Page 48

Tắc thứ nhì: Lời bình của Triệu Châu về câu »Chí đạo không khó«.

quyền tự do tự tại trên địa vị này lại hoàn toàn thuộc về Tuyết Đậu và vì vậy, sư có thể giảng thuật Triệu Châu cũng như những lời nói tự do theo sở thích, tương tự như trường hợp Triệu Châu phân tích Tam tổ cũng như bài Tín tâm minh của ngài. Nếu chúng ta có thể nghe những lời bình gần như những lời chê trách về những dòng kệ đầu của Tín tâm minh từ chính miệng Triệu Châu, quan niệm là ngài hay hơn hết là không đá động gì đến Chí đạo thì bây giờ Tuyết Đậu lại tán dương câu kệ đó, cho nó là chí lí. Nếu quả quyết một lần nữa là »Chí đạo không khó«, thì quả là sư đã bắn trúng ngay điểm tinh yếu của sự vật. Lời nói này rất đúng – đúng từng chữ một! Quan trọng chỉ là một quan điểm chân chính về thể tính đích thật của Phật pháp, của Chí đạo, của tâm thức, của thế gian hoặc là bất cứ những danh hiệu người ta gán vào cái bất khả thuyết, bất khả tư nghị này. Thể tính này được Tuyết Đậu trình bày trong những câu kệ ngắn gọn: »Một nhiều chủng loại – Hai lại chẳng phải hai.« Chúng tương tự như một lời sấm kí, thật là đơn giản nhưng lại có một chiều sâu, một sức nặng vô lượng. Tri tính tầm thường chẳng thể nào tiếp cận. Triệu Châu trình bày ý nghĩa của nó bằng toàn bộ thân, thể của mình. Nhiều chủng loại đòi hỏi phân biệt chọn lựa. Trong Nhất thể thì rõ ràng minh bạch. Nhưng khi cả hai, Nhất thể và Đa chủng hợp nhất thì người ta nên nói gì bây giờ? Chính nơi đây, chúng ta nên đọc lại lời thuỳ thị của Viên Ngộ, xem sư nghiêm nghị từ khước tất cả những suy luận theo tri tính như thế nào, cũng như hậu quả hợp lí sẽ xảy ra là những người sống ngay trong chân lí không thể nào ôm ấp những khái niệm, danh cú như »Phật«, »Thiền« và »Minh bạch«. Nó chính là thế giới của Triệu Châu; vì thế nó rất giản đơn. »Tâm bình thường« của sư đã tự tìm được chính nó trong cõi này. Với bốn câu kệ đầu ngắn gọn, Tuyết Đậu đã chiếu rọi đầy đủ lập trường của Triệu Châu. Nhưng lời bình »Không khó« cần phải được phát huy, diễn giảng thêm. Những câu kệ tiếp theo xác định phạm vi của Chí đạo, vốn đã mang tiếng là không khó. Một sự trống rỗng mênh mông như hư không, chẳng có một điểm cố định nào (kệ 5). Tâm tự chẳng hiểu được chính nó, nhưng độc duy tâm mới có thể tự hiểu được hư không mênh mông này trong chính nó (kệ 6). Sự khác biệt giữa Sinh và Tử không có nghĩa lí gì. Thành phần này chuyển biến, trở thành thành phần khác; đúng hơn: khâu này tạo điều kiện xuất hiện cho khâu kia. Khắc phục được chỉ người nào cùng biến chuyển theo dòng. Sống trong ĐẠO nghĩa là trước hết: phải chết trong ĐẠO. Nó là, đối nghịch với cái chết tầm thường mà mỗi người phải trải qua, một cái chết lớn. Đã chết một cái chết lớn nghĩa là sống một cuộc sống lớn (kệ 6 & 7). Tuyết Đậu dùng một câu nói của Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn, được bàn luận rất nhiều trong thiền lâm và cũng kích thích nhiều vị Thiền sư khác bình luận. Viên Ngộ cũng sẽ luận đàm về chủ đề này (xem lời bình về kệ tụng của Viên Ngộ). Trước hết thì đã đủ nếu người ta hiểu nó là một trạng thái luân chuyển liên tục giữa sinh và tử, một trạng thái hiện hữu, nhưng cũng là phi hiện hữu, có cũng như chẳng có. Và lời phát biểu »Không khó« tất nhiên phải được hộ tòng bằng lời quả quyết sau đó: »Khó, khó thật!« Và chỉ như thế, chỉ khi đã hợp nhất với nhau rồi thì hai lời trần thuật trên mới trình bày toàn vẹn sự thật. Và nhìn như thế, Tuyết Đậu đã nói phần của mình về điểm mâu thuẫn nan giải giữa phân biệt chọn lựa và rõ ràng minh bạch, tương tự như Triệu Châu và trước đó lâu hơn nữa, Tam tổ Tăng Xán. Bây giờ đến phiên Bạn. Nhưng chính ngay lúc này thì ngôn ngữ không quan trọng – quan trọng chỉ là kiến ĐẠO và cất bước trên ĐẠO.

Về câu của Viên Ngộ: »Lô hành giả là bạn đồng hành của ông ta« Hai câu kệ về đầu lâu và bộng cây khô trình bày Triệu Châu là một người đã chết một cái chết lớn, đã tìm thấy một cuộc sống lớn. Sư đã khắc phục được cuộc tranh đấu của những cặp đối đãi, đã thâm nhập cõi nhất thể và vì vậy, có thể xoay hướng về thế giới hiện hữu với những nỗi khổ đau của nó. Đó chính là một sự hoạt bát của tâm thức như Lô hành giả, tức Lục tổ Huệ Năng đã thực hiện, đã trải qua và khuyến khích chúng đệ tử thực hiện. Tổ có một vị bạn đồng sư lớn tuổi hơn với hiệu Thần Tú.23 Vị này khuyên chúng đệ tử nghiêm chỉnh toạ thiền, không được nằm, ngay cả ban đêm. Thần Tú xem đó chính là phương tiện để đạt được cõi minh bạch của Tam tổ. Huệ Năng, »Hành giả họ Lô« chỉ thấy trong thái độ này một tâm thức

23

神 秀; ?-710.

48

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement