Page 60

Tắc thứ ba: Mã Tổ Nhật Diện Phật, Nguyệt Diện Phật

»Trong thâm tâm lời phát biểu to lớn: chúng ta sinh ra vì những mục đích thiện hảo. Và những gì xuất phát từ tiếng lòng, chúng không lừa dối tâm hồn.«6 Bởi vì phàm phu có cố tật là nghi ngờ những gì thiện hảo cao thượng; nó phải được bảo vệ trước mọi ô nhiễm, không thể tự phô bày trước mọi cặp mắt. Vì mặt thiện hảo trong thâm tâm chung sống rất thân cận với mặt trần tục nên nó có nguy cơ lớn là bị đám bụi trần làm ô nhiễm, thậm chí bị lợi dụng và qua đó trở thành bất thiện. An lạc của Phật quả, được biểu hiện qua những lời của vị thầy nằm trên giường bệnh chỉ thật sự hiện diện ở nơi bản ngã và thế giới xung quanh chìm lắng, được quên lãng. Một khi tiểu ngã vùng dậy, tự nhận mình là một Phật-đà thì một trò đùa trá nguỵ là những gì còn sót lại của Phật quả cao thượng. Các vị Thiền sư đều rõ đây chính là điểm khốn nạn7 – khốn nạn nhất trong lĩnh vực tôn giáo của mình. Từ cảm giác sung sướng tuyệt đỉnh của Phật quả cho đến vực thẳm của tâm tư tự lừa dối, kiêu căng tự phụ chỉ là một bước nhỏ. Viên Ngộ đã đưa ra một ví dụ điển hình trong lời bình xướng về kệ tụng. Viễn Lục công, sau này cũng được biết dưới hiệu Phù Sơn Pháp Viễn, trong thời niên thiếu bị cảm giác Phật quả làm mù quáng, tự thổi phồng lên thành một hình tượng thần thoại và tin là có thể gây ấn tượng đến một vị thị giả chất phác với những hành động như thế, cho đến khi được vị này nhắc nhở về đầu lâu của mình, được đánh thức quay về hiện thật. Nếu phải trình bày bí mật của Phật quả, hiển hiện sáng ngời qua lời của Mã Đại sư trong một bài kệ thì Tuyết Đậu chỉ có thể thực hiện một cách âm thầm kín đáo. Tất cả những gì Sư nói lớn cho mọi người nghe được chỉ có thể là những lời phủ định. Đặc biệt là Sư phải cảnh cáo mọi người, khuyên họ chớ có nhẹ dạ, không nhận ra mức độ kinh khủng trong lời nói của vị Tổ, khinh thường thay vì phải nghiêm chỉnh chú trọng đến nó. Như vậy, vị này dạy: Tâm của chúng sinh, dù không hoàn hảo thế nào đi nữa, chính là Phật, là một Bậc giác ngộ. Và trên giường bệnh, ông ta thốt ra một câu theo ý nghĩa vừa nêu trên, có vẻ như đứng ngay trong ban hợp xướng của những Đấng toàn hảo, những Bậc giác ngộ. Một tâm thức như vậy không phá vỡ giới hạn dành cho những người thế tục hay sao? Sự việc này chẳng tương tự những gì người Hi Lạp gọi là »ngạo mạn,«8 người Do Thái và Gia Tô gọi là »tiết độc thần linh«9 hay sao? Đất Trung Hoa cũng không có những cấm địa nhất định nào đó mà chẳng ai xâm phạm không bị trừng phạt hay sao? Và quả như thế, nếu chúng ta so sánh những lời của Mã Tổ với tất cả những gì khác, những lời trao đổi hằng ngày của những người xung quanh, ví dụ như đưa lời hỏi thăm sức khoẻ của viện chủ lên cùng đẳng cấp để so sánh thì chúng chính là biểu thị của một sự ngạo mạn, khinh miệt tự tôn đáng bị trừng phạt. Trong thời suy tàn của nhà Đường, vào khoảng trước hoặc sau năm 900, Thiền sư Thiền Nguyệt đã chê trách phong độ ngạo mạn của một vị chư hầu đã trở nên độc lập trong một bài kệ được Viên Ngộ trích dẫn. Trong đó, Sư nhắc đến hình tượng của các vị vua, các nhân vật huyền thoại thời thượng cổ Trung Hoa, được toàn thể dân chúng tôn thờ như những vị thần bảo hộ, lập quốc. Trong đời Đường, người ta phân họ ra thành hai nhóm, năm và ba: trước tiên là Tam Hoàng, một trong những vị tiêu biểu ở đây là Thần Nông, vị sáng lập nông nghiệp và sau đó là nhóm Ngũ Đế, với Hoàng Đế và người vợ đã khai sáng việc nuôi tằm lấy tơ; Nghiêu, Thuấn là hai vị vua mẫu mực. Một thi sĩ không thể nào miêu tả chính xác kẻ mới giàu phách lối học làm sang hơn là gán vào mồm của hắn những chữ: »Ngũ Đế Tam Hoàng là cái gì?« Bởi vì hình tượng của những vị được nhắc đến ở đây là những ranh giới mà thường dân không được phép xâm phạm, ngay cả trong tư tưởng. Đối với Tuyết Đậu thì đây chính là lời giải đáp tuyệt hảo nhất, rọi sáng cùng tận bí mật của bản công án này bằng những phương tiện rất giản đơn, ít hao lời tổn lực. Vì chính những lời này, như Viên Ngộ nói, chúng phải được hiểu sát nghĩa như tác giả của chúng muốn được hiểu: chỉ trích phong cách ngạo mạn tự phụ mà người ta có thể nghe từ lời nói của Mã Đại sư dành cho viện chủ, cảnh cáo những người nhẹ dạ chỉ biết lặp lại những chữ này mà không rõ sức mạnh của thuốc nổ nằm trong ấy. Chính vì vậy mà lời khuyên được gửi đến những »Nạp tăng sáng mắt«, tức là những người ngày ngày tiếp xúc với danh hiệu Phật như thợ rèn với lò nung, và vì vậy đứng trước cơ nguy lớn hơn những người chẳng biết gì đến danh hiệu Phật. 6

◊ Nguyên văn: »Im Herzen kündet es laut sich an: zu was Besserem sind wir geboren. Und was die innere Stimme spricht, das täuscht die hoffende Seele nicht.« 7 ◊ g: heikel 8 ◊ g: Hybris 9 褻 瀆 神 靈; g: Blasphemie

60

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement