Page 1

VỀ “TỐ TÂM” CỦA HOÀNG NGỌC PHÁCH Lê Duy Tân Lớp: Văn 3CN MSSV: K33606044 Tố Tâm là tiểu thuyết duy nhất của Hoàng Ngọc Phách được viết xong năm 1922, in lần đầu năm 1925 tại nhà xuất bản Châu Phương, Hà Nội. Tố Tâm xuất hiện “lập tức gây xôn xao, sôi nổi dư luận một thời” [2, 257], “từ Nam đến Bắc không mấy ai là không biết đến” [2, 87]. Tác phẩm được sùng bái đến mức trở thành cuốn sách gối đầu giường, thành tự điển cho những người “nhập môn hay muốn nhập môn vào tình yêu”. Với sự ra đời của mình, “Tố Tâm đã làm dậy lên một phong trào đi tìm tự do cá nhân cho thanh niên nam nữ” [3, 361]. Tố Tâm viết về chuyện tình trong sáng, say đắm nhưng cũng không kém phần bi thảm của Tố Tâm và Đạm Thủy. Đạm Thủy là sinh viên cao đẳng Sư phạm có tài văn thơ. Tố Tâm là cô con gái lớn xinh đẹp, nết na của bà Án, khi còn bé học chữ Nho, sau học


trường Pháp – Việt, đỗ sơ học, rất yêu văn chương, đã thầm yêu Đạm Thủy khi đọc văn thơ của chàng đăng trên báo. Do tình cờ hội ngộ nên tình yêu giữa hai người nảy nở và ngày càng trở nên sâu nặng hơn. Song đó là một mối tình vô vọng bởi gia đình Đạm Thủy đã hỏi vợ cho chàng và chàng không muốn trái ý cha mẹ; còn Tố Tâm, mặc dù yêu tha thiết Đạm Thủy nhưng cũng không muốn làm cho người vợ chưa cưới của chàng đau khổ. Bà Án biết Tố Tâm và Đạm Thủy yêu nhau, chỉ “có ý giữ gìn” chứ không phản đối. Đến khi cậu tú B. dạm hỏi Tố Tâm, bà ưng gả nhưng Tố Tâm không thuận. Tố Tâm và Đạm Thủy thường xuyên trao đổi những bức thư tình. Nhưng thư từ cũng không thể làm nguôi nỗi nhớ thương, họ thực sự có nhu cầu gặp nhau, cùng nhau trò chuyện. Hễ có điều kiện là hai người đi chơi vùng ngoại ô, có khi còn đi biển Đồ Sơn. Đó là những tháng ngày say đắm và đẹp đẽ nhất của Tố Tâm và Đạm Thủy. Trước tình yêu trong sáng của Tố Tâm, đã có lúc Đạm Thủy muốn vứt bỏ sự nghiệp cùng nàng trốn đến một nơi nào đó để cùng hưởng hạnh phúc nhưng vì nghĩ đến gia thân nên lại thôi.


Khi bà Án ốm nặng, bà muốn Tố Tâm nhận lời lấy cậu tú B. để yên bề gia thất. Thương mẹ nên Tố Tâm chiều theo ý bà mà ưng thuận. Lấy chồng xong, Tố Tâm nhuốm bệnh, 36 ngày sau thì qua đời. Tố Tâm được xem là cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của nền văn học Việt Nam viết theo lối kết cấu tâm lý, kết tinh thành tựu của một giai đoạn có tính chất giao thời của hai giai đoạn văn học. Tình yêu nam nữ trong tác phẩm đã bắt đầu thoát ra khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, hướng tới một chân trời mới lạ của tình yêu tự do cá nhân. Với Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách đã có những đổi mới trong quan niệm về hiện thực phản ánh. Nếu các nhà văn khác cùng thời với ông có xu thế hướng ngoại, khai thác những vấn đề xã hội, hướng đến quan hệ giữa con người với con người để tố cáo xã hội thì Hoàng Ngọc Phách lại hướng vào nội tâm, vào thế giới bên trong, đi vào chiều sâu của tâm giới. Trong tác phẩm, mọi trạng thái tâm lý đều có cơ sở, có quá trình hình thành rất logic và hợp lý: để gặp và yêu ngay Tố Tâm, tiềm thức của Đạm Thủy đã lưu giữ


gương mặt ấy ngay từ lúc ở nhà quan huyện; Tố Tâm đáp lại ngay chân tình của Đạm Thủy bởi nàng, vì yêu thơ, đã yêu cả chàng thi sĩ tài hoa – chủ nhân của những vần thơ bay bổng... Đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm phong phú và bí hiểm của con người là mảnh đất mới mà nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật hiện đại cần phải hướng đến. Chính sự đổi mới về thiên hướng khai thác này đã dẫn đến sự đổi mới trong nội dung phản ánh của Tố Tâm. Những sự kiện của đời sống bên ngoài và những hành động của nhân vật không còn giữ vai trò quan trọng hàng đầu nữa mà chỉ là yếu tố phụ, nhường chỗ cho những suy tư, những trạng thái tình cảm, những vui, buồn, lo âu, thấp thỏm và những phân tích về quá trình tâm lý của con người. Có thể nói, đi sâu vào thế giới bên trong, vào đời sống nội tâm của nhân vật là một phát hiện, một khám phá vô cùng mới mẻ của Hoàng Ngọc Phách. Tố Tâm đã đặt ra vấn đề quyền sống trong lĩnh vực tình cảm của cá nhân con người trong xã hội hiện đại. Đó là quyền được yêu, được lựa chọn người yêu, quyền bảo vệ tình yêu chân chính của cá nhân. Tố


Tâm đã đem đến cho văn học Việt Nam một nội dung mới, mở ra một hướng phát triển mới. Tố Tâm đã lấy cái “tôi” làm điểm xuất phát cho tình cảm yêu đương và đã dám chung thủy đến cùng với tình cảm lãng mạn tuyệt vời đó. Tình yêu của hai nhân vật chính là mối tình chân thực, đẹp như mộng mà chỉ có tự do hôn nhân mới có thể với tới được. “Đọc sách Tố Tâm ta phải nhận thấy cái chỗ kém hèn của luân lý nước nhà vì nó mà một giai nhân phải giã thế, từ trần để lại một bậc tài tử phải sống mà nuốt lệ” [2, 377]. Nếu như trước đây, Truyện Kiều của Nguyễn Du chỉ xuất hiện như tiếng kêu thương, khát khao quyền sống, quyền hạnh phúc của con người, thì Tố Tâm đã nghiễm nhiên trở thành một lời khẳng định. Nó báo hiệu một thời đại mà ai ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc với tư cách con người cá nhân đích thực. Trong tác phẩm, các tính cách nhân vật có sự phát triển nội tại như chính trong cuộc đời thật. Đạm Thủy là hình ảnh một thanh niên trí thức Tây học, Tố Tâm là hình ảnh một cô gái “mới”, học chữ Tây, mê văn chương, biết làm thơ. Khác với những câu chuyện tình yêu tràn ngập chi tiết lãng mạn, trong tác


phẩm, những mơ mộng về hạnh phúc lứa đôi chủ yếu diễn ra trong nội tâm của nhân vật. Yêu nhau từ lúc trộm nhớ thầm thương đến khi gặp gỡ nhau và cảm thấy ý hợp tâm đầu, Tố Tâm và Đạm Thủy trở thành đối tượng chiêm ngưỡng, tôn thờ của nhau. Họ lấy thơ văn, một thú vui tao nhã, làm nhịp cầu giao cảm. Tình yêu của họ, vì thế, cũng thật trong sáng, thanh cao. Tố Tâm yêu văn rồi đến yêu người, hai yếu tố thực, hư này làm cho hình ảnh của văn nhân càng thêm lung linh, nhiều màu sắc. Bị thu hút bởi một mối tình trinh nguyên, say đắm, Tố Tâm cũng như Đạm Thủy ý thức rất rõ giá trị của những giờ phút bên nhau. Thật tự nhiên và cũng thật mới mẻ, táo bạo: Tố Tâm đã chủ động viết thư, làm thơ tặng Đạm Thủy – những cánh tình thư, những trang nhật ký trở thành nơi ký thác nỗi lòng. Hai người tâm tình với nhau trong phòng riêng; lại còn giấu mẹ, hẹn nhau trên bãi biển trước cảnh trời nước mênh mông hay đến những vùng quê yên ả tiếng chuông chùa… Mối tình của đôi lứa yêu nhau được khơi dậy từ hai trái tim còn rất trẻ, luôn say sưa những xúc cảm yêu


đương, bỏ mặc sau lưng mọi trở lực để hướng đến một đóa hoa yêu cao khiết, vĩnh hằng. Có thể nói, Tố Tâm đã hoàn thành sứ mệnh mở đường cho sự đổi mới hệ thống thi pháp tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đầu thế kỷ XX. Tác phẩm là một tiểu thuyết thuộc thể tài đời tư. Xây dựng Tố Tâm, nhà văn đã tiếp cận thực tại từ góc nhìn đời tư – một đặc trưng chủ yếu của tiểu thuyết hiện đại. Dưới góc nhìn đời tư, với một quan niệm nghệ thuật mới về con người, con người cá nhân đã xuất hiện trong tác phẩm và nhân vật được soi sáng bằng một hệ quy chiếu mới có khả năng khám phá, phát hiện những vùng khuất tối mà những góc nhìn khác không có khả năng nhìn thấy được. Về phương diện ngôn ngữ và nghệ thuật kể chuyện, Tố Tâm đã những bước tiến nhất định. Trong tác phẩm, nhiều hình thức tổ chức ngôn ngữ được sử dụng: đối thoại giữa các nhân vật, độc thoại nội tâm, ngôn ngữ người kể chuyện… Nhìn chung, ngôn ngữ trong Tố Tâm là một thứ ngôn ngữ chải chuốt, giàu cảm xúc, đầy chất trữ tình, chất thơ... Nó mang đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết lãng mạn. Trong bối


cảnh quốc văn còn đang phôi thai, trình độ tiểu thuyết còn thấp kém, với một kỹ thuật diễn đạt như thế, Tố Tâm hoàn toàn xứng đáng được ghi nhận công lao gọt giũa, làm giàu chữ quốc ngữ. Tố Tâm cũng có nhiều nét mới so với tiểu thuyết truyền thống. Ở Tố Tâm, ta bắt gặp một lối kết cấu mới. Lối kết cấu này được hình thành trên cơ sở đan cài hai mảng hiện tại và quá khứ: nó vừa trở về theo dòng hồi tưởng, vừa tái hiện trực tiếp câu chuyện qua những bối cảnh và sự kiện sinh động. Tính đơn tuyến quen thuộc bị phá vỡ thay vào đó, câu chuyện chủ yếu được trình bày thông qua không gian hồi tưởng và thời gian tâm lý. Những khi đôi bạn Đạm Thủy – Tố Tâm gặp nỗi buồn hay có được niềm hạnh phúc ngây ngất, đâu đâu thời gian tâm lý cũng trải kín một màu… Nếu “truyện thơ Nôm truyền thống thường mượn cốt truyện nước ngoài để thể hiện những vấn đề của cuộc sống Việt Nam […] thì ở đây, tính ước lệ và tượng trưng, tính ám dụ và ẩn dụ được đẩy lên hàng đầu nhằm giáo dục con người vươn tới cái cao thượng của nhân cách theo chuẩn mực đạo lý luân


thường” [1, 257]. Viết Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách đã khai thác cốt truyện trong đời sống của thanh niên thành thị Việt Nam lúc bấy giờ. Cốt truyện của Tố Tâm không có vai trò đặc biệt như trong truyện Nôm mà bị đẩy xuống bình diện sau, các sự kiện tình tiết cũng giảm thiểu. Cốt truyện của tác phẩm đã được nới lỏng, trọng tâm chuyển từ cốt truyện sang nhân vật, từ những điều “trông thấy” sang những điều “cảm thấy”, từ thế giới bên ngoài vào thế giới nội tâm nhân vật. Tố Tâm chủ yếu xoay quanh một câu chuyện duy nhất, không thiên về hành động bên ngoài mà chủ yếu là thế giới nội tâm với những hành động bên trong. Tiểu thuyết kết thúc bằng bi kịch tình yêu đổ vỡ, bằng cái chết thương tâm của nhân vật chính hoàn toàn khác xa so với kết thúc có hậu của truyện Nôm. Với Tố Tâm, lối kết cấu chương hồi truyền thống được thay thế bằng kiểu kết cấu theo quy luật tâm lý. Tác giả thực sự có hứng thú khi “xét cái tình trạng của lòng người”, “chép cái hành động của tâm lý”, “tách bạch những nỗi éo le của ái tình” [4,2]. Nhiều tình huống tâm lý nhân vật được khai thác, nhiều hành động của nhân vật được miêu tả. Tất cả


đều hướng tới việc phô bày tâm lý nhân vật. Qua ngòi bút của Hoàng Ngọc Phách, Đạm Thủy và Tố Tâm thực sự có đời sống nội tâm phong phú, mỗi nhân vật đã có được cuộc sống của riêng mình. Khi xây dựng nhân vật, Hoàng Ngọc Phách cũng không phân chia nhân vật thành hai tuyến đối lập như trong văn học truyền thống. Nhà văn đã xây dựng nhân vật bằng một phương pháp mới: không tập trung vào các sự kiện, hành động bên ngoài của nhân vật mà tập trung vào các quá trình tâm lý và các trạng thái tình cảm của nhân vật. Trong tác phẩm, nhà văn đã sử dụng thành công nhiều thủ pháp miêu tả tâm lý nhân vật. Những biến thái tinh vi của tâm hồn nhân vật đã được nhà văn miêu tả trong môi trường hẹp, qua nhật ký, thư từ, qua ngoại hình và hành động… Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật là một trong những đóng góp quan trọng của Hoàng Ngọc Phách cho kỹ thuật xây dựng tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Xung đột chủ yếu của Tố Tâm là xung đột tình cảm và lý trí giữa Tố Tâm và Đạm Thủy. Về mặt tình cảm, Đạm Thủy tha thiết yêu Tố Tâm, nhưng lý trí lại


ràng buộc anh kết hôn với cô gái mà chàng chưa hề biết mặt. Về phía Tố Tâm, mặc dù say mê Đạm Thủy nhưng lại không muốn làm tan vỡ hạnh phúc của cô gái đã có lời hứa hôn với Đạm Thủy, và sau đó là chiều theo ý mẹ lấy cậu tú B. Tuy cũng có lúc hai người định “đem nhau trốn đi một chỗ thâm sơn cùng cốc, hay chân trời góc biển nào không ai biết đến để cùng hưởng cuộc ân ái trăm năm” [4, 98] nhưng đó chỉ là ý nghĩ thoáng qua do “chịu ảnh hưởng ở các ái tình tiểu thuyết Tây – Âu” [4, 3] chứ chưa đủ sức thoát khỏi sự níu kéo của “tình gia quyến” cùng với sự kiềm tỏa của chữ tín và chữ hiếu cứng nhắc của đạo lý phong kiến. Có thể nói, Tố Tâm và Đạm Thủy chưa thực sự là nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn. Tình yêu của họ chỉ mới là một thứ tình yêu nửa vời tuy có đắm say nhưng vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của lễ nghĩa. Tố Tâm tuy yêu say đắm Đạm Thủy nhưng vẫn chấp nhận lấy chồng để chiều theo ý mẹ. Đạm Thủy tuy vô cùng đau khổ vì tình yêu tan vỡ nhưng lại vẫn “cảm thấy nức lòng”, vẫn đầy hào hứng trước công danh sự nghiệp.


Tố Tâm là cuốn tiểu thuyết tâm lý đặc sắc có vai trò mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại song nó lại không phải là một viên ngọc toàn bích do những hạn chế về thời đại và thế giới quan của tác giả - một nhà văn xuất thân Nho học vốn đã quen với nếp cũ. Về nội dung, tác phẩm chưa xây dựng được điển hình cho một tầng lớp, một giai cấp. Bản thân Đạm Thủy chỉ là một cá nhân cô đơn. Bi kịch của chàng thật cá biệt so với nhân vật ký giả và bạn bè cùng hoàn cảnh xuất thân như anh. Ngoài tình yêu, Đạm Thủy hoàn toàn xa lạ với đời sống chính trị - xã hội, nghĩa là xa lạ với cái bối cảnh trực tiếp gây nên bi kịch cho tình yêu, hạnh phúc của mình. Nếu người đọc mong muốn tiểu thuyết phải là bức tranh khái quát hiện thực thì Tố Tâm lập tức thiếu ngay cái sức mạnh điển hình hóa. Nếu công chúng đòi hỏi tác phẩm văn học phải đứng ở vũ đài đấu tranh giai cấp thì Tố Tâm ngay tức khắc sẽ bị đánh đồng với các sáng tác thoát ly hiện thực. Tất nhiên, chúng ta không thể đòi hỏi một tiểu thuyết lãng mạn phải chứa đựng nhiều chức năng xã hội. Song, giá như, ngoài cơ sở


tâm lý, nhà văn còn dùng cơ sở xã hội để lý giải sự biến động trong đời sống tinh thần nhân vật thì ý nghĩa xã hội của tác phẩm còn lớn hơn nhiều. Thời bấy giờ, công chúng chưa mạnh dạn kết thành làn sóng ủng hộ tác phẩm, phải chăng, một phần cũng bởi điều này? Về nghệ thuật, một số sự kiện trong truyện còn dài dòng, dàn trải, nhất là các đoạn đối thoại, những phần trích dẫn thư từ, hay những câu thơ xướng họa,... Điều này làm giảm đi độ “căng” cần thiết của một tiểu thuyết vốn cần nhiều mâu thuẫn, xung đột, ít nhiều gây cảm giác nhàm chán cho người đọc mà những đoạn đối thoại giữa Đạm Thủy với thằng bé người ở, hay những chỗ trích thư từ, nhật ký của Tố Tâm là các ví dụ tiêu biểu. Lời văn nghệ thuật của tác phẩm, bởi tập trung miêu tả tầng lớp thượng lưu, lại được tác giả gọt giũa quá bóng bẩy nên khó hấp thu được lời ăn tiếng nói sống động của quần chúng nhân dân. Tác phẩm hoàn toàn thiếu vắng vốn ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc, như người đọc đã từng gặp trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Nhiều đoạn văn lại theo vết mòn xưa,


dùng câu văn biền ngẫu, quá đăng đối, quá ràng buộc, khiến mạch văn thiếu phần co giãn, linh hoạt, thậm chí lê thê, nặng nề. Mặt khác, tác phẩm kể chuyện tình yêu thời hiện đại, nhưng nhà văn lại để đôi trai gái tân thời gởi cho nhau những câu đối, dòng thơ luật Đường khuôn sáo, hình ảnh mòn cũ: “liễu ủ hoa sầu, năm canh giọt lệ, sương sa gió thổi, tuyết phủ mây mờ,...”. Điều đó khiến người đọc không khỏi liên tưởng về cuộc tình của những văn nhân tài tử thời phong kiến ngày xưa. Những nhà nho thủ cựu thấy nhân vật xa lạ với mình. Nhưng thanh niên trí thức Tây học lại thấy nhân vật dường như chưa hẳn là mình. Ngoài ra, đôi chỗ, nhà văn, vì quá nôn nóng muốn dùng văn chương “gây nên một nền luân lý”, do đó, đã biến nhân vật Tố Tâm thành cái loa phát ngôn, thuyết lý cho đạo đức: “Em là phận gái, cái chức phẩm với đời, có cũng hay mà không cũng được, chả ai nghị luận gì, ai trách chi nữ nhi nan hóa, nhưng anh là bậc nam nhi hai vai nghĩa vụ, anh đừng làm như em mà giữ lấy một mối tình vô hy vọng. Anh là người có văn chương, có tư tưởng, anh nên nhớ


rằng cái thân anh không phải của một mình anh, phải làm việc cho nhà, cho nước, cho xã hội...” [4, 87]. Người đọc thật khó bị thuyết phục bởi một cô gái đang đau khổ sụt sùi vì tình, lại bất ngờ tỉnh táo, nói những lời mang màu sắc giáo huấn trang nghiêm như thế! Ngoài ra, Tố Tâm còn thể hiện thái độ nửa vời của Hoàng Ngọc Phách trong việc giải quyết mâu thuẫn, xung đột của con người trước hiện tại. Một mặt, nhà văn ca ngợi, ủng hộ tình yêu tự do của thanh niên nam nữ nhưng mặt khác lại để nhân vật của mình bị ràng buộc bởi gia đình, bởi trách nhiệm, bởi thứ đạo đức còn mang nhiều dấu tích của lễ giáo phong kiến hủ lậu. Mặc dù vậy, nhìn một cách tổng quát, những hạn chế vừa nêu cũng không làm mờ được vẻ đẹp sáng ngời của tác phẩm bởi những khiếm khuyết ấy, dù gì, là hệ quả tất yếu của một quyển tiểu thuyết tâm lý đã xuất hiện quá sớm so với bối cảnh thời đại.

Tài liệu tham khảo:


1. Phan Cự Đệ và những người khác (1998). Văn học Việt Nam 1900 – 1945, TP HCM: Giáo dục, 668 tr. 2. Lê Quang Hưng (2003). Thiếu Sơn toàn tập, Hà Nội: Văn học, 735 tr 3. Phạm Thế Ngũ (1965), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Sài Gòn: Quốc học tùng thư, 661 tr. 4. Song An Hoàng Ngọc Phách (1988). Tố Tâm, Hà Nội: Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 124tr. 5. Trần Thị Trâm (1996). Tiểu thuyết Tố Tâm và vị trí của tác phẩm trong quá trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, luận án phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội: Đại học Sư phạm, 157 tr.

Ve tieu thuyet To Tam cua Hoang Ngoc Phach  

V “ Ề T TÂM Ố ” C A HOÀNG NG C PHÁCH Ủ Ọ Lê Duy Tân L p: Văn 3CN ớ MSSV: K33606044 2. Lê Quang H ng (2003). ư Thi u S n toàn t p ế ơ ậ , Hà...

Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you