Page 102

Tắc thứ bảy: Pháp Nhãn đáp Huệ Siêu câu hỏi Phật

Nếu kẻ si nào cứ cắn nhai ngôn cú [tức là câu hỏi của Huệ Siêu và lời đáp của Pháp Nhãn] thì họ giống như những người »giữa đêm còn thấy tát nước nơi bờ đê« để tìm cá. Họ hoàn toàn không biết là cá đã hoá rồng lâu rồi. Sư ông Thủ Đoan11 có một bài tụng như sau về sự việc này: Ông ta rút một tờ tiền sáng ngời Và mua một cái bánh chiên Nhâm nhi, nuốt vào bụng Chẳng hề nghe ông ấy than đói. 一文大光錢 買得箇油糍 喫向肚裏了 當下不聞饑 Nhất văn đại quang tiền Mãi đắc cá du từ Khiết hướng đỗ lí liễu Đương hạ bất văn cơ. Bài tụng này rất hay; chỉ có điều quá thô vụng. Ngược lại, bài tụng của Tuyết Đậu thì quá khéo; nó chẳng có góc cạnh sắc bén nào làm tay người bị thương. Xưa kia có một vị Tạng chủ tên Khánh12 rất thích bài tụng của Tuyết Đậu, thường hỏi đệ tử: Ngươi nghĩ thế nào về câu: »Nơi tam cấp cá vọt nhảy hoá rồng«? Ta tự thấy câu hỏi này chẳng cần thiết. Chỉ muốn hỏi các ngươi như sau: Nơi nào ngày nay mà cá còn hoá rồng bay mất?

Bình giảng Về năm đoạn của lời thuỳ thị 1. Theo truyền thuyết về cuộc đời đức Phật tại Đông á thì hoàng hậu Ma-da, vợ của vua Tịnh Phạn muốn về nhà cha mẹ tại Koli để sinh con. Nhưng dọc đường, bà chuyển bụng bất ngờ, đành phải dừng chân tại Lam-tì-ni để rồi sinh đứa con trai đầu tiên của mình tại đây. Ngay sau khi sinh thì có bốn vị thiên thần xuất hiện, tán tụng đứa bé. Đứa bé sơ sinh này quay nhìn bốn phương tám hướng, đứng dậy đi bảy bước. Sau đó, nó lấy tay phải chỉ đất, tay trái chỉ thẳng lên trời vào bảo: Trên trời dưới đất chỉ có ta là đáng tôn kính. Tam thế đều là khổ. Ta sẽ an tĩnh chúng. Qua một cách rất mộc mạc, đơn giản mà người ta đưa vào thế giới quan của chúng ta một quan điểm hoàn toàn mới lạ, ngược đời. Một câu nói nhỏ được gán vào mồm của một đứa bé sơ sinh – một câu mà chẳng ai có thể nói được, bởi vì ngay lập tức sẽ bị thiên hạ cho là cuồng điên, là nhảm nhí. Nhưng mặc dù vậy, những người mang tâm thức nhạy bén, cảm nhận được điều bí ẩn huyền diệu nơi đức Phật, họ không thể trình bày điểm bí ẩn này bằng một cách nào khác hơn là chính cái »câu nói nhỏ« ấy. Nó đứng phía trên tất cả những người tu học đạt Phật quả như một ngôi sao dẫn đường, như vậy đặc biệt là những người trong thiền lâm. Chỉ một điều là mọi người trong giới thiền cũng đã biết đây là điều bí ẩn sâu kín nhất mà đương đầu với nó, mỗi lời phát biểu đều phải thất bại. Nó chẳng thể nào trở thành một câu nói đầu lưỡi. Nó chính là »câu nói nhỏ« trung tâm, nhưng lại đi trước tiếng nói. Chính vì vậy mà nó không để người truyền miệng và người nào chưa thân kiến vẻ tôn nghiêm bao trùm của nó trong thâm tâm thì có lẽ thấy nó xa tít thăm thẳm. 2. Nhưng mà – sẽ có những người suy nghĩ ›khách quan‹ kháng biện –, câu ấy đứng rõ ràng trên giấy mực! Nó được ghi lại trong Phật sở hạnh tán,13 trong Cāryanidāna14 cũng như những thánh điển khác. Và không phải là những vị Tổ sư trong tăng-già đã dùng tri thức sắc bén của mình để phân tích nó ra từng thành phần để người khác, để hậu nhân tầm đạo có thể nghiên cứu, luận giải để rồi thuyết giảng cho quần chúng hay sao? Những Cao tăng theo giáo môn thời Viên Ngộ đã có những công thức rõ rệt để xác định thế nào là thể tính của một vị 11 Bạch Vân Thủ Đoan, 1025-1072, thầy của Ngũ Tổ Pháp Diễn, vị thầy của 12 Một người bạn đồng học của Viên Ngộ trong thời gian lưu lại Qui sơn. 13 ◊ s: buddhacarita. 14 ◊ Dịch giả người Việt không rõ tên Hán Việt ra sao.

102

Viên Ngộ.

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Bich Nham LucPDF  

BÍCH NHAM LỤC Chân Nguyên dịch Việt ngữ Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển & Viên Ngộ Khắc Cần trứ Giáo sư Wilhelm Gundert dịch Đức ngữ và bì...

Advertisement