm tính (night shades), trái cây & nước ép, gia vị, chất kích thích, và những thức ăn bành trướng khác cũng được thèm khát và tiêu thụ với lượng lớn để giúp tụy nghỉ ngơi. Người bệnh có thể thèm rượu, bia, rượu sake và các loại đồ uống có cồn, cũng như là cà phê, trà xanh, trà bạc hà, các đồ uống có chứa caffeine hoặc chất có mùi thơm quyến rũ. Căng thẳng và áp lực làm tăng thêm chứng bệnh hạ đường huyết và tạo ra sự thèm khát đồ ngọt & cồn. Một vài loại thuốc, ví dụ như thuốc chống ung thư, thúc đẩy thêm chứng hạ đường huyết. Ăn vặt vào tối khuya làm tăng thêm gánh nặng cho tụy và cũng góp phần vào rối loạn này. Đối với chứng bệnh hạ đường huyết, cần theo bảng hướng dẫn tiết thực số 3, giúp tăng dần thể trạng bằng cách phối hợp các yếu tố dương & cực âm. Bệnh đường huyết thấp kinh niên thường thuyên

4. Có thể nấu nhiều loại rau khác nhau. Thường xuyên dùng bí đỏ, cà rốt, củ cải, để nấu trong các món “củ hầm theo kiểu NISHIME” , món “rau nấu theo kiểu NISHIME”, hoặc món “phổ tai – bí đỏ -đậu đỏ”. Tránh các loại rau âm tính như” cà chua, khoai tây, cà tím, ớt ngọt màu xanh.

1. Thức ăn chính là ngũ cốc lứt, đặc biệt là gạo lứt, gạo lứt ngọt và kê. Cần nấu chín mềm để tiêu hóa dễ dàng. 2. Tránh các sản phẩm làm từ bột (bánh, muffins, bánh cracker, cooki) và cả các loại mì, càng tuyệt đối càng tốt.

5. Ăn các loại đậu, các loại thực phẩm có đậu và các loại rong biển, theo hướng dẫn căn bản. 6. Tránh ăn trái cây, uống nước trái cây tối đa. Nếu thèm, hãy hấp chín, rắc thêm 1 chút muối và chỉ ăn 1 lượng nhỏ. 7. Hãy cẩn thận không nên ăn quá nhiều muối, bao gồm miso, nước tương và muối biển. 8. Có thể dùng 1 lượng dầu rất ít, đặc biệt là dầu mè đề nấu ăn 9. Các loại dùng như gia vị: muối mè đen (16 hoặc 18 phần mè, 1 phần muối biển), mơ muối, bột lá tía tô, tekka, rong nori xanh và một số thức khác. 10. Tránh đường & thức uống có đường, cola, cà phê, cồn, nước chưng cất (nước tinh khiết?) càng nhiều càng tốt. 11. Có thể ăn cá thịt trắng có ít chất béo 1-2 lần mỗi tuần 12. Các chất ngọt như: siro đại mạch, siro gạo, rượu nếp (cơm rượu), trà ngọt AMACHA, hoặc rượu mirin có thể được dùng với lượng vừa phải. Các loại rau củ ngọt như bí đỏ, hành tây, cà rốt, bắp cải cung cấp vị ngọt tự nhiên. 13. Để nêm nếm, hãy dùng miso và nước tương lên men tự nhiên lâu hơn 2 năm, muối biển đã loại bỏ


tạp chất ma nhê (muối nigari), rượu mirin, dấm gạo lứt, dấm mơ muối và gừng. Những gia vị có tính kích thích như mù tạt, tiêu, cà ri nên tránh tối đa.

3. Dùng bột sắn dây với mạch nha gạo hoặc mạch nha đại mạch khi chán nản, suy sụp, cáu kỉnh. Cũng có thể dùng 1 ly trà ngọt AMASAKE để thay thế.

14. Thức ăn, đặc biệt là cốc loại, phải được nhai thật kỹ (từ 50-100 lần trong miệng).

4. Mát xa cơ thể mỗi ngày để tăng cường lưu thông máu.

Phải tuân thủ theo nếp sinh hoạt sau:

5. Làm ấm vùng tụy hoặc lòng bàn chân bằng 1 chai nước nóng khi cơ thể quá lạnh không ngủ được.

1. Đi ngủ sớm và dậy sớm 2. Hãy năng động cả về tinh thần & thể xác 3. Mỗi ngày tập thể dụng nhẹ nhàng hoặc đi bộ ngoài trời trong nửa tiếng. 4. Cho đến khi tình trạng được cải thiện, bạn nên ăn 4 đến 5 bữa nhỏ mỗi ngày thay vì 2-3 bữa, nhưng phải ăn vào những giờ cố định. 5. Tránh môi trường nhân tạo (độc hại) như: đường dây điện cao thế, máy điều hòa không khí, thiếu không khí, ẩm ướt hoặc độ ẩm cao và hóa chất (bao gồm cả mỹ phẩm & các sản phẩm chăm sóc cơ thể). 6. Hãy giữ cho không gian sống của bạn sạch và gọn gàng 7. Tránh những mối quan hệ căng thẳng. 8. Cố gắng tiếp xúc với thiên nhiên. 9. Sống đơn giản. 10. Dùng đồ lót, khăn trải giường, vỏ gối… bằng cotton. 11. Tránh dùng ti vi, máy vi tính, lò vi sóng, đèn huỳnh quang và các thiết bị điện phát ra từ trường mạnh khác. 12. Hát một bài hát vui hoặc ngâm nga thật lớn mỗi ngày. Những biện pháp trị liệu tại gia sau được khuyên áp dụng cho bệnh hạ đường huyết: 1. Uống nước rau ngọt, ít nhất mỗi lần 1 ly nhỏ mỗi sáng và mỗi tối, trong vòng 3 đến 4 tuần. 2. Nếu hệ tiêu hóa hoạt động chưa tốt, hãy uống 1 ly trà già –tương- mơ muối hoặc ăn 1 chén bột sắn dâytương- mơ muối cách mỗi ngày trong 3 tuần.

Tóm lại, đối với chứng hạ đường huyết, hãy tuân theo những chú ý sau: 1. Dùng 1 ly nhỏ bột sắn dây với mạch nha gạo hoặc mạch nha đại mạch trong vòng từ 5-10 ngày khi lượng đường trong máu hạ thấp do dùng quá nhiều hóa chất (ví dụ: insulin), thuốc chống ung thư hoặc hóa trị. 2. Các biện pháp đông y: châm cứu, uống thuốc bắc có thể giúp kiểm soát một vài triệu chứng của hạ đường huyết. Hãy đi khám ở một thầy thuốc kinh nghiệm nếu thấy cần thiết. Viêm tụy. Viêm tụy là tình trạng viêm của tuyến tụy, thường đi kèm với sưng tấy, xuất huyết và mạch máu bị vỡ. Có thể viêm cấp hoặc viêm mãn, từ nhẹ đến nguy kịch. Sỏi mật và nghiện rượu là nguyên nhân của 80% số ca bệnh. Viêm tụy cấp với những cơn đau liên tục & khủng khiếp, đau thẩm thấu, xuyên qua lưng và ngực và kéo dài trong nhiều ngày. Có thể kèm theo những triệu chứng như nôn, ói, căng chướng bụng và có thể dẫn đến u nang, áp xe và chảy dịch tụy vào ổ bụng. Để chữa trị phải tránh việc ăn và uống qua đường miệng, vì điều này sẽ kích thích tụy tiết ra nhiều men hơn. Người bệnh phải được cho ăn thông qua truyền và tuyệt đối không ăn trong ít nhất là 2 tuần và dài nhất là 6 tuần. Viêm tụy mãn bao gồm cả đau dai dẳng ở vùng giữa bụng với nhiều mức độ đau khác nhau, có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày. Có thể kèm theo sụt cân, đi cầu phân có mùi và có thể dẫn đến tiểu đường, hoặc gây ra canxi lắng cặn trong tuyến tụy. Lạm dụng rượu là nguyên nhân chính. Trong điều trị y khoa thường cho ăn 4 đến 5 bữa mỗi ngày với các loại đồ ăn ít béo, ít đạm, giầu carbohydrate và kiêng rượu. Tuân thủ Bảng hướng dẫn số 1 đối với bệnh viêm tụy mãn hoặc Bảng hướng dẫn số 2 đối với bệnh viêm tụy cấp. Và phải luôn ghi nhớ những đề nghị được liệt kê dưới đây.


PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG CHO SỨC KHỎE HOÀN CHỈNH | 8

GIẢI PHÁP Chế độ ăn Ngoài việc tuân theo chế độ ăn uống (đã đề cập) dành cho bệnh tiểu đường và hạ đường huyết, lưu ý thêm những điều dành cho tụy sau đây: 1. Ăn cốc loại toàn phần như thức ăn chính, đặc biệt là kê – loại thực phẩm có lợi cho tụy. Có thể nấu riêng hoặc nấu kèm bằng nồi áp suất với gạo, ăn cùng với các loại rau củ như bí đỏ, cà rốt hoặc các thức ăn có vị ngọt khác, nấu súp hoặc dùng như 1 bữa sáng nhẹ. Gạo lứt nấu kèm với kê (theo tỉ lệ 80% gạo và 20% kê) có thể được ăn thường xuyên. 2. Các loại củ hình tròn có vị ngọt, đặc biệt tốt & dễ tiêu đối với tụy. Bao gồm các loại bí đó (mùa thu hoặc mùa đông), hành tây, cải bắp. Các loại này được nấu theo kiểu NISHIME, nấu súp (đặc biệt súp kê và bí đỏ), hoặc hấp. 3. Dùng nạc mơ muối, bắp cải muối chua kiểu Đức (sauerkraut) hoặc các loại dưa muối (như loại dưa muối bằng dấm mơ) giúp giảm hoạt động quá mức của tụy. 4. Tránh thịt động vật, đặc biệt gà, trứng, phô mai cứng, các loại hải sản như tôm, cua, tôm hùm. Chúng tích lũy dần dần trong tụy, gây ra bệnh. 5. Kiêng hoặc dùng hạn chế đồ ăn từ bột (bánh) nướng, thức ăn mặn hoặc chiên rán. 6. Kiêng đường, các thức ăn có đường, mật ong, mật mía và các loại đường tinh chế khác. 7. Kiêng hoặc dùng hạn chế trái cây và nước trái cây, đặc biệt trái cây nhiệt đới cho đến khi tình trạng được cải thiện. 8. Kiêng hoặc hạn chế rượu bia các loại. 9. Kiêng gia vị, chất kích thích, các loại thức ăn được nuôi trồng hoặc xử lý bằng hóa chất, đặc biệt các loại biến đổi gien. 10. Kiêng hoặc hạn chế gạo xát trắng, bột mì trắng, các loại ngũ cốc tinh chế và các chế phẩm từ ngũ cốc tinh chế, bao gồm: bánh cracker, cookie, muffin… 11. Theo chế độ ăn chuẩn cho từng trường hợp như đã đề cập ở trên.

12. Nhai đúng là căn bản đối với bệnh tụy. Nhai ít nhất 50 lần, tốt hơn là 100 đến 200 lần. 13. Tránh ăn quá no, uống quá nhiều, đặc biệt trước khi ngủ vì sẽ tạo thêm gánh nặng cho tụy vào đêm. Lối sống Làm theo những lời khuyên về lối sống và lưu ý những điều sau: 1. Lo lắng và khó chịu thường đồng hành cùng những rối loạn tuyến tụy, do đó điều quan trọng bạn nên làm là giữ môi trường sống an hòa. 2. Mát xa cơ thể bằng khăn ấm hoặc khăn nhúng nước gừng nóng rất có lợi. Có thể áp khăn lên vùng tụy trong 10-15 phút. Có thể thay thế bằng 1 chai nước nóng hoặc 1 gói muối rang nóng. 3. Các liệu pháp như day bấm huyệt, tập luyện DOIN, chưởng liệu pháp và các bài tập nhẹ nhàng khác cũng rất có hiệu quả 4. Hoạt động thể chất là quan trọng, nhất là đối với người bị tiểu đường, nhưng không được quá sức. 5. Tránh tắm nước nóng lâu & thường xuyên vì có thể làm mất khoáng chất của cơ thể. Điều trị tại nhà 1. Với các bệnh rối loạn chức năng tụy, đặc biệt là tiểu đường và hạ huyết áp, hãy thường xuyên dùng món phổ-bí-đỏ. Món này rất ngọt và có thể ăn từ ½ đến 1 cup vào mỗi bữa ăn trong 2 đến 4 tuần. Sau đó ăn thưa dần ra. 2. Dùng món nước rau ngọt, từ 1 đến 1 ½ cup mỗi ngày trong tháng đầu, cách mỗi ngày dùng 1 lần trong tháng sau và thỉnh thoảng dùng sau đó. 3. Uống nước cà rốt & củ cải, 1 đến 11/2 cup mỗi ngày trong từ 2 đến 4 tuần, sau đó cứ 3 đến 4 ngày uống 1 lần cũng trong khoảng thời gian 2-4 tuần và thỉnh thoảng dùng sau đó. 4. Nước ép cà rốt tươi, uống nguội hoặc ấm trong 4 đến 5 ngày sẽ giúp giảm tải cho tụy, đặc biệt trong trường hợp đau. 5. Làm món củ cải tươi mài, thêm vài giọt nước


tương cho ½ cup. Ăn 2 đến 3 lần 1 tuần để giảm tích tụy dầu mỡ, chất béo trong tụy. 6. Để giảm cơn đau của tụy và giúp phục hồi, áp gạc gừng nóng lên vùng bị đau từ 3-5’ rồi áp gạc lạnh như cao khoai sọ hoặc cao khoai tây thông thường trong 3 đến 5 giờ. Lặp lại nếu cần và tiếp tục như vậy trong 1 đến 2 tuần. Lưu ý 1. Những rối loạn về tụy, đặc biệt là ung thư tụy, có thể không có những triệu chứng bên ngoài và thường bị bỏ qua hoặc bị chẩn đoán nhầm trong những lần khám sức khỏe định kỳ. Trong khi tiếp cận phương pháp Thực dưỡng để giải quyết hầu hết các vấn đề về tụy, hãy tham vấn bác sĩ nếu bạn có lý do để tin rằng bạn đang trong tình trạng nghiêm trọng. 2. Nếu bạn bị tiểu đường và đang điều trị bằng insulin và các loại thuốc khác, hãy liên hệ với dược sỹ của bạn để giảm liều lượng. Trong nhiều trường hợp, liều lượng insulin có thể được giảm bớt và thậm chí bỏ hoàn toàn vì tuyến tụy đã lấy lại được khả năng điều tiết insulin tự nhiên. Tuy nhiên, tốt nhất là hãy tiếp tục dùng thuốc bình thường trong ít nhất 2 tuần kể từ khi bắt đầu áp dụng thực dưỡng, sau đó giảm dần, lý tưởng là với sự theo dõi của chuyên gia y tế. BẰNG CHỨNG Y KHOA Chế độ ăn hiện đại đi liền với sự gia tăng của bệnh tiểu đường trong dân Mỹ bản địa. Những người dân bản địa Pima của vùng Arizona có tỉ lệ tiểu đường cao nhất thế giới. Những nghiên cứu y học nghiên cứu chế độ ăn của họ đã phát hiện ra rằng những ai đã ăn chế độ ăn hiện đại với nhiều khoai tây, bánh mì trắng, thực phẩm giàu chất béo và các thực phẩm chế biến có đến 38% bị mắc bệnh, trong khi những ai ăn chế độ ăn truyền thống với bánh kẹp ngô, đậu tepary, đậu lima và đậu mesquite chỉ có tỷ lệ 6 % Nguồn: R. Cowen “Seeds of Protection”, Sience News 137:350-51,1990. Khoai tây, bột mì trắng và gạo trắng gia tăng nguy cơ tiểu đường Theo các nhà khoa học Boston, khoai tây, bánh mì trắng và gạo trắng là nguy cơ tiểu đường. 1 cuộc

nghiên cứu rộng rãi với 65 173 phụ nữ đã cho thấy những người ăn chế độ ăn giàu tinh bột, nước ngọt và ít chất xơ bị tiểu đường nhiều gấp 2,5 lần với những người ăn ít những thực phẩm này và ăn nhiều hạt cốc lứt và những đồ ăn nhiều chất xơ. Tiến sĩ Walter Willet, giáo sư dịch tễ và dinh dưỡng tại trường Harvard của Tổ chức y tế công cộng đã nói rằng carbohydrate trong ngũ cốc tinh chế và khoai tây được tiêu hóa và hấp thụ nhanh chóng, là nguyên nhân gây ra lượng đường trong máu cao và một lượng lớn chất insulin được giải phóng. Nguồn: Denise Grady, “Diet-Diabetes Link Reported”, New York Times, February 12, 1997. Các loại hạt cốc lứt phòng chống bệnh tiểu đường Theo những nhà nghiên cứu California, một chế độ ăn với các loại hạt cốc lứt có thể kiểm soát được bệnh tiểu đường. Trong khi nghiên cứu 4 587 bệnh nhân có bệnh tiểu đường khởi phát ở người trưởng thành, các nhà khoa học đã phát hiện 1 chế độ ăn giàu carbohydrate phức hợp và ít béo, kết hợp với đi bộ và tập luyện aerobic có hiệu quả kiểm soát bệnh tiểu đường và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành. Nguồn: R. James Barnard et al., “Diet and Exercise in the Treatment of NIDDM,” Diabetes Care 17 (12): 1-4, 1994. Chế độ ăn và luyện tập có ích cho những người trưởng thành có nguy cơ tiểu đường cao Một nghiên cứu bệnh chứng tiến hành với 522 người Finns tại Scandinavian tìm ra rằng những người trưởng thành có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao có thể giảm 60% nguy cơ mắc bệnh bằng việc thay đổi chế độ ăn uống, giảm bớt 10 pounds (khoảng 4,5 kg) cân nặng và tập thể dục nhiều hơn. Cả 2 nhóm đều nhận được lời khuyên về sự quan trọng của chế độ ăn uống lành mạnh và vận động thường xuyên, nhưng chỉ nhóm đã thực hành – là nhóm đã nhận được chỉ dẫn chi tiết từ những nhà thực dưỡng và từ những chuyên gia thể dục - mới thực sự giảm được nguy cơ. Nguồn: “Lifestyle Can Prevent Diabetes… Maybe”, Science News, July 1, 2000.


BẢNG TỔNG HỢP CÁC CHẾ ĐỘ ĂN THEO THỰC DƯỠNG theo tình trạng cơ thể Loại thức ăn Cách nấu ăn tổng quát Ngũ cốc nguyên cám (chiếm 40-60% thực đơn hàng ngày)

#1 Cho tình trạng cơ thể lệch về Âm Hơi mặn và nấu lâu hơn Dùng đều đặn gạo lứt, kê, lúa mạch, lúa mì nguyên cám, bắp

#2 Cho tình trạng cơ thể lệch về Dương Ít mặn và nấu nhanh hơn Dùng đều đặn gạo lứt, kê, lúa mạch, lúa mì nguyên cám, bắp

#3 Cho tình trạng cơ thể lệch cả Âm và Dương Nấu ăn trung hoà Dùng đều đặn gạo lứt, kê, lúa mạch, lúa mì nguyên cám, bắp

Thỉnh thoảng dùng các loại Thỉnh thoảng dùng các loại Thỉnh thoảng dùng các loại hạt khác hạt khác hạt khác

Súp (1-2 lần/ ngày) Rau củ (chiếm tỷ lệ 25-30% thực đơn hàng ngày

Đậu và các chế phẩm đậu (5% thực đơn hàng ngày) Rong biển (khoảng 2% thực đơn hàng ngày) Đồ chua lên men (Rau củ muối) (tỷ lệ nhỏ) Muối và gia vị

Dầu ăn

Tránh dùng các món bột nướng, dùng bánh mì lên men chua (sourdough) nếu thèm

Tránh dùng các món bột nướng, dùng bánh mì lên men chua (sourdough) nếu thèm

Tránh dùng các món bột nướng, dùng bánh mì lên men chua (sourdough) nếu thèm

Thỉnh thoảng dùng mì sợi/ nui

Thỉnh thoảng dùng mì sợi/ nui

Thỉnh thoảng dùng mì sợi/ nui

Kiều mạch, mì soba và mì căn tuỳ trường hợp nên dùng hay không Khẩu vị hơi đậm (thêm chút miso, shoyu hoặc muối biển) Hàng ngày dùng cân đối rau xanh, thân và củ nhưng chú ý dùng nhiều các loại củ hơn

Tránh dùng hoặc hạn chế tối đa kiều mạch, mì soba và mì căn Khẩu vị nhẹ hơn (nêm ít miso, shoyu hoặc muối biển) Hàng ngày dùng cân đối rau xanh, thân và củ nhưng chú ý dùng nhiều rau lá xanh hơn

Tránh dùng hoặc hạn chế tối đa kiều mạch, mì soba và mì căn Khẩu vị trung hoà

Tránh dùng salad sống, thỉnh thoảng dùng salad luộc hoặc nén chua

Thỉnh thoảng dùng salad sống, thường xuyên dùng salad luộc hoặc nén chua

Nêm gia vị khá đậm, dùng không thường xuyên Nấu lâu, vị hơi đậm

Nêm gia vị nhẹ nhàng, dùng thường xuyên hơn. Thỉnh thoảng thêm ngọt Nấu nhanh, vị nhẹ nhàng

Dùng loại muối lâu, đậm hơn Dùng gia vị hơi mặn và mạnh hơn, muối biển trắng không tinh chế, tương miso ít nhất 2 năm và tương shoyu Tuỳ trường hợp mới dùng, có thể tránh dùng 1 tháng đầu tiên hoặc dùng với 1 cái cọ quệt dầu với lượng ít nhất có thể. Chỉ dùng dầu mè. Không dùng dầu chưa nấu.

Dùng loại muối nhanh, chua nhẹ Dùng gia vị ít mặn và nhẹ hơn, muối biển trắng không tinh chế, tương miso ít nhất 2 năm và tương shoyu Tuỳ trường hợp mới dùng, có thể tránh dùng 1 tháng đầu tiên hoặc dùng với 1 cái cọ quệt dầu với lượng ít nhất có thể. Chỉ dùng dầu mè. Không dùng dầu chưa nấu.

Từ tháng thứ 2, dùng thỉnh Từ tháng thứ 2, dùng thoảng. thường xuyên.

Hàng ngày dùng cân đối rau xanh, thân và củ nhưng chú ý dùng nhiều rau củ mọc ngang mặt đất như bắp cải, bí đỏ.. Tránh dùng salad sống, thường xuyên dùng salad luộc hoặc nén chua Nêm gia vị trung bình, liều lượng cân bằng vừa phải Nấu trung bình, vị trung hoà 1 trong 2 loại với lượng vừa phải Dùng gia vị mặn vừa phải, muối biển trắng không tinh chế, tương miso ít nhất 2 năm và tương shoyu Tuỳ trường hợp mới dùng, có thể tránh dùng 1 tháng đầu tiên hoặc dùng với 1 cái cọ quệt dầu với lượng ít nhất có thể. Chỉ dùng dầu mè. Không dùng dầu chưa nấu. Từ tháng thứ 2, dùng thỉnh thoảng.


Muối mè Đồ uống

Lửa đun Các thức ăn bổ sung khác Thức ăn động vật

Quả và nước ép

Hạt và hạch quả

Đồ tráng miệng ăn vặt

Dùng đậm đà

Dùng nhạt

16 mè : 1 muối

18 mè : 1 muối

Dùng vừa phải

18 mè : 1 muối Dùng trà bancha đun nấu Dùng trà bancha đun nấu Dùng trà bancha đun nấu kỹ, đậm hoặc trà truyền nhanh hơn, loãng hơn vừa phải, hoặc trà truyền thống khác; dùng nước hoặc trà truyền thống thống khác; dùng nước suối, nước giếng, nước lọc; khác; dùng nước suối, suối, nước giếng, nước lọc; thỉnh thoảng dùng nước ép nước giếng, nước lọc; thỉnh thỉnh thoảng dùng nước ép củ cà rốt thoảng dùng nước ép củ cà củ cà rốt, các loại nước ép rốt, ép táo và các loại nước khác không thường xuyên. ép khác. Gas, củi, lửa tự nhiên, Gas, củi, lửa tự nhiên, Gas, củi, lửa tự nhiên, tránh dùng vi sóng, điện tránh dùng vi sóng, điện tránh dùng vi sóng, điện Dùng thỉnh thoảng lượng ít Tránh hoặc hạn chế tối đa cá có màu thịt trắng, được dùng cá và hải sản hấp, luộc hoặc chần và ăn kèm đúng Tránh hoặc hạn chế tối đa Thỉnh thoảng dùng trái cây ôn đới nấu với muối biển, Dùng trái cây ôn đới được sấy khô hoặc ăn tươi chấm nấu nếu thấy thèm; dâu với muối tươi, dưa gang vào mùa hè nếu thấy thèm Tránh các hạt, bơ hạt; thỉnh Hạn chế tối đa hạt hoặc bơ thoảng dùng hạt chần hoặc hạt; thỉnh thoảng dùng hạt rang nướng qua (không có chần hoặc rang nướng qua (không có muối) muối); hạt hướng dương chỉ dùng vào mùa hè Sushi, mochi, kanten, bánh pudding, đồ ăn vặt; tránh đồ nướng, phồng, sấy khô; amasake; mạch nha hoặc siro gạo chỉ dùng ít khi thèm

Sushi, mochi, kanten, bánh pudding, đồ ăn vặt; tránh đồ nướng, phồng, sấy khô; amasake; mạch nha hoặc siro gạo chỉ dùng ít và thỉnh thoảng

Hạn chế tối đa dùng cá và hải sản Dùng lượng ít trái cây ôn đới nấu với nhúm muối biển, sấy khô hoặc ăn tươi chấm với muối Hạn chế tối đa hạt hoặc bơ hạt; thỉnh thoảng dùng hạt chần hoặc rang nướng qua (không có muối); hạt hướng dương chỉ dùng vào mùa hè Sushi, mochi, kanten, bánh pudding, đồ ăn vặt; tránh đồ nướng, phồng, sấy khô; amasake; mạch nha hoặc siro gạo chỉ dùng ít và thỉnh thoảng

* Đây là những chỉ dẫn khái quát dùng chung. Tuỳ vào tình trạng sức khoẻ của mỗi người, môi trường, khí hậu, giới tính, tuổi tác, mức độ hoạt động thể lực, nhu cầu cá nhân và các yếu tố khác sẽ có những điều chỉnh tương thích riêng.


PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG CHO SỨC KHỎE HOÀN CHỈNH | 10

biên dịch Tekka Hasua,Nguyệt Hiền Như biên tập trình bày bếpthựcdưỡng.com

Ăn có ý thức, nấu có trách nhiệm. 2013

Bệnh Tuyến Tụy  

bepthucduong.com