Page 45

Bình giảng

tư chấp vào một cái ngã nhỏ bé, chật hẹp mà nó bị che đậy, có vẻ như siêu việt, xa lìa thế giới hiện tượng. Từ miền Nam xa thẳm như truyền thuyết thuật lại: Lại có thể có sự việc tốt lành nào đến? Lục tổ đã đóng dấu ấn của mình cho những thế hệ Thiền tông sau này với phương cách trực nhận chân lí chớp nhoáng. Trong khi »Bắc thiền« khô kiệt chỉ sau vài thế hệ thì »Nam thiền«, với chủ trương »Đốn ngộ« (theo ý nghĩa trình bày trên) được phổ truyền cho đến ngày nay. Có nghĩa là: tất cả những vị Thiền sư sau này lập tông chỉ đều dựa vào Bồ-đề Đạt-ma, và kế sau vị Sơ tổ này đã là Lục tổ Huệ Năng. Từ Huệ Năng cho đến sư Triệu Châu – với mười ba năm cuối đời đã bước vào thế kỉ thứ tám – cách nhau chỉ bốn thế hệ. Một vị Thiền sư thế hệ thứ bảy là Hoài Nhượng, hoằng hoá tại Nam Nhạc. Mặc dù giữ một vai trò rất quan trọng cho Thiền tông, sư lại không được nhắc đến tường tận nơi nào, nhưng một môn đệ quan trọng của sư, Mã Tổ Đạo Nhất, theo hệ thống truyền thừa thuộc thế hệ thứ bảy lại rất nổi danh, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần và chúng ta sẽ yết kiến sư ngay trong công án thứ ba. Nơi Mã Tổ (nghĩa là ông Tổ họ Mã), thầy của Triệu Châu là Nam Tuyền đã khám phá được bí mật của tâm nhất như trong câu nói giản đơn, nhưng chính vì vậy mà khó thông hội bằng lí trí thông thường: Mỗi mỗi các ngươi, cứ tin đi: tâm của mình chính là Phật. Và chính Nam Tuyền đã cố gắng trình bày cho môn đệ của mình một cách cụ thể hơn về chân lí huyền diệu này qua lời nói »Tâm bình thường chính là Đạo.« (Công án 28 sẽ cho thấy tất cả những gì chứa đựng trong công án này, cho thấy người ta có thể hiểu nó hoàn toàn sai, mặc dù vậy nó vẫn đúng, nếu hiểu một cách chân chính, như thế nào.) Như vậy, với Nam Tuyền, cuộc sống và cách hoằng hoá của sư, nhân vật chính của bản công án thứ hai này là Triệu Châu có một mối quan hệ rất mật thiết. Sinh năm 777 tại tỉnh Sơn Đông, Sư sớm đã mộ đạo và vào chùa tu học. Năm lên mười bảy, Sư đến Trì Châu (Trì Dương) bên cạnh sông Dương Tử tham học với một thiền tăng lớn hơn độ ba mươi tuổi, người đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến Sư qua một tư thái trầm tĩnh, mặc nhiên hiếm có. Vị tăng này xuất thân từ trường dạy của vị Thiền sư danh tiếng bấy giờ là Mã Tổ và đang chuẩn bị lập một am nhỏ quạnh hiu trên núi Nam Tuyền để tiếp độ chúng. Vị Cao tăng này – từ đây được gọi theo tên của nơi hoằng hoá là Nam Tuyền –, rất hài lòng với tâm tư lanh lợi, thật thà sùng tín của đồng tử vừa đến yết kiến và nhận ngay làm đệ tử và thị giả. Công án 30 sẽ tường thuật lại cuộc đàm thoại nhập môn cũng như sự kiện Nam Tuyền làm vị đồng tử này sáng mắt như thế nào. Triệu Châu lưu lại nơi Nam Tuyền gần bốn mươi năm, cho đến khi vị này viên tịch, vào năm 834. Ở một thời điểm nào đó trong khoảng thời gian này, Sư đến Tung Sơn, nơi Sơ tổ Đạt-ma ngồi thiền lặng lẽ chín năm ròng, để rồi thụ giới và từ đây mang pháp danh Tòng Thẩm, »phục tòng theo lời khuyên«. Trong những năm sống cùng Nam Tuyền, Sư dần dần hấp thụ theo phong cách riêng của mình năng lực ung dung thư thái của vị thầy. Sau khi Nam Tuyền tịch, Sư lưu lại vài năm nữa để tỏ lòng tôn kính. Sau đó, Sư mới bắt đầu một cuộc hành cước, một cuộc hành trình thông thường chỉ được thực hiện bởi những vị tăng lúc còn trẻ tuổi – mặc dù Sư lúc này đã gần sáu mươi. Tương truyền Sư tự nguyện khi cất bước như sau: »Đứa bé bảy tuổi giỏi hơn ta, ta sẽ học hỏi nơi hắn. Còn ông lão trăm tuổi chẳng thông hiểu hơn ta thì ta sẽ dạy hắn«.22 Sư chu du đây đó, đọ sức với nhiều vị Thiền sư khác, già cũng như trẻ và cuộc hành cước này kéo dài hai mươi năm, cho đến lúc Sư – lúc này đã đầu tám mươi – quyết định dừng chân tại Triệu Châu, 175 km phía Tây nam thủ đô Bắc Kinh bây giờ. Sư từ đây trụ trì viện Quan Âm, bắt đầu giáo hoá chúng công khai. Mặc dù tuổi đã cao nhưng, qui về công hiệu sự nghiệp hoằng pháp của Sư thì vẫn chưa trễ; nó kéo dài thêm bốn mươi năm nữa, môn đệ xa gần đến tấp nập và Sư từ lúc này mang hiệu Triệu Châu. Sư viên tịch năm 896, thọ gần 121 tuổi. Nhiều vị Thiền sư danh tiếng đã đến thụ giáo nơi Sư. Rất nhiều Pháp ngữ của Sư được truyền tụng – Tuyết Đậu trình bày trong tập công án này không ít hơn con số mười hai (xem thêm ngoài công án này các công án 9, 30, 41, 45, 52, 57, 58, 59, 64, 80, 96). Tất cả những pháp ngữ của Sư đều chứng minh đức tính trầm tĩnh cao thượng, bản chất mộc mạc của trí huệ siêu việt và Sư lúc nào cũng sử dụng nó một cách toàn mĩ để tiếp độ mỗi người đến tầm đạo; mỗi lời dạy, thô cũng như tế, bác bỏ hoặc tán dương, lúc nào cũng tự nhiên cởi mở, được phát ra rất nhẹ nhàng, cứ như vô tình vô ý, nhưng lúc nào cũng trúng 22

◊ Nguyên văn: 七 歲 童 兒 勝 我 者, 我 即 問 伊, 百 歲 老 翁 不 及 我 者, 我 即 教 他

45

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement