Skip to main content

TẠP CHÍ INSECT ECOLOGY | No.15 | Bảo quản Thuốc trừ sâu an toàn

Page 34

MỘT SỐ LOÀI

BƯỚM

PHỔ BIẾN

BẢO QUẢN

thuốc trừ sâu AN TOÀN

BỘ CÁNH VẢY (LEPIDOPTERA)

No.15

Lưu hành nội bộ

Quý độc giả thân mến!

Côn trùng – lớp động vật có số lượng cá thể phong phú ước tính lên đến 10 triệu loài và đông đúc nhất ở khắp mọi nơi. Theo quy tắc chung, hệ thống phân loại côn trùng cũng

được phân thành các cấp cơ bản theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Ở số Tạp chí Insect Ecology này, Ban biên tập xin mời Quý độc giả tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về Bộ côn trùng cánh vảy. Tiếp theo trong mỗi số Tạp chí, chúng tôi sẽ mang đến những bài viết thú vị về phân loại và mô tả chi tiết về các loài bướm, từ những loài phổ biến đến những loài hiếm gặp. Từ những hình ảnh sống động cho tới các nội dung, Quý độc giả sẽ được khám phá sự phong phú của thế giới loài bướm, đặc điểm sinh học, phân bố và hành vi của từng loài.

Cuối cùng, chúng tôi cũng giới thiệu những phương pháp kiểm soát và phòng ngừa sâu bướm hại cây trồng đa dạng, từ sử dụng hóa chất an toàn và hiệu quả, đến các phương pháp sinh học. Hy vọng những thông tin sẽ giúp ích cho mọi người sử dụng hiệu quả và tránh được những tình huống không mong muốn xảy ra.

Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được sự đón đọc của Quý độc giả.

Trân trọng!

06

- Insect ecologyBộ côn trùng chủ yếu Bộ cánh vảy

38

-Seasonal pestMột số loài bướm phổ biến hiện nay

64

- Pest ControlBảo quản thuốc trừ sâu an toàn

BỘ CÁNH VẨY

(LEPIDOPTERA)

(GỒM CÁC NHÓM NGÀI VÀ BƯỚM)

Bộ Cánh vẩy là bộ lớn thứ hai của lớp côn trùng, có khoảng 140.000 loài ngài và bướm. Cơ thể và cánh chân phủ đầy những lông vảy nhỏ như bụi phấn nên còn có tên là bộ Cánh phấn. Miệng vòi hút, hàm tiến thoái hoá chỉ còn một ít dấu vết hoặc không còn, môi dưới không còn. Râu môi dưới phát triển có 3 đốt, râu hàm dưới rất nhỏ hoặc không còn. Có một số loài miệng đã thoái hoá hết chỉ còn lại râu môi dưới. Có 2-3 mắt đơn hoặc không có. Rầu đầu có đủ các hình dạng (sợi chỉ, hình lông chim, hình dùi dục, hình dùi trống).

06
07

Ngực trước nhỏ, mảnh lưng ngực giữa phát triển nhô vồng lên. Hai bên về phía trước của mảnh lưng ngực giữa có một đôi phiến chân cánh. Chân dài mảnh đốt chậu của chân to, đốt chuyển bé, đốt đùi ngắn hơn đốt chày; đốt chày có cựa,số cựa theo thứ tự chân trước tới chân sau là 0-2-4 hoặc 0-2-2 (một số ít loài không có cựa). Bàn chân có 5 đốt. Có 2 đôi cánh bằng chất màng phủ lông vảy. Những lông vảy này tạo thành các màu sắc và những đường vân ngang có tên gọi khác nhau (đường vân mép ngoài, vân phụ mép ngoài, vân ngoài, vân giữa, vân trong). Trên cánh còn có những đốm chấm có hình dạng không nhất định hình bầu dục, hình tròn, hình quả thận.

08

Mạch cánh của côn trùng bộ cánh vảy có mạch dọc và mạch ngang. Sự phân nhánh và sắp xếp của hệ thống mạch cánh

tuỳ từng họ mà khác nhau. Nói chung mạch Sc không phân

nhánh, mạch R1 không phân

nhánh, mạch Rs phân 4 nhánh:

mạch M phân 4 nhánh: mạch

Cu1 phân 2 nhánh; mạch Cu2

có ở một số loài nhưng đa số không rõ rệt. Mạch lA có và

cũng thường nhập với mạch

2A. Cánh sau có 3A. Một số ít loài có cánh ngắn hoặc không có cánh.

09
10

Sâu non dạng nhiều chân (kiểu sâu róm). Miệng sâu non kiểu gầm nhai. Hàm trên to, khoẻ. Râu đầu ngắn ở gần hàm trên. Hai bên đầu mỗi bên có 6 mắt bên. Ngực chia 3 dốt. Mỗi đốt có

một đôi chân. Bụng có từ 25 đôi chân ở vị trí ứng với các đốt bụng thứ 3, 4, 5, 6, 10.

Riêng đối chân ở đốt thứ 10 thường gọi là chân móng hoặc chân giả. Phía cuối của chân bụng đều có móng dạng móc câu. Số lượng móng có từ một đến nhiều móng và sắp xếp thành từng dạy với những hình dạng nhất định tuỳ theo loài. Móng chân sâu non là một đặc trưng quan trọng để phân loại. Căn cứ sự sắp xếp của móng có thể chia ra: Dãy móng 1 hàng, dãy móng 2 hàng, dãy móng nhiều hàng. Trên mỗi dãy theo độ dài của móng còn chia ra: Loại 1 dạng móng (các móng có 1 độ dài như nhau), loại 2 dạng móng (các móng có 2 độ dài khác nhau), loại 3 dạng móng hoặc nhiều dạng móng (các móng có 3 độ dài hoặc nhiều độ dài khác nhau). Các dãy móng bố trí sắp xếp theo những hình dáng nhất dịnh. Có thể

có mấy kiểu hình sau đây: Kiểu vòng kín (các dãy móng xếp thành

1 vòng đáng kểu), kiểu vòng hở (các dãy tống xếp thành một vòng

còn hở 1 chỗ), kiểu đa dọc kép (các móng xếp dọc thành 2 dãy sóng đôi), kiểu đai giữa (các móng xếp dọc ở giữa song song với trục dọc cơ thể), kiểu đai ngang kép (các móng xếp ngang thành 2 dãy sóng đôi theo bề ngang cơ thể).

11

Lông cứng trên cơ thể sâu non là đặc điểm quan

trọng dùng để phân loại. Lông cứng chia 2 loại lông

cứng nguyên sinh và lông cứng thứ sinh. Lông cứng

nguyên sinh có sự phân bố nhất định và có một tên

gọi nhất định. Tên gọi lông thứ sinh có nhiều hệ thống

gọi khác nhau.

Nghiên cứu của các nhà khoa học chia lông cứng

trên cơ thể sâu non thành mấy nhóm sau (tất cả vị trí

lông đều nhìn theo mặt bên của cơ thể sâu):

12

Nhóm lông lưng trước

Gồm có 2 lông chi ở trên ngực trước. Đó là lông XD1 và XD2, ở mép trước của mảnh lưng ngực trước. Lông XD1 ở phía trên lông XD2.

Nhóm lông lưng

Có 2 lông D1 và D2. Ở ngực trước, lông D1 và 2, thường ở trên một đường xiên, lông D1 ở phía trên trước lông D2. Ở ngực giữa và sau, lông D1 và D2 thường ở trên một đường thẳng

đứng, 2 lông tương đối gần nhau, lông D1 ở trên lông D2 và ngắn hơn D2. Ở phần bụng, lông D1 ở phía trên trước lông D2, nhưng lông D1 ở đốt bụng thứ 9 có thể ở dưới lông D2.

Vị trí lông cứng trên cơ thể sâu non Bộ cánh vảy

A. Ngực trước; B. Ngực giữa; C. Ngực sau

thở

13
01 02
1. Chân; 2. Lỗ

03 04

Nhóm lông phụ lưng

Gồm có 2 lông SD1 và SD2. Ở ngực trước lông SD1 và SD2 phần nhiều ở mép dưới mảnh lưng. Lông SD1 đa số ở phía dưới trước SD2.

Ở ngực giữa và sau, lông SD1 ở đúng dưới lông SD2, hai lông tương đối gần nhau, lông SD2 là lông rất nhỏ. Ở phần bụng, lông SD1 ở phía trên hoặc phía trước lỗ thở, lông SD2 ở đúng trước hoặc trên trước lỗ thở, cũng là lông rất nhỏ.

Nhóm lông bên

Có 3 lông: L1, L2, L3, ở ngực trước, mỗi bên có 2 hoặc 3 lông ở phía trước lỗ thở, trong 3 lông thì lông L1 là dài nhất, thứ đến là lông L2, lông L3 ở gần lỗ thở nhất. Ở ngực giữa và sau thông thường lông L3 ở phía trên sau lông L1, lông L2 ở phía trước lông L1. Nói chung lông L1 dài nhất. Ở phần bụng, nhóm lông bên phần lớn ở phía dưới lỗ thở. Từ đốt bụng thứ 1 - 8, nói chung lông L3 dài nhất ở phía dưới lông L1 và L2. Lông L1 ở chếch phía trên và sau lông L2. Không ít loài trên đốt bụng thứ 9 chỉ có một lông bên.

14

Nhóm lông phụ bụng

Có 3 lông: SV, SV2,SV3. Nhóm lông phụ ở bộ phận ngực nằm phía trên góc chân ngực. Ở ngực trước, nhóm lông phụ bụng cơ bản có 2 lông: SV1 và SV2. Ở ngực giữa có 1-2 lông. Nếu có 1 lông thì chỉ là SV1. Ở bụng nhóm lông phụ bụng nằm ở phía trên hoặc phía dưới trước gốc chân bụng. Số lượng lông thay đổi tùy theo đốt bụng: Đốt bụng thứ 1- 2 có 2 -3 lông, đốt bụng thứ 3 -6 có 3 lông, đốt bụng thứ 7 -8 đa số có 2 lông, đốt bụng thứ 9 có 1 lông (SV1).

Nhóm lông bụng

Chỉ có một lông là V1 gần vạch giữa bụng nhất. Ngoài lông cứng nói trên, trên cơ thể sâu non có những lông tơ, bướu lông (u lông), chùm lông hoặc gai chia nhánh … (u lông cũng có những tên tương ứng thường được dùng để phân loại).

Các dạng lông gai trên cơ thể sâu non Bộ cánh vảy

A. Lông cứng; B. Lông cứng và phiến lông; C. Mấu lông; D. U lông E. Chùm lông; F,G,H.

15 05 06
Các dạng gai nhánh

Trên

cơ thể sâu non có những đường vân, vạch thường được dùng để phân biệt các loài. Dựa vào vị trí các đường vân vạch trên mình sâu có thể phân ra những đường cơ bản sau đây:

1. Đường vạch (vân) giữa lưng là một vạch được chạy dọc chính giữa lưng.

2. Đường vạch phụ lưng: Là hai vạch dọc chạy song song hai bên vạch giữa lưng.

3. Đường vạch trên lỗ thở: Là hai vạch dọc chạy qua lỗ thở.

4. Đường vạch dưới lỗ thở: Là hai vạch dọc chạy phía dưới lỗ thở.

5. Đường vạch trên chân: Là hai vạch dọc chạy phía sát trên chân.

6. Đường vạch trên bụng: Là hai vạch dọc chạy hai bên bụng.

7. Đường vạch giữa bụng: Là một vạch dọc chạy ở giữa bụng.

16

Chân môi của sâu non cũng là một bộ phận thường được dùng để phân loại đến họ. Thông thường người ta khảo sát về hình dạng và tỷ lệ độ dài của chân môi so với độ dài của đầu.

Côn trùng bộ cánh vảy thuộc nhóm biến thái hoàn toàn điển hình với những đặc điểm hình thái và phương thức sinh sống hết sức đa dạng. Do đó việc phân chia, sắp xếp hệ thống phân loại bộ này hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Như chia thành bộ phụ cánh vẩy lớn và cánh vẩy nhỏ, hoặc 2 bộ phụ mạch cánh đều và mạch cánh không đều. Tuy nhiên căn cứ vào một số đặc trưng hình thái và đặc tính sinh vật học, nhiều tác giả nhất trí chia bộ cánh vảy thành 2 bộ phụ Ngài và Bướm với những đặc điểm so sánh như sau:

17

A. Bộ Phụ Ngài

(Hay bộ phụ râu khác - Heterocera)

18

Bộ phụ này có một số kiểu râu đầu khác nhau, từ kiểu sợi chỉ, kiểu dùi trống có móc câu đến kiểu râu lông chim. Pha trưởng thành gọi là Ngài thường có kích thước cơ thể từ nhỏ đến trung bình (ít có loài lớn), mình hẹp dài được bao phủ bởi lớp lông vẩy dày với nhiều màu tối. Khi Ngài đậu yên, cánh phần lớn xếp dọc theo cơ thể theo kiểu mái nhà. Ngài hoạt động vào ban đêm, có một số loài có tính ăn thêm. Cách đẻ trứng rất đa dạng; đẻ rải rác thành cụm hay thành ổ, trong đó một số loài có đặc tính bảo vệ trứng bằng cách đẻ vào kẽ bẹ lá hoặc dùng lông che phủ ổ trứng. Sâu non hoạt động nhanh nhẹn, thích nhả tơ với nhiều phương thức sinh sống khác nhau như: Sống trên bề mặt cây, cuốn lá, đục thân, đục quả, sống trong kho tàng, sống trong đất. Thức ăn chủ yếu là cây cỏ tươi hoặc sản phẩm thực vật, hạt ngũ cốc cất giữ trong kho. Khi đẫy sức, sâu non đều dệt kén hoặc làm bao lá, kén nỗi trong thân cây, trong đất để hoá nhộng.

19

Dưới

Ngài và Bướm.

1.Họ Ngài Đục Gỗ (Cossidae)

Kích thước cơ thể trung bình hoặc lớn. Mình béo, nói chung cánh màu tro hoặc trắng có đốm vân đen. Mạch cánh tương đối nguyên thuỷ. Gốc mạch giữa (M) của cánh vẫn còn có phân nhánh

ở trong buồng giữa tạo thành 3 buồng nhỏ (cả cánh trước và sau). Cánh trước có mạch Cu2. Cánh sau có 3 mạch A. Móc cánh có lúc rất ngắn, có lúc rất phát triển, con cái có tới 9 móc. Đốt chày chân sau có cựa ngắn. Vòi và râu

hàm dưới thoái hoá. Râu môi dưới bé. Râu đầu hình lông chim.

20
đây là một số họ thường gặp trong 2 bộ phụ

Sâu non đầu to, hàm trên rất chắc khoẻ, mảnh lưng ngực trước phát triển. Móng chân có 2 dạng hoặc 3 dạng, xếp thành hình vuông tròn. Nói chung cơ thể sâu non béo thô có màu đỏ tím hoặc vàng trắng. Sâu non đa số đục phá thân hoặc cành cây ăn quả và cây rừng.

Một số giống loài thường gặp là: Sâu đục thân mình đỏ hại cà phê (Zeuzera coffeae Nietner), sâu đục thân mình tím hại mía (Phragmataecia castaneae Hubner).

21
A. Trưởng thành. B. Mạch cánh C. Triệu chứng gây hại

2.Họ Ngài Gạo (Tineidae)

Kích thước nhỏ bé. Cánh trước hẹp dài. Mép sau cánh sau có lông rất dài. Đầu thường, có lông hoặc vẩy dựng đứng, xốp. Vòi ngắn hoặc thoái hoá. Râu hàm dưới rất dài. Râu môi dưới cong đưa về phía trước. Mét kép không có lông. Đốt chày chân sau nhiều lông và dài gấp đôi đốt đùi. Tất cả mạch cánh vẫn còn và phân ly nhau.

Sâu non phần nhiều có màu xám nhạt có thể tạo tổ kén mỏng bao quanh mình, mang theo khi di chuyển. Tính ăn cây, cũng có một số ăn các sản phẩm động thực vật khô trong quá trình cất giữ trong kho.

Một số loài thường gặp là: Ngài cốc hại lương thực, (Tinea granella L.), Tinea pellionella L. hại các loại tơ, lông dệt v,v...

22

A. Trưởng thánh

B. Mạch cánh

23

3.Họ

Ngài Rau

(Plutellidae = Yponomeutidae)

Kích thước cơ thể nhỏ, thường có màu nâu xám cánh hẹp dài, mút cánh sau nhọn, lông ở mép cánh rất dài. Mạch R, của cánh trước có thể kéo dài tới mép ngoài, mạch M và M, của cánh sau cùng chung một đoạn mạch, râu đầu lúc đầu thường đưa về phía trước, râu môi dưới, phía cuối nhọn và cong lên phía trên. Có mắt đơn nhỏ.

Sâu non phần nhiều có màu xanh, hai đầu hơi thon nhỏ, nhộng ở trong kén thưa mỏng.

Sâu non cắn phá lá hoặc đục lá, đục thân.

Một số loài thường gặp là: Sâu tơ hại cải bắp (Plutella xylostella L.)

24
25
A. Đầu trưởng thành; B. Trưởng thành C. Triệu chứng gây hại ; D. Kén; E. Mạch cán

4.Họ Ngài Mạch (Gelechidae)

Kích thước cơ thể nhỏ bé, cánh

trước tựa hình thang, mạch R, và

Cu, xuất phát từ gần phía cuối

của buồng giữa, mạch Rạ và Ry

cùng chung một đoạn mạch, cánh sau có mép ngoài hơi

lõm vào trong, đỉnh cánh nhọn, mạch R, và M, cùng chung một

đoạn mạch hoặc gần gốc kế

cận nhau. Cánh trước và sau

đều không có mạch A.

Râu môi dưới dài và cong ngược, đốt thứ 3 dài và nhọn. Sâu non có tập quán cuốn lá, đục lá hoặc đục quả, hạt.

Một số loài thường gặp là: Ngài mạch (Sitotroga cereallela

Oliv.), sâu hồng hại bông Pectinophora gossypiella Saunders, sâu gập lá khoai lang (Brachmia

triannuella Herrich Shhabter).

26
A. Trưởng thành; B. Đầu trưởng thành C. Triệu chứng gây hại ; D. Kén; E. Mạch cán
28

Kích thước cơ thể nhỏ bé. Cánh trước tựa hình chữ nhật thường màu xám tối, mép trước của cánh tương đối bằng cùng với mép ngoài tạo thành một góc rõ rệt. Khi đậu yên hai cánh xếp lại tựa hình chuông úp. Cánh trước và cánh sau nói chung còn 3 mạch A. Mạch 1A của cánh trước còn một đoạn ngắn ở phía ngoài mép cánh. Mạch Cu, của cánh trước xuất phát từ 1/3 - 1/4 mép dưới của buồng giữa cánh. Mạch Sc + R, của cánh sau tách riêng không liền với mạch khác.

Sâu non thân nhỏ dài, lông thưa. Móng chân có 2 dạng móng hoặc 3 dạng móng xếp thành hình vòng kín. Sâu non có tập quán cuốn lá, xếp lá hoặc đục vào mầm non, thân non, quả để phá hại, di chuyển rất nhanh nhẹn.

Một số loài thường gặp là: Sâu cuốn lá chè (Homona coffearia Nietner), sâu cuốn lá cam (Adoxophyes cyrtosema Meyrick), sâu cuốn lá cam (Cacoecia eucroca Diakonoff).

29
A. Trưởng thành; B. Mạch cánh ; C. Cánh trước

6.Họ Ngài Cuốn Lá Bé

(Olethreutidae = Eucosmidae)

Kích thước cơ thể nhỏ bé, rất giống họ Ngài cuốn lá. Đặc điểm chủ yếu của họ là ở phần gốc mạch Cu của cánh sau có lông dài, tạo thành lông tơ mép cánh. Nếu như không có lông tơ mép cánh thì phía mép ngọn mạch M1 và M2 của cánh trước gần nhau, mạch R1 và R2 của cánh trước phân ly hoặc mạch M2, M3 và Cu1 gặp nhau rõ rệt về phía mép cánh.

Sâu non thường có tập quán đục quả, hạt và thân

để gây hại.

Một số loài thường gặp là: Sâu đục quả vải, nhãn (Cryptophlebia ombrodella Lower), sâu đục thân mía mình vàng (Argyroploce schistaceana Snellen).

30
31

7.Họ Ngài Lông Vũ (Pterophoridae)

32

Kích thước cơ thể bé nhỏ, yếu mềm.

Cánh trước và sau phân thành dạng lông chim. Cánh trước phân 2- 4 phiến, cánh sau 3 phiến. Không có hàm dưới, chân dài mảnh và có cựa rõ rệt.

Sâu non có hình ống dài mọc đầy lông

cứng thứ sinh. Chân bụng tương đối dài, có một dạng móng. Sâu non có

tập quán ăn lá, hoa. Có một số loài đục thân hoặc hạt.

Một số loài thường gặp là: Ngài lông vũ nâu (Steganodactyla concursa Walk.)

và ngài lông vũ trắng (Alucita niveodactyla Pagenstecher) hại lá ngọn khoai lang.

33

8.Họ Ngài Sáng (Pyralididae)

Kích thước cơ thể nhỏ hoặc trung bình, mình gầy dài. Cánh trước nói chung hẹp và có hình tam giác. Đặc điểm rõ nét nhất là mạch Sc + R1 và R2 của cánh sau gần nhau hầu như song song hoặc có thể hợp nhau một đoạn phía ngoài của buồng giữa cánh. Cánh trước mạch R1 và R2 cùng chung một đoạn ngắn, chỉ có một mạch A. Có vòi hoặc thoái hoá, râu môi dưới phát triển, hàm dưới thoái hoá. Râu đầu hình sợi chỉ.

Sâu non mình dài nhỏ, ít lông và có lông cứng nguyên sinh, chân bụng tương đối ngắn, móng chân 2 dạng hoặc 3 dạng xếp thành hình vòng tròn hoặc xếp thành một đôi đai ngang.

34

A. Trưởng thành; B. Mạch cánh ; C. Sâu non nhỏ tuổi và triệu chứng gây hại

D. Nhộng và sâu non qua đông trong gốc rạ

là:

1. Sâu non thích sống nơi kín đáo, thường đục phá các bộ phận của cây nhất là đục thân các cây thuộc họ hoà thảo hoặc có thể cuốn lá làm tổ.

2. Trưởng thành có xu tính mạnh đối với ánh sáng đèn. Con đực và cái ít có hiện tượng hai hình, con cái phần nhiều lớn hơn con đực.

3. Một số loài thường gặp là: Sâu đục thân lúa (Tryporyza insertulas Walker), sâu cuốn lá lúa loại nhỏ (Cnaphalocrosis medinalis Guene), sâu đục thân ngô (Ostrinia nubilalis Hubner). Sâu đục thân mía 4 vạch (Proceras venosatus Walker), sâu đục thân mía mình trắng (Scirpophava nivella Fabr.), sâu đục quả đỗ tương (Etiella zinckenella Treitschke), sâu cuốn lá đỗ (Lamprosema indicata Fabr.).

35
Đặc điểm sinh vật học của họ

9.Họ Sâu Kèn (Psychidae)

36

Trưởng thành cái và đực khác nhau về kích thước và hình thái. Con đực có cánh, cơ thể tương đối nhỏ, ít lông vẩy hoặc không có. Cánh

thường có màu xám.

Cánh trước còn có gốc chính mạch M ở buồng giữa, do đó đường này chia thành 2 buồng nhỏ. Mạch 1A và 2A nhập lại với nhau thành một.

Trưởng thành đực, vòi thoái hoá, râu đầu hình lông chim rõ rệt.

Trưởng thành cái không có cánh, không có chân trông tựa dạng sâu non. Suốt đời chỉ sống trong tổ kèn dệt bằng tơ hoặc bằng các mẩu cành lá. Giao phối qua lỗ cuối của tổ kèn và đẻ trứng luôn trong đó.

Sâu non có chân ngực khoẻ. Chân bụng thoái hoá chỉ còn móng. Sâu non sinh sống trong tổ kèn, nhả tơ hoặc dùng chân ngực để treo tổ kèn lên cây. Khi di chuyển mang theo cả tổ kèn hoặc cắn phá cây mới thò đầu ngực ra ngoài. Sâu non thường gậm phá lá, vỏ cành non, hoa v.v.. Một số loài và giống thường gặp là: Sâu kèn hại chè (Clania minuscula Butler. Amatissa, Pagodia).

37
A. Trưởng thành; B. Mạch cánh ; C. Sâu non

MỘT SỐ LOÀI BƯỚM

PHỔ BIẾN

38
39

BƯỚM NHẢY

CUỐI CÁNH VÀNG

(Mooreana trichoneura)

Họ: Bướm nhảy Hesperiidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng: Giống Mooreana có con đực không thường xuyên phồng lên và có túm lông ở đoạn giữa đốt chày thêm vào đó thường xuyên có lông màu chì ở đốt chày chân sau. Trên cánh trước có nhiều chấm sáng trong, có chấm tròn, có chấm kéo dài; trên cánh sau có vùng cuối rộng với màu cam đến màu vàng. Mặt trên màu nâu với các đốm trong suốt thậm chí có đến trên dưới 14 chấm ở cánh trước. Chúng được bài trí ở cuối vùng trung tâm ở các khoảng 2 và 3 và tạo dải đốm vòng cung giữa cánh màu trắng. Ở cánh sau có một loạt đốm màu nâu tối lan rộng từ mép trên tới mép trong và viền bên ngoài vùng chót và cuối cánh sau là cả một mảng màu vàng rộng. Sải cánh: 40-45mm. Sinh học sinh thái: Thích sống ở những nơi bằng phẳng trong rừng. Cây thức ăn của loài này thuộc họ Bìm bìm Convolvulaceae và họ Củ nâu Dioscoreaceae.

40

Phân bố: Bắc Ấn Độ, Mianma, Thái Lan, Lào, Malaixia, NeoMalaixia, Việt Nam. Phân bố ở độ cao dưới 1.200m, ở các rừng nguyên sinh và rất phổ biến ở các rừng thứ sinh thuộc VQG Tam Đảo, Ba Bể … Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Là loài có phổ phân bố không rộng và không thường gặp.

41

BƯỚM LÍNH THỦY

(Neptis hylas Linnaeus)

Họ: Bướm giáp Nymphalidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:

Neptis là giống khó phân biệt đến cấp loài bằng quan sát, đặc biệt trong rừng vì có nhiều loài tương tự nhau. Neptis hylas là loài phổ biến nhất. Cánh hẹp.

Mặt trên đặc trưng cho giống Neptis với màu nền đen và các đốm, vệt trắng tạo thành các băng. Mặt dưới tương tự mặt trên, nhưng màu nền nâu gạch

(đặc điểm nhận diện của loài này). Bướm cái lớn

hơn một chút. Cả bướm

đực và cái có kiểu bay

lướt chậm khá gần mặt

đất. Sải cánh 50-60mm.

Sinh học sinh thái: Sống ở

tất cả các kiểu sinh thái

và trong mọi môi trường.

Nhiều loài thuộc giống

Neptis chủ yếu gặp ở trong rừng, hay gặp ở rừng gỗ

thứ sinh, dọc đường mòn,

bay thấp. Neptis hylas có cách bay đặc trưng cho giống bướm này: đập cánh vài lần liên tục rồi xoè cánh ra và lượn một đoạn ngắn. Neptis hylas rất phổ biến, ngay cả trong thành phố. Sâu ăn lá nhiều họ

cây khác nhau như cây họ Đậu Fabaceae, họ Bông Malvaceae, họ Đay Titiaceae. Có thể dễ dàng gặp loài này ở gần thảm

thực vật thứ sinh, dọc đường và suối ở những độ cao khác nhau. Sâu non ăn lá cây Đậu dao, Sắn dây họ Đậu Fabaceae, Dướng Broussonetia papyrifera họ Dâu tằm Moraceae.Còn có các cây thức ăn khác như: Oobus vernus, Desmodium heterocarpon, Pteroloma triguetrum.

42

Phân bố: Phân bố từ Srilanca và bán đảo Ấn

Độ qua lục địa Đông Nam Á đến

Trung Quốc và Nhật Bản, phía Nam đến Suntheland. Xuất hiện mọi nơi ở Việt Nam. Tên loài được dịch nghĩa từ tiếng Anh, sọc trên cánh như áo lính thủy Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Là loài bướm Giáp thường gặp nhất.

43

BƯỚM BẢN ĐỒ NHỎ NÂU CAM ĐỎ

(Chersonesia risa)

Họ: Bướm giáp Nymphalidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm giống Chersonesia gồm những loài bướm có kích thước nhỏ bé với màu nền nâu cam đỏ và những sọc, dải chạy ngang cánh. Loài Chersonesia.risa có mặt trên con đực màu vàng nâu nhạt, có các dải nâu tối kéo dài từ đỉnh trên cánh trước cho tới đỉnh dưới và mép trong cánh sau, có một chiếc nhú đuôi rất kín và nhỏ ở cuối gân 4; con cái lớn hơn, có màu đất nhạt. Mặt dưới: giống như mặt trên nhưng được trang trí nhạt hơn. Sải cánh: 40-45mm. Sinh học sinh thái: Sống ở vùng đồi núi và trong các khu rừng thường xanh ở các tỉnh phía Nam. Ở miền Đông Nam bộ chúng thường xuất hiện ở các khu rừng còn tốt vào giữa và cuối mùa mưa hàng năm, bay chậm và thường có tập tính quay lại nơi thường đậu khi bi xua đuổi.

44

Phân bố: Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Hải Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Inđônêxia, Việt Nam. Khá hiếm ở miền Bắc và nhiều ở miền Đông Nam Bộ. Phân bố ở độ cao dưới 1.200m, nhiều hơn khi xuống thấp, trong các khu rừng. Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Là loài có phổ phân bố rộng trên Thế giới nhưng ít gặp. ở Việt Nam cũng ít gặp chúng. Cần bảo vệ tốt rừng, đồi, núi là nơi cư trú của chúng.

45

BƯỚM LÁ KHÔ VẠCH TRẮNG

(Kallima albofasciata Moore)

Họ: Bướm giáp Nymphalidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:

Mặt trên có dạng chung của cả hai cánh giống loài Kallima inachus, tuy nhiên cả đực và cái có màu nền xanh sáng nhạt với dải trắng ở giữa cánh trước. Mặt dưới có màu thay đổi từ vàng sang nâu sẫm và đốm nâu.

Sinh học, sinh thái:

Năm 2000, gặp thường xuyên ở Vườn quốc gia Cát Tiên (khu vực Cát Tiên). Thấy ở rừng nguyên sinh và thứ sinh, bìa rừng và đôi khi trên đường và đường mòn trong rừng. Bay rất gần mặt đất, thích phân và nước giải của thú và chim. Đậu trên cành cây và gập cánh lại là hình thức ngụy trang rất lý tưởng. Sinh học, vòng đời và cây thức ăn chưa biết.

46

Phân bố:

Trong nước: Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên). Thế giới: Lào, bán đảo Andaman. Giá trị: Có giá trị khoa học, điển hình về

hiện tượng ngụy trang ở bướm trong thiên nhiên.

Tình trạng:

Rất ít gặp, còn thiếu thông tin về số lượng và phân bố ở Việt Nam.

47

BƯỚM QỤA LỚN

(Euploea radamanthus)

Họ: Bướm đốm Danaidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Mô tả: Bướm đực và bướm cái giống nhau. Chúng có thể gặp

ở gần thảm rừng thứ sinh, bìa rừng, dọc theo các con đường trong rừng hoặc bên ngoài. Có một số loài thuộc họ bướm

Phượng Papilipnidae Chilasa paradoxa và họ bướm giáp

Nymphalidae Euripus nyctelius gần giống như loài Euploea radamanthus. Bướm cái đẻ trứng trên một số cây thuộc các họ Thiên lý Asclepiadaceae. Trúc đào Apocynaceae và Dâu tằm Moraceae.

Phân bố:

Vùng phân bố của loài Euploea radamanthus từ Asam đến

Mianma, Thái Lan, San đa và quần đảo Na tu na. Loài này phổ biến ở khu vực miền Trung và Nam Việt Nam. Tên bướm được đặt theo kích thước lớn và màu đen của cánh.

48
49

BƯỚM HỀ

VẠCH GẤP KHÚC

(Caleta elna)

Họ: Bướm xanh Lycaenidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Mô tả: Rất giống loài Caleta roxus. Mặt dưới cánh gồm 2 màu đen và trắng cánh trước có một vệt đen nhìn giống như khuỷu tay bắt đầu từ gốc cánh kéo dài đến gần chóp cánh. Cuối phần gấp khuỷu là một mảng đen. Rìa cánh và chóp cánh trước là những màng đen với những đốm trắng mờ. Gốc cánh sau là một mảng đen lớn nhưng không kéo sát vào gốc cánh. Ở giữa cánh sau là 3 mảng đen lớn gân như đứt khúc, đuôi ngắn. Mặt trên màu đen với vùng giữa cánh màu trắng. Loài này thường đậu trên mắt đất ở bìa rừng hay gần các vũng nước nhỏ để hút khoáng chất, bay nhanh khi bị động. Cây ký chủ của sâu non là một số loaì thuộc họ Táo ta Rhamnaceae Sinh học sinh thái: Gặp nhiều trong rừng hoặc gần rừng. Chúng thường tập trung ở những vũng nước chứa chất khoáng với nhiều loài khác, đôi khi với số lượng lớn. Hiếm. Sống ở độ cao dưới 700m trong các khu rừng.

50

Phân bố:

Loài này phân bố ở Ấn Độ, Myanmar,

Thái Lan, Lào. Ở Việt Nam chúng

hầu như phân bố ở khắp các tỉnh

nhưng chỉ gặp ở các vùng có rừng.

Tên bướm được dịch từ tên tiếng

Anh. Giá trị, tình trạng và biện pháp

bảo vệ: Cũng là loài có phổ phân

bố thế giới hẹp và rộng ở Việt Nam.

51

BƯỚM NAM TƯỚC CHÓT ĐUÔI XANH

(Euthalia phemius Doubleday)

Họ: Bướm giáp Nymphalida

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:

Bướm có kích thước trung bình, mặt trên ở con đực: màu nâu tối, vệt cánh trước vượt xa hơn vùng trung tâm, cánh sau màu xanh ở mép ngoài và góc chót, góc dưới hình tam giác. Con cái lớn hơn con đực và cánh trước có dải vắt chéo từ giữa mép trên xuống góc dưới mép ngoài cánh

tạo thành một dải màu trắng rộng trang trí cho cánh. Mặt

dưới: màu xanh nhạt, mép ngoài có màu hoa oải hương

(xanh nhạt hơi pha đỏ). Sải cánh: từ 60 - 80mm.

Sinh học, sinh thái:

Loài này thường sống trong các khu rừng thường xanh còn

tốt, thường gặp cá thể đơn lẻ và hút các chất từ chất

thải của động vật trong các lối mòn ven rừng. Phân bố ở

độ cao thấp đến 700m. Sâu non ký chủ trên cây vải Litchi chinensis, và một số loài thuộc họ Bồ hòn Sapindaceae.

52

Phân bố: Phân bố ở độ cao dưới 700m trong các

khu rừng, và gặp nhiều hơn ở các bụi cây, trảng cỏ. Bắc Ấn Độ, Mianma, Nam Trung

Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Malaixia, Lào, Việt Nam.

53

BƯỚM NÂU

HAI ĐỐM VÀNG

(Faunis eumeus)

Họ: Bướm rừng Amathusiidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng: Ngoài các đặc điểm chung của giống, loài này có các đặc điểm sau: Mặt trên: con đực có màu nâu tới màu đất son; con cái : cánh trước có dải sát đỉnh trên màu vàng rõ hơn ở con đực. Mặt dưới: con đực và cái có cánh trước có đường giữa cánh cong về phía trước, ở cả hai cánh, đốm nhỏ với các cỡ lớn nhỏ khác nhau và có màu vàng. Bướm cái và đực giống nhau nhưng bướm cái thường lớn hơn. Loài này lớn hơn loài Faunis canens, thậm chí lớn hơn rất nhiều. Sinh học sinh thái: Đặc điểm chung: Chúng xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 12 và thích độ cao vừa và thấp. Bướm này khá phổ biến ở rừng cây gỗ và rừng thứ sinh, ở đó chúng bay gần mặt đất. Sâu non ăn lá cây Tỏi đá họ Tóc tiên, Chuối họ Chuối Musaceae, và cả những cây thuộc họ Kim cang như Smilax lanceifolia, Phoenix hanceana và họ Dứa dại Pandanaceae.

54

Phân bố: Phân bố ở Nam Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Việt Nam. Đây là loài phổ biến ở miền Bắc và Trung Việt Nam. Phân bố ở độ cao dưới 700m, trong các khu rừng. Tên bướm được đặt vì có màu nâu và có dải chấm to ở trên cánh. Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Bướm to, đẹp màu sắc vàng rực và thường sống ở các khu rừng còn tốt nên rất cần quan tâm bảo vệ rừng, nơi sống và các loài thực vật ký chủ của sâu non và nhộng.

55

BƯỚM XANH TÍM DẢI TRẮNG RỘNG

(Lampides boeticus)

Họ: Bướm xanh Lycaenidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng: Cánh viền nâu tối mảnh, con cái có viền đen rộng hơn. Các con đực của giống Lampides thể hiện một kiểu vẩy giới tính độc nhất vô nhị, mặt dưới của chúng cũng độc đáo và không giống bất cứ một giống họ hàng gần gũi nào. Loài Lampides boeticus có mặt trên con đực màu đỏ đun ánh tím với hai đốm đen ở cuối cánh sau. Mặt trên con cái màu nâu với vùng gốc cánh màu xanh da trời nhạt. Trên cánh sau có các dải nhạt màu ở sau ô cánh và gần mép cánh. Có một đuôi ngắn. Mặt dưới: Màu nâu nhạt, có dải trắng xuyên qua nửa cuối của các cánh. Ở vùng 1b và 2 của

cánh sau có hai đốm vàng bò - da cam ánh kim. Sải cánh: 24-36mm. Sinh học sinh thái: Đặc điểm chung: Gặp ở bãi cỏ, trảng cỏ trống có nắng và nơi có thảm thực vật tốt. Khi thấy người thường bay một

lúc khá lâu mới đậu lại nên khó quan sát. Loài này thường

gặp ở vùng làng quê và thành phố, công viên và vườn, trên bờ và bãi sông. Chúng xuất

hiện quanh năm ở độ cao khác nhau. Bướm bị hấp dẫn

bởi một số cây có hoa. Tại

Hồng kông, sâu non thích ăn

lá cây Lục lạc và những cây khác thuộc họ Đậu Fabaceae

56

Phân bố: Loài bướm di cư này có phân bố rất rộng từ châu Âu đến châu Phi và châu Á qua San-đơ-lan đến Úc và quần đảo Hawai. Gặp khắp nơi ở Việt Nam, phổ biến, ở các độ cao,trong các khu nông nghiệp và trảng cỏ, cây bụi Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Là loài thường gặp và có phổ phân bố tương đối rộng.

57

BƯỚM QUẠ MIẾN ĐIỆN

(Papilio mahadeva Moore)

Họ: Bướm phượng Papilionidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Mô tả: Là loài nhỏ nhất trong giống Papilio ở Việt Nam. Mặt trên cánh trước có một đốm trắng nhỏ nằm ở chính giữa cánh với lớp phấn màu nâu cam phủ dọc theo gân cánh rất đặc trưng. Rìa cánh sau có 6 đốm màu trắng rất rõ, các đốm trắng này nhỏ dần vào phía trong, song song với các đốm trắng lớn là các đốm trắng nhỏ hình bán nguyệt.

Bướm đực và bướm cái giống nhau. Mặt dưới cánh trước cũng có một

đốm nhỏ nằm giữa cánh, mặt sau cánh là 7 đốm màu trắng khá rõ. Nơi sống, sinh thái: Loài này thường tụ tập tập thành từng bầy hút chất

khoáng ở ven suối cạn hay những vũng nước nhỏ trong rừng cùng với Papilio nephelus, Papilio protenor. Là loài khá phổ biến trong các khu rừng thường xanh còn tốt. chúng bay chậm và thường có tập tính khi đậu vẫn còn đập cánh một lúc như các loài bướm phượng khác.

Phân bố:

Vùng phân bố từ Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Bắc Peninsular Malaya. Xuất hiện mọi nơi ở miền Đông Nam Bộ, Việt Nam. Bướm được đặt tên theo tên tiếng Anh.

58
59

BƯỚM BÁO HOA NHỎ (Phalanta alcippe)

Họ: Bướm giáp Nymphalidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng: Các loài thuộc giống này thường có màu sắc như trên da báo. Bướm màu vàng cam tươi với những chấm và vệt đen khắp mặt trên của cánh trước và cánh sau trông như hoa văn của báo Hoa Mai. Loài này rất dễ nhầm với loài Enispe intermedia thuộc họ Amathusiidae. Mặt dưới bóng hơn mặt trên, con đực và con cái nhìn giống nhau, có các cá thể màu tía bóng nổi bật ở dạng mùa khô. Sải cánh: 40-45mm.

Sinh học, sinh thái:

Phalanta alcippe có kích thước nhỏ hơn Phalanta phalantha, màu nhạt hơn và hoa văn cũng không dày đặc. Loài này chủ yếu ở những vùng thấp và đồi gò. Chúng ưa thích nơi sống vùng làng quê nằm gần những nơi có những bụi hoa Thơm ổi Lantana camara. Bướm bay khá thấp gần mặt đất và bị hấp dẫn bởi các bụi hoa trồng ở công viên hay trong vườn nhà. Bướm cái đẻ trứng trên cây Kim quýt Triphasia trifolia thuộc họ Cam Rutaceae.

60
61

Phân bố: Nam Á bao gồm cả Xrilanca và Mianma, từ Ấn Độ đến Nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đông Dương và bán đảo Malaixia, phía Nam đến những đảo lớn của Indonesia. Xuất hiện mọi nơi ở Việt Nam. Phân bố rộng với số cá thể đông. Cũng đã phát hiện được loài này ở độ cao đến 1000m ở VQG Tam Đảo. Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ: Là loài thường gặp và phân bố rộng khắp Việt Nam nên được xếp vào các loài thông thường.

62
63

BẢO QUẢN

THUỐC TRỪ SÂU AN TOÀN

» Không tích trữ: Chỉ mua lượng thuốc trừ sâu cần thiết trong mùa hiện tại.

» Không bao giờ bảo quản thuốc trừ sâu trong thiết bị phun mà chỉ trộn lượng vừa đủ cho lần phun. Sau khi phun xong nếu còn thừa thuốc trừ sâu thì có thể tiếp tục phun theo hướng dẫn trên nhãn.

» Bảo quản thuốc trừ sâu ngoài tầm với của trẻ em và vật nuôi.

- Giữ tất cả thuốc trừ sâu trong tủ có khóa ở khu vực tiện ích thông thoáng hoặc nhà kho trong vườn.

- Không bao giờ cất thuốc trừ sâu dưới bồn rửa nhà bếp hoặc phòng tắm.

» Do bao bì không có hiệu quả hoàn toàn nên trong mọi trường hợp bạn vẫn phải hết sức cẩn thận bảo quản ngoài tầm với của trẻ em.

» Bảo quản thuốc trừ sâu ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh nhiệt độ quá lạnh, tránh xa nguồn nhiệt và ánh nắng trực tiếp.

» Bảo quản chất lỏng dễ cháy bên ngoài khu vực sinh sống và cách xa nguồn bắt lửa như lò sưởi, ô tô, bếp nướng ngoài trời hoặc máy cắt cỏ chạy bằng điện.

64
65

» Không bao giờ bảo quản thuốc trừ sâu trong tủ có hoặc gần thực phẩm, thức ăn gia súc hoặc vật tư y tế.

» Không bảo quản thuốc trừ sâu ở những nơi có thể bị ngập lụt hoặc ở những nơi thuốc có thể tràn hoặc rò rỉ vào giếng, cống rãnh, nước ngầm hoặc nước mặt.

» Luôn bảo quản thuốc trừ sâu trong thùng chứa ban đầu với đầy đủ nhãn mác. Không bao giờ chứa thuốc trừ sâu bẳng chai nước giải khát hoặc các vật chứa khác bởi trẻ em hoặc những người khác có thể nhầm lẫn mà ăn hoặc uống.

» Luôn giữ nhãn sản phẩm ở tình trạng dễ đọc; bạn có thể cân nhắc tạo thêm một bản sao phòng trường hợp nhãn bị hỏng. Đảm bảo không để nhãn bị thất lạc, hư hỏng hoặc bị phá hủy.

» Kiểm tra các thùng chứa định kỳ xem có bị hư hỏng hoặc rò rỉ không.

» Nếu bạn không thể xác định chất trong hộp chứa hoặc nếu bạn không thể biết chất trong hộp có bị quá cũ không thì hãy làm theo lời khuyên về cách xử lý an toàn trong phần tiếp theo.

Thực hiện theo các khuyến nghị an toàn để xử lý thuốc trừ sâu và

thùng chứa:

» Cách tốt nhất để loại bỏ một lượng nhỏ thuốc trừ sâu dư thừa là phun lên các loài gây hại được chỉ định theo hướng dẫn trên nhãn.

- Nếu bạn không còn sử dụng chúng nữa, hãy hỏi những người hàng xóm của bạn xem họ có gặp vấn đề kiểm soát sinh vật gây hại tương tự không và nếu họ cần có thể đưa cho họ sử dụng.

- Đảm bảo rằng người nhận có thể đọc và làm theo hướng dẫn trên nhãn.

66
67

» KHÔNG đổ thuốc trừ sâu còn sót lại xuống bồn rửa, vào nhà vệ sinh, hoặc xuống cống hoặc rãnh thoát nước trên đường phố bởi thuốc trừ sâu có thể cản trở hoạt động của hệ thống xử lý nước thải hoặc gây ô nhiễm nguồn nước. Trên thực tế có rất nhiều hệ thống đô thị không được trang bị để loại bỏ tất cả dư lượng thuốc trừ sâu, nên nếu thuốc trừ sâu đến được nguồn nước thì chúng có thể gây hại cho cá, thực vật và các sinh vật sống khác.

68

» Một thùng chứa thuốc trừ sâu rỗng có thể nguy hiểm như một thùng chứa đầy vì dư lượng còn sót lại bên trong. Cho nên bạn không bao giờ tái sử dụng hộp đựng thuốc trừ sâu để đựng hoặc đựng các vật dụng khác, đặc biệt là thức ăn hoặc đồ uống. Khi dùng lại cần rửa sạch theo hướng dẫn (xem các bước bên dưới) và vứt bỏ hộp đựng theo hướng dẫn trên nhãn. Bạn không bao giờ nên đâm thủng hoặc đốt bình chứa khí nén hoặc bình xịt - bởi có thể gây ra hiện tượng phát nổ.

» Nhiều cộng đồng có các chương trình tái chế rác thải sinh hoạt như chai và lon rỗng. Bạn không nên tái chế bất kỳ hộp đựng thuốc trừ sâu nào, trừ khi chương trình tái chế đặc biệt chấp nhận các hộp

đựng thuốc trừ sâu và bạn làm theo hướng dẫn của chương trình để chuẩn bị các hộp rỗng để thu gom.

69

Các bước để sục rửa thùng chứa:

1. Mặc đầy đủ đồ bảo hộ và đổ lượng thuốc trừ sâu dư thừa vào bình phun.

2. Đổ đầy bình chứa thuốc trừ sâu bằng nước sạch, đậy nắp và lắc bình chứa trong 30 giây. Tiếp theo, đổ nước rửa vào bình xịt.

3. Lặp lại thêm hai lần nữa, lắc hộp đựng theo các hướng khác nhau.

4. Rửa cẩn thận bên ngoài bình chứa và nắp trên bình xịt (hoặc xô để hứng nước rửa).

5. Vứt bỏ nắp như rác thải sinh hoạt thông thường và vứt bỏ hoặc tái chế hộp đựng theo quy định của địa phương.

6. Sử dụng vật liệu rửa đã pha loãng theo hướng dẫn trên nhãn.

70
71
lifebalance.vn pestmanagement.vn

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook