Issuu on Google+


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG Tác giả: Trí Không Nguyễn Minh Tiến hiệu đính Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương Trang và tác giả. Nghiêm cấm mọi sự sao chép, trích dịch hoặc in lại mà không có sự cho phép bằng văn bản của chúng tôi. ĐKKHXB số 888-2010/CXB/34-139/TG QĐXB số 55/QĐ-TG

In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Minh 416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt Nam

Published by arrangement between Huong Trang Cultural Company Ltd. and the author. All rights reserved. No part of this book may be reproduced by any means without prior written permission from the publisher.


TRÍ KHÔNG NGUYỄN MINH TIẾN hiệu đính

NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO


LỜI NÓI ĐẦU

G

iáo pháp và Chứng pháp là hai phần tối quan trọng trong đạo Phật. Chứng pháp là sự nội chứng sâu thẳm của đức Phật, thấu suốt đến chỗ thật tướng rốt ráo của vạn pháp không sanh diệt, nằm ngoài hết thảy sự suy lường, đo đạc, tìm hiểu của phàm trí, cho dù phàm trí ấy có thông minh và uyên bác đến mức nào đi chăng nữa. Giáo pháp là những lời dạy có nội dung bắt nguồn từ Chứng pháp cao cả ấy. Giáo pháp chỉ dạy những điều hết sức thiết thực cho cuộc sống an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại. An lạc hạnh phúc đó là điều có thật, là tầm quan trọng của phẩm giá tối cao nơi con người. Giá trị thường còn của hạnh phúc an lạc đó tự nó có sức thu hút những tâm hồn cao thượng nên mới được nhiều người đồng cảm ngộ, đồng căn cơ tin theo và thực hiện, đã có được kết quả tốt đẹp từ mấy ngàn năm qua. Nếu sự an lạc hạnh phúc thuần khiết đó chỉ là một thứ hàng giả mạo thì nó khó bề thu hút các bậc thượng trí, bởi con người, bất cứ đâu, đông tây, kim cổ vẫn luôn bị sức hút ghê gớm của sự ham mê đời sống vật chất tình tiền nhục dục và bao cái ham mê khác lôi kéo, không cưỡng kháng lại nổi.

5


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Chứng pháp quá lớn lao và sâu thẳm, nên khi diễn nói đức Phật thường dùng các thí dụ, gọi là pháp dụ. Qua các pháp dụ đó, người nghe dễ lãnh hội. Đó cũng là một truyền thống lâu dài trong lối nói của người Ấn Độ. Trong các dân tộc trên thế giới, nhất là những dân tộc có nền lập quốc lâu dài, có nền tảng văn hóa cao vượt, có đời sống trí huệ đáng kính, thì dân tộc Ấn Độ đứng đầu về sử dụng ngụ ngôn và thí dụ. Ngoài phần triết lý sâu sắc tâm linh bậc nhất, kho tàng ngụ ngôn và thí dụ của người Ấn Độ thật đồ sộ và nổi bật trong phương trời Á Đông bát ngát trùng điệp mà chưa có bất cứ dân tộc nào khác sánh kịp. Bởi đức Phật là bậc Vô thượng giác, là trí tuệ siêu việt trong trần thế, nên sự giảng nói của ngài đã đạt đến mức toàn hảo. Khả năng diễn đạt của ngài luôn lôi cuốn, hấp dẫn, mới lạ. Ngài là bậc siêu phàm trong việc sử dụng ngôn ngữ. Ngài có thể nói bằng lời hoặc không lời. Một biểu đạt nhỏ của vô ngôn hay chỉ một lời ngắn gọn nào đó cũng chứa đựng vô vàn những ý nghĩa giáo huấn. Vấn đề quan trọng trong Phật pháp là nhân duyên thời tiết. Về mặt vật lý đời thường, mỗi mùa trong năm tự nó đều có những biến chuyển mầu nhiệm thích hợp để cho cây cỏ bắt nhịp lớn lên, đơm hoa kết trái. Mỗi

6


LỜI NÓI ĐẦU

mùa có những loại thảo mộc, sanh vật nhất định sanh sản, và qua mùa khác thì những hoa cỏ, sanh vật của mùa này tự tàn lụi theo bản tính tự nhiên. Con người nghe lời dạy bảo của đức Phật mà tiếp nhận, hiểu được, ấy là đúng vào tiết mùa của tâm hồn họ, đúng điều kiện, trình độ nhận lãnh của họ. Kinh thường nói “chúng sanh vô lượng bất khả tư nghì”, ý nói rằng tâm trí, trình độ, phước lực, căn cơ của con người thật đa dạng không kể xiết, trùng trùng vô tận. Do vậy, kinh Đại Bảo Tích mới xiển dương tư tưởng “Sarvadharma Buddhadharma” (Thế pháp tức Phật pháp), tức là hết thảy mọi cái hiện có trong đời này, nếu dùng trí tuệ tỉnh giác soi chiếu vào thì đều trở thành Phật pháp. Và đưa đến tư tưởng thứ hai: “Phật pháp là pháp bất định”, ý nói: Phật pháp là phương pháp sống động, vì nó luôn có công năng làm sống dậy bản chất cao thượng của tâm hồn, là phương thuốc trị bịnh tâm linh cho con người. Mà bịnh tâm linh thì vô số, cho nên phương dược muốn hữu hiệu thì sự điều chế cũng phải đa dạng, thích hợp. Đó là hoạt trường bốc thuốc của tinh thần Đại thừa mà chính đức Phật đã sử dụng hết sức tài tình. Và còn có một khẳng định thêm: “Phật pháp bất ly thế gian giác”, có nghĩa là sự thấu biết giác ngộ không

7


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thể tách ra bên ngoài thế gian mà có. Kinh Phật dạy rằng không thể gặt quả Bồ-đề trên hư không. Chính từ trong bùn lầy phiền não trần cấu mà hoa sen trí huệ mọc lên. Đó là một sự thật được chứng minh từ mấy ngàn năm qua, với biết bao người học Phật nối tiếp nhau tu học để từ phàm phu chuyển lên thánh vị. Trở lại vấn đề pháp dụ thì văn chương chữ nghĩa trong Phật pháp thường hàm chứa những biểu tượng hay ít nhất cũng được dùng theo cách hai nghĩa, nghĩa đen và nghĩa bóng, nhằm chuyển tải những ý nghĩa sâu xa trong phạm trù tâm linh. Chẳng hạn như chữ tụ lạc có nghĩa đen là xóm làng, đức Phật đã dùng hình ảnh này làm trực dụ khi dạy rằng: “Giặc xóm làng là ngũ cái”. Ngũ cái là năm tâm hành che lấp sự sáng suốt, tỉnh giác, bao gồm tham lam, sân hận, nghi ngờ, trạo hối và hôn trầm. Trong ví dụ hình tượng này, giặc là năm giác quan, vì chúng hoạt động ồn ào như xóm làng đông người. Và Ngài dạy tiếp: “Như bọn giặc trước là cướp của, sau lại giết người; giặc ngũ cái cũng vậy, trước chiếm đoạt căn lành, sau giết mạng sống trí huệ của con người, làm cho con người mất hết lý tưởng, rơi vào con đường phóng dật mà chết bi thảm.” Pháp dụ này dễ tiếp nhận, vì chúng là những hiện dụ. Từ một hiện tượng thiên nhiên, một sự chuyển dịch của sự vật, hay một làn khói, một bóng mây, một con

8


LỜI NÓI ĐẦU

sông, hồ sen, cánh rừng, một cơn giông chuyển mưa, một tâm trạng, một ý nghĩ, cho đến mọi hoạt động từ thân, miệng, ý của con người, nhiều không kể xiết, tất cả đều có thể được đức Thế Tôn sử dụng để diễn đạt giáo pháp giải thoát. Như nhà đại thi hào vốn có nguồn cảm xúc sâu thẳm, nên hết thảy đối tượng ngoại cảnh khi đi vào nội tâm đều có thể khơi nguồn cảm xúc làm nên bài thơ. Đức Phật cũng vậy, Ngài sống với sự an lạc hạnh phúc, tịch tịnh trong tâm hồn, cho nên đi đến bất cứ nơi nào cũng đều có khả năng mượn khung cảnh, sự vật nơi ấy mà diễn nói diệu pháp. Ngài đi từ những kinh thành lộng lẫy đến những làng mạc xa khuất suốt 45 năm không mệt mỏi để dạy bảo người đời. Ngài kêu gọi sự thức tỉnh để con người có thể nhận lại chân giá trị của mình, của đời sống an lạc. Pháp dụ có giá trị hết sức lớn trong sự thuyết pháp của đức Phật. Nhưng chúng ta cần phải biết đi sâu vào pháp dụ và khám phá những ẩn ý bên trong của những pháp dụ ấy thì mới thấy được cái hay, cái tuyệt diệu trong đó. Đại Tòng Lâm Mùa An cư năm 1996

9


PHẦN I NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG CHÂN DIỆN MỤC ẤN ĐỘ VÀ SÔNG HẰNG

n Độ nằm về Tây Á, diện tích gần 3,3 triệu km2, thủ đô là New Delhi với những thành lớn nổi tiếng khác là Bombay, Calcutta… Dân số đến nay (2010) ước tính xấp xỉ 1,2 tỷ người, đứng hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Địa hình Ấn Độ là một tam giác khổng lồ với rặng Hy-mã-lạp sơn (Hymalaya) chắn ngang phía bắc chạy dài 2.600 km, phía tây là sông Indus dài 2.700 km, phía nam là cao nguyên Deccan và ngó ra Ấn Độ dương. Trung bộ là sông Hằng dài khoảng 2.500 km chảy từ tây sang đông đổ ra vịnh Bengal của Thái Bình dương. Khí hậu nóng bức hầu như quanh năm. Dãy Hymalaya có nghĩa là núi tuyết (Tuyết sơn), nhấp nhô trùng điệp, trong đó hơn 100 ngọn cao trên 7.000 mét, với ngọn cao nhất là Everest cao đến 8.850 mét quanh năm tuyết phủ, cao nhất thế giới.

10


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Theo tín ngưỡng dân gian thì trên chóp đỉnh Néru (Tu-di) là nơi chư thần cư ngụ. Đó là nơi phát nguồn của sông Hằng. Sông Indus phía tây bắt nguồn từ Tây Tạng chảy về phía tây đổ ra biển Oman. Hai con sông Indus và Hằng hà là nơi đã hình thành nền văn minh độc đáo, tối cổ của Ấn Độ. Ở những đại lục mà trình độ dân trí phát triển sớm thì nền văn minh thường có giá trị sâu sắc, và phần lớn chịu ảnh hưởng tác động từ những con sông. Nói rộng thì là sự chuyển động của biển trời, của dòng sông, nói cụ thể hơn là những chuyển động giao lưu hàng hóa dựa vào dòng sông, đã tạo nên những nền văn minh qua sự giao lưu kinh tế. Những hàng hóa giao lưu nội địa hay hải ngoại ấy thường mang dấu ấn của những tay nghề khéo, trí óc khôn ngoan. Những dấu ấn ấy là những tác nhân quan trọng, gieo suy nghĩ, làm cho trình độ tư duy của con người ngày càng tinh tế và độc đáo, đưa đến những phát minh mới lạ, giúp cho đời sống tiến bộ về mọi mặt. Đó gọi là văn minh, văn hóa. Người ta thường kể đến các nền văn minh như Văn minh Lưỡng Hà là do hai con sông bồi đắp: Sông Euphrate và sông Tigre tạo nền văn minh Ả Rập, sông Euphrate chảy qua thủ đô Baghdad của nước Iraq. Sông Nile (có nghĩa là vầng trăng phì nhiêu) chảy qua

11


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thủ đô Cairo của nước Ai Cập, Bắc Phi. Sông Hoàng Hà, sông Dương Tử (Trường giang) tạo ra nền văn minh Trung Hoa. Ở Âu châu thì nước Hy Lạp có nền văn minh cổ, là cái nôi của văn minh châu Âu. Hai nước Ý và Hy Lạp đều có bán đảo có nền văn minh sớm, chính nhờ sự giao dịch hàng hóa. Đông phương có nền văn minh tối cổ từ 4.000 năm trước Tây lịch. Qua khảo cổ, người ta khai quật được những thành phố bị chôn vùi ở lưu vực sông Indus. Những hình dáng đô thị cung đền ấy đã bộc lộ nền văn minh tối cổ của dân tộc Ấn. Sông Hằng trễ hơn, chủ yếu là đền đài, mà nổi tiếng là những đền đài ở xứ Ba-la-nại đến nay vẫn còn hoạt động. Lui về phía nam, dãy núi Vindhya vắt ngang tạo ra cao nguyên Deccan như một đường gân vạm vỡ, nơi đây tồn tại những đền đài tối cổ, được xem như các viện bảo tàng văn hóa cổ truyền của Ấn Độ. Hai bên ven biển của vùng này là những đô thị lớn nhất Ấn Độ như Bombay, Madra... Trên tiểu lục địa bán đảo ấy của Ấn Độ, từ xa xưa đã có chủng tộc Dravidien sanh sống, nhưng lịch sử Ấn Độ chỉ được xem là chính thức bắt đầu khi người Aryan đến cư ngụ. Người Aryan là chủng tộc Ấn Âu, từ cao nguyên Pamir thuộc Ba Tư (Iran) di dân xuống và chiếm đồng

12


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

bằng sông Hằng màu mỡ để sanh sống từ 2.000 năm trước Tây lịch. Giống dân này hùng mạnh, cao lớn, có dũng khí, mũi dọc dừa. Có nhà nhân chủng học cho rằng giống dân này còn đi tới châu Âu tạo nên giống dân Nhật-nhĩ-man (Germani, tức người Đức). Khi người Aryan đến thì dân Dravidien lui về phía nam, ở cao nguyên Deccan. Người Aryan sống chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hằng, tiếp thu những cái vốn có của dân bản địa mà hình thành nền văn minh Ấn. Dần dần phối kết với tôn giáo tín ngưỡng vốn có, họ đã hình thành bốn bộ kinh Phệ-đà. Upanishad và hai thiên anh hùng vĩ đại nhất thế giới là Mahabarata và Ramayana. Họ ổn định thể chế xã hội, tín ngưỡng. Về xã hội, chia làm bốn giai cấp là bà-la-môn, sát-đếlị, thủ-đà, phệ-xá (ngoài ra còn có hai hạng thấp nhất là chiên-đà-la và paria). Sự phân chia bốn giai cấp là luật lệ kiên cố dựa vào tín ngưỡng tôn giáo, đến nay vẫn còn. Như vậy, nó đã tồn tại hơn 4.000 năm. Ban đầu, người Aryan phân chia bốn giai cấp dựa theo khác biệt tinh thần với ý định tốt, là mỗi giai cấp chăm lo nhiệm vụ mình. Người ta lấy giai cấp để làm nơi nương tựa cho đời sống, cho sự nghiệp của mình. Hàng bà-la-môn trông coi về lĩnh vực timh thần, tín ngưỡng, văn học, họ vừa nắm thế quyền vừa nắm giáo

13


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

quyền. Hàng sát-đế-lị là vua chúa, chiến sĩ chăm lo về đời sống chính trị. Hai giai cấp kia là thương buôn, nhà nông v.v… Hai hạng cùng đinh chiên-đà-la, paria thì làm nhiều tạp dịch trong xã hội như mổ heo, đổ phân v.v… Nhưng qua thời gian đã dần dần nảy sanh những sự lạm dụng quá độ, nhất là giai cấp bà-la-môn, bởi trong tay có cả thế quyền và giáo quyền nên họ tự biến mình thành những kẻ sống xa hoa, quên mất nhiệm vụ cao cả thanh khiết ban đầu. Đến thời Phật ra đời thì hàng bà-la-môn đã sa đọa, sống xa hoa chìm đắm trong sự hưởng thụ dục lạc. Trong Trường bộ kinh, Kinh Brahmajala kể lại những lối sống xa hoa của họ như xức nước hoa, thoa dầu thơm, đấm bóp, dâm dục, nằm giường lông thú, xem kịch, xem hát, chọi gà, đấu vật v.v… Từ quyền uy tối cao ấy, hạng bà-la-môn ngày càng xiết chặt xã hội Ấn dựa vào tập quán bốn giai cấp sâu nặng kiên cố để tha hồ hưởng thụ đời sống vật chất. Vào thời đức Phật, xã hội Ấn đã tràn ngập những thảm trạng về nhiều mặt như mất an ninh, trộm cướp, hãm hiếp, cha con giết nhau (A-xà-thế giết vua cha đoạt ngôi), chiến tranh... Có lần Đức Phật phải đứng ra hòa giải cuộc xung đột giữa hai dân tộc Sakya và Katé

14


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

khi họ tranh giành nhau nguồn nước của con rạch nhỏ Rohini chảy ngang hai xứ. Thời ấy, biết bao số phận hẩm hiu bị đọa đày, nhất là phụ nữ. Trong một chừng mực nào đó thì không khí, đời sống xã hội khi Phật ra đời đã ngột ngạt bởi sự lạm dụng giá trị của bốn giai cấp. Về văn tự thì người Aryan chế ra chữ Sanskrit (Phạn) để ghi chép kinh Phệ-đà, họ xem thứ chữ này là đặc quyền của Thượng đế dành cho hàng bà-la-môn. Chỉ hàng bà-la-môn mới có tư cách và quyền đọc văn bản kinh Phệ-đà trong tế lễ, bất cứ ai khác nếu lén đọc thì sẽ bị thụt lưỡi, mù mắt v.v… Kinh Phệ-đà và chữ Phạn là những thánh thư linh thiêng. Để tránh sự cố chấp sai lầm này nên hồi Phật tại thế, có hai thầy bà-la-môn xuất gia theo Phật xin ghi chép lời dạy của Ngài bằng chữ Sanskrit. Phật không cho. Ngài bảo, lời ta dạy là giáo pháp để hành trì ngay trong cuộc sống hằng ngày. Ai nhớ mới làm được. Do vậy buộc phải thuộc, nhớ kỹ mà làm. Nếu chép ra văn tự thì người ta tôn thờ như Phệ-đà, chỉ đọc suông mà không làm có ích gì đâu. Về quốc gia thì hồi Phật ra đời đã có 16 nước lớn và nhiều tiểu quốc khác, trong đó uy thế hơn cả là nước Ma-kiệt-đà (Magadha). Về ngôn ngữ thì có rất nhiều, vì nước Ấn quá rộng. Đây là qui luật chung cho mọi

15


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

quốc gia có diện tích lớn, như Trung Quốc cũng vậy, có rất nhiều ngôn ngữ. Cho đến mấy mươi năm gần đây, Ấn Độ vẫn tồn đến khoảng 400 ngôn ngữ. Chữ dùng dạy học thì từng tiểu bang có văn tự riêng, chủ yếu là chữ Pali, chỉ sử dụng ở bực tiểu học. Trung học ở các thành phố thì đã dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính. Sinh viên lên đại học đều đã sử dụng được thông thạo tiếng Anh. Cũng nhờ vậy, họ tiếp thu mọi tri thức kỹ thuật khoa học một cách mau lẹ, dễ dàng, đưa đến sự tiến bộ nhanh về khoa học kỹ thuật. Tiếng Hindu có khoảng 200 triệu người sử dụng, nhưng khi có đề nghị lấy tiếng đó làm ngôn ngữ chính cho Ấn Độ ngày nay thì có nhiều nhóm khác phản đối kịch liệt nên không thực hiện được. Chữ Sanskrit và Pali đã được La-tinh hóa từ hơn 100 năm nay, nhưng văn bản tôn giáo hay chính thức vẫn dùng chữ Anh hay chữ Sanskrit, Pali gốc chứ không dùng cách viết La-tinh hóa. Về quan niệm sống nói chung trong xã hội thì phần lớn dân Ấn đều mong ước được giải thoát về tâm linh, được về với Phạm thiên, chuộng đời sống thoát tục, tôn trọng sự sống. Người Aryan đã tạo ra bộ luật Manu chế định là khi tuổi nhỏ phải tìm thầy học đạo, hai mươi tuổi thì giao hết cho con cái, đi tu, không còn màng gì đến chuyện

16


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

đời. Lệ ấy kéo dài mấy ngàn năm, bây giờ thì có thay đổi. Về tín ngưỡng thì Ấn Độ là dân tộc tin vào thần linh số một trên thế giới, họ thờ đủ thứ thần, cho nên người ta bảo Ấn Độ là nơi sản sanh ra nhiều tôn giáo nhất. Tối cao là tin vào ba thần: Thần Brahma, Siva và Vishnu. Thần Brahma là thần chúa tể sáng tạo do Thượng đế tối cao bên trên chỉ định như thế. Thần Brahma có bốn đầu nhìn về bốn hướng. Thần Siva là thần phá hoại. Thần Vishnu là thần bảo hộ che chở. Nhưng “hồ sơ lý lịch” ba vị thần này có vẻ như rất mập mờ, kỳ lạ. Chẳng hạn như thần Brahma là do thần Vishnu sanh ra. Thần Vishnu nằm trên biển phát lời nguyền thì từ rún mọc lên cọng sen, trên bông sen có thần Brahma ngồi với bốn cái đầu. 90% dân Ấn theo đạo cổ truyền là đạo Bà-la-môn chuyên thờ ba vị thần linh tối cao ấy. Hồi Phật tại thế, ngài bị đạo Bà-la-môn xem là vô thần, vì Ngài sống với trí giác vô thượng, xem các vị thần kia chỉ là hạng tầm thường vẫn còn lận đận trong cõi sanh tử luân hồi. Đức Phật vượt ra ngoài Ba cõi, không còn nợ nần gì với luân hồi, sao có thể tôn thờ những vị thần kia được? Vả lại, đức Phật đã khai mở trí huệ vô thượng,

17


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

giống như ánh sáng mặt trời chói chang, mà các vị thần tưởng tượng kia chỉ như những hình bằng sáp, ắt phải tự nhiên tan chảy dưới sức nóng của trí huệ ấy. Về sự cao quý của giòng máu bà-la-môn, đức Phật cũng không hề thừa nhận. Ngài xem họ cũng chỉ là con người như bao nhiêu người khác, cùng là máu đỏ, nước mắt mặn, vậy thôi. Về chức vụ thì họ tự phong cho mình cao quí nhất thiên hạ. Đức Phật có lần đã giải nghĩa chân lý cao thượng cho bao người bà-la-môn sống mà không hề biết đến chân lý cao cả ấy, khiến họ bừng tỉnh ra. Trong kinh Assalayana kể chuyện Phật chỉ ra dòng máu bà-la-môn chẳng có gì để tự hào cao quí cả. Thanh niên lỗi lạc dòng bà-la-môn tên Assalayana được thầy anh ta cử đến tranh biện với đức Phật về sự cao cả của dòng máu bà-la-môn vì anh này mới 16 tuổi mà thông thạo bốn bộ Phệ-đà, trở thành một thiên tài hiếm có. Phật dạy rằng, những ai làm ác thì sẽ sẽ phải chịu quả báo xấu, bà-la-môn cũng vậy, không thể tránh khỏi, vậy sao gọi là cao quí? Đức Phật cũng chỉ ra rằng khi nấu thức ăn thì phải cần lửa nóng, dù lửa ấy được đốt bằng loại củi gì, như gỗ máng hư của heo ăn, máng đồ giặt hay cây y-lan... đều có thể làm thức ăn chín, đâu cần phân biệt loại củi gì.

18


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Đức Phật lại hỏi, thần thức nhập thai để sanh ra bà-la-môn thì thân trung ấm của thần thức đó thuộc giai cấp nào. Bà-la-môn không biết thì sao bảo mình là cao quí? Cuối cùng Asalayana nhận ra chân lý, qui ngưỡng đức Thế Tôn. Đến khoảng thế kỷ 2 trước Tây lịch, đạo Bà-la-môn canh tân, đổi lại là Ấn Độ giáo. Họ lôi cuốn tín đồ Phật giáo bằng cách bảo rằng đức Thích-ca là hậu thân của thần Vishnu. Ai theo Ấn Độ giáo thì có đến ba vị thần, trong đó có cả Phật Thích-ca. Suy nghĩ sâu về sự quấn siết nghiệt ngã của hạng bà-la-môn về giai cấp ấy của xã hội Ấn Độ thuở đó ta mới khám phá ra cái cao thượng tuyệt vời của tăng đoàn Phật giáo. Tăng đoàn Phật giáo là giáo hội cổ xưa nhất nhân loại mà lại có một tinh thần phóng khoáng hết sức lớn lao, trong đó gồm đủ hạng người trong bốn giai cấp thời bấy giờ, từ các bà hoàng hậu, công chúa, đến anh Ni-đề đổ phân, hạng chiên-đà-la ở thành Xávệ... đều có mặt. Thanh niên, nam nữ, trung niên, già trẻ... cũng không thiếu và đủ trình độ học thức, hết thảy đều trở thành Thích tử, không còn dấu tích giai cấp, như bao dòng sông có tên khác nhau nhưng đã chảy vào biển cả thì không còn dấu vết dòng sông nào, chỉ thuần một vị mặn. Hết thảy mọi người, ai nấy khi

19


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

vào trong tăng đoàn của Như Lai, sống đời thanh tịnh đều được giải thoát cả. Lục sư bà-la-môn ở kinh thành Xá-vệ rất sợ mất lợi dưỡng bởi ánh sáng trí tuệ vĩ đại soi sáng của đức Phật. Phật không cần lợi dưỡng để thụ hưởng như họ. Họ đã lập kế hoạch bôi xấu Phật, cho nữ tín đồ là Cinca (Chiên-già) lân la, giả làm bụng chửa để vu khống Phật. Cuối cùng, bại lộ ê chề. Họ nghĩ ra quỉ kế khác, vu khống Phật không được thì nhắm vào đệ tử Phật. Họ thuê người giết nữ đệ tử là Sundari lén đem chôn ngoài hàng rào tịnh xá Kỳ Viên rồi giả bộ tìm kiếm, tình cờ phát giác vụ việc động trời này, rồi hô hoán, thưa kiện lên đức vua. Nhưng chân lý, sự thật thì không ai bóp méo hay che giấu được. Cuối cùng thì trắng đen rõ ra, họ lại chuốc lấy sự nhục nhã ê chề. Đức Phật sống bằng tình thương và trí huệ rất thiết thực, gần gũi với từng số phận con người trong hiện tại. Biết bao người tin theo Ngài và đã đạt được sự an lạc hạnh phúc, nhưng bởi tập tục phân chia bốn giai cấp kia đã quá sâu nặng, không dễ gì trong một thời gian 45 năm và mấy trăm năm sau đó có thể làm cho nó mất đi được. Ngay vào giữa thế kỷ 20, thánh Gandhi khi giành được độc lập cho Ấn Độ vào năm 1948, lập hiến pháp

20


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

có ghi rõ việc thủ tiêu chế độ phân chia giai cấp, nhưng thực tế rồi chỉ như làn sóng trên mặt hồ bao la, vẫn không thủ tiêu được thứ tục lệ đã mấy ngàn năm tồn tại này. Về giai cấp chiên-đà-la, cũng có nhiều người học giỏi, giàu sang trong đời nay, và trước đây cũng có những đạo sư lỗi lạc, được nhiều người tôn kính. Đó là bởi uy tín lớn lao của những vị này mà xuất thân giai cấp của họ bị lu mờ hẳn đi. Nhiều kẻ có sự hiểu biết khá thì xem giai cấp chỉ là sự phân chia mang ý nghĩa tinh thần, không đến nỗi kỳ thị quá lắm. Do vậy, mấy ngàn năm an phận, không có ai tranh đấu xóa bỏ giai cấp, vì đứng ngoài giai cấp là thấy mình bơ vơ. Cái hủ bại chính là ở chỗ chế độ phân chia giai cấp bị lợi dụng cho mưu đồ thống trị đày đọa, như khi người Anh chiếm và cai trị Ấn Độ hàng trăm năm, họ đâu có đủ quân đội đông đảo để canh giữ, chỉ dựa mạnh vào tính chất kỳ thị giai cấp mà thống trị cả 400 triệu người Ấn trong 100 năm. Hoàn cảnh địa dư đặc biệt xứ Ấn đã tạo nên những bộ óc siêu việt như đức Phật Thích-ca, như vị vua hiền minh nhất nhân loại Asoka (A-dục) trước Tây lịch 200 năm... Con trai và con gái vua xuất gia làm tỳ-kheo, tỳ-kheo ni đã đem Phật giáo truyền vào Tích Lan đầu

21


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tiên và Phật giáo được chiếu ánh sáng ra khỏi lãnh thổ Ấn Độ, đi tới miền Cận đông thế giới. Trường đại học duy nhất nổi tiếng của Phật giáo được thiết lập ở Ấn Độ là Nalanda vào thế kỷ thứ 2, tạo thành bề thế trí thức cao tột, đến nay vẫn còn hoạt động, nhưng qui mô và giá trị có yếu kém hơn so với thuở ban đầu. Từ thế kỷ 8, tín đồ Hồi giáo Ả-rập nhiều lần đánh cướp vùng Bắc Ấn, rồi đến thế kỷ 10 thì họ đem đại hùng binh chiếm lấy toàn cõi Ấn Độ, cai trị 700 năm, tạo ra nền văn minh Ấn-Hồi. Trong mấy ngàn năm lịch sử Ấn Độ thì đây là trang sử đẫm máu nhất. Người Hồi hung bạo, xâm chiếm là đốt phá, giết hại, rồi dựng lên những ngôi đền tráng lệ của Hồi giáo. Sau đó, người Hà Lan, người Bồ Đào Nha lần lượt xâm chiến, người Hồi mất thế tiêu tan. Rồi tới người Anh thay chân thống trị 100 năm. Đến năm 1948, sau nhiều năm tranh đấu bất bạo động do thánh Gandhi lãnh đạo, Ấn Độ giành được độc lập cho đến nay. Khi đó, Gandhi, Néru đã kịp nhận ra cái vĩ đại của Ấn Độ là Phật giáo nên hai ông đã lấy hình ba con sư tử châu lưng nhau mà đặt lên lá cờ làm quốc huy Ấn Độ. Sư tử là biểu trưng cho đức Phật.

22


SÔNG HẰNG VÀ HIỆP SĨ SÔNG HẰNG

S

ông Hằng (Gange) có nghĩa là linh thiêng. Người dân Ấn tin rằng, sông này xuất phát từ hồ A Nậu (Anatatta) trên dãy Hymalaya. Hồ này do từ miệng bốn con vật phun nước ra là sư tử, bò, ngựa và dê. Ở đó có thần Long vương coi giữ. Lúc hồ nước này quá đầy, chư thần nhìn thấy đồng bằng dưới chân Hymalaya chưa có nguồn nước tắm vào nên đời sống muôn cỏ cây chưa có giá trị. Chư thần khuyên mãi, thần Shiva mới chịu ngồi xuống cho mạch nước đầu tiên vọt qua đầu mình chảy đi và dòng sông lên đường từ đó. Sông Hằng trở thành giòng sông thiêng. Niềm tin sông Hằng linh thiêng đã có từ 4.000 năm rồi. Vì xem sông Hằng là con sông thánh nên đông đảo người dân Ấn trong tâm thức đều nuôi một hy vọng trong đời mình là phải một lần đi tới tắm dưới sông Hằng để khi chết được lên cõi Phạm thiên. Họ tin rằng, một lần tắm nước sông Hằng thì bao nhiêu tội lỗi nhơ bẩn đều tiêu tan hết, bởi nước ấy là nước thánh mầu nhiệm, có khả năng rửa sạch tội lỗi. Do đó, lễ hội tắm

23


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

sông Hằng được long trọng cử hành hằng năm, nhộn nhịp nhứt là ở thành phố Bénarès (Ba-la-nại), ở đó có những bực đá để xuống sông tắm. Hội tắm sông cử hành trọng thể nơi đây. Khi những đạo sư ngồi trên bè chèo ra neo giữa giòng sông múc nước tắm thì bao nhiêu người ở hai bên bờ lặn hụp khốc nước tắm thỏa thích. Có những người nghèo, cả đời dành dụm đủ tiền để đi tới tắm cho được một lần nơi sông Hằng. Xưa kia có người đi bằng xe bò hàng tháng trời để đến nơi linh thiêng ấy. Sông Hằng trở thành bất diệt, hằng còn chiếu sáng mãi trong tâm thức của đông đảo người dân Ấn. Sông Hằng là mẹ yêu quí, tuyệt diệu. Bà-la-môn bảo rằng dù ai có tội, đứng cách xa sông Hằng 300 do-tuần, miệng thành kính kêu lên ba tiếng: Sông Hằng! Sông Hằng! Sông Hằng! Thì bao nhiêu tội lỗi đều tan biến cả. Có những kẻ tu khổ hạnh hằng ngày trầm mình dưới sông lạnh. Lần nọ, đức Phật hỏi lý do, ông ấy bảo là để tội tan đi hết. Rồi ông hỏi Phật làm sao để hết tội, Phật nói tội thì phải rửa bằng nước chánh pháp. Ông ấy liền giật mình tự biết tội, phát lồ sám hối. Sống với chánh trí thì hết tội. Phật không hề khuyên ai tắm sông Hằng cho hết tội. Điều này trái với tục lệ, nhưng Phật vẫn hoằng pháp được là một điều khôn

24


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

khéo tài giỏi, bởi đã là tục lệ thì khó nói cho người ta bỏ, phải là bậc thượng trí mới hiểu. Mà bậc thượng trí trong xã hội, bất cứ xã hội nào, xưa nay bao giờ cũng ít có. Thực tế thì trên sông Hằng có khi cũng lềnh bềnh nổi một thây ma, do ai đó thủy táng trôi đi. Thế mà người ta vẫn thấy bình yên. Trong mỗi con người luôn luôn tiềm tàng một sức mạnh dữ dội của lòng tin. Sông Hằng là niềm tin của hàng triệu triệu con người từ bao nghìn năm. Niềm tin đó ăn sâu trong tập thể vô thức của quần chúng nên sông Hằng thảnh thơi là sông thiêng và niềm tin cho đời sống người ta an ổn. Bởi lòng tin vào sông Hằng thuần khiết là lòng tin đầy chất tôn giáo nên sông Hằng tự nhiên trở thành con sông thần có nhiều quyền uy. Cứ thế mà sông Hằng bất diệt trong tâm thức người dân Ấn. Sông Hằng ôm vào lòng nó cả dung lượng thời gian lâu xa của quá khứ đi tới tương lai, băng qua hiện tại. Sông Hằng ôm vào lòng nó cả cánh đồng lớn nhất thế giới, nó đem ơn ích với bao nhiêu phụ lưu, chi lưu. Đồng bằng sông Hằng màu mỡ chính nhờ có nước sông Hằng tưới lên. Sông Hằng đặc biệt hơn hết mọi con sông trên trái đất này là bởi hai bên bờ nó có từng khoảng cát trắng trùng điệp, không cơ man nào đếm cho hết cát

25


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

đó. Từ đó, sông Hằng ngã bóng dài trên trang kinh Phật với danh từ Hằng hà sa số. Trong kinh Phật, hễ cái gì vượt ngoài số đếm thì dùng từ Hằng hà sa số (số cát sông Hằng) để hình dung. Sông Hằng cũng có những năm lũ lụt kinh hồn. Thời tiết khí hậu nơi đây cũng có nhiều gay cấn trắc trở, có khi hạn hán suốt ba năm, đồng khô cỏ cháy, nhưng rồi mưa trút xuống liên tục, sông Hằng cuồn cuộn trôi dữ dội, tràn ngập hai bờ như điên cuồng lồng lộn. Một lần nọ, đức Phật và Thánh chúng đi tới sông Hằng thì nước lũ tràn dâng đến nỗi một con quạ đứng trên bờ sông có thể thò cổ mà uống nước được. Bờ bên này, khi người ta đang tìm bè phao để chèo qua bên kia tránh lụt thì Phật và Thánh chúng dùng thần thông bay qua sông, lại thấy bên kia cũng có người tìm bè phao để sang bên này tránh lụt. Thấy vậy, đức Phật bảo chư tỳ-kheo rằng: “Ta đã đóng những con tàu vượt đại dương sanh tử từ lâu rồi, trong khi người phàm phu giờ đang cột bè…” Như vậy, qua hình ảnh ấy, đức Phật chỉ nói một câu mà ý nghĩa sâu thẳm. Sông Hằng lũ lụt dâng lên bao la như đại dương sanh tử. Hình ảnh hai bờ người ta cột bè để chèo kiếm nơi cao tránh lụt, đợi nước tới chân mới nhảy, nước cứ lụt cứ trôi, dễ gì kiếm được bè phao...

26


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Lời Phật nói có nghĩa là người trí thì thấy sâu sắc thảm họa sanh tử mà đóng tàu vượt qua nó để đến bờ kia. Cơn lụt trần thế có lúc hết nhưng cơn lụt tâm hồn mới bao la, là cơn lụt của tham lam, cơn lụt của giận dữ, cơn lụt của ngu dốt, cơn lụt của nghi ngờ... mới thật là cơn lụt mà người tu phải đóng bè chánh niệm tỉnh giác để vượt qua. Vượt qua bờ kia là giải thoát, nên hình dung nó là bờ. Và trong tâm thức người Ấn Độ có lẽ do sông Hằng gây nhiều trận lụt nên ai cũng tâm niệm cầu: “Xin đưa tôi sang bờ bên kia.” Đức Phật rất hiện thực, Ngài chỉ ra bờ bên kia vĩnh cửu có giá trị là bờ giải thoát, là ta hết chìm trong những cơn lụt nội tâm kể trên. Từ lụt sông Hằng mà nói lên ý nghĩa tu tập thật tuyệt diệu. Hiệp sĩ sông Hằng, ta có thể tạm mượn hình ảnh đó để nói về Phật cho dễ hiểu hơn. Vào thời trung cổ, châu Âu có những hiệp sĩ mang lý tưởng “cứu khổn phò nguy” cho nhân loại, thấy việc bất bình trái lý là can thiệp ngay, thi ân bất cầu báo, cưỡi ngựa đi khắp nơi để đem an bình cho ai nấy với hạnh nguyện cao đẹp. Những hiệp sĩ thường đi khắp đó đây để trừ yêu diệt quái, như một dũng sĩ luôn dũng cảm không hề run sợ. Dĩ nhiên, sự so sánh như trên là không thực sự phù hợp, nhưng có thể giúp cho ta dễ hình dung ra nhân cách

27


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

siêu việt của đức Phật. Đức Phật làm mọi chuyện thiết thực cho đời, đem an vui đến khắp nơi thì công hạnh của Ngài phải gấp ngàn triệu lần các hiệp sĩ. Nhưng từ hình ảnh hiệp sĩ dễ hình dung mà ta có thể đi sâu hiểu được công hạnh của đức Phật, như một phương tiện tạm dùng để miêu tả. Có thể nói, đức Phật là một hiệp sĩ vĩ đại, vĩ đại về trí tuệ, vĩ đại về tình thương, thân thiết với từng số phận con người trong xã hội. Ngài đã tích cực nói pháp nơi các hội trường trên lưu vực sông Hằng. Sông Hằng là một hiệp sĩ độ lượng mang phù sa bồi đắp cho văn minh lưu vực sông Hằng thì đức Phật là cánh chim thần của Hymalaya, Ngài đã đem tâm lực bồi đắp cho nhân tính cao đẹp của con người nơi đây. Văn minh sông Hằng nếu không phát sáng nhân tính thì sao gọi là văn minh? Ngài là tác nhân sáng tạo của nền văn minh ấy. Dù tập tục Bà-la-môn có tồn tại bao lâu đi nữa, nhưng mãi mãi vẫn là tập tục cũ, chưa có giá trị trí tuệ cao ngời trong đó, đức Phật là cánh chim thần đã làm cho văn minh sông Hằng cất cánh bay lên, chở kho tàng tâm linh sâu thẳm của cư dân Ấn Độ bay mãi trong vô cùng. Giá trị vĩ đại của Ấn Độ là gì nếu không có Phật giáo? Nếu không có một đức Phật đại bi, đại trí như thế thì văn minh Ấn Độ không thể chói ngời trên thế giới từ ấy cho mãi đến ngày nay.

28


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Bậc thánh nhân vĩ đại của sông Hằng, của Hymalaya đã đưa cả tinh thần dân tộc Ấn Độ đi vào chiều cao và sâu sắc nhất trong tư tưởng văn hóa nhân loại. Trong thời đại mà cả thế giới đang sống trong hạ trí, trong lưới bao vây của mọi tăm tối bởi tà kiến sai lầm, đức Phật đã dõng dạc tuyên bố: Hãy tin vào tự thân. Trông chờ ai khác giải thoát cho mình là không thực tế, khấn vái thần linh cứu mình ra khỏi đau khổ là điều hư ảo. Nhận thức về năng lực tự giải thoát của mỗi người mà đức Phật đưa ra là một điều vĩ đại. Thời gian qua đi, càng nhìn lại gia sản trí tuệ của Phật, người ta càng thấy nó vĩ đại. Tất nhiên, đó cũng chỉ là thấy được phần nào từ góc độ thế trí, còn phần tâm chứng mà người đời chưa nhận hiểu thì còn vĩ đại hơn gấp ngàn lần. Điều ấy chứng tỏ trí tuệ giác ngộ của đức Phật chính là trí tuệ sáng suốt tột cùng, là tri kiến siêu việt nhất mà con người trên trái đất này đã từng đạt được. Ngài là một con người thật, đã từng bước đi trên mặt đất này. Ngài là người đầu tiên nói lên và đề cao giá trị vĩ đại của tâm linh con người. Trí tuệ cao tột và đời sống giải thoát an lạc của ngài như một lưỡi gươm cực bén cắt đứt truyền thống mấy ngàn năm của Bà-la-môn chi phối về trí tuệ, tín ngưỡng. Đứng trước sự thông tuệ của ngài, đạo Bà-la-môn chỉ là cây cổ thụ hết nhựa sống, chỉ là mớ dây leo với cành lá héo úa.

29


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Đức Phật đã trồng lại cây trí tuệ và nó đã lớn mạnh suốt lưu vực sông Hằng trong hơn nửa thế kỷ và vẫn còn nối tiếp. Do đó, trong rừng gỗ quí của tư tưởng nhân loại, thì cây trí tuệ của Phật luôn tươi xanh rực rỡ và thường tồn như sông Hằng chảy mãi. Sông Hằng một thuở đã chảy lên trang kinh và nguồn trí tuệ của đức Phật đã đưa sông Hằng vào bất tử, mở ra chân trời hằng sống với giải thoát, tươi mát như nguồn nước sông Hằng tưới cho hai bên lưu vực sông muôn đời thường xanh mát. Càng trưởng thành về mặt tư duy và có những chứng ngộ tâm linh nhất định, ta càng nhận ra giá trị vĩ đại của thanh gươm trí tuệ, vũ khí tuệ lực chiếu sáng tột cùng của đức Phật. Nó có sức công phá vô hạn. Từ khởi thủy mịt mù nào, con người từ đầu óc yếu đuối mê muội đã tạo ra thần linh với bao huyền thoại để tự giải thích về muôn vạn sự kiện bí ẩn vây cũng như làm chỗ nương tựa, bám víu những khi tinh thần sợ sệt. Từ xa xưa, con người dù lẻ loi hay sống chung trong cộng đồng vẫn luôn bị mọi thế lực thiên nhiên như sấm sét, mưa bão đe dọa khủng khiếp, từ đó đã dựng lên những vị thần để làm nơi nương tựa, bám víu. Rồi tiếp theo đó, với trí khôn hạn hẹp của mình, con người bắt đầu hình thành những tà kiến, những quan điểm sai lầm về thế giới thần linh, nhất là thần linh buộc người ta phải đặt

30


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

hết đời mình vào sự nguyện cầu để được cứu vớt mọi tội lỗi. Chính vì lẽ đó, giá trị chân thật về năng lực ý chí của tự thân con người bị thổi tắt bi thảm. Nhìn lại bầu trời trí tuệ chân chính của con người trong suốt mấy ngàn năm trước Phật ra đời vẫn đen tối âm u không một tia sáng. Lần nọ, sáu thầy ngoại đạo ở quanh thành Vương Xá kéo tới chất vấn và lên án Phật là chế nhạo chuyện cúng tế thần linh của họ, cũng như những cầu nguyện mà họ tự dành đặc quyền cho mình. Đức Phật liền hỏi từng vị: Các ngài có nhìn thấy Phạm thiên chưa? Hết thảy đều trả lời là mình chưa thấy. Đức Phật kết luận: Tôi nghĩ chuyện các ngài làm cũng giống như thế này: Bảo người ta xây thang lên lầu nhưng không biết nhà lầu ấy cất ở phương nào. Họ bẻn lẻn rút lui. Lần khác, một nhóm ngoại đạo đến chất vấn đức Phật vì Ngài đã chế nhạo việc tu khổ hạnh của họ. Phật nói: Ta không chế nhạo ai bao giờ, ta chỉ làm một việc là phân tích vấn đề với trí hiểu biết cao tột có giá trị chân chính. Nếu ai thấy khổ hạnh có lợi thì cứ làm, nếu thấy nó vô bổ thì hãy từ bỏ. Chỉ có vậy thôi. Khi đến xứ Kalama, có một thanh niên trí thức nọ nghe tin Phật đến, anh vội đến thưa hỏi: Hiện nay đạo sư nào cũng bảo đạo mình hay, con biết tin ai? Đức Phật đáp: Đừng tin những gì được đồn đãi, được lặp lại

31


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nhiều lần, được bảo vệ bởi tập quán, đừng tin những gì dù là bút tích xưa để lại, đừng tin những gì dù lời ấy là của đạo sư hay được bảo trợ bằng quyền uy đạo sư, chỉ tin sau khi xét kỹ bằng trí tuệ sáng suốt và xét xem những điều ấy có được những bực vô dục khen ngợi hay không, có thật sự có đưa đến lợi ích an lạc hạnh phúc chân chính cho con người hay không. Có đủ những điều ấy thì có thể tin. Qua lời đáp trên của đức Phật, ta thấy ngài luôn tôn trọng tri thức chân chính và thúc giục người ta phải sống phát huy ánh sáng vô cùng quí giá của trí tuệ. Có trí tuệ sâu thẳm thì bao nhiêu ám khí bụi mù tà kiến vu vơ sẽ tự nhiên rụng rơi hết. Giá trị vĩ đại của văn minh sông Hằng chính là nhờ có tri kiến chân chánh của đức Phật mà được tồn tại mãi đến ngày nay, vẫn rực sáng với thời gian. Giá trị văn minh sông Hằng là giá trị nâng tâm thức, trí tuệ con người lên một tầng ý thức cao nhất với nhận thức không lầm lạc; và cũng từ đó, ý chí, nguyện lực con người được trổ hoa vĩ đại là giác ngộ.

32


NGHÌN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

S

ông Hằng bắt nguồn từ hồ A Nậu nên được xem là dòng sông thiêng. Dòng sông tâm linh của chúng ta bắt nguồn từ hồ Bồ-đề tâm, được suối pháp thân nuôi dưỡng nên cũng mãi mãi là giá trị thiêng liêng nhất của kiếp người. Dòng sông của tâm thức từ bi, trí tuệ thường chảy từ trang kinh xuống hiện thực cuộc đời, như sông Hằng tuôn chảy. Triết học Phật giáo là triết học sống, thực hành để đạt an lạc ngay tại nơi đây trong từng ngày giờ, không chìm trong biển khái niệm mơ hồ về thế giới xa xăm, như sông Hằng cần cù chảy mãi đem ơn ích cho lưu vực của nó. Sông Hằng không hý luận bằng những thác ghềnh nguy hiểm, giáo lý đức Phật từng dạy các vị đệ tử chớ để mình bị nướng trên giàn lửa hý luận vô ích. Sông Hằng, huyền tích nó không bị chìm trong bóng tối lãng quên mà linh thiêng hiển hiện trong tâm thức người dân Ấn; pháp Phật cũng như sông Hằng, vẫn linh thiêng mãi trong đền đài tâm trí con người. Mỗi lần có sự tĩnh tâm chuyển hóa thì con người liền nhận ra ánh sáng Phật pháp ngay đây. Có một lần đứng bên sông Hằng, nhìn dòng sông cần cù miệt mài chảy, đức Phật bảo quí thầy tỳ-kheo

33


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

rằng: “Này quí vị, như sông Hằng chảy xuôi về phương đông, ngày đêm chảy mãi và tiếp tục hối hả chảy mãi về biển đông không ngưng nghỉ. Sự tu tập hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn cũng giống như vậy. Các vị hãy tiến tu liên tục, bền bĩ một hướng kiên định như vậy, chắc chắn sẽ đạt được an vui Niết-bàn tại đây và kế tiếp”. Sông Hằng không kẹt lại trên cồn bãi hoang vu hay trong ao tù. Như sông Hằng, chánh pháp dạy cho ta định hướng dòng thức tâm của mình, cố gắng giải trừ ngã chấp, chớ để mình kẹt lại trên cồn bãi ngã chấp kiêu mạn. Sông Hằng đi tới những chân trời ngời sáng, tới đại dương; sông Hằng trong ta không để kẹt lại trong mọi mặc cảm bùn lầy tội lỗi mà luôn được khai thông bằng lưỡi cày chánh niệm. Sông Hằng có những lúc gợn sóng chuyển mình xinh tươi trong bình minh rực rỡ của ngàn vạn tia hồng, tạo nên âm vang thanh thoát tuyệt diệu của âm thanh vô ngôn; cây đàn đời sống trong ta cũng phải có đủ mọi cung bậc, mọi âm thanh tuyệt diệu của những chuyển hóa xôn xao, của những lóe sáng từng phút giây. Nếu ta lười nhác cứ khảy mãi một dây đàn tạo ra những ray rứt đau buồn, âm thanh đơn điệu của hoài niệm, của những gì do thói quen thúc đẩy, thì cuộc sống này chắc chắn sẽ trôi qua trong tăm tối mà không thể có được phút giây nào lóe sáng. Giáo pháp

34


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

dạy rằng con sông tâm thức trong ta phải biết cuốn phăng m���i sự cản che của tham đắm ghét bỏ, những tị hiềm nhỏ nhoi, để được như sông Hằng kia thảnh thơi chào đón mây trời lồng lộng bốn phương với từng hồi sóng vỗ bờ, với từng bó nắng trao tay vô ảnh sông Hằng đã đón lấy quấn làm lụa che thân tuyệt đẹp. Có đám mây nào không mỉm cười chào và soi mình trọn vẹn xuống gương sông Hằng? Có sự tỉnh giác nào không soi mình trọn vẹn xuống dòng tâm thức sáng như gương? Sông Hằng chảy qua những kinh thành cổ tích, những đền đài nổi tiếng nghìn năm và mãi mãi trang trọng ôm vào lòng bóng hình lộng lẫy của bao đền đài ấy, sông Hằng trong ta sao không ôm lấy những phút giây vô niệm, phút chốc mà thành thiên thu ngời sáng? Như sông Hằng mãi tưới bón cần cù cho bình nguyên thanh quí, nguồn nước tâm linh tỉnh giác của ta cũng là sông Hằng tưới vào bình nguyên lịch sử đời ta. Đời ta là bình nguyên lịch sử của chính mình, thu gặt những vụ mùa sai hạt của giải thoát được bón bằng phân bón trí tuệ. Giá trị của sông Hằng ngoài bản thân nó còn được tính bằng chiều sâu của biểu tượng, là những biểu tượng của di chuyển, của lưu thông, của đi tới không có gì cản trở. Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên ở Bala-nại cũng tựu thành ý nghĩa và biểu tượng vĩ đại ấy. Buổi bình minh khi Đức Phật hoằng hóa đạo này gọi

35


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

là Chuyển pháp luân (quay bánh xe pháp). Ngài đã tạo ra một không gian mới, ngoài không gian chật chội tù hãm của những lề thói cũ. Chuyển, quay, là quay dòng sông tâm thức, giáo pháp tối sơ này làm quay dòng sông tâm thức năm người đệ tử đầu tiên. Thế mạnh của sự quay chuyển cũng từ tâm thức truyền thống của Ấn Độ về sức mạnh của Chuyển luân vương, bao hàm ý nghĩa làm cho hàng phục. Đức Phật chuyển pháp luân có nghĩa là làm cho tâm nhơ nhớp cấu uế phải đầu hàng. Tâm cấu uế lắng sạch thì mắt trí tuệ mở ra không còn mù mờ với chân lý. Mở mắt tâm là ánh rạng đông của chân lý bừng sáng. Bao lâu qua, những tâm hồn khát khao chân lý đã đi tìm ánh sáng ở những cửa hàng tạp hóa tà kiến điên đảo, của những khổ hạnh mê muội, nhưng đó chỉ là chân lý giả hiệu, sai lầm. Chân lý đúng thật và mới lạ nhất trên đời phải được chuyển hóa từ tự tâm, dẹp bỏ mọi khái niệm, nhãn hiệu, phá vỡ mọi rào cản ngăn che chân lý. Và sự quay có giá trị chắc thật chính là sự quay ở dòng sông tâm, là sự chuyển hóa để sang bờ bên kia, là sang bờ tự tại, là bước vào biên thùy mới lạ chính ở ngay đất tâm này mà ngàn ngàn năm qua chưa hề có ai đủ năng lực để mở bày, chỉ dạy. Sông Hằng chảy có những khoảng rộng mênh mông, khi quá cần thiết phải qua sông thì qua được sông là

36


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

hạnh phúc, nên trong vô thức tập thể quần chúng Ấn Độ đã hình thành một câu nói đầy biểu tượng: “Hãy đưa tôi qua bờ bên kia.” Phật pháp đi tới bờ bên kia triệt để, bờ vô tướng, vô chấp, hay gần hơn là bờ hiện pháp lạc trú, là đi vào, thâm nhập chân lý thảnh thơi với nó ngay tại đây. Từ chuyện qua sông Hằng mà trở thành chuyện qua bên kia bờ Niết-bàn, đối lại là bờ trần lao bên này thì sông Hằng trở thành nhà ga cung cấp mãi mãi những đường đi của biểu tượng, đi tới chân trời biểu tượng từ bến ga hiện thực của dòng sông, sông Hằng bỗng cất cánh bay vào vô tướng. Khái niệm và cụ thể, tổng tướng, biệt tướng trộn lẫn vào nhau trong hơi thở nhất như kỳ diệu, mà sông Hằng sâu thẳm chính là sông Hằng hằng chuyển trong tâm thức. Sông Hằng này lại hóa thân thành một ẩn dụ trong kinh Lăng Già về cát sông Hằng: “Cát sông Hằng bị rùa, cá heo, cá sấu, trâu, sư tử, voi giẫm đạp lên nhưng cát không bối rối, không có cảm giác đau đớn, cũng không phải cát không biết bị giẫm lên, nhưng vì cát không có những khái niệm phân biệt trong sáng đẹp đẽ hay ô nhiễm. Đối với chư Như Lai cũng vậy, này Mahamati (Đại Huệ), trí tuệ tối thượng của chư vị đạt được bằng hiện thức tự nội là con sông Hằng lớn lao và các năng lực, các khả năng tâm linh, sự tự điều ngự của chư vị là cát và chư vị biết các triết gia và những người ngu, những kẻ đối lập, họ là

37


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

những con cá giẫm lên, nhưng chư vị không bối rối, chư vị không có cảm giác đau đớn. Do bản nguyện mình mà chư Như Lai thành tựu mọi hạnh phúc phát sanh từ sự hài hòa tâm linh toàn hảo, vì lợi ích mọi chúng sanh mà không bối rối, không có cảm giác đau đớn. Do đó, chư Như Lai giống như cát sông Hằng, không kể gì đến các chi tiết khác biệt vì chư vị ở bên trên sự thích và không thích. Này Mahamati, cát sông Hằng không mất tính chất nó ngay cả khi lửa bùng cháy vào kiếp cuối, và cát buộc vào bản chất của chính đất. Và này Mahamati, vì cùng với lửa là một nên đất không bao giờ tiêu mất dù kẻ ngu và kẻ tầm thường bị rơi vào con đường không chân thực mà tưởng rằng đất sẽ bị cháy do bởi tính tương tục. Nhưng đất sẽ không bao giờ bị tiêu mất vì nó là thành tố mà nhờ đó lửa sanh sống. Cũng vậy, này Mahamati, pháp thân của Như Lai giống như cát sông Hằng, không bị đoạn diệt. Này Mahamati, giống như cát sông Hằng là vô số lượng, này Mahamati, hào quang của Như Lai là vô số lượng, được chư Như Lai phóng chiếu vào các hội chúng các cõi nước của hết thảy chư Phật để gây sự chín muồi của mọi chúng sanh. Này Mahamati, vì vẫn giữ tính chất vốn có của nó nên cát sông Hằng không biến thành cái gì khác. Cũng

38


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

vậy, này Mahamati, bởi chư Như Lai đã dứt khỏi mọi nguyên nhân của sự kiện hữu vi, nên chư vị đã vượt khỏi cảnh giới sanh diệt. Này Mahamati, cát sông Hằng không để ý gì tới việc một số cát bị đem đi, hay một số cát được ném thêm vào. Cũng thế, này Mahamati, trí tuệ của chư Như Lai được đưa vào làm chín muồi tất cả các chúng sanh, không biết giảm, không biết tăng, vì pháp không có tính hữu tình… Này Mahamati, như cát sông Hằng chảy dọc theo các bờ nước chứ không chảy theo chỗ không có nước; cũng thế, tất cả thuyết giảng của Như Lai về Phật pháp phù hợp với dòng Niết-bàn. Vì lý do này mà chư Như Lai được bảo là giống như cát sông Hằng… Như cát sông Hằng luôn luôn thoát khỏi mọi khiếm khuyết, luôn luôn chảy dọc theo dòng nước, bản thể của Phật tính cũng như vậy…”. Câu cuối cùng chỉ rõ Phật tính vĩnh cửu như cát sông Hằng vĩnh cửu, đó là sông Hằng của tâm Bồ-đề, hay ở chừng mực gần nào đó, thì ở sông Hằng vật lý này cũng không đến nỗi sai, bởi hơn 5.000 năm rồi sông Hằng vẫn hằng ở đó, tuy có thay đổi lòng sông ít nhiều. Thời hạn sống của ta ngắn ngủi, nói cái bất khả tư nghì vô cùng khó nhận thức nên tạm thời chỉ ra sự

39


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

trường tồn của sông Hằng cũng giúp lý hội được cái bền bĩ của nó. Nếu so với vô cùng thì sự tồn tại của sông Hằng hay kể cả hành tinh này cũng không đáng gì. Chúng ta phải thấy sông Hằng trong ta là sông Hằng của tâm Bồ-đề vĩnh cửu, tâm Pháp thân hằng chảy, tâm Phật hằng còn, phải khơi mở nó, bằng cách phá tan đồn ải ngã chấp. Phá tan tuyệt cùng hai đồn ải tối quan trọng trong ta là phiền não chướng và sở tri chướng, tức là phá tan nhị kiến. Còn chấp vào khái niệm là còn nhị kiến. Nhị kiến là chia năng sở hai bờ phân biệt, khi lội lên bờ không còn trôi giạt trong biển ý niệm là ta đã tới bên kia bờ. Từ hiện thực sông Hằng mà nói: “Xin đưa tôi sang bờ bên kia”, thì ta từ đó biết chính mình phải đưa mình từ bờ chấp sang bờ vô chấp, hết ý niệm hai bờ đối lập là đạt liễu nghĩa trung đạo, tạm gọi bờ bên kia, sau đó liền phá luôn cả ý niệm tạm đặt này. Về tinh thần phá chấp, đức Như Lai từng tuyên bố: “Giáo pháp ta như chiếc bè qua sông, qua sông thì bỏ bè.” Lối nói ấy có biểu tượng, trước là mượn ý sang sông hiện thực để đưa vào ý đạt ngộ sâu thẳm. Nó có ý nghĩa như vừa nói, khi đạt chân như bình đẳng là trí giác bừng sáng đến rốt cùng, thấy ra sanh tử tức Niếtbàn, phiền não tức Bồ-đề, là đạt tri kiến tối thượng nên thấy rõ mọi chuyện đều huyễn hóa, tự tại du hý trong

40


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thần thông tam muội. Bịnh chấp bám vào danh tướng, giả danh là căn bịnh trầm kha của chúng sanh. Kinh Lăng Già nói: “Phàm phu ngu mê chấp vào văn ngôn như voi già mắc lầy không ra được.” Hình ảnh con sông trôi chảy là hình ảnh bỏ lại bến cồn mà ra đi tiếp nối vô hạn vào yên nghỉ trong biển cả. Thật sự không yên nghỉ vì biển muôn năm vẫn rạt rào không thôi. Biển lại mang ý nghĩa mới là sản sanh mọi báu vật, nơi trú ngụ của hữu tình, và biển không dung chứa tử thi. Trong một bài kinh về biển, đức Phật nói pháp dụ về biển rất hay. Trở lại suy nghĩ, ta thấy đức Phật luôn nêu cao ý nghĩa hiện thực, luôn khéo léo sử dụng những gì thật cụ thể ngay trước mắt và soi vào đó ánh sáng trí tuệ để giúp người nghe nhận ra ánh sáng an lạc giải thoát. Có khi ngài xét thấy phải ẩn dụ, hay dùng ngụ ngôn để tránh làm tổn thương tự ái kẻ thọ giáo, như dùng ngụ ngôn người mù sờ voi để chỉ sự hiểu biết phiến diện sai lầm của những bà-la-môn hùng biện thời ấy. Họ là những du sĩ, đi khắp nơi để biện thuyết hùng hồn mà thực tế thì rất hạn hẹp về trí tuệ, nên đức Phật bảo với chư tỳ-kheo về hiện trạng đó bằng ngụ ngôn được chép trong kinh Udana rằng: … “Xưa kia ở thành Xá Vệ này có một vị vua, vua ra lịnh cho một người đem hết những người bị mù từ khi mới sanh ra, đang ở tại thành Xá Vệ này, đến một nơi rồi cho họ sờ một con

41


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

voi. Người ấy thừa lịnh làm y như thế, bảo các người mù rằng: Đây là con voi. Những người mù này lần lượt được đưa đến sờ vào cái đầu voi, cái tai voi, cái ngà voi, cái vòi voi, cái thân voi, cái lưng voi, cái đuôi voi, cái túm lông ở đầu cái đuôi voi. Người thừa hành nói cho những người mù rằng đó là con voi. Sau đó, nhà vua tới, ra lịnh tập họp những người mù lại, mỗi người hãy nói cho vua biết con voi giống cái gì. Người mù sờ đầu voi thì nói voi giống như cái chum. Người sờ tai voi thì nói nó giống cái nia. Những người sờ ngà voi thì nói nó giống lưỡi cày, sờ vòi voi thì nói nó giống cái cây, sờ thân voi thì nói nó giống cái vựa, sờ chân thì nói nó giống cây cột, sờ lưng thì nói nó giống cái cối, sờ đuôi thì nói nó giống cái roi, sờ lông đuôi thì nói nó giống cái chổi. Thế rồi những kẻ mù quay ra cãi nhau ầm ĩ, cuối cùng không ai chịu ai, họ đấm đá nhau. Các tu sĩ thuộc các phái ngoại đạo cũng giống như vậy. Họ mù nào thấy gì đâu. Họ không biết đâu là mục đích, và đâu không phải mục đích. Họ không biết pháp là gì, cái gì không phải pháp, nên họ tranh luận sôi nổi về vấn đề vừa nói. Đức Phật bảo những quan điểm của họ là những bụi rậm, một sa mạc, một mê cung, một nô lệ, là những quấn siết tri thức, chỉ gây đau khổ rối loạn sôi động.

42


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Trong kinh Samyutta Nikaya, đức Phật dạy: “Này Kaccayana, phần lớn thế gian lần mò đi tìm những hệ thống và bị quấn siết trong những tín điều. Ai không đi tìm những hệ thống, không cần đến lý thuyết lập trường, không theo những tín điều, không chấp nhận các tín điều, không coi các tín điều như pháo đài, thì người ấy không có hoài nghi, do dự, bởi kẻ ấy không lệ thuộc vào người khác để hiểu biết, mà sự hiểu biết của kẻ ấy là sự hiểu biết của tự chứng. Đó mới là cái hiểu chân chính.” Bằng đại bi, đại trí và nhẫn nhục mà lần lượt đức Phật vượt qua hết mọi chướng ngại. Lần nọ, Ngài đến nước Udana thì nơi đây có nhóm người mắng chửi Ngài tới tấp, họ gọi ngài là đồ lạc đà, đồ bò, đồ lừa. Thầy A Nan bực mình chịu không nổi xin Phật đi nơi khác. Đức Phật nói, đi nơi khác cũng lâm vào cảnh này thì sao? Đi nơi khác nữa! Ừ thế, Phật bảo sự tháo lui ấy là hạ sách, cái chắc chắn là ta phải ở đây, bởi họ không thể chửi quá bảy ngày. Qua việc đó, Phật đưa ra lời dạy rằng: “Các thầy không được nghĩ đến sự trả thù. Khi bị ai mắng chửi, nguyền rủa, các thầy phải biết nín lặng như cái mõ đã bể. Như vậy thì dù chưa đến được Niết-bàn, nhưng cũng không khác đã tới rồi.”

43


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Đức nhẫn nhục là một đức tính vĩ đại của lòng dũng cảm phi phàm. Cao hơn nữa là không giận dữ trả thù, mà là xem như tiếng gió bay qua, như vậy là đạt vô chấp, như vẽ trên nước. Đức Phật dạy rằng đời có mấy hạng người, có người không thù như vẽ trên nước, thù chút ít thì như vẽ trên đá, không lâu bị xóa, thù dai nguy hiểm như khắc vào đá, ra khỏi tù hãm kiên cố của ngã chấp thì tiến nhanh tới hỷ xả không giận, không trả thù. Như vậy là bi trí dũng phối kết mà nên, hay bi trí lực cũng vậy, chư Phật bao giờ cũng tràn đại bi, đại trí, đại lực là đại hùng, đại lực, đại từ bi. Hùng lực là sức mạnh bên trong, là năng lực quét sạch mọi ngã chấp, phá tan mọi hư đốn thiếu tinh tấn. Phải phá tan, diệt được quả bom nổ chậm là hận thù thì lòng mới thảnh thơi. Không giận khi đã chế ngự được, nhưng trong sông t��m vẫn còn ấm ức báo thù thì lại nguy hại, bởi nó thắt gút thành nội kiết đầu độc tâm hồn. Do vậy, nhẫn và phải hỷ xả đi. Cái đó trở thành nguyên tắc cho việc tiến tu có kết quả, rất thực tế. Giải thoát và không giải thoát chỉ một chuyên tâm là đó. Cứ chấp chặt vào là mãi lúng túng như quơ tay trong bị, cho nên nhờ quán chiếu thậm thâm mọi lẽ đời mà tỉnh ngộ, buông bỏ là giải thoát, không vướng víu, như dòng sông trôi đi không nhớ gì cả. Sông nước trôi là cụ thể chỉ cho ta hãy buông trôi mọi dính mắc.

44


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Vấn đề chính yếu đòi hỏi có chí nguyện, có nhiệt tình sau khi quán chiếu suy nghĩ thấy mọi bám chấp đưa đến đời sống tù hãm lục đục trong khổ hận trùng trùng, ngày càng quấn siết tâm hồn vào vòng khốn khổ. Ở đời, những kẻ có tâm hồn độ lượng khoan dung thì ai cũng quý mến. Họ là những Bồ Tát vô danh. Tu một pháp nào đó cho kiên trì như sông vững bền chảy mãi không bao giờ ngưng cho đến khi ra biển cả, như nhiệm vụ thiêng liêng từ tự thể của dòng sông, hình ảnh đó gieo vào tâm ta những cố gắng liên tục rất hay. Có những chậm trễ nào, ta hãy nghĩ đến con sông cần cù bất kể tháng năm hay bất cứ biến cố nào, như tu nhẫn. Đức Phật từng dạy cho La Hầu La con trai ngài khi ngài còn làm thái tử, là hãy nhẫn như đại địa, là chịu đựng như đất bao la, đất không bao giờ phản kháng bất cứ cái gì, ai đào bới chôn xác chết, quăng đồ dơ bẩn hay đào bới đem đi... như gì gì bất cứ, đất vẫn lặng im ngàn đời. Hình ảnh đó gieo vào lòng ta cảm giác chịu đựng tuyệt diệu. Quan năng của dòng sông luôn luôn tỉnh táo, thần trí và hồn tính của dòng sông cũng như đất là lặng im nhẫn chịu vô hạn trong tự thể, những lụt lội vật lý nào phải bản chất dòng sông, bởi nói đến sông bao giờ ta cũng hình dung dòng nước biếc tươi mát muôn đời. Có dòng sông nào không gây cho

45


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

ta trạng thái êm dịu? Quan năng của dòng sông thật vô biên thanh thoát. Quan năng của chánh pháp cũng vậy, là bắp thịt rắn chắc của lòng thương và độ lượng, chống lại mọi bạo tàn của hư đốn, ù lì, tăm tối, chống lại mọi hung bạo làm sỉ nhục lương tâm nhân loại. Đức Phật từng dạy, chỉ có khoan dung độ lượng mới chấm dứt được thù oán. Ngài luôn luôn chăm bón những chồi nụ tâm hồn, kiên trì giáo dục thật sự, làm sao cho con người tự biết chuyển tâm tính mình. Có thấy sai lầm có nỗ lực cải đổi là có tiến bộ. Nhẫn nhục, lòng thương, cải hóa bằng ánh sáng của trí tuệ đó là việc làm của Phật, không chút phân biệt tự kỷ, không cầu danh lợi, sống đời giản dị nhất nên vĩ đại nhất, bởi những gì Ngài nói ra ngài đều làm được đúng như thế. Ngài sống thanh thản như gió mây, như dòng sông, đứng im như núi. Ngài từng dạy: “Như núi rực sáng đứng im dù bão dữ bốn phương thổi, cũng vậy, người trí không bị mọi khen chê làm lay động tâm hồn.” Và: “Như thớt voi lâm trận, bình tĩnh và thản nhiên vững bước trên chiến trường.” Đức vô úy vẫn thường được Phật dạy cho đông người, nhất là hàng xuất gia. Vô úy là không run sợ. Không run sợ bởi bên trong dòng sông tâm thức ta thanh tịnh không khuyết điểm lỗi lầm, là dám đi tới sống với sự

46


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thật, không nói dối. Như vậy, phá ngã chấp thì đó là trạm đầu tiên lên đường đúng hướng. Gian dối là muốn bản ngã sung túc. Nhưng đời sống vô cầu, là sống như “hạc xã không trì”, là sống như hạc bỏ ao hoang, hạc đến với nơi ăn một lần là bỏ đi, không luyến nhớ bởi nơi ấy đã đục, không như cò ăn mãi, bất kể nước đục hay dơ. Người sống xuất gia xem mạng sống trí tuệ cao hơn hết, bởi có trí tuệ là tự nhiên giải thoát mọi xiềng xích cố chấp sâu nặng. Trí tuệ là ánh sáng đặc biệt lóe lên từ tâm chứng bằng suy tư nung nấu nghiền ngẫm cội gốc mọi vấn đề bằng ánh sáng lời dạy của Phật. Ham muốn đi tới hạnh phúc an lạc thảnh thơi hơn là ham dục lạc theo thói quen. Mọi tu tập là gieo nhân. Phật pháp đặt nặng vấn đề gieo nhân, gọi là nhân quả tự tâm. Nếu thật sự ta có nỗ lực tuyệt cùng bền bĩ ở lĩnh vực nào là ta chắc chắn sẽ đạt kết quả. Cái vô úy của đạo Phật dạy cho con người dám nhìn thẳng vấn đề, không ngây thơ đắm chìm trong tội lỗi mà đi cầu xin kẻ khác tha tội cho mình, làm điều xằng bậy mà mong quả xấu đừng đến. Đức Phật từng dạy: “Chính tâm ta làm cho ta tất cả”. Do vậy, tu là tĩnh tâm nhìn lại mình để tự biết tâm. Có biết có nỗ lực chuyển hóa thì sẽ đạt giải thoát.

47


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Văn chương trong kinh điển rất bóng bẩy cụ thể, lấy cụ thể để diễn tả khái niệm trừu tượng, như nói bến Mê bờ Giác, như vậy nhiều người dễ thấy và hình dung ra sự thức tỉnh và sự lầm lạc bằng hai bờ sông, hai bến sông, mê tân, giác ngạn. Bến mê là ai cũng đứng ở bến sông mê, còn ngạn, bờ hàm ý bờ cao khó qua, ít kẻ qua, bến mê thì đông, như bến chợ, bến đò ồn ào mua bán sôi nổi thì năm giác quan ta là bến chợ ồn ào với mọi nghe nhìn phóng tỏa muôn lối. Giác ngạn bên kia vắng vẻ, nơi quê xưa. Sông hàm ý trôi, trong ta sức mạnh ghê gớm là thói quen, nó có nhiều mức độ. Tất cả đều xô đẩy như sông cuốn trôi đi tít tắp mù khơi. Không có ý chí mạnh thì không bao giờ cưỡng lại nổi sức cuốn, đẩy cuồn cuộn của một thói quen cho đến nhiều thói quen. Tâm làm nên hết thảy, nên có ý chí, có quyết tâm là làm được mọi sự. Kinh nói, trụ tâm một chỗ thì không có việc gì không làm xong. (Trụ tâm nhứt xứ hà sự bất biện). Ta thành vĩ nhân đối với chính mình là ở chỗ tự mình thắng được một thói quen nào đó, động tác chính là ở chỗ tỉnh giác, không sống buông trôi theo sự vô ý thức, bị thói quen lùa đi một cách máy móc. Tu là không để mình bị trôi theo thói quen.

48


SÔNG TÂM BỒ-ĐỀ CHẢY GIỮA BÌNH NGUYÊN CUỘC SỐNG

T

ôn chỉ rực sáng mãi mãi của Phật pháp là “Ly khổ đắc lạc, chuyển mê khải ngộ”. Điều ấy nói lên cốt lõi của Phật pháp. Đức Phật từng dạy: “Như Lai chỉ dạy có một điều là đau khổ và sự chấm dứt đau khổ.” Đau khổ vào thời đức Phật cách nay trên 2.500 năm và đau khổ ở thế kỷ 20 này có thể thay đổi về hình thức, nhưng nội dung vẫn không khác biệt. Trước hết, đau khổ có vẻ như là số phận của con người, có chào đời là có khổ lên tiếng, và tồn tại trong huyết quản mọi người. Ba thứ khổ (khổ khổ, hoại khổ và hành khổ) và tám thứ khổ (sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ) vẫn là kho tàng luôn tràn đầy trong kiếp sống nhân loại. Không có bất cứ người nào thoát khỏi những nỗi khổ đó, trừ chư Phật, Bồ Tát. Ngày nay, với mọi tiện nghi, đời sống vật chất con người đỡ khổ nhiều thứ nhưng lại nảy sanh nhiều nỗi khổ khác không kể xiết, bởi con người tự nó là cội

49


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nguồn sản sanh mọi vấn đề. Con người với hệ thống ý thức đầy ý nghĩ, vọng niệm chất chứa, với mọi khía cạnh liên quan đến muôn trùng trời đất cỏ cây chung quanh, với quá khứ vị lai trùng trùng vấn đề, cho nên bất cứ nơi đâu, con người đều mãi mãi có những nỗi khổ nhỏ, khổ to... Truy tìm cội gốc khổ thì Phật dạy rất kỹ, đó là những cố chấp, những tham đắm quá sức vào đời sống vật chất. Bịnh cố chấp sanh ra vô số tù hãm, bịnh tà kiến là nhận lấy những quan điểm tàn bạo điên rồ từ bộ óc tham lam nảy sanh ra. Nhân loại vốn có quá nhiều đau khổ, nhưng thấm thía sâu sắc nhất chỉ có nỗi đau khổ riêng của từng người với số phận riêng mới là đau khổ đích thực. Do vậy, muốn chấm dứt đau khổ thì chắc chắn phải bắt đầu từ cá nhân. Đó là nguyên tắc. Chính từng cá nhân phải tạo dựng được lòng thương chân thật, giải trừ được những cố chấp, sống thật với lòng khoan dung độ lượng, thì vành đai ích kỷ, vòng kim cô ngã chấp, cố chấp mới giãn ra dần, và đi tới mãi với lòng thương thì hai cái vòng kim cô ấy sẽ bị tháo tung. Một thể chế dù hay đẹp đến đâu nếu không có những con người liêm chính chí công vô tư điều động thực hiện thì cũng không tạo được bộ mặt xã hội tươi đẹp. Ngoài ra, kinh Phật, khi nói đến con người, nói đến sự tu tập

50


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thường nói đến hai thứ song song là y báo và chánh báo, tức là phần số mỗi con người và môi trường sống. Vấn đề môi trường, hoàn cảnh sống thì Tây phương, từ thế kỷ 19 đã có nhiều người nghiên cứu kỹ về tác động dữ dội của môi trường hoàn cảnh. Do quá khích, có người quên đi cái chánh báo mà qui hết về cho y báo là môi trường. Phật pháp nói đến chánh báo là nói đến phước lực, nghiệp lực mỗi con người vốn có, đã tạo nhân từ đời trước, nếu ngày nay gặp môi trường đúng với nó thì làm cho nó nảy nở tốt. Con người không thể chỉ do hoàn cảnh tạo, mà còn do ý chí, sức sống thiện ác trong mỗi người. Người đời thường gọi là tính nết, cá tính. Có những người sanh ra đời vốn lương thiện, dù gặp nhiều hoàn cảnh thế nào đi nữa thì cái lương thiện kia vẫn tồn tại. Có người nhiều xã hội tính, họ luôn muốn giúp đỡ xung quanh, làm mãi không thấy mệt mỏi. Cái tâm vì người, nó như một cơn gió thiêng đầy xao xuyến, xôn xao thúc giục âm thầm mãi mãi trong máu xương họ, nên họ làm ích lợi kẻ khác như bản ngã thứ hai. Đó là Bồ Tát vô danh, tự nhiên khơi mở tâm Bồ-đề chảy vào bình nguyên cuộc sống. Phật giáo Đại thừa luôn luôn đề cao tuyệt đối vai trò của tình thương và trí tuệ. Không quan tâm lắm với hình tướng (xuất gia hay tại gia). Vấn đề quan trọng

51


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nhất là biết đem ích lợi cho xung quanh, đem sức giúp người, đem thiện ý giúp người, nhiều cách giúp, không phải duy là của tiền mới gọi là giúp. Có những tâm lý đi đôi như một nguyên tắc hằng ngày là bi đi với trí. Bi đi với nhẫn, trí đi với không chấp. Đó là những nguồn năng lực vĩ đại của Đại Bồ-đề tâm, như dòng sông mênh mông chảy mãi giữa lòng xã hội, giữa bình nguyên cuộc sống, đem phù sa đại lợi bồi đắp cho mọi con người xã hội, muôn loài. Cốt yếu của Phật pháp là Đại Bồ-đề tâm ấy. Không chấp là nhờ có trí tuệ thấu biết sự thật rốt ráo là hết thảy không có gì vĩnh viễn, mà mọi cái đều đang trên hành trình đi tới sự hoại diệt. Ta bám chấp gom, vun bồi mọi thứ cho ta, nhưng rồi nó vuột khỏi tay ta, đi theo tiếng gọi hủy diệt tự nhiên, và ta bỗng hụt hẫng tinh thần, đau khổ cùng cực. Thế nên, vô chấp là đạt tới khoan dung rộng rãi, là nếm được hương vị giải thoát của dòng sông tươi mát Bồ-đề tâm. Từ bao nhiêu ngàn năm qua, con người phấn đấu cật lực mới có được văn hóa là chế ngự, giải trừ tính hung bạo, thiết lập phẩm giá cao trọng của con người là lòng thương và độ lượng, tiếp đến là ngăn chặn tính tham lam, giận dữ, ích kỷ mà có văn minh, bởi văn minh là văn minh của con người. Khi con người có văn

52


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

hóa, có Bồ-đề tâm thì mới có văn minh đích thực, là con người sống hài hòa với y báo mà họ có. Như một tòa nhà lộng lẫy với mọi tiện nghi sạch đẹp tuyệt cùng, thì người sống trong tòa nhà ấy, ai nấy đều phải có trình độ tối thiểu về ý niệm sạch sẽ, phong quang, ngăn nắp và những kiến thức kỹ thuật về điều khiển sử dụng mọi thứ tiện nghi đó, thì con người văn hóa mới hài hòa với ngôi nhà đầy văn minh. Trái lại, ngôi nhà lộng lẫy ấy không được sử dụng đúng mức với tầm hiểu biết thì càng ngày nó càng suy sụp hoang tàn từ vẻ ngoài cho đến bên trong. Dĩ nhiên cũng có tác động tương hỗ giữa con người và hoàn cảnh, môi trường, nhưng cái cốt lõi vẫn là con người, bởi con người linh thiêng là ở ý chí quyết tâm làm nên hết thảy. Như vậy quay về với cốt lõi là Bồ-đề tâm. Trong một quốc gia, nhà lãnh đạo có thật lòng thương dân thì sẽ như vị thuyền trưởng tài ba lái con tàu mau tới bờ vinh quang. Qua hơn 2.500 năm, tâm Bồ-đề đã chảy qua mọi tâm hồn Phật tử, làm cho tâm họ sáng trong, nên việc làm của họ xuất phát từ tình thương sâu sắc. Trước Tây lịch 200 năm, vua Asoka (A-dục) ở Ấn Độ đã thể hiện được Bồ-đề tâm cao rộng, trở thành vị vua hiền minh của Ấn Độ và của cả lịch sử văn minh nhân loại. Các nhà sử học chân chính không ai phủ

53


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nhận sự thật sáng tỏ đó. Những sắc lịnh vua Asoka cho khắc vào bia đá về lòng thương người đến nay vẫn còn đọc được dù đã hơn 2.000 năm. Ông sùng mộ Phật pháp vô hạn, nhưng không vì thế mà độc đoán, cố chấp. Ông vẫn tôn trọng mọi giáo phái khác trong lãnh thổ của mình. Nói theo ngày nay thì ông đã áp dụng chính sách tự do tôn giáo. Đó là ông đã sống với tinh thần khoan dung vô chấp của đại tâm Bồ-đề. Điều này Đức Phật từng dạy: “Một người trí biết giữ gìn chân lý nên ông ta không nghĩ rằng: ‘Chỉ có đây mới là chân lý, mọi điều khác là sai lầm.’” (Kinh Sutanipata), hay trong kinh Canki, trong Majjhima Nikaya Phật dạy: “Chấp chặt vào một điều gì và xem thường điều khác cho là thua kém thì người trí gọi việc đó là một xiềng xích.” Đức Phật là hiệp sĩ sông Hằng, Ngài đi khắp lưu vực sông Hằng tuyên dương chân lý, chỉ ra cội nguồn khổ đau và phương pháp chấm dứt khổ đau. Ngài chỉ dạy với tâm vô chấp, cao thượng chưa từng có, không chút tư lợi nào. Trong kinh Tứ thập nhị chương, Ngài từng bảo: “Ta xem ngôi vương hầu như chiếc dép rách, nước hồ A-nậu như dầu bôi chân, châu báu như gạch ngói.” Có đông ngoại đạo cảm phục xin theo ngài, ngài không vội chấp nhận. Ngài khuyên họ nỗ lực khơi nguồn sông chánh trí, chánh tri kiến nơi mình để tự

54


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

mình chấm dứt khổ lụy, đó là cách cúng dường Như Lai đúng nhất. Ngài giao trách nhiệm tự cứu cho mỗi người, sau đó chỉ rõ phương pháp hành động. Đó là việc làm cao quý nhất. Ngài luôn đòi hỏi mỗi người tự đào luyện tuệ giác ở chính mình. Có tuệ giác tự nhiên có lòng thương, bởi đồn ải tự kỷ tự nhiên phải sụp đổ trước tuệ giác. Định hướng ấy đã làm sáng mãi, sáng mãi tinh thần Phật pháp. Việt Nam có nhiều triều đại vẻ vang đều là khi đạo pháp được thực hiện bởi những nhà vua thực hành bi trí song song một cách sâu sắc, như sử cũ còn ghi lại về lòng thương người của vua Lý Thánh Tông, thương đến cả những kẻ phạm tội bị nhốt trong lao ngục. Cả triều Trần từ Thái Tông qua Thánh Tông đến Nhân Tông đã ba lần chiến thắng, đẩy lùi quân Nguyên hung bạo, không phải bằng sức mạnh của sự giết chóc, hận thù, mà chính là nhờ chính sách cai trị đầy lòng nhân ái, xuất phát từ tâm từ bi và trí tuệ của các vua Trần. Với chính sách thân dân sâu đậm, biểu hiện qua các hội nghị Bình Than, Diên Hồng, cũng như với cung cách hành xử đầy tuệ giác và từ bi của các vị vua, toàn quân dân nhà Trần đã trở thành một khối đoàn kết có sức mạnh mẽ không gì so sánh nổi. Hai vị vua Thái Tông và Nhân Tông về sau đều trở thành thiền sư. Vua Nhân Tông xuất gia, đắc

55


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

đạo và trở thành Sơ tổ phái thiền Trúc Lâm, một dòng thiền đặc biệt của Việt Nam. Từ việc chăn dân trị nước cho đến điều binh khiển tướng chống giặc ngoại xâm, vua Nhân Tông đều tỏ ra xuất sắc, đến khi xuất gia lại trở thành một vị cao tăng nêu gương sáng và dẫn dắt biết bao người đi theo con đường giải thoát, còn lưu lại tông chỉ cho hàng hậu học noi theo. Như vậy đó, trên tinh thần tu tập của Đại thừa, hạnh nguyện Bồ Tát là mãi mãi làm lợi ích cho chúng sanh, cho dù các vị có thị hiện hình tướng nào, đang giữ cương vị nào cũng đều không lìa xa hạnh nguyện đó. Lòng từ bi trong Phật giáo sâu rộng, không giết hại, không làm tổn thương, ngay cả đến cỏ cây cũng khởi lòng thương. Hạnh nguyện từ bi của Bồ Tát là thương cả hữu tình và vô tình. Tình trạng ô nhiễm môi trường trong thời gian qua chính vì người ta thiếu quan tâm đến sự sống của cây cỏ. Những ai kêu gọi bảo vệ môi trường xanh thì ý niệm tốt đẹp đó tự nhiên nằm trong phạm trù từ bi của Phật giáo. Không phải Phật giáo muốn giành lấy điều đó, mà sự thật là Phật giáo từ mấy ngàn năm qua vẫn luôn khuyến khích nuôi dưỡng lòng từ bi trong mỗi chúng sanh. Có từ bi mới có đời sống tốt đẹp. Đó là điều chắc thật nhất. Không có từ bi, con người sẽ liên tục gây thống khổ cho nhau. Thế giới

56


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

ngày nay đang trải qua mọi thứ bạo hành, phơi bày đủ thứ tệ nạn về ma túy, về tình dục vị thành niên, về môi trường ô nhiễm, về nạn khủng bố, không tặc.v.v... thì tất cả những cái ấy đều do sự hành xử thiếu từ bi của con người. Con người lãng quên không thấy rằng mỗi người đều có liên quan đến mọi người, rằng muốn có hạnh phúc an vui thì phải sống với tâm từ bi, thương yêu và quan tâm đến mọi người khác. Con người trở nên ích kỷ, phát triển kỹ thuật khoa học chỉ nhằm mục đích vun bồi, thâu tóm về cho cái bản ngã hẹp hòi của riêng mình. Mặc dù vậy, ý nghĩa của từ bi và trí tuệ trong Phật pháp mãi mãi vẫn còn đó, là ngọn đuốc soi đường chân chánh cho nhân loại. Vì thế, chúng ta không bi quan mà tin tưởng vào chân lý là tình thương luôn mang đến những giá trị đích thật cho cuộc đời. Nhân loại cứ vấp ngã, sai lầm, rồi sẽ đứng lên sau khi học được bài học cay đắng từ thất bại, nhưng nếu mỗi người đều biết tự nuôi dưỡng tâm lợi tha, lòng thương yêu sâu đậm, thì đời sống nhân loại không thể xuống dốc. Khi người ta than thở rằng đạo đức suy đồi thì phải biết nhìn lại vấn đề để nhận ra sai lầm trước đó. Xe cộ muốn lưu thông an toàn thì phải tôn trọng luật giao thông. Xã hội muốn có hạnh phúc an lạc thì mỗi người phải biết nuôi dưỡng lòng từ bi. Lòng từ bi chính là luật giao thông trên con

57


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

đường đời. Một xã hội với toàn những con người không có lòng từ bi, không biết quan tâm đến tha nhân thì việc trở nên hỗn độn, suy đồi sẽ là điều tất yếu. Sông Hằng linh thiêng trong tâm trí người dân Ấn Độ, còn trong tâm trí người Phật tử là Chánh pháp thiêng liêng do đức Phật truyền dạy. Chánh pháp là nguồn mạch thiêng liêng bắt nguồn từ tâm đại từ đại bi của chư Phật, chảy qua suốt không gian và thời gian vô hạn, và cho đến nay vẫn chảy qua mọi bình nguyên tâm hồn chúng ta như sông Hằng vẫn nuôi dưỡng đồng bằng xứ Ấn. Ta luôn khơi mở cho con sông Bồ-đề tâm chảy mãi qua mọi bình nguyên cuộc sống.

58


BI NGUYỆN BUỔI ĐẦU

T

ừ nửa khuya, ra khỏi kinh đô Ca Tỳ La. Thái tử Sĩ Đạt Ta và người giám mã trung kiên cùng cưỡi con ngựa Kiền Trắc (Kanthaka) đi về hướng tây bắc. Ngựa phi đều, tiếng vó ngựa nện xuống đất như một lời kiên thệ vang vọng núi rừng đồng nội, không phải tiếng vó ngựa làm kinh hoàng muôn vạn sanh linh từ những mộng chiến chinh ngã bóng dài theo lịch sử đau thương, hung bạo, chết chóc, khổ hận, đọa đày. Tiếng vó ngựa này âm vang câu chuyện nhiều a-tăng-kỳ kiếp trải dài cho con sông hạnh nguyện phát nguồn từ quả tim vĩ đại. Tiếng vó ngựa ngân vang như giục giã mặt trời hùng tráng hãy thức giấc sớm hơn đem theo triệu triệu tia hy vọng ngời sáng. Tiếng vó ngựa của quyết định rực cháy trời sao. Trong khuya khoắc lặng trang bốn bề, núi Hymalaya rướn mình lên để nghe gió bốn bề dừng lặng, ngưỡng vọng bóng dáng bậc chí nguyện vĩ đại đang lên đường. Thái tử trở thành hiệp sĩ vĩ đại của sông Hằng, của Hymalaya trập trùng, mọi khổ lụy nhân thế điệp trùng như Hy Mã đang chờ đón hành tung cứu khổn phò nguy của Thái tử. Thái tử bỗng trở thành chàng trai anh tuấn được kết tụ bởi tinh hoa núi nọ sông này với sông Hằng thiên lưu diễm tuyệt và Hymalaya bát ngát

59


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

mây trời. Thái tử trở thành quyền uy thứ nhất, ánh sáng thứ nhất soi tới, đủ tư cách cao thượng lật từng trang đời viết trên quyển sách đồng bằng quá nặng của mệnh số vạn triệu sanh linh u tối. Ôi còn biết bao ý đời sáng lên dưới vó ngựa ra đi trong đêm lịch sử ấy. Khi hai thầy trò vượt qua sông nhỏ Yanuma vào mùa khô này nước hơi cạn thì trời rạng sáng. Qua bên kia sông một quãng, Thái tử dừng ngựa, cởi bộ y phục quí giá và những đồ trang sức lộng lẫy trao cho Xa Nặc (Channa) căn dặn từng món trao cho vua cha và công chúa Da Du ở hoàng cung. Cuối cùng, Ngài dặn Xa Nặc phải nhớ kỹ lời này để về tâu cùng vua cha ngài và công chúa Da Du: “Con ra đi không phải vì buồn phiền hoàng gia, nội điện, con không hề có sự bất bình nào, mà con ra đi vì một chí nguyện tối hệ trọng là đi tìm cho ra chân ý nghĩa sâu thẳm của đời sống này. Xin phụ vương và công chúa chớ ưu sầu, chớ buồn thương. Mai này, khi tìm ra ánh sáng con sẽ trở về làm tươi lại cuộc sống trên ý nghĩa cao thượng, đem về hoàng triều cho ai nấy sống an vui…”. Sau những nằn nì xin theo không được, cuối cùng Xa Nặc đành quay về. Tại sao Thái tử phải ra đi trong đêm khuya? Bởi động lực tối yếu dữ dội nào đã đặt bàn chân chí nguyện của Thái tử lên đường?

60


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Thái tử ra đi trong đêm khuya để tránh nỗi xúc động quá lớn lao của phụ hoàng, công chúa Da Du và bao người thân mến xung quanh. Ngoài ra, Ngài ra đi trong bóng đêm để làm sáng ý đời là từ bóng tối bước ra ánh sáng. Nhân loại từ thuở hồng hoang mông muội há không phải tiến lên từ bóng tối ra dần với ánh sáng hay sao? Từ những đốm lửa suy tư bừng cháy, từ những thông minh, những khám phá nhỏ nhặt về vật lý, về mọi hiện tượng tâm sanh vật lý bên trong và xung quanh thế giới bao bọc mà nhân loại thu góp thành túi khôn, đời sống có ánh sáng văn hóa ấy. Từ bóng tối, con người đi tới những chân trời văn minh vật chất và tinh thần, của xây dựng và tâm thức. Hôm nay, Thái tử Sĩ Đạt Ta cũng ra đi với ý nghĩa cao rộng ấy. Ngài ra đi từ bóng tối của những suy tư mòn mỏi để ra tới bình minh của chân lý đang réo gọi ở biên giới cuối cùng của suy tư khắc khoải. Đó là chân trời bát ngát hy vọng. Cuộc sống có ý nghĩa tươi mới thanh tân vĩ đại chính là cuộc sống vượt biên thùy trong mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm, bỏ lại phía sau những ngu dốt, những cố chấp, những hận thù và bao rầy nâu sâu bọ của những băn khoăn, của những trách móc, của những tị hiềm nhỏ nhen khác, nó là những thứ gắt gỏng, những cau có làm héo úa mùa màng tâm hồn, phủ mây đen cho

61


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

kiếp sống. Từ vạn triệu năm xưa, đêm đen dù nhàu úa đến đâu, bình minh đến vẫn ủi láng da mặt cuộc đời. Bài học bình minh mãi mãi rực sáng tâm hồn. Từ những lần xông xáo, đi khắp phố chợ làng quê, nơi này chốn nọ trên khắp đất nước mình, Thái tử mục kích cảnh đời và cảm xúc sâu đậm. Thái tử từng lên phía bắc, phía tây, nơi các thúc phụ đang làm Tổng trấn để nghiên cứu tình hình an ninh xã hội, thì ở đâu cũng bày ra chân tướng của kiếp sống với mọi khổ lụy, mọi đọa đày, bần khổ. Mộng đời ngài bị giập úa từ đó, không sởn sơ như những đóa hoa tươi xinh trong vườn Thượng uyển những sớm mai nào ngài thưởng thức say mê. (Kinh A Ma Trú, Trường Bộ, còn ghi dấu vết đời sống hồi này). Hết thảy đời sống hiện thực trên khắp đất nước mình đều trở thành biển đời mà mắt ngài là bờ biển. Ngài đã tóm thu vào nhân tuyến mọi thảm trạng đời sống ấy. Từ đó, ngài bỗng có đời sống sâu thẳm bên trong. Trái tim ngài ngân lên mệnh lệnh: “Phải làm sao tạo cảnh an lạc cho ai nấy trong vương quốc này.” Từ đó, qua đêm ngày, quả tim ngài không còn đập trong lồng ngực nữa mà đập nhịp theo bao số phận bi thảm nơi làng kia, bên hẻm nọ, trên những con người nghèo khổ tệ hại, trên những tấm thân xiêu đổ hom hem và biết bao hình ảnh khác về đời sống cứ ùa tràn tới như những cơn sóng dội đập vào bờ đá linh hồn

62


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Ngài. Ngài bỗng thấy mọi lạc thú bấy lâu thụ hưởng sao mà lạt lẽo vô vị biết bao. Trong từng miếng cơm đưa vào miệng hay từng lúc dạo qua vườn cảnh giải khuây, Thái tử đều nghẹn ngào, bế tắc, những nỗi băn khoăn cứ tua tủa dựng lên trước tầm nhìn. Tiếng kêu thương về nhiều nỗi từ nay tìm được nơi nhắn gửi đáng tin cậy. Ngài là người duy nhất nhận hồ sơ đó. Hồ sơ cứ gửi tới không dứt. Từng đêm, Ngài chìm trong suy nghĩ mà ý nghĩ sâu thẳm cội nguồn của đời sống khổ lụy này cứ tối bưng. Bao tri thức mà ngài miệt mài thu nhận từ những giáo sư lỗi lạc về bốn bộ Phệ-đà không hé được chút ánh sáng nào, bởi nó nhằm vào việc phục dịch cho lòng tin vào Phạm thiên, đối với hiện thực và ý nghĩa sâu thẳm của cuộc đời ngoài phạm vi của nó thì nó chỉ là cây cổ thụ lâu đời lá tàn khô nhánh, không còn trổ ra cành hoa tươi mát nào che bóng cho ai. Nếu trong ấy có thoáng gợn những hình ảnh giải đáp ý nghĩa sâu thẳm của kiếp sống tối hậu này thì nó cũng chỉ có một đường đi là bằng lòng êm ái, thả trôi mãi mãi đời sống theo dòng sông tập quán mù tối vạn năm. Đây là lần đầu tiên mới lạ, những suy tư sâu thẳm của Ngài như những viên đạn bắn vào cuộc đời. Ngài trở thành hiệp sĩ đơn thương độc mã chống lại bao thế lực đen tối của mọi phía đang vây bủa cuộc sống mà tệ hại hơn hết là sự lạm dụng quyền uy của giai cấp Bà-

63


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

la-môn. Họ lấy bốn giai cấp thống trị xã hội gây ra bao tệ hại. Những đám cháy này cháy mãi khắp nơi trong lòng con người, nó đi chung với mọi tà kiến là những quan điểm gắn vào sai lầm nguy hại. Tà kiến vạm vỡ giăng mắc khắp đường đi lối lại trong doanh trại tư tưởng. Từ đó, đời sống con người càng tối bưng. Hạng Bà-la-môn quyền thế cứ sống đời xa hoa thụ hưởng. Những con người ở cùng đáy xã hội đương nhiên chấp nhận số phận bi thảm nặng nề đắng cay. Công lệ bốn giai cấp đã thảnh thơi trở thành pháo đài kiên cố, bởi nó dựa trên quyền uy của tín ngưỡng cả ngàn đời kết thành tảng đá khổng lồ, không còn có sức mạnh nào xô nổi. Và không ai hô hào kháng cự, bởi có ý đó là mắc tội ghê khiếp. Nào ai còn dám khởi tâm suy nghĩ. Nếu có suy nghĩ hướng đi ngược với tập tục thì Bà-la-môn bảo là đã bị quỉ vương ám tâm hồn, chết sẽ bị giộng đầu xuống, chân chống lên mà vào địa ngục chịu khổ không có ngày ra. Do đó, định chế bốn giai cấp là mãi mãi không gì lay động, như dãy núi trập trùng Hymalaya kia thiên thu vẫn vậy. Hạng Paria đi thì phải rung chuông cho hạng trên biết mà tránh xa, nếu nhìn phải hạng Paria thì mắt đã dơ. Đang nấu đồ ăn mà lỡ để cho hạng Paria nhìn thấy là phải đem đổ đi vì đồ ăn ấy đã dơ bẩn.

64


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Hạng Chiên-đà-la làm mọi sự phục dịch tồi tệ trong xã hội như đổ phân, mổ heo, nhận đi ám sát, nghĩa là bất cứ cái gì họ cũng nhận làm cả. Hai hạng Paria và Chiên-đà-la sống như súc vật. Đứng trên đền đài của lương tâm sâu thẳm để nhìn, Thái tử cứ thấy đau nhói lồng ngực tâm hồn. Ngài phải làm sao nổ lên tiếng kêu về sự phi lý ấy. Những đêm đen, Ngài nhìn sao trời lấp lánh. Những ngôi sao xanh nhấp nháy mãi như dồn chứa bên kia nó, sau màn đêm dày này là cõi miền bát ngát của nguyên thỉ câm nín chưa ai khám phá ra. Càng nhìn lâu, Thái tử như bỗng bay lên đó, những vì sao vẫy gọi lạ kỳ. Những ngôi sao như những ánh sáng kỳ bí, xoi thủng màn đêm dày như tấm nhung sâu không đáy, gửi đến mắt ngài một trời ý nghĩa không cùng tận. Bên kia những vì sao là trời nguyên thỉ với sức quyến rũ không cưỡng nổi, nên bi nguyện thôi thúc càng mạnh và ngài quyết định ra đi trong đêm nay. Bi nguyện là sức mạnh của lòng thương vô hạn, gây xúc động cho tâm hồn, tạo thành lời nguyện kiên cố. Đó là vũ khí vô cùng thiết yếu của Bồ Tát. Bồ Tát có nghĩa là con người có lòng thương và hiểu biết sâu sắc về nội dung cuộc đời, lập chí nguyện kiên cố đi cứu vớt giúp đỡ cho mọi tâm hồn thấy lại được ánh sáng của đời sống, sống một đời an vui hơn. Thái tử Tất Đạt Đa

65


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

đã đi theo con đường của Bồ Tát, bởi trong vô số kiếp Ngài đã từng làm như thế. Hạt giống Bồ-đề vẫn còn tiềm ẩn kiên cố trong tâm Ngài. Nó tự nhiên thôi thúc nguồn xúc cảm sâu sắc trước cuộc đời, thúc đẩy phải thấy được trách nhiệm mình là vì bao kẻ khác, không thể sống đời ích kỷ riêng thụ hưởng. Phước lực vĩ đại ấy đã kết đọng thành tâm nguyện kiên cố, vượt qua bao lần tử sanh vẫn giữ nguyên màu rực rỡ. Bản chất tâm Bồ-đề này là kinh nghiệm mà nhiều người có thể cảm nhận được, nhất là những nhà cách mạng chân chính từ những quốc gia bị ngoại bang thống trị. Và trong thế kỷ 20 lại sản sanh một đại Bồ Tát cũng từ bi nguyện lớn lao là thánh Gandhi (18691948). Ngài là nhà triết học, chính khách, nhà văn, xuất thân từ giai cấp quí tộc, nhưng tim óc ngài vượt khỏi rào giai cấp đi đến số phận của những người dân nghèo khốn khổ. Sau khi sang Anh du học và đạt học vị tiến sĩ luật, ngài về làm luật sư ở Ấn rồi qua Nam Phi. Tại đây ngài quyết liệt bảo vệ những Ấn kiều nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Sau ngài trở về Ấn, đề xướng phong trào giành độc lập với chủ trương Ahimsa (bất bạo động, bất hợp tác) được toàn dân Ấn nghe theo là không đóng thuế, không đi lính, không mua hàng hóa của Anh, tự dệt vải mà mặc. Ngài tập họp đông đảo dân chúng kêu gọi tình thương nhau, sống giản dị, đòi

66


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

quyền độc lập, đòi quyền bình đẳng. Nhà cầm quyền bắt ngài vào tù thì dân chúng ùn ùn nối đuôi nhau đi theo vào tù. Sau thế chiến thứ 2, phong trào đòi độc lập ngày càng lên mạnh dữ dội với bất hợp tác bất bạo động. Nhà cầm quyền Anh thấy xu thế thời đại chuyển hướng kịp thời nên người Anh đã trao trả độc lập cho Ấn năm 1947. Năm 1948, ngài bị một tên cuồng tín ám sát. Y cho biết chỉ vì muốn lưu danh hậu thế. Gandhi đã trở thành vĩ nhân, y ám sát ngài để được nổi tiếng. Hậu thế khi nói đến kẻ ám sát Gandhi thì phải nhắc tới tên y. Thế thôi! Thật là một kiểu cầu danh điên cuồng hết cỡ. Trong Hiến pháp soạn thảo trước đó, ngài Gandhi đã ghi vào việc hủy bỏ bốn giai cấp, đem bình đẳng lại cho mọi công dân. Do vậy, dù chưa phá tan được quan niệm tồn tại mấy ngàn năm qua, nhưng nó cũng là phát súng lệnh đã nổ lên cho cuộc bình đẳng công dân sau hơn 5.000 năm tồn tại của chế độ bốn giai cấp. Chính ngài và thủ tướng Nêru đã lấy hình ba con sư tử đâu lưng ngó ra làm quốc huy cho Ấn Độ. Hình ba con sư tử này là biểu trưng của Phật giáo, được khắc tạc vào nhiều tháp, cột đá khắp nơi trong nước, nhất là đền đài Phật giáo. Nó có sự tích linh thiêng không thể nghĩ bàn. Tại nơi đức Phật hiện xuống cõi đời sau ba tháng

67


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

lên cung trời Đao Lợi nói pháp cho mẫu thân Ma Da, về sau có trồng một trụ đá kỷ niệm, trên chót đầu trụ đá có tạc ba con sư tử ngồi đâu lưng vào nhau. Sau khi Phật nhập diệt gần 100 năm, nơi ấy bị ngoại đạo chiếm ở. Chư tỳ-kheo muốn đến định cư, lấy lý do nơi đây là chỗ kỷ niệm của thầy chúng tôi. Ngoại đạo không chịu. Hai bên thề nhận sự báo điềm. Sau khi khấn nguyện thì tự nhiên ba con sư tử ấy rống lên ba tiếng kinh hồn, ba tiếng rống thành ba tràng hoa quấn quanh cây trụ đá. Thấy thế, ngoại đạo bỏ chạy hết. Nay lấy hình sư tử đâu lưng ấy đặt làm quốc huy, chính vì ngài Gandhi và Nêru hiểu được ý nghĩa linh thiêng của nó. Cuộc đấu tranh của thánh Gandhi được xem là cuộc đấu tranh thần thánh. Người Anh không thể thống trị đất Ấn được nữa, như bọn ngoại đạo kia không thể ở lại nơi di tích chôn trụ đá. Ngoài ra, ngài Gandhi và Nêru cũng nhận ra giá trị lớn nhất, vinh quang mãi mãi của Ấn Độ chính là Phật giáo. Từ bi và trí tuệ mãi mãi như sông Hằng chảy, là hai giá trị cao quí nhất nhân loại. Nó tựu thành chân giá trị con người. Văn minh đến đâu, nếu thiếu hai cột trụ từ bi và trí tuệ thì chưa gọi là văn minh. Một nhà khoa học nổi tiếng nói rằng: Khoa học không có lòng thương thì chỉ là đưa đến tàn lụi đời sống con người. Từ trước

68


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Phật ra đời, thì xã hội Ấn xem như vắng thiếu hai cột trụ đó. Đức Phật chính là người khai mở bình minh chân lý về từ bi và trí tuệ. Rồi hơn 2.000 năm sau, dấn thân vào làm ích lợi cho vạn triệu người, ngài Gandhi cũng thực hiện sâu đậm hai yếu tố từ bi và trí tuệ. Từ bi và trí tuệ vốn sẵn có trong mỗi con người, nhưng phải có người đứng lên phát động và thực chứng nó mới gieo niềm tin mãnh liệt bằng ánh sáng của sự thực chứng. Và hai yếu tố đó là cột trụ cho nhẫn tính, bất cứ ở đâu cũng cần nó, bởi nó sáng tỏ là nhờ ở bộ óc suy tư hiểu biết sâu rộng của con người. Có thực chứng thì hai yếu tố đó mới thành vĩ đại như dòng sông vĩ đại lan xa mãi tới đại dương. Bản thân những vị này tự nhiên phá tan hết mọi tù hãm cố chấp hạn hẹp vị kỷ và trở nên vị tha vô bờ bến. Các ngài cũng là những con người sanh ra từ đất nước gió bụi trần gian, nhưng bởi có hạnh nguyện kiên cố nên đã làm phát sáng mạnh mẽ từ bi và trí tuệ, như dòng sông có nguồn thì chảy mãi qua tháng năm không ngừng. Từ bi, trí tuệ phát nguồn từ tâm Bồ-đề nên cũng chảy mãi trong mạch ngầm cuộc sống nhân loại và hiện lên thành những an vui hạnh phúc có thật.

69


CHĂM SÓC TÂM BỒ ĐỀ

T

hế giới tâm linh con người phức tạp và sâu thẳm hơn đại dương gấp vạn triệu lần, thân và tâm lại có sự phối kết chặt chẽ. Năng lực tâm linh thật vĩ đại, có những vị tu hành đạt kim cang bất hoại thì sau khi qua đời_ thân khô như vậy, không hôi thúi, hư hoại, còn mãi với thời gian. Miền Bắc Việt Nam hiện còn hai nhà sư đạt kim thân bất hoại từ đời Lý đến nay vẫn còn. Bên Thái Lan cũng có một nhà sư người Việt Nam sống bên đó đạt kim cang thân bất hoại, hiện để trong một ngôi chùa, giấu kỹ vì sợ bị phá hoại. Có những người nhờ phước nghiệp đời trước tốt nên biết trước ngày giờ mình qua đời. Những người khác có người nhớ được chuyện kiếp trước. Trong niềm tin tôn giáo có những cảm ứng hết sức linh diệu. Lòng người hay thay đổi và đột biến dữ dội, nó như vực sâu đầy bình yên và cũng đầy nguy hiểm. Cái ấy, trong kinh thường gọi là ý. Ý thường được so sánh như ngựa sãi nghìn trùng. Tự nó có đời sống suy nghĩ từ nhiều sự kiện chất chứa trong kho tàng A-lại-da thức và những đối cảnh do năm giác quan cung cấp. Chính hoàn cảnh và môi trường đã cung cấp dữ kiện cho năm giác quan.

70


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Do đó, trong kinh điển Nguyên thỉ từng đưa ra pháp tu gần nhứt là phòng hộ căn môn, nghĩa là coi sóc năm giác quan như cổng đi vào, phải giữ gìn ngăn chận. Năêm giác quan là năm bến cảng du nhập hàng hóa từ đối tượng của nó, chất đầy vào kho thức A-lại-da. Ngoài hết thảy thì một ý nổi lên trên mặt ý thức, nó cũng rơi vào kho A-lại-da và tồn tại trong ấy. Hết thảy ấn tượng (chủng tử) rơi ào ào vào kho thức A-lại-da. Những chủng tử đó sẽ được lớn mạnh khi gặp được chủng tử đồng loại du nhập tiếp trợ sức mạnh, cứ thế mà lớn lên rồi phát sanh hành động. Trái lại, nếu một chủng tử nào đó không được tiếp sức từ các chủng tử đồng loại thì sẽ héo hắt, phai nhạt dần và lâu ngày sẽ tan biến. Mỗi chủng tử trong thời gian héo úa, phai nhạt đều sẵn sàng chờ đợi cơ hội thích hợp để bùng phát mạnh mẽ trở lại. Trong kho A-lại-da vốn đã có vô số chủng tử từ nhiều đời trước nên rất dễ trổ ra thành hành động trong đời này. Nhưng chủng tử tham ái, giận dữ.v.v... là đó. Tham ái là chủng tử mạnh nhất lôi cuốn ta đi qua mọi đời sống dưới sự dẫn dắt của nghiệp lực. Sự khát khao ham muốn là sức mạnh chủ lực kiên cố: ham mê về tiền của, về quyền lực, về tình dục, về mọi thứ đối tượng của năm giác quan. Trong Kinh so sánh tính ham mê ấy quá quen thuộc với tâm tính con người như

71


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

con chó nuôi trong nhà từ nhỏ, mãi mãi trung thành với chủ, có giận đánh nó chạy đi rồi cũng trở về ngoắc đuôi mừng chủ; còn tính từ bi, hỷ xả thì như hươu nai ngoài đồng trống, mới thấy đó, chúng đã biến mất dạng. Các đức tính ấy như loài hoa quí, khi trồng ta phải chăm sóc hết sức kỹ; còn mọi tham đắm ghét bỏ... những tâm lý ấy lại như cỏ mọc tràn lan, không cần vun trồng chăm bón gì cả, tự chúng lên xanh phủ ngập cả cánh đồng tâm thức. Xưa có một thầy đến hỏi ngài Giang Tây Mã Tổ về chuyện học giáo pháp trong ba tạng kinh điển có ích gì chăng? Mã Tổ bảo: Cỏ hoang chưa từng giẫy. Ấy là Tổ nói hiện trạng đó, cốt yếu phải giẫy trừ những tâm lý cỏ hoang của nhơ bẩn, tham đắm, cố chấp.v.v... Nói cách khác, học giáo lý cần phải hành trì, phải quán chiếu bản tâm để chuyển hóa. Nếu học giáo lý làu thông, uyên bác mà không chuyển hóa được chút nào cỏ gai phiền não trong tâm thì Phật bảo chuyện ấy không có ích, khác nào như đếm bò cho người ta, bản thân mình không có con nào cả. Thời Tống, đại thi hào Tô Đông Pha và hòa thượng Phật Ấn kết duyên bạn đạo. Ngài Phật Ấn từng khai thị bằng nhiều phương thức độc đáo để giúp Tô Đông Pha tỉnh ngộ. Có một lần, Tô Đông Pha đến thăm, ngài Phật Ấn đi vắng. Trên bàn sẵn nghiên mực, bút, Tô

72


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Đông Pha liền làm một bài thơ để lại. Câu cuối bài thơ có mấy chữ: “Bát phong xuy bất động”, nghĩa là tám ngọn gió thổi không lay động. Tám gió là chỉ các việc thế gian thường làm tâm người xao động như lợi (được lợi lạc, tài bảo...), suy (bị tổn thất, mất mát, thua thiệt...), hủy (bị khinh miệt), dự (được khen ngợi), xưng (được phong tặng, xưng tán), cơ (bị chê bai, bài bác), khổ (chịu khổ đau), lạc (được vui sướng). Tô Đông Pha có hàm ý nói rằng mình học đạo đã đến mức những chuyện thường tình thế gian không còn làm cho tâm mình xao động. Khi về, ngài Phật Ấn đọc qua liền cầm bút phê ngay hai chữ “trung tiện” (nghĩa là đánh rấm) bên dưới bài thơ, rồi bảo một chú tiểu mang bài thơ ấy đến nhà Tô Đông Pha. Nhà thi hào ở bên kia sông Dương Tử. Tô Đông Pha nhận thư, đọc xong nổi giận run cả người khi thấy ngài Phật Ấn miệt thị bài thơ tâm đắc của mình đến mức chỉ xem như một cú... trung tiện. Ông lập tức đang đêm xuống thuyến qua sông, thẳng đến chùa Phật Ấn. Đến nơi ông lập nói với hòa thượng Phật Ấn: “Hòa thượng dù khinh tôi đến mức nào cũng không nên quá lời đến thế. Bài thơ của tôi có chỗ nào kém cỏi đến nỗi ngài phải miệt thị đến mức như vậy?” Ngài Phật Ấn bật cười nói: “Tôi đâu dám xem thường văn tài của ông, chỉ có điều ông bảo là ‘bát phong xuy bất động’ nên tôi muốn thử

73


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

xem điều ấy có thật hay không đó thôi. Nay chỉ một cú trung tiện đã đủ thổi ông bay từ bên kia sông sang đây ngay trong đêm, vậy sao gọi là ‘bất động’?” Chợt nhận ra thâm ý của ngài Phật Ấn, Tô Đông Pha tỉnh ngộ, tự biết được sự kém cỏi trong việc hành trì của mình, liền bẻn lẻn cáo lui. Một lần khác, ngài Phật Ấn bất ngờ hỏi Tô Đông Pha xin mượn một người hầu thiếp. Tô Đông Pha có đến bảy người hầu thiếp, nên không ngần ngại nhận lời ngay rồi cho đưa cô thiếp thứ bảy sang chỗ ngài Phật Ấn. Đến nơi, Ph���t Ấn bảo người đưa cô vào phòng nghỉ, rồi sai mang đến một lò than lớn đặt ngay ngoài cửa phòng, rồi suốt đêm ngủ bên cái lò ấy. Hôm sau, Tô Đông Pha đến thăm và đón người thiếp về, tươi cười hỏi Phật Ấn: “Thế nào, đêm qua ngài cảm thấy thế nào?” Hòa thượng Phật Ấn làm ra vẻ mệt mỏi, đáp lời: “Thật đáng sợ! Gần nữ sắc giống như ở bên lò lửa lớn. Đêm qua tôi chỉ ở bên một lò lửa mà đã mỏi mệt đến dường này, chỉ thương cho ngài có đến bảy cái lò lửa!” Tô Đông Pha nghe qua chợt hiểu, biết là hòa thượng mượn chuyện lò lửa để khuyên răn mình hạn chế việc dâm dục. Từ đó, Tô Đông Pha càng đi sâu vào thực hành đạo lý, ngày càng tinh tấn hơn. Chánh pháp của đức Phật là phương pháp sống đời minh triết, vươn lên bằng sự nỗ lực hành trì, từ việc

74


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

trừ dần những tâm lý xấu ác nhỏ nhặt thường ngày mà tiến lên. Phải thực hành với sự tỉnh giác, sáng suốt và bền bỉ như dòng sông chảy mãi thì mới có thể dần dần đạt đến đỉnh cao giác ngộ. Chưa có dân tộc nào trên thế giới say mê triết học như dân tộc Ấn Độ. Đó là nói về triết học của người thế gian, chưa nói đến sự minh triết do đức Phật chứng ngộ qua kinh nghiệm tu tập. Người tu tập thực hành theo lời Phật dạy và đạt kết quả tốt đẹp ngay trong đời sống này. Thời cổ đại Hy Lạp, vào khoảng thời gian không lâu sau đức Phật, một nhà triết học lớn là Socrate từng nói: “Connais-toi toi-même.” (Hãy tự tri). Người ta nói Socrate đã kéo triết học từ trời cao xuống cho con người, tức chú trọng về sự thực hành, tự biết mình trước, điều ấy mới quan trọng. Ở Ấn Độ, xem như đức Phật đã mở đường đi cho triết học hành động toàn triệt nhất, khai mở truyền thống thực hành. Sau này, những đạo sư lỗi lạc của Ấn Độ giáo cũng là những nhà thực hành sâu sắc, nổi tiếng gần trong thế kỷ này như Shri Ramakrishma. Swami Vivekanada.v.v… Thực hành tức là bắt đầu hành trình đi vào thế giới nội tâm bằng phương thức chánh niệm tỉnh giác, là nhớ biết, một chữ biết là đủ. Khi ta đang làm điều gì thì tự

75


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

biết mình đang làm, không để tâm tán loạn chạy theo những điều khác. Theo dõi sự trôi chảy của tâm và có ý chí chuyển hóa nó bằng vipassana, tức suy nghiệm (quán). Ngay lúc suy nghiệm một vấn đề cũng là lúc chú tâm, samatha (chỉ). Chỉ và quán đi song song kiên cố bền bỉ là công phu chuyên môn của nhà tu thiền, chỉ có vậy. Còn người thường chúng ta, mỗi ngày chỉ cần bỏ ra 15 phút tỉnh tâm, ngồi yên lặng quán chiếu cũng đã là quí lắm. Rồi khi có cơ hội thì tập quán chiếu, tỉnh giác trong nhiều lúc. Đó là pháp tu tỉnh giác, bất cứ khi nào và ở đâu cũng có thể làm được. Tỉnh giác để thấy biết tâm mình, để chuyển hướng vận trình của nó. Tâm ta trôi như dòng sông, trôi mãi nên có thể sửa dần cho nó chảy theo một lộ trình mới, không còn chảy theo hướng của thói quen, tập quán xấu qua bao nhiêu kiếp sống. Từ nhiều kiếp trước, ta chỉ phản ứng theo thói quen là tham đắm, ghét bỏ, hận thù, cố chấp sâu nặng... Việc trừ bỏ một thói quen xấu cũng phải làm với tất cả tâm lực và bền bỉ kiên trì, tỉnh giác bằng ý thức sáng tỏ mới có hy vọng thành công. Chỉ cần buông thả đôi chút là thói quen cũ sẽ phóng ra, chạy rong ngoài ý thức, theo sự phản xạ của cơ thể, như kẻ quen chửi thề, nói ra câu nào cũng luôn có tiếng chửi thề đệm xen vào câu nói. Muốn từ bỏ thói quen ấy của khẩu nghiệp thì không có cách nào khác hơn là phải luôn tỉnh giác,

76


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nhớ về ý thức, hay cụ thể hơn, bắt ý thức chăm chú về một đề tài gì. Ta có thể tự nhớ là hãy từ bỏ thói xấu ấy, không để tâm ý lãng quên, khi đang nói chuyện là phải mài bén khả năng tự trở về, bắt tâm chú ý vào sự lặng yên trước khi nói. Như vậy, không còn nói ào ào, mà nói chậm rãi. Nói chậm rãi là nói có suy nghĩ, có tỉnh giác, thoát ly được thói quen chửi thề theo phản xạ không suy nghĩ kỹ. Trong cuộc sống, ta thường bị nướng mình trên giàn lửa thói quen. Tu là tĩnh tâm chăm bón lại vườn tược tâm mình. Bấy lâu nó bị bỏ hoang vu, cỏ dại mọi thứ tha hồ mọc, nay tu tập là nhổ cỏ phiền não, trồng lại hoa Bồ-đề tâm, với sự chăm bón kỹ lưỡng để trổ hoa đẹp, tức là làm được những hành động lợi tha và chính mình vượt qua được những tị hiềm, đố kỵ, cố chấp, nghi ngờ, giả trá và bao thứ biến thái kỳ dị trùng trùng của tâm lý. Trong kinh có so sánh rất cụ thể rằng tâm là đất, gọi là tâm địa. Trong đất tâm bao la ấy là nơi mọi hạt giống có thể mọc, thật là một so sánh rất hình tượng. Hạt giống tâm Bồ-đề và hạt giống phiền não đều có thể mọc trên đất tâm. Nhưng tâm là năng lực chuyển biến nhiệm mầu. Đây dụ cho đất là ý nghĩa sản sanh thôi. Tâm thật sự chỉ có một, hễ chuyển quay theo những sai lầm của tham đắm, ghét bỏ, ích kỷ, nhỏ nhen, cố chấp, hận thù, đố kỵ thì đó là vọng tâm, là tâm

77


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

phiền não nhơ bẩn; nhưng nếu nó quay theo hướng vị tha, có tình thương, có hiểu biết, có thông cảm, có độ lượng thì đó là tâm Bồ-đề, gọi là chân tâm. Một lu nước đục đánh phèn vào rồi sẽ trong. Tâm nhơ đục dùng phèn chánh pháp đánh vào sẽ trong. Do đó, ở chỗ đúng đắn thì tu là chuyển biến tâm, đổi thay, chuyển hướng, dẫn dắt… Còn lối nói đập nát vọng niệm là một lối nói chỉ sự cương quyết, chứ nó vô hình sao đập nát được? Tâm cần cái gì đó để bám mới gọi có tâm ý vọng động, còn lắng sâu bên dưới không hiện lên trên sân khấu ý thức thì làm sao biết được? Mà tâm vọng động là phải có đối tượng, không thể biết mà không có đối tượng. Do đó phải trụ tâm vào một đối tượng, một đề tài, một cái gì đó theo mình muốn mãnh liệt với ý chí. Do vậy, tu tập là gắn tâm vào cái biết tâm. Có điều thú vị ở đây là tâm tự biết lấy tâm. Nói theo danh từ triết học thì là “ý thức về sự ý thức”. Một nhà triết học có nói: “Tâm, không có tâm nào khác cái mà tâm đang ý thức.” Tâm nổi lên theo nguyên tắc thông thường nhất là mở thông với năm giác quan. Như cái nhìn chẳng hạn, nếu không có ý thức tham gia chỉ nhìn mọi pháp dưới cái thấy chung chung của nhãn cầu, không phân biệt được gì. Nhưng nhanh lẹ vô cùng, khi vừa thấy là đã có ý thức tham gia ngay, từ đó sản sanh ra mọi sự phân biệt là biết tốt xấu, ưa hay không ưa. Ưa thích thì

78


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

gom về A-lại-da thức mọi chủng tử loại đó, nếu ghét thì nổi giận, chủng tử ghét cũng vào ngay trong thức A-lại-da, nhưng không mạnh bằng chủng tử ưa thích. Hoạt động của bốn giác quan còn lại cũng theo cách ấy. Còn riêng ý bên trong thì nó sanh hoạt với mọi ấn tượng đã được đưa vào ấy, ngồi lừa lọc món này món kia, gọi là pháp trần. Mỗi ngày có khoảng 5.000 hình ảnh ấn tượng từ năm giác quan đi vào kho A-lại-da thức, còn riêng ý thì hoạt động càng mạnh hơn, với biết bao ý tưởng cuồn cuộn tung bay tỏa khắp chân trời mặt đất, lẹ làng vô kể, gấp vạn lần ngựa sãi nghìn trùng. Nếu ngựa ý không sãi thì nó ngồi bắt chuyền cành cây hình ảnh như khỉ vượn, không lúc nào yên. Khi ngủ thì năm giác quan tạm thời đóng cửa, bấy giờ ý thức hoạt động mạnh, tạo ra những giấc chiêm bao đủ loại. Cũng có lúc ta ngủ hoàn toàn bình yên không hay biết gì, gọi là ngủ sâu, thì lúc ấy ý thức lắng sâu. Bậc thánh ngủ không có chiêm bao, mà nếu có chiêm bao ắt là báo trước điềm xa về điều gì đó. Đại để là như vậy, thế giới tâm linh trùng trùng phức tạp, đan chéo mọi chủng tử đời này, đời trước tồn trữ trong kho A-lạida thức, cơ man nào kể ra cho hết. Những chủng tử trong kho tàng A-lại-da theo nguyên tắc chung mạnh nhất là huân tập, tức là sự lặp đi lặp lại nhiều lần.

79


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Nói đến vấn đề chủng tử đưa vào kho tàng thức A-lại-da để ta thấy được cái hệ trọng của mọi ấn tượng trong đời sống. Chẳng hạn, tâm thức đứa trẻ mới lớn ví như tấm lụa trắng tinh, bắt đầu được vẽ lên đó những màu sắc, hình ảnh từ hai, ba tuổi trở đi. Khi ý thức chúng phát triển thì mọi ấn tượng, hình ảnh chúng nhận lấy đều bám theo đến suốt đời, đó là ấn tượng gốc. Do vậy, những ấn tượng đó có năng lực chi phối dòng tâm thức về sau này. Trẻ được lớn lên trong tình thương yêu che chở hài hòa trong sáng và bằng tính khí của cha mẹ, giòng dõi thì về sau dễ phát triển bình thường và thuận lợi, không gặp khúc mắc nào trong đời sống. Trong công việc gầy dựng những ấn tượng ban đầu cho trẻ ấy thì ngôn ngữ, hành động của cha mẹ, bà con họ hàng rất quan trọng. Do đó, gia sản quí nhất mà cha mẹ để lại cho con cái là những ấn tượng tốt đẹp, hiền thiện, hài hòa trong sáng, bằng ngôn hành cách nêu gương lời nói và việc làm ngay từ buổi mới lớn và sau này. Ngược lại, nếu cha mẹ hục hặc, đánh nhiếc con cái và chúng bị mắng chửi từ môi trường xung quanh khi tuổi vừa mới lớn thì tâm hồn non nớt đó bị tổn thương trầm trọng, như cây non mới trồng bị gió thổi nghiêng hay bị nắng gắt làm héo úa. Dù cây non ấy có gượng sức sống được thì lớn lên nó cũng ngả nghiêng, có nhiều tì vết, không thẳng đẹp.

80


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Ấn tượng đầu đời ăn sâu trong kho tàng A-lại-da về sau làm nguồn cho hầu hết mọi xúc động suy tư. Ảnh hưởng của ấn tượng chiếm vị trí tối quan trọng trong đầu óc trẻ thơ. Xưa các nhà Nho cũng lấy nguyên lý này nên đặt ra Thai giáo, tức dạy con khi nó còn trong bào thai. Khi mang thai, bà mẹ phải tránh những gì không tốt, bởi ấn tượng không tốt vào tâm thức mẹ sẽ chuyển qua cho con. Thường thì người ta thấy chuyền qua hình dạng đứa bé hơn là tâm trí nó, vì khi ấy tâm trí nó chưa phát triển để có thể thấy biết.. Như vừa nói trên, thì những trẻ mồ côi tuy được ai đó nuôi dưỡng, nhưng nếu không hiểu biết về tâm lý trẻ thơ nên làm sai lệch, có thể gây hại về sau không lường nổi. Từ nhỏ mà trẻ bị đối xử tàn bạo, đánh đập mắng chửi khốn đốn thì lớn lên chắc chắn nó sẽ có nhiều khuynh hướng du đãng, liều lĩnh bất chấp, dễ gây tổn hại cho người xung quanh hay cho chính nó. Có những người mồ côi từ nhỏ, sống nhờ lòng thương của kẻ khác trong thân tộc, chịu sự đối xử không tốt đẹp lắm, nên lớn lên dù với sức cố gắng phấn đấu tự lập đạt được tiền của danh vọng nhưng vẫn rất dễ cảm thấy bi quan, bởi cái ấn tượng mồ côi ở trong kho tàng A-lại-da nó âm thầm tác động. Ấn tượng ấy như một vết thương đầu đời không cách gì xóa sạch đi được. Từ đó, trong nội thức kẻ ấy thường phát sanh mặc cảm,

81


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thấy mình luôn thiếu hụt một cái gì, thấy mình không có trách nhiệm với ai cả, mà chỉ với một thân phận hẩm hiu ấy trong vô thức, cho dù bên ngoài có xênh xang mũ áo như ai. Tâm trạng cô đơn dễ khiến kẻ ấy tự hủy mình khi ai đó xúc phạm vào vùng trời bí mật là thân phận mồ côi của họ. Dù kẻ ấy có tiền của, sống khá giả, nhưng nếu tình cờ bị một cú sốc về vết thương kia thì kẻ ấy sẽ tự hủy. Trong trường hợp này, nếu có người thấu hiểu tâm lý mang đến sự an ủi vỗ về với chân tình sâu sắc thì kẻ kia sẽ thoát khỏi cơn tự hủy. Con người trước sau vẫn là một sanh vật mà chất yếu đuối chiếm phần lớn, nhất là khi lâm vào hoàn cảnh cay nghiệt, không có ai che chở, bao bọc thì càng dễ khiến cho sự hoang mang bốn bề tăm tối tua tủa dựng lên. Người có đủ tình cảm gia tộc từ nhỏ còn thế huống gì là kẻ thiếu mất phần tình cảm căn bản ban đầu kia? Họ bị lung lay dữ dội hơn, nên dễ đi vào đường tự hủy cho rảnh nợ đời, cho được bình yên. Một anh nọ đẹp trai đóng phim nổi tiếng, nhưng anh ta vốn mồ côi từ nhỏ, sống với bà ngoại, tự phấn đấu lớn lên. Đang khi đó, có tiền của danh vọng, yêu thương cô nọ. Họ định chuyện tiến tới hôn nhân, nhưng gia đình cô nọ không bằng lòng, bảo anh ấy là trẻ mồ côi, xuất thân không tốt đẹp.

82


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Nghe được lời chê bai ấy, anh này đau khổ dữ dội, nhưng gắng chịu đựng không dám nói cho người yêu biết. Đau khổ đến mức cùng cực nên anh tự hủy. Nếu khi ấy may gặp được người hiểu tâm lý, đưa anh ta đi đến một nơi xa qua một thời gian, để cho ấn tượng phê phán kia nguôi đi thì có thể vượt qua khổ đau để làm lại cuộc đời. Khi anh quyết định tự hủy là khi anh không còn thấy có gì đáng sống, bởi mặc cảm mồ côi hành hạ nhức nhối tâm can. Biết khá rõ tâm lý từ lúc còn nhỏ nên ta xây dựng chăm bón tâm Bồ-đề từ đó là tốt nhất. Có những trẻ vừa sanh đầy tháng, cha mẹ đem tới chùa cho qui y, điều đó cũng tốt. Sau này lớn lên dần hướng về Tam bảo, lớn nữa qui y lại, thì ấn tượng qui y ấy thành một gắn bó quan trọng. Cuộc đời trẻ ấy được gắn bó vào điều thiện rồi. Đó là nền móng ban đầu của nhân tính. Nó có làm gì hư hỏng thì cha mẹ nhắc lại ấn tượng qui y cũng có thể giúp nó hồi tâm. Vấn đề giáo dục con cái, gieo trồng tâm Bồ-đề cho chúng luôn luôn đòi hỏi sự thông cảm, hiểu biết chín chắn của cha mẹ. Có biết bao người thương con, lo đầy đủ dư thừa đời sống vật chất nhưng vì thiếu hiểu biết, thiếu giáo dục đạo đức sống, nên con cái có khi thành hư hỏng, thậm chí chống lại cha mẹ. Tâm lý thiếu nhi còn vấn đề quan trọng nữa là dễ bắt chước chúng bạn trong một sanh hoạt cộng đồng nào

83


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

đó. Có nhiều gia đình di tản sang Pháp, sang Mỹ khi con còn nhỏ, lớn lên cha mẹ có ý lo nên muốn dạy cho nói tiếng Việt. Dù dạy kiên trì vẫn không ăn thua gì, vì trẻ không thèm học, gây bực tức cho cha mẹ. Nhưng tình cờ cho chúng tham gia trại hè ở một nơi sống hoàn toàn theo phong tục Việt, trẻ ở đó nói toàn tiếng Việt trong suốt mùa hè ấy, và ca hát vui chơi cũng toàn dùng tiếng Việt cả, nên sau đó những trẻ kia trở về với gia đình cha mẹ liền ham thích nói tiếng Việt. Cha mẹ mới hiểu ra rằng sự tác động của môi trường trại hè kia rất có ý nghĩa quyết định. Do vậy, vun bồi tâm Bồ-đề cần phải làm từ nhỏ cho trẻ có ấn tượng, dẫn chúng đi chùa lễ Phật, tham gia lễ Phật, hàng tháng có những lễ tụng càng tốt. Hiện nay thì đời sống của hầu hết ai nấy đều kẹt vào giờ khắc, quĩ thời gian rất eo hẹp. Biết bao người không có thì giờ dạy bảo con cái, khiến cho sự hư hỏng lan tràn. Do vậy, cha mẹ tự giáo dục mình là sống hòa thuận, điềm đạm trong nói năng hành động, thì đó cũng là bài học rất quí, gọi là thân giáo. Vấn đề quan trọng nhất trong giáo dục là sự thông cảm và hiểu biết con cái. Sự la rầy mắng chửi thì không nên. Phải hiểu cho kỹ tâm tính và những khó khăn của nó mà giải quyết với sự cảm thông. Và nguyên tắc lớn nhất cho cả già trẻ và mọi lứa tuổi, mọi công việc, là không nên trách móc. Trách móc thường là khi

84


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

chuyện đã xảy ra. Do vậy tự nên răn mình sâu sắc là không nên trách móc. Khổng Tử xưa cũng từng nêu lên sự khôn ngoan này, ông bảo: “Quá giả vâng nhi bất thiyeets (Cái gì qua rồi không nên nói đến). Nói về bài học kinh nghiệm, trách lỗi để rút lấy kinh nghiệm, thì sự thất bại của mỗi người phải chính họ tự hiểu, nào phải trách mắng mà có thể giúp họ hiểu được? Thất bại thì nên chỉ bày phương pháp hay hơn cho kẻ thất bại, để họ có thể thu thập những lời chỉ dẫn ấy mà sáng suốt hiểu biết thêm, đừng nên trách móc vì chẳng mang lại lợi ích gì. Xưa kia khi tại thế, thỉnh thoảng đức Phật có quở trách một vị tỳ-kheo nào đó đều là do có nguyên do thích đáng, nên việc quở trách đó chắc chắn sẽ giúp vị kia được ích lợi, thăng tiến trên đường tu tập. Trong hầu hết trường hợp, ngài luôn kêu gọi tính tự giác của họ. Nếu đi xa hơn nữa của sự trừng phạt thì cũng nhằm mục đích cho kẻ ấy tự nhận ra lỗi lầm bằng pháp Phạm-đàn-đà, nghĩa là bất hợp tác. Như Xa Nặc vốn là giám mã trung kiên trước kia của Thái tử, sau đó xuất gia. Nhưng ông vốn ít học, khi xuất gia lại không chuyên tu, có ý cho rằng mình có quan hệ đặc biệt với Phật, chắc sẽ được dành cho một đặc ân nào đó. Cho đến khi Phật nhập diệt ông vẫn chưa chứng quả. Trước khi nhập diệt, Phật dặn thầy A Nan sửa trị Xa Nặc bằng pháp Phạm-đàn-đà.

85


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Khi đó, Xa Nặc đang ở tu viện Ghositarama, xứ Kosambi. Trong chúng đang bàn nói chuyện gì, hễ thấy Xa Nặc tới là phân tán ra cả, không nói chuyện với Xa Nặc. Hễ thấy Xa Nặc ở đâu thì lại tránh đi nơi khác. Không lâu, Xa Nặc tự thấy mình cô độc, bèn gắng sức tu tập và chứng quả A-la-hán. Đời sống gia đình là môi trường tốt đẹp để tâm Bồđề phát triển về sau, với điều kiện là gia đình phải khéo léo hướng dẫn đạo đức. Đạo đức ở đây là sự lễ phép với người trên, biết tự chăm sóc bản thân không ỷ lại vào người khác, ăn ngủ đúng giờ, có chừng mực, điều độ, siêng năng. Trong đó, việc tập thói quen làm việc cẩn thận, kỹ lưỡng và ham làm việc là quan trọng. Tuổi nhỏ có thật sự quét nhà, rửa chén, lau nhà.v.v... thì lớn lên mới có thói quen ham làm việc. Có nhiều người không sai trẻ làm việc, khi lớn lên, nếu có bảo làm thì tự nhiên nó thấy ngại ngùng lẩn tránh. Ta sống với điều ta tưởng tượng ra bao giờ cũng nhiều, còn thực tế xảy ra thường không có gì ghê gớm lắm. Trẻ con thường tưởng tượng ra bao sự khó khăn, rồi không dám bắt tay vào làm. Chung qui, mọi chuyện trên đời đều do thói quen cả. Muốn có thói quen siêng năng chăm chỉ thì phải tập cho trẻ quen với việc làm từ nhỏ. Lớn lên thì thói quen siêng năng đã sẵn có trong

86


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

người nên sống bất cứ đâu cũng rất dễ hòa nhập vào công việc, mà còn có khả năng làm việc hiệu quả, đáng tin cậy. Ngoài ra, tuổi trẻ mới lớn phải chú ý việc thiết lập lòng tin. Xưa bà Mạnh mẫu, mẹ Mạnh Tử đổi chỗ ở mấy lần chỉ vì mục đích tạo môi trường tốt cho con. Một lần Mạnh Tử đang học bỏ về nhà, bà mẹ thấy vậy, đang dệt khung cửi liền lấy dao cắt đứt khung dệt rồi nói: “Con đang học mà bỏ dở cũng như khung dệt này bị cắt đứt, tấm vải xem như vứt đi rồi.” Mạnh Tử hối lỗi, từ đó không dám trốn học nữa. Lần khác, thấy hàng xóm làm thịt heo, Mạnh Tử chạy về hỏi: “Hàng xóm làm heo để chi?” Nhân vui miệng, bà mẹ đáp: “Để cho con ăn”. Rồi bà bỗng giật mình suy nghĩ lại: “Con ta mới lớn không nên nói dối với nó.” Liền lập tức sang nhà hàng xóm mua thịt về nấu cho con ăn. Cách giáo dục thận trọng, đúng mực của người mẹ đã góp phần quan trọng trong việc đào luyện nhân cách ban đầu cho một bậc hiền nhân như Mạnh Tử sau này. Ngày nay, xã hội biến động trùng trùng, một sự biến động mà có lẽ trước đây chưa có bao giờ. Do đó, trẻ con bị tra tấn nhiều mặt về tinh thần cũng như vật chất, nói không thể xiết. Những điều đó xét cho cùng đều có nguyên nhân phần lớn do người lớn không hiểu được tâm lý trẻ con.

87


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Người xưa luôn xem trọng khuynh hướng “Tiên học lễ hậu học văn”. Có nghĩa là trước phải dạy cho trẻ biết khép mình vào khuôn phép, lễ nghĩa, có lòng tôn trọng, cung kính người lớn.v.v... rồi sau mới học đến văn chương chữ nghĩa. Dạy cho trẻ biết cẩn thận gấp thẳng nếp một bộ quần áo cũng là lễ. Lễ là một khái niệm mang nghĩa rất rộng. Tất cả những gì giúp con người biết tự chế, khiêm cung và tôn trọng người khác đều nằm trong phạm trù của lễ. Người ta thường nói gia đình là tế bào của xã hội. Vì thế, xã hội chỉ có thể tốt đẹp khi có được những tế bào lành mạnh là gia đình. Muốn vậy, cha mẹ phải có hiểu biết tối thiểu về tâm lý con trẻ, phải tạo được một môi trường thật sự tốt đẹp cho sự phát triển trí đức của trẻ, biết tôn trọng người lớn, biết giữ lễ phép, đạo đức từ trong gia đình cho đến khi ra ngoài xã hội. Nếu thiếu sự chăm sóc giáo dục đúng mức thì gia đình chẳng qua chỉ như cái quán trọ tạm thời để ăn ngủ mà thôi. Có câu chuyện ngụ ngôn rất hay là, cậu nọ được cha mẹ nâng niu nuôi lớn, rồi cưới vợ cho. Thời gian sau, sanh con lớn lên rồi chỉ biết nghe theo lời vợ, bỏ bê cha mẹ không phụng dưỡng chu đáo. Đến một hôm, người vợ xúi cậu đem ông già bỏ vô núi cho rảnh. Cậu bảo thằng con vô buồng lấy cái mền đem ra cho ông nội, chuẩn bị lên xe đi. Không ngờ thằng con cắt đôi cái

88


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

mền, đem ra có một nửa. Cha nó hỏi lý do, nó nói: “Còn một nửa để dành cho cha sau này.” Cậu nọ bỗng giật mình nghĩ lại và hiểu ra, số phận mình rồi ra sau này cũng sẽ như vậy. Cậu liền hối hận, bãi bỏ việc đem bỏ cha mình vào núi. Trong kinh Phật nói về công ơn cha mẹ và bổn phận của các bậc cha mẹ rất kỹ. Vấn đề xã hội là vấn đề quan trọng bắt nguồn từ những cá nhân trong gia đình, mà gia đình chính là nơi để chuẩn bị hành trang cho mỗi cá nhân trước khi vào đời. Như vậy, nói quanh quẩn rồi cũng phải trở lại từ chuyện tu thân trước nhất. Ở Á đông, bất cứ xã hội nào, sự liên đới trách nhiệm và bổn phận cá nhân, gia đình, xã hội là một sự khắn khít chặt chẽ. Sống là sống chung với mọi người, không thể chỉ biết bo bo ích kỷ nghĩ đến những việc lợi riêng cho bản thân mình. Mà xét cho cùng thì những mối lợi riêng bao giờ cũng chỉ là cái lợi trước mắt và luôn mang đến những tổn hại to lớn về sau. Đây chỉ lược qua những nét căn bản để ta thông cảm mà có sự hiểu biết chăm lo cho hạt giống tâm Bồđề từ tuổi trẻ. Cái mầm ích kỷ vốn luôn sẵn có và rất dễ phát triển trong mỗi con người, cho nên từ nhỏ phải chú tâm đến việc dạy cho trẻ biết nuôi dưỡng lòng vị tha, bình đẳng.

89


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Ở Nhật có nhiều trường trung học bắt học sanh mặc đồng phục bằng vải thô thường. Đó là tạo ý niệm bình đẳng, không để nảy sanh mặc cảm cho những trẻ em nghèo khó. Dĩ nhiên cũng chỉ là biện pháp tương đối thôi. Và ở nhiều trường Đại học, hết thảy sinh viên bước vào sân trường đều phải đi bộ hàng mấy trăm thước, cấm lái xe vào trường, dù trường dư chỗ đậu xe. Phần đông sinh viên đi học bằng xe điện. Làm thế cũng là để tạo ý niệm công bằng. Hay có những trường sinh viên mặc đồng phục đẹp như sĩ quan, thì đó cũng là tạo ý niệm bình đẳng. Họ rất có nề nếp kỷ luật. Một hôm, tôi thấy sinh viên đi hàng hàng lớp lớp đông vô kể, mới chặn một sinh viên lại hỏi, anh ta cho biết là họ đang biểu tình đòi đảo Okinawa (năm 1969). Tôi mời anh ta đi chơi với tôi để trò chuyện. Anh gật đầu, nhưng quay lại xin phép trưởng toán rồi mới tách khỏi hàng ngũ. Sự phát triển của mỗi một cá nhân đòi hỏi nhiều yếu tố, nhất là lòng thương và sự hiểu biết. Phải dạy cho trẻ có ý niệm về bổn phận với chính mình, gia đình và xã hội, với mọi người chung quanh. Đó cũng là xây dựng nền tảng cho tâm Bồ-đề.

90


ĐỪNG ĐỂ TÂM BỒ-ĐỀ THỐI THẤT

N

gười xưa hay dùng thành ngữ “xúc sự diện tường” để chỉ những trường hợp bế tắc, không giải pháp, không lối thoát. Nghĩa đen của thành ngữ này là “gặp việc quay mặt vô vách”, ý nói kẻ không có trình độ hiểu biết hay năng lực ứng phó, khi đối mặt với một việc gì thì chỉ biết trơ trơ như người quay mặt vô vách, không biết phải làm gì. Trong thực tế đời sống, hầu hết chúng ta khi “gặp việc” đều có những lúc tuy không đến nỗi phải “quay mặt vô vách” nhưng lại ứng phó, xử sự không thích đáng, không hợp với đạo lý, và do đó mà thường phải chuốc lấy khổ đau nhiều hơn là an lạc. Nói về xúc sự thì tai mắt ta tiếp xúc hằng ngày nhiều nhất. Thức dậy là bắt đầu nghe, nhìn. Mắt tiếp xúc vạn mối. Cái ham nhìn của mắt, trong kinh đức Phật có dạy: “Cái ham nhìn của mắt không bao giờ chán, như biển nuốt trăm sông vẫn không bao giờ đầy. Thầy tỳ-kheo khi nhìn không giữ tướng riêng và tướng chung…” (Tướng chung là khái niệm chung về sự việc, tướng riêng là sự việc cụ thể đó, hay nói theo Hán ngữ là tổng tướng và biệt tướng.)

91


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Tai và mắt, hai giác quan này tạo nên giá trị tồn tại cho con người. Nhờ thấy nghe mà ta có hiểu biết, có suy tư, từ đó tri thức tăng lên. Hai giác quan ấy như hai bến cảng quan trọng đưa hàng hóa ấn tượng vào kho tàng thức A-lại-da. Trong xã hội, nhất là xã hội thành thị, do mối tương quan tiếp xúc với đông đảo người nên khả năng nghe nhìn phát triển nhanh và mạnh, từ đó mà trí khôn ngoan cũng như tính năng động đều phát triển theo kịp mọi biến chuyển khắp nơi trên thế giới, việc nói năng sử dụng được nhiều từ ngữ phong phú. Từ ngôn ngữ phong phú lại giúp cho trí khôn ngoan càng phát triển hơn nữa, khả năng tư duy nảy sanh nhiều biểu tượng, hình ảnh diễn đạt, khiến cho các khái niệm thuộc phạm trù triết học cũng phong phú hơn. Nguồn tâm bao la nên muốn diễn đạt phải cần nhiều khái niệm trừu tượng, hoặc biểu tượng hình ảnh cụ thể. Nói chung, khả năng nghe nhìn đã tạo ra văn minh, nhất là chiều sâu của tư tưởng. Những dân tộc lớn có lịch sử lập quốc lâu dài thì kho tàng ngôn ngữ phong phú, làm nên cội nguồn văn minh lớn. Ngôn ngữ là sản phẩm đặc biệt của con người, động vật cũng có một số ngôn ngữ nào đó, nhưng không

92


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nhiều, chỉ là những dấu hiệu, tiếng kêu. Con người nhờ có ngôn ngữ mới có nảy sanh sự thông cảm, hiểu biết nhau. Chỉ khi nào xúc động đến cực kỳ thì ngôn ngữ mới không đủ khả năng diễn tả. Thế giới bao la của dòng thức tâm sanh hóa trùng trùng như ta đi máy bay, còn ngôn ngữ như đi đường bộ. Do vậy, cái xúc sự nhiều nhất chính là tiếp xúc bằng ngôn ngữ, tức tai nghe, vì khả năng nghe là nhiều nhất. Cái nghe được kích động bởi tính ham nghe, nhất là nghe những chuyện lâm li bi đát nào đó, nghe chưa hết còn muốn tìm nghe thêm. Đó cũng là thói quen, là loại tâm lý quần chúng hiếu kỳ. Thế nên, khi ta đi về hướng chánh pháp, đức Phật cũng dạy phải nỗ lực mạnh mẽ tìm nghe chánh pháp, như thế mới có kết quả, gọi là nghe pháp có tác ý. Được nghe rồi còn phải suy ngẫm cho sâu và ứng dụng những điều đã nghe vào thực hành, gọi là văn, tư, tu. Bởi từ lâu đời ta đã tập quen cách nghe với tâm tán loạn, hướng theo trần giới với vô số chuyện để nghe, nên năng lực nghe hiểu tất nhiên phải bị giảm sút. Nói cách khác, ta thường chỉ nghe có nửa lỗ tai thôi, hay thậm chí không đến một nửa. Chính vì thế, trước khi nói pháp, đức Phật bao giờ cũng ngồi an nhiên một lúc để cho tâm hồn thính chúng

93


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

lắng sâu an tĩnh, thở nhẹ, thần trí lặng yên, rồi Ngài bảo hãy lắng nghe kỹ, nghe kỹ. Kinh văn trong Hán tạng dùng chữ đế thính. Đế thính đã trở thành truyền thống tốt đẹp và rất có giá trị đối với người học Phật pháp, cũng là truyền thống của các bậc thánh triết. Thánh nhân nhiều vị rất ngại nói, bởi sợ lời mình nói kẻ nghe chỉ nghe có một nửa rồi làm sai lầm, gây nguy hại. Thế giới nội thức tâm linh ít người nhận hiểu được, vì nó sâu thẳm nên người nghe nói không phải dễ nhận hiểu ra. Phải lắng nghe, suy ngẫm kỹ mới có thể nhận hiểu. Trong Phật giáo, càng đi sâu vào sự nội chứng thì ý nghĩa càng sâu rộng, ngôn ngữ chỉ là những sự gợi mở những gì thiết cận, gần gũi, còn phạm trù giác ngộ kia thì không thể diễn đạt bằng lời. Trong Phật giáo, lời nói cũng như mọi cách diễn đạt khác chỉ được xem là phương tiện giúp người nhận hiểu, hiểu được rồi thì phải bắt tay vào làm, thực hành ráo riết, không cần bám víu vào văn tự, ngôn ngữ nữa. Đọc văn tự mà không nhận hiểu và ra sức thực hành thì vô bổ, còn gây hại là làm người khác tưởng lầm rằng mình đã chứng đắc, mà thực ra mình chẳng đạt được ý nghĩa trong lời kinh. Sự chứng đắc có được là do nhận hiểu rồi thực hành, không phải chỉ đọc kinh mà được. Kinh

94


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

văn chỉ mô tả bóng dáng của chân lý, là phương tiện để dẫn dắt người vào đường tu học. Nếu người nghe kinh mà không tự mình bước vào con đường tu tập thì chẳng ích lợi gì. Đức Phật từng bảo Bồ Tát Văn Thù rằng: “Ta từ khi chứng ngộ chân lý cho đến nhập Niết-bàn ở rừng Sa-la này, chưa hề nói một lời.” Câu ấy nhằm bảo cho ta biết là đừng bám chấp vào văn tự, cũng không lìa ngoài văn tự, phải xem kinh điển là phương tiện, là bè phao đưa ta sang sông ngu dốt. Qua sông bỏ bè. Mọi pháp lành, trong Phật pháp đều xem là những bè phao cả. Khi giữ giới mà không còn ý niệm chấp tướng giữ giới thì mới đi tới chỗ liễu đạt, bởi khi ấy giới đã hòa nhập trong ba nghiệp thành một khối tự nhiên rồi. Mọi cái có khả năng khởi diệu dụng là khi nó và ta không còn ngăn cách bằng lằn ranh phân biệt chủ thể và đối tượng, mà là hòa nhập vào nhau thành một khối duy nhất. Về kinh nghiệm này, người ta thường kể chuyện có anh thợ săn nọ, trời mờ tối trở về nhà, nhìn phía trước thấy một con cọp ngồi. Anh ta liền nép vào một bụi cây, giương cung gom hết tâm lực sanh buông phát tên duy nhất, bởi anh chỉ còn một mũi tên ấy thôi. Rồi sau đó anh nép qua lối khác phóng nhanh về nhà. Sáng ra anh vội tới chỗ hồi hôm bắn tên, mới nhận ra con cọp

95


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tối qua thật ra chỉ là một khối đá, nhưng điều lạ lùng là mũi tên anh bắn đã cắm sâu vào khối đá ấy. Chuyện này có thể nói lên sức mạnh của sự quyết tâm, hay nhất tâm, bởi khi ấy tất cả tâm trí anh thợ săn đổ dồn vào mũi tên sống chết đó nên đưa đến kết quả vượt ngoài sức tưởng tượng. Tâm tư, ý nghĩ, hành động khi ấy được dồn cả về một mục tiêu duy nhất là bắn hạ con cọp để giành sự sống cho mình, do vậy mới đạt kết quả hy hữu như thế. Người ta cũng kể kinh nghiệm về âm thanh ở trường hợp nhất tâm. Một nhạc sĩ tài ba nọ khi đàn thì có hạc bay tới chầu. Một người ham mê nhạc đến học đàn với ông rồi về đàn mãi, mong hạc tới chầu nhưng chờ hoài vẫn không thấy. Anh trở lại chỗ thầy học hỏi lý do. Thầy giải thích là do anh đàn mà có lòng mong chờ nên tiếng đàn chưa hay, hạc không tới chầu. Chỉ khi nào chú tâm vào tiếng đàn đến mức không còn để ý chuyện hay dở, chỉ một mực dồn hết bình sanh tâm trí vào việc chơi đàn, không có gì khác xen tạp vào thì khi ấy tự nhiên tiếng đàn sẽ trở nên hay tuyệt, ắt phải có hạc tới chầu. Sự cảm thông của thế giới tâm linh huyền diệu lắm, như người tu tập tâm từ bi đến mức siêu việt thì cơ thể

96


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tỏa ra làn sóng từ bi, có thể làm cho cỏ cây xanh tươi, cầm thú cảm phục. Sách vở từng nói xưa kia có nhiều vị tu thiền trên non cao, có hổ tới nằm mọp nghe pháp. Đó là vì khả năng của tâm từ đã đi tới mức cùng tột nên có sự cảm ứng là lẽ tự nhiên. Ngày nay, chúng ta tuy tu hành bất sát nhưng tập khí sát hại vẫn còn không ít trong kho tàng A-lại-da thức. Tập khí là mùi hôi của thói quen cũ, như cái bình đựng chất hôi hám lâu năm, dù đã súc rửa sạch cũng vẫn còn mùi hôi. Mọi tâm lý trong ta cũng vậy, dù nay đã cố công tu hành dẹp sạch, nhưng vẫn còn sót lại hơi hám cũ của những tập khí sát, đạo, dâm.v.v... Trong kinh có kể lại câu chuyện một lần thầy Xá Lợi Phất và đức Phật đang đi kinh hành một nơi, bỗng có con chim bị kẻ khác bắn hụt, bay sà đến đậu lên vai thầy Xá Lợi Phất nhưng run rẩy, chim liền bay qua đậu lên vai đức Phật, rồi đứng im an ổn, không còn run sợ. Thầy Xá Lợi Phất hỏi nguyên do, đức Phật giải thích là dù thầy đã tu tập chứng quả A-la-hán, nhưng vẫn còn tập khí sân hận nên khiến chim run rẩy. Những điều trên nói lên rằng sự thanh tịnh hoàn toàn của tâm phải trải qua cố gắng lâu dài nhiều kiếp mới có được, bởi tâm tính phiền não cấu uế của ta đã bao đời chìm đắm trong tham ái, sát hại, sân hận...

97


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

phải nỗ lực hành trì theo chánh pháp lâu ngày mới có thể gột rửa dần. Tâm Bồ-đề là tâm Phật, là tâm từ bi, trí tuệ. Tâm ấy thường còn nơi mỗi chúng sanh, không biến đổi, không hư hoại, nhưng chúng sanh do vô minh che lấp mà chẳng nhận ra được. Người tu tập phải nỗ lực kiên trì dập tắt lửa tham sân, phá tan bức màn vô minh che đậy thì mới hé lộ được tâm sáng suốt tự nhiên đó. Muốn vậy, trước hết người tu phải tập nuôi dưỡng tâm vị tha, biết thương yêu, quan tâm đến người khác một cách bình đẳng, vô vụ lợi. Xuất phát từ tâm vị tha ấy mà sanh khởi đại nguyện, cầu quả Phật chỉ để cứu vớt chúng sanh chứ không phải vì sự giải thoát cho riêng mình. Trong kinh điển Đại thừa dạy rằng, người tu nếu chỉ mong cầu sự giác ngộ cho riêng mình là làm thui chột mất hạt giống tâm Bồ-đề, không thể nào đạt được Phật quả. Trong mỗi con người đều chất chứa đầy dẫy những tâm hành sản sanh từ ngã chấp, ngã sở ái, là bám chấp vào một cái ta giả tạm rồi sanh lòng yêu thích, mê đắm những gì được xem là của ta. Dưới ánh sáng trí tuệ thì cái ta chỉ là một tên gọi, một sự giả hợp, nhưng do chấp ngã mà chúng ta luôn xem nó như trung tâm vũ trụ, như đối tượng quan trọng nhất, cao siêu ghê gớm nhất, và bất cứ những gì ta thấy hoặc

98


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nghe được thì bản ngã ta lập tức bám chấp vào đó một cách kiên cố. Nghe ai khen ngợi thì khoái ý, thích thú, còn nghe ai chế nhạo, chê bai ta hay những gì ta yêu thích thì lửa sân hận lập tức bừng lên. Lửa sân hận có sức thiêu đốt ghê gớm không kém gì lửa tham dục. Lửa giận sau khi bùng cháy dữ dội, dù có bị dập tắt đi cũng vẫn còn lại sự hận thù như lửa than âm ỉ trong tro bếp. Lửa tham dục thì vừa dữ dội vừa tồn tại dai dẳng, ăn sâu trong tiềm thức. Dù vậy, nếu có quyết tâm mãnh liệt thì ta vẫn có khả năng chế ngự và làm cho sân hận với tham dục đều tiêu mòn dần bằng sự tỉnh giác thường xuyên của nguyện lực hướng về đời sống giác ngộ. Trong tâm thức ta có một loại thức chuyên dành để bảo vệ bản ngã cực mạnh, gọi là Mạt-na thức. Nó là pháo đài bảo vệ bản ngã. Hoạt động của nó thường vượt qua ý thức, nhạy bén như một ra-đa tinh vi. một lời nói chê bai lọt vào tai là đi thẳng tới pháo đài Mạtna, nó liền kích hoạt sự phản pháo. Khi có chuyện bôi đen hay động chạm đến bản ngã là thức Mạt-na lập tức làm sanh khởi sự giận dữ nguy hại khôn lường. Do đó, chuyện tối quan trọng trong đời sống này là phải tu tập nhẫn nhục bằng sự cảnh tỉnh thường xuyên, nhất là khi gặp việc phải nhớ bình tĩnh, tỉnh

99


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

giác. Ý chí tu tập nhẫn nhục là một động lực mạnh mẽ luôn giữ cho ta không bốc lên những cơn giận kinh khiếp. Kinh dạy rằng: “Một đốm lửa giận nổi lên thiêu rụi cả rừng công đức.” Do vậy, phải biết chế ngự sự giận dữ. Mọi nghịch cảnh do mắt thấy tai nghe, ta đều phải hóa giải bằng sự hiểu biết, buông lìa, không để bụng với hận thù. Giận là do thói quen bám chấp bản ngã. Tu tập tâm Bồ-đề thì phải biết nuôi dưỡng bằng nguồn nước hỷ xả. Mọi khó khăn gay gắt bực bội trách móc sẽ làm tàn lụi hạt giống tâm Bồ-đề ban sơ. Sách nói: “Phòng ý như thành, thủ khẩu như bình”, có nghĩa là chăm giữ ý mình như lính canh giữ thành chống kẻ gian lẻn vào, giữ miệng như bình có đậy nắp kỹ. Miệng nói nhiều, lời nói đưa thẳng vào tai nghe, khiến lửa giận bùng cháy. Tu tịnh khẩu (không nói) một thời gian nào đó cũng là một điều hay. Ở đời, lời nói là dễ hơn hết, mở miệng là thành lời. Có nhiều người ham nói, nói đủ thứ chuyện, trong đó hầu hết nhằm đề cao bản thân mình. Có người nói để khoe khoang sự hiểu biết... Cách nói, giọng nói, điệu bộ nói... thật là vô số và mục đích nói cũng vô số. Người xưa dạy rằng: “Nhật dạ thường tư kỷ quá, nhàn đàm mạc luận tha phi”, có nghĩa là đêm ngày

100


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

luôn tự suy nghiệm lỗi lầm của mình, khi nói chuyện với người chớ bàn luận về lỗi xấu của người khác. Tu tập theo hạnh Bồ Tát là không nói lỗi xấu của người khác. Chỉ cần giữ được điều này thì tâm Bồ-đề cũng đã tiến triển phần nào rồi. Người xưa nói: “Bịnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”, có nghĩa là bịnh do ăn uống không kiêng cử những món ăn không thích hợp, tai họa cũng do miệng nói ra thiếu đắn đo suy nghĩ. Lời nói gây giận dữ, đưa đến thảm họa. Lịch sử đông tây kim cổ có biết bao chuyện đáng sợ chỉ do lời nói xấu gây nên. Bậc thánh nhân đi tới chỗ vô cầu, không còn vì bản ngã hay bất cứ quyền lợi nào ở trần gian, cho nên không nói dối. Phần đông người ta nói dối nhằm mưu cầu lợi dưỡng cho bản thân, che giấu cái bí mật – thường là xấu kém – của bản ngã. Trẻ con bắt đầu nói dối khi tự thấy bản ngã của chúng có điều gì đó cần che giấu. Có người đau khổ suốt kiếp chỉ vì một lời nói, ấy là bởi họ chấp ngã quá nặng. Có người nhờ một lời nói mà kích phát chí tiến thủ, đạt thành công trong đời. Xưa kia đại sư Huyền Giác dù đã chứng ngộ nhưng chưa có ai ấn chứng nên còn mơ hồ, được Huyền Sách giới thiệu liền tìm đến Lục tổ Huệ Năng, qua lời đối đáp mà bừng ngộ trọn vẹn, được Tổ ấn chứng.

101


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Lời nói có giá trị cao cả là lời có ý nghĩa xây dựng. Do vậy, tu dưỡng tâm Bồ-đề thì phải cẩn thận lời nói và luôn luôn tỉnh giác để sự thấy nghe của mình được lắng sâu, không để những điều thấy nghe kích động lửa giận đốt cháy công đức, làm tổn hại hạt giống tâm Bồ-đề. Nhiều người khi chưa gặp việc thì luôn có dáng vẻ thanh thoát, an tĩnh, đến lúc gặp việc thì lửa sân hận lập tức bùng lên. Vì thế, công phu tu tập thực sự là làm sao để khi giao tiếp với nhiều người, nhiều tính khí, trong nhiều hoàn cảnh, ta vẫn luôn có sự tỉnh giác đối với mọi sự việc. Như vậy, có gặp việc thì mới có cơ hội rèn luyện, sự tu tập mới tiến triển, nội lực mới thực sự được mạnh mẽ, mới có được sự nhẫn nhục trong lúc thấy nghe, từ đó chế ngự được tham sân và buông xả chấp ngã. Việc dần dần trừ bỏ chấp ngã, không xem mình là nhân vật trung tâm, quan trọng, không tự cao tự đại, tự mãn tự kiêu. Người khiêm tốn chân thật, khoan dung thân ái thì ai cũng quí mến, còn kiêu ngạo thì dễ khiến mình bế tắc mà không tự biết. Trong kinh điển xem kiêu ngạo là một cản trở lớn trên đường tu tập. Cống cao ngã mạn đều là sự bộc lộ của ngã chấp, xem cái ta là cao cả, quan trọng. Người chân chính, tri thức

102


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

vững vàng thì ít khi kiêu ngạo, còn kẻ hiểu biết chưa được bao nhiêu thì lại thường kiêu ngạo, tự tôn. Đức dũng mãnh trong Phật pháp chính là mạnh dạn gạt bỏ những nhút nhát yếu hèn. Gạt bỏ được sự tự ti cũng là một pháp tu, phải tỉnh giác, nhận biết và rèn luyện tâm trí để phát triển. Sự quyết chí là tối cần. Hết thảy mọi tính nết xấu nếu quyết tâm với tỉnh giác thường xuyên muốn cắt bỏ thì chắc chắn sẽ thành công. Điều quan trọng là phải có đủ nhiệt tâm, sự quyết chí cao cả, với nguồn nội lực quyết tâm thì mọi trở ngại đều vượt qua được. Tu hành chỉ sợ đánh mất nhiệt tình sơ tâm, cho nên Tổ nói: “Như sơ tâm thành Phật hữu dư”, có nghĩa là luôn luôn giữ được nhiệt tâm với chí nguyện dũng mãnh như buổi đ���u tu tập thì thừa sức thành Phật. Sự bê trễ, bỏ dở giữa đường thường là do thiếu sự hiểu biết, thiếu bạn bè khuyến tấn, thiếu tiếp xúc thường xuyên với kinh điển, với đông đảo bạn tu có chí hướng. Qua ngày tháng sống buông thả theo thói quen, nặng về sự tướng mà quên mất chân ý nghĩa, nên lý tưởng lu mờ, tâm Bồ-đề phải thối thất. Do vậy, muốn nuôi dưỡng tâm Bồ-đề phải nhờ vào nhiều thiện duyên như gặp được pháp lữ, bạn đồng tu có chí nguyện, tiếp xúc với người thông thái để học hỏi và thường sống trong môi trường vắng lặng, an tịnh, hay ít nhất thì

103


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thỉnh thoảng cũng phải tìm về những nơi thanh vắng để tâm hồn được thanh thản tịch tịnh. Phải có những giờ phút lắng sâu trong tịch tịnh để tâm hồn được an ổn, tĩnh lặng. Nhờ vậy, khi trở lại với môi trường sống thường ngày ta sẽ có thêm nội lực, điềm đạm khinh an hơn. Việc hạn chế lo nghĩ, buông xả mọi việc để chú tâm vào sự tu tập cũng sẽ giúp ta mở rộng tâm hồn, từ đó mới có thể thảnh thơi với đám mây bay, với hàng cây hay tiếng chim hót... Tâm an tịnh sẽ tự nhiên trở nên sáng suốt và nhờ đó mà nuôi dưỡng được hạt giống tâm Bồ-đề.

104


LÀM SAO ĐỂ PHÁT TÂM BỒ-ĐỀ?

K

inh Vô Lượng Thọ nói: “Tin sâu nhân quả là phát tâm Bồ-đề.” Định nghĩa ấy thật hay và dễ hiểu. Còn nhiều định nghĩa khác nhưng thường là cao siêu, khó hiểu hơn. Dĩ nhiên, người có tâm Bồ-đề bao giờ cũng mong muốn mình thành tựu kho tàng công đức, làm lợi lạc chúng sanh mãi mãi. Nhân quả là nhân quả ở tự tâm, lý ấy sâu sắc, nó là nguyên lý như thế, không phải do đức Phật tạo ra. Ngài chỉ là người thuyết minh sáng tỏ và chỉ rõ chỗ tối trọng của nó, làm cho nó trở thành giáo pháp tối yếu của đạo Phật. Dù người chưa quy y Tam bảo nhưng biết tin luật nhân quả, không tạo nhân ác mà thường gieo nhân lành thì cũng được hưởng quả báo tốt lành. Không có thế lực nào ngăn cản được sự chuyển biến tự nhiên của nhân quả. Thường người ta lấy thí dụ ở thực vật đơn giản cho dễ hiểu, như trồng giống dưa ra dưa, trồng khổ qua ra khổ qua v.v… Nhưng thật ra thì lý nhân quả ở tự tâm vô cùng phức tạp, bởi dòng thức tâm biến động triền miên, một ý nghĩ ác, một hành động ác nhưng liền đó lại khởi sanh một ý lành, một hành động lành.

105


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Thiện ác cứ đan xen lẫn nhau, nên sự trổ quả cũng không đơn giản như trồng dưa nhứt nhất định có dưa. Lý nhân quả đi theo con người từ nhiều kiếp, nhiều đời chứ không giản đơn một đời. Nếu không hiểu thấu thì dễ sanh lòng bất tín, bởi thấy có nhiều kẻ ăn ở ác đức mà vẫn được giàu có sung sướng, trái lại nhiều người suốt đời làm lành mà cứ gặp toàn những chuyện bất hạnh. Kinh Phật dạy rằng: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị”, nghĩa là: muốn biết nhân đời trước thì hãy xem cái người ta đang nhận lấy trong đời này, muốn biết quả đời sau thì hãy xem cái nhân người ta tạo trong đời này. Kẻ ác đời này mà vẫn sung sướng, ấy là họ đã tạo nhân lành đời trước. Nhưng điều ác bây giờ rồi sẽ trổ quả trong đời sau. Việc những kẻ làm ác phải chịu quả báo nhãn tiền cũng có, tùy thuộc vào các duyên. Chẳng hạn, nhân đời trước xấu, bây giờ tiếp tục làm chuyện ác, như chén nước đã đầy nên chỉ thêm vài giọt là tràn. Không ai thoát khỏi luật nhân quả. Khi vẫn còn bị đắm sâu trong vòng chấp ngã thì nhân quả vẫn còn có điều kiện phát triển, tức là dòng thức tâm còn ô nhiễm trong mọi bám chấp với sự tác ý. Sự hình thành của nghiệp luôn chịu sự chi phối bởi hoạt động của ý thức. Khi làm một việc xấu với sự cố ý, chủ tâm thì nghiệp

106


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

xấu của việc làm đó sẽ mạnh mẽ hơn, nặng nề hơn so với kẻ vô tình mắc phải. Vì thế, người tu tập phải nỗ lực dứt trừ chấp ngã. Kinh dạy rằng, dù làm một việc lành lớn lao đến đâu nhưng với tâm chấp ngã thì phước đức chỉ nhỏ nhoi như hạt bụi; trái lại, nếu làm một việc lành nhỏ nhặt nhưng không hề có sự chấp ngã thì phước lớn như núi Tu Di. Nhân quả nghiệp thức không phải là một khối bất biến trong kho tàng thức tâm, mà luôn biến đổi bởi sự liên tục tạo thành những chủng tử mới. Khi những chủng tử mới là đồng loại, đồng dạng thì những chủng tử trước đây sẽ ngày càng lớn mạnh thêm Trong kinh Hạt Muối, đức Phật nói ví dụ rằng, một vốc muối cho vào chén thì mặn chát không uống nổi, vì quá ít nước;. nhưng nếu đem quăng vốc muối xuống sông Hằng thì uống nước sông không hề thấy mặn. Làm ác, gia tăng hành động ác cũng như vốc muối trong chén cứ gia tăng muối. Hành động ác chỉ một vốc mà bao vây bởi hành động thiện bao la như sông Hằng thì cái ác kia phải chuyển đổi, tan biến thôi. Tâm thức là biến động, thay đổi liên tục nên mới có thể tu tập từ phàm lên thánh. Nếu hành động nhân quả nghiệp thức làm một lần rồi cố định thì không thể có chuyện tu tập hướng đến giải thoát.

107


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Tin sâu nhân quả là biết chắc mọi việc đều do ở chính tâm mình, mà với con mắt tâm thì không thể che giấu điều gì được. Người ngoài không biết, nhưng bên trong tâm thì giấu sao được. Trong Phật pháp nói về nhân quả tội phước rất sáng tỏ. Những kẻ không tin nhân quả thì đó là tự hủy mình. Khi không tin nhân quả thì con người dễ trở nên hung tàn dữ dội, gây tạo vô số nghiệp nhân, khó lòng chuyển đổi. Dù có dùng hình luật khắt khe nghiêm trị cũng không đủ để người ta từ bỏ việc xấu ác, bới pháp luật dù sao cũng có thể tránh né, trốn chạy được. Người tin sâu nhân quả thì không cần đến pháp luật kiềm chế, tự mình vẫn luôn lánh dữ làm lành. Vì thế, từ bao đời qua luật nhân quả đã giữ cho đời sống con người luôn tốt đẹp. Đời sống mỗi con người, trong bí mật âm thầm vẫn còn những dây mơ rễ má từ đời quá khứ, gọi là phước lực, nghiệp lực, cũng góp một phần lớn vào kết quả hiện tại. Do vậy, đôi khi ta đã làm hết sức nhưng có thể ít phước lực tốt nên kết quả không trọn. Mọi việc khi được nhìn dưới ánh sáng của lý nhân quả sẽ có thể hiểu được tường tận. Tin nhân quả sâu sắc thì không còn mơ hồ là mình làm ác mà có thể nhờ ai cứu vớt, vì cuối cùng không thể thoát khỏi nghiệp quả.

108


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Người tin sâu kiên cố vào lý nhân quả là người luôn dũng cảm đối mặt với mọi hoàn cảnh, bởi khi gặp khó khăn hoạn nạn thì tự hiểu do mình còn có nghiệp quả cũ, nên càng cố gắng hơn nữa với mọi chuyện làm ích lợi lương thiện cứu giúp, tin chắc việc làm ấy sẽ có quả tốt, không sai chạy, không hoang mang vì một vài hiện tướng trước mắt. Phật pháp đặt trọng tâm vào việc dạy bảo cho ai nấy thấy được cội nguồn của đau khổ mà dừng bước, dứt nhân, thì lý nhân quả chỉ rõ, cho nên khi tin nhân quả là tin Tam bảo, tin Phật sâu sắc, bởi Phật là đấng chân thật, có trí tuệ thấu suốt cơ cấu phức tạp của nhân quả do sự biến động của tâm thức, nên Ngài chỉ dạy không lầm lẫn. Từ đó có lòng tin, tâm Bồ đề phát triển. Tâm Bồ-đề là tâm sáng suốt biết rõ mọi sự đều có nhân quả, mọi sự do nhân duyên sanh, trong đó, sự chuyển biến mãnh liệt thức tâm rất quan trọng. Tin sâu nhân quả nên ta sống đời chân thật ung dung tự tại, có cái nhìn thấu suốt sáu cõi luân hồi và ở đây, thấy vòng nhân quả trùng trùng không mất, chỉ có biến chuyển và biến chuyển, nên ta cố gắng biến chuyển thức tâm cho hạt giống Bồ-đề sáng lên, không run sợ trước bất cứ điều gì cả. Ánh sáng nhân quả soi khắp Ba cõi, hiểu rõ nhân quả tức là đạt được sự sáng suốt của tâm mình, đi mãi

109


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

trên thiện nghiệp kiên cố thì tự mình đạt quả phước an lạc ngay trong hiện tại và mở đường tiếp nối an lạc kế tiếp. Tin sâu lý nhân quả là mở đường giải thoát, không còn tin vu vơ vào cái gì khác ngoài bản thân mình, chấp nhận rằng mọi việc đều do mình làm mình chịu. Từ đó tin vào chí nguyện của chính mình, có khả năng đạt tới giác ngộ, thành Phật, thoát khỏi mọi khổ lụy trong Ba cõi. Chỉ trong Phật giáo mới có lòng tin chân chính vào năng lực con người như thế. Giá trị lớn lao của Phật giáo là làm sáng lại giá trị con người bằng nỗ lực của ý chí mình mà thành bậc Thánh triết từ lý nhân quả chín chắn sáng tỏ. Theo Câu Xá quang ký thì nghiệp thân khẩu ý lấy tư làm bản chất. Tư tức là suy nghĩ. Theo Đại thừa thì ý là quan trong trong việc tạo nghiệp, tức mọi hành động thân khẩu ý với sự cố ý là nghiệp. Nghiệp nhân quả báo luân hồi là một chùm liên quan chặt chẽ, tức dòng thức tâm trôi chảy băng qua mọi hành động của thân khẩu ý hằng ngày, đó là nghiệp nhân. Nhân ấy đã phóng ra thì phải trổ quả quyết định. Đó là trên nguyên lý, còn thực tế thì chuẩn bị cho trổ quả còn đòi hỏi nhiều yếu tố về điều kiện, cho nên nghiệp cực ác thì bởi sức mạnh dữ dội của tâm ý khi phóng ra hành động như giết cha mẹ, A-la-hán, phá

110


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

hòa hợp tăng, làm thân Phật ra máu, gọi là ngũ nghịch tội, tội ấy chắc chắn phải chịu quả đau khổ tức thì, như mũi tên bay cực mạnh cực nhanh cắm ngay vào đích. Những nghiệp khác như tên bay hơi chậm, giữa đường có thể gặp gió cản làm đổi hướng, chẳng hạn như vừa thực hiện xong hành động ác hay ngay trong hành động ác mà có khởi lên một ý lành dù nhỏ nhặt nào, thì kết quả sẽ có phần khác đi. Có những trường hợp phức tạp như tác ý rất mạnh nhưng phương tiện thực hiện nhẹ, không tạo hậu quả nặng nề lắm; lại có khi tác ý không mạnh mẽ nhưng gặp phương tiện thực hiện mạnh mẽ nên gây hậu quả nghiêm trọng. Chẳng hạn như người cố ý giết người khác nhưng do sử dụng phương tiện nhẹ nên người kia không chết, ngược lại dù không cố ý lắm nhưng do sử dụng lưỡi dao cực bén nên người kia chết ngay, thì kết quả đều khác nhau. Nếu với sự cố ý làm mãi một nghiệp xấu ác thì ác nghiệp đó quyết định không sai chạy, phải nhận lấy quả khổ đau nhiều kiếp. Trái lại, kiên trì làm việc thiện mãi với tâm quyết định thì chắc chắn sẽ được quả an vui. Kinh Tứ thập nhị chương dạy rằng: “Không dứt tâm ác thì biển nghiệp càng sâu.” Trong kinh ví nghiệp của chúng sanh như tấm lưới, gọi là lưới nghiệp, hàm ý là

111


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

mọi sự ham mê tạo nghiệp cũng giống như tự mình dệt lưới trói mình trong đó, vừa chết thì thân trung ấm thoát đi nhanh không gì cản nổi, tìm ngay nơi thọ thân sau để gá vào. Vì thế, thân tuy chết nhưng dòng nghiệp thức vẫn cuồn cuộn chảy theo hướng ham mê cực mạnh ấy, cho nên nói nghiệp xô đẩy chúng sanh trôi mãi trong sống chết liền nhau không dứt. Luận Chỉ quán ví nghiệp như sợi dây: “Chưa cắt đứt sợi dây nghiệp thì cứ trở đi trở lại mãi trong ba cõi.” Đời sống chúng ta tiếp nối ngày đêm với mọi hoạt động đều là tạo nghiệp, đủ loại nghiệp thiện ác đan xen quấn chặt vào nhau. Người tu tập phải hiểu lý nhân quả để dần dần đưa mọi hành động thân khẩu ý của mình đi vào nghiệp thanh tịnh, không tham đắm trần cấu khát khao, bởi ấy là động lực tạo nghiệp đeo níu mãi vào tái sanh. Hành động vị tha, làm lợi ích chúng sanh là tạo nghiệp thanh tịnh, xả ly dần dần, sẽ đạt quả an vui là lìa khỏi sự quay vòng tái sanh trong ba cõi. Dòng biến chuyển liên tục thay đổi của tâm thức khiến cho mối quan hệ nhân quả trở nên phức tạp và thay đổi cực kỳ nhanh chóng. Người phạm vào một tội ác không có nghĩa là vĩnh viễn hứng chịu tội lỗi đó, bởi việc khởi sanh các hành động khác có thiện ý có thể làm cho quả báo của tội trước thay đổi khác đi. Kinh

112


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nói: “Tội tính vốn không”, có nghĩa là bản chất của tội vốn không cố định. Nếu bản chất tội báo là cố định thì tâm ta sẽ mãi đen tối như địa ngục, không còn năng lực nào phá tan nó nổi. Nhưng bởi tội tính vốn không, bản chất không cố định, nên ta mới có thể dùng nguyện lực, ý chí để thay đổi hành vi, tác ý khiến cho tội báo kia đổi dạng, đổi chất. Kinh nói, hết thảy tội đều do tâm tạo nên đem tâm sám hối là tội tiêu tan. Sám hối tức là chuyển biến tâm cực mạnh, kiên thệ không làm như thế nữa, tội chấm dứt từ đó. Kinh nói, tội như sương mù bao la kia, tâm hướng thiện cực mạnh là tia nắng nóng xua tan hết sương mù. Kinh Duy Ma Cật nhấn mạnh ở điểm: “Đừng bao giờ để tâm ý bị lún sình trong tội lỗi mà làm tâm Bồ-đề bị tan hoại”. Kinh ấy còn nói: “Có tội mà biết ăn năn sám hối thì quí hơn người không mắc tội.” Sám hối tức là bộc bạch, phơi bày tội lỗi ra giữa đại chúng chứng giám, cho nên đó là hành động can đảm của quyết tâm, minh bạch không giấu giếm, nhờ đó mà mặc cảm tội không còn lởn vởn làm che mờ tâm thức. Nếu thành khẩn sám hối xong thì xem như đã trừ dứt, xóa tan mọi vết nhơ của tội lỗi. Kinh Tứ thập nhị chương nói: “Có tội mà sám hối phơi bày ra thì giống như người bịnh uống thuốc giải cảm với nước nóng, vã mồ hôi giúp thân nhẹ khỏe.”

113


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Như vậy, uống thuốc sám hối làm cho tâm trí được khỏe mạnh, giống như giặt sạch mọi vết bẩn trên chiếc áo tâm hồn. Kinh điển thường nhấn mạnh đến việc tội lỗi sẽ tăng thêm khi người phạm tội cố tình che giấu. Che giấu tội lỗi thì tâm trí phải bị che trùm trong bầu không khí lo nghĩ đen tối, vần vũ âm u, càng lúc càng tăng thêm những đám mây đen của tội, và cứ thế tâm thức lại tiếp tục chìm sâu trong sự trói buộc của những vọng niệm do các ý nghĩ đen tối sản sanh ra. Sự gia tăng theo chiều hướng như vậy nên khiến tâm thức nhất định phải bị xô đẩy tới những cảnh giới xấu ác. Có những người do thiếu hiểu biết nên chỉ vì một lời nói lỡ lầm mà đau khổ suốt kiếp, hoặc vì một hành động xấu ác mà buồn đau suốt đời, như thế là sai lầm. Đời ta mênh mông cao rộng với chí khí lẫm liệt, tại sao cứ để nó chìm sâu mãi trong một vùng đen tối của ý nghĩ tội lỗi? Do đó, phải biết rằng sám hối là cánh cửa từ bi vĩ đại của Phật pháp. Chính tâm ý gây ra hành động xấu ác, tội lỗi, thì cũng chính tâm ấy với sự thành khẩn ăn năn hối cải, quyết không tái phạm nữa, sẽ có khả năng dứt trừ tội lỗi. Cớ sao cứ phải lẩn quẩn sống với mặc cảm tội lỗi chất chứa trong tâm thức? Do vậy, một khi nhận biết tội và thành tâm sám hối với sự tỉnh giác thì bầu trời tâm hồn đã trong sạch quang đãng rồi.

114


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Không ai muốn đắm sâu trong tội lỗi, dù là kẻ cực ác, nhưng chỉ vì không hiểu lý nhân quả, nghiệp báo nên nhiều người phải rơi vào vòng tội lỗi đen tối không lối thoát ra. Những người ấy chỉ do nhận thức sai lầm, si mê không hiểu nhân quả nên phải gánh lấy biết bao tổn hại cho đời sống. Phải từ bỏ tội lỗi một cách mạnh mẽ bằng quyết tâm hướng thiện rực sáng như nắng hè oai phong trỗi dậy, khởi tâm tích cực làm hết thảy mọi điều ích lợi, phước lành cho bao người, thay vì cứ co mình trong mặc cảm tội lỗi vì những điều sai trái đã lỡ phạm vào. Được như vậy thì con đường đi lên giác ngộ sẽ luôn luôn rộng mở đối với bất cứ ai.

115


SÔNG HẰNG VÀ PHÁP NGỮ THIẾT YẾU

B

ao nghìn năm sông Hằng vẫn chảy, vẫn lấp lánh sáng như gương, vẫn ôm vào lòng những phố thị đức hạnh đoan trang mà nó đánh giá được, vẫn chiếu soi những đền đài cổ kính mà nó hằng tôn kính, vẫn vẫy gọi từng đám mây trời mà nó thâm giao, vẫn chảy mãi đem phù sa bồi đắp đồng bằng tâm thức Ấn Độ, vẫn linh thiêng bất diệt, vẫn lắng nghe những xôn xao của vạn triệu quả tim đang đập hướng về sông Hằng với thành kính và cảm phục. Sông Hằng vẫn nghe tiếng gọi xa xăm của tiền nhân vang vọng qua mọi nhịp thở ngay đây trong đời này, bởi thời gian trong thức tâm Ấn Độ là thời gian cuộn tròn xốy ốc nên quá khứ đậm màu thương nhớ hòa trong vị lai nhớ thương trổ về hiện tại rực rỡ an bình như màu nắng vàng ban mai của vạn triệu năm xưa, vẫn là màu nắng vàng của bây giờ, núi sông nhựt nguyệt của vạn triệu năm xưa vẫn là núi sông nhựt nguyệt này. Cánh tay sông Hằng ôm gọn vào nó mọi tang thương dâu biển như những lộng lẫy hạnh phúc vui tràn với đôi bờ cát trắng trập trùng thành hai làn môi của lịch sử sanh tồn bất diệt. Từ đó, Chánh pháp khai sanh từ

116


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

sông Hằng vẫn mãi mãi soi sáng, vẫn chảy mãi qua mọi bình nguyên cuộc sống, vẫn hằng còn trong pháp thân. Sông Hằng hóa thân thành vạn triệu sông Hằng, tâm thức người con Phật với con sông Hằng chánh pháp hằng còn với pháp thân Phật vẫn luôn soi sáng, bởi mỗi người con Phật với tâm Phật hằng có, dù đang bị bụi mù vô minh che phủ nhưng vẫn sáng lên với chí cả lấy lại trời xanh cho thanh tịnh thường hằng. Dù bao phế hưng đuổi bắt dưới trời xanh nhưng vầng dương Chánh pháp vẫn soi sáng trên đồng bằng thức tâm con sông Hằng chánh pháp trong mỗi tâm người. Đại bi đại trí một thuở Giáo tổ Gotama gieo xuống lưu vực sông Hằng, ngày nay thành cây Bồ-đề sum suê che mát tinh cầu nhân loại. Sông Hằng ra bể lại mưa về nguồn, nên sông Hằng chảy mãi trong thiên thu diễm tuyệt, Chánh pháp là ánh sáng của vầng dương nên mãi mãi soi chiếu ở phương đông tâm hồn. Phật tính sông Hằng trong ta vẫn lấp lánh sáng qua mọi bến cồn bể dâu luân hồi sáu ngã buồn tênh, như sông Hằng có lúc mưa cuộn gió động khuấy đục, nhưng mạch nguồn vẫn lồng lộng trong xanh. Mây trời vẫn nghìn năm lộng lẫy soi bóng thanh tân xuống sông Hằng, biến thành lụa màu rực rỡ những chiều xuân trong trẻo êm đềm. Mây trời Chánh pháp

117


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

vẫn quyện mãi linh thức sông Hằng tánh Phật trong ta, với tâm thanh tịnh như những tinh xá thanh tịnh miền Bengal trên lưu vực sông Hằng phía đông bát ngát. Hymalaya muôn năm vẫn oai hùng canh giữ bầu trời ý thức, vẫn nhắn gọi vô biên thắm thiết cho sông Hằng cất cánh bay lên cõi bát ngát vô biên vượt ngoài diệt sanh lớp lớp dương trần. Vô thượng trí của Như Lai vẫn tuyệt vời cao khiết trên trập trùng đỉnh cao tâm trí nhân loại, vẫn vượt ngoài cõi trập trùng lượng thức tâm phàm trần đuổi bắt. Pháp thoại uy nghiêm một thuở khi Đức Giáo tổ phát tiếng rống của loài sư tử làm mọi tà sư kinh khiếp trốn chạy như loài bò sát trốn chạy ánh nắng mặt trời, vẫn mãi mãi là tiếng gọi cao khiết của bầu trời thanh tịnh vô nhiễm, vẫn hằng còn như chất liệu nuôi dưỡng tâm thức hậu thế, vẫn cần cù độ lượng như sông Hằng miệt mài chảy về đông tưới khắp lưu vực xanh tươi đời nhân loại. Tiếng nói giải thoát, tiếng nói của lòng tin mãnh liệt vào linh thức con người vẫn là nắng ấm huy hoàng giữa trùng vây lạnh giá của tham cầu điêu linh, giữa gió mùa tà kiến bạo hành đập rụng hết mùa màng ý chí tiến lên. Tiếng nói của thảnh thơi an lạc như gió mùa thuận lợi cho đồng bằng tâm thức đáng quí vạn phần. Tiếng nói của an trú hiện tại, không luyến lưu quá khứ,

118


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

không vọng cầu tương lai làm thức tỉnh người con Phật, biết chặn đứng mọi phóng tâm lo nghĩ, khơi dậy hạnh phúc an bình vô hạn từ niệm tỉnh giác diệu kỳ. Tiếng nói của tâm không tham cầu, không chấp ngã làm người con Phật thấy lòng mình bỗng thênh thang không hạn lượng và thấy kho tàng thức tâm mình không tù hãm, như sông Hằng thênh thang trôi mãi không ao tù ngưng đọng, không rong rêu hắc ám tối tăm. Tiếng nói của nhẫn nhục khoan dung độ lượng làm người con Phật nghe trong máu huyết mình vang ngân sức mạnh vô địch trước mọi chướng ngại ải đồn, như sông Hằng với bãi dài cát trắng tít tắp kiên trung nhẫn nhục bất biến. Tiếng nói của trí tuệ tuyệt vời chói sáng trước mọi cấu nhiễm trần ai làm tâm thức người con Phật hiểu được giá trị tự vươn lên vĩ đại của chính mình. Tiếng nói của chỉ quán lắng sâu muôn hồn vũ trụ hóa thân thành nét mỉm cười của Đức Giáo tổ làm tâm thức người con Phật mở ra đón nhận sự tươi mát của ngàn phương ánh sáng giải thoát. Sao trời đi trên uy linh lộng lẫy của sông Hằng trong từng đêm đen như tiếng gọi ánh sáng bất diệt của tâm tỉnh giác, như ánh mắt thần của tâm ấy vẫn phóng rọi qua mọi bình nguyên cuộc sống, đem ích lợi cho người với sự thảnh thơi không mây mù chấp ngã. Sao sáng vẫn sáng mãi, dù mây mù che phủ cũng vẫn là sao

119


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

sáng; như Bắc Đẩu chói ngời dẫn dắt muôn tàu bè đi về bến bãi bình yên, tâm Bồ-đề luôn sáng mãi với định hướng hoa tâm nở bừng tuệ giác, không lạc vào tà kiến si mê. Bình nguyên tâm hồn trồng vững những cây niềm tin ăn rễ sâu vào lòng Chánh pháp, như muôn sao gắn mãi với bầu trời, như Hymalaya chôn chân vào lòng đất thẳm, như sông Hằng bắt nguồn từ hồ Anatatta linh thiêng không bao giờ cạn kiệt. Sông Hằng thở nhịp thở của lòng tin vô hạn, như nhịp thở của sức sống Chánh pháp qua mọi đổi dời lịch sử tồn sanh, với thiết cận từng số phận con người. Sông Hằng ngã bóng dài theo từng thế kỷ đi qua, Chánh pháp vẫn sáng mãi với tâm thanh khiết vô dục, với hương đức hạnh bay ngược gió đời tỏa lan bát ngát những tâm hồn thanh cao. Sông Hằng hóa thân điệp điệp trùng trùng thành vô lượng sông trong vô lượng tâm thức Phật tử với cao sâu mến mộ, nghe sông Hằng chảy trong máu huyết mình với trong xanh giải thoát vươn cao, với bình yên trong chiếu soi của trí tuệ, của hân hoan tươi sáng đời đời, dù xa xăm nơi đâu vẫn nghe mình đứng sát bên bờ sông Hằng, bởi sông Hằng là sông tâm mình, là con sông Phật tính bất diệt. Hãy đón lấy sông Hằng thân yêu như từng có trong vô lượng kiếp, bởi trong ta nếu không có sông Hằng thì sao ta cảm nhận được

120


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tươi xanh ngọt dịu hình bóng sông Hằng với kho mầu Chánh pháp tỏa rộng thành mây lành năm sắc bay mãi trong bầu trời tâm thức. Tâm thức ta từng được nuôi dưỡng bởi con sông Hằng Chánh pháp tự thuở xa xưa trong tiền kiếp, nên một lần nghe nghìn năm bóng nước sông Hằng ta bỗng thấy phát sáng chân trời rạng rỡ quí yêu cuốn hút không cưỡng lại nổi, như sức mạnh mũi tên bay tới vô cùng. Nghìn năm bóng nước sông Hằng chảy trong thức tâm nên ta nghe được diệu pháp Sravasti với viễn ly đoạn ái, tinh cần tỉnh giác chánh niệm, nên ta nghe được giáo pháp Lục hòa từ Kosambi, nên ta nghe được Phật tính hằng còn trên pháp hội Linh Sơn, ta thấy được không khí hân hoan trong lễ thọ ký trên Linh Sơn kỳ diệu, đây là tiếng nói chân thật sau cùng trước khi nhập diệt Giáo tổ Gotama công bố: “Ai cũng có thể thành Phật”, hợp với cái thấy sáng suốt tột cùng từ trước: “Như Lai là chúng sanh đã thoát khỏi mọi trói buộc, chúng sanh là Như Lai còn chịu trói buộc”. Chúng sanh là Như Lai đang bị quấn siết trong mọi tham ái ô nhiễm. Nhị thừa hân hoan mừng rỡ bởi chuyển tâm được thọ ký sẽ thành Phật. Ôi, còn gì sung sướng hơn! Bấy lâu chìm sâu trong vỏ bọc ích kỷ với quả vị A-lahán, giờ đây phát tâm Bồ-đề, hành Bồ Tát hạnh đi thẳng lên Phật quả. Phật quả mà bấy lâu Nhị thừa không bao giờ nghĩ tới!

121


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Nghìn năm bóng nước sông Hằng nghe thân yêu như tiếng nói sát đâu đây, vọng lại từ tiềm thức, như một thuở ta từng ở bên sông Hằng, nên vẫn nghe pháp thoại Kỳ Xà Quật đến nay vẫn còn và vẫn hằng còn cho dù những chiều có lãng đãng trôi trong thời gian vật lý. Ta nghe bằng tâm thức pháp thân nên vẫn nghe bằng tự tánh, “phản văn văn tự tánh” siêu việt nghìn lần trập trùng vọng thức lao xao bên dưới. Ta đứng trên thiên văn đài của trí nhớ siêu thức tâm bình phàm nên thấy được từng bước thảnh thơi với nụ cười của Thế Tôn bên rừng Shinsapa, dướigiảng đường Trùng Các, thấy Thánh chúng đông vui thanh tịnh bát ngát thượng trí, thấy rừng Sala, thấy cội Bồ-đề, thấy và thấy hết bởi hết thảy chủng tử kia chính ở tâm bừng sáng bất ngờ khi nghe nghìn năm bóng nước sông Hằng mang theo cả trời biểu tượng chói ngời và cụ thể sáng soi từng bước đi tâm thức ngay đây. Ôi, lồng lộng nghìn năm bóng nước sông Hằng trong ta bất diệt và uy linh như sông Hằng với Chánh pháp chảy qua mọi miền tâm thức sáng lại ngày ngày.

122


PHẦN II GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Đ

ây là loạt bài viết nói lên sức sống đặc biệt của Phật pháp. Phật pháp lấy chính cuộc đời đức Phật làm nền tảng. Từ khi xuất gia, thì cuộc đời Thái tử xem như đã cống hiến cho kho tàng trí tuệ. Động lực duy nhất thúc đẩy Thái tử xuất gia chính là nỗi suy tư tìm kiếm ý nghĩa chân thật của đời sống này. Đi tìm ý nghĩa đời sống, đó là suy nghĩ chân xác của một đầu óc tỉnh giác. Những nghiến xốy của một nỗi thắc mắc lớn lao cứ âm ỉ trong nội thức Thái tử. Khi bừng ngộ thấy chân tướng cõi đời thì sự bừng ngộ này hết sức lạ lùng độc đáo, bởi ngài khám phá ra những phương pháp để tự tu tập là thiền định chỉ (samatha) và quán (vipassana), tức là gạt bỏ những lớp tri thức thuộc phạm trù kiến văn giác tri để vun vút đi tới thể khắn khít vô niệm, không còn bung ra đi tìm câu giải đáp ở bề mặt thấp kém của kiến văn giác tri. Về sau, thiền học phát triển mãnh liệt nội dung sâu thẳm của pháp quán này, biến nó thành công cụ rất

123


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tinh nhuệ sắc bén của vô niệm, tức là một sự tỉnh giác tinh anh, gạn lọc mọi vọng tâm loạn động bám chấp. Như vậy, pháp Phật là phương pháp sống ngay trong hiện tại này bằng mọi hành vi có suy nghĩ tỉnh giác, thấy biết sáng tỏ mọi giá trị chân thật và phân biệt được mọi khuynh hướng lôi cuốn của thói quen hư đốn cũ. Đi sâu vào nội dung rộng lớn của pháp Phật, ta thấy tâm mình thấu biết sáng tỏ về mọi hoạt động của nó, nhận ra hướng đi lên cõi sáng suốt. Trong quá trình đó, ý chí tự lực và sự quyết tâm của con người là yếu tố quan trọng nhất. Kế đến là sự tỉnh giác. Tu tập hướng đến sự giải thoát luôn luôn đòi hỏi phải có sự tỉnh giác. Tỉnh giác giống như cái nút điện để mở cánh cửa sắt vĩ đại, chỉ cần bấm nút điện là cửa sắt hàng mấy tấn sẽ tự bung mở. Trí tuệ tỉnh giác là ánh sáng đặc biệt do suy nghiệm sâu thẳm chân tướng mọi hiện tượng mà thấu suốt được bản chất thật sự của chúng, nên tự nhiên không còn thói quen chạy theo sự ham thích cạn cợt, mà luôn có một sức mạnh nội tại thôi thúc ta vươn lên, đào sâu vùng trời tâm linh để tự xác quyết được giá trị tối hậu của mình là giác ngộ như Phật. Khi nói “giữa hoa lá dương trần” có nghĩa là muốn nói đến bối cảnh ngay giữa lòng cuộc đời, giữa xã hội

124


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

trần thế này chứ không phải cõi xa vời nào khác, chính nơi giá trị văn hóa tri thức này mà lãnh hội giáo pháp, tu tập giáo pháp. Hoa và lá là tiêu biểu cho văn hóa, tri thức. Từ thân phận hữu hạn của sự hiểu biết nơi con người và từ cái vĩ đại của tâm linh mà con người tu tập giác ngộ, đạt an lạc hạnh phúc giải thoát ngay tại đây, trong đời này, không phải đợi đến đời sau mới giải thoát. Những điều cao siêu phần nhiều chỉ là lý thuyết. Khi thực hành thì phải bắt đầu từ một phương pháp cụ thể, như quán sổ tức chẳng hạn. Mỗi hành vi có sự tỉnh giác sáng tỏ tức là có giải thoát. Phải thường xuyên vun đắp, duy trì con đường tỉnh giác đó. Xao lãng là mê muội, là tối tăm u ám. Tu tập chính là quay về với tâm tỉnh giác.

125


THẮP SÁNG TÂM HỒN

Đ

êm nay, đêm ba mươi âm lịch, bóng đêm mượt mà lộng lẫy kiêu sa. Đất trời quê miền đông Nam bộ biến ảo rộng rãi chân hình qua từng mùa dắt nhau lễ độ hoặc ngỗ ngáo qua lòng tạo vật. Những sáng chiều, núi Thị Vải cũng đổi màu, quyến rũ. Trời đất đang ở vào tiết mùa tháng ba quê ta. Những buổi chiều ngọt ngào quê hương đã ngã bóng dài trên từng thế hệ kinh tuyến tâm hồn. Chiều quê của những thời xa xưa thanh bình có khói lam chiều, có cánh cò chở nắng tàn qua sông, có tiếng sáo ru hồn đất nước, có đàn trâu chậm chạp về chuồng. Và còn vạn triệu yêu thương trải rộng mọi miền xứ sở. Những buổi nắng tàn ở miền Thị Vải này thật tuyệt vời. Chiều nắng lụa phủ ngập rừng tràm xanh, gió mơn man, nắng vàng đậm nhưng không gắt, từng lúc úa màu trên sườn núi, và núi cũng xử sự phải lẽ với giờ khắc trang nghiêm của chiều tàn nên đã vời vợi bốc lên làn khói mơ hồ mờ nhạt rồi thu mình lần hồi trong bóng đêm. Giờ này khắp vùng núi rừng phủ ngập tấm nhung thẫm dày vô kể. Bóng tối đậm đặc hân hoan lên đường mỗi lúc một đông đảo ồ ạt như cùng hẹn ước bóng đêm

126


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

từ vô thỉ tràn về tha hồ trong những đêm cuối tháng bơ vơ nguyệt tận này. Đêm đen làm chủ trọn vẹn. Đất trời đang trôi bồng bềnh trong chiếc võng đen thẳm mà những vì sao lấp lánh là những tao mơ hồ của nó. Chiếc võng đêm mắc một đầu vào sao Bắc Đẩu và đầu kia mất hút kín đáo trong cõi sao Mai. Hồn đêm thở nhẹ qua tiếng rên rỉ sầu thương vô cớ từ vạn triệu năm xưa đậm màu hoang tịch của đất trời sơ nguyên. Chiếc võng đêm trải rộng hình hài trên bao la vô tướng. Dạ thần mãi mãi siêng năng trải mền kín mít nhưng lão còn vung vãi mớ kim cương lấp lánh để ru hồn tạo vật. Mưa đang chuyển mùa. Nắng gắt từng ngày như chia sẻ quyền lực. Sức nóng cứ lần lữa như có lúc quên về, dù đêm xua đuổi. Những đêm chuyển mùa này bầu trời thật rắc rối, không êm ái mà lúc nào cũng càu nhàu, đe dọa. Sức nóng của ban ngày kích thích hồn đêm, khiến chân trời chớp lạch liên hồi, phóng ra những đường nứt rạn sáng lóa kinh hồn. Chớp lạch phóng xẹt một sức mạnh cực nhanh. Khuôn mặt đêm dày cộm như tấm đồng mà ở đó thần định mệnh mù lòa khắc ghi lời phán quyết. Thế mà từng lằn chớp lạch như lưỡi dao cực kỳ bén, rạch vào bóng đêm dày cộm như không có gì. Trong ngột ngạt đêm đen tuyệt mù thì những làn chớp lạch ở chân trời chính là ánh sáng kỳ lạ, như một lời chỉ dẫn cao cả, nói cho mọi người biết:

127


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Không phải bóng đêm có quyền uy tuyệt đối trên khắp trời. Những lằn chớp hé lộ cho ta biết bên kia bóng đêm vẫn còn dồn chứa kho tàng mênh mông của ánh sáng. Nhưng bóng đêm của thiên nhiên chỉ là những trạm tiếp cư cho đời sống vạn vật. Bóng đêm tâm hồn của chúng ta mới là loại bóng đêm khó xua đuổi, khó quét sạch, khó xóa tan. Bóng đêm vô minh đã chiếm đóng tâm hồn ta, biến tâm hồn ta thành thuộc địa lâu đời. Triệu triệu thói quen đun đẩy từ vô lượng kiếp, đó là thói quen ham muốn. Sự ham muốn mọi thứ trên đời đã tạo nên bóng đêm tâm hồn. Đêm đen tạo vật dầu có nhàu úa đến đâu vẫn luôn có bình minh về chào đón, ủi láng da mặt đất trời. Bóng đêm tâm hồn dầu có bao la nhưng vẫn có ánh sáng giác ngộ chờ đón. Mặt trời giác ngộ mọc lên từ tự tâm như vầng dương muôn năm chói ngời ở phương đông. Bình minh duy nhất phóng chiếu từ phương đông, ánh sáng giác ngộ duy nhất phóng chiếu từ tự tâm. Mặt trời giác ngộ của ta là mặt trời tỉnh giác. Mặt trời tỉnh giác phải thường xuyên chiếu rọi ánh sáng rực rỡ xuống dòng sông tâm thức thì đời sống chúng ta mới đi nhanh vào vùng an tịnh, mới có nhiều hoa trái tâm linh nở ra ngon ngọt chất chánh trí. Trái lại, bầu trời tâm hồn u tối và sẽ tiếp tục u tối mịt mùng khi mặt

128


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

trời tỉnh giác bị tắt mất. Bóng tối tràn ngập tâm hồn là bóng tối của lãng quên, bóng tối của vọng niệm quấy động tung bụi như ngựa sải nghìn trùng. Trong cuộc sống, ta vẫn thường đối mặt với vầng dương rực rỡ nhưng tâm hồn ta vẫn cứ bị bóng tối vây quanh che khuất ánh sáng chánh trí giác ngộ, vì ta cứ lãng quên mình, cứ để mình táng thân thất mạng vào mọi sự lôi cuốn ồ ạt của âm thanh hình sắc dương trần, không ngớt tấn công qua cửa ngõ giác quan. Năm giác quan là năm bến cảng chất hàng nghìn tấn hàng hóa vào tự tâm. Ở đó nội thức cứ kiểm hàng, đắn đo với nghìn thương trăm nhớ, sầu hận, ăn năn, băn khoăn, bồn chồn, lo lắng, sợ sệt, giấu giếm, trách móc… Đó là bóng tối vây kín bầu trời tâm hồn. Ngoài những đám mây oán thù, sân hận, còn có biết bao nhiêu bóng tối khác. Chẳng hạn như bóng tối của lòng kiêu ngạo, tự cao, tự đại, tự mãn, tự kiêu, nếu tất cả cái “tự” ấy lên xanh mịt mù thì chỉ có một điều tất yếu duy nhất phải dẫn đến là tâm hồn sẽ bị phủ vây trong bóng tối. Ở đời không ai ưa những kẻ tự kiêu. Đối với chính bản thân ta, khi lửa tự kiêu bốc cao thì nó tỏa ra một vùng ám khí vây quanh, làm che mờ con mắt trí tuệ

129


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

và khiến cho bầu trời tâm hồn phải chìm sâu trong tối tăm u ám. Trong bài kinh “Khúc gỗ trôi sông”, Đức Phật còn ví lòng kiêu ngạo như những cồn bãi làm vướng kẹt khúc gỗ trên đường trôi ra biển, lòng kiêu ngạo làm vướng kẹt kẻ tu đạo, ngăn cản lối tiến lên. Kiêu mạn là sự khát khao bành trướng của bản ngã. Kẻ vướng vào lưới kiêu mạn là đã tự làm cạn kiệt đời sống trí tuệ của mình. Kiêu ngạo cũng chính là khăng khăng cố chấp, bám chặt vào mớ hiểu biết hạn hẹp lỗi thời. Trong kinh Phật thường chỉ ra sự tai hại của kiên chấp, của lòng kiêu ngạo. Tâm lý kiêu ngạo sản sanh ra những thứ như ngã mạn, tăng thượng mạn. Từ đó làm cho bản ngã càng vươn cao, mọc rậm trong mọi hành vi đen tối, si mê, vướng kẹt trong đường hầm của ma quân tham đắm vĩnh viễn không ngày thoát ra. Đêm đen của tâm hồn chỉ được soi sáng bởi từng sự cố gắng nhỏ của quán chiếu nội tĩnh. Đêm đen của tâm hồn từ vô số kiếp đã bị bao vây bằng vạn triệu đám mây mù bản ngã, hình thành tập khí sâu dày. Bậc đại trượng phu với ý chí nguyện lực lẫm liệt thì có thể tu tập kiên cố thiền định, chế tâm lâu bền mạnh mẽ để quét sạch bóng đêm trong tâm hồn. Còn từ hạng trung căn trở xuống đều phải nuôi dưỡng kiên trì bền

130


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

bĩ ánh sáng nhỏ nhoi trong từng giờ khắc một của sự tỉnh giác. Thiếu sự siêng năng tinh tấn thì ngọn lửa tỉnh giác sẽ tắt lịm. Thắp sáng tâm hồn chính là thắp sáng chánh trí Phật pháp nơi tự thân mình. Tự mình thắp đuốc lên mà đi tới. Phải có chí nguyện vượt lên Thánh quả giác ngộ, thấy thôi thúc giục giã lên đường với tự tin tự lực, buông bỏ mọi tham đắm trần tục. Phải có thời biểu nhất định, kiên trì, mỗi ngày đều phải tọa thiền quán chiếu, có vậy tâm hồn mới bình lặng trong ánh sáng viễn ly, và phải thường xuyên tỉnh giác. Nếu không thì bầu trời tâm hồn ta thiên thu vẫn chất chứa mây đen u ám làm mù mịt các vì sao; thật uổng phí thay cho một kiếp người.

131


TU TẬP LÀ CUỘC HÀNH QUÂN

Đ

ể có được thủy tinh, người ta lấy cát nung nóng lên đến mấy ngàn độ, làm cho cát chảy lỏng rồi lọc sạch, đổ ra thành chai lọ trong suốt. Sự tu tập có định hướng, có khát khao giải thoát cũng giống như công việc nấu cát để luyện thành thủy tinh như thế. Công hạnh tu tập đòi hỏi sự kiên trì miên mật của chủ tâm định ý, như canh giữ ngọn đèn tâm hồn cho nó cháy sáng mãi qua mọi bể dâu, xáo trộn của trần tục. Hoa trái tâm hồn trổ ra tịch tịnh, thượng trí, là ánh sáng giác ngộ trổ ra từ sự chuyển hóa mọi tâm niệm xấu xa, như người ta ủ rác làm phân bón cây, từ đó cây mới trổ hoa. Rác càng có dưỡng chất thì hoa càng nở to và tươi màu hồng thắm. Trong mỗi chúng ta đều có nguồn đam mê. Đam mê là sức tràn chảy cuồn cuộn của một dòng sông phá bờ, dẫn dắt lý trí, ý chí. Đam mê đó sử dụng cho mục tiêu trần tục thì tạo nên những phát minh khoa học hay thành công lớn cho một sự nghiệp nào đó. Trái lại, nếu biết chuyển hóa niềm đam mê đó vào mục tiêu giải thoát thì nó cũng làm nên cuộc

132


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

phá vỡ mọi thói hư tật xấu, dẫn dắt ý chí kiên định để làm phát chiếu ánh sáng giác ngộ trong cơ kiến tánh ngộ đạo ngay đây. Như thế là ta chuyển rác thành hoa. Cuộc hành quân chánh niệm là sự năng nổ tìm kiếm quân giặc xấu ác. Chúng luôn ẩn núp ở nơi này nơi khác, rất khó tìm gặp, do đó phải lục soát liên tục mọi ngóc ngách tâm hồn. Những tâm niệm xấu ác của ta chính là quân giặc mai phục trong vô thức bản năng, sẵn sàng chờ cơ hội để vùng dậy thổi tắt ngọn đèn tỉnh giác. Ánh sáng tỉnh giác là lực lượng võ trang đầy nhuệ khí, phải thường trực canh giữ đồn ải, đường ngang ngõ tắt trong tâmù thức. Nhờ sức mạnh này, ta có thể chuyển hóa những thói hư tật xấu, những bực bội, cau có, trách móc, tham đắm, hờn ghen... thành sự an vui thanh thản dưới ánh sáng của chánh kiến. Tu tập không phải là đè nén các thói xấu, mà chính là sự chuyển hóa, định hướng, làm thay đổi chúng. Một xã hội lý tưởng là xã hội biết khéo léo dùng các biện pháp cải hóa, giáo dục những thành phần du đãng, xấu ác, giúp họ biết chuyển hóa tự tâm, trở thành những phần tử hữu ích cho xã hội, thay vì sử dụng các biện pháp trừng trị khắt khe. Sự tu tập của ta cũng giống như thế. Phải biết khéo léo dùng sự tỉnh giác sáng soi với quán chiếu sâu sắc mà tự chuyển hóa, buông bỏ

133


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

mọi sự tham đắm, ghét bỏ cũng như mọi tâm niệm u tối cũ. Chánh kiến là kết quả rực rỡ của hành trình quán chiếu tự tâm, lấy chánh pháp làm ngọn đèn soi rọi. Có chánh kiến là có bước trưởng thành trí tuệ vững vàng trước mọi cám dỗ trần tục. Thiếu chánh kiến, thiếu quán chiếu tự tâm chân thật mà chỉ dùng biện pháp trấn áp thói quen thì không thể thành công.

134


TỈNH GIÁC CHÁNH NIỆM

T

ỉnh giác chánh niệm là sự tác động qua lại giữa quán chiếu và tĩnh tâm, là ánh sáng trong xanh của chỉ (śamatha) và quán (vipassana). Đạt được chỉ thì có định, đạt được quán thì có tuệ. Ngày xưa, khi thiền định kiên cố dưới cội Bồ-đề, Đức Thế Tôn đã sử dụng toàn triệt sức khỏe và tâm lực để hành trì chỉ và quán, cuối cùng xé toạt lưới vô minh tham ái mà đạt đến giác ngộ. Khi tâm hồn đã trống không kiên cố, mọi tư niệm lắng xuống tan biến hết thì cơ duyên bừng ngộ tự nhiên sẽ đến. Nhưng bừng ngộ rồi vẫn phải liên tục sống trong tỉnh giác chánh niệm. Đức Phật sau khi giác ngộ vẫn luôn an trụ trong chánh niệm thông suốt như sự trôi chảy liên tục của dòng sông: dòng sông tâm thức. Ngài luôn được soi sáng bằng mặt trời chánh niệm vững chãi. Ngọn đèn tỉnh giác trong tâm thức Ngài cháy rực sáng mãi suốt cuộc đời, cho đến giờ phút cuối cùng Ngài thể nhập Vô dư Niết-bàn. Ta phải giữ cho mặt trời chánh niệm soi sáng mãi xuống dòng sông tâm thức mình. Đó là biện pháp tu

135


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tập cốt tủy nhất. Ta có ba dòng sông cảm thọ: dòng sông khổ thọ, dòng sông lạc thọ và dòng sông xả thọ. Tâm thức vui buồn luôn đêm ngày trôi chảy cuồn cuộn như dòng sông. Ba con sông này chảy qua năm bến cảng giác quan. Mặt trời chánh niệm sẽ khước từ và thiêu rụi mọi hàng hóa ung thúi, ẩm mốc, thiếu giá trị giải thoát.

136


LÀM SAO ĐỂ TỈNH GIÁC CHÁNH NIỆM

K

hi còn tại thế, Đức Phật dạy phép quán hơi thở. Khi thở vào thì biết rõ đang thở vào. Khi thở ra thì biết rõ đang thở ra, không lo nghĩ, suy tư bất cứ cái gì khác ngoài cái biết đó. Cái biết đó là tâm ta. Tâm ta lúc đó chính là hơi thở. Phật dạy phải chấm dứt mọi lo toan, nghĩ ngợi để nắm lấy hơi thở, t��� đó có an lạc thanh thản. Một lần nọ, có ông ngoại đạo đến hỏi Đức Phật về bí pháp tu tập của Ngài. Đức Phật đáp: “Ta cũng chỉ đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, nghỉ vậy thôi.” - “Như vậy thì có gì đặc biệt đâu?” - “Có chứ! Người đời thì bao giờ cũng bị vướng kẹt vào lo nghĩ trăm bề nên khi ăn cũng không biết rõ mình đang ăn. Ta thì khác, luôn ý thức rõ ràng với sự tỉnh giác chánh niệm thường xuyên, không hề buông lìa giờ phút nào. Ta đạt an lạc, ý thức rõ từng sát-na sanh diệt của tâm thức và mọi vật xung quanh. Ta an trú trong hiện tại nhiệm mầu.” Người ngoại đạo nghe xong, tỉnh giác ngay phút đó và cuối cùng xin qui ngưỡng, tu tập theo Đức Phật.

137


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Có nhiều người thông thạo giáo điển, nói tánh, nói tướng, nói lý không thật lưu loát, nhưng khi xúc sự ngộ duyên, trái ý nghịch lòng một chút là đùng đùng nổi lên sân hận ngút trời. Cứ thế mà lao theo cuồng lưu sân hận, đốt cháy mọi công hạnh lành. Đó là vì họ khinh thường hoặc quên lãng lời dạy từ nguyên sơ của đức Phật là phải nắm lấy hơi thở. Ta phải tập nắm lấy hơi thở cho thuần thục, chín muồi. Trong xúc sự, ngộ duyên mà sân hận có nổi lên, ta chợt tỉnh hồn biết đường trở về, vội vàng nắm lấy hơi thở thì cơn giận tan biến, ngọn đèn tỉnh giác lại được thắp sáng lên. Nắm lấy hơi thở là phép tu căn bản đưa vào trụ tâm nhiếp ý dễ dàng. Ngoài ra, ta có thể quán chiếu liên tục một trong những từ ngữ như đoạn ái, xả ly, hoan hỷ, tịch tịnh… Từ ngữ đó thường trực gieo vào lòng ta một cảm giác tỉnh táo. Như từ ngữ hoan hỷ chẳng hạn, bất cứ khi nào và ở đâu, ta cũng thầm nghĩ trong lòng là hoan hỷ. Lâu ngày, tánh khí quạu quọ sẽ được chuyển hóa và tan biến. Ban đầu chưa quen, ta có thể dùng miếng giấy cứng nhỏ viết hai chữ “hoan hỷ” bỏ vào túi. Khi đưa tay vào đụng nó là biết hoan hỷ. Đó là phương tiện nhắc ta hoan hỷ. Hoặc có người dùng phương tiện niệm Phật, hoặc tập thói quen luôn mỉm cười. Mỉm cười mà ý thức sáng

138


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

tỏ, biết mình đang mỉm cười, vậy là ta đã nắm được tâm ý mình một cách thông suốt. Thất niệm là bóng tối của lãng quên, che kín bầu trời tâm hồn. Từ bóng tối bao la đó, ta bị hàng trăm thứ ma lôi kéo đi trong vô cùng. Tâm hồn ta lúc ấy trở thành nơi chiếm đóng của các thứ ma: ma tham đắm, ma hận thù, ma hờn oán, ma ăn năn, ma hối tiếc, ma bực bội, ma kiêu ngạo, ma than thở, ma hấp tấp vội vàng, ma dự tưởng tương lai, ma lo lắng, ma băn khoăn, ma cay đắng độc địa, ma mỉa mai, ma xảo nịnh, ma dối trá, ma hồi hộp, ma biếng nhác, ma cố chấp, ma tự ái, ma đổ quạu, ma hờn mát, ma đổ thừa, ma ỷ lại... Tuy bóng tối tràn đầy như thế, nhưng khi ta đã cương quyết thắp sáng ngọn đèn tỉnh giác lên thì bóng tối kia tự tan biến. Phải vận dụng một đảm lực tinh thần vĩ đại, một ý chí tuyệt vời, một tâm niệm ngút trời kiên cố trong tiếng gọi tự cứu mình ngay trong kiếp này, không thể chần chờ, lần lữa trong mục rã tháng ngày dương thế, đến cuối cùng cơn đại hồng thủy tử diệt tràn đến mà chưa nắm được điều gì chắc thật trong tay trước khi nhắm mắt lìa đời. Chết trong lo lắng hoang mang thì thật là uổng phí một đời hân hạnh được làm người, được nghe biết Thánh giáo, nhưng cuối cùng phải ra đi trong tăm tối mịt mù của vô minh.

139


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Trong sự tu tập, nếu có thể nắm được điều gì chắc thật trong tay thì đó chính là nắm được ngọn đèn giác. Sự tỉnh giác chánh niệm đem đến cho ta mọi sức mạnh tinh thần để giữ vững chí hướng xông lên cho vũ trụ tâm hồn đâm cành trổ hoa. Đó là trí tuệ Phật pháp chiếu sáng tự cõi lòng ta. Trí tuệ thanh tịnh không còn cáu bợn của tham đắm trần tục là tài sản giác ngộ. Ta mang tài sản quí giá vô ngần đó đi giữa cuộc đời gió bụi này. Đó là phần thưởng tối thượng mà trong vô lượng kiếp cho đến ngày nay ta mới có cơ hội tốt thu về được. Ta theo Phật là theo ánh sáng giác ngộ, ánh sáng đó chiếu lên từ tự tâm thanh tịnh vô nhiễm, từ tỉnh giác chánh niệm thuần khiết. Mục đích tối thượng của ta là giác ngộ, giải thoát. Giải thoát là giải thoát ngay đây và bây giờ, khi tâm hồn luôn được thắp sáng với sự tỉnh giác phòng hộ căn môn.

140


GIẢI THOÁT AN LẠC NGAY TRONG HIỆN TẠI

các quốc gia có nền kinh tế ổn định, ngân hàng hoạt động như một sanh mạng của quốc gia. Người ta thường mở tài khoản và gửi tiền vào để lấy lãi trong tương lai. Đó là việc bình thường của thế tục. Nhưng sự tu hành thì tuyệt đối không phải là chỉ hướng đến việc có lãi trong tương lai. Tu hành chính là được lợi ích ở ngay nơi sự tỉnh thức. Người tu biết rất rõ tâm ý mình móng khởi để chuyển hóa nó theo hướng an lạc. Nếu không biết khôn ngoan nhận ra sự giải thoát ngay trong giờ phút hiện tại quí báu này thì ta vô tình cũng giống như người mở tài khoản để mong có lãi trong tương lai, còn hiện tại cho đến chết vẫn là vướng kẹt, trầm luân trong mê muội. Một vị thiền sư nói: “Người ta mải mê sàng gạo, quên trời tối, mịt mù, bịt lối, bối rối.” Mải mê sàng là hình ảnh của người lãng quên tự tâm, mải miết chạy theo âm thanh hình sắc trần tục kích động giác quan, táng thân thất mạng vào dòng nước chết là dòng nước tham đắm ngũ dục. Trời tối là cơn tử biệt hiện hình chụp xuống, chừng ấy

141


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

bắt buộc phải lìa đời trong vô vàn bối rối thảm thương. Biết bao kẻ, suốt đời chỉ nói và nói. Nói như cái cối xay, xay ra lời nói. Nói, nghe, nhìn chi phối hết một đời. Có kẻ sống trong bực bội, oán trách lưu niên, lưu cửu. Có kẻ nghiện lo, ghiền lo. Lúc nào cũng nghe nói đến lo và lo. Lo lắng chi phối hết đời người. Tất cả đều mặc nhiên hy sanh hiện tại tuyệt vời để lo cho tương lai, ghim cả thân mạng mình vào mọi chương trình, dự định ở tương lai. Trong bài kinh số 131, Trường Bộ Kinh, Đức Phật có chỉ rõ cách sống trong hiện tại. Đó là bài kinh Người biết sống một mình. Đó là sống trong tỉnh thức kiên cố, không để thân tâm mình dính mắc vào mọi khái niệm, mọi tham đắm, mọi ghét bỏ.1 Có nhiều ngoại đạo thấy đệ tử của Đức Phật luôn luôn tỏa chiếu một thần thái an nhiên tịch tịnh, vô úy, liền đến hỏi bí pháp. Đức Phật đáp rằng: “Đệ tử của ta an trú trong hiện tại của dòng tâm thức, tỉnh thức không để tâm mình bị níu kéo vào tương lai hay lôi về quá khứ. An trú trong tĩnh lặng của hơi thở, biết rõ mình đang thở vô, thở ra, dứt sạch hết mọi tư niệm tham đắm… Do đó mà họ có một thần thái sáng chói như ông thấy đó.” 1

Trái lại là sống với hai mình, vô số mình, là vô số ý niệm, có bao nhiêu ý niệm khởi lên là có bấy nhiêu mình. Sống một mình là sống với nhất tâm, vô niệm.

142


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

An trú trong hơi thở là biện pháp hay nhất để ta đi sâu vào quán chiếu sâu sắc. Đức Phật luôn luôn mỉm cười và Ngài an trú trong đại định lắng sâu, thấy rõ từng sát-na sanh diệt của muôn pháp. Ngài như người đã lên đến ngọn đỉnh trời, phóng rọi tia nhìn xuống ruộng đồng hiện tượng xung quanh, thấy mọi biến dịch vô thường và duyên sanh giăng khắp, thấy nguồn tâm mình chiếu diệu đến hằng sa kiếp sống. Nụ cười mỉm ấy biểu lộ cõi thanh tịnh vô thượng của trí giác đã ra khỏi mọi trói buộc của mê lầm, mọi thế lực vụn vặt của hiện tượng không còn tác dụng gì đối với nguồn ánh sáng tuyệt vời của tự tâm bao la đến vô số kiếp. Ta hãy tập mỉm cười thanh tịnh như Đức Phật. Đó cũng là biện pháp có hiệu năng lớn trong động tác thắp sáng tâm hồn hướng về chân phúc tịch tịnh vô dư. Đó là đi trong du hý thần thông tam-muội, xem mọi sự sanh diệt như trò chơi, trò xiếc, không còn bận tâm gì.

143


BẮT ĐẦU TỪ CHỖ BẮT ĐẦU

C

ó nhiều bạn băn khoăn không biết bắt đầu tu là phải làm những gì. Tu, hiểu vấn đề cho trọn vẹn, trước hết đây là một hành trình cô đơn tuyệt đối, vì đó là công việc thực nghiệm tâm linh của mỗi cá nhân. Bạn bè đồng lữ đồng hành chỉ yểm trợ cho ta sức mạnh của niềm tin, làm sung mãn tinh thần để ta ra đi mà nghe có nguồn lực hỗ trợ quí báu đang phủ ngập tâm hồn mình. Đồng hành thiện tri thức rất cần, nhưng ta không thể mảy may ỷ lại vào ánh đuốc của bạn đồng hành, mà phải tự mình thắp đuốc tâm hồn mình. Người Pháp có câu tục ngữ rất sâu sắc là: Phải bắt đầu từ chỗ bắt đầu. Trong kinh Phật có thành ngữ quen thuộc là: “Hồi đầu thị ngạn”,1 nghĩa là quay đầu ngó lên bờ. Đó là lối dùng hình tượng cụ thể để diễn tả khái niệm trừu tượng. Ta sống hăm bốn giờ là ta đang trôi nổi bập bềnh trong dòng nước ngũ dục, trong dòng 1

“Quay đầu là bờ.” Cách hiểu này dành cho bậc thượng thừa, thượng trí. Đây hiểu nghĩa chữ “thị” là xem, ngó, thì khái niệm trở thành dễ hiểu, dễ tiếp nhận hơn đối với hàng căn cơ trung bình hoặc thấp kém, nghĩa là theo phương pháp tiệm tu.

144


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

sông tham đắm, ghét bỏ và mọi con nước tâm lý khác cứ nhận chìm ta trong đó. Dòng nước ngũ dục chỉ mải miết chảy vào biển luân hồi bao la sáu cõi mà thôi, từ rún địa ngục lên tới cõi Tam thập tam thiên. Ngó lên bờ là bừng tỉnh, là dừng lại mà ngó vào tự tâm. Ngó lên bờ là chặn đứng thói quen luôn phóng theo đối tượng của năm giác quan, chạy theo tham đắm ghét bỏ trùng trùng, để tìm kiếm, suy xét lại xem ta là gì. Hăm bốn giờ sống, ăn, ngủ... ta bị cuốn hút đắm chìm vào âm thanh, hình sắc và trăm chiều lo nghĩ. Ta lãng quên mình, buông trôi theo những phản ứng, phản xạ từ thói quen của tâm lý chấp ngã. Ta hành động và cư xử như một cái máy, một công cụ của thói quen, không khi nào tự mình suy nghĩ cho thấu đáo, không tự nhận biết được giá trị lớn lao chân thật nhất của ta là gì cả. Tu tập tức là bừng tỉnh để suy nghĩ lại xem “cái ta” này thực sự là gì. Ngoài những việc ăn ngủ tầm thường, ta hẳn phải còn là một cái gì đáng nói hơn. Cái ta dễ thấy hơn hết chính là những phản ứng của tâm lý quen thuộc. Ta giận thì ta chính là cơn giận (hay tâm ta chính là cơn giận). Ta vui thì ta chính là niềm vui. Ta khổ thì ta chính là nỗi khổ. Đó là tất cả “cái ta” của vọng thức ồ ạt, cuồn cuộn tuôn bay khắp chân trời mặt đất, kể cả trong giấc chiêm bao. Ta bị cuốn hút miên viễn vào cơn xốy trùng trùng của mọi lo nghĩ. Vậy, tu

145


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tập trước tiên là hãy tìm lại tâm mình, tìm lại dấu vết, móng động qua ý mình để nhận diện cho thấu suốt. Bằng cách nào? Trước hết, trong mỗi khi đi, đứng, ngồi yên đều phải chú ý đến hơi thở của mình. Ta thở, ý thức rõ ràng rằng ta đang thở, cứ chăm chú kiên trì theo dõi hơi thở, ngưng trụ mọi tâm ý vào hơi thở, đó là ta đã buộc được tâm ý vào đó. Tiến lên một bước, khi đang làm việc gì ta cũng luôn luôn ý thức sáng tỏ mình đang làm việc đó. Chợt một cơn giận nổi lên, ta liền biết mình đang giạn. Nhờ có định tâm tu tập nên ta liền đủ sức chuyển hóa cơn giận. Nói cách khác, nhờ có gáo nước lạnh của sự tỉnh giác giội vào cơn giận nên nó tắt ngấm ngay. Cứ như thế mà bình tâm trong suốt quán chiếu, suy nghĩ sâu xa thì thấy rõ chân lý là: Ta không có “cái ta” nào khác ngoài tất cả mọi sự vật, sự kiện mà ta ý thức về nó, kể cả tư tưởng của ta nữa. Ta là mọi sự vật mà ta đang ý thức về nó, biết rõ nó lúc ấy. Ta biết, là ta biết về một cái gì, chứ không thể biết mà không có đối tượng được. Ta nhận diện ta là tâm ý của ta. Từ đó, mọi đối tượng đổ tới, ta phải biết chọn lựa, giữ tâm ý không buông thả tha hồ chạy theo lời mời gọi của thói quen bấy lâu. Ta cố gắng nuôi dưỡng tốt đời sống nội tâm vắng lặng ấy.

146


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Vậy, ta bắt đầu từ chỗ bắt đầu chính là làm chủ được tâm ý. Tu tập là chuyển hóa, chặn đứng thói quen cũ với một ý chí và nghị lực kiên cố. Trước đây, vừa nghe lời khen chê là ta liền phản ứng bằng tâm lý thói quen: vui mừng hoặc giận dữ. Bây giờ làm chủ được tâm ý kiên cố, ta yên lặng, kiên nhẫn lắng nghe. Nếu lời chê bai kia quả là đúng thì ta thấy đó là một ánh sáng soi rọi vào chỗ u tối của tâm thức mình. Nếu lời chê bai kia sai thì ta biết là do ẩn ý nào đó đặt ra. Ta không mảy may bị lung lạc dễ dàng như trước kia. Nếu quán chiếu sâu sắc thì ta thấy đó chỉ là cơn gió thoảng qua đồng vắng. Người thiếu quán chiếu thì bản ngã rất nhạy cảm trước mọi đối tượng. Nó phản ứng dữ dội về đối tượng, mà mục đích của sự phản ứng đó có tính chất bản năng là để bảo vệ bản ngã. Ta quán chiếu thấu triệt được sự giả tạo của bản ngã thì dù trước mọi oan ức ta cũng tĩnh lặng như tờ, không đau khổ và không cần phải thanh minh lời này lẽ nọ. Ta phát triển trí tuệ vô ngã thì ta đủ sức mạnh nội tâm để nhận lãnh mọi lời chê bai sỉ nhục một cách hoan hỷ. Khi mọi nghịch cảnh đổ ập tới, ta ứng xử trên nền tảng vô tâm, tĩnh lặng. Biết rõ tâm nên ta không mê muội manh động, phản ứng theo thói quen mà tạo nghiệp ác. Hồi đầu thị ngạn là một tia sáng vọt lên giữa đêm trường tăm tối của nếp sống theo thói quen xấu ác

147


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

vây bủa khắp lối. Thói quen lớn là tập tục, dư luận xã hội. Có những thói quen lâu đời tồn tại trong xã hội, chi phối, mọc rễ trong tâm não biết bao người. Trong những thói quen ấy, không hẳn là hoàn toàn tốt, đôi khi nó chỉ có giá trị nhất định, có tác dụng hữu hiệu cho một thời đại nào đó thôi. Ấy thế mà người ta cứ đeo theo nó, mặc nhiên truyền lại qua từng thế hệ đi sau để rồi lấy đó làm chỗ dựa tinh thần, tình cảm... Mọi thứ sự tướng cũng là phương tiện chỉ cần cho một giai đoạn tinh thần, tình cảm nào đó. Ta không thể sống an phận, thiếu nghị lực vươn lên khi ta phát triển trí tuệ, như người thanh niên trưởng thành không thể mặc chiếc áo hồi còn bé thơ. Hồi đầu thị ngạn là một công việc chuyển hướng tâm tư tình cảm, nhận thức vô cùng vĩ đại. Nó chuyển đổi cả vận trình tư tưởng. Tu tập là một cuộc lên đường, một cuộc vượt biên thùy mãi mãi. Phải luôn luôn tỉnh táo buông bỏ mọi kiến thức lỗi thời để không ngừng vươn lên. Nếu không thì ta sẽ vướng kẹt vào ám khí của những tri thức cũ, bị chúng ngăn che tánh giác mà đáng lẽ phải được nuôi dưỡng bằng những gió trời tươi mát trong xanh có giá trị hơn. Ta phải luôn đề phòng bịnh kiến chấp. Bịnh này rất dễ phát sanh khi cơ thể tinh thần bị tiêm nhiễm thói kiêu ngạo, khi ngọn hải đăng tỉnh giác bị tắt mất.

148


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Người ta thiếu suy nghĩ để tìm ra chính mình thì rất dễ an nhàn sống bám vào sự tướng, lâu ngày sẽ bị sự tướng nuốt chững mất cả tâm hồn. Khi ấy, ta trở thành sự tướng. Sự tướng mặc nhiên trở thành bản ngã thứ hai của ta. Vì thế, ở một góc độ nào đó trên hành trình tu tập, hồi đầu thị ngạn mang tính chất triết học sâu sắc. Xưa kia nhà triết học Hy Lạp cổ đại Socrate đã lên tiếng chỉ cho mọi người con đường tìm lại chính mình khi ông bảo: “Hãy tự tri”. Giá trị lớn lao của triết học là luôn luôn quấy động đời sống tinh thần, thúc giục mọi người hãy thức tỉnh mà tìm lại con người thật của chính mình. Điều này thì chân pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni từng nhấn mạnh, xem đó là cửa ngõ để bay vào khung trời vĩnh tịch hằng hữu vô nhiễm. Hồi đầu thị ngạn là tiết mùa tinh thần báo tin cho hoa cỏ tâm hồn rào rạt dậy đơm hoa khắp lối. Mỗi ngày ta nhìn thấy cuộc đời tươi mát rạng rỡ chính vì ta luôn luôn nuôi dưỡng ngọn đèn hồi đầu thị ngạn trong ta rực cháy mãi. Có hồi đầu thị ngạn thì đời sống tri thức Phật pháp trong ta mới sung túc, phong quang, có giá trị chắc thật. Thói quen chạy theo ngũ dục trong ta là một sức mạnh siết cứng kiên cố từ nhiều đời nhiều kiếp, không phải dễ dàng rũ bỏ, chỉ trừ bậc thượng căn có chí khí lẫm liệt.

149


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Hồi đầu thị ngạn còn tùy thuộc một phần lớn ở cơ duyên. Có người chợt nghe một câu kinh mà thấu ngộ và chuyển hướng hoàn toàn cuộc đời mình, như ngài Huệ Năng chẳng hạn. Nhưng đó là những bậc phi thường, ngoại hạng. Đối với phàm nhân chúng ta thì không có phương pháp nào khác hơn là phải kiên trì tỉnh giác, theo dõi hơi thở để trở về tự tâm. Thường xuyên và mãi mãi như thế, tâm ta luôn rừng rực cháy một chí nguyện thoát ly khổ hải trong vô lượng kiếp. Điều này lại đòi hỏi chúng ta phải quán chiếu sâu xa để thấy rõ cái đáng chê chán của vòng tử sanh khép kín muôn đời tăm tối, nay ta được ánh sáng Chánh pháp soi lòng, nếu không phát khởi chí nguyện ra đi, vĩnh viễn thoát ly cõi đời u ám này thì ta rất dễ tự chôn mình trong sự tướng và cuối cùng ta sẽ kết thúc cuộc đời trong đau khổ trăm bề. Đó là dấu hiệu chắc chắn phải quanh đi quẩn lại trong biển khổ lụy của luân hồi. Chân thật tu tập với chí nguyện thoát ly vững chắc thì phải luôn nhớ đến câu hồi đầu thị ngạn, lấy trí tuệ giải thoát làm lẽ sống của đời mình, mọi thứ khác của trần thế đều chỉ xem là phương tiện chứ không phải mục đích. Lãng quên ý thức “hồi đầu thị ngạn” thì đời ta chỉ là ao tù ẩm tanh mùi trần dục. Người tu tập thường sống theo nguyên tắc “tam thường bất túc”

150


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

chính là nhằm mục đích không ngừng nuôi dưỡng trí tuệ, dành thì giờ cho công nghiệp vĩ đại của đời ta là hướng đến sự giác ngộ và giải thoát. Ta giác ngộ từng bước chính nhờ ở khuynh hướng “hồi đầu thị ngạn” vững chắc. Từ đó, lấy vô trước làm công viên cho tâm hồn, đời ta mới rạng rỡ giá trị giải thoát tối thượng.

151


THÔNG ĐIỆP CHO MUÔN ĐỜI

T

ứ diệu đế là bức thông điệp đầu tiên sau khi giác ngộ mà Đức Phật gửi đến cho tất cả mọi tâm hồn không nguôi khát khao về chân ý nghĩa cuộc sống. Xuyên qua từng thời đại, từng thế hệ con người tìm về bến Giác, đã bừng lên tuệ nhãn từ bức thông điệp ấy. Nhưng cũng qua thời gian dài lâu, có biết bao kẻ ngộ hận tai hại thông điệp ấy bởi họ không phải là người khát khao vì chánh trí. Về mặt nhận thức mang tính chất triết học thì bức thông điệp ấy đã cày xới lên mặt từng ý thức con người cái bề sâu, cái đáy vực cuối cùng của ý nghĩa sự sống. Bức thông điệp này đòi hỏi ở người nghe một tâm trạng tỉnh giác, bừng tỉnh trước mọi giá trị chân thật của cuộc sống, khiến cho người ta phải có một sự hồi tỉnh lớn lao, quay trở lại với đời sống có ý thức, không sống thờ ơ như một kẻ đã chết. Những ai chưa quen với đời sống hướng nội chân thật thì chưa đủ sức để nghe hiểu được nội dung bức thông điệp ấy. Trước hết ta phải tỉnh táo và long trọng xác định lại vị trí sống của mình giữa bao sanh vật. Con

152


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

người là một sanh vật duy nhất đòi hỏi ý nghĩa cuộc đời, vì nó có tư tưởng, có niềm suy tư, có băn khoăn sâu thẳm. Triết gia Pascal, thế kỷ 17 ở nước Pháp đã nhìn thấy giá trị vô hạn của tư tưởng con người khi ông bảo: “Con người là một cây sậy biết suy tư.” Câu nói đó vừa xác nhận sự nhỏ bé của thân phận con người so với vũ trụ bao la, đồng thời nó cũng lại xác nhận cái khả năng cao cả của trí tuệ con người trước vũ trụ. Chỉ cần một cơn gió độc thì con người cũng đủ chết, nhưng trước khi chết, con người còn biết được rằng mình chết, còn vũ trụ tuy bao la với sức mạnh vũ bão điên cuồng nhưng nó không bao giờ tự biết nó là cái gì cả. Nỗi băn khoăn tự hỏi đâu là chân ý nghĩa cuộc sống là một nỗi băn khoăn lớn, nó thổi qua mọi kinh tuyến tâm hồn, tùy theo mức độ mà mỗi người đi tìm cách giải đáp nông sâu khác nhau cho vấn đề. Những người không có đời sống nội tâm sâu sắc cũng như hoạt động trí não thì sẵn sàng tin vào một thế lực vu vơ nào đó để yên lòng sống trong sự che chở tạm bợ ấy. Trái lại, với những người sáng suốt hơn thì câu hỏi đó luôn là ngọn lửa rừng rực cháy trong tâm hồn. Họ không thể sống một đời còi cọc trí tuệ để rồi chết một cách lặng lẽ như cây cỏ tầm thường. Khổng tử nói: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ.” Câu nói đó biểu lộ một niềm suy tư khắc khoải về chân ý nghĩa cuộc đời, đến nỗi buổi mai mà nghe

153


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thấu được cội nguồn sự sống thì buổi chiều có phải chết cũng vui lòng, không còn chút ân hận gì nữa. Trước khi bức thông điệp đó được tuyên đọc lên, có một điều mà không ai biết được, đó là với tri thức so đo hạn hẹp mà con người lại cứ kiễng chân tâm hồn lên mãi, cố nhìn về phía bên kia quả đồi thời gian cuộc đời để mong tìm chân ý nghĩa của nó nên cuối cùng đành phải chịu thất bại đau khổ. Bao nhiêu triết học từ ba ngàn năm qua vẫn không đưa ra được giải pháp trọn vẹn chính vì mọi giải đáp của họ là sản phẩm của đôi chân nhận thức què quặt của lý trí hữu hạn. Nguyên nhân vì họ chưa ra khỏi ranh giới của nhận thức chủ quan, chưa đạt được một trực quan bén nhạy từ cuộc nội hướng vĩ đại bằng sức mạnh của một tâm linh chuyên nhất mạnh mẽ như Đức Phật. Đức Phật đã thấu ngộ chân ý nghĩa cuộc đời bằng công phu thiền định kiên cố chưa ai làm nổi Sau khi giác ngộ chân ý nghĩa cuộc đời, Đức Phật liền đến vườn Lộc Uyển khai mở một nguồn động lực tri thức mới cho năm người bạn cũ. Ngài đưa ra nội dung bức thông điệp ấy là bốn chân lý cao cả mà từ trước ngài chưa có bất cứ ai chỉ ra được. Bốn chân lý này, đầu tiên là nhằm chặn đứng cơn nghiện ngập vào thế giới siêu hình mà bao nhiêu học

154


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

phái đã từng bỏ công đổ xô đi tìm ý nghĩa cuộc đời trong lãnh địa hoang vu ấy. Căn bản của cuộc sống con người là khổ, cái khổ lớn hơn hết chính là cái khổ bị chụp trong chiếc lồng vĩ đại của luân hồi sanh tử mà chưa ai tìm ra nguyên do, căn cội cuối cùng của nó. Chân lý vĩ đại hay ý nghĩa đó của cuộc đời, Đức Phật đã khám phá ra, chính là vô minh và ái dục. Vô minh và ái dục trong vô lượng kiếp là động lực chính của guồng máy luân hồi. Đức Phật hình dung chúng là hai tên cai ngục. Ngài nói: “Ta lăn lóc từ vô lượng kiếp sanh tử luân hồi, không biết đầu mối từ đâu, từ bào thai này sang bào thai khác, đuổi bắt người chủ ngục, nay ta phát giác được chân tướng của ngôi nhà ngục và cả chủ của nó. Từ nay không còn ai là cai ngục của ta nữa; kèo cột, lầu gác đều bị ta phá gãy sập tan hoang hết. Tâm ta bừng sáng, ta từ bỏ cái trò chơi tạo tác của tư tưởng (hành). Tất cả đều đã diệt trừ xong.” Đó là bản hùng ca tối thắng, vĩ đại. Vĩ đại như thế nào? Đó là khám phá ra ái dục (lòng ham muốn) chính là nguyên nhân của sanh tử luân hồi. Đức Phật tối thắng vì Ngài đã vĩnh viễn bước ra khỏi lưới ái dục. Ái dục và những hệ thống hoạt động của tri thức, những tạo tác của tư tưởng tạo nên bộ máy tâm lý, tạo nên bản ngã là những sankhara (hành). Từ đó tạo ra mạng

155


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

lưới phủ lên nội tâm ngoại cảnh, tạo nên kiếp sống giả dối, dệt toàn bằng sankhara. Đức Phật đã thiêu rụi hoàn toàn mạng lưới kiên cố ấy. Tham ái, khát ái, ái dục là động lực ghê gớm tạo nên sức hút mãnh liệt của luân hồi. Cái khổ mà Đức Phật chỉ ra trong bức thông điệp đầu tiên và cuối cùng chính là cái khổ bị quay lăn trong bánh xe, trong guồng máy thênh thang của luân hồi đã khởi sanh từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay cũng chưa ngừng nghỉ. Chỉ có Đức Phật với công năng kiên cố tuyệt vời của định lực mới có thể khám phá ra chỗ cốt lõi ấy của luân hồi một cách sáng tỏ. Đời sống con người khổ vui đắp đổi trong khoảng trăm năm, nhưng nhìn lại thì cái khổ vẫn nhiều gấp trăm lần cái vui. Đó là sự thật. Nói rộng ra cho hết mọi chi tiết của tam khổ và bát khổ thì không thể kể hết. Khổ chính vì do mê muội chấp trước - bám chấp - bản ngã, rồi từ bản ngã sanh ra ngã sở, tức là mọi thứ của ta. Năm giác quan giao tiếp với năm trần cảnh liền phát động lên sự so đo, phân biệt. Từ một niệm phân biệt mà đất trời phân cách, tham đắm, ghét bỏ lộ nguyên hình ngự trị tâm não. Từ đó bị dính kẹt, bị đóng đinh vào mọi ham thích hay ghét bỏ mà cháy lên sự vui sướng hoặc sân hận, từ đó tạo ra vô số nghiệp nhân để trổ sanh quả đau khổ ngay trong hiện tại hay về sau.

156


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Dính mắc chính là ái dục. Cả đời cứ tơ tưởng quyến luyến đến mọi thứ, từ quyền lợi vật chất đến tinh thần, quyến luyến mãnh liệt đến tiền bạc, thú vui xác thịt, và mọi sự trong đời mình sống, đi qua, quyến luyến đến cả tương lai, dự định. Sự tham đắm đó ăn sâu gốc rễ từ nhiều kiếp, nó chính là sức mạnh quyết định lôi kéo ta trở lại trong nhịp tái sanh trong lục đạo luân hồi dằng dặc mãi mãi. Con đường giải thoát, biện pháp thông minh tuyệt vời cao thượng chính là tỉnh giác, quyết chí cắt bỏ mọi sự tham đắm đó. Cắt bỏ đến kỳ cùng. Nhờ vào ánh sáng của quán chiếu cốt lõi muôn hiện tượng tâm sanh vật lý, thấu rõ được sự tạm bợ, không chắc thật của chúng mà ta khôn ngoan, tỉnh thức để dễ dàng tự cắt bỏ mọi thói quen tham đắm trần dục. Đó là mở cửa đi vào cõi an vui không bờ mé, vượt ngoài không gian thời gian hạn hẹp của trái đất này. Hãy quán chiếu về ta, xem “cái ta” thực sự là gì? Trước hết cần phá tung cái trụ sở kiên cố là ngã chấp. Ngã chấp bị phá bỏ thì mọi khoen tham ái đều tự rụng mất hết chất bám dính. Ngã chấp là sợi dây mà mọi tham đắm là những hạt chuỗi được kết vào đây ấy, dây đứt thì hạt chuỗi kia tự rơi rớt, văng mất. Đức Phật thấy rõ chỗ cần phá trước tiên là ngã chấp, nên sau khi tuyên giảng bức thông điệp đầu tiên, Ngài

157


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tiếp tục chỉ ra phương pháp phá trừ chấp ngã. Đó là bài thuyết pháp thứ hai ở vườn Lộc Uyển, bài pháp vô ngã tướng. Đại thể, cách thức suy niệm căn bản để phá trừ chấp ngã là: “Cái này không phải là tôi, tôi không thuộc về cái này; cái này không phải là bản ngã của tôi.” Một tin chết chóc của ai đó gửi đến cho ta, ta liền quán chiếu suy nghiệm nó bằng cách thức suy niệm căn bản như trên. Khi ấy, ta sẽ thực hiện những nghi thức phúng điếu bình thường nhưng không để tâm mình xáo động vì sự chết chóc kia, vì ta đã trụ tâm vào sự suy niệm và thấy được bản chất thật sự của vấn đề. Trong 45 năm du hóa giảng đạo hay ở ngay tại tinh xá Kỳ Hoàn, rất nhiều lần Đức Phật nhắc nhở đại chúng về cách thức suy niệm căn bản đó, để chư tăng thực tập sống tỉnh giác. Có lần Ngài hỏi: “Nếu có người đến đốn chặt và đem hết mọi cây cảnh trong vườn Kỳ Đà này mà đốt đi thì các ông nghĩ sao?” Các thầy tỳ-kheo liền đáp rằng: “Thưa Thế Tôn! Cái đó không phải là con, con không thuộc về cái đó, cái đó không phải là bản ngã của con...” Đức Thế Tôn khen là phải. Một lời chê bai, nói xấu chợt bay đến bên tai ta, ta liền tỉnh giác bằng cách suy niệm theo cách thức trên cho thật thấu đáo thì lòng ta sẽ an nhiên tĩnh lặng. Ta chính là một dòng cảm thức biến chuyển liên tục theo

158


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

cảm giác do mọi đối tượng đem lại. Ta, nó lưu chuyển theo thể thức phi nhất phi dị, chẳng phải một mà cũng chẳng phải khác. Trong tiến trình từ sanh ra cho đến hủy diệt, nó là một dòng suối con chảy băng mình qua cánh đồng ngũ dục. Ở từng chặng, nó tiếp nối với bao dòng suối cảm giác, cuối cùng nó thành dòng sông lớn. Dòng sông lớn chứa trong bản thân nó vô số nhịp điệu tâm hồn, nghĩa là vô số ý tưởng sanh diệt từng lúc ngắn ngủi. Mọi ấn tượng đều được lưu giữ trong dạng biến đổi trùng trùng trong thức A-lại-da. Thức A-lại-da, chỉ có trí giác như Đức Phật mới hiểu hết được vì nó hết sức thâm sâu vi tế. Trí óc phàm phu chỉ hiểu được phần nào về danh tướng và nguyên tắc hoạt động của nó mà thôi. Ta, chính là dòng nghiệp thức liên tục từ vô thỉ kiếp, cứ sống chết thay hình đổi dạng. Sự tham muốn mãnh liệt về sự sống, về mọi thứ trong cõi đời là một dòng nghiệp thức chủ động, đưa ta tái sanh mãi mãi tùy theo năng lực thanh tịnh hoặc ô nhiễm ít hay nhiều mà trổ sanh ra trong những cõi vui sướng hoặc đau khổ. Dứt hết ham muốn thì dòng nghiệp thức đó trở thành trong sạch, và ý muốn trong sạch trở thành chủ lưu, ta thể nhập vào cõi vô sanh vĩnh tịch.

159


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Ngay trong đời này, nếu ta có nhiều tịnh tâm thánh ý cao vời thì ta có nguồn an lạc như bực Thánh, không còn mê muội đổ nước đục cho dòng nghiệp thức thêm chất đầy tội ác bi thảm. Ta, ban sơ chỉ là một bài ngụ ngôn. Bài ngụ ngôn hay chính vì cái ý nghĩa thâm thúy của nó, chứ câu chuyện kể chứa đựng nó thì không có thật trăm phần trăm ở đời. Nhưng trẻ con nghe chuyện thì cứ ngỡ là chuyện thật có. Ta như đám trẻ con nghe chuyện về “cái ta”, cứ ngỡ cái ta là có thật. Từ đó, ta cho “cái ta”, “thằng tôi” cư xử như một cái gì chắc thật. Từ góc độ vật lý thì “cái ta” này là một ngôi đền để từ đó ta tu tập mà giác ngộ. Cái đáng nói ở đây chính là ý thức chấp ngã. Tu tập tức là chuyển hóa cái ý thức đó từ mê sang tỉnh. Phá trừ chấp ngã, nói cho chính xác là phá trừ cái ý thức kiên cố lâu đời ấy. Thấu rõ được chỗ quan trọng đó thì ta không còn dại dột tạo bao ác nghiệp mà chịu trầm luân nữa. Trong kinh Lăng Già, Đức Phật có nói: “Phàm phu ngu mê chấp cứng danh tướng, mắc kẹt vào danh tướng, chẳng khác gì voi già mắc lầy không rút chân lên được.” Giải thoát chính là phá trừ mọi dính mắc vào danh tướng trong đời sống. Bức thông điệp trên đây giúp mọi người bừng tỉnh tâm hồn, đối diện với bản chất khổ đau của đời sống.

160


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Từ đó, đức Phật tiếp tục chỉ ra nguyên nhân chính yếu của mọi khổ não trong luân hồi và dạy phương pháp để thoát ra khỏi vòng cuốn hút oan khiên của sanh tử luân hồi. Ta sẽ không bao giờ ra khỏi được nếu không tận lực thực hành phương pháp mà Đức Phật đã trao truyền chỉ dẫn cặn kẽ trong bức thông điệp cao quí đến tận muôn đời là: Quan sát, phân tích và lập chí xuất ly.

161


GIẢI THOÁT VÀ GIÁC NGỘ

G

iải thoát và giác ngộ là mục đích tối thượng của người tu theo đạo Phật. Sơ đẳng nhất phải hiểu giải thoát là: “Giải hoặc nghiệp chi triền phược, thoát tam giới chi khổ quả.” Nghĩa là, cởi bỏ mọi trói buộc do mê lầm gây ra, vượt khỏi đau khổ trong ba cõi. Giải thoát là một triết lý, một khát vọng đã có từ rất lâu trong nền triết học tâm linh của Ấn Độ. Đến thời Đức Phật, với sự hiểu biết thông suốt cao tột, Ngài đã thực hiện công việc giải thoát đến chỗ hoàn hảo nhất và đưa ra phương pháp hữu hiệu giúp cho mọi người đều có thể tự mình thực hiện được. Từ lâu, nhiều người không hiểu được ý nghĩa giải thoát cho thấu đáo sống như thế nào để đạt được giải thoát, nên cứ nghĩ rằng giải thoát là một cái gì xa xôi chỉ đến sau khi lìa bỏ thân xác này. Thật ra, giải thoát là một trạng thái tâm hồn thanh tịnh, vượt lên trên hết thảy mọi vọng động phân biệt, tham đắm, ghét bỏ và hàng loạt tâm lý quấy động đưa đến sự bám luyến vào mọi âm thanh hình sắc trần gian.

162


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Giải thoát như vậy tùy thuộc hoàn toàn ở sự nhận thức sáng suốt đoạn ái, xả ly của ta trước mọi vấn đề ùa đến cho tâm thức mình. Nhận thức sáng suốt là nguồn hiểu biết đã được tôi luyện vững chắc từ sự rèn luyện tự tâm dưới ngọn lửa trong sạch của chánh trí Phật pháp. Nó là kết quả rực rỡ từ công năng quán chiếu, suy nghĩ lâu dài một cách sâu sắc và liên tục về các vấn đề lớn nhất của đời sống là lý vô thường, vô ngã, nhân duyên sanh trong mọi hiện tượng, để từ đó ta có một tư thế an nhiên, vô úy, bất động trước sự hoại diệt, đổi thay của mọi hiện tượng trong cõi trần. Đó là con mắt tuệ đã sáng ra, không còn bị mây mù của tà kiến ảo giác, ngộ nhận che khuất, làm mê muội như trước kia. Không còn dễ dàng bị lung lạc, xoay chuyển, đau khổ, lo sợ, bất an trước mọi sự được mất trong cuộc đời. Như thế là ta đã đạt được tâm thái giải thoát. Như vậy là một đời sống không trách nhiệm hay sao? - Không phải. Ta vẫn sống, vẫn làm mọi việc không khác với bình thường, nhưng là làm với sự vô tâm, vô chấp, không phân biệt bám luyến. Đau khổ chính là vì ta bám luyến, gắn chặt bản ngã mình một cách mê muội vào mọi việc mình làm, cứ thấy công ơn của mình là cái gì to lớn như càn khôn vũ trụ, nó mất

163


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

đi, ta phóng theo bản ngã ấy mà nổi lên bao đau khổ tột cùng. Càng gắn chặt vào bản ngã, tâm tình càng tiêu phí hết nguồn yêu mến vào mọi thứ, cứ tưởng đó là mục đích tối hậu của đời mình thì ta càng chuốc lấy biết bao đau khổ. Cứ thế mà tâm hồn ta luôn bị trói chặt không đường cứu gỡ. Một cái nhìn, một cái đưa chân cũng đã tự nhiên gắn chặt bản ngã, tâm tình mình vào đó rồi. Người không hiểu thấu đáo chánh pháp thì không bao giờ nỗ lực quán chiếu để tự cứu mình ra khỏi vòng dây oan nghiệt của trói buộc. Ai trói buộc tâm hồn ta? Chính tâm ý ta tự trói buộc lấy mình. Đó là tâm lý tham đắm và ghét bỏ đã dẫn dắt mọi sanh hoạt tinh thần và tình cảm, nó lôi kéo về mình mọi cái gì nó yêu thích. Đó là tâm lý khát khao ái dục đã ăn sâu qua vô số đời sống, tạo nên một sức hút kiên cố, một số đời sống dằng dặc, tạo nên một sức hút bền chặt mang nặng chiều hướng bản năng nguyên thủy. Bản chất tối hậu của cuộc sống chúng ta là cứ mong cho trường tồn mọi cái mình ưa thích. Nhưng đó là chủ quan cận thị tri thức. Không bao giờ và bất cứ ở đâu mà đời sống cứ tuần tự diễn ra hoàn toàn theo ước muốn chủ quan của mình cả. Từ tâm lý chủ quan cố thủ đó mà mọi biến động đổ nát xảy đến cướp đi mọi đối tượng yêu thích là ta đau khổ quằn quại.

164


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Như vậy khổ đau và hạnh phúc là hai gọng kềm siết cứng cổ nhận thức và đời sống mọi mặt của ta. Mọi khổ vui của con người đều bắt nguồn từ nền tảng nhận thức đó. Cái cao quý nhất của đời sống con người là giá trị tinh thần, là tinh ba tư tưởng chứ không phải vật chất phủ phê, là sự nhận biết đâu là mục đích tối hậu, đâu chỉ là phương tiện. Trí tuệ Phật pháp chính là biết quay về tự tâm quán chiếu, suy xét theo lời dạy quý báu của Đức Phật mà thấu triệt ý nghĩa của đời sống. Từ đó biết chuẩn bị cho mình một tư thế sống đầy trí tuệ. Đó là sống có tiết chế bằng nhận thức sâu sắc chân thật của bậc trí, không buông trôi theo sự biến động bề ngoài của muôn hiện tượng. Từ đó, ta được giải thoát. Đại giải thoát là giải thoát khỏi luân hồi sanh tử khép kín từ vô số kiếp sống. Ta ra khỏi sức hút của luân hồi là ra khỏi mọi tâm niệm tham ái ghét bỏ ngay tại nơi đây, trong từng giờ phút hiện tại này. Luân hồi không phải là một thế lực bí nhiệm hay ẩn núp đâu đó ngoài tâm ta, ngoài ý nghĩ ta, để chờ chực khi ta tắt thở là vươn tay kéo ta vào bụng nó mà đày đọa cho ta lọt vào lưới trời hoặc rớt xuống rún địa ngục chịu trăm bề khổ lụy. Luân hồi, tái sanh trong tam giới lục đạo bắt đầu từ ngay ở tự tâm mình. Tự tâm mình là nhà ga

165


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

đầu tiên ngay tại nơi đây cho cuộc lên đường hoặc luẩn quẩn trong sáu cõi hoặc ra khỏi sáu cõi. Ta phải thấu rõ căn nguyên của luân hồi sanh tử và Niết-bàn giải thoát ở ngay trong giờ phút hiện tại, ở điểm xuất phát ban đầu là tự tâm. Cái gì là động cơ dẫn dắt ta vàovòng quay đau khổ của luân hồi? Từ ban sơ, Đức Phật đã chỉ rõ đó là ái dục và vô minh. Vắn tắt chỉ có vậy. Ái dục chi phối mọi ngõ ngách đời sống tinh thần, tình cảm, mọi hoạt động của năm giác quan chúng ta. Trong kinh điển dạy rõ con đường giải thoát là đoạn ái, xả ly, nghĩa là dứt trừ ái dục, buông xả, lìa xa mọi thứ duyên trần. Người chuyên tâm tu tập không tạo lập gia đình, không tích lũy của cải, tài sản, chính là bước đầu dọn đường cho sự giải thoát, ra khỏi mọi lo lắng trói buộc của trần tục. Từ đó, thực hành nếp sống đơn giản nhất để dành hết thì giờ cho việc quán niệm tâm ý, nắm chắc cái ga đầu của con đường giải thoát. Khi một tâm niệm móng động lên, ta liền biết nó là thứ gì để cắt bỏ, nếu là tâm niệm tham ái, và nuôi dưỡng, nếu là tâm niệm thanh tịnh giải thoát. Đức Phật đã chỉ dạy cặn kẽ cho các vị tỳ-kheo đủ mọi phương tiện để vượt thoát ra khỏi vũng lầy của mọi tham đắm, ghét bỏ. Sự tham ái là một thế lực bao trùm, ru ngủ

166


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

êm ái mọi tâm lý yếu đuối. Chỉ một thoáng sơ hở thiếu tỉnh giác là nó lập tức ra tay và ta dễ dàng rơi vào vòng chi phối của nó. Vì thế, nếu không kiên trì giữ chặt chí nguyện xuất ly, biến ý chí thoát xuất ly thành sức mạnh vững chãi của tâm ý mình thì rất khó thoát khỏi nanh vuốt nhung mượt của tham ái. Người xuất gia tu tập hồi Phật tại thế ngày ngày đi khất thực, không cửa không nhà, ngủ tạm dưới gốc cây cũng không đến hai lần, rồi lại lên đường đi nơi khác. Cứ thế mà tỉnh giác chánh niệm, đoạn ái, xả ly. Trong kinh Tứ thập nhị chương, đức Phật dạy chư tỳ-kheo rằng: “Nhật trung nhất thực, thọ hạ nhất túc” (chương 3), nghĩa là mỗi ngày chỉ ăn một bữa, ngủ dưới mỗi gốc cây một đêm. Đó là vì sợ rằng ngủ lâu ngày sẽ sanh tâm lưu luyến, ưa thích cái gốc cây. Thật ra thì trong đời sống này, khi ta tiếp xúc lâu với cái gì dễ chịu cũng đều dễ dàng sanh tâm đắm nhiễm, hay ở yên ổn một nơi nào lâu ngày thì ta sanh tâm bám luyến vào những tiện nghi ở đó, chí xuất trần lại bị phôi pha mà hóa ra rơi vào đắm nhiễm, vướng mắc. Người ta nói rằng loài hạc chỉ đến ăn nơi ao nước nào đó một lần rồi bỏ đi, không trở lại vì nước ao đã bị khuấy đục. Đó là hình ảnh sống động để so sánh, miêu tả khái niệm xả ly. Vì thế mà có thành ngữ hạc xả không trì, nghĩa là hạc bỏ ao hoang, ăn một lần rồi

167


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

bỏ mà ra đi. Vị tỳ-kheo nên sống như thế, không lưu luyến mến tiếc một nơi nào, xem bốn phương là nhà, không để tâm ý vướng mắc vào một nơi nào mà khởi sanh tham ái, trói buộc vào nơi đó, vướng mắc tâm tình vào cảnh trí, đời sống nơi đó. Mặc dù giải thoát chủ yếu vẫn là vấn đề của tự tâm, nhưng hoàn cảnh, điều kiện sống xung quanh cũng góp một phần trợ duyên rất lớn. Nếu ngọn đèn tỉnh giác chánh niệm tắt mất và căn tạng của cảm xúc, suy tư, hành động của ta bị ác ma tham đắm làm chủ thì lửa chấp ngã bùng lên che mờ trí giác. Khi ấy, ta lại tiếp tục trôi lăn trong dòng sông ngũ dục, ra tới biển luân hồi. Ngoài ra, những ngọn lửa ngã mạn, kiêu ngạo, tự phụ cũng thường xuyên thiêu rụi mọi hoa lá xanh tươi của tâm hồn giải thoát, nếu ta không tỉnh thức phòng thủ tâm ý thường xuyên. Trí tuệ giải thoát cũng phải phát triển từ cạn tới sâu, ban đầu phải dựa vào tri thức thế gian, đọc hiểu kinh điển trên bình diện ngữ nghĩa, rồi mới đi đến chỗ lãnh hội được tinh túy của lời Phật dạy nằm sau lớp vỏ văn tự. Có hiểu sâu sắc mới thấy lời Phật dạy là cao quý thuần khiết, từ đó mới chuyển hướng t��m hồn mãnh liệt mà quay về phương trời tâm linh cao khiết. Từ sau sự lãnh hội sâu sắc ấy ta mới có cơ hội đi sâu

168


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

vào quán chiếu tự tâm và mọi hiện tượng, mới phát triển được trí tuệ rực sáng của chánh trí Phật pháp. Trí tuệ đó dần dần trở thành nguồn sống, chỗ nương tựa chân chánh của đời ta. Từ đó ta dễ dàng dứt bỏ đời sống cũ, đời sống vướng mắc vào mọi tham đắm ghét bỏ cùng trăm thứ phiền lụy, và trực nhận được cái an vui tịch tịnh giải thoát của cảnh giới vô sanh. Khi đó mới thấy cái vui trong trần tục do ngũ dục mang đến chỉ là cái vui giả tạo, ngắn ngủi và hạn hẹp. Mà thật ra thì cái vui ngũ dục cũng chính là cội nguồn tạo nên bao nỗi khổ đau sau đó, như văn Quy Sơn cảnh sách từng chỉ rõ: “...bất tri lạc thị khổ nhân!” (...chẳng biết rằng vui đó là nhân của khổ.) Tự ái là một ngòi nổ cực nhạy, chạm đến là nó nổ tung trời để bảo vệ bản ngã. Phải tỉnh giác để triệt tiêu dần tự ái thì thùng thuốc súng sân hận sẽ không còn ngòi nổ. Kinh dạy: Sân hận tội nhẹ, dễ trừ, tham ái có vẻ như hiền nhưng vô cùng khó trừ. Cả thế gian là đều là xứ sở của tham ái. Dòng sông tham ái chảy khắp bến bờ của giác quan, tâm tưởng, khắp đông tây kim cổ mọi nơi, mọi chốn. Ý niệm về “cái ta” lớn mạnh trùm phủ lên mọi nơi mọi chốn, mà hiện hình rõ nhất của “cái ta” là tự ái. Thức Mạt-na là những cần ăng-ten trên pháo đài bản

169


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

ngã. Mạt-na chính là tự ái, ngã ái, ngã mạn, ngã si, ngã kiến. Nó dồn chứa trữ lượng phản ứng từ vô lượng kiếp, ăn sâu trong vô thức, phải có chí khí thoát ly dữ dội mới giải trừ lần hồi được bao nhiêu lớp quấn khắc nghiệt ấy của bản ngã. Ngã, ta, là trụ sở để từ đó gom về mọi tham đắm hay ghét bỏ. Giải thoát tiến lên một bực là xả bỏ tri kiến cũ. Tri kiến của ta rất dễ bị khô cứng, đóng khuôn trong thói quen, trở thành cố chấp thiên lệch nặng nề. Giải thoát chính là ra khỏi ngục tù của mọi khái niệm. Khái niệm thường là những cản trở kiên cố làm cho tâm lượng giải thoát không thể tiến lên. Ta phải thấu biết tu tập ngay từ chỗ cốt lõi là quán chiếu tự tâm để từ đó đạt cõi nguồn an lạc ngay đây với một thái độ sống thanh tịnh, biết từ bỏ mọi giá trị tạm bợ không vững chắc của trần gian, mọi giá trị xây lên từ tham đắm ngũ dục. Dứt bỏ một chút tham dục là có thêm một chút giải thoát. Giải thoát không phải là đặc ân của ai đó ban phát hay do may mắn tình cờ nhặt được, mà giải thoát chính là kết quả huy hoàng sáng chói của một nền nhận thức xả ly. Tâm niệm khát khao giải thoát càng phát triển vững vàng khi tâm hồn có định hướng tiến lên giác ngộ, khi quán chiếu thấy rõ cái u tối hãi hùng của đời sống quay mòng trong tứ sanh lục đạo. Phải thấy rằng ta tu tập là để đạt

170


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

được an vui tịch tịnh ngay trong đời này, ngay bây giờ, không thể buông lung phóng túng mà mong đợi giải thoát tự đến với mình. Đạo Phật dạy cho con người một chân lý là phải biết tự tin vào khả năng chuyển phàm lên Thánh của chính mình. Giải thoát hay trói buộc, tất cả đều tùy thuộc ở khả năng nhận thức và tu tập của mỗi người. Nhận thức và hành xử theo con đường tịch tịnh thì dần dần ta sẽ có giải thoát. Giải thoát đó phải được nuôi dưỡng bằng ý chí, sức mạnh của nỗ lực tinh cần. Đạo Phật, trên căn bản nhắm vào độ sanh chính là đưa ra những phương tiện để mọi người tu tập đạt đến giải thoát an vui ngay trong đời hiện tại, cứ liên tục bồi đắp con đường tịch tịnh tâm linh ấy thì khi lìa bỏ xác thân này ta đã nắm chắc trong tay cửa vào diệu thể bất diệt. Như vậy là ta đã chuẩn bị đầy đủ cho cuộc đời ta ngay từ giờ phút này. An vui giải thoát ngay đây thì cuối đời ta thể nhập cái an vui giải thoát đó vào vô sanh vĩnh tịch, không còn chút tỳ vết của băn khoăn lo nghĩ lao xao nào nữa. Ta ra đi mà biết chắc nơi mình đến từ bây giờ thì đó là một cuộc ra đi không uổng phí kiếp người.

171


TÂM HÀNH ĐẠO

T

âm hành đạo có nghĩa là người tu hành chân chính phải lấy công việc điều phục tâm ý làm công việc khẩn thiết chín chắn hàng đầu. Tâm làm chủ tất cả, thế nên phải “hàng phục kỳ tâm”, làm chủ mọi móng động của tâm ý mình. Điểm đặc thù của tâm là nó tự biết lấy nó. Phương pháp căn bản có tính cách truyền thống tối sơ vẫn là giới, định, huệ. Thường gọi là Tam học và Tam vô lậu học. Tu chắc thật Tam học để đạt đến giải thoát, ra khỏi mọi trói buộc nặng nề của tâm lý phiền muộn là đạt đến trạng thái yên tĩnh sáng suốt. Khi tâm ý không còn chạy theo đối tượng ngũ trần, ngũ dục, hoàn toàn sáng suốt, thanh tịnh, không còn nhỉ ra chất tham đắm thì gọi là vô lậu. Chữ tâm có rất nhiều nghĩa. Thông thường, tâm được dùng để chỉ khả năng phân biệt, suy lường, nhận hiểu. Hai khái niệm tâm và ý cũng thường được dùng giống nhau, nhưng xét ở mức độ tinh tế thì có nhiều lãnh vực phân biệt thuộc tâm hoặc thuộc ý. Có thành ngữ so sánh “tâm viên ý mã”, nghĩa là tâm như con vượn, cứ chuyền từ chuyện này bắt qua chuyện nọ không ngớt; ý thì như con ngựa sải nghìn trùng, không

172


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

đứng yên, luôn phóng nghĩ theo những chuyện cùng khắp đất trời. Theo Duy thức học thì tâm, hay ý thức, là đệ lục thức, thức thứ sáu, tức là khả năng phân biệt từ cảm giác đưa vào. Phần việc của ý là tư lương, tức là suy tư đắn đo, mưu hoạch phương thế. Một việc làm cố ý tức là có định tâm sâu sắc, suy lường kỹ lưỡng mọi phía. Sự hoạt động của đời sống nội tâm về tình cảm hay trí thức ta đều quen gọi là tâm ý. Ngoài ra, chữ tâm còn được dùng với nghĩa là tâm thanh tịnh sáng suốt, thường gọi là chân tâm, đối lại với hệ thống phân biệt so đo, gây bao phiền lụy trần thế, gọi là vọng tâm, vọng niệm, hay tâm tà, tâm ô nhiễm, nghĩa là tâm bị nhuộm trong bùn lầy vô minh tăm tối, tham đắm. Chân tâm tức là tánh Phật không ô nhiễm. Cái tâm Phật đó cũng là từ tâm ô nhiễm mà chuyển hóa thành, khi ta giặt sạch nó bằng nước Chánh pháp. Có thể giặt sạch tâm ô nhiễm bằng nhiều phương pháp. Đó là những pháp môn tu tập dành cho từng căn cơ, trình độ, năng lực hành trì trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể. Trong vòng tương đối của trần tục thì tâm hành đạo nơi chính ta là bắt đầu kêu gọi tâm thanh tịnh trở

173


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

về, giữ yên không để nó tha hồ phóng túng chạy theo sở thích trần tục như trước kia. Tâm hành đạo tức là chuyển từ vô số tâm, đa tâm về nhất tâm. Ta có khát khao dứt trừ nỗi khổ đau trong vô lượng kiếp thì ngay giờ phút này ta phải biết chuyển hóa vô số tâm, vô số lo nghĩ chuyện đời về an trụ vào mối, một đề mục quán chiếu sâu sắc nào đó, như quán chiếu tính chất vô thường, vô ngã, duyên sanh trong mọi hiện tượng để dứt bỏ tâm tham ái, ghét bỏ và mọi móng động theo trần cảnh. Như vậy là đem tâm ý mình vào đường đạo, hướng về thánh quả thanh tịnh. Thực hành tâm linh là công việc hành trì suốt đời, cô liêu, lặng lẽ, âm thầm, hùng vĩ của mỗi con người có chí khí lẫm liệt. Không ai có thể làm thế cho mình được cả. Trong kinh Tứ thập nhị chương, đức Phật dạy rằng: “Bực sa-môn hành đạo đừng như con trâu kéo cối xay, thân tuy hành đạo mà tâm đạo chẳng hành.” Thân hành đạo tức là tụng niệm, lễ sám, ăn chay, trì chú, giảng đạo... Tâm không hành đạo tức là làm mà không có sự chú tâm, biết rõ là mình đang làm những gì lúc đó. Có nghiã thân làm mà tâm ý thì buông thả, phóng túng đi khắp bốn phương trời. Làm theo kiểu đó thì không có ích lợi chân thực, vì tu tập quan trọng chính là ở chỗ kềm giữ tâm, chuyển hướng cho nó đi theo đường tịch tịnh, xả ly, đoạn ái. Mọi việc

174


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

làm nặng về sự tướng chỉ nhằm mục đích là để ta có cơ hội tốt mà gom nhiếp tâm ý mình trở về. Như việc tụng kinh là làm cho tâm hồn ta sung mãn, lời kinh vang vọng khiến tâm phải theo âm thanh đó mà quay đầu trở lại. Mọi nghi lễ, mọi âm thanh pháp khí ở già-lam đều là phương tiện thanh tịnh để ta dễ dàng trở về với sự thanh tịnh. Ngoài ra giá trị của tụng niệm còn gây nên một sự cảm ứng nhiệm mầu sâu xa trong vô thức, khó đem trí óc cạn cợt ra mà phân tích cho được. Chẳng hạn như những người tu theo Mật tông, họ tụng đọc những bài thần chú với sự nhiếp tâm cao độ, họ đạt được nguồn linh diệu cao cả, nguồn cảm ứng khó nghĩ bàn. Ở một phương diện nào đó, ta có thể hiểu đó là sự vang vọng của tiếng lòng thanh tịnh nhờ có sự nhiếp tâm cao khiết không còn tỳ vết của vọng niệm xen tạp khuấy động làn sóng tâm linh thuần khiết. Như vậy, đầu và cuối của lối tu trong đạo Phật vẫn là phải nắm bắt cho được tâm. Tâm hành đạo mới là cái mấu chốt. Thân, khẩu là phụ. Trọng tâm vẫn là đánh thẳng vào tâm và ý. Mọi sự tướng chỉ là phương tiện hỗ trợ cho cuộc lên đường ngày càng thêm vững chắc. Nếu không chuyên lo gột rửa tâm ý mà chỉ hành đạo ở sự tướng, dù là sự tướng lớn lao thì cũng chỉ được

175


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

phước quả trong vòng luân hồi mà thôi, chưa thoát khỏi luân hồi được. Chỉ có đánh thẳng vào chỗ tối quan trọng là “điều phục, chế ngự và hướng dần” cho tâm ý mình trưởng thành trong nhiếp tâm cao độ mới có đủ năng lực như cây dao cực bén thường xuyên cắt đứt mọi thứ dây nhợ phiền não. Cắt bỏ mọi dây nhợ tham ái, ô nhiễm tức là ra khỏi luân hồi ngay tại đây. Ra khỏi luân hồi chính là ra khỏi vòng siết kiên cố của ái nhiễm. Tâm hồn chúng ta từ trăm ngàn đời đã bị nhuộm trong thùng thuốc nhuộm tham ái, ăn màu khắn chặt vào tham ái. Nếu không có sự quyết tâm, kiên trì và dứt khoát thì rồi ra cũng chỉ là ngựa theo đường cũ. Tâm hồn chúng ta hăm bốn giờ một ngày luôn bị duyên trần tấn công từ mọi phía, mọi chiều kích, phủ ngập hết mọi nơi trong tinh thần, tình cảm, chỉ còn dành chỗ rất ít cho chánh trí Phật pháp. Biết thế nên ta phải không ngừng tỉnh giác nuôi dưỡng kiên trì ngọn đèn chánh trí để luôn sáng rực lên. Đó là ánh sáng tin cậy tuyệt đối của ta trong đêm đen luân hồi cay nghiệt. Tu tập là không ngừng khai phá rừng già vô minh, thiên lệch, cố chấp, tham đắm, để tăng cường, nuôi dưỡng trí giác Bồ-đề trong ta. Ta rất dễ dàng bị ru hồn trong sự tướng mà quên mất đường về. Có chí nguyện theo chân đức Phật mà lên Vô thượng đạo thì

176


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

không thể buông xuôi hoang phí đời mình trong việc hành đạo bề ngoài. Ta phải thường tự chiêm nghiệm lại cho thật chân chính công việc tu học của mình, xem ta đã thực sự làm được những gì, có giá trị bao nhiêu đối với việc khai mở trí giác và quyết tâm cầu giải thoát. Phải coi việc chuyển hóa nội tâm là công việc chín chắn duy nhất và thiêng liêng nhất đời mình, không có việc gì quan trọng hơn nó. Như thế là ta biết lo cho huệ mạng. Người luôn biết lo cho huệ mạng với tất cả chí khí sức lực bình sanh là người nhận hiểu đúng lời dạy của đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn có dạy rằng, ai khen ngợi phước đức của ta thì chưa biết ta, chỉ có ai khen ngợi trí đức của ta mới là người hiểu ta. Đạo Phật từ tối sơ đã là đạo của trí tuệ chân thật, là đạo khai sáng trí giác cho muôn loài. Trí giác đó bất cứ ai cũng có khả năng đạt tới. Trong kinh Pháp Hoa có thí dụ kẻ cùng tử và hạt ngọc trong chéo áo. Ta lìa bỏ cố hương giác ngộ quá lâu nên đâm ra xa lạ, nhưng đó mới chính là cố hương chân thật vĩnh viễn của mình. Đức Phật từ sau khi thành đạo, suốt 45 năm đi khắp nơi giảng dạy bằng mọi cách, đều nhằm mục đích chỉ cho mọi người biết rõ về cái cố hương giác ngộ của mỗi người, để họ hăng hái nỗ lực tìm về mà hưởng sự an nhàn vĩnh tịch. Những ai có sự

177


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

hiểu biết chân chánh đều phải có lúc tự hỏi đâu là cố hương vĩnh tịch của mình, ngoài vòng cương tỏa của hạn hẹp phù sanh này? Nhưng muốn trở về cố hương giác ngộ đó, ắt cũng phải có một nhà ga, bến bãi để khởi hành. Đó là bến tự tâm. Ngoài bến đó không có bến nào khác cho cuộc trở về của ta. Ai không vào bến tự tâm mà chạy tìm bến khác, mong cầu ở một thế lực, quyền năng bên ngoài tự tâm mình thì nhất định đã lạc đường rồi. Phải khởi lên từ trong sâu thẳm của tâm ý mình một ý tưởng, một niệm “đoạn ái, xả ly” quyết liệt nghìn vạn lần, nhớ mãi đến điều đó thì đời ta mới có cơ hội thể nhập được vào dòng nước Thánh, ra khỏi luân hồi. Người nông phu chân chính cần mẫn phải đổ biết bao nhiêu tâm lực vào ruộng đồng. Ta cũng là một loại nông phu, còn gian khổ hơn gấp bội vì ta gieo hạt giống vô lậu, gặt quả vô sanh. Công việc đồng áng tâm linh không thể là chuyện làm chơi ăn thiệt. Mọi tập khí, phiền não vi tế luôn ẩn hiện sẵn sàng tàn phá cơ nghiệp giải thoát. Tâm hành đạo kiên cố thì đời ta mới có giá trị, mây mù tà kiến, cố chấp mới bị phá tan. Tâm ý ta rộng mênh mông nhưng ta vẫn có khả năng cai quản, vấn đề quan trọng nhất chính là niềm khao khát mong cầu giải thoát. Việc ra khỏi luân hồi cũng dễ mà cũng khó,

178


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

hoàn toàn tùy thuộc vào năng lực tu tập đoạn ái xả ly của mỗi chúng ta. Dù tu tập bất cứ pháp môn nào cũng phải bắt đầu từ xả ly, đoạn ái mới tiến đến giải thoát được. Xả ly, đoạn ái là công nghiệp lớn lao và khó khăn bậc nhất, vì tự thắng mình là chiến công lớn hơn mọi chiến công. “Ái bất trọng bất sanh Ta-bà”, thế có nghĩa là muốn sanh về Cực Lạc, muốn ra khỏi luân hồi thì phải vĩnh viễn đoạn ái, buông bỏ mọi quyến luyến với cõi Ta-bà thì mới sanh về Cực Lạc được. Ta phải chú ý hiểu đúng về câu kinh “chỉ cần niệm 10 câu A-di-đà Phật liền được vãng sanh”. Câu này nhằm chỉ ra nguyên lý: “Thiền đốn ngộ, Tịnh độ đốn tu”, nghĩa là tu Thiền thì mau ngộ, tu Tịnh độ thì mau được ra khỏi luân hồi. Trong kinh A-di-đà có dạy: Người có chí nguyện cầu về Tịnh độ phải tin sâu nguyện thiết đêm ngày nhớ tưởng về Tịnh độ, định tâm niệm Phật A-di-đà chí thiết, gần lâm chung thì nhất tâm bất loạn, phải “tâm bất tham luyến, ý bất điên đảo”, có vậy mới được vãng sanh. Như vậy là trụ tâm kiên cố chuyên nhất, không còn vết rạn của chủ thể và đối tượng. Luồng chí nguyện vãng sanh ấy mới thẳng tắp như mũi tên bay một mạch tới cõi Cực Lạc. Công việc nhổ sạch mọi tà tâm vọng tưởng phải làm lâu dài bền bỉ với chú tâm định ý cao cả mới công

179


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thành quả mãn, nếu lên đường với lòng tin cạn cợt, chí nguyện mỏng tanh như lông chim, giấy quyến (Tín ngoại khinh mao) thì làm sao có kết quả? Tâm lý ỷ lại, nhờ vã đã cắm rễ quá sâu trong tâm thức chúng ta. Đạo Phật lại đòi hỏi chí thiết ở sức kiên cường tự cứu, điều đó dễ khiến người tu thối chí. Họ dễ buông đời vào phương tiện, lâu ngày quên mất định hướng chân chánh của đường tu. Trong cuộc sống quá vội vã, ồn ào ngày nay, sự hành đạo ở tự tâm càng phải được gia tăng sức tỉnh giác nhiều hơn gấp bội. Xã hội vật chất luôn kích động mọi nhu cầu của giác quan, nếu không khôn ngoan biết chế tâm trụ ý thì dễ rơi vào sự cuốn hút vô tận của ngũ dục. Tâm hồn chúng ta bị thiêu rụi hết mọi bóng cây an lạc, còn lại trơ trọi như ngọn đồi trọc không bóng cây, ngọn cỏ. Phải tạo lấy cõi an lạc ngay trong giờ phút này. Thơ xưa có câu rằng: “Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc? Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn?” Nghĩa là: Hễ ta biết đủ thì liền đó đủ, đợi cho đủ thì không bao giờ đủ; biết nhàn là hưởng nhàn, đợi nhàn thì không bao giờ có nhàn. Lòng tham không đáy! Thế

180


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

nên khởi tâm vững mạnh chấm dứt lo nghĩ là an lạc trong sự biết đủ. Cảm nhận được lòng rỗng rang thì ta hưởng cái rỗng rang đó ngay, nếu cứ chờ cho xong hết mọi việc mới hưởng cái thư thái tâm hồn thì không bao giờ có được vì ta cứ bị trôi, bị cuốn hút mãi vào phương trời xa thẳm của lo toan suy nghĩ cho đến suốt kiếp cũng chưa buông được. Như vậy, điều quan trọng là biết chấm dứt lo nghĩ, dứt bặt lo toan thì ánh sáng tự tâm sẽ bừng chiếu. Từ đó, ta giữ mãi nguồn an lạc ấy mà đi tới.

181


VẮNG LẶNG Chư pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng. Xuân đáo bách hoa khai, Hoàng oanh đề liễu thượng. (Các hiện tượng xưa nay Bản tính thường vắng lặng Xuân đến trăm hoa mừng Oanh vàng ca liễu thắm).

T

rên đây là bốn câu kệ ngắn gọn nhưng nội dung là cả một triết lý bao la, chỉ trong kinh điển Phật giáo mới có. Bản thể của muôn hiện tượng vốn là không, là vắng bặt mọi lo nghĩ, suy lường, phân biệt, mọi khái niệm không gian, thời gian, dài ngắn, tốt xấu... Mọi suy tư khái niệm, danh tướng đều là xao động, không vắng lặng. Sanh diệt là một sự xao động. Bản thể của muôn hiện tượng là không có tự tánh, không cố định kiên chắc mà do duyên sanh nên hiển hiện ra trong thế giới hiện tượng. Bản thể thuần khiết hàm dung bất nhị ấy bao trùm khắp thảy, nếu

182


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

không biểu lộ ra bằng hiện tượng thì làm sao ta biết được? Bản thể ấy lưu lộ ra bằng con đường tùy duyên. Vì là tùy duyên nên nó mãi mãi vẫn bất biến. Tùy duyên mang trong bản thân nó tính chất tự tại. Đối với người kiến tánh ngộ đạo, bừng mở con mắt trí tuệ chân thật thì không còn đối lập mình và muôn pháp, xóa sạch ranh giới phân biệt của mọi khái niệm, nhìn đâu cũng thấy chân thân hiển hiện. Người đạt được suối nguồn tịch tịnh thanh tịnh của tâm hồn chắc thật thì nhìn đâu cũng thấy thanh tịnh, an lạc hiện bày. Chim kêu, hoa nở đều mang tính chất tự tại của Pháp tánh. Phật tánh, Pháp tánh, bản thể đều là nguồn sống bất diệt của muôn hiện tượng. Hiện tượng có thay hình đổi dạng trong lớp áo sanh diệt nhưng vẫn luôn có một sức sống bất diệt mầu nhiệm làm mẫu số chung, làm nền tảng chung. Hình ảnh có thể dùng để biểu trưng cho ý nghĩa này là mặt biển. Mặt biển muôn đời vẫn vậy, chỉ có sóng biển là bập bềnh lên xuống theo từng cơn gió, xáo động liên hồi. Từng đợt sóng cứ nối tiếp nhau xao động, nhưng biển vẫn là phẳng lặng trong tự thể. Cũng vậy, bản thể của vạn pháp vẫn luôn vắng lặng, tịch tịnh, nhưng hiện tượng hiển bày thì luôn biến đổi thiên hình vạn trạng, khác biệt bất đồng như những con sóng nhấp nhô trên mặt biển.

183


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Trở về với bản thể là trở về với cố hương vắng lặng, tịch diệt, là dứt bỏ mọi tham cầu, lo nghĩ, mọi so đo của vọng tình, vọng thức. Muốn đi đến bản thể phải qua con đường trực quan, thiền quán thâm hậu. Mọi tri thức dù có uyên bác đến đâu cũng vẫn là hữu hạn, vì chúng được hình thành dựa trên sự xao động, so đo phân biệt của ý thức, mà so đo phân biệt là dựa vào không gian, thời gian và khái niệm nên không bao giờ có khả năng thể nhập được vào cái bất khả tư nghì của bản thể. Ta cần đi từ sự vắng lặng bình thường để dần dần thấu ngộ được cái vắng lặng siêu tuyệt của bản thể. Sự vắng lặng bình thường dù chỉ là mặt trái của tiếng động, của ồn ào, nhưng nó cũng là một sự vắng lặng cần thiết đối với chúng ta, những con người đang hướng đến cảnh giới tịch tịnh. Sự vắng lặng tràn ngập không gian, nơi chốn. Có cái vắng lặng giữa hai âm thanh. Có cái vắng lặng lan rộng trong khoảng cách giữa hai tư tưởng. Có cái vắng lặng đặc biệt đầy an nhiên thanh tịnh giữa trước và sau tiếng chó sủa vọng từ xa giữa đêm không trăng sao hay tiếng còi tàu đang lên dốc. Có cái vắng lặng trong nhà lúc mọi người đã đi sâu vào giấc điệp. Có cái vắng lặng sau tiếng đổ giờ của chiếc đồng hồ xưa buông ra một chùm thời gian tan hòa trong bóng đêm thanh tĩnh. Trước và sau tiếng

184


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

đồng hồ điểm giờ là vắng lặng. Có cái vắng lặng của ngôi nhà cũ bỏ hoang. Có cái vắng lặng của núi non xa vắng heo hút. Có cái vắng lặng giữa hai người khi họ nhận thấy cùng một sự việc, cảm thông cùng một cách thức. Có cái vắng lặng trong đêm đen chợt nhìn qua cửa sổ thấy sao đêm vắng lặng từ nguyên thỉ. Cái vắng lặng từ đâu mà ra? Có phải vì trái đất ngừng quay? Không biết từ đâu, cái vắng lặng bao trùm lên vạn vật từ hạt cát ven sông đến cây đa to, cây Bồ-đề xòe tàn rậm rạp. Đó là những vắng lặng hiện tướng từ bản thể vĩnh tịch của muôn pháp, muôn hiện tượng, thông qua sự sống của muôn loài. Vượt lên trên cái vắng lặng đa dạng của ngoại giới, thì cái vắng lặng của tâm hồn thanh tịnh, không ô nhiễm mới là cái vắng lặng mang giá trị siêu việt. Đó là cái vắng lặng của tâm thiền, một vắng lặng của thức tâm sâu vô tận. Đó là cái vắng lặng trong lòng đức Phật, như được mô tả trong mỹ hiệu của ngài là Mâuni (tịch mặc, vắng lặng). Vắng lặng của tâm thiền chính là phút giây dứt bặt tư tưởng, thể nhập trọn vẹn vào sự vắng lặng sâu xa của chân tâm. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Vô sở trụ tức là vắng lặng. Vắng lặng không còn tỳ vết

185


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

rạn nứt của phân biệt chủ thể và đối tượng. Đó là cái vắng lặng tột cùng. Đó là bản thể của tất cả các hiện tượng. Đó là chân không. Chân không, không phải là hư không, hư vô khô cứng, mà chân không là sức sống vô biên, tùy duyên khởi tác diệu dụng. Xuân đến thì trăm hoa tươi nở khắp trời, oanh vàng hát líu lo bên bờ liễu thắm. Nhịp điệu của diệu dụng cất tiếng ca từ bản thể tự tại vô biên là như thế. Đại Bồ Tát tu tập quán chiếu thậm thâm trí sáng tột cùng (Bát-nhã) thì đạt đến cõi miền tịch tịnh vô dư, vắng lặng thuần khiết, nên đã bước ra ngoài mọi xao động ồn ào của sự tưởng, hiện tượng sanh diệt đắp đổi trò huyễn thuật trên sân khấu sanh, trụ, dị, diệt. Thế nên Bồ Tát an nhiên tùy duyên ứng hiện độ sanh trong sanh tử trùng trùng. Khi nghe chim hót, ta nghe bằng vọng thức phân biệt cố hữu. Chấp trước là dính mắc vào trần cảnh, đối tượng, để cho mọi ấn tượng ùn ùn chảy vào biển tàng thức A-lại-da, chiếm ngụ trong đó. Cái mấu chốt sáng tỏ của vấn đề là: Tâm hồn đã giải thoát chân thật thì khi nghe chim hót vẫn có phân biệt, nhưng ngay sau sát-na phân biệt thì tự tại, không dính mắc. Từ chỗ dính mắc, hay chấp trước mà muôn vàn đau khổ bừng dậy phủ ngập tâm hồn, che khuất chánh trí giác ngộ.

186


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Mặt trời giác ngộ trong ta cứ thường xuyên bị mây mù chấp trước che lấp mãi. Thế nên ta không nhận ra được cái cốt lõi trong vạn pháp, ta nhận thức điên đảo, lẫn lộn mọi sự vật xung quanh. Trong kinh, đức Phật có dạy về cách cư xử với ngũ quan khi giao tiếp với ngũ trần là: Không nên giữ tướng riêng và tướng chung khi tiếp xúc với đối tượng. Cơ chế tâm thức vốn trùng trùng phức biệt trong sự tiếp cận giữa căn, trần và thức, sanh diệt biến động trong từng sát-na, nhưng chỗ bắt đầu để không giữ tướng chung, tướng riêng của đối tượng chính là tỉnh giác chánh niệm kiên cố mà thôi. Chỉ trong tích tắc thiếu chánh niệm là tướng chung, tướng riêng của đối tượng đã lập tức chui vào tâm thức, khuấy tung lên đám bụi mù tham đắm hoặc ghét bỏ, khiến tâm hồn ta chìm trong u ám, mê muội. Vắng lặng chính là kết quả của nhất tâm. Phần gia sản vắng lặng thuần khiết đó chỉ có người chuyên cần tu tập mới đủ tư cách để thừa hưởng. Vắng lặng tuyệt đối chính là bản thể chân tâm, vượt ngoài mọi suy lường của vọng thức, mọi đối tượng của suy nghĩ. Đó là một sự dứt bặt thẳm sâu mà ta có thể lý hội để rồi thể nhập bằng công năng của quán chiếu thiền định kiên trì, bằng con đường tâm linh không còn chút bụi phân biệt.

187


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Đương thời Phật tại thế, nhà bác học Câu Hy La, cậu ruột của ngài Xá Lợi Phất, đã nhờ Phật khai thị mà thấu hiểu được thế nào là chỗ dứt bặt bất khả tư nghì. Khi còn ở nhà, nhiều lần ông tranh biện với người chị và luôn thắng thế. khi Đến khi bà này mang thai ngài Xá Lợi Phất thì ông tranh biện lần nào cũng thua. Có người nói đó là do đứa bé trong bụng mẹ sau này sẽ có trí tuệ vượt trội. Từ đó ông liền phát chí cầu học để sau này không thua kém đứa cháu. Ông bỏ ra 16 năm chuyên cần tham học, trở thành nhà biện thuyết lỗi lạc không ai thắng nổi. Ông ham học đến đỗi không có thời gian cắt móng tay, do đó mà thời bấy giờ được gọi là Phạm chí Trường Trảo (móng tay dài). Người Ấn Độ thời bấy giờ cho rằng ai thông hiểu Phệ Đà là bực Thánh sống, vì kinh điển Phệ Đà là lời của Phạm Thiên. Sự uyên bác về triết học đã biến ông Trường Trảo thành một luận sư bách chiến bách thắng, vì không một nhà thông thái nào đánh bại được những phân tích lý luận của ông. Những ai tìm đến tranh biện đều bị ông đánh bại, phải khuất phục. Sở trường của ông là phá bỏ triệt để mọi nghị luận, học thuyết, cho rằng tất cả đều không có thật. Ông tuyên bố là vô thọ và lấy đó làm tên gọi cho trường phái lý luận của

188


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

mình. Ông ung dung sống ngạo mạn trong vương quốc tinh thần vô thọ của ông. Nhưng một hôm gặp Phật, Phật liền hỏi: “Có phải ông tuyên bố là vô thọ chăng?” Ông hăng hái trả lời ngay: “Đúng vậy, tôi chủ trương vô thọ, không chấp nhận bất kỳ điều gì.” Đức Phật liền hỏi: “Thế ông có chấp nhận sự không chấp nhận đó hay chăng?” Ngay khi nghe câu hỏi, Trường Trảo lập tức nhận ra chỗ sơ hở trong lập thuyết của mình, vì nếu ông trả lời có là đã mặc nhiên phủ nhận lập thuyết của chính mình. Ông liền chống chế: “Không, tôi không chấp nhận ngay cả sự không chấp nhận đó.” Đức Phật liền bảo: “Nếu ông không chấp nhận bất kỳ điều gì, lại cũng không chấp nhận ngay cả sự không chấp nhận đó, vậy ông có khác gì những kẻ ngu muội không hiểu biết?” Nghe vậy, ông Trường Trảo nhận ra được chỗ cạn cợt, sai lầm của mình, liền bái phục và xin xuất gia theo Phật, tu hành chứng quả A-la-hán.1 Dứt bặt mà còn thấy mình dứt bặt thì chưa thật sự đi tới chỗ tuyệt cùng của sự dứt bặt. Phải đi bằng con đường trực kiến tâm linh: “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt” mà thôi. 1

Vị A-la-hán Câu-hy-la này có được nhắc đến trong kinh Đại Bát Niết-bàn, quyển 17, phẩm thứ 8, phần 3. Xin xem bản Việt dịch của Đoàn Trung Còn và Nguyễn Minh Tiến, NXB Tôn giáo, 2009.

189


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Trên đường tu tập để đi tới vắng lặng, ta phải giữ tâm ý cho điềm đạm, nói năng từ tốn, trong thẳm sâu tâm hồn phải giữ mãi một khối vắng lặng trụ cột như người ta xây nhà, đổ bê tông bên trong có sắt cứng làm cốt. Phải lặng lẽ tự tạo cho mình một thần thái an nhiên tịch lặng. Từ đó, khi mọi trần duyên xảy đến ta luôn ứng xử theo khuynh hướng vắng lặng, thanh tịnh, không hốt hoảng bối rối vì hiểu rõ mọi hiện tượng xảy ra đều chẳng có gì bền chắc, chân thật. Mong muốn một cuộc sống bất động hoặc êm ả là hoàn toàn không tưởng. Ta phải tự tạo ra sự yên tĩnh cho đời sống tâm hồn bằng cách tiết chế thói quen nói năng bàn luận những chuyện không liên quan đến chánh trí tu tập. Đời sống chúng ta, ở một phương diện nào đó, có thể nói là quá ồn ào. Ồn ào vỡ tràn đêm ngày với máy quay, xe nổ và trăm nghìn vạn những vui mừng oán giận hò hét tràn ngập địa cầu. Ngoài những tiếng động vật lý đinh tai nhức óc còn có tiếng động sâu kín của tham lam, sân hận, kiêu ngạo hống hách và biết bao tiếng động khác của hệ thống tâm lý phiền não chực chờ trỗi dậy khi giao tiếp với năm trần. Ta tu tập Vô thượng đạo chính là bắt đầu quay lại với vắng lặng để nuôi dưỡng tâm hồn. Đời sống tâm linh nghèo nàn, rách nát khi không được nuôi dưỡng đúng mức bằng chất ngọt

190


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

của tĩnh lặng. Người chân thật tu hành phải nghìn lần vượt thoát mọi tiếng động mà trở về với nội tâm vắng lặng của mình. Chưa có một bước quay đầu trở lại với tiếng lòng sâu thẳm của mình trong tịch tịnh thì chưa nếm được vị giải thoát của chánh trí Phật pháp. Tâm hồn chúng ta hãy là con suối chảy mãi miết về phương trời tịch tịnh. Cảm nhận được cõi bờ sâu sắc của vắng lặng thì ta đã bắt đầu thấy rõ công việc cày xới cánh đồng tâm thức mình, biết lo cho tâm linh ngời sáng, biết lo cho tuệ giác trổ bông, không còn dại khờ lũy kiếp dương trần chỉ biết lo cho thân xác mà lãng quên vô hạn đời sống tâm linh. Chỉ có trong đạo Phật mới nói đến những món ăn độc đáo của tâm hồn giải thoát là: thiền duyệt thực, pháp thực, nguyện thực, niệm thực, giải thoát thực mà thôi. Đó là những món ăn tuyệt vời thuần khiết cho cõi miền tịch lặng vô bờ của tâm linh. Cái vắng lặng chân chính của người chân tu là cái vắng lặng thuần khiết của buông bỏ mọi lo toan ám khí phiền não. Trái lại, cái vắng lặng của một người thường là cái vắng lặng chứa đầy ích kỷ, toan tính và lo lắng trăm bề. Tất cả cái vắng lặng mang chất đời đều là cái vắng lặng hít thở khí hậu của ngũ dục. Con đường vắng lặng cao khiết của tâm hồn giải thoát là con đường dốc

191


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

ngược trơn trợt. Ta phải lập chí xông lên với nguyện lực kiên cố và được thôi thúc mãi phải ra đi, thoát khỏi mọi cuốn hút của luân hồi mới có thể tiến lên từng bước. Phải vắng lặng từ giờ này. Đó là chỗ thiết cận cho cuộc nhập đạo bằng cửa lớn. Chân tướng của sự nhập đạo vĩ đại đó, ngài Bồ Đề Đạt Ma đã khai thị cho Nhị tổ Huệ Khả rằng: “Ngoại tức chư duyên, nội tâm vô đoan, tâm như tường bích, khả dĩ nhập đạo.” Nghĩa là ngoài thì dứt tuyệt mọi duyên, trong thì dứt bặt mọi tưởng nghĩ, tâm thẳng đứng như tường đá, vậy mới có thể vào được Đạo. “Duyên” tức là mọi tâm tưởng, mọi giao tiếp níu kéo của năm trần, làm che mờ con mắt tâm, trí tuệ. “Vô đoan” là dứt sạch hết mọi vọng động tham luyến trần tục, mọi lo sợ, nghĩ ngợi, so đo tính toán. “Tâm như tường bích” là tâm không chỗ trụ, thẳng đứng, không thiên về có, không, không vướng kẹt vào quá khứ, không mong cầu tương lai, không giữ tướng chung, tướng riêng của mọi đối tượng trần cảnh, mà là an trụ trong vô niệm không còn vướng bụi năng sở. Đó là con đường thẳng tắp đưa đến cuộc bừng ngộ bản tâm thanh tịnh. Đó là con đường trực nhập vào vắng lặng tuyệt vời. Tuy là cửa lớn dành cho tâm hồn vĩ đại, chí cả ngút trời, nhưng ta cũng có thể mon men tới được, miễn là

192


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

chí khí không bao giờ lui sụt luôn hướng về phương trời giác ngộ thì ta vẫn có thể lên đường. Thực tướng của muôn pháp là thập như thị: Như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị cứu cánh bản mạt. Vì thế, muôn pháp đều vắng lặng. Hiểu rõ mười “như thị” là ta có được vắng lặng, vì ta chính là mười điều ấy. Gần hơn, ta lên đường về vắng lặng bằng định tâm, chế ý, loại trừ thân trạo, khẩu trạo, ý trạo, là bắt đầu có sự vắng lặng cần thiết.

193


SỐNG TRONG GIỜ PHÚT HIỆN TẠI

N

ội dung cuộc sống của phần đông chúng ta là lo âu, xao xuyến; và nội dung cuộc đời là gồm mọi hoạt động của con người từ khi sanh ra đến khi xuống mồ. Mọi hoạt động của con người đều quay theo thất tình lục dục, hai chiều sớm tối, ăn ngủ, đi chơi, gấp gấp... Cái gì cũng gấp. Thói quen tạo dần cho mọi người thành cái bánh xe nhỏ bé trong guồng máy vĩ đại của xã hội công nghiệp, bị khép kín trong vòng quay không ngừng của giờ giấc, của kim đồng hồ. Hăm bốn giờ ta luôn luôn phóng mình vào mọi chuyện nghe, nhìn, suy nghĩ, hoặc sầu muộn, lo âu hoặc vui hờ thoáng qua để rồi lại bận bịu mọi thứ khác... Cứ thế mà quay lăn trong suốt kiếp. Tâm thức chúng ta đóng chặt trong mọi trói buộc. Trói buộc vì của cải, trói buộc vì đời sống vật chất, quyền lợi, tinh thần, tình cảm, gia tộc... và mọi thứ trên đời. Cứ thế mà lao tới như cỗ xe vun vút thâu gọn đường trường cho mau tới điểm cuối cùng là bến đỗ.

194


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Điểm cuối cùng của đời người là nấm mồ với một số lượng nước mắt nào đó. Trong vô số kiếp sanh ra và chết đi, biết bao lần ta đã bỏ xác ngoài bãi tha ma! Một số người thông thái hơn, biết thắc mắc, biết đặt câu hỏi đâu là chân ý nghĩa cuộc sống, ngoài mọi chuyện ăn ngủ... quá bình thường này. Từ đó phát sanh ra nhiều trường phái triết học, họ cống hiến cho nhân loại những thái độ sống, những nhân sanh quan khác nhau. Có người cũng tạm an ổn với một giải đáp nào đó, nhưng nhìn chung trên thực tế thì vấn đề ý nghĩa cuộc đời đến nay vẫn là một vấn đề lớn của nhân loại. Hơn hai ngàn năm trăn năm trước, Đức Phật đã giác ngộ, thấu rõ được ý nghĩa rốt ráo của vũ trụ nhân sanh. Dưới ánh sáng giác ngộ của đức Phật, vũ trụ được nhận biết như một hiện thực tồn tại trong lý duyên khởi, trong khi ý nghĩa nhân sanh được nhấn mạnh trước nhất là bản chất đau khổ luôn bao trùm. Đức Phật cũng là người đầu tiên đưa ra và giải quyết rốt ráo vấn đề này: đâu là nguyên nhân của đau khổ? Đức Phật đưa ra bốn chân lý cần thiết phải nhận rõ để có thể chấm dứt mọi đau khổ. Trên ý nghĩa có tính chất triết học thì chân lý thứ nhất, Khổ đế, đòi hỏi con người phải thức tỉnh và nhận biết một sự thật

195


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

bao trùm cả cuộc đời này, từ đó mới xác định đúng được tình trạng mà mình đang gánh chịu không phương tránh né. Có nung nấu trong một nhận thức đúng thật về đau khổ thì mới có sự chê chán, ghê sợ và khát khao tìm ra phương thức để chấm dứt đau khổ. Khi đã nhận thức được khổ đau và những nguyên nhân dẫn đến khổ đau thì mới có chí nguyện buông bỏ mọi sự đam mê, tham đắm. Chỉ có Đức Phật mới khám phá ra cội nguồn của mọi đau khổ và cũng chỉ có Đức Phật mới đưa ra được phương pháp đúng đắn nhất để chấm dứt đau khổ. Cội nguồn của mọi tái sanh là ái dục. Muốn chấm dứt đau khổ tái sanh thì phải cắt bỏ mọi dính mắc (chấp trước). Chúng ta bị dính mắc vào mọi thứ trên trần thế. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Đức Phật dạy rằng “Ta từ khi thành Phật đến nay đã dùng đủ mọi nhân duyên, đủ mọi thí dụ, giảng giải rộng thuyết vô số phương tiện, nhằm dẫn dắt chúng sanh lìa bỏ mọi sự vướng mắc, chấp trước.” Lìa bỏ chấp trước, không còn vướng mắc tức là ra khỏi mọi trói buộc, là có được an lạc, giải thoát. Những ai đã bừng tỉnh nhìn lại đời mình, thấy được giá trị cao cả của tâm linh thì không còn ham mê đời sống vật chất hướng ngoại nữa. Quan trọng là phải nhận thức đúng và sâu, từ đó thắp sáng

196


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

chân ý nghĩa cuộc sống thì mới vươn mình thoát khỏi mọi thói quen tràn ngập đang ngày đêm vây bủa mọi suy tư, giác quan, tâm hồn. Bước đầu tiên để tiến lên đường tu tập chân chánh theo Phật pháp là phải “hàng phục kỳ tâm”, nghĩa là làm chủ được mọi móng động của tâm ý mình. “Hàng phục kỳ tâm” là pháp tu cốt tủy của mọi pháp tu. Chưa có nội hướng vững chắc, kiên cố, thường xuyên như dòng sông chảy xiết thì chưa có khả năng đi vào thành trì của giác ngộ chân thật. Tu tập là một sự chuyển hướng dữ dội. Tu tập không có nghĩa là đè ép, mà là đổi hướng, là chuyển hóa, giải trừ. Giải trừ có ý thức một thói quen xấu là có tu tập, có chuyển biến tâm linh. Như thế đòi hỏi chúng phải thường xuyên tỉnh thức, tập trung vào một đức tính nào đó để thu hút tâm ý, như đoạn ái, xả ly chẳng hạn, nghĩa là luôn nhớ đến nó không lãng quên phút nào. Lâu dần ta nuôi dưỡng được tinh thần đoạn ái, xả ly vững chắc, buông bỏ được mọi thói xấu. Như thế, ta luôn biết mình sống, sống ngay trong từng giây phút hiện tại, không để tâm ý mình đắm chìm trong ăn năn hối tiếc quá khứ hay mơ ước viển vông về tương lai. Tuy vẫn có những chương trình dự định cần thiết nào đó cho tương lai, nhưng ta không dại

197


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

khờ dồn hết tâm chí mình vào. Như vậy, nếu chương trình có thất bại ta cũng không sầu não vì biết rằng do chưa đủ điều kiện nhân duyên. Muốn tìm nguồn an lạc thì phải tìm ngay trong hiện tại. Giờ phút mà ta ý thức được hiện tại, ý thức được rằng “ta đang sống” là ta có hạnh phúc tuyệt vời. Chính vì ta luôn sống theo phản xạ của thói quen nên cuộc đời đối với ta hóa ra nhạt nhẽo. Shakespeare, đại văn hào nước Anh vào thế kỷ 16 có viết: “Thói quen là con quỷ nuốt trôi mọi cảm giác.” Đương thời Phật tại thế, có ông Bà-la-môn quan sát thấy Phật và chư đệ tử Ngài có một thần thái an nhiên chói ngời kỳ lạ. Ông đến hỏi bí quyết, Phật đáp rằng: “Đệ tử ta sống trong tỉnh giác, chánh niệm trong hiện tại, không tiếc nhớ quá khứ, không mong ước điều gì ở tương lai, nên chư vị ấy có một thần thái như ông thấy đó.” Nếu không biết dừng mọi lo nghĩ, chấm dứt tức thời mọi lo nghĩ để quay về trong thiền quán thì cả đời ta sẽ trôi mãi trong sự cuốn hút bất tận cho đến ngày tàn hơi cũng chưa hết lo lắng. Phải nuôi dưỡng trong lòng ta một sự an nhiên buông lìa mọi tham đắm, xem mọi thứ đều chỉ là phương tiện sống, và luôn nhớ rằng mục đích tối thượng của ta là thoát khỏi luân hồi.

198


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Sống trong hiện tại không có nghĩa là sống một cách thô bạo, cạn cợt, với một cung cách phóng đãng, sống vội vã, sống không biết đến mọi đạo lý nhân bản của cuộc sống. Trái lại, sống trong hiện tại là sống giữa lòng cuộc đời thật của ta. Hằng ngày hằng đêm, khi thiếu tỉnh giác thì ta thường sống buông thả tâm ý mình theo sự dẫn dắt của lục căn, lục trần, ngũ dục. Thói quen chi phối sự phản ứng của năm giác quan khi tiếp xúc với năm trần cảnh là thói quen đã có từ vô thỉ đến nay. Từ thói quen đó nảy sanh biết bao tham đắm hoặc ghét bỏ. Thân khẩu ý ta cứ phóng chạy theo sự kích động của lục trần, ngũ dục, quấy động ngầu đục tâm hồn mãi mãi. Năm trần cảnh không ngừng kích thích các giác quan, ta phóng rọi bản ngã mình vào năm đối tượng đó thành những cái bóng vĩ đại, che khuất bóng sáng chân thật của tự tâm. Ta ít khi hoặc không bao giờ có cơ hội tạm dừng những suy tư, lo lắng để nhìn lại bản thân mình. Chỉ cần thiếu vắng mọi âm thanh hình sắc thì ta bỗng cảm thấy hụt hẫng, thấy mình là cái gì trống vắng. Ta trốn chạy sự trống vắng bao la đó bằng cách quăng mình vào mọi âm thanh hình sắc, nghe, nhìn và suy nghĩ, lo lắng, tính toán, cứ thế mà chạy thẳng theo đường mòn dẫn vào bến luân hồi, không có lối nào thoát ra cả.

199


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Một cụ già nọ siêng năng đi chùa nghe giáo lý và tụng kinh. Đứa con không hài lòng. Anh ta tạo một bàn thờ Phật thật trang nghiêm rồi nói với cha rằng: “Cha hãy ở nhà tụng niệm là được rồi, đi chùa làm chi cho mất thì giờ.” Người cha nói: “Đi chùa nghe giảng, tụng niệm làm sung mãn tinh thần, là môi trường tốt nhất cho mình hồi tỉnh, thấy lại chân thân mình, nhiếp tâm vào đường tu dễ dàng hơn.” Người con cứ bảo sống như vậy là quá lương thiện rồi, khỏi phải đi chùa. Người cha suy nghĩ mãi, ông liền nói: “Bây giờ cha đưa cho con một quyển sổ, con hãy thề với cha rằng con không giấu một điều gì cả. Con làm việc gì, nghĩ nói điều gì trong suốt ngày đêm đều phải thành thật ghi hết nó ra trên giấy, rồi sau đó một tuần con đưa quyển sổ ấy lại cho cha xem.” Người con nhận quyển sổ và bắt đầu ghi chép. Đến buổi tối ngày thứ tư, ông cụ cúng lạy xong thì thấy người con đang quỳ ở phía sau mình, thưa rằng: “Thưa cha, con đã thua cha rồi. Mới có ba hôm mà khi con đọc lại quyển sổ thì ôi thôi, con không thể giao nó cho cha được. Trong ấy quá nhiều bậy bạ, quá nhiều đen tối, đen tối tới độ có chỗ như là địa ngục. Nhờ cha mà con chợt thấy lại cái chân hình của mình qua bao việc làm và suy nghĩ. Từ nay con rất vui mừng về việc đi chùa của cha. Con sẽ cố sắp xếp thì giờ để đi

200


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

cùng cha.” Ông cụ nói: “Như vậy đó, nếu không hồi tỉnh thì ta cứ ngỡ rằng mình quá lương thiện, nhưng nhờ hồi tỉnh chân thật ta mới thấy rõ lòng mình đen tối. Cha rất vui sướng vì biết con có sự hồi tỉnh cần thiết cho một kiếp sống. Ta không thể không biết đến những giá trị cao cả của tâm linh con ạ.” Sống trong hiện tại là sống mà biết rõ mọi cử chỉ, ý nghĩ của mình, không để nó phát khởi theo sự xung động tình cảm từ ngoại giới ùa tràn vào năm giác quan gây kích động tâm ý, ăn nói hành động thiếu đắn đo suy nghĩ chín chắn. Giai đoạn đầu, ta phải biết tự trở về kiểm soát chặt chẽ sự móng động của tâm ý. Trở về với tự tâm là con đường đi vào chánh đạo. Cầu đạo, học đạo mà chưa biết chỗ cốt lõi là tự trở về thấy lại tâm ý mình là chưa biết chỗ cầu đạo. Ngày nào còn chạy theo vòng ngoài là ngày ấy vẫn còn xa cách với chánh đạo. Định luật quen thuộc của tâm lý là vô tri bất mộ, nghĩa là không biết thì không sanh lòng quí mến. Vì thế, trước tiên ta phải đổ tâm lực ra học hỏi, chiêm nghiệm cho hiểu rõ lời Phật dạy, từ đó phát khởi ý định đi theo con đường Phật dạy để có an lạc giải thoát. Sau khi nhận biết được cái chất trí tuệ tuyệt vời của chánh pháp rồi thì ta mới sanh lòng kính mến một cách sâu đậm.

201


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Chánh pháp đó chính là bản tâm tịch tịnh vô vàn thuần khiết của ta mà bấy lâu ta không ngờ rằng mình có. Nay nhờ trí tuệ giác ngộ của Đức Phật thấy biết rõ và ân cần chỉ cho ta biết, rằng mỗi người đều có khả năng đạt đến chỗ giác ngộ như Ngài. Vì thế, sống trong hiện tiền chính là bắt đầu thấy lại cái bóng dáng ngời sáng của tự tâm, cứ làm cho tự tâm lắng sâu, trong suốt thì chân tâm tự hiển lộ. Sống trong hiện tiền đến chỗ tuyệt cùng chính là thể nhập vào bản tâm thanh tịnh không còn chút tì vết. Đức Lục tổ Huệ Năng đã chỉ rõ cho thầy Huệ Minh điều này, Ngài gợi ý: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay trong lúc đó thì cái gì là bản lai diện mục của thầy Huệ Minh?” Bản lai diện mục chính là cái gốc tâm vắng lặng của ta, vắng lặng hết mọi móng động của trần cảnh, tham đắm, so đo, ngã chấp, phân biệt. Nếu ta buông bỏ hết mọi lo nghĩ, trụ tâm vào một chủ đề duy nhất kiên cố, dứt bặt chủ thể đối tượng, hòa tan tất cả vào một khối trong suốt thì tâm thức ta sẽ có cơ hội bừng chiếu một ánh sáng kỳ lạ, gọi là phát huệ. Lửa trí huệ này sẽ thiêu rụi mọi phân biệt, mọi ngã chấp, mọi khái niệm phân chia. Sự phân biệt khởi sinh là vì có dính mắc, đó là tâm lý chung của người phàm tục. Người ngộ đạo thì khác, tuy có phân biệt nhưng không để tâm bị dính mắc vì biết an trụ vững vàng trong sức

202


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

mạnh của định tâm, con mắt tâm luôn luôn ngời soi khắp bốn ngã tâm tư, không còn một móng vọng động nào mà họ không nhận ra để dứt trừ. Bài học sống trong hiện tiền là bài học đầu tiên để mở đầu cho một cuộc sống mới. Giảm bớt ngày càng nhiều mọi thấy nghe nặng chất của trần gian, không cần thiết cho hành động đang làm sạch lại tâm hồn. Thấy rõ chân tướng của mình là phải bám vào chủ tâm định ý lắng sâu, không còn háo hức chạy theo mọi chân trời lôi kéo của quá khứ tiếc nhớ hay tương lai huyễn ảo nữa. Như vậy là bước đầu có được an lạc giải thoát.

203


SỨC MẠNH CỦA TINH THẦN

C

ó người nghĩ rằng sức mạnh của tinh thần là sự dũng cảm. Ý nghĩa của cụm từ “dũng cảm” là vô cùng lớn lao, chẳng hạn như đối với những việc khó khăn mà mình dám hy sanh thân mạng để đứng ra gánh vác, dù nguy biến mà mình nhất quyết không hề nao núng, dám lao vào xoay lại tình thể để cứu giúp, đem lại sự sống chính đáng cho mọi con người... Người dũng cảm, dám làm, là những người có lòng can đảm, tức là có gan. Sự gan dạ của họ khiến họ dám có những hành động can đảm, đối mặt với những tai họa, nguy khốn mà kẻ khác phải sợ sệt run bắn người. Sợ hãi, lo âu là căn bệnh phổ biến của hầu hết con người, nó ảnh hưởng trực tiếp từ sự cấu tạo hệ thần kinh của mỗi người. Hoàn cảnh, môi trường giáo dục chỉ đem lại ảnh hưởng nhỏ. Người ta còn có nhiều từ ngữ để chỉ sự can đảm, dũng cảm, nào là có ý chí, nhiều nghị lực, tính cương nghị, cương quyết, tính quyết

204


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

định... Nói chung, người có đủ sức mạnh tinh thần, đó là sự can đảm, thì có thể thành công trong nhiều lãnh vực trước cuộc đời. Đối với văn hóa phương Đông thì sự dũng cảm lớn nhất đáng được coi trọng là sự dũng cảm có tính chất nội hướng. Người phương Đông lấy con người làm gốc, hay cụ thể hơn, lấy đức tính, tánh hạnh của con người làm nền tảng cho mọi hoạt động xây dựng cuộc sống. Theo Nho giáo, một con người có tu dưỡng vững chắc về đạo làm người, tức nắm vững và thực hành trọn vẹn: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thì mới có đủ tư cách lãnh đạo nhân quần xã hội. Sự tu dưỡng nội hướng là một động công việc có vẻ như nhẹ nhàng nhưng đòi hỏi một nghị lực vô cùng lớn lao. Kẻ thiếu ý chí, thiếu nghị lực kiên trì thì khó có thể thành công trong việc dứt bỏ một tật xấu, một thói quen hư đốn. Vì xem trọng đời sống nội tâm nên những thành công về tinh thần luôn được đề cao khen ngợi để làm gương cho mọi người noi theo trong việc tự tu dưỡng tâm hồn. Nền văn hóa phương Đông từng sản sinh được nhiều nhân cách cao cả. Nền đạo đức sâu thẳm nội hướng ấy đã giữ vững văn hóa Đông phương từ hàng nghìn năm qua. Những nhà nhân bản Tây phương lần đầu tiếp xúc với văn hóa phương Đông trong những thế kỷ 15,

205


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

16 đã vô cùng khâm phục đời sống chói chan đạo đức cao tột của phương Đông. Ngày nay, nền văn minh cơ khí phương Tây tràn ngập, đời sống quay nhanh theo giờ giấc nhất định. Từ đó, cuộc sống trở nên hướng ngoại, luôn hối hả, gấp gáp và con người thường xuyên bị đặt trước những thử thách lớn lao do ngoại cảnh chi phối. Con người phải lên dây cân não để thường trực đối phó và đối phó. Đối với Phật giáo thì đời sống nội tâm là vấn đề chính yếu từ cạn tới sâu. Trên phương diện hành động lợi tha, tạo nguồn an lạc cho nhân sanh xã hội thì Phật giáo đề cao lòng vị tha, đề cao đại lực, tức sự dũng cảm. Công thức bi-trí-dũng là công thức ứng dụng vô cùng rộng khắp cho mọi con người mang trong tâm hồn mình chí nguyện độ sanh. Bi là lòng trắc ẩn, tình thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ. Trí là sự nhận thức, biết rõ, thông cảm. Thương yêu mà thiếu hiểu biết thì rất dễ mù quáng, gây đau khổ cho đối tượng thương yêu. Bên cạnh đó, để thực hiện lòng thương yêu thì đòi hỏi phải có tính năng động, hành động mau chóng đúng lúc, không trù trừ, do dự. Ba yếu tố đó phải phối kết nhuần nhuyễn với chí nguyện độ sanh, cứu giúp, mang lại ích lợi thiết thực về vật chất lẫn tinh thần cho mọi

206


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

người xung quanh, như vậy mới hình thành nên mẫu người đáng tin cậy cho tư tưởng Bồ Tát đạo trổ hoa. Trên hành trình Thánh hóa đời sống cá nhân, mỗi người phải liên tục đào luyện vững chắc hai yếu tính. Đó là vô úy và nhẫn nhục. Người tu tập để có vô úy kiên cường chính là người đã cháy sáng rực niềm tự tin mãnh liệt, không hề lo sợ bất cứ thế lực thần linh siêu nhiên nào trong vòm trời tư tưởng. Đối với mọi đắc thất, khen chê ở đời thì họ an nhiên bất động như ngọn núi lớn vững vàng không lay chuyển trước phong ba bão tố cuồng nộ. Làm sao để đạt đến trình độ rực sáng ấy? Đó là họ đã quyết liệt đi trên con đường quán chiếu thâm hạu, hành trì kiên cố về tính chất nhất thời, tạm bợ của mọi hiện tượng dương trần. Thấu ngộ đến chỗ cốt tủy của mọi hiện tượng nên họ không còn bị quấy động bởi lớp lớp sanh diệt đổi dời của mọi hiện tượng trong đời sống nhân gian. Họ đã làm chủ được mọi móng động của tâm mình. Ngọn lửa vô úy đốt cháy tất cả mọi huyễn tượng khi nó chạm vào giác quan người đó. Nhẫn nhục là sức mạnh tâm linh cao cả nhất vì nó là kết quả của vô úy và sự giải trừ hết vũ khí phòng ngự của bản ngã. Thằng người, cái ta, là trụ sở chính yếu với bao kho lẫm khái niệm, kiến chấp mê lầm. Phá tan trụ sở của kiến chấp về một cái ta thì mọi trái ý

207


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

nghịch lòng vồ tới sẽ như gió qua đồng không, như cọp vồ trăng, không ăn thua gì với người đã mãnh liệt cạo hết vết tích của ngã tướng, nhân tướng. Nhẫn nhục là sức mạnh lớn nhất của tinh thần giải thoát. Còn ý niệm phân biệt nhân, ngã, bỉ, thử thì ngọn lửa sân hận còn củi đốt, bốc lửa. Lửa sân hận bốc cao ngọn khi ngã ái, tự ái còn là những ngòi nổ bén nhạy, ai chạm vào là lập tức phát nổ. Phải tỉnh giác chánh niệm kiên trì mới phá tan được mọi phản ứng của ngã chấp. Ngã chấp rất khó dứt trừ vì nó sản sanh từ Mạt-na thức, nhưng biết được cội nguồn của nó thì ta có thể phá được, miễn rằng ý chí vươn lên Thánh trí không bao giờ tắt lịm trong ta. Đức Phật đạt đến chỗ vô úy tối thượng vì Ngài đã thấu biết rốt ráo mọi hiện tượng tâm sanh vật lý, thấy chúng đều là sản phẩm của vọng tình vọng thức, sản phẩm của mọi khái niệm, của mọi cố chấp sâu nặng từ nghiệp cảm, đồng phận nghiệp, biết phận nghiệp của con người. Ngài đã an nhiên bước ra khỏi sức khống chế của những tâm lý: ham muốn, sầu hận, đói khát, khao khát, ham ngủ, lo lắng sợ sệt, nghi ngờ hoang mang, tâm cừu hận độc hại, mọi quyền lợi vật chất tinh thần, mọi dính kẹt vào danh ngôn, khoe khoang bác lãm, mọi tự cao, tự đại, ngã mạn chê khinh kẻ khác... Ánh sáng

208


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

của trí tuệ giác ngộ đã đè bẹp phá tan tất cả những tâm lý đó. Những tâm lý đó đeo đuổi con người như cái xe đi theo con bò, không bao giờ buông tha con người. Nhờ trí tuệ giác ngộ mà Ngài đến được nơi nó không tài nào theo nổi, và ngài bước lên cõi Vô thượng giác. Ở Đông phương, ngày xưa chuộng người có khí tiết, biết xem thường đời sống vật chất, dám chết để bảo vệ khí tiết, như ông Trần Bình Trọng của Việt Nam. Ông bị quân Nguyên bắt sống trong cuộc chiến đấu, chúng khuyên nhủ quyền lợi vật chất, ông khẳng khái tuyên bố thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc (Tàu). Chúng giết ông nhưng khí tiết ông ngời sáng theo từng trang sử. Đối với sự tu học của chúng ta cũng cần có khí tiết. Người có được an lạc, vô úy chính là người biết chuộng theo đời sống trí tuệ Phật pháp, kiên quyết không thối lui hoặc lìa bỏ dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, bức bách. Họ không ngừng nuôi dưỡng nguồn khát khao viễn ly, tịch tịnh. Sự thanh bần trong cuộc sống cũng giúp ta tháo gỡ dần mọi lo lắng, mọi bất an. Nếp sống thiểu dục tri túc là cần thiết để có một đời sống nội tâm cao, một trí tuệ ngời sáng, bởi ai ham mê đời sống vật chất thì nhất định sẽ mờ đục trí não. Ngày xưa, Khổng Minh là một nhà chiến lược tài ba của thời Tam Quốc. Ban đầu, khi

209


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

còn ở thảo lư, ông đã sống một đời thanh bần để dùng mọi thì giờ cho việc nghiên cứu tu dưỡng. Trước thảo lư, ông viết hai câu thơ đối rằng: “Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn” (非淡泊無以明 志,非宁静無以致远), nghĩa là: “Không sống đạm bạc thì không lấy gì để tỏ rõ tâm chí, không thích sự vắng lặng sâu xa thì không lấy gì để phát triển chí hướng sâu xa.” Đời sống nội hướng vững chắc sẽ tạo cho người ta tâm tĩnh lặng sâu sắc, từ đó tạo được sức mạnh tinh thần, không dễ bị hoang mang, xúc động, lo lắng, sợ hãi. Tu học Phật pháp chính là một cuộc chuyển hóa đời sống bên trong, chuyển hóa mọi phản ứng của tâm lý, không còn buông thả theo thói quen cũ. Làm chủ trọn vẹn mọi sự ham mê là bắt đầu có một sức mạnh tinh thần, từ đó bước vào thế giới cao cả của vô úy. Còn nhiều lo toan, còn nhiều khát khao mọi thứ của dương trần thì tâm hồn cứ bị nó níu kéo, lôi dắt đi mãi mãi. Từ đó sinh ra hoang mang, lo sợ đủ thứ. Lo và lo cứ tăng lên theo cấp số nhân thành vạn trùng con rắn sợ nằm chắn ngang tâm hồn. Ta bước đi thì chính con rắn lo sợ bò đi trước. Cái gì cũng lo, cái gì cũng sợ. Tâm lý sợ là một tâm lý ăn sâu trong vô thức. Sợ về phản xạ như sợ rắn, sợ chuột, sợ cọp cũng là sợ, nhưng cái sợ

210


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

đó không nguy hại bằng cái sợ do vì quá lo lắng, lo mất mát, lo những điều do mình suy nghĩ, tưởng tượng ra. Cái lo đó dìm tâm hồn con người trong khắc khoải, héo hắt. Muốn trị bịnh lo nghĩ là phải có chí hướng tìm về sự an lạc của chánh pháp. Theo lời dạy của Đức Phật để kiên trì rèn luyện tâm ý mình, cho nó ngày càng mạnh mẽ, vững chắc trước mọi sự đổi thay dâu bể. Như quán về nhân duyên sanh chẳng hạn. Có người lúc nào cũng lo lắng cho tương lai con cháu, không biết rằng mọi sự cuối cùng đều sẽ tự an bày theo lý duyên khởi mầu nhiệm. Lo lắng là tự gắn bản ngã mình vào đó quá mức, vì lúc nào cũng muốn cho thỏa chí khoái thích của mình, khi thấy những tiêu chuẩn, ý thích của mình được đáp ứng thì thích thú, do đó mà luôn lo lắng điều ngược lại sẽ xảy ra. Cuộc đời thiên biến vạn hóa. Ta dứt bớt thói quen lo lắng là ta bắt đầu có an lạc, lo lắng nhiều khi cũng không đến đâu cả. Tự gỡ mình ra khỏi mọi trói buộc không cần thiết là ta có an lạc. Từ bến an lạc ta sẽ đi tiếp vào vương quốc của vô úy. Trong đạo Phật luôn nói đến tinh thần vô úy để khuyến tấn chúng ta dứt bỏ mọi tham đắm. Biết khôn ngoan dứt bỏ tham đắm là có vô úy. Từ đó, tâm hồn được nhẹ nhàng an ổn.

211


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Trong công hạnh bố thí, có món vô úy thí thật là quá chu đáo. Có những kẻ giàu có, không còn thiếu món gì, nhưng tâm hồn họ còn thiếu món an lạc, thiếu sự không sợ hãi. Ta phải đem tinh thần vô úy đến cho những người đó. Phải giảng nói bằng cách nào cho họ khai mở tâm trí và đón nhận được cái tuyệt vời của an lạc, vô úy. Người lạnh nhạt với mọi tham đắm là người bắt đầu có tinh thần vô úy. Chánh trí Phật pháp chỉ cho ta thấu ngộ chân tướng của muôn hiện tượng để ta phát khởi niềm tự tin, không để tâm hồn mình run sợ, vướng vào mọi thứ lưới bẫy vu vơ của bọn thần linh huyền hoặc nào cả. Vô úy là nhờ có chánh trí Phật pháp sáng suốt làm vũ khí cho tâm hồn. Trận chiến gay go là trận chiến ở ngay trong đạo quân tâm lý ô nhiễm và thanh tịnh của ta. Có được tinh thần vô úy là ta có nền tảng tâm linh thuần khiết.

212


CHUYỂN NGHIỆP

N

hân quả, nghiệp báo, luân hồi là ba tên gọi chỉ chung cho một khái niệm. Đó là khái niệm về hành động con người, tư cách con người phải tất yếu được hoàn mỹ từ bình thường lên chỗ hướng thượng cao cả, đi đến chỗ cuối cùng của giá trị vĩ đại nơi con người. Đó là trở nên bực Thánh giác ngộ hoàn toàn. Nghiệp báo, nói cho đủ phải là nghiệp nhân quả báo. Từ nhân thiện ác đã gieo cho đến lúc trổ ra cái trái để trả lại cho công gieo là một giai đoạn dài ngắn, tức thì hoặc lâu lắc khác nhau. Giai đoạn từ gieo nhân cho đến lúc trổ trái, tất yếu phải có một bức màn điều kiện (duyên). Bức màn duyên, điều kiện này ăn luồng qua nhiều giai đoạn sống, nhiều kiếp. Rút lại chỉ nói nghiệp báo là gồm đủ. Nghiệp báo là qui luật, định luật tâm linh. Nó vô cùng phức tạp khó biết cho tường tận nếu không có Nhất thiết chủng trí, Vô lậu trí như Phật. Chỉ có Phật với trí giác ngộ hoàn toàn mới thấy trọn vẹn. Ta nhìn một tòa cao ốc trăm tầng chỉ thấy biết sơ lược dáng đứng cao vòi vọi của nó. Thế thôi. Chỉ

213


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

có kiến trúc sư tài ba mới có đủ khả năng thiết kế, chiết tính mọi bộ phận trong tòa nhà ấy. Ta biết về nghiệp báo cũng như ta biết về tòa cao ốc kia. Bài này chỉ đề cập qua vài khía cạnh về nghiệp mà thôi. Nghiệp báo trở thành giáo pháp tối yếu của Phật giáo. Một người, dầu chưa quy y Phật giáo, nếu họ biết làm lành thì họ cũng được hưởng quả lành một cách tất nhiên. Nhưng nhờ học biết rõ thêm về nghiệp, họ sẽ phát triển thêm hạnh lành, biết hướng tâm ý mình về sự giải thoát. Tín đồ Phật giáo nhờ được học biết định luật tâm linh (nghiệp) ấy mà sống tiến bộ, đạt được nhiều phúc quả lớn trong hiện tại và mai sau. Nghiệp là chỉ mọi hành động của thân xác và nói năng xuất phát từ sự cố ý làm, làm với tất cả ý thức sáng tỏ. Kết quả của mọi hành động có chủ ý, cố ý chính là nghiệp. Nhiều người hiểu về nghiệp như là một định mạng khắt khe, như một thế lực siêu hình khắc nghiệt chi phối, khống chế đời sống con người, bắt phải chịu đựng những thống khổ này hoặc cho hưởng chút ít hạnh phúc nọ. Hiểu như vậy là hoàn toàn không đúng, vì nghiệp không phải là một định mệnh khắt khe ẩn núp đâu đó bên ngoài cuộc sống, bên ngoài mọi hành động của con người. Nó nằm ngay trong mỗi hành động của con người và thay đổi từng giờ phút vì tâm niệm ta

214


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

thay đổi. Không hề có một khối nghiệp nằm im lìm bất động, mãi mãi không thay đổi. Nền tảng chung của luật nghiệp báo là: Có gieo nghiệp nhân thì phải nhận quả báo, không thể tránh né, trốn chạy hay ẩn núp ở đâu mà hòng thoát khỏi quả báo. Đó là tính chất tất yếu và cơ bản của hệ thống nhân quả. Nhưng ta biết, phải có điều kiện, duyên mới có đủ yếu tố cho quả trổ ra. Quả trổ ra là khi điều kiện đã chín mùi. Do đó, nếu có sự cải hối mãnh liệt thì quả xấu đã tạo cũng khó có cơ hội trổ ra; nó sẽ dần dần tiêu mòn, tự hủy. Đó là tiêu diệt nghiệp, như mũi tên buông từ dây cung, nếu không có gì trở ngại thì nó phải đến đích, nhưng gặp gió quá mạnh thổi ngược có thể khiến mũi tên rơi giữa chừng, chấm dứt đường bay của nó. Một hành động tội ác, lý ưng phải trổ ra quả đau khổ, nhưng nếu tiếp theo là một hành động cực thiện và hành động thiện đó tiếp tục tăng bổ thì nghiệp ác cũ không có năng lực và điều kiện trổ quả. Như vậy, nghiệp có thể biến chuyển được với người có chí nguyện tiến lên cõi Thánh. Vậy chuyển nghiệp thật ra là chuyển những gì? Đó là cải hóa, chuyển đổi tánh nết, tánh khí ở mỗi người chúng ta. Có điều kiện và ý chí cương quyết là ta có

215


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thể thay đổi tánh khí, thói quen, từ đó ta có một thái độ, cung cách sống khác với trước kia. Như vậy là ta chuyển nghiệp từ từ. Như vậy là ta “đổi tay lái tâm hồn”, không sống theo dòng đời cũ mà tạo dựng lại cung cách sống mới, từ tư tưởng, tánh khí, thói quen. Tánh nết con người là một thói quen vô cùng khó đổi. Nhưng với ý chí vươn lên mãnh liệt, thiết tha muốn tự cứu thì ta có thể làm được. Ta được tự do sáng tạo đời mình. Đời ta không chịu sự chi phối từ một định mệnh ác độc hay bí nhiệm nào cả. Những người mà tinh thần lún sâu trong yếu đuối thì khó có được đảm lực để gánh vác đời mình, cứ ráng chịu mọi hậu quả đau đớn do hành động quen thói của mình tạo ra. Tự đau khổ trong hành vi tạo tác của mình rồi oán trời trách người, cho rằng mình sanh ra đời dưới một ngôi sao xấu... Chuyển nghiệp tức là thay đổi điều kiện, thay đổi nhịp điệu hành tác, thay đổi tánh nết xấu. Người có óc tháo vác, có đại đảm lực, có tinh thần khỏe mạnh thì chuyển nghiệp dễ hơn, cộng vào đó là cơ duyên, là sức cảm thụ nhạy bén về một ánh sáng cao thượng mà họ chợt thấy ra. Đó là những trường hợp như ông Anguilimala (Ương Quật Ma La) hay vua A-dục (Aśoka) của Ấn Độ.

216


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Trước kia, vua A-dục nổi tiếng hung bạo, nhưng rồi ông hồi tâm và qui ngưỡng chánh pháp, cải biến toàn triệt dòng đời hoen ố khắc nghiệt cũ, trở nên ông vua đại hiền minh nhân từ của Ấn Độ. Đó là một điển hình của sự chuyển nghiệp. Ngoài ra chúng ta còn phải nói đến một loại chuyển nghiệp mang tính chất đặc biệt. Đó là hạng người chuyển nghiệp mãnh liệt trong giờ phút sắp lìa đời. Kẻ sắp chết thì dòng tâm thức họ hoạt động vô cùng mãnh liệt, hoặc hướng về nẻo thiện hoặc nổi lên tình lưu luyến mãnh liệt cõi đời. Người lúc lâm chung cải tà qui chánh thì năng lực tinh thần phấn khích mãnh liệt. Điều đó cho thấy năng lực mầu nhiệm của tâm linh con người. Định tâm vào một chỗ vững chắc thì thành một định lực chuyển nghiệp mãnh liệt. Đó là sự nhất tâm bất loạn toàn triệt trong giờ lâm biệt, chỉ qui hướng A-di-đà Phật thì nhất định được vãng sanh. Mỗi con người đều tiềm ẩn một năng lực tinh thần rất mãnh liệt. Nguồn năng lực đó là một kho tàng mầu nhiệm, nó có khả năng xô đẩy con người từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nó chính là những tia chớp mãnh liệt ở chân trời tâm linh. Có lần Đức Phật đã cắt nghĩa cho ngài A Nan hiểu về sức mạnh của sự chuyển nghiệp này một cách đặc

217


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

biệt: “Này A Nan, người sắp chết chỉ chuyển tâm ác thành thiện trong một thời gian ngắn ngủi làm sao có đủ sức mạnh chuyển nghiệp hơn người tu trọn đời?” Rồi Phật giải thích: “Khi gần chết sức tâm rất mãnh liệt, như đốm lửa tuy nhỏ, chất độc tuy ít, nhưng lại có thể gây hiểm họa lớn lao. Người ta khi sắp chết, có sức tâm dũng mãnh hơn người tu cả trăm năm. Tối hậu tâm ấy là đại tâm, nên khi xả thân liền xả nghiệp. Ví như thế trận lâm nguy mà có người không tiếc thân, xông vào trận chuyển bại thành thắng thì người ấy đáng được tôn xưng là anh hùng vậy. Có người ngay trước khi xả bỏ thân mạng, hoát nhiên đốn ngộ đắc quả A-la-hán.” Sự ăn năn bừng tỉnh của nội tâm có sức mạnh rất mãnh liệt, sức bừng tỉnh của người lúc lâm chung lại càng mãnh liệt hơn. Mãnh liệt vì nó được tinh luyện trong lò nhất tâm cao độ như thép tinh sạch không còn tí than bụi. Bao nhiêu tâm ý đều đổ dồn vào một chí nguyện thoát ly. Tâm ý đó hòa nhập vào định hướng thành một khối không còn tỳ vết rạn nứt của phân biệt nên diệu dụng của nó mới cực kỳ mạnh mẽ. Có kẻ nghe vậy thì nghĩ bậy rằng: “Nếu thế thì cứ sống buông thả theo ác nghiệp, chờ lúc sắp chết thì cải tà qui chánh cũng kịp.” Đó là một cách nghĩ vô cùng sai lầm. Sự chuyển nghiệp trong giờ phút sắp chết kia

218


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

là một loại tâm lý cực mạnh đến bằng con đường bừng tỉnh thanh tịnh hoàn toàn mà cả đời người đó chưa bao giờ nghĩ tới. Nếu đắn đo, lừa lọc, suy tính thiệt hơn, trả giá bằng quanh co như một trao đổi mua bán lời lỗ bây giờ giữa đời, thì không bao giờ có cái thanh quí của sự chuyển nghiệp ở phút lâm chung theo chiều hướng giải thoát cả. Nghiệp không phải là định mệnh bất biến, nên con người có thể chuyển nghiệp bằng tâm chí hướng thượng mạnh mẽ. Nghiệp ác, nghiệp thiện là gì? Hiểu một cách đơn giản nhất thì nghiệp ác là cái định ý gây hại cho kẻ khác bằng mọi hành vi qua thân khẩu ý, qua mọi suy tính ác hại. Hành động cả đời luôn nhắm theo hướng đó thì nghiệp ác như khối băng ngày càng đóng cứng. Nếu biết hồi tâm, chuyển ý, chuyển hành động thân khẩu ý một cách chân thành và cương quyết từ bỏ mọi hành động xấu ác cũ thì những tội ác cũ, những ấn tượng đen tối cũ sẽ bị chôn vùi và dần tan biến như hòn núi băng trôi trên biển bỗng gặp sức nóng của mặt trời làm tan chảy. Ánh sáng của mặt trời chánh định, của sự hồi tâm chuyển ý trở thành sức mạnh phá tan khối băng tội chướng cũ. (Tội, tính chất của nó là không, do tâm ý mình tạo ra, tâm ý đã đổi tay lái thì tội cũng tiêu ma.) Như vậy, tội và nghiệp không phải là cái gì

219


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

kiên cố, mà nó có thể chuyển đổi theo tâm ý từ ác sang thiện. Thường ngày khi ta chuyển tâm ý mình vào chủ đề xả ly, đoạn ái là ta có sức mạnh cậy trông. Đó chính là tạo nghiệp lực thanh tịnh, giải thoát ngay đây. Đới nghiệp vãng sanh là gì? Khái niệm này đề cập đến năng lực nhiếp hộ của đức Phật A-di-đà. Năng lực đó có cơ cảm đặc biệt nhạy bén với những kênh sóng tâm hồn, những tần số tâm linh đúng số. Do đó, ai có chí khẩn thiết cầu về Tây phương quốc thổ thanh tịnh của Ngài thì được bi nguyện của Ngài nhiếp hóa mà có cảm ứng không sai chạy. Như vậy, dù có còn sót chút ít nghiệp đáng lẽ phải trả, nhưng nhờ sức khấn nguyện thoát ly Ta-bà và sức nhiếp hộ của Phật A-di-đà mà vẫn được vãng sanh Tây phương Cực Lạc. Thường ngày nghiệp chuyên nhất về đâu thì nó đã định sẵn cho nơi đến sau khi thân hoại mạng chung. Biết chắc nghiệp lý để khỏi hoang mang về việc chết sẽ về đâu. Hiểu chánh pháp, hiểu đường tu tập, chuẩn bị đầy dủ cho cuộc ra đi bằng xả ly, đoạn ái thì ta đã nắm chắc trong tay một gia sản quí nhất trần gian. Biết bao nhiêu kẻ không hề biết chuẩn bị cho cái chết, nên khi tử thần chợt đến, họ không khỏi bấn loạn muôn

220


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

chiều thống khổ, đọa lạc. Tâm ý thường biến chuyển, nghiệp cũng vì thế mà biến chuyển từ tối ra sáng, từ ác sang thiện. Hiểu nghiệp lý, hiểu lòng ta thì ta phải khôn ngoan không phạm vào những vùng hang động của yêu ma trói buộc trong chết chìm huệ mạng. Phải kiên th��� với chí nguyện xuất ly luân hồi ngay trong một kiếp ngắn ngủi này, ngay tại đây.

221


SỰ QUAN TRỌNG CỦA CHÁNH KIẾN

C

hánh kiến là pháp hành đầu tiên trong tám pháp hành căn bản của người tu học từ phàm tiến lên thánh. Nói rộng ra, chánh kiến chính là tư tưởng chỉ đạo đúng mọi hành động việc làm nhằm đạt kết quả sáng chói, khi có đủ phương pháp đúng. Có ai sống mà không hành động, hoạt động? Hành động, hoạt động để đem lại kết quả của bao nhiêu hy vọng, mong muốn thực hiện cho cuộc đời ngày càng quang đãng tươi đẹp hơn lên. Ước mơ và hành động không thể tách biệt. Nhưng ước mơ là bao gồm đã có suy nghĩ, có tính toán, có tư tưởng. Ước mơ mà không có tư tưởng đúng chỉ đường thì thành ra hão huyền, không bao giờ thực hiện được. Như vậy, bất cứ ai có sự hiểu biết chắc chắn, trước khi làm một công việc dù lớn hay nhỏ, cũng đều phải có suy nghĩ cẩn thận. Suy nghĩ cẩn thận thì nặng về biện pháp thực hiện, nhưng điều đó lại nói lên tính chất quan trọng của tư tưởng mà mình ôm ấp muốn thực hiện. Tư tưởng đúng đắn là tư tưởng thuận chiều nhân đạo, hợp với lợi ích chung, hợp với lòng người, mang tính nhân bản.

222


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Những nhà độc tài trong lịch sử nhân loại đã gieo bao nhiêu tang tóc khổ hận cho đời sống vạn triệu sanh linh chính vì họ có một tham vọng quá điên cuồng, chịu sự thúc đẩy bởi một tư tưởng sai lầm quá mức. Từ nguyên sơ, đạo Phật đã đưa ra hai tiêu chuẩn tối quan trọng để xác nhận thế nào là một chân lý, một tư tưởng đúng. Đó là khế lý và khế cơ. Tư tưởng sáng tỏ, đúng đắn là bản thân của nó, nhưng muốn trở thành chân lý được mọi người hay đa số chấp nhận thì nó phải được thuyết minh sao cho mọi người thấu hiểu chắc chắn. Như vậy, chân lý luôn đòi hỏi phải mang tính hiện thực, phải lấy hiện thực làm nền tảng. Giáo pháp của Đức Phật là những chỉ dẫn sáng tỏ về việc khai mở trí giác ngộ, đạt đến chỗ an vui lâu bền, nhưng muốn có kết quả chắc chắn thì từng pháp môn phải được người áp dụng biết cách áp dụng, biết cách làm chắc chắn, nhờ ở khả năng lãnh hội trọn vẹn. Đức Phật đã nhiều lần nói đến tính chất quan trọng của việc thấu hiểu (khế cơ) này: “Theo ta mà không hiểu ta là hủy báng ta.” Biết bao nhiêu tu sĩ khác đạo, sau khi đến vấn đạo rồi xin trở về nương tựa nơi Đức Phật. Đức Phật không dễ dàng chấp nhận, mà Ngài bảo họ phải suy nghĩ chín chắn trước. Và sau khi chấp nhận vào Tăng đoàn, người ấy còn phải biệt trú 6 tháng. Đó

223


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

là biện pháp rất hay, vì tu sĩ kia rất có thể dễ dàng bị kích động bởi tình cảm sôi nổi (Do xung đột tình cảm mà theo Phật, nhưng chưa hiểu rõ giá trị cao cả của những lời dạy.) Bởi vậy, ông ta cần có thời gian để suy nghĩ cặn kẽ. Tính chất quan trọng của chánh kiến trong phương trình giác ngộ rất lớn lao. Vì thế, trong tám cách để hành trì giác ngộ, chánh kiến phải là ánh sáng đầu tiên. Đương thời, khi Đức Phật còn tại thế, trận đồ tư tưởng vô cùng phức tạp với nhiều chủ thuyết, học phái giăng mắc ảnh hưởng khắp đường ngang ngõ tắt của sanh hoạt vật chất tinh thần dân thành thị thôn quê Ấn Độ. Từ trước đến nay dân tộc Ấn Độ vẫn luôn nổi tiếng là một dân tộc ham chuộng triết lý, ham chuộng những suy tưởng bay bổng, những thế giới siêu hình. Họ có một trí óc tưởng tượng vô cùng phong phú. Đó là mảnh đất thuận tiện cho trăm hoa đua nở, trong đó nổi bật ảnh hưởng và tính chất truyền thống là chủ thuyết khoái lạc và chủ thuyết khắc khổ. Chủ thuyết khắc khổ trở thành sanh hoạt tâm linh sâu đậm của người Ấn Độ trước thời đức Phật. Họ áp dụng một biện pháp tu khổ hạnh thật khắc nghiệt. Họ bắt thân xác, cảm quan, cảm giác phải gánh chịu bao dày vò, khổ ải. Họ phá hủy mọi cảm giác. Có kẻ phải ăn

224


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

trái đắng mà không được uống nước, cứ làm mãi như thế để vị giác không còn phân biệt được vị đắng và mọi vị khác. Họ cho rằng giác quan là kẻ gây tội lỗi chính. Cần phải trừng trị giác quan, cảm thức để chuộc tội lỗi, càng hành hạ thân xác, càng chịu đựng đau khổ bao nhiêu thì càng được ân sủng bấy nhiêu dành cho họ ở cõi Trời sau khi bỏ thân này. Ban đầu, thái tử Tất Đạt Đa sau khi xuất gia cũng đã hăng say tu theo phương pháp khổ hạnh, đến đỗi mỗi ngày chỉ ăn vài hạt giẻ, một nắm cơm nhỏ, khiến sức khỏe hao mòn khủng khiếp: chỉ còn da bọc xương. Cuối cùng Ngài té quỵ và suýt bỏ mạng bên bờ sông. May gặp mục nữ dâng cúng bát sữa bò, Ngài dùng và tỉnh lại. Từ đó, Ngài bừng tỉnh thấy rằng con đường ép xác, khổ hạnh bấy lâu mình quyết chí theo đuổi không thể nào đưa đến giải thoát chân thật. Giải thoát hoàn toàn tùy thuộc vào tâm linh, mà thân xác là đền thờ của tâm linh, ta không thể phá hủy thân xác qua việc trấn áp thô bạo mọi khả năng hoạt động bình thường của giác quan. Các giác quan tự chúng không phải là thủ phạm gây tội lỗi. Tội lỗi gây ra là do ở phần chủ chốt bên trong. Đó là ý thức ô nhiễm. Đương thời đức Phật, cũng có nhiều lần phái Ni Kiền Tử cử các luận sư cự phách của họ đến tranh luận với Đức Phật về việc ai

225


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

là thủ phạm gây tội lỗi. Họ quyết liệt chủ trương rằng chính thân xác là kẻ trực tiếp đầu tiên và cuối cùng gây nên bao tội lỗi làm ô uế tinh thần. Đức Phật bác bỏ học thuyết đó bằng cách chỉ dạy cho họ thấy tâm ý mới chính là kẻ gây nên tội lỗi, kẻ chủ chốt đầu sỏ. Đó là một chân lý, một sự thật mà sau khi chín chắn suy nghĩ họ không thể nào không chấp nhận toàn triệt được. Chủ thuyết khoái lạc thì cho rằng thân xác, cảm giác là con thuyền phải lướt, có nhu cầu phải lướt trên dòng sông khoái lạc. Con thuyền mục rã tan chìm trong dòng sông khoái lạc là vinh quang. Đức Phật chỉ rằng đó là Đoạn diệt luận, là u mê cắt tuyệt đời sống cao cả của con người. Mỗi con người đều hàm chứa một đời sống cao cả bên trong, một khả năng sáng tạo vô cùng kỳ diệu. Nếu cho rằng con người chỉ có phản xạ qua thói quen ăn ngủ tầm thường rồi hết thì như thế chính là một chủ trương giản lược hóa, trơ trụi hóa con người. Ngoài ra, một số tôn giáo thần quyền cũng không ngớt gây ra những ảnh hưởng tàn phá, làm khô kiệt khả năng sáng tạo của con người. Thê Thế lực tàn bạo của thần quyền làm đui mù linh thức sáng tạo của con người vì nó dìm tâm linh họ vào đường hầm nô lệ cụt

226


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

ngõ. Thời Trung cổ Âu châu, hệ thống Kinh viện học và Thần học giăng lưới khống chế và xua đuổi mọi suy nghĩ của con người chống lại trật tự và quyền uy tinh thần đổ khuôn sẵn có. Nhưng con người là chỗ mọc ra suy tư, chỗ mọc ra vấn đề. Do đó, dầu có kềm kẹp, khống chế bao nhiêu đi nữa, cuối cùng hệ thống thần quyền kia cũng rạn nứt, vỡ tan. Những cơn lụt tư tưởng lại trào vọt ra, lan tràn khắp đường phố tinh thần… Từ hậu quả bi thảm của những tà kiến trên, ta thấy Chánh kiến là gia sản quí giá tuyệt vời mà phải mất nhiều công sức mới xây đắp nổi. Nhân loại qua những chặng đường tiến bộ vượt bực lẫy lừng, soát xét lại, ta thấy đó chính là nhờ ở hiểu biết đúng mức chân thật, tỉnh táo lắng nghe, biết phân biệt, không cố chấp, không nhìn mọi sự kiện qua lăng kính chủ quan cố chấp dày đặc hắc ám của mình. Trong Phật giáo, bịnh kiến chấp là một trở ngại đầy nguy hiểm trên đường tu tập giải thoát. Có những người chê bai tri thức thế gian, những kiến thức về nhiều mặt. Thực tế, nhờ có trình độ học thức khá cao mà ta có thể đọc, nghiên cứu kinh điển, lãnh hội được tới chỗ sâu sắc. Từ đó mới phát khởi một niềm tin mãnh liệt đối với chánh pháp và cũng từ đó, phát chí nguyện tu tập hướng đến giác ngộ. Dĩ nhiên, mọi sự

227


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thông minh thế trí không đưa đến đạt đạo, nhưng ở chừng mực nhất định, nó vẫn giúp ích hữu hiệu cho ta đi vào trí tuệ Bát-nhã. Từ sự hiểu biết, với tư cách trong sạch là chánh tri kiến, ta đi vào nội tĩnh thường trực quán chiếu theo sự chỉ dạy, chiếu sáng của chánh pháp, làm cho tâm trí ngày một sáng ra trên ánh sáng giác ngộ thì đó cũng là một phương pháp tu tập có tính chất cốt lõi. Đã tin tưởng vào ánh sáng giác ngộ của Đức Phật thì ta vững lòng theo sự chỉ dạy của ngài mà hành trì thâm hậu. Vấn đề tối quan trọng là phải lý hội chánh pháp, hiểu chánh pháp bằng quán chiếu nội quán sâu xa, vì chánh pháp nhằm giúp ta thấy biết rõ mọi giả tướng, biết rõ mọi pháp hữu vi đều là duyên sanh giả hợp. Từ đó ta mới cắt đứt dễ dàng mọi đắm nhiễm. Nhiều người không chịu rèn luyện khả năng tiếp nhận nguồn chánh tri kiến vĩ đại mà Đức Phật chỉ dạy trong kinh điển, chỉ chấp chặt vào một vài sự tướng, rồi bằng lòng hân hoan với mớ hiểu biết hạn hẹp đó mà cứ tưởng rằng mình đã hiểu được giáo pháp. Trên hành trình tu học giáo pháp, ta phải luôn sẵn lòng từ bỏ những kiến thức hẹp hòi để đi sâu vào chân ý nghĩa của lời Phật dạy thường ẩn phía sau văn cú.

228


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Trên ý nghĩa cao cả, sâu sắc thì chánh kiến là không chấp thường, không chấp đoạn. Mọi hiện tượng đều là vô tự tánh, không có một cá tính chắc thật vĩnh viễn từ vô số kiếp, muôn đời, mà là luôn thay đổi, sanh thành và hủy diệt, hủy diệt để sanh thành. Hiểu thấu được chân lý duyên sanh vô tánh của sự vật nên ta không còn ngây thơ tin tưởng vào quyền năng sáng tạo vu vơ của đấng siêu nhiên nào cả. Hiểu rõ lý nghiệp báo luân hồi là Chánh tri kiến. Từ đó biết xây dựng đời mình tiến lên Thánh quả bằng mọi hành tác thanh tịnh. Có hiểu thấu vững chắc về khả năng tự sáng tạo đời mình trên hành trình giác ngộ, ta mới thắp lên ngọn lửa tự tin mãnh liệt, không còn mang ý tưởng tha cầu yếu đuối lê lết trong đường lầy lội của vết xe luân hồi. Đối với hành trình Bát Chánh Đạo, khi vững chắc có Chánh kiến dẫn đầu sáng soi thì đương nhiên ta sẽ có Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh ngữ. Phải soi rọi tưới tắm tâm ý mình trong ánh sáng của chánh pháp mới giữ được Chánh kiến của tâm thức mình. Lưới tà kiến giăng mắc khắp cõi Diêm-phù-đề. Người không siêng năng quán chiếu tu tập, không thấy sự cần thiết, không thấy nhu cầu bức bách phải xuất ly luân hồi thì khó kiến tạo cho mình một Chánh tri kiến.

229


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Chánh tri kiến là ánh sáng giác ngộ nguyên vẹn của dòng pháp nhũ có trên 2.500 năm. Ta đừng tưởng rằng Bát Chánh Đạo là pháp hành dành cho hạng tiểu căn mà lầm. Có nhiều người mới tu học, nghe thuộc một số thiền ngữ của Tổ sư rồi tự đồng hóa thân phận còi cọc của mình với trí giác ngộ của Tổ sư bằng cách trùng tuyên vanh vách những lời của Tổ sư. Kẻ chưa đủ khả năng lãnh hội Chánh kiến thì lầm tưởng người kia là đại thiền sư đạt ngộ, nhưng người có Chánh kiến vững vàng thì dễ dàng nhận ra ngay lớp vỏ ngoài hư dối đó.

230


Ý NGHĨA CỦA PHÁP TU BỐ THÍ

H

ình thức và ý nghĩa bao la của hành vi bố thí đã từ hiện thực sống động bước vào nền giáo pháp nguyên vẹn từ trên 2.500 năm. Trong tâm thức từng thế hệ Phật tử nhiệt tình thì bố thí đã được hiểu là một trong những pháp hành cần thiết trên đường trở về bến bờ Giác tánh. Phải thực hành Lục Bala-mật, mà trong đó bố thí là pháp đầu tiên, thì mới hội đủ tư cách trong sạch, cần thiết để bước lên con đường Bồ Tát đạo với mọi hạnh nguyện cao cả. Bố thí nhằm mục đích gì? Đó là phá bỏ hệ thống kiên cố của lòng tư kỷ, của thói quen thu gom về mình mọi thứ mình ưa thích trên cõi đời này. Ngũ uẩn là những yếu tố tạo nên mọi chúng sanh. Từ hằng triệu kiếp sống, mỗi chúng sanh đều trôi giạt trong biển luân hồi, quay cuồng trong sáu cõi. Trong phận người thì bản ngã là đại biểu không chính thức của ngũ uẩn. Ngoài sự giả hợp của ngũ uẩn ra thì hoàn toàn không có một “cái ta” nào khác, nên do vô minh che lấp mà chúng sanh luôn bám chấp vào ngũ uẩn – những yếu tố giả hợp tạo thành chúng sanh – và cho

231


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

rằng đó chính là “cái ta”, là “bản ngã” của mình. Từ đó, ta không ngừng sinh khởi vô số niệm tưởng phân biệt ngã chấp, pháp chấp. Ta luôn xem bản ngã như một cái gì tất yếu, có thật trong vô biên vĩnh viễn. Thói quen đó đã ăn sâu trong vô thức từ vô số kiếp. Nó trở thành một cây cổ thụ cành lá sum suê che kín mọi miền cảm thức. Nó gom về dưới tàng lá của nó mọi cái gì mà tâm ý vươn tới, tạo nên vành đai ngã sở, là những cái của ta, thật bao la khắp chân trời mặt đất. Do bản năng sanh tồn cộng với ý thức kiên cố về ta và của ta, vành đai ích kỷ cứ siết chặt vì sợ mọi sự tuột đi, trôi đi, hủy diệt. Nhưng bản chất thật sự của mọi hiện tượng là không ngừng chuyển biến trong chu kỳ sanh trụ dị diệt Từ đó mà ta luôn chìm trong đau khổ trước sự tan rã, hoại diệt của những gì mà ta luôn muốn níu kéo, giữ lại. Vì thế mà nước mắt chúng sanh từ vô thỉ đến nay đã nhiều hơn nước trong bốn biển. Trên đường về Giác tánh, điều trước tiên ta đạt được chính là nước mắt sẽ ngưng chảy, khi ta nhận thức đúng về bản chất sự vật và buông bỏ tham luyến. Cây cổ thụ ngã chấp, vành đai ngã sở đều phải dần dần tan chảy, sụp đổ. Bố thí là nhát búa đầu tiên để đốn ngã cây ích kỷ, làm lung lay mọi thành trì ngã sở. Bố thí làm cạn đi

232


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

dòng nhựa sống nuôi dưỡng cây bản ngã ích kỷ, làm cho nó dần khô kiệt lá cành. Bố thí là bắt đầu sống chan hòa với mọi tương giao đời sống xung quanh, đem hiểu biết và tình thương phục vụ ích lợi thiết thực cho nhân quần. Các vĩ nhân chân chánh bao giờ cũng tràn đầy lòng vị tha. Lòng từ ái, vị tha, bố thí của họ sung mãn như một phẩm chất tự nhiên vốn có. Người tu theo Đại thừa phải luôn nuôi dưỡng hai phẩm tính từ bi và trí tuệ. Từ bi và trí tuệ càng phát triển thì sự ích kỷ, vị ngã càng phải tan biến đi sương mai trong nắng sớm. Bố thí là đôi cánh giúp cho hạnh nguyện của người tu tập ngày càng bay cao. Tài thí, pháp thí, vô úy thí trong nhiều ngàn năm qua đã là những pháp môn tu tập hiệu quả trên con đường hành Bồ Tát đạo. Người thực hành Bồ Tát đạo với từ bi và trí tuệ vẹn toàn là người biết nuôi dưỡng những giá trị chân chính trong đời sống tâm linh. Hầu hết chúng ta chưa bao giờ phát triển được khả năng kỳ diệu của tâm thức mà mỗi con người đều sẵn có. Bố thí chính là một trong những phương tiện hữu hiệu giúp chúng ta nhanh chóng đạt được điều đó.

233


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Dĩ nhiên từ phàm phu bước lên Thánh địa cần phải qua nhiều cửa, nhưng điểm chung là cửa nào cũng tất yếu đòi hỏi phải buông bỏ mọi ngã chấp, vị kỷ. Bố thí chính là một cuộc chiến đấu trên chiến trường mênh mông của bản ngã vị kỷ. Bố thí là bắt đầu làm rạn nứt vành đai kim cô ích kỷ. Có biết bao kẻ cả đời chưa từng cho ai món gì, dù đã gặp nhiều cơ hội rất đáng để tặng cho. Sau khi ý thức sâu sắc về thói xấu vị kỷ thì hãy một lần làm hạnh bố thí mạnh mẽ để tạo nhân tố khởi sắc cho tâm hồn, hướng về những giá trị chân thật của kiếp người. Tu tập là quyết liệt chống lại để loại trừ tâm lý tham đắm, vị kỷ đã hình thành từ quá lâu. Làm một cử chỉ bố thí là bắt đầu việc chặt đứt thói quen ích kỷ, và chỉ cần ta cứ kiên trì với thiện hạnh bố thí thì chắc chắn sẽ có ngày cây đại thụ ích kỹ sẽ bị chặt sạch hết mọi cành lá. Vì thế, bố thí là một pháp tu cụ thể hữu hiệu mà ta phải luôn kiên trì thực hành để chống lại sự tấn công của tham đắm ích kỷ. Bắt đầu từ chỗ bắt đầu chính là biết đường tu tập, biết dứt trừ dần dần những thói quen tham đắm, ích kỷ, ngã mạn. Nở một nụ cười, nói một lời ngợi khen chân thật, nhường bước cho người gánh nặng... biết bao nghĩa cử từ thân khẩu ý, thiện chí, nhiệt tình giúp đỡ xung quanh khi hữu sự, đều là xuất phát từ ý

234


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

nghĩa chân thật của hạnh nguyện bố thí. An ủi, vỗ về, khuyến tấn, chia sẻ đau buồn với kẻ gặp nạn khổ... đó cũng là bố thí. Điều đáng quý ở đây chính là sự thông cảm chân thật hướng đến tha nhân. Hành vi bố thí cao thượng chính là làm mà không hề nghĩ đến việc sẽ được báo ơn báo đức. Có như vậy, việc làm mới chảy mãi như dòng sông không neo mình lại ở một bến cồn nào. Kinh Bản sinh (Jataka) kể lại nhiều chuyện tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni với những hành động bố thí cực kỳ vĩ đại, như thí thân cho cọp đói, bố thí cả vợ con, đất nước… có giá trị tác động đến chỗ sâu thẳm của tâm lý vị tha vô bờ bến. Qua những câu chuyện mang chất đại hùng lực ấy chúng ta có thể thấy được chân ý nghĩa của việc bố thí không trụ tướng. Hành động bố thí của bực Đại Bồ Tát thật là phóng khoáng vĩ đại, sẵn sàng cho đi từ của cải cho đến quốc thành thê tử, đến cả thân mạng... mà không hề có chút do dự hay tiếc nuối. Tất cả những hành động đó kết tụ thành một phẩm chất rực sáng trong vô số hạnh nguyện của bực Đại Bồ Tát, luôn hướng đến việc làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Đối với những ai còn mang nặng ngã chấp, phân biệt, vị kỷ thì những hành động bố thí của bậc Bồ Tát dường như luôn vượt quá sức tưởng tượng của người

235


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thường. Sở hành của các vị giống những tiếng sét nổ bên lưng trời tư tưởng để nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa vĩ đại của pháp hành bố thí. Chúng ta thường xuyên trói chặt đời mình bằng vô số những sợi dây ích kỷ nên ta cứ phải chìm mãi trong trầm luân. Buông bỏ tất cả những tâm niệm ích kỷ hạn hẹp thì sẽ lập tức đến được cảnh giới bao la thanh tịnh, ra khỏi dòng nước tù hãm của ngã chấp, vị kỷ. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là kết tụ của hằng sa công hạnh cao cả từ vô số kiếp hành Bồ Tát đạo. Ngay trong kiếp sống tại cõi Ta-bà này, Ngài đã từ bỏ hết mọi giàu sang phú quí, xuất gia tìm đạo. Sau khi thành đạo, Ngài không ngừng nỗ lực khai hóa chúng sanh, bất kể là phương sở nào. Tinh thần vị tha vô bờ bến của Ngài đã tạo nên một nhân cách siêu tuyệt, khiến cho toàn thể nhân loại đều phải nghiêng mình kính phục. Đạo Phật là đạo giác ngộ, là tỉnh thức ở tự tâm. Buông bỏ mọi tâm lý ích kỷ để nuôi dưỡng lòng vị tha, đó chính là bước đầu đến với Phật pháp. Có hiểu biết cảm thông thật sự là bắt đầu có yêu thương, có bố thí. Khi đó, vành đai ích kỷ thường xuyên che phủ tâm thức chúng ta sẽ dần được tháo bung, phá vỡ. Trong thực tế, chúng ta chưa có được nguồn an vui chính là vì ta bị trói buộc trong vô số mưu toan ích kỷ, ngã chấp,

236


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

phân biệt quá kiên cố. Bố thí chính là cửa ngõ mở rộng lòng cảm thông với xung quanh, giúp ta bắt đầu cảm nhận được an vui trong cuộc sống. Tuy vậy, muốn có kết quả tốt thì phải luôn thực hành bố thí với lòng trân trọng, cảm thông sâu sắc. Có như vậy ta mới nhanh chóng đạt được sự chuyển biến quan trọng trong đời sống tinh thần. Khi bắt đầu thực hành bố thí, ta thường không tránh khỏi việc nghĩ tưởng đến những việc bố thí mình đã làm được. Phải trải qua một thời gian thực hành kiên trì, ta mới dần dần phát triển hạnh bố thí theo hướng vô cầu, vô chấp, không còn xem đó là những việc làm đáng tự mãn, mà chỉ là những ứng xử hoàn toàn tự nhiên của người tu tập. Ta sẽ không còn nghĩ tưởng nhiều đến những việc đã làm, không khởi sinh tâm niệm chờ đợi sự đền đáp hay ngợi khen, tán thưởng. Những hành vi bố thí ban đầu có thể hình dung như những bông lúa vừa mới trổ, tuy rất đẹp nhưng luôn vươn lên đầy kiêu ngạo. Nhưng khi bông lúa ngậm đòng đòng thì nó sẽ dần dần gục đầu xuống. Cũng vậy, bi nguyện càng phát triển thì lòng vị kỷ, kiêu ngạo càng gục xuống và công hạnh lợi tha sẽ tích tụ dần thành quả vô sanh vĩnh tịch. Lời kinh từng nhắc nhở: “Khi một thiện ý vừa sinh khởi, ta phải nhận biết và thực hiện ngay.” Có như vậy

237


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

mới có thể vực dậy được tâm hồn yếu đuối của ta. Từ quá lâu rồi, ta luôn sống với lòng vị kỷ hạn hẹp. Nay có ánh sáng chánh pháp chỉ đường quang minh, nếu chợt có thiện ý nổi lên là phải nỗ lực làm ngay để tạo đà vươn lên, thoát khỏi sức chi phối nghiệt ngã của tâm lý vị kỷ. Phải buông bỏ chấp ngã và dấn thân vào pháp hành bố thí thì mới thấy được những giá trị tinh thần cao quí thật sự trong cuộc sống.

238


Ý NGHĨA NGHIỆP BÁO TRONG ĐẠO PHẬT

T

ừ khởi nguyên cho đến thời kỳ phát triển sâu rộng của đạo Phật, giáo lý nghiệp báo đã trở thành một cột mốc tiêu biểu dễ nhận biết và định hướng tu tập cho mọi người. Từ bao nhiêu ngàn năm qua, hễ nói đến nghiệp báo là người ta nghĩ ngay đến lời dạy của Phật, nghĩ ngay đến đạo Phật. Đó là phần giáo lý cốt lõi và phổ biến nhất trong đạo Phật. Đối với những ai chưa thấu hiểu đầy đủ về nghiệp báo, ngay cả một vài khái niệm cơ bản, đơn sơ nhất về giáo lý nghiệp báo cũng đủ để dẫn dắt họ đến với đạo Phật và làm theo lời Phật dạy. Hơn thế nữa, luật nghiệp báo không phải là một luật riêng cho tín đồ đạo Phật. Bất cứ ai, dù không phải là tín đồ đạo Phật, nhưng nếu có niềm tin vào lý nghiệp báo mà làm lành lánh dữ thì cũng sẽ được hưởng quả phúc an lạc ngay hiện nay và về sau. Và một khi đặt niềm tin vào lý nhân quả, nghiệp báo là đã mặc nhiên trở thành tín đồ đạo Phật, vì đã làm đúng theo lời Phật dạy. Trong đạo Phật có cả một hệ thống giáo lý giải thích rõ ràng và đầy đủ về nghiệp báo, bao gồm cả những

239


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

khái niệm phức tạp và tinh tế nhất cũng như những cách hiểu đơn sơ, căn bản nhất. Trong giáo pháp của đức Phật, những ý niệm về nghiệp báo, luân hồi, nhân quả có một vai trò vô cùng rộng lớn, bao trùm và ăn sâu trong tâm thức của hầu hết mọi người Việt Nam. Trong sự hiểu biết của quần chúng bình dân, nghiệp báo được hiểu một cách đơn giản rằng hễ làm ác thì sẽ chịu quả đau khổ, làm điều lành sẽ được hưởng quả tốt đẹp. Nhưng chỉ cần tin và hiểu nghiệp báo một cách đơn giản như thế thôi cũng đã đủ để nhắc nhở người ta luôn làm lành lánh dữ, tránh không tạo ác nghiệp. Những người bình dân cũng thường vận dụng lý nghiệp báo để an ủi cho những bất hạnh của mình trong hiện tại. Khi một tai biến, bất hạnh nào đó xảy ra mà không rõ căn do thì họ hiểu rằng do đời quá khứ mình đã gây nhân xấu, ngày nay phải chấp nhận quả xấu. Và như vậy, họ sẽ cố gắng ăn ở hiền lành, tránh không gieo nhân ác cho đời sau. Chính nhờ sự tin hiểu nghiệp báo mà người ta luôn giữ vững được thiện tâm thiện hạnh, giữ vững nhân cách hướng thượng, luôn sống với đầy đủ trách nhiệm tinh thần và lương tri. Nghiệp là một từ ngữ xuất phát từ đạo Phật. Mọi hành vi xuất phát từ thân, miệng, ý mà có chủ tâm (tác

240


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

ý) đều tạo thành nghiệp, hoặc lành hoặc dữ, hoặc xấu hoặc tốt. Có thể hình dung tiến trình nghiệp báo như là một hạt giống được gieo xuống sẽ nảy mầm và đưa đến thời kỳ kết trái, tương ứng với loại hạt đã gieo. Như vậy, nguyên lý chung là có nghiệp nhân tất phải có quả báo, cũng như hạt giống đã gieo thì nói chung là sẽ đưa đến sự nảy mầm, kết quả. Trong kinh điển nhiều lần khẳng định như thế. Hơn nữa, không có bất cứ nơi nào để người ta có thể trốn chạy, né tránh nghiệp nhân mình đã tạo. Tuy nhiên, trong thực tế thì tiến trình gieo nhân gặt quả luôn phải phụ thuộc một phần quan trọng vào các duyên, tức là những điều kiện liên quan, cũng như quá trình nảy mầm và tăng trưởng của hạt giống phải phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết, nước tưới, phân bón... Có nhiều loại duyên khác nhau như thuận duyên và nghịch duyên. Thuận duyên ví như những điều kiện thuận lợi để hạt giống nảy mầm lên cây, như nước tưới, nắng ấm, phân bón, công chăm sóc... Thiếu các điều kiện tối cần thiết đó thì hạt giống sẽ thui chột, hoại diệt, dù đã gieo xuống nhưng không thể nảy mầm lên được. Nghiệp đã tạo ra được ví như hạt giống nên gọi là chủng tử nghiệp - hạt giống nghiệp. Đó chính là những ấn tượng của hành vi đã thực hiện được lưu lại trong

241


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tàng thức (A-lại-da thức). Sự phát triển của hạt giống nghiệp không phải là một tiến trình bất biến, vì thức A-lại-da luôn biến chuyển không ngừng và mỗi một chuyển biến đều có tác động ảnh hưởng ít nhiều đến sự kết quả của một hạt giống nghiệp. Nói cách khác, một hạt giống nghiệp lưu giữ trong A-lại-da thức cần phải được nuôi dưỡng, lặp đi lặp lại nhiều lần mới có đủ điều kiện để trổ ra quả báo. Trong đạo Phật, sự lặp lại nhiều lần này được gọi là huân tập, tức là xông ướp, làm cho thấm sâu vào. Một ý niệm, một hành động tốt mới làm lần đầu, ấn tượng nó tuy có lưu giữ trong thức A-lại-da nhưng vô cùng yếu ớt, vì trong từng tích tắc có hàng trăm ấn tượng khác được đưa vào A-lại-da rồi kết tụ theo từng nhóm tương ưng và hoạt động mạnh lên khi có những ấn tượng cùng nhóm được tiếp tục đưa vào. Những thiện nghiệp rất khó phát triển vì tâm ý chúng ta không ngừng đưa vào A-lại-da những nhóm ấn tượng xấu, ô nhiễm, theo chiều quay từ vô thỉ của luân hồi lục đạo. Biết thế, ta càng phải nỗ lực làm chủ tâm ý để thường xuyên thực hiện những việc tốt lành, như vậy mới đưa vào A-lại-da thức nhiều ấn tượng, nhiều hạt giống thiện nghiệp. Ngoài những hành vi của thân và khẩu, mỗi một ý tưởng nổi lên trong tâm thức cũng in dấu ấn vào A-lại-

242


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

da, để rồi hạt giống ấy cũng tham gia hoạt động theo sự xô giạt của biết bao hạt giống khác. Kẻ tham đánh bài bạc chẳng hạn, họ cứ lặp đi lặp lại hành động đó, khiến cho hạt giống ham bài bạc kia cứ được nuôi lớn, nó chi phối hết mọi hoạt động khác của họ, hết tiền thua cháy túi, người ấy bị cái nghiệp, cái ham mê chủ đạo kia dẫn dắt, họ hành động theo nó. Họ sẵn sàng ăn cắp, ăn cướp để kiếm tiền cung phụng cho sự ham thích của mình. Họ bị nghiệp đánh bài dẫn dắt, chi phối trọn cả thân tâm. Biết rõ qui luật huân tập ấy, ta phải không ngừng đưa vào A-lại-da thức những hạt giống thiện nghiệp. Có như thế thì nghiệp lực thanh tịnh mới có điều kiện tốt mà trổ quả tốt. Công việc này phải làm bền bĩ ngay từ bây giờ cho đến mãn kiếp. Làm trong ba bốn chục năm, thanh tịnh nghiệp trở thành nguồn động lực chủ đạo thì mới có chỗ tin cậy cho cuộc đời tu tập giải thoát. Còn một vấn đề quan trọng nữa là, khi ta chuyên tâm tu tập thì những hạt giống nghiệp ái nhiễm không có cơ hội xuất hiện ra ý thức để đưa vào hành động qua cửa ngõ thân khẩu, nhưng nó vốn có căn cội sâu xa trong A-lại-da thức từ nhiều đời, nhiều kiếp trước nên rất khó lòng dứt sạch. Khi ta nỗ lực tu tập, làm thanh tịnh tâm ý thì hạt giống ái nhiễm tạm thời bị đè nén,

243


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

không thể phát khởi, nhưng nó vẫn âm thầm tồn tại trong A-lại-da thức để chờ đợi khi có thuận duyên là phát khởi. Hạt giống ái dục có hàng trăm chi nhánh, gọi là vi tế phiền não. Do đó, người gần lâm chung nếu ý thức tu tập suy yếu thì dễ bị các cận tử nghiệp nổi lên lấn áp. Cận tử nghiệp chính là những tâm niệm sân hận hay tham luyến mọi thứ trên đời, khi chợt bùng lên sẽ làm rối loạn tâm ý, kéo ta trở lại sa đọa trong luân hồi. Do đó, bất cứ pháp tu nào cũng phải thường giữ định tâm kiên cố, nhất là vào lúc sắp lìa đời. Phải đạt đến sự nhất tâm bất loạn để vượt qua khỏi trạm nguy hiểm cuối cùng. Sự nỗ lực dữ dội trong giây phút cuối cùng này là tối quan trọng. Có người trước phút lâm chung chứng quả A-la-hán. Có người được vãng sanh bởi sức mạnh của định tâm phá tan được hết thảy những tập khí cũ. Vấn đề huân tập nghiệp đã được đức Phật giải đáp thấu đáo cho ông Ma Ha Nam trong kinh A Hàm qua một thí dụ rất rõ. Ông Ma Ha Nam là cư sĩ nhiệt thành hành trì chánh pháp, sau khi lên làm vua nước Ca-tỳla-vệ, ông có thưa hỏi Phật rằng: “Con tu tập đều đặn như vậy, ví như đang đi rủi gặp con bò húc chết thì sao?” Phật đáp rằng: “Một cái cây mà bấy lâu thân nó

244


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

nghiêng về phía đông thì khi đốn nó sẽ ngã về đâu?” Chắc chắn nó sẽ ngã về phía đông thôi, vì cả đời nó đã chuẩn bị sẵn tư thế để ngã về đó rồi. Người tu thiện nghiệp cả đời, dù có qua đời thình lình thì nghiệp đó vẫn là nghiệp thiện, vẫn là ngã về hướng an vui giải thoát.” Động tác huân tập này chỉ là một sự lặp đi lặp lại, nhưng muốn có hiệu quả thì cần phải có sự chú ý cao độ. Nhờ huân tập thiện nghiệp theo cách đó mà hạt giống nghiệp thiện mới có đủ sức mạnh làm chủ vững vàng trong A-lại-da thức. Hoạt động của A-lại-da thức (thức thứ tám) và hạt giống nghiệp là một sự hoạt động tinh tế, sâu kín, chỉ có Đức Phật mới thấu suốt đến chỗ rốt ráo mà thôi. Về thế giới thực vật, trong cõi đời, nếu có dịp quan sát một hạt gieo xuống đất, ta cũng thấy sự mầu nhiệm khó nói của nó. Trong hạt nó vốn có một sức sống bí nhiệm âm thầm để đưa giống loại nó tái xuất hiện. Gieo hạt một tuần lễ sau thì mầm nhú lên, như thế là nó phát sanh khi có đủ điều kiện thích đáng. Trái lại, có những hạt bị kiến tha, có những hạt lép thì xem như đã tự hủy. Có thể hình dung hạt giống nghiệp và quá trình trổ quả cũng tương tợ như thế. Hơn nữa, thế giới thức

245


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tâm ta còn biến động phức tạp hơn gấp ngàn lần. Vì thế, không nhất định là khi gây một nhân tội ác như nhau sẽ phải trả quả như nhau, mà còn tùy thuộc vào biết bao điều kiện tác động. Nếu một nghiệp ác cứ tiếp tục được tăng cường bởi những hạt giống nghiệp khác cùng loại thì khi trổ quả sẽ tăng lên gấp bội, như khi ta trồng cây với đủ điều kiện chăm bón tốt thì có thể tăng thêm khả năng kết trái so với thông thường. Do những tác động phụ thuộc như thế nên có người tạo ác nghiệp nặng nề phải trả quả ngay hiện đời, với người khác lại trổ quả trong nhiều đời sau khi có đủ điều kiện, cũng như đun nước, lửa cháy đến một lúc nào đó thì nước bùng sôi. Thế nhưng, nếu thình lình có một thiện nghiệp mạnh mẽ hơn tác động vào, chẳng hạn như sự thành tâm hối cải, thì dòng nghiệp ác cũ sẽ bị chuyển hướng, cũng như khi ta đang đun nước bất chợt củi tắt, lửa tàn, nước sẽ không sôi được. Ác nghiệp được hóa giải cũng giống như thế. Trên nguyên tắc chung thì có đun nước là nước phải sôi, nhưng lại còn phải có điều kiện thuận lợi mới đưa đến kết quả nước bùng sôi. Trái lại thì khác. Ta tạo thiện nghiệp thanh tịnh cũng giống như vậy, cứ liên tục chụm bằng củi chánh pháp trí tuệ Phật pháp thì ta sẽ nấu chín nồi cơm Niết-bàn.

246


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Như vậy, vĩnh viễn nghiệp không bao giờ là một định mệnh bất biến cả Trong tâm thức bình dân thì gọi là nghiệp dĩ, nghĩa là điều định sẵn do nghiệp đã làm. Khi gánh chịu một tai ương nào đó thì người ta hiểu đó như là kết quả của tội cũ mình đã làm, từ đó cố gắng ăn ở hiền lành, nhằm tạo dựng cuộc sống tương lai khá hơn. Như vậy, người bình dân vẫn hiểu luật nghiệp báo theo hướng có thể chuyển hóa chứ không nghĩ rằng tạo tội rồi thì phải chìm đắm mãi trong tăm tối. Kiếp xưa vụng đường tu thì bây giờ hãy gắng sức, đó là một cách nghĩ đơn giản mà hoàn toàn đúng đắn, tích cực. Tâm thức biến chuyển không ngừng, nghiệp cũng theo đó đổi thay, cho nên mới có người tu thành Thánh quả. Như vậy, nghiệp có thể chuyển hóa được. Muốn dứt trừ vĩnh viễn một thói xấu ta phải nỗ lực làm ngược lại cho thật lâu bền kiên cố và quyết tâm mới có kết quả. Chuyển phàm thành Thánh là một cuộc chuyển nghiệp thật kiên cố dữ dội mới mong thay đổi được trọn vẹn. Chư Phật, A-la-hán cũng chính là những phàm phu trước đây như chúng ta nhưng đã thành tựu trong việc dứt trừ hoàn toàn mọi nghiệp cũ.

247


PHIỀN NÃO TỨC BỒ ĐỀ

P

hiền não là thuật ngữ xuất phát từ đạo Phật. Phiền não chỉ chung mọi tâm lý làm nóng nảy thiêu đốt, quấy động tâm hồn thanh thản. Phiền não là toàn bộ sanh hoạt, hoạt động của tình cảm, tư tưởng, tinh thần bị ngũ dục khống chế. Tâm phiền não là tâm ô nhiễm, tâm bị nhuộm bởi tham đắm, ghét bỏ, ngã chấp sâu nặng, tâm đó đưa người ta vào bến luân hồi để trôi lăn mù mịt trong sáu cõi vô hạn, gọi là trần sa tâm, sanh tử tâm, luân hồi tâm. Bồ-đề là trí giác sáng tỏ, thanh tịnh, vắng bặt mọi vọng thức, vọng tình. Trong Phật pháp thường có hai khái niệm là nhiễm và tịnh để nói chúng sanh và Phật, mê và ngộ, bó buộc và giải thoát, phàm và thánh, khổ và vui, vọng tâm và chân tâm... Ta thường có khái niệm đối lập giữa tình trạng lưỡng nguyên đó, như chân tâm và vọng tâm chẳng hạn, ta cứ ngỡ là ngoài vọng tâm này có một chân tâm nào khác nằm chờ ở đâu đó bên ngoài ý thức. Kỳ thật, cũng giống như ta chỉ có một cái áo, cái áo đang dơ thì sau khi giặt, nó là áo sạch. Tâm ta dơ sau khi giặt bằng nước chánh pháp thì nó là tâm

248


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

sạch, tâm thanh tịnh. Vì thế, nói phiền não tức bồ đề là nói một cách ngắn gọn, trực chỉ như thế. Tu tập chân chính là một nỗ lực chuyển hóa tâm thức mình. Chuyển hóa như thế nào? Đó là sự quán chiếu sâu sắc, là luôn luôn để tâm ý suy xét mọi hiện tượng từ tâm sanh, vật lý theo sự chỉ dạy sáng tỏ của giáo pháp, như các pháp vô thường, vô ngã, nhân duyên sanh... Tâm ý ta từ lâu bị cuốn hút theo các đối tượng của ngũ dục trong khuynh hướng mê đắm, ghét bỏ, từ đó tạo nên mọi khổ đau chồng chất suốt kiếp. Đức Phật là người tỉnh giác, thấy rõ cuộc sống như thế chỉ là sống trong lục dục, tù hãm, bó buộc, đánh mất giá trị cao khiết của một kiếp người. Ngài liền đưa ra những giá trị cao cả cho ta biết mà quay lại sống một đời đàng hoàng hơn, có giá trị sâu sắc, vĩnh cửu hơn. Những lời dạy của Đức Phật được ví như là những phương thuốc hay để ta trị bịnh tâm linh, bịnh tâm hồn. Vì sao gọi là bịnh? Tâm ý chúng sanh cứ lao theo đường mòn bao kiếp là tham đắm, ghét bỏ, ham mê cái vui ngắn hạn và mắc kẹt trong bao nhiêu cố chấp tà kiến, thiên lệch. Tâm ý đó cứ như vậy mà phản ứng giao tiếp, so đo, phân biệt, níu kéo về mình mọi sở thích và đẩy ra khỏi mình mọi cái gì đi ngược với chủ quan ham thích. Lề thói đó rất khó cải đổi, nó như một căn

249


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

bịnh trầm kha kinh niên. Tâm ý chúng ta là những loại bịnh phức tạp vô số biến chứng, không đơn giản như thân xác bịnh, tương đối có hệ thống, dễ trị hơn nhiều so với tâm ý bịnh. Đức Phật đã giác ngộ, dứt trừ hết mọi thứ bịnh tâm ý. Ngài hoàn toàn khỏe mạnh về tâm linh, tinh thần. Trước đó, Ngài cũng là một con người sanh ra trong cuộc đời và là một Hoàng tử được hưởng thụ mọi thú vui, sống đời nhung lụa sang giàu tột bực. Nhưng từ thuở nhỏ Ngài đã nung nấu một nỗi suy tư, băn khoăn về cuộc sống nhân thế. tTừ buổi đi theo vua cha dự lễ Hạ điền, nhìn thấy cảnh cày cuốc lam lũ gian nan, và mọi sanh vật chực chờ giết nhau để sống, Ngài vô cùng xúc động bởi hiện trạng đau xót ấy. Từ đó, trong tâm trí Ngài, dấu hỏi về ý nghĩa chân thật của cuộc sống cứ lớn dần, trở thành ngọn lửa nung nấu trong tâm tư Ngài. Ngài suy tư để cố tìm ra một giải đáp thỏa đáng. Nhưng bao năm tháng đã trôi qua mà dấu hỏi kia vẫn chiếm ngự tâm trí Ngài, như một ám ảnh vì chưa có lời giải đáp. Cuối cùng, không thể an nhàn trong đời sống quen thuộc bấy lâu, Ngài quyết định lên đường đi tìm phương thuốc. Ngài đã xuất gia và trải bao gian khổ, cuối cùng Ngài cũng tìm ra giải pháp cho vấn đề. Pháp môn giải

250


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

thoát đó, Ngài mân mê mãi phân vân chưa muốn rộng truyền vì nó vô cùng khó tin nhận đối với tâm ý con người phàm tục. Một buổi mai, đứng nhìn hồ sen, Ngài chợt nhận ra một điều: những bông sen tươi thắm đang khoe sắc tỏa hương thơm đều mọc lên từ bùn sình hôi hám. Nhân loại cũng giống như thế, dù tâm ý hiện đang đen tối vì vô minh che lấp, nhưng có thể nhờ tu tập Chánh pháp mà nở hoa tâm hồn, trở thành những đóa sen thơm ngát. Từ đó, suốt 45 năm Ngài đi khắp nhiều nơi, nhiều xứ sở để truyền dạy Chánh pháp. Ban đầu, Ngài đến Vườn Nai truyền cho năm người bạn cùng tu cũ. Đó là một quyết định tối quan trọng, thế nên về sau đã gọi đây là lần Chuyển pháp luân đầu tiên. Tên gọi đó hình dung lần thuyết pháp đầu tiên của Ngài như bắt đầu quay một bánh xe vĩ đại cho cỗ xe chuyển động. Giáo pháp của Phật là cỗ xe vĩ đại chạy khắp nơi để chuyên chở bao tâm hồn đến chỗ an vui vắng lặng, đạt được quả vô sanh vĩnh tịch. Biết bao người đã được Phật pháp khai mở trí tuệ, chấm dứt vĩnh viễn cuộc đời u tối tù hãm, mở ra một giá trị cao khiết vô tận cho đời mình. Những ai có chí khí hướng về Ngài tha thiết thì đều được nếm qua mùi vị của giải thoát. Như vậy, pháp Phật đã chuyển hóa mọi nhiễm ô phiền não trong tâm người thành tuệ giác giải thoát để hoa tâm

251


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

bừng nở. Pháp Phật là những chỉ dẫn tối cần thiết cho việc chuyển hóa tâm thức. Từ rác rưởi hôi hám muốn chuyển thành phân bón để nuôi cây phải trải qua một thời gian. Muốn chuyển hóa tâm thức đen tối, mê muội để hướng về tịch tịnh giải thoát cũng phải trải qua thời gian và cần nhiều nỗ lực tu tập đúng hướng. Tâm thức còn mê muội của chúng ta ví như những quặng sắt dưới lòng đất sâu vốn chứa nhiều tạp chất, muốn sử dụng để làm nên vật dụng thì phải trải qua sự tinh luyện, gạn lọc. Cũng vậy, tâm thức phải trải qua sự tu tập rèn luyện theo đúng Chánh pháp mới có thể trở thành sáng suốt, thanh tịnh. Sự chuyển hóa thức là một sự chuyển hóa đòi hỏi ý chí quyết tâm và sự kiên trì học hỏi nơi Chánh pháp. Phải biết nuôi dưỡng ngọn lửa khát khao giác ngộ luôn rực cháy suốt trong tâm hồn. Tùy theo tâm lực chuyển hóa mà thành quả đạt được có thể nhanh chóng hay chậm chạp, nhưng nói chung thì chỉ cần có quyết tâm và theo đúng Chánh pháp, chắc chắn sẽ có ngày đạt được kết quả. Nói “phiền não tức Bồ-đề” thì cũng gần giống như ta nói “rác tức là hoa”, nghĩa là một sự chỉ thẳng vào sự chứng đạt Bồ-đề Vô thượng giác vốn không thể cầu tìm bên ngoài tâm thức này, cho dù hiện nay tâm ấy là si mê, phiền não. Đó là nỗ lực chuyển hóa tâm thức

252


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

từ mê lầm sang giác ngộ, giải thoát. Điều này về sau cũng được Lục tổ Huệ Năng nói rõ trong Pháp Bảo Đàn kinh: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”, nghĩa là đạo giác ngộ của Phật pháp ở ngay trong thế gian này, không thể lìa ngoài thế gian mà có được giác ngộ. Giác ngộ là tỉnh thức, là thức tỉnh ngay ở chỗ tâm hồn tăm tối, mê muội. Tâm ý ta từ bấy lâu phóng ngoại trùng trùng gây ra vô số bất an, khổ lụy, bây giờ cần quay đầu hướng về sự thanh tịnh xả ly, giải thoát, tức là giác ngộ. Sự chuyển hướng quay về nội tâm đòi hỏi một năng lực quán chiếu, tức là trụ tâm suy xét về thân về tâm để nhận diện nó một cách thấu suốt. Thân này vốn không bền chắc, luôn biến suy trong từng giờ từng phút, luôn bị cuốn hút vào mọi ham thích trần tục, từ đó mà nảy sinh khổ lụy trăm bề… Từ quán chiếu mà tâm được tỏa sáng ánh sáng chánh pháp, thấu hiểu được mọi pháp thế gian đều tồn tại trong sự giả hợp của các nhân duyên. Hiểu biết được như vậy chính là bước đầu khởi sinh được trí tuệ Phật pháp. Trí tuệ này là một sự tỉnh thức cực kỳ bén nhạy, có khả năng cắt đứt mọi tham đắm và ghét bỏ, mọi cố chấp, mọi khái niệm, mọi sự bám chấp. Trí tuệ Phật pháp làm cho ý thức đoạn ái, xả ly được khởi sinh, trở thành nền tảng của con đường tu tập kiên trì. Khởi

253


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

sinh được ý thức đoạn ái, xả ly là đã có sự phát triển trí tuệ. Từ đó sẽ bắt đầu có được khả năng chuyển hóa rác rưởi phiền não thành phân bón định tuệ nuôi dưỡng cây Bồ-đề trổ hoa ngay trong hiện tại. Hoa an lạc giải thoát trổ lên chính từ phân bón phiền não. Sự tu tập chân chính là một cuộc chuyển hóa vĩ đại nhờ quán chiếu, làm đổi thay hoàn toàn cảm quan và nhận thức theo hướng đúng thật. Tu tập không phải là một sự đối kháng với phiền não, vọng niệm, cho dù ta vẫn thường nghe những cách nói mạnh mẽ như “đập nát vọng niệm”. Đó chỉ là một cách nói để biểu thị ý chí cương quyết đến tận cùng, một quyết tâm dữ dội trong định hướng tu tập đạt đạo ngay trong đời này. Thật sự, tu tập là một sự chuyển hướng, không có gì để triệt tiêu, hủy hoại hay đối kháng. Ta tạo dựng được một thói quen tốt, một tánh tốt là cả một công lao lâu bền, quan trọng là phải có quyết tâm định ý, ngoài ra còn nhờ trợ lực của bạn cùng chí hướng, hoàn cảnh sống, cung cách sống mới mong đạt được kết quả như ý. Có hiểu biết thấu đáo vấn đề rồi thì sự tu tập mới có kết quả, có giá trị vững chắc; trái lại, nếu ta làm vì sự xúc động, cảm kích nhất thời thì không thể đạt kết quả tốt, chẳng khác nào như lấy đá đè cỏ. Thân cỏ tuy có bị đè xuống không thể mọc thẳng nhưng phần rễ bên dưới vẫn còn sức sống nên sẽ mọc

254


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

sang hướng khác bên cạnh hòn đá, và chẳng bao lâu sẽ phủ ngập hòn đá. Hòn đá trở thành một sức cản không có tác dụng. Tâm lý ta cũng giống như cỏ, bắt rễ từ sâu trong những bản năng tự nhiên của con người, rất khó nhổ dứt được. Phải có sự quán chiếu sâu sắc kiên trì mới đào bới được những dây mơ rễ má của nó. Muốn tiêu diệt một thói hư tật xấu cần phải quán chiếu tận gốc rễ, giống như việc đào hết rễ cỏ. Phật pháp là bất định pháp, hay Phật pháp là chúng sanh pháp, hay chúng sanh là Phật, tất cả những mệnh đề đó đều nhằm nói lên tính chất hiện thực của tâm thức con người. Phật pháp có giá trị chính là vì con người, nó là phương pháp chỉ cho người ta lấy lại gia sản tâm linh, khai phá mỏ vàng đang nằm trong lãnh thổ đất đai sở hữu của mình. Phật pháp là bất định pháp, là nói tính chất tùy duyên bất biến của đạo Phật, tính chất uyển chuyển linh hoạt trong việc sử dụng chánh pháp cho thích hợp với mọi căn cơ, trình độ mỗi con người cụ thể trong trần gian. Phật pháp là khế lý, là phù hợp với chân lý, nhưng chân lý đó muốn đạt giá trị, hiệu quả cao trong nhận thức, hành động, thì bắt buộc nó phải được sử dụng ở mức độ sao cho hợp với khả năng gánh vác hành trì của mỗi chúng sanh, như vậy thì nó phải khế cơ.

255


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Cái hay khéo tuyệt cùng của người giảng pháp chính là ở chỗ biết ứng dụng sao cho thỏa đáng, thích hợp với mọi trình độ, mọi số phận, mọi tâm tính, không bỏ sót bất cứ ai. Nhân quả là nhân quả ở ngay tự tâm sáng tỏ, là định luật tự nhiên như thế, không phải do ai sáng chế ra Nói phiền não tức Bồ-đề để nhắc nhở chúng ta phải quay về tự tâm chuyển hóa tu tập, chứ không phải nói để đưa đến hiểu lầm, ngộ nhận ngây thơ rằng: Phiền não là Bồ-đề, ta khỏi chuyển hóa, cứ để vậy khỏi tu cho mệt. Phiền não là Bồ-đề chính là một sự xác quyết rằng chỉ có chính ta mới làm cho tâm hồn mình từ phàm lên thánh, không ai khác có thể làm thay cho mình được cả.

256


Ý NGHĨA CỦA CHỮ ĐỘ

T

nghĩa:

rong kinh văn Hán tạng, chữ “độ” rất thường được dùng. Từ ngữ này có nhiều

- Độ (度) là đo lường: Dùng theo nghĩa sâu, như nói ông B là người độ lượng, nghĩa là có lòng rộng rãi, biết tha thứ, giúp đỡ kẻ lầm đường lạc lối. - Độ (渡) là qua sông: “độ đầu” (渡頭) là bến đò “độ khách” là người qua sông. Chữ này trong kinh cũng dùng với nghĩa đưa qua đò, qua sông, nhưng là cụ thể hóa một sự việc có tính chất trừu tượng, đó là ví sự đau khổ triền miên trong sanh tử luân hồi của chúng sanh như một dòng sông cuốn xốy, gọi là sông sanh tử. Học chánh pháp thấu ngộ lẽ sống chết, từ đó quyết chí cắt bỏ mọi nguyên nhân tái sanh, gọi là dùng thuyền Bát-nhã vượt qua sông sanh tử luân hồi. - Độ là cứu giúp: Như “độ sanh” là giúp đỡ đời sống, giúp đỡ chúng sanh thức tỉnh tâm hồn

257


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

bằng biện pháp hành trì chánh pháp. Hóa độ là giúp người khác chuyển hóa tâm linh và thoát khỏi sự mê hoặc của tà kiến, của ngũ dục. - Độ là ăn, là sống: độ khẩu (度口) là nuôi miệng, nuôi thân, ý nói làm nghề vặt vãnh, bôn ba chỉ vừa đủ sống qua ngày, cũng dùng “độ nhật” (度 日) với ý tương tự. Trong kinh điển, chữ “độ” được dùng theo nghĩa tinh thần nhiều hơn. Độ sanh, độ thế là cứu giúp, đưa qua, là đưa tâm linh ra khỏi vòng u tối, mê muội. Từ lâu ta đã quen với tâm lý hướng ngoại tìm cầu, luôn mong đợi người khác sẽ giúp đỡ hoặc mang đến cho ta những gì ta cần. Khi bước sang lĩnh vực tâm linh, ta vẫn quen theo nề nếp suy tư cũ, vẫn tưởng rằng có thể nhờ vào người khác để đạt được thành tựu. Với cách suy nghĩ đó, ta luôn hình dung những khái niệm như Phật hóa độ hay Bồ Tát hóa độ có nghĩa là các vị sẽ đưa tay cứu vớt, giúp đỡ hoặc ban cho ta sự thành tựu, giác ngộ, bởi chư Phật, Bồ Tát là những bậc thần thông tự tại mà lại sẵn lòng đại từ bi thương xót tất cả chúng sanh muôn loài. Nếu quả thật như vậy thì ta không cần thiết phải tu hành khó nhọc, hoặc chỉ cần tu tập qua loa để chờ các Ngài cứu độ.

258


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Khi hiểu chữ “độ” theo cách đó thì mặc nhiên ta đã hủy hoại giá trị chân chánh của đạo Phật, vì ta đã xem chư Phật, Bồ Tát là những vị thần ban phước giáng họa như bao vị thần khác trong những quan niệm mê muội, tà kiến của thế gian. Hơn thế nữa, tâm lý hướng ngoại tìm cầu tự nó đã làm mất đi ý chí tự lực, là phần tối quan trọng cho việc tu tập hành trì trong đạo Phật. Chúng ta nên biết, việc đem hương hoa cúng Phật chính là để biểu lộ lòng biết ơn vô hạn vì Đức Phật đã khai mở, chỉ bày con đường chân chánh cho ta tu tập, chứ không hề có ý nghĩa van nài, cầu xin. Ta phải tự mình chấm dứt thói quen ỷ lại vào người khác, hướng ngoại tìm cầu. Trong đạo Phật, sự và lý phải viên dung. Lấy sự làm phương tiện để chỉ bày cái lý, để chuyên chở cái lý sâu sắc. Ta không thể lơ đểnh để mình bị đóng đinh kiên cố vào sự mà quên đường về tự tâm. Ta phải hiểu rõ rằng sự cung kính lễ lạy chư Phật, Bồ Tát là một phương tiện để giúp ta quay trở về với chân tâm mình, thấy lại ông Phật sáng suốt của chính mình. Điểm khác biệt lớn nhất của đạo Phật là ở chỗ luôn xem giáo pháp chỉ là phương tiện, như chiếc bè để đưa tâm linh mọi người qua bên kia bờ tỉnh thức, thấu ngộ được chân tâm mình. Khi đến bờ rồi thì phải vất bỏ chiếc bè, vì nó không còn ích lợi gì cho ta nữa.

259


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Ngược lại, nếu người tu tập rơi vào chấp giữ phương tiện, chẳng khác nào qua sông rồi mà vẫn ôm giữ chiếc bè, thì việc qua sông đó hóa ra cũng thành vô nghĩa vì người đó sẽ chẳng làm được việc gì khác, chẳng thể đi đến nơi nào khác, chỉ khư khư ôm giữ lấy chiếc bè. Bịnh tham chấp dính mắc là căn bệnh trầm kha phổ biến của con người. Khi chỉ rõ sự khác biệt giữa phương tiện tu tập và mục đích cứu cánh, Đức Phật đã thấy rõ được chỗ mê chấp sâu nặng trong tâm thức mọi người thế gian. Ngài cũng chỉ rõ là đối với những ai không chịu tự quay về để chuyển hóa nội tâm mà chỉ biết hướng ngoại tìm cầu, bám chấp vào giáo pháp mà không có sự thấu hiểu để thực hành lời dạy ấy thì không thể nào có được kết quả an lạc, giải thoát như mong muốn. Ngày nay, người ta đã xây lên nhiều đền đài, tự viện nguy nga đồ sộ để tôn trí, thờ phụng kinh điển. Đó cũng là một thái độ biểu lộ lòng tôn kính đối với chân lý, cũng là một thiện hạnh đáng trân trọng. Nhưng điều quan trọng hơn là phải có quyết tâm đọc hiểu giáo pháp và tự thân hành trì để khai mở tuệ giác. Nếu chỉ tôn thờ giáo pháp mà không có sự đọc hiểu, nghiền ngẫm và thực hành tu tập chuyển hóa tâm hồn thì

260


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

chắc chắn không thể đạt được kết quả tốt đẹp nào cả trên con đường hướng đến giác ngộ. Chúng ta luôn phải xem lời dạy của Phật như những phương thuốc hay, phải uống thuốc mới có thể chữa lành bịnh. Nếu không có sự thực hành theo lời Phật dạy thì cũng chẳng khác nào người bệnh tuy đã nhận được thuốc hay nhưng chỉ nhìn ngắm chứ không uống vào, tất nhiên sẽ không thể khỏi bệnh. Đối với những người tu tập thuộc hàng thượng căn thì có thể đi thẳng vào chỗ cốt lõi của thực hành giáo pháp. Nhưng với hạng trung căn, hạ căn thì tâm trí, căn cơ thấp kém hơn nên cần phải dùng đến nhiều phương tiện sự tướng để tu tập dần dần theo khuynh hướng tiệm tiến. Những phương tiện sự tướng ấy cũng ví như sợi dây thừng để người ta bám vào mà leo lên đỉnh núi, khi thực sự lên đến đỉnh núi rồi thì nó không còn giá trị sử dụng nữa, cần phải buông bỏ. Mọi pháp khí sử dụng trong tu tập hành trì như chuông mõ, hương hoa, đèn nến, phan lọng, nghi thức tụng niệm... cũng đều phải được hiểu theo ý nghĩa phương tiện như vậy. Khung cảnh trang nghiêm nơi bảo điện với tòa sen có hình tượng đức Thế Tôn, đèn nến, hương hoa, sự lễ bái thành kính, hay những nghi lễ tán tụng, chuông mõ, nhạc khánh nhịp nhàng… tất cả đều là để dẫn dắt

261


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thân tâm ta đi vào thanh tịnh lắng sâu. Ta phải biết trân trọng và hiểu đúng ý nghĩa phương tiện đó thì mới không bị rơi vào chỗ bám chấp sự tướng mà xa lìa ý nghĩa chân thật của giáo pháp. Tóm lại, chư Phật, Bồ Tát hóa độ chúng sanh trong ý nghĩa là chỉ bày cho chúng ta cách thức tu hành để giác ngộ thành Phật. Ta phải tự mình phải tu tập hành trì mới có được chỗ sở đắc là an lạc, giải thoát. Chúng ta không thể mong đợi vào sự giúp đỡ, cứu vớt của bất cứ ai, vì không ai có thể thay ta tu tập, kể cả chư Phật và Bồ Tát. Giáo pháp của đức Phật có công năng chuyển mê khải ngộ. Chuyển mê là quay ngược cái cảm xúc, suy tư, hành động mê lầm của ta từ bấy lâu nay. Khải ngộ là mình tự chuyển hóa tâm hồn mà nhận ra được ánh sáng trí tuệ vốn sẵn có ngay trong tâm hồn ta. Giáo pháp của Phật luôn dùng sự để dẫn nhập vào lý, dùng hình tướng để dẫn dắt người tu tập đến chỗ giải thoát vô tướng. Trong Pháp Hoa văn cú ký dẫn kinh Hoa Nghiêm có câu: “Trương đại giáo võng, cắng pháp giới hải, lộc thiên nhân ngư, trí Niết bàn ngạn” (張佛教網 亘法界海。漉天人魚。置涅槃岸), nghĩa là: Giăng lưới giáo pháp rộng lớn, trùm khắp pháp giới, gạn bắt cá nhân thiên, đem đặt lên bờ Niết-bàn. Đó là dùng hình

262


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

ảnh cụ thể để diễn tả khái niệm trừu tượng. Câu trên ví Phật pháp như tấm lưới lớn, vớt con người ra khỏi biển u tối, đưa đến chỗ an vui của bến bờ Niết-bàn. Ví dụ này cũng giống như ta thường nghe nói giới luật, giáo pháp là chiếc bè, cái phao để tâm trí ta nương vào đó mà chèo qua sông sanh tử. Ý nghĩa chữ độ là một sự chuyển hóa tâm linh mạnh mẽ theo lời dạy của Đức Phật. Khởi đầu là qui y, hướng về Tam bảo, nhưng kế tiếp phải hiểu sự quy y đó chính là tự quy y, nghĩa là nương về tự tánh của chính mình. Như vậy, sự cầu nguyện trong đạo Phật có ý nghĩa thế nào? Đó là những phút giây lắng sâu tâm ý vào một lời kinh, một hình tượng tôn kính của chư Phật, Bồ Tát. Từ sự lắng sâu an tĩnh ta dần dần đạt được sự an lạc, thanh tịnh tâm ý. Như vậy là ta tự cầu tự độ bằng tâm lực nhập định kiên cố của chính mình. Chẳng hạn, khi ta cầu nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm chính là ta thể nhập hoàn toàn cả ba nghiệp thân khẩu ý vào hình tượng Bồ Tát, vào sức mạnh tâm linh mà ta mong mỏi được an lành thì có cảm ứng mầu nhiệm. Đó là kết quả trực tiếp của tâm thanh tịnh, lắng sạch mọi duyên trần ô nhiễm loạn động trong tâm. Sự lắng sâu tâm ý, đạt đến tĩnh lặng hoàn toàn là một nguồn năng lực vĩ đại làm phát sanh điều ta tha

263


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

thiết ước muốn. Như vậy, cầu nguyện chính là cuộc trở về mãnh liệt với tự tâm mình bằng biện pháp nhiếp tâm bất động, kiên cố, vô niệm. Có người đạt được giây phút xuất thần như kết quả của chú tâm mãnh liệt. Người Phật tử chân chính luôn phải hiểu rằng sự hóa độ của đức Phật chính là ở chỗ Ngài để lại nhân cách thanh tịnh giải thoát và nguồn giáo pháp sáng tỏ để ta hành trì ở tự tâm mà thấu hiểu căn nguyên của mọi đau khổ, từ đó phát tâm dũng mãnh bước lên đường tu tập hướng đến sự tịch tịnh, an vui và giải thoát.

264


Ở ĐÂU CŨNG ĐƯỢC AN LẠC

K

inh Vô thường có câu: “Bồ-đề diệu hoa biến trang nghiêm, tùy sở trụ xứ thường an lạc” (菩提妙華遍莊嚴, 隨所住處常安樂), nghĩa là: [Khi người tu tập đạt đến mức] hoa Bồ-đề nhiệm mầu [nở ra] trang nghiêm khắp chốn, [thì có thể] thích nghi theo nơi chốn mình ở thường giữ được sự an lạc. Trong Phật giáo, an lạc được hiểu như là một trạng thái đạt đến giải thoát, thanh tịnh, vì đã dứt trừ phiền não. Đức Phật và Thánh chúng luôn đạt được an lạc trong mọi hoàn cảnh. Nguồn an lạc cao cả đó chính là một Hữu dư Niết bàn, một tâm thái đã ra khỏi mọi cuốn hút của năm trần dục, tâm hồn luôn luôn trong suốt vì đã đạt tới chỗ thân giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tri kiến giải thoát, thân chứng giải thoát. Giải thoát trở thành trạng thái duy nhất và bao trùm tâm thức. Trước hết, môi trường cư trú và sanh hoạt là điều kiện rất quan trọng để bắt đầu dẫn dắt thân tâm đi vào giải thoát an lạc. Vào thời đức Phật tại thế, những nơi đó được gọi là vihara, hay tinh xá, ngày nay ta gọi là chùa, già-lam, chiêu-đề, đạo tràng, lan-nhã, tòng

265


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

lâm... đều là để chỉ nơi cư trú chính của hàng Phật tử xuất gia. Từ đó còn gọi là tịnh viên, tịnh địa, tịnh quốc... Già lam là nơi thanh tịnh vì ở đó không chất chứa tiền bạc, không nuôi gia súc, không có kẻ ăn người ở làm công... và nhất là mọi sanh hoạt ở đó đều tuân theo các nguyên tắc gọi là thanh quy, có công năng hạn chế tối đa mọi điều kiện phát triển các hành vi cũng như lời nói, ý niệm xấu ác. Người cư sĩ ở chùa tập sự xuất gia gọi là tịnh nhân. Ngôi chùa cũng được gọi là tịnh viên, vườn thanh tịnh, vì đó là nơi ươm mầm thánh trí, những người đang sống và tu học nơi đó là những hạt giống lành được gieo xuống đất chánh trí, được nhiều thuận duyên để hạt mầm mọc lên tốt tươi. “Phật pháp vô lượng nghĩa, dĩ tịnh vi bản”, nghĩa là Phật pháp có vô số ý nghĩa nhưng luôn lấy sự thanh tịnh làm gốc. Tịnh là sạch, sạch hết mọi tham đắm, mọi phiền não, mọi ô nhiễm từ thân đến tâm, vì thế mà có an lạc. Thân không bị bịnh tật giày vò thì có thân an lạc; Tâm không bị mọi phiền não sầu muộn mọi lo lắng quấy động thì có tâm an lạc. Phật dạy: “Thân làm việc an lạc, miệng nói lời an lạc, ý nghĩ điều an lạc, thực hành nguyện an lạc thì được an lạc.” Như vậy, cụ thể là làm tròn mười thiện nghiệp và lập nguyện an lạc thì sẽ được an lạc. Bất cứ

266


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

ai tu tập Phật đạo cũng phải tự mình kiên thệ phát nguyện. Lời phát nguyện tuy âm thầm chỉ riêng mình biết nhưng là áo giáp để chống chọi mọi chướng duyên nghịch cảnh. Đó là sự quyết tâm hành đạo, là chí hướng xuất trần mãnh liệt của người tu. Phải tự hứa với lòng là cương quyết thực hiện cho được một kết quả ngời sáng của sự tu tập. Điều đó sẽ như ngọn hải đăng giúp tâm hồn ta trong bể khổ luôn hướng về bờ giác ngộ, như lời khích lệ thiêng liêng có sức vực dậy tâm hồn mỗi khi ta chao đảo, suy sụp. Người tu hành hầu hết đều lấy tổng nguyện như Tứ hoằng thệ nguyện làm định hướng tu tập độ sanh nhưng cũng cần phải có biệt nguyện, là sự phát nguyện riêng của mỗi người, dựa vào tâm niệm tu tập cũng như hoàn cảnh, sở nguyện... Các vị Bồ Tát cũng đều có biệt nguyện, chẳng hạn như sự phát nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm không giống như phát nguyện của Bồ Tát Địa Tạng, và hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền cũng khác biệt... Ngày xưa, chùa chiền đều ở xa thành phố, chợ búa, chính vì muốn tạo môi trường thuận lợi để tránh bớt những phiền toái của đời sống thế tục. Đời sống ngày xưa cũng không bị vướng kẹt vào những kích thích tiêu thụ, do đó người ta có nhiều thì giờ hơn cho định hướng tu tập nên nguồn an lạc luôn hiện diện khắp nơi.

267


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

“Mao tháp đăng hôn, Tăng nhập định Tùng chi nguyệt lãnh, hạc sơ hoàn.” (Giường lau tối đến, Tăng nhập định Bóng tùng trăng giải, hạc mới về.) Quả là một đời sống đượm nhuần an lạc, tiêu sái, thanh tịnh, lắng sâu trong chánh trí Phật pháp. Đó là những bậc chân tu mà chí nguyện giải thoát là lẽ sống suốt đời. Tâm an trụ hoàn toàn trong giờ phút hiện tại, mọi lo nghĩ đều dứt sạch. Nguồn an lạc đó cao quí biết bao. “Tùy sở trụ xứ thường an lạc” là lời khuyến tấn chúng ta nỗ lực phấn đấu tu tập để đạt được an lạc. An lạc trở thành nền tảng tinh thần để từ đó ta quán chiếu tu tập tiến lên. An tâm là nền tảng của an lạc. Tâm có an ổn thì mới đạt được trạng thái an lạc. Thân và tâm bất an bất ổn, cứ lao chao, quay mòng trong lo nghĩ, sầu hận, bức rức, bực bội thì không thể có an lạc. Ta làm ăn sanh sống nhưng bao giờ cũng giữ trong thức mình một ý tưởng chói sáng của an lạc thì mọi hành vi của ta trở nên nhẹ nhàng, thanh thản. Như vậy là ta làm chủ được tâm ý mình, không dễ dàng bị lung lạc, lôi cuốn bởi mọi thuận nghịch cảnh như trước kia. Ta luôn biết mình có nguồn an lạc quí giá hơn mọi

268


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

thứ trên cõi đời. Ta nâng niu, trân trọng, giữ gìn nó mãi. Nguồn an lạc càng bền bỉ thì tâm ta càng trở nên rỗng lặng không vướng mắc, ta dễ dàng vượt qua mọi sự trói buộc, tù hãm tầm thường của thế tục. Ta làm mọi việc với tinh thần trách nhiệm nhưng không bị những sự được mất của thế gian làm tổn hại nguồn an lạc. Ban đầu, mới tập sự trong chiều hướng gom nhiếp thân tâm, ta làm việc gì thì phải để hết tâm trí vào đó, không làm trong sự phân tán tâm ý. Tâm ý phân tán thì dễ bị rối rắm, bất an trong lòng. Vì thế, hãy để hết tâm ý vào công việc đang làm, bất kể đó là việc gì, dù là quan trọng hay nhỏ nhặt. Khi ta đặt hết tâm ý vào công việc, đến mức hòa nhập vào đó như một khối nhất thể, tâm ý ta không còn có sự phân biệt đối kháng thì ta tự nhiên có sự sáng suốt và thoải mái tinh thần. Như vậy là bước đầu ta có an lạc. Làm mà an lạc trong công việc đang làm là một hạnh phúc lớn. Làm mà biết mình đang làm là giữ được sự tỉnh giác sáng tỏ. Đó cũng chính là nhiếp tâm, hay tập trung tâm ý. Muốn có nguồn an lạc lâu bền, ta phải biết ứng dụng sự nhiếp tâm vào mọi nơi, mọi lúc, mọi công việc, như vậy thì dù ta làm bất cứ công việc gì cũng luôn giữ được sự sáng suốt và nhẹ nhàng thanh thản trong lòng.

269


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Nhưng vì ta có định hướng tu tập giải thoát nên không thể dừng lại ở sự an lạc tạm thời đạt được nhờ vào nhiếp tâm, mà còn phải kiên trì tu tập quán chiếu để giữ bền nguồn an lạc, để tuệ giác thêm sâu sắc, nhận thức về giải thoát càng thêm vững vàng. Tâm tỉnh giác làm phát sinh trí tuệ sáng suốt, có công năng phá trừ mọi sự cố chấp, mọi kiêu mạn, tà kiến, vốn là những nguyên nhân làm cho tâm thức phải chìm đắm trong khổ lụy. Vì thế, sự an lạc bắt nguồn từ chánh trí Phật pháp mới là sự an lạc cao cả nhất đối với người tu tập. Đức Phật đã đạt tới chỗ tận cùng của an lạc nên mọi hành tác của ngài đều gieo niềm an lạc cho mọi người. Tùy nơi tùy lúc mà chúng ta đem an lạc đến cho người khác. Nói chung, khi ta có an lạc thì mới có thể đem an lạc đến cho mọi người. Đó là một nguyên tắc. Đối với đạo Phật, vấn đề thân giáo là rất quan trọng. Ta không thể dạy dỗ giáo hóa bất cứ ai nếu như tự thân ta chưa làm được những điều mình muốn dạy cho người. Muốn dạy người cách sống an lạc thì tự thân ta phải có được sự an lạc. Khi đã được như thế thì dù ta không lên tiếng thuyết giảng, tự nhiên những người quanh ta cũng sẽ noi theo nếp sống của ta mà dần dần tìm được sự an lạc cho chính họ.

270


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Nền tảng của đạo Phật là lòng từ bi, là tâm hỷ xả; lợi ích của đạo Phật là bao hàm cả tự lợi, lợi tha. Muốn đạt được những điều ấy, ta phải tự mình tu tập để có được an lạc cho chính mình, từ đó mới có thể đóng góp vào công việc hoằng hóa độ sinh những giá trị lâu bền chắc thật. Đức Phật có dạy Bốn pháp thâu nhiếp (Tứ nhiếp pháp) để vận dụng vào sự nhiếp hóa chúng sanh, nhưng những pháp này chỉ có thể có hiệu quả khi được thực hành trên nền tảng của sự an lạc. Không có sự an lạc thì bản thân ta vẫn còn chìm đắm trong ưu phiền thế tục, làm sao có thể nhiếp hóa người khác? Vì thế, an lạc chính là giá trị chân thật căn bản nhất của người tu tập. Không có được sự an lạc, giải thoát ngay trong lúc này thì mọi sự tu tập đều xem như đã không mang lại kết quả, Tâm người tu thiền là tâm sạch, nhất là sạch mọi ăn năn hối tiếc. Ăn năn hối tiếc là một tâm lý quấy động mạnh mẽ khi ta ngồi thiền. Nếu hằng ngày ta luôn làm việc với sự nhiếp tâm, mọi hành vi đều có sự tỉnh giác chánh niệm thì sẽ tránh được tâm lý ăn năn hối tiếc. Hối tiếc, ăn năn chính là vì ta buông thả tâm ý không kiểm soát, chợt nhớ ra mới thấy đầy cấu nhiễm, sanh tâm ăn năn. Trong bài văn Quy Sơn cảnh sách có lời rằng: “Thật đáng tiếc thay, bỏ phí một đời trôi qua vô

271


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

ích, sau dù hối tiếc cũng không còn kịp nữa.” Có ăn năn ngập trời cũng không thể kéo lại thì giờ đã trôi qua. Trong đạo Phật, sám hối là một điều kiện cần thiết để thiết lập lại nguồn an lạc. Nhưng phải biết chấm dứt lỗi lầm kiên quyết không tái phạm chứ không thể cứ phóng mình vào sai lầm rồi sám hối. Sự lặp lại sai lầm không phải là biểu hiện của một tâm hồn lành mạnh. Sám hối tội quá khứ là chí thành nhiếp tâm, nhờ đó giải tỏa được những ấn tượng xấu do sự lầm lỗi đã gây ra và đem lại cho người sám hối nguồn an lạc vì biết hướng đến một sự nỗ lực hoàn thiện tự thân, từ bỏ sai lầm. Từ phương tiện sám hối, người tu đi sâu vào nhiếp tâm hướng thiện. Có nhiều người ham nói chuyện thị phi của kẻ khác. Đó là một sanh hoạt của tâm lý phiền não. Người nào chuyên ba hoa lắm chuyện thì không giữ được nguồn an lạc trong tâm hồn. Kinh dạy rằng: “Nhật dạ thường tư kỷ quá, nhàn đàm mạc luận tha phi”, nghĩa là đêm ngày thường quán xét lầm lỗi của chính mình, khi nói chuyện đừng nói đến lỗi của người khác. Đó chính là nguyên tắc đầu tiên của người tu tập. Nếu không tự xét lỗi mình lại phóng tâm phán xét lỗi người khác thì dựa vào đâu có thể nhiếp tâm an lạc? Nói chung, thiết lập được một nguồn an lạc thật sự là công phu tu luyện

272


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

lâu dài chuyển hóa mọi tánh khí của mình hướng theo chánh pháp. An lạc là một tài sản quí nhất trong đời sống xã hội. Người có chí hướng tu học đạo giải thoát của Phật thì lại càng thấy chân giá trị của an lạc nhiều hơn nữa để gắng sức đạt được. Tu tập là tạo nguồn an lạc giải thoát ngay trong hiện tại, nên giá trị của sự an lạc lại càng phải được biết đến một cách sáng tỏ. Trước nhất, phải nhận diện dòng tâm thức mình, không để bị trói buộc bởi những tâm niệm sân si, thù hận, ganh ghét, tỵ hiềm, bực dọc, cau có hay âu sầu buồn thảm... Bắt đầu tạo nguồn an lạc, ta phải thấy biết giá trị chân thật của an lạc chi phối toàn bộ đời sống thân và tâm. Đối với Phật, Tổ thì nhờ định lực hùng mạnh mà vui trong thiền duyệt, do đó mà tâm an lạc chi phối hoạt động cơ thể, ngay cả sự đói khát cũng có thể bị đẩy lui. Đối với những người thường thì không được như vậy, mà phải biết nương vào thân xác làm nền tảng ban đầu để chuyển hóa nội tâm. Mỗi ngày, khi thức dậy hãy tập mỉm cười an vui với một ý tưởng tốt lành nào đó. Từ sự sinh khởi niềm vui khi bắt đầu ngày mới, chúng ta lại tiếp tục duy trì sự tỉnh giác trong mỗi hành vi, lời nói để có thể sống trọn một ngày trong an lạc. Đó chính là sự tu tập chân chánh.

273


ĐỨC PHẬT RẤT XA NHƯNG CŨNG RẤT GẦN

T

rong tâm thức đệ tử đương thời và hậu thế, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là vị Phật tiêu biểu rực rỡ nhất cho trí đức và phước đức tròn đầy, không có ai vượt qua được. Trong số các bậc vĩ nhân thì Đức Phật là một nhân cách siêu tuyệt vẫn chiếu sáng mãi trong nền văn hóa chung của toàn nhân loại. Ngài là kết tinh đầy đủ nhất của bao nhiêu công hạnh tự giác, giác tha trong vô lượng kiếp sống. Ngài đã thực hành chí nguyện lợi tha trong suốt những kiếp sống hành Bồ Tát đạo, lấy việc làm lợi ích thiết thực cho mọi chúng sanh làm mục đích sống của đời mình. Có nhiều lúc ngài hy sanh cả thân mạng để cứu khổ cho chúng sanh mà không chút tiếc nuối. Công hạnh vĩ đại đó được tiếp tục trong đời hiện tại, sau khi Ngài xuất gia tu hành chứng quả giải thoát. Sau khi giác ngộ, Ngài tiếp tục giữ mãi nguồn chánh định, an trụ trong đại định, thực hiện mọi công việc hoằng hóa độ sinh trong tinh thần vô nhiễm.

274


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Dưới mắt người thế gian, Đức Phật đã thể hiện một đời sống thanh bần, tri túc trọn lành và một trí tuệ chói sáng trong suốt gần 50 năm giáo hóa. Ngài đi đến mọi nơi với đôi chân trần, đầu không đội nón suốt bốn mùa mưa nắng, cho mãi đến tuổi già vẫn hiển hiện rắn rỏi một sức sống cương nghị trong tấm thân tứ đại giả tạm đã suy yếu. Một bình bát để khất thực nuôi thân và ba tấm y đủ che thân trong mùa lạnh, còn mùa nắng thì chỉ một tấm y mỏng là đủ. Ngài không có một tài sản vật chất nào khác, không có bất cứ một vật tư hữu gì liên hệ xa gần với sự giàu có của thế gian. Có thể nói Ngài là người không cửa không nhà trong ý nghĩa chính xác nhất của từ ngữ này. Kỳ Viên tinh xá, Trúc Lâm tinh xá, Lộc mẫu giảng đường hay Ghositarama đều là những đạo tràng, những trạm tiếp cư tinh thần đầy trí tuệ, là nơi giảng đạo làm sung mãn tinh thần cho tất cả mọi người. Ở các đạo tràng đó, Ngài chỉ có một hương thất để nghỉ qua đêm, tiếp khách. Ngoài các hương thất đó, Ngài còn tá túc qua đêm đôi ngày ở các hang đá, khu rừng, vườn cây, những nơi tịch tịnh cô liêu vắng vẻ. Đến một xứ lạ, Ngài cắm trại bên bờ sông, bờ hồ, một gốc cổ thụ, khu rừng vắng. Có nhiều lần ngài ngủ trọ ở nhà các nông phu nghèo khó.

275


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Ngài đạt được nguồn hiểu biết về chỗ tột cùng của vũ trụ, nhân sanh. Ngài là người đầu tiên thấy rõ mọi hiện tượng trong trời đất đều không ngừng tác động qua lại với nhau trong một màn lưới duyên sinh dày đặc trùng trùng. Mọi sự vật đều nương tựa với nhau mà tồn tại, không thể có bất cứ một hiện tượng nào có năng lực tự tồn tại được cả. Tất cả mọi sự vật là những nét phấn mong manh trên tấm bảng đen duyên khởi vĩ đại, chi phối cả càn khôn vũ trụ. Nguyên lý vận hành của vũ trụ là như thế, tương tác tương hiện, tương sanh, tương diệt, không do bất cứ ai tạo ra cả. Không một vật nào có cá tính cố định mà tất cả đều là vô tự tánh. Ngài cũng nhận biết được thân phận con người chìm trong luân hồi khổ não từ vô số kiếp bởi nguyên nhân chính là vô minh và ái dục. Cắt đứt vô minh và ái dục thì ngay lúc ấy ta thoát ra khỏi mọi cuốn hút nghiệt ngã đã siết chặt ta từ vô lượng kiếp. Đó là những sự chứng ngộ vĩ đại của đức Phật. Vì lòng thương chúng sanh vô hạn, suốt đời Ngài đã đi khắp nơi để giảng rõ cho mọi người đều thấy được sự đau đớn khổ não trong luân hồi để từ đó phát khởi chí nguyện xuất thế. Ngài thuyết pháp bằng đủ mọi phương tiện đều không ngoài mục đích chỉ rõ điều ấy.

276


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Nhân cách chói ngời hạnh nguyện lợi tha vô bờ của Đức Phật đã trở thành nguồn sống tâm linh cho mọi người có chí cầu đạo giải thoát. Dù xa khuất mịt mù hậu thế, lòng chúng ta vẫn cảm xúc rạt rào khi dõi theo từng bước chân ngày xưa của đức Phật từng đi khắp lưu vực sông Hằng để hoằng hóa độ sanh. Vì thế, đức Phật vừa là một bậc đạo sư cao cả vượt trên tất cả những bậc đạo sư mà nhân loại từng biết đến, nhưng cũng là một con người vô cùng thân thương gần gũi, luôn quan tâm đến mỗi chúng ta và đã đến thế gian này chỉ vì muốn giúp ta vượt thoát được mọi nỗi khổ đau trong cuộc sống.

277


ĐƯỜNG VỀ SUNAPARANTA

Đ

ương thời Phật tại thế, Sunaparanta là một vùng cư dân thuộc miền biển ở phía đông bắc Ấn Độ. Vì nằm xa, biệt lập với các trung tâm văn hóa như Ca-tỳ-la-vệ, thành Vương Xá (Maggadha) hay Xá-vệ (Kosala) nên Sunaparanta vẫn còn trong tình trạng chưa được khai hóa. Tại xứ sở này, mọi nhu cầu đời sống được đáp ứng theo khuynh hướng tự cung tự cấp. Tánh tình dân cư ở đây bộc trực, thô bạo, nóng nảy, nhưng nếu có điều gì họ thấy là hợp lý, thấu hiểu rõ ràng thì họ dám hy sanh cả thân mạng để bảo vệ. Người dân vùng này còn khá xa lạ với nhiều hàng hóa có tính chất biến chế văn minh ở các trung tâm văn hóa sản xuất. Về tôn giáo thì họ vẫn theo đạo truyền thống bấy lâu là đạo Bà-la-môn, chú trọng nhiều ở phần tế lễ. Họ sống chuyên nghề biển, canh tác ruộng vườn để kiếm thêm thu nhập, nhưng đất đai không được màu mỡ lắm. Từ lâu, ngài Phú-lâu-na có ý định sẽ đến Sunaparanta để giáo hóa. Tôn giả Phú-lâu-na là hàng đại đệ

278


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

tử của Phật, đã chứng quả A-la-hán. Trong số đệ tử Phật, hàng Trưởng lão nổi tiếng thì bên Trưởng lão Tăng có đến 264 vị, bên Trưởng lão ni có 73 vị. Tôn giả Phú-lâu-na được xem là người đứng hàng thứ ba, sau hai vị là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Tôn giả Phú-lâu-na là người nổi tiếng về tài thuyết pháp, có tài hùng biện, thông minh, linh hoạt, tháo vác, năng động, phản ứng nhạy bén trước mọi hoàn cảnh. Tên ngài là Punna Mantaniputta, quê quán ở làng Donavatthu, gần thành Kapilavatthu (Cà-tỳ-la-vệ), từ nhỏ sống trong gia đình theo đạo Bà-la-môn. Ngài là cháu gọi Trưởng lão Kondanna (Kiều-trần-như) bằng cậu. Ngài đã theo cậu xuất gia rất sớm, ngay trong lần đức Phật về thăm lại cố hương vào năm thứ hai sau khi chứng quả Vô thượng Bồ-đề. Ngài là người nổi tiếng tiêu biểu cho mười vấn đề cốt yếu của tu tập căn bản là: biết đủ, giản dị, viễn ly, độc cư, tinh tấn, giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Lúc đức Phật từ Vương Xá đến Xá-vệ thì ngài cũng dẫn một số đông đồ chúng đến Xá-vệ. Các đồ chúng của ngài có nhiều vị đã chứng quả A-la-hán. Sau khi

279


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

tiếp nhận tinh xá Kỳ Hoàn, đức Phật rất vui với sự hiện diện của số đông quí thầy là đồ tử của Tôn giả Phú-lâu-na vì các vị này đều là người cùng quê với đức Phật. Nhân dịp này, Đức Phật hỏi: “Ai là người cùng quê với ta có thể giảng rõ về một đời sống giản dị của bậc sa-môn?” Tất cả đồ chúng của ngài Phú-lâuna đồng cung kính thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, có thầy chúng con là Tôn giả Phú-lâu-na.” Đức Phật mỉm cười. Thời gian sau, qua nhiều đề tài giảng nói trước đại chúng, ngài Phú-lâu-na đã tỏ rõ khả năng hoạt bát đặc biệt của mình. Ngài được đức Thế Tôn nhiều lần khen ngợi. Cũng có nhiều vị A-la-hán khác trình bày giáo lý, nhưng chưa ai có đủ sức năng động, sâu sắc trong việc giảng nói và giải đáp trọn vẹn những thắc mắc do thính giả nêu lên. Một hôm, sau thời pháp, Đức Phật long trọng tuyên bố giữa đại chúng rằng: “Tôn giả Phúlâu-na là bậc thuyết pháp hay nhất trong hàng đệ tử của Như Lai.” Đại chúng đều hân hoan tán thán Tôn giả Phú-lâu-na sau lời khen ngợi đó của đức Thế Tôn. Về tài năng và đạo hạnh của Tôn giả Phú-lâu-na, ngoài sự nhận xét của đại chúng, còn có sự nhận xét riêng của ngài Xá-lợi-phất. Khi ở tinh xá Kỳ Viên, thầy Phú-lâu-na thường vào rừng Andha thiền quán. Lần nọ, thầy Xá-lợi-phất cùng đến rừng Andha với thầy

280


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Phú Lâu Na, hai vị cùng luận đàm giáo pháp. Những kiến giải sâu xa của thầy Xá-lợi-phất đã khai thông trọn vẹn tâm trí thầy Phú-lâu-na, khiến thầy từ đó càng trở nên lỗi lạc hơn. Sau khi Đức Phật tuyên bố thầy Phú-lâu-na là bậc thuyết pháp hay nhất trong hàng đệ tử của Như Lai, thầy Phú-lâu-na được mời lên nói vài lời trước đại chúng về kinh nghiệm tu học. Khi ấy, thầy Phú-lâu-na đã cung kính thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, con luôn luôn thiền quán tu tập không phút xao nhãng theo chánh pháp Thế Tôn đã dạy, và sự giảng nói của con cũng ứng dụng đúng mức những lời chỉ dạy của Thế Tôn đối với người thuyết pháp. Nhờ đó mà con đạt được ít nhiều tiến bộ. Đối với đại chúng, con có kinh nghiệm này: Con trừ bỏ được nhiều mê lầm chính nhờ ở sự tận tình giúp đỡ của các bạn đồng tu. Vì thế, con cho rằng điều quí nhất là phải biết thân cận các bậc thiện tri thức.” Từ hôm đó trở đi, thầy Phú-lâu-na có nhiệm vụ trông nom sách tấn các vị tỳ-kheo mới xuất gia trong tinh xá Kỳ Viên. Những tâm hồn mới này chưa quen với nếp sống xuất gia nên thỉnh thoảng trong hành vi, cử chỉ và lời nói vẫn còn biểu lộ nhiều thói quen cũ. Thầy Phú-lâu-na ân cần theo dõi và nhắc nhở họ luôn nỗ lực thúc liễm thân tâm để tiến lên theo đường đạo.

281


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Thầy có tài ăn nói vô cùng uyển chuyển, khôn khéo, nhất là nhờ ở trình độ hiểu biết tâm lý sâu sắc nên Thầy sửa lỗi mà người ta vui lòng chấp nhận dễ dàng. Thầy hướng dẫn bằng tình thương chứ không cậy quyền uy để bắt nạt ai. Thầy luôn chú trọng đến sự hiểu biết. Có hiểu biết thông suốt thì mới có thể ứng dụng dễ dàng những kiến thức chánh pháp vào đời sống. Từ ngày được Thế Tôn khen tặng là bậc thuyết pháp hay nhất, thầy Phú-lâu-na càng tự thấy mình có nhiều trách nhiệm hơn nữa đối với Tăng đoàn, đối với giáo pháp của Như Lai. Giáo pháp Như Lai là một đạo sống an vui tuyệt vời, phải được tuyên thuyết, giảng nói rộng rãi cho mọi người biết rõ và noi theo. Ngài Phú-lâu-na tự mình cảm nhận sâu sắc nguồn pháp nhũ vi diệu từ Đức Phật và luôn muốn chia sẻ điều đó với tất cả những ai có nhân duyên đến với Phật pháp. Ngài thường vận dụng nhiều nhất là các pháp dụ. Nhờ dùng hình ảnh cụ thể ngay trong đời sống để giảng nói rồi đưa chánh trí Phật pháp vào mà người nghe có thể nhận hiểu dễ dàng, nhanh chóng. Tuy nhiên, cần phải có sự hiểu biết vững chắc về giáo pháp mới có thể ứng dụng thành công các pháp dụ một cách không sai lệch. Trong khi hằng ngày theo sát đời sống của đại chúng để tìm hiểu và hướng dẫn từng người mới nhập

282


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

đạo và những người có tính cách cá biệt, thầy Phú-lâuna dần dần nắm rõ được quê quán của một số đông các vị tỳ-kheo cũng như nghề nghiệp trước kia của họ. Thầy chú ý nhiều nhất đến những vị quê quán ở vùng Vésali và Chamba, vì vùng này có nhiều người hiểu biết về xứ Sunaparanta, nơi mà thầy Phú-lâu-na có ý định sẽ đem giáo pháp đến khai hóa. Thầy nghĩ, vùng châu thổ sông Hằng thì sự giáo hóa có bề thuận lợi, hãy để cho các vị tỳ-kheo khác đảm nhiệm việc tuyên dương chánh pháp, còn thầy nên đến những nơi xa xôi, khó khăn hơn để giảng nói giáo pháp. Thầy đã được đức Thế Tôn khen ngợi là nói pháp hay, thế có nghĩa là những nơi nào mà việc thuyết pháp có khó khăn tất phải cần đến thầy. Vì thế thầy đã có dự tính đi giáo hóa ở Sunaparanta từ lâu. Thầy âm thầm chuẩn bị mọi hiểu biết cần thiết về Sunaparanta cho thấu đáo, định đến mùa mãn Hạ năm sau, khi Thế Tôn cho phép mỗi người tùy ý chọn nơi giáo hóa thì Thầy sẽ trình lên rằng nơi Thầy chọn là nước Sunaparanta xa xôi ấy. Dịp may lại đến cho thầy. Một hôm, thầy nghe biết có một tỳ-kheo tên Punna, giống với tên thầy. Thầy liền tìm đến dãy Tăng phòng phía trái của tinh xá Kỳ Viên, nơi thầy Punna đang ở. Khi gặp thầy Punna thì vị này liền kể cho Tôn giả Phú-lâu-na biết về quê quán của mình. Hóa ra thầy Punna ấy là người nước

283


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

Sunaparanta. Trước khi xuất gia, thầy Punna cùng người em đi buôn hàng hóa từ cảng Sunaparanta đến Xá-vệ. Một lần nọ, sau khi giao hàng xong, Thầy đang ngồi trong quán ăn thì thấy đức Phật đi khất thực trong thành Xá-vệ ngang qua đó. Dáng đi khoan thai kỳ lạ, oai nghi cao cả cũng như sự điềm tĩnh thanh cao đặc biệt của đức Phật khiến chàng thương gia Punna chú ý và đi theo. Rồi từ đó, chàng thường đến tinh xá nghe Phật thuyết pháp, thấy đời sống thanh cao giải thoát có giá trị thực sự lớn lao đối với kiếp người, tâm hồn chàng chấn động, cảm mến. Chàng thương gia Punna liền trở về giao hết vốn liếng tài sản cho người em rồi đến tinh xá Kỳ Hoàn xin quy y Phật và xuất gia làm sa-môn. Từ ấy, thầy Punna tu tập kiên cố và đã đắc quả A-la-hán. Thế là, từ hôm gặp thầy Punna, Tôn giả Phú-lâuna liền bày tỏ ý định đi giáo hóa ở Sunaparanta. Thầy Punna liền giúp Tôn giả học ngôn ngữ Sunaparanta thông thạo. Thầy Punna còn giúp Tôn giả Phú-lâu-na tìm hiểu rõ về tập quán, dân tình cũng như đời sống ở Sunaparanta. Như thế, Tôn giả Phú-lâu-na trong gần một năm đã nắm vững những điều cần biết về nơi mà mình sẽ mang giáo pháp đến khai hóa. Thời gian dần qua trong sự tỉnh giác tu tập. Ba tháng Hạ đã mãn. Bấy giờ, Thế Tôn cho phép quí thầy

284


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

lên đường hoằng pháp, mỗi vị tùy ý trình lên Thế Tôn nơi mình sẽ đến. Khi đến phiên Tôn giả Phú-lâu-na, Tôn giả trình lên Đức Phật địa điểm mình muốn đến là Sunaparanta. Đức Phật mỉm cười nói: “Quả là ông có tinh thần cao cả, thấy rõ sự cao thượng của chánh pháp. Bấy lâu ta nghe nói dân tình nước đó chưa được thuần hố, mà lại xa xôi, nay ông đem chánh pháp đến đó bằng nhiệt tình khai hóa là điều thật đáng khen. Nhưng vì đó là vùng dân cư lần đầu tiên được khai hóa nên sẽ không tránh khỏi nhiều trở ngại. Vậy ta muốn biết xem ông sẽ ứng xử như thế nào nếu có những trở ngại thật sự xảy ra. Chẳng hạn, nếu có người chửi mắng, nhục mạ ông khi ông đến đó thì sao? - Kính bạch Thế Tôn! Nếu quả có vậy thì con cũng thấy rằng họ vẫn còn tốt bụng, chưa đến mức hành hung con. - Nếu họ lại dùng gậy gộc, ném gạch đá xua đuổi ông thì ông nghĩ sao? - Kính bạch Thế Tôn, con nghĩ họ vẫn còn tốt bụng, vì chỉ cố xua đuổi con chứ chưa gây thương tích gì cho con.

285


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

- Nếu họ dùng dao búa, các thứ vũ khí để gây ra thương tích thì ông nghĩ sao? - Kính bạch Thế Tôn, con nghĩ họ vẫn còn độ lượng vì chưa nỡ giết chết con. - Nếu họ giết chết ông thì sao? - Kính bạch Thế Tôn, được chết vì chí nguyện hoằng truyền chánh pháp thì con sẵn sàng không chút ân hận. Con đã thấu biết mọi pháp thế gian đều không có giá trị chân thật nên không còn chút mê đắm. Chẳng qua là họ đã giúp con xả bỏ tấm thân tứ đại nhơ nhớp giả tạm này thôi, cho nên con chỉ thương xót cho họ chưa có đủ nhân duyên để được nhận lãnh chánh pháp chứ không có gì phải oán hận họ.” Nghe những lời chân thật phát ra từ trái tim phụng sự chánh pháp với tinh thần vị tha vô úy của Tôn giả Phú-lâu-na, Đức Phật khen rằng: “Phú-lâu-na! Ông quả thật đã thấu hiểu giáo pháp, lại biết phụng sự chánh pháp với niềm tin và tinh thần vị tha, vô úy. Ông xứng đáng là Pháp tử của Như Lai.” Tôn giả Phú-lâu-na liền đến trước Phật, đảnh lễ hôn chân Thế Tôn rồi lên đường với niềm tin sáng chói trong tâm hồn.

286


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Đến nơi, thầy ẩn dạng tỳ-kheo, sống như một Bàla-môn giáo hóa bình thường, nhưng đặc biệt là thầy còn làm một thầy thuốc đi chữa bệnh khắp nơi cho bá tánh, từ đó mới dần dần tạo được sự tin cậy và uy tín đối với cư dân trong vùng. Thầy lặn lội chăm sóc bệnh nhân một cách tận tụy, nhiệt tình với cả tấm lòng thương mến chân thật, bất kể đêm ngày. Chẳng bao lâu, thầy đã quen biết với rất nhiều người dân trong vùng và luôn được mọi người kính mến. Thầy ghé lại bên quán, thăm hỏi cụ già về đời sống, ghé lại bên bờ ruộng thân mật với bác nông phu, phụ tay đẩy hộ chiếc xe lên dốc... Dù bất cứ đâu, hễ gặp việc thì thầy luôn giúp đỡ mọi người với nhiệt tình chân thật. Đêm trăng, Thầy tụ tập thiếu nhi nơi Thầy cư ngụ, là một cái chòi nhỏ. Thầy bắt đầu kể chuyện thần thoại cổ tích, các em say sưa nghe với đôi mắt bừng sáng. Thầy có đủ năng động để ứng hiện nhiều nơi mà làm lợi ích thiết thực cho mọi người, nhất là ở những xóm nghèo tăm tối. Dần dần Thầy quen biết với hầu hết các người cầm quyền. Thầy thường nhân những dịp luận đàm với họ để vạch ra chương trình cải cách sanh hoạt sao cho ích lợi quần sanh. Thầy đưa ánh sáng văn hóa vào đời sống mọi mặt cho dân Sunaparanta. Lần hồi, Thầy

287


NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG

trở thành bộ bách khoa sống cho mọi người từ trẻ em, người lớn, đến cụ già. Ai có thắc mắc gì đều đến tìm Thầy giải đáp họ mới yên lòng. Trong lời giải đáp cho mọi vấn đề, Thầy thường ngụ ý khuyên bảo, sách tấn đạo đức tinh thần. Thầy tổ chức nhiều buổi họp mặt thân mật để giảng nói về lý nhân quả. Một cách âm thầm, thầy giảng dạy cho mọi người dân nơi đây biết phân biệt thiện ác để sống có tình có lý, có tương thân tương ái, khiến họ gạt bỏ dần đi mọi tỵ hiềm nhỏ nhen. Đến mùa mưa, theo thông lệ thì thầy phải trở về tinh xá Kỳ Viên để tu tập ba tháng, nhưng thầy Phúlâu-na đã quyết định an cư tại chỗ để không bỏ dở việc hoằng pháp độ sanh. Trong ba tháng hạ, Thầy không đi đâu xa, chỉ sống quanh quẩn trong khu xóm của Thầy. Lúc ấy, có những bệnh nhân xa xôi phải khiêng đến cho Thầy trị. Thầy giải thích cho họ biết về lối sống nhiếp tâm cấm túc trong ba tháng hạ của Thầy như vậy. Trải qua hơn ba năm thì công việc giáo hóa của Thầy đã đạt được nhiều thành tích khả quan. Biết bao tâm hồn tin tưởng mạnh mẽ theo ủng hộ Thầy. Thầy vận động xây cất tu viện và thế độ cho hơn mấy trăm thanh niên tình nguyện xuất gia sống đời đơn giản, tràn đầy chí độ sanh như Thầy.

288


GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN

Sau đó, Thầy đã hướng dẫn đông đảo các vị tăng và cư sĩ về tinh xá Kỳ Hoàn, nước Xá Vệ để đảnh lễ yết kiến Đức Thế Tôn. Công hạnh giáo hóa của thầy Phú Lâu Na thật vô cùng độc đáo và hiếm có. Thầy đã vận dụng thích hợp lời dạy của đức Phật trong từng hoàn cảnh cụ thể để mang đến lợi ích cho mọi người. Chủ đích của giáo lý là dạy cho người ta cắt bỏ mọi mê lầm mà đạt được sự thanh tịnh quí giá của tâm hồn. Cao hơn thì là giác ngộ giải thoát. Nhắm hai định hướng đó, thầy Phú-lâuna biết linh hoạt áp dụng mọi hiện tượng xung quanh đời sống mà đưa chánh trí Phật pháp vào, khiến người nghe cảm thấy vui thích, nhận hiểu được giáo pháp, thay đổi dần nếp sống mê lầm trước đây. Thầy đã giúp cho bộ mặt tinh thần của nước Sunaparanta có nhiều chuyển biến thật sâu xa. Tóm lại, công hạnh của thầy Phú-lâu-na thật là một bài học có giá trị đối với bất cứ ai muốn mang Phật pháp đến với cuộc sống con người. Thầy đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển tinh thần, tư tưởng và văn hóa của người dân Sunaranta chứ không chỉ đơn thuần là làm công việc truyền bá một tôn giáo, một tín ngưỡng. Chính đó mới là ý nghĩa đích thật của đạo Phật ở giữa cuộc đời này.

289


MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU................................................................. 5 PHẦN I: NGÀN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG CHÂN DIỆN MỤC ẤN ĐỘ VÀ SÔNG HẰNG................ 10 SÔNG HẰNG VÀ HIỆP SĨ SÔNG HẰNG....................... 23 NGHÌN NĂM BÓNG NƯỚC SÔNG HẰNG................... 33 SÔNG TÂM BỒ-ĐỀ ...................................................... 49 BI NGUYỆN BUỔI ĐẦU................................................ 59 CHĂM TÂM BỒ ĐỀ..................................................... 70 ĐỪNG ĐỂ TÂM BỒ-ĐỀ THỐI THẤT............................. 91 LÀM SAO ĐỂ PHÁT TÂM BỒ-ĐỀ?............................... 105 SÔNG HẰNG VÀ PHÁP NGỮ THIẾT YẾU.................. 116 PHẦN II: GIỮA HOA LÁ DƯƠNG TRẦN THẮP SÁNG TÂM HỒN.............................................. 126 TU TẬP LÀ CUỘC HÀNH QUÂN................................. 132 TỈNH GIÁC CHÁNH NIỆM . ...................................... 135 LÀM SAO ĐỂ TỈNH GIÁC CHÁNH NIỆM................... 137 GIẢI THOÁT AN LẠC NGAY TRONG HIỆN TẠI.......... 141 BẮT ĐẦU TỪ CHỖ BẮT ĐẦU...................................... 144 THÔNG ĐIỆP CHO MUÔN ĐỜI.................................. 152

290


MỤC LỤC

GIẢI THOÁT VÀ GIÁC NGỘ....................................... 162 TÂM HÀNH ĐẠO....................................................... 172 VẮNG LẶNG.............................................................. 182 SỐNG TRONG GIỜ PHÚT HIỆN TẠI........................... 194 SỨC MẠNH CỦA TINH THẦN.................................... 204 CHUYỂN NGHIỆP..................................................... 213 SỰ QUAN TRỌNG CỦA CHÁNH KIẾN....................... 222 Ý NGHĨA CỦA PHÁP TU BỐ THÍ................................ 231 Ý NGHĨA NGHIỆP BÁO TRONG ĐẠO PHẬT.............. 239 PHIỀN NÃO TỨC BỒ ĐỀ............................................ 248 Ý NGHĨA CỦA CHỮ ĐỘ............................................. 257 Ở ĐÂU CŨNG ĐƯỢC AN LẠC.................................... 265 ĐỨC PHẬT RẤT XA NHƯNG CŨNG RẤT GẦN.......... 275 ĐƯỜNG VỀ SUNAPARANTA....................................... 279

291


709