Page 84

Tắc thứ năm: Cọng lúa của Tuyết Phong

cuối, Viên Ngộ mới đích thân giảng thuật bản công án – một cách có vẻ như không nói gì thêm, nhưng lúc nào cũng tỏ bày rất nhiều. Đó chính là cách bố cục mà Sư thường sử dụng để trình bày, giảng thuật một tắc công án.

Về kệ tụng Sau những lời cảnh cáo nghiêm trọng của Viên Ngộ thì chúng ta cũng chẳng còn can đảm nào để đưa ra những lời luận giải về bài tụng. Chúng chỉ có thể bao hàm những gì ngoại vi, xử lí những hình tượng huyền thoại như đầu trâu, mặt ngựa và truyền thuyết tấm gương trong bài kệ của Huệ Năng. Nhưng, chính bởi vì ngoại hình đứng đại diện nội cảnh nên chúng ta cũng phải tìm lí giải. Chúng ta cứ nên luận giải, nhưng cũng sẵn sàng mỗi lúc đưa lưng đón nhận những cú đánh chính xác, nhưng tốt bụng của sư Viên Ngộ. Dưới địa ngục quả thật là nóng. Những kẻ tội phạm không được phép an nghỉ một giây phút nào. Những tên cai ngục, những kẻ hành hạ tra tấn lúc nào cũng qua lại không ngừng. Kẻ mang đầu trâu chưa kịp bước ra, tên mặt ngựa đã vội bước vào. Những oan hồn đáng thương bị hoa mắt. – Nhà phù thuỷ Tuyết Phong cũng xử sự tương tự như thế trước chúng đệ tử. Họ chưa kịp tưởng tượng ra quả đất to lớn thì Sư đã biến nó thành một cọng lúa; và trước khi nhìn thấy thì Sư đã ném nó xuống đất ngay trước mặt, nó biến đâu mất. Họ nên gọi tất cả những thiền sinh trong viện đi tìm, nhưng cũng đã biết trước là không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào một cái gì đó khác hơn chính cái đại địa, chính thế gian này, một đại địa mà bậc thầy vừa ném đi mất. Sự kiện này tương tự như làn điện chớp qua lại, từ một cái gì đó bỗng nhiên trở thành cõi trống không rỗng tuếch, rồi từ cái trống không hoát nhiên lại trở thành một vật gì đó. Và sự việc này đây chính là cái mà Tuyết Phong muốn trình bày. Nắm bắt thế gian như một cọng lúa và vất nó vào cõi trống rỗng của nó, cho nó biến mất để rồi sau đó, với một tâm thức giờ đây trống rỗng tự do mà nhìn nhận những trình hiện với những mầu sắc rực rỡ như chúng đích thật là – với những đau thương phiền não, với những vinh hoa hệ thuộc –, và lặp đi lặp lại chiêu này từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, đó chính là hành động mà những đệ tử nên học hỏi, nên thâu đắc. Như vậy thì đây không phải là một thế giới quan, một cách quan sát có tính chất triết học về to lớn, nhỏ bé, hoặc về một huyền thuật nào đó. Để làm sáng tỏ điều này, bài tụng của Tuyết Đậu nhắc đến cái tính chất sâu kín nhất của chúng ta, cái »Phật tính« sẵn có của mỗi chúng sinh, cái đáy lòng, tương tự như một tấm gương có bản tính là trống rỗng, vô ảnh tượng, nhưng cũng chính vì vậy mà có thể thâu nhập tất cả những ảnh tượng. Nhưng qua đó mà Sư cũng đã bị Viên Ngộ quở trách nhẹ: Sư để rơi mình vào cỏ; và ngay cả những từ thuận tai đẹp mắt như »Phật tính«, »Đáy lòng« mà chúng ta vừa sử dụng – Viên Ngộ có lẽ đã cho chúng ta ăn gậy. Về tấm gương vừa được nhắc đến thì truyền thống Thiền có để lại một câu chuyện rất nổi tiếng với Lô hành giả, vị Tổ thứ sáu mà chúng ta đã quen biết. Truyền thuyết thuật lại như sau: Hành giả chất phác họ Lô giữ chức giã gạo nơi vị Tổ thứ năm là Hoằng Nhẫn đã hơn bảy tháng, khi vị này tìm người kế thừa, ra lệnh chúng đệ tử trình kệ với chủ đề »Tâm«. Đệ tử giỏi nhất là Thần Tú lúc bấy giờ đã được thầm xem là người được chọn và sự kiện này càng trở nên chắc chắn hơn khi bài kệ của ông ta, vốn được lén viết lên tường trong đêm khuya, được Ngũ tổ khen ngợi trước đại chúng. Trong bài kệ này, Thần Tú sử dụng hai biểu tượng rất được chuộng trong truyền thống Phật giáo: thứ nhất là cây bồ-đề trong rừng Ưu-lâu-tần-loa, xứ Ma-kiệt-đà, nơi đức Phật thành đạo và thứ hai là một đài gỗ mang một tấm gương đồng, được nhắc đến trong giới Thiền không phải vì những kĩ thuật điêu khắc khéo léo ở bên viền hoặc phía sau, mà chính vì bản chất bóng loáng, phẳng phiu tương tự như tâm thức, trống rỗng không mang một ảnh tượng, tuy phản chiếu tất cả nhưng chính nó hoàn toàn không bị ảnh hưởng, không bị cấu uế. Bởi vì gương và đài lúc nào cũng đi đôi với nhau nên trong Hán văn, biểu thị »kính« hoặc »đài« lúc nào cũng có nghĩa là tấm gương dùng để soi. Bài kệ của Thần Tú như sau: Thân là cây bồ-đề Tâm như tấm gương sáng Cứ chăm chỉ phủi quét Chớ để nhuốm trần ai 身是菩提樹

84

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement