Page 56

Tắc thứ ba: Mã Tổ Nhật Diện Phật, Nguyệt Diện Phật

mất vào năm 774, Mã Đại sư đã dời đến nơi hoằng hoá thứ hai của mình tại Giang Tây, nhưng không quên ra lệnh cho đệ tử xây một bảo tháp ngay tại Nam Nhạc để thờ phụng. Mã Đại sư ngay từ đầu đã giáo hoá với toàn bộ năng lực của mình. Không bao lâu, học chúng bốn phương qui tụ, và nếu sư nhiều lần đổi chỗ trụ trì thì nguyên do chính là không đủ chỗ ở cho thiền sinh, Sư cần những nơi rộng rãi hơn. Những thiền viện sư chọn thuộc về Luật tông, một trường phái chuyên chú đến việc giữ giới luật và như chúng ta đã biết, chính Sư cũng xuất thân từ trường phái này. Trong hai thập niên cuối đời, Sư giáo hoá ở một thiền viện lớn tại thành phố Nam Khang, và vị quan hầu ở đây hỗ trợ Sư hết lòng. Năm 780, khi triều đình ra lệnh buộc tất cả tăng sinh trở về quê quán, ông vẫn cho phép tăng sinh lưu lại nơi này. Trong mọi trường hợp, thành phố Nam Khang là trung tâm quan trọng nhất của nền Phật giáo Trung Quốc khi Mã Tổ còn hoằng hoá. Trong khi Nam Nhạc chỉ có Mã Tổ là người đắc pháp duy nhất thì bây giờ, dưới trướng vị đệ tử lừng danh này, người ta đếm không ít hơn tám mươi vị Thiền sư tiếng tăm, và trong số đó, không ít hơn mười một vị được nhắc đến trong tập công án này. Tầm quan trọng của Mã Đại sư cho việc phát triển thiền học Trung Quốc như vậy khó mà lường hết được. Người ta cũng có thể nhận ra điều này từ những hành động, phương tiện giáo hoá quái gở của Mã Tổ được truyền cho đến ngày hôm nay qua những dòng thiền bắt nguồn chính từ ông ta. Ngay trong lời thuỳ thị của công án thứ hai vừa qua, Viên Ngộ đã nhắc đến cây gậy và tiếng quát thường được sử dụng nơi nhiều vị Thiền sư, những phương tiện chính tự chúng nó chưa mang đến hiệu quả gì. Sử dụng những phương pháp này một cách rộng mở đầu tiên chẳng ai khác hơn là Mã Tổ. Và khi hiểu được tấm lòng nghiêm nghị, nhiệt tình với bản lĩnh phi thường của Sư thì sự việc nêu trên chẳng còn gì là lạ nữa, và người ta cũng chẳng nghe những đệ tử quyết tâm đạt đạo để những phương tiện thô bạo này làm sờn lòng, làm nản chí. Đúng là người ta gọi trong thiền lâm những vị Thiền sư giáo hoá như vậy là nguy hiểm, thô bạo, thậm chí »ác độc«, nhưng lúc nào cũng có một tiếng đệm tôn kính, thầm phục, hầu như cảm mến kèm theo sau. Bởi vì, nếu ai đó không chỉ muốn được giảng dạy, mà còn thật sự được giải thoát khỏi ngã kiến cũng như những tập khí, những khuynh hướng bất thiện nội tâm, người ấy cũng có thể thâu nhận gậy đập, lời mắng một cách mang ân – nếu chúng xuất phát từ một tấm lòng nhiệt tình, chân chính, không có mục đích nào khác hơn là giúp đỡ và giải thoát. Tâm tư nhiệt tình của Mã Đại sư lúc dạy đệ tử thể hiện rất rõ qua những buổi vấn đáp, những cuộc đàm thoại với họ. Căn bản thì nó cũng chính là tâm thức của vị thầy, của sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sau đây là một giai thoại đáng tin, được lưu lại trong một tập nói về các Cao tăng được xuất bản vào đời Tống: »Vô Nghiệp đến yết kiến Mã Đại sư. Vị này cao hơn hai thước, đứng thẳng đứng như một ngọn núi, chỉ nhìn thẳng phía trước với một cặp mắt long lanh, và khi nói thì âm thanh vang vọng như chuông đồng. Mã Tổ thấy tướng mạo kì đặc bèn bảo: ›Phật đường to lớn ghê! Mà trong ấy không có Phật!‹ Vô Nghiệp lễ bái thưa: ›Về kinh điển của tam thừa con hiểu biết đơn sơ, thường nghe Thiền môn ›Tức tâm là Phật‹ thật chưa hiểu thấu.‹ Tổ bảo: ›Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật khác. Tuy nhiên, trong trạng thái chưa hoàn hảo thì nó bị vây phủ bởi vô minh; nhưng khi đã thức tỉnh thì nó là một tâm thức giác ngộ. Trong vô minh thì chúng ta là chúng sinh (đang cầu đạt giác ngộ); khi giác ngộ chúng ta lại là Phật. Đạo (chân lí) chẳng xa lìa chúng sinh; ngoài chúng sinh ra làm sao có Phật được? Sự việc này tương tự như bàn tay của ta: ngay cả khi nắm lại thành một nắm tay, nó cũng vẫn chỉ là bàn tay.‹ Ngay câu này, Vô Nghiệp hoát nhiên tỉnh ngộ. Nước mắt chảy ròng, lễ bái Mã Tổ, nói: ›Con cứ nghĩ là muốn đạt Phật quả phải trải qua vô lượng kiếp, một con đường dài vô tận. Ngày nay lần đầu tiên con mới biết chắc chắn là mình mang Phật tính trong tâm với trọn vẹn những nét toàn hảo, trong khi chư pháp nội ngoại chính là do tâm tạo. Chúng chẳng gì khác hơn là những danh tự, ngôn cú, hoàn toàn không có một thật thể nào.‹ Tổ bảo: ›Như thế, như thế! Bản tính của chư pháp không thành không hoại, trống không và tịch tĩnh từ xưa nay. Vì vậy nên kinh mới nói: ›Tất cả các pháp đều trống rỗng và tịch tĩnh từ xưa nay‹ (Diệu pháp liên hoa kinh, II. 3. 73). Và nói (về bản tính của một vị Bồ Tát): ›Cuối cùng, vị Bồ Tát an trụ trong tính không‹ (Duy-ma-cật sở thuyết kinh, VIII. 2). Và tiếp theo: ›Tính không của chư pháp là chỗ ngồi của ông ta‹ (Diệu pháp liên hoa kinh, X. 2. 13). Như vậy thì nên biết tất cả chư Phật, tất cả Như Lai đều an trụ tại nơi vô sở trụ. Ai thấu được việc này thì đã ở ngay trong am trống không tịch tĩnh, đã ngồi ngay trên những pháp trống rỗng. Ông ta chẳng hề rời chỗ

56

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement