Page 136

Tắc thứ 11: Bọn ăn hèm của Hoàng Bá

ưu việt của Đại thừa so với Tiểu thừa – tiêu biểu qua trường hợp dị nhân kia, chỉ biết tu tập để đạt thần thông. Sau đó, Sư đi về phía đất liền, đến Nam Khang, thủ phủ tỉnh Giang Tây, hi vọng có dịp yết kiến Mã Đại sư. Thay vì vậy, Sư gặp vị đệ tử quan trọng nhất của Mã Tổ là Bách Trượng (xem công án 26) và biết được Mã Tổ đã thiên hoá. Năm mất của Mã Tổ được các nhà nghiên cứu sau này xem là năm 786, thế là vị tăng trẻ Hoàng Bá lúc gặp Bách Trượng không quá 19 tuổi. Nhưng ngay trong trường hợp nhỏ tuổi hơn, cuộc gặp gỡ với Bách Trượng chính là một móc ngoặt quyết định trong cuộc đời của Hoàng Bá, và Viên Ngộ đã trình bày sự việc này tường tận trong lời bình xướng của mình. Vì ngoài những mẩu chuyện trên ra còn nhiều cuộc đàm thoại giữa Bách Trượng và Hoàng Bá được truyền lại, chúng ta có thể tin được là Hoàng Bá đã lưu lại một thời gian dài nơi vị đệ tử đầu tiên của Mã Tổ. Chỉ có điều không biết là nơi nào, và lúc nào. Bởi vì sau khi Mã Tổ viên tịch, Bách Trượng có thể lưu lại khoảng tám năm tại ngôi mộ của vị này, cho đến lúc dời từ Nam Khang đi sâu hơn về phương Tây, đến một ngọn núi »cao trăm trượng« – Bách Trượng sơn – để thành lập một thiền viện mới vào khoảng năm 794. Đây là thiền viện đầu tiên được kiến lập chuyên đáp ứng nhu cầu của thiền sinh thời bấy giờ. Rất có thể là Hoàng Bá đã cùng đến núi Bách Trượng, lưu lại nơi thầy mình cho đến lúc ông ta tịch vào năm 814. Sau đó – tương tự trường hợp những vị Thiền sư sau này –, Sư hành cước nhiều năm để trau dồi kinh nghiệm, để trưởng thành, và giúp những Thiền sư khác giảng dạy đồ chúng. Vào khoảng năm 832, lúc này đã 64 tuổi, Sư mới dừng chân tại tỉnh Giang Tây, chọn một ngọn núi cách núi Bách Trượng chỉ khoảng 50 km về phía Tây nam làm nơi trú trì, đổi tên núi này thành Hoàng Bá. Nơi đây, Sư giáo hoá mười năm liền rất có hiệu quả. Vào năm 842, một trách nhiệm mới được chuyển đến Sư cùng với sự có mặt của vị Tiết Độ sứ27 mới tại thủ phủ Nam Khang là Bùi Hưu (787-860), người rất hâm mộ vị thầy đang trụ trì ngôi chùa phía biên giới bên Tây của khu vực mình cai trị. Bùi Hưu xuất thân từ một gia đình hâm mộ Phật pháp ở tỉnh Hồ Nam. Sau khi đỗ trạng nguyên, ông thăng tiến rất nhanh. Năm 827 ông đã giữ trách nhiệm trình bày tất cả những sự kiện quan trọng trong nước đến hoàng đế Văn Tông và giữ chức vụ quan trọng khác ở những tỉnh lị nhiều năm liền. Truyền thống Thiền để lại một câu chuyện rất lạ lùng về cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa ông và Hoàng Bá. Sau khi nhậm chức tại thủ phủ Nam Khang, Bùi Hưu liền đến viếng ngôi chùa quan trọng nhất của nơi này là Khai Nguyên. Sau khi lễ Phật xong, ông được vị tăng tiếp khách hướng dẫn tham quan ngôi chùa. Bức chân dung của một vị tăng trên tường bỗng gây ấn tượng nơi vị khách. Bức tranh vẽ ai vậy? câu hỏi của ông. Một bậc cao đức, là câu trả lời. Bùi Hưu nói: Đã rõ như vậy rồi; tôi chỉ muốn biết hiện giờ ông ta ở đâu. Vị tăng không trả lời được. Bùi Hưu hỏi tiếp: Ở đây không có thiền tăng nào hay sao? Cuối cùng, vị tăng nọ dẫn một ông lão đến trình, người ngoài những công phu hằng ngày ra chuyên dọn dẹp, quét chùa. Vị tăng nói: Đây là người quét chùa. Nhìn có vẻ như một thiền tăng. Bùi Hưu liền hướng về vị tăng cao niên, rồi quay lại chỉ bức tranh hỏi: Tôi muốn gặp vị tăng trên bức chân dung này. Ông ta ở đâu? Và ông lão quét chùa nói với một âm điệu chấn động: Bùi Hưu! Bùi Hưu giật bắn mình, ông nói tiếp: Ông ta ở đâu? Bùi Hưu bỗng nhiên sáng mắt, nhận ra ông lão quét sân chùa chính là vị tăng trên bức tranh, vội vàng lễ bái. Ông quét chùa này chẳng ai khác hơn là Thiền sư Hi Vận, lại một lần nữa cảm nhận nhu cầu trở về chốn yên lặng, lặng lẽ rời núi Hoàng Bá một thời gian trước đây, rút lui ở ẩn tại nơi này. Từ đó trở đi, Bùi Hưu rất thân cận với Hoàng Bá. Ông thỉnh Sư rời núi, đến Nam Khang trụ trì một thiền viện và tham vấn Sư thường xuyên. Sáu năm sau, 848, ông được bổ nhậm trấn Uyển Lăng, thành phố Ninh Quốc bây giờ, nằm ở phía nam Nam Kinh, tỉnh An Huy. Ông cho xây dựng một thiền viện với một thiền đường to lớn, một lần nữa thỉnh Hoàng Bá cùng chúng tăng dời chỗ đến đây. Ông ủng hộ Hoàng Bá và tăng chúng mạnh mẽ cho đến khi vị này viên tịch vào năm 850. Hai năm sau đó, ông được phong chức Tướng quốc; vì vậy mà những người sau này đều gọi ông là Bùi Tướng quốc mặc dù ông giữ chức này vỏn vẹn bốn năm. Các sử gia Trung Hoa ghi lại rằng, ông không phải là người nghiêm túc, chính xác nhất trong việc thực hành mệnh lệnh của triều đình (như hình tượng của một vị quan lí tưởng theo Nho gia), nhưng ngược lại, được hoàng đế Tuyên Tông (trị vì 847-859) khen ngợi, được quần chúng kính trọng vì thực hiện những công việc triều đình như thu thuế với một tấm lòng khoan 27

◊ Có thể xem là vị Tỉnh trưởng, người cai quản một tỉnh lị.

136

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement