Page 57

Bình giảng

tu luyện, hoặc nhấc chân lên, hoặc đặt chân xuống. Ông ta chỉ cần nghe một lời dạy của tôn sư thôi là xong; chẳng cần vượt qua từng cấp bậc. Như chúng ta thường nói, người ấy leo núi niết-bàn, nhưng lại chẳng nhấc chân lên.‹ Qua những gì được truyền lại trong cuộc đàm thoại trên và những gì được nói về Mã Tổ và sư phụ Nam Nhạc, chúng ta thấy rõ là cả hai xuất xứ từ truyền thống Đại thừa như thế nào. Không chỉ cái Ngã được hai vị xem là một dòng lưu chuyển kết cấu của các pháp – những pháp lúc nào cũng tự biến chuyển mới mẻ –, mà chính ngay những pháp này, chúng đều trống rỗng không mang một tự tính nào. Vô minh chính là không nhận thấy bản chất này của chúng. Từ vô minh này mà xuất phát tư tưởng chấp vào một ngã, bám chặt vào các sự vật hiện hữu và như thế, nỗi khổ của nhân thế được hình thành. Các vị Đại luận sư Ấn Độ đã phát triển những tư tưởng này thành những hệ thống lớn, một mặt nhấn mạnh tính không của tất cả những gì hiện hữu, mặt khác, lại cho những gì hiện hữu không có một tự tính, một bản thể, bởi vì chúng chỉ là những vọng kế của tư duy. Nhưng, đối với những vị Thiền sư Trung Hoa, những hành giả thực tiễn thì quan trọng chỉ là làm sao cho những nhận thức trên trở thành xương, thành tuỷ, như trường hợp chư vị Bồ Tát, chư Phật. Họ »li biệt tất cả«3 – như Rainer Maria Rilke trình bày –, và như thế, cái xa nhất lại trở nên thân cận họ, vị lai bước vào hiện tại, chẳng những đưa họ xác tín của Phật quả và an lạc, mà còn làm họ tự tin, can đảm để nói thẳng với mọi người: Bạn, như bạn đang là, chính là Phật. »Bạn tin, bạn thành tựu«,4 Wittenberg đã một lần nói như vậy – dù ông ta nghĩ khác như thế nào đi nữa nếu quan sát kĩ, niềm tin này rất đúng dưới dạng ngộ đạo bất thình lình cũng như phương cách nắm bắt thời cơ ngoạn mục với nhận thức của các vị Thiền sư Trung Hoa. Trong ánh sáng này thì hình tượng của Mã Đại sư trình bày trong bản công án sau đây có thể được chiếu rọi rõ ràng hơn.

Về bản công án Theo bài văn bia được viết bởi một vị đệ tử vào năm 791, đáng tin hơn là những tài liệu về sau thì Mã Đại sư mất đầu năm 786 (như vậy không phải 788 như thường thấy), vào năm tám mươi tuổi. Vào tháng hai năm này, Sư bỗng nhiên bảo chúng đệ tử là sau hai tháng, Sư sẽ theo »qui luật đã định« và ra lệnh cho đệ tử chuẩn bị nơi an nghỉ cuối cùng của mình tại một nơi bằng phẳng, được đá núi vây xung quanh mà Sư tự chọn sau một buổi kinh hành. Sự việc xảy ra đúng như Sư đã nói. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, cuộc đàm thoại được trình bày qua công án này xảy ra vào những ngày cuối đời của sư. Trong bài tường thuật ngắn này có một điểm rất nổi bật: sự tương phản đặc sắc giữa câu hỏi và câu trả lời. Đây là một câu hỏi thăm sức khoẻ rất bình thường của viện chủ dành cho vị thầy đang lâm bệnh gần chết, chắc chắn xuất phát từ một hảo tâm, chỉ có điều là rất tầm thường, theo qui củ của những sự việc hằng ngày; và trong câu trả lời một sự bộc phát từ chiều sâu thăm thẳm, vượt thẳng lên cao, mở rộng chân trời: Nhật Diện Phật, Nguyệt Diện Phật. Mọi người sẽ có một cảm nhận nào đó về sự việc này, mặc dù hầu như chẳng hiểu gì ý nghĩa của câu nói lạ lùng và chính người nói nó có dụng ý gì. Lạ lùng thay, Viên Ngộ cũng như Tuyết Đậu, hai vị chẳng làm gì để giúp đỡ người khác hiểu được lời phát biểu kì đặc trên – trong lời bình xướng không, trong kệ tụng cũng không. Rõ là hai vị quan niệm việc làm này hoàn toàn không cần thiết, hay là hoàn toàn không tốt. Nơi đây chúng ta phải tự nói đỡ cho chính mình là môn đệ của những vị Thiền sư này đã đạt những điều kiện tiên quyết để có thể hiểu những câu nói như trên, những điều mà chúng ta chưa có, chưa từng đạt. Họ đứng ngay trong một truyền thống sinh động kéo dài từ hơn một nghìn năm, một truyền thống mà chúng ta phần lớn chỉ biết được qua sách vở. Những Phật danh được nhắc đến ở đây ngay từ đầu không chỉ đơn thuần là những âm thanh tầm thường; chúng cũng đánh thức trong những vị đệ tử trí tưởng tượng, cảm giác, còn đối với chúng ta thì hoàn toàn xa lạ, hoặc gợi mối liên hệ với những danh hiệu mà chúng ta quí trọng từ nhỏ. Và sự việc này cho phép – đúng hơn –, bắt buộc chúng ta tìm hiểu xem Phật tử Trung Hoa thời đó đã có những cảm nhận gì khi nghe những danh hiệu Phật như trên.

3 ◊ Nguyên văn: 4 ◊ Nguyên văn:

»allem Abschied voran.« »Glaubst du, so hast du.«

57

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement