Page 70

Tắc thứ tư: Đức Sơn cặp áo dọ hỏi

Đức Sơn, môn đệ của Long Đàm Công việc cực nhọc trong quá trình khai sơn có lẽ nằm sau Qui Sơn đã lâu, Sư bây giờ là vị trụ trì đứng đầu một thiền viện được quản lí chặt chẽ – chính lúc này xảy ra cuộc hội ngộ với Đức Sơn, lúc đó vẫn còn là một du tăng hồn nhiên, dũng mãnh như công án này tường thuật lại. Sư sinh năm 780 (cũng có thể 782?) miền Bắc tỉnh Tứ Xuyên, tức là sâu trong nội địa Trung Hoa, trong một gia đình họ Chu, tương tự như vương triều nổi danh đã đóng dấu ấn riêng của mình cho nhiều thế hệ sau trên đất nước này. Sư xuất gia sớm, thụ giới cụ túc năm lên hai mươi và nhận được pháp danh tiêu biểu cho tính chuyên cần tinh tiến của mình là Tuyên Giám, »Tấm gương tuyên thuyết Phật pháp«. Sau đó, Sư dốc lòng nghiên cứu các bộ kinh, luật, luận. Trong đó thì đặc biệt thu hút Sư chính là những bài luận xử lí »trí huệ đưa người sang bờ bên kia«, cũng được gọi là Bát-nhã ba-la-mật-đa, nghĩa là một loại trí huệ không thể thâm nhập qua suy nghĩ phân tích, một loại trí siêu việt cặp đối đãi thị phi. Trong những bài kinh luận này thì bài kinh nổi danh Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa được Sư chú trọng hơn hết, một bộ kinh gây cảm hứng đến Sư rất nhiều, bởi vì nó miêu hoạ rõ ràng và triệt để phong thái từ khước mọi hí luận, mọi danh cú, mọi khái niệm. Với sự trợ giúp của một bài chú giải của thế kỉ thứ tám,8 Sư nghiên cứu bộ kinh Kim cương và với thời gian, được xem là người có thẩm quyền bậc nhất trong việc thuyết giảng kinh này. Chính vì vậy mà trong quần chúng không thiếu tính khôi hài trên đất Trung Hoa, Sư lúc nào cũng được gọi là »Chu Kim Cương«. Trong thế giới được miêu hoạ trong kinh này chỉ có rất ít những câu có thể gợi khái niệm đến người đọc. Bởi vì, những gì một thế nhân có thể thiết tưởng luôn luôn là hữu vi, được kết cấu và vì thế vô nghĩa; cho nên, nếu diễn dẫn những mối suy nghĩ này tiền hậu nhất trí thì cuối cùng, chúng cũng phải được xoay về chính Phật pháp – trong trường hợp Phật pháp được trình bày qua ngôn ngữ văn tự. »Ngươi nghĩ như thế nào«, Thế Tôn hỏi Tôn giả Tu-bồ-đề trong kinh này, »Có một pháp nào đó (nghĩa là: một vật, một cái gì đó có thể dẫn khởi một khái niệm) từng được Như Lai chứng đắc, gọi là ›Vô thượng chính đẳng chính giác‹ hoặc truyền dạy đến các ngươi hay không?« Tu-bồ-đề thưa: »Bạch Thế Tôn, như con hiểu thì không có một pháp nào được Như Lai chứng đắc, gọi là ›Vô thượng chính đẳng chính giác‹ hoặc truyền dạy đến chúng đệ tử. Vì sao? Vì pháp mà Như Lai chứng đắc, gọi là ›Vô thượng chính đẳng chính giác‹ và truyền dạy không thể diễn bày, không thể nắm bắt được. Thánh nhân an trú trong vô vi.« (Xem Max Walleser, ›Prajñāpāramitā‹, 1914; Helmut von Glasenapp, ›Der Pfad zur Erleuchtung‹, 1956, trang 163; ›Sacred Books of the East‹, Vol. XLIX, 1984, trang 118.) Chúng ta chỉ cần suy nghĩ chút ít về những câu được trình bày vi tế theo phong cách Ấn Độ này thì sẽ cảm nhận được một sự tôn nghiêm tự hiển bày, một sự tôn nghiêm không nương tựa, hoàn toàn không nương tựa vào đâu cả, tự lập tự chủ9 với trọn vẹn ý nghĩa. Và quả như vậy: Trong trường hợp thoát khỏi những hiểu lầm, nó chính là cảm giác căn bản khi thành tựu Phật quả; nó là giải thưởng mà người có thể đạt được khi đã buông xả toàn vẹn, là vương miện chờ đợi những tâm thức tinh anh chuyên chú vào sự việc hướng thượng. Tuy vậy, rất ít ai có thể đạt được nó trong một cuộc sống. Nhưng, từ kiếp này sang kiếp khác, hành giả vẫn có thể tiến triển trên con đường tu học; và nếu nó kéo dài muôn kiếp vạn kiếp thì kết quả cuối cùng vẫn là một sự kiện chắc chắn. Đó chính là động cơ thôi thúc trong lồng ngực của vị tăng trẻ họ Chu, khiến ông ta đi từ nơi này đến nơi khác thuyết pháp, khiến lời nói của ông ta trở nên hùng hồn, tràn đầy năng lực. Nhưng sau đó thì một thông tin từ miền Nam làm Sư bất an. Ở miền hạ lưu sông Dương Tử có nhiều Thiền tăng mới xuất hiện, bài xích con đường tu học thành tựu Phật quả qua từng cấp bậc, đề xuất một quả quyết không thể nào có là mỗi người, ngay lập tức, trong khoảnh khắc – có thể nói là siêu thời gian –, trở thành một vị Phật. Việc một tà giáo có thể thịnh hành như vậy không để vị tăng trẻ cương nghị này ngồi yên, và sau một quyết định nhanh chóng, Sư hành cước xuôi dòng Dương Tử để ruồng đuổi bọn tà ma cho đến tận hang sư tử, quyết chí hạ thủ chúng qua những cuộc tranh luận sôi nổi. 8

Tác giả của bài sớ sao này là Hoà thượng Đạo Nhân ở chùa Thanh Long, Trường An (青 龍 道 氤; j: seiryō dōin). Dưới thời Huyền Tông (713-756), sư cũng đại diện Phật giáo chống lại những cuộc công kích, phản bác của Đạo gia. 9 ◊ g: Souveränität;

70

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement