Page 1

TỔNG HỢP SO SÁNH GIỮA CHI TRÊN VÀ CHI DƯỚI Có 4 Chi, 2 Chi trên và 2 chi dưới, dính vào thân bởi vai và hông. Chi trên và chi dưới tương đối giống nhau. Ta có thể so sánh và đối chiếu giữa chi trên và chi dưới về xương, cơ, mạch máu và thần kinh. Nhưng chỉ khác là bàn tay ở chi trên trong quá trình lao động, đã dần dần biến đổi thành 1 khí cụ dùng để cầm và nắm (bàn tay là sản phẩm mà cũng là công cụ để lao động), còn chi dưới, vì chức phận khác với chi trên, dùng để nâng đỡ, đứng và đi, do đó 2 chi có khác nhau, chủ yếu là chi trên gấp ra trước và chi dưới gấp ra sau, nên các thành phần ỏ phía trước của chi trên sẽ ở phía sau của chi dưới. 1. VỀ XƯƠNG Chi trên dính vào thân bởi vai. Xương của vai không dính vào cột sống, chỉ có xương đòn tiếp khớp với xương ức (khớp đòn ức), nên động tác của chi trên rất rộng rãi, thích hợp với lao động. Còn hai xương chậu của chi dưới khớp chặt vào xương cùng của cột sống, tạo 1 chỗ tựa vững chắc cho chi dưới. Ở hông không có xương nào tương ứng với xương đòn Ở vai. Xương đùi dài hơn xương cánh tay. Ở cẳng tay, để ngửa bàn tay, hai xương song song với nhau, nhưng khi sấp xương quay bắt chéo ở phía trước xương trụ. Ở chi dưới xương chày và xương mác đứng song song. Ngón chân ngắn, bàn chân dài, gót dài và dày, tạo một diện rộng để tựa. Bàn chân tựa vào mặt phẳng ở gót, ở bờ ngoài và ở đầu các đốt bàn chân, bờ trong của bàn chân kính vòm cung, là một vòm mềm và dẻo nhưng chắc để chịu đựng được sức nặng của thân mình. Trái lại ở bàn tay, xương đốt bàn tay thì ngắn và ngón tay thì dài, bàn tay sấp ngửa được, ngón cái đối chiếu với các ngón khác, thích ứng với cầm và nắm trong lao động. Sấp ngửa bàn tay và đối chiếu của ngón cái là hai đặc điểm của bàn tay quyết định sự khác giữa bàn tay người và vật. Chi trên gấp ra trước, chi dưới gấp ra sau. Lúc còn phôi thai, khuỷu và đầu gối cùng hướng ra phía ngoài, nên ta còn thấy ở trên các xương của chi trên và chi dưới những vết tích xoắn của xương ra trước hoặc xoay ra sau. 2. VỀ CƠ Ở chi trên các cơ gấp ở trước và các cơ duỗi ở sau, trái lại ở chi dưới các cơ gấp ở sau và các cơ duỗi ở trước. Vì bàn tay sấp ngửa được nên ở cẳng tay, 187


có thêm các cơ gấp và các cơ ngửa. Ở cẳng chân các cơ này được thay thế bằng các cơ khác có tác dụng giữ vững vòm gan chân và giữ thăng bằng lúc đứng, lúc đi. Ở mông cũng có một cơ tương tự như cơ Delta Ở vai. Farabeuf coi cơ Delta ở mông như một cơ nhị thân được tạo nên bởi 2 thân (là cơ mông to và cơ căng cân đùi) và một gân trung gian (là cân mông). 3. VỀ MẠCH MÁU Ở chi trên, động mạch từ cổ, qua nách (động mạch nách), chạy ở mặt trước cánh tay (động mạch cánh tay), ở mặt trước cẳng tay (động mạch quay và động mạch trụ), xuống gan bàn tay (cung gan tay nông và sâu). Còn ở chi dưới, động mạch từ chậu hông qua bẹn, chạy ở mặt trước đùi (động mạch đùi), rồi quay ra sau vào khoeo (động mạch khoeo), chạy ở mặt sau cẳng chân (động mạch chày sau), qua gót ống gót (ở phía trong cổ chân), để chạy xuống gan chân (cung gan chân). Ở gan chân, chỉ có 1 cung động mạch. Ở chi trên, các tĩnh mạch nông lúc đầu ở mu bàn tay, sau đều ở mặt trước chi. Tĩnh mạch trụ nông ở cẳng tay được tiếp tục ở cánh tay bởi tĩnh mạch nền (đổ vào tĩnh mạch cánh tay). Tĩnh mạch quay nông ở cẳng tay được tiếp tục bởi tĩnh mạch đầu (đổ vào tĩnh mạch nách).Ở chi dưới các tĩnh mạch nông bắt nguồn ở mu chân, rồi tĩnh mạch viền ngoài được tiếp tục ở cẳng chân sau bởi tĩnh mạch hiển bé, tĩnh mạch này sẽ đổ vào tĩnh mạch khoeo. Tĩnh mạch viền trong được tiếp tục ở cẳng chân trong và ở đùi trước, bởi tĩnh mạch hiển lớn, tĩnh mạch này sẽ đổ vào tĩnh mạch đùi. Ở chi trên, các bạch mạch nông đổ chủ yếu vào các hạch trên ròng rọc và vào các hạch ở nách và chung quanh nách. Ở chi dưới, các bạch mạch nông đổ chủ yếu vào các hạch khoeo (hạch sâu) và các hạch bẹn (nông và sâu). 4. VỀ THẦN KINH Ở chi trên, các dây thần kinh tách ở đám rối cánh tay. Có dây duỗi (dây quay) ở mặt sau, và 3 dây gấp ở mặt trước chi trên, mỗi dây cho một đoạn chi, dây cơ bì vận động các cơ ở cánh tay, dây giữa vận động hầu hết các cơ ở cẳng tay và dây trụ vận động phần lớn các cơ ở bàn tay. Ngoài ra ở cẳng tay, dây duỗi đồng thời là dây ngửa, và dây gấp đồng thời là dây sấp. Ở chi dưới, các dây thần kinh tách ở đám rối thắt lưng và đám rối cùng. - Các dây ở đám rối thắt lưng chạy ở trong khu trước trong của cung đùi, có tác dụng là duỗi cẳng chân (dây đùi) và dây khép đùi (dây bịt). 188


- Các dây tách ở đám rối cùng thuộc hệ thống dây ngồi: gấp cẳng chân (dây ngồi) chạy ở đùi sau, dây gấp ngón chân và duỗi bàn chân (dây chày) ở cẳng chân sau và ở gan chân, và duỗi bàn chân, ngón chân, (dây mác chung) ở cẳng chân trước ngoài và ở mu chân. Vậy ở chi dưới có 2 dây duỗi (dây đùi và dây mác chung) và các dây gấp thuộc hệ thống dây ngồi và dây chày. Dây thần kinh ngồi to với 2 nhánh tận của nó, vừa là dây gấp vừa là dây duỗi. - Nói chung về mạch máu và thần kinh: + Ở chi trên, mạch, thần kinh thuộc 1 hệ thống. Động mạch nách tiếp tục đường đi của động mạch dưới đòn và thần kinh đều tách ở đám rối cánh tay. + Ở chi dưới và đùi, mạch và thần kinh đi theo 3 đường rõ rệt: đường trước có mạch và thần kinh đùi, đường trong có mạch và thần kinh bịt, đường sau có các mạch mông, mạch ngồi, mạch thẹn và dây thần kinh ngồi. Ở cẳng chân và bàn chân có 2 đường: đường sau có hệ động mạch chày sau và dây chày tới gan chân; đường trước có hệ động mạch chày trước và dây mác chung tới mu chân. + Mạch ở vùng trước đùi thuộc hệ chậu ngoài và tiếp tục ở khoeo và ở cẳng chân, đến tận bàn chân, mạch ở vùng trong đùi và vùng sau đùi thuộc hệ thống chậu trong, tận hết ở dưới đùi. Thần kinh ở vùng trước và trong thuộc đám rối thắt lưng và phân tán hết ở đầu gối, còn thần kinh ở vùng sau thuộc đám rối cùng liên tiếp mãi xuống cẳng chân và bàn chân.

189


19 so sanh chi tren va chi duoi  
Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you