Issuu on Google+

NỢ CÔNG C

ơn bão khủng hoảng tài chính 2008 chưa kịp lắng xuống thì cả thế giới lại phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới – khủng hoảng nợ công. Tại khắp các trung tâm tài chính lớn từ Mỹ, Châu Âu đến các nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, vấn đề nợ của các Chính phủ đang là mối quan tâm hàng đầu đối với cả các chủ nợ và con nợ. Trong bối cảnh đó, số liệu thống kê trong bản báo cáo về nợ nước ngoài của Việt Nam đến hết năm 2010 do Bộ tài chính công bố vào tháng 8/2011 như một dấu hiệu báo động về tình trạng nợ của Việt Nam. Theo báo cáo của Bộ tài chính, tính đến hết năm 2010, nợ của Chính phủ và nợ nước ngoài của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh là 32,5 tỷ USD.

Bản chất đằng sau những con số Trước hết, chúng ta cần làm rõ khái niệm nợ công và nợ nhà nước. Nợ công bao gồm các khoản nợ của khu vực Nhà nước (gồm cả trung ương và địa phương) và doanh nghiệp nhà nước – trong đó có phần vồn góp của Nhà nước. Về mặt luật pháp, trong trước hợp doanh nghiệp nhà nước đã được xác định là công ty TNHH hay công ty cổ phần thì khi phá sản, người chủ sở hữu của nó chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong khuôn khổ phần tài sản đã góp. Tuy nhiên vấn đề ở đây không chỉ là luật pháp và còn có khía cạnh chính trị, nhà nước không thể thoái thác trách nhiệm của mình đối với các khoản nợ của doanh nghệp nhà nước. Nợ nhà nước chỉ là một bộ phận của nợ công, và số liệu mà Bộ tài chính phổ biến hiện nay là nợ nhà nước chứ không phải nợ công. Bên cạnh đó cách tính nợ công của Việt Nam chưa phản ánh được chính xác giá trị thực của nó vì không bao gồm các khoản nợ trong tương lai cho công chức đã về hưu. Tại một số quốc gia, tỷ lệ của các khoản nợ này có thể rất lớn, thậm chí lên đến 50% GDP như tại Singapore. Và để đánh giá thực trạng nợ công của quốc gia,

chúng ta thường xét đến chỉ số tỷ lệ nợ trên GDP. Nếu so sánh với số liệu tỷ lệ nợ công năm 2010 theo tính toán của The Economist tại một số nước trên thế giới như Mỹ 53,7%, Nhật 191,9%, Đức 79,6% … so với Việt Nam là 51,7%, tỷ lệ của các nước còn lớn hơn nhiều. Vấn đề ở đây không phải là quy mô hay tỷ lệ nợ mà là vấn đề sử dụng nguồn vốn đi vay. Các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, phải đối mặt với nhiều sự thiếu hụt nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chính. Thiếu hụt về tài chính có thể do các nguyên nhân như thiếu hụt về tiết kiệm (tiết kiệm trong nước không đáp ứng nhu cầu đầu tư), thiếu hụt trong ngân sách chính phủ (thâm hụt ngân sách), thiếu hụt ngoại tệ do xuất khẩu ít hơn nhập khẩu. Và một trong những nguồn bù đăp thiếu hụt đó là từ nguồn vốn đi vay. Về bản chất, nguồn vốn đi vay không xấu. Nếu sử dụng vốn có hiệu quả, đồng vốn đi vay đem lại thu nhập để trả lãi và gốc hàng năm thì thậm chí cần khuyến khích vay nợ để tiếp tục đầu tư tạo nhiều tài sản hơn cho xã hội. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, người ta thường sử dụng chỉ số ICOR – ICOR càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng thấp.

Rủi ro từ nợ công tại Việt Nam Trước bối cảnh khủng hoảng nợ công tại châu Âu, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia Lê Xuân Nghĩa nêu cảnh báo trong 5-7 năm tới, vấn đề nợ công của Việt Nam có thể sẽ thành rủi ro lớn hơn lạm phát hay tỷ giá. Rủi ro nợ công đến khi các Chính phủ đối mặt với khả năng không thanh toán được các khoản nợ tới hạn. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia đó mà còn kéo theo sự phụ thuộc về chính chị, các chính sách kinh tế xã hội, hệ lụy là những bất ổn về kinh tế - chính trị trong nước. Điều này có thể thấy rất rõ tại các nước đang phải đối mặt với khủng hoảng nợ tại châu Âu mà điển hình là Hy Lạp. Tại Việt Nam, nếu xét trên góc độ tỷ lệ nợ trên GDP thì tỷ lệ này vẫn đang nằm trong tầm kiểm

11/2011


soát. Xét mức nợ công trình trên đầu người của Việt Nam năm 2010 là 580,91 USD, so với các nước trong khu vực như Trung Quốc là 713,6 USD, Indonesia là 743 USD hay Thái Lan là 2064 USD, thì tỷ lệ của Việt Nam cũng không phải là con số quá cao. Tuy nhiên nếu so tốc độ tăng mức bình quân nợ trên đầu người của Việt Nam năm 2001 xấp xỉ 112 USD thì trong vòng 10 năm con số này tăn gấp 5 lần. Tiết kiệm nội địa hiện tại khoảng 27% GDP trong khi mức độ đầu tư toàn xã hội mỗi năm tăng khoảng 42% GDP, chắc chắn con số này sẽ còn tăng trong các năm tới.

Hơn thế nữa, hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam cũng là vấn đề đáng phải quan tâm, đặc biệt trong khu vực công. Năm 1991 chỉ số này là trên 3, đến năm 2009 tăng lên 8 và hiện nay vào khoảng 9, trong khi ở Thái Lan, con số này năm 2010 là 5. Trong quá trình nguồn vốn vay đi vào nền kinh tế, có khoảng 30% không trở thành tài sản mà thất thoát theo nhiều dạng. Đánh giá mức độ rủi ro nợ công của Việt Nam trong dài dạn, cũng cần phải xét đến các yếu tố về cơ cấu nợ hay lãi suất các khoản nợ. Việt Nam thường được hưởng các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp, tuy nhiên hiện nay mức lãi suất này đang cho chiều hướng gia tăng, đặc biệt có các khoản vay theo lãi suất thả nổi. Đa số các khoản vay đề có mức lãi suất từ 1-3%, tuy nhiên trong năm 2010, trong 25,097 tỷ USD tổng nợ nước ngoài của Chính phủ, có 19,313 tỷ USD có lãi suất từ 1 - 2,99%; trên 1,678 tỷ USD chịu lãi suất từ 3 - 5,99% (tăng 176 triệu USD so với 2009) và có tới 1,888 tỷ USD ở mức lãi suất 6- 10%, tăng hơn gấp đôi so với 2009. Ngoài ra, các khoản vay với lãi suất thả nổi cũng tăng 6,66 triệu USD so với 2009. Nguyên nhân một phần là do Việt Nam trong năm

qua đã được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cũng như uy tín nợ quốc gia bị ảnh hưởng sau sự kiện Vinashin và những bất ổn trong kinh tế vĩ mô. Điểm nợ công của Việt Nam vẫn phải chịu sức ép từ lạm phát và những vấn đề tồn tại trong hệ thống ngân hàng. Lãi vay tăng làm thay đổi nhiều nghĩa vụ nợ hàng năm của Chính phủ, từ nay đến năm 2015 Việt Nam sẽ phải trả nợ nước ngoài cả gốc lẫn lãi hàng năm là 1,5 tỷ USD và mức đỉnh trả nợ sẽ rơi vào năm 2020 với nợ phải trả lên đến gần 2,4 tỷ USD. Nợ mới phát sinh từ trái phiếu Chính phủ phát hành trên thị trường quốc tế năm 2010 với lãi suất 7%, thời hạn 10 năm rơi và đúng đỉnh điểm 2020 này. Một năm trước, Bộ tài chính mới dự kiến con số nợ phải trả cho năm này là 1,15 tỷ USD. Một vấn đề khác cũng cần phải quan tâm là cơ cấu nợ của Việt Nam. Trên 60% nợ công của Việt Nam là ODA, phần còn lại chủ yếu được tài trợ bởi trái phiếu trong nước. ODA với những điều khoản vay ưu đãi giúp Việt Nam giảm bớt áp lực nợ công, tuy nhiên với tình hình sử dụng vốn và lãi vay ngày càng cao như đã nói ở trên, nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn làm tăng nguy cơ rủi ro về cơ cấu nợ trong tương lai. Kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Hy Lạp trong thời gian qua, khi nợ nước ngoài quá lớn, Chính phủ mất khả năng trả các khoản nợ tái hạn, sẽ bị phụ thuộc khi ứng phó với các biến động kinh tế và khó kiểm soát các món vay nợ phụ thuộc nhiều vào tỷ giá hối đối và tâm lý nhà đầu tư quốc tế. Nợ nước ngoài của Việt Nam đa dạng về cơ cấu tiền vay, các khoản vay chiếm tỷ trọng cao như vay bằng USD (22,95%), JPY (38,25%)…. Trên lý thuyết việc này sẽ giúp làm hạn chế rủi ro tỷ giá, song thực tế tại Việt Nam cho thấy tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng và JPY lại đang lên gia so với USD. Việc này làm tăng các khoản chi gốc và lãi, tiềm ẩn những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới. Bản chất của nợ công không xấu và vay nợ để đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều bình thường ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, để đưa ra một con số chính xác nợ bao nhiêu là an toàn lại là một bài toán nan giải. Để nợ công được quản lý chặt chẽ, cần kiểm soát từ khâu vay nợ, sử dụng vốn và thanh toàn nợ đến hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng, các biện pháp cần phải thực hiện đồng bộ và có một lộ trình cụ thể.

Ken

11/2011


no cong