Page 68

Tắc thứ tư: Đức Sơn cặp áo dọ hỏi

một bàn tay cứng rắn, không thả lỏng, chiếm đoạt tất cả những gì mà hắn có thể nương tựa vào, xé tan, tháo tung, ngay cả tấm đệm sùng tín êm ấm của hắn. Cách giáo hoá mạnh bạo này chính là cái được bản công án đây gọi là »giữ chặt«.5 Ai theo đuổi con đường hướng thượng phải »giữ chặt«, »chiếm đoạt«, bóp chặt và giết hết tất cả những cảm xúc của tự ngã và ý thức phân biệt của nó. Ông ta thô bạo, không chấp nhận thoả hiệp, ông ấy ngồi – nói phóng đại một ít – trên đỉnh cô phong siêu việt mọi túp lều nhân thế, và nín lặng, bởi vì những gì ông ta muốn chỉ đến không thể nào đạt được qua ngôn ngữ. Nhưng cũng có những người khác đến với những câu hỏi nan giải của họ, những vị tăng đã tiến xa trong quá trình tu luyện đoạn niệm, từ khước thế gian để rồi bám chặt vào đó. Họ không biết rằng, chính họ đang bị vây phủ bởi những kiến giải cuồng điên – không cần biết đến trường hợp họ đã đạt thánh quả gì –, vẫn còn vướng vào những sự việc vô nghĩa, vẫn còn phải ăn uống, thức ngủ như những người khác. Kiến giải cố chấp cũng có thể dẫn đến nhiễm độc, dẫn đến cái chết của cuộc sống tâm linh. Những người như thế phải được những vị Thiền sư dạy dỗ, xoay về những sự việc hướng hạ, và để làm được như thế thì vị thầy này cũng phải vững tin đi trên con đường này. Ông ta phải sống cùng nhịp điệu với thế giới hiện hữu, phải giáo hoá mỗi đệ tử tùy theo căn cơ, phải để ý đến thời tiết nhân duyên, độ lượng, cẩn thận, phải nói là lo lắng cho chúng đệ tử với một »Lão bà tâm.« Khi dạy chúng thì ông ta không tiếc lời, hào phóng, tự nhiên, ngắn gọn: ông ta có những hành động đối nghịch những gì mà chúng ta đã thấy trên con đường hướng thượng. Thay vì »giữ chặt« thì ông ta »tung hoành tự do«, từ đỉnh cô phong bước xuống, sa vào đám »cỏ« để trò chuyện với người. Nhưng chúng ta không được hiểu sự đối nghịch của hướng thượng và hướng hạ, »giữ chặt« và »tung hoành tự do« là một cái gì đó, là một qui luật cố định. Trong cuộc sống hằng ngày như nó đích thật là, những sợi tơ nối đầu đều biến chuyển rất nhanh giữa hai thái cực, người ta không thể nào nắm lấy một giềng mối riêng biệt và quả quyết rằng, chính nó dẫn dắt về hướng này hoặc hướng nọ. Ngay trong một khoảnh khắc mà tính tình khắt khe nghiêm nghị của vị thầy có thể trở thành nhân nhượng, khoan dung, và khi ông ta có vẻ như để mình sa vào đám cỏ cùng người thương lượng thì chính lúc này đây, ông ấy nhấc bổng cao vút, lôi cuốn những người khác đi theo. Tính chất lưỡng diện này không phải chỉ là một phương tiện giáo hoá, chỉ là phương pháp. Nó lập cơ sở chính ngay trên chân lí, là một sự tiết lộ của mối kết cấu huyền diệu giữa cái Nhất thể một bên, và hiện hữu đa dạng ở một bên. Ai đã được ôm ấp bởi nhất thể thì không còn những gì cá biệt, không còn những chúng sinh biệt lập đối với ông ta, ngay cả cái chân lí tuyệt đối. Đối với ông ta thì, như một ẩn dụ nổi tiếng trình bày, một ông Phật vĩ đại tương tự như một cọng cỏ bé tí. Nhưng sau đó thì ông ấy sẽ hướng cặp mắt nhìn xuống, và sẽ tìm thấy trong mỗi cọng cỏ nhỏ bé tất cả những trí huệ, vinh hoa của Phật-đà trường cửu. Mối quan hệ bất khả phân li giữa hai chiều hướng trong tâm thức chính là điểm được trình bày trong lời thuỳ thị của Viên Ngộ, và chính nó được trình bày trong bản công án qua hai nhân vật điển hình khác tuổi. Để có thể hiểu rõ bản công án này thì trước hết, chúng ta phải tìm hiểu hai nhân vật ở đây cũng như lai lịch của họ.

Qui Sơn, môn đệ của Bách Trượng Kẻ cao tuổi hơn trong công án này là Qui Sơn, trong thời điểm hội ngộ trên đã ở đỉnh cao của cuộc đời hoằng hoá. Sinh năm 771 tại tỉnh Phúc Kiến, không xa thành phố cảng Phúc Châu, Sư xuống tóc xuất gia vào năm hai mươi tuổi, một vài năm sau đó thụ giới và mang pháp danh Linh Hựu, nghĩa là »phù hộ linh ứng«. Sư được hướng dẫn vào giới luật của tăng-già qua một Luật sư rồi sau đó đến dãy núi Thiên Thai, trung tâm Phật học danh tiếng nhất thời bấy giờ tại tỉnh Chiết Giang, để rồi chú tâm nghiên cứu các bộ đại luận về giáo lí Duy thức của hai vị Đại luận sư Ấn Độ Thế Thân và Vô Trước cũng như những bài chú giải của các cao tăng Trung Quốc thời bấy giờ. Trong thời gian này, Sư cũng gặp hai vị »Cuồng thánh« Hàn Sơn và Thập Đắc – lúc này đang tung hoành trên dãy Thiên Thai, gợi cảm hứng cho rất nhiều thi và hoạ sĩ cũng như những trứ tác nghệ thuật thấm nhuần vị thiền sau này. Chúng ta không rõ là hai dị nhân chế nhạo học thức này gây ấn tượng gì đến vị tăng Linh Hựu, nhưng trong mọi trường hợp, Sư không lưu lại lâu nơi này. Chỉ sau ba năm tại đây (có lẽ vào năm 796), Sư 5

◊ Bả định 把 定

68

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement