Page 1


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Tập tài liệu này được đánh máy lại từ bộ tài liệu A-Dục của BHDTU GĐPTVN tại quê nhà và một số tài liệu của BHD GĐPTVN tại UĐL. BHD GĐPTVN tại UĐL – www.gdptvn-udl.org In tại nhà in Bamboo – 2/281 John St, CABRAMATTA WEST, NSW 2166, AUSTRALIA – 100 quyển. Phụ trách tổng tổng quát: Tâm Thọ, Vạn Niệm & Vạn Thắng

Tài liệu A Dục– trang 2


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN HUYNH TRƯỞNG CẤP I A DỤC I.

TỔNG QUÁT:

1. 2. 3. 4. 5. 6. 7.

Tinh thần Trại A Dục (*) 6 Tinh thần Lục hòa trong trại huấn luyện 10 Lý tưởng và sứ mệnh của GĐPT (*) 16 Người Đoàn trưởng (*) 19 Câu chuyện dưới cờ (*) 24 Thực tập làm chủ lễ (*) Mục đích và phương pháp giáo dục trong Gia Đình Phật Tử 26 A Dục vương với tinh thần chuyển biến nội tâm và hộ trì Chánh pháp (*) 33 Các vị cư sĩ có công lớn đối với Phật giáo Việt Nam: Tâm Minh Lê Đình Thám – Chánh Trí Mai Thọ Truyền 45

8. 9.

II. PHẬT PHÁP: 1. 2. 3. 4.

Tứ nhiếp pháp với Đoàn trưởng (*) Tứ chánh cần và Tứ như ý túc Đức Phật Thích Ca với vấn đề giáo dục Phát Bồ đề tâm (*)

58 62 69 77

III. PHẬT GIÁO VIỆT NAM: 1.

Phong trào chấn hưng Phật Giáo tại Việt Nam (Đại cương) 86

IV. HIỂU THẤU ĐÁO VỀ GĐPT 1.

Tìm hiểu Nội Quy và Quy Chế Huynh Trưởng (*)

V. HIỂU THẤU ĐÁO VỀ NGÀNH: 1.

Tâm lý ngành (*) Tài liệu A Dục– trang 3

93


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

2. 3.

Hiểu trẻ và biết nhu cầu của trẻ Những trẻ khó tính

97 101

VI. CẦM ĐOÀN: 1. 2. 3. 4.

Vạch chương trình sinh hoạt Đoàn Hoạt động của Đoàn (kế hoạch - thực hiện) Huấn luyện Đội, Chúng trưởng - Chăn Đàn Hàng Đội tự trị (*)

107 114 121 128

VII. CHUYÊN MÔN: 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8.

Trại Lửa trại Trò chơi Văn nghệ Gia Đình Phật Tử Báo Đoàn Thi vượt bậc Chuyên môn trong GĐPT (mới) (*) Cách hướng dẫn một lớp học (mới) (*)

(*) Các đề tài được hướng dẫn tại trại huấn luyện.

Tài liệu A Dục– trang 4

130 137 142 150 153 157 160


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

PHẦN I TỔNG QUÁT

Tài liệu A Dục– trang 5


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 1: TINH THẦN TRẠI A DỤC Vài suy nghĩ về Trại A Dục: Khi dự trại huấn luyện đầu tiên trong bước đường làm Huynh Trưởng - Trại Lộc Uyển - Anh, Chị đã có dịp nhận định về vấn đề huấn luyện trong Gia Đình Phật Tử. Qua đó các Anh, Chị đã có quan niệm rõ ràng về huấn luyện: Trại huấn luyện là cốt để tôi luyện thêm ý chí, vun xới thêm tinh thần và củng cố năng lực. Lần nầy, không còn là buổi đầu tiên mới bước chân vào đời Huynh Trưởng mà các Anh, Chị đã sống, đã đem nhuệ khí của mình phục vụ cho Gia Đình Phật Tử, phục vụ cho đàn em của chúng ta ít nhất là hai năm rồi. Những ngày tháng qua chúng ta đã trưởng thành trong chí hướng, lớn thêm trong niềm tin về Gia Đình Phật Tử. Cũng chính trong thời gian qua, chúng ta cũng đã hiểu sâu thêm giáo lý, học hỏi được ở các Anh, Chị đi trước thêm một số kinh nghiệm về điều khiển cũng như về chuyên môn. Và nhất là một thời gian dài tình cảm đối với Gia đình áo Lam… (có lẻ điều này dành riêng cho các Anh, Chị tự cảm nhận thì đúng hơn) sâu đậm hơn. Qua hai năm (ít nhất) làm Huynh Trưởng, lần nầy các Anh, Chị tự nguyện xin tham dự một trại huấn luyện 5 ngày đêm với một cuộc sống trại đầy khắc khổ như đã nêu ở bảng kỷ luật trại: “Khắc khổ Lục hòa”. Điều đó chứng tỏ những gì chúng tôi vừa nêu, không phải là những lời để khích lệ các Anh, Chị khi bước vào trại. Có lẽ đến bây giờ những lời khích lệ không còn là cần thiết đối với các Anh, Chị nữa mà các Anh, Chị đã hành động theo con tim của chính mình. I. TINH THẦN TRẠI A DỤC: Qua những suy nghĩ trên, chúng ta đã thấy được tinh thần trại A Dục phải khác hơn tinh thần trại Lộc Uyển. Hơn nữa mục đích trại A Dục là giúp các Anh, Chị hiểu thấu đáo về ngành và đào tạo Đoàn trưởng. Với tinh thần một trại sinh A Dục như thế và với mục đích huấn luyện trại A Dục như đã nêu, nên tinh thần của trại A Dục chủ yếu là xây dựng được trong mỗi trại sinh tinh thần trách nhiệm của mình sau khi bế mạc trại. Trách nhiệm ở đây, không ai gán cho mình mà Tài liệu A Dục– trang 6


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

chính mỗi Anh, Chị tự nguyện nhận lãnh. Không có ai thôi thúc, bắt buộc các Anh, Chị đi dự trại, mà chính các Anh, Chị tự nguyện (có lẽ là thỉnh cầu được chấp nhận làm trại sinh A Dục thì đúng hơn). Và chính từ sự tự nguyện nhận lãnh đã tạo nên một tinh thần trách nhiệm cao. Đến với trại A Dục là dịp cùng nhau nung nấu thêm lòng trung kiên của mình đối với tổ chức Gia Đình Phật Tử. Trại A Dục là nơi cùng trao đổi kinh nghiệm, để thống nhất phương pháp điều khiển, thống nhất phương thức tổ chức và quản trị Đoàn. Trại A Dục cũng chính là nơi mà Anh, Chị tự kiểm tra năng lực về chuyên môn cũng như điều khiển và từ đó bổ túc thêm những khía cạnh còn yếu. Ở đây không có ai dạy ai mà chỉ trong tinh thần Lục hòa những người đi trước phải truyền đạt những hiểu biết của mình cho người đi sau “Kiến hòa đồng giải”. Bởi lẽ tinh thần của trại A Dục ngoài “Khắc khổ” còn là “Lục hòa”. II. LỀ LỐI SINH HOẠT Ở TRẠI A DỤC: Tinh thần trại A Dục đã khác xa tinh thần trại Lộc Uyển cho nên lề lối sinh hoạt của trại cũng khác nhau. Chúng ta phải biết chịu đựng khắc khổ nhưng lại rất kỷ luật mà lại là “Kỷ luật tự giác”. Không phải đợi Ban Quản Trại nhắc nhở mà chính mình tự nhắc nhở cho mình. Giờ giấc sinh hoạt phải đúng thời gian biểu. Tác phong người trại sinh ở trại Lộc Uyển đã nói nhiều nhưng ở trại A Dục thì lại càng nghiêm túc hơn. Nhưng không vì thế mà tình thân thiết giữa trại sinh với nhau bị giảm đi, trái lại tình thân yêu đó càng khắn khít mặn nồng hơn cả kỳ trại Lộc Uyển vì chúng ta đều là những người đã cùng nhau sống với tổ chức qua một thời gian khá dài, chúng ta đã hiểu nhau hơn và thông cảm nhau hơn. Cho nên mỗi hành vi, mỗi sự đối xử giữa trại sinh với nhau làm sao phải thể hiện được điều đó. Chắc chắn không thể, thể hiện bằng sự vồn vã, chào hỏi hay bằng những buổi tâm tình . Nhưng qua những ánh mắt, những nụ cười, những câu nói bông đùa… mà thấm sâu tình cảm. Một điều mà các Anh, Chị - nếu tinh thần kỷ luật tự giác chưa cao sẽ nhận thấy anh Ủy viên kỷ luật trại quá khắc khe (mà khắc khe thật Tài liệu A Dục– trang 7


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

tình đấy); Nhưng rồi sau ngày bế mạc trại hay thời gian xa lâu hơn nữa các Anh, Chị mới hiểu được và khi hiểu ra thì nó lại thành dĩ vãng, là những kỷ niểm sâu sắc khó quên trong cuộc đời làm Huynh Trưởng. Rồi đây nếu thuận duyên khi các Anh, Chị tham dự trại Huyền Trang hay cao hơn nữa trại Vạn Hạnh các Anh, Chị sẽ thấy tinh thần lại khác xa với trại A Dục. III. Ý NGHĨA TÊN TRẠI: Vì sao lại lấy tên trại là A Dục? Có lẽ sau khi học lịch sử A Dục vương thì chúng ta sẽ dễ nhận ra. Ở đây để có khái niệm rõ rệt, chúng tôi xin nói qua: A Dục vương là một ông vua hiếu chiến, tỉnh ngộ sau một chiến thắng mà vứt bỏ gươm giáo: lạ thật, phải không? Một ông vua hiếu chiến, đang trong chiến thắng lại ghét bỏ chiến tranh? Từ một ông vua hiếu chiến A Dục vương đã trở thành một Phật tử thuần thành, phục vụ đạo pháp tích cực trong quảng đời còn lại của mình. Sau kỳ trại nầy, khi đã thực sự hiểu được lý tưởng Gia Đình Phật Tử, các Anh, Chị có dám đem trọn cuộc đời mình phục vụ cho Gia Đình Phật Tử không? Điều đó để các Anh, Chị tự trả lời với lòng mình. Nhưng cũng chính vì điều đó mà Trại được mang tên một vị vua xứ Ấn Độ, sau khi tỉnh thức, nhận chân được giá trị của cuộc sống trên tinh thần Phật giáo, đã đem những tháng năm còn lại của cuộc đời mình phục vụ tích cực cho Đạo pháp. Cái tên trại A Dục đã nói lên kỳ vọng của các bậc đàn anh đang đặt vào tất cả các Anh Chị hôm nay. IV. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TRẠI A DỤC: 1. Thời gian: 5 ngày đêm liên tục. 2. Điều kiện trại sinh: Trúng cách trại Lộc Uyển sau 2 năm Có chứng chỉ bậc Trì 3. Điều kiện trúng cách: Dự học suốt thời gian trại Tài liệu A Dục– trang 8


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Trúng cách cuộc khảo sát 4. Thời gian cấp chứng chỉ: 1 năm sau khi trúng cách 5. Kỷ luật và khẩu hiệu: Kỷ luật: Khắc khổ - Lục hòa Khẩu hiệu: TÍN Bây giờ mời các Anh, Chị nhập cuộc chúng ta sẽ sống, sẽ thể hiện tinh thần trại A Dục qua 5 ngày đêm trên đất trại.

Tài liệu A Dục– trang 9


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 2: TINH THẦN LỤC HÒA TRONG TRẠI HUẤN LUYỆN (Tổ chức dưới hình thức Hội Thảo vì Huynh Trưởng đã học bài nầy ở bậc Kiên) Trước khi Hội thảo thông báo cho Trại sinh ôn lại đề tài Lục Hòa. Chủ tọa buổi hội thảo phải là Giảng viên phụ trách đề tài. Thư ký, công cử trong số Trại sinh. Về hội thảo có hai phần chính: 1. Ôn lại đề tài Lục hòa và có thể đào sâu thêm. 2. Vận dụng Lục hòa vào trong Trại Huấn luyện. Một số gợi ý, chủ tọa cần khéo léo hướng dẫn trại sinh thảo luận đúng trọng tâm, không đi lang bang quá. I. ÔN LẠI ĐỀ TÀI LỤC HÒA (bậc Kiên): Thế nào là Lục hòa? Ai chế ra pháp Lục hòa? Với mục đích gì? Nội dung của 6 pháp Lục hòa? Chúng ta đã áp dụng 6 pháp Lục hòa vào Gia Đình Phật Tử chưa? Áp dụng như thế nào? Trong chúng ta ai đã vận dụng 6 pháp Lục hòa nầy vào gia đình riêng của mình? (dành thời gian cho một số Huynh Trưởng đã áp dụng vào gia đình của mình nêu lên để cùng nhau học tập). Những trở ngại nào khi áp dụng (chưa thông suốt đối với tất cả thành viên trong gia đình - Chồng (vợ), con cái chưa nắm được nội dung Bước đầu áp dụng có nhiều lúng túng bở ngỡ v.v…). Các Huynh Trưởng nầy đã giải quyết những trở ngại ấy bằng cách nào? Cần ghi lại những nét căn bản áp dụng có hiệu quả cho anh em học tập về sau. Sau thời gian áp dụng, kết quả, không khí trong gia đình như thế nào? (phải khéo léo để Huynh Trưởng phát biểu một cách thành thực không miễn cưỡng). Tài liệu A Dục– trang 10


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

II. VẬN DỤNG PHÁP LỤC HÒA VÀO TRẠI HUẤN LUYỆN 1. Có nên vận dụng pháp Lục hòa vào trại huấn luyện hay không? 2. Nếu áp dụng thì sẽ có những hiệu quả như thế nào? (phỏng đoán bằng lý giải chứ chưa phải là thực tế). 3. Áp dụng từng pháp một, sao cho phù hợp: a) Thân hòa đồng trú: Ở trại như thế nào? Ta phải tuân thủ ra sao - liên quan gì đến kỷ luật trại không? b) Khẩu hòa vô tránh: Chúng ta phải cư xử đối đãi với nhau trong trại như thế nào? Khẩu hòa vô tránh và thân hòa đồng trú có liên quan gì với nhau? c) Ý hòa đồng duyệt: Áp dụng như thế nào trong trại. Khi nhận công tác gì do ban Quản Trại giao chúng ta phải như thế nào - Nếu phân công cho từng Đội, Chúng thì sao? Nếu Đội (Chúng) mình được phân công tác có khó nhọc hơn các Đội, Chúng khác thì thái độ chúng ta như thế nào? Khi có vấn đề gì Ban Quản Trại cần tham khảo ý kiến của toàn trại sinh thì chúng ta sẽ làm gì? Thực hiện được “Ý hòa” giúp chúng ta tu được hạnh gì? d) Giới hòa đồng tu: Giới ở đây là gì? Đồng tu là thế nào? e) Kiến hòa đồng giải: Trong trại chúng ta áp dụng nội quy nầy như thế nào? f) Lợi hòa đồng quân: Trong trại chúng ta áp dụng Lợi hòa đồng quân ra sao đây? Nêu một số ví dụ cụ thể?

BÀI ĐÚC KẾT (Bài đúc kết được ghi lại một cách gẩy gọn làm bài học cho trại sinh, theo trình tự sau) A. PHẦN DẪN NHẬP: Nêu những lợi ích khi áp dụng “Lục hòa” vào trong trại Huấn luyện: Ở trại Huấn luyện, Huynh Trưởng mỗi người một đơn vị, một địa phương xa xôi tập trung lại, cho dù trong tình Lam bất cứ ở đâu cũng đã là thân thích với nhau rồi, nhưng thực tế làm sao tránh được những bở ngỡ lúc ban đầu, khi chúng ta chưa hề quen biết chưa hề tiếp xúc với nhau. Tài liệu A Dục– trang 11


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Nhờ pháp Lục hòa, sẽ giúp chúng ta khắc phục được nhanh chóng những bỡ ngỡ ngại ngùng ban đầu, chung sống với nhau hòa nhã thân thiết những ngày trên đất trại. Nhờ pháp Lục hòa việc học tập chúng ta được thấu triệt, được nâng cao, được hanh thông. B. PHẦN NỘI DUNG. I. NHỮNG NỘI DUNG CỦA SÁU PHÁP LỤC HÒA (bài bậc Kiên) 1. Thân hòa đồng trú 2. Khẩu hòa vô tránh 3. Ý hòa đồng duyệt 4. Giới hòa đồng tu 5. Kiến hòa đồng giải 6. Lợi hòa đồng quân II. VẬN DỤNG TRONG ĐỜI SỐNG Ở TRẠI 1. Thân hòa đồng trú: Cùng sống trên đất trại, không ra khỏi trại với lý do không chính đáng. Điều nầy giúp trại sinh hoạt có quy cũ nề nếp và không mất thời gian mỗi khi tập trung, mỗi khi học tập. 2. Khẩu hòa vô tránh: Điều nầy giúp cho Huynh Trưởng trại sinh chúng ta có được sự vui vẻ hòa nhã trong suốt thời gian trại. Nhờ có “khẩu hòa vô tránh” mà có được “thân hòa đồng trú” vì có hòa có vui, không bao giờ có tiếng lớn cãi vã nhau, không bao giờ nài nạnh công việc thì mới sống chung với nhau được. Còn không thì cho dù có nằm kề bên nhau cũng chỉ là “quay lưng, sấp mặt” với nhau mà thôi. Trong trường hợp Ban Quản Trại phân công cho các Đội, Chúng những công tác gì thì dù Đội (Chúng) mình có đãm nhận công việc nhọc nhằn hơn các Đội, Chúng khác một chút cũng không sao (làm gì có sự tuyệt đối, các công tác đều sử dụng năng suất như nhau), Đội (Chúng) mình cũng vui vẻ hoàn thành nhiệm vụ và đạt chỉ tiêu giao phó. Trong một Đội, Chúng cũng thế, có người yếu, có người mạnh, mình có phải làm nhiều hơn bạn mình một chút thì phải xem Tài liệu A Dục– trang 12


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

đó là điều vui sướng vì được san sẻ bớt phần nhọc nhằn cho bạn. Chúng ta không bao giờ cãi cọ, ní nài nhau. 3. Ý hòa đồng duyệt: Như trong bài (bậc Kiên) đã giải thích rõ: Không những một vấn đề gì cũng đưa ra bàn bạc cụ thể rồi mới thi hành (khi Ban Quản Trại giao phó cho Đội, Chúng mình đảm trách một Phật sự gì, chúng ta đưa ra Đội, Chúng bàn bạc rốt ráo kế hoạch thực hiện khi đa số nhất trí chúng ta mới thi hành), mà ở đây, chữ “duyệt” còn có nghĩa là “đẹp lòng, vui thích”. Vậy lúc nào chúng ta cũng phải nghĩ đến sự hòa hợp. Có thắc mắc nhau điều gì thì thành thật trình bày cởi mở để hiểu nhau, thông cảm nhau. Có hiểu nhau mới thương nhau. 4. Giới hòa đồng tu: Dĩ nhiên đã là trại sinh A Dục thì Huynh Trưởng nào lại không quy y, không thọ trì 5 giới. Chúng ta sống kề vai sát cánh với nhau, thấy rõ nhau, hiểu rõ nhau, thì phải nhắc nhở nhau giữ gìn 5 giới, nhắc nhở nhau thực hiện 5 điều luật Gia Đình Phật Tử. Hơn nữa, ở trại Huấn luyện thì kỷ luật trại cũng chính là giới luật trong thời gian sống trên đất trại. Chúng ta phải sách tấn nhau, nhắc nhở nhau, mỗi lần thấy bạn vô ý vi phạm, dù không ai biết nhưng mình biết được thì phải nhắc nhở bạn. Trong những buổi sinh hoạt Đội, Chúng cũng phải dành thời gian, ít lắm cũng năm, mười phút để tự nhận xét và kiểm điểm nhau về vấn đề kỷ luật. Nếu tất cả trại sinh đều thực hiện được “giới hòa đồng tu” thì kỷ luật trại chúng ta sẽ thấy rất nhẹ nhàng. Ban Quản Trại sẽ không bao giờ nhắc đi nhắc lại mà vẫn duy trì rất tốt đẹp, mọi người lại thấy thoải mái. 5. Kiến hòa đồng giải: Pháp nầy rất cần thiết trong trại huấn luyện, giúp cho Huynh Trưởng trại sinh thấu triệt được bài học, nâng cao nhận thức cho nhau. Một điều thực tế mà không đâu là không xẩy ra, là trình độ tiếp thu của trại sinh không đồng đều (ở đây không phải là trình độ văn hóa). Những trại sinh có văn hóa cao thì tiếp thu nhanh hơn các trại sinh khác. Nhưng đồng thời cũng có những trại sinh dù văn hóa có khá hơn các bạn, nhưng ít nghiên cứu giáo lý, ít có duyên tham dự các buổi giảng giáo lý của quý Thầy thì chắc chắn một đề tài Phật pháp nào đó cũng tiếp thu chậm hơn những bạn khác thường có nghiên cứu thêm Phật pháp hoặc thường có tham dự các khóa Tài liệu A Dục– trang 13


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

giảng của quý Thầy. Những Huynh Trưởng có chiều dày sinh hoạt với tổ chức thì một đề tài tinh thần tiếp nhận nhạy bén hơn. Một Huynh Trưởng từng phụ trách chuyên môn cho đơn vị gia đình (hay cho Huyện) thì dĩ nhiên những đề tài chuyên môn lãnh hội nhanh hơn - Một đề tài nào trong chương trình giảng viên cũng chỉ giảng giải từ một đến hai giờ đồng hồ, chắc chắn có những điều mà trại sinh nầy hay trại sinh khác chưa thấu triệt được, chưa hiểu suốt. “Kiến hòa đồng giải” sẽ giúp trại sinh ai cũng hiểu biết, ai cũng thấu rõ đề tài đã truyền dạy. Khi về ở Đội, Chúng chúng ta phải dành thời gian (có khi tranh thủ cả giờ nghỉ) để đem ra thảo luận lại đề tài đã học. Trại sinh nào thấy rõ, hiểu sâu điều gì trong đề tài, trao đổi lại cụ thể để tất cả đều hiểu rõ, đều thông suốt. Người nắm vững điều nầy thì có người nắm vững điều khác, khi trao đổi như vậy ai cũng thấu triệt như nhau. Trong lúc ôn tập khảo sát cũng thế, nếu Ban Quản Trại có ra đề cương thì không thể mỗi cá nhân, bo bo soạn thảo riêng cho mình mà cần trao đổi chung, như vậy sẽ được hoàn chỉnh hơn. Trong lúc cùng nhau soạn thảo chúng ta không giành lại một “ngón” nào để “thủ thế” mà phải thật tình, phải hết lòng. Nhưng khi đi vào thi cử thì trái lại, nếu chúng ta trao đổi với bạn lúc nầy, chỉ bày với bạn lúc nầy là đi ngược lại với “kiến hòa đồng giải” vì rõ ràng là không “giải” gì cả mà chỉ giúp bạn ghi chép lại một cách máy móc. Như vậy bạn đâu có hiểu được gì thêm, “rủi” mà bạn, nhờ có sự chỉ bày của mình nên trúng cách thì mình đã hại bạn rồi. Vì nếu vấn đề nào đó bạn chưa nắm bắt được mà vẫn cho trôi qua, sau nầy bạn đâu có thấy được cái “lỗ hổng” kiến thức của mình - Vậy là mình không thực hiện được “kiến hòa đồng giải”. 6. Lợi hòa đồng quân: Tuy chỉ là vật chất nhưng rõ ràng điều nầy thể hiện thắm thiết tình nghĩa anh em. Giả như đơn vị mình đến thăm gởi một món quà gì cho Huynh Trưởng thuộc đơn vị (vì không có khả năng để tặng quà toàn trại hay Ban Quản Trại một gói kẹo, chúng ta cũng chia đều trong Đội (Chúng), cũng đượm tình thân mật. Đối với Ban Quản Trại khi có Ban Bảo Trợ, các đơn vị hoặc các Giáo hội địa phương đến thăm trại, ủy lạo một số quà thì cũng nhân lúc sinh hoạt chung, chia đều cho trại sinh (nếu quà đó là thức ăn), nếu quà là những vật dụng như sách vở, giấy bút… thì tùy theo số Tài liệu A Dục– trang 14


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

lượng, nếu nhiều, có thể chia đều cho trại sinh, nếu không nhiều lắm, chia cho các Đội, Chúng để dùng làm việc cho Đội, Chúng (sổ tường thuật, dùng viết báo cáo hàng ngày, sổ theo dõi hằng ngày của Đội, Chúng v.v...) nếu ít thì sử dụng cho Ban Quản Trại vì công việc của Ban Quản Trại cũng là công việc chung. Nếu quà tặng là ngân khoản thì cũng tùy theo, có thể sử dụng để tổ chức liên hoan cuối trại, thêm vào khẩu phần hằng ngày cho trại sinh, mà cũng có thể sử dụng để mua phẩm vật làm phần thưởng cho trại sinh. Cũng có thể sử dụng một phần bồi dưỡng cho Ban Quản Trại vì Ban Quản Trại phải làm việc nhiều, thường thường là trong lúc trại sinh ngủ, Ban Quản Trại cũng phải làm việc (chấm bài, sắp đặt công việc cho ngày mai, lo tổng kết…) như vậy bồi dưỡng cho Ban quản Trại cũng là lo chung cho Trại vậy. Tuy nhiên cũng có mức độ. Có điều Ban Quản Trại không thể quên được là công bố tất cả phẩm vật, tiền bạc các nơi tặng và sử dụng như thế nào cho toàn thể trại sinh hay (dĩ nhiên là phần tặng chung cho trại, còn những khoản tài trợ riêng cho Ban Quản Trại để lo tổ chức là việc sử dụng của Ban Quản Trại). Khi chúng ta đã thực hiện “Lợi hòa đồng quân” từ trên xuống dưới sẽ làm rõ nét tinh thần bình đẳng hòa vui thân ái giữa Ban Quản Trại và toàn thể trại sinh. C. PHẦN KẾT LUẬN Áp dụng tinh thần Lục Hòa vào trong đời sống của một Trại Huấn luyện, không những đem lại không khí vui tươi, hòa ái mà còn giúp nhau trong vấn đề học tập để cùng nhau thấu triệt các đề tài đã được học và nâng cao thêm chất lượng học tập của trại sinh. Hãy sống với nhau, bằng pháp “Lục Hòa” đi. Cuối khóa trại chúng ta sẽ thấy rõ qua thực tế. Ghi chú: Để nhận rõ được tác dụng thực tiển về việc vận dụng pháp Lục Hòa trong Trại Huấn luyện. Đề nghị Ban Quản Trại cho trại sinh, ngày cuối trại viết lưu bút cho nhau và viết cảm tưởng gởi lên cho Ban Quản Trại (nếu không có thời gian thì việc viết cảm tưởng có thể thực hiện sau khi về đến đơn vị), qua đó Ban Quản Trại cũng rút ra bài học kinh nghiệm phần nào tốt, phần nào chưa tốt, bổ khuyết cho những kỳ trại Huấn luyện khác. Tài liệu A Dục– trang 15


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 3: LÝ TƯỞNG CỦA HUYNH TRƯỞNG Lý tưởng là con đường tươi sáng, là điều cao đẹp nhất mà mình phải mất công tìm kiếm, lựa chọn để hướng đến, theo đuổi đến cùng. Lý tưởng rất cần thiết cho con người, nhất là thanh niên, vì sống mà không có lý tưởng, không biết mình làm gì, đi đâu, về đâu, giống như ngựa không cương, như thuyền không hướng, cuộc sống thật vô ích, nhàm chán. Đối với chúng ta, người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, khi đến với Gia Đình Phật Tử, không phải vì danh lợi, vì tình cảm riêng tư, nhưng vì chúng ta đã thấy điều gì cao đẹp ở Gia Đình Phật Tử, một điều gì thiêng liêng đáng tôn thờ, theo đuổi và phụng sự, hơn là sống bơ vơ lạc lỏng trong cuộc đời ô trọc nầy. Như vậy chúng ta đã lựa chọn lý tưởng cho chúng ta. I. LÝ TƯỞNG CỦA CHÚNG TA: Điều 2, chương thứ Nhất của Nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam về mục đích đã ghi: “Đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật tử chơn chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Xét như vậy chúng ta thấy lý tưởng của người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử chúng ta phải theo đuổi, phụng sự là: Phụng sự Đạo pháp Phụng sự Dân tộc Phụng sự con người. 1. Phụng sự Đạo Pháp: Cuộc đời nầy vốn đã ô trược, bất công đau thương cộng thêm văn minh vật chất ngày càng tiến bộ, khiến cho cuộc đời lại thêm bi thảm, chết chóc. Ngọn lửa si mê, sân hận cố chấp lại càng bốc cao. Trong thảm trạng nầy, không có gì đủ năng lực để dập tắt ngọn lửa hung tàn đó, không có gì có thể thổi vào một luồng sinh khí, một hương thơm để làm giảm đi phần nào nổi đau khổ của nhân sinh, ngoài giáo lý Phật đà, đã ra đời hơn 2.500 năm mà ánh sáng ngày nay vẫn còn rực rỡ, hương thơm vẫn còn ngào ngạt. Trong ý hướng Tài liệu A Dục– trang 16


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

làm đẹp cuộc đời, không gì bằng chúng ta phải làm thế nào cho Đạo Pháp ngày càng phát huy, lan rộng, vì chỉ có Đạo Phật đến đâu thì tình thương mới thể hiện, hòa bình mới ló dạng ở đó. 2. Phụng sự Dân tộc: Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử là một công dân. Một Huynh Trưởng có tư cách, có thiện chí là một công dân xứng đáng. Chúng ta có bổn phận xây dựng Đạo pháp như thế nào thì cũng phải thiết tha phụng sự quốc gia dân tộc như thế đó. Trong phạm vi tôn giáo và tổ chức, người Huynh Trưởng có nhiệm vụ giáo dục Thanh, Thiếu, Nhi, đào tạo cho Quốc gia, dân tộc những công dân yêu nước, biết giữ vững và đề cao truyền thống, tinh thần dân tộc. Người công dân yêu nước hết lòng phụng sự Quốc gia dân tộc trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp, nhất là không làm điều gì tác hại cho Quốc gia và sỉ nhục cho đất nước. Chúng ta biết chứng tỏ lòng tri ân sâu xa các bậc tiền nhân đã dày công dựng nước, xây bờ, tạo cho mình một nền văn hóa riêng biệt. Người Huynh Trưởng biết gợi lên lòng tri ân đó nơi mọi người, nhất là nơi đàn em mình đang đào luyện. Để bảo vệ tinh thần dân tộc, người Huynh Trưởng phải tự mình không bao giờ có hành vi hay tư tưởng vọng ngoại, vong bản, nô lệ và cũng xây dựng tinh thần đẹp đẽ đó cho đàn em của mình nữa. 3. Phụng sự con người: Như trên chúng ta đã nói là người Huynh Trưởng có lý tưởng phụng sự Đạo pháp. Đó chỉ là một cách nói, vì con người sinh ra không phải để phụng sự Đạo Pháp, mà chính Chánh pháp khai sinh nhằm mục đích phụng sự con người, để giác ngộ con người, hoán chuyển cảnh đời đau khổ, ô trược nầy thành thế giới an lành, tịnh độ, trong đó con người được hưởng hạnh phúc, an vui, tự tại. Vì vậy trong phạm vi trách nhiệm, người Huynh Trưởng có nhiệm vụ giáo dục Thanh, Thiếu, Nhi (tức Con Người) trở thành những Con Người xứng đáng đúng nghĩa. Người Huynh Trưởng căn cứ trên giáo điển, giáo pháp làm phương tiện để hoàn thành mục đích giáo dục. Luôn luôn ghi nhớ mình phụng sự con người, nên phải biết tôn trọng hoàn toàn nhân vị của từng em mà mình đang hướng dẫn. Tài liệu A Dục– trang 17


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

III. LÀM THẾ NÀO ĐỂ THỰC HIỆN LÝ TƯỞNG Lý tưởng của chúng ta cao cả, đẹp đẽ thực, nhưng làm thế nào để chúng ta có thể thực hiện được lý tưởng của chúng ta? Trước hết chúng ta phải có một đức tin vững chắc vào Đức Phật, vào giáo lý của Ngài. Có tin vững chắc chúng ta mới mạnh dạn tiến bước trên đường phụng sự Đạo pháp được, nếu không chúng ta sẽ bị thối chuyển trước muôn ngàn lý thuyết đang tranh giành ảnh hưởng. Phải tu học để tiến bộ. Thực hiện những điều đã học vào đời sống thường nhật. Đó là phương tiện hoằng hóa, giáo dục hữu hiệu và sâu đậm ý nghĩa nhất. Đem sinh hoạt Gia Đình Phật Tử hòa mình vào xã hội, vào quần chúng trong mục đích đồng sự, lợi hành để chuyển hóa chúng sanh. IV. KẾT LUẬN Nhìn lại quá khứ và nhận xét hiện tại, chúng ta có thể hãnh diện và lại càng tin tưởng thêm con đường lý tưởng chúng ta đi. Với lý tưởng cao đẹp, một sứ mệnh thích hợp với tuổi trẻ và người dân Việt yêu đạo, yêu nước. Chúng ta, người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử sẽ phải cố gắng bằng mọi cách, thể hiện cho mình một cuộc sống lý tưởng đẹp đẽ, để làm tròn sứ mệnh phụng sự Đạo Pháp, xây dựng Quốc gia và dẫn dắt đàn em vậy.

Tài liệu A Dục– trang 18


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 4: NGƯỜI ĐOÀN TRƯỞNG (Khi giảng bài nầy, Giảng viên cần nắm lại bài “Người Huynh Trưởng” và bài “Người Đoàn Phó” ở chương trình Lộc Uyển) Ở trại Lộc Uyển chúng ta đã có dịp tìm hiểu người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử phải là người như thế nào? Nhưng qua 2 năm sống với Gia Đình Phật Tử, 2 năm thực hiện nhiệm vụ của mình - của một người Đoàn Phó - chắc chắn Anh, Chị mới cảm nhận một cách cụ thể cái “sứ mạng” của người Huynh Trưởng. Để hoàn thành sứ mạng đó, chúng ta phải qua từng nấc thang. Qua bài “Người Đoàn phó” khi học ở trại Lộc Uyển và 2 năm ở nấc thang đầu tiên nầy, chúng ta đã thấy trách nhiệm khá nặng nề rồi đó, phải không? Giờ đây chúng ta đang chuẩn bị bước lên nấc thang thứ hai “Người Đoàn trưởng”. Chúng ta sẽ nhận lãnh nhiệm vụ trực tiếp giáo dục đàn em của mình, người Đoàn trưởng còn có trách nhiệm về sự thịnh suy của Đoàn mình. Chắc chắn nhiệm vụ của chúng ta càng nặng nề hơn, “Tấm gương” cho các em của chúng ta soi hằng ngày phải được sáng hơn. I. TƯ CÁCH NGƯỜI ĐOÀN TRƯỞNG: Tư cách người Đoàn trưởng cũng như tư cách người Đoàn phó (và rồi đến tư cách người Liên Đoàn trưởng cũng như thế), nói chung là tư cách của người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Nhưng đã là một người Đoàn trưởng, thì cần phải trau dồi tác phong, đức độ nhiều hơn nữa (cần ôn lại người Đoàn phó ở chương trình Lộc Uyển). II. NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI ĐOÀN TRƯỞNG: Cũng như Đoàn phó, người Đoàn trưởng cũng phải có những nhiệm vụ đối với Đạo pháp, đối với Gia Đình Phật Tử, đối với phụ huynh Đoàn sinh, đối với các em Đoàn sinh và đối với cấp lãnh đạo của mình. Tài liệu A Dục– trang 19


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

1. Đối với Đạo pháp: Càng phải hiểu rộng hơn về giáo lý để áp dụng vào đời sống hàng ngày một cách thiết thực, nhờ đó việc tu sửa bản thân tiến thêm một bước, do vậy tác phong đạo đức chúng ta được hoàn chỉnh thêm. Chính cái tác phong nầy, đạo đức nầy là yếu tố cụ thể để duy trì và xiển dương Đạo pháp (thân giáo). Nếu một Huynh Trưởng nói chung, người Đoàn trưởng nói riêng mà tác phong không chỉnh mực và thiếu đạo đức thì người ngoài nhìn anh Đoàn trưởng nầy mà đánh giá về tổ chức Gia Đình Phật Tử, đánh giá về đạo Phật vì chính anh Đoàn trưởng nầy được lớn lên và được huấn luyện trên nền tảng của Đạo Phật. Chúng ta phải nhìn rõ nhiệm vụ xiển dương chánh pháp của mình, chúng ta có nhiệm vụ xiển dương chánh pháp với mọi người chung quanh bằng tác phong và đạo đức của chính mình. Nhưng đối tượng chính là các em Đoàn sinh của chúng ta. Ngoài việc làm gương cho các em chúng ta phải xây dựng cho các em cũng như đã tự xây dựng cho chính mình, một đức tin sáng suốt. Ngoài ra, chúng ta không còn có mà “phải có” nhiệm vụ đóng góp xây dựng Giáo hội vững mạnh và trang nghiêm. 2. Đối với Gia Đình Phật Tử: Chúng ta không còn là tiếp sức cho Đoàn trưởng mà chính mình là Đoàn trưởng, nên mọi vấn đề của Đoàn, mình phải chủ động. Nhưng không phải vì thế mà bỏ qua vai trò của Đoàn phó. Khi chúng ta làm Đoàn phó chúng ta cũng đã hiểu rồi. Người Đoàn phó là một cánh tay đắc lực của Đoàn trưởng, chúng ta cần trao đổi, thảo luận hội ý với Đoàn phó để cùng chung sức giải quyết công việc của Đoàn. Chúng ta phải biết giữ cho thanh danh của Đoàn mình. Người Đoàn trưởng phải biết lèo lái để đưa Đoàn mình mạnh tiến đúng tôn chỉ và mục đích của Gia Đình Phật Tử. 3. Đối với phụ huynh Đoàn sinh: Đương nhiên, khi đưa các em đến với Đoàn (với Gia Đình Phật Tử), phụ huynh đã nhìn ở người Đoàn trưởng trước tiên (Đoàn sinh tự nguyện đến với Đoàn qua sự giới thiệu của bạn bè mình thì cũng thế) vì đây là người chịu trách nhiệm trực tiếp điều khiển và giáo dục các Tài liệu A Dục– trang 20


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

em (Anh Chị Liên Đoàn Trưởng coi cả một Liên đoàn nhưng không phải trực tiếp điều khiển các em, anh Đoàn phó thì chỉ có trợ giúp cho Đoàn trưởng mà thôi). Phụ huynh đã đặt niềm tin vào các anh chị, đừng để đánh mất niềm tin quý giá ấy! Các anh chị thường xuyên giao tiếp với phụ huynh, thông báo cho phụ huynh biết những tiến bộ của con em họ, đồng thời cũng qua phụ huynh mình mới biết được kết quả giáo dục của mình (nhiều em đến Đoàn thì ngoan nhưng về gia đình thì còn kình cựa với anh em hay chưa thật sự vâng lời yêu mến của cha mẹ). Cũng qua việc giao tiếp nầy, chúng ta cũng thông tin cho phụ huynh biết những thói hư tật xấu các em còn mắc phải để cùng với phụ huynh uốn nắn, sửa chữa cho các em. 4. Đối với Đoàn sinh: Ngoài việc yêu thương, trìu mến, chăm sóc che chở cho các em, người Đoàn trưởng phải bỏ nhiều công sức để đi sâu tìm hiểu tâm tính của từng em một, hoàn cảnh của từng Đoàn sinh một, để giáo dục uốn nắn một cách thấu đáo. Những Đoàn sinh tính tình chưa tốt, giáo dục nhiều lần mà vẫn chưa sửa đổi thì Đoàn trưởng phải hội ý với Đoàn phó để đưa ra một biện pháp giáo dục cho thống nhất chứ không thể mỗi người uốn nắn một cách. (Tuy nhiên một đôi khi cùng một cách uốn nắn nhưng hai thái độ khác nhau mới có hiệu quả như trong một gia đình, khi ông cha nghiêm khắc trừng trị bằng biện pháp mạnh thì phải có người mẹ vỗ về khuyên bảo). Người Đòan trưởng cần phải biết rèn luyện thêm cho Đội, Chúng, Đàn trưởng, để những em nầy có thể khá hơn các Đội, Chúng, Đàn sinh. Một mặt tạo thêm uy tín cho các Đội, Chúng, Đàn trưởng, một mặt nhờ đó Đội, Chúng, Đàn trưởng có thể giúp cho Đoàn trưởng trong việc giáo dục và luyện tập Đoàn sinh. (Ví dụ: Một cái gút vừa học, Đội, Chúng, Đàn trưởng thắt được thành thạo, Đội, Chúng, Đàn trưởng bày vẽ lại cho Đội, Chúng, Đàn sinh, đở mất thì giờ cho anh, chị Đoàn trưởng). Trong việc bố trí công tác cho Đội, Chúng, Đàn cũng phù hợp với khả năng, tinh thần của từng Đội, Chúng, Đàn. Như vậy người Đoàn trưởng phải nắm chắc khả năng của từng Đội, Chúng, Đàn và tinh thần của mỗi Đội, Chúng, Đàn trưởng, tinh thần của mỗi cá nhân Đội, Chúng, Đàn trưởng ảnh hưởng đến tinh thần Tài liệu A Dục– trang 21


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

chung của Đội, Chúng, Đàn rất nhiều. Em Đội, Chúng, Đàn trưởng hăng say tích cực thì kéo theo cả Đội, Chúng, Đàn đó nhiệt tình làm việc hết mình. Em Đội, Chúng, Đàn trưởng nào chểnh mảng thì chắc chắn Đội, Chúng, Đàn đó cũng giải đãi. Em Đội, Chúng, Đàn trưởng biết tháo vát nhanh nhẹn thì cả Đội, Chúng, Đàn đó trở thành năng động. 5. Đối với cấp Lãnh đạo: Trong khi là Đoàn Phó, chúng ta đã phải thành tâm cọng tác với cấp trên trong mọi công tác, nhất là các Phật sự được giao phó, phải thi hành chu đáo. Bây giờ là Đoàn trưởng, không những phải có tinh thần trách nhiệm như thế mà phải tự nguyện nhận lãnh công tác hợp với khả năng cá nhân cũng như tập thể Đoàn mình, không đợi phải được phân công, không những phản ảnh được tinh thần tự giác mà còn phải nêu cao tinh thần tự giác. Tuân hành chỉ thị cấp trên (Liên Đoàn Trưởng, Gia Trưởng), nếu chỉ thị đó xét thấy có gì sai trái với Nội Quy Gia Đình Phật Tử thì có quyền đề đạt ý kiến của mình. Nếu chỉ thị đó là điều động một công tác Phật sự ngoài khả năng của Đoàn mình thì cũng phải cố gắng hết mình để thực hiện cho kỳ được nhưng cũng trình lại cho cấp trên biết khả năng hiện có của Đoàn mình. Nếu cấp trên chuyển đổi được công tác khác thì tốt, còn vì một lý do nào đó, không thể giao trách nhiệm đó cho Đoàn khác thì chúng ta phải thi hành trong tinh thần vui vẻ thông cảm. Xong công tác chúng ta sẽ nêu ý kiến cho cấp trên rút kinh nghiệm lần sau. III. KẾT LUẬN Nhiệm vụ người Đoàn phó ta đã thấy lớn lao, nhưng nhiệm vụ của người Đoàn trưởng lại càng lớn lao hơn, nặng nề hơn. Để chu toàn nhiệm vụ ấy, ngoài việc ý thức trách nhiệm, chúng ta còn phải luôn luôn học hỏi nghiên cứu giáo lý, dựa vào giáo lý để trau dồi tác phong đạo đức của mình và cần nhất phải biết hy sinh, phải có tinh thần vị tha. Ngoài đời, nhiệm vụ thường gắn liền với quyền lợi, ở Gia Đình Phật Tử nhiệm vụ thì có mà quyền lợi thì không, mà lại còn phải hy sinh cho các em, hy sinh công sức, hy sinh thì giờ lắm lúc hy sinh cả tiền của nữa ! Tài liệu A Dục– trang 22


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Tìm đâu ra những con người như thế các Anh, Chị nhỉ? Chỉ có ở Gia Đình Phật Tử mới có. Chỉ có người Đoàn trưởng nói riêng, người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử nói chung, mới là những con người giàu tinh thần vị tha đến thế. o0o

Tài liệu A Dục– trang 23


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 5: CÂU CHUYỆN DƯỚI CỜ Câu Chuyện Dưới Cờ là một hình thức sinh hoạt rất lợi ích, quen thuộc và phong phú trong tổ chức GĐPT, trong đó người nói Câu Chuyện Dưới Cờ sẽ truyền đạt đến cử tọa hay đối tượng những lời nhắn nhủ mang tính chất khuyến tấn, răn nhắc, hướng dẫn để mọi người chiêm nghiệm, suy nghĩ mà thực hành theo. (Đừng hiểu lầm Câu Chuyện Dưới Cờ là lúc để Anh Liên Đoàn Trưởng hay Huynh Trưởng Trực thông báo hay phân công các công tác trong ngày). Câu Chuyện Dưới Cờ được nói lúc nào: Ngay sau khi chào Gia Đình Kỳ trong buổi sinh hoạt hằng tuần, hay ngay sau khi Lễ Phật buổi sáng của một ngày trại. Ai sẽ nói Câu Chuyện Dưới Cờ: Thường là Anh, Chị Liên Đoàn Trưởng hay Bác Gia Trưởng phụ trách nói Câu Chuyện Dưới Cờ trong các buổi sinh hoạt thường lệ hằng tuần, Trại Trưởng, Trại Phó nói Câu Chuyện Dưới Cờ trong các ngày trại. Tuy nhiên có thể phân công cho một Huynh Trưởng khác để thay nhau tập làm quen với cách nói Câu Chuyện Dưới Cờ. (Người được phân công phụ trách nên được thông báo trước ít nhất là một tuần để kịp chuẩn bị những gì sẽ nói). Đối tượng của Câu Chuyện Dưới Cờ là ai: Toàn Gia Đình (Đoàn Sinh và Huynh Trưởng). Ðừng nghĩ rằng Câu Chuyện Dưới Cờ chỉ dành riêng cho Đoàn Sinh) hay toàn Trại. Nội dung Câu Chuyện Dưới Cờ: Mang tính chất giáo dục, răn nhắc, khuyến tấn tu tập, thực hành các thiện pháp. (Chẳng hạn như nhắc nhở thực hành một trong các hạnh cuả người Phật Tử, về lòng thương, bố thí, ái ngữ, lễ độ, chào kính, bảo hộ thân tâm…) Nội dung nên sát với thực tế trong cuộc sống hằng ngày, đừng nên quá viễn vông, xa vời, cao siêu khó thực hiện. Nội dung cũng cần phải thích hợp với trình độ của đối tượng, chẳng hạn như khi nói trước các em Tài liệu A Dục– trang 24


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Oanh Vũ thì nội dung câu chuyện nên đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hành, khác với khi nói với Ngành Thiếu và các chắc chắn sẽ rất khác với nội dung khi nói trước cử tọa gồm tòan Huynh Trưởng trong một ngày trại huấn luyện. Câu Chuyện Dưới Cờ được nói trong bao lâu: Đừng nên quá dài vì người nghe sẽ ngán và thiếu tập trung. Không ai thích đứng dưới nắng hay gió lạnh để nghe mình dài dòng. Tốt nhất, Câu Chuyện Dưới Cờ không nên kéo dài quá 8 phút. Phong cách trình bày: Vì là người thay mặt toàn Ban Huynh Trưởng hay thay mặt Ban Quản Trại để truyền đạt nên bắt buộc người nói Câu Chuyện Dưới Cờ phải ăn mặc, nón mũ chỉnh tề đúng theo quy định về tác phong của một Huynh Trưởng. Cử chỉ, âm hưởng, lời nói cũng phải cân nhắc cẩn thận. Tất cả những điều này sẽ tạo ấn tượng và ảnh hưởng đến người nghe rất nhiều. Chuẩn bị: Nên chọn chỗ họp chung thích hợp, đừng có quá nhiều người qua lại hay gây tiếng động ồn ào, đừng nên họp dưới ánh nắng quá nóng, nơi đầu gió lạnh, hay dưới trời mưa. Trước khi Câu Chuyện Dưới Cờ được bắt đầu, người điều khiển nên cho mọi người hô tiếng reo để tạo sự yên lặng, tập trung và chú ý cần thiết. Kết luận: Khi nói Câu Chuyện Dưới Cờ là lúc người Huynh Trưởng truyền đạt những điều mang tính cách khuyên nhắc để khuyến tấn, hướng dẫn, giáo dục không những của riêng mình mà còn là của tập thể lãnh đạo đến các em, cho nên nội dung Câu Chuyện Dưới Cờ cần phải được chuẩn bị thật chu đáo, cân nhắc thật cẩn thận để mang lại lợi ích thiết thực trong sứ mạng giáo dục của tổ chức GĐPTVN.

Tài liệu A Dục– trang 25


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 6: MỤC ĐÍCH VÀ PHUƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ Tuỳ theo dân tộc, quốc gia, địa phương, con người có giá trị được quan niệm mỗi nơi mỗi khác... Vì thế mà mỗi nền giáo dục nhằm mục đích, áp dụng những phương pháp riêng. Đạo Phật là Đạo vạch cho Con Người một con đường sống, nên có rất nhiều phương pháp nhằm huấn luyện con người trở nên có giá trị. Trước khi tìm hiểu quan niệm về Con Người Giá Trị và phương pháp giáo dục trong Đạo Phật (mà Gia Đình Phật Tử áp dụng), ta thử tìm hiểu khái quát về các nền giáo dục Đông Tây kim cổ. I. KHÁI QUÁT VỀ CÁC NỀN GIÁO DỤC: (HAY QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI GIÁ TRỊ) 1. Nền giáo dục các nước văn minh Tây phương: Cũng như các quốc gia khác, nền giáo dục Tây phương khởi đầu chỉ là sự trao đổi kiến thức, kinh nghiệm truyền đạt từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Những kiến thức nầy có thể chia làm 2 loại: Kiến thức về sự vật: hay gọi là cách trí (Cách vật Trí Tri của Đạo Khổng). Nay gọi là Khoa học. Kiến thức về Đạo lý: Sự cư xử ở đời cho hợp tình lý. a. Ở Pháp: Truyền thống Đạo lý căn bản cổ truyền là Gia Tô giáo, lại tiêm nhiễm tinh thần phóng khoáng, tự do của văn hóa Hy Lạp, nên các học thuyết, tôn phái tự do phát triển. Vì sự phát triển của khoa học nên nền giáo dục Pháp chú trọng về mặt kiến thức Khoa học (sự vật), thiên về Học hơn là Luyện. b. Ở Đức: Ảnh hưởng văn hóa xã hội của chủng tộc STRATA một chủng tộc sống theo chế độ tập thể quân sự, đặt uy quyền cho sức mạnh xã hội. Dân tộc Đức quan niệm Con Người có Giá Trị là con người Mạnh Khỏe, Phụng sự đắc lực cho Quốc gia, cho nên nền giáo dục trong chế độ Quốc xã nhằm rèn luyện con người trở thành những công dân đầy đủ sức khoẻ, có óc kỷ luật, sức chịu đựng, quả cảm, Tài liệu A Dục– trang 26


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

sẵn sàng chiến đấu để hy sinh phụng sự hoàn toàn cho quốc gia, xã hội không có điều kiện. Nền giáo dục nầy nhằm Luyện nhiều hơn Dạy. c. Ở Anh: Người được tôn trọng và sùng thượng là các Hiệp Sĩ, là những người tháo vát, quả cảm, trầm tĩnh, biết hy sinh để cứu người nhất là nêu cao phẩm giá con người. Bởi truyền thống đó mà Anh quốc là nơi phát sinh ra phong trào Hướng Đạo nhằm rèn luyện Thanh, Thiếu, Nhi một lý tưởng, một cuộc sống can trường, hào hiệp. Nền giáo dục Anh cũng thiên về Khoa học. d. Ở Hoa Kỳ: nền giáo dục Hoa Kỳ chú trọng đến việc phát triển khả năng chuyên môn và thực tiển. 2. Nền giáo dục ở các nước văn minh cổ truyền Đông phương: a. Các nước chịu ảnh hưởng Nho giáo: Theo quan niệm Nho giáo con người có giá trị là con người có đầy đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nên đại nhân quân tử là mục đích của nền giáo dục nầy (không chú trọng đến khả năng chuyên môn) b. Các nước chịu ảnh ưởng Phật giáo: Đối với Phật giáo thì cứu cánh là giác ngộ, tự tại và giải thoát. Giác ngộ là hiểu rõ thực tánh của sự vật và cuộc đời. Tự tại là chủ động, chuyển xoay hoàn cảnh chứ không chịu để lệ thuộc vào hoàn cảnh. Giải thoát là vượt ra ngoài ràng buộc của phiền trược, khổ não của bản thân cũng như xã hội loài người. Đức Phật đã quán rõ căn cơ của chúng sanh muôn vàn sai khác, cho nên phương pháp giáo dục của Ngài cũng thiên biến vạn hóa. Tuy nhiên chúng ta có thể kể những phương pháp nổi bật là: Phương pháp huân tập, phương pháp Lý giải, phương pháp Quán niệm, phương pháp Hoạt động.

Tài liệu A Dục– trang 27


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

II. MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ: Mục đích giáo dục của Gia Đình Phật Tử đương nhiên phải hướng theo mục đích chung của Gia đình Phật Tử đó là: “Đào luyện Thanh, Thiếu, Đồng niên thành Phật tử chơn chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Giáo dục Gia Đình Phật Tử lại đặt trên nên tảng Đạo Phật và chúng ta đã biết, giáo dục của Đạo Phật là “khai thị” để mỗi cá nhân thấy được bản tính chơn thiện của mình, nhận cho ra: vì vô minh che lấp mà bản tính trong sáng của tấm gương kia bị phủ kín một lớp bụi khói đen nghịt. Ta phải tự mình ra công chùi rửa, tính chất trong sáng ấy sẽ trở lại hiển lộ. Vậy mục đích giáo dục của Gia Đình Phật Tử là khơi dậy những khả năng sẳn có của mỗi con người, khơi dậy những bản tính tốt đẹp của mỗi cá nhân (chứ không áp đặt), phát huy khả năng ấy, phát huy đức tính ấy theo đường hướng của Phật giáo. Mỗi khi cái tốt được phát triển thì cái xấu sẽ thu nhỏ lại và dần dần bị triệt tiêu. Mỗi khi trí tuệ được phát chiếu dần thì vô minh cũng dần dần tan biến. Gia Đình Phật Tử không có tham vọng gì sâu xa lắm, chưa nói đến vấn đề giải thoát kiếp người, mà làm sao cho con người xứng đáng với danh nghĩa con người (đào luyện những Phật Tử chơn chính - căn bản dựa vào ngũ giới, dựa vào 5 điều luật của Gia Đình Phật Tử). Mỗi khi con người xứng là “con người” - là một Phật Tử chơn chính - thì bất cứ môi trường nào, bất cứ hoàn cảnh nào cũng trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần làm cho xã hội an vui. Nhưng ngày mai ấy, người Phật Tử chơn chính của tổ chức “áo lam” nầy có mạnh dạn tích cực góp phần xây dựng xã hội, để có được một xã hội lành mạnh an vui không? (góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo) thì ngay bây giờ, người Huynh truởng còn phải giáo dục cho các em ý thức yêu thương quê hương, yêu thương dân tộc, yêu thương nhân loại (yêu thương đúng nghĩa của đạo Phật), biết duy trì, biết bảo vệ nền văn hóa dân tộc, đồng thời cũng phải biết tiếp thu có chọn lọc những văn minh tiến bộ của các quốc gia khác nhưng không vọng ngoại, không mất gốc. Tài liệu A Dục– trang 28


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Muốn đạt được mục đích đó, Gia Đình Phật Tử không chỉ áp dụng những phương pháp giáo dục sẵn có của nền giáo dục hiện nay mà phải áp dụng những phương pháp giáo dục đặc thù của đạo Phật (ở Lộc Uyển chúng ta có đề cập đến phương pháp huân tập). III. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ: Để hướng đến mục đích trên, hơn nữa Gia Đình Phật Tử là một tổ chức của tôn giáo, chuyên chú về việc giáo dục Thanh, Thiếu, Nhi theo tinh thần lý tưởng của đạo Phật, nên Gia Đình Phật Tử đã lấy các phương pháp giáo dục kể trên của Phật giáo áp dụng. Vậy ta nên tìm hiểu rõ thêm về các phương pháp giáo dục nầy. 1. Phương pháp huân tập: a. Ý nghĩa: Huân là un đúc, chứa vào. Tập là bắt chước, làm theo. Huân tập là chất chứa các chủng tử (hạt giống) vào trong A Lại Gia thức để rồi những chủng tử đó phát sinh ra hiện hành. Có 2 loại chủng tử là: Bản hữu chủng tử: Những chủng tử sẵn có từ vô thỉ. Tân huân chủng tử: Những chủng tử mới huân tập. Những chủng tử có sẵn hay mới huân tập khi gặp cơ duyên thuận tiện, sẽ phát sinh ra hiện hành bằng hành động, tâm ý. Sự phát sinh ra hiện hành mau hay chậm tùy theo chủng tử đã thuần thục hay chưa. Hiện hành còn có năng lực huân tập thành chủng tử, chủng tử này sinh chủng tử khác, và hiện hành này sinh hiện hành khác trong tương quan hổ trợ. b. Nguyên tắc giáo dục: Ngăn chặn không cho những chủng tử xấu, ác phát hiện bằng cách huân tập các chủng tử thiện, tốt. Kích thích cho các chủng tử thiện tốt phát triển. c. Nhận xét: Có thể huân tập và phát triển các chủng tử thiện, nhất là phát triển toàn vẹn Phật tánh nơi mỗi chúng sanh. Vì khả năng huân tập của A Lại Gia thức rất mãnh liệt. Con người có thể uốn nắn bằng huân tập (gần mực thì đen gần đèn thì sáng) d. Áp dụng: Tạo môi trường thích hợp như đi họp, trại, du ngoạn để huân tập các chủng tử tốt vào tâm thức, làm phấn khởi tinh thần. Nghi lễ đúng chánh pháp. Kiểm soát việc giao thiệp bạn bè, việc đọc Tài liệu A Dục– trang 29


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

sách báo để tránh ảnh hưởng xấu. Gương mẫu, nêu những điển hình tốt để các em kính mến, bắt chước. Vun trồng và phát triển Đức tin, hướng thiện. 2. Phương pháp lý giải: a. Ý nghĩa: Phương pháp lý giải là cách dùng lý trí phán xét phân tích để có thể chấp nhận, giác ngộ con đường chánh đáng, khỏi phải nhận thức sai lầm. b. Nguyên tắc: Dùng Nhân Minh Luận của Phật giáo để giải thích sự kiện, sự vật (Tôn: Xét đoán vấn đề nêu ra. Nhân: Tìm hiểu nguyên nhân. Dụ: nêu cái ví dụ về sự kiện diễn biến. Tôn, Nhân, Dụ luôn luôn phù hợp). c. Nhận xét: Nhân Minh Học của Phật Giáo còn uyển chuyển, khoa học, sát chân lý hơn Luận Lý Học của Tây phương. d. Áp dụng trong Gia Đình Phật Tử: Chỉ rõ việc làm lành tránh dữ không phải là vấn đề Đạo Đức mà là vấn đề thuộc phạm vi trí tuệ, giải thoát. Tập nhận xét, suy luận, học hỏi bằng thảo luận, nghiên cứu, thuyết minh, tranh luận… Giúp đở phương tiện và khuyến khích các em tìm hiểu bản thể các pháp, tìm hiểu các định lý, nguyên nhân chi phối các pháp. 3. Phương pháp quán niệm: a. Ý nghĩa: Quán là quán sát các hiện cảnh, tìm nguyên nhân đã tạo tác ra hiện cảnh. Niệm là ghi nhớ, tâm niệm những ý tưởng thuần chánh vào tâm thức để tạo những chủng tử (hạt giống) tốt cho hiện hành phát sinh. b. Nguyên tắc: Áp dụng phương pháp quán Tưởng (chiêm ngưỡng hình ảnh trang nghiêm của Phật, xét nguyên nhân tác thành hình tướng tốt đẹp trang nghiêm ấy) và quán Tánh (suy nghiệm đến bản tánh các Pháp, đến các nguyên lý Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã…) c. Áp dụng: Tập các em thường xuyên niệm Phật. Tạo cho các em chiêm ngưỡng thân tướng của Phật như thiết bàn thờ Phật, tôn trí tượng Phật… Tập các em quán xét nội tâm, kiểm diểm lại ý nghĩ, việc làm. Cho du ngoạn, tìm hiểu, quán xét phong thái uy nghi của các vị Tăng già. Tài liệu A Dục– trang 30


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

4. Phương pháp hoạt động: a. Ý nghĩa: Phương pháp hoạt động là phương pháp làm phát triển trí tuệ, tâm lý, tình cảm sinh lý của đứa trẻ bằng sự hoạt động của chính đứa trẻ. b. Nguyên tắc: Để trẻ con học tập bằng hoạt động. Tuyệt đối không dùng phương pháp nhồi sọ (Vì sự phát triển tâm lý là sự phát triển từ bên trong ra bên ngoài). c. Nhận xét: Đây là một phương pháp giáo dục có hiệu quả mạnh nhất là đối với tuổi nhỏ. Phương pháp nầy ngày nay được các nhà giáo dục chú trọng. d. Áp dụng: Thúc đẩy sự phát triển cơ thể bằng các hoạt động: việc làm, trò chơi, tập chịu đựng . . . Thúc đẩy sự phát triển về tri giác, tình cảm: học hỏi, trò chơi, văn nghệ, tiếp xúc, va chạm, thích nghi với cảnh ngộ. IV. CÁCH ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP: Mỗi phuơng pháp đều có một đặc điểm riêng, cho nên sự áp dụng phải linh động, tế nhị, thích hợp với căn cơ đối tượng thì việc giáo dục mới có hiệu quả. Cần chú trọng vài điều kiện cần thiết khi áp dụng. 1. Nguyên tắc chung: Chia ngành và sinh hoạt theo ngành. Dựa vào tâm lý, sinh lý mà áp dụng phương pháp giáo dục. Luôn gần gũi, tìm hiểu các em và kiểm soát kết quả. 2. Áp dụng vào Ngành: Tuổi Oanh vũ: Chú trọng phương pháp huân tập và hoạt động Cho các em học hỏi trong sự chơi đùa Làm gương.

Tài liệu A Dục– trang 31


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Tuổi Thiếu niên, Thiếu Nữ: Áp dụng 3 phương pháp: Huân tập, Lý giải và Hoạt động Bắt đầu tập các em nguyên tắc luận lý hướng dẫn, khuyến khích các em tập sự giải thích sự kiện, sự vật. Tuổi Nam, Nữ Phật tử: Chú trọng phương pháp Lý giải và Quán niệm Thực hiện các buổi hội học và thảo luận. Tập nghiên cứu thuyết trình. Tập thiền quán. V. KẾT LUẬN: Hiện nay trong nền giáo dục thế giới, nhìn chung đều có những phương pháp: Thực nghiệm, trực quan, diễn giải, gợi mở, vấn đáp . . . đều có tản mạn trong các phương pháp đã nêu trên nhưng những phương pháp giáo dục trong Gia Đình Phật Tử có những nét đặc thù của nó và hiệu quả có tác dụng về chiều sâu. Công việc giáo dục của Gia Đình Phật Tử rất quan trọng nên tất yếu người Huynh Trưởng phải am hiểu các phương pháp giáo dục và phải biết áp dụng các phương pháp cho thích hợp. Như thế mới không phản lại thiên chức cao cả của mình.

Tài liệu A Dục– trang 32


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 7: TINH THẦN CHUYỂN HÓA NỘI TÂM VÀ HỘ TRÌ CHÁNH PHÁP CỦA VUA A DỤC (Trước khi học bài nầy cần ôn lại lịch sử A Dục Vương ở chương trình bậc Trì) Như đã tìm hiểu ở phần lịch sử A Dục vương, từ một người tàn bạo, hiếu chiến, trong một phút tỉnh thức đã trở thành một vị vua hiền đức, hết mình phục vụ đạo pháp, đem lại thanh bình an lạc cho đất nước. Hôm nay chúng ta đi sâu vào tinh thần chuyển hóa nội tâm và hộ trì chánh pháp của Ngài. A. TINH THẦN CHUYỂN HÓA NỘI TÂM CỦA A DỤC: Để thấy được giá trị của sự chuyển hóa nội tâm ở một vị vua mà lúc đầu là tàn bạo, chúng ta cần nhìn rõ thêm tính chất tàn bạo hung ác của A Dục mà trong chương trình bậc Trì chúng ta chỉ mới đề cập đến một cách khái quát. I. CUỘC ĐỜI TÀN BẠO HUNG ÁC CỦA A DỤC VƯƠNG: Nói đến sự tàn bạo, hung ác, hiếu chiến của A Dục thì có lẻ không sao nói hết, ở đây chúng ta chỉ nêu lên mấy hiện trạng tiêu biểu. Chỉ mấy hiện trạng tiêu biểu thôi, chúng ta cũng đủ rùng mình, không ngờ được một vị hộ pháp đắc lực trong Phật giáo Ấn Độ lại có một quá trình hết sức hung tàn. Ngay khi còn là một Hoàng tử, Ngài là người võ nghệ xuất chúng, nhưng cũng là người tàn bạo không ai bằng. Quân dưới tay Ngài mà không tuân lệnh khi ra chiến trường là Ngài chém đầu ngay. Với Ngài, chỉ có tiến chứ không có thối, chỉ có thắng chứ không có bại. Để kế nghiệp vua cha, A Dục đã dùng một số mưu kế hết sức tàn độc để hại người anh khác mẹ tên là Susima. Khi đã diệt xong hoàng thân Susima, A Dục lại hành phạt các quan lại, trước đã khinh rẽ mình (vì vua A Dục tướng mạo xấu xí) (1). Vừa lên ngội Ngài đã xuống lệnh Tài liệu A Dục– trang 33


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

giết hết mấy trăm đại thần rất trung tín, cũng chỉ vì các vị nầy dám can gián vua làm những điều bạo ngược tàn ác, muôn dân oán thán. Trong thời gian tiếp đó, Ngài đã không từ bỏ một việc gì làm thỏa mãn sở thích của Ngài, dù việc ấy tác hại đến sơn hà xã tắc và dù phải đổi bằng bao nhiêu mạng sống của người dân vô tội. Có một lần, hôm ấy vào một sáng mùa xuân, A Dục cùng đoàn cung nữ dạo chơi trong thượng uyển, ngàn hoa đang đua nở, muôn sắc khoe tươi, hương thơm tỏa ngát. Cung nữ mải mê ngắm hoa mà quên không quấn quýt bên nhà vua để mơn trớn đùa cợt như mọi khi. Vua tức giận truyền lệnh bắt giết tất cả các cung nữ rồi lập tức trở về triều. Ngài còn lập ra vườn “Ái lạc”. Thật ra đây là một địa ngục chốn trần gian vì đây là một cảnh vườn, bên ngoài kiến trúc cực kỳ mỹ lệ, nào là ao sen, non bộ, nào là hoa quý muôn màu, hương thơm đặc sắc. Những thảm cỏ toàn là cỏ quý, trông như những tấm thảm nhung khổng lồ. Công viên vô cùng ngoạn mục, có cầu, có suối, có giả sơn… Nhân dân tự do, mặc tình đến thưởng ngoạn. Nhưng đi lần vào trong thì… núi kiếm, rừng đao, vạc dầu lò lửa đủ mọi khí cụ để hành hình một cách ghê rợn. Vườn “Ái Lạc” chỉ có lối vào không có lối ra. Bất cứ ai đã lỡ vào trong đó thì ngục tốt bắt giam và hành hình, con cung phi thể nữ mà cãi cọ xung đột nhau thì cũng bị đưa vào đấy cho chủ ngục phân xử. II. NHỮNG TIẾNG CHUÔNG CẢNH TỈNH: Trong bài A Dục vuơng ở bậc Trì, chúng ta đã thấy, một chiều trên chiến trường Kalinga, sau một chiến thắng oanh liệt, khi nhìn lại cảnh hoang phế điều tàn và hàng chục ngàn thây người phơi trên chiến địa, Ngài đã giật mình bừng tỉnh. Nhưng đó là hồi chuông cảnh tỉnh sau cùng. Trước đó đã có những tiếng chuông cảnh tỉnh vang vọng và lắng sâu vào tâm hồn Ngài. Có một ngày nọ, một vị Tỳ kheo đi khất thực ở thành Hoa Thi, không thông thuộc đường sá nên lạc vào vườn Ái lạc. Khi vào bên trong, Thầy hoảng kinh, toan kiếm đường thoát ra nhưng ngục tốt đã Tài liệu A Dục– trang 34


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

đón bắt Thầy lại, định hành hình. Thầy khẩn thiết van xin mà bọn ngục tốt không dung tha nên Thầy bèn oà khóc. Chủ ngục thấy vậy liền hỏi: “Thầy là người tu hành mà cũng sợ chết hay sao?” Thầy Tỳ kheo đáp: “Tôi đâu có sợ chết, nhưng tiếc rằng tôi mới xuất gia chưa chứng được đạo quả. Bây giờ xin chủ ngục thi ân, cho tôi sống thêm 7 ngày rồi hãy hành hình.” Chủ ngục thấy vị tu hành nói vậy cũng động lòng nên hoản lại 7 ngày. Trong 7 ngày vị Tỳ kheo chứng kiến bao nhiêu cảnh đau đớn, nào người phụ nữ thân hình trẻ đẹp lại bị bỏ vào cối giả nát, nào là những ca nhi nhan sắc tuyệt vời mà bị quẳng vào lò lửa, nào là những đống xương khô, những đống thịt thối. Cảnh tượng ấy làm cho Thầy nhàm chán, nhớ đến lời Phật dạy: “Sắc đẹp mĩ miều cũng như bọt nước, nhung y diễm lệ rồi cũng hóa tro tàn”. Nhờ nhớ lại lời dạy ấy, Thầy tỏ ngộ, dứt hết các điều tạp nhiễm, chứng quả A La hán. Bảy ngày trôi qua, ngục tốt bắt Thầy đem hành quyết. Họ quẳng Thầy vào chảo dầu đang đun trên bếp lửa to tướng. Nhưng đun hết một khối củi lớn mà dầu vẫn không nóng, vị Tỳ kheo vẫm điềm nhiên ngồi kiết già trong chảo (2). Chủ ngục vội vàng tâu lại với vua A Dục. Nhà vua tức tốc đến tận nơi thì thấy vị Tỳ kheo đang lơ lửng trên không trung còn chảo dầu biến thành bồn nước mát. Nhà vua kinh ngạc đứng lặng một hồi lâu, tự suy gẫm: mình với vị Tỳ kheo nầy cũng đồng là người nhưng Thầy tu hành chứng quả, an nhiên tự tại, trong chảo dầu sôi mà hóa ra trong bồn nước mát, còn ta thì mãi vui say trong việc sát hại nhân dân, làm điều tàn ác! Nhà vua bèn quỳ xuống thưa với vị Tỳ kheo: “Thưa Ngài, mong Ngài chiếu cố hạ xuống nơi đây, tôi nguyện từ nay về sau, bỏ ác làm lành, xin quy ngưỡng với Ngài.” Vị Tỳ kheo đáp: Tài liệu A Dục– trang 35


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

“Đại vương biết hối cải chuyển hóa nội tâm, theo đường hướng thiện thì phước đức vô cùng.” Nói xong vị Tỳ kheo từ từ hạ xuống và ung dung trở về trụ xứ (3). Dĩ nhiên, làm sao trong phút chốc mà dứt hết tập khí bạo tàn được. Khi vị Tỳ kheo đã khuất dạng, tên chủ ngục tâu: “Tâu bệ hạ, khi lập cảnh vườn Ái lạc nầy, bệ hạ đã ra lệnh, hễ ai vào đây thì không thể cho ra và phải chịu ngục tốt hành hình. Tôi đã cung mang thánh chỉ nên không dám sai lời. Đại vương là bậc Thiên tử nên cũng phải nhất ngôn.” Vua sửng sốt hỏi lại: “Vậy ngươi muốn xử tội ta như thế sao?” “Chủ ngục: Tâu vâng.” Vua liền hỏi lại: “Ta và ngươi ai vào đây trước?” và tức thì sai ngục tốt bắt chủ ngục quẳng vào chảo dầu, đồng thời ra lệnh phóng hỏa đốt hết cả vườn “Ái lạc”. Từ đó cảnh địa ngục trần gian không còn nữa. Cũng từ đó, nhà vua dần dần bỏ các điều tàn bạo hung ác. Tuy thế, tập khí hiếu chiến vẫn chưa dứt sạch. Rồi Ngài lên đường chinh chiến… Từ chiến trận nầy đến chiến trận khác, cũng như mọi lần trước đó, lần nào cũng chiến thắng lẫy lừng. Càng chiến thắng, lòng hiếu chiến càng trổi dậy. Có một lần giữa trận tuyến tên bay vùn vụt, gươm giáo chan chát lại có một nhà Sư đi qua một cách ung dung. Có lẽ Thầy đang trên đường về trú xứ sau khi đã hành đạo đâu đó. Nhà vua hết đổi ngạc nhiên, tại vùng chiến tuyến, hai bên đang đánh nhau kịch liệt, thế mà lại có một nhà sư đi qua một cách điềm nhiên tự tại. Vua hạ lệnh bắt nhà sư. Khi quân lính dẫn nhà sư đến trước mặt vua, ra lệnh nhà sư quỳ xuống. Nhà sư ôn tồn nói: Khi tôi đã xuất gia tôi chỉ quỳ trước chân lý và trước Tam bảo mà thôi. Tài liệu A Dục– trang 36


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Nhà vua im lặng giây lát, có lẽ câu nói ấy đã làm cho nhà vua phải kính nể, nhưng lòng sân hận lại nổi lên. Vua bảo: “Hãy quỳ xuống không thì ta chém đầu.” Vị sư vẫn bình thản: “Bần tăng xin chọn cái chết.” Vua sai quân lính giữ nhà sư lại và khi chiến trận chấm dứt, dẫn về triều. Nhà vua vô cùng thắc mắc, tra hỏi nhà sư: “Tại sao ai cũng phải tuân lệnh ta, các chư hầu cũng đều thần phục ta mà nhà ngươi lại không chịu tuân lệnh? Lúc nào ta hết thắc mắc ta sẽ giết ngươi.” “Nhà sư cam lòng chịu chết nhưng xin vua hoản lại cho 7 ngày.” Vua lại thắc mắc: “Tại sao phải xin hoản lại 7 ngày?” Nhà sư giải thích: “Làm được kiếp người là khó lắm, được làm kiếp người mà gặp chánh pháp lại càng khó khăn hơn, không phải ai làm người cũng gặp chánh pháp đâu! Bần tăng chưa được đắc quả cho nên xin sống thêm 7 ngày để tu tập thiền định hầu mong giải thoát.” Câu nói ấy lại làm cho nhà vua càng thêm thắc mắc. Càng thắc mắc nhà vua lại càng muốn tìm hiểu, càng muốn tìm hiểu nhà vua phải gạn hỏi nhà sư, càng gạn hỏi thì lại càng thắc mắc. Trong những câu nói của nhà sư, có một câu đã làm chao đảo cả tâm hồn nhà vua. Nhưng rồi một trận chiến khác xãy ra, nhà vua lại cất quân đi đánh. Đây là trận chiến Kalinga, một trận chiến ác liệt nhất và đây cũng là “trận chiến lẫy lừng nhất” của A Dục vương. Sau sự phấn khởi, đắc thắng, reo mừng, bỗng A Dục Vương dạo một vòng quan sát trận địa, một hình ảnh ghê rợn đập vào mắt, nói đúng hơn là đập vào tâm thức của nhà vua: hàng chục ngàn xác chết ngỗn Tài liệu A Dục– trang 37


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

ngang, la liệt trên bãi chiến trường, quân sĩ của cả đôi bên! Thật là kinh hoàng. Bất giác Ngài thốt lên: “Tại sao hàng vạn người đã chết mà ta được sống?” Ngài nhớ lại câu nói của nhà sư đã từng làm Ngài xao xuyến tâm hồn: “Vì sao ai cũng mong cầu sự sống thế mà ai cũng gây chết chóc cho nhau!” Ngài liền vứt thanh bảo kiếm đã từng đem lại những chiến thắng oanh liệt từ trước đến nay (chính giây phút nầy mới chính là giây phút “chiến thắng lẫy lừng nhất”). Như vậy, chúng ta đã thấy rõ: cảnh điêu tàn hoang vắng với hàng vạn sinh linh phơi thây trên chiến trường Kalinga trong buổi chiều hắt hiu nhạt nắng là hồi chuông sau cùng cảnh tỉnh A Dục Vương, còn những lời của các vị sư trước đây là những tiếng chuông đã từng đi vào tâm thức của A Dục. Hơn nữa, một tiền kiếp của A Dục đã kết duyên với Phật, đó là cậu bé Java. Khi đó Java đang cùng với Gijava dùng đất cát dựng một đô thị giả, có đền đài dinh thự, kho tàng chứa đầy ngũ cốc, Đức Phật đi khất thực ngang qua, Java xuất ngũ cốc trong kho - thật ra chỉ là chén cát của chúng đang chơi - cúng dường đức Phật. Đức Phật vui vẻ thọ nhận. Ngài A nan đi theo đức Phật, rất ngạc nhiên trước thái độ của Như Lai, Như lai liền khai dạy: “Này A Nan, sau khi Như lai nhâp diệt khoảng 200 năm, đứa trẻ ấy (Java) sẽ được thọ sanh làm một vị Thánh quân đóng tại thành Patalitutra và lấy vương hiệu là A Dục” III. TINH THẦN CHUYỂN HÓA NỘI TÂM CỦA A DỤC VƯƠNG: Nhờ những tiếng chuông cảnh tỉnh của các vị sư và hồi chuông tỉnh thức sau cùng của hàng chục ngàn người phơi thây trên chiến trường Kalinga, làm chuyển hóa được một cách mạnh mẽ nội tâm của vị vua tàn bạo. Lúc về đến triều đình Ngài liền xuống lệnh không giết vị sư và đưa thầy về trụ xứ, phá hết các nhà tù, bỏ án tử hình. Ngài đi tìm hiền tài mời ra phò vua giúp nước. Lúc bấy giờ có một ẩn sĩ ngày ngày sống trong hang đá nơi chốn thâm sơn với bà mẹ già, chỉ có một cái rìu để đốn củi nuôi sống mẹ. Cây rìu ấy là tặng vật của một người biếu chàng đền ơn cứu sống một em bé. Chàng có cái tên là Tu Lại. Chàng đã khước từ mọi cám Tài liệu A Dục– trang 38


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

dỗ của phú quý, công danh. Tiếng thơm hiền đức của chàng vang danh thiên hạ. A Dục vương biết tiếng chàng và đã từng thử tấm lòng chất phác không màng của cải, bạc vàng, danh vọng, bằng cách cho người giả làm ba Tiên nữ đánh mất trâm vàng. Vàng ngọc ấy, sắc hương ấy của các Tiên nữ chẳng vấy bận mảy may tâm hồn thanh cao của chàng. Lại có một hôm, một người lạ mặt đến biếu chàng một thoi vàng và chỉ nhờ chàng giúp cho một tiếng nói, khi có ai hỏi: “Có một đoàn người vùa đi qua đây không? Chàng chỉ đáp một tiếng: “có”. Tu Lại cũng vội vã khước từ vì chàng đã quy y Tam bảo, thọ trì năm giới nên không thể vì thoi vàng mà nói dối (sau nầy mới rõ, chuyện ấy cũng do vua A Dục thử lòng chàng mà thôi). Thế rồi một ngày kia có một tên đao phủ đến, hiên ngang tuyên bố với chàng: “Tôi vâng lệnh nhà vua đến giết tráng sĩ”. Tu Lại hỏi: “Tôi tội tình gì?” Đao phủ đáp: “Chỉ vì nhà vua ganh tức tiếng tốt hiền đức của tráng sĩ mà thôi”. Tu Lại điềm nhiên cảm ơn đao phủ và nhờ đao phủ chiếu cố đùm bọc giúp mẹ già. Ông ta hỏi: “Vậy tráng sĩ không oán hờn nhà vua sao?” Vẫn với giọng nói thản nhiên: “Tôi chỉ thương cho nhà vua đã gây quá nhiều nghiệp ác”. Lưỡi gươm sáng quắc đưa lên cao rồi lại từ từ hạ xuống và chui thẳng vào vỏ kiếm của đao phủ. Hôm sau vua A Dục đích thân đến tận hang đá nầy để đón tráng sĩ về triều. Ban đầu tráng sĩ từ chối, vua năn nỉ bao lần, cuối cùng Tu Lại xin hẹn lại ba hôm để hỏi ý kiến của mẹ. Mẹ chàng bảo: “Mẹ nghe hiện nay trong nước nhà vua thì tàn bạo, nhân dân thì oán thán, các trung thần đều bị giết, số còn lại chỉ toàn là người xu thời, dua nịnh, tham ô. Đến nỗi ngoài thiên hạ đã dùng cái tên “Chiên Đà La A Dục” (ông vua hung tợn như người hàng thịt). Nhưng biết đâu khi con đã vào làm quan trong triều, con có thể tìm cách cảm hóa nhà vua, xoay chuyển lại chế độ. Và dẫu con có bị trúng kế nhà vua muốn giết hại hiền tài mà con không cách nào xoay chuyển nổi, thì âu cũng là duyên nghiệp của con. Vã lại, biết đâu ngày nay thật sự nhà vua đã ăn năn hối cãi, con có thể giúp nhà vua, đem giáo lý nhà Phật đưa Ngài vào con đuờng sáng và cảm hóa quần sanh”. Tài liệu A Dục– trang 39


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Khi Tu Lại về triều, nhà vua tỏ lòng tri ân tặng cho chàng cái tên: “Quốc Bữu”. Đầu tiên Quốc Bửu khuyến hóa nhà vua quy y Tam bảo, thọ trì năm giới. Tiếp đó khuyên nhà vua tìm đến các chơn tăng học hỏi giáo pháp. Nhà vua cho dựng ngay nhiều tháp bia. Có hai bia, nội dung được chú trọng nhất: “Ta dựng bia nầy, ta viết lời nầy để sau đây con cháu ta biết: Không có sự thắng trận nào vẻ vang bằng sự thắng trận của Chánh pháp. Chính sự thắng trận của Chánh pháp mới soi sáng được nỗi u tối của con người và đem lại hạnh phúc thật sự cho con cháu của chúng ta hiện tại và tương lai”. “Trong khi ta truyền bá đạo vô thượng của đức Như Lai, ta khuyên mọi người nên theo đạo Phật, nhưng vẫn tôn trọng các nhà tu của các tôn giáo khác, nên cúng dường thức ăn, cung cấp quần áo cho các vị ấy”. Đối với bản thân, nhà vua dành một phần lớn thời giờ trong ngày tham cứu học đạo với các vị danh tăng, nghiên cứu học tập kinh điển, tinh cần thiền tập và áp dụng triệt để giáo pháp vào cuộc sống hàng ngày. Từ đó nhà vua thay đổi hẳn chính sách, không dùng uy quyền tàn bạo như trước mà lấy đức độ bao dung đối xử với quần thần cũng như với thiên hạ. Ngài trừng trị kẻ hoang dâm, đàng điếm, xảo trá. Ngài chăm lo đời sống của dân, lập viện dưỡng lão, chăm sóc chu đáo những người già cả bệnh hoạn. Đối ngoại, Ngài trả lại độc lập cho các tiểu quốc đang bị thống trị dưới tay Ngài. Nhân dân tặng cho Ngài cái tên “Thích ca A Dục” (ông vua sống theo giáo pháp đức Thích ca). Từ một ông vua tàn bạo hiếu chiến thế mà đã chuyển hóa nội tâm để trở thành một Phật tử tinh tấn tu tập, tích cực hộ trì chánh pháp, một vị vua hiền đức biết dựa vào Phật pháp để trị dân, hết lòng lo cho đời sống của nhân dân được ấm no an lạc, quả thật hiếm có trong cuộc đời. Trong nhân dân đã từng có cái tên “Chiên Đà La A Dục”, thế mà nay cũng từ nhân dân lại có cái tên “Thích ca A Dục”. Chúng ta bái phục Ngài chính là ở điểm đó. Chúng ta mượn danh hiệu Ngài để đặt tên cho trại huấn luyện Huynh Trưởng cấp I cũng là vì lẽ đó. Tài liệu A Dục– trang 40


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Giá trị tuyệt hảo của con người là ở chỗ chuyển hóa được nội tâm. Ngày xưa ông Vô Não, một người hung ác tàn bạo nhất cũng chỉ vì mê muội vô minh, đến toan giết cả mẹ để lấy cho được ngón tay thứ một trăm của người mà mình đã giết, sau đó lại rắp tâm giết Phật. Nhưng… chính giây phút ấy được Phật khai ngộ mà chứng quả. Chúng ta chỉ biết vị nầy đã chứng quả A la hán, thế thôi. Còn A Dục vương, khi đã chuyển hóa được nội tâm thì quyết đem cuộc đời còn lại của mình cống hiến cho đất nước, cống hiến cho dân tộc, cống hiến cho đạo pháp. Đây chính là bài học chính đáng mà trại sinh A Dục chúng ta đang học hôm nay. Sự cống hiến đó như thế nào? chúng ta sẽ thấy rõ ở phần hộ trì chánh pháp của A Dục. Tại đây chúng ta thấy được thêm một điều là đã chuyển hóa được nội tâm thì cũng có thể chuyển biến được nghiệp lực. Vì “tu là chuyển nghiệp”. Nếu tâm thật sự được chuyển hóa thì sẽ được an tịnh mà “Tâm tịnh rồi, tội liền tiêu. Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không”. Hơn nữa công năng tu tập hộ trì chánh pháp, giúp nước, giúp dân như A Dục vương cũng đủ tạo thiện nghiệp bù đắp cho cuộc đời quá khứ. B. SỰ HỘ TRÌ CHÁNH PHÁP CỦA A DỤC VƯƠNG (Phần nầy đã học ở bài: Lịch sử A Dục vương trong chương trình bậc Trì nhưng ở đây cũng cần nêu lại những nét chính. Tuy nhiên nếu thấy cần, giảng viên cũng có thể triển khai rộng ra). Đối với A Dục vương, việc chăm lo đời sống cho dân, mong cho đất nước thanh bình an lạc cũng là cách hộ trì chánh pháp vì Ngài đã khuyến hóa nhân dân quy y Tam Bảo, thọ trì năm giới, kỉnh trọng các vị tăng sĩ. Nhờ vậy mà nhà nhà đều thờ Phật, trọng Pháp, kỉnh Tăng. Ngài lấy lượng từ bi mà cư xử với mọi người. Nhà tù được phá bỏ, trường học, bệnh viện được mở mang thêm nhiều và nhất là xây dựng nhiều chùa làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng cho dân chúng và cũng chính là nơi xây dựng, bồi dưỡng đạo đức cho mọi người dân. Tài liệu A Dục– trang 41


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Ngài ủng hộ chư tăng hết lòng để quý vị có đầy đủ phương tiện tu tập và hành đạo. Nhưng Ngài cũng nhất quyết sa thải những phần tử không xứng đáng làm hoen ố Phật giáo. Ngoài thì giờ tu tập, nghiên cứu kinh điển, Ngài còn dành nhiều thời giớ thăm viếng các địa tích liên quan đến lịch sử đức Phật, xây dựng tại đó những bảo tháp hay trụ đá (nay vẫn còn). Chính những di tích nầy đã giúp không ít cho các nhà khảo cổ khi tìm hiểu về cuộc đời đức Phật. Thời đại của A Dục vương thì Phật giáo Ấn Độ đã có đến 20 bộ phái, nhiều người muốn tu hành theo Phật giáo một cách đúng đắn, không biết nên y cứ vào đâu, những nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu Phật giáo đến nơi đến chốn rất hoang mang. Vua A Dục thấy cần có một sự thống nhất cho nên Ngài đã chủ trương kỳ kiết tập kinh điển lần thứ ba tại thành Pataniputra. Lần kiết tập nầy gồm 100 vị Đại Trưởng lão và do Ngài Moggalinputtatissa chủ tọa. Kết quả kỳ kiết tập là dung hòa được những quan điểm dị biệt và thống nhất một giáo lý gọi là: “Thượng tọa bộ” (Theravada). Sau hội nghị kiết tập nầy, Thượng tọa Mahinda con trai của vua A Dục đã đem ba tạng kinh (Kinh - Luật - Luật) cùng với sớ giải đã kiết tập sang Tích lan (hiện nay vẫn còn được bảo tồn). A Dục vương cũng đã dựng lên khắp xứ Ấn Độ 84,000 bảo tháp để thờ Xá Lợi Phật (tom góp phần Xá Lợi tại các chư hầu và phân đều lại 84.000 phần để thờ khắp nơi). Vùng nào có 10 triệu dân trở lên thì được thờ một hột Xá Lợi. Ngài cho xây dựng rất nhiều chùa và có lắm đền thờ chạm trổ những sự tích Phật giáo. Rải rác khắp nơi có nhiều bia đá ghi khắc những chỉ dụ của nhà vua khuyên bảo dân chúng ăn ở theo chánh pháp. Nhà vua còn thỉnh nhiều vị A La hán đi truyền bá đạo Phật tại những xứ ở miền Tây Bắc Ấn Độ như: Cachemire, Gandhara và nhiều nơi khác như Mahisamandala (Maisur hiện nay), Vanasa…

Tài liệu A Dục– trang 42


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Những việc làm lớn lao hữu ích, thiết thực như trên chứng tỏ công sức hộ trì, hoằng dương chánh pháp của A Dục Vương vĩ đại biết chừng nào! Qua bài nầy chúng ta thấy ở A Dục có hai con người, hay đúng hơn, một con người A Dục có hai cuộc đời trái ngược nhau: một cuộc đời hung ác tàn bạo, giết hại bao sinh linh vô tội - một cuộc đời hiền đức, tích cực hộ trì chánh pháp, đem lại thanh bình an lạc cho muôn dân, đem lại sự hưng thịnh cho xứ sở và cho cả các lân bang. Chính nhờ những tiếng chuông tỉnh thức, dần dà đã biến chuyển nội tâm của Ngài một cách mãnh liệt. Vậy vấn đề được nhìn rõ ở đây là chúng ta không ngại tội lỗi, không mặc cảm tội lỗi quá khứ dù tội lỗi ấy lớn lao đến bao nhiêu, mà chỉ ngại khi có được những tiếng chuông tỉnh thức, liệu ta có biến chuyển được nội tâm không? Sự chuyển hóa nội tâm mới là vấn đề quan trọng. Trại sinh A Dục - Một trại đưa chúng ta đi vào chính thức cuộc đời làm Huynh Trưởng - Chúng ta cần phải nắm vững vấn đề nầy. Nhìn vào thực tế cuộc đời, chúng ta cũng từng thấy, có những vị đức độ tiếng tăm, công năng tu tập khá vững, nhưng rồi một phút sa cơ, một phút lỗi lầm vì hoàn cảnh hay vì một lý do nào đó mà làm hoen ố cả cuộc đời trong sáng quá khứ của mình. Ngược lại, những người đã từng phạm lỗi lầm dù là lỗi lầm to lớn đến đâu mà đã chuyển hóa được nội tâm, chuyển cải được cuộc sống của mình thì sẽ trở thành con người tốt đẹp, chúng ta có thể đặt tin tưởng vào đó. Trên bước đường tu học, chúng ta cần có chí hướng chuyển hóa nội tâm. Biết chuyển hóa nội tâm chúng ta mới có thể tin tưởng sự thành tựu của chúng ta. Chú thích: (1) Có tài liệu viết: Lúc có nội loạn tại thành Hưu Thi La, vua sai Ngài đem quân đi đánh dẹp, Ngài đã chiến thắng một cách dễ dàng. Vì có công lớn ấy, vua cha, tức là Tần Đầu Sa phong Ngài làm Thái tử. Khi vua cha băng hà, Ngài kế nghiệp trị vì xứ Ấn Độ. Tánh tình Ngài rất hung hăng. Tài liệu A Dục– trang 43


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

(2) Dù có cho rằng người viết sử có ý thiêng liêng hóa thì hình ảnh vị Tỳ kheo ngồi điềm nhiên kiết già trong chảo dầu là điều chắc chắn có được vì khi định lực của vị Tỳ kheo đã mạnh thì việc ngồi trong chảo dầu sôi vẫn an nhiên tự tại là thường. Việt Nam ta cũng đã có Ngài Thích Quảng Đức và một số Tăng Ni khác an nhiên tự tại trong lửa đỏ. (3) Việc vị Tỳ kheo lơ lửng trên không trung rồi từ từ hạ xuống và ung dung trở về trụ xứ, cũng có thể cho rằng người viết truyện có ý thiêng liêng hóa mà cũng có thể là có thật vì vào thời kỳ đó các vị tu hành đắc đạo, một số có thần thông, không phải là không xẩy ra. Ghi chú: Mục I và II phần A cốt cho Giảng viên nghiên cứu, thấy được một cách rộng rãi cuộc đời của A Dục vương, biết được cái quá khứ tàn bạo của nhà vua mới nhìn ra được nét nỗi bật về sự chuyển hóa nội tâm của A Dục vương. Trong khóa huấn luyện nếu thời gian ít ỏi thì mục I và II của phần A giảng viên có thể lướt qua, chỉ cần nhấn mạnh những nét trọng tâm, sau đó, khi về nhà trại sinh có thể đọc kỹ lại tài liệu.

Tài liệu A Dục– trang 44


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 8: CÁC VỊ CƯ SĨ CÓ CÔNG LỚN ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

A. Cư sĩ Tâm Minh LÊ ĐÌNH THÁM Nếu có dịp về Huế thăm lại tổ đình Từ Đàm, ngôi chùa lịch sử, cái nôi của Phật giáo miền Trung, chắc hẳn lòng chúng ta sẽ rung động trước hình tượng một cư sĩ được tôn trí trong sân chùa Từ Đàm, hình tượng Bác Tâm Minh Lê Đình Thám. Đó là tình cảm của Phật tử miền Trung cũng như Phật tử cả nước dành cho Bác - Một vị đã khởi xướng và thành tựu Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo miền Trung có ảnh hưởng đến Phật giáo cả nước. Riêng về Gia Đình Phật Tử Việt Nam, Bác là người chủ xướng công cuộc giáo dục thanh thiếu nhi Phật giáo mở đầu là Đoàn Phật Học Đức Dục, sau đó là Gia Đình Phật Hóa Phổ, tiền thân của Gia Đình Phật Tử Việt nam ngày nay. Hôm nay, khi học bài nầy chúng ta nhìn lại thật rõ cuộc đời của Bác, tâm nguyện và công hạnh của Bác, những viên đá đầu tiên, những viên đá vững chắc cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.

I. THÂN THẾ: Bác Lê Đình Thám tự là Châu Hải sanh năm Đinh Dậu 1897 tại làng Đồng Mỹ (Phú Mỹ), tổng Phú Khương, Phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình nho phong. Thân phụ là Lê Đĩnh làm quan dưới triều Tự Đức với chức Đông Các Đại Học Sĩ sung chức Binh Bộ Thượng Thư và mẹ là cụ bà Phan Thị Hiệu (kế thất). Đương thời: Thời thơ ấu bác cùng người anh là Lê Đình Dương (sau này là Đông Dương Y Sĩ) cả hai đã trực tiếp học chữ Hán với thân phụ, cả hai đều thông minh xuất chúng ngay từ thuở còn thơ. Lớn lên cả hai đều học tại các trường Pháp Việt. Trong Tài liệu A Dục– trang 45


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

những năm còn là học sinh hay sinh viên, Bác đã được tình cảm của cả thầy lẫn bạn và luôn luôn giành vị thứ hàng đầu trong các kỳ thi tốt nghiệp hoặc cuối cấp.

II. SỰ NGHIỆP: 1. Thế nghiệp: Bác tốt nghiệp thủ khoa Đông Dương Y Sĩ khóa 1916 tại trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương Hà Nội và Y khoa bác sĩ ngạch Pháp quốc khóa năm 1930 tại Y khoa Đại học đường Hà Nội. Ra trường vào lúc phong trào Duy Tân khởi nghĩa bị thất bại, bào huynh là Đông Dương Y sĩ Lê Đình Dương bị bắt đày lên Ban Mê Thuộc và chết tại đó. Còn Bác thì bị tình nghi theo dõi, trong suốt thời gian phục vụ tại các bệnh viện: Bình thuận, Sông cầu, Qui nhơn, Tuy hòa, Hội an (1916-1926), ngoài công tác chuyên môn, Bác chăm lo học hỏi và nghiên cứu thêm về: Nho, Lão, Phật… Năm 1926 phụ trách tại bệnh viện Hội An trong một dịp viếng chùa Non nước, sau những bước thấp bước cao lên từng cấp đá trong khung cảnh kỳ ảo và hùng vĩ của Ngũ Hành Sơn rộng mở, trong bầu không khí mờ ảo của một cái động mang tên Huyền Không, vào động thì có 4 câu thơ đập vào mắt Bác: “Bồ Đề bổn vô thọ Minh cảnh diệc phí đài Bổn lai vô nhất vật Hà xứ nhạ trần ai” Cái chơn không huyền diệu làm sao, tâm hồn mẫn tiệp của Bác đã rung động trước bốn câu kệ bất hủ của Lục Tổ Huệ Năng. Giây phút gặp gở kỳ thú đầu tiên của Bác và Huệ Năng, chẳng khác nào cái sát na thời gian của người gánh củi Tân châu lặng nghe: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” trước một khách điếm năm nào. Tiếp đó được tin nhà cách mạng Phan Chu Trinh từ trần tại Sài Gòn. Bác cùng một số thân hào nhân sĩ, công chức, trí thức Quảng Nam tổ chức lễ truy điệu trọng thể và thọ tang cụ Phan. Một tháng sau Bác được lệnh đổi đi Hà Tĩnh. Năm 1926 được thuyên chuyển về làm Y sĩ trưởng tại viện bào chế và vi trùng học Pasteur, cộng tác với Bác sĩ Normet, Giám đốc y tế Trung phần phát minh ra: “Sérum - Normet”, được Y giới Pháp Việt đương thời rất trọng vọng. Năm 1933 phụ Tài liệu A Dục– trang 46


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

trách Y sĩ Giám đốc Bệnh viện Bài lao Huế, Bác là một danh y uy tín nhất tại Đế đô. Năm 1945 sau cuộc đảo chánh Nhật, chính phủ Trần Trọng Kim mời Bác giữ chức vụ Giám đốc Y tế Trung phần, kiêm Giám đốc Bệnh viện Huế. 2. Đạo nghiệp: Cũng năm ấy Bác lên chùa Trúc Lâm gặp Hòa Thượng Giác Tiên để thỉnh giáo về thâm nghĩa của hai mươi chữ ngắn ngủi đã khắc sâu vào tâm Bác như một công án thiền sư. Cuộc hội ngộ đã khiến bác đê đầu quy y với Phật, với Pháp, với Tăng, mà Hòa thượng Giác Tiên chùa Trúc Lâm là Bổn sư, với pháp danh Tâm Minh rất xứng hợp với tấm lòng trong sáng của Bác. Năm 1929 - 1932 ba năm liền thọ giáo với Hòa thượng Phước Huệ một nhà Phật học uyên thâm tại chùa Thập Tháp Bình Định. Tiếp cận với các nhà thiện tri thức thời bấy giờ. Bác cũng đã tiếp cận với phong trào chấn hưng Phật giáo Châu Á do Ngài Thái Hư đại Sư khởi xướng ở Trung Hoa qua tạp chí “Hải Triều Âm”, Bác lại giật mình trước tình trạng: Phật giáo Việt nam đang ngủ mê sau các thời kỳ hưng thịnh: Đinh, Lê, Lý, Trần. Quý vị Hòa thượng nhận thấy nơi Bác một đệ tử nhiệt thành, một đệ tử đáng tin cậy, một đệ tử có căn cơ mẫn thiệp để giao phó trách nhiệm, Bác sẵn sàng nhận lãnh y chỉ của các Hòa thượng: Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, đứng ra triệu tập 18 vị họp Hội đồng dự thảo điều lệ xin thành lập Hội An Nam Phật Học, đặt trụ sở đầu tiên tại chùa Trúc Lâm do Bác làm Hội trưởng dưới sự chứng minh sáng lập của quý Hòa thượng nói trên và Bác bắt đầu thuyết pháp tại các chùa Từ Quang, Trúc Lâm, Tây Thiên, Từ Đàm, Diệu Đế giảng kinh luận tại tư thất cho một số tín hửu nhiệt tâm cầu đạo (Quý Hòa thượng Giải Ngạn, Sư Bà Diệu Không, Hòa Thuợng Minh Châu lúc chưa xuất gia đều được nối tiếp đào tạo trong các khóa giảng nầy). Về Phật sự: Khởi công trùng tu chùa Từ Đàm trụ sở trung ương của Hội. Lễ Phật Đãn đầu tiên được cử hành vô cùng trọng thể tại chùa Diệu Đế gây ảnh hưởng lớn lao trong mọi giới. Chủ trương xuất bản Tài liệu A Dục– trang 47


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

nguyệt san Viên Âm cơ quan ngôn luận và truyền bá giáo lý của Hội do Bác chủ nhiệm kiêm chủ bút. Thiết lập cơ sở đào tạo tăng tài: Cấp Trung Tiểu học tại chùa Bảo Quốc do Hòa Thượng Trí Độ làm Đốc giáo (quý Hòa thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa, Thiện Siêu, Trí Quang, Thiện Minh, Trí Tịnh, Nhật Liên đều xuất thân tại trường nầy). Cấp Đại học tại chùa Tây Thiên do chính Bác phụ trách giảng dạy về luận học và triết học, Đông Tây (quý Hòa thượng Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể đều xuất thân tại trường nầy). Xúc tiến thành lập các Tỉnh hội, chi hội, khuông hội khắp nơi tại Trung phần, mở đầu là Tỉnh hội Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam… Năm 1934 tuy việc chuyên môn, việc Hội, việc báo chí, việc Phật học viện rất bề bộn nhưng Bác không bao giờ xao lãng sự học, sự tu và sở trường của bác là giảng diễn Phật pháp, chính nhờ lối giải thích, trình bày Phật pháp một cách sáng sủa, hợp căn cơ của Bác mà một số đông, cựu học cùng tân học, bình dân cũng như trí thức đã hiểu đạo Phật rất mau chóng và đúng đắn, Bác thật xứng đáng là một vị Pháp sư cư sĩ, vừa tạng thông, vừa thuyết thông khéo đưa Phật pháp ra giữa ánh sáng như đưa viên ngọc quý ra khỏi thế lực vô minh đang vùi lấp. Mùa Đông 1934 Hòa thượng Giác Tiên viên tịch, ý thức được trách nhiệm hoằng dương Chánh pháp và duy trì sinh hoạt Giáo hội, nên trong lời ai điếu Hòa Thượng bổn sư, Bác đã phát nguyện dõng mãnh như sau: Kiến tướng nguyện vọng, kiến tánh nguyên chơn, viên giác diệu tâm ninh hữu ngã. Chánh pháp linh truyền, chúng sanh linh độ, thừa dương di huấn khởi vô nhân. Dịch: Tướng các pháp tuy vọng, tánh các pháp vốn chơn. Hòa thượng đâu có mất, Chánh pháp cần phải truyền, chúng sanh cần phải độ, lời di huấn đó con xin nguyện gánh vác. Tài liệu A Dục– trang 48


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Năm 1935 để thích ứng với nhu cầu tiến triển của Hội, bản điều lệ của Hội được tu chỉnh qua quyết nghị của Đại Hội Đồng một Ban Tổng trị sự được thành lập tại Huế, trực tiếp điều hành các Tỉnh hội và năm nào Bác cũng được Đại hội tín nhiệm công cử vào chức vụ Hội trưởng hoặc Cố vấn để điều hành Phật sự chung. Hội đặt trụ sở tại chùa Trúc Lâm, những Tỉnh hội, chi hội, khuông hội theo gương Tỉnh hội Thừa Thiên tổ chức nhanh chóng nhiều nơi ngoài sự tưởng tượng và mong ước của các vị Hòa thượng và giáo phẩm Phật giáo. Một Ban Tổng trị sự được hình thành để điều hành công việc. Bác lại đứng ra vận động trùng tu tổ đình Từ Đàm để làm trụ sở hoạt động của Hội. Mùa thu năm ấy (1935), bác quy tụ một số thanh niên Phât tử trí thức thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục, sáng lập Gia Đình Phật Hóa Phổ, tiền thân của Gia Đình PhậtTử ngày nay, nhằm duy trì đào tạo xây dựng chánh tín cho đàn hậu thế. Tạp chí Viên Âm “tiếng nói tròn đầy” đã đi rất nhanh, không chỉ ở trong nước khắp ba miền Trung, Nam, Bắc mà còn lan rộng ra nước ngoài, ngày nay lật lại từng trang Viên âm cũ kỷ nhiều người đã sửng sốt trước những bài giảng, trước những bài luận thuyết sâu sắc kể cả phần văn chương lẫn phần nội dung. Công đức này quả thật là vĩ đại khi chúng ta nhìn bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội, kỹ thuật 60 năm về trước của đất nước Việt Nam lạc hậu và bị trị nầy. Song song với Viên Âm cơ quan ngôn luận hoằng dương chánh pháp, một công trình vĩ đại khác đã thực hiện với tất cả tâm huyết và nổ lực phi thường. Đó là công việc đào tạo tăng tài, đào luyện những vị giảng sư, những vị trụ trì, những tăng sĩ chuyên ngành giáo dục để giữ giềng mối và phát triển Hội. Chùa Bảo Quốc, Chùa Tây Thiên, chùa Diệu Đức trở thành những Phật học đường, những trường Đại học Phật giáo. Những học tăng đầu tiên của Trung học Phật giáo đã tạo dựng sự nghiệp Phật giáo đầu tiên như thế nào trong mấy mươi năm nay cũng đủ cho chúng ta thấy kết quả to lớn Phật học đường, về phần cư sĩ thì Tài liệu A Dục– trang 49


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

có Đinh văn Nam (tức HT Minh Châu) bà Cao Xuân Sang (tức Sư bà Diệu Không), Võ đình Cường, Đinh văn Vinh, Nguyễn hữu Quán, Phạm hữu Bình, những thanh niên ưu tú sau khi nghe những bài pháp của Bác đã đến với Đoàn Phật Học Đức Dục. Chùa có, thầy có, cơ quan đào tạo tăng tài có, hội hữu càng ngày càng đông, tín đồ càng ngày càng nhiều, bác đã nghĩ đến công cuộc tiếp dẫn hậu lai. Năm 1938, trong kỳ Tổng Hội đồng chính thức đầu tiên Hội An nam Phật học ngày 14 tháng 8, Bác đã dõng dạc gióng lên tiếng chuông: “Không có gì thành tựu vững bền nào lại không nhắm đến hàng ngũ Thanh Thiếu niên. Họ là những người tiếp nối chúng ta trong ngày mai...” Rõ ràng tâm niệm của Bác không khác gì nhân duyên thứ 10 của Ngài Thật Hiền trong Phát Bồ Đề tâm văn. Và đó cũng là đại nguyện thứ hai của Hoàng hậuThắng Man Đại Phương Quảng. Điều nầy đã được ghi trong diễn văn bế mạc hội nghị tuờng trình sinh hoạt của Hội, điều mà Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam không thể không biết đến. Nếu cần có một văn kiện nào để chứng minh sự có mặt của chúng ta trong cộng đồng Giáo hội thì đó cũng là cơ sở của một văn kiện lập quy mà Bác Lê Đình Thám đã để lại cho chúng ta như một lời di huấn. Ngoài ra theo gương Phật giáo Trung Hoa qua nhiều năm nghiên cứu kế hoạch và vận động phương tiện, quyết tâm xây dựng nền móng vĩnh cửu cho cơ sở đào tạo Tăng. Tới năm 1944 Bác sắp xếp di chuyển các Phật học viện lên thiết trí tại Kim sơn, thành lập Tòng lâm Kim Sơn (Huế) nhưng thời cuộc không cho phép công tác đành tạm ngưng sau hai năm hoạt động. Nhờ công đức của Bác vừa tài thí, vừa pháp thí mà duy trì được nguyệt san Viên Âm, Hội An Nam Phật Học và Phật Học Viện đã vượt qua mọi thăng trầm vất vả, mọi chướng ngại thế gian, gây được một thanh thế lớn giữa phong trào phục hưng Phật giáo, phục hưng văn hóa dân tộc, kích động Phật giáo Nam, Bắc đưa Phật giáo nước ta từ chỗ quên lãng đến địa vị như ngày nay. Tài liệu A Dục– trang 50


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

III. TINH THẦN PHỤC VỤ ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC TRONG QUÃNG ĐỜI CUỐI CÙNG CỦA BÁC Mùa Đông 1946 chiến tranh chống Pháp giành độc lập bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, Bác cùng gia đình cũng tản cư về nguyên quán Quảng Nam. Đáp lời kêu gọi của non sông, Bác tham gia kháng chiến liên khu V. Với tinh thần phục vụ Dân tộc, phục vụ Đạo pháp, trong lúc tham gia kháng chiến Bác cũng vận động quy tụ một số Phật tử cũ để thành lập phong trào “Phật giáo và dân chủ mới” tại Bồng sơn Bình Định. Mấy năm sau, năm 1949 mùa hạ, bác được điện mời ra Hà Nội. Bác lãnh trách nhiệm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam và ủy viên Hội đồng Hòa bình thế giới. Môi trường mới, xã hội mới, nhân tâm cũng đổi mới, nhưng tâm nguyện của Bác không thay đổi, bác tiếp tục diễn giảng, phiên dịch Phật pháp và hoàn thành Bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm đã bỏ dỡ trong các tập san Viên âm trước khi tản cư. Năm 1961 việc phiên dịch thành tựu và Thủ Lăng Nghiêm kinh được in ra vào mùa xuân năm ấy (năm Tân Sửu) tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Sau khi kinh Lăng Nghiêm được ấn hành thì Bác chuyên tham thiền, trì kinh niệm Phật. Trước ngày thị tịch Bác đã mời Hòa thượng Đôn Hậu đến để ôn lại những hoạt động cũ, rồi yêu cầu hòa Thượng thuyết một thời kinh. Hòa thượng đã nói về Vô thường, Vô ngã. Sau đó Bác đã thị tịch một cách bình thản. Bác đã vĩnh viễn ra đi ngày 07 tháng 3 năm Kỷ Dậu (tức ngày 23.4.1969) để lại những công trình lớn lao đối với Phật giáo Việt Nam và đối với nền giáo dục Thanh Thiếu Nhi.

IV. THAY PHẦN KẾT LUẬN Để thay phần kết luận, chúng ta hãy lắng lòng tỉnh tâm tưởng niệm Bác (tất cả yên lặng theo dõi hơi thở - Giảng viên đọc lại đoạn sau đây rất thong thả): Kính thưa Bác, chắc Bác đâu có ngờ rằng lời phát biểu về giáo dục Thanh thiếu niên vang dội từ chùa Từ Đàm năm, 1938, chúng con tiếp nhận như một di huấn thiêng liêng. Ngọn đèn tâm của Bác được thắp sáng và truyền tiếp cho ngọn đèn tâm của chúng con, mỗi lần đứng trước di ảnh của Bác, thành tâm đãnh lễ Tài liệu A Dục– trang 51


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bác, ngọn đèn tâm của chúng con lại bùng cháy lên, chúng con nguyện sẽ là những ngọn Vô tận đăng tiếp nối, cho dù phải tiếp tục đối đầu với bảo táp mưa sa, với những cơn gió lốc hải hùng của thời đại, xin Bác chứng minh.

B. Cư sĩ Chánh Trí MAI THỌ TRUYỀN Trong công cuộc chấn hưng Phật giáo, về phía cư sĩ, ở miền Trung có Bác Tâm Minh Lê Đình Thám là người tích cực tiên phong của phong trào, thì ở miền Nam, người có công lớn đối với phong trào cũng là vị sáng lập Hội Phật học Việt Nam, Bác Chánh Trí Mai Thọ Truyền. Là người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử chúng ta phải ghi nhớ công ơn vị sáng lập Gia Đình Phật Tử ở miền Trung và không thể quên công lao người đã đẩy mạnh tổ chức Gia Đình Phật Tử ở miền Nam.

I. THÂN THẾ Bác Mai Thọ Truyền sinh ngày 01.4.1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ Bác được theo học tại trường Sơ học Pháp Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho và Chasseloup Laubat Sài Gòn. Năm 1924, thi đậu Thư ký Hành chánh. Bác được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn.

II. SỰ NGHIỆP 1. Thế nghiệp Năm 1931, Bác thi đậu Tri huyện, Bác đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu Bác cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng nên được quý mến. Năm 1945 sau đảo chính Nhật, bác đang làm Quận trưởng Cầu Ngang, được mời về giữ chức Phó Tỉnh trưởng Tài liệu A Dục– trang 52


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

tỉnh Trà Vinh. Tháng 6 năm ấy. Chính quyền Trần Trọng Kim cử Bác làm Quận trưởng Thốt nốt (Long Xuyên). Sau cách mạng tháng 8, bác được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quận bộ Việt Minh Châu thành, Long xuyên, rồi Chánh văn phòng kiêm Ủy viên tài chánh Ủy ban Nhân dân Tỉnh Long Xuyên. Sau khi quân đội Pháp chiếm Long Xuyên, bác cùng Ủy ban dời về núi Sập rồi giải tán, nhường quyền chỉ huy kháng chiến cho quân sự, Bác lánh về vùng thôn quê ẩn náu. Chính phủ Nguyễn văn Thinh mời Bác làm quận trưởng rồi Phó Tỉnh trưởng Sa Đéc Trước cảnh quân đội Pháp bố ráp tàn sát dân chúng, bác can thiệp không được nên xin từ chức. Chính phủ không cho, Bác bèn cáo bệnh xin đi điều dưỡng. Giữa năm 1947, Bác xin đổi về Sài Gòn và lần lượt giữ các chức vụ sau đây: Chánh văn phòng Phủ Thủ tướng chính phủ Nguyễn văn Xuân (Hà Nội), Chánh văn phòng Bộ Kinh tế, Giám đốc hành chánh sự vụ Bộ Ngoại giao, Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ của Chính phủ Nguyễn Phan Long, Đổng lý văn phòng Phủ Thủ hiến Nam Việt và Phó Đổng lý văn phòng Phủ Thủ tướng chính phủ Bửu Lộc. Năm 1955 đổi qua ngành Thanh tra hành chánh và Tài chánh, đến năm 1960 thì về hưu. Sau ngày 01.11.1963, bác tham gia Hội đồng Nhân sĩ cách mạng. Năm 1968 bác giữ chức Quốc Vụ Khanh kiêm Viện trưởng viện giám sát, rồi Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa cho đến năm quy tịch. Với trách vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn hóa, bác đã làm được những việc có ích cho đương thời và hậu thế: Xây dựng Thư Viện Quốc Gia nay là Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp Thành phố, xúc tiến việc thành lập Văn Khố Quốc Gia và Nhà Văn Hóa, thành lập và đẩy mạnh hoạt động của Ủy Ban Điển Chế Văn Tự, lập Ủy Ban Dịch Thuật và Xuất Bản các sách Hán Nôm quý hiếm, thành lập Chi Nhánh Bảo Tồn Cổ Tích Huế. 2. Đạo nghiệp Trong những năm làm việc đó đây khắp lục tỉnh miền Tây, bác để tâm nghiên cứu tìm hiểu về Phật giáo, Nho giáo và các tư tưởng tôn giáo triết lý khác. Đến đâu bác cũng tham vấn các vị danh Nho nổi Tài liệu A Dục– trang 53


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

tiếng. Đến khi làm việc ở Sa Đéc, Bác đến tham vấn Hòa thượng Thích Hành Trụ (Lê Phước Bình) là giảng sư tại chùa Long An, chính nơi đây bác đã thực sự cảm phục ngưỡng mộ trước đức độ và trí tuệ của vị danh tăng nên cầu làm đệ tử của Ngài. Hòa thượng đặt pháp danh cho Bác là Chánh Trí. Từ đây, Bác dốc lòng đem khả năng và trình độ học thức của mình ra hộ trì chánh pháp. Đối với Phong trào chấn hưng Phật giáo, Bác là một kiện tướng trong hàng cư sĩ đã đóng góp công sức rất lớn. là một Phật tử thuần thành, bác ăn chay trường từ ngày thọ Tam quy, ngũ giới, làm Phật sự không biết mệt mỏi. Năm 1950 tại Sài Gòn Bác vận động thành lập Hội Phật Học Nam Việt. Ban đầu Hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, sau dời qua chùa Phước Hòa. Bác đã vận động và đứng ra xây dựng một ngôi chùa lịch sử: Chùa Xá Lợi, một ngôi phạm vũ huy hoàng tráng lệ nhất, tiêu biểu cho nét văn hóa mới Đông Tây hòa quyện, làm trụ sở của Hội Phật Học Nam Việt. Năm 1958 Hội chuyển về chùa Xá Lợi. Bác làm Tổng Thư ký của Hội khi mới thành lập. Sau đó được suy cử chức vụ Hội trưởng từ 1955 cho đến ngày bác mất. Hội đã mở các lớp Phật học phổ thông do chư Thượng Tọa Thiện Hoa, Quảng Minh diễn giảng. Bác cũng tham gia soạn và giảng một số bài cho học viên. Hằng tuần tại chùa Xá Lợi, bác còn tổ chức các thời thuyết pháp cho đại chúng do các vị Cao Tăng Đại đức trong nước hay ngoài nước đăng đàn. Có khi chính bác là giảng sư. Bên cạnh đó, Hội còn xuất bản tạp chí Từ Quang do bác làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tạp chí nầy suốt 24 năm liên tục (1951-1975) đã đóng góp không nhỏ cho công việc phổ biến giáo lý Phật đà ở Sài gòn và các tỉnh. Tạp chí đã được Chư Tăng Giáo Hội Tăng Già Nam Việt nâng đở và góp phần về phương diện biên tập. Chính bác là người viết thường xuyên trên Từ Quang. Với lối hành văn nhẹ nhàng, bóng bẩy và sâu sắc, với trình độ thâm hiểu nghĩa lý sâu xa của kinh điển, những bài Bác viết đã được độc giả hoan nghênh, tạo cơ duyên cho nhiều người đến với đạo Phật. Trong tạp chí nầy bác đã dùng nhiều trang dành riêng cho Gia Đình Phật Tử, gọi là “Trang Gia đình”. Để tăng động năng cho Phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Nam, năm 1952 Bác đã khởi xướng một Phật sự vô cùng quan trọng, Tài liệu A Dục– trang 54


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

sau đó đã gây được tiếng vang khắp toàn quốc. Đó là lễ rước Ngọc Xá Lợi tại Sài gòn vào ngày 13.9.1952 do Hội Phật Học Nam Việt tổ chức. Nhân khi phái đoàn Phật Giáo Tích Lan đi dự Đại hội Phật giáo thế giới kỳ II tại Tokyo, có mang theo một viên Ngọc Xá Lợi để tặng quốc gia Nhật bản. Trên đường đi phái đoàn quá cảnh cảng Sài Gòn 24 tiếng đồng hồ. Cuộc rước Ngọc Xá Lợi được đông đảo Tăng Ni Phật tử và đồng bào thành phố và các tỉnh lân cận tham dự để chiêm bái Xá Lợi Phật đầu tiên đến Việt Nam. Năm 1959 bác được cử làm Tổng Thư ký Ban Quản trị Tổng Hội Phật giáo Việt nam (nhiệm kỳ đầu tiên). Năm 1961 Bác được cử thành viên trong phái đoàn đại diện Phật giáo Việt Nam, dự Đại hội Phật giáo Quốc tế lần thứ 6 tại Nam vang (Campuchia). Trong Đại hội nầy Bác đắc cử Phó chủ tịch Hội Phật giáo thế giới. Trong bài phúc trình Phật sự của phái đoàn Tổng hội Phật giáo Việt nam. Bác Chánh Trí Mai Thọ Truyền đã giới thiệu cho Phật giáo thế giới biết về Tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt nam (nhưng Bác chưa dùng danh từ Gia Đình Phật Tử vì sợ thế giới không hiểu được qua danh từ đó). Bác nói: “Về phần tuổi trẻ từ 6 tuổi đến 20 chúng tôi quy tụ trong một phong trào thanh niên phật tử… các cháu được hưởng một nền đức dục phù hợp với tuổi tác và khả năng các cháu. Tham ý chúng tôi biến cải thành những người kế chí chúng tôi trong công cuộc chấn hưng mà chúng tôi đã phát khởi và theo đuổi không biết mệt từ 1924 cho đến nay”. Trong giai đoạn Phật giáo bị đàn áp năm 1963 bác giữ nhiệm vụ Tổng thư ký Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo đòi hỏi chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi bình đẳng tôn giáo, Bác và Hội Phật Học Nam Việt đồng ý để Ủy ban đặt trụ sở Trung ương tại chùa Xá Lợi. Dù chính quyền đã cho quân đội và cảnh sát đánh phá, phong tỏa các chùa, bắt bớ Tăng Ni và Phật tử nhưng cuộc vận động bất bạo động rất kiên cường của Phật giáo đồ chống chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo vẫn tiếp tục. Máu của Tăng Ni Phật tử đã đổ quá nhiều. Năm 1964, Bác tham gia soạn thảo Hiến chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và được bầu làm Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Tài liệu A Dục– trang 55


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Nhưng một tháng sau bác từ nhiệm để quay về hoạt động cho Hội Phật Học Nam Việt trong cương vị Hội Trưởng. Khi Viện Đại Học Vạn Hạnh được thành lập tạm đặt tại chùa Xá Lợi trong khi chờ xây xong cơ sở, bác nhận làm giáo sư cho Viện, bác còn giữ chức Phụ tá Viện trưởng đặc trách Hành chánh và tài chánh, kiêm Tổng thư ký niên khóa 1967 - 1968. Trong thời gian làm Chánh Hội trưởng Hội Phật Học Nam Việt, bác đã ra công đẩy mạnh phong trào Gia Đình Phật Tử. Với tư cách Chánh Hội trưởng bác đã hổ trợ hết mình và tạo mọi điều kiện cho sự phát triển Gia Đình Phật Tử ở Nam Việt. Đến đâu bác cũng tuyên bố: “Việc đào luyện thế hệ trẻ là Phật sự quan trọng không thể thiếu”. Cánh tay phải của bác trong việc xây dựng Gia Đình Phật Tử là anh Tống Hồ Cầm. Ngoài những Phật sự nói trên, bác còn để tâm nghiên cứu kinh điển giáo lý. Với sự uyên thâm giáo lý Phật đà bác đã dành nhiều thời gian dịch và trước tác các tác phẩm có giá trị về Phật học như sau: Tâm và tánh (do nhà Xuất bản Đuốc Tuệ Hà Nội ấn hành 1950) Lưọc sử Phật giáo Việt nam (1958) (Soạn chung với Minh Tuấn) Ý nghĩa Niết bàn (1962) Một đời sống vị tha (1962) Do Hội Phật Học Tâm kinh Việt giải (1962) Nam Việt ấn hành Le Boudhisme au Viet nam (1962)(1) Pháp Hoa Huyền Nghĩa (1964) Địa tạng mật nghĩa (1965) Tài liệu A Dục– trang 56


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Ngoài ra, bác còn một số tác phẩm chưa xuất bản như: Truyền Tam Pháp Yếu, Tây Du Ký, Hư Vân Lão Hòa Thượng, Kinh Vô Lương Thọ, Kinh Quán Vô Luợng Thọ, Mười lăm ngày ở Nhật, Vòng quanh thế giới Phật Giáo, Đạo Đời, Khảo cứu về Tịnh Độ Tông, Mật Tông và một tác phẩm đang viết dở là kinh Lăng Nghiêm (Một số các tác phẩm nầy có lần lượt đăng tải trong tạp chí Từ Quang). Ngày 15.04.1973, Bác còn cùng các đại biểu các tỉnh của Hội Phật Học Nam Việt họp Đại hội tại chùa Xá Lợi, rồi chia tay vào lúc 23 giờ. Thế mà sáng 17.4.1973 nghĩa là khoảng 33 giờ sau tức rằm tháng ba năm Quý Sửu, vào lúc 08 giờ 15, Bác nằm ngay thẳng thoải mái, từ giả cõi trần rất nhẹ nhàng, thanh thản. Bác hưởng thọ 69 tuổi.

III. KẾT LUẬN Bác Chánh Trí đã cống hiến trọn đời mình cho việc phụng sự Phật pháp. Bác là một người cư sĩ mẫu mực uyên thâm giáo lý, tận tụy với đạo dù đang có địa vị cao ở quan trường. Bác là một điển hình cho sự tích cực của hàng cư sĩ lợi đạo ích đời theo tinh thần đạo Phật, cũng là điểm sáng chói ở miền Nam trong phong trào chấn hưng và thống nhất Phật giáo, góp phần lớn trong sự nghiệp truyền bá tri thức Phật học, nhất là phát triển hệ thống Phật học cư sĩ do bác sáng lập ra. Ngoài ra bác cũng là người đẩy mạnh và phát huy phong trào Gia Đình Phật Tử ở miền Nam. Giờ đây, trước khi kết thúc bài nầy chúng ta dành ba phút lắng lòng để tưởng niệm công đức cao cả của bác. Chú thích: (1) Tập sách nầy Bác viết vào tháng 3 năm 1956 bằng Pháp văn cho Ban tổ chức lễ kỷ niệm 2.500 đức Phật Nhập Niết Bàn ở Colombo, theo lời yêu cầu của chính phủ Tích lan. Sau đó được dịch sang tiếng Anh, đăng tải trong tập kỷ yếu của cuộc lễ. Tổng hội Phật giáo Việt nam đã in thành sách và phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi dự Đại hội Phật giáo thế giới lần thứ tư tại Népal tặng phái đoàn các nước. Năm 1958 bác cùng đạo hữu Minh Tuấn soạn thêm phần thứ hai và Đạo hữu Minh Tuấn dịch ra Việt văn (rất tiếc phần II nầy chỉ nói đến nhiều về hoạt động của Hội Phật Học Nam Việt chứ chưa nói hết các thành tích của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam). Tài liệu A Dục– trang 57


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

PHẦN 2:

PHẬT PHÁP

Tài liệu A Dục– trang 58


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 1: TỨ NHIẾP PHÁP VỚI ĐOÀN TRƯỞNG (Học dưới hình thức hội thảo) A. VÀO VẤN ĐỀ (Giảng viên là chủ trì buổi hội thảo) Trong chương trình bậc Trì chúng ta đã có dịp tìm hiểu về “Tứ Nhiếp Pháp”. Trong phạm vi bài nầy, chúng ta không dành nhiều thì giờ để phân tích từng phương pháp và bàn vấn đề ứng dụng chung chung nữa mà chúng ta đi ngay vào thực tế: Các anh, chị đã từng áp dụng với tha nhân như thế nào? Cụ thể nhất là đối với đoàn sinh của anh chị. Có những kết quả như thế nào? Có những gì khó khăn không vận dụng được? B. ĐI VÀO THẢO LUẬN: Cho các Huynh Trưởng trại sinh nhắc lại định nghĩa của Tứ Nhiếp Pháp và nội dung từng pháp. Chủ trì đúc kết lại và khắc sâu (tóm tắt): Tứ Nhiếp Pháp là bốn phương pháp nhiếp hóa chúng sanh. Cảm hóa những người chưa tốt trở thành tốt. Đưa những người chưa hay biết giáo pháp để trở về với chánh pháp. Gồm có: Bố thí nhiếp, ái ngữ nhiếp, lợi hành nhiếp và đồng sự nhiếp. 1. Bố thí nhiếp: có ba là tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí tức đem tiền của tài sản, sức lực… giúp đở kẻ khác. Bố thí những thứ thuộc sở hữu của mình nhưng không nằm trong tài sản, như: sức lực, trí óc và cả máu của chúng ta nữa cũng là tài thí. Ví dụ: Chúng ta không có tiền giúp một gia đình vừa bị bão lụt, nhưng có thể đem công sức của mình giúp đở người ấy dựng lại căn nhà. Ta không thể giúp người bạn trong cơn túng quẩn nhưng ta có thể dùng trí óc nghĩ ra kế hoạch giúp bạn làm ăn. Một bệnh nhân cận Tài liệu A Dục– trang 59


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

tử nhất sanh cần chuyền thêm máu, ta có thể cho ngay máu của mình để cứu sống bệnh nhân. Pháp thí: Dùng giáo lý giảng giải cho người khác hiểu để họ biết dựa vào giáo lý tu tập giải thoát. Vô úy thí: Tức giúp đở con ngưòi trong cơn sợ hãi trở lại bình tĩnh, không còn khiếp đãm nữa (nêu lại những ví dụ trong bài Tứ Nhiếp Pháp ở bậc Trì). 2. Ái ngữ nhiếp: Dùng lời lẽ dịu dàng hòa ái để khuyên răn nhiếp hóa. 3. Lợi hành nhiếp: Giúp người khác những ý kiến, kế hoạch để có nhiều lợi lạc trong việc làm của họ (Kế hoạch xây dựng một xí nghiệp, kỹ thuật trồng mía…) 4. Đồng sự nhiếp: Cùng làm một công việc, ở cùng trong một hoàn cảnh để nhiếp hóa (phương pháp nầy có hiệu quả cao nhất). Các anh chị đã thực hiện với đoàn sinh của mình như thế nào? Về bốn phương pháp nhiếp hóa ấy (mỗi Huynh Trưởng trại sinh nêu kinh nghiệm thực tế của mình để tất cả cùng học tập). Cuối cùng chủ trì dựa vào những thực tế Huynh Trưởng trại sinh đã nêu để phân tích cho tất cả nhận thấy: Muốn thực hiện Tứ Nhiếp Pháp với đoàn sinh của mình, người Đoàn trưởng cần phải ra công tìm hiểu hoàn cảnh một cách cặn kẻ. Tìm hiểu cả công việc làm ăn sinh sống của phụ huynh đoàn sinh và cần nhất là tâm tính của từng đoàn sinh mình. Có hiểu thấu đáo những điều ấy chúng ta mới có thể áp dụng một cách phù hợp Tứ Nhiếp Pháp. Nếu ngược lại thì nhiều khi thành “lố bịch”. Ví dụ: Phụ huynh em A trồng mía rất có kỹ thuật, nhưng vụ mùa vừa qua chỉ vì không đủ tiền để bón phân đúng liều lượng cho nên thu hoạch kém, thế mà ta lại “ba hoa” bày vẻ về kỹ thuật cho bác ấy thì có phải là “lố bịch” không? Tài liệu A Dục– trang 60


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Vì vụ mùa thất thu nên năm nay mức sống gia đình sút giảm, em A do đó việc học hành cũng sút kém. Nếu anh Đoàn trưởng hiểu rõ việc nầy, tìm cách hổ trợ cho em A về vật chất để em có phương tiện học tập, có phải tốt hơn không? Nếu giúp đở em A đúng cách sẽ gây được thiện cảm và tin tưởng, không phải chỉ riêng em A mà cả phụ huynh của em và chắc chắn phụ huynh sẽ hiểu về Gia Đình Phật Tử nhiều hơn. Lâu nay phụ huynh em A chưa nhiệt tình lắm trong việc cho em A đi sinh hoạt Gia Đình Phật Tử. Một đoàn sinh hay nói dối, anh Đoàn trưởng đã nhiều lần giảng giải cho em về giới nói dối (em nầy là đoàn sinh mới chưa quy y) trình bày những tác hại của nói dối nhưng chẳng có kết quả gì. Về sau mới khám phá ra: Cha mẹ em nầy lâu nay làm ăn sa sút nhưng muốn giữ vẻ hào nhoáng ở hình thức để dễ vay vốn xoay xở phương kế khác vì vậy mà em đoàn sinh ấy cũng ảnh hưởng theo. Đi học mỗi ngày em mặc một sắc áo, khoe với bạn bè là áo mới ba má may, nhưng thật ra em mượn áo của các bạn thân của em, khi mượn của người nầy, khi mượn của người khác. Nói dối cả với anh Đoàn trưởng, khi anh hỏi thăm về cha mẹ của em. Em bảo là ba bận đi Sài gòn nhận một công trình lớn về v.v và v. v… Pháp thí trong trường hợp nầy có lợi gì đâu! Đấy, chúng ta thấy rõ: muốn thực hiện tốt Tứ Nhiếp Pháp đối với đoàn sinh, người Đoàn trưởng cần phải theo dõi điều nghiên chính xác về hoàn cảnh, tính tình của đoàn sinh. Tìm rõ những nguyên nhân đưa đến tính xấu của đoàn sinh để ứng dụng Tứ Nhiếp Pháp phù hợp từng đối tượng mới có kết quả, chứ không thể áp dụng một cách máy móc. Trong trường hợp đặc biệt, dùng hết phương cách mà không cảm hóa đuợc một em đoàn sinh. Người Đoàn trưởng có thể áp dụng phương pháp “Đồng sự nhiếp”. Ví dụ: Một em đoàn sinh rượu chè say sưa, đã khuyên giải nhiều lần nhưng không sủa đổi được, anh Đoàn trưởng có thể cùng đi chơi với em, rồi cùng uống rượu với em, đến lúc em say, vẫn vui vẻ dìu em về nhà cha mẹ em và lo tìm cách giải say. Đến lúc em tỉnh mới chuyện Tài liệu A Dục– trang 61


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

trò tâm tình với em cùng phụ huynh, chỉ cho em thấy khi say ngã nghiêng, mữa ói mất cả tư cách, phẩm giá con người. Khi say trí tuệ không còn minh mẫn, nói xàm, nói bậy. Uống rượu đã tốn tiền, hại sức khỏe, mất tư cách phẩm giá, bị mọi người khinh rẻ, rõ quá ngu dại và còn biết bao nhiêu tai hại khác. (Lúc nầy mới dùng pháp thí) nêu lên những tai hại của uống rượu như đức Phật đã dạy. Nhưng áp dụng phương pháp nầy người Đoàn trưởng phải có bản lãnh và vận dụng một cách tự nhiên nếu lúng túng sẽ nhận ra vẻ “đóng kịch” thì cũng hóa ra thành lố bịch. C. KẾTLUẬN Thực hiện Tứ Nhiếp Pháp là thực hiện tinh thần lợi tha của người Phật tử. Đối với người Đoàn trưởng trước hết chúng ta phải biết nhiếp phục đoàn sinh của mình. Những đoàn sinh của mình mà không nhiếp phục được thì còn nói gì nhiếp phục người khác. Nhưng điều nghiên kỹ để áp dụng thế nào cho thích hợp: và áp dụng phương pháp nào thì cũng phải dùng kèm với “ái ngữ nhiếp”. o0o

Bài 2: TỨ NHƯ Ý TÚC VÀ TỨ CHÁNH CẦN Giới - Định - Tuệ là ba môn học liên quan mật thiết với nhau và nếu thực hành rốt ráo sẽ đi đến chỗ đoạn tận lậu hoặc, chứng đắc chánh trí đạt đến Niết bàn an lạc. Trong bậc Kiên chúng ta đã rõ giá trị về GIỚI khi học bài “Ngũ giới” và chúng ta cũng thấy được ngõ vào Thiền định sơ đẳng nhất là “Sổ tức, Niệm Phật”. Chúng ta cũng đã từng thực tập pháp môn đầu tiên cơ bản ấy. Hôm nay chúng ta được thấy thêm một ngõ vào Thiền định nữa, đó là “Tứ Như Ý Túc”. Nhưng từ lâu con đường đi vào ngõ ấy chúng ta không hề sử dụng nên cây cối, gai góc mọc đầy phủ kín cả lối đi, chúng ta cần phải nổ lực ra công phát dọn, con đường ấy mới lộ ra. Sự nổ lực tinh cần ấy chính là “Tứ Chánh Cần”.

Tài liệu A Dục– trang 62


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

I. TỨ NHƯ Ý TÚC: 1. Thế nào là Tứ Như Ý Túc: Từ Pali là “Iddhi” có nghĩa “như ý”, tức là đúng như ý muốn của mình. Tứ Như Ý là 4 lãnh vực giúp chúng ta thành tựu Định như ý muốn. Hay nói cách khác là 4 pháp làm nơi nương tựa cho công phu Thiền định của mình. Khi thành tựu Thiền định nhờ nương tựa vào 4 pháp ấy gọi là “Túc”, tức là “Tứ Nhứ Ý Túc”. Bốn Như Ý Túc là: 1. Dục như ý túc 2. Tinh tấn như ý túc 3. Nhất tâm như ý túc 4. Tư duy như ý túc (cũng có tài liệu viết là Quán như ý túc). 1. Dục Như Ý Túc Mong muốn thiết tha, cho kỳ được (đạt Định) và tới thành tựu viên mãn thì gọi là Dục Như Ý Túc. Chúng ta cũng cần nói rõ thêm ở đây, giáo lý Phật đà dạy ta ly dục (lòng mong muốn), có ly dục mới vào Sơ thiền, nhưng ở đây nương tựa dục mà vào Thiền định thì có mâu thuẩn không? Ly dục là rời khỏi sự ham muốn ngũ dục (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc) là những thứ ngăn che Thiền định. Dục định cũng là lòng ham muốn nhưng ham muốn, khát khao loại bỏ mọi thứ ngăn che Thiền định. 2. Tinh Tấn Như Ý Túc Tinh cần, khắc phục mọi khó khăn, mọi gian khổ, dũng mãnh tu tập Thiền định và đến khi thành tựu viên mãn thì gọi là Tinh Tấn Như Ý Túc. 3. Nhất Tâm Như Ý Túc Chúng ta chuyên trì, nhất tâm tập trung vào việc tu tập Thiền định và đến khi thành tựu viên mãn thì gọi là Nhất Tâm Như Ý Túc. 4. Tư Duy Như Ý Túc Tài liệu A Dục– trang 63


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Chúng ta tập trung tư duy vào việc tu Thiền định và nhờ vậy mà đi đến thành tựu viên mãn Thiền định gọi là Tư Duy Như Ý Túc. Phần nầy, cũng có tài liệu viết là “Quán Như ý Túc”. Quán cao hơn tư duy. Tư duy là còn trong vòng ý niệm, quán là vượt ra khỏi ý niệm, bằng trực giác mà nhận biết phải nhìn sâu vào sự việc, nhìn sâu vào hiện tượng (nhìn bằng Tâm chứ không phải nhìn bằng mắt mà thấy được) mới trực nhận được. Tứ Như Ý Túc là bốn động lực đưa chúng ta đến thành tựu Thiền Định (còn Thiền định như thế nào, chúng ta sẽ thấy rõ trong bài “Kinh An Ban Thủ Ý” và bài “Tứ Niệm Xứ”). Trong “Tương Ưng bộ kinh V” cũng có ghi đoạn A nan giải thích cho Unnatha: “Do trước có lòng dục thúc đẩy ông đến đây . . . Do trước có tinh tấn thúc đẩy ông đến đây . . . . Do trước có nhất tâm đưa đẩy ông đến đây . . . . Do trước có tư duy đưa đẩy ông đến đây . . . . Sau khi đến đây rồi ông được tịnh chỉ. Cũng vây, khi đạt đến quả vị A la hán thì lòng dục, tinh tấn, tâm, tư duy được tịnh chỉ”. Chúng ta nêu một ví dụ thực tế, thô thiển để minh họa cho điều đó: “Một học sinh lập chí, thành tựu bác sĩ thì trước hết phải có lòng mong muốn thiết tha, chứ không phải “gặp đâu hay đấy”, anh phải quyết tâm thì lần nầy chưa đổ thì lần khác chứ không thi vào ngành nào khác nữa (Dục Như Ý). Muốn được như vậy, anh phải nổ lực siêng năng học tập, vượt mọi khó khăn, có đói khổ cũng ráng hết sức mình (Tinh Tấn Như Ý). Không những thế, anh phải để hết tâm vào việc học tập, không để tâm vào bất cứ một việc nào khác nữa (Nhất Tâm Như Ý). Mọi suy tư của anh cũng chỉ suy tư vào việc học, vào ngành học của anh mà thôi (suy tư như ý) nhờ vậy sau mấy năm học tập anh đã thành tựu ý muốn đạt Y khoa Bác sĩ. Như vậy lòng mong muốn của anh chính là “Dục Như ý Túc”, sự tinh tấn vượt khó của anh chính là “Tinh Tấn Như Ý Túc”. Việc nhất tâm của anh lâu nay là “Nhất Tâm Như Ý Túc”, việc suy tư lâu nay của anh là “Tư Duy Như Ý Túc”. Tài liệu A Dục– trang 64


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Đây là ví dụ minh họa cho dễ nhận ra chứ 4 phép như ý túc không phải tầm thường như vậy (thành tựu Bác sĩ ở đây là ví với thành tựu Thiền định của người tu hành). 2. Hiệu quả của tu tập Tứ Như ý Túc: Nhờ 4 pháp như ý túc nầy sẽ giúp ta thành tựu chánh định nên cũng gọi là “Tứ Định Pháp”. Xem đây là 4 nấc thang. Do tâm hằng mong muốn (dục) cho nên sự tu tập tinh tấn, nhờ tinh tấn phiền não tiêu tan (tinh tấn), nhờ đó tâm được chuyên nhất (nhất tâm), nhờ nhất tâm mà tập trung tư duy và quán trí được thanh tịnh thấu suốt (tư duy hay quán), nhờ vậy mà phá tan cội gốc vô minh. Khi vô minh tan thì nghiệp chướng tiêu trừ, khi nghiệp chướng đã tiêu trừ, trí tuệ phát chiếu dần dần đến Bát nhã trí, vô ngại tự tại. Khi đã vô ngại tự tại thì hẳn nhiên có được vô biên thần dụng, dễ dàng hiện thân cứu khổ quần sanh. Trong “Tương Ưng Bộ Kinh V” cũng có nói rõ về việc tu tập Tứ Như ý Túc sẽ dẫn đến một số kết quả đặc biệt: “… Vị Tỳ kheo chứng được nhiều loại thần thông như một thân hiện ra nhiều thân v.v. . . . Có thể chứng Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Thiên nhãn thông, Túc mệnh thông và Lậu tận thông. Tu tập nhiều lần thật nhuần nhuyễn (lão luyện) sung mãn, bền bĩ, thiện xảo thì nếu muốn có thể sống đến một kiếp. Do tu tập sung mãn Tứ Như Ý Túc, Như Lai được gọi là bậc Chánh Đẳng, Chánh Giác. II. TỨ CHÁNH CẦN: Như đoạn mở đầu, bây giờ là lúc phải nổ lực phát dọn cây cối, gai gốc, cỏ dại để tìm lại lối đi. Đó là Tứ Chánh Cần. Cũng như ở ví dụ trên anh học sinh kia, không phải đợi đến lên đại học mới siêng năng, tinh cần học tập được, mà ngay khi ở ghế phổ thông anh phải tập tánh siêng năng nầy, nếu đã quen tính biếng nhác từ trước, thành tập quán thì không dễ gì mà đến đại học có thể siêng năng được. Cũng vậy chúng ta phải luyện Tứ Chánh Cần hằng ngày. Tài liệu A Dục– trang 65


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Thế nào là Tứ Chánh Cần: Tứ Chánh Cần là 4 sự nổ lực tinh cần trong việc tu tập. Đây là chi phần “Chánh tinh tấn” trong “Bát Chánh Đạo” cho nên “Chánh cần” cũng đồng nghĩa với “Tinh tấn”. Tức là phải nổ lực siêng năng vượt mọi khó khăn, vượt mọi trở lực hợp với chánh pháp. Bốn sự nổ lực ấy là: - Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh - Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sinh - Tinh tấn phát khởi những điều lành chưa phát sanh - Tinh tấn tăng trưởng những điều lành đã phát sinh a) Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh: Ở đây chúng ta phải xác định rõ điều ác, điều lành theo quan điểm Phật giáo chứ không phải ác lành theo quan niệm ngoài đời. Ví dụ: Theo quan niệm thế gian: Cha mẹ về già nên phụng dưỡng cha mẹ hết sức mình theo ý thích của cha mẹ, cha mẹ muốn gì con phải thỏa mãn nấy, thích ăn thịt gà hằng ngày, con phải giết gà làm thịt để dâng, thích uống rượu ngon, con phải mua các thứ rượu ngoại nhập thượng hạng cho cha mẹ dùng, thích giải trí bằng cờ bạc, con cũng phải chiều ý. Nếu người con thực hiện được như vậy thì được gọi là con ngoan, con chí hiếu, là làm việc lành nhưng với đạo Phật thì không thế. Bất cứ việc gì có thể tổn hại cho mình, cho người (nói chung là cho chúng sanh khác) ở hiện tại, cũng như ở tương lai thì đều là ác. Ngược lại bất cứ việc gì xét thấy lợi mình, lợi người (nói rộng là chúng sanh) ở hiện tại cũng như ở tương lai thì đều là thiện (lành). Vậy việc báo hiếu phụng dưỡng cha mẹ như ví dụ trên xét kỷ, theo quan niệm đạo Phật không phải là “lành” mà là “ác”. Không đợi thể hiện ra hành động mà ngay trong ý nghĩ hay trong lời nói (một lời nói làm người khác tức giận, một lời nói làm người khác đau khổ cũng là “ác” rồi). Vậy tâm mình chưa mống lên những điều ác thì phải cố gắng hết sức, nổ lực hết sức (tinh tấn) để giữ cho cái tâm không mống lên điều ác ấy.

Tài liệu A Dục– trang 66


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Ví dụ: Có bạn thân mời ta đi săn đánh chén, chúng ta phải giữ vững tâm mình đừng để mống lên sự ham thích săn bắn, đánh chén ấy (khó lắm đấy chạm trán thực tế sẽ thấy không dễ dàng gì kềm chế tâm đâu), nên phải nổ lức tinh tấn mới được. Khi thấy một chiếc nhẫn đẹp quá, quý giá của một người đi trước mình đánh rơi, ta không khởi tâm ham thích, ta không khởi tâm nhặt lấy làm của mình. Tốt lắm, ta quyết giữ tâm trong sạch ấy, chúng ta nhận rõ trong tâm mình điều ác chưa phát khởi, đừng để bị cám dỗ bởi chiếc nhẫn quý giá kia. b) Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sinh: Khi chúng ta chưa hiểu Phật pháp chúng ta đã làm những điều ác (điều ác đã phát sinh) bây giờ ta đã rõ, quyết tâm, nổ lực dứt trừ điều ác đã phát sinh. Ví dụ: Lâu nay ta làm nghề nấu rượu, bây giờ chính ta mới biết chính ta đã làm nhiều người say sưa, mất giống trí tuệ, ta phải nổ lực dứt trừ nghề nầy, chuyển một nghề hiền thiện khác. Dĩ nhiên lâu nay là nghề sinh sống của gia đình mình, bây giờ bỏ đi thì đâu có dễ, tìm ra một nghề thích hợp khác cũng đâu phải muốn là có ngay, cho nên phải nổ lực lắm, phải dũng mãnh lắm mới giải quyết được. c) Tinh tấn phát khởi những điều lành chưa phát sanh: Có những lúc thoáng hiện trong trí ta một điều lành (thiện) nhưng rồi bận công việc làm ăn hằng ngày, ta xao lãng mất, rồi điều ấy rơi vào quên lãng. Vậy, khi xuất hiện một ý niệm thiện (mới thoáng qua trong ý niệm, chưa phát sinh) ta phải làm sao để phát sinh thành hành động, dù có trở lực nào đi nữa cũng phải vượt qua. Ví dụ: Khi nghe đồng bào miền Tây bị lũ lụt keó dài ngày, thiếu ăn khốn khổ, ta chạnh lòng thương, vậy phải làm gì để thể hiện lòng thương nầy chứ không chỉ biết thương xót vậy thôi. Ta phải đem tiền của, phẩm vật cứu giúp, phải vui vẻ, phấn khởi trong việc đó. Nếu không có khả năng, chúng ta đứng ra kêu gọi quyên góp trong thân hữu v.v…

Tài liệu A Dục– trang 67


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Nhiều khi chúng ta muốn nói lời hòa nhã làm vui thân hữu của mình nhưng khi cơn nóng giận nổi lên ta không còn giữ hòa khí được nữa, phải phấn đấu lắm, khắc phục lắm chứ đâu có dễ dàng gì! d) Tinh tấn tăng trưởng những điều lành đã phát sinh: Khi một điều lành (thiện) đã phát sinh ra hành động, ta đừng nghĩ rằng ta đã làm được một việc lành (việc thiện) mà phải nghĩ rằng “chưa có thấm vào đâu”, ta phải làm nhiều việc lành hơn nữa, ta phải làm các việc lành lớn hơn nữa. Ví dụ: Không những chúng ta không sát sinh, mà chúng ta phải tăng trưởng hơn nữa phóng sanh. Ta không chỉ giữ 5 giới mà phải phát triển dần, thực hành Thập Thiện. Rèn luyện được Tứ Chánh Cần nầy chúng ta mới có đủ năng lực, Tinh tấn trên đường tu tập, chúng ta mới có đủ năng lực vượt qua những khó khăn gian khổ. Và nếu không nhuần nhuyễn Tú Chánh cần nầy thì khó lòng mà có được “Tinh tấn Như Ý Túc”. Nếu không “Tinh Tấn Như Ý Túc” được thì có “Dục Như Ý Túc” thì lòng mong muốn khát khao ấy cũng mai một mà thôi. Khi đã mất đi “Dục Như Ý Túc” thì làm gì có “Nhất Tâm Như Ý Túc” và “Tư Duy Như Ý Túc”. Thực hành “Tứ Chánh Cần” là dọn đường cho “Tứ Như Ý Túc” là thế. III. NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG VỚI VẤN ĐỀ TU TẬP NHƯ Ý TÚC: 1. Xác định mục đích tu tập: Những hiệu quả của bốn pháp Tứ Như ý Túc đã được trình bày ở trên. Nhưng người Huynh Trưởng thực hành Tứ Như Ý Túc không phải cốt để có thần thông, không phải cốt để sống lâu mà cốt để đạt đến Chánh Định. Có trí huệ Bát nhã, hoàn toàn an lạc giải thoát. Nhưng mỗi khi đã đi đến viên mãn thỉ hẳn nhiên những phép thần thông thần lực sẽ thành tựu chứ không cần phải “cầu”. 2. Tu Tập Tứ Như Ý Túc: Tài liệu A Dục– trang 68


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Vậy người Huynh Trưởng phải nuôi niềm khát vọng, quyết đạt được Chánh Định, phải nổ lực tinh tấn vượt mọi khó khăn trên bước đường tu tập Thiền định của mình, phải nhất tâm vào việc tu Thiền định, không để tâm phân tán qua những vấn đề khác và tập trung tư duy vào vấn đề Thiền Định, không xao lãng… Nhưng phải biết dọn đường cho việc tu tập, đó là thực hành Tứ Chánh cần trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Ngõ vào thiền Định đã mở. Ngày xưa đức Như Lai cũng bằng Thiền Định chứng ngộ được chân lý, nhìn rõ được con đường dứt trừ khổ đau đạt đến giải thoát tự tại. Ngài đã truyền lại cho ta phương pháp ấy. Vậy người Huynh Trưởng chúng ta phải nhận rõ và chuyên tâm hành trì. Dĩ nhiên không phải một sớm một chiều mà thành tựu, viên mãn, nhưng có một điều chắc chắn là nếu thực tập Thiền định chúng ta có ngay những phút giây an lạc trong hiện tại. Chúng ta cần nắm vững Tứ Như Ý Túc để nương vào đó mà thực tập. Mặt khác chúng ta đừng quên, hằng ngày phải thực tập Tứ Chánh Cần để tạo được năng lực mà tiến tu. o0o

Bài 3: ĐỨC PHẬT THÍCH CA VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC I. DẪN NHẬP: Ngày nay “giáo dục” được các nhà khoa học nghiên cứu tường tận và xác định là một hiện tượng xã hội. Đó là hiện tượng truyền thụ kinh nghiệm của người đi trước cho người đi sau, trong các lĩnh vực lao động sãn xuất, học tập, sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội. Từ đó giúp cho thế hệ trẻ tiếp thu kiến thức, điều chỉnh hành vi của mình để hoàn thành nhân cách. Giáo dục là một chức năng đặc trưng của xã hội loài người, là một loại hoạt động ý thức, có mục đích của con người. Như vậy, giáo dục có tính cách lịch sử, khi lịch sử thay đổi thì giáo dục cũng thay đổi, phát triển theo với tiến hóa của xã hội. Tài liệu A Dục– trang 69


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Những thời đại cổ xưa, giáo dục chỉ có dưới hình thức truyền thụ kinh nghiệm trong các bộ lạc rồi dần dần có tính cách giáo dục trong gia đình, chưa đặt thành vấn đề rèn luyện tuổi trẻ. Xã hội ngày càng văn minh, vấn đề giáo dục tập thể thanh thiếu niên mới được đặt ra và từ đó hình thành lớp học, trường học. Ban đầu, khi chế độ phong kiến bắt đầu hình thành sự giáo dục cũng bắt đầu có mặt trong hoàng cung, để dạy dỗ các con của những vị vua chúa, các vị quyền uy trong triều đình. Việc giáo dục cũng khác nhau, tùy theo quan niệm của mỗi xã hội, mỗi quốc gia, mỗi chế độ. Buổi ban đầu của nền giáo dục, các nhà giáo dục cũng chỉ thực hiện việc giáo dục một cách tùy tiện theo kinh nghiệm sơ sài của mỗi cá nhân, rồi dần dà mò mẫn các nguyên tắc, các phương pháp giáo dục. Vào khoảng thế kỷ thứ V (trước Tây Lịch) các nước chịu ảnh hưởng Trung Hoa đã tôn xưng Khổng Tử là “Vạn thế sư biểu”. Ngài đã hệ thống hóa vấn đề giáo dục và biên soạn những bộ sách mẫu mực để giảng dạy (tứ thư, ngũ kinh). Việc giáo dục theo quan điểm Khổng Tử có tính cách áp đặt, từ chương. Mãi đến thế kỷ thứ 16, 17 trở về sau, ở Tây phương mới có những nhà giáo dục nổi tiếng. Đầu tiên có thể kể: J.A Komensky (Tiệp Khắc) rồi đến J.J Rouseau (Pháp) J.H Pestalozzi (Thụy Sĩ), A. Disterveg (Đức), A.X Macarenco (Nga) và sau nầy Baden Powel (Anh) (Sáng lập Hướng Đạo thế giới) được xem là nhà giáo dục thực tiển. Gần đây, quan điểm của V.A Xukhomlinxki được xem là quan điểm mới mẻ nhất và phù hợp với nền giáo dục mới: “Khi nào giáo dục là tự giáo dục, thì mới là giáo dục chân chính. Và tự giáo dục là nhân phẩm con người trong hành động, đó là dòng thác mãnh liệt làm chuyển động bánh xe nhân phẩm con người”. Thật ra cách đây 2.600 năm, quan điểm nầy đã có, lúc nầy đức Phật thường nhắc nhở các đệ tử của Ngài: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi” và “mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, chỉ vì vô minh che lấp, như tấm gương bị ám khói, bị bụi bám vào dày dặc nên không còn thấy được cái trong suốt của tấm gương, phải tự mình ra công lau chùi nó”. Đức Phật cũng thường nói: “Chúng sanh là Phật sẽ thành”. Khi nhận ra điều nầy thì rõ là Tài liệu A Dục– trang 70


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

quan điểm của Xukhomlixki vẫn còn quá hời hợt. Dựa vào đâu để tự giáo dục? Và do đâu ta có thể tin tưởng ở khả năng tự giáo dục của mình? Những nguyên tắc mới của nền giáo dục hôm nay như: phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, vừa sức, thông qua hoạt động thực tiển, phát huy mặt tích cực, hạn chế các thói hư tật xấu, phát huy tính tự giác chủ động sáng tạo của đối tượng được giáo dục và những phương pháp chính của giáo dục hiện nay như: Giảng giải, thuyết trình, trực quan, thực hành v.v… không còn là mới mẻ, khi chúng ta tìm hiểu được phương thức giáo dục của đức Phật cách đây đã gần 26 thế kỷ.(sẽ học kỹ bài nầy ở chương trình bậc Lực năm thứ nhất). II. ĐỨC PHẬT VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC Đức Phật lúc nào cũng nhằm “khai thị chúng sanh, ngộ nhập Phật tri kiến” (Đức Phật chỉ khai thị còn ngộ nhập là phần của chúng ta) để chúng ta tự nhìn lại chính mình. Phải tự giác ngộ lấy mình “tự giác” (từ tự giác ở đây có nghĩa thâm sâu chứ không phải cái nghĩa như “tự giác” của các nhà giáo dục hôm nay thường dùng - Cần xem lại điều này ở bài “Đại cương Phật pháp ở bậc Kiên”). Nhưng luôn luôn đức Phật tùy căn cơ, tùy trình độ, tùy hoàn cảnh của mỗi người mà giáo dục khác nhau. Thật là “thiên biến vạn hóa”, kể sao cho xiết. Song, ở đây chúng ta cũng nêu lên vài trường hợp tiêu biểu để có thể nhìn vấn đề một cách cụ thể hơn. Trước hết chúng ta theo dõi đức Phật giáo hóa La Hầu La: La Hầu La là con của Thái tử Tất Đạt Đa. Sau khi thành Phật, Ngài không muốn cho La Hầu La kế vị đế vương để rồi trói buộc cuộc đời trong đau khổ sanh tử mà cần được tự tại giải thoát nên Ngài đã tạo phương tiện cho La Hầu La xuất gia. Nhưng lúc nầy La Hầu La mới khoảng 15 tuổi, chưa đủ ý thức lãnh thọ giáo pháp. Để tập sự sống cuộc sống của người xuất gia, Đức Phật chế ra giới Sadi. (Từ đó giới Sadi bắt đầu khai xuất) Ngài giao cho Xá Lợi Phất giáo hóa La Hấu La. Ban đầu La Hầu La được giao nhiệm vụ quét dọn và đuổi quạ khi các Thầy ngồi thiền (vì khu vực này quạ nhiều lắm, chúng thường bay đến kêu inh ỏi) nên gọi là Sadi khu ô. Công việc tầm thường nầy Tài liệu A Dục– trang 71


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

có thể giúp La Hầu La quen sống với nếp thanh tịnh của tăng đoàn và dẹp lần tập quán vương giả (huân tập). Một lần đi khất thực với Ngài Xá Lợi Phất, tín chúng cúng dường không đều La Hầu La ăn không no nhưng Xá Lợi Phất không để ý, La Hầu La bất bình. Sau đó đức Phật chế giới Lợi hòa đồng quân (lục hòa). Một lần khác, cùng với ngài Xá Lợi Phất vào khất thực ở thành Vương Xá, một tên vô lương trêu chọc và bỏ cát vào bình bát của La Hầu La rồi còn lấy cây gỏ vào đầu. Chưa tập được hạnh nhẫn nhục lại thêm tập khí vương giả chưa gội rữa hết được nên La Hầu La vô cùng tức giận, mặt đỏ bừng, đôi mắt trừng lên. Xá Lợi Phất ôn tồn khuyên bảo, giảng giải về tác hại của lòng sân hận và khuyên chú vận dụng tâm từ đối trị sân hận. Sau đó đức Phật giảng giải về hạnh nhẫn nhục rồi kết luận: “Có nhẫn nhục mới có bình an, mới tiêu trừ hạ họan và phát trtiển được trí tuệ, trí tuệ tối cao là con đẻ của nhẫn nhục… “Nhẫn nhục là tăng thượng duyên giúp hành giả sớm giải thoát giác ngộ (lý giải). Đức Phật dạy La Hầu La giữ tâm định tĩnh bằng cách theo dõi, đếm hơi thở rồi quán niệm đến lời dạy của Ngài, quán ngay trên sự tức giận của mình (quán niệm). Nhờ phương pháp nầy La Hầu La thấy rõ cái tác hại của sân hận và cái yên ổn của nhẫn nhục. Từ đó tập khí cương cường tự cao của dòng máu đế vương không còn nữa trong con người La Hầu La, lần lần La Hầu la trở nên ôn hòa nhu thuận. Một hôm có vị khách Tăng ở lại, La Hầu La nhường phòng của mình cho vị tăng ấy, ôm y bát ra sân ngủ. Trời lại đổ mưa chú phải vào ngủ trong nhà vệ sinh và chú vẫn điềm nhiên vui vẻ. Sau Phật biết được chuyện nầy, mới ra quy chế cho phép Sadi được ngủ chung với Tỳ kheo. Tuy thế, cái tính ưa bông đùa, chú chưa bỏ được, hay dối gạt các Thầy để làm vui nên đã bốn lần nói dối với Ngài Xá Lợi Phật. Đức Phật lại giáo hóa La Hầu La bằng cách: Một hôm, La Hầu La múc nước cho Ngài rửa chân, rửa chân xong Ngài đổ nước trong chậu đi nhưng chừa lại một ít. Ngài hỏi La Hầu La: “Nước trong chậu còn nhiều hay ít?” Chú trả lời: Tài liệu A Dục– trang 72


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

“Bạch Thế tôn, nước trong chậu còn rất ít.” “Nầy La Hầu La, cũng như vậy, những người nói dối thì căn lành không còn lại bao nhiêu.” Rồi Ngài đổ hết nước trong chậu và hỏi tiếp: “Con có thấy Thế tôn đã dổ hết nước trong chậu đi rồi không?” “Bạch Thế tôn con đã thấy.” Đối với những người có tính nói dối mà không chịu từ bỏ, vẫn tiếp tục thì rồi thiện căn sẽ mất hết như cái châu kia, không còn chút nước nào. Đức Phật lật úp chậu lại và hỏi: “Con có thấy cái chậu úp lại không?” “Bạch Thế tôn con có thấy.” “Nếu không tu tập chánh ngữ, nhân cách rồi bị đảo lộn như cái chậu nầy. Con không nên bao giờ nói dối dù là để đùa cợt.” Rồi đức Phật dạy La Hầu La tự quan sát lại mình như soi mình vào tấm gương: Với tuổi nhỏ như La Hầu la, ngoài lý giải, Ngài còn phải mượn hình ảnh thực tế đưa ra trước mắt để cụ thể hóa một vấn đề trừu tượng (giáo dục ngày nay gọi là phương pháp trực quan). Và… như các anh chị đã biết, xã hội Ấn độ bấy giờ rất kỳ thị giai cấp (Giai cấp trên hết là Bà La Môn đến Sát Đế Lỵ, đến Phệ Đà và cuối cùng là Thủ Đà La, tức giai cấp cùng khổ làm thuê làm mướn). Giai cấp trên tuyệt đối không giao tiếp với giai cấp dưới. Ý thức hệ đó đã ăn sâu vào tim óc của mọi dân Ấn. Trẻ em đương nhiên cũng được hấp thụ quan niệm đó từ trong trứng nước. Thế mà đức Phật đã có cách giáo dục, loại bỏ ý thức hệ phân chia giai cấp trong tâm hồn các thiếu niên. Tài liệu A Dục– trang 73


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Khi còn tu thiền định dưới cội Bồ đề. Thế tôn có dịp tiếp xúc với Tu Xà Đa (Sujtar) trong lần em cúng dường sữa cho Ngài khi Ngài tu khổ hạnh, chịu đói khát phải bị ngất xỉu, từ đó em thường mang thức ăn cúng dường Phật. Em là bé gái con ông Hương cả một gia đình giàu có (thuộc giai cấp Phệ Đà). Đức Phật cũng tình cờ tiếp xúc được với Tắc-phược-tất-đề-ca (Svastika) một em bé trai mồ côi cha mẹ, cùng khổ, đi ở mướn chăn trâu. Em này về sau hằng ngày lại tiếp xúc với Ngài nhờ dịp chăn trâu ngoài bìa rừng, thường mang cỏ mềm đến cúng dường Ngài làm nệm. Một lần, sau khi cúng dường thức ăn, Tu xà Đa ngồi lại nghe lời khuyên dạy của Ngài như thường lệ, Ngài lại kể cho Tu xà Đa nghe về cuộc sống khổ cực, đi chăn trâu mướn để nuôi em của Tắc-phượctất-đề-Ca, gieo vào Tu xà Đa sự cảm thương một người cùng lứa tuổi (huân tập). Rồi một lần nữa Ngài tạo cơ hội để Tu xà Đa và Tắc phược tất đề Ca cùng đến với Ngài trong bữa ăn trưa. Ngài mời Tu xà Đa cùng ăn cơm với Ngài và Tắc phược tất đề Ca (Tắc phược tất đề Ca thỉnh thoảng đem đồ ăn trưa của mình mang theo ăn chung với Ngài) “Chắc con đã ăn cơm rồi nhưng con cũng nên ăn một miếng cơm gạo đỏ của Tắc phược tất đề Ca, ngon lắm đó con. Bây giờ chúng ta nên yên lặng mà ăn”. Dùng cơm xong Ngài đưa bát nước mời Tắc phược tất đề Ca uống trước, bát thứ hai Ngài uống, bát thứ ba mời Tu xà Đa (giáo dục tinh thần bình đẵng vừa bằng huân tập, vừa bằng hoạt động). Ngài có cùng ăn với Tu Xà Đa và Tắc phược tất đề Ca cùng uống chung bát, mới cảm hóa được Tu xa Đa (đồng sự nhiếp). Chính hiện tượng nầy mới khắc sâu vào lòng Tu xà Đa một ý niệm khác hẳn ý niệm từ muôn thuở trước đây cũng đã ăn sâu trong lòng trẻ con Ấn nói riêng, người dân Ấn nói chung. Ý niệm mới là: Không phân chia giai cấp, tất cả mọi người đều bình đẳng. Lần đầu tiên Tu Xà Đa uống nước chung bát với người ở giai cấp cùng hèn, khi nâng bát lên em cũng ngỡ ngàng lắm nhưng em nghĩ rằng: Ngài là vị thầy của mình, một vị Sa môn mà còn uống chung bát với Tắc Phược Tất Đề Ca thì sao mình lại không uống. Tài liệu A Dục– trang 74


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Sau khi ăn uống xong Ngài giảng giải cho hai em nghe về giá trị con người, khả năng của con người, rồi Ngài kết luận: “Các con đã hiểu lời ta nói. Con người sinh ra không có giai cấp, nước mắt người nào cũng mặn, máu người nào cũng đỏ, chia ra giai cấp để kỳ thị lẫn nhau là một điều sai lầm”. Sau lần đó, có lẽ tinh thần bình đẵng đã đẩy lùi được quan niệm kỳ thị giai cấp trong tâm hồn Tu xà Đa và em còn có khả năng cảm hóa những bạn đồng lứa ở giai cấp mình nên một bữa nọ các em trong vùng rủ nhau vào thăm Ngài. Trong đó có Nandabala chị họ của Tu xà Đa và hai người em trai của chị ấy. Các em cùng ở lại quay vòng tròn quanh Ngài để nghe Ngài dạy bảo, họ mang theo thức ăn, uống cùng ăn trưa với Ngài. Trong những lần tiếp xúc với các em sau khi Ngài đã Thành đạo, Ngài lại đem những mẫu chuyện tiền thân của Ngài kể cho các em nghe, nhân đó mà giáo hóa các em. Những lần được cung thỉnh thuyết pháp cho các em thiếu niên trong hoàng tộc, đơn cử: lần giảng pháp cho Thái tử A Xà Thế con vua Tần Bà Sa la cùng 400 thiếu nhi con của các vị vương tử, đại thần và quan khách trong triều đình, Ngài cũng kể chuyện cây sứ chứng kiến chuyện cò cua bên hồ đầy tôm cá mà chính cây sứ là tiền thân của Ngài. Từ đó gieo vào lòng các trẻ em tình thương loài vật khổ đau và biết phân biệt giả chơn đừng đánh giá con người qua lời nói ngọt ngào đầu môi chót lưỡi. Ngài đã nắm được tâm lý thiếu nhi, ưa thích những câu chuyện lạ thường, ít thích lý giải dài dòng. Nhưng với những vị tri thức, những vị vua chúa, Ngài lại giảng giải phân tích nhiều hơn (lý giải) và cũng dựa vào tâm lý đối tương. Đối với các vị vua bao giờ cũng nói đến Sơn hà, Xã tắc, bao giờ cũng nói đến lợi nước an dân. Chẳng hạn như khi giảng pháp cho vua Tần Bà Sa La cùng với các Đại thần trong thành Vương xá của nước Ma Kiệt Đà. Hôm đó Ngài giảng về năm giới, cứ sau mỗi giới Ngài lại liên hệ đến nhà vua, liên hệ đến các vị chức sắc của triều đình, nêu lên những lợi lạc cho bản thân và cho muôn dân trong nước. Cuối cùng Ngài kết luận: “Khi mọi người thương nhau và đoàn kết với nhau thì dân giàu, nước mạnh, không nước nào đủ sức xâm lăng nước mình. Và tuy quân đội hùng mạnh, quốc gia không cần xử dụng đến, quân đội có những thời giờ làm Tài liệu A Dục– trang 75


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

những công việc xây dựng đường sá, cầu cống, đê điều. Đại vương bậc đứng đầu trong một nước cần sống trong tinh thần và biết được những gì đang xẩy ra trong vương quốc của mình. Nếu Đại vương làm cho trong triều ngoài quận ai cũng hiểu thấu và thực hành được 5 giới tức là 5 nguyên tắc sống chung hòa bình và an lạc thì vương quốc Ma Kiệt Đà sẽ trở nên một vương quốc hưng thịnh bậc nhất trong hoàn vũ”. Phần lớn các buổi giảng pháp của Ngài là những cuộc đối thoại lý thú. Chính qua cuộc đối thoại mà vua Pasenadi trước kia có thành kiến, cho Phật là tự cao và không chấp nhận yêu thương là đau khổ thì sau đó công nhận Phật là bậc tôn quý nhất trên đời. Thật là “muôn hình vạn trạng” mỗi lần thuyết pháp của Ngài, không những chúng ta học được những vấn đề giáo lý ở nội dung ấy mà chúng ta còn nhận ra được một phương pháp giáo dục nữa. III. KẾT LUẬN: Từ ngàn xưa đức Phật đã dựa vào trình độ, căn cơ của chúng sanh để giáo hóa, điều đó ai cũng biết nhưng phân tích kỹ hơn, chúng ta thấy Ngài đã nắm được tâm lý của lứa tuổi, nắm được tâm lý của từng con người trong từng hoàn cảnh mà có sự giáo dục khác nhau. Và dù một vấn đề trừu tượng đến đâu Ngài cũng tìm cách cụ thể hóa vần đề để người khác dễ tiếp nhận. Ngài cũng tùy đối tượng, tùy vấn đề, tùy lúc, tùy nơi mà dùng nhiều phương pháp khác nhau: Phương pháp lý giải, phương pháp huân tập, phương pháp quán niệm, phương pháp hoạt động… Cái kết quả của việc giáo dục ấy ta cũng nhận ra ngay trong những con người thực tại chứ không phải trong giả tưởng hay trong một tương lai xa xôi mơ hồ. Vậy Ngài đã là một nhà đại giáo dục, không phải chỉ của thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch mà còn của cả hôm nay và mãi mãi về sau. Người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử muốn thành công trong việc giáo dục các em, chúng ta phải luôn luôn học tập ở Ngài. Tài liệu A Dục– trang 76


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 4: PHÁT BỒ ĐỀ TÂM Người tu tập, mong cầu giác ngộ, giải thoát thì vấn đề PHÁT BỒ ĐỀ TÂM rất quan trọng. Trong phần lớn các kinh Đại thừa đều đề cập đến vấn đề nầy, nhiều bộ kinh, dành trọn một phẩm để nói đến Phát Bồ Đề Tâm. Ngay ở trong hai bộ kinh chúng ta đang học ở bậc Kiên: Kinh “Ưu bà tắc” phẩm thứ hai, kinh “Đại phương tiện Phật báo ân” phẩm thứ tư là phẩm Phát Bồ Đề Tâm. Ở kinh “Thắng Man” (sẽ học ở bậc Lực Năm thứ nhất) chương ba “Đại nguyện” nội dung cũng là Phát Bồ Đề Tâm. Chúng ta phải xem đây là một phương thức tu tập không thể thiếu được của người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử. Vậy hôm nay chúng ta cần hiểu sâu về Phát Bồ Đề Tâm để vận dụng vào việc tu tập một cách chu đáo. A. BỒ ĐỀ TÂM Nói đến Phát Bồ Đề Tâm, trước hết chúng ta phải quan niệm đúng đắn về chữ “TÂM”. I. CHỮ TÂM: 1. Quan niệm thông thường: Thông thường thì “Tâm” nghĩa đen là “tim”, nghĩa bóng là “tấm lòng”. Ngay Nho giáo “Tâm” cũng là nói đến “lòng dạ”, trong sách Đại học: “Dục tu kỳ tâm giả, tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên hành kỳ ý” (muốn tu tập lấy thân mình, trước phải giữ lòng dạ cho ngay thẳng, muốn giữ lòng dạ mình ngay thẳng, trước phải làm cho cái ý mình thành thật). 2. Chữ “Tâm” trong Phật giáo: Chữ “Tâm” trong Phật giáo không chỉ giới hạn là “lòng dạ” mà còn có ý niệm sâu thẳm hơn. “Tâm” bao gồm cả tấm lòng, cả trí sáng suốt và cả sự thanh thản, cũng không phải là cái tâm bình thường mà phải là cái tâm không chấp trước. Trong kinh “Lăng Nghiêm” khi Ngài A nan cho rằng sự suy nghĩ và phân biệt là tâm thì đức Phật bác: “Đó là tâm phàm duyên nương Tài liệu A Dục– trang 77


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

theo cảnh mà có”. Ngài còn bảo: “A Nan nhận giặc làm con nên bị nó mê hoặc dẫn vào đường sinh tử không giải thoát được… A Nan, ông còn nông cạn lắm, ông không biết cái Thấy, Nghe, Hiểu, Biết, gốc là Như Lai Tạng và đó mới là chơn tâm của ông”. Chính “chơn tâm” nầy mới quyết định tất cả. Ở Thiền tông chủ trương: “Trực chỉ chơn tâm, kiến tánh thành Phật”. Ngài Duy ma Cật lúc phát bệnh nằm ở nhà, chí tâm hướng đến Phật thì Phật cảm ứng ngay, vội cử người đến thăm. Bà Ma gia, bà Vi đề Hy được Phật Tâm truyền tâm cả chứ chưa hề giáp mặt Phật. Để dễ nhận định về chữ “Tâm” trong “Khuyến phát bồ đề tâm” (của Đại sư Tỉnh Am) đã phân tích tướng trạng của Tâm nguyện. Đó là: Tà, Chánh, Ngụy, Chơn, Tiểu, Đại, Thiên, Viên. Tâm ham danh lợi, dẫu tu hành vẫn ưa thích dục lạc thế gian hoặc cầu mong quả an vui mai sau, phát tâm ấy là Tà. Không ham danh lợi, buông bỏ dục vọng thế gian, chỉ mong giải thoát, phát tâm như thế là Chánh. Có tội không sám hối, có lỗi không dứt trừ, ngoài sạch trong dơ, trước siêng sau nhác, dù tâm có tốt nhưng oan uổng, bị vọng nghiệp nhuộm bẩn, phát tâm như thế là Ngụy Niệm niệm liên tục, trên cầu Phật đạo dưới nguyện độ chúng sanh, không bi nảo thoái chí, thấy chúng sanh khó độ nhưng không mệt mỏi sờn lòng, như người trèo núi cao muôn trượng vẫn quyết tâm lên thấu đỉnh, phát tâm như thế mới là Chơn. Nếu ta còn xem ba cõi như lao ngục, nghĩ sanh tử như oan khiên, chỉ mong sao tự độ cho bản thân, phát tâm như thế là Tiểu. Ngược lại, xem mình hòa đồng với chúng sanh, chúng sanh không còn, nguyện ta mới hết, đạo quả thành, nguyện ta mới thành, phát tâm như thế gọi là Đại.

Tài liệu A Dục– trang 78


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Đi xa hơn nữa nếu có đối đãi, còn sở nguyện còn năng hóa, thấy có chúng sanh cần độ, có Phật đạo mong thành, công phu không xả, Thấy, Biết, Không tỏa lan mà phát tâm, thì vẫn còn là Thiên. Khi biết tự tánh là chúng sanh nên nguyện độ thoát, tự tánh là Phật đạo nên nguyện tu tập, không thấy phép nào ngoài tâm riêng có, đem tâm như vậy mà phát nguyện thì thật đúng là Viên. II. TÂM BỒ ĐỀ (Bồ Đề Tâm) 1. Bồ đề: Bồ đề là dịch âm từ Bohhi, gốc tiếng Phạn có nghĩa là Giác ngộ. Nên đạo giác ngộ của đức Phật còn gọi là “Đạo Bồ Đề” và cây Ngài ngồi dưới gốc cây nhập định 49 ngày mà giác ngộ chân lý, mệnh danh là “cây Bồ Đề”. Sự giác ngộ nầy là sự giác ngộ rốt ráo tột cùng, không có gì hơn nữa nên cũng gọi là “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác” 2. Tâm Bồ Đề: Tâm Bồ Đề tức là Chân tâm, đại tâm, viên tâm (như đã trình bày ở trên) hay nói cho gọn là tâm mong cầu giải thoát, giác ngộ, không những cho mình mà cho hết thảy chúng sanh. Phải xem chúng sanh và mình hòa đồng cùng một thể. Trong “Thắng Man Giảng Luận “ của Thượng Tọa Tuệ Sĩ đã giải thích rất rõ “Bồ đề tâm” là gì? “Bồ đề tâm đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sanh tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm, giữa đọa đày tủi nhục, mong tìm một con đường sáng, không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà còn là để giải thoát cho những người cùng cảnh ngộ. Bồ đề tâm, đó là ý chí kiên cường bất khuất của một người bị cột trói trên ngọn lữa rực cháy, bị chà đạp dưới sức mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta.” Theo kinh “Duy Ma Cật” (bản dịch của La Thập) thì Ngài Duy Ma Cật cũng sở thuyết trình bày tiến trình ba tâm và Cát Tạng giải thích: “Bồ tát thực hành chánh quán nên gọi là “trực tâm”… “Phát tâm” là điểm khởi đầu, chánh quán càng lúc càng sáng gọi là “thân Tài liệu A Dục– trang 79


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

tâm”. Muốn đi đường lớn (hành đại đạo) trước hết phải làm ngay thẳng tâm. Tâm đã chánh trực rồi mới bước vào hành. Bước vào hành mà sâu thì có thể vận chuyển cùng khắp. Tất cả cùng đi đến Phật quả nên gọi là “Bồ đề tâm”. B. PHÁT BỒ ĐỀ TÂM I. VÌ SAO NÊN PHÁT BỒ ĐỀ TÂM: Nhìn cho sâu thẳm thì Phát Bồ đề tâm chính là đền báo ân sâu nặng của chư Phật, của cha mẹ, của mọi ân nhân không những trong kiếp nầy mà cả trong nhiều đời nhiều kiếp (các ân sâu nặng nầy đã đề cập đến trong kinh “Đại phương tiện Phật báo ân” ở bậc Kiên). Vì không những trong hiện tại chúng ta mang ân nặng lớn lao của cha mẹ, mang nghĩa nặng của quý vị ân nhân, kể cả thầy, bạn của chúng ta, trong cuộc sống ta phải nhờ vả đến bao nhiêu người suy rộng ra nữa là cả vũ trụ góp mặt cho sự sống của chúng ta (từ không khí, ánh sáng, nguồn nước, cây xanh…). Và rất nhiều đời nhiều kiếp xa xưa bao nhiêu chúng sanh trong hiện tại nầy đã từng là cha mẹ của chúng ta, đã từng là thầy, bạn của chúng ta, đã từng là ân nhân của chúng ta. Mỗi khi chúng ta xã thân để phụng sự chúng sanh là chính chúng ta đã báo ân đức Phật, vì đức Phật chỉ có một hoài bảo ở chúng ta là có tâm Phật để đem lại hạnh phúc thật sự cho chúng sanh - giải thoát cho chúng sanh (vừa giải thoát cho cá nhân mình). Trong “Thắng Man Giảng Luận” Thượng tọa Tuệ Sĩ đã khẳng định: “ Không có tâm nguyện đó, không có ý chí đó, Bồ tát đạo chỉ là một con đường xa xôi không tưởng, thần thoại hoang đường. Và Phật thừa không hơn một tiếng nói suông của một người mê sảng trong giấc ngủ ngày”. Kinh “Đại phương tiẹân Phật báo ân” có triễn khai rõ: Nhân phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Tâm Bồ Đề) mà hay tu tập 37 Phẫm Trợ Đạo Pháp, nhân tu tập 37 Phẫm Trợ Đạo Pháp mà chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên phát tâm là cội gốc của đạo Bồ Đề. Ta nay phải phát tâm Bồ đề rồi, liền dạy bảo chúng sanh phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác - (tâm Bồ Đề). Tài liệu A Dục– trang 80


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

II. PHƯƠNG PHÁP PHÁT TÂM BỒ ĐỀ Trong cương yếu kinh “Ưu Bà Tắc” (bậc Kiên) chúng ta đã thấy ở phẩm “Phát Bồ đề tâm” có nêu mấy phương pháp phát bồ đề tâm: 1. Gần bạn lành 2. Dẹp nóng giận 3. Vâng lời dạy chân chính của Thầy, bạn 4. Mở lòng thương đối với mọi người 5. Chuyên tâm tu tập 6. Có tâm khoan hồng 7. Không chán nãn và hết lời khuyên nhủ khi cần khuyên 8. Không kiêu hãnh khi làm được việc tốt 9. Không ganh tỵ khi thấy người làm điều hay mà mình không làm được 10. Thương tất cả chúng sanh đều như nhau và giúp đở bình đẳng. Đây chính là 10 yếu tố cần phải có của người phát tâm Bồ đề. Còn cách thức phát tâm trong kinh “Đại phương tiện Phật báo ân” có trình bày rõ: Khi thoạt mới phát tâm phải lập đại nguyện, và nói như thế nầy: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tôi sẽ làm lợi ích cho chúng sanh được an trụ trong cảnh Đại niết bàn, lại sẽ giáo hóa tốt tất cả chúng sanh, thảy đều đầy đủ Bát nhã Ba la mật, như thế gọi là tự lợi cũng gọi là lợi tha . . . Tất cả thệ nguyện của thế gian và xuất thế gian không có thệ nguyện nào bằng được thệ nguyện Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Kinh nầy cũng nêu rõ năm yếu tố mà Bồ tát khi thoạt mới phát tâm Bồ đề phải rèn luyện: “Một là Tín, hai là Hạnh, ba là Cảnh giới, bốn là Công đức, năm là Tăng trưởng” Người tu hành cần phải có đức tính dịu dàng, trầm tĩnh, điềm đạm, nói lời ái ngữ. Những đức tính nầy cũng phải tập tành hằng ngày. Luôn luôn trau dồi đức hạnh, lấy năm hạnh của người Phật tử làm Tài liệu A Dục– trang 81


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

tiêu chuẩn: Từ bi, Hỷ xả, Tinh tấn, Trí tuệ, Thanh tịnh (xem lại bài năm hạnh ở bậc Kiên). Ở trong các kinh điển HẠNH còn có ý nghĩa tập luyện để có thể đi đến phát nguyện trọn đời giữ được. Ví dụ: HẠNH NHẪN NHỤC, HẠNH BỐ THÍ BA LA MẬT, HẠNH BỒ TÁT v. v . . . cho nên HẠNH thường đi với NGUYỆN: HẠNH NGUYỆN. Trong phần chữ Tâm trong Phật giáo (2/II) chúng ta đã thấy: “Nếu ta còn xem ba cõi như lao ngục, nghĩ sanh tử như oan khiên, chỉ mong sao tự độ cho bản thân, phát tâm như thế là TIỂU”. Vì vậy cảnh giới nào đối với người Phát Tâm Bồ Đề cũng là phương tiện để hóa độ. Các chúng sanh phải sống ở địa ngục vì nghiệp lực của bản thân nên cảm thấy khổ sở, Bồ tát cũng sống trong địa ngục nhưng vì nguyện lực cứu độ nên cảm thấy an vui dù cũng chịu mọi hình phạt như những thành phần khác đọa đày trong địa ngục. Người phát tâm Bồ đề, tuy chưa phải là một “Bồ tát” nhưng phải chuyển lối nhìn như vậy thì trong “cảnh giới” nào mình cũng an nhiên và thực hiện được lời nguyện của mình. Cho dù phải vào địa ngục, tuy có khổ về thân nhưng Tâm không dính mắc, vẫn bình thản an vui. Rồi cho dù sống trong nhung gấm cao sang thì cũng vì nguyện độ cho chúng sanh trong cảnh giới đó mà vào chứ không nhiễm đắm vào cái cao sang, sung sướng giả tạo ấy, cả cho đến những cõi thiên giới. Khi đã phát đại nguyện thì phải thực hiện hằng ngày, hằng giờ, Tâm tâm niệm, không buông lơi đó chính là công đức - Và công đưc ấy mỗi ngày phải mỗi tăng trưởng thêm, việc tu tập mỗi ngày phải tinh tấn hơn. III. BỐN THỨ PHÁT TÂM BỒ ĐỀ Trong kinh “Đại phương tiện Phật báo ân” phẩm “Phát Bồ đề tâm”, Đức Phật cũng chỉ rõ có bốn thứ Phát Bồ đề tâm: Một là: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, hoặc được coi thấy, nghe được những việc bất khả tư nghị, của chư Phật, Bồ Tát, liền Tài liệu A Dục– trang 82


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

sinh tâm cung kính và nghĩ rằng: “Những sự của Phật, Bồ tát là bất khả tư nghị, nếu Phật, Bồ tát chứng được sự bất khả tư nghị ấy thì ta đây cũng quyết sẽ chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng, Chánh giác, cho nên ta dốc lòng nhớ nghĩ đạo Bồ đề và phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Hai là: Lại có người không được coi thấy những sự bất tư nghị của chư Phật, Bồ tát mà chỉ nghe thấy cái tạng bí mật của chư Phật, Bồ tát, liền phát tâm cung kính tin tưởng, cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và Ma ha Bát nhã, cho nên phát tâm Bồ đề. Ba là: Lại có người coi thấy những việc bất khả tư nghị của chư Phật, Bồ tát, cũng không được nghe pháp mà do vì khi coi thấy pháp diệt rồi trong lòng nghĩ rằng: “Vô thượng Phật pháp hay diệt trừ được vô lượng khổ não cho chúng sanh, làm lợi ích lớn lao cho chúng sanh, chỉ có được chư Phật và Bồ tát mới hay làm cho Phật pháp được trường tồn bất diệt, ta ngày nay cũng nên phải phát tâm Bồ đề, khiến cho các chúng sanh xa lìa phiền não, thệ nguyện thân nầy của ta dầu cho phải chịu mọi sự đại khổ nào đi chăng nữa, ta quyết giữ gìn Phật pháp được trường tồn mãi mãi ở thế gian, cho nên ta phát tâm Bồ đề”. Bốn là: Lại có người không được coi thấy chư Phật, Bồ tát, không được nghe Pháp, khi pháp diệt cũng không được thấy, mà chỉ thấy tất cả chúng sanh ở trong đời ác trược, đủ mọi thứ phiền não, tham dục, giận tức, ngu si, không thẹn, không hổ, bỏn xẻn, tật đố, ganh ghét, nghi ngờ, lười biếng v.v… thấy như thế rồi liền nghĩ rằng: “Trong đời ác trược nầy, chúng sanh chẳng chịu tu thiện, tâm nhị thừa còn không phát, nữa là tâm vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ta nay phải nên phát tâm Bồ đề, phát tâm Bồ đề rồi liền dạy bảo tất cả chúng sanh đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Dù với tâm trạng nào khi phát tâm Bồ đề, ta vẫn thấy rõ động lực để phát đại nguyện hẳn là lòng tin tưởng mãnh liệt ở đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và tin tưởng khả năng đạt quả vị của chúng ta, lòng thương yêu tha thiết chúng sanh vô minh đau khổ phiền não. Tài liệu A Dục– trang 83


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Chúng ta đã thấy rõ thế nào là PHÁT TÂM BỒ ĐỀ và VÌ SAO NÊN PHÁT TÂM BỒ ĐỀ. Người tu hành theo đạo Phật phải có tâm từ bi rộng lớn, phải có tấm lòng tha thiết cao độ mong cầu giải thoát giác ngộ cho mình và cho chúng sanh - thì không thể không phát tâm Bồ đề. Phải xem đây là phương thức tu hành hửu hiệu. Trong kinh Hoa Nghiêm có nói: “Quên mất tâm Bồ đề mà tu hành các thiện pháp, gọi là hành động của ma”. Dù chỉ là Phật tử tại gia nhưng đã phát tâm Bồ đề thì lại là tinh thần xuất gia. Kinh “Duy Ma Cật” phẩm “La Hầu La” cũng có nêu rõ: “Phát tâm Vô thượng Bồ đề, đó chính là xuất gia, đó chính là đầy đủ giới pháp”. Vậy Huynh Trưởng bậc Trì chúng ta, tuy chưa phát Bồ đề tâm nhưng ngay từ bây giờ phải học hỏi và tập dần công hạnh nầy cho thuần thục và nuôi chí hướng để rồi đến bậc Định hay chậm lắm là đến bậc Lực chúng ta nên phát Đại nguyện. Vì PHÁT TÂM BỒ ĐỀ là phương tiện tu tập không thể thiếu được của người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam chúng ta, như đã nói ban đầu.

Tài liệu A Dục– trang 84


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

PHẦN 3: PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Tài liệu A Dục– trang 85


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 1: PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM (ĐẠI CƯƠNG) I. DẪN NHẬP Thế nào là chấn hưng? Chấn hưng tức là chấn chỉnh lại và làm cho nó hưng thịnh lên. Chấn chỉnh lại tức là đã bị thoái hóa, làm cho hưng thịnh lên tức là đã bị suy đồi. Vây Phật giáo suy thoái từ lúc nào? Vì sao bị suy thoái? Ai là người dấy lên phong trào chấn hưng Phật giáo? Phong trào nầy diễn tiến ra sao? II. CHÁNH ĐỀ

A. Sự suy thoái của Phật giáo Việt Nam: Trong lịch sử Phật giáo, chúng ta đã thấy thời kỳ Lý Trần là thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo và do đó, cũng là thời kỳ rạng rỡ nhất của dân tộc. Có nhiều bậc Thiền sư lỗi lạc làm quốc sư, các vua chúa đều sùng ngưỡng Phật giáo, lấy tinh thần Phật giáo để lãnh đạo và giáo dục dân chúng. Nhưng về sau đến đời Trần Anh Tôn đã pha lẫn đạo giáo nhiều. Lúc nầy ngoài Lão giáo, Nho giáo lại có Lạc ma giáo (1) được truyền vào làm cho sự pha lẫn trở nên một tai hại lớn. Tăng sĩ đã trở thành thầy cúng, thầy pháp… Mê tín dị đoan đã lan tràn khắp dân chúng. Khả dĩ có một đôi người muốn tìm hiểu Phật giáo cũng chẳng biết tìm ra đâu là Phật giáo. Có thể nói: đó là thời kỳ bất hạnh của Phật giáo Việt Nam. Thượng tọa Thích Mật Thể đã viết trong Việt Nam Phật giáo Sử lược: “Đây là thời đại Phật giáo lạc đạo gốc”. Tăng chúng đã công nhiên mời các vị Giáo chủ của các tà giáo và tạp thần ngồi chung với đức Phật Thích Ca trong các chùa. Vì thế mà nhiều người đã bài kích Phật giáo như Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu. Trong triều đình thì vua nhu nhược, quần thần dua nịnh. Ngoài dân chúng thì nhiều nỗi loạn lạc can qua hết chống đỡ với Ai lao lại chống đỡ với Chiêm Thành và sang đời hậu Lê thì bị nạn phương Tài liệu A Dục– trang 86


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bắc xâm lược, cuối cùng bị nhà Minh đô hộ (1419). Nhà Minh cho tịch thu Kinh sách, đốt phá chùa chiền. Mãi đến các triều đại đời Hậu Lê và Trịnh Nguyễn có phái Tào Động (chi phái của Bồ Đề Đạt Ma) và phái Liên Tôn (chi phái của Lâm Tế) do các Thiền sư chân chính người Trung Hoa truyền vào, nhiều tăng sĩ Việt Nam thọ giáo và kế truyền, từ đó chấn chỉnh phần nào sự suy đồi của Phật giáo, nhưng cũng chẳng là bao. Qua các triều đại nhà Nguyễn, vua cũng rất sùng đạo Phật, nhưng các vị vua có thành tâm thì ít mà lợi dụng Phật giáo làm lợi khí chính trị để cũng cố ngôi báu thì nhiều. Còn hàng Tăng sĩ bị truất xuống làm thủ tự các chùa sắc tứ hay làm thầy cúng. “Lúc nầy từ vua quan cho đến thứ dân, ai ai cũng tin đạo Phật ở sự cúng cấp cầu đảo chứ không biết gì khác nữa. Phần đông chỉ trọng ông Thầy ở danh vọng chức tước mặc dầu ông Thầy ấy thiếu học thiếu tu”(Thích Mật Thể trong “Việt Nam Phật giáo sử lược”). Tiếp đến là 80 năm đô hộ của người Pháp, Phật giáo bị nghiêm khắc hạn chế phát triển và làm cản trở việc truyền bá giáo pháp. “Một số Tăng sĩ chân chính thì tìm chốn ẩn tu, để mặc cho các thầy đám múa gậy rừng hoang” (Chánh Trí trong “Lược sử Phật Giáo Viêt Nam”). Tăng đồ dần dà sa vào trụy lạc, cờ bạc, rượu chè, đắm trước sắc dục, phần nhiều họ có vợ con một cách công khai, khiến ở trong Nam thêm nạn “ông Thầy bà vãi” lại càng làm cho Phật giáo hỗn độn hơn. Chính vì tình trạng ấy đã tạo nên nạn lớn cho Phật giáo. Trong Tăng tín đồ là như vậy, ngoài tín đồ, cư sĩ đương nhiên là ngơ ngác ù lòa, tin bướng theo càng, chẳng mấy ai là người hiểu đạo. Tinh thần Phật giáo đến đây hầu như đã tuyệt diệt (lời của Thượng Tọa Mật Thể trong “Việt Nam Phật Giáo Sử lược”). Nhưng may thay cũng có vài đóm sáng trong đêm tối mông lung đó là Sư cụ Vĩnh Nghiêm, Tế Các, Bằng Sở ở Bắc, Ngài Tâm Tịnh, Huệ Pháp, Phước Huệ ở Trung và Ngài Khánh Hòa ở Nam giữ được cốt cách phong đạo và thỉnh thoảng mở lớp giảng dạy giáo lý.

B. CÁC PHONGTRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO. 1. Giai đoạn đầu tiên (giai đoạn vận động). Tài liệu A Dục– trang 87


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Các đóm sáng nói trên lóe dần và nhân duyên đã đến. Cuộc chấn hưng Phật giáo ở Trung Hoa do Ngài Thái Hư Đại sư lãnh đạo đã có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Khắp cả ba miền Nam, Trung, Bắc đều nổi lên phong trào chấn hưng Phật giáo.

a) Nam Kỳ: Người khởi xướng đầu tiên là ngài Khánh Hòa và sư Thiện Chiếu, đi đến thành lập Hội nghiên cứu Phật học (1931), tổ chức các buổi diễn giảng, xuất bản tờ báo “Từ Bi Âm”, “Duy Tâm”, ngoài ra còn có Hội Lưỡng Xuyên Phật học ở Trà Vinh có mở một Phật học viện.

b) Trung Kỳ: Dẫn đầu công cuộc chấn hưng Phật giáo là ngài Giác Tiên và cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, đi đến thành lập hội Phật học (1932). Ban đầu mở đạo tràng ở chùa Trúc Lâm do ngài Phước Huệ (chùa Thập tháp Bình định) chủ giảng, sau mở Phật học viện ở Tây Thiên và Phật học viện Bảo Quốc, giảng sư là Thầy Mật Khế và một Ni trường ở chùa Diệu Đức. Xuất bản tạp chí “Viên Âm”. Về sau lại có Đoàn “Phật học Đức dục” do đạo hữu Tâm Minh Lê Đình Thám chủ trương, quy tụ được một số thanh niên trí thức yêu chuộng việc sưu tầm nghiên cứu và áp dụng giáo ý Phật đà vào đời sống (Đây là tiền thân của Gia Đình Phật Tử Việt nam ngày nay). c) Bắc Kỳ: Có nhà sư Trí Hải và cư sĩ Nguyễn Năng Quốc đã thành lập Phật giáo Tổng hội (1934). Hội đã mở trường đào tạo tăng tài ở chùa Quán sứ, Ni trường ở chùa Bồ Đề. Xuất bản tờ báo “Đuốc tuệ”. Tất cả các phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc, Trung, Nam đều có những mục tiêu sau đây: Chỉnh đốn Thiền môn. Vãn hồi quy giới Đào tạo thế hệ thanh niên tu sĩ chân chính và hữu học Phổ thông giáo lý bằng Việt ngữ thay cho chữ Hán. Phong trào chấn hưng Phật giáo được quần chúng nhiệt liệt hoan nghênh. Một sự chuyển hướng đã diễn ra trong tư tưởng của giới trí thức đã quá chán ngán bởi cái văn minh vật chất của Tây phương, họ trực tiếp tham gia phong trào hoặc gián tiếp ủng hộ tài lực, vật lực. Tài liệu A Dục– trang 88


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

2. Giai đoạn đình trệ: Phong trào nhen nhúm và dần dần bùng khởi thì chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ (1939 -1945). Trong nước chiến tranh Việt Pháp lại xẩy ra và rồi dân tộc phải đương đầu cả với Pháp và Nhật. Phong trào chấn hưng Phật giáo lại ngưng trệ. 3. Giai đoạn tái hoạt động: Mãi đến 1948, chiến tranh vừa chấm dứt, tình thế trong nước bớt đen tối, phong trào chuyển mình trở lại. Ở Bắc có Thượng Tọa Tố Liên và Trí Hải lèo lái phong trào với giới cư sĩ tích cực tham gia Ở Trung có Thượng tọa Mật Hiển, Mật Thể và nhiều tăng sĩ uyên thâm và cùng cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám và đoàn Phật học Đức dục nổ lực phát huy phong trào. Lúc nầy đoàn Phật học Đức dục đã hình thành ra những Gia Đình Phật Hoá Phổ để giáo dục Thanh thiếu đồng niên theo tinh thần Phật giáo. Ở Nam, hai năm sau (1950) với sự nỗ lực của cư sĩ Chánh Trí Mai thọ Truyền, hội Phật học Nam Việt được thành lập thay cho hội Nghiên cứu Phật học. Tuy chưa có sự thống nhất nhưng cả ba miền Phật giáo được phát triển mạnh mẽ: Thành lập các trường đào tạo Tăng Ni. Thành lập nhiều cơ quan từ thiện cứu trợ nạn nhân chiến tranh. Trùng tu những chùa chiền bị chiến tranh tàn phá. Những tạp chí trước đây được tục bản. Các cao Tăng và các học giả uyên thâm chăm lo việc phiên dịch kinh sách Gia Đình Phật Hóa Phổ ngưng hoạt động bởi chiến tranh, nay đã trở lại hoạt động và phát triển rất nhanh cả ba miền đều có Gia Đình Phật Hóa Phổ. 4. Giai đoạn thống nhất Phật giáo

Tài liệu A Dục– trang 89


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Phật giáo được chấn hưng, đem lại một sinh khí trong mọi hoạt động xã hội, những tẹâ nạn mê tín dị đoan đã dần dần được đẩy lùi khi giáo lý Phật đà được truyền bá rộng rãi. Hàng Tăng sĩ được chấn chỉnh lại trong nếp sống kỷ cương, đạo hạnh. Một nguyện vọng chung cả ba miền là “thống nhất thành một khối” và ngày ấy đã đến.

a) Đi đến thống nhất: Ngày 06.5.1951 một Đai hội Phật giáo toàn quốc được tổ chức tại Từ Đàm Huế gồm đây đủ các đại biểu của các hội Phật giáo ở Bắc, Trung, Nam. Đại hội thành tựu tốt đẹp. Tất cả đã nhất trí: Thống nhất các hội cư sĩ Cải tổ giáo hội Phổ cập giáo lý trong quần chúng Đào tạo lớp thanh niên Phật tử. Song song với Đại hội Giáo hội, Đại hội Gia Đình Phật Tử toàn quốc lần thứ nhất cũng được tổ chức tại chùa Từ Đàm Huế. Trong Đại hội nầy, danh xưng Gia Đình Phật Hóa Phổ được đổi lại là Gia Đình Phật Tử. Đến năm 1956 Đại hội Phật giáo được tổ chức lần thứ hai tại Sài gòn. Kết quả thống nhất các tập đoàn Phật giáo thành một khối với danh xưng: Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam. Ngài Hội chủ là Thích Tịnh Khiết. Gồm có 6 tập đoàn: Giáo hội Tăng già Trung Việt Giáo hội Tăng già Nam Việt Giáo hội Tăng già Bắc Việt tại Miền Nam Hội Phật giáo Việt Nam tại Trung phần Hội Việt Nam Phật học (tức Bắc Việt tại miền Nam) Hội Phật học Nam Việt. Từ sau Đại hội nầy, cứ ba năm Đại hội một lần. Đại hội lần thứ ba năm 1959. Đại hội lần thứ tư tổ chức tại chùa Xá lợi năm 1962. Từ trước tới nay tuy thống nhất nhưng chỉ hình thức. Đại hội nầy mới thật sự thống nhất: danh xưng là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Gồm 2 viện: Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo. Có hệ Tài liệu A Dục– trang 90


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

thống tổ chức từ trung ương đến các tỉnh. Có Hiến chương của Giáo hội. Ngài Thích Tịnh Khiết được suy tôn ngôi vị Tăng Thống.

b) Những cam go trở ngại: Vừa thống nhất thì Phật giáo bị chính quyền miền Nam đàn áp, ràng buộc trong đạo dụ số 10. Xem Phật giáo như một hiệp hội tiêu khiển, thể thao. Nạn kỳ thị tôn giáo duới thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn văn Thiệu khiến Tăng Ni và Phật tử phải đứng lên vận động bất bạo động nhưng lại bị đàn áp dã man. Phật giáo đồ phải đổ nhiều máu mới có sự bình đẳng tôn giáo. Nhưng tiếp đến chiến tranh tàn khốc nên chưa hoàn thành được sứ mệnh chấn hưng.

c) Những thành tựu: Tuy phải đương đầu với bao sóng gió trong suốt 20 năm, công cuộc chấn hưng cũng gặt hái được nhiều thành quả lớn lao: Chỉnh đốn hàng ngũ tăng đồ, nghiêm trang giới luật. Loại dần những tạp giáo trong Phật giáo. Tổ chức được một Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Phát triển và đào tạo tăng tài. Nhiều tăng sĩ du học nước ngoài. Hệ thống hóa thành phần Phật tử tại gia và phát huy việc học tập giáo lý, loại dần mê tín dị đoan. Qua tổ chức Gia Đình Phật Tử, góp phần giáo dục thế hệ trẻ lành mạnh, đạo đức. Trùng tu và xây dựng thêm nhiều chùa lớn và Phật học viện. Can thiệp với chính quyền cho công chức được nghỉ 01 ngày lễ Phật đản. Xuất bản tạp chí “Phật giáo Việt Nam” của Giáo hội. Riêng ở Huế có thêm tờ nguyệt san “Liên Hoa”. Ở Sài gòn có thêm tờ “Hải Triều Âm”.

Tài liệu A Dục– trang 91


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

III. KẾT LUẬN Công việc chấn hưng phải ngưng trệ vì chiến tranh tàn khốc. Hiện nay dẫn đến tình trạng hầu như buông lỏng. Một vài nơi trở lại vết xe xưa. Một số tín đồ hoang mang, mất chánh tín. Công cuộc chấn hưng Phật giáo chắc chắn cần được tiếp nối. Nhưng ai là người nhận lãnh sứ mệnh đó? Ngoài các vị tăng già chân chính đạo hạnh còn phải có sự góp sức của các Phật tử tại gia thuần thành trung kiên, tích cực hộ trì Đạo pháp mà đứng đầu phải là những Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử.

Tài liệu A Dục– trang 92


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

PHẦN 4 HIỂU THẤU ĐÁO VỀ NGÀNH

Tài liệu A Dục– trang 93


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 1: TÂM LÝ NGÀNH Ở bậc Kiên chúng ta đã có dịp bàn đến Tâm lý trẻ. Phải hiểu rõ tâm lý các em thì việc giáo dục mới có hiệu quả. Cũng trong bài ấy, chúng ta phân tích kỹ những yếu tố ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của trẻ. Đó là: Môi trường, di truyền, tuyến nội tiết. Chúng ta cũng đã nắm được những phương pháp tìm hiểu tâm lý trẻ: Phương pháp nghiên cứu Phương pháp ngoại quan Phương pháp nội quan Khi tham dự trại Lộc Uyển chúng ta lại có dịp bàn sâu thêm về Tâm lý trẻ - Thảo luận vấn đề thăm dò Tâm lý trẻ theo từng lứa tuổi. Hôm nay trong thời gian ngắn ngủi của bài Tâm lý Ngành nầy chúng ta phải nắm chắc lại những vấn đề mấu chốt về Tâm lý trẻ theo từng ngành để áp dụng một cách thực tiển vào sinh hoạt và giáo dục hầu đem lại hiệu quả nhiều hơn. I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TÂM LÝ ĐOÀN SINH: Như đã nói ở trên, tâm lý các em thay đổi sai khác tùy hạn tuổi hay phái Nam, Nữ, nên ở đây ta cũng chia ra tâm lý theo giới tính của từng ngành Thanh, Thiếu và Oanh vũ để dễ phân biệt tìm hiểu. A. Tâm lý Thiếu niên, Thanh niên: Tuổi thiếu niên là một thế giới lạ lùng, kỳ ảo và phức tạp. Tuy nhiên ta cũng có thể liệt kê vài đặc điểm nổi bật của hạng tuổi nầy như sau: Hiếu động (thích chơi đùa, hoạt động). Hiếu thắng (thích ganh đua) Mạo hiểm (thích những trò chơi mạnh, mạo hiểm) Hào hiệp (thích hành động hào hiệp) Bồng bột (thích ganh đua, làm mà ít suy nghĩ chín chắn, nóng nảy khi chạm tự ái). Bắt đầu lý luận (thích cãi nhau) Tài liệu A Dục– trang 94


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Đối với tuổi Thanh niên (từ 18 tuổi trở lên) những tính bồng bột, hiếu động đã bắt đầu lắng xuống, người thanh niên õ bắt đầu tỏ ra: Đứng đắn Điềm đạm Giới nữ thông thường có vài điểm ngược lại những đặc tính trên của giới nam là: Đằm thắm ít ồn ào Rụt rè, nhát gan Thiếu sáng kiến Không quả quyết Dễ cảm xúc B. Tâm lý Oanh vũ: Tâm lý hạng tuổi Oanh vũ (từ 5, 6 đến 12) cũng rất phong phú và phức tạp mà ta cần hiểu rõ, nếu không, sự giáo dục của ta sẽ hoàn toàn thất bại. Bắt chước: Đây là đặc điểm quan trọng nhất (giảng viên cần nêu những ví dụ cụ thể trong thực tế). Hiếu động: Cũng là đặc điểm quan trọng Tò mò Tưởng tượng phong phú Thích khôi hài và khôi hài giỏi Thành thật Nhát gan Dễ chán nản - Tham ăn. Oanh vũ nữ cũng có những đặc điểm như trên, nhưng có vài điểm trái ngược như: Đằm thắm - ít khôi hài Bẽn lẽn - Dễ cảm xúc. II. ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC: 1. Với Ngành Thanh, Thiếu: Tài liệu A Dục– trang 95


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Áp dụng phương pháp huân tập và hoạt động, bắt đầu phương pháp lý giải (cho ngành Thiếu). Đối với ngành Thanh thì chú trọng phương pháp lý giải (xem bài phương pháp giáo dục trong Gia Đình Phật Tử). Ta có thể áp dụng các hình thức sau đây: Áp dụng luân lý đạo Phật: 5 hạnh, Ngũ giới. . Kể mẫu chuyện đạo Nhắc nhở châm ngôn và luật Tập sống tự lập. Chia trách nhiệm. Tập hàng đội tự trị. Thi đua trong tinh thần kỷ luật, xây dựng. Tập tháo vát Tạo môi trường để học tập, thảo luận thuyết trình (nhất là cho ngành Thanh) Điều quan trọng nhất là tự mình nêu gương tốt. 2. Đối với Oanh vũ: Áp dụng triệt để phương pháp giáo dục huân tập và hoạt động: Nêu gương tốt về mọi mặt. Tổ chức trò chơi, việc làm, hành lễ, du ngoạn, trại. Cho thấy, cho xem, cho nghe, cho hỏi. Phát huy óc tưởng tượng bằng trò chơi, kể chuyện, việc làm Cho diễn trò, ca hát. Tin cậy Cho ăn uống trong tinh thần lục hòa. Khích lệ, an ủi Vỗ về, đối đãi dịu dàng, thương yêu, săn sóc và đùm bọc. III. KẾT LUẬN: Giáo dục là một nhiệm vụ hết sức thiêng liêng cao cả, người Huynh Trưởng có thể hãnh diện. Nhưng muốn đạt dược mục đích cao đẹp đó, chúng ta cần phải hiểu rõ tâm lý Đoàn sinh của chúng ta để có thể áp dụng phương pháp giáo dục thích hợp như vị y sĩ cho thuốc con bệnh. Hiểu tâm lý trẻ cũng phải có phương pháp. Nhưng trước hết người Huynh Trưởng cần phải bền chí, chịu đựng, kiên nhẫn, mỡ rộng tình thương và nhất là phải biết dẹp bỏ tự ái cá nhân mình để Tài liệu A Dục– trang 96


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

hoàn thành trọng trách mà mình đã một lần phát nguyện mang lấy trên vai suốt đời. Chú ý: Trước khi học bài nầy - thông báo cho Trại sinh ôn lại bài tâm lý trẻ ở bậc Kiên và ở chương trình trại Lộc Uyển. Giảng viên cần có trong tay và nghiên cứu lại bài đó. Nếu có thời gian, phần II nên tổ chức dưới hình thức thảo luận.

o0o Bài 2 HIỂU TRẺ A. VÀO VẤN ĐỀ: Trong khi đề cập đến Tâm Lý trẻ ở chương trình bậc Kiên, chúng tôi đã có nêu: “Phải hiểu rõ các em thì việc giáo dục mới có hiệu quả. Trên phương diện giáo dục, hiểu được tâm lý của đối tượng mình giáo dục quả là muôn vàn khó khăn”. Cũng chính trong bài đó chúng ta đã phân tích qua những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý và giới thiệu với anh chị một số phương pháp tìm hiểu tâm lý trẻ. Khi được dự khóa huấn luyện Lộc Uyển, các anh chị được trang bị thêm một số nghệ thuật tìm hiểu tâm lý trẻ. Nhưng tất cả chỉ mới là khái niệm, là nguyên tắc, là một mớ lý thuyết và một số kinh nghiệm của những người đi trước. Hai năm qua, đem những hiểu biết nầy, áp dụng những phương pháp nầy vào thực tế, các anh chị đã có nhiều kinh nghiệm hơn. Chắc chắn chính bản thân anh chị đã rút tỉa thêm những nghệ thuật tìm hiểu trẻ. B. TÌM HIỂU TRẺ: I. TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM: Giờ đây chúng ta dành vài mươi phút để trao đổi cho nhau những nghệ thuật đó (dành từ 20 đến 30 phút để trao đổi). Trong lúc đó, giảng viên cũng cần nhắc lại: Ở đây chúng ta không đi sâu, bàn rộng về vấn đề tâm lý, vì chúng ta đã có dịp thảo luận ở bài “Tâm lý Tài liệu A Dục– trang 97


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Ngành”. Phạm vi bài nầy, chúng ta nêu lên những khó khăn mà chúng ta gặp phải trong việc tìm hiểu trẻ. Cũng như những kinh nghiệm quý báu giúp chúng ta vượt qua được những khó khăn để đạt đến thành công, tức là đã hiểu đúng đối tượng mình đang giáo dục. Đó là đã giáo dục có hiệu quả.(Sau khi thảo luận, giảng viên có thể kết luận chung) Vậy, việc tìm hiểu trẻ cũng còn rất là khó, mà cũng không phải là quá khó phải không các anh chị? II. NHÌN LẠI VẤN ĐỀ: Hiểu trẻ, đúng là rất khó, ngay cả một số nhà giáo dục trên thế giới như Brentano, Spranger, Jaspers, Le Senne mới chỉ vạch rõ những nỗi khó khăn của vấn đề phức tạp ấy chứ chưa nêu lên một phương thức nào giải quyết cụ thể. Về việc hiểu người khác Leibniz nói: “Mỗi tâm hồn, một thế giới”. Đúng thế, làm thế nào vượt khỏi bản ngã của mình để tìm hiểu người khác. Nếu xét người qua bản ngã của mình thì có thể những điều mình cho là tốt (theo với bản ngã của mình) nhưng sự thật vẫn chưa tốt, ngược lại mình cho là chưa tốt (theo với bản ngã của mình) lại có thể là điều tốt. Trong “Cổ học tinh hoa” có câu chuyện “Người mất búa”: người mất búa nhìn em nhỏ láng giềng thấy dáng đi, nét mặt rụt rè sợ sệt, mắt nhìn lia, nhìn lịa anh ta quả quyết rằng chính đứa trẻ nầy lấy cái búa của anh ta. Nhưng khi anh ta tìm thấy cái búa bị vùi vào trong cát thì anh ta lại nhìn thấy em nầy, dáng đi, điệu bộ, vẻ mặt rất thơ ngây không chút gì là gian xảo. Rõ là anh ta đã hiểu người qua bản ngã của mình. Một điều quan trọng nữa là: Trước khi muốn hiểu người thì mình đã thật hiểu về mình chưa. Chưa hiểu mình thì làm sao hiểu được người. Đây là câu chuyện có thật, một hôm bà A đi chùa, vào lễ Phật ra bị mất đôi dép mới mua, bà rêu rao chới với, nguyền rủa kẻ gian tham. Bà B thấy vậy, khuyên nhủ: “Thôi, vật chất vô thường mà, bây giờ chị la ó cũng thêm khổ tâm, luyến tiếc cũng chỉ thêm phiền não. Dù sao nó cũng đã mất rồi, mình tập hạnh xả bỏ theo như thầy đã dạy”. Thật tình thì chính bà B đã hiểu được tâm bà B chưa? Bà B có được cái tâm “xả bỏ” chưa? Một hôm khác bà B bị mất cái nón, cái nón quý giá ở chỗ là người Tài liệu A Dục– trang 98


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

con dâu tặng, không tiếc vì giá tiền cái nón mà tiếc món quà kỷ niệm của người con dâu! Bà lại la ó rùm beng! Bà B đã buông bỏ được chưa? Bà B đã tập tánh nhẫn nhục được chưa?! Đúng là bà B đâu đã hiểu được mình ! Hiểu người - Hiểu cả cái dở cái xấu nhưng phải hiểu cả cái tốt cái hay nữa chứ - Ai lại không có được một điều tốt nho nhỏ nào đó. Tìm hiểu người không phải là “bới lông tìm vết” cũng trong “Cổ học tinh hoa” có câu chuyện: A Lưu là một tên tiểu đồng giúp việc cho Chung Nguyên Tố, em nầy rất ngây ngô, vụng về không làm được việc gì cả. Quét một phòng nhỏ không sạch. Khi chủ đi vắng có dặn: ở nhà có khách đến thăm phải hỏi rõ họ tên, chỗ ở để về báo cáo lại cho chủ hay. Nhưng em nầy trí nhớ lại kém không nhớ được cái tên chỉ nhớ được dáng người cao, thấp, mập, ốm, râu xồm xoàm hay nhẵn nhụi v. v… Cuối cùng A Lưu bực mình quá đóng cổng lại để khỏi đón khách. Thế mà ông Nguyên Tố vẫn dùng em ấy. Có lần khách đến chơi, A Lưu đem những đồ quý của chủ ra khoe với khách, khi khách về A Lưu gõ vào các đồ vật, biết có cái bằng đồng mà để đen sì - A Lưu đem chùi rữa bóng loáng. Lại một lần nữa cây lựu trước vườn hoa, bọn trẻ hay vào hái phá, Nguyên Tố đi rồi A Lưu suốt buổi ngồi trước thềm mà giữ, đến trưa vào ăn cơm A Lưu nhổ luôn cây lựu đem vào để bọn trẻ khỏi đến phá. Ngớ ngẩn đến thế là cùng phải không các anh chị. Không những câu chuyện A Lưu thường là mẫu chuyện mua vui cho thiên hạ mà người ta còn chỉ trích Nguyên Tố, không biết dùng người chỉ nuôi đồ ăn hại. Nguyên Tố vẫn vui vẻ không bàn cải. Nguyên Tố lại là người viết chữ trên trướng, liễn rất khéo, vẽ rất đẹp. Một hôm Nguyên Tố đang hòa màu để vẽ. A lưu ngồi nhìn, Nguyên Tố nói đùa: “Mầy có vẽ được không?” “Khó gì mà không vẽ được.” A Lưu đáp. A Lưu cầm bút vẽ ngay, nét đậm, nét nhạt, nhìn ra nét xa, nét gần. Sau đó ông thử luôn mấy lần, lần nào A Lưu cũng vẽ được tranh, biết dùng màu sắc để phối cảnh. Từ đó ông rất trọng dụng và về sau A lưu đã trở thành một danh họa…

Tài liệu A Dục– trang 99


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

(Tuy trí nhớ kém nhưng nhận được dáng người, diễn tả lại được dáng người tức là đã có năng khiếu hội họa). Hiểu trẻ là thế đó! Phải nhẫn nại, phải dày công tìm hiểu. Nếu Nguyên Tố không nhẫn nại, không có bản lĩnh, chỉ nghe lời dèm pha của người khác thì đã mất đi một danh tài rồi phải không các anh chị? Đối với trẻ có khi tưởng mình đã hiểu rõ được đứa trẻ nhưng rồi ta phải thú thật: Đối với ta nó còn là xa lạ. Ta quen sống với thế giới tư tưởng, sở thích của người lớn, khó vươn ra ngoài để tiếp xúc với trẻ. Trẻ em có những cảm nghĩ khác ta. Chúng nhìn đời với cặp mắt ngây thơ, chúng tung tăng sinh hoạt trong một thế giới đặc biệt, không giống thế giới của chúng ta nên chúng ta không bao giờ hiểu được trẻ nếu chúng ta chỉ suy tư theo trí óc của chúng ta. Cha mẹ là người gần gũi con mình nhất nhưng mấy ai có thể hiểu được con mình? Có khi cha mẹ khó hiểu con cái vì tình yêu thương làm mờ mắt mà người thấy giáo thường hiểu học sinh nhiều hơn cha mẹ. Thực ra thì đã có thầy giáo nào hiểu rõ học sinh đâu. Mấy ai đã đi vào được tâm hồn trẻ! Một nhà sư phạm Henri Bouchet đã quả quyết: “Không hiểu tâm lý trẻ là tật chung của các ông thầy”, nhà sư phạm nói tiếp: “Khuyết điểm đó không những giết chết cái kết quả tốt tươi của bao cuộc khám phá, nó còn làm cho ông thầy không thể thấu hiểu và áp dụng được những phương pháp xác đáng”. Henri Bouchet cũng đã đưa ra nhận xét: “Nguyên nhân những lầm lỡ đó là ông thầy xem đứa trẻ như một “người lớn thu nhỏ”. Có người cho rằng: Trước đây chúng ta cũng là trẻ con, chỉ việc gợi trong ký ức những suy nghĩ, những sở thích, những tình cảm của chúng thời thơ ấu thì hiểu được trẻ chứ khó khăn gì! Chính trong phương pháp tìm hiểu tâm lý trẻ chúng ta học trước cũng có “suy bụng ta ra bụng người” nhưng đây chỉ là một phương pháp không hoàn chỉnh mà phải vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp khác nữa. Người lớn đã xa thời thơ ấu quá nên khó hiểu trẻ, thanh niên gần tuổi thơ ấu nên hẳn nhiên là còn dể hiểu trẻ hơn. Tuy Tài liệu A Dục– trang 100


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

nhiên tính thanh niên cũng khác xa bản tính các em Oanh vũ, Thiếu nam, Thiếu nữ nhiều lắm. Vì thế thanh niên tìm hiểu trẻ cũng chỉ là máy móc hời hợt. Họ thường lúng túng khi tiếp xúc với các em nhi đồng, họ cần sự hướng dẫn thêm của người cha, người mẹ. Vì chính những người từng làm cha làm mẹ thì mới hiểu được trẻ nhiều hơn (nói là nhiều hơn nhưng sự thật cũng rất ít). III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông”. Tìm hiểu trẻ thì quả là khó rồi đấy nhưng không phải là không tìm hiểu được. Chúng ta cần nắm vững một số bí quyết: Quan sát nhận xét thật kỹ Tìm cho ra cái xấu và cái tốt (dù cái tốt rất ít, rất nhỏ) Phải hòa mình với trẻ (cùng chơi, cùng hát, cùng làm) Phải có tinh thần nhẫn nại Biết lợi dụng trò chơi để tìm hiểu tâm tính các em. Liên hệ với phụ huynh, với giáo viên, với bạn bè của em (phối hợp cả nhiều hướng nhận xét). Biết trắc nghiệm về tâm tính và khả năng của các em Phải dụng trò chơi để tìm hiểu trẻ. IV. KẾT LUẬN: Hiểu trẻ, các nhà giáo dục Đông Tây đều xác định là rất khó. Trên phương diện tâm lý học có hiểu trẻ mới giáo dục trẻ có kết quả. Người Đoàn trưởng mang sứ mệnh giáo dục các em. Phụ huynh các em đặt cả niềm tin vào các anh chị, đã đưa các em đến nhờ các anh chị dạy dỗ. Vậy anh chị trưởng phải nắm vững những bí quyết trên, chắc chắn việc tìm hiểu không còn là khó lắm.

Tài liệu A Dục– trang 101


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 3: NHỮNG TRẺ KHÓ TÍNH I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Các em của chúng ta không phải em nào cũng ngoan, cũng bình thường, em nào cũng dễ giáo dục uốn nắn. Nếu thế thì việc giáo dục của Gia Đình Phật Tử chẳng có gì đáng nêu cao. Thực tế có nhiều em ương ngạnh, bướng bỉnh, giáo dục rất khó khăn. Lại nữa, có nhiều bậc phụ huynh thấy rõ kết quả giáo dục của Gia Đình Phật Tử nên, có con em hạnh kiểm chưa tốt mà gia đình không uốn nắn được, đưa đến Gia Đình Phật Tử gởi cho anh chị trưởng, tin tưởng vào sự giáo dục của các anh chị trưởng, con em họ trở thành tốt đẹp. Chúng ta không thể để mất sự tin tưởng của phụ huynh. Nhưng làm sao để có thể giáo dục được các em nầy II. THẾ NÀO LÀ TRẺ KHÓ TÍNH: 1. Định danh Những trẻ như trên thường gọi là “trẻ khó dạy”. Nhưng để tránh mặc cảm, tránh ý niệm không tốt, chúng ta gọi các em ấy là “trẻ khó tính”. Trong môi trường giáo dục của nhà trường thì gọi là “trẻ cá biệt” tức là có những tính riêng biệt, tâm lý khác biệt của từng cá nhân không giống tâm lý chung của những em cùng lứa tuổi. 2. Những biểu hiện của trẻ khó tính (cá biệt): Tham gia các sinh hoạt tập thể một cách tùy hứng, thích thì sinh hoạt không thích thì lơ là tách riêng. Không giữ đúng nề nếp kỷ luật của Đoàn. Thiếu những chuẩn mực về đạo đức như không vâng lời, hay kình cựa với bạn bè, có khi cãi lại cả với anh chị trưởng. Ở gia đình của em thường là đứa con bướng bỉnh, ương ngạnh, không thực hiện những điều cha mẹ sai bảo, dặn dò. Thích đi chơi lung tung. Có em đã rơi vào ham mê cờ bạc, rượu chè… Tính tình, có em thì hung dữ nhưng có em thì u sầu có vẻ bi quan hoặc bất thường, khi thế nầy, khi thế khác. Tài liệu A Dục– trang 102


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

III. NGUYÊN NHÂN TẠO RA KHÓ TÍNH (CÁ BIỆT): 1. Về mặt sinh lý: Suy thoái do bệnh lý, do bệnh tật bẩm sinh hoặc mới phát (sức khỏe yếu cũng có thể ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt). Do thần kinh bất ổn. 2. Về mặt tâm lý: Có rất nhiều nguyên nhân: Có thể vì cha mẹ quá nuông chiều. Vì hoàn cảnh gia đình, có thể vì mồ côi cha mẹ nên thiếu mất tình thương và không có ai giáo dục. Lại có thể vì cha mẹ hay xung khắc và hay cau có với con. Hoặc có sự đối xử bất công nào đó trong gia đình. Và cũng có thể ảnh hưởng ở cha mẹ, cha mẹ cờ bạc, rượu chè… Vì hoàn cảnh xã hội: giao du với bạn bè xấu mà cha mẹ không quan tâm. IV. PHƯƠNG THỨC GIÁO DỤC CÁC EM KHÓ TÍNH (CÁ BIỆT): Trước nhất các anh chị trưởng phải thật tình thương yêu các em (như chính em ruột mình). Thứ đến là phải biết nhẫn nhục, không nóng giận (giáo dục trong lúc mình đang nóng giận thì không phải là giáo dục) dù các em có hỗn xược với mình hay nhiều lần quở phạt mà các em vẫn xem thường. Nếu 2 điều nầy mà có được thì chắc chắn anh chị đã thành công đến 50% rồi đó. Bây giờ mới nói đến biện pháp giáo dục (nếu 2 yếu tố đầu không có thì bao nhiêu biện pháp hay cũng đều là bỏ đi không thể nào đạt kết quả trong việc giáo dục các em khó tính). Tìm hiểu nguyên nhân: Công việc rất công phu và mất rất nhiều thì giờ, phải gần gủi các em, thân tình gợi ý để các em có thể thổ lộ tình cảm riêng tư của mình, qua đó mà nắm được. Anh chị trưởng phải tiếp xúc với phụ huynh để tìm hiểu. Và một cách nữa là tìm hiểu qua bạn bè thân thiết của em. Tài liệu A Dục– trang 103


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Sau khi tìm hiểu rồi ta mới xác định được do nguyên nhân nào và tùy theo nguyên nhân đó để có những biện pháp khác nhau. Biện pháp: Nếu do bệnh tật hoặc sức khỏe mà ảnh hưởng đến tính tình thì anh chị trưởng liên hệ với phụ huynh, bàn bạc cho em đi chữa bệnh. (Nếu gia đình nghèo khó, chúng ta vận động các em trong Đoàn giúp đở, vận động giáo hội giúp đở). Do thần kinh bất ổn: Liên hệ với gia đình, tạo cho các em không khí yên tĩnh lúc ở nhà. Anh chị trưởng cũng tạo cơ duyên cho các em đến tịnh cư vài ngày trong 1 tháng ở ngôi chùa nào yên tĩnh nhất. Nếu do cha mẹ quá nuông chiều, góp ý với cha mẹ đồng thời phải gợi lên trong lòng em sự mến yêu cha mẹ (những em được cha mẹ nuông chiều thường rất thương cha mẹ nhưng vì lý do nào đó không đáp ứng được nhu cầu của em thì sinh lòng hờn oán cha mẹ). Đề nghị em phải làm một việc gì đó cho cha mẹ vui lòng và gợi ý, em nên hỏi thẳng cha mẹ: “Con phải làm gì để cha mẹ được vui nhất?” Rồi cứ thế, việc nầy đến việc khác (phải liên hệ bàn bạc trước với cha mẹ các em để phải biết nêu vấn đề em cần sửa chữa trước, không nên ôm đồm nhiều vấn đề cùng một lúc). Nếu vì hoàn cảnh gia đình mồ côi cha mẹ thì anh chị trưởng phải thường xuyên gần gủi an ủi vỗ về. Nếu cha mẹ hay xung khắc, ta phải nhờ một vị Tăng có uy tín và thân với gia đình em, đến trao đổi và khuyên răn cha mẹ hay những người trong gia đình.Đồng thời anh chị trưởng thân mật tâm sự với em phân tích để em thấy điều sai trái của cha mẹ mà tránh đi, đừng theo vết xe ấy. Nếu vì ảnh hưởng bạn bè: Anh chị trưởng phải cấp thời cho cha mẹ em thấy rõ để phụ huynh tìm cách ngăn chặn việc giao du đó. Dù do nguyên nhân nào, ta cũng phải tổ chức sinh hoạt cho linh động đổi mới trò chơi luôn, sưu tầm thêm các bài hát để dạy cho các em… Làm thế nào không khí sinh hoạt vui thu hút các em vào tập thể, huân tập được tính tốt của bạn, dần dần từ bỏ thói hư tật xấu. Tài liệu A Dục– trang 104


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Vận dụng phương pháp huân tập, dạy cho các em thực hành một điều tốt trái nghịch với điều xấu mà các em đang mắc phải. Chúng ta lập đi lập lại nhiều lần, ở Đoàn cũng như ở gia đình (kết hợp với gia đình) để điều tốt ấy trở thành một thói quen. Không bao giờ nhiếc mắng mà phải dùng lời lẽ dịu hòa. Kịp thời tuyên dương giữa tập thể khi thấy em đã tiến bộ dần ở một khía cạnh nào đó. Phải xây dựng cho em đó niềm tin trong cuộc sống. Tin lòng thương của những người xung quanh đối với mình, tin khả năng của bản thân mình có thể rèn luyện đễ trở thành người tốt, tin ở tương lai của mình. Một điều không bao giờ có thể quên được là: Huynh Trưởng luôn luôn phải gương mẫu. V. KẾTLUẬN Giáo dục trẻ khó tính (cá biệt) thường là rất khó khăn nền lúc nào cũng phải cẩn trọng. Nhưng với tình thương và lòng kiên trì nhẫn nại, chắc chắn anh chị sẽ thành công.

Tài liệu A Dục– trang 105


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

PHẦN 5: CẦM ĐOÀN

Tài liệu A Dục– trang 106


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 1: VẠCH CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT I. DẪN NHẬP: Gia Đình Phật Tử là một tổ chức giáo dục của Phật Giáo với mục đích đem giáo lý Phật đà thể nhập vào cuộc đời qua tầng lớp Thanh Thiếu Nhi. Do đó trách nhiệm và bổn phận của người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử là phải thực hiện mục đích của tổ chức mà mình đang tự nguyện dấn thân gánh vát. Nhưng muốn hoàn thành được trách nhiệm, người Huynh Trưởng cần phải nhận thức rõ tầm quan trọng của con đuờng mà mình đang đi, trách nhiệm mà mình đang gánh vát Bởi lẻ mục đích của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam trong công tác giáo dục tầng lớp Thanh Thiếu Nhi đi vào con đường Chân Thiện Mỹ không phải chỉ với một công việc thuần túy là tổ chức những lớp học, hay những buổi thuyết giảng giáo lý Phật đà, trái lại phải thực hiện đúng theo tinh thần giáo dục mà đấng Thế Tôn đã chỉ dạy, có như thế giáo lý Phật đà mới thấm sâu được vào tầng lớpThanh Thiếu nhi để đâm chồi nẩy lộc. Mà muốn thực hiện được điều này thì công tác trước tiên của người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam là phải biết VẠCH CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT. II. NỘI DUNG: 1. Định danh: Vạch chương trình sinh hoạt là gì? Là lên Chương trình để cân đối quỷ thời gian (từng Tam cá nguyệt - Từng tháng - Từng tuần) theo đề án đã được đề ra cùng với Chương trình tu học đã được tổ chức quy định nhằm mục đích ổn định, xây dựng và phát triển Đơn vi, Đoàn, Đội Chúng, cũng như thăng tiến tổ chức hầu thực hiện hoàn hão mục đích lý tưởng mà Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã đề ra theo tinh thần Nội quy và Quy chế Huynh Trưởng. 2. Phương pháp vạch chương trình sinh hoạt Để công tác vạch chương trình đạt được hiệu quả cao nhất khi thực hiện người Huynh Trưởng cần quán triệt những vấn đề sau: Tài liệu A Dục– trang 107


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Quỷ thời gian của từng Tam cá nguyệt - từng Tháng - từng Tuần (tuỳ theo từng loại Chương trình). Quỷ thời gian của từng đề án, bộ môn tu học, từng bậc học. Phân phối hợp lý các đề án, bộ môn theo trình tự thời gian một cách hợp lý cũng như tính cách quan trọng và nhu cầu của đề tài. Nắm bắt được tình hình về các mặt: Tinh thần - Khả năng Hướng phát triền Tính khả thi của đề án 3. Phân loại chương trình sinh hoạt: Chương trình sinh hoạt của Gia Đình Phật Tử Việt Nam được phân định cho từng cấp chịu trách nhiệm và tuỳ theo từng mức độ tương quan mà mỗi cấp hoạch định theo từng loại chương trình để dễ bề thực hiện: Cấp chịu trách nhiệm vạch chương trình sinh hoạt tổng quát: o Cấp Trung Ương: Dựa theo đề án đã được Đại Hội Huynh Trưởng toàn quốc thông qua phối hợp với Nội quy và Quy chế Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam. o Cấp Ban Hướng Dẫn Tỉnh, Thị: Dựa theo đề án đã được thông qua Đại hội Huynh Trưởng toàn Tỉnh, Thị xã phối hợp với Nội quy và Quy chế Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam. o Cấp Đơn vi gia đình hoặc Liên đoàn: Dựa theo đề án của Ban hướng Dẫn Tỉnh, Thị phối hợp với Chương trình tu học cùng dự án của Ban Huynh Trưởng đơn vị. Cấp chịu trách nhiệm vạch chương trình sinh hoạt chi tiết: o Cấp Đoàn: Dựa theo Chương trình sinh hoạt của Liên Đoàn trưởng phối hợp với dự án của Hội Đồng Đoàn. o Cấp Đội Chúng: Dựa theo Chương trình sinh hoạt của Đoàn 3a. Chương trình sinh hoạt tổng quát: Tài liệu A Dục– trang 108


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Căn cứ vào Đề án cùng với Chương trình Tu học, Huấn luyện của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã ấn định Huynh truởng chịu trách nhiệm của các cấp liên hệ lên Chương trình sinh hoạt tổng quát. Trước khi vạch chương trình Huynh Trưởng chịu trách nhiệm phải nắm vững: Quỷ thời gian trong năm và mỗi Tam cá nguyệt (3 tháng). Quỷ thời gian của chương trình tu học các bậc liên hệ. Các đề án sinh hoạt trong năm. Chương trình tổng quát phải vạch cho một năm tròn theo từng Tam cá nguyệt (theo năm dương lịch). Ví dụ: Chương trình tổng quát năm 2000 của GĐPT: X Gồm có: 52 tuần lễ với quỷ thời gian 130 giờ: Đệ I/TCN: 12 tuấn lễ với 30 giờ Đệ II/TCN: 13 tuần lễ với 32 giờ 30 Đệ III/TCN: 13 tuần lễ với 32 giờ 30 Để IV/TCN: 14 tuần lễ với 35 giờ. Quỷ thời gian theo chương trình tu học: 58 giờ Quỷ thời gian sinh hoạt: 72 giờ. Chương trình Mẫu tổng quát năm 2000 của GĐPT: X TT

THỜI GIAN

1 2 3 4 5 6 7 8 9

ĐỆ I TCN (12T)

10 11

30 giờ

ĐỀ MỤC

SỐ GIỜ XỦ DỤNG

GHI CHÚ

Bộ môn: PHẬT PHÁP Bộ môn: HĐTN Bộ môn: VĂN NGHỆ Bộ môn: HĐ XÃ HỘI THI VƯỢT BẬC TỰ TRỊ ĐOÀN SINH HOẠT CHUNG1 CHU NIÊN 11 LIÊN HOAN TẤT NIÊN NGHỈ TẾT CANH THÌN TRẠI DŨNG

4 giờ 1 giờ 30 phút 30 phút 12 giờ 5 giờ 4 giờ

1

Tài liệu A Dục– trang 109

Tính luôn thời gian Lễ Phật và giây thân ái

16/01/2000 30/01/2000 06/02/2000 19/03/2000


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

12 3 456 789

ĐỆ II TCN (13 T) 32 giờ

123 456 789

ĐỆ TCN (13T)

III

32 giờ

123 456 789 10

ĐỆ IV TCN (14T) 35 giờ

Bộ môn: PHẬT PHÁP Bộ môn: HĐTN Bộ môn: VĂN NGHỆ Bộ môn: HĐ XÃ HỘI KHẢO SÁT CUỐI TCN TỰ TRỊ ĐOÀN SINH HOẠT CHUNG1 TU BÁT QUAN TRAI2 CHUẨN BI CHO PHẬT ĐÃN VÀ VU LAN3 Bộ môn: PHẬT PHÁP Bộ môn: HĐTN Bộ môn: VĂN NGHỆ Bộ môn: HĐ XÃ HỘI KHẢO SÁT CUỐI TCN TỰ TRỊ ĐOÀN SINH HOẠT CHUNG1 TRẠI HIẾU2 TRẠI HÈ GIA ĐÌNH Bộ môn: PHẬT PHÁP Bộ môn: HĐ TN Bộ môn: VĂN NGHỆ Bộ môn: HĐ XÃ HỘI KHẢO SÁT CUỐI TCN TỰ TRỊ ĐOÀN SINH HOẠT CHUNG1 TRẠI HẠNH ĐƠN VỊ2 TU BÁT QUAN TRAI3 ĐẠI HỘI HT

1

7 giờ 4 giờ 4 giờ 2 giờ 1 giờ 4 giờ 8 giờ

Tính luôn thời gian Lễ Phật và giây thân ái 2 Dành cho HT 3 Hàng tuần vào tối thứ tư và năm từ 19 giờ đến 21 giờ

5 giờ 5 giờ 4 giờ 2 giờ 1 giờ 5 giờ 8 giờ

1

Tính luôn thời gian Lễ Phật và giây thân ái 2 Ngành Oanh

4 giờ 5 giờ 4 giờ 4 giờ 1 giờ 4 giờ 8 giờ 12 giờ

1

Tính luôn thời gian Lễ Phật và giây thân á 2 Cho ngành Nữ 3 Dành cho BHT

3b. Chương trình sinh hoạt chi tiết: Trách nhiệm thực hiện chương trình này là của Huynh Trưởng Đoàn. Huynh Trưởng cầm Đoàn dựa theo Chương trình tổng quát của Đơn vị hoặc của Liên đoàn phối hợp với dự án của Hội Đồng Đoàn để thực hiện Chương trình sinh hoạt chi tiết cho Đoàn mình phụ trách. Tài liệu A Dục– trang 110


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Trong trách nhiệm thực hiện chương trình sinh hoạt của Đoàn. Huynh Trưởng cầm Đoàn cần lưu ý một điều quan trọng là phải nắm vững được cụ thể tình hình của Đoàn về các mặt theo trình tự thời gian: Tinh thần chung của Đoàn - Đội - Chúng Khả năng của các Đội, Chúng Trưởng và Phó. Khả năng sinh hoạt và tu học của Đoàn sinh. Hoàn cảnh thực tế của tất cả các thành viên. Và để khỏi bị động trong khi thực hiện chương trình. Huynh Trưởng cầm Đoàn cần phải vạch chương trình sinh hoạt chi tiết từng 3 tháng một theo chương trình từng Tam cá nguyệt của Đơn vị. Tuy nhiên Chương trình sinh hoạt của Đoàn không phải chỉ có dựa vào Chương trình tổng quát của Đơn vị với quỷ thời gian đã quy định rồi chi tiết hóa theo từng đề tài của từng bộ môn trong Chương trình tu học , mà Chương trình sinh hoạt của Đoàn là phải thể hiện qua văn bản kế hoạch cụ thể mà Đoàn cần phải thực hiện , phải tu học để thăng tiến tự thân mỗi một thành viên của Đoàn và cũng để hóa giải các mặt yếu kém mà Đoàn vấp phải trong thời gian trước đó hầu đưa Đội, Chúng - Đoàn phát triển mạnh về phẫm cũng như về lượng. Mặc dù trên nguyên tắc khi vạch chương trình sinh hoạt là phải dựa trên quỷ thời gian, nhưng với chương trình sinh hoạt của Đoàn thì không nhất thiết phải dựa vào quỷ thời gian đã quy định , mà Đoàn có thể xử dụng cả quỷ thời gian ngoài quy định miễn là thực hiện hoàn hảo chương trình trong phạm vi được cho phép. Ví dụ: Chương trình sinh hoạt chi tiết mẫu: Đệ I/TCN năm 2000 Của Đoàn Thiếu Nam Đơn vị: X

Tài liệu A Dục– trang 111


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

NGÀY THÁNG THÁNG 1.2000 (5 TUẦN)

ĐỀ MỤC

TUẦN THỨ 1 (02.01.2000)

THI VƯỢT BẬC

TUẦN THỨ 2 (09.01.2000)

CHUẨN BỊ CHU NIÊN: -Công tác Chu niên -HọpHội đồng Đoàn1 -Kế hoạch cho trại Dũng2 CHU NIÊN THỨ 11 SINH HOẠT TỰ TRỊ: -Phụ khoá cho các Đội trưởng và phó1 -Phụ khóa chuyên môn cho Đoàn sinh -Văn nghệ lữa trại chuẩn bị trại Dũng LIÊN HOAN TẤT NIÊN

TUẦN THỨ 3 (16.01.2000) TUẦN THỨ 4 (23.01.2000)

THỜI GIAN

TRẠI 12 giờ

1

1 giờ

2

1 giờ 1 giờ

30 phút NGHỈ TẾT CANH THÌN TUẦN THỨ 5 (30.01.2000) THÁNG 2.2000 (04 TUẦN) TUẦN THỨ 1 (06.02.2000)

GHI CHÚ

Thăm phụ huynh Đoàn sinh Tài liệu A Dục– trang 112

Trước giờ sinh hoạt Đơn Vị

Vào sáng chủ nhật hàng tuần


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

TUẦN THỨ 2 -TU HỌC THEO + TUẦN THỨ CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐƠN VỊ 3 -SINH HOẠT TỰ TRỊ: -Phụ khóa lều trại + cổng trại + Lập Sa bàn cho Đội Trưởng + Phó1 TUẦN THỨ 4

1 giờ

-Phụ khóa về Ước đạc 1 giờ + phương hướng + Mật thư + Gút cho Đoàn sinh1 -Chuẩn bị vật tư cho trại dã ngoại tuần kế

1

Trước giờ sinh hoạt Đơn Vị

Ngoài chương trình chi tiết hàng tháng theo từng tam cá nguyệt, Huynh Trưởng cầm Đoàn còn phải soạn chương trình chi tiết hàng tuần dựa theo chương trình hàng tháng, chương trình này nhằm mục đích chi tiết hóa từng đề mục cần thực hiện trong tuần để có bước chuẩn bị đầy đủ hầu hổ trợ cho đề mục sẽ thực hiện. Nhằm giúp cho Huynh Trưởng cầm Đoàn kiểm tra chặt chẻ công việc thực hiện chương trình cũng như kết quả học tập còn phải thực hiện: Sổ học tập gồm các phần: (Ghi theo trình tự thời gian của Chương trình tu học) Phần tu học (theo từng bậc): o Môn học + Thời gian học + Đề tài đã hướng dẫn o Trợ huấn cụ cần có + Những đề tài chưa thực hiện được trong chương trình. Phần sinh hoạt: o Đánh giá kết quả thực hiện o Hướng triển khai tiếp theo. Phần chuẩn bị: Tài liệu A Dục– trang 113


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

o o

Soạn bài Lên kế hoạch

III. KẾT LUẬN: Như phần dẫn nhập đã đề cập trách nhiệm chính yếu của người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam là phải thực hiện được mục đích của tổ chức đã đề ra, mà muốn thực hiện được mục đích chính yếu ấy là cần phải biết vạch một chương trình sinh hoạt mà trong đó phải bao gồm đủ các mặt từ TỈNH đến ĐỘNG, từ chương trình tu học đã được tổ chức ấn định, đến việc thực hiện các dự án nhằm đáp ứng nhu cầu của hiện tại, còn phải truyền vào trong chương trình dòng máu nóng đầy nhiệt huyết và tình thương bao la không vị kỷ qua những câu chuyện dưới cờ , những buổi phụ khóa , những lần sinh hoạt dã ngoại , nhưng buổi tiếp xúc vui chơi . . . cho nên người Huynh Trưởng phải chuẩn bị cho mình một hành trang thật đầy đủ , một lòng kiên trì nhẫn nại để theo dỏi từng bước chân đi, từng lời nói của đàn em , từng tánh xấu cũng như tốt của các em trước khi dự thảo thực hiện vạch chương trình sinh hoạt. Hãy tự mình xắn tay áo lên để nhận lãnh, tương lai của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam đang đặt vào tay các Anh, Chị đó.

o0o Bài 2: HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN Đoàn là đơn vị nòng cốt của gia đình, do đó việc quản trị một Đoàn cần được đặc biệt chú trọng, phải được tổ chức phân nhiệm đầy đủ, có như vậy sinh hoạt của Đoàn mới điều hòa, mới có cơ phát triển. Ai không hề nghĩ đến việc tổ chức, phân nhiệm thì nên giao Đoàn lại cho người khác, bởi làm như vậy thì không khác gì mình cố tình kìm hảm mức tiến của Đoàn, của Gia Đình Phật Tử. I. TỔ CHỨC: 1. Phần quản trị: Tài liệu A Dục– trang 114


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

a) Huynh Trưởng: Đoàn có một Ban Huynh Trưởng gồm có 1 Đoàn trưởng và từ 1 đến 2 Đoàn phó hoặc nhiều hơn càng tốt để phân chia các chức vụ như: Thư ký, Thủ quỹ và Giảng viên (những Huynh Trưởng nầy phải trực tiếp sinh hoạt với Đoàn, với tư cách Huynh Trưởng tập sự hay phụ trách chuyên môn chứ không phải là một Thư ký hay Thủ quỹ mà thôi). b) Đoàn sinh: Ngành Thanh: cần phải tổ chức một ngành Thanh cho Gia đình vì đây sẽ là những Huynh Trưởng tương lai, tuổi từ 18 trở lên. Ngành Thiếu: Mỗi Đoàn có tối đa từ 4 Đội hay 4 Chúng, mỗi Đội, Chúng có từ 6 đến 8 em Đoàn sinh tuổi từ 13 đến 17 (tối thiểu phải có 2 Đội hoặc Chúng). Ngành Oanh: Mỗi Đoàn có tối đa 4 Đàn, mỗi Đàn có tối đa 6 em đàn sinh. Đơn vị nào đông Oanh Vũ nên chia ra nhiều Đoàn nhưng cứ để một Đoàn trưởng chung cho 2 Đoàn và có nhiều Đoàn phó chuyên trách, tổ chức theo lối nầy tránh cho các em phân biệt người nầy người khác của Đoàn nầy Đoàn kia (tối thiểu phải có 2 Đàn). 2. Phần sinh hoạt: Mỗi tuần có một buổi sinh hoạt thời gian được ấn định như sau: Ngành Thanh, Thiếu: Từ 02 giờ đến 02 giờ 30 Ngành Oanh: Từ 01 giờ 30 đến 02 giờ Tính chất sinh hoạt: Ngành Thanh, Thiếu: Ngành Oanh:

Phương pháp hàng Đội Chúng tự trị. Sinh hoạt Đoàn.

3. Trách nhiệm: Ban Huynh Trưởng Đoàn chịu trách nhiệm về việc điều khiển Đoàn trước Liên Đoàn trưởng ngành liên hệ, vạch chương trình và hướng dẫn Đoàn sinh tu học theo chương trình của Gia Đình Phật Tử. Mỗi hoạt động hàng tháng, hàng tuần do Ban Huynh Trưởng Đoàn vạch định và thông qua Liên Đoàn trưởng. Tài liệu A Dục– trang 115


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

4. Văn phòng Đoàn quán: Đoàn quán là Đoàn quán chung của cả gia đình. Đoàn cũng cần có một góc làm văn phòng riêng của Đoàn. Có thể là một cái tủ đựng hồ sơ, sổ sách của Đoàn và những tác phẩm nghệ thuật, thủ công của Đoàn sinh, một giá cắm cờ Đoàn, cờ Đội, Chúng, Đàn. Có một văn phòng góc Đoàn như thế Đoàn có thể trang trí gây thêm tinh thần cho Đoàn. Hệ thống tổ chức Đoàn: 1 Đoàn trưởng, 1 đến 4 Đoàn phó. Nếu là ngành Thiếu hoặc Thanh: Mỗi Đoàn có từ 2 đến 4 Đội hoặc Chúng lấy tên màu Sen: Vàng, Trắng, Hồng, Xanh. Mỗi Đội, Chúng có 1 Đội chúng trưởng và 1 Đội chúng phó Nếu là ngành Oanh: Mỗi Đoàn có từ 2 đến 4 Đàn, lấy tên màu cánh chim: Cánh Vàng, Cánh Trắng, Cánh Nâu, Cánh Lam. Mỗi Đàn có một Đầu đàn và một Thứ đàn. 5. Về giao dịch: Đối nội: Văn thư liên lạc với Đội, Chúng, Đàn trưởng và Đoàn sinh trong Đoàn. Giao dịch với Đoàn khác cùng trong gia đình Liên lạc với Liên đoàn trưởng, với Gia trưởng, với Ủy viên Ban Hướng Dẫn cùng ngành. Đối ngoại: Ngoại trừ Đoàn sinh với phụ huynh Đoàn sinh, mọi sự liên hệ hay liên lạc đối ngoại đều do Gia trưởng và Liên đoàn trưởng. II. QUẢN TRỊ HÀNH CHÁNH: 1. Sổ sách của Đoàn: Mỗi một đơn vị hành chánh nào cũng cần có sổ sách hành chánh tối thiểu cần thiết. Đoàn cũng cần phải có sổ sách như sau, về hình thức thay đổi tùy theo sáng kiến: Tài liệu A Dục– trang 116


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

a) Đoàn phả: Tương tự như sổ danh bộ gia đình, phần đầu là danh sách Huynh Trưởng và danh sách Đoàn sinh thuộc Đoàn, lập theo mẫu gồm có 6 cột: Số danh bộ - Số thứ tự - Số danh bộ Ban hướng dẫn - Họ và tên - Pháp danh - Ngày tháng vào Đoàn (danh sách này ghi theo thứ tự ngày đến Đoàn, không phân biệt Huynh Trưởng hay Đoàn sinh). Phần Đoàn phả gồm có 3 phần: Lý lịch: Họ và tên - ngày sinh - chánh quán - nghề nghiệp - học lực Pháp danh - Bổn sư truyền giới - Quy y ngày - Phương danh cha mẹ (nghề nghiệp cha mẹ) - địa chỉ. Thành tích học tập: Vượt bậc Mở mắt, Hướng thiện ngày Vượt bậc Cánh mềm, Sơ thiện ngày Vượt bậc Chân cứng, Trung thiện ngày Vượt bậc Tung bay, Chánh thiện ngày Dự Tuyết sơn, Anoma Ni liên ngày Thành tích đặc biệt:

xx/xx/xxxx xx/xx/xxxx xx/xx/xxxx xx/xx/xxxx xx/xx/xxxx xxxxxxxxx

Công việc của Huynh Trưởng Thư ký Đoàn là phải ghi đầy đủ từ đầu đến đoạn lý lịch, rồi tuần tự ghi chép vào Đoạn 2, chỉ ghi tóm tắt nhưng đầy đủ về nhận xét đoàn sinh, những chi tiết đặc biệt của từng em ở đoạn 3. Phải cố gắng nhật tu, mỗi lần nhật tu căn cứ theo biên bản nhận xét của Đoàn và phải báo cáo lên Thư ký của Gia đình cùng ghi trong danh bộ. b) Nhật ký Đoàn: Một quyển sổ ghi chép tường thuật những sinh hoạt đặc biệt của Đoàn, các buổi trại Đoàn, những lễ lược Đoàn, những buổi du ngoạn và những ý kiến của khách lúc thăm viếng Đoàn cũng ghi vào đây. c) Danh sách Đoàn sinh: Sắp theo từng Đội, Chúng, Đàn và lập hàng tháng, hàng tuần để điểm danh và kiểm soát sự chuyên cần hay vào ra của Đoàn sinh. Tài liệu A Dục– trang 117


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Ở cột ghi chú ghi rõ lý do vắng mặt mấy tuần để gởi thư về báo gia đình hoặc đề ra Đoàn ngày nào theo Quyết định ngày. d) Sổ khí mảnh: Ghi tất cả dụng cụ của Đoàn, phân biệt thành loại (sổ sách và dụng cụ trại), số lượng giá trị, ngày mua hoặc ai cho, tình trạng lúc có, lý do phế thải v. v… Ghi rõ 11 mục: 1. Số thứ tự 2. Tên vật dụng 3. Trị giá đơn vị 4. Số lượng vật dụng 5. Ngày tiếp nhận 6. Tình trạng lúc nhận 7. Do ai tặng hay mua 8. Lý do phế thải 9. Ngày phế thải 10. Theo lệnh của ai 11. Ghi chú đặc biệt Mỗi vật dụng đều kiếm cách ghi theo số thứ tự của sổ nầy vào bằng cách thêu hoặc khắc. Mỗi vật dụng phế thải phải có biên bản buổi họp (Hội Đồng Đoàn do Ban Huynh Trưởng và Đội Chúng trưởng và phó) và Đoàn trưởng ký tên vào sổ. e) Sổ biên bản: Ghi lại các điều đã đúc kết hay đã quyết định của những buổi họp các Huynh Trưởng trong Đoàn và các buổi họp Hội đồng Đoàn. Ghi ý kiến của các buổi họp thường kỳ hay bất thường ngày giờ, địa điểm, số người hiện diện và Thư ký sau cùng. Ai đến trể thì ghi sau thư ký (tức biết đi trể). Ghi những người vắng mặt với lý do vắng. Những đúc kết ghi gọn gàng đầy đủ. f) Sổ Thông tin: Tức sổ liên lạc với các Đội, Chúng, Đàn. Ghi những quyết định của Đoàn và chỉ thị của Gia đình cần phổ biến để thi hành. Phần 1: Nơi gởi, nơi nhận Phần 2: Số bản tin hay thông tin Tài liệu A Dục– trang 118


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Phần 3: Ghi chú đặc biệt dể thông báo. Đề nghị thi hành trong thời gian từ… đến… g) Sổ tài chánh: Dùng tập vở 50 trang cho một năm. Phải đánh số trang trước và Đoàn trưởng ký vào mỗi trang không bỏ sót. Theo mẫu: Ngày tháng

Khoản mua và khoản thu

Số tiền

Cộng

Tồn quỷ

Ghi chú

Thu

chi

Thu

chi

Qua mỗi tháng tổng kết và ghi: Tổng kết tài chánh tháng: _______ Tháng trước còn lại (nợ): _______ Thu trong tháng: ___________ Chi trong tháng: ___________ Chuyển (hoặc nợ) tháng sau: _________ Viết bằng chữ: _________ Cuối phần tổng kết có Thủ quỹ và Đoàn trưởng cùng ký tên. h) Sổ văn thư đi và đến: Nếu Gia đình gởi cho Đoàn bằng sổ thông tin thì Đoàn phải có sổ ghi chép nội dung đến. Trường hợp dùng văn thư rời thì chỉ ghi số văn thư như thông thường và dán vào kẹp luôn. Mẫu ghi số văn thư đến: o Ngày và số đến o Nơi gởi văn thư o Ngày và số của văn thư đến o Nội dung (ghi tóm tắt văn thư đến) Mẫu ghi số văn thư đi: o Ngày và số văn thư đi o Nơi nhận văn thư o Nội dung (ghi tóm tắt văn thư đi) Tập lưu trử: Để dán văn thư đi và đến. Cách ghi số đến của một văn thư: Một văn thư đến ghi bên lề giờ nhận (nếu văn thư khẩn), dò trong sổ văn thư đến đã ghi Tài liệu A Dục– trang 119


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

đến số nào rồi thì ghi số tiếp theo vào lề ấy, ghi chép số đến và chi tiết vào sổ văn thư đến ngay. Sau khi Ban Huynh Trưởng Đoàn họp quyết định, văn thư đó hãy ghi quyết định vào chỗ đến (sau nầy trình xem lại). Đoàn còn các ấn phẩm sau đây: Giấy xin phép phụ huynh cho các em đi du ngoạn hay đi trại. Báo cáo đoàn sinh vắng mặt 2 tuần lễ liên tiếp không lý do. Báo cáo định kỳ cấp Đoàn (mẫu TƯ - 006 đã tu chỉnh ngày 30.9.2001). III. QUẢN TRỊ ĐOÀN SINH: Thâu nhận Đoàn sinh là trách nhiệm của Bác Gia trưởng và Liên Đoàn trưởng. Tổ chức Đoàn sinh là nhiệm vụ của Đoàn trưởng. Phải biết hệ thống tổ chức Đoàn ở mỗi ngành. Phải nhận xét đúng về tâm lý, khả năng của từng em để xếp đặt chúng vào các Đội, Chúng, Đàn cho thích hợp không những cho riêng từng em mà còn tạo sự thoải mái, vui thích cho không khí toàn Đoàn. Việc xếp đặt nầy có thể thay đổi trong thời gian 3 tháng hay 6 tháng tùy theo sự tiến triển của Đoàn. Việc học tập cho Đoàn sinh: Đoàn trưởng phải có chương trình học tập thường kỳ hàng tuần, hàng tháng cho Đoàn, phải soạn thảo thành bài để hướng dẫn. Phân tích chương trình lập chương trình tổng quát là việc của Liên Đoàn trưởng, còn thiết lập chương trình chi tiết hàng tuần, hàng tháng là việc của Đoàn trưởng, vạch và lập phiếu hàng tuần là việc của Huynh Trưởng Giảng viên giảng dạy. Ngoài chương trình thường kỳ hàng tháng và 3 tháng phải có những buổi xuất du: Du ngoạn hay cắm trại tùy theo ngành cho các em ôn tập chương trình của các em vào mùa Thành đạo, mùa thi của Gia Đình Phật Tử. Về lễ lược: Ngoài lễ cầu an, cầu siêu cho Doàn sinh mình, Đoàn trưởng phải lo lễ sinh nhật Đoàn.

Tài liệu A Dục– trang 120


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Những lễ lược khác phối hợp với Liên Đoàn trưởng và Gia trưởng cùng các Huynh Trưởng trong Gia đình.

Bài 3: HUẤN LUYỆN ĐỘI, CHÚNG VÀ CHĂN ĐÀN I. NHIỆM VỤ HUẤN LUYỆN ĐỘI, CHÚNG TRƯỞNG, ĐẦU THỨ ĐÀN: Đội, Chúng trưởng, Đầu Thứ đàn là người điều khiển tổ chức căn bản của Gia đình. Gia đình cần phải đào tạo Đội, Chúng trưởng và đầu, thứ Đàn để các em đủ khả năng sinh hoạt và dìu dắt các bạn đồng đội theo tinh thần của Đội, Chúng, Đàn. Việc đào tạo Đội, Chúng trưởng và đầu Thứ Đàn có thể có nhiều hình thức: 1. Đào tạo thường xuyên: Đào tạo căn bản chuyên môn và lòng tự tin: Từ lúc còn Đoàn sinh, huấn luyện thường kỳ hàng tuần cho những Đoàn sinh xuất sắc vào một giờ riêng. Đề tài huấn luyện chính là những vấn đề vấp váp sai lầm của những Đoàn sinh nầy mà Huynh Trưởng nhận thấy khi quan sát tình hình sinh hoạt Đoàn, hình thức nầy hiệu quả nhất, thiết thực nhất, nhưng lại không đủ phương tiện, không đủ thì giờ Tài liệu A Dục– trang 121


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

2. Hình thức mở trại huấn luyện Đội, Chúng, Đàn trưởng: Một gia đình chính thức có thể tổ chức chung cho cả nam lẫn nữ. Có khi hai, ba Gia đình hay Quận hợp lại tổ chức riêng nam và nữ. II. TỔ CHỨC TRẠI HUẤN LUYỆN: 1. Tên trại: ANOMA: Đội trưởng. NILIÊN: Chúng trưởng TUYẾT SƠN: Đầu đàn. 2. Phạm vi quyền hạn: Gia Đình được phép tổ chức trại huấn luyện Đội, Chúng trưởng, đầu thứ Đàn của gia đình mình khi thỏa mãn các điều kiện sau đây theo tinh thần Nội quy và Quy chế Huynh Trưởng về việc huấn luyện từ trước đến nay tại địa phương: Phải là gia đình chính thức mới có thể mở trại. Ban Quản trại phải là Huynh Trưởng cấp Tập hay A Dục. Ban Giảng huấn là Huynh Trưởng cấp Tập hoặc đã dự trại A Dục (cấp 1) và có 2 năm Huynh Trưởng, hoặc các Huynh Trưởng thâm niên có khả năng và uy tín trong gia đình, đang điều khiển một Đoàn hay Liên đoàn. 3. Thành phần Ban Quản Trại: Trại trưởng: Phải là Huynh Trưởng thâm niên có cấp Tập hay đã trúng cách trại A Dục: Điều kiện chung chịu trách nhiệm với Ban hướng Dẫn về chương trình huấn luyện và quy cách trại sinh. Trại phó: Cọng sự với trại trưởng trong việc lên thời khóa biểu và quản lý trại sinh. Ủy viên kỷ luật: Phụ trách nề nếp của trại, kỷ luật trại sinh Thư ký trại: Phụ trách về hồ sơ trại sinh, kiểm tra điều kiện trại sinh, nắm số lượng hàngngày.

Tài liệu A Dục– trang 122


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Đời sống trại: Phụ trách vần đề ăn uống, sức khỏe, giờ giấc và sinh hoạt vui chơi ngoài giờ học. Họa mi trại: Phụ trách tâp hát những bài hát cũ phải hát cho chỉnh, tập thêm bài hát mới. 4. Tài liệu: Có sẵn cũa Ban Hướng Dẫn Tỉnh hoặc Trung Ương. Nếu do Gia đình tự soạn thì phải do Ban Hướng Dẫn duyệt xét và quyết định. Tất cả lập thành hồ sơ gồm: Đơn xin mở trại 3 bản: Đại diện Quận 1 bản - Chuyển lên Ban Hướng Dẫn 2 bản (để xếp vào hồ sơ của Tỉnh và của Nghiên huấn) Danh sách ban Quản Trại và ban Giảng Huấn chuyển lên Ban hướng Dẫn 2 bản (chuyển Ủy viên Nội vụ và Tổ kiểm phối hợp 1 bản, hồ sơ Nghiên huấn 1 bản) Hồ sơ xin mở trại huấn luyện Đội, Chúng trưởng hay đầu thứ Đàn của Gia Đình, gởi về Ban Hướng Dẫn trước hạn định là 1 tháng tính theo ngày khai mạc khóa huấn luyện. 5. Ban Tổ chức: Hồ sơ hợp lệ gởi đi xem như có thể chấp nhận nếu không có gì trở ngại công việc chung, tuy nhiên nên liên lạc để biết kết quả tại Ban Hướng Dẫn và nhận quyết định. Trong thời gian nầy Gia đình tiếp tục công việc tổ chức. Ban tổ chức (chưa phải là Ban Quản trại, Ban Quản trại phải có quyết định của Ban Hướng Dẫn) gồm có: Huynh Trưởng Trưởng Ban tổ chức phụ trách ngoại vụ lo mua sắm chuẩn bị các vật dụng cần thiết cho trại (mượn trại, bàn ghế, vật liệu 1 văn phòng trại, mua sắm vật dụng linh tinh cung cấp cho ban Quản trại và Giảng huấn). Huynh Trưởng ban viên phụ trách ẩm thực lo việc ăn uống cho trại sinh và Ban Quản trại thường trực, Huynh Trưởng nầy cùng Thư ký trại nhận phạn phí và trại phí lúc trại sinh nhập trại.

Tài liệu A Dục– trang 123


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Huynh Trưởng ban viên điều hợp lo tổ chức nhân sự việc nấu ăn, có thể nhờ quý Bác hay nhờ 1 Huynh Trưởng coi sóc 1 số Đoàn sinh lo việc nầy, trách nhiệm là luôn luôn theo dõi việc ăn uóng của trại sinh, đi chợ hằng ngày để thực phẩm được tươi, giao dịch với các ân nhân hổ trợ cho trại Hoạt động song song với Ban tổ chức trong thời gian chuẩn bị có Ban Giảng huấn (dù chưa có quyết định), Huynh Trưởng trách nhiệm về Ban Giảng huấn phân chia tài liệu, tổ chức thuyết trình để có một đường lối chung và quan niệm giảng giải các nội dung vần đề. Tránh việc “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” sau nầy. Ngoại trừ tài liệu trình lên Ban Hướng Dẫn không được dạy thêm một môn nào khác. Ban Hướng Dẫn cần ban hành quyết định gấp để Ban Quản trại làm việc kịp thời. III. TINH THẦN VÀ TIÊU CHUẨN CỦA TRẠI: Mục đích của trại là đào luyện Đội, Chúng trưởng và phó, Đầu và Thứ đàn cho Gia đình căn cứ trên những mục tiêu: Giáo dục kỷ luật cho các em Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử về sự đối đãi với gia đình, với Huynh Trưởng, với đồng đội, với đoàn sinh anh em. Tạo cho các em lý tưởng kỷ luật, tự mình tình nguyện thực hành để giữ giá trị mình và làm gương cho Đội, Chúng, Đàn mình. Đào luyện và phát triển tinh thần đồng đội: Cho các em biết về mối liên hệ cần thiết giũa các đội chúng đàn sinh, tinh thần đội chúng đàn như thế nào, làm sao để sống Lục Hòa. Thuật chỉ huy: Cách thức chỉ huy và quản trị Đội Chúng Đàn. Đối với từng loại Đoàn sinh phải như thế nào, cách sử dụng phân loại và phân công. Phát triển sức sống của Đội, Chúng, Đàn về tinh thần và thể chất. Thêm cho các em ít vốn Phật pháp, chuyên môn để giúp cho mình chỉ bảo cho Đội, Chúng, Đàn, nhất là phương pháp học và thực hành với phương thức tìm hiểu để cầu tiến. Do đó Ban Giảng Huấn cố gắng kiểm soát: Tài liệu A Dục– trang 124


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Khả năng hiểu biết kỷ luật và phương pháp huấn luyện của mình, thấu rõ đề tài và cách thức trình bày cho trại sinh thích thú. Tư cách Huấn luyện viên: Lịch sự với trại sinh, nghiêm minh chứ không hống hách hay lỗ mãng trong lời nói và thái độ với trại sinh, phải tâm niệm rằng trại sinh kém hiểu là tại lỗi của mình. IV. ĐIỀU KIỆN TRẠI SINH VÀ ĐIỀU KIỆN TRÚNG CÁCH: 1. Điều kiện Trại sinh: Đủ 14 tuổi (Đội, Chúng trưởng), 08 tuổi (đầu, thứ Đàn) Đã trúng cách bậc Hướng thiện là tối thiểu (điều kiện nầy sẽ được miễn đối với các em đã là Đội, Chúng trưởng. Đầu thứ Đàn thì phải qua bậc Mở Mắt là tối thiểu, nhưng phải thời gian tại chức 3 tháng) 2. Điều kiện trúng cách: Tham dự suốt thời gian trại. Có đủ số điểm đã ấn định (Từ 12 điểm trở lên là Đội, Chúng trưởng, đầu Đàn - từ 10 điềm đến dưới 12 điểm là Đội, Chúng phó, thứ Đàn - dưới 10 điểm bị loại). V. VAI TRÒ ĐỜI SỐNG TRẠI (tham khảo sổ tay Huấn luyện viên): 1. Vị trí và tư cách: Là người của Ban Quản trại trên phương diện điều khiển, kiểm soát và hướng dẫn đời sống Trại sinh mà cũng là người của Trại sinh trên phương diện đại diện choTrại sinh đạo đạt nguyện vọng của Trại sinh lên Ban Quản trại. Là vị hướng dẫn đời sống toàn trại mà phải thi hành biện pháp cấp thời. Lưu ý: Cảnh cáo Trại sinh nhưng cũng cần thấy rõ trước ảnh hưởng và kết quả của hành động ấy mới nên thi hành (tế nhị, khéo léo, thận trọng) do đó Đời sống trại chỉ nên dùng tài trí để kiểm điểm hơn là dùng quyền của Ban Quản trại.

Tài liệu A Dục– trang 125


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

2. Quyền hạn và nhiệm vụ: Nhận việc từ khi Thư ký bàn giao sổ sách, trình diện trại sinh và được Ban Quản trại giới thiệu với trại sinh. Đời sống trại chia Đội, Chúng, Đàn lập danh sách riêng, thông báo chương trình tổng quát hàng ngày cho các Đội, Chúng, Đàn trưởng để phổ biến cho Trại sinh. Nằm trong Trại sinh để kiểm soát trại sinh về mặt kỷ luật, tinh thần khả năng. Ghi chú kỹ càng vào sổ tay của Đời sống trại nhưng không lộ liễu làm Trại sinh xa lánh mình, chỉ khi Trại sinh sống với Họa mi trại. Đời sống trại mới có thể buông thả Trại sinh chốc lát. Ngay cả lúc Giảng viên dạy cũng có mặt Đời sống trại tham dự (vừa học thêm, vừa kiểm soát khả năng, theo dõi các khóa và sự thâu nhận của Trại sinh). Đời sống trại không ngủ với Trại sinh, nhưng đến giờ tịnh mới được nghỉ. Ban đêm giao toàn trại cho Trại phó và Ban Quản trại trực đêm, dù có tổ chức thi đêm, Đời sống trại vẫn ngủ. Tuy vậy luôn luôn có mặt ở Trại là Đời sống trại và Thư ký trại. Trại trưởng, Trại phó và Họa mi trại là đại diện ban Quản trại. Sổ tay của Đời sống trại là một tập vở ghi chép: Tỉ mỉ về từng Trại sinh (theo hàng Đội, Chúng, Đàn) lý lịch, chuyên môn, khả năng tổng quát, có sẵn kết quả. Thâu nhận thắc mắc chung của trại, riêng lẻ hoặc do Trại sinh tâm sự riêng với mình, hoặc trung gian. Hội ý với Trại trưởng trong Ban Quản trại kịp thời giải thích, bổ túc cho tinh thần trại hoàn mỹ. Ghi chép những quyết định của Ban Quản trại nhờ thông báo đến cho Trại sinh. Những điều nhận xét và công việc dự định của mình. Linh tinh. Tóm lại trại có thành công, kỹ niệm đẹp khắc sâu vào tâm khảm Trại sinh, mức thâu nhận của Trại sinh cao và tinh thần trại có được phát huy phần lớn đều do ở Đời sống trại. Nếu Đời sống trại không hoàn thành được vai trò của mình thì trại sẽ mất đi kết quả tốt đẹp.

Tài liệu A Dục– trang 126


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

3. Đại cương đặc trưng của Đời sống trại thuộc phạm vi từng trại: Chăn Đàn có rất nhiều Đời sống trại, là Huynh Trưởng tại mỗi Đoàn, mỗi Đàn. Đời sống trại và phụ tá phải hướng dẫn và nhắc nhở tỉ mỉ đối với Trại sinh. Phải sống hẳn vai trò người anh lớn, Đội, Chúng trưởng: Bắt đầu dành cho các em đời sống tự lập, bắt đầu ghi chép và thảo luận phê bình vừa giữ tư cách người anh vừa là người hướng dẫn. Có khi phải đóng vai trò người bạn thân mật để các em tự nhiên thổ lộ tâm tình của mình. VI. VÀI NÉT ĐẠI CƯƠNG VỀ TỔ CHỨC SINH HOẠT Ở TRẠI: Cũng tổ chức thành Đoàn, Đội, Chúng, Đàn. Đoàn trưởng, Đoàn phó là những Huynh Trưởng trợ tác cho Ban Quản trại. Đội, Chúng trưởng, phó và đầu thứ Đàn do các em trong Đội, Chúng, Đàn bầu ra hàng ngày (chấm dứt nhiệm vụ trước giờ chỉ tịnh). Nhiêm vu của Đội, Chúng trưởng, phó và đầu thứ Đàn cũng như sinh hoạt ở Gia đình. Ngoài ra mội Đội, Chúng được phân nhiệm vụ riêng (do ban Quản trại phân công) và thay đổi hằng ngày, bàn giao khi kết thúc một ngày sinh hoạt trại: Đội (Chúng hoặc Đàn) Nghi lễ - Tường thuật - Sạch sẽ (vệ sinh) - Trực v.v… Mỗi Đội có một lá cờ riêng (sử dụng như cờ của Đội Chúng, Đàn của đơn vị). Nhưng tên Đội, Chúng, Đàn vẫn lấy tên Sen hoặc Cánh chim. VII. KẾT LUẬN: Đội, Chúng trưởng, phó và đầu, thứ Đàn được huấn luyện kỹ càng chu đáo sẽ giúp Đoàn trưởng dễ dàng xây dựng Đội, Chúng, Đàn trong Đoàn mình vững mạnh. Đội, Chúng, Đàn có mạnh thì Đoàn mới mạnh.

Tài liệu A Dục– trang 127


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 4: HÀNG ĐỘI TỰ TRỊ I. ĐỘI, CHÚNG LÀ GÌ? Đội hay Chúng là đơn vị căn bản của Đoàn Thiếu hay Thanh (Đội: Thiếu Nam và Nam Phật tử; Chúng: Thiếu nữ và Nữ Phật tử) gồm từ 6 đến 8 người, do 1 Đội, Chúng trưởng cầm đầu và 1 Đội, Chúng phó trợ tá, cùng học, cùng sinh hoạt cùng chơi, sống bên nhau trong tình thương yêu của người con Phật, chung lý tưởng. II. CƠ CẤU ĐỘI, CHÚNG: Đội, Chúng có từ 5 đến 8 Đội, Chúng sinh (kể cả 2 Đội, Chúng trưởng và phó). Đội, Chúng được lấy danh hiệu theo thứ tự: Đội, Chúng SEN VÀNG, SEN TRẮNG, SEN HỒNG, SEN XANH. Mỗi Đội, Chúng có tiếng reo riêng. III. LẬP ĐỘI, CHÚNG: Muốn lập Đội, Chúng, người Huynh Trưởng phải làm: 1. Chọn và huấn luyện Đội, Chúng trưởng: Chọn các em tương đối khá lớn có tư cách, có khả năng, huấn luyện về căn bản điều khiển, chuyên môn. 2. Thành lập Đội, Chúng: Khi đã có đội chúng trưởng rồi Huynh Trưởng chia số Đoàn sinh có được ra cho các Đội, Chúng. Đội, Chúng nào cũng đủ mọi hạng lứa về tuổi tác, sức vóc, khả năng, hoàn cảnh. 3. Lập Đội, Chúng kiểu mẫu: Đội, Chúng kiểu mẫu là Đội, Chúng mà trong đó Đội, Chúng sinh gồm các Đội, Chúng trưởng đang cầm Đội, Chúng và một số em có khả năng sẽ là Đội, Chúng trưởng trong tương lai, Đoàn trưởng và Đoàn phó trực tiếp điều khiển Đội, Chúng kiểu mẫu nhằm mục đích trao cho các em kiến thức, khả năng về chuyên môn nghệ thuật điều khiển để các em nầy hướng dẫn Đoàn có hiệu quả. Công việc nầy có tính cách lâu dài chứ không phải chỉ một giai đoạn ngắn. Tài liệu A Dục– trang 128


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

IV. MỤC ĐÍCH CHỦ TRƯƠNG HÀNG ĐỘI TỰ TRỊ: Giáo lý Phật giáo luôn luôn đặt trách nhiệm vào con người về bản thân cũng như gia đình xã hội, vì Phật giáo quan niệm con người là một thực thể hoàn toàn tự do và độc lập, tự tạo cho mình một nếp sống riêng (biệt nghiệp) và cùng liên đới, góp sức xây dựng một nếp sống cho xã hội (cộng nghiệp). Ông Baden Powell, (B.P), ông Tổ của Hướng đạo thế giới đã nói: “Bất kỳ trường hợp nào, phép hàng đội tự trị, nghĩa là cách cai quản những nhóm nhỏ do một đám trong họ phụ trách, vẫn là phương tiện tốt nhất đi đến sự thành công”. Như vậy ta thấy mục đích của Đội, Chúng tự trị là: Tạo cơ duyên để các em giáo dục lẫn nhau. Nêu cao và gây tinh thần kỷ luật, tự giác, đoàn kết. Thực hiện công tác đuợc nhanh chóng, kết quả tốt. V. CÁCH TỔ CHỨC ĐỘI, CHÚNG TỰ TRỊ: 1. Huấn luyện Đội, Chúng truởng: Như đã nói ở phần III, mục 1 2. Phân công: Huynh Trưởng không bao giờ làm một mình tất cả mọi việc, trái lại phân công cho các Đội, Chúng. Các Đội, Chúng trưởng, phó nhận lãnh trách nhiệm, sau đó về truyền đạt lại cho Đoàn sinh trong Đội, Chúng của mình, vạch kế hoạch, phân công lại cho các Đoàn sinh (nguyên tắc của hàng đội tự trị là mỗi người một việc). Sự phân công nầy phải chính xác, rõ ràng, công bằng và hợp lý. 3. Kiểm soát, đôn đốc: sau khi đã phân công cho các Đội, Chúng, người Huynh Trưởng phải theo dõi kiểm soát một cách khéo léo, đôn đốc một cách tế nhị. 4. Giữ vững tinh thần Đội, Chúng: Để Đội, Chúng tự trị có hiệu quả, người Huynh Trưởng phải luôn luôn biết giữ vững tinh thần Đội, Chúng bằng cách: Không trực tiếp tham dự việc làm của Đội, Chúng. Tài liệu A Dục– trang 129


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Nếu cần phải sửa chữa những sai lầm thiếu sót thì phải tế nhị, linh động, bình tĩnh. Tin cẩn và thành thật với Đội, Chúng trưởng và phó. 5. Sinh hoạt Đội, Chúng tự trị: Mỗi tháng dành 3 (hoặc 2 buổi) cho Đội, Chúng tự trị sinh hoạt, không sinh hoạt Đoàn, thực hiện theo chương trình chung của Đoàn nhưng chương trình chi tiết do Đội, Chúng trưởng và phó tự vạch định, anh Đoàn trưởng chỉ góp ý (Điều nầy các em đã được học ở Anoma-Niliên). VI. HỌP HỘI ĐỒNG ĐOÀN: Hội đồng Đoàn có tác dụng rất quan trọng, hiệu nghiệm trong phương pháp hàng đội tự trị vì đã gây sự hãnh diện và khích lệ cho Đội, Chúng trưởng và phó về vai trò của mình, tạo sự cảm phục của Đoàn sinh đối với Huynh Trưởng và Đội, Chúng trưởng, phó. Lại nữa chính Hội đồng Đoàn đã gây cho Đội, Chúng trưởng tinh thần thi đua trong trách nhiệm và xây dựng công việc chung của Đoàn của Gia đình chứ không phải tranh dành nhau, ganh ghét nhau. Hội Đồng Đoàn là cuộc họp gồm có Đoàn trưởng, các Đoàn phó, tất cả Đội Chúng trưởng và phó để thảo luận kế hoạch, phân công hay rút ưu khuyết điểm sau một công tác đã thực hiện. Chú ý: Không phải luôn luôn các em được dự vào Hội đồng Đoàn. Mà chỉ được anh Đoàn trưởng mời. Nếu phiên họp Hội đồng có mục phê bình, kiểm điểm Huynh Trưởng thì không mời các em Đội, Chúng trưởng và phó tham dự. VII. KẾT LUẬN: Đội, Chúng có những hoạt động riêng như trại, công tác xã hội, du ngoạn (gọi là ngày đi của Đội, Chúng), có cơ cấu, tổ chức hẳn hoi, có sổ sách, hành chánh, có góc Đội, Chúng, có sinh khí, thành công tốt đẹp. Vì thế người Huynh Trưởng phải ý thức rõ vai trò của Đội, Chúng, khuyến khích tạo cơ hội, áp dụng triệt để phương pháp Đội, Chúng tự trị, hầu Đoàn của mình ngày mỗi tiến mạnh, công việc mình đỡ nặng nhọc, mục đích giáo dục được thành công.

o0o Tài liệu A Dục– trang 130


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 5: TRẠI I. ĐỊNH NGHĨA: Trại là một trường Huấn luyện Thanh, Thiếu Nhi về ba phương diện Đức, Trí và Thể dục. Những ngày ở trại, các em mới có thú vui hồn nhiên và trong sáng. Chỉ có trại mới tập cho Thanh, Thiếu nhi một đời sống tự lập, sáng kiến, cao thượng và trong sạch, huân tập được nhiều tính tốt. Trại mới nâng cao đời sống hợp quần. II. LỢI ÍCH: 1. Thể dục: Thân thể cường tráng, sức khỏe bền bỉ, dẻo dai. Chịu đựng sự khó nhọc của đường trường, sự cứng rắn của đất đai. Đôi bàn tay trở thành lanh lẹ khéo léo. 2. Trí dục: Tận dụng khả năng của mỗi giác quan, biết tháo vát, phát huy óc sáng kiến, ứng đáp nhanh nhẹn cho nhu cầu thực tế. Phán đoán công việc mau lẹ, xử trí nhiều công việc đặc biệt, học hỏi nhiều điều mới lạ trong khi tiếp xúc với thiên nhiên. Có thể nhìn xa thấy rộng. 3. Đức dục: Huấn luyện chí khí, tập tính kiên nhẫn. Biết đặt quyền lợi tập thể trên quyền lợi cá nhân. Trau dồi trí tuệ. Huân tập những đức tính: Thật thà, trung thực, thẳng thắn, tháo vát. Thấy rõ giá trị của sự sống thiên nhiên. Ý thức được sự hợp quần, biết khắc phục khó khăn. Biểu lộ tinh thần đồng đội, đoàn kết. Đề cao tinh thần trách nhiệm, lòng tự tin và trọng kỷ luật. Loại bỏ tính ỷ lại, tính ích kỷ. Tập hạnh nguyện lợi tha Bồ tát. Tài liệu A Dục– trang 131


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Tăng trưởng lòng yêu mến quê hương tổ quốc. III. CÁC LOẠI TRẠI VÀ THỜI GIAN: 1. Các loại trại: Ngoài những loại trại Đội, Đoàn, trại du ngoạn đã được ấn định, còn có thể có: a) Trại hàng quý (every term): Mỗi quý (term) chọn một ngày trại 24 giờ. Trại có tính cách dưỡng sức và bồi dưỡng chuyên môn cho Đoàn sinh. Thường tổ chức tại một địa điểm cố định. b) Trại bay: Không đóng một chỗ nhất định mà di chuyển từ chỗ nầy sang chỗ khác, nhiều nơi, nhiều ngày đêm. c) Trại hè: Trại nhiều ngày. Phải có chương trình tổ chức hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo, nhằm mục đích bồi bổ sức khỏe, tinh thần cho Đoàn sinh. d) Trại huấn luyện: Đặc biệt để huấn luyện. e) Trại họp bạn (ngành hay gia đình): Đóng chung một địa điểm, có cùng một Ban Quản trại do các Đoàn hay Gia đình bầu lên. 2. Thời gian: a) Trại 12 giờ: sáng đi tối về, không quá 15 cây số. Đi về đúng giờ đã quy định. b)Trại 24 giờ: Ở lại đêm. Địa điểm phải được xem xét kỹ lưỡng và do những Huynh Trưởng có kinh nghiệm hướng dẫn. IV. TỔ CHỨC TRẠI (Riêng cho ngành Thiếu): 1. Thời gian chuẩn bị: a) Xem đất trại: Địa điểm trại phải rộng rãi, đủ chỗ để đóng trại. Có nơi họp chung. Xa thành phố, xa những nơi đô hội. Ở những khu rừng nhỏ, cảnh trí thanh tịnh, vườn rộng, có bóng mát, bên bờ sông, ven suối, hoặc ở những nơi danh lam thắng cảnh. Có những chỗ ẩn núp phòng khi trời mưa hay quá nắng. Chỗ có nước uống tốt. Nên tránh: Tài liệu A Dục– trang 132


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Gần ao hồ nước độc - Nơi nhiều cây cỏ khô - Chỗ nhiều ruồi muỗi Gần đường xe lửa - Quá gần làng mạc - Những cây to đứng một mình (dễ bị sét đánh khi có giông) - Chỗ quá trống trải - Gần cây trốc gốc - Ở giữa lũng. Xem đất trại xong phải vẽ bản đồ trại, phân chia vị trí. b) Hành chánh: Đoàn trưởng xin phép Liên Đoàn trưởng, rồi Gia trưởng chuyển đơn lên Ban hướng Dẫn xin phép (phải theo đúng thể thức xin tổ chức Trại). c) Họp Hội Đồng Đoàn: Sắp đặt công việc cho ngày trại. Phân công cho hợp lý, các Đội, Chúng trưởng nào làm việc gì. d) Vạch chương trình: Tùy theo trại mà vạch chương trình cho thích hợp. Chương trình ấy phải được lập trước, phổ biến cho các Đội, Chúng trưởng để thực hiện. 2. Lúc ở trại: Phải thực hiện cho kỳ được chương trình trại. Nắm vững được tinh thần trại. Chú trọng đến đời sốngtrại: Kỷ luật, sạch sẽ, 3. Lúc ra về và sau ngày trại: Nguyên tắc là: Không để lại một vết tích gì cả (dọn dẹp sạch sẽ). Lúc đến đất trại như thế nào thì khi ra về đất trại phải được sạch sẽ hơn, hố vệ sinh, hố rác, hố bếp cho đến những rãnh lều phải được lấp cẩn thận. Đừng quên cám ơn các vị ân nhân như chủ đất, chính quyền và các vị hảo tâm đã giúp đỡ trong ngày trại. Sau ngày trại cùng với các Đội, Chúng trưởng có thể đi tham quan hỏi han sức khỏe của các em Chương trình trại: Phải được sửa soạn thật chu đáo, vừa sức các em, cố gắng sắp xếp đừng để thì giờ trống làm uể oải tinh thần trại. Sau đây là chương trình mẫu cho một trại 12 giờ: Tài liệu A Dục– trang 133


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

06 giờ: 08 giờ: 08 giờ 45: 09 giờ: 11 giờ 45: 14 giờ: 16 giờ:

Họp chung, kiểm điểm - Lạy Phật, lên đường. Đến đất trại, tập trung. Dựng trại. Cử hành lễ nhập Trại - câu chuyện dưới cờ. Sinh hoạt chung - Chuyên môn, trò chơi nhỏ, hát. Chuẩn bị cơm trưa - Cơm trưa. Nghỉ. Trò chơi lớn (áp dụng các phần chuyên môn đã học) Họp chung - Nhận xét về trò chơi lớn -Tuyên bố kết quả trò chơi lớn - Ra lệnh hạ trại. 16 giờ 30: Hạ trại tổng vệ sinh. 17 giờ: Tập trung: Nhận xét về ngày Trại Rút ưu khuyết điểm Tuyên bố kết quả chung về ngày Trại Trao giải thưởng

Giây thân ái (trong thời gian nầy Ban Quản Trại cử 2 vị đi kiểm tra vệ sinh toàn khu vực, Huynh Trưởng đại diện Ban Quản Trại đến cám ơn chính quyền địa phương, Chư Tôn trú trì (nếu Trại ở Chùa) hoặc chủ nhân khu đất cắm trại). 17 giờ 45: Lên đường trở về. V. ĐỜI SỐNG Ở TRẠI: Hoạt động ở Trại phải gây được không khí vui vẻ và sống động. Giờ im lặng phải tuyệt đối im lặng, giờ chơi phải thật hăng, thật vui. Phải theo đúng kỷ luật Trại. Gây không khí thi đua trong trò chơi lớn (nhưng không phải là ganh đua). Phải thi hành đúng đắn chương trình đã vạch. Phải hoạt động liên tục đừng để trống thì giờ, ai cũng có việc, đúng giờ đúng giấc (trừ thời gian nghỉ - tuyệt đối mọi trại sinh phải nghỉ ngơi để lấy lại sức khỏe). Tuyệt đối không nên có tinh thần uể oải, không có sự cười đùa vô ý thức. Tài liệu A Dục– trang 134


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Vâng lời, tuyệt đối theo lệnh của Trại trưởng: Mệnh lệnh là mệnh lệnh, chơi là chơi, học là học. Sạch sẽ trong ăn mặc, ngôn ngữ đàng hoàng, y phục tươm tất gọn gàng. Phát huy đời sống tập thể, áp dụng đúng 6 phép lục hòa. VI. KẾT LUẬN: Tổ chức một cuộc Trại, một cuộc du ngoạn là một cuộc chuẩn bị chu đáo, một sự thi hành triệt để. Hoạt động của Trại phải vui vẻ, sống động. Tự sinh hoạt Đoàn, Đội, Chúng, nó phải có một điều gì bảo đảm cho kết quả của ngày Trại nói chung và riêng từng Đội, Chúng. Không thể trong sự vui vẻ sống động ở Trại mà thiếu trật tự vô kỷ luật để chẳng những không đạt kết quả giáo huấn mà lại biến ra việc làm của chúng ta không ích lợi gì. Huynh Trưởng cần phải ý thức được như vậy để chuẩn bị mọi việc cho chu đáo từ tinh thần đến hoạt động, chương trình vạch định cho thích hợp. PHẦN PHỤ LỤC (Để sử dụng cho ngành Oanh. Hoặc cho Đội, Chúng ngành Thiếu) DU NGOẠN I. MỤC ĐÍCH: Du ngoạn là một phương tiên đưa trẻ đến gần với thiên nhiên tạo cơ hội cho các em quan sát những điều thực tế, nhằm mục đích: Mở rộng kiến thức cho Đoàn sinh. Thay đổi không khí sinh hoạt. Giải trí lành mạnh về tinh thần lẫn thể chất. II. HÌNH THỨC DU NGOẠN: Du ngoạn được tổ chức dưới những hình thức sau đây: Một cuộc dạo chơi tập thể cùng Đoàn, Đội, Chúng, Đàn… Một cuộc đi thăm một di tích lịch sử, một thắng cảnh hay nơi Phật tích . . . (thường tổ chức cho cả Đoàn, chủ yếu là ngành Oanh).

Tài liệu A Dục– trang 135


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

III. NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT ĐỂ TỔ CHỨC MỘT CUỘC DU NGOẠN: 1. Đề ra mục đích (một trong 3 mục đích trên - có phối hợp một lúc 2 mục đích) 2. Chọn địa điểm: nên chọn địa điểm mát mẻ, có di tích lịch sử, có Phật tích hoặc là một thắng cảnh. Đoàn trưởng phải đi quan sát trước địa điểm, tìm tòi những cái hay, những cái lạ tạo câu chuyện hứng thú giảng giải cho các em để gây được không khí hào hứng vui tươi và hấp dẫn. Nếu cần, Đoàn trưởng phải biết rõ nơi đến, tìm thêm những nét đặc biệt trong vùng để giải thích cho các em. Chính đó sẽ gây cho các em niềm tin tưởng và thêm uy tín cho Huynh Trưởng. 3. Vạch chương trình: sau khi đã quan sát kỹ lưỡng địa điểm du ngoạn, Đoàn trưởng và Đoàn phó hội ý với nhau vạch định một chương trình chu đáo và thích nghi. a) Thời gian du ngoạn: Suốt một ngày. Đoàn trưởng tùy tiên mà ấn định ngày giờ. b) Phần sinh hoạt: Lợi dụng cảnh vật thiên nhiên, Huynh Trưởng hướng dẫn cho các em những trò chơi, nhận xét thiết thực, linh động. Áp dụng bài học về phần sinh hoạt nầy. 4. Chuẩn bị: Trước khi tổ chức du ngoạn, Huynh Trưởng cần chuẩn bị những vấn đề trên còn phải lo về: a) Hành chánh: Xin phép (thủ tục giấy tờ) trình Liên Đoàn trưởng và Gia trưởng biết ngày Du ngoạn của Đoàn. Trình Ban hướng Dẫn về việc tổ chức ngày Du ngoạn nói trên Giao thiệp các cơ quan hành chánh, chính quyền nơi mình đến du ngoạn để gây thiện cảm. b) Phương tiện: Lo phương tiên di chuyển (nếu nơi du ngoạn xa), ăn uống cho Đoàn sinh. Kiểm soát việc di chuyển (tuyệt đối an toàn nếu đi xe hơi, phải đủ chỗ, không để các em ngồi trên trần hay đu ở ngoài xe). Tài liệu A Dục– trang 136


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Lo vấn đề sức khoẻ cho các em (biện pháp đề phòng). IV. KẾT LUẬN: Muốn có được một cuộc Du ngoạn bổ ích, Huynh Trưởng phải chuẩn bị cho thật chu đáo, nghiên cứu chương trình kỹ lưỡng, hướng mọi sinh hoạt gần với thực tế thiên nhiên để gây cho Đoàn sinh một không khí vui vẻ và sống động. Cuộc Du ngoạn chỉ có ý nghĩa và đem lại kết quả khi nó đạt tới mục đích giáo huấn và đem lại cho Đoàn sinh hào hứng vui tươi.

o0o Bài 6: LỬA TRẠI I. NGUỒN GỐC: Ngàn xưa, loài người đang ở trong tình trạng bán khai, sống từng bộ lạc, khi mới tìm ra ngọn lửa, sung suớng vô cùng Họ đốt lên để lưu giữ, vừa ngăn ngừa thú dữ và để cảnh núi rừng bớt rùng rợn khi về đêm. Đến khi con người biết sống thành gia đình, ngọn lửa vẫn được là nguồn vui của gia đình. Tối đến, nhất là về mùa mưa, cả nhà làm việc quanh ngọn lửa hoặc là chuyện trò với nhau. Những thợ rừng, từng đoàn thám hiểm hay dân sơn cước ban đêm muốn tránh thú dữ, muốn giải trí chung vui, cũng bắt chước người xưa đốt lửa. Ngày nay, các đoàn thể thanh niên, mỗi khi đi cắm trại, buổi tối cũng họp vui quanh lửa sau một ngày hoạt động. II. Ý NGHĨA: 1. Lửa trại là một cuộc họp vui, thân mật có hiệu lực gây thiện cảm giữa mọi người, tạo những kỷ niệm khó xóa mờ trong đời. Tài liệu A Dục– trang 137


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

2. Lưả trại là một cuộc tiểu khiển thanh cao, giúp đoàn viên phát triển những tính tốt đẹp, kích động lòng ngưỡng mộ tôn kính Phật đà. III. MỤC ĐÍCH: 1. Mục đích huấn luyện: Gây ý thức đạo hạnh thiết tha với lý tưởng. Gây tinh thần yêu nước. Sửa đổi tánh xấu, tạo đức tính tốt cho Đoàn sinh: Ai nhút nhát ít nói cho đóng vai hoạt động nói nhiều, người nào nhu nhược, ươn hèn cho đóng vai anh hùng hiệp sĩ. 2. Về tinh thần: Lửa trại làm cho trại sinh tháo vát, tập suy nghĩ nhanh, có sáng kiến, dạn dĩ… 3. Mục đích giải trí: Làm cho trại sinh ham thích những cuộc giải trí trong sạch, thân mật, không tốn tiền, có óc tổ chức. IV. CÁC LOẠI LỬA TRẠI: Lửa trại khác văn nghệ sân khấu ở điểm quan trọng là diễn viên và khán giả là một. Lửa trại là cuộc vui quanh lửa của những người đồng đội vào buổi tối sau một ngày hoạt động. Lửa trại phải bộc lộ được tinh thần của trại, của tổ chức. Lửa trại phải diễn ở ngoài trời, nhưng cần tránh nơi đông đúc, nơi quá rộng, cần tạo sự thân mật ấm cúng để trại sinh tự do phát lộ tình cảm hay tỏ bày ý kiến. Ta có thể có các loại lửa trại sau đây: 1. Lửa trại kết thân: dành cho những người mới đến chưa quen biết nhau có tính cách kết thân mọi người vui chung, chơi chung, hát chung. Phải gây không khí hứng khởi ngay từ ban đầu và kêu gọi mọi người tham gia và tạo cơ hội cho mọi người được cơ hội làm quen với nhau. 2. Lửa sinh hoạt: Một hình thức họp vui quanh lửa, các đơn vị dự chơi hợp tác với Quản trò đóng góp vào chương trình vui chung. Các trò chơi, bài hát, vở kịch được chọn thứ tự trình diễn theo nhịp độ ánh sáng của lửa. Tài liệu A Dục– trang 138


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

3. Lửa chủ đề: Lửa nầy công phu hơn, đòi hỏi người dự chơi một trình độ cao hơn. Ban Quản trại chọn các đề tài, tất cả các mục trình diễn đều phải hướng về chủ điểm đề tài ấy. 4. Lửa kết trại: Tổ chức vào đêm cuối của trại, nhắc nhở lại những sinh hoạt suốt kỳ trại. Trại sinh có thể diễn lại những điều đã ghi nhận được về những ngày trại bằng một vở kịch có tính cách vui để ghi sâu đậm thêm kỷ niệm của những ngày sinh hoạt chung. 5. Lửa tĩnh tâm: Tổ chức cho những đoàn viên lớn tuổi (từ Ngành Thiếu trở lên) vào cuối những ngày làm việc nặng nhọc, cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Loại nầy không Quản trò, không Quản lửa, Huynh Trưởng hướng dẫn tất cả suy tưởng về một vấn đề hay kể cho nhau nghe những kinh nghiệm, những cảm xúc trong cuộc đời sinh hoạt của mình, cùng hát cho nhau nghe những bài hát êm, nhẹ, ca ngợi lý tưởng, tình yêu xóm làng, tình thương đoàn thể. 6. Thanh đàm: Buổi Thanh đàm hay giờ Tĩnh túc được bắt đầu sau một ngày làm việc. Thanh Đàm là một hình thức nói chuyện mà đề tài là những vấn đề bao quát, lý tưởng. Thanh đàm lại không phải là một buổi hội thảo để tìm một kết luận mà là yên tĩnh suy nghĩ lắng đọng tâm hồn, gạt bỏ mọi cố chấp, mặc cảm tự tôn, là lời tâm sự thành thật, là tiếng nói của những tâm hồn thanh cao. Người dự cần phải thành thật nhìn thẳng vào lòng mình tự xét, không mang những lời nói giả tạo. Người nói thật chậm rãi vừa đủ người khác nghe, không bình phẩm khen chê. Chấm dứt lời nói trong yên lặng, không vỗ tay và người khác tiếp tục nói. V. CÁCH TỔ CHỨC LỬA TRẠI: 1. Ban Quản Trại: Phát họa chương trình, chọn loại lửa trại. Chọn sân lửa thích hợp. Loan báo cho các đơn vị dự chơi đề tài và tiêu chuẩn của buổi lửa trại trước ít nhất là một ngày. 2. Công việc của các đơn vị dự chơi: Đội, Chúng trưởng phải tìm đề mục phù hợp trình bày và nhờ các Đoàn sinh góp ý kiến, tập tành Tài liệu A Dục– trang 139


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

chuẩn bị dụng cụ thực hiện. Phân công thật đều để tất cả cùng tham gia mới có kết quả. 3. Công việc trại sinh: Suy nghĩ về vai trò của mình sắp đóng, tìm tòi những nét độc đáo đễ diễn tả. Góp ý về cách thức diễn đạt của mình với người khác. Tìm vật liệu đơn giản để hóa trang. Ghi chú: a) Kịch: nên chọn những vở kịch nào, giáo dục, lịch sử. Hài kịch cần tránh những vở ăn cướp, nói láo, lường gạt hay ngớ ngẩn đến độ ngốc nghếch. b) Bài hát: Bắt buộc trước hết phải là bài hát Đạo, bài hát Gia Đình Phật Tử, kế đến là những bài hát có tính cách lành mạnh hợp với tuổi trẻ. Tránh những bài hát bằng tiếng dân tộc, tiếng Tàu có vẻ ngớ ngẩn đến trơ trẻn không nói được gì và chẳng có tác dụng nào. 4. Công việc của Đội Quản lửa: Dự bị số củi đủ dùng với thời gian dự định. Dầu lửa một ít, nếu có thể sắm bột màu để đốt lúc cần đến ánh sáng để phụ họa. Đội Quản lửa cũng không quên 2 thùng nước để giảm bớt ngọn lửa khi cần. Xếp đặt sân lửa: Cho đốt lửa một hay hai bếp tùy theo số lượng người tham dự. Chỗ làm trò tránh chiều khói đến. Chỗ khách ngồi tránh khói. VI. ĐIỀU KHIỂN MỘT BUỔI LỬA TRẠI: 1. Quản trò: Thâu nhận những đề tài, tiết mục của các đơn vị dự chơi. Lập chương trình, chú ý cách sắp xếp các tiết mục. Giới thiệu cho duyên dáng, gãy gọn. Cần nhanh trí để khéo lấp những chỗ nhạt nhẽo trân tráo, vụng về của diễn viên. Sau mỗi trò vui nên cho tiếng reo, bài hát thích hợp. Một quản ca giúp quản trò trong phần bắt những bài hát cho thích hợp, sống động, vui tươi . . .

Tài liệu A Dục– trang 140


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

2. Quản lửa: Quản lửa thường là một Đội do một Huynh Trưởng phụ trách, thay phiên nhau theo dõi và điều khiển lửa. Nhiều nhất trên sân lửa là 2 người, không ngồi thường trực một chỗ mà di động khéo léo để không vướng mắt người xem, không làm loãng tiết mục trình diễn. Người quản lửa phải biết điều khiển ngọn lửa, ánh lửa, màu lửa cho phù hợp với các tiết mục trình diễn. Muốn có lửa lớn, có thể thêm dầu hay cỏ khô. Với bột diêm sinh màu lửa có thể trở nên màu vàng. Cho bột khói đèn vào để có lửa màu xám (có thể dùng bột trong các trái khói màu). Thêm cỏ ướt cho ánh sáng có khói lam Nước lạnh hay cát có thể làm lửa lắng xuống như ý. Người quản lửa phải ước định thời gian buổi lửa để lúc củi tàn, chương trình vừa hoàn tất. VII. NGHI THỨC MỘT BUỔI LỬA TRẠI: 1. Phần Khai lửa: Tiếp đón các đơn vị dự chơi và thân khách. Vài lời về buổi lửa (mục đích, tinh thần, cảm tạ ân nhân). Châm lửa và hát bài LỬA THIÊNG hoặc một bài tương tự với tinh thần, kích thích lôi kéo mọi người nhập cuộc, nhắc nhở tinh thần các vị Bồ tát, thánh tử đạo bằng ngọn lửa thiêng đi vào lòng Phật giáo. Quản trò ra mắt, và các trò vui bắt đầu. 2. Phần trình diễn: Do quản trò điều khiển theo những tiết mục. 3. Phần lửa tàn: Phần khai lửa và lửa tàn do một người điều khiển khác với người quản trò. Trại trả người quản trò về. Yên lặng một lúc hát bài ca lửa tàn. Câu chuyện lửa tàn (nhắc nhở và nhận xét những diễn xuất đã trình diễn…) Niệm Phật - yên tĩnh về lều. Đội quản lửa thu dọn. Tài liệu A Dục– trang 141


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

VIII. KẾT LUẬN: Một lần họp mặt mà không có cuộc vui quanh lửa, kể như thiếu đi một nửa ý nghĩa. Những buổi lửa có kết quả hay không là do Ban Quản Trại biết chuẩn bị, thúc đẩy, quản trò khéo léo nhất là ở câu chuyện lửa tàn.

o0o Bài 7: TRÒ CHƠI Trong bài “Ứng dụng Phật Pháp vào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử”, chúng ta đã thấy rõ: Trò chơi là phương tiện để thể hiện chủng tử, thể hiện cá tính của mỗi Đoàn sinh. Chúng ta sẽ thấy, trò chơi là một phương tiện để huân tập những chủng tử tốt vào tâm hồn các em. Gia Đình Phật Tử lấy trò chơi, không phải chỉ làm phương tiện giải trí lành mạnh mà cốt yếu là để giáo dục các em. Có 2 loại trò chơi: 1. Trò chơi nhỏ thường áp dụng trong những buổi sinh hoạt. 2. Trò chơi lớn thường thực hiện trong các kỳ trại. A. TRÒ CHƠI NHỎ I. THẾ NÀO LÀ TRÒ CHƠI NHỎ: Trò chơi nhỏ là trò chơi chỉ trong vòng một vài phút, xen vào trong các buổi sinh hoạt để thêm phần linh động, tươi vui, giải trí lành mạnh. II. MỤC ĐÍCH CỦA TRÒ CHƠI: Như đã trình bày ở trên mục đích của trò chơi nhỏ không những chỉ có giải trí vui chơi lành mạnh mà mục đích chính là để giáo dục Đoàn sinh bằng phương pháp hoạt động và huân tập, phù hợp với tâm sinh lý trẻ. Một buổi sinh hoạt mà thiếu những trò chơi thì thật là buồn tẻ, gây sự nhàm chán cho Đoàn sinh với Gia Đình Phật Tử. Trò chơi còn là Tài liệu A Dục– trang 142


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

phương tiện để đưa giáo lý vào tâm thức các em một cách nhẹ nhàng tự nhiên như những trò chơi gợi lên lòng Từ bi, những trò chơi phát huy trí tuệ, những trò chơi củng cố hoặc khắc sâu những điều giáo lý vừa học như: Trò chơi “người mù cỏng người què” (tình tương trợ), trò chơi “Bi-Trí-Dũng” khắc sâu châm ngôn của gia Đình Phật Tử, trò chơi “hái hoa” (gây ý niệm vô thường), trò chơi “Luân hồi”, v.v… III. PHÂN LOẠI TRÒ CHƠI: Dựa vào mục đích chúng ta có thể chia trò chơi nhỏ ra làm nhiều loại: 1. Trò chơi luyện thân thể: Như nhảy cừu, ném bóng, người què cõng người mù chạy loạn. 2. Trò chơi luyện giác quan: Họa sĩ mù (người mù cõng người què vừa luyện thân thể vừa luyện giác quan) Tìm đồng hồ (cất dấu đồng hồ, nghe tiếng kêu của đồng hồ mà tìm), chim bay, cò bay, tìm nhạc trưởng . . . 3. Trò chơí luyện trí nhớ: Hóa trang, kim, ngắm hoa trong vườn (tạo một vườn hoa bằng vòng tròn vạch trên mặt đất, bỏ vào nhiều loại hoa trong đó, sau 3 phút, di chuyển đi nơi khác, mỗi em liệt kê lại trên giấy, em nào liệt kê lại đầy đủ là thắng cuộc). 4. Trò chơi tập nhanh nhẹn: giật cờ, đổi lồng . . . 5. Trò chơi luyện tinh thần đồng đội: Kéo co, chạy tiếp sức (cũng là trò chơi luyện thân thể) Ngoài ra còn có thể chia ra trò chơi Động, trò chơi Tĩnh. a) Trò chơi Động: Đa số các trò chơi đều hoạt động, hoặc hát hò hay la hét. b) Trò chơi Tĩnh: là trò chơi giữ rất im lặng, tập trung tư tưởng: Ví dụ: Trò chơi đánh điện tín (một bản điện tín đánh đi theo 2 phía, chia vòng tròn làm 2, một nửa gởi đi về bên phải, một nửa gởi đi về bên trái - Chuyền tai nhau nói nhỏ. Người cuối cùng nào nhận được như bản gốc (hay ít sai chậy nhất) là thắng cuộc, trò chơi Kim, trò chơi ngắm hoa, trò chơi bất động (Đang làm một công việc gì đang chơi một trò chơi gì, hay người điều khiển cho mỗi nhóm làm điệu bộ một con vật Tài liệu A Dục– trang 143


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

hay một người đặt biệt nào, nhưng khi nghe tiếng còi là phải giữ nguyên điệu bộ đó và tất cả im lặng trong một phút, ai lúng túng là thua cuộc…) IV. CHUẨN BỊ TRÒ CHƠI: Người Đoàn trưởng phải biết nghiên cứu lựa chọn trò chơi cho thích hợp với lứa tuổi (ngành Thiếu, ngành Oanh), thích hợp giới tính, Thiếu nữ không thể chơi trò chơi “ uống khúc trăn” mà có thể thay vào đó trò chơi “đi chợ”. Lựa chọn trò chơi cho phù hợp với chủ đích chúng ta đề ra. Ví dụ: Lâu nay, Đoàn sinh hoạt trầm trầm, không hoạt động năng nổ, ta có thể cho những trò chơi mạnh năng động. Ngược lại lâu nay Đoàn chỉ ồ ạt bên ngoài mà nội dung tu học chưa có bao, nhiều em lại quá ồn ào trong lúc sinh hoạt thì chúng ta cho những trò chơi tĩnh để đối trị. Khi chuẩn bị trò chơi phải biết những vật dụng cần thiết cho trò chơi để đem theo như khăn tay, dây, gậy, hoa, lá v.v… Mỗi buổi sinh hoạt ít nhất phải chuẩn bị 4 trò chơi. Chúng ta không quên dự liệu những trò chơi trong phòng, để đề phòng khi trời mưa. V. NGHỆ THUẬT ĐIỀU KHIỂN TRÒ CHƠI: Giải thích rõ ràng cho mọi người hiểu trước khi chơi. Giới thiệu một cách tự nhiên phù hợp với thực tế bài học hoặc phù hợp với chủ đích cần đề ra. Ví dụ: Cho trò chơi ngắm hoa (luyện trí nhớ). Chị trưởng giới thiệu với các em Oanh Vũ: “Hôm nay chị sẽ dẫn các em đi xem một vườn hoa, không phải là những thứ hoa kỳ lạ, trang quý như những thứ hoa trong vườn ngự uyển (vườn hoa của vua chúa) mà chỉ là những hoa đồng cỏ nội nhưng cũng khá nhiều sắc hương. Và các em sẽ kể lại cho chị biết những thứ hoa đó, sau khi đã dạo một lượt quanh vườn”. (trong vòng tròn rải nhiều hoa: hoa bưởi, mãn cầu, phượng, cẩn v.v… những thứ hoa tầm thường tối thiểu là 20 loại). Các em phải thưởng thức trong yên lặng, thưởng thức bằng cái tâm lắng đọng của mình. Tránh chọn những trò chơi gây chế diễu hoặc trò chơi dễ gây hiểu lầm. Tài liệu A Dục– trang 144


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Một trò chơi vui nhộn, hứng thú cũng không nên kéo dài vì như vậy sẽ không còn hứng thú nữa trong những lần chơi sau. Trò chơi quá tẻ nhạt, hoặc các em chưa nắm vững cách chơi một cách đồng đều thì cũng nên cắt đứt trò chơi ngay kẻo gây sự nhàm chán. Điều cần nhất là phải biết Phật hóa trò chơi. Như trò chơi “bắn hàng” hay “mèo đuổi chuột” thật trái hẳn với tinh thần từ bi của Đạo Phật, thế mà nhiều đơn vị cũng đưa ra trò chơi nầy, ta có thể thay đổi là “bắn - báo” và “mèo theo con” (đã đề cập đến ở bài “Ứng dụng Phật Pháp vào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử” ở Trại Lộc uyển). Hoặc trò chơi “Cách chào” (chào ring, chào go, chào sạt lô, chào cụ đồ… em chào cô giáo), nhìn kỷ chúng ta thấy chào sạt lô gây ấn tượng hấp tấp, không điềm đạm, chào cụ đồ hình như chế diễu lối chào khúm núm của các em chào thầy ngày xưa, không hay chút nào cả, chứ chưa nói đến không có một thoáng gì của Đạo Phật trong đó. Nếu bài nầy dạy sau bài “Chào kính” thì hay lắm: Chào anh chị (Huynh Trưởng mặc đồng phục - bắt ấn) - Chào tăng (chắp tay trước ngực) chào bạn thân (bắt tay cười to ha ha) chào thấy cô (xuôi tay, hơi nghiêng mình xuống, không đan tay chéo trước bụng và khom lưng như chào cụ đồ). Việc Phật hóa trò chơi tùy thuộc rất nhiều ý thức và sáng kiến của các anh chị. Một trò chơi lành mạnh ở học đường ta cũng có thể xử dụng được nếu biết Phật hóa. Phật hóa trò chơi là đã làm giàu thêm trò chơi cho Gia Đình Phật Tử. (Có những trò chơi hiện nay đang dùng trong những tổ chức khác nhưng lại không thể đưa vào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử. Ví dụ: trò chơi “ngắm sao”; Một nam một nữ nắm tay nhau nhảy quanh vòng và hát (Tất cả cùng hát tập thể: “… Ngôi sao xanh kia chính là anh, ngôi sao hồng chính là chị đây. Không có ngôi sao nào gọi là ngôi sao đơn . . . “ rồi mời một anh hay một chị ra thay cầm tay nhau nhảy và cứ tiếo tục như thế. Nó không phù hợp với Gia Đình Phật Tử và không mang mảy may nào tinh thần Phật giáo (Nhớ là theo Nội quy, Gia Đình Phật tử sinh hoạt riêng biệt nam nữ). Tài liệu A Dục– trang 145


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

VI. QUAN SÁT: Khi các em chơi người Huynh Trưởng phải tinh mắt quan sát mới nhận thấy được em nào nhanh nhẹn, em nào rụt rè, em nào thật thà, em nào chưa trung thực v.v… Từ đó mới tìm cách giáo dục riêng các em còn chưa tốt. Những cá tính mỗi em đều thể hiện ra trong khi chơi. Thậm chí có em hay khoe tài năng của mình bằng miệng, qua trò chơi ta mới nhìn được sự thực. VII. SƯU TẦM NGHIÊN CỨU: Các anh chị ĐoànTrưởng phải ra công sưu tầm nghiên cứu, ghi chép vào một cuốn sổ riêng có thể lấy nhan đề: “Trò chơi Gia Đình Phật Tử”, trong đó các trò chơi đặc biệt của Gia đình Phật Tử được sắp xếp theo từng loại để dễ dàng khi cần lựa chọn. Những trò chơi của các đoàn thể khác cũng cần sưu tầm ghi riêng vào một phần khác trong sổ, để rồi suy tư Phật hóa dần dần. Loại trò chơi nên ghi ra thành 2 cột: chưa Phật hóa, đã Phật hóa. Ghi cụ thể tiến trình trò chơi, tên trò chơi. Lúc có thời gian chúng ta sẽ suy nghĩ để Phật hóa dần dần, khi Phật hóa xong ta ghi vào ngay. VIII. KẾT LUẬN: Điều khiển 1 trò chơi nhỏ không phải là khó, một em Đàn trưởng Oanh Vũ, một em Đội Chúng trưởng Thiếu nam hay Thiếu nữ, thậm chí một em Đoàn sinh cũng có thể điều khiển được một trò chơi nhỏ. Nhưng đó chỉ là để giải trí lành mạnh trong chốc lát. Người Huynh Trưởng điều khiển một trò chơi là phải nhắm đến hiệu quả giáo dục của nó, đồng thời quan sát được cá tính của mỗi em mà giáo dục. Vì vậy phải nói là giáo dục bằng trò chơi. Điều nầy đòi hỏi ở Huynh Trưởng phải dày công nghiên cứu, tư duy lựa chọn. Đặt đối tượng giáo dục và mục đích giáo dục của mỗi một trò chơi. Điều nầy phải tốn rất nhiều công phu và mất không ít thời gian. Ngoài ra người Huynh Trưởng còn phải trau luyện nghệ thuật điều khiển trò chơi. Tài liệu A Dục– trang 146


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Nhưng rồi, với một chí hướng giáo dục các em, thương yêu các em mà rèn luyện các em trở thành những người Phật tử xứng đáng. Xây dựng cho quê hương cho đạo pháp trong tương lai thì không có sự khó khăn nào mà người Huynh Trưởng không vượt qua. B.- TỔ CHỨC ĐIỀU KHIỂN TRÒ CHƠI LỚN I. TRÒ CHƠI LỚN LÀ GÌ? Trò chơi lớn là sự kết hợp nhiều trò chơi dưới một đề mục. Diễn tiến trên một địa bàn, thời gian dài, người chơi cần có sức khỏe để hoạt động liên tục. Bởi thế việc tổ chức trò chơi lớn phải được nghiên cứu rất kỹ lưỡng và tùy theo khả năng cùng sức khỏe của Đoàn sinh để ấn định những hoạt động thích hợp. Tuy nhiên đối với trẻ dưới 12 tuổi (Oanh vũ) không nên cho chơi trò chơi lớn vì tính cách trò chơi không hợp với hạng tuổi nầy. II. LỢI ÍCH CỦA TRO CHƠI LỚN: Trò chơi lớn mang lại cho Đoàn sinh tham dự những lợi ích: - Vui, thỏa mãn tính hiếu động và óc mạo hiểm của trẻ. - Luyện tính khí: Nẩy nở sáng kiến, sự vâng lời, tinh thần thượng võ, tinh thần kỷ luật, đức hy sinh, phát huy tinh thần đồng đội, tập kiên nhẫn chịu đựng quả cảm, tháo vát, tự chủ. Nẩy nở cơ thể, vì trò chơi lớn là một môn thể thao tự nhiên, trong đó trẻ vận động tất cả các bộ phận của cơ thể. Thực hành các bài học chuyên môn đã học như truyền tin, dấu đi đường, gút, phương hướng, dấu chân vật, cấp cứu . . . Đối với Huynh Trưởng thì trò chơi lớn giúp cho Huynh Trưởng có cơ hội quan sát tìm hiểu tâm lý, tính tình, khả năng chuyên môn, sức khỏe Đoàn sinh. Vì lợi ích như thế, nên ông Baden Powell, người sáng lập ra phong trào Hướng đạo đã hết lời xưng tụng: “Trò chơi là một phương tiện giáo dục hữu hiệu, người điều khiển nó là một nhà giáo dục đại tài”. III. TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU KHIỂN TRÒ CHƠI LỚN: Tài liệu A Dục– trang 147


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Trò chơi lớn là một lợi khí giáo dục. Muốn đạt được kết quả tốt, người điều khiển phải khéo léo tổ chức và điều khiển. Sau đây là những điểm cần lưu ý: 1. Phần tổ chức: a) Mục đích trò chơi: Phải nhắm trước mục đích muốn đạt đến: làm nẩy nở ở người chơi những đức tính gì? Muốn Đoàn sinh ứng dụng những chuyên môn nào? b) Thời gian: Tùy theo trình độ sức khỏe, khả năng của người chơi một trò chơi lớn có thể kéo dài từ 1 đến 2 giờ (trường hợp trại một ngày) hoặc từ sáng đến chiều (trại dài ngày). Ngoài ra cũng có thể tổ chức chơi suốt một tuần thời gian trại nhiều ngày. Đề tài trò chơi: Có thể khai thác phạm vi trong Đạo, lịch sử nước nhà, chuyện phiêu lưu mạo hiểm hoặc có tính chất xã hội. . . (nên luôn thay đổi đề tài để trò chơi lôi cuốn hơn). c) Đất chơi: Phải nghiên cứu địa thế. Rừng núi nhiều cây cối là nơi thích hợp nhất để tổ chức Trò chơi lớn. Bờ bể, làng mạc, thành phố cũng là nơi có thể tổ chức Trò chơi. Tùy theo khung cảnh thiên nhiên hay địa thế mà bố trí trò chơi cho thích hợp. d) Các giai đoạn trong trò chơi: Thường diễn tiến qua 3 giai đoạn: Giai đoạn trình bày giải thích trò chơi, giai đoạn trò chơi khởi diễn, giai đoạn diễn tiến. Cần giải thích rõ ràng, phân công hợp lý, bố trí khéo léo, đề phòng trước mọi trở ngại có thể xảy ra. e) Các hoạt động trong trò chơi lớn: Tùy sáng kiến và kinh nghiệm của Huynh Trưởng: Hoạt động luyện trí: Dịch mật thư, ấn định chiến lược lúc thủ thành, khi tấn công, bố trí, phân công nội bộ, ẩn núp, cải trang... Hoạt động luyện sức: Vượt núi, băng sông, nhảy hố, cầm cự phe địch... Hoạt động thử thách tinh thần: Phát huy tinh thần đồng đội, tinh thần hiệp sĩ, tinh thần tôn trọng kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, quả cảm... Hoạt động kiểm soát chuyên môn và Phật pháp: Cấp cứu, thắt nút, tìm hướng đi, đọc họa đồ, giải đáp các khúc mắc của giáo lý... Tài liệu A Dục– trang 148


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Những hoạt động nêu trên sẽ tùy theo mục đích mình muốn đạt mà Huynh Trưởng tùy nghi lựa chọn, phối hợp để trò chơi có những đặc điểm cần thiết: Vui, hoạt động, liên tục, hữu ích và có tính cách giáo dục. 2. Phần điều khiển: Sau khi đã chọn đất, ấn định thời gian, sắp đặt, nghiên cứu đề tài, đất chơi, ấn định hoạt động và mọi vật dụng cần thiết cho trò chơi, nghĩa là hoàn thành phần chuẩn bị. Bây giờ đến giai đoạn thực hiện, vấn đề điều khiển là then chốt mà ta phải am hiểu: a) Phân công Huynh Trưởng: Cần phân nhiệm Huynh Trưởng trong Đoàn tùy theo trò chơi, phải cần có nhiều Huynh Trưởng phụ tá. Phân công cần rõ ràng, trò chơi cần được giữ bí mật để gây hào hứng. b) Trình bày trò chơi: Trình bày, giải thích rõ ràng các chi tiết. Nội dung trò chơi cần lồng dưới một mẫu chuyện Đạo, lịch sử, xã hội… c) Theo dõi và kiểm soát trò chơi: Nên nhờ vài Huynh Trưởng phụ trách theo dõi các em để giải quyết kịp thời những bất trắc. Mang theo túi cứu thương. d) Kết thúc trò chơi: Khi kết thúc trò chơi, nên để dành cho Đoàn sinh nghỉ ngơi chừng 15 phút, trong lúc đó các Huynh Trưởng điều khiển họp riêng để thảo luận và quyết định tuyên bố kết quả trò chơi cùng với những nhận xét. Nên nhớ khuyến khích các đơn vị kém. 3. Lời dặn thêm: a) Đối với người chơi: Trước khi vào cuộc chơi, Huynh Trưởng nên nhắc cho các em rõ: Chơi thật, nghĩa là chơi ngay thẳng không gian xảo, chơi đúng luật, chơi cho đến mãn cuộc, phải thắng hoặc thua trong vinh dự: nhét khăn tay đúng cách, mang số rõ ràng, kêu trúng số thì nhận… Phải mang theo túi cứu thương đội và hộp cứu thương cá nhân, mang theo đủ đồ dùng. b) Đối với người điều khiển: Tài liệu A Dục– trang 149


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Cẩm nang: Nên cho mật thư sát với trình độ Đoàn sinh, tuy nhiên để tránh tình trạng bế tắc vì không dịch nổi mật thư, Huynh Trưởng nên dự liệu trước mỗi mật thư một cẩm nang, ấn định giờ mở và số điểm sẽ bị trừ. Hồi sinh: Có thể cho thêm trường hợp hồi sinh một lần khi bị loại lần thứ nhất để các em tiếp tục cuộc chơi bằng cách tìm Huynh Trưởng (vị Tiên Bồ tát, hái tử...) để qua cuộc thử thách về Phật pháp và chuyên môn. Trình bày trò chơi: Nên trình bày một cách tự nhiên, lời lẽ hấp dẫn, danh từ thông dụng để các em dễ hiểu và thích thú. Cũng có thể trình bày bằng cách dùng lời lẽ và điệu bộ thích hợp với nội dung trò chơi. Thể lệ chơi nên giản dị dễ hiểu và giải thích rõ ràng. Dấu hiệu: Nên ấn định trước những dấu hiệu cần thiết trong khi chơi (bằng thủ lệnh). c) Đối với ngành Oanh Vũ: nếu có cho chơi trò chơi lớn thì không nên dùng những hoạt động quá mạnh và kéo thời gian quá dài có hại sức khỏe cho các em. IV. KẾT LUẬN: Trò chơi có thành công hay không là do ở người điều khiển soạn trò chơi kỹ càng, phối hợp các hoạt động khéo léo, phù hợp trình độ người chơi, bố trí các trạm, phân công người phụ trách đúng chỗ, trình bày hấp dẫn, kiểm soát chặt chẽ kết thúc hay thì sẽ được gặt hái kết quả tốt. “Đừng dạy các em chỉ bằng lời nói suông mà phải dạy chính bằng cuộc sống của mình. Đó là phương pháp “thân giáo” thần hiệu của Nghề Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử”

Tài liệu A Dục– trang 150


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 8: VĂN NGHỆ TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ I. ĐỊNH NGHĨA: Văn nghệ là văn chương và nghệ thuật, chỉ một số hình thức sinh hoạt tinh thần của con người. Những sinh hoạt tinh thần nầy có mục đích phô diễn tình cảm hay trình bày một tư tưởng dưới các hình thức như văn tự, âm thanh, đường nét, ngôn ngữ… II. VĂN NGHỆ VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI: 1. Đối với người sáng tác: Văn nghệ là một nguồn hoan lạc, một sự cởi mở cho tâm hồn, một phương tiện giải trí và cũng là một phương tiện giáo dục. 2. Đối với người thưởng ngoạn: Văn nghệ, là một cơ hội giải trí, một niềm thông cảm, giúp đời sống thêm nhiều ý nghĩa. 3. Tính chất phổ cập của văn nghệ: Ngày nay, văn nghệ phổ cập trong đại chúng là một món ăn tinh thần cần thiết cho con người. III. CÁC BỘ MÔN VĂN NGHỆ: Gồm 2 loại chính: 1. Văn nghệ tĩnh: Văn xuôi, thơ Hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh. Báo chí. 2. Văn nghệ động: Âm nhạc - ca vũ. Hùng biện hay kể chuyện Kịch và điện ảnh. IV. VĂN NGHỆ VÀ GIA ĐÌNH PHẬT TỬ: 1. Vị trí văn nghệ trong Gia Đình Phật Tử: Văn nghệ đứng sau Giáo lý và đi song song với Hoạt động thanh niên, Xã hội.

Tài liệu A Dục– trang 151


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Về hình thức: Văn nghệ là một phương tiện giải trí thanh nhã cho đoàn viên, mang lại nguồn vui, điểm thêm tươi trẻ cho Gia Đình Phật Tử. Về tinh thần: Văn nghệ là một lợi khí giáo dục, dẫn đắt thanh niên đến với giáo lý Phật đà, bảo vệ và củng cố đức tin, đề cao lý tưởng phong trào, đào tạo thành con người chân chính. 2. Đặc tính văn nghệ trong Gia Đình Phật Tử: Văn nghệ trong Gia Đình Phật Tử phải nhằm đạt đến các đặc tính căn bản sau đây: Dựa trên nguyên tắc căn bản cố hữu của Gia Đình Phật Tử gồm: Mục đích Gia Đình Phật Tử: Đào luyện Thanh Thiếu, Đồng niên thành Phật tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Châm ngôn Bi - Trí - Dũng: Phát huy tinh thần Bi Trí Dũng. Tôn trọng và thể hiện Chân Thiện Mỹ: Loại trừ các thứ văn nghệ trữ tình, ly khai văn chương dâm uế, ủy mị, khêu gợi dục vọng, căm thù . . . Phát huy dân tộc tính: Làm sống lại lễ nhạc Phật giáo và tinh thần bất khuất của dân tộc, ly khai các ca nhạc vong quốc, các loại khích động ngoại lai làm mất bản sắc dân tộc. Nghiêng về hiện thực xã hội: Cố gắng thực hiện sự thật trong cuộc sống đau khổ của cá nhân và xã hội, của dân tộc, không thoát ly ra ngoài niềm đau khổ của nhân sinh. Nhắm tới cứu cánh siêu thoát: Văn nghệ Gia Đình Phật Tử xuất phát từ thực tại nhân sinh, nhưng phải vượt khỏi cái giả ảnh, như huyễn của cuộc đời mà hướng thiện, hướng thượng, theo cứu cánh giải thoát, đem vui cứu khổ. V. ĐỀ TÀI VĂN NGHỆ TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ: 1. Rút từ giáo lý Phật đà, từ đời sống cao đẹp của chư Phật và Bồ tát, Thánh tử đạo... 2. Rút từ châm ngôn, mục đích, luật Gia Đình Phật tử, từ tình thương. Đây là địa hạt quan trọng nhất và là chính yếu. 3. Rút từ đề tài trong lịch sử dân tộc, trong cuộc sống gia đình, trường học, xã hội, trong niềm yêu thương xứ sở. Tài liệu A Dục– trang 152


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

VI. KẾT LUẬN: Văn nghệ trong Gia Đình Phật Tử có một tác dụng lớn lao, một phương tiện thực hành giáo lý, một phương tiện giáo dục Đoàn sinh và đưa quần chúng hiểu biết tổ chức, cho nên chúng ta phải đặt nó đúng tâm quan trọng, đứng sau giáo lý, trợ giúp cho sự tu học Phật pháp của Đoàn sinh thêm hiệu quả. Việc thực hiện văn nghệ được kết quả hay không còn đòi hỏi ở Huynh Trưởng nhiều thiện chí và cố gắng đạt các mục đích trên.

o0o Bài 9: BÁO ĐOÀN Trước khi nói đến Báo Đoàn. Chúng ta cần phải nắm được mục đích báo chí trong Gia Đình Phật Tử. I. MỤC ĐÍCH BÁO CHÍ TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ: Báo chí trong Gia Đình Phật Tử có mục đích phản ảnh trung thực đời sống tập thể, vừa là phuơng tiện giáo dục Đoàn sinh, phổ biến giáo lý, truyền đạt cho nhau những ý tưởng tốt đẹp, vừa là phương tiện khai thác khả năng các em. II. CÁC LOẠI BÁO CỦA ĐOÀN: Trong phạm vi Đoàn, có những loại báo sau: 1. Báo tường (hay gọi là Bích báo): Tức là báo treo trên tường. Loại báo nầy có nhiều hình thức: Báo bảng (trên giấy cứng hay trên gỗ mỏng, có khung, hoặc nẹp để treo tường), Báo chiếu (Tờ báo gồm những tấm xốp hay gỗ mỏng gắn trên một chiếc chiếu nhỏ, hay trên bức sáo nhỏ). Báo nia (các bài báo được viết trên tấm bìa, gắn lên trên một cái nia), v.v… Bích báo là loại thông dụng nhất, có tác dụng mạnh mẽ lại ít tốn kém hơn các loại báo khác. Về hình thức: Báo tường cần chú trọng nhiều về hình thức, vì hình thức đập ngay vào mắt độc giả. Một tờ báo trình bày có mỹ thuật, Tài liệu A Dục– trang 153


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

màu sắc hài hòa gây được cho độc giả những ấn tượng tốt khi thoạt nhìn đầu tiên. Về nội dung: Không yêu cầu phải phong phú lắm. Không đòi hỏi phải sâu sắc. Nhưng mỗi bài phải hàm súc một vấn đề giáo lý, hoặc nói lên được tinh thần Gia Đình Phật Tử, hay phản ảnh được những khía cạnh sinh hoạt, học tập của Đoàn. Báo tường, mỗi tháng Đoàn cố gắng ra một tờ. 2. Báo tập: Đối với Đoàn chỉ có báo tập viết tay hay đánh máy (có thể đánh máy vi tính). Hình thức: Tuy không quan trọng lắm như bích bao nhưng cũng cần phải có mỹ thuật (Không cần màu sắc tranh vẽ nhiều). Những đề bài phải viết lớn và đẹp, cần thay đổi nhiều kiểu chữ. Những đề tài về giáo lý phải viết kiểu chân phương. Nội dung: Phải là những bài được chọn lọc kỹ có nội dung phong phú, súc tích (không dễ dãi như bài viết cho Bích báo). Nếu là bài giáo lý phải cho chuẩn mực. Nếu là bài tinh thần phải toát lên cái tinh thần của Gia Đình Phật Tử. Nếu là bài tường thuật một sinh hoạt nào đó (học tập, du ngoạn, trại, thám du v.v...) cần phải phản ảnh trung thực, chính xác và hành văn phải linh động. III. CÁC THỂ LOẠI: Báo tường cũng như báo tập có thể gồm nhiều thể loại sau đây: Văn: Tùy bút, ký sự, truyện ngắn, truyện vui, tường thuật v.v... Thơ: Nhiều thể loại về thơ (ngày nay thịnh hành thơ mới, thơ tự do nhưng nên có thể thơ lục bác vì loại nầy nhiều âm hưởng và đặc biệt Việt Nam) ý thơ cần cô đọng, súc tích hơn văn xuôi. Tạp loại: Ngoài ra trên tờ báo còn cần có mục: Thường thức, đố vui, vui cười, tin tức về Phật sự của Đoàn, của Gia Đình v.v... IV. NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI TRÌNH BÀY MỘT TỜ BÁO TƯỜNG: Như trên đã nói, báo tường ngày nay có rất nhiều hình thức. Các hình thức nêu ở trên, chỉ là tiêu biểu, sáng kiến của anh chị trưởng có thể Tài liệu A Dục– trang 154


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

có những kiểu mới mẻ hơn. Nhưng dù hình thức nào các Đoàn trưởng cũng cần phải lưu ý những điều cần thiết về hình thức một tờ báo tường: 1. Tính chất cân xứng: Tên báo (chọn cho phù hợp với chủ để của tờ báo hay phù hợp với tinh thần của Đoàn) và phần trình bày ở đầu (ví dụ: Kỷ niệm Phật Đản 2539. Do Đoàn Thiếu Nam Gia Đình Phật Tử Pháp Vân thực hiện…) chỉ chiếm từ 1/4 đến 1/3 của tờ báo, không quá hẹp nhưng cũng không quá rộng vì sẽ mất cân đối. 2. Màu sắc hình vẽ: Màu sắc phải hài hòa, đừng dùng màu sắc quá lòe loẹt nhưng cũng không dùng màu sắc quá tối tăm hay nhợt nhạt. Hình ảnh vẽ ở đầu báo phải phù hợp với nội dung của tờ báo và phải là nét vẽ tương đối có nghệ thuật. Trong trường hợp Đoàn không có người vẽ đẹp thì không cần hình vẽ cũng được nhưng trình bày kiểu chữ cho có mỹ thuật (hình vẽ quá xấu, mất giá trị của tờ báo vì nội dung hay đến đâu người đọc cũng không muốn đọc). 3. Cách sắp xếp và trình bày đề bài: Mỗi bài báo nên sắp vào các cột loại cụ thể (tùy bút, truyện ngắn, vui cười, thơ v.v…). Chữ viết bài báo phải chọn Đoàn sinh có chữ đẹp và rõ ràng. Tuyệt đối không viết kiểu chữ “bay bướm”. Nếu bài ít vừa đầy tờ báo thì có thể viết hẳn lên tờ báo (nếu là báo viết trên giấy). Nếu bài nhiều không thể viết lên khuôn khổ của tờ báo thì có thể một bài viết thành nhiều tờ dán thành từng tập một lên một ô trên tờ báo (có thể một tập gồm nhiều bài). Các đề bài phải viết lớn và nhiều kiểu chữ khác nhau. Nhưng nhớ: Những bài về giáo lý và tinh thần đề bài phải viết cho đứng đắn, viết kiểu chữ chân phương là tốt nhất. Những đề tài khác thì tùy ý, miễn sao cho có mỹ thuật. V. THỰC HIỆN MỘT TỜ BÁO: 1. Điều hành: Tờ báo, dù là báo tường cũng cần có một cách thức điều hành như sau: Tài liệu A Dục– trang 155


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Ban Biên tập: Do một Huynh Trưởng trong Ban Huynh Trưởng Đoàn phụ trách và một vài Huynh Trưởng làm ban viên. Có nhiệm vụ: Xem lại và tuyển chọn các bài báo của Đoàn sinh gởi lên (chịu trách nhiệm những sai sót hoặc lệch lạc về nội dung của bài báo). Viết những bài chính yếu cho tờ báo. Nếu bài Đoàn sinh gởi đến thiếu mục nào thì ban biên tập phải viết để cho nội dung báo được đầy đủ, phong phú (ví dụ: Thiếu mục vui cười, thiếu bài về giáo lý...) 2. Ban ấn loát: Phải chọn người vẽ đẹp, viết đẹp để trình bày tờ báo và viết bài lên báo. Nếu là báo tập phải lo việc đánh máy hay viết tay (đương nhiên bài vở phải nhiều hơn của báo tường gấp bội). Báo tập thì phải lo trình bày tờ bìa ngoài (không cần cầu kỳ lắm, chỉ cần đơn giản và trang nhã). Ghi chú: Nên ra thường xuyên 1 tháng 1 tờ báo tường. Kỷ niệm những ngày lễ Phật Đản, Vu Lan, Thành Đạo, Xuất gia nên có tờ báo tập. Phải kêu gọi tinh thần sáng tác. Nếu là bài sưu tầm phải để tên tác giả và xuất xứ (Huynh Trưởng cần nghiên cứu cho kỹ, có khi Đoàn sinh chép y một bài thơ, bài văn của tác giả nào mà Huynh Trưởng không biết được). VI. KẾT LUẬN: Báo chí là một phương tiện vừa giáo dục đạo đức vừa phát triển tinh thần Đoàn lại vừa trau dồi cho Đoàn sinh khả năng viết văn. Vậy Đoàn phải phát huy cho được phong trào báo chí trong Đoàn.

Tài liệu A Dục– trang 156


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Bài 10: THI VƯỢT BẬC I. MỤC ĐÍCH: Thi vượt bậc có mục đích: Kiểm tra lại kiến thức mà các em đã được các anh chị trưởng truyền thụ, về gíáo lý cũng như về hoạt động thanh niên. Có kiểm tra lại kiến thức của các em mới biết chắc trình độ tiếp thu của các em, đồng thời mới nhận ra các nhận thức sai lầm của các em nếu có, để kịp thời chỉnh lại cho chính xác. Cũng qua việc thi vượt bậc người Huynh Trưởng mới nhận đuợc khả năng giảng dạy của mình như thế nào, để cải tiến lại cách giảng giải của mình. Có thi, Đoàn sinh mới chịu khó ôn tập các bài vở đã học. Có tổ chức thi vượt bậc, bản thân Đoàn sinh mới nhận ra được đã nắm vững, hiểu thấu đáo các vấn đề đã học chưa? Nếu chưa hiểu được rành mạch thì cần học lại để hiểu cho thấu đáo hơn, là điều đương nhiên. Huynh Trưởng cần cho Đoàn sinh hiểu rõ mục đích nầy thì việc không đạt cũng chẳng có gì là buồn. Như vậy thi cử có mục đích đôn đốc và kiểm soát Đoàn sinh. Huynh Trưởng trong công việc giảng dạy phải thực hiện cho đúng chương trình đã quy định trong từng bậc học. Trước ngày thi vượt bậc, Huynh Trưởng phải cho kiểm tra nhiều lần. II. PHẦN CHUẨN BỊ: 1. Hội đồng khảo thí: a. Nhân sự: 1 Chánh chủ khảo 1 Phó chủ khảo 1 Thư ký Các giám khảo. b. Nhiệm vụ: Ấn định lần cuối thời gian và địa điểm cho kỳ thi. Tài liệu A Dục– trang 157


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Ra các đề thi (theo thông lệ mỗi Đoàn trưởng ra 3 đề cho mỗi môn rồi cho vào phong bì dán kín lại. Hội đồng bốc thăm lấy một phong bì) và chấm thi. 2. Hội đồng coi thi: a. Nhân sự: 1 Chủ tịch 1 Phó chủ tịch Các giám thị. b. Nhiệm vụ: Giám sát Đoàn sinh trong khi thi. Niêm phong bài thi và chuyển qua cho Hội đồng khảo thí. Ghi chú: Trường hợp nhân sự của Ban Huynh Trưởng ít thì có thể chỉ một Hội đồng khảo thí làm luôn cả hai công việc. 3. Các vật dụng: Có loại do gia đình cung cấp. Có loại do Đoàn sinh mang theo. Tất cả 2 loại đều được tiên liệu trước để chuẩn bị. 4. Thủ tục: Gia đình chỉ được phép tổ chức kỳ thi cho 4 bậc Oanh vũ và 2 bậc Hướng, Sơ thiện cho ngành Thiếu. 1 tháng trước kỳ thi, chương trình thi, đề thi, danh sách Đoàn sinh dự thi, danh sách Hội đồng khảo thí, phải được trình lên cho Ban Hướng Dẫn tỉnh. 5. Tinh thần thí sinh: Huynh Trưởng Đoàn phải chuẩn bị tinh thần cho Đoàn sinh hầu tránh xa 2 thái cực: Quá lo sợ, mất bình tĩnh. Buông xuôi, xem thường giá trị thi cử, không trung thực. Ban Huynh Trưởng phải gây được sự hứng thú cầu tiến, thật thà, thản nhiên và tin tưởng vào Hội đồng khảo thí. III. PHẦN THỰC HIỆN: 1. Dưới hình thức trại: Thông thường Hội đồng khảo thí quan sát kỹ lưỡng địa điểm để vạch một trò chơi lớn, hầu lồng các đề thi Tài liệu A Dục– trang 158


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

vào. Cuộc thi như vậy rất hào hứng có tính chất hoạt động thanh niên (nhưng lại khó kiểm soát). 2. Hình thức trường ốc: Ở đây việc kiểm soát dễ dàng hơn, nhưng lại thiếu sinh động không mang tính chất thanh niên và cuộc thi lại không được liên tục, tự nhiên từ môn nầy đến môn khác (Phật pháp thi ở trong phòng, Hoạt động thanh niên thi ở ngoài chẳng hạn). 3. Thái độ giám thị và giám khảo: Điều khó nhất là cách đối xử của giám khảo và giám thị. Các Huynh Trưởng nầy phải lánh xa 2 thái cực: Đừng quá lầm lì, hống hách, quá quan trọng hóa các vấn đề để Đoàn sinh lo sợ hay có những cử chỉ hạ nhân cách. Đừng tỏ ra quá khe khắt. Đừng luôn miệng phàn nàn Đoàn sinh kém vì như thế là hạ nhân phẩm. Giám thị không nên chỉ vẻ, mà chỉ nên khuyến khích và gợi ý trong tình thân mật anh em. Phải làm thế nào để Đoàn sinh trực nhận ở nơi giám khảo lòng nhân ái nhưng thẳng thắn, công bằng. Các vị Đoàn trưởng liên hệ: Đừng quá xuề xòa để Đoàn sinh coi thường cuộc thi. Đừng chê đề thi quá khó, quá dễ, cũng không phàn nàn thời giờ quá dài hay quá ngắn (Điều nầy có thể góp ý sau). Nói tóm lại, thi cử cũng là một phương tiện giáo dục Đoàn sinh về phương diện đức độ. Như vậy thi cử không chu đáo lại là phản giáo dục. 4. Kết quả: Bài thi phải được chấm tại chỗ, các điểm phải cộng nhanh nhưng chính xác, để kết quả được công bố càng sớm càng tốt. Danh sách Đoàn sinh trúng tuyển phải chép thành 3 bản, do Chánh chủ khảo lập với sự duyệt khán của Bác Gia trưởng, rồi đệ trình lên Tài liệu A Dục– trang 159


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Ban Hướng Dẫn tỉnh. Ban Hướng Dẫn lưu một bản và một bản niêm yết tại Đoàn quán. IV. KẾT LUẬN: Qua phần mục đích chúng ta đã thấy ngay: thi vượt bậc rất quan trọng trong Gia Đình Phật Tử. Giúp chúng ta khảo sát về năng lực, chuyên môn, văn nghệ, mức am tường Phật pháp của Đoàn sinh. Nhưng việc thi cử nầy không thể xác định mặt đạo đức của Đoàn sinh được. Vậy nên để bổ túc, chúng ta cần phải đề ra một vài biện pháp nhằm đôn đốc Đoàn sinh rèn luyện nhân cách, chẳng hạn Đoàn sinh có một số điểm tối thiểu nào đó về đức độ mới được dự vào các cuộc thi cử (do Ban Huynh Trưởng xét). Chúng ta lại vô cùng thận trọng khi thi cử thì mới khỏi mang lại đổ vỡ như Đoàn sinh bất mãn xin ra khỏi gia đình, Huynh Trưởng mang tiếng bất lực, bất công. o0o

Bài 11: CÁCH HƯỚNG DẪN MỘT LỚP HỌC

HOW TO TEACHING Giảng dạy là điều không thể thiếu đối với GĐPT. Trong nhiều năm qua, đa số Huynh Trưởng khi hướng dẫn các em, nhất là các lớp Phật pháp, Việt ngữ… đã không có được những kiến thức căn bản hoặc qua những khoá đào tạo để trở thành một giáo viên đúng nghĩa. Trên tinh thần và những yêu cầu cấp thiết về chất lượng cũng như kết quả giảng dạy trong GĐPT; nay chúng tôi, qua những kinh nghiệm ít ỏi cũng như góp nhặt những kiến thức từ sách vở xin được gói ghém lại để trình bày một số vấn đề quan trọng của việc giảng dạy hay nói đúng hơn là “Cách hướng dẫn một lớp học”. Tài liệu A Dục– trang 160


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

Muốn hướng dẫn tốt một lớp học cần phải hội đủ một số vấn đề sau đây: 1. Chuẩn bị (Preparation): a) Tinh thần và trách nhiệm: Phải tự hứa với lòng mình hay đạo Phật thường gọi là “lập nguyện” dù gặp bất cứ trở ngại, khó khăn nào chúng ta cũng không bỏ rơi các em, gắn bó và yêu thương các em. Nếu chúng ta làm được điều này, lớp học đã có được 50% thành công rồi! Motivation and responsibility: Promise to yourself (in Buddhism, it is called “to vow”) at all times that you’ll never let down or leave the kids, be close to the kids and love for them. If we can achieve this, the class will be succeeding at 50%. b) Bài vở: o Dựa vào kiến thức, trình độ các em. Based on their knowledge and level. o

Chuẩn bị chu đáo nhưng phải có sự uyển chuyển. Prepare thoroughly, but have to be able to adapt to new situation / sudden changes.

o

Gồm nhiều mặt: tốt - xấu, thuận - nghịch, đạo - đời… Diversity: right – wrong, for – against, religion and life…

o

Đặt một số câu hỏi, vấn đề cho chính mình chẳng hạn như: Những gì hy vọng đạt được qua bài này? Mong muốn các em có thể đạt được điều gì? Mong muốn điều gì từ các em? Ask yourself some questions such as: Have you achieved your goal after teaching this lesson? What do you want the kids to achieve? What do want from the kids? Tài liệu A Dục– trang 161


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

c) Lớp học: o Ngay ngắn, sạch sẽ o Trang trí o Bài trí bàn ghế: từng hàng, hình chữ U… Classroom management: o Clean and tidy o Decorative o Classroom layout d) Không khí lớp học: o Thân thiện o Thương yêu Classroom atmosphere: o Friendly o Caring / Loving 2. Giảng dạy: • Vui vẻ, hoà nhã dù gặp những trường hợp không hài lòng. • Cần bình tĩnh, không nóng giận khi các em làm những điều phật ý với mình nhất là tránh những hình phạt nặng nề đối với những em đó và có thể làm chúng ta hối tiếc về sau • Thấu hiểu tường tận từng trường hợp một của các em • Phải có tính hài hước để tạo không khí vui tươi, thoải mái. • Linh động, uyển chuyển trong mọi tình huống. • Khen thưởng ngay, khi các em trả lời đúng câu hỏi. • Đưa ra yêu cầu cao hơn của lớp học để các em có sự cố gắng. Teaching: • Be cheerful, harmonious, and courteous even if the situation is not satisfactory. Tài liệu A Dục– trang 162


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

You need to be calm and not aggressive when the kids are causing trouble, especially avoid harsh punishments to them that might make you regret for your actions • Understand their thoughts and actions • Have a sense of humour to create a lively and relaxable atmosphere • Flexible in any circumstances • Praise when the answer correctly • Give high expectations so that the kids can be challenged and will try harder. 3. Sau buổi giảng dạy: • Chấm điểm • Đánh giá trình độ các em • Gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh • Đánh giá cách giảng dạy của mình qua việc: o Cho các em làm phần khảo sát bài vừa giảng. o Nhờ một quan sát viên nhận xét. o Tự mình đánh giá bằng cách đặt các vấn đề như: “Các em có theo kịp bài giảng không?” “ Chúng có hiểu bài không?” hoặc “Các em có thích thú hay chán nản?” o Dựa vào kết quả bài kiểm tra After Class: o Mark the answers o Evaluate their level o Talk to their parents to inform them of their child’s progress / performance o Self- evaluate yourself for the following: o Give them a questionnaires about the lesson o Get someone to comment about your teaching o Ask yourself questions such as, “Do they understand what you just taught them?” “Do they feel that the lesson is interesting or boring?” Tài liệu A Dục– trang 163


Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Úc Đại Lợi

o Base on the test results 4. Những lưu ý trong việc giảng dạy: o Tránh đến lớp trễ giờ. o Chấm điểm và phát lại bài tập, bài kiểm tra ngay khi có thể. o Đừng bao giờ bỏ cuộc trước những em hư hỏng, chậm tiến hoặc cho rằng em đó khó để sửa đổi. Note when Teaching: o Don’t be late o Mark and hand back the test results as soon as possible o Don’t be discouraged by kids that are disobedient, slow or do not be prejudice

Tài liệu tham khảo:

• •

Bonwell, C.C. and Eison, J.A. Active Learning: Creating Excitement in the Classroom. ASHE-ERIC Higher Education Report No. 1, 1991. Washington, D.C.: George Washington University, 1991. Lowman, J. Mastering the Techniques of Teaching. San Francisco: Jossey-Bass, 1984. Groundwater-Smith, S., Ewing, R. and Le Cornu, R. Teaching: Challenges & Dilemmas. Melbourne: Thomson, 2006.

Tài liệu A Dục– trang 164

Tai Lieu Huan Luyen A Duc - GDPTVN Uc Dai Loi  

Tai lieu huyan luyen huynh truong cap 1 A Duc - BHD Uc Dai Loi