Page 1

TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG VIỆN KHOA HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG PGS. TS PHẠM VĂN LỢI (Chủ biên)

KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (Sách chuyên khảo)

Hà Nội, 2011


THAM GIA BIÊN SOẠN

PGS. TS. Phạm Văn Lợi (chủ biên) TS. Mai Thanh Dung TS. Đỗ Nam Thắng TS. Nguyễn Hải Yến ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Hương ThS. Mai Thị Thu Huệ ThS. Nguyễn Hoàng Mai ThS. Bùi Hoài Nam CN. Nguyễn Thị Thu Hoài CN. Trần Bích Hồng CN. Hàn Trần Việt

(Cuốn sách được biên soạn và in ấn với sự tài trợ của Hợp phần Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo - PCDA) (This book is prepared and printed with support from “Pollution Control In Poor Densely Populated Areas” Component)

1


LỜI GIỚI THIỆU Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng phát triển, kèm theo đó là sự gia tăng ô nhiễm và suy thoái môi trường. Vì vậy, hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những hoạt động cần được tiến hành song song, đồng thời với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong giai đoan hiện nay của nước ta khi nền kinh tế đang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý môi trường, hướng tới mục tiêu BVMT và phát triển bền vững. Chủ trương “kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường” được Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định là chủ trương lớn và lâu dài của ngành, cần được đẩy mạnh trong thời gian tới. Từ yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho ngành môi trường, với sự hỗ trợ của Hợp phần Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo (PCDA), nhóm tác giả do PGS.TS Phạm Văn Lợi làm chủ biên đã nghiên cứu và biên soạn cuốn sách chuyên khảo “Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” với hy vọng và mong muốn làm rõ hơn khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và nội dung của kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, đồng thời làm rõ những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai, để từ đó có thể kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường. Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường là một vấn đề mới, khó và còn nhiều ý kiến khác nhau. Do vậy, nhóm tác giả mong nhận được nhiếu ý kiến đóng góp của các độc giả. Hà Nội, tháng 7 năm 2011 Nhóm tác giả

2


MỤC LỤC CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG .............................................................................................................. 6 I.

Mối quan hệ giữa môi trường và kinh tế ............................................................ 6

II. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường ............................................................................................................................. 9 III. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và nội dung thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường ....................................................................................................................15 1. Khái niệm kinh tế hóa lĩnh vực môi trường .....................................................15 2. Mục tiêu kinh tế hóa lĩnh vực môi trường ........................................................19 3. Nguyên tắc cơ bản để thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường .................20 CHƯƠNG II. THỰC TIỄN TRIỂN KHAI KINH TẾ HÓA ..................................24 LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG.......................................................................................24 I. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới liên quan đến kinh tế hóa lĩnh vực môi trường ....................................................................................................................24 1. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.................................................24 1.1 Nhóm công cụ tạo lập thị trường .................................................................31 1.1.1 Chi trả dịch vụ môi trường (chi trả dịch vụ sinh thái) ..........................31 1.1.2 Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng...............................................36 1.2 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường ....................................................................................................................39 1.2.1 Đặt cọc hoàn trả ......................................................................................39 1.2.2 Ký quỹ môi trường ...................................................................................43 1.2.3 Bồi thường thiệt hại môi trường .............................................................47 1.2.4 Nhãn sinh thái ( Nhãn môi trường) .......................................................53 2. Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường .......................................................................................63 2.1 Định giá, lượng giá môi trường ...................................................................63 2.2 Hạch toán môi trường..................................................................................74 II. Thực tiễn triển khai các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại Việt Nam ...............................................................................................................................87 2.1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước ............87 2.2. Nhóm công cụ tạo lập thị trường ..............................................................101 3


2.2.1 Chi trả dịch vụ môi trường....................................................................101 2.2.2 Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng.............................................104 2.3 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường ..................................................................................................................106 2.3.1 Đặt cọc hoàn trả ....................................................................................106 2.3.2 Ký quỹ môi trường .................................................................................106 2.3.3 Bồi thường thiệt hại môi trường ...........................................................108 2.3.4 Nhãn sinh thái .......................................................................................115 2. 4 Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường ..........................................................................116 2.4.1 Định giá, lượng giá giá trị môi trường ..................................................116 2.4.2 Hạch toán môi trường ............................................................................121 CHƯƠNG III. YÊU CẦU, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH KINH THẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG ................................................................................................127 I. Yêu cầu ....................................................................................................................127 1. Đảm bảo hệ thống quản lý đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường...............127 2. Phát triển bền vững lĩnh vực môi trường ........................................................128 3. Tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia, nâng tầm đóng góp của lĩnh vực môi trường đối với nền kinh tế quốc dân ....................................................................129 II. Giải pháp ...............................................................................................................129 1. Nhóm các giải pháp chung ...............................................................................129 2. Nhóm các giải pháp cụ thể ................................................................................136 2.1 Tăng cường hiệu quả áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ..................................................................................................................136 2.1.1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước .......136 2.1.2 Nhóm công cụ tạo lập thị trường..........................................................151 2.1.3 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường ...............................................................................................................153 2.2 Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường ..........................................................................157 PHỤ LỤC ...................................................................................................................159 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................188

4


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT

Bảo vệ môi trường

CAC

Công cụ chỉ huy và kiểm soát

CERs

Chứng chỉ giảm phát thải

CM

Phương pháp lựa chọn

CVM

Phương pháp định giá phụ thuộc vào thị trường giả định

CTR

Chất thải rắn

EMA

Hạch toán quản lý môi trường

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

GEN

Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu

ISO

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế

KTTT

Kinh tế thị trường

NSNN

Ngân sách nhà nước

PES

Chi trả dịch vụ môi trường

OECD

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

TNMT

Tài nguyên môi trường

UNEP

Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

WTP

Sự sẵn lòng chi trả

WTA

Sự sẵn lòng chấp nhận

5


CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG I.

Mối quan hệ giữa môi trường và kinh tế Khái niệm về môi trường: Khái niệm về môi trường rất rộng lớn “Môi

trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản suất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”1. Các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Yếu tố nhân tạo là tổng thể các nhân tố do con người tạo nên làm thành tiện nghi cho cuộc sống của con người như máy bay, ô tô, nhà ở, các khu vui chơi giải trí... Tuy nhiên, khi xem xét mối quan hệ tương tác giữa môi trường và kinh tế, người ta thường ngầm hiểu môi trường trên khía cạnh là tổng hòa của các yếu tố tự nhiên bao gồm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường biển, hệ động thực vật… Khái niệm về hệ thống kinh tế: Hệ thống kinh tế là một quy trình bao gồm sản xuất, phân bố các yếu tố đầu vào, phân phối các yếu tố đầu ra của sản xuất, tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế2. Đây là một hệ thống mở, bên cạnh mối quan hệ nội tại hình thành bên trong hệ thống kinh tế- mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất của các yếu tố, thành phần trong hệ thống kinh tế, còn tồn tại mối quan hệ giữa toàn bộ hệ thống kinh tế với hệ thống bên ngoài. Trong hệ thống kinh tế luôn luôn diễn ra quá trình khai thác tài nguyên, chế biến nguyên liệu và phân phối tiêu dùng. Đầu tiên trong chu trình hoạt động của hệ thống kinh tế là khai thác các tài nguyên từ môi trường, sau đó chế biến những tài nguyên đó thành những sản phẩm có thể tiêu dùng được, và cuối cùng là thải ra một khối lượng lớn các tài nguyên đã bị hao mòn hay đã bị biến đổi (còn gọi là chất thải). Khái niệm về phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế là quá trình cải thiện và 1 2

Luật Bảo Vệ Môi trường 2005, Điều 1. NA, 2007, Economic Systems, The New Encyclopædia Britannica, v. 4, p. 357.

6


nâng cao chất lượng sống cho người dân của một quốc gia (bao gồm các điều kiện sống về vật chất và tinh thần) với sự tăng trưởng bền vững từ nền kinh tế đơn giản, thu nhập thấp sang nền kinh tế hiện đại, thu nhập cao3 4. Phát triển là xu thế chung của nhân loại, của loài người, là sự tăng tiến mọi mặt trong nền kinh tế. Mối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế Môi trường và hệ thống kinh tế có mối quan hệ tương tác, có sự gắn kết chặt chẽ với nhau. Môi trường vừa là yếu tố đầu vào, vừa là yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất. Môi trường là nơi cung cấp các nguyên vật liệu, năng lượng cho quá trình sản xuất (như khoáng sản, gỗ, dầu mỏ…), là không gian sống, cung cấp các giá trị cảnh quan, vui chơi, giải trí phục vụ cho cuộc sống của con người. Môi trường cũng là nơi chứa chất thải của các hoạt động trong nền kinh tế như quá trình sản xuất, quá trình lưu thông và quá trình tiêu dùng. Các chất thải ra môi trường tồn tại dưới nhiều dạng như: dạng rắn, dạng khí, dạng lỏng. Khi các chất thải với số lượng và chất lượng nhất định được thải ra môi tường thì các quá trình lý, hóa, sinh.. của hệ tự nhiên sẽ tự phân hủy, làm sạch chúng. Tuy nhiên, nếu chất thải vượt quá khả năng hấp thụ của môi trường chúng sẽ làm thay đổi chất lượng môi trường, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật.

3 4

Alan Deardorff, Economic development, Deardorff's Glossary of International Economics Hla Myint and Anne O. Krueger, 2009, Economic development, Encyclopædia Britannica.

7


Hình 1. Mối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế5 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế Quá trình phát triển kinh tế sẽ góp phần tạo ra nguồn tài chính hỗ trợ cho quá trình cải tạo môi trường, phòng chống suy thoái, sự cố môi trường xảy ra… Phát triển kinh tế tạo tiềm lực để BVMT. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh cũng dẫn đến việc khai thác, sử dụng quá mức các tài nguyên thiên nhiên và môi trường, gây nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm, suy thoái môi trường. Môi trường cũng tác động đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển kinh tế. Môi trường tạo ra các tiềm nằng tự nhiên mới cho công cuộc phát triển kinh tế trong tương lai, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Ngược lại, môi trường cũng tác động tiêu cực, gây bất lợi cho quá trình phát triển kinh tế. Ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra các hiện tượng thời tiết bất thường (sương mù dày đặc, mưa đá, mưa axit…), các thảm họa và thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán…). Điều này sẽ tác động đến tất cả các lĩnh vực, ngành nghề hoạt động trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến quá trình lưu thông, các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế như: làm ngừng trệ quá trình sản xuất; gây thiệt hại về kinh tế (tài sản, của cải, vật chất…). 5

Nguyễn Thế Chinh, 2003, Kinh tế và quản lý Môi trường, tr.36-tr.38, Nhà xuất bản thống kê, Đại học Kinh tế quốc dân.

8


Từ mối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế, môi trường và phát triển kinh tế ta thấy được vị trí và vai trò của môi trường trong hệ thống kinh tế, trong quá trình phát triển kinh tế đó là yếu tố chủ yếu và không thể thiếu được trong bất kỳ hoạt động nào của nền kinh tế. Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, vùng, khu vực cần lồng ghép yếu tố môi trường vào trong các chủ trương, chính sách đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường, vừa đáp ứng được nhu cầu của hiện tại trong tăng trưởng và phát triển vừa không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ trong tương lai và trong các chính sách quản lý và bảo vệ môi trường cũng nên lồng ghép yếu tố kinh tế để đảm bảo những chính sách này phát huy được tính hiệu quả trong thực tiễn hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. II. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) tại Việt Nam chính thức được ghi nhận từ năm 1993 khi Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam về vấn đề BVMT (hiện nay được thay thế bởi Luật BVMT năm 2005). Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của hoạt động BVMT đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trải qua gần 20 năm Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường và tổ chức thực thi khá hiệu quả các chương trình, dự án thực hiện chiến lược BVMT. Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6-1998 của Bộ Chính trị “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Chỉ thị đã khẳng định BVMT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; BVMT là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi của sự 9


nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chỉ thị cũng yêu cầu Ban cán sự Đảng chỉ đạo việc xây dựng chiến lược quốc gia về BVMT, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về BVMT ở Trung ương và địa phương; các cấp ủy đảng và chính quyền cần lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp việc kết hợp kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội với công tác BVMT. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục khẳng định trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011- 2020: “Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng; vào các chương trình, dự án” Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính Trị về “bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đây là Nghị quyết đầu tiên của Bộ Chính trị đặc biệt quan tâm tới công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết nêu rõ: “Muốn bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững và hội nhập kinh tế thành công, nhất thiết phải quan tâm đến vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi trường”. Quyết định số 153/2004/QĐ-Ttg ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) đã nêu nguyên tắc “chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi tường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế- xã hội, coi yêu cầu bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát 10


triển bền vững”, một trong những công việc được ưu tiêu thực hiện là “ Rà soát quy hoạch tổng thế phát triển kinh tế- xã hội các vùng trọng điểm, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là những ngành tác động mạnh mẽ tới môi trường, nhằm bảo đảm phát triển bền vững, bảo đảm sự dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải có hiệu quả”, “thể chế hóa việc đưa yếu tố môi trường vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tếxã hội hằng năm, 5 năm và dài hạn của cả nước, các bộ, ngành và địa phương từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở”. Thấy rõ được tầm quan trọng của hoạt động BVMT trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần phải xây dựng thể chế, chính sách quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo hài hòa được cả lợi ích về kinh tế và lợi ích về môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Từ đầu năm 2008, Ban cán sự Đảng bộ Tài nguyên và Môi trường đã xác định chủ trương “kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường” là nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài của ngành trong thời gian tới. Đây là một chủ trương đúng đắn, góp phần thúc đẩy đổi mới cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường sao cho đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường (KTTT) theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động vận dụng các quy luật khách quan, khả năng tự điều tiết của KTTT, tăng cường áp dụng các cơ chế, công cụ kinh tế trong quản lý, nâng cao năng lực, tư duy, nghiên cứu và phân tích kinh tế trong lĩnh vực môi trường. Ngày 02 tháng 12 năm 2009, Ban Cán sự Đảng bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Nghị Quyết số 27-NQ/BCSĐBTNMT về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. Nghị Quyết đã đưa ra quan điểm chỉ đạo trong việc đấy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường như: Thứ nhất, thực sự coi tài nguyên là nguồn lực khan hiếm, BVMT là thước đo hiệu quả và tính bền vững của hoạt động kinh tế và có thể hạch toán toàn diện và đầy đủ để phát triển bền vững đất nước; Thứ hai, bảo đảm sự đồng bộ và nhất quán giữa phương thức quản lý tài 11


nguyên và bảo vệ môi trường với thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Thứ ba, đổi mới các cơ chế chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh cải cách hành chính là các nhiệm vụ trọng tâm để đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; Thứ tư, con người là trung tâm, là nhân tố quyết định của quá trình đẩy mạnh kinh tế hóa trong ngành tài nguyên và môi trường, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của ngành đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới. Nghị Quyết 27 cũng đưa ra các nhiệm vụ chung của ngành Tài nguyên và Môi trường cần thực hiện trong thời gian tới. Đó là: a) Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận, xác lập nguyên tắc, phương thức thực hiện, mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp đột phá và lộ trình thực hiện đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ về tài nguyên và môi trường; b) Hình thành nguyên tắc, phương pháp, cơ chế định giá, lượng giá, hạch toán tài nguyên và môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống tài khoản quốc gia về tài nguyên và môi trường; c) Đa dạng hóa nguồn vốn, nâng hiệu quả đầu tư, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ viễn thám trong điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường; hình thành cơ chế tài chính quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu ngành tài nguyên và môi trường; d) Đẩy mạnh công tác dự báo xu thế biến động tài nguyên và các vấn đề môi trường, cung - cầu, cạnh tranh, xung đột về tài nguyên trên thế giới và tác động đến phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta làm cơ sở xây dựng chiến lược, chính sách, cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường hợp lý và hiệu quả; e) Rà soát, đề xuất chuyển đổi các cơ chế quản lý mang tính hành 12


chính, bao cấp kém hiệu quả trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sang cơ chế quản lý hiệu quả hơn dựa trên các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường kết hợp với đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng minh bạch và hiệu quả; f) Nghiên cứu, xây dựng khung chính sách và lộ trình áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; g) Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách, cơ chế tạo nguồn thu ngân sách từ tài nguyên và môi trường trên nguyên tắc: “Người sử dụng, hưởng lợi từ tài nguyên và môi trường phải trả tiền”, “Người gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên phải trả chi phí khắc phục và tái tạo”; h) Thúc đẩy phát triển các đơn vị nghiên cứu, tư vấn, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đáp ứng nhu cầu trong nước, tiến tới mở rộng cung ứng dịch vụ ra nước ngoài; hình thành các quỹ tài nguyên, quỹ tài chính hỗ trợ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh sản xuất hàng hoá môi trường; thực hiện thương mại hoá thông tin, số liệu về tài nguyên và môi trường; i) Xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; phát triển phân tích chi phí - lợi ích thành công cụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường. Ngày 09 tháng 04 năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định 675/QĐ-BTNMT về kế hoạch hành động thực hiện Nghị Quyết 27NQ/BCSĐTNMT đã đưa ra những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh kinh tế hóa ngành Tài nguyên và Môi trường. Mục tiêu tổng quát của việc đẩy mạnh thực hiện kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường là hoàn thiện thế chế quản lý tài nguyên và môi trường, thúc đẩy ngành tài nguyên và môi trường phát triển nhanh và bền vững, đồng bộ với tiến trình phát triển các thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng tầm đóng góp và vị thế của ngành trong nền kinh tế quốc dân, vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

13


Mục tiêu cụ thế là: Thứ nhất, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và thống nhất hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể triển khai thành công các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; Thứ hai, hình thành khung chính sách tổng thể và hoàn thiện các công cụ thực hiện chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường vào những năm đầu và triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách cụ thể theo từng lĩnh vực trong các năm tiếp theo của kế hoạch 5 năm 2011- 2015; Thứ ba, tiếp tục phát huy và đổi mới thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên các nguyên tắc cơ bản của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học và công nghệ, đa dạng hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN), góp phần phát triển bền vững đất nước. Quyết định cũng quy định các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực trong ngành Tài nguyên và Môi trường. Đối với lĩnh vực môi trường, những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể sau: a)

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện xây dựng và ban hành hệ thống văn bản

quy phạm pháp luật về môi trường, thực hiện xây dựng Bộ Luật Môi trường theo hướng xác lập cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; b)

Rà soát, hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động quan

trắc, phân tích môi trường, lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, công nhận, chứng nhận về môi trường, cung ứng dịch vụ môi trường phù hợp với cơ chế thị trường; c)

Đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường;

tiếp tục bổ sung, hoàn thiên các cơ chế thu ngân sách từ các hoạt động liên quan đến môi trường; tổ chức thử nghiệm, tiến tới áp dụng cơ chế chuyển nhượng, trao đổi quyền phát thải; thực hiện ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản; thí điểm tiến tới nhân rộng các mô hình áp dụng cơ chế chi trả dịch 14


vụ hệ sinh thái; đồng thời sử dụng các công cụ thuế, phí môi trường để điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường; d)

Đẩy mạnh hoạt động định giá, lượng giá và hạch toán môi trường,

dự báo cung cầu và xu thế biến động môi trường, tổ chức xác lập, hoàn thiện và đưa yếu tố môi trường vào trong giá thành sản phẩm; e)

Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện “Chính sách phát triển

kinh tế môi trường Việt Nam”; f)

Đẩy nhanh tiến độ phê duyệt và ban hành Nghị định về bồi thường

thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên gây ra; g)

Tiến hành quy hoạch, tăng cường đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt

động của hệ thống quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia. Thúc đẩy hợp tác quốc tế, đáp ứng các cam kết với cộng đồng quốc tế về bảo vệ môi trường; h)

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi

trường. Vận hành hệ thống quản lý thông tin, đảm bảo cung cấp thông tin chất lượng môi trường kịp thời, chính xác cho cộng đồng và các cấp quản lý, tiến tới xây dựng đề án thương mại hóa thông tin, số liệu về môi trường phù hợp với cơ chế thị trường. III. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và nội dung thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường 1.

Khái niệm kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, có thể hiểu kinh tế hóa trên một số các khía cạnh sau: Kinh tế hóa có nghĩa là sự thay đổi các cơ chế, chính sách quản lý môi trường sao cho đồng bộ với thể chế của nền kinh tế thị trường. Kinh tế hóa không làm thay đổi bản chất, mục tiêu chủ đạo xuyên suốt trong các chính sách quản lý và bảo vệ môi trường, đó là bảo đảm cho sự phát triển bền vững. “Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ 15


thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên”6. Quản lý môi trường được thực hiện bởi tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà mọi hoạt động mua bán và trao đổi diễn ra trên thị trường đều vận hành theo quy luật cung- cầu; giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ thị trường được xác định trên cơ sở giá trị của hàng hóa, dịch vụ đó và thông qua mối quan hệ giữa cung và cầu7. Khi lượng cầu về hàng hóa lớn hơn lượng cung thì có xu hướng làm tăng giá cả hàng hóa, nhóm người tiêu dùng có khả năng chi trả cao hơn và đẩy giá của thị trường lên. Ngược lại, khi lượng cung vượt quá lượng cầu về hàng hóa thì giá cả hàng hóa có xu hướng giảm. Cơ chế điều chỉnh về giá và lượng này giúp thị trường đạt đến điểm cân bằng, tại đó người sản xuất sẽ sản xuất ra đúng bằng lượng mà người tiêu dùng muốn mua. Từ cơ chế tự điều tiết của thị trường, giá cả sẽ là tín hiệu để người sản xuất và người tiêu dùng tự điều chỉnh hành vi. Nó đưa ra tín hiệu cho người tiêu dùng về chi phí của việc sản xuất ra một sản phẩm nào đó là bao nhiêu và tín hiệu cho người sản xuất về sự đánh giá tương đối về sự chi trả của người tiêu dùng sản phẩm là bao nhiêu Giả sử, một loại hàng hóa có nhu cầu cao sẽ làm tăng giá, giá tăng sẽ tạo động lực để người sản xuất gia tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu, qua đó nguồn lực trong xã hội sẽ được huy động để đáp ứng cho nhu cầu này. Ngược lại, nếu một loại hàng hóa có nhu cầu thấp, giá sẽ giảm, người sản xuất sẽ giảm bớt sản lượng để dịch chuyển nguồn lực sang những lĩnh vực khác có hiệu quả hơn. Thông qua quá trình vận động như vậy, những nguồn lực của xã hội sẽ được phân bổ một cách tối ưu, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu xã hội. 6

7

Lưu Đức Hải, 2006, Cẩm nang quản lý môi trường, Nhà xuất bản giáo dục. http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng

16


Dựa trên cơ sở những nguyên lý của nền kinh tế thị trường, vận dụng các quy luật trong phát triển kinh tế vào trong các công tác quản lý môi trường góp phần hỗ trợ cho các nhà hoạch định đưa ra được các chính sách hợp lý và các công cụ kinh tế thích hợp để điều chỉnh hành vi của các đối tượng trong nền kinh tế, phân bổ hợp lý các tài nguyên thiên nhiên, định hướng hoạt động sản xuất và tiêu dùng có lợi cho công tác bảo vệ môi trường. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đó là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước pháp quyền XHCN hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh 8. Đây là một nền kinh tế hỗn hợp, vừa vận hành theo cơ chế thị trường với các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, vừa có sự điều tiết chặt chẽ của Nhà nước. Nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, chính sách, pháp luật đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, hay những thất bại của thị trường. Chính vì thế, các cơ chế, chính sách trong quản lý môi trường phải áp dụng các quy luật vận động của nền kinh tế thị trường kết hợp với sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước để tăng cường tính hiệu trong việc thực thi những cơ chế, chính sách này. Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường có nghĩa là làm cho hoạt động quản lý môi trường đạt hiệu quả hơn từ góc độ kinh tế thông qua việc lồng ghép các yếu tố kinh tế, vận dụng các quy luật phát triển kinh tế vào trong các hoạt động quản lý môi trường trên cơ sở coi bảo vệ môi trường là thước đo hiệu quả và bền vững của hoạt động kinh tế. Trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường cần áp dụng đồng bộ các công cụ luật pháp, hành chính, kỹ thuật với các công cụ kinh tế để tăng cường trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, đảm bảo tính hiệu quả trong việc thực thi quy định, chính sách pháp luật quản lý môi trường; góp phần làm cho hoạt động bảo vệ môi trường phát triển song song, đồng hành cùng với sự phát triển và tăng trưởng của kinh tế. Ngoài 8

Nghị quyết 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X

17


việc đẩy mạnh áo dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, để công tác quản lý môi trường đạt hiệu quả dưới góc độ kinh tế thì việc hình thành các cơ chế định giá, lượng giá giá trị môi trường cũng đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định để phân bổ hợp lý, hiệu quả tài nguyên này, tránh việc khai thác và sử dụng bừa bãi làm suy giảm chất lượng môi trường vì hầu hết môi trường thường mang giá trị phi thị trường (tức là không có giá trên thị trường, không có sự mua bán trao đổi trên thị trường). Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường cũng có nghĩa là việc xây dựng các cơ chế làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua các hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường. Cụ thể, kinh tế hóa lĩnh vực môi trường là đẩy mạnh việc áp dụng công cụ thuế/phí môi trường. Thuế/phí môi trường là công cụ vừa góp phần điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm, điều tiết vĩ mô các quan hệ xã hội theo hướng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường vừa góp phần tạo thêm nguồn thu trong ngân sách nhà nước (NSNN), tái đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường, hạn chế, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường. Thuế/phí môi trường là một trong những công cụ dựa vào thị trường (Market Based Instruments) hay các công cụ kinh tế (Economic Instruments), nó sẽ giúp người gây ô nhiễm đưa ra lựa chọn phù hợp, hiệu quả nhất để tuân thủ pháp luật và đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn về môi trường. Như vậy, Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường không những góp phần hạn chế, giảm thiểu ô nhiễm, suy thoái môi trường, làm cho công tác quản lý môi trường đạt hiệu quả mà nó còn góp phần tăng nguồn thu cho NSNN và tăng tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực trong tổng thu nhập quốc nội (GDP), khẳng định vị thế của lĩnh vực môi trường trong sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường cũng có nghĩa là việc hình thành, tạo lập và phát triển đồng bộ các loại thị trường hàng hóa và dịch vụ về môi trường (thị trường chuyển giao giấy phép xả thải, thị trường chi trả dịch vụ môi trường…); phát triển ngành công nghiệp môi trường như ngành sản xuất, chế tạo các thiết bị, máy móc xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải, ngành chế tạo ra các thiết bị đo 18


lường, quan trắc môi trường… Kinh tế hóa coi môi trường như là một thị trường mới có thể khai thác, tạo ra doanh thu, lợi nhuận cho các bên liên quan, vì thế cần thiết lập môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi, đưa ra các cơ chế, chính sách đồng bộ thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường này phát triển, tạo nguồn thu cho nền kinh tế, đóng góp và sự tăng trưởng kinh tế. Tổng quát lại, Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường có thể được hiểu là sự đổi mới cơ chế, chính sách trong quản lý môi trường để phù hợp, đồng bộ với cơ chế của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm làm cho công tác quản lý môi trường trở nên hiệu quả hơn với mục tiêu bảo vệ môi trường; tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế. 2.

Mục tiêu kinh tế hóa lĩnh vực môi trường Căn cứ theo Quyết định 675/QĐ- BTNMT ngày 9 tháng 4 năm 2010 của

Bộ Tài Nguyên và Môi trường về kế hoạch hành động thực hiện Nghị Quyết 27NQ/BCSĐTNMT, mục tiêu của việc đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường là: - Đổi mới, hoàn thiện thể chế quản lý và bảo vệ môi trường dựa trên nguyên tắc của nền KTTT theo định hướng XHCN. Nâng cao năng lực phân tích kinh tế, vận dụng các quy luật phát triển kinh tế vào trong quản lý môi trường - Thúc đẩy lĩnh vực môi trường phát triển nhanh và bền vững, đồng bộ với tiến trình phát triển các thể chế KTTT theo định hướng XHCN. - Nâng tầm đóng góp và vị thế của lĩnh vực môi trường trong nền kinh tế quốc dân vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Những lợi ích của việc thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường mang lại: ƒ Kinh tế hoá lĩnh vực môi trường góp phần làm cho mục tiêu bảo vệ môi trường được thực hiện một cách hiệu quả hơn thông qua việc coi bảo vệ môi trường là thước đo hiệu quả và có tính bền vững của hoạt động kinh tế. ƒ Kinh tế hóa đảm bảo những quyết sách được đưa ra dựa trên những đánh giá định lượng và không bị bất cập so với quy luật vận động của nền kinh tế thị 19


trường. Kinh tế hóa góp phần hoàn thiện thể chế chính sách trong quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với tiến trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước trong lĩnh vực môi trường thông qua việc áp dụng đồng bộ các công cụ luật pháp, hành chính với các công cụ kinh tế trong thực tế, tăng cường tính hiệu quả của các công cụ này. ƒ Kinh tế hóa góp phần làm tăng trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường. Kinh tế hóa điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm thông qua các quy luật của thị trường, các mối quan hệ thị trường trong nền kinh tế, từ đó hạn chế, giảm thiểu được ô nhiễm, suy thoái môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. ƒ Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường định giá, lượng hóa các giá trị hàng hóa và dịch vụ môi trường, hạch toán chúng vào trong các hoạt động, quy trình của nền kinh tế, từ đó tăng cường hiệu quả của việc khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu những thiệt hại kinh tế do suy thoái và ô nhiễm môi trường, hỗ trợ Chính phủ trong việc cân đối được những chính sách vĩ mô trong nền kinh tế. ƒ Kinh tế hóa phát huy tiềm năng, nâng tầm đóng góp và vị thế của lĩnh vực môi trường trong nền kinh tế quốc dân. Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường nâng cao mức đóng góp từ hoạt động bảo vệ môi trường cho ngân sách nhà nước, tăng nguồn vốn tái đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường, khắc phục, phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái và các sự cố về môi trường. ƒ Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường thúc đẩy việc hình thành và phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, tạo môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho loại hình hoạt động này phát triển. 3.

Nguyên tắc cơ bản để thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

Để đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, làm cho các cơ chế, chính sách trong quản lý môi trường phù hợp với thể chế vận hành của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN cần dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản sau: 20


Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như lao động và các nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất sẽ dẫn tới thải các chất thải vào môi trường đất, nước, không khí. Do không có giá chính xác và đặc tính mở của tài nguyên và môi trường nên sẽ dẫn đến việc khai thác và sử dụng quá mức, gây ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt tài nguyên, do đó cần phải “nội hóa” những chi phí của việc sử dụng và làm suy thoái tài nguyên và môi trường. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ra đời. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP- Poluter Pays Principle) bắt nguồn vào năm 1972 từ đề xuất của Hội đồng OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) về hướng dẫn những nguyên tắc liên quan đến khía cạnh kinh tế quốc tế của các chính sách môi trường. “Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là nguyên tắc mà theo đó những người gây ô nhiễm phải chịu chi phí cho các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm do những thiệt hại gây ra cho xã hội hoặc vượt quá mức độ (tiêu chuẩn) ô nhiễm cho phép”9. Theo nguyên tắc này, tất cả những ai gây ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực đến môi trường thì đều phải nộp phí. Nguyên tắc này xuất phát từ những luận điểm của Pigow về nền kinh tế phúc lợi. Theo đó, thì giá cả của các loại hàng hóa, dịch vụ trên thì trường phản ánh đầy đủ tổng chi phí sản xuất bao gồm chi phí của tất cả các nguồn lực được sử dụng. Ví dụ: một người chủ sở hữu đất lựa chọn phương án thoát nước ở vùng đất ngập nước tự nhiên trên khu đất của họ ấy để tăng tính hiệu quả của tài sản của họ, do đó họ ấy phải chịu toàn bộ chi phí cho việc làm đó. Tổng chi phí có thể bao gồm chi phí cá nhân và những thiệt hại gây ra cho xã hội do sự giảm hệ sinh thái đó. Nguyên tắc này đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường thông qua việc buộc những người gây ô nhiễm môi trường phải tiếp thu đầy đủ các chi phí sản 9

Glossary of Environment Statistics, 1997, Studies in Methods, Series F, No. 67, United Nations, New York.

21


xuất (bao gồm các chi phí môi trường). Nó góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, giảm những tổn thất về phúc lợi xã hội. Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền (BPP- Benefit Pays Pricnciple) tương tự như nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (UPP- User Pays Principle) được hiểu là những người sử dụng hay được hưởng lợi từ việc sử dụng hàng hóa dịch vụ đều phải chịu chi phí chi việc cung cấp chúng10. Cụ thể là, tất cả những ai hưởng lợi do có được môi trường trong lành, không bị ô nhiễm đều phải nộp phí. Ví dụ, người chủ sở hữu khu đất bảo tồn những vùng đất ngập nước tự nhiên nhằm mục đích môi trường thì chi phí được chia sẻ cho tất cả những ai được hưởng lợi từ hệ sinh thái đất ngập nước đó. Nguyên tắc này chủ trương việc phòng ngừa và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chất thải gây ô nhiễm môi trường. Thực hiện nguyên tắc BPP nhằm hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường hay phục hồi môi trường thông qua các khoản thu từ cộng đồng. Trên thực tế, việc kết hợp các nguyên tắc này gặp phải khó khăn. Khó khăn chủ yếu đó là việc xác định đối tượng chính hưởng lợi. Ví dụ: Việc duy trì đa dạng sinh hoặc và giảm thiểu biến đổi khí hậu sẽ mang lại lợi ích cho mọi người dân Úc và tất cả mọi người trên thế giới, tuy nhiên nhiều biện pháp bảo tồn như thiết kế mô hình giảm thiểu những tác động của độ mặn thì chủ yếu mang lại lợi ích cho một khu vực cụ thể hoặc một bang. Do đó, việc áp dụng nguyên tắc BPP không đảm bảo được tính công bằng trong thực tế, bởi lẽ nó không đòi hỏi tất cả mọi người phải trả đầy đủ chi phí cho các hàng hóa và dịch vụ mà họ sử dụng.

10

David Pannell, 2004, The University of Western Australia, Who should pay for the environment? http://cyllene.uwa.edu.au/~dpannell/pd/pd0021.htm

22


4. Nội dung của đẩy mạnh thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường Thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường bao gồm nhiều nội dung cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở những đặc thù riêng của quản lý trong lĩnh vực môi trường, trong phạm vi nghiên cứu này, đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường gồm 2 nội dung chủ đạo, cốt lõi sau: Thứ nhất, đẩy mạnh áp dụng các nhóm công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường như nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước (thuế, phí môi trường), nhóm công cụ tạo lập thị trường (chi trả dịch vụ môi trường, giấy phép xả thải), nhóm công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động BVMT (đặt cọc hoàn trả, bồi thường thiệt hại môi trường, ký quỹ môi trường, nhãn sinh thái). Thứ hai, xây dựng và áp dụng nhóm công cụ hỗ trợ cho việc đổi mới các cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền KTTT như: định giá, lượng giá, hạch toán môi trường.

23


CHƯƠNG II. THỰC TIỄN TRIỂN KHAI KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG Như nội dung đã trình bày trong chương I, đẩy mạnh thực hiện kinh tế hoá lĩnh vực môi trường trong nghiên cứu này bao gồm hai nội dung chính đó là đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường, hình thành và áp dụng các công cụ hỗ trợ cho việc đổi mới các cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền KTTT. Tại chương II, chúng tôi tập trung làm rõ hai nội dung này dựa trên thực tiễn triển khai tại một số quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam. I.

Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới liên quan đến kinh tế hóa lĩnh vực môi trường 1.

Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường

Các công cụ kinh tế đã phát huy vai trò quan trọng trong việc thực hiện quá trình kinh tế hóa lĩnh vực môi trường và đang trở thành nhóm chính sách được áp dụng ngày càng rộng rãi trong những thập kỷ vừa qua trong bảo vệ môi trường. Ngay từ đầu những năm 1970, các quốc gia trên thế giới đã bắt đầu sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường. Đến nay, các loại công cụ này đã được sử dụng rộng rãi ở các cấp độ khác nhau từ quốc gia đến địa phương nhằm kiểm soát ô nhiễm và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên. Công cụ kinh tế hay các công cụ dựa vào thị trường được định nghĩa là “biện pháp khuyến khích kinh tế, được xây dựng dựa trên nền tảng của các quy luật kinh tế thị trường. Công cụ kinh tế có thể được hiểu là các công cụ chính sách sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong các hoạt động của cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường”11. So với công cụ chỉ huy và kiểm soát (CAC- Command and Control) là công cụ chính sách trong quản lý môi trường, bao gồm “chỉ huy” tức là đặt ra 11

Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình Kinh tế và quản lý Môi trường, Nhà xuất bản Thống Kê

24


tiêu chuẩn – mức độ ô nhiễm tối đa có thể cho phép và “kiểm soát” tức là sự giám sát và thực thi các tiêu chuẩn12 thì các công cụ kinh tế có những ưu điểm vượt trội hơn. Vì hiệu quả của áp dụng công cụ CAC tương đối hạn chế: do theo cách tiếp cận của công cụ CAC thì mức tiêu chuẩn “tối ưu” là khó xác định, đặc biệt là đối với hàng hóa không được trao đổi trên thị trường như nước và không khí. Ngoài ra, khi thực thi phương pháp CAC do không có sự trợ giúp của những khuyến khích kinh tế dựa vào thị trường do đó không khuyến khích được các doanh nghiệp đưa ra những biện pháp để giảm thiểu lượng ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép cũng như khuyến khích người tiêu dùng không sử dụng các sản phẩm gây tổn hại đến môi trường. Mặt khác, công cụ kinh tế hay công cụ dựa vào thị trường là những công cụ khuyến khích thay đổi hành vi thông qua những tín hiệu của thị trường hơn là thông qua các quy định, chỉ thị rõ ràng về mức độ và phương thức kiểm soát ô nhiễm (Stavins, 2003). Công cụ dựa vào thị trường được thiết kế dựa trên việc sử dụng các tác nhân thị trường (Stavins, 1998; OECD, 1989, 1998). Nó cho phép các đối tượng gây ô nhiễm có thể thực hiện việc kiểm soát mức độ ô nhiễm của họ, hướng tới mục tiêu kinh doanh bền vững (lợi ích đem lại trong dài hạn). Việc áp dụng công cụ kinh tế cho phép các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh có thể linh hoạt trong việc ra quyết định là có nên thay đổi hành vi của mình (như giảm thiểu chất ô nhiễm thải ra môi trường; đầu tư trang thiết bị máy móc...) hay chịu chi phí của việc gây ô nhiễm môi trường. Hiện nay, công cụ kinh tế được áp dụng ở hầu hết các nước phát triển và các nước đang phát triển, và ngày càng phong phú về thể loại. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chia các công cụ kinh tế thành ba nhóm chính nhằm đẩy mạnh kinh tế hoá trong lĩnh vực môi trường bao gồm: (1) nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho NSNN, (2) nhóm công cụ tạo lập thị trường và (3) nhóm công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động BVMT.

12

ESCAP, 1999(c), Integrating Environmental Considerations into Economic Policy Making Processes, http://www.unescap.org/drpad/vc/orientation/M5_2.htm

25


1. 1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước Kinh nghiệm thế giới cho thấy đóng góp chính của lĩnh vực môi trường cho ngân sách là các loại thuế/phí môi trường và một số phí đánh vào sản phẩm, phí xả thải, giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng, tùy theo từng quốc gia và từng giai đoạn khác nhau mà cách thức và phần đóng góp này là khác nhau. Doanh thu từ nhóm thuế/phí môi trường trung bình chiếm khoảng 5% tổng GDP (dao động từ 3% đến 13%) tại nhiều quốc gia khác nhau13. Thuế và phí môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để tạo nguồn thu trực tiếp cho NSNN. Công cụ này nhằm 2 mục tiêu chủ yếu là khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất thải ra môi trường và tăng nguồn thu cho NSNN thông qua việc đưa chi phí môi trường vào trong giá thành sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. * Thuế môi trường Thuế môi trường (Environmental Tax) là một công cụ kinh tế để giải quyết các vấn đề môi trường. Đây là khoản thu cho NSNN từ những đối tượng gây ô nhiễm, làm thiệt hại cho môi trường. Nó góp phần hạn chế, giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, khuyến khích các hoạt động BVMT. Thuế môi trường được thiết kế để nội hóa chi phí môi trường và tạo ra động lực kinh tế cho cá nhân, tổ chức thúc đẩy các hoạt động sinh thái bền vững14. Thuế môi trường thông thường đánh chủ yếu vào các chất gây ô nhiễm môi trường hay các sản phẩm hàng hóa mà việc sản xuất, sử dụng chúng có tác động tiêu cực đến môi trường, gây ô nhiễm môi trường như: thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm (thuế Sunfua, thuế CFCs, thuế CO2…) và thuế đánh vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường (thuế xăng, dầu, than, thuốc bảo vệ thực vật…).

13

Viện Chiến lược, chính sách Tài nguyên và Môi trường, 2010, Kinh tế hóa đã tăng đóng góp của ngành Tài nguyên và Môi trường cho nguồn thu ngân sách và GDP, http://www.isponre.gov.vn/home 14 Japan Center for a Sustainable Environment and Society (JACES), What are Environmental Taxes?, http://www.jacses.org/en/paco/envtax.htm

26


* Phí môi trường Phí môi trường là khoản thu của NSNN dành cho hoạt động bảo vệ môi trường như để thu gom và xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm môi trường...15. Mục đích chính của việc thu phí môi trường là hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa việc xả các chất thải ra môi trường, mà các chất thải này có khả năng xử lý được. Phí môi trường buộc những người gây ô nhiễm môi trường phải xử lý các chất thải trước khi thải ra môi trường hay hạn chế sử dụng các nguồn nguyên liệu có nguy cơ gây ra ô nhiễm, vì vậy công cụ này khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh, những người gây ô nhiễm phải xử lý các chất ô nhiễm trong nguồn thải trước khi thải ra môi trường. Phí môi trường được tính toán dựa trên lượng phát thải của chất ô nhiễm và chi phí xử lý ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm... Một số loại thuế/phí ô nhiễm môi trường phổ biến bao gồm: phí nước thải, phí gây ô nhiễm không khí, thuế cacbon, thuế sulphur, phí gây suy thoái tầng ôzôn, thuế chôn lấp rác, thuế xăng dầu, thuế sử dụng khí gas, thuế môi trường, gần đây là việc áp dụng mới các loại thuế liên quan đến chất thải rắn (CTR), và tăng thuế suất đối với thuế CTR. Đối với thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm: có 2 loại thuế chủ yếu được áp dụng ở các nước trên thế giới đó là thuế sulphur và thuế CO2. Thuế/ phí môi trường ở các quốc gia trên thế giới được sử dụng nhằm tái đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, và góp phần hỗ trợ cho an sinh xã hội. Tại Phần Lan, thuế môi trường bắt đầu được áp dụng từ năm 1997, bao gồm thuế sinh thái, thuế năng lượng nhằm hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp. Tại Đức, thuế môi trường được áp dụng đối với nhiên liệu và đã làm giảm mức tiêu thụ nhiên liệu xuống 0,8% tương đương với việc tiết kiệm được khoảng 9 tỷ DM (số liệu năm 1999), đóng góp vào Quĩ trợ cấp Quốc gia. Tại Hà Lan, một phần lớn nguồn thu từ các loại thuế năng lượng đã góp phần giảm các khoản đóng góp an sinh xã hội (số liệu năm 1999). Tại Thụy Sĩ, nguồn 15

Nguyễn Thế Chinh, 2003, Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường, tr.423, Nhà xuất bản Thống kê

27


thu từ thuế sinh thái đối với các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) và nhiên liệu sưởi ấm (trừ năng lượng mặt trời) sẽ được sử dụng để phân phối lại cho các hộ gia đình dưới hình thức là các khoản hỗ trợ bảo hiểm y tế (1999). Tại Anh, nguồn thu 450.000.000 £/ năm từ thuế bãi rác (số liệu năm 1996) được sử dụng để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội.16 Dưới đây là một số kinh nghiệm về thuế/phí được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới: Tại Đan Mạch - Thuế sulphur17 Đan Mạch có nghĩa vụ đáp ứng mục tiêu giảm phát thải khí sulphur theo quy định của điều ước quốc tế. Mặc dù mục tiêu giảm phát thải đã được thông qua năm 1980, để đáp ứng mục tiêu của Đan Mạch đưa ra nhiều biện pháp để cắt giảm sự phát thải khí sulphur dẫn đến sự ra đời của thuế sulphur. Mức thuế được xem như là thuế xanh kể từ khi nó được áp dụng nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường. Theo quy định của Điều ước quốc tế, Đan Mạch có nghĩa vụ phải giảm phát thải khí sulphur vào năm 2000 tương ứng với không quá 80% của mức năm 1980. Đây là sự ưu đãi thuế để giảm hàm lượng sulphur của các nhiên liệu hóa thạch18. Thuế này chỉ áp dụng cho nhiên liệu với hàm lượng sulphur cao hơn 0,05% . Thuế sulphur được áp dụng trong các ngành như hạn ngạch khí thải cho nhà máy điện, khử sulphur bắt buộc đối với các đơn vị trong các nhà máy điện mới, giới hạn giá trị của hàm lượng sulphur trong nhiên liệu. Thuế sulphur của Đan Mạch có hai hình thức bao gồm: (1) Thuế sản phẩm là thuế đánh vào các hàm lượng sulphur trong nhiên liệu được áp dụng với mức thuế 20 DKK/kg SO2 ; và (2) Thuế phát thải là loại thuế đánh vào lượng phát thải khí sulphur từ hoạt động sản xuất, kinh doanh với mức thuế 10 DKK/kg SO2 (số liệu năm 1999). 16

Updated from OECD, 1997, Environment taxes and green tax reform http://economicinstruments.com/index.php/air-quality/article 18 Danish Environmental Protection Agency,1999, Economic Instruments In Environmental Protection in Denmark, Ministry of Environment and Energy , pp93-96. 17

28


Thuế sulphur của Đan Mạch đã có tác động đáng kể đến công tác quản lý môi trường: - Thuế làm tăng chi phí năng lượng, các cơ sở sản xuất dựa trên việc sử dụng các nhiên liệu có chứa sulphur. Do đó, tổng năng lượng tiêu thụ sẽ giảm; - Thuế làm thay đổi cơ cấu giá năng lượng, qua đó tạo động cơ sử dụng nhiên liệu thay thế có hàm lượng sulphur thấp hơn so với các nhiên liệu hoá thạch (như than đá và dầu); - Thuế thúc đẩy đầu tư công nghệ xử lý cuối đường ống. Thuế sulphur ở Đan Mạch đã áp dụng rất thành công, hàm lượng sulphur của cả hai loại nhiên liệu là dầu mỏ và khí thiên nhiên đã giảm từ 0,2% đến 0,05% và hàm lượng sulphur trong than đã giảm được một phần ba (1999 EEA). Đồng thời thuế đã có tác động tích cực đến sự phát triển của các nhà máy lọc sulphur và công nghệ xử lý khí thải (Bộ Thuế Đan Mạch 1998 được trích dẫn trong năm 1999 EEA). Năm 1996, Đan Mạch đã giảm được 33% lượng phát thải SO2 và thay đổi thành phần của nhiên liệu chứa lượng sulphur thấp (EEA Dự thảo Báo cáo năm 2000). Theo Sterner (2003), mức sulphur năm 1997 (bình quân 22 kg của SOx/ người) đã giảm 76% so với năm 1980. Đặc biệt, thuế sulphur đã đóng góp một khoản lớn cho ngân sách Đan Mạch, năm 1996 là 296,5 triệu DKK, và 1998 là 375 triệu DKK. Tại Thụy Điển Việc đánh thuế phát thải khí sulphur tại Thuỵ Điển cũng đem lại những kết quả khả quan trong kiểm soát ô nhiễm, ước tính có tác động làm giảm 30% lượng phát thải trong thời gian từ năm 1989 đến năm 199519. Thụy Điển cũng áp dụng công cụ thuế môi trường trong kiểm soát ô nhiễm. Loại thuế này áp dụng cho tất cả hoạt động gây ô nhiễm như sử dụng 19

Sterner, 2003, Policy Instruments for Environmental and Natural Resource Management. Resources for the Future, Washington

29


năng lượng, hoạt động gây ô nhiễm, sử dụng tài nguyên, sử dụng các phương tiện giao thông. Tổng số thuế môi trường thu được hàng năm của Thụy Điển trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1998 được thể hiện trong bảng 2 dưới đây. Bảng 1. Thuế môi trường ở Thụy Điển từ năm 1993 đến năm 199820 (triệu SEK ) Các

loại 1993

1994

1995

1996

1997

1998

thuế Năng lượng

39,017 42,043

44,161

49,733

49,352 52,652

Ô nhiễm

582

566

682

753

551

508

Giao thông

8,119

5,852

5,798

6,721

6,451

6,336

70

131

142

59,273

58,482 61,636

Tài nguyên Tổng

49,711 50,455

52,636

Tại Ba Lan Ba Lan đã áp dụng kết hợp các công cụ kinh tế để giảm lượng ô nhiễm và hỗ trợ tài chính cho công tác xử lý ô nhiễm. Thuế phát thải đối với sulphur của Ba Lan trong thời gian từ năm 1990 đến năm 1996 dao động trong khoảng từ 60 ÷ 100 USD/tấn SO2. Việc áp dụng công cụ thuế phát thải ở Ba Lan đã thành công trong việc khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh giảm ô nhiễm đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách nhằm đầu tư xử lý ô nhiễm. Tại Indonesia Năm 1980, Chính phủ Indonesia đã bắt đầu đánh thuế phí tái trồng rừng (reforestation fee) với mức thuế là 4 USD/1m3 đối với các hoạt động đốn gỗ. Đến năm 1989, mức phí này tăng lên 7 USD/ 1m3 và 22 USD/1 m3 vào năm 1997. Với tiền phí thu được, quỹ sử dụng để tái trồng rừng và thúc đẩy các hoạt 20

Glenn-Marie Lange, 2003, Policy Applications of Environmental Accounting

30


động bảo vệ rừng. 1.1 Nhóm công cụ tạo lập thị trường 1.1.1 Chi trả dịch vụ môi trường (chi trả dịch vụ sinh thái) Theo báo cáo đánh giá hệ sinh thái (2005) do Liên Hiệp Quốc tài trợ để đánh giá tình trạng hệ sinh thái trên thế giới. Bản báo cáo đã đưa ra định nghĩa “Dịch vụ hệ sinh thái là những lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp mà con người hưởng thụ từ các chức năng của hệ sinh thái”. Bản báo cáo đã xác định danh mục các loại hình dịch vụ sinh thái cung cấp như: sản phẩm lương thực, thực phẩm (như lúa gạo, vật nuôi, thủy hải sản...); các cây công nghiệp (như bông, gỗ, gai dầu...); các nguồn dược liệu; cung cấp nguồn nước; điều hòa không khí; điều tiết nguồn nước; hạn chế xói mòn; các dịch vụ văn hóa (bao gồm cả tinh thần và tôn giáo, các giá trị thẩm mỹ, giải trí, du lịch sinh thái...)21... Cũng theo báo cáo, khoảng 60% dịch vụ sinh thái trên thế giới đang bị suy thoái hoặc khai thác, sử dụng không bền vững. Do đó, nhằm mục đích thúc đẩy phát triển hệ sinh thái dựa vào cộng đồng, khôi phục lại những hệ sinh thái bị phá hủy và duy trì việc cung cấp các dịch vụ sinh thái quan trọng dẫn đến việc hình thành công cụ chi trả dịch vụ hệ sinh thái.

21

Living Beyond Our Means; Statement from the board of the Millennium Ecosystem Assessment, http://www.millenniumassessment.org/documents/document.429.aspx.pdf

31


Chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Environment Services-PES) hay còn gọi là (Payments for Ecosystems Services-PES) chi trả dịch vụ sinh thái là công cụ kinh tế sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó22. Đây là cơ chế chuyển giao nguồn tài chính từ những người được hưởng lợi từ dịch vụ sinh thái nhất định cho những người cung cấp các dịch vụ sinh thái. Chi trả dịch vụ sinh thái23 đó là sự giao kèo, ký kết tự nguyện và cùng có lợi giữa những người được hưởng lợi từ hệ sinh thái và những nhà cung cấp dịch vụ sinh thái. Bên cung cấp dịch vụ sinh thái nắm quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ môi trường mang lại những lợi ích cho bên có nhu cầu. Bên được hưởng lợi từ dịch vụ sinh thái sẽ sẵn sàng chi trả một mức giá thấp so với phúc lợi của họ do hệ sinh thái mang lại. Bên cung cấp dịch vụ sinh thái sẵn sàng chấp nhận một mức chi trả cao hơn chi phí của việc cung cấp các dịch vụ sinh thái. Chương trình PES là một ví dụ điển hình của định lý Coase. Theo định lý Coase, ngoại ứng môi trường có thể được giải quyết thông qua thương lượng riêng giữa những người sẵn sàng chi trả để giảm những mối nguy hại về môi trường và những người sẵn sàng chấp nhận các khoản bồi thường cho việc giảm hoạt động mà tạo ra các gánh nặng môi trường. PES góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của dịch vụ hệ sinh thái đó, cải thiện sinh kế bền vững cho những người cung cấp dịch vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn xã hội. Ngoài ra, cơ chế PES còn góp phần hình thành thị trường giá cả cho các dịch vụ sinh thái thông qua việc lượng giá các giá trị của hệ sinh thái, quan hệ mua bán trao đổi giữa người hưởng lợi từ hệ sinh thái đó (người mua) và người cung cấp dịch vụ hệ sinh thái (người bán),

22

Huỳnh Thị Mai, Ban Quản lý tài nguyên nước và đa dạng sinh học, Chi trả dịch vụ hệ sinh tháiGiải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, http://hieuanh.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=126:chi-tr-dch-v-h-sinh-thaigii-phap-bo-tn-a-dng-sinh-hc&catid=1:tin-tc, 23 http://en.wikipedia.org/wiki/Payment_for_ecosystem_services

32


từ đó hình thành thị trường chi trả dịch vụ sinh thái và tạo ra nguồn tài chính bền vững để duy trì và bảo tồn các chức năng dịch vụ của hệ sinh thái. PES chia thành 4 loại chính: chi trả cho bảo vệ rừng đầu nguồn (watershed protection); chi trả cho cảnh quan môi trường (landscape beauty); chi trả cho bảo tồn đa dạng sinh học (biodiversity); chi trả cho hấp thụ cacbon (carbon sequenstration). Bảng 2. Các loại cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường Cơ chế

Đặc điểm

Các khu rừng đầu nguồn cung cấp rất nhiều dịch vụ cho xã Chi trả cho bảo vệ hội bao gồm kiểm soát xói mòn đất, duy trì chất lượng nước rừng đầu nguồn và điều chỉnh dòng chảy của nước. Những giá trị này có thể (watershed thu được thông qua nhiều cơ chế khác nhau như thanh toán protection) trực tiếp hay các loại phí sử dụng nước. Du khách tới thăm những cảnh quan thiên nhiên đẹp/những khu bảo tồn, vườn quốc gia lưu trữ các giá trị cảnh quan và đa quan môi trường dạng sinh học. Những giá trị này có thể thu được thông qua (landscape beauty) phí vào cửa hoặc trả tiền cho quyền tiếp cận. Chi trả cho cảnh

Chi trả cho bảo Người dân sẵn lòng chi trả cho việc duy trì và bảo tồn đa tồn đa dạng sinh dạng sinh học của thiên nhiên. học (biodiversity) Chi trả cho hấp Tài nguyên rừng có chức năng sinh thái quan trọng là hấp thụ thụ cacbon cacbon. Nghị định thư Kyoto hạn chế lượng phát thải cacbon (carbon sequenstration)

tạo ra thị trường mua bán giấy phép phát thải khí nhà kính thông qua Cơ chế Phát triển sạch (CDM).

Nguồn: Nguyễn Công Thành (2008) PES được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như Mexico, Canada, các nước Châu Mỹ La tinh, Costa Rica... PES cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại một số nước ở châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam. Đặc biệt là tại 33


Indonesia và Philippines có rất nhiều các sáng kiến về PES liên quan đến dịch vụ sinh thái của rừng đầu nguồn. Một trong những chương trình PES tiên tiến nhất cho đến nay đã được phát triển trên đảo Lombok, Indonesia, được thực hiện bởi tổ chức Quỹ Động vật hoang dã quốc tế (World Wild Fund – WWF) nhằm bảo tồn các khu rừng của MiRinjani. Các khu rừng có vai trò rất quan trọng, đã tạo ra 50.000.000 USD mỗi năm cho sản phẩm ngành nông nghiệp của khu vực, và cung cấp nước sinh hoạt trị giá 14 triệu USD. Đồng thời các hoạt động du lịch sinh thái tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân địa phương. Một nghiên cứu của WWF cho thấy gần như tất cả 43 nghìn hộ gia đình ở khu vực này sẽ đồng ý chi trả khoảng 0,60 USD/tháng cho các hoạt động liên quan đến môi trường. Mục đích của chương trình PES là sử dụng số tiền thu được để chi trả cho việc bảo tồn các khu rừng đầu nguồn của sông Segara và cải thiện điều kiện xã hội của cộng đồng xung quanh. Đề án PES mang lại niềm hy vọng lớn nhằm duy trì việc bảo vệ và quản lý nhiều rừng vì lợi ích của cộng đồng địa phương và bảo vệ môi trường tự nhiên thông qua việc huy động các nguồn tài chính bền vững cho bảo tồn 24. Kết quả thực hiện chi trả dịch vụ môi trường ở một số nước bao gồm: Costa Rica, Mexico, Brazil 25. Tại Costa Rica Costa Rica thực hiện đề án PES chính thức bắt đầu từ năm 1996 với việc sửa đổi Luật Lâm nghiệp và đưa ra các kinh nghiệm đối với các hình thức trợ cấp trực tiếp cho ngành lâm nghiệp. Đề án tập trung vào các dịch vụ môi trường mang tính toàn cầu bao gồm bảo tồn đa dạng sinh học và hấp thụ cacbon. Tuy nhiên, đề án này chủ yếu được tài trợ bởi nguồn thu từ thuế trong nước đối với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Ban đầu có bốn hình thức PES đã được nhận trợ cấp là bảo vệ rừng, quản lý rừng, tái trồng rừng và trồng cây. Từ năm 1997 24

http://www.worldwildlife.org/science/projects/ecosystemserv/item1987.html

25

Herman Rosa, Deborah Barry, Susan Kandel, and Leopoldo Dimas, 2004, Compensation for Environmental Services and Rural Communities: Lessons from the Americas 34


đến năm 2002, chương trình được áp dụng trên hơn 300.000 ha rừng và tổng số tiền thu được vượt quá 80 triệu USD, trong đó 70% số tiền thu được sẽ dùng vào việc bảo vệ rừng. Tại Mexico Tại Mexico, người dân bản địa đa phần sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, 80% diện tích đất rừng thuộc sở hữu của cộng đồng địa phương. Vì vậy, việc quản lý tài nguyên ở Mexico áp dụng phương thức dựa trên cộng đồng bao gồm bảo vệ đa dạng sinh học, lưu trữ cacbon, du lịch sinh thái, môi trường và sản xuất thân thiện. Trong các bang miền nam của Chiapas, ví dụ, hơn 300 nông dân tham gia dự án Scolelte với hình thức thanh toán trực tiếp cho người dân khi họ bảo vệ rừng giúp tăng thu nhập cho họ. Người dân cũng được nhận nhiều ưu đãi đối với các hoạt động liên quan đến khả năng thâm nhập thị trường gỗ và tích hợp hấp thụ cacbon vào sản xuất cà phê hữu cơ hoặc các sáng kiến sinh thái nông nghiệp khác. Tại Brazil So với Mexico, cộng đồng bản xứ tại Brazil sống phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên, vì vậy hoạt động sinh kế của người dân nơi đây đã gây áp lực lớn đến tài nguyên thiên nhiên. Những kinh nghiệm của Brazil liên quan đến việc mở rộng và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng dựa vào việc quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Các khái niệm truyền thống về bảo vệ mà không có người tham gia đang dần nhường chỗ cho quan điểm rộng hơn. Ví dụ, trong vườn quốc gia JAU - một di sản thế giới và công viên quốc gia lớn thứ hai của Brazil - mặc dù có điều luật chính thức cấm các khu định cư trong công viên quốc gia. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý này nhằm di dời cộng đồng bản địa vốn đã có từ lâu đời trong công viên này đã không được triển khai trên thực tế do đó ảnh hưởng đến công tác bảo tồn công viên và cuộc sống của cộng đồng. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng và hỗ trợ sinh kế cho người dân sống trong các khu bảo tồn (như các hoạt động thu hoạch cao su và các sản phẩm gỗ khác) thì phải kết hợp các giải 35


pháp về pháp luật và kinh tế. Theo quy định của nhà nước Acre, ví dụ, theo Luật Chico Mendes, các hiệp hội cao su sẽ chi trả cho người dân một khoản tiền khoảng 0,20 USD/ kg cao su thu hoạch nhằm công nhận vai trò quản lý rừng của người dân và duy trì dịch vụ môi trường. 1.1.2 Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng Giấy phép xả thải là loại giấy phép cấp cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quy định mỗi một đơn vị cụ thể được phép xả thải đến một mức độ nhất định phù hợp với tiêu chuẩn môi trường tại khu vực đó. Việc phân phối giấy phép xả thải thường dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện trạng tác động môi trường của từng doanh nghiệp, đơn vị. Một số đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh muốn thải ra lượng thải lớn hơn lượng thải cho phép được quy định đối với đơn vị, cơ sở đó và một số đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh có mức xả thải thấp hơn lượng thải được phép xả theo qui định. Vì vậy, xuất hiện nhu cầu mua bán, trao đổi, chuyển nhượng giấy phép xả thải giữa các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh trong đó, người mua là các đơn vị cần giấy phép xả thải còn người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép xả thải và hình thành thị trường mua bán giấy phép xả thải. Thị trường này vận hành theo quy luật cung cầu như các thị trường thông thường khác, tuy nhiên hàng hóa giao dịch trên thị trường này đặc biệt hơn các thị trường khác, đó là việc mua bán các chứng chỉ hay giấy phép mang một giá trị nhất định với giá cả được định đoạt theo chủ quan, kỳ vọng và dự báo của các bên tham gia giao dịch26, hay nói cách khác, giá cả của giấy phép xả thải được quyết định trên quan hệ cung cầu của thị trường. Thị trường mua bán, chuyển nhượng giấy phép xả thải cho phép các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh lựa chọn các phương án là mua thêm giấy phép xả thải để tiếp tục thải hay tìm cách cải thiện chất lượng môi trường bằng cách giảm thải, từ đó tạo ra động cơ khuyến khích các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ hạn chế hành vi gây ô nhiễm môi trường. Thông qua việc mua

26

Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình Kinh tế quản lý Tài nguyên và Môi trường, tr.427, Nhà xuất bản Thống kê.

36


bán, trao đổi giấy phép xả thải chất lượng môi trường vẫn được đảm bảo đồng thời cả người mua và người bán đều có lợi. Trong những năm gần đây, việc sử dụng giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng như là công cụ chính sách môi trường dựa trên thị trường đã được các nhà hoạch định chính sách ngày càng quan tâm. Chính sách này cũng đã nổi lên như một công cụ kiểm soát ô nhiễm hiệu quả từ những năm 1970. Giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng đã trở thành một phương pháp tiếp cận môi trường ngày càng được chấp nhận ở nhiều nước. Việc hình thành hạn ngạch phát thải hoặc tổng giấy phép pháp thải phù hợp với khả năng của môi trường là cách thức hiệu quả để kiểm soát ô nhiễm và đảm bảo được mục tiêu kinh tế. Công cụ này áp dụng phổ biến với nước thải và khí thải tại các nước phát triển như Mỹ, Thụy điển, Ba Lan v.v... Ở Mỹ, các chương trình SO2 đã cắt giảm được một lượng đáng kể khí thải SO2 với chi phí thấp hơn dự kiến và đem lại lợi ích về sức khỏe cho con người. Liên minh châu Âu đã thành lập một chương trình giao dịch thương mại cho các khí nhà kính và các nước khác như Áo, Nhật Bản, Chile, Hàn Quốc và New Zealand đang xem xét việc sử dụng các chương trình như vậy để kiểm soát ô nhiễm27.. Việc áp dụng giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng được đề cập ở một số nước như sau: Liên minh châu Âu17 Kế hoạch thương mại khí thải tại Liên minh châu Âu (hoặc EU ETS) là tổ chức có nhiều quốc gia lớn nhất và tham gia mua bán phát thải khí nhà kính tại các nước trên thế giới. Giấy phép phát thải có thể mua bán là một trong những công cụ chính sách của EU để đáp ứng mục tiêu giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính đã đề ra trong Nghị định thư Kyoto. Việc áp dụng mua bán giấy phép phát thải thực hiện tự nguyện tại Vương quốc Anh và Đan Mạch, trong giai đoạn 27

Mohamed Amine Boutaba, Olivier Beaumais, Sandrine Lardic, 2008, Permit Price Dynamics in the U.S SO2 Trading Scheme: a Cointegration Approach - PRELIMINARY VERSION

37


1 vào đầu năm 2005 có 15 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu tham gia, cho đến nay có 25/27 quốc gia thanh viên EU tham gia. Các chương trình cắt giảm CO2 có áp dụng với các nhà máy điện và nhà máy cabon chuyên sâu và bao gồm gần một nửa (46%) thành viên của EU phải cắt giảm. Giai đoạn đầu của chương trình cắt giảm phát thải CO2 cho phép các tổ chức tham gia giao dịch với nhau và trong khoản tín dụng xác nhận thông qua Nghị định thư Kyoto của Cơ chế phát triển sạch. EU ETS sẽ làm tăng lượng phát thải ước tính đạt được trong hai năm hoạt động đầu tiên là 50-100 MtCO2/ năm. Theo một công bố từ Ủy ban châu Âu, đầu năm 2008 Na Uy, Iceland, và Lichtenstein, gia nhập hệ thống thương mại khí thải Liên minh châu Âu (EU ETS). Bộ Môi trường Na Uy cũng đã phát hành bản dự thảo Kế hoạch quốc gia phân bổ chương trình mua bán phát thải cacbon với tổng lượng giao dịch là 15 triệu tấn CO2, trong đó 8 triệu tấn CO2 được thiết lập để bán đấu giá. Theo Báo kinh tế của OECD, một cuộc khảo sát của Na Uy năm 2010, các quốc gia đã công bố mục tiêu từ năm 2008 đến năm 2012 là 10% các quốc gia EU cam kết theo Nghị định thư Kyoto và cắt giảm được 30% so với năm 1990 vào năm 2020. Tại Trung Quốc28 Nằm ở miền Đông Trung Quốc, Giang Tô là một tỉnh có nền kinh tế tương đối phát triển và tổ chức quản lý tương đối hiệu quả. Lượng phát thải khí SO2 trong tỉnh là rất lớn lên đến 1,2 triệu tấn trong năm 2000 và đã gây hiện tượng mưa axit có tác động nghiêm trọng đến khu vực. Để kiểm soát lượng khí thải SO2 và đạt tổng số hạn ngạch TEC (1 triệu tấn) được qui định bởi Chính phủ, Giang Tô đã áp dụng một chương trình mua bán phát thải nhằm thúc đẩy hiệu quả giảm phát thải SO2 trong ngành điện do đây là ngành gây phát thải SO2 lớn nhất trong tỉnh.

28

OECD Headquarters, 2003, OECD Global forum on sustainable development: Emissions trading concerted action ob tradeable emissions permits country - Implementing SO2 Emissions in China by Jintian Yang and Jeremy Schreifels

38


Tại Nhật Bản29 Thành phố Tokyo của Nhật Bản tiêu thụ năng lượng rất lớn và có ngành năng lượng đóng góp giá trị lớn vào GDP. Tokyo tiêu thụ năng lượng nhiều bằng "toàn bộ quốc gia ở Bắc Âu, và sản xuất ra sản phầm tương đương với GDP của 16 đất nước lớn nhất thế giới". Giai đoạn đầu tiên của chương trình cắt giảm phát thải khí nhà kính của Nhật Bản đến 2014, các tổ chức tiêu thụ năng lượng sẽ phải cắt giảm lượng khí thải cacbon xuống còn 6%. Từ năm 2011, những tổ chức hoạt động xả thải khí không tự xử lý hoặc giảm thiểu khí thải của mình sẽ được yêu cầu mua các chứng nhận phát thải khí thải vượt quá hoặc bằng với lượng phát thải cho phép, hoặc bằng cách khác là đầu tư vào Giấy chứng nhận năng lượng tái tạo. Các công ty, tổ chức không tuân thủ sẽ bị phạt tiền. Mục tiêu dài hạn của chương trình cắt giảm phát thải khí là cắt giảm khí thải cacbon của đô thị xuống 25% từ năm 2000 đến năm 2020. 1.2 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường 1.2.1 Đặt cọc hoàn trả Đặt cọc hoàn trả

30

là khoản phụ phí thêm vào trong giá thành sản phẩm

có khả năng gây ô nhiễm môi trường, người tiêu dùng các sản phẩm này phải trả thêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng nhằm đảm bảo cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho các đơn vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy theo cách an toàn đối với môi trường. Nếu thực hiện đúng, người tiêu dùng sẽ được nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hoàn trả lại. Công cụ này nhằm mục đích khuyến khích tái sử dụng là rác thải, tái chế lại rác thải hoặc xử lý rác thải một cách an toàn đối với môi trường. Đây là một trong những công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường thông qua 29

http://en.wikipedia.org/wiki/Emissions_trading Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình Kinh tế quản lý tài nguyên và môi trường, tr. 429, NXB thống kê. 30

39


việc đặt cọc, và hoàn trả các sản phẩm hoặc phần còn lại của sản phẩm cho các trung tâm xử lý, tái chế, tái sử dụng. Công cụ đặt cọc hoàn trả và hệ thống hoàn trả lại nhà sản xuất (take back) là công cụ hiệu quả trong việc tạo ra động cơ làm giảm phát sinh chất thải và tăng cường tái chế, tái sử dụng. Đặt cọc hoàn trả phổ biến ở các nước như Australia, Áo, Canada (Quebec, New Brunswick, British Columbia), Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Hungary, Aixơlen, Ý, Hàn Quốc, Mehico, Hà Lan, Nauy, Ba Lan, Thuỵ Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ… Hệ thống này phù hợp nhất đối với các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng. Áp dụng phổ biến đối với các bao bì (nhôm, thuỷ tinh, nhựa), bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật, vỏ ô tô, lốp và các thùng chứa axit v.v... Phần lớn những hệ thống đặt cọc hoàn trả dựa trên tinh thần tự nguyện. Phổ biến nhất, mềm mỏng nhất là áp dụng cho đặt cọc hoàn trả chai và lon nước giải khát sau khi sử dụng. Tuy nhiên cũng có những hệ thống đặt cọc hoàn trả bắt buộc đối với những chất thải nguy hại. Tại Mexico, ắc quy xe hơi mới không cho phép bán trừ khi ắc quy cũ được trả lại. Công cụ đặt cọc hoàn trả được áp dụng đầu tiên cho tái chế bao gói. Năm 1991, luật đóng gói của Đức ra đời, yêu cầu nhà sản xuất thu hồi và tái chế bao bì sản phẩm. Việc thu hồi này phải được giám sát và báo cáo cho đơn vị chức năng về những kết quả đạt được theo định kỳ. Các nhà sản xuất ở Đức có thể tránh việc tự thu hồi và tái chế bao gói khi doanh nghiệp đảm bảo có những cơ sở tái chế hợp pháp thu gom và tái chế bao bì của họ - thông qua việc đặt nhãn hiệu Green-Dot trên sản phẩm. Đối với những công ty nước ngoài muốn đưa sản phẩm của họ vào thị trường nước Đức thì hoặc là phải nhận lại những bao bì và trả một mức phí thu gom, vận chuyển cao hoặc là có thể giao cho một công ty nào đó của Đức đóng gói sản phẩm với chi phí rất lớn. Hiện nay, hệ thống hoàn trả lại nhà sản xuất còn được áp dụng cho các sản phẩm điện tử, xe ô tô, dầu nhớt thải, sơn thải, dung môi, nhiên liệu, thuốc bảo vệ thực vật, lon nước giải khát, dược phẩm, chất lỏng dễ cháy,… 40


Ở Bỉ, các nhà sản xuất nước giải khát sử dụng lon, chai không thể tái sử dụng sẽ phải trả một khoản thuế sinh thái. Ở Mỹ, tất cả những lon nước giải khát bán trên thị trường đòi hỏi có một hệ thống thu hồi lại và trả quỹ. Phần lớn các bang này cũng yêu cầu các nhà phân phối trả khoảng 20% giá trị của lon chứa như một phần phí xử lý. Ưu điểm của hệ thống đặt cọc hoàn trả là tăng cường mục tiêu bảo vệ môi trường, giảm thiểu vấn đề CTR và việc thải bỏ bằng biện pháp chôn lấp, nâng cao tỷ lệ thu hồi của các chương trình tái chế. Tuy nhiên, các chi phí sẽ gia tăng đối với người tiêu dùng cũng như nhà sản xuất. Tại Canada, hệ thống đặt cọc hoàn trả có tên là hệ thống Encorp đã thu hồi được hơn một tỷ chai lọ (năm 2009). Dòng tiền tệ và sản phẩm của Hệ thống Encorp được minh hoạ trong hình 2 sau đây.

Hình 2. Quy trình thu hồi chai lọ và dòng tiền trong hệ thống đặt cọc hoàn trả của Canada 31

31

http://www.encorp.ca/ar2009/

41


Hệ thống này đã tiết kiệm được năng lượng thông qua hệ thống tái chế các vật liệu thu hồi đồng thời giảm thiểu một lượng lớn khí nhà kính. Các hoạt động của Encorp năm 2009 đã giảm được khoảng 137,000 tấn CO2 thải ra môi trường không khí. Số liệu thống kê của chương trình được trình bày trong (bảng 3).

Hình 3. Số lượng chai lọ thu hồi thông qua hệ thống Encorp của Canada 32 Bảng 3. Năng lượng tiết kiệm và CO2 giảm thiểu thông qua hệ thống đặt cọc hoàn trả Encorp33 Vật liệu

% năng lượng tiết kiệm Lượng CO2 giảm thiểu được từ việc sử dụng tương đương (tấn) nguyên liệu tái chế cho sản xuất (%)

Nhôm

93

79,724

Nhựa

86

21,551

Túi da/ túi hộp

53

1,028

Thuỷ tinh

34

26,526

Kim loại

82

1,036

Bao bì nhựa tổng hợp

53

7,679

Tổng 32 33

137,545

http://www.encorp.ca/ar2009/_pdf/encorp_AR_2009_page4.pdf http://www.encorp.ca/ar2009/

42


1.2.2 Ký quỹ môi trường Ký quĩ/ trái phiếu môi trường34 là khoản tài chính mà các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải nộp/ đặt cọc tại các Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng trước khi tiến hành các hoạt động có thể gây ô nhiễm môi trường nhằm bảo đảm cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường. Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếu doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh gây ra ô nhiễm suy thoái môi trường. Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu doanh nghiệp có các biện pháp chủ động khắc phục không để xảy ra ô nhiễm, suy thoái môi trường đúng như cam kết thì số tiền ký quỹ được hoàn trả lại còn ngược lại nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng như cam kết hoặc phá sản thì số tiền đó được rút ra khỏi tài khoản ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm. Về cơ bản, cơ chế thực hiện của ký quĩ/ trái phiếu môi trường tương tự như hệ thống đặt cọc hoàn trả, nhưng có sự can thiệp sâu của Nhà nước. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, việc qui định ký quỹ nhằm đảm bảo nghĩa vụ bảo vệ môi trường đối với các đối tượng gây ô nhiễm môi trường do Nhà nước qui định bắt buộc. Nơi ký quĩ do Nhà nước quy định cụ thể, thường là các ngân hàng thương mại, kho bạc Nhà nước, nơi các đối tượng ký quĩ có tài khoản giao dịch. Ký quỹ/ trái phiếu môi trường thường được áp dụng trong các ngành kinh tế dễ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng như: khai thác khoáng sản, xây dựng các nhà máy tiềm ẩn mức độ ô nhiễm môi trường cao…và là công cụ kinh tế cần thiết trong quản lý môi trường, tác động trực tiếp đến việc thực hiện trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp thông qua việc khuyến khích họ tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường để nhận lại số tiền đã ký quỹ. Ngoài ra, ký quỹ môi trường còn giúp cho Nhà nước không phải mất 1 khoản tiền trong NSNN chi cho việc đầu tư khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường. Đây là một công cụ kinh tế cần thiết trong quản lý tài nguyên môi

34

Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình Kinh tế quản lý Tài nguyên và Môi trường, tr.431, Nhà xuất bản Thống kê.

43


trường, đóng vai trò tác động trực tiếp đến thực hiện trách nhiệm BVMT ngay sau khi khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân. Sau đây là một số ví dụ về ký quĩ môi trường được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới: Tại Quebec (Canada) 35 Ký quĩ môi trường đã được áp dụng trong ngành khai thác khoáng sản tại Quebec (Canada) từ đầu những năm 1990. Theo quy định của Bộ Tài nguyên và Bộ Môi trường Quebec trong Luật khai thác mỏ thì từ ngày 9 tháng 4 năm 1995, bất kỳ cá nhân tham gia khai thác mỏ hoặc điều hành hệ thống khai thác phải đệ trình kế hoạch phục hồi và một khoản tài chính đảm bảo, chiếm 70% chi phí phục hồi khu vực khai thác. Các doanh nghiệp khai thác mỏ phải thực hiện đầy đủ các thủ tục về bảo hiểm tài chính theo qui định của Chính phủ. Khoản tài chính này có thể ở dạng tiền mặt, trái phiếu, séc, hoặc chứng nhận đảm bảo đầu tư. Khoản tiền hay bảo hiểm được ký quĩ với Bộ Tài chính phải phù hợp với các hoạt động ký quĩ cho tới khi chứng nhận được thu hồi lại. Tuy nhiên, khoản bảo đảm tài chính có thể giảm khi dự án được xem xét lại nếu việc phục hồi được hoàn tất hoặc khoản đảm bảo tài chính có thể tăng nếu người ký quĩ thay đổi các hoạt động khai thác. Bản hợp đồng ký quĩ giữa ngân hàng và chủ dự án phải đảm bảo các điều khoản sau: (a) không cá nhân nào có thể thu hồi hoặc hoàn trả mà không có sự cho phép của Bộ trưởng với mục đích bảo đảm cho các kế hoạch phục hồi được thực hiện đầy đủ; (b) Bộ cần sử dụng một phần tiền bảo đảm để chi trả cho các hoạt động phục hồi cần thiết. Khoản tiền ký quỹ phụ thuộc vào dự án phục hồi và tương ứng với 70% chi phí ước tính đối với việc phục hồi khu vực khai thác. Khoản ký quĩ được sử dụng cho khu vực phục hồi với các mục tiêu: nạo vét lòng hồ bao gồm bùn đáy và cảnh quan hồ, dọn dẹp đá thải, chất thải khai thác, xử lý chất ô nhiễm trong nước hồ.

35

Ministère des Ressources naturelles du Québec and the Ministère de l'Environnement et de la Faune du Québec, 1997, Guidelines for preparing a mining site rehabilitation plan and general mining site rehabilitation requirements.

44


Đối với các dự án thăm dò, khai thác kéo dài một năm hoặc ít hơn, thì khoản ký quĩ phải được thực hiện trong 15 ngày phê duyệt kế hoạch phục hồi vùng khai thác. Nếu các dự án này kéo dài hơn 1 năm thì khoản ký quĩ phải được chi trả hàng năm với lần chi trả đầu tiên tương ứng với chi phí ước tính của việc phục hồi đã được thực hiện hoặc sẽ thực hiện trong suốt 1 năm đó. Mỗi khoản ký quĩ hàng năm phải chi trả tương ứng với chi phí phục hồi ước tính trong năm đó. Đối với các dự án khai thác mỏ, khoản ký quĩ hàng năm của doanh nghiệp được xác lập dựa trên thời gian thực hiện dự án. Doanh nghiệp sẽ được xác lập lịch trình ký quĩ (tối đa là 15 năm) một lần phê duyệt kế hoạch phục hồi. Khi kế hoạch được áp dụng, thì lần chi trả khoản ký quí đầu tiên trong 15 ngày phê duyệt kế hoạch phục hồi. Khi các hoạt động khai thác kéo dài không đến 10 năm, khoản ký quĩ có thể được trì hoãn và bổ sung vào khoản chi trả hàng năm tiếp theo. Không được trì hoãn khoản ký quĩ này quá 2 năm. Khi các hoạt động khai thác mỏ kéo dài quá 10 năm, hai lần chi trả tài khoản ký quĩ liên tiếp có thể được trì hoãn nhưng không quá 3 năm. Tại Philipine36 Ký quĩ môi trường cũng được áp dụng trong lĩnh vực khai thác khoáng sản tại Philipine. Theo Nghị định sửa đổi số 7942 nhằm triển khai thực hiện Luật khai thác mỏ năm 1995 của Philipine, tại điều 13 qui định về khoản ký quĩ mà người khai thác khoáng sản phải chi trả để được thực hiện dự án có nội dung như sau: người ký hợp đồng/ sở hữu giấy phép/ thuê đất sẽ phải chi trả cho Chính phủ một khoản tiền đặt cọc có giá trị tối thiểu bằng 5% giá trị thị trường của toàn bộ sản lượng khoáng sản khai thác hoặc các sản phẩm chế biến không bao gồm tất cả các loại thuế khác. 10% khoản tiền trên và 10% doanh thu khác như quản lý hành chính, vệ sinh, khai thác và các phí liên quan khác được thu từ hoạt động thăm dò, khai thác, phát triển và sử dụng các nguồn tài nguyên 36

http://mines2.tripod.com/sitebuildercontent/sitebuilderfiles/implementing_rules_of_the_mining_act.p df

45


khoáng sản cùng với khoáng sản dự trữ sẽ được Chính phủ quản lý như một quỹ tín dụng và sẽ được ký quĩ vào ngân quĩ của Chính phủ để phân phối cho các dự án đặc biệt và các chi phí hành chính khác liên quan đến thăm dò, khai thác, phát triển và quản lý môi trường khoáng sản. Tại Australia37 Tỉ lệ trái phiếu môi trường ở các khu khai thác mỏ ở phía tây Australia ngày càng gia tăng từ đầu năm 2011, điều đó có nghĩa là chi phí thực hiện các hoạt động thăm dò và khai thác ở bang này cũng đang gia tăng. Từ cuối năm 1980, trái phiếu môi trường được áp dụng tại Tây Australia như là một dạng bảo hiểm nhằm đảm bảo cho khu vực này tránh khỏi các nguy cơ về tài chính trong trường hợp hoạt động khai thác mỏ thất bại trong việc phục hồi môi trường sau khi khai thác. Trái phiếu môi trường được quản lý bởi Cục Môi trường của Bộ mỏ và dầu khí (DMP). Các chủ khai thác khoáng sản phải đảm bảo tuân thủ các qui định về thăm dò, khai thác và cho thuê giấy phép khai thác theo Luật khai thác mỏ 1975. Khoản trái phiếu được ước tính bằng các tiêu chí tối thiểu do DMP ban hành nhằm phản ánh các chi phí phục hồi khai thác khoáng sản. Khoản bảo hiểm khai thác mỏ thông thường được ước tính khoảng 25% tổng chi phí phục hồi, tuy nhiên theo khảo sát về áp dụng trái phiếu môi trường tại Australia vào tháng 11 năm 2006 cho thấy khoản chi phí này chiếm 40 – 50% tổng chi phí phục hồi ước tính. Chính quyền Tây Australia đã can thiệp để cho phép mức rủi ro tài chính cao hơn liên quan đến các hoạt động phục hồi trong khai thác mỏ so với các bang khác. Vào giữa năm 2008, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chính quyền bang đã phải trì hoãn việc gia tăng tỉ lệ trái phiếu để hỗ trợ các yếu tố tài nguyên, vì vậy, đến cuối năm 2009, tỉ lệ trái phiếu môi trường tiêu chuẩn đã được giữ ổn định. Trong điều kiện nền kinh tế vẫn chưa được hồi phục vào cuối 2010, chính quyền vẫn duy trì việc trì hoãn này. 37

http://www.claytonutz.com/publications/newsletters/energy_and_resources_insights/20100906/increa se_in_environmental_bond_rates_for_wa_miners.page

46


1.2.3 Bồi thường thiệt hại môi trường Bồi thường thiệt hại môi trường là công cụ kinh tế áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi gây tổn hại đến môi trường được quy định trong pháp luật. Theo TS. Vũ Thị Hạnh (2007), hiện nay, trên thế giới, tồn tại 2 quan điểm liên quan đến bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm suy thoái môi trường:38 Quan điểm thứ nhất, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường chỉ bao gồm việc bồi thường do những hành vi gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường (như môi trường đất, nước, không khí....) Quan điểm thứ hai, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm cả việc bồi thường do những hành vi gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và những hành vi gây ảnh hưởng đến sức khỏe, thiệt hại về tài sản của cá nhân. Thiệt hại đối với sức khoẻ và tính mạng con người do cơ thể hấp thu hoặc bị tác động bởi các chất độc hại dẫn đến phát sinh các bệnh tật hoặc tổn thương khác. Thiệt hại về tài sản như do tác động của ô nhiễm lên môi trường sống của hệ sinh thái dẫn đến sự suy thoái, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thoái hoá đất… Tại một số quốc gia trên thế giới như Cộng hoà liên bang Nga, Nhật Bản, Australia, thiệt hại do ô nhiễm môi trường đều được quy định trong pháp luật theo quan điểm này. Thiệt hại đối với sức khoẻ và tính mạng con người do cơ thể hấp thu hoặc bị tác động bởi các chất độc hại dẫn đến phát sinh các bệnh tật hoặc tổn thương khác. Thiệt hại về tài sản như do tác động của ô nhiễm lên môi trường sống của hệ sinh thái dẫn đến sự suy thoái, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thoái hoá đất… Ngoài ra ở Australia, thiệt hại còn tính đến khía cạnh văn hoá, tinh thần, do những tác động của các hoạt động gây ô nhiễm dẫn đến sự ảnh hưởng đến môi trường sống làm giảm chất lượng cuộc sống, thay đổi cảnh quan, phá vỡ văn hoá bản địa.

38

Vũ Thu Hạnh, 2007, Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường, Tạp chí khoa học pháp lý số 3

47


Tùy thuộc vào cách thức xác định thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, các nước đều có quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường; phương pháp xác định thiệt hại; cơ quan có thẩm quyền giải quyết; cơ chế, trình tự, thủ tục giải quyết... Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng vấn đề xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường là vấn đề không đơn giản ngay cả ở những nước phát triển, nhất là vấn đề lượng hóa thiệt hại về môi trường theo chức năng, tính hữu ích của mỗi thành phần môi trường khi bị ô nhiễm, suy thoái; thiệt hại về vật chất tính theo chi phí bị mất, chi phí khắc phục hậu quả của thiệt hại, cải tạo môi trường... Theo Chương trình môi trường Liên Hiệp quốc năm 2000 (UNEP), cách thức xác định thiệt hại môi trường được chia làm bốn nhóm bao gồm: (1) Toà án hoặc các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường xác định giá trị tổn thất đối với môi trường; (2) xác định thiệt hại theo phương thức quy đổi một khoản tiền cố định; (3) Viên chức hành chính hoặc chính quyền địa phương xác định giá trị thiệt hại; (4) cách thức khác. Tại Italia và New Zealand thực hiện cách thức thuộc nhóm 1, toà án đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tổn thất39. Trong trường hợp không thể xác định được thiệt hại, sẽ được toà án quy đổi thành một khoản tiền phù hợp để chi phí cho việc phục hồi mà người gây tổn hại phải trả cho bên chịu tổn thất do ô nhiễm, suy thoái môi trường40. Nhóm cách thức thứ hai được áp dụng phổ biến ở các nước Tây Ban Nha, Hungary, Mông Cổ và các nước châu Mỹ La tinh. Tại Tây Ban Nha, giá trị của một loại động vật được định giá từ 2500 peseta lên đến 1,5 triệu peseta (đối với các động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng như gấu, mèo rừng Iberia); cá nước ngọt có giá từ 100.000 đến 500.000 peseta…; tại Hungary, người vi phạm có thể phải trả gấp 10 lần giá trị của những động thực vật đang được bảo vệ đặc biệt bị hủy hoại41 .Tại Đức và Bỉ sử dụng phương thức đánh giá 39

Luật bảo tồn New Zealand, ngày 31/3/1987 Điều 18 Luật số 349 ngày 8/7/1986 về việc thành lập Bộ Môi trường và các quy tắc đối với những thiệt hại về môi trường. 41 Vũ Thu Hạnh, 2007, Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường, Tạp chí khoa học pháp lý số 3. 40

48


thiệt hại khác là phương pháp Koch. Đây là phương pháp sử dụng phổ biến trong việc xác định tổn thất đối với cây cối, các chi phí cần phải bồi thường bao gồm chi phí mua cây mới thay thế, trồng và chăm sóc ban đầu, phòng chống các nguy cơ bật gốc, chăm sóc thường xuyên và tiền lãi từ số tiền chi phí trên42. Ở Nhật Bản, cùng với hệ thống tòa án có thẩm quyền xét xử các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường (bằng việc phạt tù, phạt tiền đối với cá nhân và pháp nhân) thì còn có hệ thống các tổ chức giải quyết tranh chấp môi trường, đứng đầu là Ủy ban Điều phối tranh chấp môi trường (EDCC). EDCC là cơ quan có thẩm quyền thực hiện các chính sách, giải quyết tranh chấp môi trường. EDCC có bảy thành viên được Thủ tướng bổ nhiệm với sự nhất trí của Nghị viện (Quốc hội). EDCC có thể bổ nhiệm các chuyên gia để điều tra các vấn đề về khoa học, kỹ thuật khi cần thiết, đồng thời thành lập các Ủy ban kiểm tra tình trạng ô nhiễm ở cấp tỉnh (PPECs). Các Ủy ban này sẽ tiếp nhận các vụ kiện môi trường, thực hiện các thủ tụ về hòa giải, phân xử, xác định thiệt hại trong các tranh chấp....Vì vậy, các tranh chấp môi trường đã được giải quyết nhanh chóng và chính xác, đảm bảo được quyền lợi của người bị thiệt hại. Hay như ở Mỹ, một trong những căn cứ đề xác định bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật về môi trường là doanh thu bị thiệt hại, chi phí khắc phục thiệt hại. Điển hình như vụ tràn dầu do giàn khoan Deepwater Horizon trên vịnh Mexico của Tập đoàn Dầu khí Anh British Petroleum (BP) bị nổ và chìm thời gian vừa qua, BP phải có trách nhiệm bồi thường cho các chủ tàu cá, thuyền viên, cá nhân và doanh nghiệp bị thiệt hại trong trong việc đánh bắt, kinh doanh hải sản, thậm chí đối tượng được bồi thường còn bao gồm cả các công nhân mất việc do Chính phủ ngưng cấp phép khoan giếng dầu mới, công nhân dọn dầu tràn bị ảnh hưởng sức khỏe. ... Hình thức bồi thường thiệt hại có thể được thực hiện bởi cộng đồng địa phương và có thể tạo ra sự dàn xếp ổn thoả giữa các bên. Biện pháp này tạo ra cơ hội cho ngành công nghiệp có thể tự vận động để thoả hiệp với cộng đồng và 42

Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý- Bộ Tư pháp, Trách nhiệm dân sự do hành vi gây thiệt hại về môi trường, Bản tin Luật so sánh, Số 1/2004.

49


tự cải thiện qui trình vận hành của mình xanh, sạch và năng suất cao hơn. Đặc biệt, bồi thường thiệt hại có tiềm năng tạo ra các tác động tích cực đến môi trường, nếu việc bồi thường được thực hiện thoả đáng sẽ giúp cho việc phục hồi tổn thất môi trường và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiệu quả. Ngoài ra, cách thức này tạo cơ hội cho việc duy trì sự tiện nghi và môi trường tốt cho cộng đồng trong khi các hoạt động khai thác vẫn có thể diễn ra. Điều đó xây dựng mối quan hệ tin tưởng vững chắc giữa cộng đồng và người sản xuất. Các bên liên quan có thể thoả hiệp, chia sẻ quyền lợi để đảm bảo các giá trị và đặc trưng của môi trường được bảo tồn. Hơn thế, bồi thường thiệt hại khiến nhà sản xuất thân thiện hơn với các yếu tố môi trường thay vì chống lại nó. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, bồi thường thiệt hại cũng bộc lộ những nhược điểm như việc xác định thiệt hại và thi hành bồi thường trong thực tiễn thực sự rất khó khăn. Quá trình này không thích hợp với các tổ chức quy mô nhỏ hoặc cá nhân. Cách thức này có thể gây quá tải cho các giá trị của việc phát triển tài nguyên. Trong một số trường hợp, bồi thường thiệt hại có tiềm năng trở thành giải pháp để thoái thác trách nhiệm và là giải pháp thay thế cho các biện pháp tránh hoặc phục hồi các ảnh hưởng môi trường. Điều này trái ngược với nội hàm của bồi thường thiệt hại là nhằm hạn chế tối đa hoặc quản lý các hoạt động gây ảnh hưởng tới môi trường. Hơn thế, bồi thường thiệt hại có nguy cơ làm gia tăng các chi phí của dự án bởi các khoản bồi thường của người tiêu dùng. Đặc biệt, phương thức này có thể bị lạm dụng nhằm phục vụ cho lợi ích của một số nhóm chủ công nghiệp theo chủ nghĩa cơ hội thay vì đền bù cho cộng đồng bị thiệt hại. Môi trường trở thành tài sản mang tính thị trường và việc đền bù có thể không thích đáng với sự huỷ hoại môi trường, và những vùng được bảo vệ có thể sẽ không được duy trì lâu dài. Trên thực tế, một số quá trình bồi thường thiệt hại không được thực hiện rõ ràng, có tổ chức tốt và vượt quá thời gian quy định. Đối với các dự án có quy mô lớn và tác động nghiêm trọng đến môi trường, mặc dù bồi thường thiệt hại cũng được đề cập, nhưng trong một vài trường hợp các giải pháp không được thực hiện dẫn đến nguy cơ suy thoái

50


môi trường không được giải quyết43. Dưới đây là một số ví dụ về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ở một số quốc gia trên thế giới: Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường tại Nhật Bản44 Từ năm 1956, vịnh Minamata, tỉnh Kumamoto của Nhật Bản đã bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi dầu xả chất thải có chứa thuỷ ngân từ quá trình sản xuất của Công ty Nippon Carbide, tiền thân của Công ty Chisso. Cá tại Vịnh chết hàng loạt, và một số loại động vật trên cạn như lợn, mèo cũng bị chết do rối loạn thần kinh. Con người cũng bị ảnh hưởng bởi nguồn nước bị nhiễm độc này. Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ Minamata đã tiếp nhận bệnh nhân đầu tiên mắc chứng bệnh do ô nhiễm này gây ra, gọi là bệnh Minamata. Bệnh gây ra do sự ảnh hưởng của hợp chất thuỷ ngân đến hệ thống thần kinh của con người và động vật. Triệu chứng bệnh biểu hiện như tê liệt tay chân, giảm thị lực, mất trí, bại liệt, bất tỉnh và có thể tử vong. Tính đến tháng 3 năm 2001 có 2.265 nạn nhân đã được xác định là nhiễm bệnh Minamata. Căn bệnh này cũng được phát hiện ở khu vực dân cư sống gần sông Agano, tỉnh Niigata vào những năm 1960. Nguyên nhân gây bệnh ở đây cũng là do ô nhiễm thuỷ ngân bởi cơ sở sản xuất Kanose. Tính đến tháng 3 năm 1999 đã có 690 người nhiễm bệnh Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành đồng bộ các biện pháp về kiểm soát ô nhiễm, trợ giúp người dân, thúc đẩy điều tra, khảo sát nguy cơ ảnh hưởng của chất ô nhiễm đến sức khoẻ người dân sống quanh vùng. Chi phí cho các giải pháp này và thiệt hại gây ra rất lớn. Việc áp dụng công cụ bồi thường thiệt hại đã hỗ trợ rất hiệu quả trong việc cải thiện môi trường và chữa trị cho người dân. Các chi phí thiệt hại đã được chia làm 3 phần bao gồm chi phí thiệt hại về sức khoẻ, chi phí thiệt hại đối với ngành ngư nghiệp và chi phí thiệt hại ô nhiễm vịnh (chi phí dùng cho nạo vét, chôn lấp bùn lắng ô nhiễm tại vịnh). Năm 1973, Toà phán quyết khoản bồi thường gốc hàng năm mà Công ty Chisso phải bồi 43

Renee Murphy, The contribution of environmental compensation to the sustainable development of

resources, Harrison Grierson Consultants Limited Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Huy, 2010, Ô nhiễm môi trường tại Nhật Bản - trường hợp bệnh Minamata, tạp chí môi trường số 10/2010, tr 59 44

51


thường cho các bệnh nhân Minamata là 1,184 tỷ yên. Khoản bồi thường này phải được trả đều trong 30 năm với lãi suất 7% hàng năm. Tổng chi phí bồi thường thiệt hại trung bình năm kể từ sau năm 1974, được tính khoản 7,671 tỷ yên/năm (tình theo giá trị năm 1989). Đối với khoản chi phí bồi thường thiệt hại ô nhiễm vịnh hàng năm được ước tính khoản 4,271 tỷ yên/ năm. Và khoản chi phí bồi thường cho thiệt hại ngư nghiệp hàng năm khoảng 690 triệu yên/ năm. Tổng thiệt hại hàng năm do ô nhiễm gây ra cần phải bồi thường khoảng 12,632 tỷ yên (tính theo giá trị năm 1989). Khoản chi phí này so sánh với khoản chi phí mà các công ty phải bỏ ra khi sử dụng các biện pháp kiểm soát ô nhiễm để không gây ra hậu quả chỉ có 125 triệu yên, thì thực sự là khoản tiền khổng lồ. Bài học này cho chúng ta thấy rõ vấn đề môi trường cần được quan tâm đúng mức để ngăn chặn những hậu quả không thể lường trước. Bồi thường thiệt hại ở Brazil45 Ở Brazil, khi một dự án gây ra tác động đáng kể đến môi trường thì một phần trong tổng chi phí của dự án cần phải được nộp vào quỹ môi trường. Luật liên bang số 9985 ngày 18 tháng 7 năm 2000 về thành lập Hệ thống khu vực bảo tồn thiên nhiên quốc gia có quy định dự án phải chi trả tối thiểu 0,5% tổng kinh phí của dự án vào quỹ bồi thường môi trường khi các dự án gây ra tác động đáng kể đến môi trường. Các văn phòng môi trường có trách nhiệm quản lý những khu vực cụ thể (hoặc vùng) hoặc khu vực bảo tồn có thể được đền bù từ dự án khi bị tác động. Nếu bồi thường được đảm bảo thì văn phòng này cũng quyết định chính xác số tiền bồi thường dựa vào mức độ tác động và các tiêu chí của văn phòng. Theo Nghị định số 4340 ngày 22 tháng 8 năm 2002 nhằm triển khai Luật liên bang số 9985, khoản bồi thường thiệt hại phải được chi trả theo các quy định sau (sắp xếp theo thứ tự ưu tiên): 45

http://www.unep.org/dec/onlinemanual/Enforcement/InstitutionalFrameworks/EconomicInstruments/ Resource/tabid/1016/Default.aspx

52


- Củng cố các vành đai của khu bảo tồn và các hoạt động khác liên quan đến luật đất đai; - Xây dựng, sửa đổi hoặc thực hiện quy hoạch quản lý; - Chi trả cho các thiết bị và phương tiện cần thiết để thực hiện, quản lý, giám sát và bảo vệ vùng đệm và vùng bảo tồn; - Phát triển các nghiên cứu cần thiết nhằm thiết lập các khu bảo tồn mới; - Phát triển các nghiên cứu cần thiết để quản lý khu vực bảo tồn và vùng đệm. Gần đây, tại Brazil đã có nhiều cuộc đàm phán, thảo luận nhằm thành lập Quỹ bồi thường thiệt hại môi trường, đây là sự thay thế cho việc các nhà phát triển và các tổ chức khác phải chi trả trả tiền bồi thường thiệt hại môi trường nhưng không muốn tham gia vào một quá trình thủ tục nhà nước. Quỹ này sẽ được tài trợ bởi tiền trả bồi thường, và khoản tiền này sẽ được chi trả cho việc quản lý, xây dựng và cải tạo các công viên, khu bảo tồn, và các khu vực bảo vệ khác. Quỹ được thành lập dựa trên hai cơ sở là nâng cao hiệu quả đầu tư kinh phí để thực sự mang lại lợi ích khu vực bảo tồn và thúc đẩy việc thực thi pháp luật. Ngân hàng liên bang có trách nhiệm quản lý quỹ. Tất cả các khoản đóng góp cho quỹ sẽ được công khai trong cộng đồng để đảm bảo minh bạch trong quá trình bồi thường thiệt hại môi trường. 1.2.4 Nhãn sinh thái ( Nhãn môi trường) Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đưa ra khái niệm:“Nhãn sinh thái là sự khẳng định, biểu thị thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một bản công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói, trong tài liệu về sản phẩm, tạp chí kỹ thuật, quảng cáo hoặc các hình thức khác”. Đây là một dạng công cụ kinh tế thông qua việc khuyến khích tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường tác động đến nhà sản xuất trong việc thay đổi quy trình công nghệ nhằm đáp ứng được các tiêu chí môi trường, giảm 53


thiểu các tác động môi trường, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm sử dụng nguyên nhiên liệu đầu vào.... Nhãn sinh thái khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất, giúp cho nhà sản xuất có thể tạo dựng hình ảnh và có vị thế trên thị trường vì những sản phầm loại này thường có sức cạnh tranh cao và giá thành cũng cao hơn so với các sản phẩm cùng loại khác. Đồng thời nó cũng thông tin, giáo dục cho người tiêu dùng về những tính năng thân thiện với môi trường của sản phẩm, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường. Vào cuối thập kỷ 90, thị trường hàng hoá mở rộng, tuy nhiên ở các nước phương tây nhu cầu bồi thường, bảo hiểm về môi trường đối với các sản phẩm ngày càng gia tăng do nhận thức của người tiêu dùng được nâng cao. Cộng đồng quan tâm hơn tới việc chia sẻ trách nhiệm bảo vệ môi trường thông qua chi trả cho các hàng hóa ít nguy hại đến môi trường. Nhu cầu người tiêu dùng đối với các sản phẩm “xanh” dẫn đến nhiều dịch vụ quảng cáo “xanh” và các chứng nhận sản phẩm. Có rất nhiều hình thức khác nhau của các chứng nhận từ nội dung không rõ ràng như “thân thiện môi trường” hoặc “tự nhiên” đến cụ thể, rõ ràng hơn như “tái chế” hoặc “không chứa photphat”. Ban đầu ở hầu hết các quốc gia đều không có sự kiểm soát đối với các nhà sản xuất hoặc nhà kinh doanh đối với các chứng nhận của họ. Sự gia tăng nhanh chóng của các chứng nhận môi trường không có nguồn gốc rõ ràng đã khiến cho người tiêu dùng bối rối và hoài nghi. Để cải thiện tình trạng này, các Chính phủ ở một số nước phát triển đã đưa ra hướng dẫn nhằm quy định các chứng chỉ môi trường của nhà sản xuất hoặc kinh doanh và đưa ra những định nghĩa cụ thể đối với những chứng nhận này. Đức là quốc gia đầu tiên đưa ra chương trình nhãn sinh thái có tên là Chương trình Thiên Thần Xanh (Blue Angel Programme) vào năm 1978, đây là chương trình hành động của Chính phủ. Mười năm sau đó, Canada thành lập Chương trình Lựa chọn Môi trường (Environmental Choice Programme). Sau đó hơn 30 chương trình đã được thiết lập. Hầu hết các chương trình đều có dạng giống như ở Đức và Canada (Dạng nhãn sinh thái loại 1). Hơn thế, ở một số quốc gia sử dụng nhãn cảnh báo độc hại bắt buộc hoặc nhãn thông tin. Phổ biến 54


nhất là nhãn cảnh báo độc hại với sức khỏe của các sản phẩm thuốc lá và nhãn đầu lâu xương chéo đối với các thuốc độc hại

46

. Năm 1989, tại Mỹ, chương

trình “Con dấu xanh” (Green Seal) do một tổ chức phi Chính phủ thành lập, chương trình phát triển tiêu chuẩn sản phẩm bền vững dựa trên chu trình sản phẩm, dịch vụ và các công ty và đưa ra chứng nhận của bên thứ ba cho những sản phẩm đáp ứng các tiêu chí trong tiêu chuẩn. “Con dấu xanh” đã được chủ động xác định và thúc đẩy tính bền vững trên thị trường, và giúp các tổ chức được “xanh” hơn47. Đến năm 1991, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đã quan tâm đến ý tưởng về nhãn sinh thái này và thành lập Phân ban kỹ thuật ISO/TC207/SC2 về nhãn sinh thái nhằm xây dựng tiêu chí chung mang tính quốc tế. Trong bối cảnh đó, năm 1992 Nhãn sinh thái Châu Âu (European Ecolabel) được thành lập cũng với mục tiêu khuyến khích các doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Biểu tượng bông hoa đã được dán thí điểm cho hai sản phẩm đầu tiên là giấy mỏng và chất phụ gia cho đất48. Trước sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của các loại nhãn sinh thái trên thế giới, năm 1994, Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (Global Ecolabelling Network - GEN) được thành lập. Đây là tổ chức phi lợi nhuận với mục tiêu đào tạo, hỗ trợ các thành viên và các chương trình nhãn sinh thái khác, các bên liên quan và người tiêu dung thông qua việc cải thiện, thúc đẩy và phát triển sản phẩm dán nhãn sinh thái trên toàn thế giới. Tổ chức cũng là đầu mối hợp tác, trao đổi thông tin và hài hòa các mối quan hệ giữa các thành viên, tạo điều kiện tiếp cận thông tin về tiêu chuẩn nhãn sinh thái trên khắp thế giới. GEN khuyến khích tiêu dùng và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ môi trường Đến nay, tổ chức GEN đã có 26 quốc gia thành viên.

46

Institute for Environmental Studies The Hong Kong University of Science and Technology, 1997, Development of an eco-label certification programme for Hong Kong, 47 http://www.greenseal.org/AboutGreenSeal.aspx 48 http://ec.europa.eu/environment/ecolabel/

55


Nhãn sinh thái ngày càng phổ biến trên toàn cầu, có khoảng hơn 40 chương trình nhãn sinh thái đã chính thức được công bố hoặc đang được xây dựng. Năm 2003, ý tưởng này đã được Chính phủ các nước đưa ra thảo luận tại Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg về phát triển bền vững. Nhãn sinh thái đã thực sự trở thành một hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật mang tính bắt buộc, thống nhất quốc tế với mục tiêu đảm bảo quyền lợi chung của cộng đồng toàn thế giới, tạo nên môi trường sinh thái bền vững, phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua việc cung cấp đầy đủ các thông tin về đặc tính môi trường của sản phẩm từ đó nâng cao nhận thức thay đổi hành vi trong hoạt động bảo vệ môi trường của người tiêu dùng cũng như người sản xuất. Theo kết quả điều tra trên 340 nhãn sinh thái của 42 quốc gia trên thế giới tính đến tháng 11 năm 2009

49

, có đến 58% chương trình nhãn sinh thái được

điều hành bởi các tổ chức phi lợi nhuận hoặc vì lợi nhuận và chỉ có 8% chương trình do Chính phủ điều hành. Dưới đây là sự phát triển của một số chương trình nhãn sinh thái trên thế giới: Nhãn sinh thái Châu Âu: Nhãn sinh thái châu Âu đã được Hội đồng Bộ trưởng môi trường châu Âu thông qua theo Quyết định số 880/92 ngày 23 tháng 3 năm 1992, bao gồm các sản phẩm tẩy rửa, giấy, dệt, các sản phẩm trong nhà và làm vườn, thiết bị, chất bôi trơn và các dịch vụ như nhà ở du lịch. Trong khi nhãn sinh thái châu Âu có biểu tượng hình bông hoa rất đơn giản, nhưng các tiêu chí đặt ra rất chặt chẽ. Nhãn sinh thái được cấp cho một sản phẩm hoặc dịch vụ không chỉ dựa trên một yếu tố đơn thuần mà thông qua quá trình nghiên cứu, phân tích tác động của sản phẩm hoặc dịch vụ trong vòng đời của nó, bắt đầu từ khai thác nguyên liệu thô trong giai đoạn tiền sản xuất, đến sản xuất, phân phối và thải bỏ. Một số điều kiện sản phẩm hoặc dịch vụ cần đạt được như: có số lượng lớn được bán trên thị trường, có ít nhất một giai đoạn trong toàn bộ vòng đời có tác động đến môi 49

World Resources Institue and Big Room Inc, 2010, Global ecolabel monitor towards transparency

56


trường, có tiềm năng cải thiện môi trường khi được tiêu dùng cũng như khuyến khích nhu cầu được cấp nhãn sinh thái của nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ. Biểu tượng bông hoa của nhãn sinh thái châu Âu đã giúp các nhà sản xuất, nhà bán lẻ và cung cấp dịch vụ đạt tiêu chuẩn tốt, đồng thời giúp người tiêu dùng có những lựa chọn đáng tin cậy. Đây là một phần trong kế hoạch hành động trên qui mô lớn của chính sách “Sản xuất và tiêu dùng bền vững” được thông qua bởi Uỷ ban châu Âu vào ngày 16 tháng 7 năm 2008. Uỷ ban châu Âu

Hội đồng nhãn sinh thái châu Âu

Cơ quan có thẩm quyền

Ban Diễn đàn tư vấn

Hình 4. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Nhãn sinh thái châu Âu50 Nhãn sinh thái châu Âu nhanh chóng trở thành một thương hiệu quốc tế. Các nhà sản xuất muốn bán sản phẩm của họ trên khắp thị trường châu Âu đã thực sự nhận ra những lợi thế cạnh tranh mà nhãn sinh thái châu Âu mang lại. Sản phẩm mang logo hình bông hoa có thể được tiếp thị trên toàn Liên minh châu Âu (bao gồm 15 quốc gia thành viên) và 03 quốc gia EEA (Na Uy, Iceland và Liechtenstein). Đến đầu năm 2010, đã có hơn 1000 nhãn sinh thái châu Âu được cấp cho 26 chủng loại sản phẩm, trong đó dịch vụ du lịch chiếm 37% tổng số giấy chứng nhận. Ý và Pháp là hai quốc gia có số chủ sở hữu nhãn sinh thái lớn nhất, với 331 và 203 giấy phép tương ứng. Đứng thứ ba là Tây Ban Nha và Đức với hơn 60 giấy phép. 50

Nguyễn Hữu Khải, 2005, Nhãn sinh thái đối với hàng hóa xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, NXB Lý luận chính trị

57


Hình 5. Sự phát triển về số lượng nhãn sinh thái châu Âu được cấp từ năm 1992 đến 2010 (tình đến 30/7/2010)51 Mặc dù, chương trình này chưa có số lượng thống kê về những kết quả về sự cải thiện môi trường, song một số sản phẩm được dán nhãn sinh thái châu Âu đã thể hiện rõ sự giảm thiểu tác động xấu tới môi trường. Ví dụ, năm 1993, việc phát thải chất Clo trong quá trình làm trắng bột giấy giảm từ 175.000 tấn xuống còn 10.000 tấn, quá trình sản xuất giấy giảm 11% việc phát thải SO2, giảm 21% COD, giảm 50% AOX. Sản phẩm sơn được dán nhãn giảm 78% việc phát thải khí CO, 58% NOX, 64% CxHx so với sản phẩm sơn cùng loại52 . Nhãn sinh thái của Mỹ (Con dấu xanh – Green Seal) 53 Chương trình “Con dấu xanh” là một trong những chương trình tiên phong trong việc thúc đẩy nền kinh tế bền vững tại Mỹ. Năm 1989, “Con dấu xanh” được thành lập với tư cách là một tổ chức phi Chính phủ độc lập có mục tiêu hỗ trợ người tiêu dùng tìm thấy được những sản phẩm thực sự xanh. Hiện nay, chương trình này cung cấp tiêu chí và hướng dẫn cho các nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ hướng tới tính bền vững trong sản phẩm và dịch vụ. “Con dấu xanh” có 30 tiêu chuẩn đã ban hành cho hơn 193 loại sản phẩm và dịch vụ. 51

http://ec.europa.eu/environment/ecolabel/about_ecolabel/facts_and_figures_en.htm

52

Nguyễn Hữu Khải, 2005, Nhãn sinh thái đối với hàng hóa xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, NXB Lý luận chính trị, tr.100. 53

Nguyễn Hữu Khải, 2005, Nhãn sinh thái đối với hàng hóa xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, NXB Lý luận chính trị, tr.101

58


Đối tượng tập trung đầu tiên của Chương trình “Con dấu xanh” là nội dung mua sắm của người tiêu dùng. Chương trình xây dựng các hướng dẫn mua sắm cho cộng đồng thông qua việc khuyến cáo và chứng nhận các sản phẩm hoặc dịch vụ thân thiện môi trường qua các tờ rơi, tạp chí, quảng cáo. Những thông tin này được thu thập vào biên soạn thành “Báo cáo lựa chọn xanh” phát hành hàng năm. Sau đó, chương trình tập trung hơn vào các tổ chức mua sắm bởi tầm ảnh hưởng rộng lớn của các tổ chức này. Đặc biệt tập trung đối với các tổ chức nhà nước từ trung ương tới địa phương nhằm cung cấp các thông tin hữu ích về các sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường, từ đó tạo ra sự ảnh hưởng đáng kể đến các chính sách thị trường. Hơn thế, chương trình đã tác động lớn đến ý thức và xu hướng tiêu dùng của người dân cũng như các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ, tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Chương trình cũng đã nỗ lực hài hoà với một số chương trình nhãn sinh thái quốc tế như nhãn sinh thái châu Âu. Trong số các chứng nhận được cấp, “Con dấu xanh” cũng được cấp cho một số nhà sản xuất nước ngoài như Canada (công ty sản xuất giấy in, thiết bị vệ sinh và dầu máy), Nhật Bản (công ty sản xuất hệ thống sưởi ấm), Hàn Quốc (công ty sản xuất các sản phẩm tẩy trắng). Hội đồng Con dấu xanh

Chương trình đối tác xanh

Bộ phận tư vấn mua sắm

Bộ phận tư vấn thiết kế sản phẩm

Uỷ ban tiêu chuẩn môi trường

Uỷ ban các bên

Sản phẩm, dịch vụ

Hình 6. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Con dấu xanh54 54

Nguyễn Hữu Khải,2005, Nhãn sinh thái đối với hàng hóa xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, NXB Lý luận chính trị, tr.102

59


Nhãn môi trường của Trung Quốc: Tại Trung Quốc, từ năm 1993, chương trình Nhãn môi trường (China Environmental Labelling Program) được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Quốc gia (State Environmental Protection Administration of China, viết tắt là SEPA, nay là Bộ Môi trường) thông qua và tiến hành triển khai. Sự ra đời này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và đúc rút kinh nghiệm từ chương trình “Thiên thần xanh” ở Đức và Nhật Bản. Vì vậy, chương trình nhãn môi trường ở Trung Quốc tập trung vào hai mục tiêu định hướng thị trường: (1) Nâng cao nhận thức môi trường của cộng đồng và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng nhằm biến khoản tiền tiêu dùng của người dân trở thành những lá phiếu cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; và (2) Tăng cường năng lực cạnh tranh thị trường của các doanh nghiệp Trung Quốc thông qua việc sản xuất nhiều hơn và tốt hơn các sản phẩm xanh55. Đến tháng 5 năm 1994, Ủy ban Quốc gia Trung Quốc về chứng thực các sản phẩm được gán nhãn môi trường (China’s Certification Committee for Environmental Product Labeling, gọi tắt là CCEL) chính thức được thành lập với tư cách là bên thứ 3 đại diện cho Chính phủ. CCEL có chức năng bao gồm (1) đầu tư cho sự phát triển phù hợp và kịp thời của nhãn môi trường cả trong và ngoài nước; (2) đề xuất phương thức và hướng dẫn hệ thống chứng nhận của các sản phẩm dán nhãn môi trường, (3) quảng bá nhãn môi trường Trung Quốc và cải thiện sản phẩm, giải quyết các cá nhân hoặc đơn vị sai phạm, (4) thúc đẩy hợp tác quốc tế. Uỷ ban này chịu sự giám sát của Văn phòng Giám sát Công nghệ Quốc gia Trung Quốc 56. CCEL hoạt động phối hợp cùng với các cơ quan, bộ ngành khác và báo cáo định kỳ cho SEPA về kết quả hoạt động của chương trình. SEPA cũng thành lập một ban thư ký để hỗ trợ CCEL hoạt động tốt (bao gồm cả việc xem xét hồ sơ đăng ký, tổ chức đánh giá và cho phép sử dụng

55

China’s Certification Committee for Environmental Product Labeling, 2003, “Ecolabelling: Trade Opportunities & Challenges World Trade Organization Public Symposium Challenges Ahead on the Road to Cancun” 56 http://www.sepacec.com/cecen/labelling/newpage/200510/t20051010_94152.htm

60


nhãn)57. Nhìn chung, các tiêu chí đánh giá của chương trình thường là chỉ dựa vào một vài yếu tố quan trọng nhất ví dụ như tỷ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế, sử dụng ít CFC đối với tủ lạnh, xăng không chí, sơn không pha nước và pin không thủy ngân. Năm 2003, Chương trình nhãn môi trường của Trung Quốc đã ban hành gần 60 tiêu chuẩn chứng nhận, trong đó 47 chứng nhận đến nay vẫn còn hợp lệ. Trên cơ sở giám sát chặt chẽ, kiểm tra hàng năm và loại bỏ hiệu lực các chứng nhận đối với những sản phẩm không còn đảm bảo tiêu chí của chương trình, từ năm 1994 đến tháng 5 năm 2003, đã có 527 doanh nghiệp với 3.426 sản phẩm được chứng nhận mang nhãn môi trường (bảng 4) 58. Bảng 4. Số liệu thống kê về thành viên được cấp chứng nhận nhãn môi trường của Trung Quốc từ năm 1994 đến 200259 Năm

Số thành viên mới

Số thành viên bị bãi bỏ chứng nhận

1994

2

1

1995

10

6

1996

27

14

1997

41

22

1998

42

5

1999

49

0

2000

55

2

2001

97

0

2002

219

0

Từ năm 2001, số doanh nghiệp được dán nhãn của chương trình mỗi năm đã tăng gấp đôi. Tại các tỉnh có kinh tế phát triển như Quảng Đông, Thượng Hải, Chiết Giang, Tô Châu, Giang Tô, Sơn Đông…, số doanh nghiệp được dán 57

Trung tâm Môi trường và Phát triển Cộng đồng, 2009, Báo cáo cơ sở khoa học xây dựng tiêu chí cấp nhãn xanh Việt Nam cho ba nhóm sản phẩm: xà phòng, bóng đèn compact, bao bì 58 China’s Certification Committee for Environmental Product Labeling, 2003, “Ecolabelling: Trade Opportunities & Challenges World Trade Organization Public Symposium Challenges Ahead on the Road to Cancun” 59 China’s Certification Committee for Environmental Product Labeling, “Ecolabelling: Trade Opportunities & Challenges World Trade Organization Public Symposium Challenges Ahead on the Road to Cancun”, 6/2003

61


nhãn môi trường chiếm đa phần trong tổng số doanh nghiệp của cả nước (với 8 tỉnh có số doanh nghiệp chiếm 78% tổng số doanh nghiệp). Tính đến tháng 6 năm 2004, hơn 800 loại sản phẩm từ gần 700 doanh nghiệp được chứng nhận nhãn môi trường ở Trung Quốc, trong đó giá trị sản lượng hàng năm đạt khoảng 6 tỷ nhân dân tệ60. Nhãn môi trường thực sự bùng nổ ở quốc gia này. Trên cơ sở tích hợp các cơ quan chứng nhận môi trường với nhau, đến tháng 9 năm 2003, Công ty trách nhiệm hữu hạn liên hiệp trung tâm chứng nhận môi trường (China Environmental United Certification Center Co., Ltd, viết tắt là CEC) thuộc SEPA đã được thành lập. Công ty có chức năng đẩy mạnh thực hiện các quy định nhằm cải thiện kỹ thuật và chất lượng của các chứng nhận được cấp bởi SEPA, đảm bảo các nhãn môi trường được quản lý, giám sát chặt chẽ, hợp tác với CCEL trong việc phổ biến và thực hiện đúng những quy định của nhãn môi trường. Việc ghi nhãn môi trường được kết hợp chặt chẽ với hệ thống quản lý môi trường, hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống quản lý an toàn lao động và hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế ISO14020. Đây thực sự là công cụ hiệu quả nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm Trung Quốc trên thị trường thế giới61. Bộ Môi trường (SEPA)

Uỷ ban chứng thực sản phẩm dán nhãn môi trường (CCEL)

Công ty trách nhiệm hữu hạn liên hiệp trung tâm chứng nhận môi trường (CEC)

Hình 7. Cơ cấu tổ chức các cơ quan quản lý nhãn môi trường Trung Quốc62

60

http://www.sepacec.com/cecen/labelling/achievements/200406/t20040629_94146.htm http://www.sepacec.com/cecen/labelling/newpage/200510/t20051010_94152.htm 62 http://www.sepacec.com/cecen/labelling/newpage/200510/t20051010_94152.htm 61

62


Việc ra mắt thành công của nhãn môi trường đã có hiệu quả thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các loại thực phẩm xanh tại Trung Quốc, cải thiện hành vi môi trường của các doanh nghiệp trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, chương trình đã hỗ trợ hướng dẫn cộng đồng xu hướng tiêu thụ lành mạnh cũng như phát triển kinh tế xanh. Đặc biệt, chương trình đã đóng góp lớn cho sự phát triển hài hoà giữa môi trường và kinh tế. Đồng thời, nhãn môi trường của Trung Quốc cũng tạo ra ảnh hưởng đáng kể ở trong và ngoài nước, tích cực thúc đẩy thương mại quốc tế của ngành công nghiệp dệt may và dần dần trở thành tấm hộ chiếu xanh cho tiêu dùng và thương mại. 2. Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường Trong khuôn khố nghiên cứu này, chúng tôi đề cập tới ba công cụ hỗ trợ là định giá, lượng giá, hạch toán môi trường nhằm thiết lập các cơ chế, chính sách QLMT phù hợp với nền KTTT. 2.1 Định giá, lượng giá môi trường Hàng hóa và dịch vụ môi trường thông thường là những hàng hóa công cộng, ở một mức độ nào đó việc khai thác và sử dụng loại hàng hóa này bởi nhiều người không làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhau. Tuy nhiên, hàng hóa và dịch vụ môi trường cũng giới hạn về khả năng chịu tải, nếu có quá nhiều người sử dụng loại hàng hóa này sẽ dẫn đến làm giảm lợi ích của người sử dụng. Các hàng hóa công cộng thường gặp phải hiện tượng “người ăn theo– free riders” – tức là con người đều muốn tiêu dùng hàng hóa này nhưng không có động cơ để chi trả cho việc duy trì chúng. Con người đều mong muốn thụ hưởng chất lượng môi trường sống tốt hơn những không muốn chi trả cho việc cải thiện môi trường sống của mình và mong muốn người khác chi trả thay cho mình. Hàng hóa và dịch vụ môi trường thường là những hàng hóa không có thị trường mua bán, trao đổi, không có giá sẵn trên thị trường để làm thước đo cho việc định giá, lượng giá, vì vậy, rất khó xác định được giá trị đích thực và tầm quan trọng của của loại hàng hóa này. Trong 3 chức năng cơ bản của môi trường 63


bao gồm cung cấp tài nguyên, hấp thụ chất thải, làm không gian sống và tạo cảnh quan thì chỉ có chức năng cung cấp tài nguyên là có giá trên thị trường, hai chức năng còn lại chỉ tạo ra giá trị nhưng không có giá cả thị trường. Chính vì không phản ánh được đầy đủ giá trị của nó nên sẽ dẫn đến hiện tượng khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, gây cạn kiệt tài nguyên và làm ô nhiễm, suy thoái môi trường. Ví dụ như một công viên quốc gia được xây dựng để bảo tồn môi trường thiên nhiên, đem lại những giá trị cảnh quan nhưng những giá trị do công viên đó mang lại không được phản ánh trên thị trường. Hay như, ô nhiễm không khí, tiếng ồn do hoạt động giao thông gây suy giảm chất lượng môi trường nhưng phí tổn cho con người thì bị bỏ qua và không được tính đến trên thị trường. Từ đó, dẫn đến thất bại của thị trường, thị trường không thể phân bổ tài nguyên một cách hiệu quả, gây tổn thất phúc lợi xã hội. Chính vì vậy, cần phải hình thành cơ chế, phương pháp để định giá, lượng hóa giá trị của hàng hóa và dịch vụ môi trường. Điều đó góp phần hỗ trợ cho các nhà quản lý tài nguyên và môi trường có thể giải quyết được những tác động của thất bại thị trường thông qua việc đo lường chi phí xã hội cũng như cơ hội, đồng thời có thể đưa ra những chính sách để phân bổ tài nguyên một cách hợp lý. Theo John Dixon (2008) đã đưa ra khái niệm về định giá môi trường như sau: “Định giá môi trường là quá trình lượng hóa các hàng hóa và dịch vụ môi trường dưới dạng tiền tệ mà hầu hết chúng đều không có giá thị trường”. Có thể nói, định giá môi trường là việc vận dụng các phương pháp kỹ thuật để lượng giá các giá trị kinh tế của hàng hóa và dịch vụ môi trường, chẳng hạn như các lợi ích của việc cải thiện chất lượng môi trường nước hay chi phí tổn thất khi sử dụng một khu vực hoang dã để phát triển. * Cơ sở, tiền đề để tiến hành định giá, lượng giá giá trị hàng hóa và dịch vụ môi trường dựa vào khái niệm tổng giá trị kinh tế (TEV- Total Economic Value). Tổng giá trị kinh tế bao gồm giá trị sử dụng và phi sử dụng. Giá trị sử 64


dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên, bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp. Giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị lựa chọn, giá trị tồn tại, giá trị kế thừa.

Hình 8. Sơ đồ về tổng giá trị kinh tế63 TEV = UV + NUV + OV + EV + BV Giá trị sử dụng trực tiếp (UV- Direct Use Value) là những sản phẩm hàng hóa có thể được khai thác, tiêu dùng hoặc được hưởng thụ một cách trực tiếp. Giá trị sử dụng gián tiếp (NUV-Non Direct Use Value) là các dịch vụ do nguồn tài nguyên môi trường cung cấp như: hạn chế xói mòn, điều hòa không khí, giữ, nước… Giá trị lựa chọn (OV- Option Value) là giá trị đem lại từ việc lưu trữ, bảo quản các hàng hóa, dịch vụ để sử dụng tại một thời điểm trong tương lai. Giá trị tồn tại (EV- Existence Value) là giá trị mà một cá nhân hỗ trợ các hàng hóa, dịch vụ môi trường mà bản thân họ, con cháu của họ và những người khác hoàn toàn không trực tiếp sử dụng trong hiện tại cũng như trong tương lai. Những giá trị này là những giá trị nội tại trong tự nhiên, tức là đó là giá trị nằm bên trong 1 cái gì đó. Một số các giá trị tồn tại liên quan đến các thuộc tính của hệ sinh thái như: hỗ trợ cho việc bảo vệ các loài nguy cấp, bảo vệ môi trường môi trường sống cho những loài này. Giá trị kế thừa (BV- Bequest Value) là giá trị xuất phát từ mong muốn 63

John A. Dixon, 2008, Environemental Valuation: Chanllenges and Practices, a personal View.

65


bảo vệ môi trường cho người thân, bạn bè cũng như cho tất cả mọi người khác sống ở hiện tại, và cho cả thế hệ tương lai để họ có thể hưởng lợi từ việc bảo tồn môi trường. * Các phương pháp định giá, lượng giá giá trị hàng hóa và dịch vụ môi trường Phương pháp liều lượng đáp ứng: Môi trường sẽ có sự phản hồi khi có sự thay đổi nào đó đối với một nhân tố đưa vào môi trường như: chất thải, nước thải… Sự phản ứng này tương ứng với mức độ thay đổi tăng dần và làm thay đổi năng suất sản xuất, sức khỏe sinh vật và con người, từ đó làm thay đổi giá trị kinh tế. Phương pháp này được sử dụng để xác định giá trị kinh tế của những thay đổi về sản lượng, năng suất do tác động của môi trường. Phương pháp này thiết lập mối tương quan giữa tác động của môi trường và sự thay đổi về sản lượng, năng suất. Nếu tác động môi trường có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng (như cải thiện chất lượng nước) thì năng suất tăng, sản lượng tăng. Nếu tác động môi trường có ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng, sản lượng giảm (ví dụ như giảm năng suất cây trồng hay sản lượng đánh bắt cá…). Dựa trên giá và mức sản lượng có thể quan sát được trong thị trường, phương pháp này có thể xác định được trực tiếp giá trị kinh tế của những thay đổi. Phương pháp chi phí thay thế (Substitue Cost Method): xem xét các chi phí để thay thế hoặc phục hồi những tài sản môi trường đã bị thiệt hại và giá trị các chi phí này đo lường tác hại của môi trường bị phá hủy (hay lợi ích của việc phục hồi)64.Ví dụ như tác động của ô nhiễm không khí có ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng như cầu đường và nhà cửa. Trong trường hợp ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhà cửa, cầu đường cần phải được bảo trì và sửa chữa thường xuyên hơn. Chi phí cho việc bảo trì, sửa chữa là một phần trong đánh giá kinh tế đối với ô nhiễm không khí. 64

R. Kerry Turner, David Pearce and Ian Bateman, 1999, Environmental Economics: An Elementary Introduction

66


Phương pháp chi phí phòng ngừa (Preventive Cost Method) là phương pháp dùng để xác định chi phí phòng ngừa (chi phí để tránh những thiệt hại nhìn thấy được). Ví dụ như các hộ gia đình có thể mua thêm thiết bị cách âm để bảo vệ gia đình khỏi ô nhiễm tiếng ồn. Khi con người sẵn lòng trả tiền nhằm chống lại những ảnh hưởng có thể xảy ra trong trường hợp môi trường bị suy thoái, những chi phí này có thể được sử dụng là cơ sở tính toán các chi phí tổn thất môi trường gây ra. Các chi phí môi trường thường là chỉ số nhỏ hơn chi phí thực tế (nếu xảy ra), vì các chi phí phòng ngừa bao giờ cũng bị hạn chế bởi mức thu nhập. Phương pháp chi phí cơ hội (Opportunity Cost Method): là phương pháp không đánh giá trực tiếp giá trị của môi trường mà đánh giá gián tiếp thông qua những lợi ích bị bỏ qua hay bị mất đi khi lựa chọn phương án này mà không lựa chọn phương án khác, phương án được lựa chọn khác có thể tốt hơn phương án đã chọn. Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method) là phương pháp sử dụng đường cầu để ước lượng giá trị cảnh quan và vui chơi, giải trí thông qua thời gian và chi phí du lịch. Sự sẵn lòng chi trả của người dân để thăm phục vụ cho mục đích tham quan có thể được ước tính dựa trên số lượng các chuyến đi mà họ có thế tiến hành với các chi phí du lịch khác nhau. Điều này cũng tương tự như việc ước tính sự sẵn lòng chi trả của người dân đối với hàng hóa thị trường dựa trên lượng cầu ở các mức giá khác nhau. Phương pháp đánh giá giá trị hưởng thụ (Hedonic Pricing Method) là phương pháp được sử dụng để ước tính giá trị của môi trường ẩn trong giá thị trường của một số loại hàng hóa dịch vụ thông thường65. Phương pháp này cho biết, giá của một số mặt hàng (ví dụ, tài sản, nhà cửa bay bất động sản khác) có thể bị ảnh hưởng bởi chất lượng môi trường, trong đó thị trường bất động sản bị ảnh hưởng nhiều nhất. Giá nhà có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi một số các yếu tố như giá đất ở bãi chôn lấp rác sẽ có thể thấp hơn giá đất ở khu vực gần đó. 65

Đỗ Nam Thắng, 2010, Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững.

67


Tương tự, giá nhà có thể bị ảnh hưởng bất lợi bởi ô nhiễm không khí. Trong trường hợp này, sự khác nhau giữa giá các ngôi nhà bị ô nhiễm và ngôi nhà không bị ô nhiễm không khí có thể được lấy làm cơ sở để đánh giá giá trị kinh tế đối với tác động của ô nhiễm không khí. Phương pháp đánh giá phụ thuộc vào thị trường giả định (Contigent Value Method - CVM)66 là phương pháp dùng để ước lượng giá trị môi trường thông qua việc phỏng vấn trực tiếp người dân một cách ngẫu nhiên về đánh giá của họ đối với hàng hóa chất lượng môi trường ở vị trí cần đánh giá hay xem xét. Phương pháp này được sử dụng để đánh giá hàng hoá chất lượng môi trường, đặc thù cho nhóm giá trị phi sử dụng. Phương pháp CVM được coi là một phương pháp phát biểu sở thích vì nó tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân để phát biểu những giá trị mà họ đưa ra chứ không phải là đưa ra những giá trị từ những lựa chọn cụ thể như các phương pháp pháp bộc lộ sở thích. Bằng cách xây dựng một thị trường ảo, người ta xác định được hàm cầu về hàng hoá môi trường thông qua sự sẵn lòng chi trả của người dân (WTP) hoặc sự sẵn lòng chấp nhận khi họ mất đi hàng hoá đó (WTA), đặt trong một tình huống giả định. Thị trường không có thực, WTP thì không thể biết trước. Một khi tình huống giả thuyết đưa ra đủ tính khách quan, người trả lời đúng với hành động thực của họ thì kết quả của phương pháp là khá chính xác. CVM được áp dụng cho rất nhiều yếu tố môi trường như chất lượng không khí, giá trị cảnh quan, giá trị giải trí của bãi biển, bảo tồn các loài động vật hoang dã, hoạt động câu cá và săn bắn, phát thải chất độc hại… Phương pháp mô hình lựa chọn (CM- Chocie Modelling)67 cũng tương tự như phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) được sử dụng để ước lượng giá trị kinh tế của dịch vụ môi trường và hệ sinh thái; ước lượng giá trị sử dụng cũng như giá trị phi sử dụng. Phương pháp CM cũng phỏng vấn người dân để đưa ra những lựa chọn

66 67

http://www.ecosystemvaluation.org/contingent_valuation.htm http://www.ecosystemvaluation.org/contingent_choice.htm

68


dựa trên những tình huống giả định, tuy nhiên CM khác so với CVM vì CM không phỏng vấn trực tiếp người dân để phát biểu những giá trị của họ đưa ra dưới dạng tiền tệ mà thay vào đó, những giá trị này được đưa ra từ những lựa chọn giả định hoặc sự đánh đổi. Phương pháp CM phỏng vấn đối tượng được hỏi về phát biểu sở thích giữa một nhóm các đặc tính, dịch vụ môi trường tại mức giá hoặc chi phí cá nhân nhất định với nhóm các đặc tính môi trường tại mức giá và chi phí cố định khác. CM tập trung vào việc đánh đổi giữa các kịch bản với các đặc tính khác nhau. Đặc biệt, nó rất phù hợp với việc đưa ra các quyết định trong việc lựa chọn các phương án có tác động khác nhau đến tài nguyên và dịch vụ môi trường. Ví dụ, cải thiện chất lượng ở hồ sẽ cải thiện một vài dịch vụ mà hồ cung cấp như: cung cấp nước, câu cá, đa dạng sinh học… Định giá, lượng giá giá trị môi trường đã được áp dụng ở hầu hết các nước phát triển, tuy nhiên công cụ này vẫn còn đang là vấn đề khá mới mẻ đối với các nước đang phát triển. Lượng giá giá trị của tài nguyên môi trường nói chung và giá trị của các vườn quốc gia nói riêng đã được tiến hành trên thế giới từ những năm 1970 của thế kỷ XX. Cho đến nay, việc lượng giá tổng thể hoặc từng phần giá trị kinh tế các vườn quốc gia đã trở nên phổ biến tại các nước phát triển và cả các nước đang phát triển nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên tại các khu vực này. Có thể nói, các kết quả của việc lượng hoá kinh tế vườn quốc gia ngày càng trở thành một yếu tố đầu vào quan trọng cho việc hoạch định các chính sách bảo tồn. Thứ nhất, thông tin giá trị kinh tế giúp cho các nhà quản lý tính toán được lợi ích và chi phí của các phương án sử dụng tài nguyên khác nhau, từ đó lựa chọn được phương án phân bổ tài nguyên thích hợp, mang lại lợi ích lớn nhất cho xã hội và cộng đồng. Thứ hai, việc tính toán giá trị kinh tế giúp cho việc lý giải các hạng mục đầu tư cho bảo tồn vì lợi ích chung của xã hội vì nó cho biết lợi ích bằng tiền của công tác bảo tồn. Thứ ba, hiện nay, chi trả cho các dịch vụ môi trường cũng đã trở thành một cơ chế phổ biến tại nhiều quốc gia, trong đó dịch vụ môi trường từ các vườn quốc gia có vai 69


trò then chốt. Để xây dựng được cơ chế chi trả dịch vụ thì không thể bỏ qua được việc tính toán giá trị các dòng lợi ích của môi trường, từ đó đưa ra các mức chi trả và cơ chế phù hợp. Thứ tư, lượng hoá giá trị các vườn quốc gia sẽ giúp cho quá trình hoạch định chính sách phát triển, cụ thể là lựa chọn phương án bảo tồn hay các dự án phát triển. Ngoài ra, thông tin kinh tế về giá trị vườn quốc gia cũng góp phần hoàn thiện cơ sở thông tin dữ liệu của vườn, dữ liệu này nếu được cập nhật thường xuyên sẽ giúp các nhà quản lý có được thông tin đầy đủ và chính xác về vườn và nếu khi có các tai biến, ô nhiễm, suy thoái môi trường xảy ra thì các thông tin này sẽ rất hữu ích giúp xác định được mức thiệt hại, từ đó đưa ra các quyết định quản lý thích hợp. Theo Barbier (1997), hiện nay trên thế giới có ba xu hướng lượng hoá giá trị các vườn quốc gia phục vụ quản lý68: ƒ Lượng giá phân tích tác động (Impact Analysis Valuation): được sử dụng để lượng hoá thiệt hại về suy giảm chức năng và tài nguyên của vườn quốc gia khi có một tác động hay sốc (shock) của bên ngoài như sự cố tràn dầu, ô nhiễm công nghiệp. ƒ Lượng giá từng phần (Partial Valuation): được sử dụng để lượng hoá giá trị kinh tế của hai hay nhiều phương án sử dụng tài nguyên khác nhau tại vườn quốc gia (ví dụ nuôi tôm, du lịch, bảo tồn). ƒ Lượng giá tổng thể (Total Economic Valuation): được sử dụng để lượng hoá phần đóng góp tổng thể của tài nguyên cho hệ thống phúc lợi xã hội. Nói chung, tùy theo điều kiện và yêu cầu quản lý khác nhau mà lựa chọn từng cách tiếp cận khác nhau, các phương pháp luận và kỹ thuật lượng giá giá trị kinh tế của các vườn quốc gia cũng ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, giúp cho việc đánh giá kết quả được chính xác hơn, góp phần đưa ra các quyết định quản lý tin cậy, hợp lý. Kinh nghiệm thế giới cho thấy thông tin về giá trị kinh tế của VQG là một 68

Đỗ Nam Thắng, 2010, Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững.

70


yếu tố đầu vào quan trọng cho việc quản lý hiệu quả các vườn. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là hiện nay chưa có các dữ liệu về giá trị kinh tế của các VQG. Các quyết định sử dụng tài nguyên thường đứng trên quan điểm cá nhân và chỉ tính đến những lợi ích trực tiếp mà VQG mang lại cho cá nhân trong khi các lợi ích tổng thể mà VQG cung cấp cho xã hội thường bị bỏ qua hoặc đánh giá thấp. Từ đó các quyết định phân bổ sử dụng VQG thường không hiệu quả, không mang lại lợi ích lớn nhất cho cộng đồng và xã hội Để bảo về tài nguyên môi trường và hướng tới phát triển bền vững các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu các phương pháp định giá, lượng giá trị của tài nguyên và môi trường để từ đó có thể đưa ra giá trị của tài nguyên của cộng đồng. Lồng ghép các giá trị tài nguyên đó vào các phương án quy hoạch phát triển kinh tế xã hội để đảm bảo phát triển nhưng vẫn đi đôi với bảo vệ bền vững tài nguyên môi trường. Để tiến hành việc định giá giá trị tài nguyên và lượng hóa thiệt hại các giá trị kinh tế của môi trường trên thế giới sử dụng phổ biến các phương pháp sau: phương pháp chi phí cơ hội, phương pháp chi phí du hành, phương pháp định giá ngẫu nhiên, phương pháp chi phí thay thế, phương pháp đánh giá giá trị hưởng thụ, phương pháp chi phí phòng ngừa. Sau đây là một số nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế môi trường trên thế giới: Phương pháp chi phí du lịch TCM có: nghiên cứu của Ram K. Shrestha, Andrew F. Seidl, Andre S. Moraes (2002) về ước lượng giá trị của câu cá giải trí ở Brazil; Nghiên cứu của Md Rumi Shammin (1999) về ước lượng giá trị môi trường của khu bảo tồn động vật Dhaka; Nghiên cứu của ChiaYu Yeh và Brent L. Sohngen (2004) về ước tính nhu cầu giải trí; Nghiên cứu của Liam Carr and Robert Mendelsohn (2003) về đánh giá giá trị của rạn san hô Great Barrier; Nghiên cứu của Susan Menkhaus and Douglas J. Lober (1995) sử dụng để đánh giá giá trị du lịch sinh thái quốc tế của rừng mưa nhiệt đới ở Costa Rica; Nghiên cứu của Himayatullah (2003) về ước lượng giá trị của công viên quốc gia Ayubia; Nghiên cứu của Pawinee IAMTRAKUL Doctoral Student, Kazunori HOKAO Professor, Kardi TEKNOMO Lecturer (2005) về đánh giá 71


giá trị của công viên quốc gia Nhật Bản. Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) có nghiên cứu của Charles Kerchner, Roelof Boumans, and William Boykin-Morris (2008) về ước tính giá trị của dịch vụ sinh thái sông Kol Salmon; Nghiên cứu của Mattias Boman, Anni Huhtala, Charlotte Nilsson, Sofia Ahlroth, Göran Bostedt, Leif Mattson, Peichen Gong (2003) về Áp dụng các phương pháp đánh giá ngẫu trong kế toán Tài Nguyên; Nghiên cứu của Dario Bonato, Sandra Nocera, Harry Telser (2001) về áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên trong vấn đề chăm sóc sức khỏe: Một đánh giá kinh tế bệnh Alzheimer; Nghiên cứu của William M. Fontaa,b1, H. Eme Ichokua, Kanayo K. Ogujiubac and Jude O. Chukwuc (2007) về áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên đánh giá việc nâng cao quản lý chất thải rắn: Dẫn chứng từ BangEnugu , Nigeria; Nghiên cứu của Frederick Blakemore, Allan Williams (2007) về đánh giá giá trị của một bãi biển ở Thổ Nhĩ Kỳ sủ dụng CVM; Phương pháp chi phí thay thế: Nghiên cứu của Katherine, Giovanni Ruta and Maria Sarraf, World Bank (2005) về áp dúng phương pháp chi phí thay thể để ước tỉnh chi phí của suy thoái môi trường; Nghiên cứu Cho Cho San, Corazon L. Rapera(2010) về xác định chi phí phát sinh của đất xói mòn bằng phương

pháp chi

phí thay

thế ở

Hồ đầu

nguồn

Inle,

Nyaung Shwe Township, Myanmar. Phương pháp chi phí cơ hội: Nghiên cứu của James L. Howard (1997) về ước tính chi phí cơ hôi cho các hệ sinh thái bền vững. Phương pháp đánh giá giá trị hưởng thụ (HPM): Nghiên cứu của Aranzini, A.; Ramirez, J.; Schaerer, C.; Thalmann, P., (2008) về áp dụng phương pháp HPM trong việc xác định giá thị trường nhà ở; Nghiên cứu của Matthew E. Kahn (2004) về định giá giá trị môi trường ở khu vực Cross- City áp dụng phương pháp HPM; Nghiên của của V. Komarova (2009) về đánh giá tác động của ô nhiễm không khí tại Moscow bằng phương pháp đánh giá giá trị hưởng thụ; Nghiên cứu của Khorshiddoust, A.M, (2009) về áp dụng HPM đẻ 72


ước tính mối quan hệ giữa các loại dịch vụ, sự ô nhiễm và giá nhà tại các khu vực lựa chọn của Tabriz. Phương pháp chi phí phòng ngừa: Nghiên cứu của trung tâm Kinh tế sức khỏe, Khoa kinh tế, đại học Chulalongkorn, Bangkok, Thái Lan về áp dụng phương pháp chi phí phòng ngừa trong việc đánh giá chi phí sức khỏe thông qua gánh nặng bệnh tật của ô nhiễm nước ở Thái Lan; Sáng kiến quản lý môi trường toàn cầu- GEMI (1994) đã nghiên cứu hiệu quả của chi phí phòng ngừa ô nhiễm thông qua việc lồng ghép chi phí môi trường vào trong quyết định kinh doanh. Sau đây là một số ví dụ điển hình về các quốc gia trên thế giới thực hiện các nghiên cứu về lượng hóa giá trị kinh tế các khu bảo tồn tự nhiên: Canada Các nhà nghiên cứu đã xác định giá trị tồn tại trong dự án xây đập kè và hồ chứa trên sông Alpha Creek thuộc khu vực thảo nguyên Canada nhằm cân bằng nguồn nước phục vụ dân cư và nông nghiệp (Tilden D. Frehs J.,1997). Phân tích tài chính chỉ ra dự án có lãi nhưng không tính đến các tổn thất về cảnh quan, giải trí, nơi cư trú của động vật hoang dã cũng như sự thay đổi khí hậu. Nghiên cứu này đã lượng hóa giá trị của những tổn thất về môi trường nếu tiến hành dự án. Kết quả đã chỉ rõ việc xây dựng hồ chứa đã làm thay đổi đổi dòng chảy tự nhiên của sông; làm biến mất một số loài cá, 11 hecta rừng tự nhiên, 3 loài chim, 500 hecta đất thảo nguyên hoang dã; xây dựng được 600 hecta hồ chứa nước và tạo dựng được 20 hecta đầm lầy nước. Nghiên cứu đã lượng giá bồi thường mỗi năm khoảng 59 đôla cho người dân mà những phương pháp lượng giá khác không thể tìm thấy. Trong tính toán giá trị tồn tại câu hỏi đặt ra là việc xác định số lượng người dân trong phạm vi nghiên cứu. Người dân càng sống xa dòng sông thì giá trị tồn tại của nó đối với con người càng nhỏ. Trong phạm vi nghiên cứu bao gồm 20 ngàn người dân sống trong bán kính 90 phút đi bằng ôtô đến dòng sông nếu đền bù 59 đôla/người/năm thì sự tổn thất của giá trị tồn tại chiếm 1,2 triệu đôla/năm.

73


Châu Phi Các nhà nghiên cứu cũng đã dùng phương pháp CVM để ước tính giá trị kinh tế của đàn sư tử tại vườn quốc gia Pilanesberg thuộc phía Nam Châu Phi (Vorhies D, Vorhies F, 1993). Kết quả cho thấy mức sẵn sàng chi trả để bảo đảm điều kiện sống và nuôi dưỡng sư tử khoảng 63-67 ngàn đôla/năm nhỏ hơn rất nhiều so với lợi nhuận bổ sung khoảng 5-12 triệu đôla/năm. Dựa vào những kết quả chi phí và lợi nhuận đó những công ty du lịch sinh thái đã đầu tư cho vườn quốc gia nhằm bảo tồn loài sư tử. Lợi nhuận thu được trong lĩnh vực du lịch sinh thái đã giúp cho hiệu quả kinh tế của vườn quốc gia tăng lên gấp nhiều lần. 2.2 Hạch toán môi trường Tại Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất năm 1992 ở Rio de Janeiro, cộng đồng doanh nghiệp đã không ngừng nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải đạt tới hoạt động kinh doanh bền vững và giảm các tác động tới môi trường do các hoạt động kinh doanh gây ra. Bên cạnh đó, trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều áp lực trong nội bộ doanh nghiệp, từ Chính phủ, các ngân hàng, các đối thủ cạnh tranh, các hãng bảo hiểm và cộng đồng trong việc thiết kế sản phẩm, các dây chuyền và dịch vụ mạng tính “bền vững” và có “hiệu quả kinh tế - sinh thái”69. Các áp lực này đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến tác động kinh tế và tác động sinh thái trong quá trình sản xuất để xây dựng tạo lập thị trường kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của xã hội và người tiêu dùng ngày càng cao. Các mục tiêu của chiến lược hiệu quả kinh tế - sinh thái - Giảm cường độ sử dụng nguyên vật liệu - Giảm cường độ sử dụng năng lượng - Giảm thiểu sự phát thải chất gây ô nhiễm - Nâng cao khả năng tái sử dụng nguyên vật liệu 69

Nguyễn Chí Quang , 2002, Cơ sở hạch toán môi trường doanh nghiệp

74


- Tối đa hóa việc sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái sinh - Kéo dài tuổi thọ sản phẩm - Nâng cao chất lượng dịch vụ thân thiện với môi trường và hệ sinh thái Công cụ hạch toán quản lý môi trường (EMA) đã được xây dựng đầu tiên tại Na Uy vào những năm 1970 và áp dụng ngày càng rộng rãi ở các nước phát triển. Trong đầu năm 1990, Ngân hàng Thế giới đã tiến hành đánh giá EMA, cung cấp thông tin về tình hình áp dụng EMA trong các doanh nghiệp, các phương pháp đã được sử dụng để xây dựng (Peskin và Lutz, 1990). Sau đó, EMA ngày càng được công nhận như là một công cụ kinh tế hữu ích, và được áp dụng ngày càng phổ biến trong nhiều hoạt động ở cả quốc gia phát triển và đang phát triển. Trong thập kỷ qua, khái niệm và các khía cạnh về kỹ thuật của EMA đã được xây dựng, ngày càng hoàn thiện và áp dụng trong quá trình xây dựng các chính sách phát triển của các doanh nghiệp. Hiệp hội Kế toán thế giới (1998) đã đưa ra khái niệm: Hạch toán quản lý môi trường (Environment Management Accounting) là việc quản lý các hoạt động kinh tế và môi trường trong quá trình phát triển, thực hiện các quy trình, hệ thống hạch toán liên quan đến môi trường một cách phù hợp. Nó có thể bao gồm các báo cáo và kiểm toán ở một số công ty. Hạch toán quản lý môi trường bao gồm các dạng cụ thể như hạch toán chi phí vòng đời của sản phẩm, hạch toán chi phí đầy đủ, đánh giá lợi ích và lập kế hoạch chiến lược về quản lý môi trường”. Hạch toán quản lý môi trường (EMA) được áp dụng dựa trên 2 cấp độ: + Ở cấp độ vi mô: Hạch toán quản lý môi trường được áp dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh để xác định chính xác chi phí sản xuất thực của doanh nghiệp và giá thành của một sản phẩm giúp cho doanh nghiệp có thể phân bổ lại các yếu tố trong quá trình sản xuất nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cũng như bảo vệ môi trường (chủ yếu là hạch toán dòng nguyên vật liệu- năng lượng, vòng đời sản phẩm…) 75


Đây là một bộ công cụ hỗ trợ nhận dạng, thu thập, phân tích các thông tin về tài chính và phi tài chính cho nội bộ doanh nghiệp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động kinh tế và môi trường của doanh nghiệp. Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp đều chỉ nhận dạng được các chi phí môi trường hữu hình chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ các chi phí môi trường (như: chi phí xử lý môi trường, các loại thuế, phí môi trường…), còn các chi phí môi trường bị ẩn đi như: chi phí của nguyên vật liệu bị biến thành chất thải, chi phí năng lượng, máy móc, nhân công trong việc tạo ra chất thải… thì chưa được nhận dạng. Hạch toán quản lý môi trường giúp cho các doanh nghiệp xác định được rõ các chi phí môi trường trong quá trình quản lý, sản xuất kinh doanh, bóc tách được chi phí môi trường thường bị ẩn đi trong các chi phí quản lý hay chi phí sản xuất. Thông qua việc lồng ghép các yếu tố chi phí và thông tin môi trường vào trong những nội dung khác nhau của hệ thống hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp, hạch toán quản lý môi trường giúp cho doanh nghiệp có thể hạch toán được chi phí môi trường vào trong giá thành sản phẩm, xác định được doanh thu thực thu được; từ đó điều chỉnh chiến lược kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiêp mà vẫn đảm bảo được tiêu chuẩn môi trường, nguyên tắc phát triển bền vững. Hạch toán quản lý môi trường doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Hạch toán quản lý môi trường tiền tệ (MEMA) bao gồm: hạch toán chi phí môi trường; chi phí vốn và doanh thu liên quan đến môi trường; đánh giá hiệu quả các quyết định chi phí môi trường liên quan; xác định chi phí vòng đời môi trường và đánh giá sau đầu tư của dự án riêng lẻ; ngân sách hoạt động môi trường tiền tệ và ngân sách vốn môi trường tiền tệ; lập kế hoạch tài chính dài hạn về môi trường; xác định chi phí môi trường phù hợp; đánh giá đầu tư dự án môi trường tiền tệ và dự trù ngân sách cho vòng đời môi trường và định giá mục tiêu. Hạch toán quản lý môi trường phi tiền tệ (PEMA) bao gồm hạch toán dòng nguyên vật liệu và năng lượng; hạch toán tác động chi phí vốn môi trường; 76


đánh giá các tác động môi trường ngắn hạn; đánh giá kiểm kê vòng đời sản phẩm và đánh giá sau đầu tư của dự án đầu tư môi trường phi tiền tệ; quá trình dự thảo ngân sách nhà nước phi tiền tệ của luồng và quỹ vốn; lập kế hoạch dài hạn liên quan đến môi trường phi tiền tệ; các công cụ được thiết kế để dự báo tác động môi trường liên quan; đánh giá đầu tư môi trường phi tiền tệ và đánh giá vòng đời của dự án cụ thể. + Ở cấp độ vĩ mô: hạch toán quản lý môi trường được áp dụng trong phạm vi vùng, quốc gia, để đánh giá mức độ bền vững về mặt kinh tế - xã hội- môi trường, đánh giá quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội…( chủ yếu là hạch toán tài sản môi trường đối với các tài nguyên thiên nhiên) * Những lợi ích khi áp dụng hạch toán quản lý môi trường: + Lợi ích mang lại cho doanh nghiệp: - Cung cấp các thông tin thực tế về tất cả các loại chi phí liên quan đến môi trường (như chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp, chi phí ẩn, chi phí hữu hình) và các thông tin về tất cả các dòng vật chất và năng lượng; giúp cho doanh nghiệp có thể xác định được đầy đủ tất cả các thông tin, các chi phí thực của công ty. - Hỗ trợ cho việc ra quyết định trong nội bộ kinh doanh của doanh nghiệp nhằm hướng tới 2 mục tiêu là cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính và hiệu quả hoạt động bảo vệ môi trường. - Tạo ra những lợi thế mang tính chiến lược cho các doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp nắm được đầy đủ các chi phí thực của công ty bao gồm các các chi phí môi trường bị ẩn đi thì doanh nghiệp đó có lợi thế chiến lược rõ ràng hơn so với doanh nghiệp không xác định được các chi phí đó. - Cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho các cổ đông của công ty, các đối tác kinh doanh, các khách hàng, các bên liên quan làm hài lòng và củng cố lòng tin đối với doanh nghiệp. 77


+ Lợi ích mang lại cho chính quyền: - Càng nhiều doanh nghiệp tiến hành hạch toán quản lý môi trường, lồng ghép chi phí và thông tin môi trường vào trong quá trình sản xuất, kinh doanh thì Chính phủ sẽ mất càng ít các chi phí tài chính, chính trị và các chi phí bắt buộc khác để bảo vệ môi trường. -

Hạch toán quản lý môi trường sẽ góp phần tăng cường hiệu quả của

các chính sách, quy định hiện hành của Chính phủ thông qua việc bộc lộ các chi phí và lợi ích thực về môi trường của các doanh nghiệp. - Chính phủ có thể sử dụng các dữ liệu về hạch toán quản lý môi trường để dự toán, báo cáo các số đo về tài chính và môi trường cho các bên liên quan như: các đối tác kinh doanh, các ngành công nghiệp khác… - Dữ liệu về hạch toán quản lý môi trường hỗ trợ cho việc thiết kế các chương trình, chính sách của Chính phủ. - Dữ liệu về hạch toán quản lý môi trường có thể được sử dụng cho mục đích hạch toán ở phạm vi vùng, quốc gia… Đây là một trong những phương pháp quan trọng có chức năng hỗ trợ công tác quản lý môi trường, tuy còn khá mới mẻ, nhưng hết sức cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay khi áp lực kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp không những chỉ chú trọng đến việc tối thiểu hóa các chi phí sản xuất mà còn phải chú ý đến vấn đề môi trường, sử dụng hợp lý các nguyên liệu đầu vào và tăng tuần hoàn, giảm thiểu lượng chất thải thải ra môi trường, hướng tới mục tiêu kinh doanh bền vững. Do đó, các nhà quản lý và hoạch định chinh sách cần khuyến khích áp dụng các phương pháp hạch toán quản lý môi trường vào trong quá trình quản lý môi trường để nâng cao nhận thức về chi phí môi tường và trách nhiệm môi trường, qua đó gián tiếp khuyến hích các hoạt động về bảo vệ môi trường. Công cụ hạch toán quản lý môi trường được áp dụng trong hầu hết các hoạt động của các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Trên thế giới năm 2001, có 78


khoảng 239.000 cơ sở tham gia vào việc thực hiện hạch toán quản lý môi trường, trong đó các nước có thu nhập cao chiếm 97.5%: các nước Châu Âu (80,6%); các nước Bắc Mỹ (11.9%); còn các nước có thu nhập thấp chỉ chiếm khoảng 0.7%70. Bảng 5. Tỷ lệ (%) áp dụng hạch toán quản lý môi trường ở các cơ sở phân theo vùng (tổng 239 cơ sở) 71

Vùng

Thu nhập thấp

Thu nhập

Thu

trung

nhập

bình

cao

Tổng

Châu Phi

0.0

0.1

na

0.1

Châu Á Thái Bình Dương

0.7

0.8

5.5

7.0

Châu Âu

0.0

0.5

80.1

80.6

Châu Mỹ La tinh và

0.0

0.4

na

0.4

Caribe

na

na

11.9

11.9

Bắc Mỹ

0.0

0.0

0.0

0.0

0.7

1.8

97.5

100.0

Đông Á Tổng

Ghi chú: na có nghĩa là không có dữ liệu Hầu hết ở các nước trên thế giới, tiến hành hạch toán quản lý môi trường dưới các dạng chủ yếu sau: hạch toán tài sản, hạch toán dòng nguyên vật liệu và các chất ô nhiễm (gồm hạch toán dòng vật chất và hạch toán dòng tiền); BVMT và quản lý chất thải.

70

Dick Osborn, Deborah Savage, Maria Fatima Reyes, Tigran Muradian,2002, Images effectiveness, equity and effeciency in the difusion of Environmental Management Acounting, 71 Dick Osborn, Deborah Savage, Maria Fatima Reyes, Tigran Muradian,2002, Images effectiveness, equity and effeciency in the difusion of Environmental Management Acounting,

79


Bảng 6. Chương trình hạch toán môi trường của các nước trên thế giới72 Các nước

Hạch toán tài sản

Hạch toán dòng nguyên vật liệu và các chất ô nhiễm Vật chất

Bảo vệ Môi trường và quản lý chi phí tài nguyên

Tiền

Các nước phát triển Australia

X

X

X

Canada

X

X

X

Đan Mạch

X

X

X

Phần Lan

X

X

X

Pháp

X

X

X

Đức

X

X

Ý

X

X

Nhật Bản

X

X

Na Uy

X

X

Thụy Điển

X

X

Anh

X

X

Mỹ

X

X

X X

X

X

X

X X X

Các nước đang phát triển Botswana

X

Chile

X

Hàn quốc

X

X

X

X

Mexico

X

X

X

X

X

X

Moldova

X X

Namibia

X

X

Philippine

X

X

X

X

X

Colombia Costa Rica Eu-15

72

X

Indonesia

X

Nam Phi

X

X

X

Glenn-Marie Lange, 2003, Policy Applications of Environmental Accounting

80

X


Hạch toán quản lý môi trường được áp dụng cho mọi loại hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như: ở Mỹ, hạch toán quản lý môi trường được áp dụng chủ yếu trong ngành năng lượng, hóa chất; ở Nam Phi là ngành công nghiệp mỏ, Úc là ngành công nghiệp rượu, bia, ngành dịch vụ, ngành lâm nghiệp và chế biến gỗ, Nhật bản là công nghiệp điện tử và công nghiệp thực phẩm, Thái Lan là công nghiệp sữa và chế biến thủy hải sản; ở Philippin là công nghiệp mạ….. Ngoài ra, hạch toán quản lý môi trường đã bắt đầu được ứng dụng trong phạm vi vùng, quốc gia để đánh giá mức độ bền vững về mặt kinh tế - xã hội như ở một số nước Châu Âu đã xây dựng được hệ thống tích hợp hạch toán kinh tế và môi trường và đã ứng dụng vào trong thực tế. Ở Mỹ, Đan Mạch, Úc đã áp dụng hạch toán quản lý môi trường trong hệ thống của chính quyền nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong chiến lược phát triển bền vững. Một số ví dụ điển hình về việc áp dụng hạch toán quản lý môi trường ở một số nước: Hạch toán môi trường tại Công ty thực phẩm Bonlac ở Australia73 Công ty thực phẩm Bonlac sản xuất các sản phẩm từ sữa như bơ, pho mát và sữa bột. Đây là nhà sản xuất sữa lớn nhất ở Australia, với doanh thu hàng năm trên 1 tỷ USD, và xuất khẩu sang hơn 50 quốc gia trên thế giới. Bonlac đã thực hiện các giải pháp đầu tư hiệu quả và cải thiện môi trường như thay đổi các hóa chất sử dụng trong quá trình làm sạch của dây chuyền sản xuất. Việc sử dụng các hóa chất an toàn và thân thiện môi trường dẫn đến sử dụng ít axit hơn trong quá trình làm sạch, tiết kiệm thời gian làm sạch, rút ngắn thời gian sản xuất và giảm lượng nước và điện tiêu thụ, kết quả là tiết kiệm được 97,000 USD/năm so với thời điểm ban đầu. Hệ thống thu gom, tái sử dụng chất thải cũng đã được lắp đặt thêm để thu hồi các chất thải rắn thải ra từ quá trình rửa trong phòng pho mát. Chi phí vốn 73

http://www.ecomall.com/greenshopping/enviroaccount.html

81


của các hoạt động này là 30,500 USD và các khoản tiết kiệm được 100.000 USD/năm, do đó thời gian hoàn vốn ít hơn 4 tháng. Lượng nước thải ít bị ô nhiễm cũng được tái sử dụng nhằm phục vụ cho mục đích tưới tiêu ở các vùng lân cận. Giải pháp này dẫn đến lượng nước thải cần được xử lý giảm 30%. Công ty đã nhận thấy việc giảm thiểu chất thải vào hệ thống thoát nước này không chỉ làm cho các quá trình sản xuất hiệu quả hơn và bảo vệ môi trường, theo đúng khẩu hiệu của công ty “Thực phẩm Bonlac thân thiện môi trường”. Hạch toán môi trường tại các công ty của Ấn Độ74 Ở Ấn Độ hạch toán môi trường trong các doanh nghiệp đã được luật hóa trong các quy định bắt buộc của các doanh nghiệp khi đi vào hoạt động. Hầu hết các doanh nghiệp ở Ấn Độ cung cấp thông tin về vấn đề môi trường trong quá trình kinh doanh rất sơ sài. Theo yêu cầu của luật hiện hành của Ấn Độ quy định các doanh nghiệp phải chuẩn bị và kê khai tất cả các thông tin về môi trường liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Bộ Môi trường Ấn Độ đã ban hành chỉ thị hướng dẫn về việc chuẩn bị và lập báo cáo hạch toán môi trường. Vai trò hạch toán môi trường là hợp phần của hạch tống thể của các doanh nghiệp tại Ấn Độ. Báo cáo hạch toán môi trường bao gồm các nội dung thông tin chính như sau: - Những loại thiết bị được cài đặt và sử dụng để kiểm soát ô nhiễm - Các bước thực hiện để tiết kiệm năng lượng - Các giải pháp thực hiện để tiết kiệm nguyên liệu - Các giải pháp tiến hành quản lý nước thải và chất thải trong quá trình sản xuất - Các giải pháp để cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ, quá trình sản xuất, vv…

74

Mukesh Chauhan, 2005, Concept of Environmental Accounting and Practice in India

82


Một nghiên cứu khảo sát tình hình thực hiện hạch toán môi trường của 80 doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp khác nhau của Tiến sĩ B. B. Padhan và Tiến sĩ R.K. Bal cho thấy các công ty đã nhận thức đầy đủ các yêu cầu về các thông tin hạch toán môi trường và được phản ánh trong báo cáo, tuy nhiên độ tin cậy của các thông tin trong báo cáo chưa cao. Kết quả của báo cáo cho thấy để đảm bảo tiêu chuẩn trong hạch toán môi trường, các doanh nghiệp cần phải dành một khoản kinh phí tương đối lớn để đầu tư công nghệ thân thiện với môi trường, chi phí thuê các chuyên gia môi trường, công nghệ tư vấn lựa chọn các thiết bị, quy trình quản lý các hoạt động có liên quan đến môi trường và lập báo cáo hạch toán môi trường của doanh nghiệp. Qua nghiên cứu ứng dụng hạch toán quản lý môi trường ở các nước trên thế giới ta có thể thấy rằng: Hạch toán quản lý môi trường là một công cụ rất hiệu quả, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý môi trường hướng tới mục tiêu kinh doanh bền vững, đảm bảo cân đối giữa hiệu quả kinh doanh và bảo vệ môi trường. Hạch toán tài sản môi trường ở một số nước: Các phương pháp hạch toán tài sản đã thể hiện những thay đổi trong cổ phần theo thời gian và sự suy giảm của tài nguyên thiên nhiên. Hạch toán tài sản có thể cho thấy những tác động của chính sách nguồn tài nguyên và được sử dụng để thúc đẩy sự thay đổi chính sách. Ví dụ, sự suy giảm đa dạng nguồn cá của Namibia kể từ những năm 1960 đã cho thấy bức tranh tổng thể rõ ràng để các nhà hoạch định chính sách quản lý các hoạt động đánh bắt cá nguy hại.

83


Hình 9. Sinh khối của cá tuyết, cá mòi cơm và, cá ngựa tại Namibia giai đoạn 1963-1999 thông qua hạch toán (hàng nghìn tấn)75 Tương tự phương pháp hạch toán về sự suy giảm (thiệt hại tích lũy) cũng đã được xây dựng cho khu vực rừng ở Philippines, Brazil, Chile, Malaysia, Indonesia, Australia, Canada và nhiều của nhiều nước EU. Các tài sản có giá trị sản xuất hoặc không có giá trị sản xuất cũng được áp dụng công cụ hạch toán để đánh giá diễn biến qua các năm ở Australia, Botswana và Namibia (hình 10).

75

Glenn – Marie Lange, 2003, Policy Applications of Environmental Accounting

84


Hình a: Australia

Hình b: Botswana

Hình c: Namibia

Hình 10. Giá trị tài sản sản xuất và không sản xuất ở Australia, Botswana và Namibia76 Ở cấp độ vi mô, hạch toán quản lý môi trường có thể áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…và áp dụng cho mọi quy mô công ty từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ; các doanh nghiệp lớn đến các doanh nghiệp đa quốc gia. Tuy nhiên, hạch toán quản lý môi trường áp dụng ở mỗi doanh nghiệp sẽ khác nhau căn cứ vào mục tiêu, loại hình doanh nghiệp, quy mô công ty. Từ đó, giúp cho doanh nghiệp nhận dạng và đánh giá chính xác những thông tin tài chính và môi trường theo yêu cầu của từng doanh nghiệp. 76

Glenn – Marie Lange, 2003, Policy Applications of Environmental Accounting

85


Qua nghiên cứu ứng dụng hạch toán quản lý môi trường ở các nước trên thế giới ta có thể thấy rằng: Hạch toán quản lý môi trường là một công cụ rất hiệu quả, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý môi trường hướng tới mục tiêu kinh doanh bền vững, đảm bảo cân đối giữa hiệu quả kinh doanh và bảo vệ môi trường. Hạch toán quản lý môi trường có thể áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…và áp dụng cho mọi quy mô công ty từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ; các doanh nghiệp lớn đến các doanh nghiệp đa quốc gia. Tuy nhiên, hạch toán quản lý môi trường áp dụng ở mỗi doanh nghiệp sẽ khác nhau căn cứ vào mục tiêu, loại hình doanh nghiệp, quy mô công ty. Từ đó, giúp cho doanh nghiệp nhận dạng và đánh giá chính xác những thông tin tài chính và môi trường theo yêu cầu của từng doanh nghiệp. Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới ta thấy, hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển đã áp dụng đa dạng các loại công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nhằm thay đổi chi phí và lợi ích của các hoạt động có ảnh hưởng tới môi trường, đồng thời tăng cường ý thức trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trước việc gây thiệt hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng như: Thuế/phí môi trường, quỹ môi trường, kỹ quỹ môi trường, đặt cọc - hoàn trả, côta môi trường (giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng), trợ cấp tài chính, nhãn sinh thái, định giá tài nguyên và lượng giá thiệt hại môi trường, chi trả dịch vụ sinh thái v.v… Tất cả các công cụ kinh tế khi áp dụng trong quản lý môi trường đều nhằm mục đích hạn chế tối đa chất thải phát sinh ra môi trường, góp phân vào nguồn thu của ngân sách nhà nước, giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên và năng lượng, đặc biệt là các loại tài nguyên khan hiếm không thể tái tạo thông qua việc đánh vào lợi ích kinh tế của các cá nhân và tổ chức nhằm thay đổi hành vi tác động đối với môi trường theo hướng tích cực trong quá trình hoạt động có tác động tới môi trường.

86


Tuy nhiên, mỗi công cụ kinh tế có những ưu nhược điểm riêng trong quá trình áp dụng vào quản lý môi trường. Ở các quốc gia áp dụng thành công các công cụ trong quản lý môi trường trên cơ sở có các điều kiện sau: Nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường thực sự, tức là các hàng hóa và dịch vụ được trao đổi đúng với chất lượng và giá trị vốn có và có tính đến yếu tố chí phí môi trường trong quá trình hình thành mức giá của các hàng hóa dịch vụ theo quan hệ cung cầu; Hệ thống chính sách và các quy định pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, cho phép kiểm soát và điều chỉnh các hành vi của các cá nhân tổ chức hoạt động gây ảnh hưởng xấu hoặc có sử dụng các thành phân môi trường; Các tổ chức quản lý môi trường của từ trung ương đến địa phương được tổ chức chặt chẽ đủ khả năng để thực thi các quy định Pháp luật về bảo vệ môi trường của Nhà nước; Các quốc gia phải có thu nhập bình quân đầu người (GDP) cao để có nguồn tài chính đầu tư cho công tác quản lý môi trường, đồng thời cần tăng cường ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác của các cá nhân đối với công tác bảo vệ môi trường cao. Bên cạnh các ưu điểm về mặt kinh tế và hiệu quả quản lý môi trường khi áp dụng công cụ kinh tế mang lai thì thực tế để áp dụng các công cụ kinh tế cũng gặp rất nhiều khó khăn bới tính chất đặc thù của các thành tố môi trường: Các yếu tố môi trường là các tài sản khó xác định về chất lượng, giá trị tồn tại (yếu tố phi thị trường); Lĩnh vực môi trường có tính chất liên ngành, đa lĩnh vực và đa quốc gia nên rất khó khăn trong việc xác lập quyển sở hữu và xây dựng cơ chế chính sách quản lý; Sự bền vững về mặt môi trường phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động kinh tế, xã hội và sự phát triển của cơ chế thị trường luôn phát triên, vân động không ngừng… II. Thực tiễn triển khai các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại Việt Nam 2.1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước Hiện nay, ở Việt Nam cũng đã xây dựng được một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về thuế/phí môi trường để triển khai áp dụng phù hợp với đặc 87


điểm kinh tế- xã hội của Việt Nam. Cụ thể: a) Thuế môi trường Luật thuế bảo vệ Môi trường được Quốc hội khoá XII thông qua và ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 ngày 01 năm 2012. Luật thuế BVMT quy định cụ thể danh mục 8 nhóm đối tượng phnộp thuế BVMT gồm: xăng, dầu, mỡ nhờn; than đá; dung dịch Hydor- cholorofluoro-carbon (HCFC); túi ni lông thuộc diện chịu thuế; thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng. - Căn cứ tính thuế: là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối. - Phương pháp tính thuế: Số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa + Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau: Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho; đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu. + Mức thuế tuyệt đối để tính thuế được xác định không phụ thuộc vào giá của sản phẩm chịu thuế mà cân nhắc dựa trên mức độ gây ô nhiễm môi trường của sản phẩm thuộc diện chịu thuế, nhằm đơn giản, minh bạch trong thực hiện, bảo đảm ổn định số thu NSNN (không phụ thuộc vào sự biến động của giá cả). Biểu khung thuế BVMT được áp dụng đối với từng nhóm hàng hóa với các mức thuế tuyệt đối tối thiểu và mức thuế tuyệt đối tối đa được quy định trong bảng 6. Các mức thuế tuyệt đối tối thiểu và tối đa được xây dựng theo nguyên tắc phân biệt theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường hoặc chi phí khắc phục hậu quả do sử dụng hàng hóa gây ra. Ngoài ra, Biểu khung thuế này còn căn cứ vào mức thu hiện hành đối với phí BVMT. Cụ thể là, mức thu phí BVMT đối với xăng, dầu đã được ban hành và triển khai thực hiện trước đó theo 88


Nghị định số 78/2000/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về phí xăng, dầu. Theo Nghị định này, đối tượng chịu thuế là các tổ chức, cá nhân kinh doanh xăng, dầu (như nhập khẩu, sản xuất, chế biến xăng dầu) có nghĩa vụ kê khai, nộp phí theo quy định của pháp luật. Mức thu phí theo Nghị định này, đối với xăng là 500 đồng/lít; đối với dầu diezel là 300 đồng/lít và dầu hỏa, dầu mazut và dầu mỡ chưa bị thu phí. Luật thuế BVMT áp dụng đối với 8 nhóm hàng hóa vừa mới ra đời và trong thời tới có hiệu lực trong thực tế. Dự báo trong thời gian tới, khi Luật thuế BVMT có hiệu lực thi hành sẽ góp phần tăng cường trách nhiệm và nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân đối với hoạt động bảo vệ môi trường; khuyến khích sản xuất và tiêu dùng hàng hóa thân thiện với môi trường thông qua việc làm tăng giá các sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây ô nhiễm môi trường để kích thích và điều chỉnh các quá trình sản xuất và tiêu dùng theo hướng bảo vệ môi trường và góp phần tăng nguồn vốn đầu tư cải tạo môi trường.

89


Bảng 7. Mức thuế áp dụng đối với từng nhóm hàng hóa77 Mức thuế Đơn vị (đồng/1 đơn tính vị hàng hóa)

TT

Hàng hóa

I

Xăng, dầu, mỡ nhờn

1

Xăng, trừ etanol

Lít

1.000-4.000

2

Nhiên liệu bay

Lít

1.000-3.000

3

Dầu diezel

Lít

500-2.000

4

Dầu hỏa

Lít

300-2.000

5

Dầu mazut

Lít

300-2.000

6

Dầu nhờn

Lít

300-2.000

7

Mỡ nhờn

kg

300-2.000

II

Than đá

1

Than nâu

Tấn

10.000-30.000

2

Than an-tra-xít (antraxit)

Tấn

20.000-50.000

3

Than mỡ

Tấn

10.000-30.000

4

Than đá khác

Tấn

10.000-30.000

III

Dung dịch (HCFC)

IV

Túi ni lông thuộc diện chịu thuế

kg

30.000-50.000

V

Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng

kg

500-2.000

VI

Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng

kg

1.000-3.000

VII

Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế kg sử dụng

1.000-3.000

VIII Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử kg dụng

1.000-3.000

77

Hydro-chloro-fluoro-carbon kg

1.000-5.000

Luật số 57/2010/QH12 của Quốc hội ngày 15 tháng 12 năm 2010 về thuế bảo vệ môi trường

90


b) Phí môi trường Phí bảo vệ môi trường đánh vào chủ thể gây ô nhiễm nhằm mục đích thúc đẩy các đối tượng gây ô nhiễm giảm thiểu khối lượng chất ô nhiễm thải ra và đóng góp một phần tài chính vào việc xử lý ô nhiễm môi trường. Hiện nay, trong lĩnh vực môi trường đã thực hiện thu phí BVMT đối với nước thải, chất thải rắn và phí BVMT đối với khai thác khoáng sản. *)Phí BVMT đối với nước thải: Phí BVMT đối với nước thải được thực hiện bắt đầu từ năm 2003 với mục tiêu huy động đóng góp tài chính để khôi phục môi trường và khuyến khích giảm thiểu việc xả chất ô nhiễm vào môi trường, sử dụng nguồn nước sạch một cách hiệu quả. Phí BVMT đối với nước thải chia thành 2 loại phí là: phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt, phí BVMT đối với nước thải công nghiệp và được quy định trong các văn bản sau: - Nghị định 67/ND-CP về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được thủ tướng Chính phủ kí ban hành từ giữa tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. - Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định 67 giúp các địa phương áp dụng ngay trong năm đầu tiên. - Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT - Nghị định 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/ND-CP. Nghị định 67/2003/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2004 là công cụ kinh tế đầu tiên được áp dụng ở Việt Nam theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và thể hiện một bước tiến hết sức quan trọng trong công tác quản lý môi trường ở Việt Nam. Tuy nhiên sau 6 năm thực hiện, phí BVMT đối với nước thải vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập. mặc dù đã đạt được những kết quả khá tích cực nhưng quá trình thu và nộp phí nước thải ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều 91


vấn đề khó khăn. Số phí thu được thấp hơn nhiều so với số phí ước tính ban đầu; nhiều doanh nghiệp không chấp hành các quy định quản lý môi trường và nộp phí nước thải, tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải gây ra ngày càng trầm trọng... 78 Phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt: Việc thu phí nước thải sinh hoạt đã được thực hiện vào thời gian đầu năm 2004, nhưng quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Trước khi Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ra đời, việc thu phí nước thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn trong cách thu cũng như quản lý số tiền thu được. Tuy nhiên sau khi ban hành Nghị định số 88/2007/NĐ-CP, việc thu phí nước thải sinh hoạt đã đạt nhiều thành tựu đáng kể, tỷ lệ thu phí nước thải đạt cao, đặc biệt là các thành phố lớn trong cả nước, tỷ lệ đạt trên 85% 79. Đây là một Nghị định quan trọng góp phần thành công trong việc thu và quản lý phí nước thải sinh hoạt hiện nay, góp phần thực hiện tốt quá trình kinh tế hóa trong lĩnh vực nước (nước thải), cụ thể là nước thải sinh hoạt. Số phí nước thải sinh hoạt thu được lên đến 90%, đặc biệt mức thu cao nhất trong cả nước là thành phố HCM, Hải Phòng và một số thành phố lớn khác. Hải Phòng là thành phố có tỷ lệ thu phí nước thải sinh hoạt cao: Theo báo cáo của sở TNMT Hải Phòng, năm 2009 thành phố đã thu được 3 tỷ đồng với mức thu phí 200 VNĐ/m3. Phí BVMT đối với nước thải công nghiệp: Mặc dù quy định về việc thu phí nước thải công nghiệp được nhà nước ban hành Nghị định 67/2003/NĐ-CP và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004 nhưng trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, vì thế hiệu quả thu phí nước thải công nghiệp còn rất thấp, các nhà quản lý còn lúng túng trong cách thu và tính phí, các doanh nghiệp tìm cách trốn tránh và nợ phí. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trước năm 2008 tỷ lệ thu phí nước thải công nghiệp trên 78 79

Nguyễn Mậu Dũng, 2010, Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của Việt Nam và Philippines Tổng cục Môi trường, 2009

92


cả nước đạt từ 15% đến 20%. Theo báo cáo sơ bộ của Cục Kiểm soát ô nhiễm thuộc Tổng cục Môi trường, lượng phí nước thải thu được, được chuyển về trung ương (Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam) đã được 3 lần với tổng số khoảng 40,76 tỷ đồng, Cụ thể: Bảng 8. Tổng nguồn thu từ phí nước thải được chuyển về Quỹ Bảo vệ Môi trường 80 Năm

Tổng lượng phí được chuyển về Trung ương (Quỹ BVMT Việt Nam) (đơn vị: đồng)

2006

475.487.372

16/10/2008

25.842.365.973

23/12/2008

14.442.976.728

Sau 6 năm tổ chức thực hiện Nghị định 67/2003/NĐ-CP, mặc dù đã đạt được những kết quả khá tích cực nhưng quá trình thu và nộp phí nước thải ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều vấn đề khó khăn. Số phí thu được thấp hơn nhiều so với số phí ước tính ban đầu; nhiều doanh nghiệp không chấp hành các quy định quản lý môi trường và nộp phí nước thải, tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải gây ra ngày càng trầm trọng... Năm 2005, thu từ phí nước thải cả nước chỉ có khoảng 75 tỷ đồng (12 triệu USD) trong khi cả nước có tới 300.000 doanh nghiệp với một tỷ lệ lớn không đáp ứng được tiêu chuẩn bảo vệ môi trường81 Làm thế nào để nâng cao kết quả và hiệu quả công tác thu, nộp phí nước thải, qua đó giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang là câu hỏi được đặt ra đối với cơ quan quản lý môi trường của Việt Nam 80

Cục Kiểm soát Ô nhiễm- Tổng cục Môi trường, 2010, Báo cáo thực trạng triển khai công tác thu phí BVMT đối với nước thải tại Việt Nam 81

Viện Chiến lược, Chính sách, Tài nguyên và môi trường, Kinh tế hoá để tăng đóng góp của ngành Tài nguyên và Môi trường cho nguồn thu ngân sách và GDP 93


Đến nay, các ngành chức năng vẫn chưa có một báo cáo hoặc thống kê cụ thể xác định rõ lượng phí nước thải thu được sau khi Nghị định 67/2003/NĐ-CP có hiệu lực, tại các địa phương, đặc biệt là các địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất không có báo cáo hàng năm về lượng phí thu được từ nước thải công nghiệp. Mức thu phí nước thải quá thấp như hiện nay (thấp hơn 30 lần so với các nước phát triển) chưa thực sự gây áp lực đối với các doanh nghiệp trong hoạt động bảo vệ môi trường. Theo Báo cáo của Chi cục BVMT Hà Nội, từ năm 2007 đến 2009 Chi cục nhận được hơn 300 tờ khai về phí BVMT đối với nước thải công nghiệp và đã thực hiện thẩm định số phí BVMT cho các cơ sở đã nộp tờ khai. Tổng số cơ sở đã được thẩm định là 82 cơ sở và tổng số phí đã thẩm định và gửi thông báo nộp phí năm 2009 gần 870 triệu đồng, nhưng Quỹ BVMT chỉ thu được chưa tới 520 triệu đồng, như vậy số phí thu được chỉ đạt xấp xỉ 60% so với số phí đã thẩm định. Tại TP Hồ Chí Minh sau gần 6 năm thực hiện đã thu phí nước thải sinh hoạt nộp ngân sách gần 560 tỷ đồng. Trong khi đó số tiền thu phí nước thải công nghiệp từ năm 2004 đến nay không đáng kể. Bình quân mỗi năm Chi cục thu hơn 4 tỷ đồng, cao nhất là năm 2009 thu được 9,3 tỷ đồng tiền phí BVMT đối với nước thải công nghiệp. TP HCM có hơn 30.000 cơ sở, doanh nghiệp phải nộp phí BVMT nhưng chỉ có 958 doanh nghiệp đóng phí, số còn lại không trả hoặc nợ dây dưa. Tại thành phố Hải Phòng, Sở TNMT cho biết trong năm 2009 Sở đã tập huấn hơn 300 doanh nghiệp nhưng số doanh nghiệp thực hiện kê khai nộp phí mới khoảng 100 đơn vị82 • Phí BVMT đối với chất thải rắn: Phí BVMT đối với CTR được triển khai thực hiện bắt đầu từ năm 2007 và được quy định cụ thể trong các văn bản sau: -

Nghị định số 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 11 năm 2007 về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;

-

Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 9 tháng 5 năm 2008 của Bộ Tài

82

Đăng Tuyên, 2010, Phí BVMT đối với nước thải ở Việt Nam, thực trạng và một số kiến nghị, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 9 (95) tháng 5/2010

94


chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP. Theo đó, đối tượng chịu phí BVMT là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác (trừ chất thải rắn thông thường phát thải trong sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình). Mức phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn thông thường phát thải từ hoạt động của cơ quan, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, cơ sở sản xuất công nghiệp, làng nghề dưới 40.000 đồng/ tấn; đối với chất thải rắn nguy hại dưới 6.000.0000 đồng/tấn. Phí BVMT đối với chất thải rắn là khoản thu thuộc ngân sách nhà nước, được quản lý, sử dụng như sau: -

Để lại một phần số phí thu được cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để trang trải chi phí cho việc thu phí

-

Phần còn lại là khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% (một trăm phần trăm) để chi dùng cho các nội dung sau đây: chi phí cho việc xử lý chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, hỗ trợ cho việc phân loại chất thải rắn, đầu tư xây dựng các bãi chôn lấp, công trình xử lý chất thải rắn, sử dụng công nghệ tái chế, tái sử dụng, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn. Căn cứ vào các quy định của pháp luật và điều kiện thực tế về xử lý, tiêu

hủy CTR ở địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ xây dựng mức thu phí áp dụng đối với từng loại CTR ở từng địa bàn, từng loại đối tượng nộp phí tại địa phương và xác định việc quản lý, sử dụng tiền phí cho phù hợp để trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định. Số phí thu được một phần để lại cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để trang trải chi phí cho việc thu phí; phần còn lại do ngân sách địa phương hưởng 100% để chi phí cho việc xử lý CTR đảm bảo tiêu chuẩn môi trường như: đốt, khử khuẩn, trung hóa, chôn lấp hợp vệ sinh...; chi hỗ trợ cho việc phân loại CTR, bao gồm cả hoạt động tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc phân loại CTR ngay tại nguồn; chi hỗ trợ đầu tư xây dựng các bãi chôn lấp, công trình xử 95


lý CTR, sử dụng công nghệ tái chế, tái sử dụng, xử lý và tiêu hủy CTR. Hiện nay, ở một số đô thị đã triển khai thực hiện thu phí BVMT đối với chất thải rắn căn cứ Nghị định 174/2007/NĐ-CP và Thông tư 39/2008/TT-BTC về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã xây dựng và ban hành mức thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn áp dụng cho từng loại chất thải rắn ở từng địa bàn, từng loại đối tượng nộp phí tại địa phương. Việc triển khai thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn và phí vệ sinh môi trường được coi là nhiệm vụ quan trọng của địa phương nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương, góp phần tăng nguồn kinh phí đầu tư cho các vấn để thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, xử lý chất thải rắn đúng pháp luật; ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm do chất thải rắn phát sinh...Cụ thể, trong thời gian gần đây, một số tỉnh, thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Sóc Trăng, Kon Tum, Gia Lai, Ninh Bình, Sơn La... đã ban hành một số văn bản triển khai việc thực hiện Nghị định này với mức phí dưới 40.000 đồng/tấn đối với chất thải rắn thông thường và dưới 6.000.000đ/tấn đối với chất thải rắn nguy hại. Tuy nhiên khoản thu từ phí vệ sinh, phí BVMT không đủ bù đắp chi phí thu gom, xử lý chất thải rắn. Theo kết quả điều tra của Cục Bảo vệ môi trường năm 2008 tại 28 tỉnh/thành phố, mỗi năm, các công ty Môi trường Đô thị chi phí khoảng 160.000 đồng/tấn để tiêu huỷ chất thải, với mức thu phí không quá 40.000/tấn như hiện nay thì không thể đủ thậm chí là chỉ để trang trải cho các chi phí vận hành, duy tu và bảo dưỡng của hệ thống hiện tại có chứ chưa nói đến việc phải góp phần đảm bảo cho nhu cầu đầu tư trong tương lai. Bên cạnh đó, hiện nay các địa phương cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định khối lượng phát thải chất thải mà doanh nghiệp phát sinh, do chưa có văn bản hướng dẫn về phương pháp và công cụ thẩm định chính xác số phí của doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với các ngành phát sinh CTR với khối lượng lớn như: ngành luyện thép, dầu khí, may mặc... Các hợp đồng thu gom xử lý CTR sinh hoạt chủ yếu là hợp đồng thuế khoán theo tháng với mức tiền cố đinh, vì vậy, không thể hiện chính xác 96


khối lượng CTR phát sinh trên thực tế. Theo qui định tại Nghị định số 174/2007/NĐ-CP, đối tượng phải nộp phí BVMT đối với CTR là rất rộng, chỉ trừ cá nhân, hộ gia đình phát sinh CTR thông thường trong sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình, do đó, việc rà soát các đối tượng phải nộp phí theo qui định rất khó khăn và chưa thực hiện đầy đủ. Ngoài ra, do chưa xác định chính xác số phí phải nộp nên việc xử lý vi phạm đối với đối tượng cố tình không thực hiện kê khai, nộp phí BVMT đối với CTR rất khó xác định. Công tác này cũng gặp khó khăn do nguồn nhân lực phục vụ cho công tác thu phí còn mỏng nên chưa thể tiến hành xử lý vi phạm theo quy định, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp không thực hiện kê khai nộp phí hoặc kê khai nộp phí rất thấp so với thực tế. • Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản: Phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện bắt đầu từ năm 2006, áp dụng đối với hoạt động khai thác khoáng sản kim loại và phi kim loại và được quy định cụ thể trong các văn bản sau: Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/05/2008 quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản (thay thế Nghị định 137/2005/NĐ-CP). Nghị định số 82/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2008/NĐ-CP Ngoài ra, hoạt động khoáng sản còn có thể thải chất thải rắn độc hại và nước thải nguy hại cho nên các doanh nghiệp khai thác chế biến khoáng sản còn phải nộp phí thải chất thải rắn theo Nghị định 174/2007/NĐ-CP và phí thải nước thải nguy hại theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP Theo Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/05/2008 quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản quy định các đối tượng khai thác đá, sỏi, cát, đất, than, nước khoáng thiên nhiên, sa khoáng titan (ilmenit), kim loại, quặng apatít, dầu thô, khí thiên nhiên, khí than và các loại khoáng sản khác phải nộp phí BVMT. Mức thu phí khí thiên nhiên, khí than là 50 đồng/m3; riêng khí 97


thiên nhiên thu được trong quá trình khai thác dầu thô (khí đồng hành) là 35 đồng/m3. Phí khai thác quặng khoáng sản khác tối đa là 10.000 đồng/tấn. Phí này tập trung vào các hoạt động khai thác kim loại và phi kim với 12 đối tượng phải chịu phí bảo vệ môi trường. Hiện nay mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khoáng sản được trình bày trong bảng 9. Thực tế cho thấy, công tác thu phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản luôn là lĩnh vực gặp nhiều khó khăn, phức tạp, vì đối tượng phải nộp phí thường tìm cách lẩn tránh để không phải thực hiện nghĩa vụ. Một số doanh nghiệp đã được cấp giấy phép kinh doanh khai thác khoáng sản nhưng chưa thực hiện thu phí hoặc có những đơn vị không thực hiện kê khai đầy đủ. Ví dụ thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 31/12/2008 có 1.045 doanh nghiệp khai thác khoáng sản nhưng địa phương chưa thu phí83, các doanh nghiệp khai thác titan trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định mỗi năm nộp phí BVMT khoảng 3,5 tỷ đồng, nhưng nếu căn cứ theo kế hoạch khai thác các doanh nghiệp phải đóng đến 16 tỷ đồng, chưa kể đến việc trên thực tế các doanh nghiệp thường khai thác lớn hơn rất nhiều số khai báo hoặc theo sản lượng trong kế hoạch khai thác của giấy phép84. Nguyên nhân của việc các doanh nghiệp khai thác khoáng sản thường trốn tránh việc nộp phí bảo vệ môi trường là do biện pháp chế tài chưa hiệu quả, dù nhiều chi cục, các quận huyện đã cử cán bộ đến từng doanh nghiệp nhưng các đơn vị lấy lý do là chưa hiểu hình thức kê khai nộp phí để kéo dài thời gian nợ phí bảo vệ môi trường. Biện pháp xử phạt mạnh nhất đang áp dụng với những trường hợp cố tình không đóng phí bảo vệ môi trường đang áp dụng chỉ là xử phạt hành chính. Mức phạt cao nhất cũng chỉ từ 2 đến 10 triệu đồng, thấp hơn mức phí mà doanh nghiệp phải nộp nên có nhiều trường hợp doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt thay vì nộp phí85

83

Công văn của Kiểm toán nhà nước và Chi cục Bảo vệ Môi trường, tóm tắt kết quả kiểm toán việc quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường giai đoạn 2006 – 2008. 84

Bùi Quang Bình, 2010, Cứu môi trường vùng khai khoáng. http://www.vietnamnet.vn

85

Nghị định số 150/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2004 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản

98


Bảng 9. Mức thu phí đối với từng loại khoáng sản Đơn vị tính

STT

Loại khoáng sản

1 a

Đá Đá ốp lát, làm mỹ nghệ (granit, gabro, đá hoa...) Quặng đá quý (kim cương, ru bi, saphia, emôrôt, alexandrit, opan quý màu đen, a dit, rôđôlit, pyrốp, berin, spinen, tôpaz, thạch anh tinh thể, crizôlit, pan quý, birusa, nêfrit...) Đá làm vật liệu xây dựng thông thường Các loại đá khác (đá làm xi măng, khoáng chất công nghiệp…) Fenspat Sỏi, cuội, sạn Cát Cát vàng (cát xây tô) Cát thuỷ tinh Các loại cát khác Đất Đất sét, làm gạch, ngói Đất làm thạch cao Đất làm cao lanh Các loại đất khác Than Than đá Than bùn Các loại than khác Nước khoáng thiên nhiên Sa khoáng titan (ilmenit) Quặng apatít Quặng khoáng sản kim loại Quặng mangan Quặng sắt Quặng chì Quặng kẽm Quặng đồng Quặng bô xít Quặng thiếc Quặng cromit Quặng khoáng sản kim loại khác

b c d 2 3 4 a b c 5 a b c d 6 a b c 7 8 9 10 a b c d đ e g h i

99

Mức thu tối đa (đồng)

m3

50.000

Tấn

50.000

m3

1.000

m3

2.000

m3 m3

20.000 4.000

m3 m3 m3

3.000 5.000 2.000

m3 m3 m3 m3

1.500 2.000 5.000 1.000

Tấn Tấn Tấn m3 Tấn Tấn

6.000 2.000 4.000 2.000 50.000 3.000

Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn

30.000 40.000 180.000 180.000 35.000 30.000 180.000 40.000 10.000


Ngoài ra, về phía cơ quan chức năng hiện còn nhiều thiếu sót. Đáng kể nhất là các công cụ phục vụ hỗ trợ công tác thu phí vẫn chưa đầy đủ. Phần mềm về quản lý thu phí chưa được xây dựng. Chi cục bảo vệ môi trường, Sở Tài nguyên môi trường các tỉnh cũng chưa được trang bị, xây dựng được hệ thống thông tin, quản lý, theo dõi quá trình thực hiện việc kê khai, nộp phí của doanh nghiệp. Do đó trong thời gian tới, cần phải có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương; tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là Luật Bảo vệ Môi trường đối với các tổ chức, cá nhân phải nộp phí bảo vệ môi trường khi khai thác các loại khoáng sản. - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, tạo ra công cụ tài chính hợp lý đối với việc khai thác khoáng sản. - Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân về quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường khi khai thác khoáng sản. Như vậy, hiện nay, ở Việt Nam mới chỉ có công cụ phí BVMT được áp dụng và triển khai trong thực tế còn thuế BVMT áp dụng đối với 8 nhóm đối tượng vừa mới được ban hành và có hiệu lực vào đầu năm 2012. Vì thế, nguồn thu chủ yếu của lĩnh vực môi trường đóng góp vào trong NSNN và trong tổng sản phẩm quốc nội GDP chủ yếu là phí BVMT (phí BVMT đối với nước thải, phí BVMT đối với chất thải rắn, phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản). Sau một thời gian tiến hành triển khai áp dụng công cụ phí bảo vệ môi trường, nhóm công cụ này đã phát huy được tính hiệu quả vừa góp phần thay đổi nhận thức và hành vi của các tổ chức, cá nhân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng; ngoài ra, tạo ra một nguôn tài chính đóng góp vào NSNN để tái đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường, hạn chế, phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái và các sự cố môi trường. Tuy nhiên, hiện nay, phí BVMT mới chỉ đạt được mục tiêu huy động sự đóng góp một phần của những đối tượng xả thải vào môi trường mà không tự mình xử lý chất thải; hỗ trợ chi phí cho việc làm sạch môi trường tuy nhiên nguồn thu từ 100


phí còn rất hạn chế do mức thu phí còn thấp và mới thu phí được một phần nhỏ trong tổng số các doanh nghiệp gây ô nhiễm. Theo tính toán của Bộ Tài Chính, nguồn thu từ phí còn rất hạn chế, tổng nguồn thu từ các nguồn phí BVMT năm 2008 là 1.224 tỷ đồng, nếu tính cả số tiền từ thu phí xăng, dầu 9.000 tỷ đồng/năm thì tổng nguồn thu từ phí BVMT là 10.224 tỷ đồng86. 2.2. Nhóm công cụ tạo lập thị trường 2.2.1 Chi trả dịch vụ môi trường Trong những năm qua, nhà nước ta đã bước đầu xây dựng các cơ chế chính sách về chi trả dịch vụ môi trường. Đầu năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) đã xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho ngành lâm nghiệp. Sự ra đời của chính sách này đánh dấu một bước cực kỳ quan trọng, không đơn thuần chỉ về chính sách, mà là sự thay đổi căn bản về mặt nhận thức đối với giá trị của hệ sinh thái. Nói cách khác, chính sách giúp tạo ra thị trường, thông qua đó dịch vụ hệ sinh thái được nhận ra và từ đó tạo ra giá trị thị trường của hệ sinh thái. Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 03/2008/QĐ-BTC ngày 15/01/2008 Về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tham quan tại vườn Quốc gia Bạch Mã và vườn Quốc gia Cúc Phương. Ngày 10 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐTTg về Chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng và bước đầu được triển khai thí điểm tại một số tỉnh từ năm 2006-2009. Các tỉnh thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á do Bộ NN&PTNT phối hợp với Tổ chức Winrock International; Chương trình môi trường trọng điểm và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) bao gồm: Lâm Đồng, Sơn La, Đồng Nai, Hòa Bình, Bình Thuận, Ninh Thuận và Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Quyết định số 380/QĐ-TTg, đối tượng chi trả PES là các nhà máy thủy điện nằm trên địa bàn, các công ty, chi nhánh cấp nước, các tổ chức, cá 86

Vụ phổ biến và giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, 2010, Đề cương giới thiệu Luật Thuế Môi trường.

101


nhân kinh doanh các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch trên địa bàn các khu rừng đặc dụng, khu rừng phòng hộ… Số tiền thu được từ việc chi trả trực tiếp PES sau khi thực hiện các nghĩa vụ về tài chính, người được chi trả có toàn quyền quyết định để đầu tư vào việc bảo vệ, phát triển rừng... Cụ thể, là: Tại Lâm Đồng, người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng lưu vực hồ thủy điện Đa Nhim đã nhận được mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là 290.000đ/ha/năm. Lưu vực hồ thủy điện Đại Ninh là 270.000đ/ha/năm, bình quân mỗi hộ gia đình nhận khoán từ 15-20 ha, mỗi năm nhận được từ 4-5 triệu. Đã có 7 đơn vị là các cơ sở sản xuất thủy điện, sản xuất và cung cấp nước sạch cam kết thực hiện việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2009 với số tiền 234,421 tỷ đồng. Tỉnh Sơn La, vùng thực hiện thí điểm chủ rừng nhận được mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng phòng hộ là 126.219 đồng/ha/năm, rừng sản xuất là 70.121 đồng/ha/năm. Các loại chi trả dịch vụ môi trường rừng gồm: dịch vụ điều tiết và cung ứng nguồn nước, dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ87 Mức chi trả dịch vụ môi trường của các bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng đã đến được với người dân trực tiếp tham gia bảo vệ phát triển rừng, góp phần ổn định và cải thiện đời sống cho các chủ rừng, hộ nhận khoán. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất là việc tiến hành rà soát diện tích rừng trên thực địa đã giao, cho thuê hoặc khoán bảo vệ cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn từ nhiều năm trước đây chưa nắm chắc diện tích rừng, trạng thái rừng đến từng chủ rừng. Việc xác định các đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với tỉnh Lâm Đồng có thuận lợi bởi các chủ rừng chủ yếu là tổ chức nhà nước, còn tỉnh Sơn La gặp khó khăn vì số lượng chủ rừng chủ yếu là các hộ gia đình.

87

Thúy Vân, 2010, Chi trả dịch vụ môi trường rừng, một chính sách xã hội mới, thiết thực, phù hợp với mục đích bảo vệ rừng và môi trường, Tạp chí Tài nguyên và môi trường số 12 (98) tháng 6/2010

102


Tính đến hết năm 2010, việc triển khai thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đạt được kết quả như sau: tổng diện tích rừng được xác định để chi trả dịch vụ môi trường rừng trong giai đoạn thí điểm tại 2 tỉnh Lâm Đồng và Sơn La là 607.930 ha. Tổng số tiền các nhà máy thủy điện, công ty cấp nước và công ty du lịch giai đoạn 2009 – 2010 phải trả 432,112 tỷ đồng, đã trả 211,483 tỷ đồng, còn nợ 220,629 tỷ đồng (chủ yếu là Công ty Thủy điện Hòa Bình chưa nộp 218,191 tỷ đồng). Phần lớn số tiền thu được đã được chi trả đến 62 nghìn hộ gia đình là chủ rừng và hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số88. Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 09 năm 2010 về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Trong Nghị định có quy định rõ loại rừng và loại dịch vụ môi trường rừng được trả tiền dịch vụ môi trường rừng (Nghị định có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011). Theo đó: Các tỉnh Lâm Đồng và Sơn La và các đối tượng đang triển khai thực hiện chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng quy định tại Quyết định số 380/QĐ-TTg tiếp tục thực hiện thí điểm đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2010, sau đó chuyển sang thực hiện quy định của Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Điều 4 của Nghị định 99/2010/NĐ-CP có quy định về loại rừng và loại dịch vụ môi trường rừng được trả tiền dịch vụ môi trường rừng: Rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các khu rừng có cung cấp một hay nhiều dịch vụ môi trường rừng, gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Loại dịch vụ môi trường rừng được quy định trong Nghị định này gồm: a) Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; b) Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;

88

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công văn số 901/BNN-TCLN ngày 05 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Nghị định 99/2010/NĐ-CP

103


c) Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển bền vững; d) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; đ) Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài ra, còn một số dự án khác như: Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn thực hiện Dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực ven biển. Dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ các-bon trong lâm nghiệp, thí điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình do Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường Rừng thực hiện. Hiện tại, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường thuộc Bộ TN&MT đang nghiên cứu đề tài khoa học công nghệ “Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường đất ngập nước ở Việt Nam”, với mục tiêu đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước. 2.2.2 Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng được áp dụng ở Việt Nam chủ yếu đối với môi trường không khí và được thể hiện trong văn bản sau: Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch. Thực tế cho thấy, để được hưởng những ưu đãi, nhà đầu tư dự án CDM gặp rất nhiều khó khăn. Những khó khăn này xuất phát từ quy định của pháp luật. Ví dụ như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp không quy định việc hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án CDM và do vậy, nhà đầu tư

104


không được hưởng những ưu đãi theo quy định của Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg. Thủ tục được hưởng những ưu đãi rất phức tạp. Đối với các nhà đầu tư công nghệ vào Việt Nam để thực hiện các dự án cơ chế phát triển sạch (CDM) thì cơ chế tự động áp dụng cho việc hưởng ưu đãi không có, hướng dẫn cụ thể về việc hưởng ưu đãi cũng chưa có. Tất cả những khó khăn nêu trên đã dẫn đến việc các dự án CDM ở Việt Nam kém hấp dẫn và cạnh tranh hơn so với các quốc gia khác. Ngoài ra một khó khăn mà Việt Nam cũng gặp phải khi tiếp cận các dự án CDM là thiếu chỉ tiêu phát thải nền khí nhà kính (CO2 - một trong các loại khí do hoạt động của con người phát thải vào khí quyển, gây biến đổi bất thường của khí hậu thời gian gần đây), cơ sở để các doanh nghiệp so sánh khi xây dựng dự án giảm phát thải nhằm nhận được hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển. Việc tính toán phát thải nền để xác định mức giảm phát thải CO2 và các khí nhà kính khác khi xây dựng các dự án CDM cho nhiều lĩnh vực rất khó khăn, và khó thuyết phục các cơ quan trọng tài quốc tế. Chỉ trên cơ sở tính toán mức phát thải nền có cơ sở khoa học và được công nhận, các doanh nghiệp mới tính toán được mức giảm phát thải khí nhà kính mà họ phấn đấu so với mức nền. Hiện nay việc mua bán, trao đổi CERs tại Việt Nam còn hạn chế, do những bất cập của việc thực hiện CDM như rào cản về thủ tục hành chính, khó tiếp cận các ưu đãi, và thiếu chỉ tiêu phát thải nền,v.v.. cũng như thiếu kinh nghiệm, linh hoạt trong thị trường CERs. Thị trường CERs chưa phát triển. Lần đầu tiên tại Việt Nam, 350.000 chứng nhận giảm phát thải (CERs) của dự án thu hồi và sử dụng khí đồng hành mỏ Rạng Đông, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã được mang ra đấu giá tại Hà Nội trong tháng 5/2010, giá 1 CERs Rạng Đông đạt 13,5 euro đã bán cho Tập đoàn

105


Dầu khí Năng lượng Mercuria (Thụy Sĩ))89 Tập đoàn dầu khí Việt Nam (Petrovietnam Finance Corporation - PVFC) đã ký kết hợp đồng phát triển CDM cho hai dự án Nhà máy sản xuất Bio-ethanol tại Phú Thọ và Dung Quất, thống nhất và ký kết hợp đồng cho hai dự án khác là Dự án thu gom khí đồng hành và Gaslift cho mỏ Rồng-Đồi Mồi của PV GAS và Nhà máy sản xuất Bio-ethanol tại Bình Phước của Công ty CP Nhiên liệu Sinh học Đông Dương và Công ty Itochu-Nhật Bản. Thị trường CDM trên thế giới đang hoạt động khá mạnh mẽ nhưng đối với Việt Nam hình thức mua bán CERs này còn mới nên giá thành các CERs còn khá rẻ và tính rủi ro cũng rất cao. Một thực tế mà doanh nghiệp Việt Nam cần tính đến là, khi các quốc gia phát triển đã thu đủ hạn ngạch (quota) khí thải, họ sẽ không mặn mà mua thêm. Lúc đó, giá giao dịch CERs trên thị trường thứ cấp (thị trường giao dịch của các nước phát triển) sẽ thấp, dẫn tới giá bán CERs tại thị trường sơ cấp như Việt Nam cũng giảm theo. 2.3 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường 2.3.1 Đặt cọc hoàn trả Hiện tại Nhà nước chưa có quy định cụ thể về đặt cọc hoàn trả, và hệ thống đặt cọc hoàn trả xuất hiện có tính tự phát trong một số lĩnh vực. Ví dụ trong lĩnh vực đồ uống và nước giải khát: hệ thống đặt cọc hoàn trả đã xuất hiện, ví dụ các cửa hàng bán bia chai Hà Nội, nước giải khát đóng chai Cocacola, Fanta… khách hàng phải đặt cọc một khoản tiền (2000 đồng cho 1 chai bia Hà Nội) trước khi mang chai bia hoặc nước giải khát đã mua về nhà và số tiền đặt cọc được trả lại chỉ khi người mua trả cho chủ cửa hàng vỏ chai còn nguyên vẹn. 2.3.2 Ký quỹ môi trường Ở Việt Nam, công cụ ký quỹ môi trường hiện nay đang được áp dụng chủ yếu trong hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo trách nhiệm phục hồi 89

Kim Anh, 2010, Đấu giá chứng nhận giảm phát thải mỏ Rạng Đông, http://daukhi.vietnamnet.vn

106


môi trường trong khai thác tài nguyên. Môi trường khoáng sản là một trong những lĩnh vực đã thực hiện kinh tế hóa khá sớm ở nước ta với những quy định về phí bảo vệ môi trường và cải tạo phục hồi môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản theo luật khoáng sản năm 1996. Ngoài ra, Ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản còn được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật sau: - Thông tư liên Bộ 126/1999/TTLT - BTC-BCN-KHCN&MT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài chính- Bộ Công nghiệp - Bộ Khoa học Công nghê và Môi trường hướng dẫn việc ký quỹ để phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản . - Quyết định số 71/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản (thay thế thông tư 126/1999/TTLT - BTC-BCNKHCN&MT). - Thông tư số 34/2009/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về việc phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Thông tư này quy định chi tiết một số nội dung của Quyết định 71/2008/QĐ-Ttg ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Theo quy định, mọi tổ chức, cá nhân trước khi tiến hành khai thác khoáng sản phải thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường lần đầu tiên trước khi khai thác 30 ngày. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định này như: Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Tây Ninh… Song thực tế, việc triển khai ký quỹ môi trường còn tiến hành chậm do nhiều nguyên nhân như doanh nghiệp chưa đủ hồ sơ để ký quỹ, hoặc một số địa 107


phương chưa có quỹ BVMT. Ví dụ ở Quảng Ninh, các dự án cải tạo phục hồi môi trường đối với khai thác than của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đã lập và gửi về Sở song đến tháng 1/2010 vẫn chưa được phê duyệt nên chưa triển khai được việc ký quỹ, nguyên nhân bởi phía Sở TN&MT chưa có căn cứ để phê duyệt vì Bộ TN&MT chưa có hướng dẫn cụ thể. Mặt khác, phía Sở TN & MT yêu cầu phải ký quỹ tại Quỹ môi trường tỉnh để thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát nhưng quỹ này hiện vẫn chưa được thành lập90. Tính đến thời điểm ngày 01/03/2010, mới chỉ có 42 đơn vị, công ty khai thác khoáng sản thực hiện ký quỹ khai thác khoáng sản tại Quỹ bảo vệ môi trường quốc gia91. Tỉnh Tây Ninh tính đến tháng 9/2009, chỉ mới có 7 doanh nghiệp, cơ sở và 1 cá nhân khai thác khoáng sản thực hiện ký quỹ phục hồi cảnh quan môi trường với số tiền 161 triệu đồng. Tỉnh Quảng Ninh, theo ông Hoàng Việt Dũng - Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường thuộc Sở Tài Nguyên và Môi trường cho biết, đến tháng 02/ 2009, đã có 6 đơn vị khai thác khoáng sản thực hiện ký quỹ tại Quỹ Môi trường Việt Nam và 1 đơn vị ký quỹ tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Quảng Ninh, tuy nhiên việc ký quỹ của các đơn vị này chưa đủ cơ sở về mặt pháp lý. 2.3.3 Bồi thường thiệt hại môi trường Quy định này được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên tại Luật BVMT năm 1993, theo đó “tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Đến năm 2005, Luật BVMT (2005) đã đề cập một cách rõ ràng hơn, các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được quy định từ Điều 131 đến Điều 135,

90

Bùi Quang Bình, 2010, Cứu môi trường vùng khai khoáng, http://www.dmtcvn.com/news_detail.asp?nid=1&new=131 91 Quỹ BVMT Việt Nam, Kết quả hoạt động của Quỹ BVMT Việt Nam trong việc hỗ trợ tài chính cho các dự án bảo vệ môi trường (đến thời điểm ngày 01/03/2010)

108


Mục 2. Nghị định cũng qui định nguyên tắc tính toán thiệt hại đối với môi trường như sau 92: + Việc tính toán thiệt hại đối với môi trường căn cứ vào chi phí khắc phục ô nhiễm, suy thoái và phục hồi môi trường tại nơi xảy ra ô nhiễm, suy thoái để đạt các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đối với chất lượng môi trường nước; môi trường đất; chi phí để phục hồi hệ sinh thái và loài được ưu tiên bảo vệ về bằng hoặc tương đương với trạng thái ban đầu. + Việc tính toán thiệt hại đối với môi trường dựa trên các dữ liệu, chứng cứ đã được thu thập, ước tính thẩm định theo quy định + Thiệt hại đối với môi trường của một khu vực địa lý bằng tổng thiệt hại đối với từng thành phần môi trường ở khu vực địa lý đó. Ngoài ra tại Điều 624 Bộ Luật Dân sự (2005) có quy định “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”. Khác với các quan hệ pháp lý khác có liên quan đến bồi thường thiệt hại, trong lĩnh vực môi trường người làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thường phải thực hiện đồng thời cả hai biện pháp: khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm và bồi thường thiệt hại về môi trường. Tuy nhiên, việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường là vấn đề không đơn giản ngay cả ở những nước phát triển, nơi mà lý thuyết về lượng giá các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi trường đã được định hình và củng cố93. Một tình trạng khá phổ biến trong lĩnh vực môi trường hiện nay là nhiều cá nhân, tổ chức cùng gây ô nhiễm môi trường và cơ quan quản lý nhà nước về BVMT có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường. Trên thực tế không dễ dàng xác định chính xác mức độ gây hại đến môi trường 92

Nghị định 131/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2010 về xác định thiệt hại đối với môi trường, Điều 10. 93

Trung tâm nghiên cứu Pháp luật & Chính sách Phát triển bền vững – Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường; 2010, Nghiên cứu tóm tắt về Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

109


của từng đối tượng và trong trường hợp này pháp luật dân sự đã tính đến giải pháp các đối tượng phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau. Do đó chưa đảm bảo sự công bằng trong áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường mà các cá nhân, tổ chức chỉ phải bồi thường thiệt hại theo phần tương ứng với mức độ gây hại khi họ chứng minh được mức độ mà mình gây thiệt hại đối với môi trường. Một khía cạnh khác cũng cần phải xem xét đó là thời hạn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời đã trở thành nguyên tắc luật định, song trong lĩnh vực môi trường, do giá trị của các thiệt hại về môi trường thường rất lớn và khó xác định nên trong đa số các trường hợp việc áp dụng trách nhiệm bồi thường toàn bộ và kịp thời các thiệt hại là điều khó có thể thực hiện được. Bộ luật Dân sự quy định về thời hạn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. Nhưng trong lĩnh vực môi trường, quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại không hoàn toàn trùng khít với ngày phát sinh thiệt hại trên thực tế ví dụ như thiệt hại đối với người bị nhiễm chất phóng xạ, nhiễm hóa chất độc hại… có thể kéo dài nhiều năm, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây cũng là một khía cạnh mà các nhà quản lý cần cân nhắc khi xây dựng các quy định, thông tư hướng dẫn thực hiện bồi thường thiệt hại do hoạt động làm ô nhiễm, suy thoái môi trường. Từ năm 1997 đến nay, ở Việt Nam đã xảy ra 50 vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờ gây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu dài cho môi trường biển, 77% sự cố tràn dầu trên hải phận nước ta chưa được bồi thường hoặc đang trong quá trình giải quyết...94. Để giải quyết thực trạng của sự cố tràn dầu, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật như: Thông tư số 2370-TT/Mtg ngày 22/12/1995 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn tạm thời về khắc phục sự cố chảy xăng dầu; Thông tư số 2262/TT-MTg ngày 29/12/1995 Hướng dẫn về khắc 94

Bộ tài nguyên và môi trường , 2008, Tài liệu Hội thảo quốc tế trao đổi kinh nghiệm trong phát triển, ứng phó, xử lý và khắc phục ô nhiễm sự cố tràn dầu trên biển

110


phục sự cố tràn dầu; Quyết định 129/2001/QĐ-TTg phê duyệt quốc gia về ứng phó sự cố tràn dầu 2001-2010. Ngày 02/05/2005, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định 103/2005/QĐ-TTg về quy chế ứng phó sự cố tràn dầu. Việc tổ chức ứng phó được tổ chức ở 3 cấp: cấp cơ sở (địa phương - xử lý tràn dầu dưới 100 tấn), cấp khu vực vực (xử lý tràn dầu từ 100 - 2.000 tấn) và cấp quốc gia (xử lý tràn dầu từ 2.000 tấn trở lên). Ngoài ra, ngày 17/06/2004 Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 có hiệu lực tại Việt Nam (International Convention on Civil Liability for Oil Pollution Damage – CLC 92). Trong công ước CLC 91 quy định: (i) khi xảy ra ô nhiễm dầu thì chủ sở hữu của tàu không chỉ phải đền bù thiệt hại do ảnh hưởng đến môi trường mà còn phải đền bù các thiệt hại về kinh tế do ô nhiễm dầu gây nên; (ii) mức bồi thường ngoài căn cứ vào lượng dầu tràn còn căn cứ vào trọng tải của tàu (với mức bồi thường cao nhất: 3,8 triệu USD với tàu có trọng tải dưới 5.000 tấn, 76,5 triệu USD với tàu có trọng tảu 140.000 tấn trở lên), (iii) phạm vi khu vực bị ô nhiễm được tính bồi thường bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế thay vì là chỉ trong phạm vi lãnh hải của quốc gia bị ô nhiễm. Ở Việt Nam trong thời gian qua, cũng xảy ra vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại môi trường của người dân do việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của công ty Vedan. Công ty Vedan là một doanh nghiệp Đài Loan chuyên sản xuất các mặt hàng như: bột ngọt, tinh bột, nước đường, xút (NAOH), axit…. có nhà máy sản xuất tại Việt Nam đóng tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Trong những năm vừa qua, công ty đã xả nước thải chưa qua xử lý theo quy định và có chứa rất nhiều chất độc hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống bên ngoài, nhất là dòng sông Thị Vải. Tổng lượng nước thải xả ra sông Thị Vải hơn 4.000m3/ngày95. Việc xả thải của công ty Vedan đã làm ô nhiễm lưu vực sông Thị Vải, trong đó có một đoạn sông dài trên 10km gọi là “dòng sông chết”. Tại lưu vực sông Thị Vải, nguồn nước bị ô nhiễm hữu cơ trầm trọng, có màu nâu đen và bốc mùi hôi thối cả ngày lẫn đêm, cả khi có thủy triều. Theo kết quả khảo 95

P. Thanh, Phá hoại môi trường: Công ty Vedan Việt Nam sẽ bị xử lý mức cao nhất, http://dantri.com.vn/c25/s20-250862/pha-hoai-moi-truong-cong-ty-vedan-viet-nam-se-bi-xu-ly-muccao-nhat.htm

111


sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường, giá trị DO ở đây thường xuyên dưới 0,5 mg/l, có nơi chỉ 0,04 mg. Nguồn nước bị ô nhiễm dẫn đến sản lượng đánh bắt thủy sản của người dân bị giảm đáng kể, và nó cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống của người dân sống trong khu vực đó. Vì vậy, việc xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đối với công ty Vedan phải tiến hành kiên quyết, triệt để. Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, sau những vi phạm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do Vedan gây ra đối với sông Thị Vải, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng chục nghìn hộ dân, ngày 9/4/2010, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Công văn yêu cầu Công ty Vedan bồi thường thiệt hại cho 1.255 hộ dân với số tiền 53,619 tỷ đồng; ngày 1/6/2010, UBND thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Vedan bồi thường thiệt hại cho 839 hộ dân huyện Cần Giờ với số tiền 45,74 tỷ đồng; ngày 21/6/2010, UBND tỉnh Đồng Nai có Công văn 4901 yêu cầu Vedan bồi thường thiệt hại cho nhân dân 4 xã (thuộc hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch với số tiền 119, 581 tỷ đồng. Theo văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ được Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường Nguyễn Thái Lai ký vào ngày 1/9/2010, thì ngày 11/8/2010 Công ty Vedan đã thống nhất bồi thường thiệt hại 100% số tiền yêu cầu bồi thường cho toàn bộ người dân của 3 địa phương bị ảnh hưởng trên lưu vực sông Thị Vải là gần 219 tỉ đồng. Trong đó, nông dân ở Bà Rịa - Vũng Tàu được bồi thường hơn 53,6 tỉ đồng, nông dân ở Đồng Nai là hơn 119,5 tỉ đồng và nông dân huyện Cần Giờ (TP HCM) là hơn 45,7 tỉ đồng. Số tiền bồi thường này được chia thành 2 đợt. Đợt 1: 50% số tiền được chuyển cho mỗi địa phương trong vòng 7 ngày kể từ ngày ký biên bản thỏa thuận bồi thường. Đợt 2 sẽ chuyển từ ngày 10 đến ngày 14/1/2011 và được bảo lãnh của ngân hàng theo quy định. Hiện nay, công ty Vedan đang phải tiến hành từng bước trách nhiệm bồi thường thiệt hại ô nhiễm môi trường do quá trình hoạt động sản xuất của công ty

112


gây ra cho từng hộ dân sống ở 3 tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu. Ngoài việc bồi thường thiệt hại ô nhiễm môi trường bằng tiền cho các hộ dân, thì công ty Vedan còn có các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường như: cải tạo toàn bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về chất thải theo quy đinh, hệ thống thu gom và cửa xả nước thải phải được đặt ở vị trí thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát. Có thể nói, đây là vụ việc bồi thường thiệt hại môi trường xảy ra lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam. Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường tại Việt Nam là vấn đề còn rất mới cả từ phương diện lý luận và thực tiễn. Chúng ta mới chỉ đúc rút được kinh nghiệm từ thực tiễn tự phát giải quyết các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tài sản do ô nhiễm môi trường gây nên. Đây cũng là một vấn đề các nhà quản lý ngành môi trường cần lưu ý trong việc xây dựng và thực hiện các công cụ kinh tế để đẩy mạnh kinh tế hóa. Hiện nay trong một số lĩnh vực khoa học có liên quan như xã hội học môi trường, kinh tế học môi trường, khoa học quản lí về môi trường... cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, như: “Xây dựng phương pháp xác định mức đền bù thiệt hại bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất, dịch vụ gây ra” do Trung tâm kĩ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp, trường Đại học xây dựng Hà Nội thực hiện năm 1999; “Chính sách quản lý môi trường đối với việc giải quyết xung đột môi trường”, luận văn cao học chuyên ngành chính sách khoa học và công nghệ của Lê Thanh Bình; Nghiên cứu về giá trị kinh tế của Khu bảo tồn biển Hòn Mun (Economic valuation of the Hon Mun Marine Protected Area). Song nhìn chung các công trình nêu trên mới chỉ đề cập đến các giải pháp kỹ thuật, giải pháp kinh tế mà chưa đề cập đến việc giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường. Từ góc độ nghiên cứu khoa học pháp lý, chủ đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường cũng đã bước đầu nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các luật gia, cũng như những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực 113


quản lý môi trường. Ở các mức độ và phạm vi khác nhau, đã có một số công trình và tài liệu đề cập đến vấn đề này, như: Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học Luật Hà Nội (1999); đề tài “Bước đầu nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam" do Cục Môi trường, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp với Vụ pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2000; đề tài “Trách nhiệm pháp lý dân sự trong lĩnh vực môi trường" do Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thực hiện năm 2002; các Báo cáo tổng kết công tác thực tiễn giải quyết đòi bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây nên của Phòng quản lý môi trường các tỉnh, thanh tra môi trường các địa phương, Cục bảo vệ môi trường; “Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam - Luật pháp và thực tiễn” của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao; Luận án tiến sĩ luật học của Vũ Thu Hạnh về “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam”; “Bồi thường thiệt hại về môi trường” thuộc Chương trình hợp tác Việt Nam- Thụy Điển về tăng cường năng lực quản lí nhà nước về đất đai và môi trường...; “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên”- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội... Tuy nhiên, các công trình trên hoặc mới chỉ là những nghiên cứu ban đầu và chỉ tập trung vào một hoặc một vài vấn đề giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên hoặc chỉ là những nghiên cứu mang tính lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, như nghiên cứu đặc điểm cơ bản của tranh chấp môi trường, các yếu tố cấu thành nên cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực môi trường và giải quyết một số vấn đề mang tính học thuật… mà chưa có những nghiên cứu mang tính ứng dụng để giải quyết các yêu cầu về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường trên thực tế, đặc biệt là nghiên cứu quy trình khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường, cũng như vai trò của các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc.

114


2.3.4 Nhãn sinh thái Nhằm thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng nhãn sinh thái cho sản phẩm của mình, năm 2009 Tổng Cục môi trường đã khởi động: Chương trình Nhãn xanh Việt Nam đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc từ tháng 3 năm 2009 nhằm mục tiêu liên tục cải thiện và duy trì chất lượng môi trường sống thông qua giảm thiểu sử dụng và tiêu dùng năng lượng, vật liệu cũng như các loại chất thải sinh ra do quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng phục vụ đời sống, dự kiến đến năm 2011 sẽ mở rộng trên toàn quốc và do Tổng cục Môi trường cấp. Hàng hoá Việt Nam sẽ được ghi nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn ISO 14024. Thực hiện chương trình cấp nhãn sinh thái, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản: •

Quyết định số 252/QĐ-BTNMT ngày 05/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt chương trình cấp nhãn sinh thái

Quyết định số 1492/QĐ-BTNMT ngày 13/08/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc thành lập Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái

Quyết định số 1907/QĐ-BTNMT ngày 12 tháng 10 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt danh sách thành viên Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái.

Quyết định số 1906/QĐ-BTNMT ngày 12/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái.

Quyết định số 2322/QĐ-BNMT ngày 13 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt tiêu chí Nhãn xanh Việt Nam. Theo Quyết định số 2322/QĐ-BNMT, ba sản phẩm được phê duyệt tiêu chí nhãn xanh gồm: bột giặt, bóng đèn huỳnh quang, bao bì nhựa tự phân huỷ sinh học dùng gói hàng khi mua sắm. 115


Việc dán nhãn sinh thái trên sản phẩm có thể tạo ra một sự thay đổi tích cực và chủ động đến ý thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng bằng cách mua những sản phẩm gây ít tác động đến môi trường, tạo ra nhu cầu sử dụng sản phẩm thân thiện đối với các nhà sản xuất. Đồng thời uy tín của nhà sản xuất được khẳng định khi sản phẩm của họ được dán nhãn sinh thái, các sản phẩm này có sức cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sản phẩm cùng loại. Như vậy, nhãn sinh thái là công cụ kinh tế tác động vào nhà sản xuất thông qua phản ứng và tâm lý của khách hàng và giảm các tác động xấu đến môi trường. 2. 4 Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường 2.4.1 Định giá, lượng giá giá trị môi trường Tại Việt Nam, việc lượng hóa tài nguyên và tác động môi trường được thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ ở mức quy mô nhỏ, hầu hết mới chỉ đánh giá được một phần giá trị (giá trị du lịch, giá trị cảnh quan) mà chưa đánh giá được giá trị tổng thể. Hầu hết các kỹ thuật định giá giá trị môi trường được sử dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay là kỹ thuật lượng giá dựa theo giá thị trường. Điển hình như, nghiên cứu của Vũ Tấn Phương (2006), Bùi Dũng Thể (2006) sử dụng kỹ thuật lượng giá thị trường để đánh giá giá trị của các loại rừng, giá trị của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất và tác động thuốc trừ sâu lên sức khoẻ của con người tại Việt Nam.. Ngoài ra, có một số nghiên cứu về giá trị du lịch như: Nghiên cứu “Đánh giá giá trị du lịch của Vườn quốc gia Cúc Phương” (1997) của Nguyễn Đức Thanh, nghiên cứu “Đánh giá giá trị cảnh quan VQG Ba Bể và khu du lịch hồ Thác Bà” của Trần Thị Thu Hà và Vũ Tuấn Phương (2005) sử dụng kỹ thuật đánh giá chi phí du lịch (TCM).

116


Gần đây, để đánh giá những phần giá trị khác trong tổng giá trị kinh tế, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm các kỹ thuật lượng giá phức tạp hơn. Các kỹ thuật này dựa trên việc xây dựng thị trường giả định để đánh giá lợi ích của người sử dụng tài nguyên khi tham gia thị trường, từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách. Đây là những kỹ thuật khá phức tạp về cơ sở lý thuyết và các mô hình toán ước lượng. Nghiên cứu “Đánh giá giá trị giải trí, du lịch của du khách trong nước đối với khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang”của Phạm Hồng Mạnh (2007). Nghiên cứu đã sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là phương pháp chi phí du lịch và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên. Phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM) được sử dụng để xây dựng đường cầu và ước lượng giá trị giải trí du lịch của du khách tại vịnh Nha Trang. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) cũng được sử dụng để đánh giá mức sẵn lòng trả của du khách cho việc bảo vệ cảnh quan và tài nguyên môi trường của vịnh Nha Trang.Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng lợi ích giải trí của du khách trong nước đối với vịnh Nha Trang là 23.281,281 tỉ đồng và thặng dư tiêu dùng là 7760,427 tỷ đồng hàng năm (năm 2007). Giá sẵn lòng trả của du khách được tính vào phụ phí tiền phòng tại khách sạn của Nha Trang cho 1 ngày đêm nghỉ là 7875 đồng/ du khách/ đêm và tổng mức sẵn lòng trả của du khách xấp xỉ là 21,224 tỉ đồng. Nghiên cứu của Đỗ Nam Thắng và Jeff Bennett (2007) về “sử dụng mô hình lựa chọn (CM- Choice Modelling) để ước lượng giá trị đất ngập nước ở đồng bằng sông Cửu Long”. Cụ thể, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá lợi ích của việc cải thiện khu đất ngập nước ở vườn Quốc gia Tràm Chim. Thông qua việc sử dụng phương pháp CM, nghiên cứu đã tính toán được tổng sự sẵn lòng chi trả của người dân cho việc cải thiện khu đất ngập nước này là từ 1.8 – 2.3 triệu USD96.

96

Thang Nam Do and Bennett, 2009, Estimating wetland biodiversity values: a choice modelling application in Vietnam’s Mekong River Delta, The Economy and Environment Program for Southeast Asia (EEPSEA).

117


Nhằm mục đích xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hoá giá trị kinh tế các quốc gia, Viện Khoa học quản lý môi trường đã thực hiện nghiên cứu “Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững” (2009-2010). Nghiên cứu đã xây dựng quy trình đánh giá tổng giá trị kinh tế của vườn quốc gia thí điểm tại vươn quốc gia Tam Đảo, từ đó lượng giá giá trị trực tiếp, giá trị gián tiếp, giá trị phi sử dụng của vườn quốc gia thông qua việc sử dụng phương pháp giá thị trường, phương pháp chi phí du lịch TCM, phương pháp đánh giá phụ thuộc vào tình huống giả định CVM. Nghiên cứu đã tính toán được tổng giá trị tổng thề mà vườn quốc gia Tam Đảo mang lại ước tính khoảng hơn 22 tỷ đồng. Bên cạnh việc xây dựng cơ sở khoa học, phương pháp luận lượng hoá giá trị kinh tế các vườn quốc gia cần phải xây dựng cơ sở và phương pháp luận thống nhất cho rất nhiều yếu tố tài nguyên. Kết qủa nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý để thiết kế các công cụ quản lý tại hiện trường phục vụ cho việc quản lý và bảo vệ bền vững các nguồn tài nguyên. b) Lượng hoá thiệt hại, tác động do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường Theo quy định tại Điều 131 Luật BVMT (2005), có 2 loại thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm: (i) Thiệt hại đối với môi trường tự nhiên. Đó là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, trong đó chức năng, tính hữu ích của môi trường. (ii) Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định các giá trị kinh tế thiệt hại do ô nhiễm môi trường phục vụ cho công tác quản lý. Tuy nhiên trong những năm qua, mới chỉ có một vài nghiên cứu về lượng giá giá trị thiệt hại do ô nhiễm môi trường, trong đó có bản thảo phương pháp lượng giá kinh tế các tổn thất môi trường sinh thái do sự cố tràn dầu đối với các hệ sinh thái biển, phù hợp với môi trường Việt Nam – do Tổng 118


cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện năm 2008. Trong lĩnh vực ô nhiễm không khí mới có một trường hợp thu thập, thống kê các giá trị thiệt hại trực tiếp do ô nhiễm không khí tại nhà máy điện Phả Lại, được thực hiện năm 1998 theo phương pháp thống kê đơn giản. Do vậy, khi xảy ra các tranh chấp hay khiếu nại về môi trường rất khó để xác định được mức bồi thường thiệt hại (nếu phải bồi thường) cho bên chịu thiệt hại do ô nhiễm không khí. Ngoài ra còn nghiên “Đánh giá thiệt hại sức khoẻ do ô nhiễm không khí tại Hà Nội” của tác giả Nguyễn Khánh Tuyên thực hiện 2004. Nghiên cứu sử dụng phương pháp lượng giá được Ngân hàng thế giới WB tổng hợp và nghiên cứu trong tài liệu “Estimating the Health Effects of Air Pollution”, Bart Ostro, 1994. Tác giả đã sử dụng mô hình này để ước lượng tương đối và đưa ra được một con số cụ thể về thiệt hại mà ô nhiễm không khí gây ra tại Hà Nội đối với sức khoẻ người dân, và nghiên cứu đã tính toán tổng chi phí do ô nhiễm không khí gây ra đối với sức khỏe của người dân Hà Nội ước tỉnh khoảng 647.629.499.261 đồng, tức là khoảng gần 650 tỷ đồng. Bảng 10. Kết quả tính toán tổng chi phí do hậu quả về sức khỏe đối với người dân Việt Nam Hậu quả sức khỏe Tử vong

Đơn vị tính

Trung bình

Tổng chi phí

Trường hợp

982

587.219.862.069

RHA

Ngày

1.754

1.332.604.598

ERV

Ca

40.489

25.208.544

RAD

Ngày

8.406.500

39.777.883.142

Bệnh hen suyễn

Trường hợp

393.205

1.566.793.471

Triệu chứng bệnh hô hấp

Trường hợp

26.754.600

17.657.010.920

Viêm phế quản mãn tính

Trường hợp

8.947

50.136.517

Tổng

647.629.499.261

Nguồn: Nguyễn Khánh Tuyên, 2004 119


Để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đẩy mạnh việc nghiên cứu cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hoá thiệt hại, tác động môi trường bao gồm một số nghiên cứu sau: Năm 2010, Viện Chiến lược, Chính sách, Tài nguyên và Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện đề tài khoa học công nghệ: “Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất mô hình, quy trình phù hợp với điều kiện Việt Nam về lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra”. Nghiên cứu đã xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận về lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm suy thoái môi trường gây ra; và xây dựng được quy trình, mô hình lượng giá thiệt hại do ô nhiễm suy thoái môi trường gây ra phù hợp với Việt Nam đối với môi trường nước và môi trường không khí. Ngày 01/03/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” để đẩy mạnh công tác quản lý tài nguyên – môi trường, khí tượng thuỷ văn biển Việt Nam. Trong khuôn khổ Đề án, Bộ TN&MT được giao thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường, khí tượng thủy văn biển Việt Nam; dự báo thiên tai, ô nhiễm môi trường tại các vùng biển; kiến nghị các giải pháp bảo vệ” 2007-2011. Triển khai nghiên cứu trên, Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục Môi trường được giao thực hiện nghiên cứu “Lượng hóa tổn thất tài nguyên môi trường biển do sự cố tràn dầu” thuộc dự án thành phần 3 “Điều tra, đánh giá, dự báo nguy cơ sự cố tràn dầu gây tổn thương môi trường biển; đề xuất các giải pháp ứng phó” năm 2009 – 2011. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ quản lý và khôi phục môi trường sau thiên tai – Nghiên cứu điển hình tại một địa phương” năm 2008-2009. Đề tài đã nghiên cứu cơ sở và thực tiễn đánh giá thiệt hại môi trường sau bão lũ và xây dựng được Tài liệu hướng dẫn đánh giá thiệt hại môi trường sau thiên tai bão lũ. 120


Trung tâm Tư vấn và Công nghệ Môi trường, Tổng cục Môi trường thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra” năm 2009. Đề tài đã Nghiên cứu xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường của một số hệ sinh thái biển tiêu biểu ven bờ Việt Nam và thí điểm xác định được tổng giá trị thiệt hại do sự cố tràn dầu ở khu vực Quảng Nam. Viện Khoa học quản lý môi trường - Tổng cục Môi trường đang thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường” trong năm 2010 – 2011 và thí điểm lượng hoá thiệt hại đến sức khỏe người dân sống xung quanh khu vực nhà máy trong phạm vi 10km. Có thể nói, việc hình thành mô hình, quy trình định giá giá trị tài nguyên và lượng hóa những thiệt hại do ô nhiễm và suy thoái môi trường là một nhu cầu bức thiết. Các kết quả nghiên cứu trên là cơ sở để Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét triển khai ứng dụng vào thực tiễn trong việc lượng giá, lượng hoá tài nguyên và môi trường, và phục vụ công tác bồi thường thiệt hại trong công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. 2.4.2 Hạch toán môi trường Hạch toán quản lý môi trường (EMA) đã được áp dụng ở nhiều doanh nghiệp trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam đây vẫn là một lĩnh vực khá mới mẻ. Hiện nay, ở Việt Nam chỉ mới đang tiến hành dự án EMA- SEA “Hạch toán quản lý môi trường cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đông Nam Á”. Dự án này tiến hành ở 4 nước là: Indônê xia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam. • Cơ quan tài trợ Dự án là Bộ hợp tác và phát triển kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức. • Cơ quan quản lý và điều hành dự án là Tổ chức Xây dựng và Năng lượng quốc tế (InWent) • Các đối tác chính của dự án là: Trung tâm quản lý bền vững (CSM), 121


đối tác khu vực là Hội bảo vệ Môi trường Châu Á (ASEP) và các đối tác phối hợp ở các quốc gia. • Dự án tập trung vào việc chuyển giao kiến thức và kỹ năng hạch toán quản lý môi trường cho các doanh nghiệp và các tổ chức liên quan tại 4 nước này nhằm mục đích sau khi kết thúc dự án có thể nhân rộng việc nghiên cứu và phổ biến áp dụng hạch toán quản lý môi trường tại các doanh nghiệp ở khu vực Đông Nam Á hướng tới hoạt động kinh doanh bền vững. • Dự án gồm 6 hợp phần nhỏ bao gồm: Hội thảo thông tin; Dự án EMA điển hình tại các doanh nghiệp; Xây dựng tài liệu đào tạo; Hội thảo đào tạo EMA và đào tạo EMA qua máy tính; Đào tạo giảng viên EMA; Phổ biến EMA. Ở Việt Nam, Dự án EMA đã phối hợp cùng với trung tâm sản xuất sạch Việt Nam tiến hành thực hiện dự án. Trong 3 năm (2004-2006), dự án đã tổ chức 9 khóa đào tạo cho 372 người là đại diện các doanh nghiệp (lãnh đạo, nhân viên kế toán, cán bộ kỹ thuật), đại diện các cơ quan quản lý khoa học –công nghệmôi trường các địa phương, các cơ quan tư vấn, các viện nghiên cứu, các trường đại học tại Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh. Trong 2 năm 2004-2005, dự án đã triển khai EMA cho 4 doanh nghiệp gồm: 1 doanh nghiệp chế biến thực phẩm (Huế); 1 doanh nghiệp sản xuất bia ở Phú Yên; 1 doanh nghiệp chế biến cà phê hòa tan ở Thành phố Hồ Chí Minh; 1 trang trại nuôi tôm ở Cà Mau 97. Qua các kết quả đánh giá cho thấy, Hạch toán quản lý môi trường không chi áp dụng cho các doanh nghiệp trong việc hạch toán dòng nguyên liệu và năng lượng cũng như hạch toán chi phí môi trường vào trong quá trình quản lý và sản xuất nội bộ của các doanh nghiệp mà EMA còn sử dụng để đánh giá mức độ bền vững về mặt kinh tế- xã hội- môi trường của mô hình kinh tế; đánh giá quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. 97

Nguyễn Đăng Anh Thi, 2006, Hạch toán Quản lý môi trường – Bộ công cụ hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính và môi trường, Tạp chí Bảo vệ Môi trường số 10/2006.

122


Ngoài ra, ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu áp dụng thử nghiệm công cụ hạch toán quản lý môi trường ở các doanh nghiệp, điển hình như: Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, trường đại học Bách Khoa Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm áp dụng hạch toán quản lý môi trường tại công ty Machino- Việt Nam. Đây là một công ty liên doanh với Nhật Bản chuyên sản xuất các phụ tùng xe máy. Dựa trên các báo cáo tài chính của công ty, toàn bộ các chi phí và lợi ích môi trường (bằng tiền tệ và phi tiền tệ) của công ty được tiến hành phân tích dựa trên công cụ hạch toán chi phí môi trường. Sau khi tiến hành EMA, thì các chi phí liên quan đến môi trường của công ty bao gồm chi phí hiện và chi phí ẩn được liệt kê ra một cách đầy đủ bao gồm: Chi phí tái sử dụng; chi phí thuê xử lý chất thải; chí phí xử lý nước thải (bao gồm chi phí vận hành và sửa chữa các bể xử lý nước thải sơn và nước thải mạ); chi phí môi trường gián tiếp (gồm chi phí vệ sinh cảnh quan môi trường, chi phí khám chữa bệnh liên quan đến bệnh nghề nghiệp, chi phí phòng chữa cháy, chi phí trang thiết bị lao động..)

123


Bảng 11. Các khoản chi phí môi trường cần được quản lý tại công ty Machino 98 Môi trường

Loại chi phí môi trường 1. Chi phí vận hành các thiết bị xử lý bụi và khí thải

2. Chi phí nghiên cứu các giải pháp sản xuất sạch hơn Không khí, khí 3. Chi phí đo đạc môi trường lao động liên quan hậu 4. Khấu hao các hệ thống quạt hút, chụp hút và các hệ thống dẫn khí ra thiết bị xử lý khí

Nước thải

Theo dõi x

x

1. Chi phí vận hành hệ thống xử lý nước thải sơn và mạ

x

2. Chi phí nạo vét mương, cống

x

3. Chi phí thuê đo đạc chất lượng nước thải

x

4. Lương cho công nhân vệ sinh liên quan đến nước thải

x

5. Chi phí tập huấn liên quan đến nước thải 6. Chi phí khấu hao hệ thống thoát nước thải xung quanh nhà máy và khấu hao trạm xử lý nước thải 1. Chi phí chuyên chở chất thải tới nơi thuê xử lý

Chất thải rắn

x

2. Lương cho công nhân tổ vệ sinh công nghiệp: dọn chất thải tại các phân xưởng và vận chuyển chất thải 3. Chi phí nghiên cứu các biện pháp ngăn ngừa chất 4. Chi phí khấu hao xe vận chuyển chất thải

x

5. Chi phí bảo dưỡng xe chở chất thải

x

6. Giá trị mua nguyên vật liệu đầu vào trở thành chất thải 7. Tiền bán phế liệu

x

8. Tiền tiết kiệm được từ việc tái sử dụng các loại xỉ rắn, xỉ bột và phoi bẩn

x

1. Mua cây cảnh Đa dạng sinh 2. Thuê chăm sóc cây cảnh học và cảnh 3. Cải tạo cảnh quan khu vực nhà máy quan 4. Khấu hao vườn hoa cây cảnh 98

Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nghiên cứu thử nghiệm hạch toán quản lý môi trường (EMA) tại công ty Machino – Việt Nam, Báo cáo hội nghị Khoa học lần thứ 20- Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2006

124


Sau khi tính toán các chi phí môi trường, nghiên cứu tiến hành phân bổ lại các chi phí liên quan trong quá trình sản xuất và phân bố lại cơ cấu giá thành sản phẩm của công ty Machino. Qua nghiên cứu, đã giúp cho doanh nghiệp thấy rõ được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, thấy rõ được những chi phí môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất, từ đó có những chính sách điều chỉnh, phân bổ lại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, cụ thể trong công tác quản lý chi phí môi trường kiến nghị doanh nghiệp nên có sự điều chỉnh trong công tác kế toán, thành lập mẫu báo cáo riêng cho việc theo dõi khí thải, nước thải, chất thải rắn, cảnh quan môi trường, tiếng ồn… Qua các nghiên cứu thử nghiệm, đã khẳng định được khả năng ứng dụng EMA cho các doanh nghiệp ở Việt Nam. Hiện nay, việc áp dụng hạch toán quản lý môi trường mới đang ở bước đầu thử nghiệm áp dụng, chưa được tiến hành rộng rãi ở trong các doanh nghiệp của Việt Nam. Chính vì thế, trong thời gian tới cần có những cơ chế, chính sách khuyến khích đẩy mạnh áp dụng mô hình này cho các doanh nghiệp ở Việt Nam. Qua việc nghiên cứu thực tiễn triển khai kinh tế hóa lĩnh vực môi trường ở Việt Nam trong thời gian qua, cho thấy việc thực hiện chủ trương kinh tế hóa lĩnh vực môi trường với mục tiêu đưa môi trường trở thành một ngành độc lập trong nền kinh tế có ý nghĩa rất lớn, tạo thêm nguồn thu đóng góp của ngành cho ngân sách và tăng trưởng kinh tế, góp phần chi đầu tư giải quyết các vấn đề về môi trường, đồng thời góp phần thay đổi nhận thức và hành vi của tổ chức, cá nhân trong việc giữ gìn môi trường, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Chủ trương Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường đã được tiến hành trên thực tế thông qua việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường. Vai trò của các công cụ kinh tế đã được ghi nhận rõ trong các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Căn cứ vào tình hình thực tế, đặc điểm kinh tế xã hội, đặc thù của hoạt động quản lý môi trường tại Việt Nam, một số công cụ kinh tế đã được triển khai áp dụng như: thuế/phí môi trường, ký quỹ môi trường, chi trả dịch vụ môi trường, chuyển giao giấy phép xả thải….Nhiều 125


văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành quy định cụ thể về từng loại công cụ kinh tế góp phần hỗ trợ cho việc triển khai, áp dụng các công cụ kinh tế này. Bên cạnh các kết quả đạt được, việc đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế ở Việt Nam còn rất hạn chế. Các quy định áp dụng công cụ kinh tế còn thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, hiệu lực thực thi chưa cáo, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng Bộ/ngành, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp còn hạn chế. Các công cụ kinh tế mới chỉ áp dụng trên cơ sở các mô hình thí điểm, hoặc trong phạm vi hẹp chưa được triển khai áp dụng trên diện rộng. Một số công cụ kinh tế góp phần tạo nguồn thu cho NSNN còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu tài chính để tái đầu tư cho các hoạt động BVMT. Để đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế này, cần xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ, các thủ tục, trình tự rõ ràng, cụ thể tạo điều kiện cho các loại công cụ kinh tế đang triển khai được thực hiện một cách đơn giản, rõ ràng, hiệu quả. Trong thời gian tới nên tập trung vào việc áp dụng hiệu quả các loại thuế, phí môi trường để tăng nguồn thu cho NSNN, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, cần nghiên cứu thêm kinh nghiệm của các nước trên thế giới về một số loại công cụ kinh tế khác để triển khai, áp dụng ở Việt Nam sao cho phù hợp và hiệu quả. Về cơ chế định giá, lượng giá giá trị môi trường, hạch toán môi trường cũng là một trong những nội dung quan trọng góp phần đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, chưa được hình thành. Hiện nay, mới chỉ có một vài nghiên cứu thử nghiệm chưa có các hướng dẫn cụ thể về quy trình, phương pháp để đánh giá những giá trị môi trường này (đặc biệt là những giá trị môi trường phi thị trường) cũng như lượng hóa những thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường. Hạch toán quản lý môi trường chưa được áp dụng trong các doanh nghiệp, cũng như trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng- quốc gia. Vì thế, trong thời gian tới cần hình thành được cơ chế định giá, lượng giá, hạch toán môi trường để có thể áp dụng vào trong thực tế, góp phần hỗ trợ cho công tác quản lý môi trường hiệu quả hơn, đồng bộ với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

126


CHƯƠNG III. YÊU CẦU, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH KINH THẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG I. Yêu cầu Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước luôn được nhấn mạnh, xuyên suốt qua các mục tiêu, nhiệm vụ và qua từng thời kỳ. Theo đó, để phát triển đất nước bền vững cần phải có sự kết hợp cân đối, hài hoà giữa ba nội dung: phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường được xem là nội dung quan trọng, không thể tách rời trong quá trình phát triển kinh tế. Phương thức quản lý môi trường ở nước ta trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào sử dụng công cụ điều hành và kiểm soát (CAC) với cơ sở pháp lý cao nhất và vững vàng nhất là Luật Bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật còn bao gồm các văn bản dưới luật quy định chi tiết, cụ thể về quản lý và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên trước yêu cầu đổi mới, công tác quản lý và bảo vệ môi trường đã và đang biểu hiện nhiều bất cập, khó khăn, tình hình ô nhiễm môi trường gia tăng, nguồn thu từ môi trường cho nền kinh tế quốc dân còn hạn chế. Trong bối cảnh đó công tác quản lý và bảo vệ môi trường đòi hỏi phải có những thay đổi cơ bản trong cơ chế hoạt động và phương thức điều hành. Chủ trương thực hiện kinh tế hóa trong lĩnh môi trường là một chủ trương lớn, phù hợp với quá trình phát triển của đất nước, đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh kinh tế hoá ngành môi trường cần phải đảm bảo những yêu cầu sau: 1. Đảm bảo hệ thống quản lý đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường Tại Việt Nam, việc thực hiện kinh tế hóa phải được thực hiện đồng bộ với việc thực hiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhà nước đã xác định. Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế được thực hiện cơ chế thị trường thông qua quá trình mua bán, trao đổi và chịu sự chi phối của một số quy luật như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị thặng dư và quy luật lưu thông tiền tệ. Trong nền kinh tế thị trường, giá cả là yếu tố trung 127


tâm, thông qua quy luật cung cầu sẽ điều tiết hoạt động của thị trường. Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ “xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, là nền kinh tế mở có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, vận hành và hoạt động đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo công bằng xã hội. Việc áp dụng các công cụ kinh tế, các công cụ hỗ trợ, đổi mới cơ chế chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường cũng không nằm ngoài yêu cầu trên. Trên cơ sở những nguyên lý của kinh tế thị trường, chúng ta đưa ra chính sách phù hợp để công tác quản lý môi trường có hiệu quả hơn. Các công cụ khác như công cụ kỹ thuật, quản lý, truyền thông cũng được sử dụng hỗ trợ, góp phần hoàn chỉnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. 2. Phát triển bền vững lĩnh vực môi trường Như đã phân tích ở phần I, chương I, mối quan hệ tương tác giữa kinh tế và môi trường là mối quan hệ thường xuyên, xuyên suốt. Đó là mối quan hệ tương tác giữa con người, xã hội và tự nhiên. Từ thời kỳ xa xưa, con người đã biết dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt thường ngày. Cuộc sống hiện tại có sự phân cực lớn về lối sống, mức sống, tiêu dùng, sản xuất...Dân số thế giới ngày càng tăng, nhu cầu về các sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng gia tăng cả về số lượng, chủng loại, gây ảnh hưởng tới môi trường, làm môi trường biến đổi theo hướng tiêu cực, tác dụng xấu tới hệ sinh thái. Các yếu tố môi trường đang bị lạm dụng, sử dụng quá mức dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Do vậy yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý về môi trường là yêu cầu cấp thiết. Việc nghiên cứu, kết hợp nhiều công cụ khác nhau sẽ giúp giải quyết những vấn đề mới phát sinh. Kinh tế hoá trong lĩnh vực môi trường cần đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững. Sự phát triển xã hội phải vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa giải quyết được các vấn đề môi trường đặt ra, ngăn ngừa ô nhiễm. Sự phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển xã hội, nghĩa là nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống.

128


3. Tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia, nâng tầm đóng góp của lĩnh vực môi trường đối với nền kinh tế quốc dân Việc tăng cường xây dựng cơ chế, triển khai kinh tế hoá lĩnh vực môi trường cần đạt được mục tiêu tăng thu ngân sách quốc gia, góp phần nâng cao tỷ lệ đóng góp của lĩnh vực môi trường nói riêng và ngành tài nguyên môi trường nói chung trong quá trình phát triển. Công cụ kinh tế và các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế chính sách quản lý môi trường phù hợp với kinh tế thị trường là những chính sách, biện pháp nhằm tác động tới chi phí và lợi ích của những hoạt động thường xuyên tác động tới môi trường, tăng cường trách nhiệm, ý thức đồng thời tác động tới hành vi của cá nhân theo hướng có lợi cho môi trường. Việc thực hiện hiệu quả các công cụ nói trên góp phần thực hiện tốt hai nguyên tắc cơ bản đã được thừa nhận đó là “người gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền” và “người hưởng lợi từ môi trường phải trả tiền” II. Giải pháp 1.

Nhóm các giải pháp chung

Bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới cho thấy đầu tư sớm cho công tác bảo vệ môi trường sẽ mang lại lợi ích kinh tế cao bởi khoản kinh phí đầu tư ban đầu nhằm phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm sẽ thấp hơn rất nhiều so với kinh phí phải đầu tư cho việc khắc phục hậu quả môi trường. Để thực hiện tốt được chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp từ cơ chế chính sách, pháp luật đến các yêu tố nâng cao năng lực triển khai (cơ chế tài chính, truyền thông, thanh tra, kiểm tra, xử phạt, công nghệ xử lý môi trường…). • Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật nhằm triển khai chủ trương kinh tế hoá lĩnh vực môi trường Tăng cường các giải pháp về pháp luật là một trong những giải pháp quan trọng, cấp thiết góp phần đẩy mạnh thực hiện kinh tế hóa. Để kinh tế hóa lĩnh vực môi trường đạt được hiệu quả tối ưu, cụ thể là các công cụ kinh tế phát huy 129


được hiệu quả thì cần phải có sự thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật, triển khai, hướng dẫn thực hiện một cách rõ ràng và đồng bộ chủ trương kinh tế hoá chung. Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta khá nhiều, tuy nhiên còn thiếu đồng bộ, một số qui định chưa phù hợp với tình hình phát triển của đất nước. Đặc biệt, hệ thống văn bản pháp luật về kinh tế hoá lĩnh vực môi trường là chưa nhiều và chưa đáp ứng kịp thời với nhu cầu thực tiễn. Luật Bảo vệ môi trường 2005 là kim chỉ nam cho công tác bảo vệ môi trường, song lại chưa đề cập nhiều đến các công cụ kinh tế và tính hiệu quả của nó trong quản lý môi trường. Mặc dù có lồng ghép một số công cụ kinh tế vào các điều khoản trong luật, nhưng nội dung còn mờ nhạt và thiếu tập trung. Với cơ sở pháp lý còn thiếu và chưa đồng bộ như hiện nay, các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường chưa được phát huy hiệu quả nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường. Đề án đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường nhằm triển khai Nghị quyết số 27/QĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường và triển khai thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/BCSĐTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2009 của Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường vẫn chưa được ban hành. Bên cạnh đó, mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thuế, phí đối với nước thải, chất thải rắn, khai thác khoáng sản... đã được ban hành và triển khai nhưng qua thực tiễn áp dụng đã bộc lộ nhiều bất cập. Các văn bản hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về đối tượng áp dụng, trình tự, thủ tục thực hiện, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể liên quan còn thiếu. Ngoài ra, cơ sở pháp lý nhằm triển khai các công cụ kinh tế mới khác trên thực tế như đặt cọc – hoàn trả, chi trả dịch vụ môi trường, nhãn sinh thái, giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng v.v... và các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế chính sách vẫn chưa được ban hành. Chính vì vậy, nhiệm vụ cấp bách hiện nay là cần sớm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý môi trường nói chung và kinh tế hoá lĩnh vực môi 130


trường nói riêng, sửa đổi, bổ sung ban hành mới các văn bản pháp luật, đặc biệt cần sửa đổi, bổ sung và xây dựng các điều khoản về các công cụ kinh tế trong Luật Bảo vệ môi trường 2005. Trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường 2005 cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể. • Cải cách hành chính, đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường Bộ máy quản lý nhà nước là yếu tố tiên quyết để đảm bảo được tính hiệu quả trong quản lý môi trường nói chung và triển khai chủ trương kinh tế hoá lĩnh vực môi trường nói riêng. Hiện nay, bộ máy quản lý nhà nước về môi trường của Việt Nam còn cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ phân tán cho nhiều bộ ngành khiến cho quá trình thực hiện gặp nhiều bất cập. Tổ chức bộ máy trong Bộ TNTM nói riêng và các bộ/ngành nói chung còn chồng chéo về chức năng, phạm vi hoạt động. Việc phân cấp không rõ ràng giữa các đơn vị dẫn đến việc né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Việc đơn giản hóa bộ máy quản lý, tập trung qui về đầu mối chịu trách nhiệm chính trong quản lý môi trường đảm bảo cho bộ máy quản lý gọn nhẹ là nhiệm vụ cấp thiết. Cần quy định trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng giữa các các Bộ, ngành ở trung ương và địa phương, giữa cá nhân và tập thể, đồng thời tăng thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân nhằm tăng cường trách nhiệm và hiệu quả triển khai. Nhằm triển khai mạnh mẽ chủ trương kinh tế hoá lĩnh vực môi trường nói riêng và ngành tài nguyên và môi trường nói chung, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải cách theo hướng "một cửa", mẫu hóa các văn bản hành chính, giấy tờ, công khai các thủ tục hành chính. Đối với các thủ tục hành chính như kê khai, cấp phép, thu nạp thuế, phí v.v… cần phải được đơn giản hoá, công khai, tránh rườm rà tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện, tránh tình trạng lợi dụng các kẽ hở pháp luật phục vụ cho lợi ích cá nhân. Giải pháp này đảm bảo hạn chế sự sách nhiễu, phiền hà và lãng phí tiền của cho người dân, đồng thời tiết kiệm ngân sách cho nhà nước.

131


• Tăng cường năng lực nghiên cứu, phân tích kinh tế trong lĩnh vực môi trường, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước môi trường có kiến thức tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường99 Bên cạnh những giải pháp về pháp luật, hệ thống quản lý thì nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ có chuyên môn là một trong những giải pháp quan trọng, cần phải thực hiện sớm. Số lượng cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo chính quy về môi trường hiện nay còn yếu và thiếu, đặc biệt là các cán bộ có kiến thức chuyên sâu về kinh tế. Năng lực phân tích kinh tế trong lĩnh vực môi trường nói riêng và ngành tài nguyên và môi trường nói chung còn yếu và yếu tố kinh tế trong các chính sách bảo vệ môi trường chưa được chú trọng. Chưa có mạng lưới các chuyên gia kinh tế hỗ trợ trong quá trình hoạch định chính sách môi trường. Vì vậy, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ quán lý nhà nước về môi trường cần phải thực hiện khẩn trương và mạnh mẽ. Tập trung đào tạo cán bộ trong lĩnh vực môi trường ở các Bộ, ngành Trung ương và các cấp địa phương về kiến thức chuyên ngành môi trường, cụ thể là chuyên ngành kinh tế môi trường để cung cấp cho họ những kiến thức tổng quan về kinh tế học (kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô); mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và môi trường; về các kỹ năng phân tích kinh tế để các nhà quản lý có thể nhìn nhận, phân tích, đánh giá môi trường dưới góc độ kinh tế. Bên cạnh đó, cần huy động thêm sự tham gia của các chuyên gia kinh tế vào công tác quản lý môi trường cụ thể như công tác nghiên cứu, hoạch định, xây dựng các chính sách về môi trường. Cần có những giải pháp thu hút đội ngũ cán bộ, công chức với những chính sách, chế độ ưu đãi. Xây dựng trung tâm nghiên cứu chuyên về Kinh tế Môi trường thuộc Viện Khoa học quản lý Môi trường để làm đầu mối cho các hoạt động nghiên cứu khoa học về kinh tế môi trường, hỗ trợ cho các nhà lãnh đạo trong việc hoạch định, xây dựng các chính sách quản lý môi trường dưới góc độ kinh tế, 99

Nghị quyết số 27 NQ/BCSĐTNMT về đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường

132


phù hợp với bối cảnh của cơ chế thị trường; kết hợp một cách hài hòa giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường trong quá trình phát triển kinh tế. • Tăng cường công tác nghiên cứu và từng bước triển khai áp dụng các công cụ kinh tế, các công cụ hỗ trợ khác trong quản lý môi trường Hệ thống cơ sở lý luận về các công cụ kinh tế và các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế chính sách quản lý môi trường phù hợp với kinh tế thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các cơ chế, chính sách. Như đã phân tích ở trên, hIện nay, đã có một số nghiên cứu khoa học của các bộ, ngành về lĩnh vực này tuy nhiên chưa được triển khai áp dụng trong thực tiễn. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc hoàn thiện các nghiên cứu và triển khai thí điểm các kết quả nghiên cứu nhằm đúc rút kinh nghiệm để nhân rộng mô hình trên phạm vi toàn quốc. Thực hiện đồng bộ việc áp dụng các công cụ kinh tế với các công cụ hành chính và kỹ thuật. Để thực hiện tốt giải pháp đồng bộ trên thì công tác nghiên cứu, đánh giá tiềm năng cơ hội đóng góp của lĩnh vực môi trường vào nguồn thu của ngân sách và tăng trưởng của GDP là việc làm cấp thiết. Nghị quyết số 27NQ/BCSĐTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2009 của Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường đã chỉ rõ bảo vệ môi trường là thước đo hiệu quả và tính bền vững của hoạt động kinh tế, có thể hạch toán toàn diện và đầy đủ. Do vậy, trước khi có những chiến lược phát triển, áp dụng rộng rãi, công tác đánh giá, dự báo đóng góp trong lĩnh vực môi trường cần được thực hiện kịp thời, chính xác, nghiên cứu và xem xét khả năng áp dụng các công cụ đó trong điều kiện thực tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cần phải tiến hành nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, và áp dụng có chọn lọc, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Cần đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng thí điểm và xây dựng cơ chế chính sách đối với các công cụ kinh tế và các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế chính sách chưa được áp dụng tại Việt Nam như: giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng (cota ô nhiễm), đặt cọc hoàn trả, định giá, lượng giá giá trị môi trường, hoạch 133


toán môi trường v.v... • Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân về bảo vệ môi trường và chủ trương kinh tế hóa lĩnh vực môi trường Công tác truyền thông, phổ biến giáo dục kiến thức về bảo vệ môi trường tại Việt Nam chưa hiệu quả. Nhận thức của người dân đối với vấn đề kinh tế hoá lĩnh vực môi trường nói riêng và bảo vệ môi trường còn chưa cao. Tuy nhiên, đây là giải pháp rất cần thiết và hiệu quả để hỗ trợ các giải pháp về chính sách, pháp luật được triển khai thành công, đồng thời đẩy mạnh triển khai thực hiện hiệu quả chủ trương kinh tế hoá lĩnh vực môi trường. Cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng, về trách nhiệm bảo vệ môi trường và tự giác thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật như trong hoạt động thu phí trong khai thác khoáng sản, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn, chi trả các dịch vụ môi trường v.v… theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, người hưởng lợi phải trả tiền. Cần lồng ghép hiệu quả hơn nội dung bảo vệ môi trường vào các chương trình giáo dục ở tất cả các bậc học, và nội dung đào tạo ở các cơ sở dạy nghề, các cơ sở kinh doanh. Phải có chính sách khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh đối với những các cá nhân, tập thể nhằm tạo động lực và phát huy vai trò chủ đạo của người dân trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và thực hiện kinh tế hoá lĩnh vực môi trường nói riêng. • Tăng cường đầu tư, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường Tại Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước, cá nhân, tổ chức, cộng đồng, đặc biệt là đề cao trách nhiệm của các cơ sở sản xuất và dịch vụ. Theo Nghị Quyết, Nhà nước sẽ tạo cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường, hình thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, công nhận, chứng nhận về bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham 134


gia các dịch thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác về bảo vệ môi trường. Luật bảo vệ môi trường 2005 đã đề cập đến khía cạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường trong toàn bộ văn bản Luật và dịch vụ môi trường được qui định tại điều 116 về phát triển dịch vụ môi trường. Theo đó, trong lĩnh vực thu gom, tái chế, xử lý chất thải, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp, dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường để thực hiện hoạt động giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường thông qua hình thức đấu thầu. Xã hội hoá bảo vệ môi trường sẽ huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội, sẽ góp phần triển khai chủ trương kinh tế hóa lĩnh vực môi trường một cách hiệu quả hơn. Vì vậy, cần phải xây dựng các cơ chế chính sách ưu đãi khuyến khích công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường, khuyến các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. • Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo dõi về việc thi hành các quy định của pháp luật về kinh tế hoá lĩnh vực môi trường Công tác thanh tra, kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong việc đốc thúc, giám sát, phát hiện khó khăn, bất cập và kịp thời hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp và cộng đồng trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật về thuế, phí và các công cụ kinh tế cũng như công cụ hỗ trợ khác. Cần nâng cao chất lượng thanh tra, kiểm tra bằng các biện pháp nghiệp vụ, tăng tần suất và bám sát địa bàn địa phương. Cần xây dựng các nhóm hỗ trợ bao gồm các cán bộ có chuyên môn, cảnh sát môi trường và người dân địa phương để nắm tình hình thực hiện tại địa bàn, kịp thời phát hiện vi phạm và trợ giúp khi cần thiết. • Đầu tư, cải thiện thiết bị quan trắc và các thiết bị hỗ trợ trong quá trình triển khai kinh tế hoá môi trường Các dữ liệu môi trường phục vụ trực tiếp cho công tác triển khai các công cụ kinh tế như thuế, phí, hoạch toán, lượng giá. vv… Chất lượng dữ liệu luôn phải được đảm bảo chính xác, cập nhật và đồng bộ. Vì vậy, các thiết bị quan 135


trắc, phân tích và các thiết bị hỗ trợ khác cần được trang bị cho các đơn vị chức năng của địa phương cũng như các doanh nghiệp để có thể đảm bảo được chất lượng dữ liệu môi trường. Đồng thời, việc triển khai tính toán và nộp thuế, phí bảo vệ môi trường và các chính sách kinh tế hoá khác được thực hiện dễ dàng, chính xác, công bằng và hiệu quả. 2. Nhóm các giải pháp cụ thể Trong bối cảnh hiện nay, để triển khai thực hiện chủ trương kinh tế hoá lĩnh vực môi trường, bên cạnh những giải pháp chung nêu trên, cần thực hiện những giải pháp trước mắt là tập trung đẩy mạnh việc thực hiện áp dụng các công cụ kinh tế như thuế môi trường, phí môi trường, nghiên cứu xây dựng, tạo lập một thị trường mới về môi trường làm tiền đề để áp dụng các công cụ kinh tế, nâng cao trách nhiệm xã hội trong bảo vệ môi trường. 2.1 Tăng cường hiệu quả áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 2.1.1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước Với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá môi trường sinh thái đã bị tác động nghiêm trọng, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, chất thải rắn ngày càng gia tăng cả về khối lượng lẫn thành phần. Ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Tình trạng suy thoái và ô nhiễm đã, đang và sẽ là thách thức nghiêm trọng tới môi trường và phát triển kinh tế Việt Nam. Theo ước tính của các chuyên gia nước ngoài, nếu GDP của Việt Nam tăng mà không có các biện pháp ngăn ngừa, phòng chống ô nhiễm môi trường thì nguy cơ ô nhiễm sẽ tăng gấp 3 đến 5 lần. Trong thời gian qua, việc áp dụng rộng rãi các chính sách về thuế và phí môi trường đã thu được những kết quả đáng kể. Các khoản thu từ phí môi trường đã tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần chi đầu tư giải quyết các vấn đề về môi trường, đồng thời nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng. Các quy định ưu đãi thuế đối với lĩnh vực môi trường đã nâng cao ý thức của các doanh nghiệp trong việc hạn chế tác động xấu do hoạt 136


động sản xuất gây ra cho môi trường, từ đó áp dụng các giải pháp công nghệ sản xuất tiên tiến và các giải pháp xử lý chất thải nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường. Thuế phí bảo vệ môi trường cũng đã thúc đẩy doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng công nghệ sạch, sử dụng nguyên liệu mới, thân thiện với môi trường, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên và sản xuất các sản phẩm “sạch”. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập. Trong các chính sách về thuế và phí hiện nay, mục tiêu bảo vệ môi trường mới chỉ là những mục tiêu được lồng ghép chứ không phải là mục tiêu chính. Kết quả áp dụng các loại thuế, phí trong thực tế còn hạn chế, chưa thể hiện được mục đích của việc áp dụng công cụ này. Năm 2008 nguồn thu từ thuế, phí bảo vệ môi trường là 1.224 tỷ đồng. Nếu tính cả thu phí xăng dầu 9000 tỷ/năm thì tổng thu là 10.224 tỷ. Nhà nước hàng năm dành 1% tổng chi ngân sách để chi cho sự nghiệp môi trường. Trong khi đó nhu cầu tài chính cho bảo vệ môi trường là rất lớn. Do vậy nghiên cứu, mở rộng và áp dụng các loại thuế, phí cần phải đẩy mạnh và phải được coi là công cụ đi đầu trong việc ngăn ngừa ô nhiễm, thay đổi hành vi. Các lĩnh vực chúng ta cần đẩy mạnh thu đó là nước thải, chất thải rắn, khoáng sản, và các nhóm sản phẩm khác như xăng dầu.....100

• Thuế bảo vệ môi trường Luật thuế môi trường được ban hành nhằm đánh vào đối tượng gây ô nhiễm môi trường để bảo vệ môi trường, góp phần thay đổi nhận thức của cộng đồng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp. Để người dân có thể hiểu và thực hiện Luật một cách nghiêm túc trong thực tế cần triển khai tuyên truyền, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng những nội dung chưa cụ thể trong luật Luật thuế bảo vệ môi trường quy định 8 nhóm đối tượng phải nộp thuế BVMT gồm: xăng, dầu, mỡ nhờn; than đá; dung dịch HCFC; túi ni lông thuộc diện chịu thuế; thuộc bảo quản lâm sản hạn chế sử dụng; thuốc khử trùng kho 100

Tờ trình của Chính phủ về Luật thuế môi trường.

137


loại hạn chế sử dụng; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng. Căn cứ theo Luật thuế BVMT thì mức thuế được tính toán dựa theo công thức sau: M = Σ Qi *Ti Trong đó: M: Tổng thuế BVMT thu được. Qi: Số lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế i ( i= 1,..,8) Ti: Mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa i ( i= 1,..,8) Ước tính tổng thu từ thuế môi trường đến tính năm 2015 Theo số liệu thống kê của nhóm nghiên cứu, tổng thu từ thuế môi trường tính từ thời điểm cuối năm 2009 đến 2015 sẽ là 4.057.105 tỷ đồng (giả định tỷ lệ thu thuế đạt được 100%). Số liệu chi tiết được trình bày trong bảng 12. Bảng 12. Tổng số tiền thuế môi trường thu được đối với một số nhóm hàng hóa (dự kiến) vào năm 2015 TT

Tên hàng

Sản lượng

Thuế suất tối đa

Tiền thuế

(năm 2009) 1

Túi ni lông

80 tỷ kg

50.000 VNĐ/Kg

4.000.000 tỷ đồng

2

Xăng các loại

14.000.000 tấn

4.000VNĐ/lít

= 56*1012 VNĐ

=14* 106 tấn

= 56.000 tỷ đồng

= 14* 109 kg 3

Than

30 triệu tấn

30.000 VNĐ/ tấn

= 900* 103 triệu đồng = 900 tỷ đồng

4

HCFC

3.000 tấn

5.000 VNĐ/kg

= 3* 106 5

Thuốc bảo vệ thực vật

38.000 tấn

Tồng

= 15* 109 VNĐ/kg = 15 tỷ đồng

5.000 VNĐ/kg

= 190* 109 VNĐ/kg = 190 tỷ đồng

4.057.105 tỷ đồng

Nguồn: Tổng hợp và xử lý số liệu 138


Nếu mức tiêu thụ trong vòng 5 năm tới tăng 10% thì mức thu từ thuế môi trường (với giả định tỷ lệ thu thuế đạt 100%) sẽ là: M 2015= 4.057.105 * (1+0,1)6 = 7.187.408,991 tỷ đồng

• Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhằm mục đích bảo vệ môi trường nước và hạn chế lượng nước thải chưa qua xử lý thải ra môi trường, sử dụng các biện pháp nhằm hạn chế ô nhiễm, góp phần vào bảo vệ môi trường. Nghị định 67/2003/NĐ-CP được ban hành là công cụ kinh tế đầu tiên được áp dụng ở nước ta. Nghị định này ra đời đã tạo điều kiện thuận lợi trong công tác bảo vệ môi trường xong trong thực tế còn gặp nhất nhiều khó khăn. Theo nghiên cứu của Viện Khoa học quản lý môi trường trong đề tài “Khảo sát đánh giá thực tiễn thi hành Nghị định 67/2003 NĐ-CP về thu phí nước thải và giải pháp hoàn thiện”, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu phí, đề tài đã đề xuất một số giải pháp cần thực hiện như sau: Thứ nhất, đối tượng chịu phí nước thải cần được áp dụng theo ngành, đặc biệt là các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước cao. Thực tế cho thấy trong hầu hết các trường hợp, số lượng các doanh nghiệp phải trả phí là quá lớn so với năng lực của các Sở Tài nguyên và Môi trường. Với năng lực hạn chế của các cấp quản lý, việc áp dụng phí đối với các doanh nghiệp lớn trong một số ngành đặc thù là tương đối khả thi. Để làm được điều đó, trước hết cần xác định ngành gây ô nhiễm chính. Các ngành này bao gồm: sản xuất giấy, dệt may, da giầy, hoá chất, chế biến thực phẩm. Nghiên cứu gần đây của Ngân hàng thế giới về ‘Đánh giá và phân tích tác động ô nhiễm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam’ cho thấy chỉ tính riêng 3 ngành công nghiệp (Bao bì giấy và bìa các tông – VSIC 2102 (VSIC là hệ thống mã ngành kinh tế của Việt Nam); Bột giấy, giấy và bìa các tông – VSIC 2101; sữa và các sản phẩm sữa – VSIC 1520) đóng góp hơn 45% tổng lượng phát thải BOD của toàn ngành công nghiệp chế biến. Tương tự như vậy theo ước tính 3 ngành (Phân bón và các hợp chất nitơ – VSIC 2412; sắt thép cơ bản – VSIC 2710; và hoá chất cơ bản trừ phân bón và 139


các hợp chất nitơ – VSIC 2411) tạo ra hơn 40% tổng lượng kim loại nặng phát thải vào môi trường. Độ tin cậy của những tính toán này có thể chưa hoàn toàn chính xác nhưng cho thấy một thực tế là có một số ngành sẽ tạo ra ô nhiễm nhiều hơn ngành khác. Do vậy, để giảm ô nhiễm một cách đáng kể, Chính phủ nên tập trung vào quản lý một số ngành có tiềm năng gây ô nhiễm cao. Nhờ đó có thể giảm bớt gắng nặng của các cơ quan quản lý trong việc triển khai thành công các công cụ kinh tế trên thực tế. Giải pháp này được các doanh nghiệp lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong phần đề xuất của phiếu điều tra khảo sát do Viện Khoa học quản lý môi trường tiến hành. Thứ hai, các chỉ tiêu tính phí nước thải chỉ nên áp dụng cho chỉ tiêu ô nhiễm COD, các chỉ tiêu khác (nếu có) nên qui đổi về COD tương đương. Thực tế việc áp dụng phí nước thải công nghiệp tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy phần lớn số phí thu được từ 3 chỉ tiêu BOD, COD và TSS. Các chỉ tiêu này thường được các doanh nghiệp kê khai, tương đối dễ dàng trong việc kiểm tra và chi phí phân tích tương đối thấp. Mặt khác, năng lực của các cơ quan quản lý trong việc kiểm soát kim loại nặng là rất hạn chế và chi phí cho việc phân tích là tương đối lớn. Để áp dụng thành công Nghị định 67/2003/NĐ-CP, chúng tôi khuyến nghị Chính phủ chỉ nên áp dụng phí BVMT cho chỉ tiêu ô nhiễm COD. Các chỉ tiêu khác (nếu có) nên qui đổi về COD tương đương theo kinh nghiệm của Trung Quốc. Với trình độ phát triển, trình độ công nghệ và điều kiện kinh tế xã hội tương đồng, kinh nghiệm của Trung Quốc tương đối phù hơp với Việt Nam. Thứ ba, cần xây dựng hệ thống phí hai nấc là phí cố định và phí biến đổi nhằm đạt mục tiêu hạn chế ô nhiễm và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Mục tiêu chính của việc áp dụng phí nước thải nhằm (1) Nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, (2) sử dụng tiết kiệm nước sạch và (3) tạo nguồn kinh phí cho Quỹ Bảo vệ môi trường thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường. Trong 3 mục tiêu trên, thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm là mục tiêu quan trọng nhất, tiếp đến là tạo nguồn thu cho công tác bảo vệ môi trường 140


và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước. Tuy nhiên thực tế cho thấy mục tiêu tạo nguồn thu đôi khi được ưu tiên hơn các mục tiêu khác. Hệ thống phí hiện hành của Việt Nam được xây dựng giống như hệ thống phí ô nhiễm không có phí cố định bắt buộc đối với các doanh nghiệp. Nghị định 67/2003/NĐ-CP đưa ra mức phí tối đa và mức phí tối thiểu đối với các chất ô nhiễm qui định. Với hệ thống phí như vậy, mục tiêu hạn chế ô nhiễm và tạo nguồn thu rất khó đạt được. Hệ thống phí 2 nấc sẽ giúp giải quyết những tồn tại của Nghị định 67/2003/NĐ-CP và đạt được 2 mục tiêu trên Philippines và Malaysia đều rất thành công trong việc áp dụng hệ thống phí 2 nấc. Việt Nam nên học tập kinh nghiệm mô hình này. Trong đó, nấc thứ nhất là phí cố định tương tự phí hành chính, bắt buộc cho mọi tượng nhằm tạo nguồn thu cho công tác quản lý; và nấc thứ hai là phí ô nhiễm đồng nhất đánh theo mức phát thải không phụ thuộc vào việc phát thải trong hay vượt tiêu chuẩn. Để giảm số lượng các doanh nghiệp phải giám sát, các cơ quan quản lý nên áp dụng phí cố định đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp lớn sẽ phải chịu đồng thời 2 mức phí trên. Việc phân loại doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể theo cách phân loại thông thường về vốn và lao động(Theo qui định Doanh nghiệp vừa và và nhỏ là các doanh nghiệp có vốn < 10tỷ đồng và số lượng lao động < 300 người ) hoặc theo khối lượng nước thải trên cơ sở kinh nghiệm của Philippines (Theo qui định của Philippines các doanh nghiệp nhỏ có khối lượng nước thải < 30m3/ngày, các doanh nghiệp vừa có khối lượng nước thải từ 30-150m3/ngày, các doanh nghiệp lớn có khối lượng nước thải > 150m3/ngày). Thứ tư, xác lập mức phí phù hợp nhằm tăng cường tính răn đe các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước. Mức phí cao có thể tạo động lực mạnh cho các doanh nghiệp cắt giảm ô nhiễm nhưng hiệu quả về nguồn thu thường không đạt được. Các doanh nghiệp luôn có xu hướng tìm các giải pháp xử lý ô nhiễm để tránh phải trả phí cao. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận việc áp 141


dụng mức phí cao ngay từ đầu có thể cho phép thu được những kết quả về cải thiện môi trường nhanh hơn. Mặt khác, mức phí thấp có thể ít tạo áp lực về chi phí cho các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển như Việt Nam, nhưng lại thất bại trong việc cải thiện chất lượng môi trường. Các quốc gia khác trong khu vực như Trung Quốc, Philippines và Malaysia đều đang áp dụng mức phí ô nhiễm cao hơn nhiều so với Việt Nam. Với trình độ phát triển kinh tế như Việt Nam hiện nay, việc áp dụng mức phí hiện tại là không phù hợp. Chúng tôi cho rằng mức phí nước thải thích hợp đối với Việt Nam là khoảng 2000 đồng/kg COD (tương đương với mức phí của Trung Quốc). Mức phí này cũng cần điều chỉnh tăng dần sau mỗi chu kì 05 năm. Thực tế đã cho thấy mức độ lạm phát thường làm mất đi giá trị thực của phí. Tuy vậy, điều chỉnh thường xuyên mức phí do ảnh hưởng của lạm phát là việc làm không khả thi. Do đó áp dụng hệ thống tự điều chỉnh hàng năm theo chỉ số giá tiêu dùng là việc cần làm ngay nhằm hạn chế ảnh hưởng của lạm phát đến hiệu quả của công cụ. Thứ năm, Sở Tài nguyên và Môi trường phải là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc thu phí nước thải. Việc áp dụng Nghị đinh 67/2003/NĐ-CP trên thực tế cho thấy có sự trùng lặp và thiếu rõ ràng trong việc phân công trách nhiệm của các cơ quan quản lý như Sở Tài nguyên và Môi trường, Công ty kinh doanh nước sạch và Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất trong việc thu phí. Tuy nhiên cần lưu ý mục tiêu đầu tiên của việc áp dụng các công cụ kinh tế là quản lý ô nhiễm. Do vậy cơ quan chịu trách nhiệm chính phải là Sở Tài nguyên và Môi trường. Việc triển khai công cụ phí bảo vệ môi trường phải nằm trong hệ thống kiểm tra giám sát thường xuyên. Công ty kinh doanh nước sạch và Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất chỉ là các cơ quan phối hợp nhằm thực hiện nhiệm vụ trên. Do việc thu phí và quản lý phí là trách nhiệm của sở Tài nguyên và Môi trường, nên nhất thiết phải có một bộ phận chuyên trách về vấn đề này. Kiểm soát ô nhiễm bằng các công cụ kinh tế đòi hỏi kinh nghiệm quản lý cùng các 142


kiến thức về kinh tế và môi trường. Tuy nhiên hệ thống quản lý môi trường còn nhiều bất cập, cơ cấu tổ chức quản lý còn chưa tương xứng với nhiệm vụ đặt ra. Tính chung trên cả nước tỷ lệ cán bộ quản lý môi trường là 15 người trên 1 triệu dân, trong khi đó tại các nước lân cận tỷ lệ này cao hơn nhiều lần, ví dụ như Trung Quốc 20 người/1 triệu dân, Thái Lan – 30 người, Campuchia – 100 người. Các Sở TN&MT cần xây dựng chiến lược về cải thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thực hiện các chức năng của mình. Thứ sáu, cần duy trì phương thức thu phí dựa trên cơ sở tự kê khai của doanh nghiệp và có sự thẩm định của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Theo kết quả điều tra, 82,4% doanh nghiệp đồng ý với phương thức tự kê khai như hiện nay. Việc thu phí nên tiến hành theo năm hoặc 6 tháng để giảm chi phí hành chính và đi lại của các cán bộ thu phí. Thời gian lập tự kê khai, thẩm định kết quả, thông báo khoản tiền phải nộp và nộp phí nên kéo dài trong vòng 01 tháng để đảm bảo tính khả thi. Thứ bảy, sử dụng nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường hợp lý, đúng nội dung chi, tập trung vào các vấn đề môi trường trọng điểm. Cần sửa đổi qui định sử dụng nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường theo hướng tập trung cho mục tiêu cải thiện môi trường nước thông qua quĩ bảo vệ môi trường Việt Nam.Theo quan điểm kinh tế, một đôla từ ‘thu nhập môi trường’ nên được sử dụng vào mục đích có thể mang lại lợi ích xã hội lớn nhất. Mặc dù ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp môi trường thực hiện theo đúng chủ trường trên 1% ngân sách Nhà nước và thực tế mức chi cao hơn. Theo dự toán, tổng chi Ngân sách bảo vệ môi trường năm 2010 là 6.230 tỷ đồng, trong đó có 5.250 tỷ đồng chi cho các địa phương, 980 tỷ đồng chi các Bô, ngành Trung ương. Nhưng trên thực tế, mức chi sự nghiệp môi trường ước 7.645 tỷ, bằng 127% dự toán và nhiều hơn mức chi năm 2009 là 1.859 tỷ đồng; dự toán chi năm 2011 là 7.250 tỷ đồng, 101

nhưng nhìn chung tổng mức chi còn thấp, không đáp ứng yêu cầu; thiếu sự

phối hợp lồng ghép chi sự nghiệp bảo vệ môi trường với các mục chi khác, dẫn 101

Báo cáo 16/BC-CP ngày 15/10/2010, Báo cáo trình Quôc Hội về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2010 và dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2011

143


đến tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót, dàn trải, lãng phí. Kinh phí chi sự nghiệp môi trường ở các bộ, ngành, địa phương chưa được bố trí đủ, đúng với nội dung chi, tập trung vào các vấn đề môi trường trọng tâm, trọng điểm (hầu hết các địa phương đã bố trí từ 80%- 90% tổng chi sự nghiệp môi trường cho thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt), dẫn tới việc không còn kinh phí để thực hiện các nội dung quản lý môi trường khác theo quy định. Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết chi cho sự nghiệp môi trường ở Việt Nam mới đạt 1% tổng chi ngân sách từ năm 2006, trong khi Trung Quốc và các nước ASEAN đầu tư cho môi trường trung bình hàng năm chiếm 1% GDP; ở các nước đang phát triển chiếm từ 3%– 4%. Bộ Tài nguyên và Môi trường đang đề nghị Quốc hội tăng chi ngân sách bảo vệ môi trường lên 1,5 - 2% Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 – 2015. Để đảm bảo nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, cần sửa đổi qui định sử dụng nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường theo hướng tập trung cho mục tiêu cải thiện môi trường nước thông qua quĩ bảo vệ môi trường Việt Nam. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, các khoản thu này nên được dành riêng để đầu tư trở lại cho môi trường: cho các hoạt động chống ô nhiễm của bản thân các cơ sở đã nộp phí, hay tài trợ các hoạt động công cộng khác (ví dụ xây dựng nhà máy xử lý nước thải) hay để nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý môi trường. Ước tính nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tính đến 2015 Dự kiến trong thời gian tới số tiền thu được qua phí nước thải, đặc biệt là nước thải công nghiệp sẽ là tương đối lớn. Áp dụng công thức tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo :

144


Trong đó: TF là tổng phí nước thải mà cơ sở SXKD phải nộp trong quý; TFi là số phí nước thải phải nộp đối với chất gây ô nhiễm i (BOD, COD,TSS...) trong quý; Qt là tổng lượng nước thải thải ra (m3/quý); Ci là hàm lượng chất gây ô nhiễm i có trong nước thải (mg/l); Ri là mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của chất gây ô nhiễm i thải ra môi trường tiếp nhận tương ứng (đồng/kg). Ước tính thực hiện dựa trên cơ sở Quyết định 1419/QĐ-TTg ngày 7/9/2009 phê duyệt chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 và Quyết định số 1107/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 và dự báo xu thế hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất,… , đến năm 2020 đầu tư đồng bộ để hoàn thiện các khu công nghiệp hiện có, thành lập mới một cách có chọn lọc các khu công nghiệp với tổng diện tích tăng thêm khoảng 20.000 ha - 25.000 ha; nâng tổng diện tích các khu công nghiệp đến năm 2015 khoảng 65.000 ha - 70.000 ha. Phấn đấu đạt tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp bình quân trên toàn quốc khoảng trên 60%. Giả định rằng lượng nước thải công nghiệp do mở rộng quy mô thải ra và lượng nước thải tiết kiệm được do áp dụng sản xuất sạch hơn cân bằng và mức nước thải gia tăng trong thời gian tới không đang kể với điều kiện thực hiện nghiêm việc thu phí nước thải đến năm 2015 thì tổng thu từ nguồn này là 82,7 tỉ đồng.

• Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn áp dụng triệt để sẽ góp phần tăng đáng kể nguồn thu cho ngân sách. Do vậy chúng ta cần có những giải pháp cụ thể, đồng bộ để đẩy nhanh công tác này.

145


Thứ nhất, sửa đổi, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phí bảo vệ môi trường đối với CTR với các mức phí phù hợp. Trong thời gian tới cần hoàn thiện hệ thống văn bản qui định về việc tái chế, tái sử dụng chất thải rắn mà văn bản pháp lý cao nhất đó là Luật tái chế chất thải rắn. Chính sách thu phí đối với chất thải rắn hiện nay do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định việc quản lý, sử dụng tiền phí đã dẫn đến nguồn thu ngân sách bị phân tán, thất thoát, nguồn vốn quay vòng tái đầu tư cho công tác xử lý chất thải rắn cũng bị phân tán, và không đáng kể. Do vậy, cần sửa đổi, bổ sung các mức xử phạt cho đúng, sát với tình hình thực tế. Xây dựng chế tài xử phạt đủ mạnh nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đối với các ngành phát sinh CTR với khối lượng lớn, cần nghiên cứu, ban hành định mức phát thải CTR để thuận lợi cho công tác thu phí do trên thực tế việc xác định chính xác khối lượng CTR đối với các đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn. Thứ hai, cần áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn cho nguyên liệu đầu vào hay sản phẩm nhằm khuyến khích người sản xuất và người tiêu dùng hạn chế phát sinh chất thải. Hiện nay, mức phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được tính dựa trên khối lượng chất thải phát sinh ra môi trường. Đây là hình thức tính phí đơn giản, áp dụng chủ yếu cho đối tượng là người sử dụng. Tuy nhiên, hình thức tính phí này chưa có tác dụng khuyến khích đối với các nhà sản xuất để thay đổi công nghệ tạo ra sản phẩm ít phát sinh thất thải rắn hơn. Ví dụ: các bao bì nhãn mác sản phẩm sau khi sử dụng chỉ đánh phí đối với người sử dụng mà chưa tính đến người sản xuất ra nó. Do vậy, đối với một số loại hình sản xuất đặc thù, chẳng hạn như bao bì nhãn mác cần áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với nguyên liệu đầu vào hay sản phẩm đầu ra để khuyến khích các đơn vị sản xuất thay đổi công nghệ sản xuất ra các sản phẩm ít phát sinh chất thải rắn. Thứ ba, xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể về công tác phân loại chất thải để có thể áp dụng phí bảo vệ môi trường đúng. Để nâng cao hiệu quả thu 146


phí, cơ quan quản lý môi trường cần phân chia các loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để hệ thống các nguồn phát sinh chất thải rắn ngay từ khâu đầu tiên, như: khu vực nhà ở (hộ không kinh doanh dịch vụ); khu vực thương mại; khu vực nhà nghỉ; khu ăn uống; khu vực dịch vụ; khu nghiên cứu và đào tạo; văn phòng; rác y tế; khu vực xây dựng mới và cải tạo; khu vực dịch vụ công cộng; các nhà máy xử lý nước cấp, nước thải, lò đốt chất thải sinh hoạt; khu công nghiệp...Một trong những khó khăn trong việc thu phí đó là rất khó để phân loại rõ đâu là chất thải rắn nguy hại, đâu là chất thải rắn thông thường. Thực tế cho thấy trong Nghị định 174 chỉ phân loại thành hai đối tượng thu phí đó là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại, tuy nhiên giữa doanh nghiệp và cơ quan chức năng vẫn còn nhiều tranh cãi trong vấn đề này. Để công tác thu phí diễn ra thuận lợi, các cơ quan quản lý nhà nước cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể về phân loại chất thải, đối tượng phải chịu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn. Thứ tư, tăng cường kiểm tra giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước cần kiểm tra giám sát thường xuyên cả hai bên: bên phát sinh chất thải lẫn bên thu gom và xử lý chất thải nhằm hạn chế tiêu cực trong việc thu phí. Thứ năm, tăng mức phí BVMT đối với CTR thông thường cho phù hợp với thực tế. Theo số liệu thu thập được thì chi phí xử lý cho 01 tấn rác thải sinh hoạt vào khoảng 14 USD, trong khi mức phí BVMT là 40.000 đồng/ tấn, chỉ bằng 13% chi phí xử lý. Mức phí BVMT đối với CTR thông thường cần tăng lên để đảm bảo có thể trang trải một phần chi phí cho việc đầu tư xử lý CTR thông thường, giảm bớt gánh nặng chi phí cho NSNN. Ước tính nguồn thu từ phí vệ sinh môi trường và phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn tính đến năm 2015 Với những giải pháp tích cực trên, dự kiến tới năm 2015 thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn sẽ có những chuyển biến tích cực. Ước tính nguồn thu như sau:

147


+ Phí BVMT đối với CTR Theo Nghị định 174/NĐ-CP về thu phí BVMT đối với chất thải rắn thì mức thu phí như sau: dưới 40.000đ/tấn đối với chất thải rắn thông thường và dưới 6.000.000đ/tấn đối với chất thải rắn nguy hại. Ước tính nguồn thu đối với chất thải rắn thông thường như sau: Theo Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050, tổng khối lượng chất thải rắn công nghiệp là 9,6 triệu tấn trong đó tỷ lệ chất thải rắn nguy hại khoảng 40% (tương đương là 3,84 triệu tấn), chất thải rắn thông thường là 60% (tương đương là 5,76 triệu tấn). Giả sử, áp dụng mức phí 40.000 đồng/tấn đối với chất thải rắn thông thường vào năm 2015 và 6.000.000 đồng/tấn đối với chất thải rắn nguy hại Tổng phí thu được từ chất thải rắn thông thường ước tính khoảng là: 9,6 * 106* 40.000 = 384* 109 VNĐ = 384 tỷ đồng Tổng phí thu được đối với chất thải rắn nguy hại ước tính khoảng: 3,84* 106 *6.000.000 = 23,04 * 1012 = 23.040 tỷ đồng Như vậy, tổng phí thu được đối với chất thải rắn vào năm 2015 ước tính khoảng 23.424 tỷ đồng

• Phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản Thực triễn triển khai Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/05/2008 quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản đã bộc lộ những bất cập về đối tượng thu và mức thu phí. Để nâng cao hiệu quả triển khai cần sửa đổi, bổ sung một số điểm sau: Thứ nhất, nâng mức phí bảo vệ môi trường đối với hầu hết các loại khoáng sản. Mức thu phí như hiện nay là quá thấp không đủ bù đắp cho việc hoàn trả, khắc phục môi trường do các hoạt động khai thác gây ra như mức thu phí đối với đá làm vật liệu xây dựng là 1.000VNĐ/tấn; đá làm xi măng, khoáng chất công nghiêp là 2.000 VNĐ/m3; cát xây là 3.000 VNĐ/m3 v.v... Trong khi 148


đó, các hoạt động khai thác này gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường xung quanh. Do vậy các mức phí này sẽ phải nâng lên trong thời gian tới để có thể bù đắp lại các chi phí về môi trường. Thứ hai, về đối tượng chịu phí: nhiều loại khoáng sản khác cần phải đưa vào danh mục đối tượng chịu phí môi trường, trong đó có hoạt động khai thác vàng. Hiện nay hoạt động khai thác vàng đang nằm trong danh mục quặng khoáng sản kim loại khác với mức thu là 10.000 đồng/tấn. Với mức thu này thì chưa thể hiện được sự công bằng, hợp lý với các loại khoáng sản khác. Vì hoạt động khai thác vàng mang lại lợi nhuận cao, nhưng đi cùng với đó là những hậu quả nặng nề về môi trường do kỹ thuật khai thác thô sơ, lạc hậu. Để giải quyết sự bất hợp lý trên, Bộ Tài chính cần trình Chính phủ quy định điều chỉnh việc thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác vàng lên mức cao hơn, tương đương với thu phí của Mangan, đồng ở mức 40.000-50.000đồng/tấn. Thứ ba, hiện nay đơn vị tính đối với các loại khoáng sản là m3 và tấn. Tuy nhiên thực tế nhiều loại khoáng sản được tính toán dựa trên cả hai đơn vị tính này, dẫn đến nguồn thu có sự khác nhau. Vì vậy, Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/05/2008 quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản cần sửa đổi quy định về viêc áp dụng đơn vị tính là tấn hay m3 đối với từng loại khoáng sản cho hợp lý như đối với các loại đá... Thứ tư, khai thác tận thu khoáng sản nhằm không làm lãng phí tài nguyên của quốc gia. Hiện nay Việt Nam cũng đã có những quy định về việc cấp phép khai thác khoáng sản tận thu, áp dụng công nghệ, kỹ thuật khai thác, cam kết ngăn ngừa, giảm thiếu tác động xấu tới môi trường. Tuy nhiên, nước ta chưa có quy định nào về phí bảo vệ môi trường với các hoạt động này. Tận thu khoáng sản trong nhiều trường hợp lại gây ra ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng. Do vậy, Chính phủ cần có những sự điều chỉnh, cũng như hướng dẫn về thu phí bảo vệ môi trường đối với khoáng sản tận thu.

149


Ước tính nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản tính đến năm 2015 Hàng năm, sản lượng khai thác khoáng sản của Việt Nam luôn gia tăng, vì vậy nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động này là rất đáng kể. Ước tính nguồn thu này, nhóm nghiên cứu áp dụng công thức tính toán như sau: Số tiền thu được= Sản lượng/năm * Mức phí Trong danh mục các loại khoáng sản phải chịu mức thu phí môi trường, nhóm nghiên cứu đề xuất nghiên cứu đối với 7 mặt hàng chính, có sản lượng hàng năm tương đối lớn. Kết quả dự kiến đến năm 2015 như sau: Bảng 13. Số tiền dự kiến thu được từ thu phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản vào năm 2015 TT 1

Loại khoáng sản Đá

Đơn vị

Mức thu

Sản lượng (dự

Số tiền thu

(đồng)

kiến)/ năm

(tỷ đồng)

m3

Đá làm xi măng, a

khoáng chất công nghiệp, vật liệu

m3

2.000

350 triệu

700

m3

50.000

350 triệu

17.500

xây dựng b

Đá ốp lát, làm mỹ nghệ

2

Tràng thạch

m3

20.000

1 triệu

20

3

Sỏi

m3

4.000

50 triệu

200

4

Cát xây dựng

m3

2.000

50 triệu

100

5

Than

Tấn

a

Than đá

Tấn

15 triệu

90

6.000

150


Như vậy, dự kiến đến năm 2015 số tiền thu từ phí bảo vệ môi trường với hoạt động khai thác khoáng sản ước đạt là 19.000 tỷ đồng. Như vậy, dự kiến đến năm 2015 số tiền thu từ phí bảo vệ môi trường với hoạt động khai thác khoáng sản ước đạt là 19.000 tỷ đồng. Từ những dự báo trên, có thể khái quát tổng số tiền thu được từ phí bảo vệ môi trường đến năm 2015 như sau: Bảng 14. Tổng nguồn thu từ phí BVMT (dự kiến) thu được vào năm 2015 Loại

Sô tiền thu được (tỷ đồng)

Phí nước thải

82,7

Phí chất thải rắn

23.424

Phí trong hoạt động khai thác khoáng sản

19.000

Phí môi trường

42506,7

Nguồn: Tổng hợp và xử lý số liệu 2.1.2 Nhóm công cụ tạo lập thị trường • Chi trả dịch vụ môi trường Hiện nước ta còn tồn tại nhiều bất cập về bảo tồn đa dạng sinh học trong công tác lập quy hoạch, lập các dự án đầu tư. Các dự án có ảnh hưởng nhất đến đa dạng sinh học là các dự án thủy điện và các dự án khai thác khoáng sản, nhưng chưa có quy định nào về việc thu phí phục hồi do các hoạt động này gây ra. Kinh nghiệm thế giới cho thấy việc áp dụng chi phí người dùng là giải pháp thu lại một phần lợi ích trong việc sử dụng tài nguyên giúp tăng cường chất lượng quản lý, dịch vụ, chia sẻ lợi ích từ việc khai thác tài nguyên môi trường và đặc biệt tăng nguồn thu quan trọng cho chính phủ. Chi trả dịch vụ hệ sinh thái được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối giữa người cung cấp dịch vụ người sử dụng dịch vụ. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có đa dạng sinh học 151


cao trên thế giới, với nhiều hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, hệ động, thực vật đặc hữu. Bên cạnh những giá trị lớn về môi trường, đa dạng sinh học sẽ có những đóng góp lớn về mặt kinh tế nếu biết khai thác, sử dụng hợp lý. Do vậy, bên cạnh các giải pháp chung, cần có những nghiên cứu, áp dụng cụ thể để phát huy được giá trị của đa dạng sinh học, xây dựng một thị trường mới về môi trường như sau: Thứ nhất, Chính phủ cần xem xét và ban hành văn bản qui phạm pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường. Hiện nay, mới chỉ có một văn bản pháp luật về vấn đề này là Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 4 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng và đã thực hiện thí điểm. Vì vậy, việc ra đời văn bản luật qui định về chi trả dịch vụ môi trường sẽ là cơ sở để triển khai mở rộng các dự án chi trả dịch vụ môi trường đã thí điểm thành công ở Việt Nam. Thứ hai, tiếp tục thử nghiệm và áp dụng rộng rãi cơ chế chi trả dịch vụ môi trường trong bảo tồn đa dạng sinh học. Theo kinh nghiệm thế giới, từ việc nghiên cứu, đánh giá mô hình thành công của chi trả dịch vụ môi trường thì Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các dự án, đặc biệt trong việc xây dựng khung chính sách, pháp luật, hỗ trợ tài chính, kỹ thuật thông qua các chương trình xúc tiến. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ áp dụng công cụ này đối với hệ sinh thái rừng, tuy nhiên bên cạnh các hệ sinh thái này, nước ta còn rất nhiều hệ sinh thái khác cần bảo tồn có thể áp dụng được như biển, núi đá vôi, hệ sinh thái dưới nước v.v... Do vậy, Chính phủ cần khẩn trương xây dựng một khung quốc gia về chi trả dịch vụ môi trường và những hướng dẫn chi tiết cụ thể cơ chế thực hiện tránh sự trùng lặp. Thứ ba, cần xây dựng hướng dẫn cụ thể để triển khai nội dung về vấn đề tài chính cho việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học và bồi thường thiệt hại về đa dạng sinh học. Nội dung này đã được qui định từ Điều 73 đến Điều 75 trong Luật Đa dạng sinh học 2008, tuy nhiên chưa triển khai hiệu quả do chưa có văn bản hướng 152


dẫn. Cần xây dựng chính sách cụ thể làm cơ sở cho công tác bảo tồn và thu hút nhiều thành phần xã hội cùng tham gia bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Hiện tại nguồn chi cho công tác bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học, công tác điều tra cơ bản, phục hồi hệ sinh thái... chủ yếu được chi từ ngân sách nhà nước. Thứ tư, cần học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới như thuế phí tái trồng rừng của Indonesia (reforestation fee), áp dụng loại vé trọn gói nhiều khu bảo tồn với hệ thống giá khác nhau tại Costa Rica. Cấu trúc giá mới và nguồn thu tăng giúp chính phủ nâng cấp cơ sở trang thiết bị của các khu bảo tồn. Xem xét, nghiên cứu, áp dụng khái niệm bồi hoàn đa dạng sinh học. Bồi hoàn đa dạng sinh học tạo ra cơ chế tiềm năng để cân bằng tác động của những dự án/hoạt động phát triển với việc bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành tố về đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng lợi ích giữa các bên liên quan102. Hiện nay vấn đề thực thi chính sách về đánh giá tác động môi trường còn nhiều bất cập và được coi như là một thủ tục hành chính ở Việt Nam. Khi mà việc lồng ghép nội dung bồi hoàn đa dạng sinh học thành công thì yêu cầu đánh giá tác động môi trường của dự án sẽ đi vào thực tế, các tác động của dự án đến đa dạng sinh học sẽ được tính toán và bồi hoàn đầy đủ. Khi đó Ngân sách nhà nước chi cho việc bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học sẽ được cắt giảm103. 2.1.3 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường • Đặt cọc hoàn trả Công cụ này chỉ mới được áp dụng nhỏ lẻ tại Việt Nam, chưa được xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể. Với những lợi ích về kinh tế và môi trường mà hệ thống đặt cọc hoàn trả đem lại thì chính phủ cần xem xét và triển khai những nghiên cứu, áp dụng thí điểm trên qui mô lớn, và thiết lập cơ chế chính sách để áp dụng. Cần triển khai xác định nghĩa vụ đặt cọc đối với các đối tượng tiêu thụ 102

Chương trình kinh doanh và bồi hoàn đa dạng sinh học-BBOP

103

http://www.agenda21.monre.gov.vn

153


sản phẩm mà bao bì hoặc chất thải sau khi sử dụng có khả năng tái chế, tái sử dụng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng lớn tới môi trường. Một số loại bao bì, sản phẩm sau khi sử dụng có đặc tính khó phân huỷ trong tự nhiên hoặc quá trình sử dụng phân tán, nhỏ lẻ khó thu gom tập trung và có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường như thuỷ tinh, nilon, dầu nhờn, ắc quy, pin, bóng đèn, săm lốp v.v... Nghĩa vụ đặt cọc hoàn trả có thể được đưa vào quy định trong Luật Bảo vệ môi trường hoặc các quy định về quản lý chất thải. Mức đặt cọc quy định ở mức vừa phải để vừa tạo ra lợi ích cho người trả lại chất thải để tái chế, tái sử dụng hoặc xử lý, vừa đảm bảo sự bình đẳng giữa hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu và không được kìm hãm sức tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, phải thiết lập mạng lưới thu gom, chuyển giao chất thải và cơ chế chi trả tiền đặt cọc thuận lợi. • Ký quĩ môi trường Bên cạnh các giải pháp chung đã đề cập ở phần trên, để áp dụng hiệu quả công cụ này cần thực thi nghiêm nghĩa vụ ký quĩ khôi phục môi trường đối với đối tượng có hành vi khai thác khoáng sản. Cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản từ trung ương tới địa phương cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là phát hiện xử lý những trường hợp khác thác trái phép. Đối với các cơ quan quản lý tại địa phương (Sở Tài nguyên và Môi trường) cần ra soát các cơ sở khai thác trên địa bàn và phân loại các cơ sở theo tiêu chí thực hiện nghĩa vụ ký quĩ môi trường. Cần đưa ra các giải pháp kiên quyết đối với các trường hợp vi phạm như đình chỉ khai thác hoặc thu hồi giấy phép khai thác. • Bồi thường thiệt hại môi trường Đối với công cụ kinh tế này, Chính phủ cần nhanh chóng ban hành các văn bản quy định tiêu chí lượng hoá thiệt hại do ô nhiễm môi trường để làm cơ sở cho việc xác định thiệt hại và bồi thường nhằm khắc phục những khó khăn hiện nay. Bên cạnh đó, cần xây dựng và ban hành những văn bản hướng dẫn thủ tục, trình tự khiếu kiện và giải quyết bồi thường thiệt hại để công đồng có thể 154


nắm rõ và dễ dàng thực hiện khi chịu thiệt hại, tránh tình trạng sách nhiễu hành chính, gây khó khăn cho người bị hại và tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng gây ô nhiễm lách luật, trốn tránh trách nhiệm. Ngoài ra, đối với việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần có các quy định mang tính chất linh hoạt hơn. Theo luật quy định thì thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, song trong lĩnh vực môi trường, do giá trị của các thiệt hại về môi trường thường rất lớn và khó xác định nên trong nhiều trường hợp việc thực hiện là rất khó khăn. Ví dụ như người gây thiệt hại đối với môi trường có thể bồi thường một lần hoặc nhiều lần trong khoảng thời gian tối đa một số năm nhất định nào đó kể từ ngày áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, cũng cần cân nhắc đến các quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo bộ Luật dân sự thì thời hạn này là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. Song cũng cần tính đến trong lĩnh vực môi trường, ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại không hoàn toàn trùng khít với ngày phát sinh thiệt hại trên thực tế. Thiệt hại đối với người bị nhiễm chất phóng xạ, nhiễm hóa chất độc hại là những ví dụ điển hình. Nên chăng pháp luật môi trường cần hướng tới việc quy định thời hiệu khởi kiện gắn với ngày mà thiệt hại thực tế xảy ra và cần có khoảng thời gian dài hơn 2 năm. Khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, Việt Nam cần xem xét đến các cam kết quốc tế về vấn đề này. Ví dụ như quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu (International Convention on Civil Liability for Oil Pollution Damage – viết tắt là CLC 92) v.v... • Nhãn sinh thái Hoàn thiện hệ thống các quy định đối với việc thực hiện và xây dựng chương trình nhãn sinh thái Việt Nam là vô cùng quan trọng và cấp thiết hiện nay để tạo lập hành lang pháp lý rõ ràng cho quá trình áp dụng. Ngoài ra cần tiến hành triển khai một số giải pháp sau: 155


Thứ nhất, hoàn thiệt Luật về sở hữu trí tuệ và xâu dựng Luật Thương hiệu. Những quy định trong các Luật này đảm bảo bảo hộ bản quyền đối với các bí quyết công nghệ, các giải pháp kỹ thuật thân thiện với môi trường, các phát minh sáng chế góp phần giải quyết các vấn đề môi trường cấp bách hiện nay. Bên cạnh đó, đảm bảo được thương hiệu của các sản phẩm dán nhãn sinh thái, tránh tình trạng trùng lặp, tranh chấp thương hiệu. Thứ hai, hoàn thiện quy chế thực hiện chương trình cấp nhãn sinh thái với thủ tục, trình tự đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện. Thứ ba, tăng cường công tác giáo dục, phổ biến nâng cao nhận thức của người dân cũng như các doanh nghiệp về các sản phẩm thân thiện với môi trường được dán nhãn sinh thái. Việc nâng cao ý thức người dân, thiết lập xu hướng tiêu dùng xanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo áp lực thị trường lên các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải có các giải pháp để cải tiến công nghệ và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Để tăng cường công tác truyền thông cần lồng ghép các nội dung truyền thông về các sản phẩm dán nhãn sinh thái trên phương tiện thông tin đại chúng, và tổ chức các chiến dịch thi đua sản xuất xanh, tiêu dùng xanh cho cộng đồng. Hình thành môn học chuyên ngành về quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000 và nhãn sinh thái vào các trường đại học chuyên ngành môi trường; đào tạo cán bộ về lĩnh vực này. Thứ tư, Chính phủ cần có các giải pháp hỗ trợ, trợ cấp, miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp, các sản phẩm dán nhãn sinh thái để tạo động cơ khuyến khích các doanh nghiệp tự nguyện tham gia chương trình. Các chính sách như hỗ trợ về vốn, mở rộng thị trường, xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin, đào tạo đội ngũ cán bộ, hỗ trợ tư vấn kỹ thuật, môi trường, hỗ trợ các trang thiết bị đo lượng v.v...

156


2.2 Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường • Nhóm các công cụ định giá, lượng giá Thứ nhất, nghiên cứu áp dụng mở rộng các phương pháp khác nhau trong định giá giá trị môi trường, đặc biệt là hai phương pháp sơ cấp. Phương pháp sơ cấp bao gồm các phương pháp khác nhau như: phương pháp chi phí du lịch, phương pháp đánh giá hưởng thụ, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên… Thứ hai, việc mở rộng áp dụng các phương pháp này đòi hỏi những kiến thức tổng hợp về lý thuyết kinh tế, mô hình kinh tế, xử lý và phân tích số liệu. Do đó yêu cầu đào tạo những chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể, có trình độ chuyên môn là rất cần thiết. Thứ ba, hiện nay ở Việt Nam việc định giá, lượng giá chỉ tập trung vào giá trị kinh tế của đa dạng sinh học như định giá giá trị rừng, công viên, hệ sinh thái… Ngoài các yếu tố trên thì các yếu tố môi trường không khí, nước, đất cũng rất cần phải được định giá đúng và đủ. Hạch toán môi trường Thứ nhất, xây dựng quy trình về tài chính môi trường, được cụ thể hóa trong các quy định chính thức. Hiện nay các yếu tố chi phí môi trường và các chi phí liên quan vẫn chưa được thể hiện trong bảng cân đối tài khoản kế toán của các công ty, doanh nghiệp. Thứ hai, tuyên truyền và áp dụng rộng rãi khái niệm “năng suất xanh” và “sản xuất sạch hơn” trong các doanh nghiệp, góp phần tiết kiệm các chi phí môi trường trong sản xuất. Đồng thời, cần hoàn thiện việc xây dựng hệ thống thông tin môi trường, cung cấp các số liệu cần thiết cho doanh nghiệp.

157


KẾT LUẬN Chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa trong ngành tài nguyên và môi trường nói chung và trong lĩnh vực môi trường nói riêng là chủ trương đúng và kịp thời mà Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường đề ra. Để thực hiện tốt chủ trương trên, chúng ta cần có các nghiên cứu, điều tra khảo sát trong từng lĩnh vực, hoàn thiện hệ thống thuế, phí phù hợp, cũng như xây dựng khung pháp lý đồng bộ, đầy đủ và khả thi để quản lý môi trường một cách hiệu quả, tác động vào chính lợi ích của các chủ thể tham gia làm ô nhiễm môi trường trên cơ thay đổi nhận thức hành vi theo hướng bảo vệ môi trường. Cần nghiên cứu và xây dựng các quy trình áp dụng phù hợp các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường và triển khai nghiên cứu và áp dụng mới các công cụ kinh tế đã phát huy hiệu quả đối với việc bảo vệ môi trường và góp phần thu ngân sách như: giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng, chi trả dịch vụ môi trường.. .

158


PHỤ LỤC

159


Phụ lục 1 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BAN CÁN SỰ ĐẢNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ

-------

MÔI TRƯỜNG ------Số: 27-NQ/BCSĐTNMT

Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 2009

NGHỊ QUYẾT VỀ ĐẨY MẠNH KINH TẾ HÓA NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG I. ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên và môi trường có vai trò thiết yếu đối với con người, là nền tảng tồn tại và phát triển của xã hội, đóng góp quan trọng cho ngân sách nhà nước và tăng trưởng của mọi nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, tài nguyên trở thành nguồn lực khan hiếm, là đối tượng tranh chấp quyết liệt giữa các nước; môi trường bị ô nhiễm, suy thoái nhanh, trở thành vấn đề toàn cầu, mối lo chung của toàn nhân loại. Vì vậy, công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được coi trọng và có vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới. Nước ta đang trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nỗ lực tăng trưởng nhanh và bền vững để thu hẹp khoảng cách tụt hậu so với thế giới. Quá trình này đòi hỏi phải có những thay đổi cơ bản trong cơ chế quản lý và phương thức điều hành của toàn bộ nền kinh tế, từng khâu, từng bộ phận, trong đó có ngành tài nguyên và môi trường. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường còn bộc lộ nhiều bất cập. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường về tài nguyên và môi trường hình thành, phát triển chậm, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt. Tài nguyên chưa được coi là nguồn 160


lực đặc biệt quan trọng, vai trò và giá trị của tài nguyên chưa được nhận thức đầy đủ, đánh giá đúng tầm và phù hợp với các nguyên tắc, quy luật của kinh tế thị trường. Bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, chưa được xem là thước đo hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động kinh tế. Thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường chậm được đổi mới, còn nặng tính hành chính, bao cấp, hiệu lực quản lý nhà nước chưa cao. Đóng góp của ngành tài nguyên và môi trường cho thu ngân sách và phát triển kinh tế - xã hội chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều nguồn tài nguyên còn bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả. Môi trường nhiều nơi bị suy thoái nghiêm trọng, để lại hậu quả nặng nề và kéo dài. Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010” chỉ rõ: “Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Nguồn lực của đất nước chưa được sử dụng có hiệu quả, tài nguyên, đất đai và các nguồn vốn của Nhà nước còn bị lãng phí, thất thoát nghiêm trọng”, nguyên nhân là do “Chậm đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; chậm xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “cải cách hành chính còn chậm và kém hiệu quả” và “chưa có chính sách và giải pháp đủ mạnh để huy động và sử dụng tốt nhất các nguồn lực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội”. Xuất phát từ thực tiễn và nhận thức như vậy, để thúc đẩy đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động vận dụng các quy luật khách quan, khả năng tự điều tiết của kinh tế thị trường, tăng cường áp dụng các cơ chế, công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực tư duy, nghiên cứu và phân tích kinh tế trong ngành tài nguyên và môi trường, Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trương đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường với các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu và giải pháp chính sau đây:

161


II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ 1. Quan điểm chỉ đạo a) Thực sự coi tài nguyên là nguồn lực ngày càng khan hiếm cần phải được thị trường hoá, coi bảo vệ môi trường là thước đo hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động kinh tế, có thể hạch toán toàn diện và đầy đủ để phát triển bền vững đất nước; b) Bảo đảm sự đồng bộ và nhất quán giữa phương thức quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; c) Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường và đẩy mạnh cải cách hành chính là các nhiệm vụ trọng tâm để đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; d) Con người là trung tâm, là nhân tố quyết định của quá trình đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của ngành đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới. 2. Mục tiêu Hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thúc đẩy ngành tài nguyên và môi trường phát triển nhanh và bền vững, đồng bộ với tiến trình phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng tầm đóng góp và vị thế của ngành trong nền kinh tế quốc dân, vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước. 3. Nhiệm vụ 3.1. Các nhiệm vụ chung a) Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận, xác lập nguyên tắc, phương thức thực hiện, mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp đột phá và lộ trình thực hiện đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ về tài nguyên và môi trường; b) Hình thành nguyên tắc, phương pháp, cơ chế định giá, lượng giá, hạch toán 162


tài nguyên và môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống tài khoản quốc gia về tài nguyên và môi trường; c) Đa dạng hóa nguồn vốn, nâng hiệu quả đầu tư, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ viễn thám trong điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường; hình thành cơ chế tài chính quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu ngành tài nguyên và môi trường; d) Đẩy mạnh công tác dự báo xu thế biến động tài nguyên và các vấn đề môi trường, cung - cầu, cạnh tranh, xung đột về tài nguyên trên thế giới và tác động đến phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta làm cơ sở xây dựng chiến lược, chính sách, cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường hợp lý và hiệu quả; đ) Rà soát, đề xuất chuyển đổi các cơ chế quản lý mang tính hành chính, bao cấp kém hiệu quả trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sang cơ chế quản lý hiệu quả hơn dựa trên các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường kết hợp với đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng minh bạch và hiệu quả; e) Nghiên cứu, xây dựng khung chính sách và lộ trình áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; g) Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách, cơ chế tạo nguồn thu ngân sách từ tài nguyên và môi trường trên nguyên tắc: “Người sử dụng, hưởng lợi từ tài nguyên và môi trường phải trả tiền”, “Người gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên phải trả chi phí khắc phục và tái tạo”; h) Thúc đẩy phát triển các đơn vị nghiên cứu, tư vấn, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đáp ứng nhu cầu trong nước, tiến tới mở rộng cung ứng dịch vụ ra nước ngoài; hình thành các quỹ tài nguyên, quỹ tài chính hỗ trợ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh sản xuất hàng hoá môi trường; thực hiện thương mại hoá thông tin, số liệu về tài nguyên và môi trường;

163


i) Xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; phát triển phân tích chi phí - lợi ích thành công cụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường. 3.2. Các nhiệm vụ cụ thể theo lĩnh vực a) Lĩnh vực đất đai Nghiên cứu, xây dựng cơ cấu, định mức sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả kinh tế cao; nghiên cứu, rà soát hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động điều tra, kiểm kê, lập hồ sơ địa chính, chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, xây dựng khung giá đất, định giá đất, lập quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn thiện cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu các dự án có sử dụng đất; phát triển quỹ đất để phục vụ mục đích công ích, điều tiết thị trường đất đai và hỗ trợ tái định cư; phát triển dịch vụ công, thúc đẩy cải cách hành chính theo hướng minh bạch và hiệu quả; đẩy mạnh nghiên cứu dự báo về biến động đất đai, thị trường, giá cả đất đai; nghiên cứu hoàn thiện, bổ sung các cơ chế thu ngân sách từ đất đai; phát triển thị trường quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hướng mở rộng sự tham gia của các đối tượng và phù hợp với cơ chế thị trường; xây dựng đề án thương mại hóa thông tin, số liệu về đất đai. Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, nghiên cứu xây dựng Bộ Luật Đất đai theo hướng xác lập cơ chế quản lý đất đai, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. b) Lĩnh vực tài nguyên nước Xác định nước là loại tài nguyên đặc biệt cần phải xác lập cơ chế cung – cầu, chia sẻ lợi ích phù hợp với kinh tế thị trường; nghiên cứu, rà soát, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động điều tra, đánh giá, kiểm kê, cấp phép tài nguyên nước phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; nghiên cứu tạo nguồn thu từ nước để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư bảo vệ và phát triển tài nguyên nước; tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên nước; nghiên cứu đề 164


xuất tăng thuế suất tài nguyên nước, sử dụng các loại thuế, phí khác liên quan đến tài nguyên nước để điều tiết vĩ mô hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước mặt, nước dưới đất theo hướng tiết kiệm và hiệu quả. Sửa đổi Luật Tài nguyên nước theo hướng xác lập cơ chế quản lý tài nguyên nước đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. c) Lĩnh vực địa chất và khoáng sản Khoáng sản là tài nguyên không tái tạo, đang khan hiếm dần, trở thành đối tượng được quan tâm đặc biệt trên phạm vi toàn cầu, cần phải được quản lý sử dụng theo chế độ đặc biệt phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; nghiên cứu sớm xác lập tài khoản quốc gia về tài nguyên khoáng sản; xây dựng chiến lược khai thác, sử dụng phù hợp với từng giai đoạn phát triển đất nước, lợi ích quốc gia trên cơ sở phân tích, dự báo cung - cầu trên thế giới; nghiên cứu, rà soát, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khảo sát, thăm dò, cấp phép khai thác khoáng sản phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; thực hiện thí điểm đấu thầu khai thác khoáng sản, tiến tới áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước; nghiên cứu hình thành các cơ chế tạo nguồn thu từ hoạt động khoáng sản để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư cho khảo sát, thăm dò khoáng sản; định giá khoáng sản theo cơ chế thị trường; sử dụng các công cụ thuế tài nguyên, phí khai thác tài nguyên để điều tiết vĩ mô việc khai thác và sử dụng khoáng sản hiệu quả, tiết kiệm, giảm xuất khẩu thô, thúc đẩy chế biến sâu khoáng sản; xây dựng đề án thương mại hóa thông tin, số liệu về địa chất, khoáng sản phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Sửa đổi Luật Khoáng sản theo hướng xác lập cơ chế quản lý các hoạt động khoáng sản đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. d) Lĩnh vực môi trường Xác định bảo vệ môi trường là thước đo hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động kinh tế; nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động quan trắc, phân tích môi trường, lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, công nhận, chứng nhận về môi trường, 165


cung ứng dịch vụ môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh nghiên cứu áp dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các cơ chế thu ngân sách từ các hoạt động liên quan đến môi trường; nghiên cứu thử nghiệm, tiến tới áp dụng các cơ chế chuyển nhượng, trao đổi quyền phát thải; thực hiện ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản; xác lập các nguyên tắc, cơ chế thị trường trong công tác bảo vệ môi trường; thí điểm, tiến tới nhân rộng các mô hình áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái; đưa yếu tố môi trường vào giá thành sản phẩm; phát triển nhanh ngành kinh tế môi trường; sử dụng các công cụ thuế, phí môi trường để điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường; xác lập cơ chế lượng giá môi trường, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên gây ra phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Nghiên cứu xây dựng Bộ luật Môi trường theo hướng xác lập cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. đ) Lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu Thúc đẩy xã hội hóa hoạt động quan trắc khí tượng, thủy văn, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia quan trắc, chia sẻ thông tin, số liệu khí tượng, thủy văn; rà soát, đổi mới cơ chế dự báo khí tượng, thuỷ văn phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; tăng cường năng lực dự báo và phân tích kinh tế về biến đổi khí hậu, các tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu tạo nguồn thu từ quan trắc, phân tích, dự báo khí tượng, thuỷ văn để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực ngành khí tượng, thuỷ văn; đẩy mạnh phát triển các dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM); nghiên cứu áp dụng các công cụ kinh tế trong việc thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế sử dụng ít các bon; nghiên cứu thử nghiệm cung ứng dịch vụ dự báo thời tiết, khí hậu, lũ lụt và các thiên tai khác theo cơ chế cung - cầu; xây dựng đề án thương mại hóa các sản phẩm, thông tin, số liệu khí tượng thủy văn phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. 166


Xây dựng Luật Khí tượng thủy văn theo hướng xác lập các cơ chế quản lý hoạt động khí tượng thủy văn đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. e) Lĩnh vực đo đạc và bản đồ Nghiên cứu, rà soát, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động đo đạc và lập bản đồ phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; tạo nguồn thu để tăng đóng góp thu ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực đo đạc và lập bản đồ; xây dựng đề án thương mại hóa sản phẩm, thông tin, số liệu về đo đạc và bản đồ phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ theo hướng xác lập cơ chế quản lý hoạt động đo đạc bản đồ đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. g) Lĩnh vực biển và hải đảo Nghiên cứu, rà soát, đổi mới các cơ chế quản lý hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh việc vận dụng các nguyên tắc thị trường, áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; nghiên cứu tạo nguồn thu từ hoạt động trên biển và hải đảo để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực quản lý tổng hợp biển và hải đảo; xây dựng đề án thương mại hóa các thông tin, số liệu về tài nguyên và môi trường biển và hải đảo phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Xây dựng Luật Tài nguyên và Môi trường biển theo hướng xác lập cơ chế quản lý tổng hợp và thống nhất về tài nguyên và môi trường biển đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. III. CÁC GIẢI PHÁP 1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về sự cần thiết, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường trong các cấp ủy

167


đảng, chính quyền, đoàn thể, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành. 2. Tăng cường năng lực nghiên cứu, phân tích kinh tế trong ngành tài nguyên và môi trường; xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường có kiến thức tổng hợp về kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường; bổ sung vào lực lượng cán bộ lãnh đạo của ngành các cán bộ có chuyên môn sâu, có kinh nghiệm nghiên cứu, phân tích kinh tế. 3. Hình thành mạng lưới chuyên gia, cộng tác viên kinh tế của ngành, phối hợp chặt chẽ, huy động sự tham gia của các tổ chức, đơn vị nghiên cứu, phân tích kinh tế trong và ngoài nước trong thiết kế, xây dựng chính sách, pháp luật về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. 4. Ưu tiên cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và hợp tác quốc tế về kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. 5. Tăng cường đầu tư, huy động các nguồn lực trong xã hội cho nghiên cứu, triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Phân công thực hiện a) Các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể trong ngành tài nguyên và môi trường có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các nguyên tắc chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường đến các đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành. b) Vụ Kế hoạch chủ trì, phối hợp với Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường và các đơn vị liên quan xây dựng trình Bộ trưởng phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết. c) Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường trong phạm vi, quyền hạn của mình có trách nhiệm lập kế hoạch, chương trình, 168


dự án thực hiện các nhiệm vụ đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường. 2. Giám sát thực hiện và đánh giá kết quả a) Các Uỷ viên Ban cán sự đảng có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này theo các lĩnh vực và địa bàn đã được Bộ trưởng, Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường phân công phụ trách. b) Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Nghị quyết tại đơn vị mình và định kỳ hàng năm báo cáo lên cơ quan quản lý chuyên ngành cấp trên trực tiếp để tổng hợp. c) Định kỳ hàng năm, Vụ Kế hoạch chủ trì, phối hợp với Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường và các đơn vị liên quan tổ chức đánh giá kết quả thực hiện chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường, lập báo cáo trình Ban cán sự đảng Bộ./. Nơi nhận:

TM. BAN CÁN SỰ ĐẢNG

- Bộ Chính trị (để báo cáo);

BÍ THƯ

- Ban Bí thư (để báo cáo); - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng (để báo cáo); - Ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương (để phối hợp); - Các tỉnh ủy, thành ủy (để phối hợp); - Các ủy viên Ban cán sự đảng, Ban chấp hành Đảng bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường (để thực hiện); - Bí thư đảng bộ, chi bộ, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc các Sở Tài nguyên và Môi trường (để thực hiện); - Công đoàn Bộ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ, Hội Cựu chiến binh cơ quan Bộ (để thực hiện); - Lưu VPBCSĐ, Vụ KH, Viện CLCSTN&MT.

169

Phạm Khôi Nguyên


Phụ lục 2 BỘ TÀI NGUYÊN VÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

MÔI TRƯỜNG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-------

---------

Số: 675/QĐ-BTNMT

Hà Nội, ngày 09 tháng 4 năm 2010

QUYẾT ĐỊNH BAN HÀNH KẾ HOẠCH HÀNH HÀNH ĐỘNG CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 27-NQ/BCSĐTNMT NGÀY 02 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BAN CÁN SỰ ĐẢNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Căn cứ Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và

Môi

trường;

Căn cứ Nghị quyết số 27-NQ/BCSĐTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2009 của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, QUYẾT ĐỊNH: Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch hành động của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/BCSĐTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2009 của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. 170


Nơi nhận:

BỘ TRƯỞNG

- Như Điều 2; - Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo); - Các Phó Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo); - Văn phòng Trung ương; - Văn phòng Quốc hội; - Văn phòng Chính phủ;

Phạm Khôi Nguyên

- Các Thứ trưởng; - Công đoàn Bộ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ, Hội Cựu chiến binh cơ quanBộ; - Lưu VT, Vụ KH, H.

171


KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 27-NQ/BCSĐTNMT NGÀY 02 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BAN CÁN SỰ ĐẢNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỀ ĐẨY MẠNH KINH TẾ HÓA NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG (Ban hành theo Quyết định số 675/QĐ-BTNMT ngày 09 tháng 4 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường) Thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/BCSĐTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2009 của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng Kế hoạch hành động với những nội dung chủ yếu sau: I. MỤC TIÊU 1. Mục tiêu tổng quát Hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đồng bộ với tiến trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy tiềm năng, nâng tầm đóng góp và vị thế của ngành tài nguyên và môi trường trong nền kinh tế quốc dân. 2. Mục tiêu cụ thể - Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và thống nhất hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể triển khai thành công các nhiệm vụ và giải pháp đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. - Hình thành khung chính sách tổng thể và hoàn thiện các công cụ thực hiện chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường vào những năm đầu và triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách cụ thể theo từng lĩnh vực trong các năm tiếp theo của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011 - 2015. - Tiếp tục phát huy và đổi mới thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ 172


nghĩa, phát triển khoa học và công nghệ, đa dạng hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần phát triển bền vững đất nước II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHUNG CỦA NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 1. Tuyên truyền, phổ biến thông tin về chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường a) Tổ chức nghiên cứu, quán triệt quan điểm của Ban cán sự đảng Bộ về chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường tới cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn ngành thông qua hình thức Hội nghị và truyền hình trực tuyến; b) Sử dụng đa dạng các kênh thông tin và các phương tiện truyền thông, các lớp tập huấn để phổ biến mục tiêu, nhiệm vụ chung, các nội dung cụ thể cho từng lĩnh vực nhằm nâng cao hiểu biết về chủ trương kinh tế hóa cũng như các công việc phải làm; c) Khẩn trương xây dựng và phát hành các ấn phẩm về Nghị quyết và Kế hoạch thực hiện Nghị quyết. 2. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, ban hành khung chính sách tổng thể và các công cụ thực hiện chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường a) Hình thành và phát triển các nguyên tắc, phương thức, mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá và lộ trình đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường; b) Đánh giá hiện trạng, tiềm năng và nguồn lực của ngành tài nguyên và môi trường cho thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế; c) Tiến hành phân tích chi phí - lợi ích của các chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sau hơn 20 năm đổi mới, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phục vụ việc hoạch định chính sách giai đoạn mới; 173


d) Xây dựng và ban hành các quy định về định giá, lượng giá, hạch toán đầy đủ, minh bạch và thiết lập hệ thống tài khoản quốc gia về tài nguyên và môi trường; đ) Thiết lập các mô hình, phương pháp dự báo xu thế biến động tài nguyên và các vấn đề môi trường; e) Thiết lập hệ thống công cụ kinh tế đầy đủ, áp dụng hiệu quả trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; g) Xây dựng và ban hành khung chính sách tổng thể đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. 3. Rà soát, đổi mới hệ thống cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, loại bỏ dần các cơ chế bao cấp, xin – cho không phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa a) Rà soát, chuyển đổi các cơ chế xin - cho, bao cấp kém hiệu quả trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường phù hợp với cơ chế thị trường, đánh giá và nhận dạng các bất cập của hệ thống chính sách, pháp luật về tài nguyên và môi trường; b) Rà soát, xây dựng, hoàn thiện, ban hành hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với thể chế kinh tế thị trường; c) Rà soát, hoàn thiện, đổi mới cơ chế thu, đóng góp, nộp ngân sách nhà nước liên quan đến tài nguyên và môi trường trên các nguyên tắc “Người sử dụng, hưởng lợi từ tài nguyên và môi trường phải trả tiền” (BPP) và “Người gây ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên phải trả chi phí bồi hoàn và tái tạo” (PPP) nhằm nâng tầm đóng góp của ngành tài nguyên môi trường cho ngân sách nhà nước; d) Hình thành và phát triển các loại thị trường trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường; trước hết tập trung hoàn thiện thể chế thị trường, xây dựng hệ thống 174


các quy định, chính sách để thúc đẩy thị trường đất đai và bất động sản, thị trường tài nguyên nước, thị trường khoáng sản; đ) Đẩy mạnh quá trình thương mại hoá các thông tin, số liệu điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của cơ chế kinh tế thị trường và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. 4. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng minh bạch và hiệu quả a) Rà soát, đơn giản hóa hoặc bãi bỏ các thủ tục hành chính trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường không còn phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; b) Tiếp tục thiết lập cơ chế phân cấp và quản lý việc phân cấp về tài nguyên và môi trường cho các Bộ, ngành, địa phương theo hướng minh bạch và hiệu quả; c) Tiếp tục hoàn thiện cơ chế “một cửa” đối với một số công việc liên quan đến các thủ tục hành chính, tiến tới thực hiện đối với tất cả các loại công việc có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực do Bộ quản lý; d) Đổi mới và hiện đại hoá nền hành chính; xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Chiến lược ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ viễn thám trong điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường; các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường các cấp thường xuyên tổ chức đối thoại với doanh nghiệp và người dân thông qua nhiều hình thức, trong đó có hình thức giao lưu trực tuyến, trả lời trực tuyến qua mạng thông tin điện tử; kịp thời xử lý các vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp và người dân liên quan đến các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ; đ) Đẩy mạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của cơ quan Bộ và các đơn vị trực thuộc 175


Bộ; triển khai thực hiện Kế hoạch áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các đơn vị trực thuộc Bộ giai đoạn 2009 - 2011. 5. Đa dạng hoá nguồn vốn và nâng cao hiệu quả đầu tư cho các lĩnh vực tài nguyên và môi trường a) Huy động các nguồn đầu tư từ các doanh nghiệp và nhân dân thông qua các chính sách, cơ chế phù hợp theo cơ chế thị trường; b) Hình thành các quỹ tài nguyên, quỹ tài chính hỗ trợ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh sản xuất hàng hoá môi trường; c) Thúc đẩy phát triển các đơn vị nghiên cứu, tư vấn, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đáp ứng nhu cầu trong nước, tiến tới mở rộng cung ứng dịch vụ ra nước ngoài; d) Xây dựng và ban hành chính sách cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu rộng hơn vào thị trường bất động sản, thị trường dịch vụ môi trường và các thị trường tài nguyên khác; e) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, vận động các nguồn vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm cả vốn vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và đầu tư trực tiếp (FDI) cho các lĩnh vực tài nguyên và môi trường. 6. Phát triển hệ thống tổ chức và nguồn nhân lực a) Tăng cường cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; b) Kiện toàn và nâng cao năng lực hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường từ Trung ương đến địa phương; c) Đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ theo hướng nâng cao năng lực tư duy, phân tích kinh tế; 176


d) Xây dựng chiến lược phát triển hệ thống tổ chức và nguồn nhân lực ngành tài nguyên và môi trường phục vụ đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; e) Xây dựng và triển khai thực hiện chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ thoả đáng những chuyên gia giỏi, có kinh nghiệm, nhất là về lĩnh vực kinh tế tài nguyên và môi trường ở trong nước và ngoài nước làm việc cho ngành tài nguyên và môi trường. 7. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ a) Xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ và triển khai các đề tài, dự án khoa học và công nghệ về tài nguyên và môi trường giai đoạn 2011 - 2015 theo hướng tăng cường hàm lượng nghiên cứu và phân tích kinh tế; b) Phát triển sản xuất các sản phẩm hàng hóa thân thiện môi trường, hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường, tiến tới đóng vai trò là sản phẩm chủ lực trong ngành công nghiệp môi trường; c) Củng cố và từng bước hiện đại hoá mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường; tăng cường năng lực, thiết bị để từng bước nâng cao độ chính xác trong cảnh báo, dự báo các hiện tượng động đất, sóng thần, thời tiết nguy hiểm như bão, áp thấp nhiệt đới, lũ quét, lụt, sạt lở đất, hạn hán...; d) Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin để đánh giá tổng hợp tài nguyên đất, tài nguyên nước, địa chất - khoáng sản; đánh giá hiện trạng môi trường; đánh giá tác động, giám sát biến động vỏ trái đất và dự báo, cảnh báo trượt đất, lở đất, động đất, sóng thần; xây dựng cơ sở dữ liệu ngành tài nguyên và môi trường;… 8. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ngành tài nguyên và môi trường a) Tăng cường phối hợp, trao đổi, khảo sát học tập các nước trên thế giới về kinh nghiệm quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường theo cơ chế kinh tế thị trường;

177


b) Tiếp tục củng cố và mở rộng các mối quan hệ song phương và đa phương, xây dựng chiến lược hợp tác, tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực, nguồn vốn, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và đào tạo cán bộ cho ngành tài nguyên và môi trường; c) Tăng cường điều phối và vận động các nhà tài trợ hỗ trợ cho việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý và chính sách tổng thể về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. III. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CỤ THỂ CỦA TỪNG LĨNH VỰC 1. Lĩnh vực đất đai 1.1 Mục tiêu Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý đất đai và bất động sản; bảo đảm các quyền về đất đai và bất động sản được vận động đồng bộ theo cơ chế thị trường và trở thành một nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội; xác định quyền sử dụng đất là một loại hàng hóa đặc biệt, được định giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, nâng cao tỷ trọng đóng góp của tài nguyên đất cho ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế. 1.2. Nhiệm vụ, giải pháp a) Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất, bảo đảm tính thống nhất, đầy đủ, khả thi phù hợp với quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, khắc phục tình trạng văn bản chồng chéo, khó áp dụng, trong đó: - Tập trung, hoàn thiện Luật sửa đổi Luật Đất đai theo Nghị quyết số 31/2009/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2009 về chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2010 và bổ sung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007 - 2011), trong đó đặt trọng tâm vào vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kinh tế đất, tài chính đất và các vấn đề khác có liên quan theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ 178


7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; - Hoàn chỉnh quy định để quyền sử dụng đất thực sự trở thành hàng hóa, dễ dàng chuyển thành vốn đầu tư thông qua quyền bảo lãnh, thế chấp, góp vốn; - Xây dựng hệ thống chính sách điều tiết các khoản thu từ đất, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sử dụng đất, chủ đầu tư và nhà nước. b) Rà soát, hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động điều tra, kiểm kê, lập hồ sơ địa chính, chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, xây dựng khung giá đất, định giá đất, lập quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. c) Hoàn thiện cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu các dự án có sử dụng đất; phát triển quỹ đất để phục vụ mục đích công ích, điều tiết thị trường đất đai và hỗ trợ tái định cư; phát triển dịch vụ công, thúc đẩy cải cách hành chính theo hướng minh bạch và hiệu quả. d) Tăng cường công tác định giá, đổi mới hệ thống tài chính đất đai, khắc phục tình trạng giá đất do các địa phương quy định chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường, đảm bảo công bằng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, đặc biệt tạo cơ chế thu hút mạnh vốn đầu tư kinh doanh bất động sản bằng vốn của các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài. đ) Rà soát, hoàn thiện, bổ sung các cơ chế thu ngân sách từ đất đai; đẩy mạnh công tác dự báo về biến động đất đai, thị trường, giá cả đất đai; xây dựng cơ cấu, định mức sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả kinh tế cao. e) Phát triển thị trường quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hướng mở rộng sự tham gia của các đối tượng và phù hợp với cơ chế thị trường, đẩy mạnh thực hiện giá giao đất và thuê đất theo cơ chế thị trường. 179


f) Xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện “Chiến lược phát triển ngành quản lý đất đai Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến năm 2030” trong đó gắn với chủ trương về kinh tế hóa đất đai; xây dựng và ban hành đề án thương mại hóa thông tin, số liệu về đất đai. 2. Lĩnh vực tài nguyên nước 2.1. Mục tiêu Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả phù hợp với kinh tế thị trường; nâng cao tỷ trọng đóng góp của tài nguyên nước cho ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế. 2.2. Nhiệm vụ, giải pháp a) Rà soát, xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tài nguyên nước phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật đánh giá tính bền vững của tài nguyên nước, hiệu quả sử dụng nước, hiệu ích kinh tế, xã hội trong quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên nước; b) Rà soát, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động điều tra, đánh giá, kiểm kê, cấp phép tài nguyên nước, cơ chế tạo nguồn thu từ nước phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư bảo vệ và phát triển tài nguyên nước; từng bước xác lập tài khoản quốc gia về tài nguyên nước; c) Rà soát, hoàn thiện, tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên nước; tăng thuế suất tài nguyên nước, sử dụng các loại thuế, phí khác liên quan đến tài nguyên nước để điều tiết vĩ mô hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước mặt, nước dưới đất theo hướng tiết kiệm và hiệu quả; d) Sửa đổi Luật Tài nguyên nước theo hướng xác lập cơ chế quản lý tài nguyên nước đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đ) Xây dựng và ban hành “Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050” theo hướng xác lập cơ chế cung - cầu, chia sẻ 180


lợi ích phù hợp với kinh tế thị trường, đẩy mạnh phát triển dịch vụ ngành nước; e) Xây dựng đề án thương mại hóa hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước. 3. Lĩnh vực địa chất và khoáng sản 3.1. Mục tiêu Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động địa chất và khoáng sản đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguồn lực khoáng sản được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, ổn định và lâu dài, đồng thời giảm thiểu các tác động đến môi trường, nâng cao tỷ trọng đóng góp của tài nguyên khoáng sản cho ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế. 3.2. Nhiệm vụ, giải pháp a) Rà soát, hoàn thiện xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về địa chất - khoáng sản; xây dựng Luật Khoáng sản (sửa đổi) theo hướng xác lập cơ chế quản lý các hoạt động khoáng sản đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; b) Rà soát, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khảo sát, thăm dò, cấp phép khai thác khoáng sản phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; c) Tăng cường công tác định giá khoáng sản, khắc phục tình trạng giá khoáng sản chưa được tính đúng, tính đủ, chưa sát với giá thị trường, đảm bảo công bằng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên khoáng sản, tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện thí điểm đấu thầu khai thác khoáng sản, tiến tới áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước; hình thành các cơ chế tạo nguồn thu từ hoạt động khoáng sản để tăng đóng góp cho nguồn thu ngân sách và tái đầu tư cho khảo sát, thăm dò khoáng sản; tổ chức đẩy mạnh việc xác lập tài khoản quốc gia về tài nguyên khoáng sản; d) Rà soát, hoàn thiện, tăng cường sử dụng các công cụ thuế tài nguyên, phí khai thác tài nguyên để điều tiết vĩ mô việc khai thác và sử dụng khoáng sản hiệu 181


quả, tiết kiệm, giảm xuất khẩu thô, thúc đẩy chế biến sâu khoáng sản; e) Xây dựng chiến lược khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản phù hợp với từng giai đoạn phát triển đất nước, lợi ích quốc gia trên cơ sở phân tích, dự báo cung - cầu trên thế giới; xây dựng đề án thương mại hóa thông tin, số liệu về địa chất, khoáng sản phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. 4. Lĩnh vực môi trường 4.1. Mục tiêu Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở xác định bảo vệ môi trường là thước đo hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động kinh tế; nâng cao đóng góp từ hoạt động bảo vệ môi trường cho ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế. 4.2. Nhiệm vụ, giải pháp a) Tiếp tục rà soát hoàn thiện xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về môi trường; thực hiện xây dựng Bộ luật Môi trường theo hướng xác lập cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; b) Rà soát, hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động quan trắc, phân tích môi trường, lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, công nhận, chứng nhận về môi trường, cung ứng dịch vụ môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; c) Đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các cơ chế thu ngân sách từ các hoạt động liên quan đến môi trường; tổ chức thử nghiệm, tiến tới áp dụng các cơ chế chuyển nhượng, trao đổi quyền phát thải; thực hiện ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản; thí điểm, tiến tới nhân rộng các mô hình áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái; đồng thời sử dụng các công cụ thuế, phí môi trường để điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường; 182


đ) Đẩy mạnh hoạt động định giá, lượng hóa và hạch toán môi trường, dự báo cung cầu và xu thế biến động môi trường; tổ chức xác lập, hoàn thiện và đưa yếu tố môi trường vào giá thành sản phẩm; e) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện “Chính sách phát triển ngành kinh tế môi trường Việt Nam”; f) Đẩy nhanh tiến độ phê duyệt và ban hành Nghị định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên gây ra; g) Tiến hành quy hoạch, tăng cường đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia. Thúc đẩy hợp tác quốc tế, đáp ứng các cam kết với cộng đồng quốc tế về bảo vệ môi trường; h) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường. Vận hành hệ thống quản lý thông tin, đảm bảo cung cấp thông tin chất lượng môi trường kịp thời, chính xác cho cộng đồng và các cấp quản lý, tiến tới xây dựng đề án thương mại hóa thông tin, số liệu về môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. 5. Lĩnh vực khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu 5.1. Mục tiêu Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện cơ chế tài chính thích hợp tạo điều kiện nâng cao năng lực, hiệu quả và tăng đóng góp từ hoạt động khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu cho ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế. 5.2. Nhiệm vụ, giải pháp a) Tiếp tục rà soát hoàn thiện xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu; thực hiện xây dựng Luật Khí tượng thủy văn theo hướng xác lập các cơ chế quản lý hoạt động khí tượng thủy văn đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; b) Thúc đẩy xã hội hóa hoạt động quan trắc khí tượng, thủy văn, khuyến khích 183


tổ chức, cá nhân tham gia quan trắc, chia sẻ thông tin, số liệu khí tượng, thủy văn; c) Rà soát, bổ sung hoàn thiện các cơ chế tạo nguồn thu từ quan trắc, phân tích, dự báo khí tượng, thuỷ văn để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực ngành khí tượng, thuỷ văn; rà soát, đổi mới cơ chế dự báo khí tượng, thuỷ văn phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; d) Tăng cường năng lực dự báo và phân tích kinh tế về biến đổi khí hậu; lượng giá các thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về nguy cơ của biến đổi khí hậu và những biện pháp thích ứng, giảm nhẹ biến đổi khí hậu; e) Khuyến khích phát triển các dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM); đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong việc thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế sử dụng ít các bon; f) Thử nghiệm cung ứng dịch vụ dự báo thời tiết, khí hậu, lũ lụt và thiên tai theo cơ chế cung - cầu phù hợp với nền kinh tế thị trường; g) Xây dựng và ban hành đề án thương mại hóa các sản phẩm, thông tin, số liệu khí tượng thủy văn phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. 6. Lĩnh vực đo đạc và bản đồ 6.1. Mục tiêu Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý đo đạc và bản đồ đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao đóng góp từ hoạt động đo đạc và bản đồ cho ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế. 6.2. Nhiệm vụ, giải pháp a) Tiếp tục rà soát hoàn thiện xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ, xây dựng Luật Đo đạc và bản đồ theo hướng xác lập cơ chế quản lý hoạt động đo đạc bản đồ đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 184


b) Rà soát, bổ sung hoàn thiện các cơ chế tạo nguồn thu từ đo đạc và bản đồ để tăng đóng góp thu ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực đo đạc và lập bản đồ; ứng dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại trong công tác đo đạc, thành lập bản đồ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ; c) Xây dựng và ban hành đề án thương mại hóa sản phẩm, thông tin, số liệu về đo đạc và bản đồ phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. 7. Lĩnh vực biển và hải đảo 7.1. Mục tiêu Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; nâng cao hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực biển và hải đảo để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực quản lý tổng hợp biển và hải đảo. 7.2. Nhiệm vụ, giải pháp a) Tiếp tục rà soát hoàn thiện xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường biển, xây dựng Luật Tài nguyên và Môi trường biển theo hướng xác lập cơ chế quản lý tổng hợp và thống nhất về tài nguyên và môi trường biển đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước mắt xây dựng và trình Chính phủ Luật Bảo vệ tài nguyên và môi trường biển trong năm 2010; Nghị định về phân công, phân cấp quản lý và điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển; xây dựng Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp dải ven bờ, Chiến lược phát triển bền vững biển; b) Đẩy mạnh việc vận dụng các nguyên tắc thị trường, áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; c) Nghiên cứu hoàn thiện tổ chức các đơn vị sự nghiệp điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển, đồng thời đổi mới phương thức quản lý hoạt động điều tra cơ bản phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý trong điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển, đảo. 185


d) Rà soát, bổ sung hoàn thiện các cơ chế tạo nguồn thu từ hoạt động trên biển và hải đảo để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực quản lý tổng hợp biển và hải đảo; hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác dữ liệu về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển; xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên - môi trường biển trong năm 2011 bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, hiện đại, có độ tin cậy cao phục vụ cho việc xây dựng các định hướng, chủ trương về phát triển kinh tế biển "tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển"; d) Xây dựng và ban hành đề án thương mại hóa các thông tin, số liệu về tài nguyên và môi trường biển và hải đảo phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ căn cứ Nghị quyết số 27NQ/BCSĐTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2009 của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường và Kế hoạch hành động này để xây dựng thành chương trình, đề án trong kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 của đơn vị mình và cụ thể hóa thành các nhiệm vụ kế hoạch hàng năm, trong đó quy định cụ thể tiến độ thực hiện, thời gian hoàn thành và phân công người chịu trách nhiệm từng phần việc cụ thể. 2. Giám đốc các Sở Tài nguyên và Môi trường căn cứ Nghị quyết số 27NQ/BCSĐTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2009 của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường và Kế hoạch hành động này để xây dựng chương trình, kế hoạch của cơ quan, đơn vị mình và phối hợp với Bộ tài nguyên và Môi trường trong quá trình thực hiện. 3. Định kỳ hàng năm vào tuần đầu của tháng 12, các đơn vị, tổ chức nêu trên đánh giá, kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết và kế hoạch hành động này, gửi báo cáo bằng văn bản về Vụ Kế hoạch - Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp. 4. Vụ Kế hoạch chủ trì, phối hợp với Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường và các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm tổ chức theo dõi, đôn đốc, 186


kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường và định kỳ hàng năm báo cáo trình Ban cán sự đảng Bộ. 5. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu thấy cần sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể trong bản Kế hoạch này, các đơn vị trực thuộc Bộ, các Sở Tài nguyên và Môi trường chủ động phối hợp với Vụ Kế hoạch, báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, quyết định./.

187


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Kim Anh, 2010, Đấu giá chứng nhận giảm phát thải mỏ Rạng Đông, http://daukhi.vietnamnet.vn 2. Báo cáo 16/BC-CP ngày 15/10/2010, Báo cáo trình Quốc Hội về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2010 và dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2011 3. Bộ tài nguyên và môi trường, 2008, Tài liệu Hội thảo quốc tế: Trao đổi kinh nghiệm trong phát triển, ứng phó, xử lý và khắc phục ô nhiễm sự cố tràn dầu trên biển 4. Bùi Quang Bình, 2010, Cứu môi trường vùng khai khoáng, http://www.dmtcvn.com/news_detail.asp?nid=1&new=131 5. Công văn của Kiểm toán nhà nước và Chi cục Bảo vệ Môi trường, 2008, Tóm tắt kết quả kiểm toán việc quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường giai đoạn 2006 – 2008. 6. Cục Kiểm soát Ô nhiễm- Tổng cục Môi trường, 2010, Báo cáo thực trạng triển khai công tác thu phí BVMT đối với nước thải tại Việt Nam 7. Nguyễn Mậu Dũng, 2010, Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của Việt Nam và Philippines 8. Lưu Đức Hải, 2006, Cẩm nang quản lý môi trường, Nhà xuất bản giáo dục 9. Vũ Thu Hạnh, 2007, Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường, Tạp chí khoa học pháp lý số 3. 10. Liên Hiệp Quốc, 2005, Báo cáo đánh giá hệ sinh thái Thiên niên kỷ 2005. 11. Huỳnh Thị Mai, Ban Quản lý tài nguyên nước và đa dạng sinh học, Chi trả dịch vụ hệ sinh thái- Giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, http://hieuanh.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=126:ch i-tr-dch-v-h-sinh-thai-gii-phap-bo-tn-a-dng-sinh-hc&catid=1:tin-tc,

188


12. Phạm Hồng Mạnh, 2007, Đánh giá giá trị giải trí, du lịch của du khách trong nước đối với khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang 13. Nguyễn Chí Quang , 2002, Cơ sở hạch toán môi trường doanh nghiệp 14. Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Huy, 2010, Ô nhiễm môi trường tại Nhật Bản - trường hợp bệnh Minamata, Tạp chí môi trường số 10/2010 15. Đỗ Nam Thắng, 2010, Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững. 16. Nguyễn Đăng Anh Thi, 2006, Hạch toán Quản lý môi trường – Bộ công cụ hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính và môi trường, Tạp chí Bảo vệ Môi trường số 10/2006. 17. Đăng Tuyên, 2010, Phí BVMT đối với nước thải ở Việt Nam, thực trạng và một số kiến nghị, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 9 (95) tháng 5/2010 18. Nguyễn Khánh Tuyên, 2004, Đánh giá thiệt hại sức khoẻ do ô nhiễm không khí tại Hà Nội 19. Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2006, Báo cáo hội nghị Khoa học lần thứ 20Đại học Bách Khoa Hà Nội, Nghiên cứu thử nghiệm hạch toán quản lý môi trường (EMA) tại công ty Machino – Việt Nam 20. Trung tâm Môi trường và Phát triển Cộng đồng, 2009, Báo cáo cơ sở khoa học xây dựng tiêu chí cấp nhãn xanh Việt Nam cho ba nhóm sản phẩm: xà phòng, bóng đèn compact, bao bì. 21. Trung tâm nghiên cứu Pháp luật & Chính sách Phát triển bền vững, 2010, Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường; Nghiên cứu tóm tắt về Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường 22. Nguyễn Hữu Khải, 2005, Nhãn sinh thái đối với hàng hóa xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, Nhà xuất bản Lý luận chính trị. 23. Thúy Vân, 2010, Chi trả dịch vụ môi trường rừng, một chính sách xã hội mới, thiết thực, phù hợp với mục đích bảo vệ rừng và môi trường, Tạp chí Tài nguyên và môi trường số 12 (98) tháng 6/2010

189


24. Vụ phổ biến và giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, 2010, Đề cương giới thiệu Luật Thuế Môi trường 25. Viện Chiến lược, chính sách Tài nguyên và Môi trường, 2010, Kinh tế hóa đã tăng đóng góp của ngành Tài nguyên và Môi trường cho nguồn thu ngân sách và GDP, http://isponre.gov.vn/ 26. Viện Khoa học quản lý môi trường, 2010, Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững 27. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý- Bộ Tư pháp, Trách nhiệm dân sự do hành vi gây thiệt hại về môi trường, Bản tin Luật so sánh, Số 1/2004. 28. http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_th%E1%BB%8B_tr% C6%B0%E1%BB%9Dng 29. http://www.agenda21.monre.gov.vn 30. http://dantri.com.vn/c25/s20-250862/pha-hoai-moi-truong-cong-tyvedan-viet-nam-se-bi-xu-ly-muc-cao-nhat.htm, P. Thanh, Phá hoại môi trường: Công ty Vedan Việt Nam sẽ bị xử lý mức cao nhất

190


TIẾNG ANH 1. Alan

Deardorff,

Economic

development, Deardorff's

Glossary

of

International Economics 2. China’s Certification Committee for Environmental Product Labeling, 2003, “Ecolabelling: Trade Opportunities & Challenges World Trade Organization Public Symposium Challenges Ahead on the Road to Cancun 3. David Pannell, 2004, The University of Western Australia, Who should pay for the environment? 4. Danish Environmental Protection Agency,1999, Economic Instruments In Environmental Protection in Denmark, Ministry of Environment and Energy, pp93-96. 5. Dick Osborn, Deborah Savage, Maria Fatima Reyes, Tigran Muradian , 2002, Images effectiveness, equity and effeciency in the difusion of Environmental Management Acounting. 6. ESCAP, 1999(c), Integrating Environmental Considerations into Economic Policy

Making

Processes,

http://www.unescap.org/drpad/vc/orientation/M5_2.htm 7. Glenn-Marie Lange, 2003, Policy Applications of Environmental Accounting 8. Glossary of Environment Statistics, 1997, Studies in Methods, Series F, No. 67, United Nations, New York 9. Herman Rosa, Deborah Barry, Susan Kandel, and Leopoldo Dimas, 2004, Compensation for Environmental Services and Rural Communities: Lessons from the Americas 10. Hla

Myint and Anne

O.

Krueger,

2009,

Economic

development,

Encyclopædia Britannica. 11. Institute for Environmental Studies The Hong Kong University of Science and Technology, 1997, Development of an eco-label certification programme for Hong Kong

191


12. Japan Center for a Sustainable Environment and Society (JACES), What are Environmental Taxes, http://www.jacses.org/en/paco/envtax.htm 13. John A. Dixon, 2008, Environemental Valuation: Chanllenges and Practices, a personal View. 14. Ministère des Ressources naturelles du Québec and the Ministère de l'Environnement et de la Faune du Québec, 1997, Guidelines for preparing a mining site rehabilitation plan and general mining site rehabilitation requirements. 15. Mohamed Amine Boutaba, Olivier Beaumais, Sandrine Lardic, 2008 , Permit Price Dynamics in the U.S SO2 Trading Scheme: a Cointegration Approach - PRELIMINARY VERSION 16. Mukesh Chauhan, 2005, Concept of Environmental Accounting and Practice in India 17. NA, 2007, Economic Systems, The New Encyclopædia Britannica, v. 4, p. 357. 18. Living Beyond Our Means; Statement from the board of the Millennium Ecosystem Assessment, http://www.millenniumassessment.org/documents/document.429.aspx.pdf 19. OECD, 1997, Environment taxes and green tax reform 20. OECD Headquarters, 2003,

OECD Global forum on sustainable

development: Emissions trading concerted action ob tradeable emissions permits country - Implementing SO2 Emissions in China by Jintian Yang and Jeremy Schreifels 21. Renee Murphy, The contribution of environmental compensation to the sustainable development of resources, Harrison Grierson Consultants Limited 22. R. Kerry Turner, David Pearce and Ian Bateman, 1999, Environmental Economics: An Elementary Introduction 23. Sterner, 2003, Policy Instruments for Environmental and Natural Resource Management. Resources for the Future, Washington 192


24. Thang Nam Do and Bennett, 2009, Estimating wetland biodiversity values: a choice modelling application in Vietnamâ&#x20AC;&#x2122;s Mekong River Delta, The Economy and Environment Program for Southeast Asia (EEPSEA). 25. Updated from OECD, 1997, Environment taxes and green tax reform 26. World Resources Institue and Big Room Inc, Global ecolabel monitor towards transparency 2010 27. http://www.claytonutz.com/publications/newsletters/energy_and_resources _insights/20100906/increase_in_environmental_bond_rates_for_wa_miners.pag e 28. http://economicinstruments.com/index.php/air-quality/article 29. http://www.ecosystemvaluation.org 30. http://ec.europa.eu/environment/ecolabel/ 31. http://www.encorp.ca/ar2009/ 32. http://www.ecomall.com/greenshopping/enviroaccount.htm 33. http://ec.europa.eu/environment/ecolabel/ 34. http://en.wikipedia.org/wiki/Payment_for_ecosystem_services 35. http://en.wikipedia.org/wiki/Emissions_trading 36. http://www.greenseal.org/AboutGreenSeal.aspx 37. http://mines2.tripod.com/sitebuildercontent/sitebuilderfiles/implementing_r ules_of_the_mining_act.pdf 38. http://www.sepacec.com/cecen/labelling/ 39. http://www.unep.org/dec/onlinemanual/Enforcement/InstitutionalFramewor ks/EconomicInstruments/Resource/tabid/1016/Default.aspx 40. http://www.worldwildlife.org/science/projects/ecosystemserv/item1987.htm l

193

Kinh te moi truong  

Kinh te moi truong

Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you