Page 1

BAÛN TIN Sustainable Rural Development

AÁn phaåm thöù nhaát (1/2012 - 6/2012)

PHAÙT TRIEÅN COÄNG ÑOÀNG

NOÄI DUNG

LÔØI NOÙI ÑAÀU

Cập nhật thông tin các dự án Tổng quan về các dự án của SRD

2 Hỗ trợ Can Lộc chủ động ứng phó với thiên tai

4 Tăng thu nhập từ cây thuốc bản địa

5 Phát triển sinh kế cho người nghèo ở huyện Văn Chấn

6 Quản lý và giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại Thừa Thiên Huế 8 Thắp sáng cuộc sống cho người khuyết tật

9

Nâng cao năng lực cho cộng đồng dân tộc thiểu số

10

Tiếng nói từ cộng đồng Cây chè cho cuộc sống ấm no

12 SRI - Đơn giản mà hiệu quả

13 Nuôi gà nhiều cựa – một hướng phát triển sinh kế mới cho người nghèo

14 Cuộc sống văn minh hơn nhờ hệ thống nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh

T

rung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) là một trong những tổ chức phi chính phủ hàng đầu tại Việt Nam, hiện đang triển khai rất nhiều hoạt động hỗ trợ người nghèo, nhằm giúp họ thích ứng với điều kiện môi trường đang thay đổi và quản lý sinh kế một cách bền vững, xóa đói giảm nghèo. Mục đích cuối cùng mà chúng tôi muốn hướng tới là người dân tại các vùng nông thôn có đủ năng lực để tự quản lý nguồn sinh kế của mình một cách bền vững trong một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Bắt đầu từ tháng 8/2012, Trung tâm SRD cho ra đời bản tin riêng, sẽ xuất bản định kỳ sáu tháng một lần, với mục đích cung cấp và chia sẻ tin tức cập nhật về các dự án của SRD đang triển khai trên toàn quốc. Niềm vui, thành quả và trăn trở của những cộng đồng mà chúng tôi đang hỗ trợ sẽ được hòa chung trên bản tin này. Đây đồng thời cũng sẽ là diễn đàn để các đối tác địa phương và mọi đối tác khác quan tâm tới hoạt động hỗ trợ người dân nghèo cùng chia sẻ những bài học kinh nghiệm và liên kết hợp tác. Bản tin này sẽ được in ấn và phát hành tới người dân và đối tác địa phương tại các cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế trong việc tiếp cận với Internet. Bản tin bao gồm hai nội dung chính: (i) Cập nhật thông tin các dự án và (ii) Tiếng nói từ cộng đồng Những thông tin trình bày trong bản tin này đồng thời được đăng tải trên website của SRD: www.srd.org.vn Rất mong nhận được những đóng góp quý báu của độc giả gần xa để chúng tôi có thể cải thiện hơn nữa chất lượng bản tin, cũng như chất lượng các hoạt động của tổ chức. Các ý kiến và thông tin xin gửi về địa chỉ email: info@srd.org.vn hoặc về địa chỉ: Phòng Truyền thông Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) Số 56, ngách 19/9, đường Kim Đồng, Hà Nội Tel: 043 9436676/78; Fax: 043 9436449 Tờ tin dự kiến sẽ được phát hành vào đầu tháng 8 và tháng 2 hàng năm. Nếu Quý vị muốn nhận hoặc từ chối nhận bản tin này, xin liên hệ theo địa chỉ trên. Xin trân trọng cảm ơn!

15

Ảnh: SRD Thiết kế và in ấn: qctmphuongdong@gmail.com

Thực hiện: Nguyễn Thị Quỳnh Chi và nhóm cán bộ dự án Hiệu đính: Nhà báo Chu Minh Khôi – Phóng viên Thời báo Kinh tế Việt Nam


CAÄP NHAÄT THOÂNG TIN CAÙC DÖÏ AÙN

TOÅNG QUAN VEÀ CAÙC DÖÏ AÙN

V

ới tôn chỉ hỗ trợ người nghèo khu vực nông thôn thích ứng trong điều kiện môi trường đang thay đổi và quản lý sinh kế một cách bền vững, trong sáu tháng đầu năm 2012, SRD tiếp tục triển khai nhiều hoạt động can thiệp vào ba lĩnh vực trọng tâm: nông nghiệp và sinh kế bền vững, biến đổi khí hậu (BĐKH) và vận động chính sách. Trong lĩnh vực nông nghiệp và sinh kế bền vững, SRD đã triển khai nhiều hoạt động tập huấn nâng cao năng lực nhằm chuyển giao những tiến bộ khoa học kĩ thuật, giúp nông dân đa dạng hóa sinh kế. Hiện tại, Trung tâm đang hỗ trợ bảo tồn các giống địa phương, điển hình như cây thuốc (ở Yên Bái) và các giống lúa thuần (ở Bắc Kạn), giúp người dân chủ động trong hoạt động canh tác, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài. SRD đồng thời giới thiệu và khuyến khích người dân địa phương áp dụng thành công một số mô hình như: Hệ thống Thâm canh lúa Cải tiến (SRI) ở Điện Biên, Bắc Kạn; mô hình canh tác trên đất dốc tại Yên Bái… Bên cạnh đó, SRD cũng chú trọng vào nâng cao năng lực thị trường cho người dân thông qua xây dựng các chuỗi giá trị trên gạo (Bắc Kạn), chè và gà (Phú Thọ), vịt (Hà Tĩnh). Nhờ đó, nông dân có thể chủ động nắm bắt kiến thức và kỹ năng thị trường một cách bài bản, giúp tăng giá trị sản phẩm đầu ra, góp phần đáng kể vào cải thiện thu nhập. Trong bối cảnh thiên tai gia tăng với mức độ ngày càng nghiêm trọng, SRD đặc biệt chú trọng đến những hoạt động can thiệp giúp cộng đồng người dân ở từng địa phương chủ động ứng phó với thiên tai và BĐKH, nhằm duy trì sinh kế. Hoạt động ứng phó với BĐKH và thiên tai luôn được lồng ghép vào tất cả các dự án. Trong đó, một số dự án lớn hiện đang được triển khai tại các tỉnh ven biển chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của bão lũ, xâm thực như Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh. Ở đó, chúng tôi đã giúp cộng đồng nâng cao năng lực chủ động ứng phó với thiên tai, cải thiện sinh kế theo hướng thích nghi với khí hậu thay đổi.

Trong lĩnh vực vận động chính sách ở cấp cơ sở, SRD hỗ trợ tăng cường vị thế của các tổ chức cộng đồng (CBO) thông qua xây dựng năng lực cho các tổ nhóm nông dân, như các nhóm chăn nuôi (Phú Thọ, Hà Tĩnh, Yên Bái), nhóm quản lý và sử dụng đất có sự tham gia của người dân (Phú Thọ), hội người sử dụng nước (Điện Biên)…

2

Thông qua các hoạt động này, người dân địa phương có thể tham gia tốt hơn vào quá trình ra quyết định để tự quyết cho sự phát triển của chính bản thân, gia đình và cộng đồng nơi họ sinh sống. Bên cạnh đó, SRD cũng chuyển tải những đề xuất, khuyến nghị và sáng kiến của cộng đồng tới các diễn đàn chính sách ở các cấp cao hơn./.


HOÃ TRÔÏ CAN LOÄC CHUÛ ÑOÄNG ÖÙNG PHOÙ VÔÙI THIEÂN TAI

TAÊNG THU NHAÄP TÖØ CAÂY THUOÁC BAÛN ÑÒA Một phụ nữ dân tộc Dao được dự án hỗ trợ, đang chăm sóc cây Mạch Môn trong vườn nhà.

Các xóm tham gia xây dựng bản đồ hiểm họa thiên tai trên địa bàn

D

C

Trao trang thiết bị PCLB cho 6 xóm dự án

Thành viên tổ PCLB xóm được tập huấn các kỹ năng sơ cấp cứu.

Tập huấn sơ cấp cứu

Tập huấn phòng ngừa rủi ro thiên tai cho Ban PCLB xã

ự án “Phát triển và bảo tồn bài thuốc dân tộc và nguồn cây thuốc bản địa” do SRD triển khai từ năm 2010 tại xã Cảm Ân (huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái) tiếp tục gặt hái nhiều thành công. Trong hai quý đầu năm 2012, đã có thêm 118 hộ gia đình được đào tạo kỹ năng theo phương thức “cầm tay chỉ việc” tại những lớp học đồng ruộng. Đến nay đã có khoảng 500 lượt người được hưởng lợi từ việc chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc một số loại cây thuốc như kim tiền thảo, mạch môn, gừng, đinh lăng trong vườn nhà và trên diện tích đất rừng của mỗi hộ. Theo đánh giá sơ bộ của chính quyền xã Cảm Ân, thu nhập từ cây thuốc của các hộ tham gia dự án tăng khoảng 10-15% so với trước đây, góp

an Lộc là một huyện đồng bằng của tỉnh Hà Tĩnh, dễ bị tổn thương bởi thiên tai và BĐKH. Địa phương này thường xuyên phải đối mặt với mưa lớn, lũ, bão, hạn hán và rét đậm rét hại. Hơn 80% dân số của huyện sống dựa vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, năng suất thấp, dễ bị mất mùa mỗi khi thiên tai xảy ra. Trong một vài năm trở lại đây, tần suất cũng như mức độ nghiêm trọng của các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của người dân nơi đây. Với mong muốn cải thiện sinh kế bền vững cho người dân địa phương và giảm được những tác động nghiêm trọng của thiên tai, SRD đã triển khai dự án “Áp dụng chuỗi giá trị để cải thiện sinh kế nông thôn trong bối cảnh BĐKH và thiên tai tại huyện Can Lộc”. Dự án được tổ chức Manos Unidas (Tây Ban Nha) tài trợ, kế hoạch thực hiện trong ba năm (từ 2012 đến 2014) trên địa bàn ba xã: Khánh Lộc, Vượng Lộc và Vĩnh Lộc. Trong sáu tháng đầu năm 2012, dự án đã triển khai bảy khóa tập huấn, với nhiều nội dung thiết thực như lập kế hoạch giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thích ứng với BĐKH; kỹ năng cứu hộ cứu nạn, sơ cứu tai nạn thương tích. Hơn 155 thành viên trong Ban chỉ huy Phòng chống Lụt bão (PCLB) ở cấp huyện, xã, thôn, xóm đã được tập huấn. Dự án cũng đã hỗ trợ trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng chống lụt bão của sáu xóm hưởng lợi, thiết bị gồm: áo phao, phao cứu sinh, loa cầm tay, đèn pin, áo mưa, mũ bảo hộ…Với những kiến thức, kỹ năng và các trang thiết bị này, tổ PCLB ở các xóm dự án có thể ứng phó kịp thời, cứu nạn và phòng tránh thiệt hại đến mức tối đa cho người dân mỗi khi lụt bão xảy ra. Cùng với nhiều hoạt động nâng cao năng lực phòng chống thiên tai, thích ứng với BĐKH, SRD cũng hỗ trợ người dân điều chỉnh sinh kế của mình theo hướng giảm nhẹ những tác động của thiên tai, thời tiết khắc nghiệt. Nhiều mô hình đã được SRD chuyển giao tới nông dân như: Hệ thống Thâm canh lúa Cải tiến (SRI); trồng giống lúa ngắn ngày năng suất cao; sản xuất giống lúa thuần năng suất cao; xen canh kết hợp lúa – cá – vịt, sản xuất và sử dụng phân ủ hữu cơ… Những mô hình này giúp tăng khả năng kháng sâu bệnh, tăng khả năng chống đổ ngã cho cây lúa khi có mưa to và cho thu hoạch sớm trước mùa bão lũ. Với những hoạt động mà dự án đã triển khai trong sáu tháng qua, SRD đã góp phần không nhỏ giúp chính quyền và người dân trên địa bàn ba xã của huyện Can Lộc chủ động, sẵn sàng ứng phó trong mùa lụt bão đang đến gần./.

4

Nông dân được trang bị kiến thức về các cây thuốc bản địa để điều trị một số bệnh thường gặp.

5

phần đáng kể vào việc cải thiện điều kiện sống của người dân địa phương. Dự án đã đặc biệt thành công trong việc khuyến khích các ông lang, bà mế địa phương chia sẻ những bài thuốc dân tộc cổ truyền thông dụng với nông dân. Nhờ sự chia sẻ này, nông dân tham gia dự án đã được nâng cao năng lực để có thể chữa một số bệnh thường gặp. Trong thời gian qua, số người địa phương được chữa khỏi bệnh nhờ những cây thuốc bản địa đã tăng 30% so với trước. Tiếp nối thành công hai năm trước của dự án, trong quý này, bên cạnh việc tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sức khỏe cho người dân, dự án đã giúp tăng cường các kiến thức bản địa và văn hóa dân tộc trong người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ./.


PHAÙT TRIEÅN SINH KEÁ CHO NGÖÔØI NGHEØO ÔÛ HUYEÄN VAÊN CHAÁN

V

ăn Chấn là một huyện nghèo của tỉnh Yên Bái, với tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%. Từ năm 2010, từ nguồn lực hỗ trợ của tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam, SRD đã triển khai dự án phát triển sinh kế tại hai xã nghèo trong huyện là Gia Hội và Nậm Búng. Mục tiêu dự án là nhằm giúp các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số cải thiện thu nhập, phát triển sinh kế bền vững thông qua hoạt động phát triển kinh tế đa dạng và cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ của người dân địa phương. Trong sáu tháng đầu năm 2012, dự án tập trung xây dựng năng lực toàn diện cho nông dân. Gần 100 khóa tập huấn tại hiện trường về trồng trọt và chăn nuôi đã được tổ chức, thu hút sự tham gia của 3000 lượt nông dân. Bên cạnh hoạt động xây dựng năng lực, dự án hỗ trợ nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất bằng cách giới thiệu và khuyến khích nông dân áp dụng một số mô hình sản xuất hiệu quả như: Hệ thống Thâm canh lúa Cải tiến (SRI), mô hình nhóm tiết kiệm tín dụng tại thôn bản, mô hình canh tác ngô và đậu tương trên đất dốc, mô hình nuôi gà theo hướng an toàn sinh học, mô hình vườn ươm chè shan tuyết. Ngoài ra, dự án đã hỗ trợ các nhóm cộng đồng (CBO) tiếp cận các dịch vụ nông nghiệp tốt và hỗ trợ gần 1000 nông dân tiếp cận thông tin dịch vụ của Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Nông dân được tập huấn ủ phân vi sinh tại xã Gia Hội.

Đồng bào dân tộc Dao được hỗ trợ mô hình nuôi gà.

Đặc biệt, trong bối cảnh BĐKH và thiên tai ngày càng gia tăng như hiện nay, để giúp người dân duy trì sinh kế bền vững, dự án đã tiến hành nhiều hoạt động truyền thông về BĐKH trong trường học dưới hình thức tổ chức cuộc thi, đóng kịch, tiểu phẩm. Những hoạt động này đã thực sự đem lại hiệu quả thiết thực, giúp cộng đồng địa phương và các em học sinh, thầy cô giáo hiểu rõ và áp dụng các biện pháp phòng ngừa thảm họa thiên tai tại gia đình, hoặc trong trường học mỗi khi xảy ra thiên tai.

6

7

Mô hình canh tác đậu tương trên đất dốc;

Trong sáu tháng qua, dự án đã tiếp tục hỗ trợ tích cực đồng bào dân tộc ở không chỉ hai xã Gia Hội và Nậm búng, mà còn nhân rộng những mô hình tới các xã khác trong huyện nhằm thực hiện thành công chiến lược lồng ghép hoạt động của dự án với các hoạt động phát triển kinh tế xã hội khác của huyện. Kết quả này góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giúp nông dân kết nối tốt hơn với các dịch vụ nông nghiệp và thị trường, thông qua đó nâng cao giá trị sản phẩm, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập cho người dân trên địa bàn dự án, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo./.


THAÉP SAÙNG CUOÄC SOÁNG CHO NGÖÔØI KHUYEÁT TAÄT

T

Mô hình giống lúa chịu mặn RVT đã khẳng định được những ưu thế vượt trội và cho hiệu quả kinh tế cao.

QUAÛN LYÙ VAØ GIAÛM NHEÏ RUÛI RO THIEÂN TAI DÖÏA VAØO COÄNG ÑOÀNG TAÏI THÖØA THIEÂN HUEÁ

H

ải Dương và Hương Phong là hai xã ven biển thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế - một tỉnh miền Trung Việt Nam, hàng năm thường xuyên chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai. Sinh kế của người dân nơi đây chủ yếu dựa vào nuôi trồng thủy sản, trồng lúa và một số loại hoa màu ngắn ngày. Trong một vài năm trở lại đây, bởi sự gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp của thiên tai, thời tiết cực đoan, hoạt động nuôi trồng và sản xuất của người dân càng thêm chồng chất khó khăn và sinh kế của họ càng trở nên bấp bênh, dễ bị tổn thương. Xuất phát từ thực tế trên, với sự tài trợ của tổ chức Caritas (Úc), SRD đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân Thị xã Hương Trà triển khai dự án “Giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng” tại hai xã Hương Phong và Hải Dương. Mục đích của dự án nhằm hỗ trợ người dân nâng cao năng lực để có thể chủ động ứng phó với thảm họa thiên tai, giảm thiểu tới mức thấp nhất những thiệt hại.

Tính từ tháng 3/2011 đến nay, dự án đã triển khai nhiều hoạt động tập huấn nâng cao năng lực cho 130 thành viên đội xung kích thôn thuộc hai xã về lập kế hoạch phòng ngừa giảm nhẹ thiên tai và ứng phó với BĐKH, kỹ năng sơ cấp cứu, cứu hộ, cứu nạn. Ngoài ra, các đội xung kích được dự án trang bị một số dụng cụ cần thiết như áo mưa, đèn pin, dây thừng, áo phao, neo, thuyền…để hỗ trợ ứng cứu người dân trong trường hợp xảy ra thiên tai. Bên cạnh việc hỗ trợ các đội xung kích thôn, dự án đã tổ chức các hoạt động truyền thông về xử lý rác thải cho người dân, truyền thông về BĐKH, cung cấp sổ tay hướng dẫn phòng ngừa thiên tai và lắp đặt các bảng thông tin cảnh báo bão, lũ tại một số điểm xung yếu. Song song với hoạt động nâng cao năng lực, dự án đã giới thiệu, tập huấn và hỗ trợ bà con nông dân áp dụng một số mô hình sinh kế thích ứng, như: trồng thử nghiệm giống lúa chịu mặn RVT, trồng dưa hấu trên diện tích lúa một vụ, ương cua bột và nuôi xen ghép tôm-cua-cá. Những mô hình này giới thiệu tới người dân những cây trồng, vật nuôi có khả năng chống chịu tốt với hiện tượng xâm thực và triều cường đang ngày một gia tăng tại địa phương. Dự kiến từ nay đến cuối năm 2012, dự án sẽ tiếp tục tổ chức một số hoạt động truyền thông nhằm tuyên truyền, trang bị cho người dân những kiến thức, kỹ năng căn bản và hướng dẫn người dân cách thức lập kế hoạch ứng phó với thiên tai./.

Thực hành cứu đuối của đội xung kích các thôn xã Hương Phong;

8

háng 4/2012, SRD đã phối hợp với UBND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị triển khai dự án “Hỗ trợ người khuyết tật” giai đoạn 2012-2014. Mục đích của dự án là nhằm hỗ trợ cải thiện tinh thần, tâm lý, thể chất, dinh dưỡng cho người lớn và trẻ em khuyết tật tại hai xã Gio Hải, Gio Mỹ và thị trấn Gio Linh (huyện Gio Linh). Các hoạt động của dự án tập trung vào thăm khám tại nhà cho các đối tượng khuyết tật có nhu cầu. Hàng quý, mỗi xã có khoảng 10 người khuyết tật (NKT) được thăm khám bệnh. Trên cơ sở đó, các bác sĩ, chuyên gia vật lý trị liệu đưa ra những hướng dẫn phù hợp trong việc tập luyện phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe cho NKT và gia đình của họ. Cùng với hoạt động thăm khám định kỳ, dự án còn thúc đẩy hình thành các Câu lạc bộ NKT. Đến nay đã tập hợp được 50 thành viên bao gồm NKT có khả năng lao động và cả thân nhân NKT nặng. Đây là sân chơi bổ ích, trở thành mái nhà chung nơi NKT có thể gặp gỡ, chia sẽ những câu chuyện của bản thân cũng như kinh nghiệm và khó khăn trong cuộc sống thường nhật. Ở đó, họ có thể tự tin đóng góp tiếng nói và ý kiến của mình.

Bác Nguyễn Văn Anh, Cố vấn của SRD trao quà cho bố cháu Hoàng Thị Trà My, nạn nhân chất độc màu da cam ở thị trấn Gio Linh nhân ngày 27/7.

Tuy nhiên, vì mới triển khai nên dự án gặp phải một số thách thức. Do địa bàn dự án rộng, NKT sinh sống rải rác, nên việc đi lại để tham gia vào các hoạt động của dự án gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, do hiện nay trên địa bàn huyện Gio Linh đã có một số dự án và chương trình khác dành cho NKT nên đòi hỏi dự án của SRD cần có sự tìm hiểu để lồng ghép, phối hợp nhằm tận dụng nguồn lực, tránh sự trùng lặp và hỗ trợ tốt nhất cho NKT. Trong thời gian tới, SRD sẽ tiếp tục triển khai một số hoạt động hỗ trợ sinh kế cho NKT, đồng thời phối hợp với các cơ quan, ban ngành và đối tác địa phương lập kế hoạch triển khai các hoạt động bổ sung nhằm duy trì tính hiệu quả, bền vững của dự án. Vấn đề giới, bình đẳng giới và phòng ngừa thiên tai, thích ứng với BĐKH cũng sẽ được lưu ý lồng ghép thực hiện trong các hoạt động của dự án, phù hợp với định hướng chung của tỉnh và huyện nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động hỗ trợ cho NKT tại địa phương./

9

Anh Phạm Đình Lợi, người khuyết tật ở thôn 7 xã Gio Hải tham gia dự án.


Sustainable Rural Development

NAÂNG CAO NAÊNG LÖÏC CHO COÄNG ÑOÀNG DAÂN TOÄC THIEÅU SOÁ

P

hú Thọ, Thái Nguyên và Hòa Bình là những tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, nơi có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm trên 40% và tỷ lệ đói nghèo vẫn ở mức cao. Xuất phát từ thực tế trên, ba tổ chức gồm SRD, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vùng cao (CERDA) và Trung tâm vì sự Phát triển miền núi (CSDM) đã phối hợp triển khai dự án “Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam vì sinh kế các cộng đồng dân tộc miền núi phía Bắc” tại các xã Tân Sơn, Nà Mèo (Hòa Bình), Tam Thanh, Võ Miếu (Phú Thọ) và Phú Cường, Đức Lương (Thái Nguyên). Dự án này do tổ chức Manos Unidas (Tây Ban Nha) tài trợ trong ba năm, bắt đầu được triển khai từ tháng 9/2011. Dự án hướng đến xây dựng năng lực cho các tổ chức dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số cải thiện sinh kế, tăng cường tiếng nói và thúc đẩy sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số trong các quá trình ra quyết định. Tính đến nay, ba tổ chức đã hỗ trợ thành lập được nhiều tổ nhóm cộng đồng, bao gồm: hai câu lạc bộ sinh kế ở Phú Thọ với 170 thành viên; 25 tổ tự quản quy tụ 291 thành viên và hai nhóm sản xuất chè an toàn với 63 thành viên tại hai xã của Thái Nguyên; ở Hòa Bình cũng đã thiết lập hai tổ chức cộng đồng và bảy thôn tự quản với 350 thành

hỗ trợ người dân phát triển sinh kế bền vững, cải tạo và đem lại chất lượng thực sự của sản phẩm, dự án đã giới thiệu và áp dụng kỹ thuật sử dụng và sản xuất phân vi sinh cho các nhóm CBO tại cả ba tỉnh. Sử dụng phân vi sinh được áp dụng cho các loại hình sản xuất nông nghiệp như canh tác chè, rau an toàn, phục vụ trực tiếp đời sống người dân. Hoạt động này đem lại hiệu quả đáng kể vì giúp cải tạo chất lượng đất và cho sản phẩm đáp ứng các tiêu chí sản phẩm chất lượng, an toàn, bền vững. Để giúp nông dân duy trì được sinh kế bền vững, bên cạnh việc nâng cao kỹ năng sản xuất cho nông dân, dự án còn hỗ trợ họ những kiến thức tiếp cận thị trường. Trong năm đầu, dự án đã cùng làm việc với người dân để tìm ra và thúc đẩy sản xuất một số sản phẩm tiềm năng của địa phương như sản phẩm chè an toàn (Phú Thọ, Thái Nguyên), gà (Phú Thọ), khoai tây Mỹ, gừng trâu (Thái Nguyên), tỏi, quả đào núi (Hòa Bình)… và hỗ trợ nông dân đưa sản phẩm ra thị trường một cách bài bản, giúp tăng giá trị cho sản phẩm. Trong gần một năm đầu triển khai, các hoạt động dự án đã diễn ra khá thuận lợi nhờ sự hỗ trợ của chính quyền địa phương các cấp và sự tin tưởng, tham gia gia nhiệt tình của người dân. Bên cạnh đó, dự án cũng gặp một số khó khăn khi người dân vẫn còn sản xuất theo phong trào và còn thiếu sự hợp tác, liên kết của người dân trong các hoạt động sản xuất, tiếp cận thị trường. Dự kiến từ nay đến cuối năm, dự án sẽ tiếp tục hỗ trợ củng cố của các CLB, tổ nhóm, nhóm sản xuất để hoạt động của các tổ nhóm ngày càng phát triển theo chiều sâu, hỗ trợ người dân nâng cao chất lượng sản xuất hàng hóa nông nghiệp./.

viên tham gia. Các tổ nhóm cộng đồng này hiện nay đều có lãnh đạo là người dân tộc thiểu số. Kết quả mong đợi của dự án là các tổ nhóm này sẽ trở thành hạt nhân cấp cơ sở hỗ trợ người dân trong hoạt động sinh kế. Nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ nhóm này, dự án hỗ trợ nâng cao năng lực toàn diện cho các nông dân chủ chốt trong các tổ nhóm về kỹ năng lập kế hoạch và giám sát có sự tham gia, tập huấn hình thành nhóm tiết kiệm tín dụng, những kỹ năng thị trường, phát triển sinh kế, bảo vệ và sử dụng các tài nguyên môi trường một cách bền vững. Bên cạnh việc nâng cao năng lực cho các tổ nhóm, dự án hỗ trợ và hướng dẫn người dân tại ba tỉnh áp dụng các mô hình sinh kế bền vững: áp dụng Hệ thống Thâm canh lúa Cải tiến (SRI), mô hình canh tác trên đất dốc, sản xuất chè (Phú Thọ, Thái Nguyên), nuôi gà nhiều cựa, nuôi giun quế, nuôi lợn địa phương (Phú Thọ), trồng khoai tây Mỹ (Thái Nguyên), trồng giống tỏi địa phương và quả đào núi, chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm từ nguyên liệu sẵn có của địa phương (Hòa Bình). Ngoài việc được hỗ trợ vay vốn để mua cây giống, con giống, dự án đã tổ chức nhiều hoạt động tập huấn kỹ thuật và tham quan chéo để nông dân chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau. Với định hướng

10

11

Nông dân trong CLB sinh kế của Phú Thọ thu hoạch chè do dự án hỗ trợ

Dự án hỗ trợ vốn và kỹ thuật cho các nông dân thuộc hai CLB sinh kế (Phú Thọ) phát triển mô hình nuôi lợn


TIEÁNG NOÙI TÖØ COÄNG ÑOÀNG Một góc cánh đồng chè xóm Tân Bình chuẩn bị cho thu hoạch;

Lúa SRI có khả năng chống đổ ngã tốt hơn trong mùa mưa bão.

SRI - Ñôn giaûn maø hieäu quaû

Caây cheø cho cuoäc soáng aám no on đường đất dẫn vào xóm Tân Bình (xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) lầy lội sau một đêm mưa. Tôi ngồi chênh vênh trên chiếc xe máy của bác Thắng – Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) sinh kế xã Võ Miếu, tay ôm chặt bác để tránh “vồ ếch” xuống đám bùn đỏ. Một tay giữ chặt bác Thắng, tay kia tôi vẫn cầm chiếc máy ảnh để chụp hình và luôn miệng xuýt xoa trước những nương chè xanh. Bác Thắng cười: “Thế này đã ăn thua gì, lát nữa vào đến cánh đồng trong kia tha hồ mà chụp ảnh”. Nói rồi bác tăng tốc để bắt kịp các cán bộ khác trong đoàn đi ra cánh đồng trồng chè của thôn. Đến nơi, cả nhóm cán bộ chúng tôi trầm trồ: “Ôi chè đẹp quá”. Những nương chè xanh ngút ngàn trải dài đến tận cuối chân trời. Chị Ngoan, thành viên trong CLB, đồng thời là kế toán của dự án tâm sự: “Ngày trước, thấy chè nơi khác chiếu trên tivi đầy sức sống, lá xanh đen, bà con trong thôn bảo nhau chẳng biết đến bao giờ thôn mình mới được như người ta. Ấy vậy mà nhờ có dự án hướng dẫn kỹ thuật, giờ chè của chúng tôi chẳng thua kém ai”.

C

Đoàn cán bộ Trung tâm trò chuyện với một số thành viên trong CLB xã Võ Miếu.

Đ

Bác Đỗ Ngọc Oanh, một thành viên khác trong CLB trực tiếp tham gia mô hình trồng chè bước tới gần chỗ tôi, hồ hởi: “Ngày trước chưa có dự án, chúng tôi không biết cách chăm sóc nên chè phát triển không đều, mỗi lứa khoảng 30 ngày cho thu hoạch một lần, năng suất được khoảng 1,7 tạ/sào. Giờ được dự án tập huấn, chè của chúng tôi cho năng suất tăng rõ rệt, bình quân một lứa được 2,52,7 tạ/sào”. Bác tiếp lời “Trước kia cứ tưởng ném thật nhiều đạm là chè lên tốt nhưng không phải. Giờ chúng tôi biết cân đối đạm, lân, kali rồi!”. Theo chân bác Thắng, chủ nhiệm CLB và một số nông dân khác trong CLB, chúng tôi rảo bước về nhà bác Oanh cách đó không xa. Trà xanh được rót ra và truyền tới tay mọi người. Hương trà ấm nóng, thơm nức tỏa khắp căn phòng nhỏ. Được biết, với các giống chè lai được dự án giới thiệu như giống PH1, LDP1, LDP2, PT95, chè hái non cũng bán được với giá 4.000 – 4.200/kg, cho thu nhập tăng 50% so với trước. Nông dân ở đây sôi nổi bàn bạc tới đây sẽ mạnh dạn cho cuốc bờ ruộng trồng giống chè hạt trung du đi, thay bằng giống mới do dự án giới thiệu cho chất lượng và năng suất cao hơn. Bà con ai cũng vui vì được tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới để tăng thu nhập cho hộ gia đình. Ngồi chuyện trò thêm đôi ba câu nữa, chúng tôi xin phép ra về để thăm một số mô hình khác. Ra đến cửa, các bác các chị còn với theo “Sang năm dự án nhớ hỗ trợ chúng tôi thêm kỹ thuật, thêm vốn để mở rộng diện tích trồng chè nhé”. Trên đường về, bác Thắng tâm sự: “Thôn này sẽ sớm giàu lên nhờ chè thôi”. Niềm vui của bà con theo tôi trên con đường đất đỏ lầy bùn. Ngoảnh mặt lại, tôi vẫn nhìn thấy một màu xanh của chè, của niềm tin và hy vọng cho bà con nơi đây./.

oàn cán bộ chúng tôi gặp lại chị Lê Thị Hải Yến, trưởng thôn Nà Đon (xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn) tại Hội nghị đánh giá kết quả triển khai chuỗi giá trị gạo Bao Thai tỉnh Bắc Kạn. Vừa gặp chúng tôi, chị đã vồn vã khoe về cái “ét-rờ-i” mà dự án đưa về từ đầu năm 2012 tại thôn chị. Đã nghe cán bộ dự án tại Trung tâm kể nhiều về Hệ thống Thâm canh lúa Cải tiến (SRI), nhưng bản thân tôi còn nghi ngờ và muốn kiểm chứng bằng người thực, việc thực. Chị Yến chia sẻ: “Lúc dự án đưa ét-rờ-i về, chồng tôi còn bảo cứ áp dụng bừa bãi rồi cả nhà lấy gì mà ăn. Nhưng đã tham gia vào dự án trước của SRD nên tôi tin là dự án không nói dối nên vẫn mạnh dạn áp dụng trên cả hai hec-ta ruộng nhà mình.” Tham gia dự án, chị Yến cùng tám hộ khác trong thôn Nà Đon được hỗ trợ kiến thức kỹ thuật thông qua các khóa tập huấn gieo mạ, cấy, bón phân, điều tiết nước, phòng trừ sâu bệnh và các lớp học trên đồng ruộng. “Ét-rờ-i không cao siêu gì đâu. Miễn bà con thay đổi cách canh tác cũ là được”, chị Điền (xã Nông Thịnh, huyện Chợ Mới) ngồi ngay cạnh chị Yến cho biết thêm. Nói rồi, hai chị thi nhau kể về “ét-rờ-i” làm dễ như thế nào, hiệu quả ra sao. Cả hai chị đều khẳng định cấy “étrờ-i” cần ít giống hơn, ít công chăm sóc hơn, giảm sâu bệnh, ít phân bón, ít nước tưới hơn, năng suất cao hơn… Nhờ thực hành canh tác SRI, trong vụ chiêm đầu năm 2012, lúa nhà chị Yến được 7 tạ/ha trong khi trước đây, khi chưa áp dụng SRI, vụ nào trúng

12

13

lắm, nhà chị mới được 5,5 tạ/ha. Làm SRI, có thời gian nhàn rỗi hơn, chị lại “có thêm” thời gian để chăn nuôi 15 con lợn. Với khoản thu nhập “kép” mà theo chị Yến tăng lên 30% này, chị đã có đồng ra đồng vào mua quần áo mới cho con. Chị cũng có thêm thời gian tham gia các hoạt động xã hội và đảm nhiệm tốt hơn vai trò của một nữ trưởng thôn. Chị Yến cho biết, ngoài tám hộ trong dự án, đa số bà con trong thôn cũng đã “học lỏm” nhà chị về áp dụng SRI. Cả thôn hiện đã có 14 ha trên tổng số 16 ha áp dụng theo mô hình mới này. SRI hứa hẹn sẽ đem lại một vụ mùa bội thu cho gia đình chị và cho tất cả bà con thôn Nà Đon. Trên khuôn mặt rạm đen vì mưa nắng của người phụ nữ dân tộc Sán Dìu tôi nhìn thấy niềm vui ánh lên trên đôi mắt chị./.

Chị Yến (Áo tím, đứng ở giữa) dẫn đường cho đoàn cán bộ dự án đi thăm bà con trong thôn


CUOÄC SOÁNG VAÊN MINH HÔN NHÔØ HEÄ THOÁNG NÖÔÙC SAÏCH VAØ NHAØ TIEÂU HÔÏP VEÄ SINH

NUOÂI GAØ NHIEÀU CÖÏA MOÄT HÖÔÙNG PHAÙT TRIEÅN SINH KEÁ MÔÙI CHO NGÖÔØI NGHEØO

Hệ thống nước tự chảy gồm năm ống dẫn nước. Cứ 10 hộ gia đình trong bản lại chung nhau một đường ống dẫn nước cho sinh hoạt của cả gia đình.

T

rời đã xế chiều. Sau một ngày rong ruổi trên xe máy, chúng tôi đã đi thăm được khá nhiều mô hình ở cả hai xã Tam Thanh và Võ Miếu (tỉnh Phú Thọ). Tuy mệt, tôi và các anh chị cùng đoàn vẫn háo hức muốn đi tham quan mô hình nuôi gà nhiều cựa ở xã Tam Thanh. Chúng tôi muốn nhìn tận nơi “gà chín cựa” trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh mà có lẽ ở Hà Nội chúng tôi sẽ chẳng bao giờ có thể thấy được. Theo chân anh Hoàng, Phó chủ nhiệm CLB Sinh kế xã Tam Thanh, chúng tôi đến nhà anh Hà Văn Thứ ở xóm Vai. Căn nhà nhỏ của anh dần hiện ra sau khi chúng tôi đi hết con dốc nhỏ. Anh và cô con gái đang ở nhà. Nhìn thấy cán bộ dự án tới, anh vồn vã ra đón chúng tôi, tay bắt mặt mừng. Rót trà mời khách, anh niềm nở khoe: “Gà nhiều cựa đắt hàng lắm, nuôi chưa lớn khách mua đã đặt hàng hết rồi, giờ ai đặt mua nữa cũng không còn để mà bán. Người ta đổ xô đến đây để mua làm quà biếu. Thế nhưng gà ri, gà ta thì sẵn, chứ gà nhiều cựa vẫn là của hiếm”. Không thể kiềm chế được sự hiếu kì, chúng tôi nhờ anh dẫn ra chuồng gà vì “trăm nghe không bằng một thấy”. Chuồng gà rộng 20 m2. Trong chuồng khoảng 30 con gà con đang bới cơm nguội. Anh Thứ vào chuồng, bắt lấy một chú gà cho chúng tôi xem

Anh Thứ mua giống gà nhiều cựa ở xã Tân Pheo, huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình).

N

chân. Tất cả chúng tôi cùng đếm cựa và đồng thanh: “Ôi trông lạ quá”. Con gà nào cũng có 7-8 cựa, phía trên ống chân mọc thêm một hàng cựa nữa thay vì có một cựa như các giống gà khác. Anh Thứ chia sẻ: “Đợt vừa rồi người ta đổ xô đi mua gà nhiều cựa làm quà biếu, rồi cưới hỏi. Gà nhà tôi bán được đến 300.000/kg vì thịt ngon không kém gà chọi. Nuôi gà giống bán cũng được 50.000/con, lãi lắm”. Anh cho biết, khi tham gia vào nhóm chăn nuôi của dự án, anh được hỗ trợ cho vay 3 triệu đồng. Với số tiền đó, anh đầu tư mua thức ăn cho gà. Bên cạnh đó, anh và các thành viên khác trong nhóm chăn nuôi gà đã được tập huấn hướng dẫn cách chăm sóc và phòng dịch bệnh cho gà. Nhờ vậy, đàn gà nhà anh lớn nhanh và không bị dịch bệnh. Anh Thứ dự kiến sẽ vay thêm vốn của dự án để tăng số lượng gà nuôi. Tôi băn khoăn liệu anh có bị rơi vào tình trạng cung thừa kéo giá xuống không. Anh cười: “Gà bán trong xã, trong huyện còn thiếu. Người dưới xuôi thích gà này lắm. Thừa thì chuyển xuống dưới xuôi chứ lo gì”. Tiễn chân chúng tôi ra về, anh còn hẹn đến Tết Âm lịch có gà xuất chuồng thì mời cán bộ về nhà anh nếm thử thịt gà nhiều cựa và “mua về xuôi làm lễ cúng ông Táo”./.

hân chuyến khảo sát đánh giá dự án vào đầu tháng 7/2012, chúng tôi đã có dịp trò chuyện với anh Lường Văn Lai, trưởng bản Chiềng Khoang (thị trấn Tuần Giáo, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên). Khi được hỏi chuyện, mắt anh nhìn xa xăm nhớ lại chỉ mới cách đây hai năm, khi chưa có dự án của SRD đưa về, trong bản chỉ có duy nhất một đường ống dẫn nước. Vì vậy hầu hết các hộ trong bản thường xuyên phải đi lấy nước từ những nguồn rất xa, không đảm bảo vệ sinh cho sinh hoạt hàng ngày. Năm 2010, với nguồn lực tài chính từ tổ chức Caristas (Úc), SRD đã hỗ trợ bà con trong bản xây dựng công trình nước sinh hoạt. Nhờ có hệ thống này, đến nay 48 hộ gia đình, trong đó có 17 gia đình thuộc diện hộ nghèo trong bản đã có nước sạch sử dụng. Đây là một trong hai công trình nước sinh hoạt mà dự án đã hỗ trợ cho người dân ở hai bản Chiềng Khoang và Chiềng Chung. Theo chân anh, chúng tôi leo lên ngọn đồi cách đó không xa. Chỉ về phía một chiếc bể to, anh cho biết: “Đây là bể chứa nước tự nhiên, chảy từ lòng đất, sạch lắm. Từ bể này, nước sẽ theo 5 đường ống dẫn xuống cho bà con dùng”. Để đảm bảo cho công trình cấp nước sinh hoạt sử dụng được lâu dài, dự án đã hỗ trợ bà con tổ chức những cuộc họp thôn bản để thành lập Hội người sử dụng nước, xây dựng quy chế vận hành, quản lý, duy tu công trình nước sạch, quy định quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên trong hội. Ngoài ra, dự án đã thành lập Tổ điều hành nước, gồm năm thành viên, là các hộ gia đình trong bản, trực tiếp sử dụng nước sinh hoạt từ nguồn nước này, mỗi thành viên phụ trách quản lý một đường ống dẫn nước. Các thành viên trong tổ được dự án tập huấn về cách duy tu, vận hành, và quản lý công trình cấp nước sinh hoạt. Hàng năm, mỗi hộ gia đình đóng 60.000 đồng cho Tổ điều hành nước để duy tu và quản lý công trình cấp nước sinh hoạt. Anh trưởng bản cho biết “Hệ thống nước này đã giúp được cho 48 hộ rồi. Tôi mong dự án sẽ tiếp tục hỗ trợ chúng tôi để mang nước về cho cả 108 hộ trong bản”.

Phía trên mỗi ống chân của giống gà này mọc thêm một hàng 7-8 cựa.

14

15

Với mục tiêu cải thiện điều kiện vệ sinh và nước sạch cho bà con, song hành với hỗ trợ xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, dự án còn hỗ trợ xây dựng 30 nhà tiêu hợp vệ sinh cho các hộ gia đình nghèo và khó khăn trong bản Chiềng Khoang và 30 nhà tiêu ở bản Chiềng Chung liền đó. Anh trưởng bản dẫn chúng tôi đến thăm nhà chị Bạc Thị Ún, một trong những hộ được dự án hỗ trợ kinh phí và hướng dẫn kỹ thuật để xây dựng nhà tiêu. Chị được hỗ trợ 3 triệu và được hướng dẫn kỹ thuật xây nhà tiêu. Cùng với sự giúp sức của cán bộ dự án và bà con hàng xóm, chỉ một tuần sau nhà chị đã có một nhà tiêu mới hợp vệ sinh. Chị rất vui tâm sự với chúng tôi: “Tôi ước muốn xây được nhà tiêu tử tế cho sạch sẽ từ lâu rồi nhưng không có điều kiện. Nay nhờ có dự án nhà tôi mới làm được”. Đi cùng đoàn quay về nhà văn hóa bản, anh Lai liên tục chỉ cho chúng tôi “nhà anh này được hỗ trợ dùng nước tự chảy, nhà chị kia được hỗ trợ nhà tiêu”. Chúng tôi vui lây với anh Lai khi giờ đây điều kiện nước sạch và vệ sinh môi trường của bà con trong bản đã được cải thiện, tiếp cận gần hơn với cuộc sống văn minh.

Nhà tiêu mới giúp nhà chị Ún không còn vất vả trong những ngày mưa gió nữa.

Tờ tin số 1  

Tờ tin số 1

Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you