Issuu on Google+

HAS


MỤC LỤC

I. WASHINGTON, D .c

5

II. FLORENCE

97

III. ĐẾN THẾGIỚI MỚI IV. NHỮNG DỊP ĐÁNG CHỨ Ý TRONG NẢM THÁNG KINH

195

sợ

305

V. MỘT CÂN THỊT

337

IV. MỘT CÁI MUỖNG DÀI

381

LỜI CẢM ƠN

425


I WASHINGTON, D.c


CHƯƠNG 1 tìẳn bạn sẽ nghĩ một ngày như thế sẽ khởi đầu trong run rẩy...

CHIEC Mustang của Clarice Starling nảy lên trên đoạn dốc vào Cục Rượu bia, Thuốc lá và Vũ khí (BATF) trên đường Massachusetts, một sở chỉ huy thuê của Đức Cha Sun Myung Moon vì lợi ích kinh tế. Lực lượng xung kích đang chờ đọi trên ba chiếc xe, một chiếc xe tải ngụy trang méo mó dẫn đầu, theo sau là hai chiếc xe tải đen của đội đặc vụ. Họ đang thực thi nhiệm vụ, và giờ là lúc phải phục kích trong ga ra trống huếch trống hoác. Starling lôi túi đồ nghề khỏi xe rồi chạy đến chiếc xe dẫn đầu hai bên có căng áp phích màu trắng lấm lem vói dòng chữ TIỆM CỦA MARCELL. Từ cánh cửa sau đê mở cúa xe tải, bốn người đàn ông đang quan sát Starling tiến đến. Dáng vẻ mảnh mai đầy mệt mỏi, cô vẫn di chuyển thật nhanh dù đang lặc lè đồ đạc, mái tóc sáng lên trong ánh huỳnh quang rờn rợn. "Đ úng là phụ nữ. Lúc nào cũng tới trễ/' một viên cảnh sát thủ đô nói. Đặc vụ John Brigham của BATF đang ở vị trí chỉ huy. “Không phải cô ấy trễ đâu. Xe thắng lại tôi mới nhắn cho cô ấy," Brigham nói. "Hẳn cô ấy đã tức tốc từ Quantico đến đây. Này, Starling, đưa cái túi cho tôi." "Chào, John." Cô đập tay vói anh. Brigham bàn bạc vói viên cảnh sát ngồi ghế tài xế ngụy trang luộm thuộm. Cửa sau còn chưa kịp khép, chiếc xe tải đã lăn bánh, hòa vào không khí chiều thu dễ chịu bên ngoài. Clarice Starling, vốn đã quá quen vói những xe tải theo dõi, đằm mình dưói chiếc kính tiềm vọng và lùi về phía sau, sát bên khối nước đá khô nặng hon sáu mưoi cân vẫn dùng làm điều hòa nhiệt độ khi xe phải tắt máy để ẩn nấp. Chiếc xe tải cũ kỹ ngai ngái mùi sợ hãi và mồ hôi không thể nào tẩy sạch. Trước nay nó đã từng được dán cơ man nào là nhãn [ 7]


mác. Bảng hiệu dơ dáv bạc màu trên cửa mới được dán ba mưoi phút trước. Những lỗ đạn được trám lại bằng Bond-O thì lâu hon. Cửa sổ sau xe đều là gương một chiều xín màu vừa phải. Starling có thể quan sát hai chiếc xe to đen của đội đặc vụ theo sau. Cô hy vọng họ sẽ không phải kẹt ở trong xe hàng giờ đồng hồ. Mỗi khi cô quay ra cửa sổ, các nam sĩ quan lại nhìn cô dò xét. Đặc vụ FBI Clarice Starling, ba mươi hai tuổi, trông lúc nào cũng trẻ đúng tuổi và xinh đẹp ngay cả những lúc mệt mỏi. Brigham lấy lại tập hồ sơ từ ghế trước. "Sao lúc nào cô cũng bắt trúng mấy vụ tào lao này vậy Starling?" anh hỏi và mỉm cưòi. "Vì anh cứ kêu đến tôi/' cô đáp. "Vụ này thì tôi cần đến cô. Nhưng lạy Chúa, tôi thấy cô vẫn hay thực hiện các vụ bắt giữ khẩn cấp. Không cần hỏi tôi cũng đoán được rằng có ai đó ở Điểm Diều Hâu cãm ghét cô. Cô nên sang làm việc cho tôi. Đây là nhân viên của tôi, đặc vụ Marquez Burke và John Hare, còn đây là sĩ quan Bolton của Sở Cảnh sát Thủ đô." Một đội đột kích liên minh giữa Cục Rượu bia, Thuốc lá và Vũ khí và Cục Phòng chống Ma túy (DEA) cùng vói FBI là một đội hình gượng ép trong thời buổi kinh phí hạn hẹp này, khi mà ngay cả Học viện FBI củng phái đóng cửa vì thiếu ngân sách hoạt động. Trông Burke và Hare đúng là giống đặc vụ. Còn viên cảnh sát thủ đô thì nhìn như một anh mõ tòa. Anh ta trạc độ bốn lăm, béo ục và bốc mùi chua lòm. Sau lần bị kết án dính líu đến ma túy, Thị trưởng Washington nóng lòng tỏ ra rắn tay vói chất nghiện này, ông khăng khăng rằng cảnh sát thủ đô phải được chia sẻ công lao trong những vụ đột kích lón ở thành phố Washington. Thế nên Bolton mói có mặt ở đây. "Hôm nay bọn Drumgo sẽ nấu hàng," Brigham lên tiếng. "Evelda Drumgo, biết ngay mà," Starling nói không mấy hồ hởi. Brigham gật đầu. "Ả ta mở một xưởng 'đá' trên sông bên cạnh chợ cá Feliciana. Người của ta cho biết hôm nay ả sẽ nấu một mẻ 'đá'. Và ả đã đặt sẵn vé đi đảo Grand Cayman ngay tối nay. Chúng ta không thể chần chừ được nữa." Crystal methamphetamine, tiếng ióng là "đ á", tạo một con phê ngắn nhưng siêu mạnh và gây nghiện khủng khiếp. "M a túy là việc của DEA nhưng chúng ta cần Evelda trong vụ vận chuyển vũ khí hạng ba liên bang. Lệnh bắt ghi chi tiết một số [ 8]


súng máy Beretta và vài khẩu MAC 10, mà ả biết rõ phần lớn số còn lại ở đâu. Starling, tôi muốn cô tập trung vào Evelda. Cô đã từng giáp mặt vói ả rồi. Mấy ngưòi này sẽ hỗ trợ cho cồ." "M ột nhiệm vụ dễ dàng," sĩ quan Bolton nói vói vẻ hài lòng. "Starling, tôi nghĩ cô nên kể cho họ nghe về Evelda," Brigham nói. Starling chờ cho chiếc xe lắc rầm rập qua đường ray xe lửa. "Evelda sẽ đánh trả/' cô nói. "Nhìn bề ngoài thì không có vẻ gì là như thế, vì ả từng là người mẫu mà. Nhưng ả sè đánh trả. Á là góa phụ của Dijon Drumgo. Tôi đã từng bắt ả hai lần vì tội tổ chức bảo kê, lần đầu tiên là cùng vói Dijon. Lần gần đây nhất ả mang một khẩu chín ly vói ba băng đạn và chai xịt hoi cay trong túi xách. Ả còn có một con dao gấp nhét bên trong áo ngực. Không biết lần này ả sẽ mang những gì. Lần đó, tôi nhã nhặn yêu cầu ả đầu hàng và ả làm theo. Sau đó trong trại tạm giam thủ đô ả đã dùng cán muỗng giết một tù nhân tên Marsha Valentine. Cho nên chả biết được đâu... vẻ mặt ả khó đoán lắm. Và đại bồi thẩm đoàn đã phán là ả giết người vì tự vệ. Ả đã thoát được tội bảo kê và xin giảm án còn lại. Tội buôn vũ khí cũng được miễn bởi ả có con nhỏ và chồng vừa chết trong vụ đọ súng ở đường Pleasant, có thể do bọn Spliffs gây ra. Tôi sẽ kêu ả đầu hàng. Hy vọng là ả sẽ nghe theo - chúng ta phải diễn một màn. Nhưng hãy nghe tôi, nếu chúng ta phải khống chế Evelda Drumgo thì tôi cần trợ giúp thật sự. Không cần yểm trợ cho tôi, tôi muốn khống chế ả. Song các anh đừng tưỏng là sẽ được xem tôi và Evelda đấu vật." Đã có thòi Starling chắc chắn sẽ nhượng bộ những người này. Lúc này họ không hứng thú với những gì cô đang nói và cô cũng đã bị đối xử như thế mãi rồi nên chẳng buồn để tâm. "Evelda Drumgo liên hệ với băng Trey-Eight thông qua Dijon/' Brigham nói. "Theo ngưòi của ta thì ả có một băng nhóm tên là Crip và chúng tản mát trên bờ biển. Mục đích chính của băng này là để đề phòng bọn Spliffs. Tôi không biết chúng sẽ phản úng thế nào một khi trông thấy chúng ta. Nếu có thể, chúng sẽ không bao giờ giáp mặt cảnh sát." "Các anh nên biết rằng Evelda bị nhiễm HIV," Starling nói. "Ả lây từ Dijon qua đường kim tiêm. Biết được việc này lúc ở trong trại giam, ả đã phát rồ lên. Chính vì thế hôm đó ả đã giết Marsha Valentine rồi đánh nhau vói cai ngục. Nếu ả đánh nhau mà không [9]


có vũ khí, các anh nên chuẩn bị tinh thần bị d ính phải b ất cứ chất lỏng nào ả phu n ra. Ả sẽ nhổ nước bọt và cắn các anh. Còn nếu các anh tìm cách vật ả xuống, thể nào ả cũng tiểu và ị lên người các anh. C ho nên cần thiết phải đeo găng tay và m ặt nạ. N ếu các anh dúi ả vào trong xe cảnh sát, khi đặt tay lên đầu ả n h ớ coi chừng kim tiêm trong tóc ả và n h ớ trói chân ả lại." M ặt Burke và H are dài thuỗn ra. Sĩ quan B olton ra vẻ không thích lắm . A nh ta hướng cái cằm xệ về phía vũ khí của Starling, m ột khẩu C o lt .45 kiểu G overnm ent111 vói m iếng dán dùng cho ván trượt trên báng, nằm trong bao súng Yaqui bên thắt lưng phải cúa cô. "L ú c nào cô cũ ng đi lại vói cái thứ đã lên nòng kia à ? " anh thắc m ắc. "L ê n nòng và khóa vào bất cứ phút nào trong n g à y /' Starling đáp. "T h ậ t ngu y h iểm ," Bolton nói. "V à o bãi tập bắn rồi tôi sẽ giải thích vói an h ." B righam cắt ngang. "B olto n, tôi tùng huấn luyện Starling, cô ấy đã vô đ ịch đấu súng lục liên ngành ba năm liền đấy. K hông phải lo lắng về vũ khí của cô ấy đâu. M ấy gã ở Đ ội G iải cứu C on tin, Cao bồi V elcro đã gọi cô là gì ấy nhỉ Starling, sau lần cô hạ gục họ ấy? A nnie O akley® à ?" "O ak ley Đ ộc Đ ịa /' cô đáp và nhìn ra cửa sổ. Starling cảm thấy nhức nhối và cô đon trong chiếc xe theo dõi đầy m ùi dê chứa toàn đàn ông này. Đ àn ông, rượu, hư ong liệu cũ, m ồ hôi và da thuộc. Cô cảm thấy m ột nỗi sợ hãi m ơ hồ, như là có m ột đồng xu vướng bên dưới lưõi. M ột hình ảnh hiện lên trong đầu:

bô'cô, sặc mùi thuốc lá và sực nức xà bông, gọt một quả cam bằng con dao bỏ túi có mũi gãy thành mũi vuông, rồi bổ cam cho cô trong gian bếp. Đèn chiếu hậu chiếc xe chở hàng của ông đã biến mất khi ông ra đi vào cái đêm tuần tra - cái đêm đã cướp đi mạng sôhg của ông. Quần áo của ông trong

tủ áo. Chiếc áo sơ mi vũ hội của ông. Một vài thứ đồ xinh xinh trong tủ áo của cô mà cô chưa mặc lần nào. Đồ tang treo trên móc áo, nhu những đồ chơi trên gác xép. "K h o ản g m ưòi phút n ữ a," tài xế nói vọng ra sau.

1. Loại súng Coit .45 có ba kiểu chiều dài nòng, nòng kiểu Government dài 127 mm, nòng kiểu Commander dài 108 mm và nòng kiểu Officer’s ACP dài 89 mm. 2. Annie Oakley (13/8/1860 - 3/11/1926) tên thật là Phoebe Ann Mosey, là một nhà thiện xạ người Mỹ.

[ 10]


Brigham nhìn ra kính chắn gió rồi kiểm tra đồng hồ đeo tay. "Sơ đồ đ ây/' anh nói. Anh có một sơ đồ thô được vẽ vội bằng bút dạ và một bản vẽ mờ mờ được fax đến từ Sở Xây dựng. "Khu chợ cá nằm trong dãy cửa hàng và nhà kho dọc bờ sông. Đầu đường Parcell giao vói con lộ Riverside trong khu nhà nhỏ này ở ngay trước chợ cá. Thấy không, tòa nhà có cái chợ cá trên mặt nước ấy. Dọc theo mặt sau của tòa nhà là một bến tàu, ngay chỗ này đây. Cạnh chợ cá ở tầng trệt là phòng pha chế của Evelda. Lối vào ở phía trước, ngay chỗ này đây, sát mái hiên của chợ cá. Trong khi chế thuốc, Evelda sẽ chốt người canh chừng bên ngoài, ít nhất là trong vòng ba dãy nhà xung quanh. Đã có lần chúng báo động kịp thòi cho ả ta phi tang mọi thứ xuống bồn cầu. Vì thế, đội đột kích của DEA ở xe thứ ba sẽ đột nhập vào từ một chiếc tàu câu cá trên bến tàu vào đúng mười lăm giờ. Bằng chiếc xe tải này chúng ta có thể tiếp cận gần nhất, ngay tận cửa phòng pha chế, chỉ trước cuộc đột kích có ít phút thôi. Nếu Evelda chạy ra phía trước, chúng ta sẽ tóm ả. Nếu ả trốn bên trong, chúng ta sẽ tấn công vào cửa hông ngay sau khi họ tấn công mé bên kia. Xe thứ hai yểm trợ cho chúng ta có bảy người; bọn họ sẽ đến vào đúng mười lăm giờ trừ phi chúng ta gọi họ sớm hon." "Làm sao chúng ta phá cửa được?" Starling nói. Burke lên tiếng. "Nếu không nghe thấy gì thì tức là ta tông cửa. Nếu có tiếng nổ lớn hay tiếng súng thì nghĩa là 'tiếng gọi Avon/ " Burke vỗ vỗ khẩu súng lục của mình. Starling đã từng thấy thứ này - "tiếng gọi Avon" là một kiểu vỏ đạn súng ngắn chứa đầv thuốc nổ có thể làm nổ tung ổ khóa mà không gây tổn thương tới người ở bên trong. "M ấy đứa con của Evelda đang ở đâu vậy?" Starling nói. "Theo người nằm vùng của chúng ta thì ả gửi chúng ở nhà trẻ," Brigham nói. "Người nằm vùng của chúng ta rất tường tận về hoàn cảnh gia đình ả, giống như là các anh tường tận về tình dục an toàn vậy." Điện đàm của Brigham bíp lên trong tai nghe của anh, anh bèn dò xét khoảng trời bên ngoài thấy được qua cửa sổ sau. "C ó lẽ nó chỉ đi ngang qua." Anh nói vào micrô. Anh gọi tài xế. "Đội hai thấy một chiếc trực thăng tin tức một phút trước. Anh có thấy gì không?" "Không." "Tốt hơn hết là nó chỉ đi ngang qua. Chuẩn bị lên đưòng nào." [ 11]


Đ

ược xem là một trong những sự kiện văn chương được chờ đợi nhất, Hannibal mang người đọc vào cung điện ký'ức của một kẻ ăn thịt người, tạo dựng nên một bức chân dung ớn lạnh của tội ác đang âm thầm sinh sôi - một thành công của thể loại kinh dị tâm lý. Với Mason Verger, nạn nhân đã bị Hannibal biến thành kẻ người không ra người, Hannibal là mối hận thù nhức nhối da thịt. Với đặc vụ Clarice Starling thuộc FBI, người từng thẩm vấn Hannibal trong trại tâm thần, giọng kim ken két của hán vẫn vang vọng trong giấc mơ của cô. Với cảnh sát Rinaldo Pazzi đang thất thế, Lecter hứa hẹn mang tới một khoản tiền béo bở để đổi vận.

«»

Và những cuộc săn lùng Hannibal Lecter bát đầu, kéo theo đó là những chuỗi ngày run rẩy hòng chấm dứt bảy năm tự do của hán. Nhưng trong ba kẻ đi săn, chỉ một kẻ có bản lĩnh sống trụ lại để hưởng thành quả của mình.

nhãnam w w w .n ha na m .vn

LẬ GIẾT CHẾT SÁCH THẬT

8 9 3 523 5 20 0 593


NN297: Hannibal Và Những Ngày Run Rẩy Bắt Đầu - Thomas Harris