Page 69

Bình giảng

quyết định tham vấn một vị Thiền sư. Mặc dù vị Thiền sư nổi danh bấy giờ là Mã Đại sư đã mất trước đây mười năm, nhưng vị môn đệ xuất sắc nhất của ngài đang dự định kiến lập một thiền viện to lớn tại tỉnh Giang Tây, trên một ngọn núi hoang vắng nhằm đáp ứng nhu cầu của thiền sinh thời bấy giờ. Sư đến yết kiến và hỗ trợ vị thầy rất đắc lực bởi vì ông ta ngày ngày đều lao động cùng với tăng chúng. Nguyên tắc của vị thầy này là »Một ngày không làm – một ngày không ăn« và ông ta giữ vững lập trường này cho đến lúc cao tuổi. Ngọn núi mà họ khai hoang lúc bấy giờ mang tên của một vách đá cao ngất, »Núi cao một trăm trượng«, theo chữ Hán là Bách Trượng sơn, và vị thầy này sau cũng được gọi theo tên ngọn núi là Bách Trượng.6 Trong tất cả những vị đệ tử của Mã đại sư thì Bách Trượng là người thừa hưởng tài năng của tôn sư nhiều nhất và Sư cũng chính là người mà Viên Ngộ đã trích dẫn trong kệ tụng của công án thứ hai: »Tất cả ngữ ngôn, sơn hà đại địa, mỗi mỗi sự vật đều quay trở về chính mình cả.« Dẫn dắt đệ tử đến sự hiểu biết này qua một phong cách riêng chính là cú sở trường của Bách Trượng. Nơi thiền tăng Linh Hựu, Sư trắc nghiệm bằng cách lấy lửa làm ẩn dụ. Một lần nọ, Bách Trượng hỏi Sư: »Ngươi đem được lửa đến chăng?« Sư thưa: »Đem được.« Bách Trượng hỏi tiếp: »Lửa đâu?« Sư cầm một nhánh cây làm vẻ thổi lửa (như muốn nói: Trong củi đã có lửa, ta chỉ cần thổi mạnh). Bách Trượng gạt phắt qua và bảo: »Như sâu đục vỏ cây. Nhìn thì như chữ nhưng chẳng có nghĩa gì!« (Sư muốn nói: câu trả lời này không xuất phát từ đáy lòng, còn do học mà đạt được.) Hôm khác, Sư vừa đứng hầu, Bách Trượng liền hỏi: »Ai?« Sư thưa: »Con, Linh Hựu!« Bách Trượng bảo: »Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?« Sư vạch ra thưa: »Không có lửa.« Bách Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư bảo: »Ngươi bảo không, cái này là gì!« Sư nghe vậy hoát nhiên đại ngộ. Bách Trượng bảo: »Đây là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói ›Muốn thấy Phật tính phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên rồi nhớ lại, mới biết tĩnh vật của mình không từ bên ngoài được.‹ Cho nên Tổ sư bảo ›Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.‹ Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh. Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ!« Linh Hựu còn lưu lại nhiều năm nơi Bách Trượng, đảm đương chức vụ điển toạ, lo lắng về miếng ăn chỗ ngủ cho chư tăng. Sau, vào khoảng 812, Bách Trượng biết được qua một vị du tăng ở tỉnh Hồ Nam láng giềng có một rặng núi chưa có người khai hoang; nơi đây, thiền tăng chăm chỉ có thể tự vun xới, lao động kiến lập một thiền viện và nuôi dưỡng nhiều chúng tăng. Vì lo cho tương lai của môn đệ nên Bách Trượng rất vui mừng về thông tin này. Sư trắc nghiệm những môn đệ giỏi nhất của mình, tìm thấy đức tính cương nghị và trầm lặng cần thiết cho việc khai sơn lập tự nơi Linh Hựu và ra lệnh vị này đến núi Qui kiến lập một thiền viện, tạo một trung tâm mới của Thiền tông ở tỉnh Hồ Nam. Trong giai đoạn tiền phong và kiến lập thì phong cách trầm tĩnh, nhưng dũng mãnh của Qui Sơn7 được phát huy toàn vẹn. Ban đầu, Sư »chỉ ăn hạt dẻ và sống cùng với khỉ vượn«. Sau đó, các nông dân xung quanh giúp Sư dựng một am nhỏ tại thung lũng, và với sự giúp đỡ của một vị quan tại thủ phủ Trường Sa, am nhỏ này trở thành một thiền viện to lớn. Không bao lâu học chúng qui tụ tấp nập để nghiêm túc tham học với Sư và suốt nhiều năm liền, học chúng lúc nào cũng không dưới một nghìn người. Vào năm 845, qua sự thôi thúc của các trào lưu ngoại đạo khác, vương triều sắc lệnh buộc tất cả tăng chúng phải hoàn tục, trở về quê hương – hơn 40.000 ngôi chùa bị bỏ hoang –, và đại chúng tại Qui sơn cũng không thoát khỏi số mệnh này. Nhưng sau hai năm, khi sắc lệnh tai hại này được thu hồi lại thì Qui Sơn chính là người đầu tiên đứng ra tụ hội chúng và pháp nạn cũng như những diễn biến vừa nêu trên chính là lí do vì sao Phật giáo Trung Hoa trong thời gian sau hầu như chỉ được đại diện qua Thiền tông, các vị Thiền sư chính là những người giương cao ngọn cờ Phật giáo. Sư giáo hoá hơn bốn mươi năm liền tại núi Qui cho đến lúc nhắm mắt vào năm 833. Ngoài bản công án này ra còn hai bản 24 và 70 nhắc đến Sư; Tuyết Đậu đã sử dụng một lời nói của một vị đệ tử của Sư trong bài tụng công án thứ hai là Hương Nghiêm Trí Nhàn; công án 34 và 68 sẽ nhắc đến môn đệ xuất sắc nhất là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Trong những thế hệ sau thì Qui Sơn và Ngưỡng Sơn được xem là Khai tổ của một dòng thiền, được gọi là Qui Ngưỡng tông.

6 百 丈 懷 海; j: hyakujō ekai; 720-814; 7 潙 山 靈 祐; j: isan reiyū; 771-853;

69

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement