Page 145

Bình giảng

Về lời thuỳ thị »Một cây đao sát nhân, một thanh kiếm hoạt nhân.« – Hai vũ khí được nhắc đến nơi này đương nhiên chỉ là một, là thanh kiếm của tâm thức, có thể giết chết, hoặc làm sống lại. Sát hoạt, khẳng định và phủ định, cột chặt và tháo gỡ, cả hai lúc nào cũng phải sánh vai nhau, và không thành phần nào được xâm đoạt thành phần kia. »Thế nên cổ nhân mới nói: Con đường hướng thượng, nghìn thánh chẳng ai truyền….« – Đây là lời của Thiền sư Bảo Tích tại Bàn Sơn, nằm phía Đông bắc thủ đô Bắc Kinh ngày nay. Sư là đệ tử của Mã Tổ. Xem Đồ biểu truyền thừa III B, 9. »Họ giống như bọn khỉ mò ánh trăng dưới nước.« – Xem công án thứ 3, lời bình xướng về bản tắc của Viên Ngộ.

Về bản công án Đây là lần thứ hai chúng ta đối đầu một vị tăng với câu hỏi Phật. Trong công án thứ bảy thì người hỏi là Huệ Siêu, được Pháp Nhãn trợ giúp bằng cách gọi ngay tên của ông ta. Những gì diễn biến trong công án này nhìn chung cũng tương tự như vậy, nhưng mặt khác, qui về nhân vật cũng như bối cảnh thì lại độc nhất vô nhị. ›Ba cân gai‹ – Dù câu này mang ý nghĩa gì đi nữa, một điểm chắc chắn là: Nó đập tan câu hỏi Phật của vị tăng theo cách hiểu của ông ta. Nó là »đao giết chết« tất cả những mối suy nghĩ khiến vị tăng cảm nhận nhu cầu đặt câu hỏi về Phật. Nhưng cũng là »thanh kiếm làm sống lại« hiện thật mà câu hỏi nọ hướng đến. Bởi vì, hiện thật này chẳng bị đụng chạm sa sút gì qua câu ›ba cân gai‹. Thế nhưng, hiện thật hoát nhiên bộc lộ nơi này, nó xuất phát từ một cõi, từ một cơ sở sâu kín hơn cái khối kết cấu mang danh ›thân mệnh‹. Chính vì vậy mà ›thân mệnh‹ lại chìm lắng, quay về cơ sở nọ. Và vì cái ›bất khả đắc‹ được dung hàm trong ba chữ đó, những người ngộ được chẳng còn lí do gì để tìm ý nghĩa bên ngoài của chúng. Tuy nhiên, dịch giả có nhiều điều để hỏi. Chữ Ma (麻), được dịch ở đây là ›Gai‹9 cũng có thể là Á ma (亞 麻),10 một loại gai cho sớ dài làm vải bố. Một câu hỏi khác có thể là: Động Sơn nghĩ đến loại gai gì, gai cho sớ dệt hay gai cho hạt ép ra dầu. Điểm tựa duy nhất chúng ta có thể thấy được chính là bài kệ của Ngũ Tổ Pháp Diễn, được Viên Ngộ trích dẫn trong lời bình xướng. Nếu ›ba cân gai‹ trong đó được ›kẻ bán hạ tiện‹ Động Sơn chuẩn bị, cân đo kĩ lưỡng nhưng chẳng bán cho ai được, gọi là một ›đống chẳng ai muốn chứa‹ thì chúng ta có thể tin được là, ít nhất vị tác giả của bài kệ này đã nghĩ đến một bó gai có sớ dài dùng để làm vải bố. Nhưng qua đó, tính chất phủ nhận, khuynh hướng từ chối câu hỏi của câu ›ba cân gai‹ lại càng được nhấn mạnh. Vì nguyên do rất hợp lí mà Viên Ngộ trong lời bình xướng và Tuyết Đậu trong bài kệ, phản đối cực lực cách giảng giải câu ›ba cân gai‹ theo tình kiến thông thường. Bởi vì, dù có hay, có đẹp như thế nào đi nữa, chúng chỉ là kết quả của trí phân biệt, của giác quan mà câu trả lời của Động Sơn đang nhắm đến, đang đặt cây rìu vào để đốn tận gốc. Chính vì vậy mà một nhà chú giải hiện đại người Nhật (trong Thiền học từ điển của Jimbo và Andō) nói như sau về bản công án này: »Đây chẳng phải là một lời phát biểu bắt nguồn từ trí phân biệt. Nó xuất phát từ một cõi mà trong đó, ngôn ngữ và ý niệm đều chấm dứt. Nhưng chính vì thế mà chỗ xuất xứ của câu này lại vang vọng trong chính nó. Xuân đến thì hoa nở; thu sang thì lá rụng. Ai bám chặt vào ý nghĩa cụ thể hiển hiện của những câu này sẽ không bao giờ tìm thấy được ý nghĩa chân chính mà chúng hướng đến. Công án này, hiển hiện rõ ràng cho mọi người xem, được dung hàm trong ba chữ ›ba cân gai‹. Người tu học không thể làm việc nào khác hay hơn là tham quán câu này thật tường tận.«11

9 ◊ g: Hanf. 10 ◊ g: Flachs. 11 Lời bình xướng

của Viên Ngộ về bản tắc cũng được D. T. Suzuki dịch một cách thoát nghĩa trong ›Essays in Zen Buddhism‹, second series, trang 87f.

145

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement