Page 137

Bình giảng

dung quảng đại, vì tấm lòng từ bi của ông nói chung. Và không còn nghi ngờ gì nữa, những khía cạnh này đã được phát triển mạnh qua mối quan hệ mật thiết của ông với Hoàng Bá. Về sự phát triển của các tông phái Thiền thì Hoàng Bá đóng một vai trò quan trọng, bởi vì tâm thức của Mã Tổ mà Sư nhận được từ Bách Trượng lại được truyền trao đến một loạt người tài năng dị thường. Chúng ta đã có dịp làm quen với một trong những đệ tử giỏi nhất của Sư là Mục Châu. Còn quan trọng hơn đối với những thế hệ sau này là vị sư đệ của Mục Châu, là Thiền sư Lâm Tế; bởi vì từ vị này mà xuất phát ra nhánh thiền Lâm Tế với một truyền thống không bị gián đoạn, với Viên Ngộ là thành viên, chính là người mười thế hệ sau viết lời thuỳ thị, trước ngữ, bình xướng – nói gắn ngọn, tác giả của Bích Nham lục. Tác phẩm này được tôn trọng và bảo tồn trong tông Lâm Tế cho đến ngày nay. Thêm vào đó là trong đời nhà Minh, từ 1368 cho đến 1644, chính ngôi chùa nhỏ gần Phúc Châu với nhiều cây Hoàng Bá – nơi vị tăng Hi Vận thụ giới, rồi sau này vì mến thương chỗ sơ học mang tên truyền đến tận Giang Tây – được nhiều vị Đại sư trụ trì với trọng tâm là gìn giữ truyền thống của Hoàng Bá. Vào năm 1661, khi vương triều Nhật Bản mời các vị Thiền sư từ Trung Hoa đến để chấn hưng truyền thống Thiền tại đây – vốn đã có những dấu hiệu khô kiệt –, nhiều vị Thiền sư xuất thân từ truyền thống Hoàng Bá sơn đã cất bước sang Nhật, sáng lập một nhánh Thiền mới rất thịnh hành tại đây với tên Hoàng Bá tông, gọi theo tiếng Nhật là Ōbaku-shū. Qua đó chúng ta có thể hiểu được vì sao danh hiệu Hoàng Bá có một âm điệu đặc biệt trong truyền thống Thiền. Một sự tôn nghiêm, một năng lực mạnh mẽ như thế nào nằm trong âm điệu này – bản công án cũng như những lời thuyết minh của Tuyết Đậu và Viên Ngộ đã trình bày rất rõ; chúng ta chỉ còn phải lưu tâm đến một vài chi tiết nhỏ.

Về bản công án và trước ngữ của Viên Ngộ »Hoàng Bá nói: Ta chẳng nói không có Thiền; chỉ nói là không có Thiền sư.« Viên Ngộ bình luận với một vẻ châm biếm thường thấy: »Một kẻ đầu rồng đuôi rắn!« Như vậy thì: Sau lời mắng mạnh bạo »bọn ăn hèm«, câu đối đáp lời kháng biện của Sư lại nhẹ nhàng một cách lạ lùng. Vì sao Viên Ngộ lại đề cao điểm tương phản này? Chỉ để học chúng thấy Hoàng Bá chẳng muốn mắng, chẳng muốn chỉ trích chút nào cả. Sư chỉ muốn chỉ chúng đệ tử nhận thức được khoảng cách vĩ đại giữa việc tu học và sự việc tối trọng đối với tất cả những người xuất gia tầm đạo. Ý nguyện này được Sư trình bày qua câu hỏi: »Như vậy các ngươi có ›ngày hôm nay‹ chỗ nào?« Đây chính là câu then chốt thứ hai song song với câu ›bọn ăn hèm‹. Việc hành cước từ Thiền sư này đến Thiền sư kia có thể kéo dài vô tận mà chẳng giúp hành giả tìm được ›ngày hôm nay‹, một ngày mà hành giả không còn liếm bã rượu, mà uống được tinh chất rượu, một thứ rượu duy nhất làm thân thể kiện khang. Nhưng rượu này mỗi người phải tự uống; không một vị thầy nào có thể rót vào miệng người khác. Như vậy thì có một bóng tối đứng che địa vị của bậc thầy. Hoàng Bá chẳng màng đến việc xua đuổi bóng tối này, cố ý chỉ chúng đệ tử hướng đến nó. Sự việc này càng mang một ý nghĩa sâu sắc hơn khi học chúng ngày càng đến tham vấn đông đúc nơi các vị Thiền sư – đặc biệt là đến Hoàng Bá –, khi học chúng ngày càng tranh luận sôi nổi về bậc thầy cũng như những lời dạy của ông ta. Và trường hợp Sư đứng trước mặt đại chúng phát biểu một cách không thương xót: không có Thiền sư, thì đây không phải một lời phê bình xuất phát từ một tâm tư tự mãn, mà chỉ là một sự thật hiển nhiên. Đầu tiên là Sư nghĩ đến trường hợp của chính mình, và không có nguyện vọng nào khác hơn là tạo điều kiện để chúng đệ tử tự do.

Những chi tiết trong lời bình xướng của Viên Ngộ về bản tắc Tiếng quát Hô! của Mã Đại sư trong lời bình xướng của Viên Ngộ. Đây là tiếng quát đầu tiên của một Thiền sư được truyền thống ghi lại. Và qua nó người ta có thể hiểu rõ ý nghĩa của sự việc. Trước hết, tiếng quát Hô! là một cách la mắng chung chung, khi người này lớn tiếng át mọi người, để họ không dám hó hé gì nữa. Ở đây thì tiếng quát Hô! cũng có mục đích tương tự như vậy, nhưng trên bình diện cao nhất, với ý nghĩa tối hậu: Nó xuất phát sau một thời gian dài im lặng mà Mã Đại sư vừa trải qua, là sự thể hiện của sự thật cuối cùng đối với Bách Trượng – một sự thật mà trong đó chẳng còn vật, chẳng còn ngôn ngữ. Đồng thời, nhìn về khía cạnh thời gian, nó chính là dấu ấn – được sử dụng trong trường hợp người ta gọi là »dĩ

137

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement