Issuu on Google+

Đức Pháp vương Sakya Trizin thứ 41, lãnh tụ tối cao trường phái Sakya

Đức Pháp vương Sakya Trizin Ngawang Kunga sinh ra ở Tsedong gần Shitgatse trong chu kỳ Rabjong thứ 16, năm con Gà Gỗ, ngày mùng một tháng Tám theo Tạng lịch (tức ngày 7/9, 1945). Sakya Trizin nghĩa là “Bậc nắm giữ Pháp tòa Sakya.” Đức Pháp vương là vị trưởng dòng thứ 41 của truyền thống Sakya, một trong bốn truyền thống chính của Phật giáo Tây Tạng. Dòng truyền thừa Sakya rất gần với đức Văn Thù (vị hoàng tử trẻ trung được biết đến là Bồ tát Trí tuệ). Bậc Kim Cương Trì Ngawang Kunga Rinchen, lãnh đạo đời trước của Drolma Phodrang, và Sonam Drolkar, chị gái của bộ trưởng nổi tiếng của chính phủ Tây Tạng, có bốn người con. Người lớn nhất, con gái tên là Jetsunma Chime Luding, hiện đang sống và thuyết giảng ở Canada. Người con tiếp theo là con trai và con gái đã mất khi còn rất nhỏ. Ngay sau khi đức Pháp vương ra đời, chủng tự linh thánh Dhih (chủng tự của đức Văn Thù) được viết trên lưỡi ngài với cam lồ đặc biệt được làm từ nghệ vàng và rất nhiều thứ khác. Trong khi ngài ra đời, toàn bộ bầu trời ngập tràn cầu vồng đặc biệt. Sau đó, một người đàn ông già tám mươi tuổi với tóc rất bạc đã cúng dường thangka của các vị bổn tôn trường thọ, cũng như bơ và pho mát. Sữa của một trăm con dri [trâu yak


cái] được cúng dường trong chiếc bình pha lê bởi một người trẻ tuổi đẹp đẽ trong bộ đồ trắng, người tuyên bố là được cử đến bởi thủ lĩnh vùng Tsedong. Tuy nhiên, khi các cuộc điều tra được thực hiện sau đó, không hề có dấu vết nào của người đàn ông trẻ này. Khi còn bé, đức Pháp vương có tên là Ayu Vajra. Sau đó, khi cha ngài ban ngài quán đảnh quan trọng đầu tiên của “Chín vị Bổn tôn của đức Vô Lượng Thọ”, ngài được ban tên hiện tại là “Ngawang Kunga Thegchen Palber Thrinley Samphel Wangyi Gyalpo.” Khi gia đình quay trở về tu viện Sakya chính năm sau đó, một lễ kỷ niệm lớn được tổ chức nhân dịp ngày sinh của ngài. Đức Pháp vương Sakya Trizin đời thứ 41 là hóa thân của hai đạo sư Tây Tạng vĩ đại: một lạt ma dòng Nyingma ngài Apong Terton (Orgyen Thrinley Lingpa), người nổi tiếng với bộ Tara Đỏ, và ông nội của ngài, đức Kyabgon Sakya Trizin thứ 39 Dhagtshul Thrinley Rinchen (1871 – 1936). Chỉ dẫn đầu tiên rằng đức Pháp vương là hóa thân của Apong Terton xảy đến khi một vị Dakini tiên đoán với đức Apong Terton rằng ngài sẽ nắm giữ Pháp tòa Sakya trong đời tương lai. Khi cha mẹ ngài hỏi khi ngài còn rất nhỏ rằng ngài đến từ đâu, ngài trả lời rằng từ một nơi rất xa và nhà ngài là một túp lều. Khi ngài bắt đầu nói, ngài nói tiếng Golok, thứ thổ ngữ được nói bởi đức Apong Terton. Sau đó, năm 1949, con trai của đức Apong Terton đến thăm gia đình Khon, ngài nói với đức Kim Cương Trì Ngawang Kunga Rinchen, “Đại Terton đã chủ định tái sinh vào gia đình Khon để nắm giữ các giáo lý Sakya. Tôi không có ý định thỉnh cầu sự quay trở về của ngài.” Khi ngài Pháp vương gặp đệ tử của Apong Terton tên là Sheija, Pháp vương đã lặp lại một lời khuyên ban cho đệ tử giống như đức Apong Terton trước đây đã nói. Ngài cũng gọi đệ tử đó là Thubten Sheija. Chỉ đức Apong Terton và một vài người thân thiết mới biết Thubten là tên của Sheija. Có rất nhiều các dấu hiệu khác cho thấy ngài là hóa thân của Apong Terton. Vào ngày đức Pháp vương đản sinh, ai đó đã cúng dường bức ảnh đức Liên Hoa Sinh. Điều này được coi là dấu hiệu tốt lành và một chỉ dẫn thêm rằng ngài là hóa thân của Apong Terton. Một sự kết nối tốt lành khác là trong cuộc gặp gỡ đầu tiên của ngài với đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, ngài nhận được sự trao truyền của toàn bộ giáo lý Longchen Nyingthik từ ngài.


Và khi đức Pháp vương bảy hay tám tuổi, lần đầu tiên ngài đến Chùa Mahakala, được xây dựng lại bởi đức Kyabgon Sakya Trizin Dhagtshul Thrinley Rinchen thứ 39. Trong sự tái thiết, ngài đã để một cửa sổ nhỏ ở góc bên trên phía tây nam, để ánh sáng có thể vào ngôi chùa. Ngay lập tức Pháp vương hỏi, “Điều gì đã xảy ra với chiếc cửa sổ? Nó ở đâu?” “Như thế nào đó, người ta đã đóng cửa sổ,” người đàn ông già bên cạnh ngài đáp, với những giọt nước mắt trên khóe mắt. Người đàn ông già biết đức Sakya Trizin thứ 39 và biết từng có một chiếc cửa sổ. Đó là lý do tại sao đệ tử dòng Sakya tin rằng Pháp vương là hóa thân của đức Sakya Trizin thứ 39. Ngài Jetsun Kusho Chimey Luding bình luận rằng, “Nếu người ta được sinh ra vào trong truyền thừa gia đình của chúng tôi, dòng truyền thừa trước đó của vị tái sinh có thể bị mất và những vị tái sinh này sẽ không có tu viện. Điều này bởi vì với chúng tôi truyền thừa gia đình quan trọng hơn, nó được ưu tiên hơn. Truyền thừa Khon của chúng tôi không cần sự tái sinh. Nó được truyền xuống từ cha sang con.” Thời niên thiếu và giáo dục Đức Pháp vương nhận được quán đảnh chính Vajrakilaya và rất nhiều những giáo lý mở rộng từ cha ngài. Ngài đã mất cả cha lẫn mẹ từ khi rất nhỏ. Vì thế dì của ngài, đức Thrinley Paljor Sangmo, với lòng từ bi lớn lao, đã đảm trách việc chăm sóc ngài. Đức Thrinley Paljor Sangmo nói rằng ngài là một đứa trẻ với những phẩm tánh phi thường. Những dấu hiệu tuyệt diệu mà luôn hiện hữu bên ngài khiến những người chứng kiến hiểu được sự chứng ngộ của ngài. Khi còn là một đứa trẻ, ngài đã giả vờ tiến hành lễ puja lửa và làm nhiều torma, sau đó quăng đi bắt chước nghi lễ sắp đặt hình nộm. Ngài cũng bắt chước việc trì tụng và các nghi lễ. Khi Lama Ngaglo Rinpoche thấy những điều này, ngài đã nói, “Không nghi ngờ gì ngài sẽ là một đạo sư vĩ đại, với chứng ngộ cao và sức mạnh tâm linh.” Đức Thrinley Paljor Sangmo chỉ định ngài Jamphel Ponlop Kunga Gyaltsen là gia sư đầu tiên của ngài và ngài đã học đọc, viết tiếng Tạng, và ghi nhớ, tụng đọc các bài cầu nguyện cơ bản. Ngài học trì tụng, âm nhạc, múa nghi lễ, thủ ấn và nhiều chủ đề khác từ vị gia sư thấp hơn, đức Kunga Tsewang. Sau khi hoàn thành sự học tập này, một


buổi lễ lớn được tổ chức trong đó đức Sakya Trizin chính thức bước vào cả các tu viện Đại thừa và Kim Cương thừa để tiến hành các buổi lễ truyền thống Sakya. Khi đức Pháp vương hoàn tất học tập ở các tu viện Sakya, ngài đến nhận các giáo huấn ở tu viện Ngor E-Wam. Ở đây ở tuổi lên năm, ngài nhận Lamdre phổ biến và không phổ biến (tức Tshod Shey và Lob Shey), được trao truyền bởi vị thầy gốc của ngài, đức Tu viện trưởng Ngor, Bậc Kim Cương trì Ngawang Lodro Zhenphen Nyingpo. Năm 1951, đức Pháp vương hành hương đến Lhasa. Ở đó, lên sáu tuổi, ngài được bổ nhiệm là bậc nắm giữ Pháp tòa dòng Sakya bởi đức Dalai Lama. Theo đó, vào năm sau, buổi lễ đăng ngôi cơ bản sẽ được tiến hành, trong đó ngài chấp nhận con dấu chính thức của văn phòng ngài Sakya Trizin. Sau khi đạo sư gốc của ngài thị tịch năm 1953, Bậc kế thừa sau đó, Ngài Ngawang Tenzin Nyingpo, trở thành một đạo sư quan trọng khác của ngài. Từ vị lạt ma này, ngài nhận được các quán đảnh và trao truyền qua sự đọc (lung) của Grub-thab Kun-tu (Bộ các nghi quỹ). Và từ Lama Ngawang Lodro Rinpoche, ngài nhận được các quán đảnh và chỉ dẫn khẩu truyền liên quan đến Marpo Kor Sum (Ba vị Bổn tôn Đỏ chính yếu), Marmo Kor Sum (Ba vị Bổn tôn đỏ) và hai Hộ pháp chính của dòng Sakya. Lên 11, ngài lại đến Lhasa, và nhận các giáo huấn từ đức Dalai Lama thứ 14 tại điện Potala. Cũng trong dịp này, ngài ban giải thích mở rộng về Cúng dường Mạn đà la trước đức Dalai Lama và toàn thể hội đồng lớn. Sự kiện này dẫn đến việc trí tuệ của ngài được công bố khắp Tây Tạng. Một đạo sư khác của đức Pháp vương là đạo sư Jamyang Khyentse Chokyi Lodro nổi tiếng, mà từ đây ngài nhận được các quán đảnh và chỉ dạy Mật điển, của cả dòng Sakya và Nyingma. Năm 1957, ngài một lần nữa nhận các giáo huấn Lamdre, từ đức tu viện trưởng vĩ đại dòng Sakya, ngài Kim Cương Trì Jampal Zangpo, theo sự trao truyền của truyền thừa Khon. Đăng ngôi và Lưu vong Năm 1959 ở tuổi 14, ngài chính thức đăng ngôi là đức Sakya Trizin, một buổi lễ kéo dài ba ngày, trước đó là nghi lễ Mahakala kéo dài 7 ngày. Các đại diện của đức Dalai Lama và Chính phủ Tây Tạng cũng tham dự buổi lễ. Nhưng vào thời điểm này,


tình thế chính trị và quân sự ở Tây Tạng đã trở nên xấu hơn và chuyến bay của ngài đến vùng Sikkim (ba ngày đường từ Sakya) trở nên rất cần thiết. Bỏ lại trụ xứ thiêng liêng của truyền thống Sakya, đã được gia đình duy trì trong gần 900 năm, đức Pháp vương chỉ có thể mang theo rất ít tài sản và thị giả. Khi đến Ấn Độ năm 1959 ở tuổi 15, tuy nhiên ngài đã thành lập tu viện Ghoom ở Darjeeling năm sau đó, và tu viện Sa-Ngor Chotsok ở Gangtok, Sikkim và cũng bắt đầu việc tập hợp Tăng đoàn. Dưới sự trông nom của dì, ngài tiếp tục nghiên cứu với rất nhiều các vị thầy Phật giáo vĩ đại của truyền thống Sakya, những người đã sống sót trong biến loạn ở Tây Tạng. Từ rất nhiều những học giả vĩ đại, như đức Tu viện trưởng Tritso Rinchen và Serjong Appey Rinpoche ngài nhận được các chỉ dẫn triết học mở rộng về logic, Luận tạng, Trung Đạo, Bát nhã và “Sự khác biệt của Ba bộ giới luật” (bởi đức Sakya Pandita). Đặc biệt từ đức Khenpo Appey Rinpoche, Pháp vương nhận được giải thích chi tiết về Mật điển Hevajra gốc và nhiều giáo lý liên quan khác. Và từ một trong bốn tu viện trưởng dòng Ngor, ngài Phende Khen Rinpoche, Đức Pháp vương nhận được quán đảnh và chỉ dẫn về Yamantaka theo truyền thống Rwa Lotsawa, cũng như các trước tác của đức Ngorchen Konchog Lhundrup. Bởi những căng thẳng chính trị giữa Ấn Độ và Trung Quốc trong đầu những năm 1960, với rất nhiều các hoạt động quân sự dọc theo biên giới, đức Pháp vương sau đó đã di chuyển từ Darjeeling đến vùng khá an toàn Mussourie ở chân núi Himalaya gần Dehra Dun. Trong khoảng thời gian này, ngài giảng dạy Lamdre Tshod Shey ở Varanasi. Học viện Trung Tâm Nghiên cứu Cao cấp Tây Tang, một đại học Phật giáo Tây Tạng, đã được thiết lập ở gần Sarnath, và đây là thời điểm để tái họp và tái thiết sự liên lạc với rất nhiều người Tây Tạng đã rải rác và tách biệt bởi các sự kiện đau buồn trong những năm đó. Đức Pháp vương, và Đức Chogye Trichen Rinpoche (trưởng nhánh Tsarpa của trueyefn thống Sakya và của tu viện Nalendra), và ngài Ngor Luding Khen Rinpoche (tu viện trưởng thứ 75 của tu viện Ngor) đều có mặt. Sự kiện này được xem là bước ngoặt, sau đó các hoạt động Pháp đã nở rộ. Kết hôn và duy trì truyền thừa Khon


Năm 1974, để duy trì truyền thống của truyền thừa Khon, đức Pháp vương đã kết hôn với bà Dagmo Kusho Tashi Lhakee, con gái của Bộ trưởng của Vua xứ Dege. Cùng năm đó, với những điểm cát tường, trưởng tử của ngài đã ra đời, đức Ratna Vajra Rinpoche. Người con trai thứ hai, đức Gyana Vajra Rinpoche ra đời năm năm sau đó, năm 1979. Phát triển và Bảo tồn Phật Pháp vào những năm 1980 Năm 1978, đức Pháp vương nhận được toàn bộ trao truyền “Các trước tác của Năm vị sáng lập dòng Sakya” và “Tuyển tập Mật điển của Đấng Toàn tri Gorampa” từ đức Kyabje Dezhung Rinpoche. Sau đó năm 1980, đức Pháp vương đã thành lập tu viện chính Sakya, Thupten Namgyal Ling ở Puruwala. Sau đó, tháng Một năm 1988, vào lễ kỉ niệm đức Sakya Pandita thị tich, đức Pháp vương thánh hóa và tấn phong tu viện và chùa Ngor E-wam Choden ở Manduwwala gầ Dehra Dun. Trong khi đó những tiền đề bất biến rộng lớn cho học viện Sakya đã được xây dựng ở Rajpur, và đến nay có khoảng 130 vị tăng, với 12 vị tốt nghiệp mỗi năm. Bởi vậy, với khởi đầu khó khăn trong điều kiện lưu vong, đức Pháp vương đã làm việc không ngừng để bảo tồn và tái thiết thành công các di sản Pháp rộng lớn của dòng Sakya. Ngoài những trách nhiệm lớn lao này, trong cuộc đời, ngài đã trải qua nhiều cuộc nhập thất chính và phụ về 20 vị Bổn tôn của truyền thừa Sakya, ban ra vô số quán đảnh, viết rất nhiều các bản văn và đặc biệt, ngài ban ra các giáo lý Lamdre rộng lớn trong không ít hơn 11 lần. Hơn thế nữa ngài không chỉ là ngọn đèn cho cộng đồng người Tạng của ngài trong thời kỳ khủng hoảng mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hoằng dương chánh Pháp trên thế giới, đi nhiều nơi và thường xuyên đến nhiều vùng. Ngài đã đến Australia, Canada, Áo, Pháp, Đức, Ấn Độ, Hồng Kông, Nhật Bản, Nga, Nepal, …. Ngài là suối nguồn không ngơi nghỉ của trí tuệ và lòng từ bi với các đệ tử may mắn của ngài.


Ngài Jetsun Kushok Chimey Luding

Mặc dù Tây Tạng có rất nhiều nữ hành giả Phật Pháp chứng ngộ, vì hạnh khiêm cung, rất ít xuất hiện như là các vị thầy lỗi lạc. Việc có đức Jetsun Kushok Chimey Luding, một trong các nữ đạo sư được kính trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng giữa chúng ta là điều thật tốt lành và quý giá. Sinh năm 1938 là chị của vị lãnh đạo truyền thừa Sakya hiện tại, một trong bốn nhánh chính của Phật giáo Tây Tạng, bà nhận được rất nhiều sự tu học cùng với em trai, đức Pháp vương Sakya Trizin, từ các vị thầy trứ danh, như đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro. Hiến dâng cuộc đời cho thực hành Phật Pháp từ tuổi nhất nhỏ, bà đã hoàn thành nhập thất đầu tiên ở tuổi lên 10. Rất nhiều các cuộc nhập thất quan trọng hơn như Hevajra, Chakrasamvara và Vajrayogini theo sau đó, cho phép bà trở thành một trong ít hơn 12 vị đạo sư đủ phẩm tánh để trao truyền Lamdre hay “Con đường bao gồm các kết quả.” Lamdre giống như Dzogchen, Ziji Chog và Kalachakra, là một trong Tám truyền thừa thực hành ở Tây Tạng, hay các hệ thống độc đáo và trọn vẹn của thực hành thiền định dẫn đến giác ngộ. Đức Jetsun Kushok đã ban trao truyền Lamdre đầu tiên, cùng với những quán đảnh cần thiết ở tuổi 17.


Năm 1959, đức Jetsun Kushok rời Tây Tạng, và đến Ấn Độ, cuối cùng định cư ở Vancouver, Canada cùng với gia đình vào năm 1971. Chiến đấu để chăm sóc những đứa con và kiếm sống ở một quốc gia mới lạ, bà đã phân chia thời gian giữa việc là một nhà thiết kế đồ đan và duy trì việc thực hành thiền định, thông thường đến tối muộn mỗi ngày. Theo lời thỉnh cầu của đức Sakya Trizin, đức Jetsun Kushok đã từ bi bắt đầu giảng dạy ở Vancouver đầu những năm 1980 và bây giờ là trên toàn thế giới. Được yêu mến bởi các học trò, đức Jetsun Kushok vừa nghiêm khắc lại vừa ấm áp, trao truyền không chỉ chánh Pháp theo đúng truyền thống, thêm vào những trải nghiêm thực hành và làm việc thực tế ở phương Tây. Khi đã vượt qua những khúc cong của cuộc đời và quay trở với sự tinh tấn và nhẫn nại, đức Jetsun Kushok đã truyền cảm hứng cho những Phật tử, cả nam và nữ, những người đang tìm kiếm cách hòa quyện Pháp vào đời sống hàng ngày.

Nguồn: http://www.szakja.hu/english/teachers.html


Sakyateachers