Page 73

Bình giảng

thì ý nghĩ của sư cũng đã rõ: thật ra thì cả kịch bản có thể chấm dứt nơi này. Việc quan trọng ở đây chỉ là để cho sự khám phá hoàn toàn tự do, để nó thâm nhập, xuyên suốt cho đến nơi cứu kính, cho đến nơi vi diệu cùng cực. Và sau đó thì tất cả những gì khác tiếp theo đều là thừa. Nhưng Viên Ngộ còn ba điểm bình phẩm về trước ngữ của Tuyết Đậu: Đầu tiên là nó sai. Bởi vì người ấy là ai, chính người dám quả quyết là đã khám phá người khác? Không phải mình chỉ có thể khám phá được chính mình thôi hay sao? Điều thứ hai là, mặc dù vậy, trước ngữ của Tuyết Đậu vẫn đúng. Ở một nơi nào đó, một cõi bất khả đắc thì mỗi người lại có khả năng khám phá chính mình cũng như khám phá người. Ở một số người thì khả năng này không được phát triển, nơi Tuyết Đậu thì nó rất mực nhạy bén. Và bởi vì cả hai trường hợp xảy ra, đúng cũng như sai, nên điều thứ ba phải được nói ở đây là, có một sự việc nào đó không trùng hợp với cách suy nghĩ lô-gic thông thường của chúng ta, có một trạng thái trung dung mà chúng ta không thể tiếp cận bằng biện luận đúng-sai bình thường. Cõi này không thể được trình bày bằng bất cứ một ngôn ngữ nào, người ta chỉ có thể miêu hoạ bằng một cái điểm của cây bút lông. Ý nghĩa thật sự của Thiền nằm trong chính cái điểm này. Bởi vì đặc biệt ở nơi này, chúng ta phải quên tư thái chằm hăm nhảy xông vào một câu nói nào đó để rồi cắn chặt, say đắm vào nó chẳng khác nào một con chó gặm xương. Nó là tất cả những gì người ta có thể nói, dược liệu cũng như độc chất. Ngay cả cái được khen ngợi bậc nhất thì người ta cũng phải tiếp đón với một tư cách cum grano salis, »thêm mắm dặm muối«, nghĩa là tiếp nhận một cách hoạt bát linh động, nếu không thì chung qui chỉ là kẻ tự hại. Nhưng đoạn kịch thứ hai liền nối tiếp theo sau. Ngay một kẻ chí khí xung thiên như Đức Sơn cũng mang thái cực đối nghịch ngay trong lòng: »Thời tiết nhân duyên«. Đầu tiên thì sư »giữ chặt« vô điều kiện, nhưng bây giờ lại »buông lỏng«. Trước khi vĩnh biệt Qui Sơn, sư suy nghĩ lại, đặt hành lí xuống, tháo giầy cỏ để trước cửa, đầy đủ uy nghi rồi để người dẫn vào phòng tiếp khách – đúng như qui luật đã định –, nơi Qui Sơn đang kiên nhẫn chờ đợi để hỏi thăm kẻ vừa đến. Vị thầy này hiểu rất rõ là phong cách tuân thủ theo nội qui không thích hợp với vị khách hùng dũng này, sau mặt nạ uy nghi này vẫn còn một Đức Sơn chính thống đang rình rập, một Đức Sơn mà đối với hắn chẳng có một Qui Sơn, chẳng có một bậc thầy nào, một Đức Sơn đến đây chỉ muốn biết xem Qui Sơn có thật sự ở trong cõi vô tướng, vô danh hay không. Qui Sơn, chính bởi vì sư là như thế, và cũng nhất trí với vị khách mới đến về sự việc hướng thượng này, chỉ ngồi yên không có một đòi hỏi nào, chỉ muốn đàm thoại cùng kẻ mới đến. Mặc dù sư có dấu hiệu tôn nghiêm của một bậc thầy bên cạnh, một phất tử mà sư thường giữ trong tay vào những buổi lễ. (Đức Phật cho phép đệ tử sử dụng một phất tử để xua ruồi. Với thời gian, phất tử trở thành một biểu tượng của sự tôn nghiêm. Đầu phất tử được làm bằng lông đuôi ngựa, sau này người ta cũng sử dụng lông của con Jaks, một loại bò miền cao nguyên Tây Tạng.) Nhưng trước Đức Sơn, người bác bỏ mọi nghi thức bên ngoài thì Sư cũng không sử dụng dấu hiệu bên ngoài nào cả. Tất cả những gì có thể gây chướng ngại cho việc trao đổi giữa hai vị đều được gác qua một bên. Nhưng Đức Sơn bây giờ lại truỵ lạc vào cực biên khác. Nếu nội qui trong thiền đường này cũng có giá trị cho hạng người như ta, Sư nghĩ như vậy, thì ta cũng cho họ một cú để thưởng thức. Du tăng thời đó thường mang dưới cánh tay trái một toạ cụ, người Ấn gọi là »niśadana«, một tấm khăn dài bốn bộ, ngang ba bộ, được trải xuống đất khi lễ bái chào hỏi để giữ y phục sạch sẽ. Đức Sơn không đơn giản trải toạ cụ này ra rồi quì lạy đảnh lễ, mà cố ý tạo một màn kịch, đưa nó lên cao một cách lộ liễu và thốt ra một lời chào hỏi »Hoà thượng!« Sư không nhận ra phong cách nhân nhượng, không cố chấp vào nghi lễ của Qui Sơn, và giờ đây dùng một chiến thuật đối nghịch. Về phía Qui Sơn, Sư không câu nệ việc người khách không nhận ra hảo tâm của mình, nhưng mặt khác lại phải để ý, không để hắn tự do tung hoành với những cử chỉ ngông nghênh. Nếu hắn cứ tiếp tục như vậy thì ta đây cũng có phất tử trong tay. Nhưng dù vậy, Sư cũng không để ý đến việc này. Tất cả những phong thái trình bày phô trương đều xa lạ đối với Sư. Chẳng gì khác tiếp theo ngoài một dấu hiệu nhỏ, tỏ vẻ như đưa tay nắm lấy phất tử, biểu tượng tôn nghiêm của một bậc thầy. Viên Ngộ rất mực vui thú với tuyệt chiêu này của Qui Sơn, như trước ngữ của Sư cho thấy. Và quả thật, toàn phần tài năng của Qui Sơn được biểu hiện qua hành động này. Nó chỉ là một dấu hiệu, phảng phất như giơ tay nắm lấy phất tử; có thể là mỗi người khác sẽ không nhận ra. Chỉ Đức Sơn là không; Sư rõ ngay chiều sâu nằm sau hành động này, nhận ra sự trầm tĩnh bất

73

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement