Page 44

Tắc thứ nhì: Lời bình của Triệu Châu về câu »Chí đạo không khó«.

dưới, phải trở về thế gian với những nỗi khổ của chúng sinh để rồi cứu độ, hướng dẫn chúng đến đỉnh cao đó với một tấm lòng từ bi. Tâm thức »Hướng thượng« phải được hộ tòng bằng một tâm thức »Hướng hạ«. Nhưng, chúng ta tạm thời không đá động đến tâm hướng hạ này; nó thuộc vào hàng thứ hai và mất tất cả giá trị nếu trước đó, một tâm thức hướng thượng chưa được phát triển, chưa được thành tựu. Chính »sự việc« nằm trong hướng này, nó siêu việt mọi tư duy, mọi tri tính thông thường. Vì vậy, chẳng có thể đạt được bằng bất cứ ngữ ngôn nào. Nhưng chính vì nó mà con người mới cảm nhận một nhu cầu diễn đạt và cũng dùng không biết bao nhiêu danh hiệu, ngôn từ để trình bày nó, đã tôn sùng nó, đã cấm đoán việc sử dụng ngôn ngữ – một cách vô hiệu quả – diễn bày nó, và chẳng bao giờ trở nên mệt mỏi trong việc nhắc đi nhắc lại nó mãi, nói cho đến lúc – trong nhiều trường hợp – năng lực, sức sống nằm trong những ngôn từ này dần dần kiệt quệ, và tất cả những lời thuyết pháp, dù hùng hồn thế nào đi nữa, cũng chỉ làm tâm thức mệt mỏi thay vì đánh thức, làm cho nó tinh duệ thêm. Đó chính là tình thế Phật giáo mà Bồ-đề Đạt-ma tìm thấy khi đặt chân đến Trung Quốc. Vì vậy nên những gì quan trọng còn được nhắc đến về sư xuất phát không phải từ những bài thuyết giảng – những bài giảng pháp này cũng được xác nhận bởi những tài liệu cổ nhất –, mà hơn nữa, xuất điểm từ hành động toạ thiền im lặng của sư. Sự kiện này ban đầu đánh thức một số người ít ỏi, cho họ biết là Chân lí không nằm trong ngữ ngôn. Và trào lưu Thiền lúc đó được dẫn khởi bởi chính những số người trên, sau bốn, năm thế thệ thì lan toả khắp nơi – nó chẳng được lưu ý gì hơn ngoài kỉ luật nghiêm ngặt về việc sử dụng ngôn từ, cẩn thận trước những thánh điển, ngôn ngữ diễn bày sự việc tối cao này. Với phương cách mới này, họ xử lí một cách rất đặc biệt sự việc được Lão Tử trình bày ngay đầu quyển Đạo đức kinh: Đạo mà ta có thể gọi được không phải là Đạo thường còn; cái Danh mà ta có thể gọi được không phải là Danh thường còn. 道 可 道 非 常 道。 名 可 名 非 常 名 Đạo khả đạo – phi thường đạo. Danh khả danh – phi thường danh

Triệu Châu, môn đệ của Nam Tuyền Để làm ví dụ cho tâm thức vừa được nhắc đến, Tuyết Đậu đưa Thiền sư Triệu Châu ra làm nhân vật chính và đồng thời trình bày quá trình phát triển của gốc cây Thiền mà Bồ-đề Đạtma đã vun trồng tại Trung Quốc. Bởi vì theo cách tính truyền thống với Bồ-đề Đạt-ma là Sơ tổ thì Triệu Châu đã đứng ở hàng thứ mười. Ba trăm năm phân li giữa hai người. Nhưng lại chẳng phân li, bởi vì qua mối quan hệ mật thiết trong Thiền tông giữa thầy và trò, một mối quan hệ được đảm bảo bởi phương pháp »Dĩ tâm truyền tâm« thì việc thay đổi các thế hệ không quan trọng lắm. Nhưng, tính đa dạng của những mối quan hệ ngày một gia tăng với mỗi thế hệ mới. Vị thầy đứng trước đệ tử lúc nào cũng được xem là truyền nhân và nhìn qua vị thầy này hướng về dĩ vãng, là cháu chắt của những vị tiền bối. Để hiểu những sự việc được trình bày ở đây, chúng ta nên theo dõi con đường từ Đạt-ma dẫn đến Triệu Châu và những điểm quan trọng trên chặng đường này. Ngay vị cháu của Sơ tổ là Tăng Xán, tức Tam tổ (?-606), đã nổi danh với bài tán tụng tầm cỡ đầu tiên của Thiền tông với tựa »Tín tâm minh«. Bởi vì chính bài tụng này được Triệu Châu lưu tâm đến trọn cuộc đời, và cuộc đối thoại được trình bày trong công án này, nó được mở đầu với những lời tụng đầu của bài Tín tâm minh. Quan trọng cho những người hậu học, thậm chí quan trọng hơn trong một ý nghĩa nhất định lại chính là vị Tổ thứ sáu với pháp hiệu Huệ Năng,21 vì qua sư mà những gì chư vị tiền bối truyền từ Bồ-đề Đạt-ma mới thật sự bộc phát, xuất hiện một cách rõ ràng, đồng thời lại mang những đặc tính rất »Trung Hoa«. Tâm thức chất phác, nhưng lại rất tinh anh này hoát nhiên ngộ được bí mật của Đạt-ma – một bí mật được trình bày trong hai câu »Trống rỗng không có gì là thánh« và »Chẳng biết« –, biết được nó không phải là một cái gì đó có thể đạt được qua từng cấp bậc tư duy, qua tu tập từng bước, mà hơn nữa, nó lúc nào cũng bộc phát trong khoảnh khắc như làn sét đánh, rọi sáng tâm địa – vì nó lúc nào cũng đã ở trong ta, rất thân cận, thân cận hơn mỗi sự vật trên thế gian. Chỉ vì tri thức phân biệt, phân tích cũng như tâm

21

Huệ Năng (慧 能; 638-713); đồ biểu truyền thừa II, 6.

44

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement