Page 1

quテ田 gia

125 04/10


Quテ田 Gia 1


CỘNG ÐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA VÙNG MONTRÉAL Møc Løc QG 125

BAN GIÁM SÁT

Ông TrÀn ñình Th¡ng ........................................Chû TÎch

Ông ñ¥ng TÃn Nghi....................................Phó Chû TÎch Bà Phan ThÎ SÏ............................................T°ng ThÜ Kš Ông NguyÍn NhÜ Thành.....................................Ñy Viên Ông Phan Væn Ninh............................................Ñy Viên BAN CHƒP HàNH

Bà ñ¥ng ThÎ Danh.............................................Chû TÎch Bà NguyÍn Kim Chi.......................Phó Chû TÎch N¶i Vø Ông ñ‡ QuÓc Bäo......................Phó Chû TÎch Ngoåi Vø Cô NguyÍn Ng†c Thuÿ Dung......................T°ng ThÜ Kš Bà Phó Thái Ng†c Trâm.................................... Thû QuÏ C– VƒN ñOàn

Ông Thân Tr†ng An, Bà Lâm HÒng Hà, Bà TrÀn ThÎ MÜ©i, Ông NguyÍn Væn Phú, Ông VÛ Væn Thái CÓ vÃn pháp luÆt NguyÍn An Låc CÁC ÑY VIÊN

Y t‰ và xã h¶i: Bà Tå Mai Anh; Gi§i trÈ: Ông ñ‡ QuÓc Bäo; Væn NghŒ: Ông Duy Ng†c; Thông tin: Ông DÜÖng Tâm Chí; Th‹ thao: Ông ñ¥ng VÛ Hoàng; Du lÎch: Ông ñ¥ng TÃn Sï; Tài chánh Ç¥c trách tài tr® cûa chính phû:Bà NguyÍn Kim Chi; Sinh hoåt: Ông ñào Bá Anh Khoa phø tá ÇiŠu hành: ông TrÜÖng QuÓc Thông

TåP CHí QUÓC GIA Chû nhiŒm : Bà ñ¥ng ThÎ Danh Chû bút: Ông TrÀn M¶ng Lâm T°ng thÜ Kš: Ông NguyÍn Væn Khiêm

Møc løc........................................................................ 2 Lá thÜ chû bút ............................................................. 3 tin tÙc-sinh hoåt c¶ng ÇÒng Th©i s¿ Canada & Th‰ gi§i, TØ Uyên ....................... 5 H¶i ch® T‰t Canh DÀn, Phóng viên Montréal.......... 9 H¶i chÙng nam mãn, ñ¥ng Phú Ân.......................... 12 Bình luÆn- diÍn Çàn Quan hŒ ViŒt-Trung trong chính sách ÇÓi ngoåi cûa VN, TØ Trì ....................................................... 19 Lê ThÎ Công Nhân, tài liŒu ...................................... 22 NguyÍn Væn Lš, tài liŒu .......................................... 34 H»u Loan, tài liŒu .................................................... 42 B¶ m¥t thÆt cûa CSVN sau ngày 1-5-75, MÜ©ng Giang, ......................................................... 56 biên khäo Agriculture products food culture in VN, Thái Công Tøng .........................................................67 Mùa Xuân và cô Ngò Rí, Nguyên Nhung ................ 72 truyŒn ng¡n- thÖ- tåp ghi Hãy chøp giùm tôi, TrÀn væn LÜÖng ........................ 81 NgÜ©i không nhÆn t¶i, Duy Nhân ............................ 83 Mùa Xuân phiá trܧc, ñ¥ng VÛ ............................... 90 ChÌ có tình thÜÖng Ç‹ låi Ç©i, NguyÍn Bá Hoa ........ 92 Sóng nܧc tình quê, Ti‹u Thu................................... 95 Trang thÖ QuÓc Gia, nhiŠu tác giä .........................106 Hình bià: Gi‡ T°

BAN BIÊN TÆP

Thư từ, bài vở, chi phiếu xin gửi về điạ chỉ :

Ông TØ Uyên, Ông Lê QuÓc, Ông NguyÍn Bá Hoa, Ông

Lâm Væn Bé, Ông Thân Tr†ng An, Ông TrÀn M¶ng Lâm, Ông NguyÍn LÜÖng TuyŠn VỚI SỰ HỢP TÁC CỦA QU´ VÎ:

Cấn T. Bích Ngọc, Dư Mỹ, Dương Tử, Ðặng Chương, Ðông Phước, Hồ Mạnh Trinh, Lâm Chương, Lâm Lễ Trinh, Lâm Xuân Quang, Lê Bạch Lựu, Lê Hữu Mục, Lê Mai Lĩnh, Lê Quang Xuân, Lê Quỳnh Mai, Lê Thái Lâm, Lê Văn Châu, Lọ Lem, Lưu Nguyễn Ðạt, Lưu Thư Trung, Mộng Thu, Ngô Minh Hằng, Nguyễn Bá Dĩnh, Nguyễn Ðăng Tuấn, Nguyễn Hải Bình, Nguyễn Khánh Hoà, Nguyễn Tấn Khang, Nguyễn Thanh Bình, Phạm Ngũ Yên, Phan Nhật Nam, Phan Tấn Khôi, Phan Xuân Sinh, Quan Dương, Tiểu Thu, Thái Việt, Thuỷ Trang, Tôn Thất Tuệ, Tốt Ðen, Trà Lũ, Trần Cao Thăng, Trần Thị Lý, Trần Văn Dũng, Trần Trung Ðạo, Trần Hoài Thư, Trương Chi

CỘNG ÐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA VÙNG MONTRÉAL 6767 Côte des Neiges suite 495, Montréal, Québec, CANADA,H3S2T6

QuÓc Gia 2

Tél : (514) 340-9630 Fax : (514) 340-1926 Web site : http://www.vietnam.ca E-mail : cdvietnam@hotmail.com Văn phòng mở cửa 6 ngày trong tuần (nghỉ chủ nhật)


Lá thư Chủ Bút

M

ột lần nữa, tháng tư trở về với chúng ta, 35 năm sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Tháng tư năm 1975 mãi mãi vẫn là một kỷ niệm hãi hùng đối với người miền Nam. Số báo Quốc Gia này được thực hiện nhớ lại sự kiện đen tối tối đó. Nhớ lại, không phải để bi quan, than khóc. Nhớ lại, chỉ để ôn cố, tri tân, và từ đó rút ra những bài học, để có thể tránh được các lỗi lầm đã khiến chúng ta phải bỏ nước ra đi, và để lại một cuộc đời đen tối, cho bà con, bạn bè, trong ngục tù Cộng Sản. Bọn Cộng Sản là một bọn bịp bợm, và vua bịp không ai khác hơn, chính là Hồ Chí Minh. Rất nhiều người thuộc thế hệ cha, chú của người viết bài này đã lầm lỡ đặt niềm tin vào con “cáo già” này, để rồi khi tỉnh ra, thấy được sự thật, thì đã quá muộn màng. Điển hình là nhà thơ Hữu Loan, vừa nằm xuống, trong sự tiếc thương của mọi người, một kiếp phù du. Hữu Loan đã say mê đi theo CS ngay từ đầu, đã là bộ đội của “bác Hồ”. Vợ Hữu Loan, cha mẹ bị “bác” sát hại trong một cuộc đấu tố, bị đuổi ra khỏi nhà, đi mò cua, bắt ốc kiếm ăn, như một tên ăn mày. Có lúc, nhà thơ nổi tiếng với những câu thơ mà chúng ta hầu như ai cũng thuộc lòng :”Nàng có ba người anh đi bộ đội lâu rồi....» bị đì đến nỗi phải đi đập đá kiếm ăn...Một chế độ đối xử tàn tệ đến mức đó đối với một thi sỹ như Hữu Loan, thì nhất định chế độ đó không thể là một chế độ tử tế. Chúng tôi đăng lại những bài thơ của Hữu Loan và những bài viết về người thi sỹ bất hạnh này, để mọi người thấy rõ cái tội nghiệp của những nạn nhân của “bác”, những người chỉ có một cái tôi, là đã quá tin vào “bác” và “đảng”. Thực ra, Hữu Loan không phải là một trường hợp độc nhất. Ông chỉ là một trong những con thiêu thân đã lăn xả vào ngọn lửa cách mạng và bị ngọn lửa đó thiêu rụi. Các con thiêu thân khác cũng nổi tiếng ngang ngửa với ông là nhà thơ Quang Dũng, là Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi và ngay cả Văn Cao nữa. Nếu không phải là tác giả của bài Tiến Quân Ca thì Văn Cao còn bị hành hạ thê thảm hơn nhiều. Hãy nhìn Văn Cao sau 1975, khi ông vào Sàigòn. Thân hình tiều tụy, gầy còm như một cái xác ma. Tôi nhìn ông mà ngậm ngùi, tự hỏi cái con người xơ xác đó làm sao có thể làm ra nổi những bài nhạc dễ thương và tràn đầy lãng mạn đã làm tôi xao xuyến suốt một tuổi thơ. “Em đến thăm anh một chiều mưa”, “Bến Xuân”, vân vân và vân vân. Kể từ khi sống dưới chế độ CS, Văn Cao có làm thêm được một bản nhạc nào ra hồn nữa không ? Cái chế độ tàn tệ đó nó làm con người khô héo, khô héo từ tâm hồn đến thể xác. Bản thân tôi vẫn nghĩ vế các cô gái Hànội như một cái gì tuyệt diệu lắm, nào là “Tóc thề thả gió chơi vơi”, “tiếng guốc reo vui” “ nào là “người em sầu mộng”. Sau 75, nhìn các bộ đội gái từ miền Bắc vào, hết cả hồn. Phải chờ đến nhiều năm sau này, khi ảnh hưởng của Miền Nam bắt đầu lan tràn ra miền Bắc, mới thấy được vẻ yêu kiều của các cô gái miền Bắc. Người miền Nam phải cái hay tin người, tin một cách ngây thơ, tội nghiệp, giống hệt cái cô bé khờ khạo trong truyện ngụ ngôn “Cô Bé Quàng Khăn Đỏ”. Bởi vậy nên mới có những “Bà Mẹ Miền Nam” bao che cho Việt Cộng trong nhà. Việt công có cái miệng rất khéo nói. Ai cũng kêu me, kêu chị ngọt sớt. Đi đến đâu thì dụ dỗ đàn bà con gái đến đó, con rơi, con rớt, tùm lum!!. Với bọn họ, không cần luân thường, đạo lý gì hết, miễn sao có lợi cho họ và đảng của họ là được. Ngày nay thì các bà “mẹ” chiến sỹ đã tỉnh ngộ khi bị bọn lang sói chiếm nhà, chiếm đất. Kéo nhau ra Hà Nội để khiếu oan, để kiện tụng, thì chẳng ai đếm xỉa đến các bà nhà quê Cà Mau, Sóc Trăng hết. Mấy cái giấy xanh xanh đo đỏ chứng nhận mẹ chiến sỹ nào có giá trị bằng tờ đô la xanh !!! 35 năm. Một thời gian quá dài. Quá dài để bọn đầu trâu mặt ngựa hiện nguyên hình. QuÓc Gia 3


Người miền Nam ngày nay đã nhận ra bộ mặt thật của cái chế độ hiện hành ở Việt Nam. Chẳng có lý thuyết Cộng Sản, Vô Sản gì hết. Chỉ là ăn cướp mà thôi. Rừng ở miền Nam bị phá, tài nguyên dưới biển, trong lòng đất ở cao nguyên bị bán cho ngoại bang, đô la ở hải ngoại gửi về vào tay bọn tham nhũng. Chúng trở thành nhửng tỷ phú có tài sản lên tới cả tỷ đô la gửi ở ngoại quốc, chúng mua nhà, mua đất ở California, New York, Paris. Con cái chúng đi Mercedes, Jaguar. Làm Cách Mạng mà sung sướng như vậy thì ai làm cách mạng mà chả được? Trong khi đó các thôn nữ miền Tây bị bán làm vợ cho mấy tên già Đài Loan, Đại Hàn. Cái xã hội gì mà bất công và tàn nhẫn đến thế ? Chỉ có những người vô lương tâm mới có thể nhắm mắt làm ngơ. Chỉ có những người vô lương tâm mới tính đến chuyện về Việt Nam để đầu tư, để làm giàu lúc này. tuy việc đó không khó đối với một vài phần tử ngày xưa mang danh tỵ nạn, nay may mắn có được một ít đô la trong tay. Ngay cả những người trong nước, nếu khéo luồn cúi, thì cũng có được một đời sống thoải mái, “gió chiều nào xoay chiều nấy”. Nhưng không phải ai cũng sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ. Bởi vậy nên mới có những người như Lê Thị Công Nhân. Chúng ta không phải là hạng người “thấy sang bắt quàng làm h†”. Không, theo tôi, người thiếu nử trẻ tuổi này không nên được coi như một người anh hùng xuất chúng. Không nên phong thánh cho cô. Cô ta chỉ nên được coi như một biểu tượng của giới trẻ Việt Nam, đã vì lương tâm của mình, mà lên tiếng. Cô đã dám nói lên những điều mà chúng ta muốn nói, chúng ta đã nói. Tôi xin đơn cử một thí dụ : Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cũng đã lên tiếng tố cáo tội ác CS. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cũng đã ở tù nhiều năm chỉ vì tranh đấu cho Dân Chủ và nhân quyền chống bạo quyền CS. Bởi vậy không phải chỉ có Lê Thị Công Nhân. Cô ta không phải là người đầu tiên chống đối. Và cô ta cũng không phải là người chống đối sau cùng. Chỉ khác là cô nói trong nước, trong khi chúng ta chỉ dám nói ở ngoại quốc. Sự nguy hiểm cho bản thân cô, tù tội và trù giập khiến cho cô nổi tiếng. Chúng ta không có cái dũng cảm của cô nên chỉ có thể làm được một điều, là tiếp tay cho cô, để tiếng nói của cô được vang lên và được càng nhiều người nghe càng tốt. Rồi đây, sẽ có nhiều bài báo được viết lên để bôi nhọ cô, chụp mũ cô, làm yếu đi tiếng nói của cô. Việc đó có thể xẩy ra, chắc chắn nó sẽ xẩy ra. Tuy nhiên trình độ của người Việt ở Hải ngoại nói riêng, và ở Montréal nói chung, không còn thấp kém như 35 năm về trước. Bởi vậy những gì giả dối sẽ hiện ra, những gì ngay thật, trong sáng cũng sẽ được trân quý, đón nhận. Chúng ta hãy giữ kỹ những bài báo ca tụng cô. Và chúng ta hãy theo dõi một cách cẩn thận những lời tuyên bố của cô sau này. Mới đây, cô có nói là cô đã làm những việc mà cô nghĩ nên làm, nhưng cô không thể làm thay cho 87 triệu người còn lại trong nước, và ba triệu người hải ngoại. Câu nói này quả thực đã làm tôi xấu hổ. Tự vấn lương tâm, tôi thấy tôi còn nghĩ quá nhiều đến bản thân, đến vợ, đến con. Có thể nói có lẽ tôi chỉ nghĩ đến dân tộc, đến đất nước chưa đến 5% những mối lo khác. Tôi nghĩ như vậy, không hiểu các bạn nghĩ sao ? Lê Thị Công Nhân chỉ là một biểu tượng. Bên cạnh cô còn biết bao nhiêu người khác, như các anh Phạm Hồng Sơn, linh mục Phan Văn Lợi, cô Phạm Thanh Nghiên. thầy giáo Vũ Hùng, linh mục NguyÍn Væn Lý, Thượng Tọa Thích Quảng Độ...v.v Mùa Xuân năm nay chỉ là mới là một sự bắt đầu, cho những sự thay đổi sắp tới, cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

QuÓc Gia 4


Canada và Thế giới trong ba tháng đầu năm 2010 TØ Uyên

Q

ua một năm 2009 với nhiều biến cố không tốt đẹp, nhân dân thế giới và Canada chắc mong muốn năm mới 2010 sáng tỏ hơn trên phương diện kinh tế xã hội và nhất là hoà bình, hạnh phúc. Để đón mừng năm mới, bắt đầu từ Úc châu, qua Á châu, Âu châu rồi Mỹ châu, các thành phố Sydney, Tokio, Beijing, Paris và New York người dân tràn đầy đường dưới rừng pháo bông lộng lẫy để đón chào năm mới. Các vị lãnh đạo quốc gia qua hệ thống truyền thông đã đồng thanh cầu chúc nhân dân toàn thế giới một năm mới đầy tốt đẹp. Thế nhưng ngay trong tháng đầu nhiều biến cố đã làm giảm niềm mong ước của mọi người. Thiên tai xảy ra tại nhiều nơi, kinh tế chưa có dấu hiệu phục hồi rõ rệt, các biến cố chính trị tại nhiều quốc gia cũng đã khiến bầu không khí lạc quan kém sáng tỏ, Động đất tại Haiti. Ngày 1201- 2010 cả thế giới xúc động

người dân Haiti cũng chưa tin tưởng vì đã nhận thấy những vụ gian lận từ cứu trợ tới việc đầu cơ tranh chấp các trẻ mồ côi đã xäy ra và đó vẫn là hệ quả tất nhiên của những kẻ thả câu nước đục. Tiếp theo đó các cuộc động đất tiếp tục xảy ra tai Chili Nam Mỹ, tại Nhật và Đài loan. Thiệt hại cũng không nhỏ nhưng các nước này tuy cũng cần các trợ gíup quốc tế nhưng cũng có thể tự giải quyết không khó khăn vì các nước này đã là nạn nhân của nhiều lần động đất nên đã phản ứng kịp thời. Tiếp theo đó bão lụt cũng gây tai hại cho nhiều nước từ đủ mọi nơi trên thế giới khiến khí hậu đảo lộn và càng chứng minh việc ñ¶ng ÇÃt Haiti Mặc dầu Liên hiệp quốc và bảo vệ môi sinh càng ngày càng các cường quốc từ Mỹ, Âu và Á cần thiết nhằm tránh các hậu quả châu đã và đang tận tâm trợ giúp khó lường. Quebec năm này chỉ trải qua nhưng thành quả cưú trợ người lâm nạn chưa đạt được trái lại dù vài ba trận bão tuyết và mùa xuân vừa đây ngân khoản dành cho tái đã tới sớm hơn mọi năm. Tuy thiết và xây dựng một nước Haiti nhiên với tính cách bất thường mới đã được Liên Hiệp quốc cho rất có thể bão tuyết có thể xuất biết lên tới trên 5 tỷ USD nhưng hiện ngay bất cứ ngày nào trong vì thủ đô Port au Prince Haiti bi động đất nặng nề. Thiệt hại vô cùng khủng khiếp. Trên 270.000 chết và hầu hết dinh thự và nhà cửa xập đổ, hơn hai triệu dân đang lâm vào hoàn cảnh nghèo đói nay lại thêm thảm trạng màn trời chiếu đất không lương thực cả chục ngày.

QuÓc Gia 5


những tháng xuân còn lại. Tại Hoa kỳ việc Quốc hội Hoa kỳ vừa chấp thuận dự luật cung ứng thêm cho 32 triệu dân từ xưa chưa có bảo hiểm y tế, đã và đang gây ra tranh luận và làm dân chúng Hoa kỳ chia rẽ ( trước đây Hoa kỳ đã có hai chương trình y tế do chính phủ tài trợ như Medicare dành cho người cao tuổi và Medicaid dành cho người có lợi tức thấp ), những công dân còn lại đều phải mua bảo hiểm riêng và các hãng bảo hiểm có quyền ấn định chấp nhận người mua qua các tiêu chuẩn rất chặt chẽ và giá bảo hiểm tăng gia bất cứ lúc nào. Các hãng bảo hiểm cũng còn nhiều quyền vì chính họ trả tiền các dịch vụ y tế nên nhiều tiêu chuẩn khó khăn đã khiến y sĩ Hoa kỳ tuy lợi tức cao nhưng vẫn bị bó buộc khi điều trị bệnh nhân. Người ngoại quốc tới Hoa kỳ nếu không mua bảo hiểm trước sẽ nhiều khi phá sản khi không may đau ốm vì y phí Hoa kỳ rất cao và có thể thay đổi tùy cơ sở y tế bệnh nhân được điều trị. Ngoài ra Hoa kỳ cũng đang gập nhiều khó khăn trên phương diện ngoại giao, quốc phòng và an ninh nên nền kinh tế chưa phục hồi và số người thất nghiệp vẫn cao ở mức độ chừng 10%. Các nước khác trên thế giới cũng chưa ra thoát khỏi ảnh hưởng của kinh tế suy thoái và ảnh hưởng của khí hậu. Âu châu mùa này phải chịu mưa lạnh và tuyết rơi tại nhiều nơi và Hy lạp đang lâm cảnh tài chánh suy sụp, Cộng đồng Âu Châu và quỹ tiền tệ quốc tế đang gia công tìm giải pháp trợ giúp. Do Thái và Palestine cũng

vẫn xung đột mạnh và các cuộc thương thảo đang đi vào bế tắc khi miền Gaza vẫn chưa ngưng các hoạt động vũ trang và Do thái tiếp tục xây thêm nhà mới trên phần đất thuộc phần Đông Jerusalem nơi thánh địa chung của Công giáo và Hồi giáo. Tại Rome, Đức Giáo hoàng đang bận lòng về các vụ sách nhiễu tình dục của vài linh mục được báo chí phơi bày. Phi châu tiếp tục đổ máu vì quyền lợi khai thác các nguyên liệu và tranh chấp tôn giáo. Nguy hại hơn Trung Hoa đang mang dân qua và tài trợ các cuộc khai thác nguyên liệu khiến nạn Hoàng họa đang bắt đầu xâm nhập Phi châu. Tại Á châu Trung Hoa vẫn là một mối đe doạ chung cho cả vùng và Việt Nam là nước bị nhiều áp lực nhất, đất và biển luôn luôn bị xâm chiếm, dân thường và nhiều yếu nhân kể cả đảng viên đang cảnh báo nhưng chính phủ và Bộ Chính trị vẫn chưa tỏ ra một phản ứng nào, trái lại còn qua thăm hoặc gập các nhân vật cao cấp Trung hoa ngay tại Việt Nam không nhằm đòi lại chủ quyền nhưng hình như để tìm một thỏa thuận chọn thành phần Ban Chấp hành Trung ương và chỉ định một Tổng bí Thư cho đảng vào năm 2011 khi thành phần chỉ huy hiện nay hết nhiệm kỳ. Việt Nam một mặt bắt giữ và đưa ra xử nặng các người dân đang chống đối hoặc chỉ mới mang tư tưởng chống đối chính thể hoặc phản đối việc chính phủ quá mềm yếu trước Trung Hoa, nhưng vẫn phải trả tự do cho linh mục Nguyễn văn Lý và luật sư QuÓc Gia 6

Lê thị Công Nhân, hai nhân vật nổi tiếng bị cầm tù vì tội chống chế độ. Việt Nam cũng cố xâm nhập vào hàng ngũ người hải ngoại qua đủ mọi hình thức từ phá hoại các diễn đàn phản cộng trên mạng, và cử các bồi bút gây chia rẽ trên truyền thông, gửi các đoàn văn công ra ngoài nước nhằm gây mâu thuẫn trong hàng ngũ những người từ 35 năm vẫn kiên trì phủ nhận tà quyền hiện tại. Trở về với đất nước Canada nơi quê hương thứ hai của chúng ta: sau khi hân hoan chào đón các thắng lợi của đoàn tuyển thủ nhà tại Thế vận mủa động tại Vancouver trong toàn tháng hai dương lịch, chúng ta cũng phải chú ý tới thực trạng tình trạng kinh tế xã hội giáo dục và y tế là những vấn đề trực tiếp chúng ta phải theo dõi vì liên hệ tới đời sống của chúng ta.. Canada may mắn hơn nhiều nước trên thế giới trước cơn khủng hoảng kinh tế, nhưng không phải không gặp khó khăn. Ngân sách Canada ngày 04 tháng 3 năm 2010 đã được ban bố với mức thâm thủng kỷ lục. Ngân sách 280 tỷ gồm các dự thu, dự chi và trả nợ. Thâm thủng ngân sách vẫn còn khi so dự chi và dự thu trong ngân sách mới và ước tính sẽ không còn thâm thủng trong niên độ 2015. Dự thu 213 tỷ và dự chi 237 tỷ, nợ lên tới 31 tỷ và thiếu hụt ngân sách tổng cộng 53,8 tỷ và bằng 34% TỔNG SẢN LƯỢNG QUỐC GIA. Tuy nhiên chính quyền liên bang cũng dự định giảm chi phí 17,6 tỷ trong 5 năm nhiều nhất vè


quốc phòng và viện trợ quốc tế cũng như ngưng tăng lương các giớ chức trong lãnh vực công k‹ tØ Thủ tướng và các tổng trưởng và dân biểu trong khi vẫn tiếp tục giảm thuế lợi tức tư nhân, tiếp tục chương trình xây cất hạ từng cơ sở, đồng thời khuyến khích các cuộc khảo cứu trong phương diện giáo dục và khoa học cũng như phát triển việc sản xuất các chất đồng vị nguyên tử đang cần dùng trong ngành y tế, Qua các nhận định của các kinh tế gia, ngân sách này là một ngân sách khôn khéo vừa mứa và khiến cho các đảng đối lập tuy lớn tiếng đả kích nhưng chưa đủ lý do bác bỏ và khiến chính phủ thiểu số cuả Harper bị sụp đổ. Ba tuần sau, Québec cũng ban bố một ngân sách táo bạo hơn và nhằm vào thới gian 4 năm tói. Ngân sách Québec ngày 3003-2010 ra đời trong lúc bÀu trời chính trị tại Québec đang phủ đầy tăm tối. Trong khi nghiệp đoàn FTQ và nghiệp đoàn xây cất đang bị tố cáo các vấn đề độc quyền cùng những cáo buộc hăm doạ những công nhân xây cất không thống thuộc nghiệp đoàn này và chính phủ từ chối việc thành lập ủy ban điều tra về những vụ đấu thầu mờ ám, có lẽ vì nhiều nhân vật lãnh đạo các hãng thầu xây cất đã đóng góp vào quỹ tranh cử của đảng Liberal Québec nên các đảng đối lập đang tố các sự thiếu trong sáng này. Uy tín của chính phù Jean Charest đang sút giảm rõ rệt. Tuy nhiên tình trạng kinh tế đang phục hồi, mức độ thất nghiệp cũng giảm. nhưng tình

trạng giáo dục còn chưa khả quan thiếu nhiều giáo chức, và khả năng giáo chức cũng như mức độ học vấn của học sinh trung học rất đáng quan ngại. Có tới 39% học sinh bỏ học tại mức trung học, tuy nhiên sinh viên sau trung học trình độ khá hơn và mức độ đạt được văn bằng Đại học cũng tới 70%. Một điểm đặc biệt là học sinh sinh viên gốc sắc dân thiểu số Á châu như Trung hoa, Việt Nam, mức độ thành công cao hÖn mức thành đạt của sinh viên chính gốc. Vấn đề các nhà giữ trẻ cũng là một đề tài gây nhiều tranh cãi, các đảng đối lập cho rằng chính quyền Liberal trợ cấp nhiều cho các tổ hợp lập nhà giữ trẻ có công đóng góp nhiều cho quỹ đảng này. Tình trạng y tế cũng chưa khá hơn mặc dầu 45% ngân sách đã dành cho y tế. Các phòng cấp cứu tràn ngập khiến bệnh nhân đã có vài trường hợp chết oan vì nhận lầm thuốc hay bị bỏ quên và chết trưóc khi được y sĩ điều trị. Tình trạng này xảy ra phần lớn vì thiếu y tá và y tá phải làm việc với quá nhiều giờ phụ trội. Đã vậy y sĩ chuyên khoa đòi tăng lợi tức cho bằng các tỉnh bang khác. Chính phủ cũng gập thêm khó khăn trong việc ký kết hợp đồng làm việc với liên nghiệp đoàn công chức. Các công chức đòi tăng lương 11.5% cho ba năm và chính phủ đề nghị 7.5% cho 5 năm vì vậy một cuộc đình công có thể xảy ra nếu cả hai phía không đi tới một cuộc thoả thuận trong đầu tháng 04-2010 này Ngân sách ngày 30-03-2010, Ngân sách này đã được bộ trưởng tài chánh Raymond Bachand QuÓc Gia 7

Raymond Bachand đưa ra hồi 16 giờ chiều ngày 30-03-2010 và được mệnh danh là ngân sách khắc nghiệt nhất nhằm một mặt đánh thêm nhiều sắc thuế và tăng các phí khoản. Thuế lợi tức cá nhân không tăng nhưng thuế mua bán tỉnh bang tăng: 1% vào tháng 01- 2011, và thêm 1% nữa vào tháng 01-2012 tới mức 9,5%. Giá nhiên liệu xe hơi tăng ngay 1 cent mỗi lít ngay từ 01-04-2010 và mỗi năm tăng thêm 1 cent cho mỗi lít, và các thành phố lớn như Montreal và Québec cũng được phép tăng 1,5 cent mỗi lít để tài trợ phương tiện chuyên chở công cộng, giá điện cũng sẽ tăng trong tương lai và đặc biệt nhất mỗi người thành niên phải đóng một phụ thu Y Tế từ 25 dollars cho năm 2010 và tới 200 cho mỗi năm sau. Tóm lại nhân dân mọi giới phải đóng 17% cho mức độ thiếu hụt, các xí nghiệp phải đóng 7% vì có thể gíúp mở mang kinh tế, học phí đại học sẽ tăng chừng 200 dollars cho mỗi khoá từ 2012 trong khi đó các cơ sở chính phủ và lương bổng công chức hoặc không được tăng thêm trong hai năm hoặc phải tôn trọng ngân khoản đã định sẵn. Một số cơ sở phải giải tán hoặc phải gia nhập một cơ sở tương đương, lợi tÙc và


quyền lợi người cao niên không thay đổi, các nhà giữ trẻ vẫn giữ mức đóng góp 7 dollars nhưng không có thêm số nhà giữ trẻ được tài trợ. Trong khi đó ngân khoản dành cho y tế tăng 5% và dành cho giáo dục 2,7%. Điểm quan trọng theo lời bộ trưởng Bachand đây là một ngân sách không những đòi hỏi dân chúng chịu thêm vài sắc thuế và vài phí khoản nhưng cũng nhằm thay đổi tập quán ỷ lại từ lâu quen hưởng lợi của người dân nghĩ rằng quen hưởng miễn phí một số dịch vụ từ lâu. Việc đóng phụ thu y tế 25 dollars cho y tế đồng đều đã làm một số đông người dân trung lưu công phẫn, nhưng Bộ trưởng Bachand cũng như các chuyên viên tài chánh cho biết thực sự chỉ có 2,9% gia đình có trên lợi tức 100. 000 và đóng 10 tỷ thuế, 16,9% gia đình có lợi tức giữa 50.000 tới 100.000. đã đóng thuế tới 6 tỷ. Hai nhóm này đã đóng tới 60% thuế cho ngân sách nên những lời than phiền của giới trung lưu hơi quá đáng vì nhóm này đã được giảm thuế cá nhân từ 2003 nay chịu đựng thêm 1% thuế TVQ ( thuế thương vụ) và 1 cent cho mỗi lít nhiên liệu, dĩ nhiên phải chi phí thêm nhưng có bổn phận phải đóng góp là hợp lý. Tổng cộng trong ngân sách này với 69,5 tỷ với thất thu 4,5 tỷ nhưng với những sắc thuế mới mức quân bình ngân sách có thể đạt được vào năm 2014. Dự chi như sau: Trả nợ : 6,9 tỷ, Y tế 27,9 tỷ, Gia đình và người cao niên 2,1 tỷ, Vận tải 2,7 tỷ, Giáo dục và Thể thao 14 tỷ, chi phí cho các bộ khác 14,8

tỷ.Tộng cộng 66,1 tỷ Dự thu như sau:Thuế thu trên các công ty: 3,8 tỷ, xí nghiệp quốc doanh: 4,4 tỷ, quỹ y tế 5,8 tỷ, tài trợ liên bang 15,3 tỷ, thuế thương mại 14.1 tỷ, thuế tư nhân 16,5 tỷ.( ông Bachand cho biết 2,9% dân có lợi tức gia đình trên 100.000 mỗi năm và 15% dân có lợi tức gia đình từ 50.000 tới 100.000 đã đóng tới 60% tổng số thuế tư nhân ). Ông cũng cho biết lợi tức gia đình dưới 14320 gia kim không phải đóng góp gì thêm. Thành phố Montreal của chúng ta cũng không tránh khỏi một số khó khăn. Công trường xây cất vẫn tồn tại đủ mọi nơi và kéo dài quá lâu khiến giao thông trở ngại, nhưng may mắn mùa đông này chỉ chịu 2 trận bão tuyết nên dân chúng đỡ vất vả phần nào trong sinh hoạt hàng ngày, tuy nhiên các công nhân làm việc cho thành phố luôn luôn đe dọa đình công khiến vài công tác chuyên chở rác cũng như một số điạ điểm giải trí đã phải đóng cửa và nản lòng du khách. Hệ thống xe điện ngầm đang được cải tiến vì đã thiết lập quá lâu từ 1967 nay đang được tân trang các toa tàu và thành lập các trạm mới và dĩ nhiên giá chuyên chở cũng gia tăng. Tình trạng an ninh cũng khiến người dân e ngại vì, bạo lực và vài vụ ám sát, thanh toán giữa ban ngày vẫn đôi lúc được ghi nhận. Hệ thống tài chánh của Đô thành cũng chưa ổn định nhưng Đô trưởng Gerald Tremblay đã phấn khởi khi thấy được quyền thu thêm từ 1,5 tới 2,5 cho mỗi QuÓc Gia 8

lít xăng tiêu thụ, nhưng ông vẫn khuyên dân đô thành nên bảo vệ môi trường và nên sử dụng các loại xe chuyên chở công cộng. Cộng đồng Việt Nam đã thành công trong việc tổ chức chợ Tết với sự hiện diện của nhiều chức sắc cao cấp và dân biểu của ba tầng lớp chính phủ và mức tham ia đông đảo của đồng bào, nhưng không sao tránh khỏi những thiếu sót mỗi khi phải đón tiếp cả chục ngàn tham dự viên khi ban tổ chức nhân viên có hạn và tương đối thiếu phối hợp. Cộng đồng cũng thành công trong việc tổ chức giải trí du ngoạn cho một số thành viên thăm viếng Canada từ Đông qua Tây cũng như dư âm tốt đẹp của các tham dự viên du lịch California kèm theo các cuộc vui trên du thuyền. Các hội viên khác cũng mong Cộng đồng tổ chức các cuộc du ngoạn nhằm tăng kiến thức và hợp với khả năng tài chánh của họ. Các hoạt động ngày giỗ Tổ và ngày quốc hận đang được sửa soạn đầy đû và đặc biệt năm nay một cuộc hội thảo mang danh : “ Phụ nữ và thời cuộc “ cũng được tổ chức ngày 24 tháng tư 2010. Các bạn trẻ cũng mong đợi các cuộc gặp mặt để cùng thảo luận về giáo dục và học vấn cũng như chờ đợi các hoạt động thể thao vì hơn các ban Chấp hành trước, Ban Chấp hành năm nay quì tụ rât đông thành phần trẻ. Ước mong Cộng đồng mạnh tiến trên niềm tin của mọi giới.

Từ Uyên.

03-04-2010


Hội Chợ Tết CANH DẦN MONTRÉAL Phóng Viên Montréal

T

heo truyền thống của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia/ Montréal, Hội Chợ Tết Cang Dần đã được long trọng tổ chức ngày 7 tháng 2 năm 2010 tại Trung Tâm Thể thao Pierre Charbonneau, trên đường Viau. Khoảng 10H, các quan khách được mời tham dự bắt đầu đến. Người ta ghi nhận những nhân vật sau đây : Khoảng 10H30, Ông Jason Kenney, Bộ Trưởng Liên Bang về Di Dân, Bộ Trưởng Đa Văn Hoá, Đại Diện Thủ Tướng Liên Bang Stephen Harper, đến Hội Trường. Thủ Tướng Harper vì lý do công vụ không tham dự được, nhưng đã gửi lời chúc Tết đến đồng bào Việt tại Montréal. Ông Bộ Trưởng Kenney và phái đoàn đã viếng các quầy hàng ở bên ngoài Hội Trường. Ông Kenney đã lỳ sì cho các cháu nhỏ theo đúng cổ tục của VN. Ông Bộ Trưởng, với khăn quàng cổ là lá cờ vàng ba sọc đỏ, đã được đồng bào nhiệt liệt hoan nghinh. Bà Yolande James, Bộ Trưởng Di Dân và Quốc Tịch Québec. Bà là Đại Diện Thủ Tướng Jean Charest, hiện đang công du Ấn Độ. Ông Alain De Sousa, Thị Trưởng thành phố Saint Laurent, Phó Chỉ Tịch Ban Chấp Hành Đại Đô Thị Montréal. Ông De Sousa là Đại Diện Ông Thị Trưởng Gerald Tremblay, đương

kim Thị Trưởng Đại Đô Thị Montréal. Ngòai ra người ta ghi nhận sự có mặt, tham dự của: Ông Irwin Cotler, Nghị Sĩ Liên Bang thuộc Đảng Tự Do; Bà Thái Thị Lạc, và Phu Quân là Ông Claude Guimond, cả hai đều là Nghị Sĩ Liên Bang thuộc Block Québecois; bà Lê Minh Diễm, Nghị Viên thành phố Mont Royal, đại diện Bà Thị Trưởng Vera Danyluk; Ông Thomas Jako, Nghị Viên thành phố Brossard, Đại Diện Ông Thị Trưởng Paul Leduc; LS Ouimet, CT Ủy Ban Tranh Đấu về Nhân Quyền cho Việt Nam ; Ông Đại Diện Hồng Thập Tự Gia Nả Đại và nhiều quan khách ngoại quốc khác…… Lể Tiếp Tân tại một góc của Hội Trường- một Lễ Tiếp Tân giản dị nhưng không kém phần long trọng. Tất cả đồng bào hiện diện trong Hội Trường được mời tham dự tiếp tân cùng các quan khách. Sau Lễ Tiếp Tân, các Quan Khách và Đồng bào trở lại Hội Trường để dự lễ khai mạc Hội Chợ Tết. Lễ Nghi Khai mạc được bắt đầu dưới sự điều khiẻn rất khéo léo của 2 MC: Thùy Dung và Tấn Khang: Quốc Ca Canada, Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa đã được các em nhỏ thuộc Trung Tâm Văn Hóa Hồng Đức trình bầy trong niềm vui, cảm phục của mọi người kể cả các quan khách ngoại quốc. Bà Đặng Thị Danh, Chủ Tịch Ban Chấp Hành của CĐ đã mở đầu bằng một bài diễn văn hai thứ tiếng. Bà Danh đã nêu lên những thành quả của CĐ và các chương trình cho tương lai của CĐ nhứt là việc thực hiện cho được Căn QuÓc Gia 9

Nhà Việt Nam cho CĐ. Ông Bộ Trưởng Kenney, bước lên diễn đàn với khăn quàng cổ cờ vàng ba sọc đỏ. Ông đã đọc một bài diễn văn ngắn sau khi đã chúc tụng đồng bào bằng tiếng Việt CHÚC MỪNG NĂM MỚI. Trong bài diễn văn, Ông đã nhắc tới những nỗ lực của Canada trong vấn đề Nhân Quyền, các cố gắng của Chánh phủ Canada về Kinh Tế. Ông cũng ghi ơn sự đóng góp của CĐ Việt Nam vào sự phong phú của xã hội Gia Nã Đại. Bà Yolande James và Ông Alain De Sousa đã đọc diễn văn và chúc Tết đồng bào. Phần Tế Lễ do các Bô lão trong Hội Tuổi Vàng Rồng Vàng phụ trách, ngắn nhưng đầy đủ. Hội Trường trở nên ồn ào vì màn múa lân với 2 con lân múa trong tiếng trống dồn dập. Phần Văn Nghệ mừng xuân do 2 MC: Tường Vi và Trung Tín điều khiển với 5 ca sĩ đến từ Hoa Kỳ: Y Phương, Thanh Trúc, Thanh Lan, Diễm Liên và Đặng Thế Luân. Văn nghệ mừng Xuân với Ban Nhạc The Memories (Montréal) do Nhạc sĩ Duy Ngọc điều khiển đã được nồng nhiệt hoan hô. Có 4 nghệ sĩ của Montréal đã trình diễn trong ngày Chợ Tết. Đó là: Thái Hiền, Thiên Kim, Hồng Hạnh và Nam Ca sĩ Hữu Phúc. Tại khu các gian hàng, vì số tham dự quá đông, nên khu gian hàng trở nên chật hẹp. Hội Chợ Tết chấm dứt vào khỏang 18H trong sự hài lòng của các người tham dự. (Xem hình änh trang sau)


Hình aûnh hoäi chôï teát canh daàn 2010

Canh Daàn 2010 Ô. BT Jason Kenney khoác lá cờ vàng

Quan khách

Bà Yolande James BT Di dân và Quốc tịch Québec chúc mừng

Chào Quốc kỳ và Quốc ca Việt Nam & Canada

Ông Alain De Sousa, bà Yolande James, bà Đặng Thị Danh Chủ tịch cùng các thiếu nhi Quốc Gia 10

Các ca sĩ lừng danh đến từ Cali


Hình aûnh hoäi chôï teát canh daàn 2010 (tiếp theo)

Màn múa lân sống động

Màn biểu diễn trẻ trung

Các cụ Hội Tuổi Vàng Rồng Vàng tế lễ

Quan khách say mê theo dõi

Quang cảnh bên trong hội trường

Quang cảnh các gian hàng và đồng bào chen chúc bên ngoài hội trường Quốc Gia 11


Sinh hoåt C¶ng ñÒng: Bài nói chuyŒn cûa BS ñPA tåi HTVRV Mùa Xuân nói chuyện hồi xuân: Làm thế nào để chẩn đoán và điều trị (hay tắt dục nam - ANDROPAUSE) nơi phái nam ? Bác sĩ Đặng Phú Ân, MD

- Mãn kinh (ménopause) ở phái nữ và nam mãn (andropause) ở phái nam khác nhau ở những điểm nào? - Một bệnh sử điển hình. - Ảnh hưởng của tình trạng lão hoá trên sự tiết kích thích tố nam testostérone và những tác dụng sinh học của kích thích tố này trên cơ thể. - Khi nào nghi ngờ là đang ở tình trạng nam mãn? - Làm thế nào để chẩn đoán xác định tình trạng nam mãn, triệu chứng, dấu chứng? Xét nghiệm? - Biến chứng của tình trạng nam mãn - Cập nhật hoá việc chữa trị tình trạng nam mãn, chỉ định và chống chỉ định. - Tóm lược với những lời khuyên thực tiễn. Dẫn nhập: Nếu so với những thập niên trước, người Việt chúng ta cũng như những người Tây phương càng ngày tuổi thọ càng cao. Truớc đây nếu “thất thập cổ lai hy” đúng thì ngày nay câu nhận

xét này đã đi vào dĩ vãng. Theo dõi các thống kê y học chúng ta thấy nhiều cụ tới gần 100 tuổi, đôi khi ngay cả ngoài 100 tuổi nữa. Câu chúc tụng “bách niên giai lão” cũng cần xét lại! Đây không phải là một nhận xét viễn vông, khoa học ngày nay cũng đã chứng minh điều đó. Ngành lão khoa (gériatrie) trở thành một chuyên khoa riêng biệt, mỗi ngày một phát triển và tiến xa với những công trình nghiên cứu khoa học đặc biệt đáng chú ý. Ở Việt Nam, nếu 55 tuổi đã về hưu thì ngày nay tới 60, 70 tuổi chúng ta vẫn còn hăng say làm việc, hăng say hoạt động. Nhưng có phải 100% đàn ông ở tuổi đó đều hăng say làm việc như vậy không? Câu trả lời sẽ là không, bởi vì đời sống con người dù muốn dù không cũng bị ảnh hưởng bởi tình trạng lão hoá (vieillissement). Trong số những ảnh hưởng đó, chúng ta phải đề cập đến vấn đề “xuân tàn”, tàn không những trên những hoạt động của thể xác, mà tàn cả về sinh dục và tâm tư. Nhân dịp mùa xuân tới, chúng tôi muốn đề cập tới vấn đề hồi xuân. Làm thế nào để chẩn đoán tình trạng “xuân tàn” để chữa trị và làm “hồi xuân“ đúng cách. Một vấn đề xét ra rất có chất “tình người”, người dân Tây phương thường rất cởi mở, khi QuÓc Gia 12

muốn có yêu đương, tình dục nảy nở, họ trình bày thẳng thắn với thầy thuốc xin can thiệp và chữa trị. Đàn ông ta vẫn còn e lệ trong khía cạnh này, bởi vì theo phong tục Đông phương, chuyện phòng the là chuyện thầm kín, chuyện nhỏ, chuyện riêng tư, đành cắn răng chịu đựng. Con người cũng như cây cỏ thiên nhiên, có lúc trổ nhụy, nở hoa thì cũng có lúc tàn tạ. Phái nữ theo một chu kỳ thiên nhiên, thời dậy thì, thanh xuân, thời sinh đẻ, rồi cũng đến thời mãn kinh (ménopause). Phái nam cũng không thoát ra khỏi chu kỳ đó. Phái nam tuy không có kinh nguyệt và không có thời kỳ mãn kinh, nhưng sẽ phải trải qua thời kỳ nam mãn (andropause) hay thời kỳ tắt dục nam (theo một số từ điển y học và tác giả đã phiên dịch từ chữ andropause). Thời kỳ nam mãn (andropause) hay tắt dục nam là gì? Đó là giai đoạn ở phái nam có sự giảm thiểu kích thích tố nam testostérone trong cơ thể mỗi ngày một gia tăng. Sự khác biệt giữa nam mãn ở phái nam và mãn kinh ở phái nữ:: Mãn kinh ở phái nữ gây nên bởi sự giảm sút kích thích


tố nữ oestrogene, hầu như xảy ra một cách thường trực, ở bất cứ người đàn bà nào sau 40-50 tuổi với những dấu chứng rất rõ ràng (những cơn bừng nóng toàn thân, kinh nguyệt bất thường rồi tắt hẳn, mệt mỏi, nóng nảy, khó ngủ, đau nhức mình mẩy, khớp xương… đôi khi chán đời, lo âu, buồn bã, xốp xương. Ngược lại, tình trạng nam mãn (andropause) chỉ xảy ra ở một số đàn ông, và tình trạng nam mãn nặng nhẹ rất thay đổi. Nhiều khi triệu chứng và dấu chứng rất rõ ràng (chúng tôi sẽ đề cập dưới đây), nhiều khi lờ mờ, hoặc chẳng có triệu chứng, dấu chứng gì cả. Tuy nhiên, theo một công trình nghiên cứu y học thì: + Từ 30 tuổi trở đi, nồng độ testostérone trong máu đã bắt đầu giảm từ từ (khoảng 1-2% mỗi năm). + 7% đàn ông từ 40 đến 60 tuổi có nồng độ testostérone giảm dưới mức trung bình. + 20% đàn ông từ 60 đến 80 tuổi và 35% đàn ông tuổi trên 80 có nồng độ testostérone giảm sút. (hình 1)

Hình 1

Để có một ý niệm về hình ảnh của những người đàn ông trong tình trạng nam mãn, chúng tôi xin đơn cử một bệnh sử khá đặc biệt sau đây: Ông Nguyễn Văn X.Y. (tên không có thực), 62 tuổi, giám đốc một chi nhánh ngân hàng, ở Việt Nam là thiếu tá của một đơn vị tác chiến quân lực VNCH, ông đã được rất nhiều huân chương, được coi như người hùng trong các trận chiến vùng cao nguyên. Từ ngày vượt biên qua Canada, ông rất cố gắng đi học lại, và được bổ nhiệm làm giám đốc một chi nhánh ngân hàng. Ông lập gia đình với một nữ tiếp viên hàng không rất đẹp từ Việt Nam và ở với nhau thật hạnh phúc với 3 người con đều thành đạt: một con trai đang thực tập bác sĩ thường trú về ngành giải phẫu, một con gái sắp tốt nghiệp dược sĩ và cậu con trai sau cùng đang thực tập về ngành quốc tế công pháp tại một đại học nổi tiếng ở Hoa kỳ. Đời sống gia đình hạnh phúc, tài chánh đầy đủ, vợ đẹp con ngoan. Về đời sống xã hội, ông thường tham dự các hoạt động của các hội đoàn, rất ngoại giao trong giới thương trường. Mỗi tuần ông đều đi bơi lội và đánh tennis. Trong phòng làm việc của ông, người ta thấy có nhiều huy chương và cúp “vô địch thể thao”. Năm nào ông cũng QuÓc Gia 13

cùng gia đình đi du lịch một năm 2, 3 lần khi thì bằng tàu biển, khi thì bằng tàu bay, hay lái xe hơi cả 12 giờ không thấm mệt. Nói chung, ông X.Y. là người rất hoạt động, khoẻ mạnh và đời sống tinh thần rất thoải mái, hạnh phúc. Nhưng khoảng từ 1-2 năm gần đây, bà vợ của ông thấy ông có vẻ mệt mỏi, chán chường, hay buồn bã vô cớ. - Nếu trước đây từng là vô địch tennis trong giới bạn bè, thì nay nhiều lúc ông cầm vợt một cách uể oải, thậm chí thoái thác không tham dự. - Ông lánh mặt dần trong các hoạt động của các hội đoàn hay văn nghệ nhảy đầm. - Đi du lịch cũng thưa dần, có năm chẳng đi đâu cả. - Con cái những ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving ) trở về nhà đoàn tụ gia đình, ông không thấy gì vui vẻ, nhiều lúc còn gắt gỏng con cái, bỏ lên lầu ngủ. Cách đây gần một năm, trong một buổi đánh tennis và ông bị té nhẹ trên sân và bị gãy cổ xương đùi. Ông đã được giải phẫu cấp cứu đóng đinh và đã đi lại được nhưng phải tập vật lý trị liệu trong vòng 6 tháng. Bác sĩ chỉnh trực nói là xương ông quá xốp nên dễ gãy. Đời sống chăn gối với người vợ đẹp nay cũng thưa dần, nhiều khi từ tháng nọ qua tháng kia chẳng muốn gần gũi nhau. Trong lễ sinh nhật “lục tuần”, vợ con, những người trong họ, bạn bè thấy tinh thần, sức khỏe của ông X.Y. sa sút hẳn và khuyên bà vợ nên đưa ông đi khám bác sĩ. Ông đã đồng ý và đi cùng với bà vợ tới thăm bác sĩ gia đình. Trong cuộc phỏng vấn để


lấy bệnh sử, ngoài những triệu chứng về tâm thần chán chường, buồn bã, nóng nảy, sức làm việc và chơi thể thao sút giảm như kể ở trên, ông X.Y. đã thú nhận với bác sĩ 2 vấn đề quan trọng mà ông cảm thấy mặc cảm trong đời sống chăn gối với vợ mình, không dám thổ lộ với ai: - Kể từ 2 năm nay, ông không còn một chút cảm xúc, kích thích tình dục gì khi gần người vợ vẫn còn trẻ đẹp và mặn mà yêu đương. - Hơn thế nữa , ông còn nói riêng với bác sĩ là khi gần vợ, độ cương cứng dương vật không còn như xưa nữa, nhiều lúc không thỏa mãn được dục tính của người vợ mình, ông cũng thấy hổ thẹn. Ông cũng cho biết không hề bị một căn bệnh nào khác như tiểu đường, cao máu, đi tiểu khó, tiểu đêm. Trong gia đình, cha, anh, em, không ai bị bệnh về tiền liệt tuyến (prostate) cả. Sau khi ghi nhận những triệu chứng, bệnh sử, bác sĩ đã tạm nghĩ tới một chẩn bệnh về tình trạng nam mãn (andropause) và gởi ông tới một bác sĩ chuyên khoa về niệu khoa, đặc biệt chuyên khoa sâu về nam học. Bác sĩ niệu khoa sau khi thăm khám thấy 2 tinh hoàn (testicules) và tiền liệt tuyến (prostate) hoàn toàn bình thường, đã cho đi thử máu thấy lượng testostérone trong máu giảm sút, diêu tố kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến (APSantigene prostatique specifique) bình thường và đã cho một chẩn đoán xác định là ông X.Y. đang ở tình trạng nam mãn (andropause) và đã cho ông một trị liệu bằng kích thích tố nam testostérone.

Bác sĩ căn dặn là ông cần tới tái khám 3-6 tháng sau và mỗi năm sau… Cả gia đình, họ hàng, bạn bè, mấy năm sau đó thấy ông X.Y. lúc nào cũng tươi vui, hăng say các hoạt động. Gia đình, tình nghĩa vợ chồng có phần thắm thiết yêu đương hơn. Người ta thấy ông xuất hiện lại trong các hội hè đình đám, trên sân thể dục thể thao. Quả thực, ông đã hồi xuân… Vấn đề chẩn đoán nghi ngờ và chẩn đoán xác định đã dựa trên những cứ điểm nào? Để hiểu rõ, chúng ta cũng cần nhắc lại ở đây tác dụng của kích thích tố nam testostérone là gì? Trong tình trạng lão hóa, testostérone tiết ra từ 2 tinh hoàn bị suy giảm do tình trạng lưu lượng máu đi tới tinh hoàn bị suy giảm, các tế bào Leydig tại tinh hoàn cũng giảm đi, và do đó sự kích thích điều tiết testostérone từ hệ thống trung ương hypothalamohypophysaire (vùng dưới đồi & tuyến yên) cũng giảm đi. (hình 2)

Hình 2

Tác dụng sinh học của kích thích tố nam testostérone: - Giúp lưu đọng chất azote trong cơ thể để giữ cho khối lượng và sự biến dưỡng các QuÓc Gia 14

bắp thịt được ở tình trạng bình thường, không bị giảm sút. - Kích thích hiện tượng khoáng hóa (minéralisation) tại xương do tác dụng cản ngăn hiện tượng thoái hóa xương (ostéoclastique) và ngược lại tăng hiện tượng tạo xương (ostéoblastique). - Ngăn cản hiện tượng nhiễm sưng khi có bệnh sưng khớp do tình trạng tự miễn nhiễm (autoimmunisation). - Kích thích sự tạo lập chất đạm ở gan. - Giữ cho tình trạng tâm thần được ổn định, sảng khoái, tránh tình trạng chán chường, trầm cảm (chán đời), bị kích động hay giảm tự tin. - Gia tăng hay ít ra cũng giúp ổn định tình trạng ham muốn tình dục (libido). - Đặc biệt giữ không cho giảm sút tình trạng cương cứng dương vật ban đêm (érection nocturne) và giữ cho tình trạng cương cứng được bình thường, hữu hiệu và như ý muốn (nên nhớ là testostérone được tiết ra nhiều nhất vào buổi sáng và ít nhất vào ban đêm nên khi testostérone bị suy giảm, tình trạng cương cứng dương vật bị ảnh hưởng nhiều nhất vào buổi tối ). Triệu chứng về tình trạng thiểu kích thích tố nam testostérone: - Thiểu lực, mệt mỏi. - Bắp thịt yếu, khối lượng các bắp thịt cũng giảm sút. - Xương: giảm sút chất xương (osteopénie) hoăc ngay cả tình trạng loãng xương, xương trở thành xốp (ostéoporose). - Các bắp thịt, các xương khớp cảm thấy đau nhức. - Về tình trạng tâm thần:


+ cảm thấy lúc nào cũng bứt rứt trong người . + tâm thần mệt mỏi, chán chường nhiều khi tiến tới tình trạng chán đời (trầm cảm-dépression) + cảm thấy mất tự tin. - Về dục tính: + ham muốn tình dục (libido) giảm sút. + tình trạng cương cứng dương vật ban đêm (érection nocturne) thưa dần hoặc hoàn toàn mất hẳn. + hoặc tình trạng cương cứng dương vật bị giảm thiểu hoặc không kéo dài được lâu. - Vì tình trạng chất xương giảm thiểu hoặc loãng xương đưa đến tình trạng gãy xương dễ dàng (nhất là xương sống, xương chậu, xương háng, xương đùi). Khi nào nghi ngờ bệnh nhân ở tình trạng nam mãn (andropause)? Một người đàn ông tuổi từ ngũ tuần trở đi, nếu cho trả lời những câu hỏi dưới đây được soạn bởi Đại học St-Louis: Các câu hỏi ADAM (Androgen Deficiency in Aging Men) được xướng khởi bởi Đại học St-Louis (St-Louis University): 1. Tình trạng kích thích tình dục (libido) có giảm sút không? 2. Có bị mất năng lực làm việc không? 3. Làm việc thấy không có sức lực và không thể kéo dài lâu được do mệt mỏi không? 4. Trong những năm gần đây có thấy độ cao của thân người mình bị thấp đi không? 5. Vấn đề vui sống có bị giảm sút không? 6. Có hay buồn bã, chán đời không? 7. Về sự cương cứng dương

vật trong khi giao hợp có yếu đi, hay không đủ độ cứng để hành lạc không? 8. Khả năng chơi các môn thể thao có thấy bị giảm sút hẳn không? 9. Sau bữa ăn cơm tối, có hay lăn ra ngủ không? 10. Thành quả trong công việc có thấy giảm sút hẳn không? Nếu bệnh nhân trả lời “có” các câu hỏi số 1 hay số 7, hoặc ít nhất 3 câu hỏi khác trong 10 câu hỏi trên thì có thể nghi ngờ bệnh nhân đang ở tình trạng nam mãn (andropause) và cần thăm khám và thám sát thêm.

Khi đã chẩn đoán xác định tình trạng nam mãn (andropause), chữa trị ra sao? Việc trị liệu hiệu quả nhất là kích thích tố nam testostérone liệu pháp. Trước khi quyết định cho kích thích tố nam testostérone liệu pháp, bác sĩ phải định bệnh chắc chắn bệnh nhân không có những chống chỉ định sau: - Suy tim. - Bướu tiền liệt tuyến (đặc biệt tối kỵ khi có ung thư tiền liệt tuyến) vì testostérone kích thích các tế bào ung thư tiền liệt tuyến hiện có gia tăng mạnh mẽ. Để chẩn đoán xác định, cần - Tình trạng phù nề do nước đọng lại trong cơ thể và tình trạng phải làm các xét nghiệm sau: - Đo nồng độ testostérone ngưng thở khi ngủ (apnée du sommeil). trong máu, gồm 3 loại: 1/ Testostérone tự do (testostérone libre): không gắn vào một chất Thuốc cung cấp testostérone nào khác; chiếm 2% tổng lượng (remplacement de la testostérone): testostérone trong máu. Làm giảm các triệu chứng 2/ Testostérone hoạt tính sinh học - (testostérone biodisponible): là tình trạng nam mãn (andropause) Nâng cao phong độ để testostérone gắn albumin; được - coi như rất hoạt động về phương sống vui. - Giảm stress, giảm các diện sinh học. 3/ Testostérone tổng hợp: là biến chứng của nam mãn như testostérone tự do gắn vào một tình trạng loãng xương … Gồm: tem dán, viên loại proteine stéroide sinh dục; - chiếm 40%, ít có tác dụng sinh thuốc (capsule), kem thoa (gel), thuốc chích. học. -Để chẩn đoán xác định, người Bác sĩ sẽ chọn lựa cho thích hợp ta dựa vào việc đo nồng độ với đời sống, giờ giấc làm việc testostérone biodisponible trong của từng bệnh nhân. Phải theo dõi trong những năm máu. -Ngoài ra, cần làm các xét nghiệm kế tiếp để điều chỉnh liều lượng. Tem dán (timbres đo nồng độ kháng nguyên đặc chứa hiệu trên tiền liệt tuyến (APS) để transdermiques): loại những trường hợp bướu tiền testostérone (testostérone sẽ được liệt tuyến (chống chỉ định khi sử hấp thø qua da). Dán 1 tem/ngày. dụng testostérone trong trị liệu Dán ở lưng, bụng, cánh tay, đùi. tình trạng nam mãn (andropause). Lợi: thải testostérone một cách QuÓc Gia 15


chầm chậm vào máu và điều hòa trong suốt 24 giờ. Như vậy tránh được tình trạng lượng testostérone trồi sụt quá độ trong máu. Bệnh nhân vẫn làm việc bình thường. Tên thương mại: Androderm, Testim - Kem thoa (gel du testostérone): có một bất lợi là có thể truyền tác dụng sang những người khác nếu không để ý, cẩn thận khi dùng. Nên rửa tay sau khi thoa kem. Tên thương mại: Androgel - Thuốc viên (capsule): Undécanoate de testostérone. Tên thương mại: Andriol. Dùng 2 lần/ngày, sau bữa ăn. Thận trọng: với những bệnh nhân bị bệnh gan, tim, thận. Những trường hợp này, nên tránh thuốc viên. - Thuốc chích (énanthate,cypionate hay propionate de testosterone ): chích một lần mỗi 3-4 tuần. Tên thương mại: Delatestryl, Depo-Testosterone.Testex . Cần nhắc lại: - Chữa trị tình trạng nam mãn (andropause) với kích thích tố nam testostérone điền thế sẽ không nguy hiểm nếu tình trạng nam mãn (andropause) được chẩn bệnh thật đúng và việc chữa trị phải được theo dõi sát. - Có thể có một vài phản ứng phụ như: lên cân, giữ nước trong cơ thể làm phù nề mắt cá chân, nhức đầu hay vấn đề hiếm muộn thứ phát. - Thuốc testostérone không được dùng cho những đàn ông có tiền căn bệnh tim mạch, cao máu, và không bao giờ được dùng cho bệnh nhân có tiền căn

ung thư tiền liệt tuyến hay có tiền căn gia đình có cha, anh, em đã bị ung thư tiền liệt tuyến để tránh nguy cơ ung thư phát triển. - Vì vậy, cần phải thảo luận kỹ càng với bác sĩ trước khi quyết định được trị liệu bằng testostérone. Kết luận: tóm lược và lời khuyên thực tiễn - Theo cơ chế nội tiết học, kích thích tố nam testostérone giảm dần theo tuổi tác. Tuy nhiên, sự giảm sút này không nhất thiết xảy ra đồng đều trên tất cả mọi người đàn ông. Có người testostérone giảm sút rất nhiều, có người testostérone giảm sút rất ít, thậm chí sự giảm sút đó coi như không đáng kể. Vì vậy, triệu chứng và dấu chứng của tình trạng nam mãn (andropause) rõ ràng, nặng nề nơi người này, lại nhẹ nhàng và hầu như không bị ảnh hưởng gì cả trên một số nhỏ đàn ông khác. - Chẩn đoán xác định tình trạng nam mãn (andropause) chủ yếu dựa trên triệu chứng và dấu chứng của sự thay đổi về sức lực, tình trạng tâm thần, đặc biệt sự giảm sút trong kích thích tình dục và độ cương cứng của dương vật cộng thêm vào sự giảm sút nồng độ testostérone biodisponible trong máu . - Trong việc chữa trị thì kích thích tố nam testostérone điền thế liệu pháp (hormonothérapie de remplacement) rất có hiệu quả và không có nguy hiểm một khi tình trạng nam mãn (andropause) được chẩn đoán thật đúng và đảm bảo không có những bệnh trạng kèm theo (như tiền liệt tuyến, suy tim mạch…) và đặc biệt phải được theo dõi sát QuÓc Gia 16

bằng những cuộc tái khám định kỳ (6 tháng, 1 năm…). Sau cùng, tác giả xin có những lời khuyên thực tiễn cùng độc giả: - Đời sống, sức làm việc và hạnh phúc gia đình lúc nào cũng đi song hành. một khi chúng ta cảm thấy có sự mất thăng bằng hay giảm sút một trong các yếu tố đó, kẻ viết bài này xin mạo muội khuyên quý vị nên đi thăm khám bác sĩ gia đình để phát hiện sớm các bệnh trạng. Nếu cần, bác sĩ gia đình sẽ gửi quý vị đi các bác sĩ chuyên khoa để được trị liệu đúng cách, đúng mức, và tận gốc. - Khoa học ngày nay đã có những công trình nghiên cứu y học đáng kể và giá trị. Nếu trước đây chúng ta không nghĩ tới tình trạng nam mãn (andropause) ở tu mi nam tử mà chỉ thấy mãn kinh ở phái nữ thì ngày nay tình trạng nam mãn ở phái nam đã trở thành hiện thực, và các phương pháp chữa trị đã có những hiệu quả được chứng minh rõ ràng không còn là huyền thoại nữa (theo tác giả Gerald Block, giáo sư Trưởng khoa giải phẫu tiết niệu, Đại hoc Western Ontario). Nếu ông X.Y. ở thời kỳ xuân tàn, đã gãy xương do thiểu testostérone, thì ngày nay với trị liệu, ông X.Y. đã hồi xuân, thân hình đã dắn chắc và vui sống. Như vậy chúng ta hãy an hưởng tuổi vàng vì “Xuân đi, xuân đến, vẫn còn xuân..” Bác Sĩ ĐẶNG PHÚ ÂN, M.D. l


Kính thưa quí vị

H

ôm nay người Việt Sherbrooke chúng ta có cơ hội họp mặt chào mừng tân niên con hổ Canh Dần, cháu xin kinh chúc quí vị một năm mới thịnh vượng, tràn đầy hy vọng và thân thương. Đồng thời chúng ta cũng nhân dịp gặp gỡ cùng nhau nhìn lại 35 năm người Việt lập nghiệp tại địa phương này. Lớp người Việt đầu tiên tới nơi đây là một số các sinh viên theo học tại Đại học Sherbrooke trước năm 1975 mà trong đó có các cô chú Kim Đoan, Trương Anh Tuấn, Đặng Vũ Tuấn-Kiệt, Phan Viết Minh Tân ... Chính lớp sinh viên ngưới Việt này đã hợp tác với các cấp chính quyền để đón tiếp những người Việt tị nạn đầu tiên tới Sherbrooke sau khi miền Nam Việt Nam xụp đổ vào năm 1975. Cũng cùng một dịp, Hội Người Việt Sherbrooke đã ra đời với các vị chủ tịch đầu tiên nha sỹ Nguyễn văn Cường, cụ Nguyễn Huy Lược, ông Nguyễn Hải-Bình, ông Văn Phú và kế tiếp. Ba năm sau là giai đoạn Thuyền Nhân. Tất cả Thuyền nhân chúng ta đã có cơ may hội nhập xuông xẻ là nhờ ân sủng rộng rãi của các nhóm bảo trợ nguời Québec thành phố Sherbrooke, của nhà thờ mà chúng ta còn ghi nhớ mãi như các cha Dandenault, cha Cornier, bà Labonté, các ông bà Martin, Le Blanc, John Murray và nhiều vị khác. Làm lại cuộc đời nơi vùng đất mới không phải là điều đương nhiên dễ dàng gì. Chúng

Sinh hoåt C¶ng ñÒng:

*** Nguyễn Hải-Phong ta tới Sherbrooke không tiền nong, lạc lõng trong xã hội mới, tiếng Pháp không thông,và khiếp vía trước cái lạnh nghiệt ngã của mùa đông Canada. Nhưng chúng ta cũng nhận thức được rằng chỉ với một ý chí phải hội nhập mau chóng và bằng quyết tâm sắt đá chúng ta mới có thể tạo dựng một tương lai hứa hẹn. Việc thứ nhất đã phải làm là chúng ta trau dồi tiếng Pháp, điều cần thiết để có thể tạo dựng sợi giây liên lạc hài hoà với cộng đồng Sherbrooke Pháp. Thật may mắn là chúng ta có trung tâm COFI sẵn sàng với các lớp học Pháp văn. Có lẽ một ân nhân COFI của chúng ta cũng có mặt hôm nay: Ông Dufour, giáo sư rồi giám đốc COFI. Tiếp theo, chúng ta đã sẵn sàng lao đầu đi kiếm việc để mưu sinh. Bất cứ việc gì nên dù đã từng là chuyên viên chúng ta vẫn nhận những việc tầm thường. Có vị bác sỹ đi phụ xe chuyên chở học trò, giáo sư đại học đi rửa chén trong tiệm ăn, sinh viên tốt nghiệp đại học đi làm nhà máy dệt. Rồi sau, để có lại được địa vị của mình quí vị đã đi học lại, học trung học, vào Cégeps, xin tương đương QuÓc Gia 17

văn bằng, vào đại học. Quí vị trau dồi để thăng tiến kiến thức, thăng tiến tài chánh với ước vọng có thể cống hiến cho bầy con một ngày mai tươi sáng, một đời sống êm đẹp và một nền giáo dục đầy chất lượng. Ngày hôm nay thế hệ người Việt thứ nhất quí vị đã tích cực đi vào xã hội mới, nắm bắt những cơ hội vô tận mà đất nước này cung ứng. Quí vị đi thực tập nhờ Đại học Y Khoa Sherbrooke để hành nghề bác sỹ trở lại. Quí vị trở thành thương gia, mở bao nhiêu nhà hàng ở đây, đi dậy học, làm công chức, đủ cả. Và chúng cháu, thế hệ thứ hai sanh đẻ tại đây bây giờ cũng đã khôn lớn trưởng thành. Chúng cháu có thể không còn sống ở Sherbrooke nữa nhưng chúng cháu đã được giáo dục tại đây từ các trường tiểu học, trung học, Collège de Sherbrooke, Séminaire de Sherbrooke, A. Galt High School, Champlain College và rồi Đại học Sherbrooke. Nhờ đó ngày nay ở khắp nơi chúng cháu đã có thể đóng góp với Québec trong mọi lãnh vực xã hội, kinh tế cũng như văn hoá. Chúng cháu nay là những chuyên viên, là cảnh sát, kỹ sư, bác sỹ, nha sỹ, những quân nhân.


Thưa quí vị, Sự thành công của chúng ta là nhờ ân sủng của Canada, Québec và Sherbooke. Cùng với các đoàn thể thiện nguyện của đại cộng đồng cũng như các cá nhân, tất cả đã giúp chúng ta hội nhập, tiếp tục học hỏi và thăng tiến vẻ vang. Sự giúp đỡ của đại công đồng Québec cộng với quyết tâm điển hình của người Á đông, người Việt Sherbrooke chúng ta nay hãnh diện với chỗ đứng trong lòng Québec. Sự thật là tiến trình hội nhập của chúng ta vào cộng đồng Québec tương đối có thể nhẹ nhàng. Con đường đi tới thật là đơn giản. Trước hết, phải thông thạo tiếng Pháp; rồi trau dồi học vấn và kế tiếp là quyết tâm phải có công ăn việc làm. Đồng thời, chúng ta cũng luôn luôn cẩn trọng giữ gìn phong tuc tập quán Việt Nam từ ngàn xưa để lại. Những dịp họp mặt Tết không bao giờ gián đoạn tại đây từ 35 năm qua, những lớp Việt ngữ đã thể hiện tâm ý giữ gìn nguồn cội do hội Người Việt Sherbrooke kiên trì tổ chức mà lúc này đang còn được lèo lái bởi chú Trần văn Nhã, cô Trương Kim Liên, bác Trần văn Hà... Xin chân thành ghi ơn Bác và các cô chú. Sau hết, giữ gìn nguồn cội nhưng chúng ta bao giờ cũng hội nhập với đại cộng đồng và tôn trọng các giá trị văn hóa, xã hội của Québec, Canada và Tây phương. Xin cảm ơn quí vị

Nguyễn Hải-Phong

Quê Hương và Chủ Nghĩa (Gửi tuổi trẻ Việt Nam)

Trịnh Ngữ Ngôn Em hãy ngồi xuống đây Anh kể câu chuyện này Trên cánh đồng cỏ cháy, Ngậm ngùi như khói bay, Con ngựa già một đời, Chưa thấy được ngày vui, Mắt mỏi mòn trông đợi, Những mầm cỏ xanh tươi. Đã bao nhiêu năm rồi, Hướng nhìn về xa xôi, Tâm tư đau nhức nhối, Cuộc đời vẫn nổi trôi. Em nhìn về tương lai, Cố giấu tiếng thở dài, Mắt dường như ngấn lệ, Có phải vì khói cay? Em thấy đó, trên đường đi không đến, Quê hương đau, chồn cáo vẫn nghêng ngang Những con thú người nhảy múa kiêu căng Ngửa mặt hú một bài ca chủ nghiã. Ngôn ngữ văn nô, đỉnh cao trí tuệ, Chủ nghiã dạy em, thù hận hờn căm Chủ nghiã dạy em, độc ác bất nhân Chủ nghiã dạy em, lọc lừa xảo trá Chủ nghiã dạy em, dối gian trăm ngả Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa

QuÓc Gia 18

Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay Chủ nghiã cai thầu, bán buôn TổQuốc Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc Chủ nghiã bịp lừa, bánh vẽ tự do Chủ nghiã cá ươn, tư tưởng vong nô Chủ nghiã chết đi, Quê Hương vẫn sống Ai nhân danh hạnh phúc Thứ hạnh phúc ngục tù Ai nhân danh dân chủ Thứ dân chủ si ngu Ai nhân danh chân lý Thứ chân lý đui mù Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghiã, Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam! Sự thật đó có làm em đau nhói ? Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói Chồn cáo kia có rình rập trước sau Ngẩng mặt cao và đừng sợ đớn đau Đứng lên em bằng tâm hồn biển động. Em đứng lên như đại dương dậy sóng Tiếng sét thần tuổi trẻ nổ ầm vang Những tượng hình, chủ nghiã, phải tiêu tan Cây Dân-Chủ bừng lên ngàn sức sống, Em bây giờ khôn lớn Mắt rực lửa yêu thương, Biết đâu là sự thật Em tìm thấy con đường. Tự-Do sẽ nở hoa Trên quê hương khốn khó Anh như con ngựa già Vẫn cúi đầu kiên nhẫn Đốt những đám cỏ khô Dọn đường cho em đi làm lịch sử.

Trịnh Ngữ Ngôn


QUAN HỆ VIỆT TRUNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

S

uốt trong lịch sử nước nhà, dưới bất cứ một triều đại hay chính thể nào thì chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng được hướng dẫn bởi bốn định luật địa chính bất biến. Định luật thứ nhất và có lẽ quan trọng nhất là cuộc chiến đấu không ngừng để ngăn chặn sức bành trướng của một nước láng giềng hùng mạnh phương Bắc. Định luật thứ hai là vị trí địa lý của nước ta nằm giữa giao điểm của nhiều trục giao thông quốc tế nên không khỏi bị nhiều nước ngoài dòm ngó. Định luật thứ ba là hiếu động tính của dân tộc Việt, có khuynh hướng tiến về phương Nam để mở rộng lãnh thổ. Và định luật thứ tư là tinh thần khoan dung rộng mở, sẵn sàng đón nhận nhiều nguồn tư tưởng khác nhau để tổng hợp và hội nhập chúng vào đời sống trong nước và sẵn sàng hợp tác với bên ngoài. Trong khuôn khổ bốn định luật này, các chính thể trong nước, suốt trong lịch sử nước nhà, đã thích ứng chính sách đối ngoại của Việt Nam với các hoàn cảnh hiện hữu để phù hợp với thời cơ. QUAN HỆ VIỆT TRUNG Ngay từ khi lập quốc, chính sách đối ngoại của Việt nam đã

Từ Trì phải đặc biệt chú tâm tới bang giao với Trung Quốc. Trung Quốc luôn luôn tự coi họ là trung tâm của thế giới, là quốc gia văn minh bậc nhất. Các quốc gia khác đều bị họ coi là “phiên quốc”, là “chư hầu”. Các dân tộc chung quanh bị coi là kém văn minh : Đông rợ, Tây nhung, Nam man, Bắc địch cần phải được họ “khai hóa” ! Do đó Trung Quốc không ngừng tìm cách bành trướng về mọi phương. Nhưng, về phía Nam sức bành trướng của họ gặp một trở lực là sức đối kháng của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên mỗi khi chiến thắng, đẩy lui Bắc quân khỏi lãnh thổ quốc gia, các vị vua Việt Nam đều tỏ ra thông minh sáng suốt để thừa nhận bá quyền của Trung Quốc và định kỳ triều cống như mọi chư hầu khác để được rảnh tay mở mang đất nước. Thật ra thì bá quyền của Trung Quốc trên Việt Nam chỉ có tính cách lý thuyết không thực tại vì tuy thần phục Thiên Triều Việt Nam vẫn hoàn toàn tự chủ và tự trị. Phương thức bang giao này được kéo dài tới năm 1885 khi hòa ước Thiên Tân giữa Pháp và Triều đình nhà Thanh thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp trên Việt Nam, thay thế Trung Hoa. Khi Việt Nam giành được QuÓc Gia 19

độc lập năm 1945 thì Trung Quốc dù là Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch hay cộng sản của Mao Trạch Đông đều không ngừng vi phạm chủ quyền nước ta. Thật vậy, chiếu quyết định của hội nghị Potsdam, quân đội của Tưởng Giới Thạch dưới quyền tướng Lư Hán tràn sang Việt Nam để tước khí giới quân đội Nhật muốn ở lì không chịu về nước. Hồ Chí Minh phải ký với Pháp thỏa ước mồng 6 tháng 3 năm 1946 để có cách đẩy quân Tàu ra khỏi nước. Chính trong dịp này họ Hồ đã nói là “Thà ngửi phân thằng Tây ít lâu còn hơn suốt đời ăn phân thằng Tàu”. Bắt đầu từ năm 1950, khi cộng sản Tàu làm chủ được toàn cõi Hoa lục, các cố vấn quân sự Tàu như La Quí Ba, Trần Canh, Vi Quốc Thanh sang Việt Nam, luôn luôn chèn ép tướng lãnh Việt Minh trong các chiến dịch Đông bắc, Tây Bắc, Điện Biên Phủ, bắt phải theo sách lược của họ. Năm 1958, khi Trung công quyết định mở rộng lãnh hải của họ ra 12 hải lý, bao gồm các quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Phạm Văn Đồng đã vội vã gửi công hàm cho Chu Ân Lai để tán thành. Từ đó Trung Quốc liên tiếp thôn tính các quần đảo này như cưỡng chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974, ban hành một đạo luật khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1992, thành lập huyện Tam Sa để quản lý các quần đảo này năm 2007 v…v… Năm 1979, hai tháng sau khi Hà Nội đánh chiếm Cao Miên,


Trung Quốc đã đem quân tấn công để “cho Việt Nam một bài học”. Bị tổn thất nặng nề, họ rẫy sạch các thành phố biên giới trước khi rút quân. Sau đó Trung cộng mở chiến dịch ngoại giao và kinh tế để bóp nghẹt Việt Nam. Sau khi Liên Xô sụp đổ, Hà Nội tìm cách hòa giải với Trung Quốc để giải quyết vấn đề Cam Pu Chia. Trung Quốc tẩy chay Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch vì Thạch trước kia là tác giả cuốn bạch thư tố cáo họ vi phạm chủ quyền Việt Nam trong các thập niên 1970 và 1980. Họ gọi Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh và Phạm Văn Đồng sang Thành Đô để thương thuyết việc bình thường hóa quan hệ Việt Trung. Sau đó Nguyễn Cơ Thạch bị mất cùng một lúc các chức vụ ủy viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ Tướng và Bộ Trưởng Ngoại giao chỉ vì “thiên triều Trung cộng” không ưa. Trong những năm gần đây, Trung cộng lại mở màn cho một chính sách xâm lăng “kiểu mới” hoà hoãn hơn nhưng thâm độc hơn. Họ cho hàng hóa Tàu “lậu thuế” tràn ngập thị trường Việt Nam, lũng đoạn nền kinh tế quốc gia. Họ còn hối lộ các người cầm quyền Hà Nội để ký hợp đồng dài hạn cho phép họ khai thác bô xít Tây Nguyên, đưa các quân nhân Trung Quốc đội lốt công nhân tới làm việc tại một vị trí chiến lược then chốt giữa hai miền Bắc và Nam của Việt Nam. Đây là một sự chiếm đóng trá hình lãnh thổ quốc gia bởi một quân đội ngoại bang.. Người ta không thấy chính quyền Hà Nội phản kháng

mạnh mẽ trước các vụ vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc. Ngược lại, họ còn nhượng bộ Bắc quốc bằng cách dâng hiến đất đai cho đối phương. Năm 1999, Lê Khả Phiêu nhường cho Tàu 11 000 cây số vuông của đất nước Việt Nam. Năm 2000, hiệp định về lãnh hải đã cho Trung Quốc tăng diện tích của họ trên vịnh Bắc Việt từ 38% lên 47% trong khi diện tích của Việt Nam trong vịnh bị giảm từ 62% xuống 53%. Đây là một hình thức thần phục hèn kém chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà. Trước kia, các vị vua Việt Nam chỉ thần phục Tàu một cách tượng trưng., và chỉ triều cống bằng hiện vật chứ không hề có việc dâng hiến đất đai. Tập đoàn cầm quyền Hà Nội quên rằng Việt Nam là dân tộc duy nhất trên thế giới đã nhiều lần đánh đuổi được quân xâm lăng Trung Hoa ra khỏi đất nước. Trong công cuộc bảo vệ nền độc lập quốc gia người dân Việt đã viết lên những trang sử oai hùng như khi Tô Định bỏ cả ấn tín mà chạy trước đầu voi của hai bà Trưng, Thoát Hoan chui vào ống đồng mà chạy trước binh sĩ của Trần Hưng Đạo, Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy chẳng kịp thắng yên ngựa mặc áo giáp trước bước tiến của vua Quang Trung. Ba trận đại thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán năm 928, của Lê Đại Hành đánh quân Tống năm 981 và của Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên năm 1288 khiến người Hoa trên ba trăm năm sau vẫn còn mang hận. Năm 1637, sứ giả Giang văn Minh của Việt Nam bị QuÓc Gia 20

người Tàu trám mắt, trám miệng, mổ bụng chỉ vì đã can đảm đối lại với câu “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (tức là “Cột đồng đến nay rêu đã mọc xanh”) của vua Minh bằng câu : “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (nghĩa là sông Bạch Đằng từ xưa máu hãy còn đỏ). PHƯƠNG THỨC NGĂN CHẶN SỨC BÀNH TRƯỚNG CỦA TRUNG QUỐC Trước thái độ “khấu đầu” của Nhà Nước cộng sản Hà Nội đối với Trung Quốc quốc dân Việt Nam phải tích cực tranh đấu để bắt họ phải có một đường lối ngoại giao cứng rắn hơn. Chúng ta không thiếu phương tiện hành động. Trước hết Việt Nam phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đa phương hóa bang giao với các nước bên ngoài, nhất là các nước lân cận. Hiện nay nền hòa bình trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương được đặt trên một thế thăng bằng chân vạc Hoa-Mỹ-Ấn. Việt Nam cần phải cộng tác với Mỹ và Ấn Độ là hai cường quốc quân sự đối trọng với Trung Quốc. Từ trước tới nay vì sợ “diễn tiến hòa bình” Hà Nội không dám cấu kết chặt chẽ với hai quốc gia dân chủ này. Ngược lại hai quốc gia này cũng tỏ ra dè dặt trong quan hệ vớí một chính thể độc tài, tham nhũng, vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Trong thế thăng bằng quân sự hiện hữu Nhật Bản cũng đang và sẽ trở thành một lực lượng quân sự thứ tư. Tuy đìều 9 của hiến pháp Nhật, do Mỹ áp đặt năm 1947, không cho phép nước này có quân đội nhưng với tham vọng đóng vai trò quốc tế quan


trọng lực lượng phòng vệ (force d’auto-défense) của Nhật có thể nhanh chóng trở thành một quân đội chính qui hùng hậu. Các nhà ngoại giao Nhật đã nhiều lần tiết lộ rằng trong chính sách của Nhật “Việt Nam đóng vai trò làm thế thăng bằng trong quan hê chính trị quân sự giữa Nhật và Trung Quốc”. Và Nhật luôn luôn nhắc nhở chính quyền Hà Nội phải tôn trọng tự do và nhân quyền trong nước. Trong tương lai thế thăng bằng lực lượng chân vạc hiện hữu sẽ trở thành thế tứ trụ với sự xuất hiện của một cường quốc quân sự Nhật. Do đó Việt nam càng cần phải hợp tác chặt chẽ hơn với nước này. Các mưu đồ thôn tính hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ vi phạm chủ quyền riêng Việt Nam mà còn vi phạm

chủ quyền của nhiều quốc gia lân cận khác như Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai, In Dô Nê Xia và Bruneï. Các quần đảo này chiếm một vị trí chiến lược quan trọng vì 50% hàng hóa và 30% dầu hỏa chuyển vận trên Biển Đông đều phải qua các địa điểm này Nằm giữa giao đìểm của nhiều trục giao thông trong vùng, Việt Nam có ưu thế để qui tụ các nước lân cận, nhất là các quốc gia thành viên của “Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á”(ASEAN) trong một liên minh quân sự để tạo nên một “lưc lượng răn đe” (force de dissuasion) hầu đương đầu với sức bành trướng của Trung Quốc. Liên kết chặt chẽ với các quốc gia lân cận sẽ tạo nên một đối trọng đáng kể và cho Việt Nam một tiếng nói lớn mạnh trên các diễn đàn quốc tế, nhất là Việt Nam đang là thành viên của Hội

Ủng hộ Cộng Đồng

Họ và Tên Bà Lâm Huỳnh Hoa (CN Viet Nam) T.C

200.00 200.00

Ủng hộ Hội chợ Tết Canh Dần Ông Bà Lâm Xuân Quang

Ñng h¶ Gi‡ T° (ti‰p theo) Ông Vũ Văn Đệ Hội Y Sĩ Ông Đặng Đình Quảng Ông Phạm Thế Thông Hội Tuổi Vàng Rồng Vàng

T.C

T.C

50.00 50.00

60.00 1000.00 100.00 100.00 200.00

Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Một chính sách đối ngoại như vậy hoàn toàn phù hợp với các định luật bất biến nói trên và đáp ứng với công cuộc bảo vệ quyền lợi nước nhà. Nhưng để họat động ở bên ngoài được hữu hiệu người dân Việt cần phải như câu châm ngôn Pháp nói : “quét rác trước cửa nhà mình”, chỉnh đốn nội bộ, tạo dựng trong nước một chính thể lành mạnh được bên ngoài kính nể bằng cách bảo vệ dân chủ tự do, tôn trọng nhân quyền, loại bỏ tham nhũng trong guồng máy chính quyền. Với một chính thể như vậy thì ngưới dân trong và ngoài nước mới có thể đoàn kết để nói lên quyết tâm bảo vệ tổ quốc trong tinh thần “Hội Nghị Diên Hồng”.

Từ Trì - Paris, 1-2010

Ủng hộ báo Quốc Gia Họ và Tên Ông Bà Lâm Xuân Quang Ông Trần Nương

T.C

50.00 200.00 250.00

Ủng Hộ Giỗ Tổ & Quốc Hận 30-04 Ông Trần Đình Thắng Ông Phan Văn Ninh Ông Nguyễn Như Thành Ông Đặng Tấn Nghi Bà Phó Trâm Ông Đào Bá Ngọc Nhà hàng Phương Thảo Ông Nguyễn Minh Lý

50.00 50.00 50.00 30.00 50.00 50.00 50.00 40.00

1830.00

Tổng Cộng

c¶ng ÇÒng NgÜ©i ViŒt QuÓc Gia vùng Montréal và Tåp chí QuÓc Gia trân tr†ng cám Ön quí vÎ. QuÓc Gia 21

2 330.00


ti‹u sº

L

ê Thị Công Nhân sinh tại Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam; trú tại tập thể Văn phòng Chính phủ, phường Phương Mai, Hà Nội, xuất thân trong một gia đình công nhân viên chức và tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội năm 2001. Năm 2004, cô tốt nghiệp lớp luật sư và công tác tại bộ phận thư ký quan hệ quốc tế, Văn phòng Đoàn Luật sư Hà Nội. Năm 2005, thôi việc tại Văn phòng Đoàn Luật sư Hà Nội để về làm việc tại văn phòng Luật sư Thiên Ân. Lê Thị Công Nhân là thành viên của Khối 8406 và đồng thời là đảng viên của Đảng Thăng Tiến Việt Nam. Lê Thị Công Nhân bị bắt tạm giam tại Hà Nội vào ngày 6 tháng 3 năm 2007 với lý do “hoạt động tuyên truyền chống nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, và bị xóa tên khỏi danh sách Đoàn Luật sư Hà Nội . Vào ngày 11 tháng 5 năm 2007, sau hơn hai tháng tạm giam, cô và Nguyễn Văn Đài được đem ra xét xử, bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế. Ngày 06 tháng 03 năm 2010, Lê Thị Công Nhân đã thi hành xong 3 năm tù, cô được thả về nhưng vẫn chịu quản chế tại địa phương. Lê Thị Công Nhân tham gia phong trào đòi đa nguyên, ña ñäng. Lê Thị Công Nhân đã từng viết tham luận, nội dung tố cáo Tổng Công đoàn Việt Nam hiện nay không bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền và kêu gọi thế giới hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất để lập ra những công đoàn độc lập cho công nhân Việt Nam, thể hiện đúng chức năng của Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu trong điều 4 Hiến pháp Việt Nam 1992 . (“Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.”) Cô là phát ngôn viên công khai của Đảng Thăng Tiến Việt Nam, cô đã trả lời một số cuộc phỏng vấn của các đài và báo chí ngoại quốc và viết

QuÓc Gia 22


bài nói về thực trạng của Việt Nam . Vào tháng 12 năm 2006, trả lời cuộc phỏng vấn hội đoàn Lên Đường ở hải ngoại với những lời lẽ phê phán chỉ thị số 37/2006/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc quy định một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, cô nói: “Là một luật sư thì tôi xin khẳng định với những hiểu biết cá nhân của mình rằng chỉ thị 37-TTG ngày 29/11/2006 là hoàn toàn vi hiến” . Cô đã được mời tham dự Hội nghị Công đoàn Tự do tổ chức tại Warszawa, thủ đô của Ba Lan, (28 - 30 tháng 10 năm 2006), nhưng cô không tham dự được vì bị công an giữ lại trước khi lên máy bay. Từ đầu tháng 12 năm 2006 đến tháng 2 năm 2007, cô đã cùng luật sư Nguyễn Văn Đài tổ chức các lớp học về dân chủ và nhân quyền, vận động giới thiệu các tổ chức như Đảng Dân chủ, Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Khối 8406... cho một số sinh viên, trí thức và người khiếu kiện, tại văn phòng luật sư Thiên Ân. --------------------...... Quốc hội Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Ân xá Quốc tế, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Phóng viên Không biên giới, đã lên tiếng phản đối việc Lê Thị Công Nhân bị bắt giữ và xét xử. Một số hội đoàn của người Việt hải ngoại đã đăng những bài thơ, bài hát ca ngợi Lê Thị Công Nhân. Lê Thị Công Nhân là một trong tám người Việt Nam được tổ chức Theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW), một tổ chức phi chính phủ, trao giải thưởng Hellman/Hammett năm 2008 (trích Wikipedia) (xem ti‰p ----> ) QuÓc Gia 23


tin tÙc liên quan lê thÎ công nhân Luật sư Lê Thị Công Nhân về nhà sau khi mãn hạn tù ba năm- Thanh Phương - RFI 06/03/2010 Hôm nay, nhà bất đồng chính kiến Lê Thị Công Nhân đã về nhà sau khi mãn hạn tù ba năm với tội danh ‘’tuyên truyền chống Nhà nước’’. Tuy nhiên, cuộc trở về đã không diễn ra như ý muốn của gia đình. Theo lời bà Trần Thị Lệ, mẹ của Lê Thị Công Nhân, bà đã đến trại giam số 5 ở Thanh Hóa từ sáng sớm với hy vọng sẽ được đón con ngay từ cửa nhà tù. Nhưng sau khi ngồi chờ khoảng hai tiếng đồng hồ, bà mới được ban quản lý trại giam thông báo là Lê Thị Công Nhân đã được công an chở thẳng về nhà. Khi bà Trần Thị Lệ quay trở về nhà thì vẫn chưa thấy con vì mãi đến 5 giờ chiều luật sư Lê Thị Công Nhân mới được đưa về đến nhà. Theo lời bà Trần Thị lệ, do mệt mÕi vì đường xa và có lẽ do xúc động, căng thẳng, Lê Thị Công Nhân đã xỉu khi về đến đầu ngõ và nay đang nằm tịnh dưỡng ở nhà. Xin nhắc lại là sau khi mãn hạn tù, luật sư Lê Thị Công Nhân còn bị quản thúc tại gia trong 3 năm. Còn đồng nghiệp của cô là luật sư Nguyễn Văn Đài hiện vẫn tiếp tục thọ án tù 4 năm tù và ba năm quản chế với cùng tội danh ‘’ tuyên truyền chống Nhà nước’’. Hai người đã bị đem ra xử vào năm 2007. Vào đầu tháng 2 vừa qua, hai

tổ chức Quan sát quốc tế các luật sư và Liên hiệp quốc tế các luật sư đã tổ chức họp báo ở Paris tại một phòng họp ở Quốc hội Pháp để đánh động dư luận về tình trạng vi phạm quyền của các luật sư ở Việt Nam và đặc biệt là về tình trạng giam cầm những luật sư như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài và Lê Công Định. LS Lê Thị Công Nhân trả lời phỏng vấn RFA ngay sau khi ra tù - Gia Minh, phóng viên RFA, 2010-03-06 Nữ luật sư bất đồng chính kiến tại Việt Nam, Lê thị Công Nhân, hôm nay mãn hạn ba năm tù về tội tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, theo điều 88 Bộ Luật Hình sự. Sau khi về đến nhà, luật sư Lê Thị Công Nhân dành cho quí thính giả Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự do cuộc nói chuyện sau đây. Sau 3 năm tù Gia Minh: Chào LS Lê Thị Công Nhân. Trước hết xin thay mặt quý thính giả cuả Đài Á Châu Tự Do, chúng tôi chia vui với Luật Sư đã về với gia đình, thì thưa LS, xin LS có thể chia sẻ cái cảm xúc và những ý tưởng cuả LS vào lúc này ạ. LS Lê Thị Công Nhân: Chào anh Gia Minh và xin chào quý vị. Tôi vừa về nhà được khoảng 2 tiếng đồng hồ và tâm trạng của tôi bây giờ cũng không có gì đặc QuÓc Gia 24

biệt so với những người tù khác khi được về do đó tôi cảm thấy rất là bối rối, nhưng có một cái khác, đó là tôi không thể được tự do như đối với nhũng người tù khác khi được về, đấy là cái điều mà tôi cảm thấy thất vọng rất là lớn. Họ giữ tôi ở lại nhà tù rất là lâu và họ áp giải tôi về tận nhà. Và trước khi về nhà họ đưa tôi ra uỷ ban phường và có sẵn hết một cái gọi là biên bản trình diện mà tôi cũng không nhớ rõ, tên gọi là biên bản trình diện về quản chế tại địa phương trong đó có nội dung rằng họ sẽ quản chế tôi và tôi thì phải tuân thủ họ, thì tôi cũng có viết vào đấy một câu là cái ý kiến của tôi, nguyên văn như thế này: “Tôi không chấp nhận bản án tòa đã tuyên cho tôi trong đó có phần quản chế này.” và tôi ký tên. Và tôi nghĩ rằng đấy cũng là một tuyên bố ngắn gọn, chính xác và xuyên suốt về thái độ của tôi đối với vụ án mà nhà nước VN đã xử tôi 3 năm tù giam và 3 năm quản chế. Về phần gia đình thì rất là vui và đã có nhiều người bạn đến thăm tôi ngay lập tức, bởì vì tôi về cuối giờ chiều muộn và họ đi làm họ biết tin tôi về và họ đã ghé qua, một số rất là xúc động. Cũng có điều đáng buồn về mặt tình cảm, bởi vì thực sự mà nói vụ án của tôi là án về thái độ, tinh thần, tình cảm là chính cho nên khi những sự việc như thế này xảy ra thì quả thực là tôi đã mất đi một số những người bạn, những tình bạn đã được xây đắp


rất là lâu từ thời niên thiếu, và đấy là một điều mà tôi cảm thấy là một người thanh niên tôi rất là sốc vì những điều như thế. Những sự việc như vậy và ngày hôm nay có vài người bạn học cùng với tôi, họ là những người rất là bình thường thôi, họ đến thăm tôi và tôi thực sự tôi cảm ơn họ về điều đó, bởi vì gia đình thì như anh biết đấy, nói chung là gia đình mình đã theo mình, đấy là cách tôi nói trong tù đấy, trừ những con người quá ư là tội lỗi từ bỏ gia đình thì họ mới bị gia đình bỏ rơi, còn lại thì gia đình luôn theo chúng ta. Nhưng mà tình bạn thì tôi cảm thấy rằng là xây đắp thì vô cùng khó mà cuối cùng thì nó đã bị mất đi. Vâng, tôi đã mất nhiều tình bạn như vậy và tôi cảm thấy buồn bởi vì tôi nghĩ rằng đối với cá nhân tôi tình bạn là vô cùng quan trọng. Và ngày hôm nay có những người bạn học rất là quan tâm đến tôi, họ đã đến với tôi rất là vui. Gia Minh: Thưa Luật Sư, quanh nhà cuả LS thì những người bạn đó đến thì họ có gặp những trở ngại gì không? LS Lê Thị Công Nhân: Họ cũng có kể với tôi là không gặp trở ngại nào nhưng gặp rất nhiều những gương mặt công an mà họ đã quen thuộc từ mấy năm vừa qua. Chính xác là họ nóí như vậy. Vâng, giống như là những người công an đấy họ muốn xem tôi về đã nhận được sự quan tâm như thế nào cuả gia đình, cuả cộng đồng, cuả bạn bè. Và họ quan sát như thế trước đã chứ chưa có sự ngăn cản nào những người bạn tôi đến thăm, nhưng hoàn toàn là những gương

mặt mật vụ rất là nhiều quanh nhà tôi, vì nhà tôi là nhà tập thể ở trên gác và dưới nhà là nơi để xe. Khu nhà tôi là khu nhà tập thể và họ đứng ở dưới rất là đông Gia Minh: Vâng. Thưa Luật Sư, đối với những người láng giềng thì ra sao? LS Lê Thị Công Nhân: À vâng, những người láng giềng thì họ cũng vaò hỏi thăm tôi, nói là “Chúc mừng, chúc mừng cháu, chúc mừng em đã trở về. Nhìn mạnh khỏe thế này là mừng rồi”. Họ nói những câu như vậy, và tôi nghĩ rằng những câu nói đó rất là chân thành, bởi vì trước khi tôi đi tù thì có một số những người hàng xóm họ có những thái độ rất là lạnh lùng, thậm chí là một thái độ hằn học, nhưng mà ngày hôm nay tôi cũng chưa gặp hết họ, nhưng mà tôi gặp một vài người thì nói chung tôi nghĩ thái độ này cũng trở nên bình thường hoá đi một chút. Tôi không từ bỏ Gia Minh: Sau khi ra khỏi trại tù rồi thì, nhưng mà cũng rất nhiều quý thính giả cũng đều biết rằng điều kiện ở trong trại giam rất là khó khăn, gian khổ, Luật Sư có thể chia sẻ là điều gì giúp cho LS vượt qua được nhũng điều kiện khắc nghiệt ở trong trại tù suốt cả 3 năm qua, thưa LS? LS Lê Thị Công Nhân: Biết nói thế nào nhỉ? Đấy như tôi vẫn nói vụ án của tôi là án thái độ, đại khái tôi nói một cách nôm na là như thế. Án hoàn toàn là án thái độ, án tinh thần mà lẽ ra là không nên có những vụ án như vậy và không được phép có, nhưng cuối cùng nó đã có trên đất nước này và tôi là một nhân chứng sống cho sự việc đấy, mà án tinh thần QuÓc Gia 25

thì như anh biết tinh thần là cái anh không thể đo được, không thể đếm được, không thể cầm nắm, không thể đánh tan vỡ nó đi được, trừ khi chính người chủ cái tinh thần đó người ta bỏ đi. Tôi thì không từ bỏ. Gia Minh: Hẳn nhiên trước khi ra tù thì LS cũng có nghĩ đến giai đoạn mình sẽ về đến nhà và thời điểm tiếp theo đây thì những điều LS nghĩ cho những ngày trước mắt này là như thế naò ạ? LS Lê Thị Công Nhân: Cái này thì có một phần đời sống của cá nhân riêng tư thì tôi nghĩ rằng cũng có thể nói một cách ngắn gọn ví dụ như tôi sẽ đi khám sức khỏe chẳng hạn hoặc là chăm sóc về mặt hình thức cho bản thân một chút, còn về mặt công việc thì tôi không thấy rằng có một sự thay đổi nào về lý tưởng của tôi để từ đó tôi làm nên những việc và vì những việc đó mà tôi đã đi tù. Tôi không từ bỏ. Tôi không từ bỏ không phải vì tôi ngoan cố, hay là tôi lỳ lợm, hay là tôi sỉ diện, mà tôi không từ bỏ là bởi vì 3 năm tù vừa rồi là khoảng thời gian cực kỳ khác thường trong cuộc đời của tôi. Tôi đã nhận ra một điều là những cái mà tôi đã biết, những cái dẫn đến xúc cảm mãnh liệt là mình phải đấu tranh cho tự do và dân chủ và nhân quyền thì tôi chỉ biết có một phần thôi, và khi vào tù thì tôi biết nốt phần còn lại. Và tôi cảm thấy rằng là cái việc tôi bị đi tù giống như là một sai lầm của nhà nước này hơn là một cái gì đó thiệt hại đối với tôi. Còn những công việc cụ thể nhất và trước mắt thì quả thực trong hoàn cảnh hiện nay tôi cảm thấy rằng không có quá nhiều sự thay


đổi so với trước đây 3 năm khi mà tôi đi tù, cho nên có lẽ cũng không thể nói trước được là mình sẽ làm một việc đó thực sự là hiệu quả, hoặc là chính quy, chuyên nghiệp để mà được kết quả lớn lao, bởi vì cái đó là do hoàn cảnh của xã hội, và thời cuộc bây giờ tôi thực sự cảm thấy không khác mấy so với trước đây tôi đi tù, thậm chí là nhà nước này ngày càng trở nên nghiệt ngã hơn, thì có lẽ cách thức làm việc hoặc là về một phương diện nào đó cũng không tiện nói ra ở đây, thì cũng không có gì đổi mới hơn hẳn. Gia Minh: Thưa Luật Sư, về cái quang cảnh, khung cảnh mà từ khi LS rời gia đình để đi vào trại giam và trên đường trong ngày hôm nay từ trại giam về, từ nhà tù về nhà thì LS thấy quang cảnh, môi trường có cái gì khác không? LS Lê Thị Công Nhân: Cái này thì cũng rất là ngắn gọn và rất là hiện thực khách quan thôi, nhãn quan nhìn thấy. Sau 3 năm rôi đi tù thì con đường tôi trở về nó dài 220 kilômét, từ tỉnh Thanh Hoá trong huyện miền núi về đến Hà Nội và đi dọc theo Quốc Lộ 1 là chính, một số đoạn qua nhiều tỉnh Ninh Binh, Hà Nam, Nam Định, rồi về Hà Nội, thì tôi nói một cách ngắn gọn mà câu này nhiều người đã nói rồi, và thực sự tôi thấy đúng như thế: “Có một sự phát triển hơn nhưng cũng không phải là đáng kể lắm, nhưng mà chất lượng và môi trường sống thì giảm sút một cách khủng khiếp”. Và thú thực là trên đường đi về thì tôi mệt mỏi tới mức độ tôi nghĩ giá mà bây giờ đang ngồi trong cái nhà tù ở trại giam số

5 thì có lẽ tôi cảm thấy dễ chịu hơn là ngồi trong cái xe ô-tô với những con người như thế và trong một cái môi trường như thế. Đấy là tôi nói về cái môi trường sống ngoài đường phố. Ở cái nhà tù đó thì đặc biệt nó ở giữa cánh đồng, chung quanh không có nhà máy, khu công nghiệp hay khu dân cư gì cả, nó lại có rừng có núi, đại khái nó rất là trong lành, cả ngày không hề có nghe tiếng xe nào hết. Vâng tôi thấy có một sự phát triển nói chung về mặt kinh tế nhưng mà sự phát triển đó theo tôi thì cũng không đáng kể lắm, còn môi trường sống thì đi xuống một cách nghiêm trọng. Về đến thành phố tôi cảm thấy ngột ngạt, khó thở và đông người vô cùng và rất là bẩn. Điều đấy làm tôi cảm thấy buồn vì về Hà Nội thì tôi rất là yêu Hà Nội. Gia Minh: Xin chân thành cảm ơn Luật Sư đã dành cho những giây phút rất là quý báu khi mà LS vừa mới về đến với gia đình. Và một lần nữa xin thay mặt quý thính giả chia vui với LS và mong sẽ còn có nhiêù dịp để được nói chuyện với LS. LS Lê Thị Công Nhân: Cảm ơn anh.

Theo luật sư Lê Thị Công Nhân, thời gian tù tội vừa qua chỉ giúp cô ‘’kiên định thêm niềm tin’’ trong công cuộc đấu tranh. Theo hãng AFP, cô Lê Thị Công Nhân đã được ra khỏi nhà tù vào ngày thứ bẩy 06/03 vừa qua sau khi thọ án 3 năm tù giam. Nhưng cô vẫn bị ba năm quản chế. Vào hôm qua (09/03), theo lời kể lại của cô, thì cô đã bị Công an Việt Nam câu lưu vài tiếng đồng hồ với lý do là đã vi phạm lệnh quản chế: đi quá xa nhà để mua sắm. Chính vì lý do đó mà một cuộc phỏng vấn trực tiếp được dự trù với hãng AFP đã bị hủy bỏ. Theo AFP, luật sư Lê Thị Công Nhân không công nhận “bản án” nhắm vào cô. Lý do là trong các văn bản luÆt pháp Việt Nam, không có một từ ngữ nào cấm việc trả lời phỏng vấn người trong nước hay ngoại quốc’’. ...Ngay sau vụ Công an Việt Nam câu lưu Luật sư Lê Thị Công Nhân vào hôm qua trong ba tiếng đồng hồ, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới, trụ sở tại Pháp vào hôm nay đã ra thông cáo tố cáo hành động của chính quyền Việt Nam.

Luật sư Lê Thị Công Nhân xác định sẽ tiếp tục đấu tranh vì dân chủ tại Việt Nam-RFITrọng Nghĩa 10/03/2010 Theo hãng tin Pháp AFP, trả lời phỏng vấn qua điện thoại ngày 10/03/2010, nhà luật sư trẻ vừa mãn hạn tù 3 năm, cho biết là cô sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, kể cả khi cô bị “gạt ra bên lề xã hội’’.

LS Lê Thị Công Nhân, nhiều cựu tù dự thánh lễ ở nhà thờ Thái Hà- NVOnline March 20, 2010 HÀ NỘI (TH) - Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, ký giả Nguyễn Vũ Bình, Luật Sư Lê Quốc Quân là một số khách đến tham dự một thánh lễ Công Giáo ở nhà thờ Thái Hà, theo một bản tin tường thuật của nhà báo tự do Nguyễn Hữu Vinh

QuÓc Gia 26


trên báo điện tử Công Giáo Nữ Vương Công Lý và một số báo điện tử Công Giáo khác. Cả 4 người nói trên đều đã bị tù trong chế độ CSVN chỉ vì tham gia đấu tranh đòi nhân quyền. Riêng nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân mới mãn hạn tù ngày 6 tháng 3, 2010 vừa qua. Bản tin của ông Vinh viết, “Tối ngày 19 tháng 3, 2010, tại nhà nguyện Thánh Giê-ra-đô thuộc giáo xứ Thái Hà, cộng đoàn Vinh dâng Thánh lễ kính Thánh Giuse, quan thầy của một số anh em trong cộng đoàn Vinh tại Hà Nội. Thánh lễ cũng cầu nguyện cho một thành viên trong cộng đoàn là anh Mathia Vũ Hoàng Quang. Anh Quang đã bị một số người đi xe biển xanh vào bắt đi từ lớp học tại Học Viện Tài Chính, bị đánh đập dã man tại một nơi bí mật rồi quẳng ra giữa cánh đồng khi đang bị ngất xỉu và hiện anh đang được điều trị vì chấn thương quá nặng nề. Tham dự Thánh lễ, cộng đoàn bất ngờ được đón nhiều quí khách là bạn bè của anh chị em trong cộng đoàn và những người quan tâm đến Thánh lễ cầu nguyện này như Luật Sư Lê Thị Công Nhân, một tín hữu Kito mới được trở về với gia đình nay tham dự Thánh lễ, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, anh Nguyễn Vũ Bình và một số người ngoài Kito đến tham dự tìm hiểu về Thánh lễ Công Giáo. Cộng đoàn đã sốt sắng dâng Thánh lễ kính Thánh Giuse, dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện cho anh chị em trong cộng đoàn, cách riêng cho anh Mathia Vũ Hoàng Quang đang bị nạn. Trong lời nguyện Thánh

lễ, cộng đoàn đã tha thiết cầu xin Thiên Chúa mở lòng, soi sáng cho những kẻ đang lấy bạo lực làm cách hành xử trong xã hội biết đó là con đường sai lầm, là con đường dẫn xã hội đi đến chỗ diệt vong. Thánh lễ do hai Linh Mục Gioan Lưu Ngọc Quỳnh và Phê rô Nguyễn Văn Khải đồng tế. Bài giảng trong Thánh lễ, Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Khải đã nêu bật chủ đề Thánh cả Giuse là mẫu gương cho những người nam học tập về tấm lòng đạo đức, mến Chúa, vâng lời, tận hiến. Thánh cả Giuse là tấm gương chói ngời về việc giáo dục con cái trong việc hình thành đạo đức làm người. Thánh lễ được cử hành long trọng sốt sắng và đầy tình yêu thương, hiệp nhất giữa mọi người không phân biệt tôn giáo, chính kiến và vị thế xã hội. Nhiều giáo dân là nạn nhân Thái Hà cũng đã đến chúc mừng Luật Sư Lê Thị Công Nhân được về với gia đình và chia sẻ với cô những vất vả trong những tháng ngày qua. Chia sẻ sau Thánh lễ, Luật Sư Lê Thị Công Nhân đã nói lên xúc cảm của mình khi được tham dự Thánh lễ cùng với cộng đoàn và nhất là những nạn nhân Thái Hà, cô nói: “Tôi là luật sư, trước đây khi giúp đỡ những người dân oan, chúng tôi gọi nhau là chiến sĩ. Sau đó, tôi bị bắt oan, bị án oan và tù oan thì trở thành dân oan Lê Thị Công Nhân, vì vậy xin chia sẻ với các dân oan ở đây và toàn thể giáo dân, cộng đoàn những vất vả đã phải chịu thời gian qua.” Toàn thể giáo dân và cộng QuÓc Gia 27

đồng đã nhiệt liệt hưởng ứng lời chia sẻ của cô - Dân oan Lê Thị Công Nhân. Cũng chia sẻ sau Thánh lễ, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn nói, “Tôi hiện chưa theo tôn giáo nào, đây là lần đầu tôi tham dự một Thánh lễ Công Giáo, những gì tôi thấy hôm nay rất khác với những gì tôi đã tưởng tượng trước đây, tôi xin cảm ơn cộng đoàn đã cho tôi tham dự một Thánh lễ long trọng đầy tình yêu mến.” Cùng tham dự Thánh lễ, có một vị khách ngoại quốc, trong lời chia sẻ sau Thánh lễ, vị khách này tỏ lòng cảm ơn với tất cả anh chị em, về sự khác nhau khi tham dự Thánh lễ Công Giáo ở các nơi khác và ở Việt Nam. Ở đây, mọi người thể hiện sự tôn trọng, yêu thương nhau trong tình thân ái và hòa bình. Luật Sư Lê Quốc Quân đã dịch những lời chia sẻ này trong những tràng vỗ tay của cộng đoàn và giáo dân vang lên không ngớt. Tất cả cộng đoàn giáo dân và khách đến dự đã cùng nắm tay nhau dâng lên Thiên Chúa bài hát “Hiệp Nhất.” Ðiều đọng lại sau Thánh lễ khi mọi người ra về là sự thân ái và hòa bình đoàn kết của tất cả mọi người tham dự Thánh lễ long trọng này. Hình ảnh cảm động và lời bài hát: “Lạy Cha, xin hãy cho mọi người hợp nhất nên một, như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha” hẳn vẫn in sâu trong tâm trí mọi người. (xem ti‰p ----> )


Hy vọng gì khi luật sư Lê Thị Công Nhân được trả tự do? Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA 2010-03-09

Photo courtesy Vietnamexodus LS. Lê Thị Công Nhân khóc khi nhận những bó hoa của bạn bè gởi đến.

H

ầu hết các nhà hoạt động dân chủ tại Việt Nam đều bị ghép tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” hoặc “âm mưu lật đổ chế độ”, vì đã công khai lên tiếng vận động ôn hoà cho dân chủ và nhân quyền. Gán ghép những tội danh nặng nề. Với tư cách thành viên khối 8406, từng ngồi tù và bị quản chế  nhiều năm, từ Huế linh mục Phan Văn Lợi nói, việc gán ghép cho những nhà hoạt động dân chủ các tội danh nặng nề, là chuyện vô lý và bất công, cho nên các nhân vật bất đồng chính kiến đang

nguyên, đa đảng. Mong rằng đất nước chúng ta sẽ có những con người được tự do phát biểu, nói lên lời chân thành của mình, mà không bao giờ bị quy chụp cả.” Bà Lê Thị Minh Tâm, mẹ sinh viên Nguyễn Tiến Trung bị kêu án 7 năm tù cộng  3 năm quản chế,  trong cùng phiên toà với luật sư Lê Công Định, và các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, cũng nuôi nhiều hy vọng đối với trường hợp con mình: “Khi nghe tin Lê Thị Công Nhân được ra tù, tôi rất mừng cho cô được tự do. Liên tưởng đến con mình, tôi cũng mong Trung được nhanh đến ngày ấy, mong có những đợt ân xá, các vị lãnh đạo nhà nước ta thấy như thế là quá đáng và giảm án để Trung được trở về sớm. Thật ra, tiếng nói của Linh mục Phan Văn Lợi: Trung cũng chỉ nhằm mục đích “Rất vui mừng khi thấy cô Lê là xây dựng đất nước cho tốt đẹp Thị Công Nhân trở về với gia hơn, chứ không có ý đồ gì để làm đình, chúng tôi không gọi là hại cho đất nước cả.”  được trả tự do, vì cô ra khỏi nhà tù nhỏ để ra ngôi nhà tù lớn hơn Đòi hỏi dân chủ không vi phạm là cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt luật pháp Nam. Nhân dịp này chúng tôi Một trong những người có mặt mong rằng, tất cả mọi nhà đấu  khi luật sư Lê Thị Công Nhân tranh trong nước, thường bị cộng trở về nhà, cô Lê Thị Kim Thu, sản gán cho là phạm tội hình một dân oan từng bị bắt giam sự với những tội danh ghê gớm hàng chục lần trong các vụ khiếu như thương tiền, làm gián điệp, kiện, mong rằng những nhà dân lật đổ. Thật ra họ chỉ thật tâm chủ khác sẽ được phóng thích, muốn xây dựng một đất nước đa ngồi tù phải được sớm trả về với gia đình và xã hội: Các nhà đấu  tranh trong nước, thường bị cộng sản gán cho là phạm tội hình sự với những tội danh ghê gớm như làm gián điệp, lật đổ CP. Thật ra họ chỉ thật tâm muốn xây dựng một đất nước đa nguyên, đa đảng. Mong rằng đất nước chúng ta sẽ có những con người được tự do phát biểu, nói lên lời chân thành của mình, mà không bao giờ bị quy chụp cả.

QuÓc Gia 28


vì họ không hề chống đối nhà nước, như các tội trạng được toà nêu lên: Họ chỉ nói lên sự thật trên đất nước, quê hương mình. Nhà nước Việt Nam nên ngưng tay đàn áp và trả tự do cho họ, vì chỉ biết nói lên sự thật, không có gì là sai trái hay là lật đổ chính quyền, chống đối nhà nước, tôi thấy nói như vậy là quá đáng. Cô Lê Thị Kim Thu: “Chúng tôi đón luật sư Lê Thị Công Nhân từ nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn, cảm tưởng của tôi rất vui mừng, sung suớng, hai, ba đêm đó tôi đã không ngủ, vì tôi đã ở trong cùng tâm trạng khi bước ra khỏi nhà tù. Tôi hét lên là ‘Nhân về rồi’, mọi người trong nhà tuôn ra, ôm nhau khóc. Là một người dân oan, tôi chỉ biết chia sẻ rằng những người bất đồng chính kiến can trường, có bản lĩnh dám đứng lên đối đầu với chế độ cầm quyền để nói lên sự thật, những cái bất công mà người dân trong nước phải gánh chịu suốt bao nhiêu năm qua. Việc đó cần phải lên tiếng quyết liệt, mạnh mẽ hơn nửa, hiện còn một số nhà bất đồng chính kiến như thầy giáo Vũ Hùng, anh Nguyễn Xuân Nghĩa, cô Phạm Thanh Nghiên, những người đó đã bị bắt. Họ chỉ nói lên sự thật trên đất nước, quê hương mình. Nhà nước Việt Nam nên ngưng tay đàn áp và trả tự do cho họ, vì chỉ biết nói lên sự thật, không có gì là sai trái hay là lật đổ chính quyền, chống đối nhà nước, tôi thấy nói như vậy là quá đáng”.

tiếp tục bị quản chế tại nhà nhấn mạnh, công luận thế giới rất quan tâm đến vấn đề dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, do đó việc giam giữ những người bị ngồi tù vì nguyện vọng dân chủ phải được nhà nước giải quyết thỏa đáng: Còn rất nhiều chiến sĩ dân chủ hiện nay nằm trong gông sắt của chế độ cộng sản. Họ không vi

đã đặt vấn đề với chánh phủ Việt Nam, trong quá trình hợp tác làm ăn, phát triển kinh tế, họ đã chú trọng đến  vấn đề nhân quyền. Tôi cho đó là điều rất phấn khởi. Tôi hy vọng đảng cộng sản, nhà nước Việt Nam hãy vì lợi ích của dân tộc, đất nước, nhân dân của mình mà đặt lợi ích đất nước lên trên hết, trên quyền lợi của đảng và tổ chức,  bởi vì dân tộc là trên

chị Mai vợ của Thầy Giáo Vũ Hùng, và chị Trang vợ của Phạm Văn Trội.Photo courtesy Vietnamexodus phạm bất cứ luật pháp nào của Việt Nam hay quốc tế,  bởi vì họ chỉ có tiếng nói và tư tưởng dân chủ,  để đấu tranh cho đất nước này tiến bộ và phát triển.

hết. Hãy xem xét lại, thả ngay lập tức và vô điều kiện đối với các chiến sĩ dân chủ hiện nay đang ngồi tù tại Việt Nam, để góp phần vào công cuộc phát triển đất nước.”

Ông Vi Đức Hồi “Còn rất nhiều chiến sĩ dân chủ hiện nay nằm trong gông sắt của chế độ cộng sản. Họ không vi phạm bất cứ luật pháp nào của Việt Nam hay quốc tế,  bởi vì họ chỉ có tiếng nói và tư tưởng dân chủ,  để đấu tranh cho đất nước này tiến bộ và phát triển. Cộng sản Việt Nam đã ghép tội họ là chống phá đất nước, lật đổ chế độ. Tôi thấy cái đó rất bất công. Ông Vi Đức Hồi, người Trước áp lực về phía chánh phủ bị khai trừ khỏi đảng và hiện Hoa Kỳ, rồi liên hiệp Châu Âu,

Qua những phát biểu vừa được gởi đến quý vị, hầu như mọi người đều có cùng suy nghỉ là những bán án dành cho các nhân vật bất đồng chính kiến, chỉ nhằm xử phạt, bỏ tù  các nhà hoạt động dân chủ,  tùng lên tiếng vận động cho quyền tự do chính đáng của con người và những lập luận do Hà Nội đưa ra, luôn bị công luận trong và ngoài nước bác bỏ.

QuÓc Gia 29


Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

T

ôi chưa bao giờ gặp Em Chỉ thấy hình trên báo Mà sao cung trầm phím dạo Lên tơ lòng ray rứt ngày đêm ? Tóc đen từng sợi nhỏ Của Em, trên vầng trán Sao lại vàng khô, nhuốm màu khổ nạn Trên quê hương tang tóc đọa đày ? Em cố viết những hàng chữ thẳng ngay Lấy máu tim làm mực. Dù quanh Em không còn Sự Thực Bao dối gian vây bủa từng ngày. Họ đã đổi thay Ngay từng trang Lịch Sử. Dưới lớp da người là quả tim thú dữ Mang dòng máu tanh nồng. Họ bắt Em tô hồng Những điều không thực. Họ buộc Em quy hàng bạo lực Ngòi bút bẻ cong. Làm con rối tung hô, quanh quẩn chạy vòng Theo lệnh truyền của đảng. Nhưng mắt Em ngời sáng Lửa tinh anh rực rỡ tâm hồn. Em thẳng nhìn vào mặt lũ quan ôn Thét vang lời đối kháng. Tiếng vọng về từ Mê Linh chiếu rạng Má hồng gươm báu trao tay. Bành tượng uy nghi, lụa phất cờ bay Thêm hơi thở, Em chưa hề ngã gục.

Dòng máu Triệu Trưng không bao giờ chịu nhục Em hiên ngang đứng vững tuyến đầu ! Đôi tay mềm, còng sắt máu thâm sâu Nghe con khóc, Em vẫn bền tâm chí. Thân liễu yếu nhưng hồn không ủy mị Em mỉm cười thách đố lũ sài lang. Từ xà lim tăm tối vẫn còn vang Lên tiếng thét vì Nhân Quyền, Dân Chủ ! Trong bóng đêm, tóc nhung mềm sợi rủ Thành vòng hoa đan kết núi sông hồn. Em ngẩng mặt, Đời giá trị gì hơn Là tận hiến, giữ hương màu Áo Trắng. Hoa đấu gươm mà gươm mòn hoa thắng Vì trong Hoa đầy Lẽ Sống Con Người. Em là Hoa, vườn Tổ Quốc thêm tươi Chào Xuân mới sẽ về thơm đất nước. Bạo lực vây quanh, Em kiên cường tiến bước Gót hồng Em tươm máu nở đài sen. Rồi mai đây, đời bóng tối đêm đen Không còn nữa, bình minh về rạng chiếu. Trời đất đổi thay, nhịp cung đàn muôn điệu Bừng thanh âm vang triệu tiếng đồng ca. Em nhìn con chạy nhảy khắp vườn hoa Không còn cảnh khóc nhà tan cửa nát. Chế độ phi nhân tận cùng đốn mạt Bàn tay Em góp sức đã vùi chôn. Thế hệ thăng hoa, Tổ Quốc mãi sinh tồn Trang sử mới, thẳng hàng Em viết tiếp. Những em gái không còn đeo nặng kiếp Món hàng rao như cỏ rác bên đường. Hạt mầm Em rồi nở rộ Tình Thương Cây Nhân Bản vươn trời cao đại thụ. Tôi nhìn lên giữa hào quang vũ trụ

QuÓc Gia 30


Thấy tên Em rạng rỡ ánh ngàn sao. Em vẫn là Hoa như tự thuở nào Hồn Sông Núi cho Em nghìn vẻ Đẹp. Em vẫn là Hoa thắm màu trong lửa thép

Vườn Tự Do – Em thẳng đứng, nguyên hình ! Trời Việt Nam thơm mãi đóa Hồng xinh. *VÕ ĐẠI TÔN *(Úc Châu)

Thô tranh ñaáu

Phaän Ñaøàn Baø Trong côn quoác bieán

Tôi phận đàn bà trong cơn Quốc  biến Giặc gieo sầu tạo cảnh lọan bi thương Mượn vần Thơ làm vũ khí biểu dương Nuôi tủi nhục như vũ trang phục quốc               Dầu mất nước không ngồi yên than khóc Phải quyết tâm rèn chí luyện binh đao Biến lời Thơ như thép súng tuôn trào Nung Chí lớn thành gươm thiêng phù đổng   Tôi dệt vần thơ như đời dệt mộng Lấy quyết tâm làm vũ khí đấu tranh Giục ý chí nuôi sĩ khí lòng thành Gương liệt nữ tiền nhân ghi muôn thuở Không vẩn đục bởi lợi danh lung lạc Thơ tự tim thúc giục máu câm hờn Đợi chờ ngày vượt suối  băng sơn Gươm Ái quốc hợp cùng chung cứu nước                           

Vá mảnh Cơ đồ rách tả tơi Hồn Thiêng Sông núi dâng cuồn cuộn Mối thù quốc nhục mãi sục sôi

             

        

Ta vá giang san vá mảnh đời Há ngại gì thịt nát xương rơi Hãy đứng lên gây bão tố rung trời Thề cứu lấy dãy Sơn Hà yêu dấu

     Lê Chân Pháp Quốc ngày 14 /03 /10

Lê Chân

              

QuÓc Gia 31


K

hông cô đơn đâu, thưa luật sư Lê thị Công Nhân. Xu thế chánh tri dân chủ hóa toàn cẩu, tự do hóa kinh tế hoàn vũ và nhứt là đồng bào quốc nội và hải ngoại, kể cả nhiều tổ chức và nhân vật ngoại quốc đứng bên cạnh Cô và hành động giúp Cô. Đúng vậy, dù Cô là một cô gái sanh ở Gò Công, năm nay mới có 28 tuổi. Cô sanh ra sau Chiến tranh VN, Cô không thể bị CS Hà nội chụp mũ nặng quá khứ nên quá khích như đã chụp mũ những đồng bào lớn tuổi đã kiên trì đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN. Là người trẻ có học, có bằng hành nghề luật sư, Cô thừa sức sống trong ngành luật đang còn thiếu thốn ở VN - làm giàu, vinh thân phì da không khó. Nhưng Cô chọn con đường đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN ngay trong lòng địch. Chắc chắn Cô biết khó khỏi vào tù ra khám dưới chế độ độc tài đảng trị toàn diện của CS Hà nội. Lòng dũng cảm của Cô và những nhà dân chủ trong nước đôi khi còn lớn hơn lòng can đảm của một chiến sĩ khi xung phong. Cô phải đối phó một ngày 24 giờ, một tuần 7 ngày với công

an mật vụ CS bạo ác vô cùng, cái gì cũng dám làm, kể cả việc giả danh, giả dạng côn đồ, du thủ, du thực để khủng bố đen trắng xám những nhà đấu tranh. Cô đứng lên đấu tranh không do một tôn giáo, đảng phái, phong trào nào trong hay ngoài nước công khai hay âm thầm tổ chức. Cô tranh đấu vì Cô tin tưởng đất nước và người dân VN phải có tự do, dân chủ, và nhân quyền thì mới khá được, mới có thể phát triển theo đà tiến bộ của thế giới được. Niềm tin sắt đá đó khó lay chuyển vì Cô khẳng định lập trường dù Cô biết Cô phải trả cái giá rất đắt. Nhưng Cô vẫn làm và dù còn một mình ên Cô cũng dấu tranh cho lý tưởng, niềm tin, và hy vọng ấy. Đúng như Quân sư của người anh hùng áo vải đất Lam Son Lê Lợi là ông Nguyễn Trãi nói trong hịch kêu gọi quốc dân đứng lên đánh đuổi quân Tàu, đất nước có lúc thịnh suy nhưng anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Người Việt bản tánh bất khuất. Người tốt, người thương nước thương dân, người vì nước vì dân không thiếu. Nên, thưa Luật sư Lê thị Công Nhân, Cô không cô đơn đâu, thưa Cô. Tên họ Cô, QuÓc Gia 32

trường hợp của Cô thường xuất hiện trên nhiều bích chương, biểu ngữ chống CS Hà nội chà đạp nhân quyền, của hầu hết các đoàn thể của đồng bào Việt ở hải ngoại, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, Bắc hay Nam. Trường hợp của Cô, vụ án mà CS trấn áp Cô, hoạt động của Cô cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN cũng được dân biểu, nghị sĩ, các hội quốc tế như Phóng Viên Không Biến Giới, Ân xá Quốc Tế Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu thường xuyên nhắc nhở, đòi hỏi CS Hà nội phải trả tự do. Kể cả bản phúc trình thường niên của Bô Ngoại Giao Mỹ cũng xem trường hợp của Cô là một vi phạm nhân quyền tiêu biểu của CS Hà nội. Và mới đây, Mạng Lưới Nhân Quyền VN, trụ sở chánh ở Little Saigon, Tiểu bang California, đại đa số thành viên là đồng bào của Cô, chắc chắn nhiều người Cô không biết mặt, biết tên, nhưng tất cả biết Cô, trọng nể Cô, hãnh diện về Cô như là một trí thức trẻ VN dám nói, dám làm, phú quí bất năng di, uy vũ bất năng khuất. Và đồng bào Cô ở hải ngoại, ai cũng muốn làm một điều gỉ đó để giúp Cô. Tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền VN đã chánh thức bình chọn và đề nghị Cô làm ứng


viên Giải thưởng Nhân quyền Gwangju 2008 (Gwangju Prize for Human Rights) của Nam Hàn được thiết lập từ năm 2000. Đó là một giải thưởng rất cao quí dành cho những nhà đấu tranh dân chủ và nhân quyền tại Á Châu. Người đựơc chọn để trao giải, ngoài bằng tưởng lục còn được trao tặng một mề đay vàng và một số hiện kim là 50 ngàn Mỹ kim. Trong 8 năm qua, trong số 9 nhân vật đã đựơc giải này có bà Aung San Suu Kyi từ Miến Điện, sau khi được trao giải này được luôn Giải Nobel Hoà Bình. Thưa Luật sư Lê thị Công Nhân, kể cả những dân biểu Mỹ từng vận động cho nhân quyền VN, 3 ở California và 1 vị ở Maryland, theo thăm dò của Mạng lưới Nhân Quyền VN, có tin đã tỏ ra hài lòng với đề nghị này. Dân Biểu Ed Royce đã có văn thư gởi ủng hộ. Sự bình chọn, đề nghị, và ủng hộ Cô làm ứng viên cho Giải thưởng Nhân quyền Gwangju 2008, còn có ý nghĩa sâu xa nếu nhìn vấn đề trong tình liên đới và tương quan giữa thời gian và không gian. Ai dũng cảm, thành tín đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN đều được đồng bào và các tổ chức đấu tranh trọng vọng, ghi ơn. Không phân biệt người trong nước hay ngoài nước. Không phân biệt Miền Bắc hay Miền Nam. Không phân biệt tuổi trẻ hay tuổi già. Việc Luật sư Lê thị Công Nhân một cô gái 28 tuổi, sanh sau Chiến Tranh VN, ăn học dưới mái trường CS, thừa sức bon chen để vinh thân phì da, nhưng lại hy sinh tuổi thanh xuân hoa mộng của đời mình dấn thân vào con đường tranh đấy đầy chông gai, tù đày - là một đánh

động, một thức tỉnh đối với tuổi trẻ VN trong cũng như ngoài nước. Lớp trẻ trong nước tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước dân tộc được tự do, dân chủ chưa. Chẳng lẽ kéo lê những ngày bị cướp đoạt những quyền bất khả tương nhượng với tư cách là con người. Lớp trẻ hải ngoại tư hỏi từ đâu mình đến đây, mình qua thừa tự do, dân chủ, trong bạn đồng trang lứa, đồng bào ở nước nhà bị cướp mất tất cả tư do, mình không giúp đấu tranh cho đồng bào thì ai làm. Sau cùng, sự bình chọn, đề nghị, và ủng hộ Cô làm ứng viên cho Giải thưởng Nhân quyền Gwangju 2008 là một phản tuyên truyền sâu sắc, phủ nhận rõ rệt đối với tuyên truyền của CS chia rẽ trẻ già, chụp mũ những người lớn tuổi đã kiên trì đấu tranh chống CS suốt 32 năm qua là nặng quá khứ nên quá khích chống Cộng. Vì thực sự và thực tế mà nói, người Việt trong ngoài nước đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN là vì tương lai của đất nước, quyền lợi nhân dân VN, là bổn phận và nhiệm vụ của người Việt nói chung, không phân biệt già trẻ gì cả. Người lớn tuổi nhứt là người ở hải ngoại đấu tranh cho đất nước và đồng bào, mà lớp trẻ trong nước là tương lai, rường cột, chớ không phải cho mình trở về làm tướng tá, bộ trưởng, dân biểu, nghị sĩ như Việt Cộng tuyên truyền nhảm. VI ANH (Theo Việt Báo online) QuÓc Gia 33

Cöôøi...Xaû Hôi

Học Lịch Sử Trong một buổi thi vấn đáp Lịch sử: - Em hãy cho biết Lê lợi là ai? - Dạ, em không biết. - Thế em có biết Trần Hưng Đạo là ai không? - Dạ, em không biết. - Thôi! Nếu em trả lời được câu này tôi sẽ cho em qua. Vậy em có biết Trưng Trắc, Trưng nhị là ai không? - Dạ em cũng không biết. - Vậy thì mời em ra, tôi không thể cho em qua được. - Thế thầy có biết Hùng Sùi, Phong Móm, Châu Sẹo,Tài Chém là ai không? - Hả !!!??? - Thầy có băng đảng của thầy, em cũng có băng đảng của em chứ! Thầy đừng đem băng đảng của thầy ra dọa em... Giờ Học Giờ Anh Văn, cô giáo cho học sinh tập giao tiếp và ghi vào báo cáo. Hai thằng bạn hỏi nhau: Mày thích loại nhạc gì ? - Pop. Còn mày ? - Disco. - Rồi ghi vô đi. - Nhưng mà 2 từ đó viết sao? - Tao cũng không biết, thôi ghi phiên âm đi, có lấy điểm đâu. Thằng bạn gật gù, ghi vào báo cáo: Thể loại nhạc ưa thích: Bóp Đít-Cô. n


Quテ田 Gia 34


ti‹u sº Linh mục Nguyễn Văn Lý, tên thánh là Thadeus (Tađêô) sinh ngày 15 tháng 5 năm 1946 tại làng Ba Bình, Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Năm 1963, ông được Linh mục Nguyễn Như Tự bảo trợ và giới thiệu vào tu học tại Tiểu Chủng viện Hoàn Thiện (Huế). Năm 1966, ông vào Đại Chủng viện Xuân Bích (Huế). Tháng 4 năm 1974, ông được Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền truyền chức Linh mục tại Nhà thờ Chính tòa Phủ Cam (Huế). Linh mục Nguyễn Văn Lý gia nhập Hội Thừa Sai do Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền sáng lập với mục đích hoạt động truyền giáo ở những vùng dân cư nghèo khó và được giao việc phụ trách cộng đoàn Thừa Sai tại Gò Vấp, Gia Định. Năm 1975, Linh mục Nguyễn Văn Lý trở về Huế làm thư ký cho Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền. Hoạt động Tháng 9 năm 1977, vì có liên quan đến việc phổ biến hai bài tham luận của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền với nội dung lên án chính quyền Việt Nam “chủ trương tiêu diệt tôn giáo”, Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bắt và kết án 20 năm tù với tội danh “chống phá cách mạng” và bị giam tại Thừa Phủ (Huế). Tháng 12 năm 1977, Linh mục Nguyễn Văn Lý được mãn hạn tù nhưng không được phép thi hành nhiệm vụ linh mục. Tháng 7 năm 1978 Toà Tổng Giám mục Huế can thiệp với chính quyền tỉnh Thừa

Thiên và đưa Linh mục Nguyễn Văn Lý về làm linh mục quản xứ Đốc Sơ, thuộc xã Hương Sơ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Tháng 1 năm 1983 chính quyền tỉnh Thừa Thiên ra quyết định trục xuất Linh mục Nguyễn Văn Lý khỏi giáo xứ Đốc Sơ, lý do vì linh mục không chấp hành lệnh cấm của chính quyền tỉnh, tiếp tục việc dạy giáo lý trong giáo xứ. Tháng 5 năm 1983, Linh mục Lý bị bắt và kết án 10 năm tù và 4 năm quản chế với tội danh “gây rối trật tự xã hội”. Linh mục Lý bị đưa về giam tại Thanh Cẩm (Thanh Hóa) và Ba Sao (Nam Hà). Tháng 7 năm 1992, Linh mục Lý được trả tự do và cho về cư ngụ tại Tòa Giám mục Huế, nhưng bị cấm không được làm nhiệm vụ linh mục. Tháng 11 năm 1994, Linh mục Lý đã công bố “Tuyên ngôn 10 điểm về vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam”. Năm 1997, Linh mục Lý về nghỉ dưỡng bệnh tại giáo xứ Nguyệt Biều của linh mục quản xứ Trần Văn Quý. Ngày 24 tháng 11 năm 2000, Linh mục Lý phổ biến bản “Tuyên ngôn về thực trạng Giáo hội Công giáo tại giáo phận Huế” và lời kêu gọi “Chúng tôi cần có tự do tôn giáo thật sự tại Việt Nam”. Ngày 5 tháng 2 năm 2001, Toà Tổng Giám mục Huế thuyên chuyển Linh mục Nguyễn Văn Lý về làm linh mục quản xứ An Truyền thuộc xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ngày 26 tháng 2 năm 2001, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế đã ra quyết định quản chế hành chính 2 năm đối với Linh mục Nguyễn Văn Lý QuÓc Gia 35

tại xã Phú An vì lý do “sử dụng tòa giảng để kích động giáo dân chống phá chính quyền”. Ngày 19 tháng 10 năm 2001, toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế đã xét xử và tuyên án Linh mục Nguyễn Văn Lý 15 năm tù giam, 5 năm quản chế tại địa phương nơi cư trú về hai tội “phá hoại chính sách đoàn kết” và “không chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc quản chế hành chính” (Điều 87 và 269 Bộ Luật Hình sự). Linh mục Lý sau đó bị đưa về giam tại Ba Sao (Nam Hà). Ngày 26 tháng 6 năm 2004, Linh mục Lý được trao Giải Shalom khiếm diện tại Đại học Công giáo Eichstätt-Ingolstadt (Đức). Tháng 2 năm 2005, Linh mục Lý được giảm án và được đặc xá. ......Ngày 8 tháng 4 năm 2006, Linh mục Lý đã thành lập “Khối 8406”, cùng với một số người biên soạn nhiều tài liệu có nội dung chống lại chính quyền và kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử quốc hội vào năm 2007. Ngày 22 tháng 8 năm 2006, Linh mục Lý đã cùng ký tên vào bản công bố của “Khối 8406” về “Tiến trình dân chủ hoá Việt Nam”. Ngày 8 tháng 9 năm 2006, Linh mục Lý đã công bố “Tuyên Bố nhân dịp đảng Thăng Tiến Việt Nam công bố tự thành lập tại Việt Nam ngày 8-9-2006”. Ông cùng với một số người thành lập Đảng Thăng Tiến Việt Nam và liên kết với Đảng Vì Dân cùng với một số tổ chức chính trị ở nước ngoài, thành lập “Liên Đảng Lạc Hồng”. (trích Wikipedia)


LM Nguyễn Văn Lý trả lời phỏng vấn RFA sau khi được trả tự do Đỗ Hiếu, phóng viên RFA- 2010-03-15

C

thì xin cảm ơn tất cả quý vị và bà con, bạn hữu. Tôi cũng chưa có sẵn một cái ý kiến gì để thưa gửi cả, thì cũng chắc phải vài ngày nữa. Tuy nhiên, mặc dù tôi cũng đang yếu mệt, khi đi ra khỏi trại là 4 giờ sáng thì tôi lại phải thức dậy khoảng 2 giờ sáng để dâng Đỗ Hiếu: Xin chúc mừng LM lễ rồi kinh nguyện Nguyễn Văn Lý vừa được trở cho xong, thì đi 4 giờ về với xã hội bên ngoài và gia sáng mà xe chạy liên đình sau nhiều năm bị giam tục về đến Huế đây thì cầm. Linh Mục có cảm tưởng khoảng 5 giờ chiều. ra sao khi nghe quyết định là Từ hồi chiều đến bây được phóng thích ạ? giờ thì cũng nhiều bạn LM Nguyễn Văn Lý: Trước bè nghe tin đến thăm hết xin chào ông Đỗ Hiếu và nên tôi cũng đang mệt, kính chào tất cả quý vị, tất cả chưa dám nói gì nhiều. bà con, bạn hữu. Lời đầu tiên Tuy nhiên, tôi có thể là tôi xin cảm ơn tất cả quý vị, trả lời một vài câu hỏi bà con và bạn hữu đã nhiều mà quý vị có thể quan năm hiệp thông, cầu nguyện tâm, muốn biết, thì ưu và giúp đỡ cho tôi nhiều. Tiện tiên xin mời ông Đỗ đây thì qua quý vị tôi cũng xin Hiếu đặt câu hỏi gì mà kính gửi lời cảm ơn tất cả bà tôi có thể trả lời được con bạn hữu xa gần, những gì thì tôi trả lời về tất người tôi đã biết cũng như cả các vấn đề. những người tôi chưa biết đã Hình do thân nhân LM Lý gửi đến RFA-LM Đỗ Hiếu: Xin cảm quan tâm giúp đỡ tôi rất nhiều Nguyễn Văn Lý (phải) và LM Phan Văn Lợi ơn LM Lý. Trước hết và giúp đỡ gia đình tôi cũng tại Tòa Tổng Giám Mục Huế hôm 15-3-2010. thì thính giả cũng như rất nhiều trong bao nhiêu năm là những người quan tháng qua. Bây giờ được trở biết mặt thì LM Lý có điều gì tâm đến cuộc tranh đấu cho tự do lại với xã hội thì trước hết là muốn đặc biệt nhắn gửi quý tôn giáo, dân chủ - nhân quyền tôi xin kính chào tất cả quý vị. khán  thính giả của Đài Á Châu của LM thì muốn được nghe LM Tự Do trong và ngoài nước ạ? nói về sức khoẻ của mình trong Tình trạng sức khỏe kém LM Nguyễn Văn Lý: Hiện giờ lúc này ạ. Tôi đã bị tai biến mạch máu não hỉ vài giờ sau khi từ trại giam về đến Huế, mặc dù tình trạng sức khoẻ không được tốt và còn mệt mỏi, Linh Mục Nguyễn Văn Lý vẫn ưu tiên trả lời phỏng vấn RFA.

3 lần. Lần thứ nhất là vào tháng 5-2009, lần thứ hai vào tháng 7 và lần thứ ba vào tháng 11. Ba lần thì mỗi lần lại nặng thêm. LM Nguyễn Văn Lý Đỗ Hiếu: Thưa Linh Mục, ngoài những lời cảm ơn gửi đến tất cả những người biết mặt và không

QuÓc Gia 36


LM Nguyễn Văn Lý: Tôi đã bị tai biến mạch máu não 3 lần. Lần thứ nhất là vào tháng 5-2009, lần thứ hai vào tháng 7 và lần thứ ba vào tháng 11. Ba lần thì mỗi lần lại nặng thêm, riêng lần thứ ba này thì người ta đưa lên trên Hà Nội, vào Bệnh Viện 198 của Bộ Công An. Tại đây người ta xét nghiệm thì người ta thấy có hai đoạn mạch cảnh hai bên cổ thì bị xơ vữa nhiều chỗ, nhiều tụ huyết, nhưng mà cái quan trọng hơn là ở trên hậu chẩm của não bên trái đã có một khối u rộng khoảng 2 centimet và người ta hồ nghi rằng chính vì cái khối u này nó chèn ép một số thần kinh thành ra chân phải và tay phải bị liệt. Sau 4 tháng điều trị thì hiện giờ chân phải có bớt đôi chút nhưng mà vẫn chưa cử động bình thường, còn riêng tay phải thì đã có thể cầm được thìa để ăn cơm nhưng chưa cầm bàn chải đánh răng và chưa cầm bút được, nhưng vẫn có thể đưa tay lên đưa tay xuống để tập thể dục cũng được. Phục hồi lần sau thì chậm hơn lần trước, thành ra lần này đã 4 tháng rồi mà mức độ phục hồi thì nó không bằng lần thứ hai. Riêng về khối u trên não trái thì người ta cũng không nói cho mình biết u đó là u ác tính hay lành tính, và người ta cũng không muốn đụng vào để điều trị vì sợ có khi tai biến gì nguy hiểm, cho nên họ muốn để cho gia đình và Giáo Hội trách nhiệm điều trị chuyện này thì hay hơn. Cho nên cách đây 3 tháng rưỡi thì họ đã gửi cho gia đình viết thư đề nghị để đưa về mà điều trị, gia đình cũng thương cho nên gia đình làm cái thư đề nghị thì chắc

quý vị cũng có biết rồi. Khi đó người ta gửi cho gia đình làm thì họ cũng bảo yêu cầu là đừng cho tôi biết kẻo sợ tôi không đồng tình, nhưng mà sau khi tôi biết thì tôi cũng chiều theo gia đình là gia đình có muốn đưa về điều trị thì cứ đưa về. Đỗ Hiếu: Xin cảm ơn Cha đã dành thời giờ để nói về sức khỏe. Cha cũng cho phép được hỏi một vài vấn đề khác mà Cha hằng theo đuổi và quan tâm, đó là vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, dù là biết Cha mới rời khỏi trại giam ít tiếng đồng hồ thôi, thì xin Cha vui lòng trình bày tóm tắt về quan điểm của Cha về  những  điều mà chúng tôi vừa nêu ạ. LM Nguyễn Văn Lý: Về vấn đề này thì như quý vị đã biết là chúng ta  đã lập đi lập lại rất nhiều và về phía nhà nước Việt Nam cũng lập đi lập lại rất nhiều, đôi bên thì quan điểm khác nhau. Để có thể đề cập đến trọng tâm vấn đề này thì có lẽ để lần khác, vì nếu nói đi nói lại những chuyện như xưa nay đôi bên đều nói thì có lẽ tất cả chúng ta đều hiểu cả rồi là đôi bên quan điểm khác nhau, nhìn từ góc độ khác nhau, vậy để nói lên những điểm đặc sắc mà chúng ta có thể quan tâm đến hoặc là hy vọng có thể cải thiện được cái gì thì những chuyện này có lẽ để một lần khác rồi tâm trí tôi nó ổn định hơn thì hy vọng sẽ đề cập đến hữu ích hơn. Còn bây giờ tôi chỉ có nói qua một chút quan điểm của tôi về chuyện tại sao nhà nước tạm đình chỉ thi hành án để cho gia đình đưa tôi về và quan điểm của tôi về cái bản án của tôi như thế QuÓc Gia 37

nào. Chuyện đó là chuyện vừa tầm của tôi đề cập mà cũng nằm trong sự quan tâm trước mắt của quý vị.

Không chấp nhận bản án Tôi không bao giờ chấp nhận bản án đã kết án tôi, cho nên suốt 3 năm nay tất cả các giấy tờ liên quan, dầu một giấy nhỏ nhất chỉ là một giấy mua hàng thôi, mua quà, mua thức ăn hàng ngày thôi, tôi cũng vẫn ký là “tù nhân lương tâm”. LM Nguyễn Văn Lý Đỗ Hiếu: Dạ, xin mời Linh Mục ạ. LM Nguyễn Văn Lý: Trước hết là như quý vị đã biết bản án kết án tôi nó không phù hợp với công luận quốc tế hiện nay và cũng không được văn minh, vì cách đây hơn 160 năm ông Karl Marx viết Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản và bộ Tư Bản Luận tại Luân Đôn thì ông vẫn được bình yên để viết, và giả như ông viết bản Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản rồi ông bị bắt thì làm sao lại có các đảng cộng sản tiếp theo được, nhưng bây giờ có những người Việt Nam làm việc tương tự như vậy thì bị bắt chứng tỏ rằng luật pháp Việt Nam hiện nay mà về lãnh vực đó thôi thì lạc hậu hơn thời ở Luân Đôn cách đây 160 năm. Rồi nhóm Nguyễn Ái Quốc ở Pháp đầu thế kỷ 20 gồm Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, cụ Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, sau này là Nguyễn Tất Thành nữa, ra báo Le Paria và viết nhiều tác phẩm khác ngay giữa thủ đô Paris, nhưng thực dân Pháp không bắt. Và ngay tại Việt Nam cụ Huỳnh


Thúc Kháng ra báo Tiếng Dân, rồi cụ Nguyễn Thế Truyền ra báo Tiếng Chuông Rè, tương tự như thế ngay tại Việt Nam, ngay ở Miền Nam, cũng không bị bắt. Và một số đảng viên đảng cộng sản Việt Nam hoạt động tại Miền Nam lúc bấy giờ mà không bạo động, chỉ dùng giấy bút thôi, thì cũng không bị bắt. Như vậy xét về mặt này, luật pháp Việt Nam hiện nay lạc hậu hơn các thời thực dân Pháp tại Việt Nam. Và rõ ràng nhất là tại thủ đô Paris.

Linh mục Nguyễn Văn Lý tại Tòa Tổng Giám Mục Huế hôm 15-32010. Hình do thân nhân LM Lý gửi đến RFA. Vì lẽ đó mà tôi không bao giờ chấp nhận bản  án  đã kết  án tôi, cho nên suốt 3 năm nay tất cả các giấy tờ liên quan, dầu một giấy nhỏ nhất chỉ là một giấy mua hàng thôi, mua quà, mua thức ăn hàng ngày thôi, tôi cũng vẫn ký là “tù nhân lương tâm”. Không bao giờ tôi không sửa lại những cái từ đề là “phạm nhân” trên các giấy tờ của nhà nước Việt Nam hết. Chính vì vậy bây giờ nếu như họ đề nghị tôi là tạm đình chỉ thi hành án để về chữa

bệnh thì tôi không bằng lòng, vì tạm đình chỉ thi hành án tức là mình có chấp nhận bản án. Còn nếu như đề nghị đình chỉ hẳn thì tức là mình cũng chấp nhận bản án. Họ biết như vậy cho nên họ không trực tiếp đề xuất với tôi mà họ trình bày với gia đình tôi để họ đánh vào cái việc lo âu của gia đình là mong ước chữa bệnh cho tôi, để cho gia đình tự ý đề xuất. Khi gia đình đã đề xuất thì tôi cũng chiều theo vì tôi thấy gia đình cũng có ý thương mình, tình nghĩa sâu đậm, cho nên tôi nói gia đình muốn đưa về thì cứ đưa về. Nhưng mà gia đình đưa về thì gia đình không đề cập gì đến bản án, chỉ có đề cập rằng đang bị bệnh như vậy thì muốn được đưa ra ngoài điều trị cho có điều kiện hơn thôi. Đối với tôi thì họ đã có ám chỉ viết như thế cách đây khoảng 3 tháng rưỡi, nhưng mà diễn biến để mà thông báo cho tôi biết là họ bằng lòng cho tôi ra ngoài thì tôi mới chỉ biết chiều hôm qua thôi, tức là chiều 14-3, theo giờ Việt Nam đấy, ngày chiều Chủ Nhật. Còn hôm nay thì đã là ngày Thứ Hai, ngày 15-3 rồi. Đỗ Hiếu: Cảm ơn Linh Mục về những điều đó. Trước khi tạm biệt thì xin LM dành cho Đài chúng tôi được một câu hỏi cuối, đó là trong thời gian tới thì LM dự kiến sẽ có những hoạt động gì ạ? LM Nguyễn Văn Lý: Trước mắt thì tôi phải chấp nhận sự điều trị của Tòa Giám Mục Huế và gia đình, còn liên quan đến công việc của tôi thì tôi cũng cần phải có một thời gian để tiếp xúc lại với xã hội, xem coi thử hiện nay xã hội đang quan tâm những chuyện QuÓc Gia 38

gì và diễn tiến như thế nào đã, chứ tôi chưa có một chủ định gì cả, là bởi vì mình như từ trong hang mới bước ra ngoài ánh sáng thì chưa nắm rõ hư thực làm sao. Cả 3 năm nay thì gia đình có thăm gặp cũng đâu có nói gì đến chuyện xã hội nhiều và tôi đọc báo trong tù thì cũng chỉ được đọc tờ Nhân Dân và tờ Pháp Luật của nhà nước thôi, và hàng ngày thì cũng có coi phần thời sự ở trong truyền hình. Như vậy tôi không biết trong 3 năm nay thì thế giới bên ngoài như thế nào và cộng đồng người Việt chúng ta trong nước ngoài nước đang có những chuyển biến như thế nào, vì vậy mà trước mắt thì phải điều trị bệnh tật của mình, thứ hai là cũng cần phải có một thời gian để làm quen lại với cuộc sống xã hội bình thường đã . Đỗ Hiếu: Đài Á Châu Tự Do chúng tôi xin cảm ơn LM Nguyễn Văn Lý đã dành cho Ban Việt Ngữ cuộc trao đổi chỉ vài giờ đồng hồ sau khi Linh Mục rời khỏi trại giam. Kính chúc Linh Mục bình an, may mắn và mạnh khỏe. LM Nguyễn Văn Lý: Xin cảm ơn anh Đỗ Hiếu và tất cả quý vị, bà con, bạn hữu rất nhiều. Xin cầu nguyện cho nhau luôn. Xin cảm ơn.


tin tÙc liên quan linh møc nguyÍn væn lš Linh mục Nguyễn Văn Lý gặp Phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Bản tin ngày 24-03-2010 Vào lúc 13g15 ngày hôm qua, 23-03-2010, Bà phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Virginia E. Palmer, cùng với một thông dịch viên tên Đức đã đến thăm gặp linh mục Nguyễn Văn Lý, đang được tạm tha để điều trị tại Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, 64 Phan Đình Phùng, Huế. Đưa hai vị này tới là hai nhân viên sở ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên Huế và hai nhân viên công an. Sau khi chào hỏi, cha Lý mời bà phó đại sứ và thông dịch viên vào phòng. Hai nhân viên ngoại vụ ra ngồi chờ ngoài sân còn hai nhân viên công an đứng bên ngoài phòng linh mục, sát cửa để nghe lén (và có thể là ghi âm lén. xem hình 1). Bà phó đại sứ cho biết mục đích thăm viếng: vấn an sức khỏe của linh mục Lý và hỏi cho biết tòa đại sứ lẫn chính phủ Hoa Kỳ có thể giúp linh mục như thế nào trong lúc này? 1- Về tình trạng sức khỏe, cha Lý mô tả tương đối rõ ràng: cao huyết áp, tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch cảnh, xuất hiện khối u sau ót… Cha

còn nói thêm: Xin quý vị hoàn toàn yên tâm là nhà cầm quyền Việt Nam không dám đưa tôi vào lại trại giam sau 12 tháng tạm tha này, vì sau lúc bị tai biến lần 3 (15-11-2009), khi đang trong quá trình cấp cứu, tôi đã tuyên bố với họ rằng nếu tôi bị tai biến lần 4 thì sẽ khước từ cấp cứu và điều trị. Cho nên sang năm, nếu họ lại muốn đưa tôi vào trại giam, tôi sẵn sàng vào, nhưng họ phải biết rằng tôi sẽ khước từ điều trị và cấp cứu nếu bị tai biến lại. Tiếp đó linh mục Lý xin cảm ơn tòa đại sứ, tòa lãnh sự, chính phủ, quốc hội, bộ ngoại giao Hoa Kỳ cùng một số chính khách Mỹ như thượng nghị sĩ Sam Brownback, dân biểu Chris Smith, dân biểu Loretta Sanchez…. vì đã quan tâm đến hoàn cảnh của linh mục và đã vận động cho linh mục trong thời gian qua. Cha Lý cho biết tiếp: nay thì có một số chính khách quốc tế, một số tòa đại sứ, một số tổ chức ở nước ngoài đã ngỏ ý đưa tôi ra ngoại quốc chữa bệnh rồi sẽ đưa về. Điều này phù hợp với ý định của nhà cầm quyền Việt Nam. Vì biết tôi còn 5 năm tù giam và 5 năm quản chế nữa, nên họ (nhà cầm quyền) đã khuyên tôi cứ chấp thuận ra ngoại quốc điều trị cho khỏe hẳn, để khoảng 80 tuổi rồi hãy trở về (chú thích: Lm Lý hiện nay được 64 tuổi). Xin cảm ơn tất cả Quý vị vì hảo ý đó, nhưng như thế là vô tình đi vào kế hoạch của nhà cầm quyền Cộng sản (Bà phó đại sứ cười). Nay giáo phận Huế và gia đình muốn tôi điều trị tại chỗ (tòa TGM Huế). 2- Về những việc gì mà QuÓc Gia 39

chính phủ và tòa đại sứ Hoa Kỳ muốn giúp linh mục Lý hiện giờ, thì cha cho biết: a- Quý vị cố gắng tập trung giúp UNESCO, Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế biết rõ sự thật về ông Hồ Chí Minh (chú thích: linh mục Lý từng gọi HCM là tay gian ác, tên lừa bịp siêu cao thủ). Đừng úp mở chuyện này mà kéo dài sự sai lầm rất tai hại cho dân tộc tôi. Tôi thấy mình có nhiệm vụ trả lại sự thật nguyên vẹn về ông Hồ cho đồng bào Việt Nam (chú thích: đây cũng là điều mà một linh mục khác là cha Nguyễn Hữu Lễ đã làm qua cuốn phim tài liệu “Sự thật về HCM” và cũng là một trong ba tôn chỉ của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận mà linh mục Lý là đồng sáng lập: vạch trần mặt thật HCM). b- Quý vị vận động làm sao để chúng tôi có tự do ngôn luận. Quý vị cần nói to, nói rõ, nói ngắn, nói chính xác giữa Liên Hiệp quốc rằng Việt Nam chưa có thứ tự do này. Đây là điều rất quan trọng. Chúng tôi muốn các tờ báo của chúng tôi như Tổ quốc, Tự do Dân chủ, Tự do Ngôn luận được bày bán công khai (chú thích: ban biên tập báo Tổ Quốc thời gian gần đây bị sách nhiễu và hăm dọa, đặc biệt là tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang và bác sĩ Phạm Hồng Sơn). Nếu chưa được thế thì ít nhất quý vị hãy nói với nhà nước Việt Nam rằng đừng bắt những ai đọc các tài liệu như vậy. Chúng tôi thấy có nhiệm vụ trước mắt là làm sao cho người dân được tiếp cận các loại thông tin trung thực về tự do dân chủ mà không bị bắt bớ,


không bị quấy nhiễu. Quý vị hãy nói to trước các diễn đàn quốc tế là Việt Nam lạc hậu vô cùng về tự do ngôn luận, thua thời Các Mác tại Anh cách đây 160 năm, thua thời nhóm Nguyễn Ái Quốc tại Paris cách đây gần 100 năm, thua thời cụ Huỳnh Thúc Kháng tại An Nam cách đây hơn 80 năm. Tất cả họ đều làm báo phê phán chế độ đương thời mà không hề bị bắt!  Trước câu lưu ý của bà phó đại sứ (“Hàng năm, bản báo cáo của chúng tôi về nhân quyền tại Việt Nam đều có đề cập đến chuyện ấy”), linh mục Lý trả lời: Nói dài, nói nhiều có khi không hữu ích và hiệu quả bằng nói ngắn và nói rõ giữa các diễn đàn toàn cầu: Tự do ngôn luận tại Việt Nam thua cộng đồng quốc tế cả hàng trăm năm! c- Quý vị cố gắng giúp chúng tôi tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội cộng sản năm 2011 cho thật hiệu quả. Đây là một hình thức dân chủ giả hiệu và áp đặt, hoàn toàn không giống như các cuộc bầu cử Quốc hội ở những nước dân chủ tự do. Giúp như thế là quý vị giúp tôi chữa lành khối u sau ót tôi đây này! Phần Khối 8406 của chúng tôi thì cũng sẽ lên kế hoạch tẩy chay nó cách quyết liệt. (Chú thích: trước cuộc bầu cử Quốc hội năm 2007, Khối 8406 và nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền đã có nhiều văn thư kêu gọi tẩy chay nó cũng như nhiều thành viên đã thực sự tẩy chay nó trong chính ngày nó được tổ chức, 20-05-2007). 3- Linh mục Lý cũng nhân cơ hội trình bày cho bà phó đại

sứ rõ nguyên tắc đấu tranh bất bạo động của các chiến sĩ hòa bình dân chủ tại Việt Nam: Một chiến sĩ hòa bình dân chủ nếu biết cách đấu tranh bất bạo động thì sẽ mạnh gấp nhiều quân đoàn. Cộng sản hiện nay không còn dám cắt lưỡi các nhà đấu tranh bất bạo động như thời linh mục Jerzy Popieluszko bên Ba Lan hồi 1984 vì CS sợ họ. Chiến sĩ hòa bình nói, đối phương cũng sợ; viết, đối phương cũng sợ; khóc, đối phương cũng sợ; cười, đối phương cũng sợ; im lặng, đối phương cũng sợ; sau cùng chết thì đối phương càng sợ (Bà phó đại sứ ngắt lời: Không chết đâu! không chết đâu!). Trên đấu trường, hai đấu sĩ nhìn nhau. Các chiến sĩ hòa bình dân chủ nhìn thẳng đối phương là hàng chục triệu cán bộ, hằng mấy triệu đảng viên với tấm lòng không sợ hãi thì đối phương phải hãi sợ họ. Tại sao người chiến sĩ dân chủ không sợ? Vì họ không đi tìm gì cả ngoài tình thương, sự thật và lẽ phải! Tình thương, sự thật và lẽ phải này như lửa. Nhà tù với số lượng bao nhiêu và với tường dày bao nhiêu cũng chỉ là giấy, không gói được lửa! Trong trại giam lửa vẫn bừng cháy, ra ngoài lại càng bừng cháy. Một bạo quyền độc đoán thì phải thua ngọn lửa ấy mà thôi! Người chiến sĩ hòa bình dân chủ phải vô úy (không sợ hãi), vô cầu (không xin xỏ), vô thủ (không cần đề phòng, vì đấu tranh công khai, quang minh chính đại, ai rình nghe cũng mặc), vô ngã (không tìm cái lợi cho mình), vô biệt (không phân biệt quốc gia hay cộng sản, da trắng hay da QuÓc Gia 40

vàng, Phật giáo hay Công giáo, ai đứng về phía lẽ phải và sự thật đều là đồng minh của mình). Khi có ngũ vô này rồi thì tức khắc có đệ lục vô, không nhắm nhưng sẽ phải đến, đó là vô địch! (Bà phó đại sứ cười vang khoái chí). Tôi chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng tôi biết mình vô địch vì nơi tôi không có hận thù. Đời tôi đã 64 tuổi nhưng tôi chưa ghét một người nào cả. Mấy lần bị cán bộ CS bắt giam, tôi đều nói: Các anh sợ mà bắt giam tôi thôi, nhưng đố các anh ghét tôi được! Tôi có làm chi phương hại, xúc phạm hay nguyền rủa các anh đâu mà các anh ghét. Trái lại tôi chỉ đọc kinh cầu nguyện cho các anh. Tôi đi tù như vậy là 5 lần, riêng dưới chế độ này là 4 lần. Mỗi lần vừa vào tù, tôi đều quỳ cúi xuống hôn đất mà thầm nói: “Con xin nhận nhiệm sở mới” Nhiệm sở mới này không phải đức Giám mục bổ nhiệm tôi đến mà là Chúa Giêsu Kitô. Vì thế tôi coi ban giám thị, cán bộ trại và mọi tù nhân trong trại đều là giáo hữu mà tôi có bổn phận cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng cho. (Chú thích: trong một lần tâm sự trước đây, linh mục Lý có cho biết ở trong tù cha luôn cầu nguyện cho các tay đồ tể của nhân loại như Lênin, Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pôn Pốt, Saddam Hussein, Bin Laden… Họ cần lời cầu nguyện vì họ bị nhân loại quên lãng do căm thù)… Đêm đầu tiên ở trại giam tôi ngủ bình thản như ở nhà, vì tôi coi trại là văn phòng, là nhiệm sở của tôi, tôi phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ ở đó cho tốt. Sang năm, nếu


họ đưa tôi vào lại trại thì tôi thoải mái, sẵn sàng (Bà Phó đại sứ cười). Như mọi chiến sĩ dân chủ hòa bình, tôi có tình thương, sự thật và lẽ phải nên không sợ. Nhưng đằng sau lưng tôi là cả Triều thần Thiên quốc, có Thiên Chúa, có Đức Mẹ, có các thánh, rồi có hàng triệu các thai nhi bị trục giết mỗi năm mà tôi luôn bênh vực (chú thích: trong các lần linh mục gặp gỡ cán bộ công an hay viết kiểm điểm về… chế độ). Các em ủng hộ tôi, chuyển cầu cho tôi thì đảng CS làm chi tôi được!!! Kết thúc, bà phó đại sứ Hoa Kỳ nói: “Tôi từng mong ước gặp được linh mục. Nay thấy linh mục trẻ trung, vui vẻ, ăn nói rất mạnh mẽ và rõ ràng. Rất hân hạnh. Xin hết lòng cảm ơn!”

TÊN NGÜ©I Là

nguyeãn vaên lyù Người bước ra ánh sáng Bóng tối vẫn vây quanh Tiếng Người vẫn dõng dạc Dẫu thân xác héo tàn Người bước đi khập khễnh Nhưng trí tỏa haò quang Bao năm trong tù ngục Tiếng Người vẫn thét vang Chân Người đạp móng ngựa Miệng quát lũ bạo tàn Trong đêm đen dầy đặc

Đuốc sáng Người chứa chan Người đang đi nhặt tim Những trái tim qủa cảm Chính Người lau khô lệ Của vạn triệu Dân Oan Tên Người Nguyễn Văn Lý Bắc Đẩu của trời Nam Đồng bào đang kỳ vọng Ngày lịch sử sang trang  

LÊ CHÂN 

(PTPNVNHĐCN)  

Cuộc gặp gỡ kết thúc vào lúc 14g30 cùng ngày. Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình dựa theo băng ghi âm. Huế, 16g30 ngày 24-032010  Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền Trông qua sắc-diện mấy phần tươi Bền vững niềm-tin đượm nụ cười Bao tháng đọa-đày tù Việt-Cộng Mấy năm gian-khổ ngục đười-ươi Bất ngờ thời-thế xoay trần-thế Có lẽ hồng-ân chiếu cõi nguời Dân-chủ nhân-quyền chưa nhúc-nhích Tự-do, hạnh-phúc quá trêu ngươi  

TIỂU BẢO  15-3-2010  

QuÓc Gia 41


Quテ田 Gia 42


TIỂU SỬ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan; Bút danh: Hữu Loan; sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916 (theo lý lịch, còn có thông tin ông sinh năm 1914) tại quê ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận Bình dân năm 1936, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông làm Phó Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trước năm 1945, ông đã từng là cộng tác viên trên các tập san Văn học, xuất bản tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội Nhân dân Việt nam, phục vụ trong Đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại Báo Văn nghệ trong một thời gian. Trong thời gian 19561957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt đến những tiêu cực của các cán bộ cộng sản nịnh hót, đố kỵ, ám hại nhau v.v... như tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và truyện ngắn Lộn song. Trong tác phẩm của mình, ông coi mình là nạn nhân của xã hội cộng sản và phê phán xã hội này

một cách kịch liệt. Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải vào trại cải tạo vài năm, tiếp đó bị giam lỏng tại địa phương. Cuối đời ông về sống tại quê nhà. Ông nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim do ông sáng tác trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp và được lưu hành rộng rãi trong vùng kháng chiến. Có thông tin cho rằng, do nội dung bài thơ nặng nề tình cảm và ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý quân dân, nên ông bị giải ngũ. Ông từ trần vào lúc 19h00 ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 95 tuổi . Tác phẩm Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào, dưới đây là một số bài thơ đã được phổ biến của ông: Cũng những thằng nịnh hót Đèo Cả, Đêm, Màu tím hoa sim, Hoa lúa, Ngày mai, Thánh mẫu hài đồng, Tình Thủ đô, Yên mô ----------Vài nét về gia đình Hữu Loan kết hôn hai lần, lần thứ nhất vào đầu năm 1949 với bà Lê Đỗ Thị Ninh, là con gái của nguyên Tổng thanh tra nông lâm xứ Đông Dương Lê Đỗ Kỷ, Đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (CSBV) năm 1946. Hữu Loan quen biết bà Ninh khi ông còn học college Đào Duy Từ, Thanh Hoá. Ông đã làm gia sư dạy mấy người anh trai và sau đó là bà Ninh. Tháng 5 năm 1949, bà Ninh mất (do chết đuối) khi QuÓc Gia 43

mới 16 tuổi và bài thơ Màu tím hoa sim ra đời. Sau đó ông kết hôn với bà Phạm Thị Nhu, một nông dân, bài thơ Hoa lúa (1955) chính là bài thơ viết tặng người vợ thứ hai này. l thÖ tranh ÇÃu

NÚI SÔNG AI LẤY? Hồng Lạc nào đâu có giặc Hồ, Đem vào nước Việt thuyết tam vô; Nhà tan, nước mất, toàn dân nhục. Nằm đó chình ình muốn đập mồ! Muốn thắng miền Nam phải có Tàu. Xun xoe hứa hẹn hiến Tàu Mao, Như môi mà hở thì răng lạnh; “Boóng xẩu! hẩu la!” chẳng thiệt đâu* Thắng trận giao liền đất tổ tông. Đại đồng liền núi với liền sông, “Việt Nam cộng sản thuộc Tàu cộng! Càng khoẻ, cán ta được …ở không!” Thế giới đại đồng dân chệt qua; Nếu lo kiểm soát chuyện Vào-Ra, Càng thêm rắc rối, càng thêm bận. Kệ họ, dẫu Tàu ngập nước ta Rắc rối làm chi chuyện nước-dân! Chủ trương cộng chẳng giữ non sông. Núi sông ai lấy mà than mất! Tàu cộng cũng cờ mầu sắc hồng./. Dzoãn Thường Pasadena,10/12/2009 *Phóng thủ, Hảo la:= Giúp (một) tay! Tốt! Tiếng Quảng Đông


Hàng ngàn người đưa tiễn nhà thơ Hữu Loan Tin NV Saturday, March 20, 2010

THANH HÓA (TH) - Hàng ngàn người đã theo chân gia đình đưa tiễn cố thi sĩ Hữu Loan về lòng đất mẹ ngày 19 tháng 3, 2010 ở quê ông, làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Theo một bản tin của báo Dân Trí hôm Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2010, “Lễ phát tang nhà thơ được tiến hành vào sáng 19 tháng 3 và chiều cùng ngày hàng gàn người dân xã Nga Linh cùng bạn bè thân quyến đã tiễn đưa cố nhà thơ Hữu loan về nơi an nghỉ cuối cùng.” Nhà thơ Hữu Loan, sau một thời gian bệnh, một phần cũng do tuổi cao, sức yếu, ông đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 19 giờ ngày Thứ Năm 18 tháng 3 tại nhà riêng, thọ 95 tuổi. Sự ra đi vĩnh viễn của ông để lại trong lòng người Việt Nam, dù trong hay ngoài nước một sự xúc động sâu xa. Cuộc đời của ông gắn liền với cuộc đấu tranh giành độc lập từ tay thực dân Pháp rồi sau đó, bị trù dập qua vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1956-1958) cho tới gần hết đời. Dù ở hoàn cảnh nào, ông luôn luôn chứng tỏ là một kẻ sĩ, không hề khuất phục cường quyền, bạo lực.

lén lút mà mãi khi CSVN chiếm được miền Bắc năm 1954, bài thơ này mới được in lần đầu tiên trên tờ tập san Trăm Hoa năm 1956 do thi sĩ Nguyễn Bính chủ trương. Rất ít báo trong hệ thống báo chí CSVN đưa tin Hữu Loan qua đời dù có thể rất nhiều người trong số họ công nhận thi tài và tầm ảnh hưởng lớn lao của ông trong nền văn chương Việt Nam thế kỷ thứ 20.

Hàng ngàn người dân khắp nơi cùng đến tiễn đưa tác giả Màu Tím Hoa Sim về nơi an nghỉ cuối cùng. (Hình: DT) Một vài tờ báo như Thanh Niên, Sài Gòn Tiếp Thị, Dân Một trong những bài thơ của Trí đưa tin về cái chết của ông trở thành bất tử, bài “Màu ông nhưng cũng với những Tím Hoa Sim” bắt nguồn từ cái lời lẽ nhẹ nhàng, lờ giai đoạn chết của người vợ trẻ khi ông ông bị chế độ trù dập, khủng đang trên đường hành quân kháng bố suốt nhiều chục năm trời. chiến, được các người lính Vệ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Quốc Quân chép tay truyền tụng Nhà Văn CSVN đến đọc diễn QuÓc Gia 44

văn trong đám tang nhà thơ Hữu Loan, theo tin báo Dân Trí kèm theo tấm hình, nhưng không thấy thuật lại gì ngoài chuyện Hữu Thỉnh kể lể tình bạn. Những năm gần đây, nhà thơ Hữu Loan trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí ngoại quốc đã thuật lại cho thấy ông sống ra sao, làm sao tồn tại từ mò cua bắt ốc, đập đá, kéo xe trong khi vẫn phải đối phó với các trò khủng bố của chế độ. Loan tin ông chết hôm 19 tháng 3, báo Dân Trí chỉ dám bình luận, “Sự ra đi của nhà thơ Hữu Loan đã để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với người dân quê hương cũng như hàng triệu trái tim yêu mến những vần thơ của ông. Cuộc đời của thi sĩ Hữu Loan trải qua nhiều thăng trầm biến cố, nhưng với tâm hồn và trái tim yêu nghệ thuật, ông đã sống và cống hiến hết mình vì nền nghệ thuật nước nhà.” Còn báo Thanh Niên ngày 20 tháng 3, 2010, chỉ dám nói sự ra đi vĩnh viễn của ông “Khép lại một chuỗi ngày dài đằng đẵng đến cả 50 năm nhọc nhằn thể xác lẫn tinh thần”. Bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” đã được nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc như: Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà (Phạm Duy), Màu Tím Hoa Sim (Duy Khánh), Những Ðồi Hoa Sim (Dzũng Chinh), Chuyện Hoa Sim (Anh Bằng), Tím Cả Chiều Hoang (Nguyễn Ðặng Mừng), Tím Cả Rừng Chiều (Thu Hồ). Tuy nhiên, nổi tiếng nhất là hai bài của Phạm Duy và Dzũng Chinh.


T

heo báo chí trong nước, Thi sĩ Hữu Loan đã từ trần tại nhà riêng ở Thanh Hóa vào chiều tối ngày 18/03/2010. Tên tuổi Hữu Loan đặc biệt gắn liền với bài thơ "Mầu tím hoa sim" đã từng làm rung động trái tim của biết bao thế hệ.Thế nhưng Hữu Loan còn được biết đến như là một nhà thơ đầy khí phách trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan còn có tên khác là Nguyễn Văn Dao. Ông sinh ngày 12/4/1916, tại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Từ 1936 đến 1942, Hữu Loan đã tham gia các phong trào thanh niên chống Pháp. Ông đỗ tú tài năm 22 tuổi. Sau đó đi dạy học. Từ 1943 đến 1945, tham gia phong trào Việt Minh tại quê nhà, tham dự ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá. Về thời kỳ này, ông kể: "Những năm 1943, 1944, 1945, Nhật đánh Pháp ở ta dữ dội, trường tư tôi dạy phải đóng cửa, tôi về quê vừa làm ruộng, đánh cá để nuôi bố mẹ và để hoạt động Việt Minh bí mật. Mấy năm ấy đói to. Bố mẹ tôi vẫn phải nhịn cháo rau cho cán bộ Việt Minh bí mật về ăn. Những người cùng ở ban khởi nghĩa với tôi làm to cả, gia đình nào bố mẹ cũng sung sướng, nguyên tôi lại về. Mẹ tôi buồn ốm chết. Bố tôi chửi tôi: "Mày làm Việt Minh chặt hết của tao một giặng tre để rào làng, rào giếng". Sau cách mạng tháng tám, ông vào bộ đội. Năm 1949, ông chỉ được phép về nhà mấy ngày để làm đám cưới (người vợ đầu,

mới 16 tuổi). Trở lại chiến khu, ba ngày sau, được tin vợ chết đuối, Hữu Loan làm Màu Tím Hoa Sim, trở thành một trong những tác phẩm lãng mạn nhất thời kháng chiến. Bài thơ bị cấm, nhưng vẫn được truyền tụng ngầm. Đến khi Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bùng nổ, Nguyễn Bính cho đăng lần đầu trên báo Trăm Hoa. Sau này Phạm Duy phổ nhạc ở miền Nam. Nhà thơ Hữu bài

Loan, tác giả

đã qua đời Thụy Khuê Hữu Loan hoạt động bên cạnh tướng Nguyễn Sơn ở Liên Khu Tư (Thanh Hoá). Ông ủng hộ chính sách biệt đãi văn nghệ sĩ của tướng Nguyễn Sơn. Vì chống đường lối thân Tàu của Trung Ương, tướng Nguyễn Sơn bị cách chức và bị gửi trả về Trung Quốc. Hữu Loan đề nghị giữ Phạm Duy ở lại, nhưng không được. Ông bèn trở về đi cày. Đến năm 1954, sau ngày tiếp quản thủ đô Hà Nội, Hữu Loan trở lại công tác ở Hội Nhà Văn, làm biên tập viên cho báo Văn Nghệ. 1956, Hữu Loan tham gia Nhân Văn Giai Phẩm. Trong thời kỳ này, bài thơ nổi tiếng xác định phong cách Hữu Loan là bài Cũng những thằng nịnh hót đăng trên Giai Phẩm Mùa thu, tập I: QuÓc Gia 45

Cũng những thằng nịnh hót Dưới thời kỳ Pháp thuộc Những thằng nịnh hót nghênh ngang Lưng rạp trước quan Tây Bắc vợ như thang Chân trèo lên danh vọng Đuôi vợ chúng đi Lọt theo đầu chúng Bao nhiêu nhục nhằn; Nhục mất nước muôn phần Nhục cùng đất nước với những thằng nịnh hót Một điều đau xót Trong chế độ chúng ta Trong chế độ dân chủ cộng hoà Những thằng nịnh còn thênh thang đất sống Không quần chùng, áo thụng Không thang đàn bà Nhưng còn thang lưng thang lưỡi Những mồm không tanh tưởi Ngậm vòi đu đủ Trợn mắt Phùng mang Thổi vào rốn cấp trên “Dạ, dạ, thưa anh… Dạ, dạ, em, em…” Gãi cổ Gãi tai: … anh quên ngủ quên ăn nhiều quá! Anh vì nước vì dân hơn tất cả từ trước đến nay Chân xoa và xoa tay, Hít thượng cấp vú thơm như mùi mít Gọi như thế là


phê bình cấp trên kịch liệt Gặp cấp trên chủ quan Mũi như chim vỗ cánh Bụng phềnh như trống làng: Thấy mình đạo đức tài năng hơn tất. Như thế là chết rồi: Quân nịnh tha hồ lên cấp Như con gì nhà gác lên thang Còn muốn lên thủ trưởng cơ quan Còn đi đây đi đó Lưỡi và lưng Lắm chằng gian khổ Chúng nó ở đâu: Thối thóc thuế Mục kho hàng Phong trào suy sụp Nhân dân mất cắp đang giữa ban ngày To cánh và to vây Những ai không nịnh hót Đi, mang cao liêm sỉ con người Chúng gieo hoạ gieo tai Kiểm thảo hạ tằng Còn quy là phản động! Có người đã chết oan vì chúng Vẫn thiết tha yêu chế độ đến hơi thở cuối cùng Nguy hiểm thay, Thật khó mà trông: Chúng nó nguỵ trang Bằng tổ chức bằng quan điểm nhân dân bằng lập trường chính sách

Chúng nó còn thằng nào Là chế độ ta chưa sạch Phải làm tổng vệ sinh cho kỳ hết mọi thằng Những người đã đánh bại xâm lăng Đỏ bừng mặt vì những tên quốc xỉ Ngay giữa những thời nô lệ Là người chúng ta không ai biết cúi đầu. (9-1956)

QuÓc Gia 46

Sau cuộc thanh trừng năm 1958, Hữu Loan không bị đi cải tạo, có lẽ vì ông không ở trong danh sách được coi là "đầu sỏ". Hữu Loan tự ý bỏ về Thanh Hoá, ông đi thồ đá, bà làm ruộng và làm bánh, nuôi 10 người con. Không còn liên hệ gì với chính quyền nữa. Khi bị công an phiền nhiễu, ông đánh cả công an. Hữu Loan là một trong những khuôn mặt trực tính và bất khuất nhất trong Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm.


Lời tự thuật của

T

ôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa,chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà . Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học . Đến năm 1938 , lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn .Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy , trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và ...Tôi - Nguyễn Hữu Loan. Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất

,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên . Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ‘ Em chào thầy ạ. ‘Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một ‘bà cụ non’. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, QuÓc Gia 47

em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt ... Có lần tôi kể chuyện ‘ bà cụ non’ ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành... Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ...Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: ‘ mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu’ Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi ..... Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi: -Thầy có thích ăn sim không ? Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt qúa nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những qủa sim đen láy chín mọng. -Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: “Ngọt qúa.” Như đã nói, tôi sinh ra trong


một gia đình nông dân, qủa sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những qủa sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác.Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi... Tôi quay đầu nhìn lại...em vẫn đứng yên đó ...Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa... Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ .... Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp... Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ, vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn

của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm’soạn kịch bản’. Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là:’yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả’. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói , hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu qúy của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại...Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn ( thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn QuÓc Gia 48

nằm sau thẳm trong trái tim tôi . Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn... Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói Khi tóc nàng đang xanh ... ...Tôi về không gặp nàng.... Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa.. Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang ‘ở nhà trông vườn’ ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chỗ ‘quê đẻ của tôi đấy’ thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : Chiều hành quân, qua những đồi sim Những đồi sim, những đồi hoa sim


Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc Chiều hoang tim tím thêm màu da diết. Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi’ hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi’. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi qúa! với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ qúa rồi! Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng...Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ...Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người,

tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu qúy, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi....Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi ! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng. sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ qúa, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm! Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954- 1955. Lúc đó còn là chính trị viên QuÓc Gia 49

của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản qúa, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn ,nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông . Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố . Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó , cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng . Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô


ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ ,nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Qúa xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no....Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai , 4 gái- và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì. Năm 1988, tôi ‘ tái xuất giang hồ’ sau 30 năm tự chôn và bị

chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gío. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với gía 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản

tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia ‘lộc’ cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi gìa, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán./.

* Hữu Loan

Rời xa Bài thơ Tiên Tri về nước Tàu Phương Bắc lẫy lừng giặc MãnThanh Làm sao có được buổi thanh bình Nam Quan đất ải chơi khôn xén Hải đảo Trường Sa cũng giựt giành Lừa lọc chuyên môn phường láu cá Túi tham không đáy kẻ gian manh Kỳ ba chúng nó còn hơn một Giòng giống Lạc Hồng mãi rạngdanh

Châu Hồng Minh Thu Bài thơ Tiên Tri Tận Thế Thế giới sắp tàn thảm lắm thay Ráng lo bố thí và ăn chay Đông Tây khói lửa rền vang sấm Nam Bắc hằng hà đất chở thây Nhơn loại nhứt danh tôn cửu tử Phật Tiên cứu vớt kẻ hiền tài Hành tinh lảo đảo như say rượu Thất nhựt tỉnh rồi đứng thẳng ngay (Trích Hoa Đào yêu thương)

Châu Hồng Minh Thu QuÓc Gia 50

Mai rời xa, em có muốn xa ? Mai rời xa, anh không muốn xa Mai rời xa, em có xót xa Mai rời xa, anh vẫn thiết tha Mỗi rời xa, buồn rơi từng giọt Nhớ nhung tâm sự nửa vầngtrăng Anh biết em đi lạc lối về Đường xưa quên mất phươngtrời cũ Rời xa én bạch bay xa mãi Trắng một màu tang ngút tận trời Nghe rì rào đâu đây nỗi nhớ Còn đâu ký ức của ngày xưa Có hôm nay ngày qua đã cũ Là hôm qua nhìn nhau phút cuối Ngày xa nhau hôn xưa còn lại Biết sẽ buồn nhớ mãi ngày xa Mai rời xa, anh vẫn thiết tha Mai rời xa, anh mãi xót xa Phút cuối xa nhau đời đã khép Ở trong nhau, sao mãi đi tìm ? Tặng TH. H – TTB

Nguyễn 3113

Thành


Viên Linh LTS NV-:Nhà thơ Viên Linh viết bài này năm 2007, đăng trên Khởi Hành, nhân dịp quyết định trao giải Văn Chương Toàn Sự Nghiệp Khởi Hành 2007 cho nhà thơ Hữu Loan. Tác giả Viên Linh trao bài viết này cho Người Việt Trẻ đúng vào ngày có tin Hữu Loan qua đời. Xin đăng lại nguyên văn. Con người, Tích xưa, Việc cũ Thứ Tư, 16 tháng 5, 2007 Trời Santa Ana chưa sáng, mờ mờ đục, khoảng này là cỡ tám chín giờ tối nơi thôn Vân Hoàn, “quê đẻ” của Hữu Loan ở Thanh Hóa. Tôi sửa soạn gọi điện thoại cho gia đình nhà thơ, lần đầu tiên. Gần một tháng trước, sau khi thảo luận với anh em trong Khởi Hành và thăm dò ý kiến bạn đọc, chúng tôi đã quyết định Giải Văn Chương Toàn Sự Nghiệp Khởi Hành 2007 - khởi sự từ năm 2005 -, năm nay sẽ được trao cho Hữu Loan, và chúng tôi đã nhờ nhà thơ Hà Thượng Nhân gửi thư về Thanh Hóa báo tin cho bạn thiếu thời của anh hay. Nhưng đã ba tuần không một hồi âm. Vũ Lan Phương, đại diện Khởi Hành ở Âu Châu xưa nay vốn giao thiệp thường xuyên với bạn hữu thân quyến Hà thành, đã tìm ra số điện thoại của tác giả Màu Tím Hoa Sim. Lan Phương

dặn, “Toa chỉ nói được với bà vợ hay cô con gái Hữu Loan thôi, chứ ông ấy yếu lắm, không nói điện thoại được. Hơn chín mươi còn gì.” Tôi cho anh Hà điện thoại, vì muốn để anh gọi trước. Hôm ấy là 15 tháng 5, 2007. Khoảng hai mươi phút sau anh gọi lại, “Không nói được với Loan. Nó yếu lắm. Nhưng tôi nói chuyện với vợ nó rồi. Thư hồi âm đã gửi đi cũng lâu rồi, chắc nay mai sẽ tới. Trong thư nói Hữu Loan cho biết sẽ nhận chứ.” Hà Thượng Nhân hồi nhỏ có tên là Hoàng Sĩ Trinh, cùng học trường làng với Nguyễn Hữu Loan, thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, nên cả hai vẫn quen miệng xưng hô thân thiết với nhau, dù Hữu Loan hơn bạn đến bốn năm tuổi. Thư gửi đã ba tuần không âm tín, nay lại biết số điện thoại, với tình trạng bưu điện Việt Nam như thế, tôi nghĩ ngay là phải chấm dứt việc thư từ với Vân Hoàn: ở cửa ngõ cái thôn ấy hẳn đã có một trạm khuyển ưng, rất khó lòng cho bá tánh hiền lương sống yên ổn, nói chi tới người khí tiết, và khí phách. Nay đã biết ý Hữu Loan, tôi phải gọi thi sĩ và gia đình ông để tiến hành công việc trước khi công bố giải thưởng. Tôi đã gọi vào giờ phút sớm QuÓc Gia 51

sủa của bình minh Little Saigon, lúc ấy là 8 giờ 45 tối ở thôn Vân Hoàn, Thanh Hóa. Người nhấc máy có giọng nữ trẻ, hẳn là con gái thi sĩ. Cháu xác nhận và cho biết tên là Nguyễn Thị Ðịnh. Cháu cho biết lá thư nhận giải gửi đi là do chính cháu viết theo lời đọc của ông bố. Tôi dặn cháu đi in ảnh, chụp ảnh ngay, cả nhà, và cả ngôi nhà, rồi gửi qua cho Khởi Hành càng sớm càng tốt. - Cả ngôi nhà hả bác? Mà nhà nào? - Gọi chú thôi. Có mấy cái nhà? - Có cái nhà mới đang ở và cái nhà cũ bố cháu đắp bằng đất. Ðã theo dõi sinh hoạt của nhà thơ, qua báo chí hay đài BBC, hẳn nhiều người còn nhớ chuyện Hữu Loan với cái xe cút kít - một cái thùng có một bánh xe ở đầu trước, hai chân ở đuôi sau để chống khi dừng lại nghỉ và hai cái càng để “người phu” đẩy đi, chở các vật nặng - Hữu Loan, từ sau Nhân Văn-Giai Phẩm - vụ văn nghệ sĩ Miền Bắc nổi dậy đòi tách rời chính trị khỏi văn nghệ, chấm dứt văn nghệ chỉ huy, thất bại - ông đã buông bút bỏ về quê làm ruộng, đẽo núi chở đá thồ đất để mưu sinh. Và bây giờ cháu Ðịnh vừa cho biết, ông bố thi sĩ đã rỡ đất cậy đá đồi núi Thanh Hóa để đắp cho


vợ con một mái nhà, tường đất. - Ảnh cả gia đình nữa hả chú? - Cả gia đình. - Mười hai người chú ạ. Ông bà và chúng cháu mười người nữa là mười hai. - Cháu có làm việc gì để mưu sinh không? Cháu ở nhà với gia đình hết à? - Cháu là họa sĩ tốt nghiệp Cao Ðẳng Mỹ Thuật Hà Nội, nhưng đã bỏ về nhà trông nom ông bà. Bố cháu yếu lắm rồi, chín mươi hai tuổi rồi, đi ra ngõ cũng không được nữa, còn mẹ cháu lại ngã gẫy chân, nên cháu phải bỏ Hà Nội về ở nhà để trông nom ông bà. -Là họa sĩ cháu vẫn vẫn vẽ tranh bán được chứ? - Người ta không mua tranh màu nước. Mà tranh sơn dầu thì cháu làm sao có sơn dầu để vẽ? - Là họa sĩ cháu có thể kiếm bao nhiêu một tháng? - Lúc còn ở Hà Nội cháu cũng kiếm được khoảng tám chục một tháng chú ạ. Một họa sĩ tốt nghiệp Cao Ðẳng Mỹ Thuật Hà Nội - ngôi trường thành lập hơn 75 năm trước cho toàn cõi Ðông Dương - nay không có mấy tuýp sơn để vẽ. Sao giờ này người ta vẫn còn phải ngậm ngùi ứa lệ khi nói chuyện với thân hữu tuổi trẻ quê nhà? Nhất là tôi lại yêu tranh, có vẽ tranh cho riêng mình khi cùng thuê chung ngôi nhà ở sau chùa Phú Thạnh với Nguyễn Trung, từ năm 1960. Tôi yêu hội họa lắm chứ. - Chú có cần ảnh bố cháu bây giờ hay ảnh hồi xưa? - Cả bây giờ lẫn hồi xưa. - Bây giờ thì sau khi ông ốm, tóc cắt ngắn rồi không đẹp. Còn

cái ảnh chụp ở Hà Nội năm 72 khi ông lên thăm cháu, tóc để dài đẹp lắm, đẹp mê hồn luôn chú ạ. Tôi muốn phì cười khi nghe cô con gái mô tả dung nhan ông bố. - Cháu bao nhiêu tuổi rồi? - Cháu bốn mươi. - Cháu gửi cho chú tất cả những gì cháu có thể gửi. Ảnh nhà cửa, ảnh anh chị em, ảnh mẹ cháu, và ảnh cả những tấm tranh cháu vẽ nữa. - Có tấm tranh tốt nghiệp thì họ lấy mất rồi. Một họa sĩ không có lấy một tấm tranh? - Vẽ đen trắng cũng được nhé. Dessins của cháu có khá không? - Người ta bảo đẹp. Cuộc điện thoại đầu tiên khiến tôi yên tâm xúc tiến công việc, trước hết là thực hiện số Khởi Hành chủ đề Hữu Loan, Giải Văn Chương Toàn Sự Nghiệp Khởi Hành 2007. 2. Thứ Sáu 18 tháng 5, 2007 Hữu Loan là người như thế nào? Không biết bao nhiêu bài báo, bao nhiêu cuộc phỏng vấn của các hệ thống truyền thông đã phổ biến ý kiến, hình ảnh, giọng nói của nhà thơ Hữu Loan trong những năm gần đây. Sau đây là Hữu Loan tự kể - trích dẫn và thuật lại bởi người viết bài này - tách đoạn từ trong câu chuyện bằng điện thoại kéo dài hơn một tiếng đồng hồ giữa anh và tôi từ 6 giờ sáng Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2007, giờ California, khoảng 8 giờ tối cùng ngày ở Thanh Hóa. Người nhấc máy nghe vẫn là cháu Ðịnh. Tôi cho cháu một địa chỉ khác ở Hà Nội để chuyển QuÓc Gia 52

thư cho Khởi Hành, thay vì gửi về địa chỉ ở quận Cam mà tôi đã cho hai hôm trước, không chắc tới. Ðang nói thì có tiếng đàn ông vọng vào ống nghe. Cô nói xa màng thẩm âm, rồi cười nói tiếp vào máy: - Thường khi nghe nói đến Bác Hồ là bố cháu khỏe ra; vì khi chửi ai là ông khỏe lắm... Còn hôm nay... Cô cười. Phải rồi trong một bài viết nhạc sĩ Trịnh Hưng thuật lại chuyến về thăm Hữu Loan ba ngày cách đây năm năm, thi sĩ đã gọi ông Hồ là “Hồ tặc.” - Còn hôm nay... Bố cháu muốn nói với chú. Mới mấy tiếng đồng hồ trước nhà nhận được thư chú từ Westminster gửi khẩn cấp về. Ông mừng lắm. Có khi mừng nên ông cũng khỏe ra. Tôi chào hỏi nhà thơ Hữu Loan. Mặc dù biết anh đã đọc lá thư tôi nhờ báo tin về Giải Văn Chương Khởi Hành 2007, tôi cũng nhắc lại mục đích. Là anh em và thân hữu độc giả Khởi Hành đã quyết định chọn anh để trao Giải Văn Chương Toàn Sự Nghiệp năm nay, yêu thơ anh như một thi sĩ lớn thời chín năm kháng chiến chống Pháp dành độc lập cho đất nước, sau đó cảm phục anh như một kẻ sĩ tiết tháo suốt nửa thế kỷ chống thứ cương lĩnh của một chủ nghĩa ngoại xâm, hủy hoại văn hóa dân tộc, đã tự động bỏ hàng ngũ những kẻ tàn độc u tối, từ khước mọi luật lệ phép tắc của họ, buông súng rồi buông bút để cầm lấy chiếc cày, cái cuốc, trở về sinh quán, sống cần lao như một tá điền, đổ mồ hôi trên mảnh đất nghèo, vá víu từng cành cây, cục đá, đắp một căn nhà đất cho vợ con, từ


khước một xã hội ủy viên để trở về làm người trở lại, theo truyền thống anh hấp thụ được từ ông cha, và từ nền học vấn anh vốn có hơn những kẻ cầm quyền. Tôi cho anh biết hai hôm trước đã dặn cháu Ðịnh gửi gấp hình ảnh tài liệu cho tôi qua Mỹ, nhưng hôm nay có địa chỉ khác bảo đảm hơn ngay trong nước, nên mới gọi lại cháu. Tôi đã bảo cháu rồi: Ðem tất cả về một địa chỉ ở Hà Nội, trao tay, và ở California tôi sẽ nhận được trong ngày, qua mạng lưới điện toán. Ðể câu chuyện bớt phần hình thức, tôi hỏi Hữu Loan chuyện thơ văn; anh cũng hỏi tôi chuyện quê quán. - Hữu Loan: Anh người ở đâu? - Viên Linh: Ga Ðồng Văn, Hà Nam. Anh Hữu Loan, anh còn làm thơ không? - Hữu Loan: Thường cũng làm. Gặp đâu làm đấy. Nhưng sửa lại nhiều hơn. Sửa cả những cái sai của họ. Cánh kia dốt lắm. - Viên Linh: Nó dốt thế nào? - Hữu Loan: Nó dốt thế này. Chẳng hạn khi xây Lăng Hồ Chí Minh, không biết đặt tên chỗ đó như thế nào, mới hỏi tôi. Tôi đặt cho là Quảng trường Ba Ðình. Thế là thích lắm, dùng ngay, gọi là Quảng trường Ba Ðình. Nó có biết đâu tôi lấy tên Ba Ðình là một địa danh của quê tôi, Nga Sơn, mà đặt cho cái chỗ quan trọng ấy của thủ đô Hà Nội. Anh vừa hỏi tôi vừa nghe một giọng cười: - Hữu Loan: Anh biết Ba Ðình chứ? - Viên Linh: Biết. Cứ điểm đánh pháp của... Chúng tôi cùng cố nhớ tên vị

anh hùng chống Pháp mà Phan Trần Trúc đã viết thành một cuốn tiểu thuyết dã sử lịch sử có nhan đề Ba Ðình. Tôi có cuốn này trong thư viện của mình. Phải rồi Ðinh Công Tráng. Có ai ngờ Quảng trường Ba Ðình lại là tên do chính Hữu Loan đặt. Phải có lý chứ, mà lý gì lại lấy tên Ba Ðình, căn cứ quân sự quan trọng nhất của đảng Cần Vương ở Thanh Hóa, ngay huyện Nga Sơn của Hữu Loan, đặt cho công viên có mồ của một nhà cách mạng vô sản? Theo Phan Trần Trúc mô tả trong cuốn Ba Ðình (nxb Hương Sơn, Hà Nội, 1951) thì hạt Nga Sơn có một khu đồng đất trũng. Bắt đầu từ Tháng Sáu trở đi, nếu không vít nước sông [Hoạt Giang, Ðại Lại Giang, nối nhau bằng một con sông đào] thì khu đồng ấy bị chìm dưới dòng nước lũ. Những làng xóm rải rác trong cánh đồng này, thốt thành ra những hòn đảo chơ vơ giữa chốn trời xanh nước thẳm. Trong khu ấy có ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh. Ba làng này làng nào cũng có một ngôi đình, cho nên cũng gọi là khu Ba Ðình! Phan Trần Chúc viết, “Ba Ðình!Chỗ quân Pháp và lính pháo thủ Bắc kỳ bỏ lại một đống xương khô, để kết quả thu được một tòa thành rỗng!... Trần Soạn cắm chỗ lập (xây) thành. Người đốc công xây thành là Ðinh Công Tráng... một viên Cai tổng cựu, người ở Hà Nam. Tráng nhân lúc ruộng còn khô ráo, mang quân đến đóng ở Ba Ðình... Thành Ba Ðình đắp khúc khuỷu giống nhiều thành quách ở Trung Kỳ. Nhưng Ba Ðình đắp bằng đất lại kiên cố hơn tất cả các thành QuÓc Gia 53

quách ở Trung Kỳ, vì sau khi đắp thành xong, Tráng cho tháo nước sông và trong đồng. Ba Ðình thốt nhiên thành một tòa lâu đài nổi ở giữa chốn mênh mông trời nước.” (Ba Ðình, nxb VHTT, tr.42-45) Lịch sử tòa thành ấy sao lại thành Quảng trường ở Hà Nội? Chỉ có người đặt tên biết rõ, chỉ có Hữu Loan biết rõ: vì nó là địa danh của quê anh. Và anh thích thú có lý do để nói nhiều lần câu này: Cánh đó ngu dốt lắm! Tôi hỏi nhà thơ Hữu Loan một số chi tiết tiểu sử, quanh những con số, địa danh, và những điều có tính giai thoại, cách tốt nhất và chính xác nhất, là do từ anh nói ra viết ra. Các chi tiết sau đây được thêm vào sau cuộc điện đàm, mấy ngày sau, rút từ bài Hữu Loan Tự Phỏng Vấn do nhà thơ viết từ năm 1987, người viết bài thuật lại, nhưng sẽ giữ nguyên văn một số câu ghi trong ngoặc kép. Nguyễn Hữu Loan là tên khai sinh, anh còn những tên đời là Tốt Ðỏ, Binh Nhì. Chủ trương làm cách mạng triệt để, từ gốc, từ tuổi thiếu niên khi còn là học sinh ở Nga Sơn. Từ 1943 tới 1945 đi cày, đánh cá, và làm Việt Minh, hoạt động trong Ủy Ban Lâm Thời tỉnh Thanh Hóa coi bốn ty Giáo Dục, Thông Tin, Công, Thương Chính. Năm 1946 được mời làm chủ bút báo Chiến Sĩ Quân Khu IV ở Huế và trong dịp này gặp Tướng Nguyễn Sơn, tư lệnh Sư Ðoàn 304, và Hữu Loan trở thành chính ủy của sư đoàn đó. (* Tướng Nguyễn Sơn tên thật là Võ Nguyên Thủy, cũng có tên là Võ Nguyên Bác, sinh năm 1908 ở tỉnh Bắc Ninh, năm 1925


cùng Phạm Hồng Thái qua Trung Hoa mưu đồ phục quốc. Ông vào học trường Võ Bị Hoàng Phố, rồi gia nhập Quân đội Trung Hoa trong Thế Chiến Thứ Hai, tham gia cuộc Vạn lý Trường Chinh với Mao Trạch Ðông, được thăng cấp thiếu tướng trong quân đội Trung Cộng, hoạt động trong Bộ Quốc Phòng Trung Cộng, làm chủ nhiệm, chủ bút báo Huấn Luyện Chiến Ðấu của Trung Cộng. Hồ Chí Minh xin ông về nước, cũng chỉ phong hàm thiếu tướng cho ông, như thế là đặt ông dưới quyền một người không chuyên nghiệp nhà binh là Võ Nguyên Giáp. Ở vùng kháng chiến, Nguyễn Sơn từng là tư lệnh Liên Khu V, tư lệnh hhu trưởng Liên Khu IV. Chính ở Khu IV, quen gọi Liên Khu Tư, mà có các đại hội văn nghệ tưng bừng hồi kháng chiến.) Anh nói sơ qua một chút về anh... -Hữu Loan: “Tôi sinh năm Bính Thìn, năm nay 93 tuổi. Học hành thì tôi tự học nhiều, có khi vào lớp mới xem bài, hay học bài qua lời đọc của một bạn trong lớp. Chỉ nghe đọc qua một lần là tôi thuộc, có khi mấy tháng sau tôi vẫn nhắc lại rất đúng vì tôi vẫn nhớ hết. Bài học có thể nói là tôi không học bao giờ. (Hữu Loan đậu tú tài Pháp khoảng 22 tuổi.) “Tiếng Pháp thì tôi đọc thơ Pháp nhiều. Anh biết ông Thiều Chửu chứ? (Tôi bảo biết, tác giả Hán Việt Từ Ðiển, một trong những người xây dựng Hội Phật Học Bắc Kỳ tại chùa Quán Sứ.) Một hôm ông Thiều Chửu đưa tôi xem bản dịch một bài thơ của Lamartine, hỏi ý tôi là thầy dịch

ra sao. Tôi gọi bằng thầy như người ta, chứ tôi không học ông. “Tôi nói thẳng. Tôi nói rằng nguyên văn hay hơn bản dịch, vì nguyên văn đọc thấm thía hơn, chứ bản dịch dùng nhiều ngôn từ sáo. Ông cũng chịu. Ông nói với tôi ông có mười tám cô cháu gái, tôi chọn cô nào thì ông gả cho cô ấy. “Lúc ấy là học sinh nhưng tôi nghĩ như cái ông gì làm cái câu thơ, Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với Núi Sông ấy nhỉ, (Tôi nhắc anh là Nguyễn Công Trứ.) Phải, tôi cũng nghĩ thế. Phải có sự nghiệp gì với tổ quốc, với đất nước, rồi hãy lấy vợ. Thành ra tôi chẳng chọn cô nào cả. “Khi đi bộ đội, tôi là chính ủy Sư Ðoàn 304, một trong hai sư đoàn nổi tiếng nhất; sư đoàn kia là 308.” - Viên Linh: Anh nghĩ sao về mấy anh em trong nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm? - Hữu Loan: Trần Dần được. Hoàng Cầm thì anh em gọi là “đĩ trai.” Tố Hữu thì dìm người khác. Tôi có coi nó ra gì đâu. Có một giai thoại buồn cười. Cái đảng Cộng Sản nó cố tình tìm cách đề cao Tố Hữu nên lúc nào cũng “mẹ tơm mẹ suốt” (thơ TH) và dìm tôi đi. Lúc ấy cô Vũ Thị Thanh, nữ sinh Ðồng Khánh, yêu tôi, chúng tôi định lấy nhau. Ðảng Cộng Sản tìm cách ly gián, gả bà đó cho Tố Hữu. Hắn là bí thư tỉnh ủy. Bà ấy không yêu Tố Hữu, sau làm đơn xin ly dị. “Còn chuyện tôi chửi Hồ Chí Minh giữa một đại hội. “Người ta hô vang Hồ Chí Minh vĩ đại. Chỉ có tôi không hô. Họ hỏi ý kiến tôi ra sao? Tôi QuÓc Gia 54

không trả lời. Ông Hồ hỏi tôi ‘Cháu đánh giá bác ra làm sao?’ Tôi đứng yên không trả lời. Ông hỏi mãi. “Tôi trả lời. Tôi nói Việt Nam có Bà Trưng Bà Triệu. Con gái giỏi giang. To gan. Hồ Chí Minh cứ hỏi. “Tôi trả lời: Tôi không nói, ông cố tình hỏi ông đừng trách nhé. Ông là cái thằng đi đéo hoang. “Phụ nữ các bà các cô reo ầm đại hội. Họ mang hoa đến bàn tôi hết.” Tôi chặn lời Hữu Loan, hỏi lại anh hai chữ cuối cùng ở trên, xem mình có nghe lầm không. Không, anh nhắc lại hai chữ ấy. Tôi suy nghĩ kỹ, và quyết định viết xuống nguyên văn hai chữ ấy. Tôi vẫn nghe Hữu Loan là người hay đánh lộn. Anh từng đánh một anh thứ trưởng Bộ Lương thực để dân đói. “Bọn cán bộ thằng nào phải đánh tôi cũng đánh,” anh bảo tôi. Anh Hà Thượng Nhân từng kể lại chuyện Hữu Loan hay đánh lộn. -Viên Linh: Anh nghĩ gì khi nghe tin anh em Khởi Hành chúng tôi trao Giải Văn Chương Toàn Sự Nghiệp 2007 cho anh? Câu hỏi khiến nhà thơ im lặng lâu hơn. Rồi anh chỉ nói ba tiếng. -Hữu Loan: Có Trời Ðất. Vài giây sau anh thêm, “Có Trời Ðất phù trợ.” Tôi cảm thấy mình đã làm một việc đúng khi cùng các văn hữu miền Nam, các thân hữu và bạn đọc Khởi Hành trao Giải Văn Chương cho anh. Trong câu chuyện qua đường dây điện thoại, giữa bình minh


Santa Ana và hoàng hôn Vân Hoàn, có một lúc Hữu Loan nói tới Sấm Trạng Trình. Anh tự nhiên hỏi tôi, -Anh đọc Sấm Trạng Trình, có nhớ câu này không: Thấy đâu bò đái thất thanh Ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng nghi. Tôi nói có đọc Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều, mọi thứ, hình như có đọc hai câu ấy, nhưng đương nhiên không hiểu hai câu anh vừa đọc. Hữu Loan giải nghĩa: “Ít người hiểu được câu này, bò đái thất thanh là gì. Ở Vân Hoàn quê đẻ của tôi có núi Sỏi, hay núi Vân Hoàn, trong núi có một cái hang là hang Bò Ðái. Có cái bà tượng đá hình tượng người chăn bò. Nước chảy ra lênh láng không nghe gì cả. Thánh nhân hiện ra ở đây, Trạng Trình bảo thế.” Có vô vàn định nghĩa về thi sĩ. Thi sĩ định nghĩa về mình cũng không phải là ít. Jean Cocteau bảo thi sĩ là một kẻ nói dối luôn luôn nói ra sự thật. Wallace Stevens cho rằng thi sĩ là ông đạo nhìn thấy cái vô hình. Thế thì thi sĩ cũng có thể là thánh chứ? Nhưng tôi tin thi sĩ là nửa người, và nửa kia tùy theo trời sáng hay tối, là quỷ hay là thần. -Viên Linh: Anh Hữu Loan, tôi muốn hỏi anh câu này. Từ lâu rồi trong một bài tiểu luận, tôi có viết giai đoạn chín năm kháng chiến 45-54 là của dân tộc, không phải của cộng sản; Văn học thời chín năm cũng là văn học dân tộc, chính đảng cộng sản gián tiếp công nhận điều đó vì một mặt họ bỏ tù các anh, trấn áp các anh, những nhân vật chính

của chín năm đó; mặt khác họ cấm lưu truyền thơ văn chín năm kháng chiến ở miền Bắc. Trong khi ấy miền Nam phổ biến thơ các anh, nhiều người thuộc lòng thơ các anh, có đến ba hay bốn bản nhạc phổ bài Màu Tím Hoa Sim của anh, hay Tây Tiến của Quang Dũng, hát khắp miền Nam. Như vậy văn học chín năm kháng chiến lưu truyền ở miền Nam, độc giả của nó là ở miền Nam, nó thuộc về miền Nam, nghĩa là thuộc về dân tộc. -Hữu Loan: Ðúng. Hữu Loan chỉ nói có một

QuÓc Gia 55

tiếng như thế. Rồi anh bảo tôi: “Anh về chơi nhé. Về đây đi.” -Viên Linh: Tôi rời Hà Nội đêm Noel 1954, chưa về một lần. Tôi rời Sài Gòn tháng 4, 1975, chưa về một lần... -Hữu Loan: Về chơi đi. Tranh thủ về chơi. Viên Linh

.

(Ðăng lại nguyên văn 2007, không sửa lại)


V

ài giờ, sau khi chiếc trực thăng cuối cùng chở toán quân của Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Jim Kean, rời nóc bằng của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam VN, để bay ra biển Ðông, lên hạm về nước, trong danh dự. Cũng là lúc bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn bỏ ngỏ, qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Cái bi hài của vở kịch, nước mắt trước cơn mưa, là lúc mà chính phủ hai ngày của VNCH đang hồ hởi hòa hợp hòa giải, để chờ chim bồ câu trắng hòa bình hiện ra, thì cũng là giờ G ngày N của Hà Nội đã điểm. Ðây cũng là thời khắc mà tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Q.Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, nhân danh TT Minh, ra lệnh cho các Ðơn Vị Miền Nam đang phòng thủ quanh Sài Gòn, phải cố giữ vững vị trí chiến đấu, chờ sáng để nhận được phép lạ từ trên trời rớt xuống. Lúc đó, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya đêm 29 rạng sáng ngày 30-41975. Ðây là giờ qui định của Bộ Tư Lệnh Miền do Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần văn Trà chỉ huy.. ban lệnh cho B3 hợp đồng, với tất cả các lộ quân từ năm hướng, đồng loạt tấn công vào nội thành thủ đô. Ðó cũng là thời gian lộ mặt của các đội Biệt Ðộng, Ðặc công.. từ

các nơi nằm vùng, nổi dậy bắt liên lạc với các cánh quân bên ngoài. Ðó là giờ qui định cho tất cả cán bộ đảng, cán bộ chính trị nằm trong hàng ngũ VNCH, lột mặt nạ cầm đầu sư đoàn 304 quàng khăn đỏ, đang có mặt khắp thôn làng hẻm phố, sẵn sàng tiếp thu chiến lợi phẩm và còng bắt tù binh, nếu cần hạ sát tại ch‡..      Cũng từ đó lịch sử dân tộc được lật sang trang, chấm dứt một cuộc chiến dơ bẩn nhất tại VN, do cộng sản dàn dựng từ đầu đến cuối, với mục đích tạo cảnh chiến tranh, để đổi đời, nắm quyền, do một thiểu số cùng đinh cực ác trong xã hội xướng xuất.           Cho nên thành phố Sài Gòn, một địa danh được các vị chúa Nguyễn và người dân Ðại Việt tạo dựng bằng mồ hôi máu mắt, từ ba trăm năm trước, cũng bị mất tên và được gán vào danh xưng Hồ Chí Minh (đại phản tặc của dân tộc, mà đời đời kiếp kiếp bị bia miệng nguyŠn rûa.), như những thành phố tại Nga Sô Viết, trong thời kỳ cách mạng tháng mười năm 1917. Xin mượn những lời thơ hào hùng của Lê Khắc Anh Hào và bắt chước Trạch Gầm, được chưởi cha tên Hồ Tặc và bè lũ CSVN “buôn dân bán nước” đã và đang mở cửa rước voi Tàu vào dầy mä Tổ Việt, không phải chỉ ở Lâm Ðồng, Quảng Ðức tại cao nguyên Trung phần, mà khắp non sông xã tắc từ Hải Ninh vào QuÓc Gia 56

tận Cà Mâu, mà hiện nay toàn dân trong và nước ai cũng biết, cũng oán hận căm thù trước hành vi phản quốc có một không hai trong dòng Sº Việt : Có kẻ vô tình hỏi thử ta có dám nói một lời Hồ Chí Minh suốt cả cuộc đời chỉ là một tên PHẢN QUỐC? Tại sao không ? Ðúng ! Hồ Chí Minh là m¶t tên phản quốc ! Ta có thể chẻ từng cộng tóc Lấy từng phân lần ra tội họ Hồ Một kẻ cam chịu làm thân con chó nhỏ cho tên thầy vĩ đại Liên Xô. Ðầy đọa muôn dân Xé nát cơ đồ. Kẻ như thế thì nói một lời phản quốc đâu đủ chỗ! Thời đại văn minh, lúc cả thế giới đang vươn lên hăm hở thì ở VN toàn dân gần như đóng khố.Người sống vật vờ đầu đường xó chợ. Kẻ chết trăm năm còn đau thân dưới mộ. Hắn phản quốc và hắn là đồ bỏ. Câu trả lời chả có gì là khó! Hồ Chí Minh là tên phản quốc! Ta muốn hét vỡ tinh cầu để nói thật,vạn lần mà chả sợ Vì trong tim ta vẫn còn máu đỏ Của một VN vong quốc đoạn trường Tóc bạc màu theo từng cộng đau thương Ta mất quê hương, Hồ là thủ phạm Tại sao người lại hỏi ta CÓ DÁM?


(CÓ DÁM , Thơ Lê Khắc Anh Hào)      Cũng nhờ cách mạng, giải phóng nên từ đó tới nay, đồng bào cả nước, trước sau rủ nhau xuống hố xã hội chủ nghĩa, để tìm thiên đàng Mác-Lê-MaoHồ, trong vũng bùn duy vật biện chứng pháp, mà gần hết nhân loại đã ném vào cát bụi, từ những năm đầu thập niên, cuối thế kỷ XX khi Liên Xô, Ðông Ðức, Ðông Âu tan hàng, trước chủ nghĩa tự do, dân chủ, mà không cần phải đốt rụi Trường Sơn, giết hại hằng triệu triệu người Việt của hai miền.           Một trăm hai mươi lăm nhà báo da trắng, da màu đủ loại nhưng tuyệt đối đều sùng bái VC như thần thánh, trong suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975), sau ngày bị chính quyền mới trục xuất, đều viết: “Quang cảnh Sài Gòn ngày hôm đó cũng vẫn như mọi ngày. Nếu có khác biệt, đó là sự hiện diện của những bộ đội miền bắc, với quân phục may bằng vải kaki nội hóa màu xanh lá cây, đầu đội cối có gắn sao, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải. Tất cả ngơ ngơ ngáo ngáo như người cõi trên, trước cái cảnh trang đài sang giàu lầu cao phố đẹp của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Ðông, không giống với luận điệu tuyên truyền của đảng .. là dân nguỵ bị Mỹ-Thiệu kềm kệp, nên nghèo mạt rệp, rách đói đến nỗi, ngay cả trí thức nhà báo khoa bảng, cũng phải đi ăn mày.. “. Tóm lại Sài Gòn ngày đó như mọi ngày, chẳng thấy ai tiếp đón ai, cũng không có cảnh biểu tình đồng khởi hoan hô mà đảng hằng mong đợi. Người Sài Gòn

đã dửng dưng trước thời cuộc, như chưa hề biết là đã đổi đời.           Củng hôm đó, trên đại lộ Thống Nhất dẫn vào Trung tâm quyền lực nhất của Nam VN. Ðó là Dinh Ðộc Lập, mà mới vài giờ trước đây, chính khứa quan quyền đủ loại ra vào tấp nập để xin quan mua chức. Nay quang cảnh vắng hoe, kể cả người lính gác cổng cũng cao bay xa chạy, đang được bộ đội Bắc Việt, tùng thiết trên mấy chiếc T54 của Liên Xô viện trợ, tới tiếp thu một căn cứ quân sự bỏ ngỏ, không phòng thủ.       Một vài chục tên Việt gian thời cơ, trở cờ, cánh tay mang băng đỏ, tay khác cầm cờ máu, lá cờ mà mấy chục năm nay cứ khoe là của nước Việt, mặt thật là sao chép y chang cờ máu của đảng Tàu Cộng, ngược xuôi xuôi ngược hò hét lập công. Nhưng mùa xuân có trăm hoa đua nở, có vạn vật hài hoà.. cho nên với một lá cờ máu tạo dựng bằng núi xuơng sông máu đồng bào, bán nước bán đất, tiêu diệt tín ngưỡng cùng văn hiến dân tộc, đang do một đám sâu bọ đội lớp người trí thức dân chủ, cổ võ bung xung, thì làm sao dựng nổi một mùa xuân? Văn Tiến Dũng, Bùi Tín quen tuyên truyền nên đã loạn ngôn cuồng bợ, viết sai các dữ kiện lịch sử trong ngày “Sài Gòn bỏ ngỏ tháng 4-1975, từ lúc Dương Văn Minh phát tiếng trong đài, ra lệnh QLVNCH phải buông súng đầu hàng quân Bắc Việt”, qua các tác phẩm mang tên “Mùa Xuân Ðại Thắng, Ánh Sáng của lịch sử ...”.       Hôm đó phường phố Sài Gòn thật sự vắng hoe, cũng không có cảnh xuống đường với biển QuÓc Gia 57

người rừng cờ như Hà Nội và đám Việt Gian Miền Nam mong đợi, để nhờ bọn ký giả phương tây thân cộng lúc đó, quay phim chụp ảnh, tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng là cách mạng giải phóng đã thành công.. Chỉ có một vài kẻ đa sự, tình cờ hay bị bắt buộc, bặm môi dừng lại bên đường, để trố mắt nhìn bộ đội miền bắc và tăng pháo do NgaTàu viện trợ, mà mới hôm qua đọc trên các báo chí đối lập Sài Gòn, nói là quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do anh Th†, chị Bình, chị Ðịnh.. chỉ huy để chống lại chính phủ VNCH tham nhũng, gian ác, đàn áp tôn giáo, ngăn cấm tự do..      Chỉ có đám dân chiến nạn từ miền Trung, di tản theo lính vào Sài Gòn, giờ bơ vơ đói rách, bồng bế nhau hồi cư theo lệnh của chủ mới. Chỉ có những quân, công, cán, cảnh Miền Nam tan hàng rã ngủ, biết thân phận mình, rủ nhau tới các địa điểm trình diện. Sau rốt là đại đa số dân nghèo cưc, không có phương tiện hay chẳng bao giờ mơ ước xuất ngoại, nên đành ở lại với cảnh tranh tối tranh sáng, kéo tới các kho đụn, nhà giàu, sở Mỹ cùng dinh thự đồ sộ của các quan tướng.. đã bỏ chạy, để hôi của kiếm ăn. Sài Gòn mặt thật của những phút giờ đổi đời là thế đấy. Hiện có nhiều nhân chứng hôm đó, chắc là còn sống, tuy tuổi đã cao nhưng không mất trí nhớ, đang ở khắp các nẻo đường hải ngoại, thì ai dám bẻ cong ngòi bút, lếu láo vẽ rắn thêm chân, đem thúng úp voi, dấu đầu lòi đuôi cho được ?           Người dân Sài Gòn cố gắng mở to đôi mắt hôm đó, để tìm trong hàng ngũ bộ đội tân lập


304 băng đỏ, cũng dép râu, nón tai bèo và khăn rằn xanh quàng cổ, hình dáng thân thương của các thầy, quý cha, anh chị em văn nghệ sỹ.. từng hò hét khản cổ, kêu gọi phản chiến, hòa hợp hòa giải năm xưa. Nhưng hỡi ơi, trong đó tìm hoài đâu thấy một ai. Các vị chỉ muốn đấu võ mồm, đâm sau lưng người lính, phá thối chính quyền đương thời. Ðến lúc nhà tan nước mất, giặc Bắc không hòa hợp mà chỉ xâm lăng, cướp của giết đồng bào.. thì các vị cũng đã nhanh chân ôm Mỹ, để kịp chạy ra hải ngoại, tiếp tục đối lập trọn đời, để lần nữa phá thối cuộc sống tạm dung chốn quê người, của những thân phận VN, cũng vì họ mà ngày nay phải sống đầu đường xó chợ, khác nào những tên nô lệ Pháp, Mỹ, trên vạn nẻo đường lưu vong, lấy nước mắt làm canh, đêm ngày hoài mơ viễn xứ, thương khóc tưởng nhớ quê mình.           Bảy mươi chín năm trôi qua (1930-2009), dù bây giờ chuyện gì người dân cũng đã biết đủ. Thế nhưng cộng sản và Việt gian, thì chứng nào tật đó, vẫn tỉnh bơ hãnh diện, tiếp tục gian dối bịp lừa đồng bào. Tóm lại, đối với cộng sản, tất cả chỉ là giai đoạn, nên không bao giờ có chuyện tình nghĩa đồng chí, đồng đảng, đồng đội.. thì nói làm chi tới tình đồng bào, đồng nước. Cũng nhờ gần hết bí mật lịch sử cân đại, được khai quật phổ biến, nên ngày nay chúng ta mới nhận diện được bộ mặt thật của những người, từng ôm nhau hôn hít, từng nhận là anh em môi hở răng lạnh hay sông liền sông, núi kế núi.. thế nhưng cũng chẳng có gì, ngoài nhu cầu hợp tác và giai

đoạn.     Sau năm 1990, Liên Bang Sô Viết và Nam Tư tan rã thành từng mảnh vụn. Những người mới đó cùng đứng chung dưới một màu cờ, một đảng bộ.. đã vội bôi mặt chém giết nhau một cách tận tuyệt. Tuy nhiên bi thảm hơn hết, vẫn là sự tương tàn đẫm máu, giữa ba đảng Tàu, Việt và Miên Cộng.. xảy ra từ các năm cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, sau khi đệ tam quốc tế đã tạm hợp tác, thỏa hiệp chống Mỹ thành công. Từ kinh nghiệm năm đó, giờ nhìn lại thái độ lưng chừng của Việt Cộng, trong vai trò chọn lựa để được làm đầy tớ Hoa Kỳ hay Trung Cộng, khiến cho đồng bào trong và ngoài nước phải ngao ngán, vì biết chắc dù VC có theo ai chăng nữa, thì đất nước lần nửa, rồi sẽ tan nát nếu có chiến tranh xảy ra.           Lần trước Polpot và Ðặng Tiểu Bình mới chỉ có tàn sát đồng bào vô tội cũng như tàn phá tận tuyệt các tỉnh biên giới của VN. Lần này Trung Cộng binh hùng vũ khí tối tân, lại có nhiều tấn bom nguyên tử, chắn chắn là Tàu sẽ thẳng tay tiêu diệt con Hồng cháu Lạc cả nước, nếu đảng CSVN mà đại diện bán nước hiện nay là 13 tên trong chính trị bộ, dám giở thói lọc lừa ba que với chúng, khi đã nhận hàng tỷ đô la đút lót của Tàu phù, mà không trung thành với chủ theo lệnh ‘ Hợp Tác Toàn Diện ‘ mặt thật là bán nước cho giặc .   1 - KHMER ÐỎ TẤN CÔNG TÀU BUÔN HOA KÝ :           Nam Vang thất thủ trước Sài Gòn mười ba ngày (17-4-1975). Ðể chiếm thủ đô, Polpot đã ra lệnh QuÓc Gia 58

cho Khmer đỏ, pháo kích bừa bãi dã man vào thành phố, gây thương vong nhiều người vô tội, tại các khu vực đông dân cư, làm tê liệt phi trường Pochentung. Vì vậy Ðại sứ Mỹ là John Gunther và tổng thống Lonnol (kẻ đã ra lệnh cáp duồn hằng vạn Việt Kiều tại Kampuchia năm 1970), nếu không nhanh chân chạy lên trực thăng vù ra biển, chắc cũng đã bị Polpot phanh thây như triêu người dân Miên khác bị kẹt lại.           Ngay khi chiếm được nước, các lãnh tụ Miên đỏ đã bất chấp luân thường đạo lý, ra lệnh tàn sát gần hết đồng bào mình, một cách rùng rợn. Thảm trạng có một không hai trên, đã khiến cho nhân loại, dù ở tận phương trời góc biển, đã phải xanh mặt, tím ruột, khi được đối diện với mặt thật của những hung thần cộng sản quốc tế, qua hình ảnh của địa ngục trần gian ‘The Killing Fields (Những cảnh đồng xác người)’.           Ngoài ra theo lệnh chủ mới là Tàu Cộng, Polpot trả ơn Việt Cộng, chủ cũ cũng là kẻ đã cưu mang chúng từ khi còn trong trứng nước, tới hồi lớn mạnh, bằng cách tấn công biên giới, biển đảo, để mong chiếm lại miền Thủy Chân Lạp của 300 về trước, đã bị VN tới khai thác khi bị bỏ hoang.           Polpot cũng đã mở màn cho cuộc chiến Ðông Dương lần thứ III (1975-1990), bằng lệnh khai hỏa vào chiếc tàu buôn của Mỹ tên Mayaguez, trong lúc đang bỏ neo ngoài khơi hai đảo Kohtang và Poulo Wai (Ðảo Trọc), nguyên là lãnh thổ của VN, nằm trong vịnh Phú Quốc, bị Khmer đó chiếm sau tháng 4-1975.


Ngay khi bị lực lượng người Nhái của Polpot tấn công, thuyền trưởng chiếc tàu buôn trên, đã đánh khẩn điện về nước để cầu cứu và đã được chính Tổng Thống Mỹ lúc đó là Ford, ra lệnh cho TQLC cùng Không quân, đang ở căn cứ Utapao (Thái Lan), đến giải thoát họ. Nhưng Polpot khôn ranh, đã ra lệnh cho kéo chiếc tàu trên cùng thủy thủ đoàn 37 người, về giam tại hải cảng Kompong Som, trước khi TQLC Mỹ dùng trực thăng, đổ bộ lên đảo Poulo Wai, sáng ngày 15-5-1975.     Một trận ác chiến sau đó, đã xảy ra trên đảo Kohtang, giữa TQLC và quân Khmer đỏ. Kết quả có hai trực thăng Mỹ chở quân bi bắn hạ và ngay cả TQLC cũng bị vây khổn trong trận địa. Ðể giải vây quân tiếp viện cũng như chiếc tàu buôn đang bị bắt, lần nữa TT Ford ra lệnh cho KQ tại Thái Lan, oanh tạc Nam Vang và hải cảng Kompong Som, phá hủy nhiều máy bay Mig của Trung Cộng vừa viện trợ, đồng thời đốt rụi nhà máy lọc dầu duy nhất của Kampuchia tại hải cảng Sihanouk. Thấy Hoa Kỳ làm dữ quá, Polpot giả vờ đổ thừa cho địa phương vì phương tiện truyền tin eo hẹp, nên không nhận được lệnh Trung Ương, rồi ra lệnh thả chiếc tàu buôn cùng thủy thủ. Ngoài ra TQLC cũng được lệnh rút khỏi đảo Kohtang, bỏ lại xác hai chiếc trực thăng. Trong trận chiến này, có 15 binh sĩ Mỹ tử thương trong khi đụng độ.           Vụ tàu buôn Mỹ Mayaguez bị tấn công và 15 TQLC bỏ mạng, trên đường hồi hương, được Ford cùng báo chí giữ kín. Người Mỹ muốn gì khi im lặng hay thật sự

đã nhìn thấy trước, cảnh huynh đệ tương tàn trong các đảng cộng sản đệ tam quốc tế. Sau này qua các tài liệu đã giải mật, được Ford giải thích: “Ðó là sự châm ngòi cho ý nghĩa mới. Một cơ hội để cho các đảng cộng sản anh em tự thanh toán lẫn nhau, dọn đường cho tư bản trở lại Ðông Dương và Ðông Nam Á”.Cuối cùng Hoa Kỳ đã tiên đoán đúng. Từ thập niên 90 về sau, chẳng những các nước Ðông Dương, mà ngay cả Trung Cộng, Liên Bang Nga lẫn Bắc Hàn, đều trải thảm đỏ, mở cửa rộng, để quỳ đón Âu Mỹ, Nhật, Triều Tiên.. đem đô la vào cứu đảng. 2 - CUỘC CHIẾN ÐẲM MÁU GIỮA VIỆT CỘNG VÀ MIÊN CỘNG :           Theo các tài liệu hiện hành, ta biết đảng cộng sản Cam Bốt được thành lập vào tháng 9-1951, qua danh xưng “Ðảng Nhân Dân Cách mạng Khmer” (Khmer People ‘s Revolutionary Party thường viết tắt là KPRP.) Polpot tên thật là Saloth Sar, người Việt gốc Miên. Trong thời gian du học tại Pháp, qua sự móc nối của một đảng viên VC tên Phạm văn Bá, từng hoạt đ¶ng tại Nam Vang, nên Polpot gia nhập đảng KPRP năm 1953. Hiệp định về Ðông Dương, ký tại Geneve 1954, ra lệnh cho đảng này giải tán. Do đó hơn 2000 đảng viên KPRP phải tập kết tới Hà Nội. Chính sự tan rã của đảng cộng sản Miên, là nguyên cớ sau này để Polpot vin vào lên án VC đã bán đứng đồng chí, khi cuôc chống Pháp của hai đảng đã đạt được thành công.       Tuy nhiên dù bị cấm đoán, cộng sản Miên vẫn âm thầm hoạt QuÓc Gia 59

động lén lút, dưới sự lãnh đạo của Shieu Hang và Ton Samouth. Từ tháng 7-1962, Polpot mới được cử làm Bí thư đảng, hoạt động chung với Ieng Sary và Son Sen. Bắt đầu từ năm 1965 trở về sau, Mỹ ào ạt đổ quân vào Nam VN, làm cường độ chiến tranh càng lúc càng gia tăng. Tai Miên, ngoài mặt Sihanouk mang chiêu bài trung lập, nhưng đã gần như công khai để cộng sản Bắc Việt sử dụng lãnh thổ xứ chùa Tháp, làm căn cứ điạ dưỡng quân, đồn trú, lánh nạn và trực tiếp nhận viện trợ của khối cộng sản, tại hải cảng Sihanoukville. Mục đích cũng chỉ để trục lợi mà thôi. Trong giai đoạn này, Bắc Việt đã lập một đơn vị đặc nhiệm, gọi là P36 chuyên huấn luyện bộ đội Khmer đó của Polpot, cũng như ngăn cản không cho đụng chạm tới quân đội Hoàng gia Cam Bốt của ông Hoàng Sihanouk.      Năm 1970, lợi dụng Sihanouk xuất ngọai, tướng Lonnol và Hoàng thân Sirik Matak làm cuộc đảo chánh và đón quân Mỹ vào. Nhờ vậy gần như tất cả các căn cứ địa của bộ đội Bắc Việt và Khmer đỏ, trú đóng trên đất Miên bị tiêu diệt bởi Mỹ dội bom và các cuộc hành quân Toàn Thắng, của liên quân Hoa Kỳ-VNCH.           Trước nguy cơ bị tiêu diệt, lần nữa hai đảng cộng sản anh em lại hợp tác để sống còn. Rồi lợi dụng tiếng tăm của Sihanouk, Bắc Việt dụ dỗ tuyên truyền dân chúng Miên gia nhập bộ đội, giúp cho lực lượng Khmer đỏ lên tới 30.000 quân. Tất cả đều do Hà Nội cưu mang, từ huấn luyện cho tới trang bị và tiếp tế. Trong những lần đụng độ với quân của Lonnol, bộ đội Bắc Việt luôn


đi đầu hứng đạn, còn lính của Polpot thì đi sau, nếu thắng thì đòi chia chiến lợi phẩm. Ngược lại khi bộ đội Bắc Việt thua trận, quân Polpot lập tức bỏ chạy hay ác hơn là bắn lén sau lưng. Tình đồng chí của cộng sản là vậy đó.           Năm 1972, Polpot nghe lời dụ của cáo già Kissinger h†p mật. Nhưng đây chỉ là kế ly gián của Mỹ, nhằm gây rạn nứt giữa hai đảng cộng sản. Vì sau đó Mỹ đã oanh tạc từ 257-465 tấn bom xuống tàn phá gần hết các căn cứ của quân Khmer đỏ, rồi phao tin là Hà Nội đã chỉ điểm. Ðòn chí tử này đã khiến Polpot trở mặt chống Bắc Việt từ đó nhưng ngoài mặt thì giả vờ liên minh hợp tác.           Tháng 8-1974 Polpot hạ sát 71 đảng viên c¶ng sản Miên thân Hà Nội. Tiếp theo vào tháng 9 cùng năm có 100 người khác cùng chung số phận. Nhưng trong số này có 2 người còn sống sót tên Hemsamin và Yospor trốn thoát tới Bắc Việt. Chưa hết, có 2 phóng viên Bắc Việt bị giết tại Kampong Chàm và trọn một phái đoàn của MTGPMN, từ Mỹ Tho vào tham quan vùng xôi đậu trong Ðồng Tháp Mười nhưng lại lạc qua Miên, bị Khmer đỏ phục kích hạ sát. Thêm vào đó, đã có hàng vạn Việt kiều bị Khmer đỏ cáp Duồn.      Tất cả Hà Nội đều biết, nhưng vẫn im lặng, đã vậy Bắc Bộ Phủ còn nỗ lực giúp cho Polpot chiếm được Kampuchia và Nam Vang vào ngày 17-4-1975. Ngoài ra để che dấu sự thật, mục đích phỉnh gạt đồng bào, lừa bịp dư luận thế giới, hằng ngày hai đảng vẫn ra rả lập đi lập lại những từ ngữ hào nhoáng tuyên truyền như ‘ Ðoàn

kết vĩ đại, tình hữu nghi anh em cách mạng Cam Bốt-Việt Nam bất diệt.. “. Cuối cùng ngày 124-1975, Ieng Sary chính thức yêu cầu Trung Cộng, trực tiếp viện trợ cho Kampuchia mà không cần VN trung gian như từ trước.           Ðể mở màn cho bi kịch máu đã tới lúc chín mùi, ngày 4-51975, Polpot ra lệnh tấn công hai đảo Thổ Châu và Phú Quốc. Quân Khmer đỏ chém giết dã man hằng ngàn đồng bào vô tội, cướp của đốt nhà và trước khi rút, đã bắt 500 người VN, đa số là đàn bà con gái. Ðể trả đÛa, ngày 18-5-1975, VC huy động hải lục không quân, tái chiếm hai đảo trên và đảo Pulau Wai mà Miên đã chiếm từ trước, bắt giữ 300 tù binh. Thấy VN làm dữ, Polpot lại xuống giọng. Rồi thì màn kịch đồng chí đồng đảng, được hai nước tô son trét phấn trở lại hằng ngày trên đài, trên báo, khi Mười Cúc-Nguyễn Văn Linh dẫn phái đoàn sang Cam Bốt thăm viếng xã giao ngày 2-6-1975. Ngược lại, Polpot cùng Ieng Sary và Noun Chen, trên đường sang chầu Trung Cộng, đã ghé Hà Nội để đáp lễ vào ngày 12-6-1975.      Tại Trung Cộng, tình hình nội bộ đảng cộng sản biến chuyển mạnh, sau khi Mao Trạch Ðông chết. Ðêm 6-10-1976, Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh và Uông Ðông Hưng.. ra lệnh cho đơn vị đặc nhiệm tại Bắc Kinh 2341, bất thần tấn công, bắt trọn ổ Tứ Nhân Bang gồm Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diệu Văn Nguyên.. rồi tôn Ðặng Tiểu Bình lên ngôi hoàng đế đỏ, dù Hoa Quốc Phong vẫn là Tổng Bí Thư đảng bù nhìn.     Ðặng công khai ủng hộ Polpot, QuÓc Gia 60

bất chấp dư luận thế giới đang nguyền rủa tên sát nhân và khmer đỏ. Từ đó qua chỗ dựa chắc chắn, Polpot theo hẳn Trung Cộng, cắt đứt liên hệ với VC. Về nước, Polpot ra lệnh hạ sát hơn 10.000 đảng viên, tại Trung tâm thẩm vấn Tuol Sleng ở Nam Vang, vì họ bị nghi là thân với Hà Nội. Máu của đồng bào hai nước tiếp tục chảy hằng ngày, trong lúc hai cái loa của hai đảng, vẫn không ngớt ca tụng, tuyên truyền tình hữu nghi thắm thiết, một cách trơ trẽn và lố bịch, khiến cho ai nghe cũng muốn lợm giọng.      Cuối tháng 3-1977, sau khi đã thanh trừng hết tay chân của Hà Nội, Polpot ban hành nghị quyết 870, công khai chống VN, ra lệnh tàn sát Việt kiều tại đất Miên, đồng thời tấn công các tỉnh biên giới.       Ngày 30-4-1977, trong lúc Bắc Bộ Phủ từ trên xuống dưới, đang mở đại tiệc ăn mừng chiến thắng cướp được VNCH, thì từ Hà Tiên, Châu Ðốc, An Giang, Ðồng Tháp lên tới Tây Ninh.. hằng chục sư đoàn Khmer đỏ, vượt biên giới tấn công vào các làng xã của VN. Giống như quan thầy Trung Cộng, lính Miên đỏ hung dữ dã man chưa từng thấy, qua hành động giết người rồi chặt đầu, mổ bụng, phanh thây và cắt bỏ các cơ quan sinh dục của nạn nhân. Sau đó đốt sạch nhà cửa và bắt hết trâu bò, heo ngựa của người Việt đem về Căm Bốt. Do sợ Trung Cộng, nên Hà Nội vẫn im lặng nhưng khắp nước đồng bào đều lên tiếng phản đối, cả tờ báo Quân Ðội Nhân Dân cũng lên tiếng đòi chính phủ trả đũa. Do trên, Bắc Bộ Phủ đã ra lệnh cho A37 oanh tạc, rượt đuổi quân


Miên chạy về bên kia biên giới.     Tháng 8-1977, tờ Cờ Ðỏ của Polpot (Democratic Kampuchia Advance), cho phát hành một bản đồ nước Căm Bốt mới, không theo đường ranh Bravie cũ. Bản đồ này, ngoài lãnh thổ nước Kampuchia hiện hữu, còn bao gồm tất cả các hải đảo của VN và Nam Phần, mà Polpot gọi là Thuỷ Chân Lạp. Cùng lúc vào tháng 2-1992, quốc hội Trung Cộng cũng đã ban hành phổ biến một bản đồ của nước Tàu mới, trong đó hải phận Trung Hoa chạy dọc suốt bờ biển VN, Thái Lan, Mã Lai Á, Nam Dương, Brunei và Philippine. Như muốn đổ dầu vào lò lửa đang ngùn ngụt cháy, Ðặng Tiểu Bình, Hoa Quốc Phòng.. và đảng cộng sản Tàu, công khai cổ võ hành động Polpot chống lại VN.      Trước nổi cô đơn thê thiết vì bị Mỹ ngoảnh mặt, Tàu bỏ rơi, thế giới lợm giọng, đàn em Polpot phản bội và dân chúng miền Nam ù lì thụ động bất hợp tác. Vì vậy với bản chất lật lọng, quen chịu làm đầy tớ bất cứ ai nếu có lợi cho đảng và cá nhân nên VC lại chạy sang quì lạy Liên Xô, chịu gia nhập khối kinh tế Comecon và trên hết cho hải quân Nga vào các hải cảng Ðà Nẳng, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu. Ngày 6-6-1977, một phái đoàn quân sự Nga tới thăm Hà Nội. Tháng 10-1977, VC cho chở một số lớn chiến lợi phẩm tịch thu của VNCH từ tháng 4-1975 gồm phi cơ, chiến xa, đại pháo.. sang bán cho Ethiopie, một quốc gia Bắc Phi, nói là để lấy tiền trả nợ cho Trung Cộng.       Cũng từ đó, VC công khai làm chư hầu Liên Xô, nên được

đàn anh viện trợ cho một số quân dụng cũ, gồm 2 tàu ngầm, một khu trục hạm, 4 phi đội MIG 21 cùng với đoàn cố vấn Nga đông đảo. Như vậy thế chân vạc của cộng đảng trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ III đã thành hình. Một bên gồm Liên Xô-VCLào cộng. Phe kia có Trung cộng và Khmer đó. Người Mỹ đứng giữa đâm thọc cả hai phía, để giật dây cũng như đổ thêm dầu vào đám cháy đang rực lửa. Ðó cũng là lối trả thù quý phái của bọn tư bản nhà giàu, trong canh bạc bịp, được coi như lớn nhất thế kỷ XX.           Ngày 24-9-1977, Khmer đỏ lại vượt biên tấn công Tây Ninh, phanh thây xé xác hằng trăm đồng bào vô tội. Lần này Bắc Bộ Phủ lột chức Trần Văn Trà, cho Lê Ðức Anh thay thế. Một ký giả Hung Gia Lợi tên Sandor Giory đã tới tận hiện trường quay phim, chụp hình nhưng bị công an tịch thu phim máy. Ðã vậy, 4 ngày sau cuộc tấn công đẫm máu tại Tây Ninh, Hà Nội vẫn gủi điện văn tới chúc mừng Polpot, trong dịp lễ ăn mừng 20 năm thành lập đảng Miên Cộng.           Rồi thời cơ chín mùi qua sự hứa hẹn của LX sẽ ra mặt can thiệp nếu Trung Cộng tấn công VN. Ðể lấy lòng tin thằng đầy tớ mới, LX cho hằng chục sư đoàn trải dài khắp biên giới Nga-Hoa và phái một mẫu hạm thường trực tuần thám trong hải phận vịnh Bắc Việt. Cũng từ đó, Hà Nội mới bắt đầu trả đũa, tung quân chiếm lại các làng mạc bị Khmer đỏ cư«ng chiếm. Quân VN còn thọc sâu vào lãnh thổ tỉnh Svay Riêng, để giải thoát cho các tướng lãnh Miên đang bị Polpot thanh trừng đuổi giết, QuÓc Gia 61

như Hunsen, Heng Samrin, Bonthang.. đem về VN. Sau đó VC cho diễn lại vở tuồng cÛ năm 1960 ở miền Nam VN, dùng các quân bài trên, để thành lập cái gọi là ‘ Mặt Trận Giải Phóng Căm Bốt ‘.      Ngày 5-10-1977, Trung Cộng và Polpot chính thức ký một “Nghị định thư” (Protocol), để bổ túc cho Hiệp định quân sự, mà hai bên đã ký ngày 1-2-1976. Theo đó, Trung Cộng sẽ viện trợ quân sự cho Khmer đỏ vô điều kiện không hoàn trả. Ngày 1-111977, Trung Cộng cắt đứt đường bay Bắc Kinh-Hà Nội. Ngày 21-11-1977, Tổng bí thư Lê DuÄn sang chầu thiên triều xin tạ tội nhưng bị Ðặng Tiểu Bình xua đuổi. Thế là đảng VC quyết định theo hẳn Nga Sô chống Tàu Cộng từ đó, tuy nhiên trước khi sang Mạc Tư Khoa ký kết, Võ Nguyên Giáp được lệnh bí mật bay tới Tân Ðề Ly nhờ giúp đỡ. Nhưng thời thế đã đổi thay, vì lúc đó Ấn Ðộ theo Tây Phương, không trung lập thân cộng, nên đã từ chối lập tức. Thế là lò lửa chiến tranh giữa ba đảng anh em Tàu-Việt-Miên, đã chính thức bùng cháy, không ai có thể dập tắt được.       Sau khi đi Tàu cầu hòa lần chót bị thất bại nên phải chạy theo Nga, vì vậy Lê Duẩn quyết định tấn công trả đũa Polpot. Ngày 2-12-1977, quân đoàn 4 hay Binh đoàn Cửu Long, gồm các Sñ chính quy 7,9,341 có không quân, thiết giáp, pháo binh yểm trợ, do Hoàng Cầm chỉ huy, với quân số trên 60.000 người, cộng thêm nhiŠu Thanh Niên Xung Phong lo phần tiếp vận, công binh.. đồng loạt tấn công


tái chiếm phần đất Tây Ninh bị chiếm, rồi tràn vào đất Miên tiêu diệt Quân Khu Ðông của Khmer đỏ. Vì lúc đó Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, đang thăm khối ASEAN, nên quân VN được lệnh rút về nước ngày 6-1-1978. Lập tức Ðại sứ Kiều Minh và toàn bộ ngoại giao đoàn bị trục xuất khỏi Nam Vang. Ngoài ra Polpot cho triệu hồi đại sứ Sokheng từ Hà Nội về rồi giết chết. Cũng từ đó, đã có sự rạn nứt trong nội bộ, đưa tới sự thanh trừng, làm suy yếu quân đội.     Trong trận tấn công vừa qua, VN đã giải thoát và đem về nước hơn 60.000 nạn nhân bị Polpot cáp duồn gồm Việt-Hoa kiều và một số dân Miên. Tất cả được tạm trú tại các Trại Tị Nan mới lập ở Bến Sành (Tây Ninh) và Bến Tranh (Ðịnh Tường), do Liên Hiệp Quốc bảo trợ. VC nhân cơ hội vào trại tuyên truyền và tuyển mộ lính. Ngày 15-2-1978, Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ, từ Hà Nội vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia của VNCH ở Sài Gòn, để chủ tọa buổi ra mắt cái gọi là “Mặt Trận Kháng Chiến Khmer”. Những cán bộ Miên Cộng thân Hà Nội như Pensovan, Chensi, Heng Sarin, Tang Soroun và Chesoth đều được chỉ định làm cấp lãnh đạo. Tân binh Miên được VN huấn luyện cấp tốc tại các quân trường cũ của miền Nam như Chí Lăng, Vị Thanh và Long Giao. Ngày 22-4-1978, thành lập Lữ Ðoàn 1 Kháng Chiến Miên, rồi đưa về nước đánh Polpot. Trong lúc đó, quân Khmer đỏ lại tự tàn sát lẫn nhau tại các tỉnh miền đông như Kampong Chàm, Svayr Rieng và Prey Veng. Lợi dụng sự chia rẽ

trên, VC kêu gọi dân Miên nổi lên lật đổ Polpot.        Tháng 6-1978, Hà Nội lại oanh tạc Kampuchia. Tháng 9-1978, Phạm Văn Ðồng sang du thuyết giải độc tại 6 nước ASEAN nhưng bị thất bại. Ngày 1-11-1978, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Cơ Thạch .. lại sang Liên Xô, để ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước trong vòng 25 năm. Theo đó Nga đã viện trợ quân sự, cũng như nhân đạo 1,5 triệu tấn mễ cốc cứu đói. Ngoài ra Nga còn cam kết sẽ can thiệp, nếu Trung Cộng xâm lăng VN. Cũng vì quá tin tưởng vào lời hứa cuối này, mà VC đã sử dụng gần 3/4 quân số khi tấn công Khmer đỏ, nên không đủ lực lượng phòng thủ biên giới phía bắc, khi Trung Cộng xâm lăng VN.       Ngày 2-12-1978, Lê Ðức Thọ, Ðồng văn Cống .. đã đến chủ tọa ngày thành lập “Mặt Trận Cứu Nguy Cam Bốt”, gọi tắt là KNUFNS, tại một khu rừng già trong tỉnh Kratie vừa chiếm được. Tại đây đã tập họp được một lực lượng đông đảo chống Polpot gồm tân binh, lính khmer đào ngũ và Ham Samsin được phong chức chủ tịch mặt trận. Rồi hằng ngày tiếng nói của những người Miên chống đối được phát thanh, đồng thời VC dùng máy bay rải truyền đơn chống Polpot, được rải khắp lãnh thổ Cambốt. Song song, lá cờ cÛ của Khmer Issarak năm 1950, với hình năm ngôi tháp vàng trên nền đỏ, được xài lại. Bộ chỉ huy tiền phương của VN đóng bên cạnh quân Miên, chuẩn bị tấn công quân Khmer đỏ của Polpot.       Ðể tiêu diệt Khmer đỏ qua QuÓc Gia 62

thời gian kỷ lục, đặt dư luận thế giới trước sự đã rồi, Hà Nội đã mở cuộc hành quân thần tốc, sử dụng trên 200.000 quân sĩ của ba trong bốn quân đoàn chính quy và một lực lượng yểm trợ hảikhông quân, hỏa tiễn và thiết giáp. Lê ñức Thọ vào thay Lê Trọng Tấn, giám sát chiến dịch, còn Lê Ðức Anh làm tổng tư lệnh chiến trường. Sư đoàn 2 và Trung đoàn chủ lực Tây Ninh khai pháo trước một ngày, khi Chu Huy Mậu tổng cục trưởng TCCT bắn phát súng lệnh mở màn chính thức cuộc tấn công Cam Bốt vào lúc 12 giờ khuya đêm giáng sinh 1978 tại Ban Mê Thuột.      Theo kế hoạch, quân VN vượt biên giới tấn công Kampuchia bằng nhiều hướng, Ở phía bắc, quân khu V + quân đoàn 3 Tây Nguyên (gồm SD10,320,31), do Kim Tuấn chỉ huy, đánh chiếm tỉnh Stung Treng và toàn vùng đông bắc giáp với Lào. Cánh quân thứ hai của quân khu VII (gồm SD 303,302,5) +quân đoàn 3 với Lữ đoàn 12 thiết giáp, các trung đoàn tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Long An.. từ hướng bắc Tây Ninh, Ql 7 và 13 tấn công chiếm Kompong Chàm và Kratié. Hướng tấn công chính cũng phát xuất tại Tây Ninh, do quân đoàn 4 phu trách (SD 2,7,9,341) + lữ đoàn 22 thiết giáp, lữ đoàn 24 pháo binh và lữ đoàn 25 công binh. Quân khu IX có quân đoàn 2 hay Binh đoàn Hương Giang tăng cường, tấn công từ An Giang, Hà Tiên. Tóm lại, ngoại trừ SD 306 được giữ lại để phòng thủ Lào, các SD 304, 325 cũng được điều động về nước tăng cường.           Cuộc chiến xảy ra thật


đẫm máu và ác liệt, cộng thêm không quân và pháo binh ào ạt dội bom nã đạn, đánh bật 30.000 quân Khmer đỏ và nhiều cố vấn Trung Cộng, phải bỏ các tỉnh dọc biên giới Miên-Việt, tháo chạy về Nam Vang. Tại đây, bộ đội VC chiếm được nhiều quân dụng mới chưa sử dụng do Tàu viện trợ cho Cam Bốt như phi cơ, trong pháo.. Tuy nhiên VN cũng bị thiệt hại nặng, trên đường tiến quân về thủ dô, vì phục kích, mìn bay tại Fishhock, Kompong Cham và bến phà NeakLuong. Ðặc công VC cũng lén đột nhập vào Hoàng cung để giải thoát cho cựu hoàng Sihanouk nhưng Polpot đã cho di chuyển đượng sự tới Sisophon, nằm sát biên giới Miên-Thái.      Tính đến ngày 4-1-1979, VN làm chủ hoàn toàn các tỉnh miền đông của Cam Bốt. Ngày 6-11979, 7 Sñ của VN + 3 lữ đoàn Miên của Heng Samrin, qua phà trên sông Cửu Long, đồng loạt tấn công Phnom Penh. Thủ đô thất thủ sau một ngày kích chiến. Polpot cùng toàn bộ Khmer đỏ bỏ chạy tới tận TaSanh, sát biên giới Miên-Thái, để tiếp tục chống VC.       Tóm lại ngày 8-1-1979, đồng bào Cam Bốt coi như được giải thoát khỏi bàn tay sát nhân của Polpot và Khmer đỏ. Một Hội đồng cách mạng Kampuchia gồm 8 ủy viên được thành lập, do Heng Samrin làm chủ tịch. Ngày 14-1-1979, Ðặng Tiểu Bình, Hàn Niệm Long và nhiều uỷ viên cao cấp, trong Bộ Chính trị Trung Cộng, tới Thái Lan, tiếp xúc mật với thủ tướng Kriang Sok tại căn cứ Utapao. Sau đó, Thái cho Polpot và Khmer đỏ dung thân

trên biên giới của hai nước. Qua sự yểm trợ và cưu mang hết mình của Tàu Cộng, Polpot lại tiếp tục đánh du kích với VC khắp nước Miên, cho tới đầu thập niên 90, qua áp lực của thế giới, cũng như sự sụp đổ của Liên Xô-Ðông Âu, VC mới chịu rút quân về nước, chấm dứt chiến tranh nhưng thù hận giữa hai đảng cộng sản anh em tới nay, vẫn ầm ỹ, dù ngoài mặt Hun Sen luôn bợ Hà Nội. 3 - TÀU ÐỎ XÂM LĂNG VN :           Ai cũng biết quan hệ giữa hai đảng c¶ng sản Việt-Trung, vô cùng gắn bó từ sau năm 1949 khi Mao Trạch Ðông chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Từ đó, Trung Cộng hết lòng giúp đỡ VC mọi mặt, từ quân sự cho tới kinh tế, chính trị, ngoại giao. Nhờ vậy Hồ Chí Minh và đảng cộng sản mới chiếm được miền bắc vào năm 1954.    Trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975), hầu như nguồn viện trợ quân sự, kinh tế cho Bắc Việt xâm lăng VNCH, đều của Trung Cộng. Trên đất Bắc, Tàu giúp Hà Nội xây dựng nhiều công trình nhà máy, đường xá.. Theo tài liệu công bố, tính tới năm 1978, Tàu đã viện trợ cho VC hơn 20 tỷ mỷ kim. Từ năm 1965-1970, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, đã có hơn 100.000 quân Trung Cộng sang giúp Bắc Việt, để xây dựng và phòng thủ. Ðã có cả ngàn lính Tàu chết ở VN trong cuộc chiến.           Sau 1970, nhiều biến chuyển lịch sử đã xảy ra, nhất là khi HCM chết, làm cho Hà Nội càng ngày càng ngả theo LX. Do nhu cầu cuộc chiến, VC cần có nhiều quân dụng tối tân QuÓc Gia 63

như Mig21, tăng 54,55, hoả tiễn Sam.. để đối đầu với vũ khí Mỹ. Nhưng những thứ này chỉ có Nga mới có. Trung Cộng biết hết, nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ VC cho tới khi Hà Nội chiếm được miền Nam.      Rồi vì đầu óc thiển cận, các chóp bu trong Bắc Bộ Phủ tự coi như các đỉnh cao của loài người, coi thường mạng sống đồng bào cả nước, lại mù quáng chạy theo chủ thuyết cộng sản đã lỗi thời và nhất là tôn sùng Liên Xô hơn thần thánh. Từ đó, không cần cảnh giác về những kẻ thù xung quanh, lại mù quáng trở mặt và thách đó Trung Cộng. Ðó là nguyên nhân chính khiến kẻ thù có cớ xâm lăng VN vào năm 1979.      Tại miền Nam, ngày 24-31978 bắt đầu đánh tư bản. Hằng ngàn công an, bộ đội và nam nữ thanh niên xung phong đeo băng đỏ trên tay, rải khắp các đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn, Gia Ðình, xông vào các hãng xường, nhà buôn, tư gia.. những người có máu mặt Hoa lẫn Việt, để lục lọi, vơ vết, xoi khám tịch thu tiền bạc, đô la, vàng ngọc, hàng hóa và tất cả tài sản riêng tư của dân chúng, những ai bị đảng kết tội là mại sản. Theo tài liệu được bật mí, chỉ riêng mẻ lưới trên, Hà Nội đã vơ vét của người giàu Sài Gòn, hơ           Ngày 3-5-1978, cả nước lại được đổi tiền lần thứ ba, khiến đồng bào trước sau trở thành vô sản chuyên chính. Ở miền bắc, hằng ngàn Hoa Kiều bị trục xuất về nước. Trong nam, hằng vạn người Hoa trắng tay, tiêu tan sản nghiệp, bì đầy ải lên vùng kinh tế mới tận Bình-Phước Long,


Bình Tuy, Long Khánh, Bà Rịa.      Ðể trả đũa, Trung Cộng ngưng hẳn 72 công trình xây dựng viện trợ cho VN. Ðã có 70.000 người Hoa tại VN hồi hương về Hoa Lục. Ngày 16-5-1978, Trung Cộng tuyên bố gửi hai chiến hạm tới Hải Phòng và Sài Gòn, để đón hết Hoa kiều. Nhưng đây chỉ là đòn tuyên truyền chính trị, vì tàu chiến chỉ đậu ngoài khơi một ngày, rồi kéo neo về nước. Nắm được yếu điểm của đàn anh, VC lần chót hốt hết những gì còn sót lại của Hoa Kiều, qua chiến dịch ‘xuất cảng người‘.Sau đó tống khứ họ ra khơi, khiến cho hơn triệu người bị chết vì sóng gió và hải tặc Thái Lan trên biển Ðông, mà những trang Việt sử cận đại, gọi là cơn hồng thủy của thế kỷ.           Sau khi VN bỏ lỡ cơ hội nối lại bang gioa với Hoa Kỳ. Ngày 24-5-1978, phụ tá an ninh của tổng thống Mỹ Carter là Brezinski, tới Bắc Kinh ký một hiệp ước liên minh quân sự với Tàu. Từ đó Ðặng Tiểu Bình đã có chỗ dựa chống Nga, nên mới ra mặt quyết tâm xâm lăng VN để rửa thù phục hận.           Từ 28 tới 30-1-1979, Carter và Ðặng Tiểu Bình đã họp mật tại Tòa Bạch Ốc. Sau đó tổng thống Mỹ đồng ý để Trung Cộng trừng phạt VN và còn giúp cầm chân Nga, bằng cách chịu ký với LX hiệp ứơc SALT II. Ðể thêm kế nghi binh, Hoa Kỳ cử bộ trưởng tài chánh là Blumenthal tới công tác tại Bắc Kinh. Ngoài ra còn cho Hàng không mẫu hạm Constellation lảng vảng ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Tất cả mơ mơ màng màng, khiến cho LX cũng không biết đâu mà mò.       Ngày thứ bảy 17-2-1979, lúc

3 giờ 30 sáng, khi vạn vật, chim chóc và con người đang chuẩn bị cho một ngày sống mới, thì 600.000 quân Tàu, tiền pháo hậu xung, ào ạt mở cuộc xâm lăng đại quy mô vào VN, trên vùng biên giới từ Lai Châu tới Móng Cáy. Thế là tình nghĩa vô sản quốc tế trong sáng giữa hai nước, đã trở thành hận thù thiên cổ. Những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Ðồng Khê, Thất Khê.. lại đi vào những trang Việt sử đẫm máu, của VN chống xâm lăng Tàu.      Ðể tấn công VN, Trung Cộng đã huy động nhiều quân đoàn từ nhiều quân khu khác nhau, gồm QÐ 13,14 tấn công Lai ChâuLào Kay. Hai QÐ 41,42 tân công Cao Bằng. Riêng mạn Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Ninh thi giao cho quân đoàn 43,54,55. Tất cả do Hứa Thế Hữu và Dương Ðắc Chí chỉ huy trong mấy ngày đầu.       Về phía VN, một phần vì sự tự cao bách thắng của các đỉnh cao tại bắc bộ phủ, phần khác do quá tin tưởng sự liên minh quân sự với LX nên gần như sử dụng gần hết các đơn vị chính quy tại mặt trận Kampuchia. Bởi vậy ngay khi cuộc chiến bắt đầu, trong lúc quân Trung Cộng đông đảo lên tới 150.000 chính quy, thì việc phòng thủ miền bắc, nhất là thủ đô Hà Nội, được giao cho các Sư Ðoàn 308,312,390 của quân khu I. Nói chung, trong cuộc chiến đấu với Trung Cộng tại biến giới, chỉ có các sư đoàn chủ lực của quân khu tham dự như Sư đoàn 3,327, 337, Tây Sơn ( mặt trận Lạng Sơn). SÐ 567, B46, SÐ Pháo binh 66 (mặt trận Cao Bằng). Các tuyến từ Hà Giang tới Lai Châu, do các SÐ316,345, Ðoàn B68, M63, QuÓc Gia 64

các trung đoàn chủ lực tỉnh, huyện đội, công an biên phòng. Sau đó khi thấy tình hình quá nguy ngập, Hà Nội mới gấp rút điều động các trung đoàn từ các tỉnh trung châu, cùng với các sư đoàn chủ lực của quân khu II và IV từ Kampuchia về tiếp viện.      Cuộc chiến thật đẫm máu ngay từ giờ phút đầu. Quân Tàu dùng chiến thuật cổ điển thí quân với tiền pháo hậu xung, bằng các loại hỏa tiễn 122 ly và đại bác nòng dài 130 ly, với nhịp độ tác xạ 1 giây, 1 trái đạn. Sau đó Hồng quân tràn qua biên giới như nước lũ từ trên cao đổ xuống. Tuy nhiên khắp nơi, Trung Cộng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của VN, một phần nhờ địa thế phòng thủ hiểm trở, phần khác là sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh các loại, gây cho giặc Tàu nhiều tổn thất về nhân mạng tại Lạng Sơn và Cao Bằng.           Sự thất bại trong những ngày đầu, khiến Ðặng giao chỉ huy mặt trận cho Dương Ðắc Chí, đồng thời cũng thay đổi chiến thuật, dùng tăng pháo mở đường và bộ binh tùng thiết. Do quân Tàu quá đông, nên sau 10 ngày cầm cự, bốn thị xã Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng lần lượt bị thất thủ. Riêng tại thị xã Lạng Sơn, Trung Cộng tung vào chiến trường tới sáu sư đoàn chính quy 127,129, 160,161, 163,164 cùng hằng trăm thiết giáp và đại pháo từ khắp nới bắn vào yểm trợ. Phía VN có quân đoàn 14 gồm các SÐ 3,327,338,347,337 và 308. Trong lúc đó hai SÐ chính quy 304 và 325 từ Kampuchia, cũng đựợc không vận và di chuyển bằng xe lửa, tới Lạng Sơn tiếp viện. Nhưng cuối cùng


Lạng Sơn cũng bị thất thủ đêm 4-3-1979. Sau đó giặc Tàu dùng mìn, bom phá nát hết các thành phố, thị xã tạm chiếm, kể cả hang Pắc Pó, suối Lê Nin và núi CácMác mà Hồ Chí Minh từng tạm trú, trước khi về Hà Nội cướp chính quyền vào tháng 9-1945. Ngày 16-3-1979, Ðặng Tiểu Bình ra lệnh rút quân về nước.        Tóm lại sau 16 ngày giao tranh đẫm máu, Trung Cộng cũng như Khmer đỏ, tàn phá tất cả tài sản của dân chúng, bắn giết tận tuyệt người VN, san bằng các tỉnh biên giới, mà suốt cuộc chến Ðông Dương lần II (19601975), gọi là vùng an toàn. Ðã có hằng trăm ngàn vừa dân vừa lính của cả hai phía thương vong.           Cuộc chiến tưởng đâu đã chấm dứt, vì VC dấu nhẹm tin tức, từ ấy cho đến năm 2006, nhờ mạng lưới Internet của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng (DefenseChina.com) và tác phẩm Dữ kiện bí mật của cuộc chiến tranh Trung-Việt (SEcret Records of Sino-Vietnamese War) của Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang WEi Ming, cả thế giới biết được “Bí Mật Lịch Sử về việc Tàu chiếm Núi Ðất của VN, trong cuộc chiến biên giới lần hai (1984-1989)”. Theo tài liệu dẫn chứng, năm 1984 Trung Cộng lại vin cớ CSVN thường pháo kích và tấn công biên giới, nên bất thần tấn công cưởng chiếm Núi Ðất của VN tại tỉnh Hà Giang (Thượng Du Bắc Phần), mở màn cho cuộc chiến Biên Giới Việt Hoa lần thứ hai, kéo dài từ năm 1984-1989 mới chấm dứt, do Việt Cộng tự bỏ đất rút quân, nhượng bán (?) lãnh thổ cho giặc Tàu.       Núi Ðất (VN) hay Lão Sơn

(Tàu), dù có gọi bằng cái tên gì chăng nữa, cũng vẫn là một ngọn núi của VN, tại xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Trong trận chiến đẳm máu này, hai bên đã dành giựt quyền kiểm soát cứ điểm 1509m, được coi như là một vị trí chiến lược rất quan trọng về phía VN, được cũng cố xây dựng từ sau cuộc chiến biên gới 1979.      Thế là ngày 28-4-1984, vào lúc 5 giờ 50 sáng, Trung đoàn 118, Sư đoàn 40 BB, thuộc Quân đoàn 14, Quân khu Côn Minh, tiền pháo hậu xung, đồng loạt tấn công đỉnh 1509 và các cứ điểm quan trọng khác của VN. Cuộc chiến thật gay go vì gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân phòng ngự VN, cấp đại đội. Tất cả đã tử chiến trước quân thù, đặc biệt trong số này có 4 nữ cán binh CSVN, thà chịu chết trước súng phun lửa của giặc Tàu, chứ không đầu hàng. Vì vậy nên trận chién kéo dài tới 15 giờ 30 chiều mới kết thúc, giặc bỏ xác tại chỗ 198 tên, cùng một số khác bị thương nặng..           Ngày 11-6-1984 , một Tiểu đoàn CSVN tấn công tái chiếm núi nhưng bị đẩy lui. Ngày 127-1984, hai bên đụng độ lớn cấp Sừ đoàn. Phía CSVN đã huy động tới 6 Trung đoàn Bộ binh của các SÐ312,313, 316 và 356 để tái chiếm đỉnh núi. Cuối cùng Trung đoàn 982 thuộc Sư đoàn 313 CSVN, đã tái chiếm được cứ điểm 1509, sau khi đã chịu tổn thất hơn 3700 người. Nhưng sau đó không biết vì lý do gì, chóp bu Hà Nội đã ra lệnh bỏ ngÕ cứ điểm trên cho quân Trung Cộng tới tái chiếm. Rồi lại giành giật từ 1984-1987 ở cấp Ðại đội, cho tới QuÓc Gia 65

ngày 13-2-1991 thì châm dứt với kết quả: Trung Cộng hoàn toàn chiếm lĩnh Núi Ðất nằm trong lãnh thổ VN tại Tỉnh Hà Giang, và đổi lại tên Tàu là Lão Sơn.    Lịch sử lại tái diển, ngày 143-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải quân VN tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi này, vì quân trú phòng nhận được lệnh của đảng ‘không được đánh Tàu‘ nên chỉ phản ứng có lệ. Kết quả phía Trung Cộng, không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VN có nhiều tàu chiến bị chìm, gồm : Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ, 1 Tuần Dương Hạm cÛ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và trên 300 lính Hải quân bị thương vong oan uổng.     Chỉ riêng năm 1999 và 2000, bọn chóp bu đảng gồm Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh, Trần Ðức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Minh Triết và nhất là Nguyễn Tấn Dũng cùng toàn lũ trong Chính trị Bộ, đã lén lút , ký kết 2 Hiệp Ước bất bình thường, vô lý, phản bội dân tộc, trong sự Bán Ðất Biên giới và Bán Vịnh Bắc Phần, cho giặc Tàu           Tính ra, từ ngày Hồ Chí Minh và Ðảng CSQT chiếm được nºa nước VN, qua Hội Nghị Genève 1954, sau đó cư«ng chiếm Miền Nam ngày 30-41975 và cai trị cả nước tới 2007, chỉ hơn nºa thế kỷ (1955-2009), đã bán cho nhượng Tàu hai quần Ðảo Hoàng Sa-Trường Sa, nhiều đất đai tåi biên giới Hoa Việt, trong đó có Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Hang Pắc Pó, Núi Ðất, bãi Tục Lãm và nhiều vùng đánh


cá thuộc lãnh hải của VN. Tất cả hành động bán nước trên đều mờ ám, bịp lừa, mục đích cũng chỉ để che dấu mọi tội lỗi, hầu tiếp tục kéo dài sự thống trị của tập đoàn thực dân đỏ tham nhũng, bất tài nhưng trong tay nắm đủ quyền lực, tiền bạc và trên hết đã sai khiến được một thiểu số trí thức khoa bảng mù quáng hám danh, đang cố sức quậy bùn công cuộc chiến đấu quang phục đất nước của Người Việt Tị Nạn Hải Ngoại và Ðồng bào quốc nội.           Tóm lại, sau khi cưởng chiếm đuợc cả nước VN, CSQT bỏ Tàu theo Nga, gây nên một cuộc chiến long trời lở đất với Miên và Trung Cộng. Bài học của lịch sử chưa khô máu trên thân thể mẹ VN nhược tiểu , thì một cuộc chiến đÅm máu khác đã thấy ló dạng, mà bất cứ ai cũng thấy rõ hành động của Ðảng CSVN, từ đầu năm 2009 tới nay qua cái gọi là chủ trương lớn của đảng ‘ rước giặc Tàu vào dầy mä Tổ Hồng Lac ‘ bằng trò hề KHAI THÁC BAUXIT ‘ Cao Nguyên.       Lần này là cuộc chiến sinh tử giữa toàn dân VN trong và ngoài nước, với sự tham gia của mọi thành phần xã hội, tuổi tác, trí thức cũng như người bình dân. Tất cả đều đã đứng lên, quyết tâm tiêu diệt cái chế độ độc tài đảng trị “bán nước hại dân”, để toàn dân tự mình chống lại và đánh đuổi giặc Tàu ra khỏi bờ cỏi VN, dành lại đất đai biển đảo mà VC đã bán cho kẻ thù suốt thời giam cầm quyền.           VN không bao giờ sợ Tàu phù từ ngàn năm về trước, vì thời đó không có những tên việt gian bán nước, không có những kẻ đ¶i lốt tu hành buôn Phật bán Trời,

không có những tên gian thương bất nghĩa vô loại làm gián điệp cho giặc và trên hết là sự “Ðồng Tâm Quyết Chiến” của QuânDân cả nước trong sứ mệnh chống lại xâm lăng, mà điển hình là “Hội Nghị Diên Hồng” Çời Nhà Trần mãi mãi lưu danh thiên cổ.      VN ngày nay cũng vậy, trong nước gần hết đồng bào đã đứng dậy chống ngụy quyền qua đủ mọi hình thức, bất chấp sinh mệnh, tù đầy. Cao cả hơn hết là sự dấn thân của thành phần trí thức và giới trẻ. Ở Hải ngoại, có thể nói được là hàng hàng lớp lớp người Việt tị nạn CS nay cũng đã đứng dậy “chống giặc cứu nước”. Chúng ta cả nước đã quyết tâm chung lòng “Hy Sinh Vì Ðại Nghĩa Dân Tộc” chẳng lẽ đứng yên nhìn đất Việt dân Việt dần mòn trở thành nô lệ cho đế quốc Tàu đỏ hay sao?. Hết đường chối cãi rồi nhe Từ đây chấm dứt lè nhè ‘ bác con ‘ Dù cho sông cạn núi mòn Hồ-Ðồng bán nước vẫn còn trơ

QuÓc Gia 66

trơ Gây nên máu chảy đôi bờ ? Ðánh Tây chống Mỹ đâu ngờ Việt gian Cả bè cỏng giặc Tàu sang Dâng đất bán đảo trăm ngàn hận đau Chỉ lo hãm hại đồng bào Giết người cướp của để mau làm giàu Nay lại im hết được sao ? Mười bốn tháng chín vết dao đoạn lìa Ðem thân của Mẹ cắt chia Hoàng-Trường hai đảo bên rìa biển Ðông Giang sơn gấm vóc Lạc Hồng Máu xương của Việt chất chồng tạo nên Bây giờ là lúc đứng lên Toàn dân cả nước đáp đền núi sông Xóa tan vết nhục Hồ-Ðồng Dựng lại huyền thoại con rồng cháu tiên Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di MƯỜNG GIANG


Agricultural products and Food culture in Viet Nam Thái Công Tụng

T

his paper offers a contextual framework for the Vietnamese food culture .It goes without saying that without agriculture, there is no food . Food plays an important part in everyday life as in social occasions. Food products are influenced by the natural environment: the tropical climate helps Viet Nam to produce food all year round, from rice to fruit, from vegetable to various condiments which mean that a great variety of fresh food is available year round . River systems combined with arroyos, ponds, canals and a long coastline are all natural ecosystems endowed with a great variety of fisheries.Thus, it is no wonder that cuisine is also diversified. Outside the country, Vietnamese cuisine is very popular across the globe and is now present in all 5 continents, from North Europe to Africa, from California to Europe, from Japan to Australia . Cuisine is an important aspect of the culture : what more accessible way is there to learn about a culture than how its people satisfy and glorify a basic human need ? As a matterof-fact, we can gain a deep understanding of the country,

its natural environment and its inhabitants by observing their food and drink. Following is a general description of ingredients, and food sources to anyone exploring Vietnamese cuisine in the kitchen 1. Rice. Like other Asian cultures, rice is a mainstay in Vietnamese cooking. Why ? just because rice plant can be planted in various ecosystems: upland rainfed, upland irrigated, lowland rainfed, lowland irrigated. It is cultivated from the plains to mountains of high elevations. Many rice varieties are available in Viet Nam: early varieties, aromatic varieties as the name indicates Tám thơm, salinity resistant, acidity resistant varieties etc. Rice is harvested practically in every month of the year since Viet Nam has diverse climatic and soil conditions from North to South . The expression for eating food in Vietnamese, “ ăn cơm”, literally means, “to eat rice”. We Vietnamese use the phrase “ ăn cơm chưa ‘, in the common greeting to mean literally “Have you eaten rice?”, and by extension, “How are you doing?”.. Rice is in every meal . From rice, rice flour is made and processed into various forms: QuÓc Gia 67

rice paper for wrapping shrimp and herbs to have summer roll or cha gio, also known as nem rán, rice vermicelli which are thin noodles, sometimes also known as rice noodles. They are often eaten as part of a soup dish like bún riêu, which are rice vermicelli in soup with crab meat or bún bò which are soup with beef slices, stir fry like in bún thịt nướng which are grilled pork and vermicelli noodles over a bed of greens, herbs and bean sprouts. Another popular Vietnamese dish is the flavorful phở, a broth made with rice noodles and brimming with savory greens, including basil and bean sprouts. Phở bò is made with beef broth, while Phở gà is made with chicken broth. Sweet rice is used in making bánh chưng. They are hardpressed sticky rice cakes with pork meat and green beans wrapped with banana leaves among the offerings placed on the altar to their ancestors and are traditional meals during celebrations of Vietnamese New Year. According to the legend, under the reign of the Hung Kings, Prince Lang Lieu created sticky rice cakes and presented them to his father. Bánh chưng won high acclaims from the King who awarded the prince his


throne!. One particular dish is called xôi gấc in which the seeds of the fruit Momordica are cooked in sticky rice, imparting their red colour and flavor . Since the fruit is less abundant than other foods in the nature, xôi gấc is typically served only at festive occasions in Viet Nam such as Tet and weddings.

Vegetables are mostly being short-duration crops and can be produced in succession on the same plot; there are more than 50 important vegetables which can be dealt under different groups as follows. Solanaceous fruits which include cà chua or tomato (Lycopersicon annum), cà or brinjal (Solanum melongena)

A plate of Xoi Gac

Fruit of gac 2. Vegetables,

Vietnamese meals have plenty of fresh vegetables.

and ớt or chilli (Capsicum annum), all belonging to the Solanaceae family Cole crops which include cabbage (Brassica oleracea), cauliflower (Brassica oleracea), Chinese cabbage (Brassica chinensis) are hardy and thrive best in cool weather and belong to the family Cruciferae. Root crops such as radish (Raphanus sativus), turnip (Brassica rapa), carrot (Daucus carota) are quite common.. Peas and beans such as Pisum sativum, French bean (Phaseolus vulgaris), string bean Cucurbits crops include cucumber (Cucumis sativus), muskmelon (Cucumis melo), water-melon (Citrullus vulgaris), QuÓc Gia 68

bottle-gourd (Lagenaria siceraria), sponge-gourd (Luffa cylindrica), bittergourd (Momordica charantia), ashgourd (Benincasa hispida), pumpkin (Cucurbita moschata), to cite a few . Okra or đậu bắp (Abelmoschus esculentus) belongs to the family Malvaceae and is a warm-season crop. Bamboo shoots are also popular in Vietnamese cooking Leafy vegetables,. Vegetables are also grown naturally such as rau muong, Ipomea aquatica, in marshes or ponds . This vegetable can be eaten boiled, fried, stirred . Ipomea aquatica rau muống and common eggplant (cà ) are meals very popular especially in Northern Viet Nam. The vegetable is a common ingredient in Vietnamese cuisine ; the leaves are usually stir fried with minced garlic : rau muống tỏi Also, floating in ponds: rau rút (Neptunia oleracea, Mimosaceae). In moist soils, one can remark the presence of rau nghể (Polygonum hydropiper, Polygonaceae), rau sam (Portulaca oleracea, Portulacaceae), rau má (Centella asiatica, Umbelliferae), rau dền (Amaranthus sp )

Vegetables are a fundamental part of Vietnamese cuisine and are combined to highlight their textures, flavors and colors. They are either used as soups (canh) or cut into pieces and stir-fried with meat and served with rice or noodles.


Typical vegetables in a market 3. Spices Varied uses of spices and herbs are an integral part of food preparation in Vietnamese cuisine.Vietnamese dishes are meals typically served with lots of greens, herbs, vegetables and various other accompaniments such as dipping sauces, hot and spicy pastes, and flavor enhancements such as lemon grass (sả), mint (rau thơm), basil (rau húng quế), turmeric (nghệ ), garlic (tỏi ), clove (đinh hương), shallots (hẹ), ginger (gừng), cinnamon (quế), star anise (hồi), white and black pepper (tiêu ), leaves of culantro (ngò gai ),chillies (ớt), coriander (ngò). One particular spice, rau thì là (leaves of dill plant, Anethum graveolens as Latin name) is a must in fish meals. A famous spice mix is ngũ vị hương which is usually a powder of five dried spices, commonly

including cardamon, cinnamon and clove and is used to enhance the flavor of a dish and create unique flavors and aromas .Those spices from mainland Asia were introduced early since ancient times, thus it has become the integral part of Vietnamese cuisine. It is noteworthy that the ingredient found in almost all Vietnamese dishes and every region of the country is nuoc mam, a fish sauce made from salt-cured anchovies that are placed in the barrel raw and left to marinate over time. It imparts a unique character to Vietnamese food. This sauce is as common as salt and pepper is to the western table. No dish is complete without at least a little of this condiment.

4. Fruits

Vietnamese markets abound with many types of tropical fruit. These are an important part of the Vietnamese diet, either eaten freshly, made into desserts, fried like chuối chiên (fried banana), or processed into crispy chips as snacks like jackfruit or banana chips. Fruit forms a large part of the Vietnamese diet and are customarily served after a meal. The dominant are chuÓi or banana (Musa paradisiaca), xoài or mango (Mangifera indica), nhãn or longan (Euphoria longana), cam qúit or citrus fruits (grapefruit, lemon, orange), °i or guava (Psidium guava), Çu Çû or papaya (Carica papaya), thÖm or pineapple (Ananas comosus), xapôchê or sapota (Achras zapota) In the Mekong delta, sÀu riêng or durian (Durio zibethinus), chôm chôm or rambutan

QuÓc Gia 69

(Nephelium lappaceum), mæng cøt or mangosteen (Garcinia mangostana), mäng cÀu or custardapple (Annona squamosa) are quite common . In the home gardens of Central Viet Nam, dominant fruits are mít or jackfruit (Artocarpus heterophyllus). Some areas in the Red River delta are famous with väi or litchi (Litchi sinensis). In the high mountains of North Viet Nam, one can find mÖ or apricot (Prunus armeniaca), táo or apple (Pyrus malus), mÆn or plum (Prunus domestica), lê or pear (Pyrus communis), hÒng or persimmon (Diospiros kaki) .

5. Fish products Hundreds of different fish, shellfish and other seafood from the oceans, lakes and rivers are used in the Vietnamese cuisine. They are prepared and eaten in many different ways, for example, raw, dried, boiled, grilled, deep fried or steamed Fish in great varieties and abundance are present in inland waters such as rivers, natural lakes and swamps, man- made lakes, irrigation and drainage systems, ponds, estuarine zones. Fish constitute a necessary diet in the daily food of Vietnamese. Among the crustaceans in fresh-water areas, different species of prawns such as tôm càng, tôm lửa, tôm bạc, tôm đất abound with the scientific name Penaeus. Molluscs are commonly found in rivers and ponds. Different species of molluscs exist such as ốc hương, ốc lèn, ốc gạo with scientific names as Modiola, Mytitus, Nerita..


Frogs are abundant and some are widely appreciated for eating. Tortoises (Trionix cartilagineus) exist also in the Mekong delta. Many mangrove swamps in the Central coastal lowlands with brackish water such as near Ba Ngòi and Ninh Hoà areas are locations where farmers raise fish such as cá dìa (Siganus), cá đối ( Mugil cephalus), cá hanh (Acanthopagrus herda ), cá măng (Chanos chanos). Brackish water aquaculture - mainly shrimp- is mostly concentrated in Ca Mau area. .Important marine fisheries are based on shrimps, lobsters, crabs, squid, mackerel, pomfret, sardines, sharks, bream, bass and marine turtles. The coastal waters of Viet Nam abound with fish in great diversity. They are known to the Vietnamese as cá cơm (Stolepborus), cá thu (Cybium), cá bạc má (Rastrelliger), cá thiều (Arius), cá gộc (Polynemus), cá nọc(Decapterus), cá trich (Herengula), The Stolephorus fishes are small, slender and semi-translucent and are used in making high-grade fish sauce. Everywhere feasible in the depressions, backswamps, estuaries, lakes.. aquaculture is practised to raise fish or shrimps. In the Mekong delta, ponds are raised with cá tra (Pangasius Pangasius), cá vồ (Pangasius Larnandi ) while in the small ditches in the fruit orchards, there are cá sặc (Trichogaster) or sometimes with cá trê (Claria fuscus), cá lóc (Ophiocephalus). Elsewhere, cá chép (Cyprinus carpio), cá

phi (Tilapia mossambica), cá mè 7. As snacks or dessert, (Hypophthalmichthys molitrix) Vietnamese cuisine offers, are also raised in hatchery besides a variety of fruit, also stations. sweet soup, called chè; in this category, a whole array of Fish and shrimps are partly agricultural products is available for fresh consumption, partly for from beans ( black bean or chè processing in various ways. The đậu đen, green beans or chè đậu common methods for fish and xanh ) to lotus seeds, taro root, shrimp processing are drying, tapioca .. smoking, cooking, frozing. Also fish sauce (nước mắm) is famous 8. Beverages . From from Phú Quốc island. Main time immemorial, Vietnamese fishes used for making nước mắm drink tea. Tea is taken during are cá cơm (Stolephorus) and cá any time of the day and is the bạc má (Rastrelliger ). Small drink traditionally offered to shrimp paste (ruôc) is made people visiting families, friends, from very small shrimps such visitors; it is taken without as Acetes indicus, Neomysis, milk or sugar. Vietnamese Lucifer hanseni.. coffee is mostly grown in the Central Highlands and the minority of Vietnamese people 6. Meat products. Meat staples include chicken, who drink coffee usually mix pork, beef, ducks . Beef and it with condensed milk. Beer chicken are generally stewed, as well as soft drinks such as grilled or stir fried. Condiments Cokes and Seven-ups, bottled are always mixed for stewing, water, are common these days. frying etc. Due to the lack of The street vendors sell coconut land, pigs and chicken raising juice, sugarcane juice or are more popular activities for chopped fruits (orange, banana many farmers. One particular ..) blended with crushed ice. pork meat product is giò lụa or Finally, rice wine which can be pork sausage which is pork meat made easily at home using local wrapped in fresh banana leaves or Chinese fermentation powder is produced and used widely in and boiled One should mention that the countryside. It is also used as in Viet Nam, bouddhist monks a base for the addition of plants, and bouddhist followers do barks or animals (e.g. snake) not eat meat in any kind. They 9. Serving. A vietnamese choose to do so just for health family meal will normally or by beliefs. Reasons cited are consist of rice with several killing or eating animals are a dishes which form a harmonious violation of the Five precepts contrast of ingredients and ways and bad for their own karma and of preparation. The dishes are all because of pure compassion for served at the same time, shared and other animals . enjoyed together . The harmony incorporates the dual principles QuÓc Gia 70


of yin and yang of Taoism: balance between vegetables and meat, between colours, between tastes ( salty, sweet, sour, and spicy ) etc .Vietnamese food was traditionally eaten with chopsticks, not with forks and spoons like in Occidental culture The meal is wrapped up with fruits such as bananas and oranges, and fully completed with a cup of strong tea.

10. Regional cuisines with special dishes

As in any country, Vietnam’s cuisine reflects its geography and history. Vietnamese cuisine is somewhat different, depending on the geography of the country which is extended from North to South over 3000 km long . The colder Northern region is known for its beefy stews, such as pho . It is a mixture of beef broth with rice noodles. The broth is generally made by stewing/simmering beef bones, flank steak, charred onions and spices in a large pot for a long time. Cuisine here reflects more Chinese influence than Central or South . Soy sauce (nước tương) is more common in dishes while nuoc mam is more popular in Central or South. Other daily food in the countryside, such as rau muống (the closest American vegetable, yet distinctly different from rau muống, is spinach), tofu, and small pickled eggplants called cà pháo (“firecracker eggplant”) are quite popular. A typical northern dish is banh cuon which is a roll made from a thin sheet of rice flour filled with ground pork, some

minced mushroom and eaten with cha lua, a Vietnamese pork sausage and bean sprouts. A drop of ca cuong which is the essence of a water bug called Lethocerus indicus, having a very penetrating taste and mixed with a dipping sauce makes this dish of bánh cuốn a delicacy. The cuisine in the Mekong delta down South has been influenced by Chinese immigrants and Cambodia. Cuisine reflects the greater diversity of herbs such as canh chua which is a fish sour soup made with fish from the Mekong River and Sesbania flowers (so đũa) grown along the numerous arroyos. Peasants eat whatever they find in rice fields, from rats to field snakes . Many Southern dishes are generously spiced with chillies, coconut milk and a variety of herbs and spices. Specific mention about 2 special meals: one is hủ tiếu Mỹ Tho and the other is lẩu mắm . In the former, noodles are from rice flour mixed with tapioca flour to make them more resistant .The broth of this soup comes from meat, dried squids and special condiments. In the latter, the broth comes from marinated fish to which vegetables and meat is added, Lẩu designates the broth and mắm the salted fish .Guests choose and boil their meat or fresh vegetables in the broth The central region especially in Hue area is somewhat different: in the Hue cuisine, besides traditional dishes for ordinary people, royal cuisine is noteworthy since Hue was the former capital of the Nguyen kings. The royal QuÓc Gia 71

tradition in the central region goes back beyond the more recent Vietnamese monarchy to the ancient kingdom of Champa. The royal taste reveals itself in the preference for many dishes with delicate portions, presented with meticulous art and served in multiple courses. The more lavish the spread, the wealthier the household. Also, another feature of Huế cuisine is that it is often very spicy. A particular dish here is Bun bo Hue which is rice vermicelli with beef slices: the very spicy broth with the lemongrass and the shrimp paste. Spices such as the mint, Vietnamese coriander and banana blossoms are to tone down and balance the earthiness of the fermented shrimp paste.

11. Concluding remarks

.There is no doubt that there is a relation between food and health . Vietnamese cuisine is full of vegetables so it is rich in dietary fiber . It is healthy with many spices like ginger, turmeric, garlic..known as having antibacterial compounds and cholesterol-lowering properties. Also many Vietnamese dishes are very low-calorie, using very little oil, as compared to Chinese cooking. In another words, it is a lean cuisine. No wonder then Vietnamese cuisine is now wellappreciated in the contemporary world where cardiovascular diseases are prevalent.

Thái Công Tụng


T

háng Ba vào Xuân, cỏ dại tràn lan khắp vườn, đã thấy đám ngò rí chen vào mọc lên từng mảng xanh rờn. Không biết sao lại gọi là ngò rí, chắc tại dựa theo hình dáng nhỏ bé và xinh xắn cuả cô khi e thẹn nhô mình lên khoảng đất trống gần nhà bác bông giấy màu tím hồng như màu áo cô dâu ngày cưới, nay mùa Đông khắc nghiệt đã qua đi, cô chờ mãi mà không thấy bác ấy trổ lá non như mọi năm. Cùng một vài loại cỏ dại mà cô không biết tên, qua mấy cơn mưa đầu xuân đám ngò rí lớn lên thật mau, chưa gì đã phủ kín những vạt đất trống khô queo trong những ngày cuối Đông đất trời ủ giột.   Muà đông vừa qua lạnh khủng khiếp, khó diễn tả nổi cái rét thấu xương thổi qua khu vườn làm cho cỏ cây đều run lên bần bật rồi chết cóng. Lúc ấy cô ngò rí còn nằm trong lòng đất, từ tháng Sáu   năm trước cô cứ nằm yên đấy chờ đợi, mẹ cô  trước khi được người ta nhổ lên theo đám rau  già, biết có một ngày sẽ không thể ở lại với lũ con nên đã dặn dò:   “ Cuộc đời rồi cũng trôi qua như bóng mây, mẹ con mình sẽ có lúc phải chia tay. Mẹ có phải ra đi thì cũng đến lúc phải đi, không ai qua được cái vòng cuả sinh lão bệnh tử. Các con ngoan ngoãn ở lại đây chờ đến khi xuân sang, lại nẩy nở mà làm

đẹp cuộc đời.” Mẹ cô không bi quan trước sự ra đi, riêng lũ con ở lại ngậm nỗi sầu chia ly trong lòng đất ẩm. Lúc ấy cô cũng không khóc được, chỉ nhớ mãi mùi thơm cuả mẹ hiền, mỗi lần chủ nhà cần một nắm lá ngò cho bát miến, tô phở là đã có họ nhà ngò cung cấp ngay. Một câu chuyện dí dủm cuả người chủ nhà với khách phương xa khiến lòng cô ấm lại:  “ Chị ơi! Ở đâu mà chị có cái giống ngò rí thơm nức mũi cuả quê mình vậy hả chị?”  Bà chủ nhà sung sướng khoe:  “ Cũng có duyên lắm mới gặp lại mùi hương cây ngò rí quê mình đấy cô ạ. Đã lâu rồi đến chơi nhà một người bạn, bắt gặp một mảnh vườn rau quê nhà, thế có tuyệt không chứ! Quả thật chả thiếu thức gì, từ cây rau răm cho đến ngò gai, húng quế, những thứ ấy thì ngoài chợ không thiếu, nhưng mùi hương lại không nồng nàn như các thứ rau trồng tỉa được trong vườn. Rồi  tiện tay vo vo mấy cái lá nhỏ, mới phát hiện ra một mùi hương nồng nàn gần gũi quá, thì ra  mình đã vô tình ngắt mấy cái lá ngò rí đã ra hoa. Khi về, chủ nhà tặng luôn cho một nắm hột, rồi từ nhà nọ sang nhà kia, giống ngò rí quê mình cứ lan tràn đem mùi hương đi khắp chốn.”  Khách tấm tắc khen: “ Sao lạ ghê chị ạ, cũng cùng một loại như vậy mà rau nhà trồng hương vị lại khác, còn ngoài chợ trông cũng mượt mà, sởn sơ, nhưng hít mãi  chẳng thấy mùi vị, nhiều lúc ăn cho có chứ không cảm được mùi hương hoa cuả nó.”  Sự ra đi cuả mẹ ngò thật áo não vào một chiều tháng Sáu, những cơn nắng hè đổ xuống vừa khô những hột ngò tròn xoay bé xíu như những hạt tiêu một màu ngà  ảm đạm. Cứ tưởng cuộc đời đến thế là hết, mẹ đi mang theo cả một trời trống vắng khi con không còn nơi nương tựa, nhưng có biết đâu khi được vùi dập xuống nền đất ẩm, chồng chất lên dưới  lớp bụi thời gian, bao nhiêu lớp lá khô trong

QuÓc Gia 72


vườn cuốn hết vào nơi ấy, để chờ đợi nắng ấm muà xuân năm sau. Năm nay khi mùa Xuân đến, cây ngò non chào đời nhưng vẫn nhớ mùi hương tự nhiên cuả mẹ,  bóng bác bông giấy mát rười rượi, cô mai vàng xinh đẹp ngự trị góc bên kia, bác bụi tre cao ngất ngưởng vươn lên trời xanh lá reo xào xạc,  và chao ơi, cái bóng cuả mẹ hiền thì ngò rí không thể nào quên được . . .   Ngò rí không sống lâu lên lão làng như các loại cây khác trong vườn, và cũng chỉ là loại rau tầm thường dễ sống chứ không cần chăm sóc bao nhiêu, nhưng mùi hương cuả ngò rí thì khó tìm trong các loại rau cỏ. Khi vưà mở mắt chào đời, mọc lên những lá mầm ẻo lả, hình như cô đã thấy thiêu thiếu một cái gì cuả muà xuân năm trước. Thôi rồi, cô chợt hiểu ra rằng cái bóng mát mà mẹ con cô hằng trú ẩn bao năm dài, ấy là bác bông giấy, sao năm nay xuân về bác vẫn trơ những cành khô gai góc, không còn một chút lá xanh nào nữa vì  bao nhiêu sinh lực tiềm tàng từ rễ lên đến ngọn, hình như đã khô kiệt cả rồi.

  Nhớ làm sao tiếng cười lao xao của bác khi nẩy lên những nụ hoa đỏ thắm trên cành lá biếc mà ngậm ngùi khôn tả, ngò rí vẫn nhớ những chuyện mẹ kể về lòng nhân hậu cuả bác trong một buổi chiều mát mẻ, hoàng hôn đã nhuộm tím khu vườn nhỏ .Ngày xưa mẹ Ngò vẫn núp dưới tàn cây cuả bác những hôm trời trở gió, con nắng phả hơi nóng gay gắt xuống mảnh vườn sau, bác vẫn ung dung khoe màu tươi thắm, và không quên nghiêng cái bóng bao dung che chở lũ cây non xúm xít quanh mình. Xã hội cần phải có sự tương thân tương trợ là thế, những khi bác bông giấy được tưới tắm ướt đẫm thân thể, là lúc ấy những cây ngò non mọc xung quanh cũng được hưởng lây những dòng nước mát. Ấy thế mà bác chết, chết thật rồi, xuân

sang nắng ấm đã lâu mà nguyên một bụi cây giơ lên những cành nhánh khẳng khiu. Không còn nỗi buồn nào hơn khi phát hiện có một ngày tự nhiên lại mất đi những hình bóng, những tình cảm ấm áp nồng nàn trong cuộc đời có bao nhiêu cơ duyên để gặp gỡ.   Khu vườn mới vào xuân vẫn trống vắng thế nào ấy, chỉ có hai cô đào rất sung sức đã xanh um lá biếc,  những cánh hoa hồng hồng như màu phấn trên đôi má thiếu nữ rồi cũng lần lượt bay lả tả xuống sân, vài hôm trên cành đã nhô lên những quả non bé xíu. Ngắm nghiá  sự sinh tồn cuả cây cỏ nào có khác chi con người, cây ngò non cứ tự hỏi tại sao  hai cô đào lại sống mà bác bông giấy lại tiêu diêu miền cực lạc? Góc vườn bên kia hai cô mai và nguyệt quế cũng rủ nhau ra đi không hẹn ngày trở lại. Sự trống vắng ấy làm cho khu vườn càng thêm trống trải, vì thế tuy ngò rí mới chào đời, tự nhiên cũng thấu hiểu ra được sự mất còn cuả vạn vật.  Ngày nào nghe mẹ kể rằng, năm kia một cơn bão đã thổi qua đây, làm nghiêng cả bác thông và đánh gục mấy ngọn tre xanh, lúc ấy không nhờ bác bông giấy che chở  thì cả họ hàng nhà ngò đã không còn lại được bao nhiêu. Tìm hiểu nguyên nhân mới rõ, khi bác  vừa tuổi dậy thì,  chủ nhà đã cắt ngang thân bác từ dưới gốc, chính những cái cành mọc ra như giẽ quạt đã làm cho bác không bị ngả nghiêng khi trận cuồng phong thổi vào. Cành nọ đỡ lấy cành kia, bám chặt lấy nền đất để chống đỡ, khi cơn bão tan, người ta thấy bác tuy có tơi tả nhưng vẫn mỉm cười, chỉ vài hôm khi mưa đổ xuống là bác lại nở nụ cười như môi son. Sao bác chịu được gió mà lại không chịu được lạnh? Hoá ra thời tiết và phong thổ  ảnh hưởng lên con người thế nào thì loài thực vật cũng chịu chung số phận như thế, cái thân mỏng manh gai góc ấy chịu được với gió táp mưa sa, lại vẫn phải co lại vì đợt tuyết đổ xuống bất thuờng trong muà đông đến nỗi trút hơi thở cuối cùng. Thế nhưng lòng ngò rí vẫn nao nao, dù năm ngoái cô chỉ là bông hoa màu  trắng, rồi kết thành cái hột nhỏ xíu, để năm nay mọc lên cây ngò non. Một lũ hoa be bé vây quanh mẹ ngò nghe kể chuyện, cơn gió chiều thổi từng làn gió mát mẻ vào khu vườn nhỏ, những câu hỏi ngây thơ cho bài học đầu đời sao dễ thương đến thế:  “Mẹ ơi, cô mai là ai mà đẹp thế hở mẹ?”

QuÓc Gia 73


Đấy, cái cô mai với màu áo vàng rực rỡ kiêu sa là hình ảnh đẹp nhất cuả muà xuân mà mẹ ngò cứ suýt soa mãi. Nghe nói cô chỉ nở vào muà Xuân, nhưng xa quê khí hậu thất thường lắm khi cô hay trổ muộn và kéo dài kiếp hoa đến vài tháng, cho đến khi trên cành đầy những cánh  đỏ, đó là thời kỳ chuyển tiếp để hoa biến thành  hột cho chủ nhà ương cây mới. Nhưng nghe nói khó mà ương được cho cô nảy mầm, sự khác biệt về thổ nhưỡng và thời tiết khiến cô mai y hệt một tiểu thư nhà giàu, nắng không ưa mưa không chịu. Mẹ ngò lại tỉ tê kể chuyện cho các con nghe:

  “ Con không thấy là cô ấy đẹp và quý nhất trong mảnh vườn này hay sao? Đã quý mà còn hiếm, vì đây là hoa miền nhiệt đới, nay chịu lớn lên ở xứ lạnh, phải chăm chút  như con mọn và nâng niu như trứng mỏng, cô ấy mới trổ hoa. Dĩ nhiên người ta sang và đẹp thì bao giờ cũng được tâng tiu hơn những loại tầm thường, nhưng cứ nghĩ cho cùng thì mẹ con mình cũng thua ai đâu…”  Chút tự ty mặc cảm chỉ thoáng qua  trong lòng bà mẹ ngò nhà quê thế thôi, bởi vì nhác thấy lũ hoa ngò bình dị trong màu áo trắng, đang xụ mặt ra buồn vì chỗ đứng thấp kém cuả mình:  “ Cô mai đẹp vậy nhưng không có mùi thơm, còn mẹ con nhà mình tuy tầm thường nhỏ bé  nhưng thơm tho đáo để. Mẹ chả thấy ai xắt lá mai hay lá tre để bỏ vào nồi canh cho dậy mùi được, thế nhưng chỉ một nhúm con con ngò rí thì bát miến gà, tô phở tái đã dậy  mùi thơm bát ngát. Bao nhiêu thứ cao lương mỹ vị bày trên mâm cao cỗ đầy, nhưng nếu thiếu mẹ con mình cũng không tạo nổi sự hấp dẫn cho cái bao tử thèm thuồng, mà nói đến cái ăn thì mẹ nghĩ, từ vua chí dân, từ giàu chí nghèo ai cũng phải ăn mới sống. Cao hay thấp không quan

trọng các con ạ, giá trị là ở sự cống hiến cuả mình cho cuộc đời nó như thế nào thôi.”  Ngò Rí ngẩn ngơ vài giây  rồi cũng hiểu lời mẹ nói, cả bọn mỉm cười thú vị và không cảm thấy tự ty mặc cảm với cuộc đời phù du, dù chỉ là một bông hoa nhỏ xúm xít nhau trên thân mẹ hiền, cô cũng cám thấy sung sướng và hãnh diện. Ngước nhìn quanh khu vườn, bao nhiêu cây cỏ sống êm đềm với nhau theo năm tháng, lòng tị hiềm nhỏ nhen chỉ làm mất đi sự an hoà cuả khu vườn  mà chủ nhà đã tốn bao công sức tạo dựng. Một tối trăng lên trời cao gió lộng, bác tre già đã cao hứng kể cái chuyện ngày xưa khi bác mới về khu vườn này cho cả làng nghe:  “Ối chà! Cái lúc tôi mới đến  khu vườn này giống như vùng kinh tế mới, trơ trụi đất cát nhìn thấy mà phát sầu. Sau bà chủ biết thứ đất này cần phải có thời gian mới có thể trồng cây,  trên mặt thì đất cát nhưng đào thêm tý nữa chỉ toàn đất sét,  rất thích hợp cho loài tre trúc phát triển. Thế mà giống tre chúng tôi lại sống được, cứ tình bơ mà đâm rễ xuống, cái gì cũng vậy, hễ qua được giai đoạn đầu, khó khăn khổ cực bao nhiêu mà đã bám trụ được là sống. Cứ y như người tỵ nạn, à mà cái bà chủ này cũng là dân tỵ nạn…”  Lúc đó cô đào mới lên tiếng hỏi: “ Tỵ nạn là gì hở bác? Em sinh ra ở đây, chả thấy cây tỵ nạn bao giờ cả.”  Bác tre thở dài, càng tối gió càng vi vu nên lời bác nghe như tiếng than van:  “ Cái đó  mình cũng không hiểu nhiều, nhưng chắc là để tránh cái gì khổ chịu không nổi, đi tìm nơi bình an hơn để sống đó mà. Vậy mà khi đi họ cũng ráng mang theo bao nhiêu hương vị quê nhà, mẹ con nhà ngò là một điển hình đấy. Nhìn quanh mà xem, bao nhiêu thứ khác tuy không nói ra nhưng cũng từ quê nhà bò hết cả sang đây, mùng tơi, rau ngót, rau má, rau mơ, họ hàng nhà mướp, bí bầu cũng rủ nhau tỵ nạn một lượt, cả đến nhà cô chim én cũng rủ nhau thiên di hằng đàn…” Cả bọn cùng ồ lên , lúc này mới để ý là từ hôm sang xuân, trời xanh thăm thẳm la đà những cánh én nghiêng nghiêng như những nốt nhạc. Cô hoa hồng đỏ gốc địa phương bĩu môi cười trong bóng tối, cô vẫn hay ghen với cô mai vì cho là người khác xứ, lại được tâng tiu ngang hàng với lũ én bay trên trời xanh. Nhưng bác tre đã lên tiếng:

QuÓc Gia 74


“ Chuyện nhà én thì dài lắm, nhưng không kể ra  thì chả ai biết là tại sao hễ có muà xuân thì phải có chim én lượn. Nghe nói ngày xưa họ ở xa lắm, cái xứ ấy lạ kỳ, mỗi muà lại giao cho một vị thần trông nom. Năm ấy khi lão muà Đông  xách cái nón rách ra đi, bàn giao thời tiết lại cho một lão muà Xuân khó tính, nhưng chưa  bao giờ lại có cái thứ người ngợm khó khăn như vậy. Lão ta cũng cho hoa, lá, bướm,ong dập dìu nhưng cấm tuyệt không cho loài chim được hót, hễ đưá nào dám hót là cắt cổ. Trời Xuân mà sắc đỏ au vì mặt lão lúc nào cũng như say rượu hay tức giận gì ai, cho nên mọi loài đón xuân về mà lòng nặng nề như đá tảng. Người ta gọi đấy là muà Xuân chết, cũng bướm cũng hoa mà Xuân lại nặng sầu. Thế là từ đấy trời vẫn chập chùng mây mà vắng dần những bóng chim, mới thấy là cái gì cũng vậy, hễ mất tự do là khổ…”  Bác tre già có tật nói dai  nên vì thế suốt đêm chỉ nghe bác xào xạc kể mãi chuyện cũ. Khu vườn rào rào lên thở dài vì gió thổi, hoá ra cây cỏ cũng có nhiều nỗi u uẩn mà ngò rí không làm sao hiểu hết được. Đấy là nói chuyện mùa xuân năm trước khi còn mẹ, bây giờ đám ngò non mới lớn lên, khu vườn đã hoang tàn trống trải sau cơn mưa tuyết bất chợt phủ xuống cỏ cây một màn trắng xoá, còn hằn  dấu  tàn phá trên từng lóng xương cây cỏ. Cô mai chết thật rồi, thân nứt ra từng đường rãnh nhỏ phơi ra thớ gỗ khô queo. Bác tre ngạo nghễ ngày nào vươn lên trời xanh, giờ chỉ còn những thân tre thẳng đuỗn bạc phếch với gió mưa. Rồi mùi thơm nồng nàn cuả cô nguyệt quế những đêm trăng thanh gió mát năm xưa phả khắp hiên nhà, cũng chỉ còn nằm trong tưởng nhớ.

cũng không ai cành nhánh xum xuê như bác, dáng đứng vững chãi ấy cứ tưởng không thể nào nghiêng ngả cho được, thế mà bác cũng ngả nghiêng với cơn lốc nghe nói từ biển xa thổi vào với sức gió hằng trăm dặm. Cứ y như đang đứng bên lề đường ngắm cảnh trời trăng mây nước, bỗng dưng ùn ùn từ đâu một chiếc xe nhảy phóc lên ủi thẳng vào không né tránh được. Số mệnh đấy, có ai biết trước được để mà tránh. Cả làng cây cỏ ở sân sau nghe bác tre ngà thông tin thì giật bắn cả lên, lại xì xào từ nơi này đến nơi khác. Mẹ ngò lại nhắn nhủ lũ con:   “Tai bay vạ gió chả biết đâu mà lường, ngó lên mình chả bằng ai nhưng cứ cái xó vườn này ung dung mà sống là được rồi các con ạ. Sống cho trong sạch, sống cho tử tế, chia xẻ cho người những gì mình có thì mới gọi là sống có ý nghĩa.”  Mẹ ngò chỉ nói thế thôi, vì thật ra thì lũ con bé bỏng dại khờ chi chit  trên cây lúc nào cũng bám chặt lấy thân mẹ, cũng thật thà ngây thơ không hiểu hết nh»ng gì mẹ nói. Tháng ba rồi bước sang tháng Tư, bác bông giấy vẫn khô queo không thấy mầm xanh, từ gốc bụi tre lại đâm lên một chồi non mới, cô ngò hồi hộp chờ đợi ngày “ tre già măng mọc”, và nếu mưa thuận gió hoà chỉ trong vòng một năm chú tre non này sẽ trổ mã , nhưng câu chuyện năm nào cuả  người xưa rồi sẽ chìm vào quên lãng.  Nhớ hôm nào nghe tiếng gầm rú cuả chiếc máy cắt cỏ tiến vào ầm ầm như sấm nổ, ngò non nằm nép trong góc vườn nhìn sang thì đã thấy thảm cỏ xanh và bao nhiêu hoa dại muà Xuân bị xén cụt đến tận gốc. Cô kêu lên thảng thốt,  thôi rồi những chị hoa dại tim tím đang hé nở cũng chịu chung số phận với lũ cỏ dại ngô nghê ngốc nghếch, nhưng lại sinh sôi nảy nở nhanh thần sầu. Ngò rí lại nhớ đến những ngày còn mẹ, mỗi lần thấy ông cắt cỏ tiến vào vườn như sấm động là một lũ hoa ngò run rẩy trong lòng mẹ:  “ Mẹ ơi! Con sợ ông cắt cỏ ….”  Thấy lũ con lao nhao, mẹ ngò phải an ủi:  “Đừng sợ các con ơi, ông ấy phải làm nhiệm vụ cuả ông ấy để diệt lũ cỏ dại, nhưng cũng biết thứ nào phải chưà  ra vì mình là rau cuả bà chủ nhà trồng,chứ có phá phách hoang dại gì đâu.”  Ngò hoa rấm rứt khóc: Cái trận bão năm ngoái. Phải rồi, cái cơn cuồng  “ Nhưng còn nhà chị hoa tím, chị ấy có làm phong y cũng đã đẩy bác xồi ngã sóng xoài ra đằng hại ai đâu…” sân trước, ở đây không ai cao tuổi bằng bác, mà Mẹ ngò cũng rưng rưng nhìn những mảng hoa QuÓc Gia 75


tím rạp xuống tả tơi bên loài cỏ dại, nhưng vẫn phải an ủi lũ con thơ đang sợ hãi:  “Không sao, tuy họ chịu  chung số phận với

 

(họa thơ Tâm Dung/Ng. H./ TS Y Sĩ) loài cỏ dại, nhưng chỉ vài hôm tụi con sẽ thấy bao nhiêu hoa mới lại trổ đầy trên thảm cỏ xanh, làm thành một bức tranh thật đẹp tô điểm cho vạn vật được tươi tắn. Công nhận  sức chịu đựng cuả loài cỏ ghê gớm thật, ví nó ngang với niềm tin cuả con người gắn bó sống chết  cho một cái gì họ đeo đuổi cũng không sai, rễ bám chặt lấy đất và âm thầm nằm đó chịu đựng, hễ trời rắc mưa xuống là chúng hí hửng trổi ngay dậy sởn sơ. Mấy cô hoa tím dại xinh xinh có làm hại gì ai mà cũng chịu chung số phận, như con người sau một trận thiên tai đã ra đi hằng loạt, trí tuệ như loài người mà cũng không làm sao cắt nghĩa nổi hai chữ số mệnh thì mẹ cũng chịu không giải thích được.”  May sao mẹ con ngò nép vào một nơi kín đáo, chỉ quanh quẩn với nhau một chỗ nên thoát chết bởi cái máy cắt cỏ hung bạo, âu là ơn trên che chở và nhờ phúc đức thơm tho cuả mẹ ngò mà lũ con tồn tại. Dù nay mẹ đã ra đi, ra đi mãi mãi và ngò rí cũng lớn dần lên để tiếp tục cuộc hành trình hoà nhịp với mọi loài, nhìn những đổi thay trong khu vườn nhỏ, một vầng trăng tròn toả ánh sáng dịu dàng trên cảnh vật, một đêm mưa gió bão bùng làm rơi bao nhiêu chiếc lá vàng uá, tâm hồn ngây thơ bé bỏng cuả ngò rí một hôm nào thức dậy với bình minh và nhìn những hạt sương rơi trên cọng cỏ non, cái diện tích khu vườn trong tâm hồn ngây thơ ấy tưởng là bao la này thực ra cũng chỉ nằm gọn trong bàn tay cuả trời xanh thăm thẳm: “Ngước hỏi cao xanh ta thấy được gì Cũng chỉ vẫn một ngàn trùng vĩnh cửu”  Viết xong tháng Ba, đầu Xuân 2010                                                  

Những mưa hồng Trịnh Công Sơn Những bụi đỏ Phạm Thiên Thư Để quên và xa dần ru ngủ Sau lưng cuộc chiến đã mơ hồ . . . Em ra đi nơi này không thế Anh vào tù trả nợ chiến chinh . . . Trời Đắc Nông bụi mù tăm tối Mưa bây giờ mặn đỏ Trường Sa Em ra đi nơi này như thế Hòa bình rồi chẳng có tự do Anh bước đi giữa rừng cờ biểu ngữ Có mặt trời đỏ máu ở sau lưng Mỗi ngày anh phải chọn một niềm vui Để quên đi cuộc sống quá đọa đày Có những đêm dài biệt giam gía lạnh Tiếc thương buồn bạn chết cứng chiều qua

Nguyên Nhung 

QuÓc Gia 76

Độc lập, tự do chỉ là bánh vẽ Hạnh phúc quê hương sao thấy khôi hài Em đừng về, ngõ cũ chẳng chân quen Cả nước đang tù, quê hương đói khổ Hãy đốt lên đi ngọn lửa xuống đường Mưa hồng bụi đỏ vào mùa tranh đấu Chút nào ấm nóng quê hương giữ lửa Hét vang xa rung chuyển thế gian này

Thành Nguyễn 3113


c¶ng ÇÒng ngÜ©i viŒt quÓc gia vùng montréal 6767 Côte des Neiges # 495- Montréal (Québec) - H3S 2T6 - Tél: (514) 340-9630 - Fax: (514) 340 1926

Lịch trình du ngoạn do Cộng đồng Người Việt Quốc Gia vùng Montréal dự trù sẽ tổ chức trong năm 2010 1/ Rawdon, 11 juillet 2010 * Prix : 40$ 2/ Calgary, 27 mai – 2 juin 2010 (7 jours) - Calgary - Banff (Tắm suối nước nóng) - Columbia Icefield - Lac Louise - Dinausor Park - West Edmonton Mall có diện tích lớn nhất thế giới, 570 000 m2 * Prix : 1 100$/phòng 4 người, 1 200$/phòng 3 người & 1 400$/phòng đôi 3/ Toronto, 26 & 27 juin 2010 (2 ngày 1 đêm) - Thousand Islands - Phố Tàu Spadina - Niagara Fall - Pacific Mall * Prix : 100$/phòng 4, 120$/phòng 3 & 150$/phòng đôi 4/ Mont-Tremblant, 3 octobre 2010 - Viếng Đại Tùng Lâm và ăn trưa - Xem lá vàng tại Mont-Tremblant - Prix : 40$/người 5/ Tour du lịch Thổ Nhĩ Kỳ, 28 octobre au 10 novembre 2010 (14 jours) * Prix : 1 475 mỹ kim

Mọi chi tiết, xin vui lòng liên lạc Văn Phòng Cộng Đồng ĐT : (514) 340-9630 Xin lưu ý, vào giờ chót có thể thay đổi QuÓc Gia 77


c¶ng ÇÒng ngÜ©i viŒt quÓc gia vùng montréal 6767 Côte des Neiges # 495- Montréal (Québec) - H3S 2T6 - Tél: (514) 340-9630 - Fax: (514) 340 1926

Tham dự Ngày Việt Nam tại Quốc Hội Canada 28-04-2010 35 năm nhìn lại : Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản

* Lịch trình chuyến đi : - 08 giờ : Khởi hành tại Métro Plamondon, Sortie Van Horne - 10 giờ : Đặt vòng hoa tưởng niệm tại Đài Kỷ Niệm Ottawa và thăm địa điểm tương lai của Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân - 12 giờ 30 : Tập trung tại phòng họp 8-53.131, Queen street - 13 giờ đến 17 giờ : Hội Thảo tại Quốc Hội Chương trình : 1/ Thảm họa Cộng Sản : Cải Cách ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm, Tết Mậu Thân Diễn Giả : Sử Gia Trần Gia Phụng (Toronto). 2/ Vụ khai thác bauxite tại Tây Nguyên và ảnh hưởng đối với môi sinh Diễn Giả : Kỹ Sư Nguyễn Thanh Hà (California). 3/ Vấn đề lãnh hải và lãnh thổ Diễn Giả : Giáo Sư Nguyễn Văn Canh (California). 4/ Hiện tình Chính Trị tại Việt Nam : Những vụ đàn áp các Nhà tranh đấu cho Dân Chủ, Tự Do, Nhân Quyền và Chà đạp Tôn Giáo Diễn Giả : Cô Đặng Thanh Chi (Toronto) và Ông Mạc Giao (Calgary) 5/ Vai trò của Người Việt Hải Ngoại trong cuộc đấu tranh cho Dân Chủ, Tự Do và Nhân Quyền tại Việt Nam - 17 giờ đến 19 giờ : Tiếp Tân và Bế mạc (Phòng 7-50) - 19 giờ 30 : Trở về - 21 giờ 30 : Về đến Montréal (Métro Plamondon, Sortie Van Horne)

Yêu cầu quý đồng hương ghi danh sớm trước ngày 25-04-2010 Lệ phí :

30$

Mọi chi tiết, xin vui lòng liên lạc Văn Phòng Cộng Đồng ĐT : (514) 340-9630 QuÓc Gia 78


c¶ng ÇÒng ngÜ©i viŒt quÓc gia vùng montréal 6767 Côte des Neiges # 495 - Montréal (Québec) - H3S 2T6 - Tél: (514) 340-9630 - Fax: (514) 340-1926

Lớp học Vệ Sinh – An Toàn Thực phẩm Lớp Manipulateur (6 giờ) Khóa chuyên môn về vệ sinh và công thức bảo quản thức ăn cho Đầu Bếp, Nhân viên rửa chén, Bồi Bàn, Nhân viên Nhà hàng, Nhân viên các quầy thực phẩm . . . và tất cả những ai làm việc trong ngành nghề có liên quan về thực phẩm tươi và khô.

17-05-2010 : 14h30 – 20h30 2/ Thứ Hai 07-06-2010 : 14h30 – 20h30

Khoá học : 1/ Thứ Hai

Học phí :

130$ (khóa 10 học viên) 120$ (khóa 15 học viên)

Lớp Gestionnaire (12 giờ) Khóa học chuyên về quản trị dành cho Chủ Nhà hàng, Chủ Tiệm Thực phẩm, Đầu Bếp Trưởng, Quản Lý viên . . .

24-05-2010 : 09h00 – 21h00 2/ Thứ Hai 31-05-2010 : 09h00 – 21h00

Khóa học : 1/ Thứ Hai

Học phí :

190$ (khóa 10 học viên) 170$ (khóa 15 học viên) Xin liên lạc ghi danh với Văn Phòng Cộng Đồng ĐT : 514-340-9630

QuÓc Gia 79


6767 Côte des Neiges # 495 - Montréal (Québec) - H3S 2T6 - Tél: (514) 340-9630 - Fax: (514) 340 1926

Thông cáo Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia vùng Montréal với sự cộng tác của :

- Hội Phụ Nữ Việt Nam vùng Montréal - Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Gia Long - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trưng Vương

Sẽ tổ chức một buổi hội thảo :

Phụ Nữ Việt Nam sẽ phải làm gì trước hiểm họa mất nước ? tại phòng B-4420, Trường Cégep Maissoneuve, số 3800 Sherbrooke Est, vào lúc 14 giờ ngày Thứ Bảy 24-04-2010.

Diễn giả : Bà Bà

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (Pháp Quốc) Trương Nguyệt Ánh (Úc Đại Lợi)

Kính mời quý đồng hương đến tham dự buổi hội thảo. Sự hiện diện của quý vị sẽ là một niềm khích lệ lớn đối với Ban Tổ Chức. Có phụ diễn văn nghệ và tiệc trà.

T/M Ban Tổ Chức

Chủ Tịch Đặng Thị Danh

QuÓc Gia 80


**** Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa, Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục, Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc, Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.

Những quảng cáo, những mặt tiền nhamnhở, Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ, Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.

Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà, Mà bạn nghĩ đang trên đà “đổi mới”, Những thành thị xưa hiền như bông bưởi, Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.

Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga, Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ, Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ, Đang uốn mình theo gió đón hương bay. Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay, Thành phố đã chết từ ngày tháng đó, Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ, Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.

Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ, Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa. Đất nước đã từ lâu không khói lửa, Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh. Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình, Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo, Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo, Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi. Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi, Của những kẻ đã một thời chui nhủi, Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi, Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên. Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,

Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang, Đã được bạn tóm càn vô ống kính, Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính, Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.       

***

Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi, Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt, Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết, Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.

QuÓc Gia 81


Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam, Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa, Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa, Bị bán làm nô lệ ở phương xa.

Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa, Lấn vào đất của ông cha để lại, Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại, Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.

Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha, Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ, Khóc con cháu ra đi từ năm đó, Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh. Chụp giùm tôi số phận những thương binh, Đã vì nước quên mình trên chiến trận, Mà giờ đây ôm hận, Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba. Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già, Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất, Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt, Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân. Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân, Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng, Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng, Chở cha, anh lao động Mã Lai về. Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê, Chịu đánh đập chán chê dù vô tội, Hay cảnh những anh hùng không uốn gối, Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.

Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau, Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ. Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ, Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.             

***

Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương, Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh, Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh, Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi. Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi, Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ. Rồi tha phương lữ thứ, Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai. Lòng người chóng nguôi ngoai, Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!               Cali, đầu mùa Quốc Hận, 2010

QuÓc Gia 82


Ngöôøi

khOÂng nhaän

toäi © Duy Nhân

T 1.

ôi biết anh khi cùng đến trình diện “ học tập ” tại trường Pétrus Ký ngày 24 tháng 6 năm 1975. Anh sinh năm 1942, tốt nghiệp khóa 1 Chánh Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Sau khi ra trường anh bị động viên khóa 9/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi được biệt phái làm việc ở Kỹ Thương Ngân Hàng, tức Ngân hàng Quân Đội ở đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Anh là một thanh niên khỏe mạnh, to cao, chưa lập gia đình. Vì cận thị nên lúc nào cũng mang kính trắng. Trông anh ai cũng dễ nhận ra anh là một trí thức giàu tiềm năng, nhiều nghị lực. Anh có người chú ruột là kỹ sư làm bộ trưởng bộ công nghiệp nhẹ của chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Sở dĩ tôi biết nhiều về anh là do khi bị đưa vào trại tập trung ở Thành Ông Năm , Hốc Môn, cũng như khi ra Phú Quốc tôi lúc nào cũng được “ biên chế ” cùng tổ , đội với anh, chỗ nằm cũng sát bên anh, vì người ta căn cứ theo thứ tự A, B, C của tên mỗi người khi lập danh sách. Tên anh rất lạ và dễ nhớ: Kha Tư Giáo. Khi mới vào trại tập trung, ngoài giờ lao động khổ nhọc, các “ cải tạo viên “ còn phải học mười (10) bài chánh trị. Sau mỗi bài học là những buổi thảo luận trong tổ, đội. Mỗi ngưởi phải viết “ bài thu họach ”  những gì mình 

“ tiếp thu ” được sau những bài giảng của cán bộ tuyên truyền, được gọi là giáo viên. Sau bài học đầu tiên đề tài thảo luận đưa ra là mọi người phải “ liên hệ bản thân ”, xác định mình là người có tội với nhân dân, với “ cách mạng ”. Người cầm súng thì giết bao nhiêu cách mạng trong từng trận đánh. Bác sĩ thì chữa trị cho binh sĩ lành bệnh để đánh phá cách mạng như thế nào. Người làm ngân hàng (như tôi và anh Kha Tư Giáo) thì có tội phục vụ cho nền tài chánh, dùng tiền nuôi dưỡng chiến tranh. Cảnh sát thì đàn áp nhân dân ra làm sao, vân vân…Trại của chúng tôi đa số là sĩ quan biệt phái. Họ nói biệt phái là phái làm công tác đặc biệt. Thí dụ giáo viên biệt phái là những người lãnh lương hai đầu, một bên là quân đội, một bên là giáo dục, được phái về dạy học để đánh rớt học sinh, buộc học sinh phải đi lính, biệt phái ngân hàng là sĩ quan được đưa về làm công tác ngân hàng, kiếm thêm thu nhập cho người lính để có thêm sức cầm súng. Do đó, sĩ quan biệt phái là những người có tội rất nặng với cách mạng và nhân dân hơn những người khác. Anh KTG thì cho rằng anh và các bạn anh không ai là người có tội. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cầm súng chống lại bộ đội Bắc Việt và quân nằm vùng là để tự QuÓc Gia 83

vệ mà không hề chống lại nhân dân, đồng bào ruột thịt trong Nam cũng như ngoài Bắc. Riêng bản thân anh, sanh ra và lớn lên ở miền Nam, học hành và làm công tác chuyên môn ngân hàng để sống và phục vụ cho đất nước thì sao gọi là có tội. Lập trường anh Giáo không đáp ứng yêu cầu của Việt Cộng. Đó là tấn thảm kịch của anh. Anh bị bắt làm kiểm điểm liên tục còn những người khác thì cũng bị bắt phải “ giúp đỡ ” anh nhìn thấy được tội lỗi của mình để được cách mạng và nhân dân khoan hồng. Càng kiểm điểm anh càng thấy mình là người vô tội. Bài viết lúc đầu thì dài, về sau chỉ còn bốn chữ thật to chiếm hết trang giấy: TÔI KHÔNG CÓ TỘI. Việt Cộng hỏi, anh trả lời những gì cần phải nói anh nói hết rồi. Bạn bè trong đội thấy anh giữ lập trường như thế thì rất nguy hiểm cho anh mà bạn bè cũng khổ. Vì sau giờ lao động cực nhọc đáng lẽ được nghỉ ngơi, lại phải ngồi kiểm điểm với anh đến mỏi mệt, chán chường. Nhiều người trách anh sao không biết “ nín thở qua sông ”,  họ khuyên anh cứ viết đại vào giấy là mình có tội một cách chung chung, miễn là thực tế không làm gì hại nước, hại dân là được. Anh bảo như vậy là mắc lừa Cộng Sản và lương tâm không cho phép. Khi tất cả cán bộ ở trại đều


bất lực thì cán bộ cao cấp từ Sài Gòn được cử xuống. Những người này tỏ ta có tay nghề hơn. Nghe đâu là sư trưởng VĐG từng là thành viên của phái đoàn đàm phán Bắc Việt tham dự hội nghị Paris năm 1973, cùng với một đại tá chánh ủy sư đoàn ( ?). Họ không trấn áp anh mà tỏ ra lắng nghe và chịu đối thọai. Anh Giáo đã chứng tỏ bản lĩnh của mình bằng những câu hỏi đặt ra mà họ không trả lời được. Ngược lại, anh còn phản công, vạch trần tội ác của họ. Từ vai một người tù, một tội nhân anh trờ thành một công tố viên trước tòa, luận tội Việt Cộng. Bằng một giọng đầm ấm  và trầm tĩnh, anh Giáo nói : - Chúng tôi là những người sanh ra và lớn lên ở miền Nam. Nhờ hạt gạo của đồng bào miền Nam nuôi lớn và trưởng thành từ nền văn hóa và giáo dục khoa học, nhân bản và khai phóng. Chúng tôi có lý tưởng của chúng tôi cũng như các anh có lý tưởng của các anh. Lý tưởng của các anh là dùng bạo lực để lật đổ chánh phủ hợp hiến, hợp pháp Việt Nam Cộng Hòa để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản. Lý tưởng của chúng tôi là bảo vệ Tự Do, Dân Chủ. Các anh từ miền Bắc vào xâm lăng miền Nam, buộc lòng  dân quân miền Nam phải cầm súng tự vệ. Chúng tôi có câu “ giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Chẳng lẽ một công dân cầm súng chống lại kẻ thù để bảo vệ bà con mình, gia đình mình, tổ quốc mình thì có tội ? Hai cán bộ Việt Cộng im lặng, chỉ gật gật cái đầu. Một lúc sau, viên đại tá chính ủy lên tiếng: - Các anh chỉ là tay sai đế

quốc Mỹ. Ở đâu có Mỹ, có bom đạn Mỹ thì chúng tôi đánh. Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một… Anh Giáo ngắt lời : - Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, chớ gì ? Các anh chỉ biết lặp lại mà không biết gì về quốc tế công pháp. Tôi nhắc lại, hiệp định Genève năm 1954 mà các anh đã ký ngày 20/7/1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở ra là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ vĩ tuyến 17 trở vào là nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận. Tên sư trưởng phản ứng : - Các anh là công cụ Đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt vĩnh viễn đất nước. Còn chúng tôi đánh Mỹ là để thống nhất đất nước, mang lại Độc Lập cho Tổ Quốc, Tự Do, Hạnh Phúc cho đồng bào. Anh KTG : - Nên nhớ, các anh mới là người âm mưu cùng thực dân Pháp chia cắt đất nước bằng hiệp định Genève năm 1954. Chúng tôi không hề ký vào hiệp định đó. Đồng minh chúng tôi không phải chỉ có Mỹ mà có Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi và tất cả quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Các anh mới là tay sai Liên Xô và Trung Cộng. Chủ nghĩa Cộng Sản chủ trương bành trướng, xâm lược, nhuộm đỏ toàn thế giới chớ không riêng gì Việt Nam. Tên sư trưởng : - Người Cộng Sản làm cách mạng là để giải phóng các dân tộc khỏi áp bức, bóc lột mà đầu sỏ là đế quốc Mỹ để mang lại công bằng xã hội, ấm no, hạnh QuÓc Gia 84

phúc cho mọi người. - Tôi thiết nghĩ những người cần được giải phóng là nhân dân miền Bắc đang thiếu Tự Do, Dân Chủ, đang sống đời lầm than cơ cực. Chúng tôi không cần các anh giải phóng. Bất ngờ, tên đại tá chánh ủy đập tay xuống bàn cái rầm. Ly nước trước mặt hắn ngã đổ tung tóe : - Quân phản động ! Anh KTG vẫn giữ điềm tĩnh và im lặng. Thời gian trôi qua nặng nề. Tên sư trưởng dịu giọng: - Các anh ôm chân đế quốc, bị đầu độc bởi vật chất xa hoa và văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa tư bản thối tha nên không nhìn thấy tội lỗi của mình. Bằng một giọng ôn tồn mà cương quyết, anh Giáo trả lời : - Chúng tôi là người Việt quốc gia, không theo chủ nghĩa nào cả. Chủ nghĩa chỉ là lý thuyết, là giáo điều do con người đặt ra để phục vụ cho những mục tiêu chánh trị nhất định trong một giai đọan lịch sử nhất định. Đến lúc nào đó nó sẽ bị đào thải do không theo kịp sự tiến hóa không ngừng của xã hội. Còn chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là chủ nghĩa ngoại lai, duy vật và sai lầm khi chủ trương vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc, đi ngược lại bản chất con người, ngược lại truyền thống duy tâm , trọng đạo và nền văn hóa cổ truyền của người Việt. Nó quá tàn nhẫn và sai lầm khi chủ trương đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản. Tôi cho rằng nó sẽ không tồn tại lâu dài. Thấy hai tên Việt Cộng vẫn im lặng, anh Giáo nói tiếp :


- Trong thời gian Tết Mậu Thân năm 1968 các anh đã đồng ý hưu chiến để đồng bào an tâm vui đón ba ngày lễ cổ truyền của dân tộc. Vậy mà các anh lại tấn công vào các đô thị miền Nam, gieo rắc kinh hoàng, chết chóc cho người dân vô tội. Khi các anh rút lui khỏi Huế lại nhẫn tâm sát hại, chôn sống hàng ngàn dân lành. Các anh ký hiệp định Paris năm 1973 để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Lúc nào các anh cũng giương cao ngọn cờ chống Mỹ cứu nước như chánh nghĩa đấu tranh của mình, nhưng khi Mỹ rút đi rồi thì các anh dốc toàn lực đánh chiếm miền Nam. Vậy mà các anh nói được là hòa bình, hòa giải dân tộc ! Nói tới đây anh Giáo ngừng lại trong giây phút, rồi bất ngờ anh chỉ tay về phía hai cán bộ Việt Cộng : - Vậy thì giữa chúng tôi và các anh, ai mới là người có tội ? Bấy giờ thì hai tên Việt Cộng giận run, nét mặt đanh lại, xám ngắt. Chúng không trả lời câu hỏi của anh Giáo mà đuổi anh ra khỏi phòng. Bằng đủ mọi cách đấu tranh buộc anh Giáo nhận tội không kết quả, bọn Việt Cộng để cho phong trào lắng xuống. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, không biết điều gì sẽ xảy đến cho anh KTG. Việt Cộng có thể mang anh ra bắn công khai về tội phản động như họ đã từng làm ở trại này mà anh Giáo cũng như mọi người trong trại đều biết. Thời gian này anh Giáo cho biết các em của anh đi học tập cùng đợt đã được ông chú bảo lãnh về hết, trong đó có người em ở trại kế bên, chỉ cách

nhau một hàng rào dây thép gai. Ngày hai anh em chia tay nhau bên hàng rào, anh Giáo dặn em hãy về lo cho mẹ và gia đình và đừng lo gì cho anh, chắc là lâu lắm anh mới được về. Phần anh vẫn vui vẻ sống cùng anh em với tinh thần bình thản, một đôi khi còn tiếu lâm, khôi hài nữa.  Anh thường hay hát những bài như Hà Nội, Niềm tin và Hy vọng, Anh lính quân bưu vui tính…Tôi hỏi sao không hát những bản nhạc của mình, anh nói hãy cố giữ nội quy của họ để họ không nói được mình. Anh Giáo là thế, lúc nào cũng tự trọng. Mười bài học chánh trị rồi cũng qua. Chúng tôi có nhiều giờ rảnh hơn vì lúc này không còn phải ngồi hàng giờ để thảo luận và “ giúp đỡ ” anh Giáo nữa. Nghĩ lại,Việt Cộng dùng từ cũng ngộ, như từ  “giúp đỡ ” được dùng trong trường hợp này. Chúng tôi xét thấy chẳng có ai đủ tư cách để giúp đỡ anh Giáo, ngược lại rất nể trọng anh và được anh giúp đỡ rất nhiều . Vào những buổi chiều sau khi cơm nước xong, anh và tôi thường hay đi bách bộ dưới tàng những cây sứ có hoa màu trắng, tỏa hương thơm ngát. Chúng tôi thường trao đổi với nhau về chuyện ngân hàng và những vấn đề mà cả hai cùng quan tâm. Thấy anh nhặt rất nhiều bông sứ, tôi hỏi : - Chi vậy ? - Mai mốt về tặng người yêuAnh trả lời. - Chắc là cô bạn rất thích hoa này ? - Vì nó trắng tinh khiết và thơm dịu dàng. - Sợ tới chừng đó nó sẽ phai màu đi – Tôi e ngại. QuÓc Gia 85

- Không sao. Dù hoa có phai màu nhưng chắc sẽ giữ được tình cảm của mình trong đó ! - Anh lãng mạn quá – Tôi nhận xét. Anh Giáo cười để lộ hai cái răng khểnh và một đồng tiền dưới khóe miệng bên phải. Trông anh dễ thương hơn bao giờ hết ! Có lần trong lúc trò chuyện anh nói hiện nay anh ghét nhất là cái khẩu hiệu “ Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội ”. Bản thân chủ nghĩa xã hội không ra gì thì làm sao mà yêu cho được. Theo anh Giáo, yêu nước là yêu nước. Không thể và không nên gán ghép nước Việt Nam với bất cứ một chủ nghĩa nào, dù là Chủ Nghĩa Xã Hội, Cộng Sản hay Tư Bản. Nếu những chủ nghĩa này sụp đổ thì không yêu nước nữa hay sao ? 2. êm 21 tháng 6 năm 1976 chúng tôi được chở bằng Motolova đến Tân Cảng xuống tàu há mồm 503 ra Phú Quốc. Chuyến đi thật kinh hoàng như địa ngục trần gian mà con người có thể tưởng tượng được. Hàng ngàn người bị dồn trên con tàu đóng kín cửa. Ăn uống, ói mửa, tiểu tiện chỉ có một chỗ, cho vào thùng phuy. Khi tàu cập bến Phú Quốc có nhiều tù nhân bị xỉu, những người còn lại đều kiệt sức. Tù nhân phải dùng chính những thùng phuy này để nấu cháo ăn ngay trong đêm. Cho tới hôm nay là ba muơi bốn năm, hình ảnh hãi hùng này vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi ghi vào nhật ký : Đau đớn thay những linh hồn cháy lửa Suốt đêm ngày tắm rửa với

Đ


mồ hôi Với cao tay quờ quạng chút hơi người Miệng gào thét những âm thanh khiếp đảm Ở Phú Quốc ngoài việc trồng rau để “ cải thiện ” bửa ăn, việc lên rừng đốn củi là công tác thường xuyên và cực nhọc nhất. Nhiều anh em nghe lời Việt Cộng, đi tìm vác những cây to để chứng tỏ mình là người “ tiến bộ”. Anh Giáo thì không. Lúc nào anh cũng ung dung, tự tại. Anh chỉ tìm vác những cây vừa sức mình. Khi thấy cần phải nghỉ thì anh dừng lại nghỉ, mặc cho bọn vệ binh ôm súng canh giữ cho tới lúc hết mệt anh mới đứng lên đi tiếp. Anh khuyên anh em phải biết giữ gìn sức khỏe vì thời gian “ học tập” hãy còn dài. Giờ đây ngồi ghi lại những dòng này, cảnh tượng của năm nào lại hiện ra trước mặt: Trong một buổi chiều ảm đạm, gió thổi ào ào. Một bên là biển, một bên là rừng.  Đoàn tù cả trăm người, dài hơn cây số, xếp hàng đôi, áo quần lôi thôi lếch thếch, vai vác những thân cây nặng nề, mồ hôi lã chã, chậm chạp lê bước trên những con dốc ngoằng ngoèo, trơn trợt. Nhiều người té lên té xuống. Hai bên và phía sau là những tên vệ binh ôm súng AK thúc giục.Tới đầu một con dốc, anh Giáo đặt thân cây xuống, ngồi trên đó nghỉ mệt. Khi một ngừời không đi nổi thì cả đoàn phải dừng lại chờ. Điều này bọn cai tù Việt Cộng không muốn. Tên chỉ huy đến chỗ anh Giáo bắt phải đứng lên đi tiếp Anh Giáo trả lời mệt quá nên phải nghỉ. Tên cán bộ không chịu. Thế là cuộc đấu trí bắt đầu. Đến khi đuối lý, tên cán

bộ rút khẩu K 54 ra khỏi vỏ. Cả đoàn tù hồi hộp. Cả khu rừng như nín thở. Tên cán bộ đến bên anh, nghiêm sắc mặt : - Anh có đứng lên không ? - Tôi còn mệt. - Anh không chấp hành lệnh phải không ? - Tôi đã nói là tôi còn mệt. Bao giờ hết mệt tôi sẽ đi. Tên cán bộ hướng khẩu K54 về phía anh Giáo : - Anh không đứng lên tôi bắn. Anh Giáo vẫn ngồi bất động, lạnh lùng đáp : - Anh cứ bắn đi ! Tên cán bộ Việt Cộng bóp cò. Hai tiếng nổ chát chúa vang động cả khu rừng. Một bầy chim bay lên tán lọan, kêu quang quác… Nhiều người tù gục xuống, ôm ngực : - Lạy Chúa tôi. Sự việc diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi nhưng đã nói lên tất cả nét bi hùng của cuộc chiến sau “ Hòa bình ” mà kẻ có vũ khí trong tay đã thua, đồng thời tính chất anh hùng của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong hoàn cảnh sa cơ thất thế vẫn sáng ngời, chói lọi. Người tù đã thắng! Không biết vì sợ hãi hay run tay mà đường đạn nhắm vào anh Giáo đã đi trượt một bên tai, làm bể nát phần thân cây mà anh Giáo đang ngồi trên đó. Tôi thì sửng sốt, bàng hoàng, tưởng như mình vừa trải qua một giấc mơ, vừa chứng kiến một cảnh chỉ có thể xảy ra trên màn ảnh, truyền hình! Anh Giáo thường hay kể truyện Tam Quốc, truyện Thần Điêu Đại Hiệp, truyện Tây Du Ký cho chúng tôi nghe. Hết QuÓc Gia 86

truyện Tàu đến truyện tiếu lâm, làm cho đời sống tù tội bớt căng thẳng. Sau một thời gian ở Phú Quốc, Việt Cộng nhiều lần cho họp liên trại, phát động lại chiến dịch đấu tranh bắt anh Giáo nhận tội, nhưng rồi không thể nào lay chuyển được tư tưởng của anh. Riêng đám tù binh chúng tôi bấy giờ rất thoải mái chớ không còn căng thẳng như lúc ở Hốc Môn. Người ta chỉ tổ chức đấu tranh với anh Giáo cho có lệ. Những lần như thế chúng tôi khỏi phải lên rừng vác củi, được nghỉ lao động, lại  thích hơn. Nhưng thời khắc định mệnh đã tới! Một hôm trong lúc xếp hàng điểm danh cuối ngày, cán bộ Việt Cộng ra lệnh cho anh Giáo phải bỏ kính ra. Anh trình bày vì cận thị từ lâu nên không bỏ ra được. Chỉ chờ có thế, chúng ra lệnh nhốt anh vào cũi sắt làm bằng dây thép gai, thứ mà chúng ta hay gọi là chuồng cọp, diện tích rất hẹp, nằm không được mà ngồi cũng không được. Chuồng cọp để giữa trời, không có mái che mưa che nắng. Ngay từ năm 1930, khi thành lập đảng Cộng Sản, họ đã có chính sách “ Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc bốc tận rễ ”. Anh KTG là một trí thức mặc dầu thua trận vẫn cương quyết giữ vững lập trường chống Cộng và quyết tâm bảo vệ chánh nghĩa Quốc Gia thì sẽ bị tiêu diệt là điều khó tránh khỏi. Tiến sĩ toán ĐXH, cá nhân tôi và biết bao anh em khác cùng đội cũng mang kính trắng giống như anh KTG mà không hề bị làm khó dễ. Điều này được giải thích như thế nào đây ? Mỗi ngày Việt Cộng chỉ cho anh Giáo nửa chén cơm lạt. Anh lại tuyệt thực


để đấu tranh và phản đối chính sách dã man và sự trả thù hèn hạ của chúng. Ngoài tuyệt thực, anh Giáo còn dùng lời ca, tiếng hát để làm vũ khí đấu tranh. Bài hát anh Giáo sử dụng là bài Đêm Nguyện Cầu, trong đó có những câu : “  Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối… Nghẹn ngào cho non nước tôi, trăm ngàn ưu phiền…” Có lẽ trong giờ phút đó, anh Giáo biết rằng mình đã ở vào thế hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ có thể nguyện cầu mà thôi. Đây là lần đầu tiên mà có lẽ cũng là duy nhất trong đời, tôi nhìn thấy một người hát bằng tất cả linh hồn như vậy. Anh Giáo thường cất tiếng hát của mình vào những đêm khuya thanh vắng. Giọng hát của anh bay vào không gian, vào từng lán, trại, có lúc thật cảm xúc, có lúc nghe rợn người như âm thanh phát ra từ cõi chết. Nhiều người nghe anh hát thì ngủ không được, nhiều người đang ngủ thì bừng tỉnh dậy và khóc nức nở. Bài Đêm Nguyện Cầu là của Lê- Minh- Bằng. Anh Bằng năm nay vẫn còn sống ở Mỹ, chắc anh không ngờ sáng tác của anh lại có người sử dụng trong hoàn cảnh đắng cay như vậy. Giờ đây mỗi lần nghe lại bài hát này tôi không cầm được nước mắt vì nhớ tới người bạn của mình. Lời ca của anh Giáo rồi thì cũng yếu dần và tôi không nhớ cho đến khi nào thì tắt lịm. Anh bị xuống sức rất nhanh. Từ một thanh niên khỏe mạnh cao hơn một thước bảy, chỉ trong vòng một tháng anh chỉ còn là một bộ xương, duy có đôi mắt là còn tinh anh, sáng ngời, khiến cho nhiều người

không dám nhìn thẳng vào mắt anh, nhất là cán bộ Việt Cộng. Ngày 20 tháng 6 năm 1977 Việt Cộng cho di chuyển một số tù nhân từ Phú Quốc về Long Giao, Long Khánh. Anh Giáo di chuyển đợt đầu, tôi thì đi đợt kế tiếp. Trong lúc di chuyển, anh Giáo bị còng tay, lúc nào cũng có vệ binh ôm súng canh chừng. Ngay khi về tới Long Giao tôi vội đi tìm anh Giáo. Khi gặp được anh thì anh đang hấp hối. Tôi nắm tay anh, bàn tay lạnh ngắt. Lời nói cuối cùng anh nhắn lại với tôi là khi nào được về thì nói tất cả sự thật cho gia đình anh biết. Tôi hỏi địa chỉ ở đâu thì anh thều thào trong hơi thở rất yếu. Hình như anh thốt ra hai chữ Huyền Trân. Sau này khi đi lao động tình cờ tôi gặp được nấm mộ của anh, phủ đầy cỏ dại ở một góc sân banh hoang vắng. Trên mộ có tấm bảng gỗ nhỏ có đề tên anh, nét chữ nhạt nhòa. 3. ôi được tha về cuối năm 1977. Mặc dầu phải đương đầu với biết bao khó khăn trong đời sống hàng ngày đối với một người vừa mới ra tù, tôi vẫn để tâm đi tìm gia đình anh Kha Tư Giáo. Theo quyết định ra trại, tôi chỉ được tạm trú ở nhà một tháng, sau đó phải chịu sự điều động của địa phương đi   “Kinh Tế Mới”. Nhờ may mắn, tôi xin được giấy chứng nhận là thuộc diện sử dụng vào công việc của thành phố. Từ đó tôi xin được việc làm và dần dần ổn định được đời sống. Tôi đã tìm khắp mọi nẻo đường, từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nhất là đường Huyền Trân Công Chúa, đường có hai

T

QuÓc Gia 87

chữ Huyền Trân mà tôi đã nghe anh Giáo thốt ra trong lúc lâm chung. Nhưng con đường này toàn là biệt thự, có vẻ là công sở hơn là nhà tư nhân. Tôi cứ đi qua, đi lại con đường này không biết bao nhiêu lần. Khi tôi vào hỏi đều nhận được cái lắc đầu của chủ nhà. Cũng có lần tôi cầu may lên Thành Ủy Sài Gòn ở đường Trương Định, quận Ba để hỏi thăm về đồng chí KVC, Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Nhẹ nhưng tôi không qua được cổng bảo vệ vì khi được hỏi quan hệ như thế nào với đồng chí bộ trưởng thì tôi trả lời quanh co mà không chứng minh được gì cả. Trong suốt hai mươi năm ở SàiGòn không tìm được gia đình anh Giáo thì tôi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ, định cư ở Chicago vào cuối năm 1997. Sang Mỹ tôi vẫn tìm cách thực hiện nguyện vọng cuối cùng của người bạn quá cố. Tôi cố gắng dò hỏi trong số bạn bè mà tôi liên lạc được xem có ai biết gia đình họ Kha ở đâu không. Một lần nữa tôi không có tin vui. Điều tôi làm được là cuối tháng 12 năm 2001 tôi viết lại câu chuyện về anh Kha Tư Giáo, đặt tựa đề Người Không Nhận Tội và gửi cho tờ Việt Báo ở California, mục “ Viết về nước Mỹ ”. Tôi chọn mục này vì đây là diễn đàn có số độc giả rất lớn, ở  khắp nơi trên thế giới, biết đâu gia đình anh Giáo sẽ đọc được. Hy vọng của tôi rất mong manh vì bài của tôi không nói gì về nước Mỹ  mà chỉ viết về người bạn của mình đã ngã gục trong tù Cộng Sản. Vậy mà không ngờ, bài viết cũng được chọn đăng và được phổ biến trên hệ thống thông tin toàn cầu. Tôi


lại hồi hộp chờ đợi bài viết của mình đến với gia đình anh  KTG. Ngày 23 tháng 1 năm 2002 tôi nhận được email của Ban Chủ Nhiệm Việt Báo chuyển cho cùng với bức điện thư của anh KTC, em của anh KTG gửi từ Austin, Texas, báo tin gia đình anh đã đọc được bài viết của tôi. Bức điện thư ngắn ngủi nhưng đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh, một niềm vui lớn. Bạn hãy tưởng tượng cũng biết được là tôi hạnh phúc như thế nào khi nỗi niềm đã được giải tỏa, khi ước mơ 25 năm đã thực hiện được, nhất là ước mơ đó là của người quá cố, nên có tính cách linh thiêng. Chiều chủ nhật 27 tháng 1 năm 2002, tôi đang ở nhà thì nhận được điện thọai từ Texas : - Hello ! Tôi là KHT, em ruột anh Kha Tư Giáo. Xin lỗi có phải… - Tôi, Duy Nhân đây. - Chào anh Duy Nhân ! Có phải anh là tác gỉa bài viết Người Không Nhân Tội ? - Tôi đây chị. - Hân hạnh được nói chuyện với anh. Gia đình tôi đọc được bài viết của anh trên Internet. Không ngờ sự thật như vậy.. Tới đây thì tiếng nói đứt quãng. Tôi nghe được cả sự nghẹn ngào bên kia đầu dây. Chị HT quá xúc động. Tôi cũng vậy. Tôi giữ được im lặng trong một phút, rồi nói : - Đây là giây phút mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm nay. - Gia đình chúng tôi cám ơn anh nhiều lắm. - Tôi chỉ làm nhiệm vụ đối với anh Giáo, một người bạn của tôi. - Bài viết của anh nói lên

được nhiều điều. Qua đó, gia đình tôi hiểu rõ sự thật về anh Giáo, về Cộng Sản mà nhiều cán bộ cao cấp theo Cộng Sản suốt đời cũng không hiểu được. Tôi lại nghe tiếng nức nở bên kia đầu dây. Chị HT lại khóc. Sau đó chị kể cho tôi nghe những sự kiện tiếp theo cái chết của anh Giáo. Chín tháng sau khi anh Giáo chết thì Việt Cộng mới báo tin về gia đình, Họ có hoàn lại cho gia đình một số vật dụng cá nhân, trong đó có cặp kính trắng. Bây giờ tới phiên tôi đau lòng và xót xa khi nghe nhắc tới cặp kính trắng. Đó chứng tích của sự trả thù hèn mọn và một chính sách sai lầm đối với trí thức, đối với người thuộc chế độ cũ mà tôi là nhân chứng từ đầu tới cuối. Khi gia đình nhận được giấy báo tử của anh Giáo thì mẹ và các em đi gặp cán bộ có chức quyền để hỏi tin tức. Họ nói anh Giáo nhịn ăn cho tới chết. Mẹ anh hỏi lý do gì khiến anh Giáo phải tuyệt thực, anh Giáo có tội gì phải biệt giam, đề nghị cho xin bản án hoặc biên bản về cái chết của anh Giáo. Việt Cộng không trả lời. Mặc dầu uất ức nhưng mẹ anh cố kiềm nước mắt không bật khóc trước mặt Việt Cộng. Đến khi mẹ anh Giáo đề nghị được dẫn đi tìm mộ thì bọn Việt Cộng lại tỏ ra khó chịu và đòi hối lộ. Cuối cùng, bà và các em phải đi tìm một mình và dĩ nhiên  là không thể nào tìm được! Vì quá đau buồn, mẹ anh Giáo qua đời sau đó ít lâu. Khi tôi nhắc đến tên Huyền Trân thì chị nói đó không phải là tên đường mà là tên của chị. Có lẽ trong lúc lâm chung anh Giáo gọi tên chị mà tôi tưởng là tên đường. Chị HT nói cho tới bây giờ gia đình QuÓc Gia 88

chị không ai biết anh Giáo nằm ở đâu. Tôi thì biết rất rõ. Ngôi mộ quay đề về hướng Đông ở một góc sân banh. Trên mộ có xuất hiện một cây hoa dại có bông rất lạ. Ngày xưa mỗi lần đi lao động về ngang qua ngôi mộ tôi đề bứt vài bông đem về cắm trong lọ mà tưởng tượng anh Giáo như còn sống. Anh Giáo đã chết một cách vô danh mà anh hùng như loài hoa kia đã dũng cảm vươn lên giữa khô cằn và gai góc. Sau chÎ HT thì anh KTH, em kế anh Giáo từ bên Pháp đã liên lạc với tôi bằng thư và nói chuyện qua điện thọai. Anh cho biết rõ hơn về tính tình ngay thẳng, cương trực của anh Giáo. Anh H tỏ ra rất hãnh diện và tự hào về người anh của mình, đã chọn cái chết mà không phải ai cũng làm được. Anh đã thanh thản đi vào trang sử bi hùng của Quân Lực VNCH và dân tộc. Anh Kha Tư Giáo ơi ! Ở một nơi nào đó chắc là anh đã mãn nguyện vì ước muốn sau cùng của anh đã được thực hiện, dầu có muộn màng. Bài mà tôi viết về anh người ta đã lấy dựng thành kịch (1), cho phổ biến, trình chiếu khắp nơi mà không xin phép tác giả. Thôi thì hãy ngậm cười mà tha thứ cho họ, tha thứ tất cả. Tha thứ cho những kẻ đã hành hạ anh, những kẻ bỏ đói anh, tha thứ luôn cho cái chuồng cọp nhốt anh đêm ngày và cái còng sắt siết chặt tay anh rớm máu! Bây giờ đã là ba mươi bốn năm, vậy mà tôi tưởng như mới ngày nào…Lịch sử vẫn đang ghi nhận những sự thay đổi, những bước tiếp diễn lạnh lùng của nó. Có những điều anh nhận định, anh mong mỏi bây giờ đã là sự


thật, ngọai trừ Tự Do và Hạnh Phúc cho mọi người. Gia đình anh có nhiều thay đổi : Mẹ anh đã qua đời, ông chú anh cũng đã ra đi. Người ta dùng tên chú anh để đặt tên một con đường nhỏ ở Thủ Đức nhưng lại viết sai chính tả ! Anh còn lại những người thân nhưng đã phân tán mỗi người mỗi ngä. Có người còn ở Việt Nam, có người ở Pháp, ở Mỹ… Tôi vẫn đang liên lạc với họ, vẫn

nghe tiếng họ nói mà chưa một lần gặp mặt. Vậy mà cảm thấy như đã thân quen tự thuở nào. Về phần tôi, khi nào điều kiện cho phép tôi sẽ về lại Việt Nam. Tôi sẽ đi tìm ngôi mộ của anh, sẽ thắp lên đó một nén hương và trồng bên cạnh đó một cây sứ có bông màu trắng. GHI CHÚ : (1) Bài viết Người Không

Nhận Tội đã được Trung Tâm Băng Nhạc Asia dàn dựng với cùng tựa đề, do Ban kịch Sống – Túy Hồng trình diễn trong cuốn Asia số 36 (chủ đề Người Lính) tưởng  niệm 27 năm tháng 4 đen (30/4/1975 – 30/4/ 2002). Bài này được viết lại tháng 4 năm 2010 để tưởng niệm 35 năm ngày mất nước.

© Duy Nhân

Chu Tất Tiến

Kính dâng hương hồn các dũng sĩ đã hy sinh tại Hoàng Sa Kính tặng các chiến sĩ Hải Quân nhân ngày Hoàng Sa, 17 Tháng Giêng, 2010 Không! Không thể nào quên Những tiếng súng cô đơn năm ấy Những tiếng thét dậy vang: Thà chết không lùi! Bảo vệ giang sơn, một tấc đất không rời Dù máu đổ, thịt tan, chân tay bùng lửa Dù đại pháo xâm lăng kinh hoàng òa vỡ Dù hồn bay theo tiếng vỗ đại bàng Thân tầu oai hùng bỗng chốc cắt ngang Sóng vỗ mặt như trăm ngàn viên đạn... Người chiến sĩ Hải Quân, trái tim chai sạn Với đất trời, sông nước mênh mông Ðã bao ngày trong nắng rát mịt mùng Bạn với biển, hải âu, bão lốc Cát chạy, đá bay, trùng trùng gió thốc Úp mặt trong tay, khóc với quê hương Ðã bao đêm sương trắng trải giường Nệm cỏ, phân chim, hồng hoang tuyệt địa Nghe tim mình muối chan từng khía Một đêm thôi mà tưởng đến ngàn thu Vọng hình em tít mãi mây mù Vọng cố quốc, chỉ một mầu xanh đá Giờ đây! Giờ đây! Những viên trái phá Nổ tung không gian, xé nát bốn phương trời Không còn mây, chỉ thấy ngọn lửa ngời Không có biển, chỉ là dầu loang lổ Không có ngày mai được mồ xanh cỏ

Dòng nước lạnh lùng mở lối anh đi... Ôi! Hải Quân! Những con tầu hùng vĩ Ngả nghiêng theo từng lớp sóng tử thần Sóng từ ngàn xưa, với Lạc Long Quân Năm mươi đứa theo Cha trị biển Vũ khí mang theo là trái tim miên viễn Ôm mộng Việt Nam hùng cứ biển Ðông Ngàn dặm quanh co uốn khúc Tiên Rồng Nay bùng cháy, cỏ trên bờ cùng héo Ðồi non, rừng thông cũng như vặn vẹo Nước mắt dân Nam giàn giụa khóc anh... Thôi! Tên anh đã hòa với sử xanh Anh đã hóa thành thần lẫm liệt Ðã về với Quang Trung, Lam Sơn kiệt hiệt Gặp Trưng Vương, Lý Thường Kiệt hùng anh Ngâm câu: ‘Nam Quốc Sơn Hà” thưở ấy lừng danh Anh vĩnh viễn là ngôi sao rực sáng Là hoàng hôn, là bình minh chói rạng Soi tỏ bầu trời Tổ Quốc thân yêu Chúng tôi, thành tâm nguyện ước một điều Anh linh ấy hộ dân ta Tự Do, Dân Chủ Cho đất nước thoát vòng rừng rú Thoát bọn vong nô bán nước buôn dân Cho thế hệ sau, Việt Nam đẹp vạn phần Dòng giống Việt ngàn đời bất diệt

QuÓc Gia 89


Đặng Vũ

H

ooàng ngồi trên mỏm đá nhìn xuống bến Dương Đông. Biển xanh một mầu. Sóng vỗ lao xao vào ghềnh đá. Ngoài xa khơi, thấp thoáng các tầu chiến Mỹ đang công tác ngoài hải phận đảo Phú Quốc. Hoàng đã xong ba ngày làm việc trên đảo, nơi di tản của dân cư, công nhân viên chức từ các tỉnh miền Trung. Hoàng có nhiệm vụ tìm kiếm, lập danh

sách các nhân viên thuộc ngành Y Tế để đưa họ về đất liền. Những người di tản sống tá túc trong các căn trại còn lại của trại t ù binh phiến cộng Phú Quốc, sau khi các tù binh Việt Cộng đã được trả về bên kia. Hoàng đã gặp Earl Wright, viên chức của USAID từ Sài Gòn ra công tác nơi đây, được xem là trại chuẩn bị di tản ra Đệ Thất Hạm Đội. Mười năm trước, Earl là chí nguyện viên QuÓc Gia 90

quốc tế (I.V.S = International Voluntary Service) công tác tại tỉnh Ban Mê Thuật. Hoàng lúc ấy là Ủy Viên Y Tế của Thanh Niên Chí Nguyện VN (N.V.S= National Voluntary Service) tổ chức các đoàn viên hoạt động tại các làng Thượng thuộc xã Ea Pok và Khu Trù Mật Quảng Nhiều. Các đoàn viên của I.V.S là những sinh viên đại học khắp nước Mỹ. Họ tham gia Đoàn Hòa Bình (Peace Corps) do Tổng Thống J.F Kennedy khởi xướng. Ngoài ra, có một số thuộc về nhóm Thanh Giáo (Quaker). Họ đến công tác tại các nước nghèo trên thế giới như Nam Mỹ, Phi Châu và các ngước Đông Nam Á. Sau thời gian hoạt động, một số trở về các trường đại học, một số khác tham gia làm các viên chức các cơ quan viện trợ kinh tế Hoa Kỳ, một số rất ít tham gia phong trào phản chiến, chống chiến tranh Việt Nam như Don Luce, Carolyn Hamn. Sau một phiên họp, Earl kéo Hoàng ra một nơi, nói riêng : -Tình hình quân sự và chính trị của Miền Nam đã không còn cứu được nữa. Tôi phụ trách tổ chức di tản ra Đệ Thất Hạm Đội, rồi sẽ sang Guam trước khi về Mỹ...Anh có muốn từ đây di tản sớm để may ra.... Hoàng trả lời : - Cám ơn Earl. Không, tôi không muốn rời bỏ quê hương này để đi về một nơi nào được gọi là thiên đường. Tôi không có một lựa chọn nào khác là ở lại quê hương này với những niềm đau, nỗi khổ của nó. Tôi sẽ làm hết sức mình.... Đó là năm 1975, mùa Xuân cuối


cùng của Hoàng trên đất nước đang đi vào cơn dâu bể. ........ Nhận phiên trực trong những ngày Xuân, đối với Hoàng, thực là thú vị vì hương vị ngày Tết vẫn còn bàng bạc khắp nơi. Sáng sớm, sau khi giao ban, Hoàng đã thấy một số lớn trường hợp chấn thương vào trại cấp cứu. Tin tức cho biết vừa có tai nạn xe lửa bị trật đường rầy đâu đó ở Dầu Giây. Công tác cứu thương đã có nhiều ca cấp cứu có chỉ định phẫu thuật. Hoàng hội chẩn với các bác sỹ ngoại khoa thần kinh, chỉnh hình và nhận ca mổ đầu tiên. Sau cuộc mổ kéo dài 4 tiếng đồng hồ, Hoàng thấy số lương bệnh nhân càng lúc càng tăng, anh đề nghị tình trạng khẩn cấp toàn bệnh viện và cho mời bác sỹ trực tham ấn để mở thêm phòng mổ, điều động các bác sỹ ứng trực và nhân viên y tá cấp cứu. Ban lãnh đạo bệnh viện đã được phép chuyển bệnh nhân về các bệnh viện tuyến trước của thành phố.Sáng hôm sau, Hoàng tham dự buổi giao ban. Báo cáo cho biết có trên 40 nạn nhân tai nạn xe lửa được nhập viện, trong đó có 10 ca mổ cấp cứu và 5 ca tử vong trước khi nhập viện. Hoàng trở về phòng trực nghỉ tạm trước khi trở lại trại khám bệnh. Anh nhắm mắt được một lúc, và nằm mơ thấy mình đang sống những “ngày cuối cùng trên đất nước tang thương”. Sức người có hạn, anh không biết có đi hết được con đường quá đau khổ này không ? Anh mơ thấy mình trôi nổi, bồng bềnh trên một con tầu nhỏ ra Biển Đông,...tiến về nơi vô định!!

Sau gần 10 năm ở lại sống chết với quê hương với niềm đau nỗi khổ, Hoàng đã ra đi theo bản năng sinh tồn tỉnh thức. Mười ngày trên biển Đông, tầu tị nạn của anh đã trôi vào Pulau Dungun, một thị trấn nghỉ mát trên bờ biển Mã Lai, rồi chuyển tạm qua Trengganu đến trại tỵ nạn Pulau Bidong. Anh được giao phụ trách làm việc ở Sick Bay Pulau Bidong với bác sỹ Francis thuộc Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Không một mái nhà và dĩ nhiên không có gia đình. Có lúc anh nghĩ rằng mình đã ra đời lần thứ hai, từ hư vô, không cha mẹ, không anh chị em, không bạn bè. Đêm nay, trên một ngọn đồi nhỏ ở một góc trại Sungei Besi, nhìn về kinh thành Kuala Lumpur, những người trẻ tuổi tổ chức một đêm lửa trại để chia tay trước khi lên đường đi định cư. Củi cháy lách tách, tàn lửa bay cao như pháo hoa ngày hội. Gió thổi mạnh, rít lên từng cơn. Kuala Lumpur sáng rực ngoài xa với những ngọn đèn vàng thuỷ ngân. Một anh bạn trẻ ngày mai lên đường định cư ở “Canada, Gió Lạnh Tình Nồng”mở đầu ngâm bài thơ : Sáng nay ta thức dậy. Sương lam phủ mái nhà. Hồn nhiên cuời tiễn biệt ….

Đời đi về muôn lối. Quan san mộng hải hà. Chút lửa hồng bếp cũ. Ấm áp bóng chiều sa. Có những bài hát được nghe đi, nghe lại nhiều lần, lần nào cũng làm « nát lòng người » : Ngày mai em đi. QuÓc Gia 91

Biển nhớ tên em gọi về. Gọi hồn liễu rũ lê thê. Gọi bờ cát trắng đêm khuya. Ngày mai em đi. Đường phố mắt đêm đèn vàng…. «  Biển Nhớ  » với hàng liễu rũ, với bờ cát trắng đêm khuya, với đường phố mắt đêm đèn vàng… một thời nằm sâu trong mộng mị của TCS, chợt trở thành hiện thực nơi Hoàng đêm nay trong một sát na, như một Thực Thể Mầu Nhiệm. Biển xanh ở đảo Pulau Bedong bây giờ cũng là biển xanh của Dương Đông ngày nào trong một lần nhìn cuối cùng trước khi từ biệt quê hương. Có ai đó yêu cầu Hoàng hát một bài để nhớ về Sungei Besi , một góc trời tỵ nạn. Anh cất tiếng hát : Có một lần, tôi đưa em. Về trên đỉnh yên bình ngọt ngào. Một mùa xuân trên cao. Bay trên làn tóc xõa. Theo mây trôi bềnh bồng… Gió thổi mạnh, những tàn lá đỏ bay đầy. Hơi nóng táp vào mái tóc bồng bềnh của Hoàng. Anh chợt thấy cảnh vật như nhạt nhòa, huyễn hoặc. Anh không biết đó là vì khói cay, hay vì nước mắt đã ướt bờ mi.Những giôt nước mắt, khóc cho thân phận mình, cho gia đình còn ở lại, và cho những cuộc đời trôi nổi, hạc nội mây ngàn. Một vài tháng sau nữa, Hoàng cũng sẽ rời khỏi đây, để đến một nơi khác được gọi là thiên đường, là tự do. Nhưng tâm thức lưu đầy vẫn theo dấu Hoàng mãi mãi. Bởi vì kẻ lưu đầy, dù ở đâu, vẫn là người lữ hành cô đơn.


ggg HỒ HOA NGUYÊN ggg

S

au tháng Tư đen 1975 người Việt Nam ai cũng tìm đường vượt biên lánh khỏi chế độ hà khắc độc tài mà người xưa có câu “Hà chính mãnh ư hổ” (chế độ hà khắc còn dã man hơn hổ dữ ). Từ ngày đó từ ngữ “Vượt biên “ “vượt biển” mới xuất hiện . Tuy người ta không dám nói ra công khai, nhưng nó rất quen thuộc với mọi người. Sự ra đi hàng loạt của các thuyền nhân Việt Nam, bất chấp muôn ngàn sóng gió hiểm nguy và nạn hải tặc khủng khiếp đang hoành hành như thú dữ trong vịnh Thái Lan đã khiến dư luận thế giới phải sửng sốt bàng hoàng. Có những người phụ nữ bụng mang dạ chửa cũng can đảm vượt biển để lánh nạn. Trong số những người nầy có trường họp một phụ nữ được tàu “Đảo Ánh Sáng” (Ile de Lumière ) cứu vớt lên tàu, sau đó sinh ra một em bé và được cha mẹ đặt tên con là Đảo Ánh Sáng …( “Vàng, Máu và Nước mắt “ - Đinh Xuân Anh Tuấn) . Theo thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, từ năm 1975 đến năm 1979 con số vượt biên, vượt biển càng ngày càng gia tăng: * 1975 và 1976 : 5.619 người * 1977 : 15.657 -

* 1978 : 88.712 * 1979 :205.448 Năm 1979, với 205 ngàn thuyền nhân cặp bến, số người thật sự rời bến tại Việt Nam vượt biển phải cao gấp rưỡi, lên tới khoảng 300 ngàn người. Năm 1979 thời gian cao điểm, đảo Bidong, một đảo nhỏ thuộc Mã Lai bỗng nhiên trở thành một trại tạm trú cho hơn 400 ngàn người tỵ nạn Việt Nam đang sống chen chúc lên nhau trên một diện tích chỉ trên dưới một cây số vuông. Trong số hàng vạn thuyền nhân ra đi tìm tự do, có gia đình anh Trương, vợ là chị Ngọc và bé Thành mới 1 tuổi. Nhớ lại, sau khi mãn hạn thời gian 4 năm tù cải tạo vì thuộc ‘nguỵ quân, nguỵ quyền”, anh Trương chuẩn bị cho gia đình vượt biển ra đi “tìm đường cứu nước”, phải 2 lần gia đình anh mới cặp được bến Bidong và sau hơn 2 năm ở đảo, gia đình mới được định cư tại thành phố Mộng-Thế-An (Montréal) Gia Nã Đại. Mùa thu năm đó gia đình anhTrương mới đến định cư nơi “đất lạnh tình nồng”, đến mùa đông lần đầu tiên trong đời, bé Thành mới thấy tuyết rơi, ngoài trời tuyết phơi phới bay, mưa tuyết không có tiếng động, tuyết cứ rơi xuống mái nhà, xuống sân, QuÓc Gia 92

xuống bãi cỏ chất thành một lớp dày màu trắng tinh như đường cát tr¡ng hay muối bọt ở Việt Nam. Gia đình anh Trương, chị Ngọc bắt đầu ổn định cuộc sống, bé Thành đi học lớp mẫu giáo, được đặt thêm tên Tây giống người địa phương cho cô giáo dễ gọi. Từ nay cha mẹ dặn khi vào lớp học cô giáo gọi Gérald Nguyễn thì con phải nhớ đó là tên con và nói năng lễ phép với cô giáo . Công việc thường ngày như đã thành nếp quen, mỗi sáng anh Trương đưa con đi học, đưa vợ đi làm công nhân, sau đó anh mới đến sở làm của anh, một công ty chuyên sản xuất bóng đèn các loại. Chiều Trương rước vợ con về nhà. Tưởng được êm đềm để vợ chồng hợp lực cùng lo tương lai học vấn cho con nên người. Nhưng vốn là cô giáo ở Việt Nam, sau 1975, chồng bị đi tù, vì bị cưỡng bách “ lao động là vinh quang” , chi Ngọc phải lao tâm, lao lực quá nhiều để không bị đày đi vùng kinh tế mới, nên sau thời gian “lao động tốt” được “bồi dưỡng” chỉ toàn mì với bo bo nên chị bị bịnh bao tử, tình trạng sức khoẻ suy dinh dưỡng xuống đến tột cùng hay nói theo ngành nghề của chị là đến gốc tọa độ O của một Parabol. Hỏi trời xanh có chăng định mệnh ? Đến định cư tại Mộng Thế An ( Montréal) nơi đất lành chim đậu, thuốc men đầy đủ, thực phẩm dồi dào, chị mạnh khỏe đi làm việc được một thời gian thì bịnh cũ lại tái phát kéo dài, và sau đó chị dứt nợ dương trần, bỏ lại người thân, ra đi về cõi vĩnh


hằng! Trước phút lâm chung, chị gọi Bé Thành, tức là Gérald Nguyễn, bấy gìờ đã hơn 11 tuổi, trối trăn dặn dò các thứ : “Con phải biết ơn Ba, đã nuôi nấng, dạy dỗ con, những năm tháng cực nhọc, những chuỗi ngày dài đằng đẵng chạy lo cho con từng miếng cơm manh áo, những ngày cực nhọc mồ hôi nhễ nhại trên lưng áo Ba, để kiếm tiền lo cho con ăn học …” “Con phải biết ơn thầy cô đã dạy dỗ , đã truyền đạt cho con biết bao kiến thức để sau nầy con sẽ trở thành con người hữu ích cho xã hội, cho quốc gia…” “Bé Thành , con thương Mẹ, thương Ba thì con phải ráng học nên người hữu dụng cho xã hội. Trước khi gia đình mình vượt biển, ông Nội có tha thiết mong mỏi dặn dò là Bé Thành phải ráng theo học ngành Y để hữu ích thiết thực cho gia đình và xã hội. Những lời ông Nội nhắn gởi và những lời mẹ dạy con, mẹ đã ghi vào quyển Nhựt ký nầy coi như một di chúc quý báu để låi cho con.” Rồi chị đưa Bé Thành cuốn Nhựt ký và một chai nước hoa còn hơn nửa chai và nói khi nào con ngửi thấy mùi nước hoa nấy là nghĩ đến mẹ ở cạnh con.Và chị Ngọc nói với người chồng: “Anh Trương, em yêu anh lắm, Anh phải sống . . .”. Nói đến đây chị Ngọc nhắm mắt xuôi tay ra người thiên cổ trong tiếng khóc nức nở của người thân! Chuyện học hành của Gérald Nguyễn, khi đến lớp 6, vào ngày khai giảng năm học mới, cô giáo Charmaine muốn tạo không khí thân thiện với học sinh cả lớp, nhìn các em và tươi nét mặt nói: “cô sẽ thương mến tất cả các

em học sinh như nhau”. Nhưng cô chợt nhìn thấy một học sinh mà trước đó mấy tháng, cô đã bắt gặp gây gổ vớí bạn bè trong giờ giải lao, đó chính là học sinh ngồi ngay bàn đầu, tóc tai không gọn gàng, quần áo nhăn nheo, lếch thếch, mặt mũi có vẻ thiếu sự quan tâm săn sóc của cha mẹ. Cô cảm thấy minh không nên nói nữa vì nói nhiều điều thân thiện sợ e khó thực hiện với những học sinh nghịch ngợm chơi hay phá phách bạn bè. Cô yêu cầu mỗi học sinh ghi bảng tên để trước mặt. Cô để ý thấy cậu học trò nầy tên là Gérald Nguyễn, à thì ra chính cậu nầy vào mấy tháng cuối niên học vừa qua đã mang tiếng gây chuyện với bạn bè cùng lớp. Cô liền ghi vào sô tay của minh, học sinh cần chú ý săn sóc! Cô Charmaine hơi băn khoăn vì năm học nầy mình sẽ nhọc nhằn hơn các năm trước. Cô đên văn phòng nhà trường, mượn hồ sơ học sinh cả lớp cô phụ trách để xem qua, đến hồ sơ của Gérald Nguyễn cô xem thật kỷ và rát ngạc nhiên khi đọc thấy những nhận xét của thầy cô các năm trước. Cô giáo chủ nhiệm lớp 1 đã nhận xét: “Gérald Nguyễn là một học sinh dễ tạo cảm tình với bạn, ngoan ngoản thông minh, chăm học “. Lời nhận xét của cô giáo chủ nhiệm lớp 2 : “Gérald Nguyễn là học sinh xuất sắc, lanh lợi, vui tánh thường giúp bạn “. Lời nhận xét của cô giáo lớp 3: “Gérald Nguyễn rất dễ thường, chăm học, là một học sinh trong số những em giỏi nhất lờp nhưng thời gian gần đây em có vẻ buồn lo lắng không còn QuÓc Gia 93

năng động vì mẹ em ốm nặng. Giáo viên lớp 4 có nhận xét: “Gérald Nguyễn học chăm nhưng đôi lúc lo ra vì thiếu tình thương an ủi của mẹ từ ngày mẹ em ốm nặng, cha phải đi làm suốt ngày.” Cô chủ nhiệm lớp 5 ghi: “Cái chết của mẹ em làm tuổi thơ thiếu vắng tình thương không gì có thể bù đắp được, cảnh mồ côi đến với em, đôi mắt thơ ngây đã đượm nỗi buồn. Tánh tình thay đổi, đôi khi cộc cằn, em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp. Xem kÏ hồ sơ của em, cô giáo Charmaine chợt hiểu vấn đề sai lầm của thành kiến. Cô tự hứa với lương tâm mình, yêu thương tất cả học sinh như nhau,từ nay phải cẩn thận với những thành kiến đối với các em học sinh và nhất là trong việc ứng xº với người chung quanh. Ngày tháng qua mau, đến ngày Lễ Tạ Ơn , các em học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu tươi đẹp có gắn nơ. Em Gérald Nguyễn cũng tặng cô một món quà có lẽ tự tay em gói vụng về bằng giấy gói hàng. Cô cảm động mở gói quà ra, một vài học sinh xì xào khi thấy cô đưa lên một chai nước hoa có dấu đã xài rồi còn hơn phân nửa., cô xịt một ít nước hoa trong chai vào tay cô nghe mùi thơm dịu. Mùi nước hoa làm Gérald nhớ mẹ, em nói thầm “Bé Thành của mẹ đây, Mẹ ơi!”. Chiều hôm nay mãn giờ học, Gérald nán lại chờ và nói với cô Charmaine: “Thưa cô, hôm nay cô thơm như Mẹ em ngày xưa”. Cô nghe nói cảm động sa lệ tủi !.Sau khi bé Gérald ra về,


cô ngồi lặng thinh mà nuớc mắt lưng tròng, cô nói: “Chỉ có tình thương để lại đời.” Từ ngày đó, ngoài việc giảng dạy bài học cho cả lớp, cô còn đem tình cảm thương mến của mẹ hiền động viên các học sinh nhất là đối với Bé Gérald đang cần tình mẫu tử. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, Bé Gérald nghĩ thầm Bé Thành của mẹ đây, Mẹ ơi. Em như cây non mọc trên đất khô hạn, từ nay gặp mưa hoà, lá cành xanh tươi, sự học hành của em tiến bộ nhanh trông thấy. Đến cuối năm học, Gérald là học sinh giỏi nhất lớp. Hoc hết lớp 6, Bé Gérald không còn học với cô Charmaine nhưng đến ngày Lễ Tạ Ơn năm sau, cô nhận được một thơ Tạ Ơn, trong có câu : “ Cô là cô giáo tuyệt vời nhất, là người mẹ tinh thần của đời em “. Và mỗi năm đến ngày thứ Hai (Monday) thứ nhì của tháng October, thi cô nhận được thơ của Bé Gérald mừng Lễ Tạ Ơn . Năm năm sau, vào mùa Hè cậu Gérald đến thăm người thầy cũ với gương mặt hớn hở báo tin: Em đã tốt nghiệp trung học (D.E.S). Trước khi ra về, em chào cô giáo và nói : “Thưa cô, cô vẫn là người thầy tuyệt vời và là người mẹ tinh thần mà em kinh mến trong đời”. Sau hai năm học CEGEP, về ghé thăm thầy cũ, cô giáo Charmaine, Gérald Nguyễn cho biết hoàn cảnh rất khó khăn có lúc cảm thấy như muốn bế tắc nhưng em nhớ lại lời cô khuyên, lời mẹ dặn “ Dù hoàn cảnh nào con cũng phải cố gắng”; hình ảnh người cha đi làm vất vả suốt ngày trong cảnh gà trống nuôi

con, và em đọc lại cuốn Nhựt ký thấy hiền mẫu đã ghi: “Cảnh khó là một nấc thang cho người tài, một kho tàng cho người khôn khéo, một vực thẳm cho kẻ yếu đuối” (Honoré De Balzac). Mẹ em là một cô giáo, tuy không phải là một nhà Nho, nhưng ở những trang sau của Nhựt ký, mẹ em có ghi những lời nghiêm huấn của Cụ Nguyễn Công Trứ để lại cho con cháu: “Có trung hiếu nên đứng trong trời đất, Không công danh thà nát v§i cỏ cây …” em hiểu, em tự động viên mình phải mạnh dạn vượt qua mọi hoàn cảnh éo le, năm học nầy em tốt nghiệp CEGEP (D.E.C.) với điểm số cao và được nhận vào Đại học, theo ngành y-khoa. Những năm tháng dài, sống nơi ký túc xá Đại học, gặp nhiều khó khăn cam go thử thách, nhớ lới cha mẹ dặn, lời tha thiết nhắn gởi của ông Nội, cậu học sinh vượt biên ngày nào tự hứa với lương tâm mình: “Bé Thành của Ba Mẹ, của ông Nội, quyết lòng bắn nhạn ven mây, quyết học hành đến nơi đến chốn nên người hữu ích cho xã hội”. Rồi sáu năm sau cô Charmaine nhân đưọc lá thơ cậu Gérald báo tin vui là đã tốt nghiệp bác sĩ y-khoa.Với những lời chân thành kinh mến: “ Cô là người vun trồng tính nhẫn nại, lòng bao dung và niềm hy vọng làm cho tài năng của em phát triển giúp cho em thành công được ngày nay. Cô là người thầy tuyệt vời nhất, là một ân nhân, là người mẹ tinh thần khả kính của đời em “. Cuối thơ, Gérald Thành Nguyễn trân trọng mời cô đến dự buổi lễ Phát bằng Tốt nghiệp Y-khoa Bác sĩ tại trường Đại QuÓc Gia 94

Học, kèm theo Thiệp mời. Trong thơ em giải thích, vì cha em bị mấy năm tù đày ở Việt Nam sức khỏe hao mòn nhiều , được sang định cư tại thành phố MộngThế-An (Montréal) cố gắng làm việc nhiều để có đủ tiền lo cho em ăn học, phần vì nhớ thương mẹ em, ông vừa mới qua đời cách đây vài tháng do bịnh cũ tái phát, nên em mong người mẹ tinh thần sẽ đến dự buổi lễ quan trọng như người đại diện cha mẹ của một Tân khoa. Ngày đến dự lễ Phát bằng cho các tân khoa Bác sĩ Y-khoa, cô giáo Charmaine kính mến đã dùng thứ nước hoa mà Gérald đã tặng cô nhân lễ Tạ Ơn ngày trước, loại nước hoa mà mỗi khi ngửi thấy Bé Thành liên tưởng đến hình ảnh mẹ hiền thân thương ở bên cạnh mình, hình ảnh người cha khả kính, lao lực vất vä thực hiện đúng theo lời trăn trối “Anh phải sống” lo cho con đến ngày thành nhơn chi mỹ. Gérald Thành Nguyễn cúi đầu chào cô và nói: “Cám ơn cô, người mẹ tinh thần đã tin tưởng em. Cám ơn Cô đã dùng tình thương nuôi dưỡng tuổi thơ, xây dựng nên sức mạnh, tính kiên nhẫn vượt mọi khó khăn thử thách và cô đã cho em niềm tin mãnh liệt để trưởng thành nên người hữu dụng cho xã hội như hôm nay. Thưa cô , tình thương có sức mạnh xây dựng được con người thành nhơn chi mỹ ” . “ Hoà bình trên thế giới nầy, Nở từ hạt giống chứa đầy tình thương”.

HỒ HOA NGUYÊN


in con Phi cuốn gói trốn theo thằng Phan làm rúng động cả cái làng Hòa An. Sáng nay thiếm Tư Tâm đang ngồi dưới bếp gói nem cùng với đứa con gái lớn tên Hương và con Bông, người giúp việc, chợt thấy Phụng là em gái con Phi hớt hãi chạy vô mặt xanh như tàu lá, nói một hơi: - Thiếm Tư ơi, má con biểu mời thiếm qua nhà con gấp có

chuyện cần... Thiếm xã ngạc nhiên hỏi: - Chuyện gì mà như cháy nhà vậy chớ? Đợi tao gói xong mớ nem Không đợi thiếm dứt lời, con Phụng hớt ngang: - Dạ thiếm qua liền đi. Má con đương khóc dữ lắm. Chị Phi con đêm nay tom góp hết đồ, trốn theo anh Phan rồi! Thiếm Tư nghe tới đây vội QuÓc Gia 95

đứng lên cái rột, xỏ chân vô đôi guốc vông theo con Phụng đi liền, không quên dặn hai đứa kia tiếp tục gói cho xong. Con Hương nghe cái tin động trời như vậy cũng nóng ruột muốn biết nhưng không dám cãi, đành bấm bụng ngồi lại gói cho xong mớ nem chua mà giống như ngồi trên ổ kiến lửa! Chú Tư Tâm và chú Hai Chung là anh em chú bác ruột. Chú Tư giữ chức xã trưởng trong ban hội tề. Chú Hai là thầy thuốc bắc, cũng có chút tiếng tăm trong huyện. Đứa con gái lớn của chú Hai là con Phi, đã đính hôn với con trai út ông Hội Đồng Hòa bên Chợ Thủ. Chỉ còn một tuần nữa đám cưới. Không ngờ.... Vừa vô tới cửa đã nghe tiếng khóc nỉ non của thiếm Hai Chung. Chú Hai ngồi trầm ngâm nơi bàn nước không nói không rằng. Thiếm Tư gật đầu chào anh chồng rồi bước qua bộ ván ngựa cầm tay bà chị dâu đang rên rỉ, nước mắt nước mũi chan hòa. Thiếm Hai Chung được dịp khóc oà lên: - Con Phi nó giết vợ chồng tôi trận này rồi thiếm Tư ơi. Ông Trời ngó xuống mà coi, còn có mấy bữa nữa là đám cưới mà nó đành đoạn cuốn gói theo trai. Mà phải chi mối nào xứng đáng. Đàng này đi theo cái thằng trôi sông lạc chợ... Thiếm Tư nhíu mày hỏi: - Chuyện ra sao chị kể ngọn nghành cho em nghe coi. Mà sao anh chị biết chắc nó theo thằng Phan? - Thì sáng nay không thấy nó pha bình trà cho anh Hai thiếm như thường lệ, tôi tưởng nó bịnh nên sai con Phụng vô buồng coi thử. Ai ngờ con nhỏ chạy trở ra


nói chị nó không có ở trỏng. Trừ cái áo cưới bằng gấm đỏ còn treo trong tủ, mấy thứ khác đều mất hết. Tui sai nó chạy ra bến đò coi thử thì chiếc ghe của thằng kia cũng đã nhổ sào tách bến từ đời nào.! À quên còn có lá thơ nó để lại đây. Thiếm Tư mở lá thơ ra đọc... ...Số là cách đây độ hai tháng có chiếc ghe thương hồ tới neo dưới bóng cây sung già cạnh bến đò của chú Quới. Chủ ghe là một anh thanh niên xấp xỉ hăm sáu hăm bảy tuổi. Anh ta vóc người tầm thước, gương mặt dễ nhìn. Riêng cặp mắt sáng đầy vẻ thông minh và nụ cười thật tươi dễ gây cảm tình với người chung quanh. Nước da mặn mòi chắc tại cuộc sống dầm mưa dãi nắng. Có người tò mò hỏi sao cu ky có một mình, thì anh ta giải thích tại cuộc sống bấp bênh rày đây mai đó. Hơn nữa ít cô nào chịu đựng nổi cái phạm vi quá sức chật hẹp trong ghe. Tuy một mình nhưng trong ghe thiệt sạch sẽ ngăn nắp. Anh ta bán đủ thứ từ kim, chỉ, đường, dầu hôi, dầu gió, kẹo, bánh... cho tới vải vóc.Tóm lại là những thứ thực dụng trong cuộc sống hằng ngày. Không như ở tỉnh thành, người nhà quê vài bữa nửa tháng mới đi chợ một lần, thành thử đôi khi cần món gì đó bất tử, chiếc ghe thương hồ cũng có thể cung cấp tạm. Không như những lần trước chủ ghe thường là những cặp vợ chồng đứng tuổi, lần này anh chàng tên Phan vừa trẻ vừa vui tánh. Cái miệng lanh như tép lặn tép lội. Gặp bà nào cũng kêu má má xưng con ngọt sớt. Mấy cô thiếu nữ thì cô nào cũng được chàng tâng lên tận mây xanh. Như con

Lanh con bà Ba Nhị. Con nhỏ tới tuổi dậy thì, da mặt bị mụn như dề cơm cháy lại nám đen nám đỏ vì tối ngày làm việc ngoài rẫy. Vậy mà khi uớm tấm hàng màu cánh sen lên người, anh chàng dám tấm tắc khen đẹp quá trời, khiến con nhỏ tưởng mình không thua Hằng Nga giáng thế! Con Hường bạn nó vừa móm xọm vừa nổi tiếng rít róng, mà cũng vui vẻ bỏ ra mấy đồng mua cục xà bông thơm Cô Ba về gội đầu, chỉ vì anh Phan bảo đảm cậu trai nào một khi đã ngửi qua cái mùi thơm mê ly này thì không thể quên được. Kim chỉ anh ta bán nếu không là của nước Pháp thì cũng của nước Anh. Bảo đảm vừa bền vừa đẹp. Nhờ cái miệng giỏi khôi hài và bộ vó khá bảnh trai nên hàng của Phan rất được các bà các cô chiếu cố. Dưới gốc cây sung già lớn độ hai người ôm, tàn xòe rộng như cây dù, tỏa bóng mát cho những khách bộ hành ngồi chờ đò, có cái sạp gỗ của cô Năm Lài bày bán nào mía ghim, nước dừa tươi, bánh ú, bánh tét, chuối chiên... Cô Năm tuy nước da trắng nhưng thiếu chiều cao và dư bề ngang. Thành thử coi cô giống y chang hột mít luộc. Trai tráng trong làng nếu không coi cô như chị thì cũng coi như em...ruột, nên dù tuổi đời đã hăm đi hăm lại mấy mùa mà vẫn còn phòng không chiếc bóng. Từ ngày có chiếc ghe của Phan neo sát bến đò, cô năm Lài vui ra mặt. Biết đâu người xứ lạ sẽ nhìn cô với ánh mắt khác hơn của mấy thằng trời đánh trong làng! Cô mập mạp thì ít đau ốm, đỡ tốn tiền thuốc chớ sao? Còn lùn hả, cô út Đào con gái ông bà Hương Cả QuÓc Gia 96

mới lấy chồng về Mỹ Hưng hôm Tết đó thì sao, cô ta chỉ cao nhỉn hơn cô một chút xíu chớ mấy?! Còn cao nhòng lại ốm nhom như con Bưởi ngoài xóm Chùa cũng bị chê là cây tre miễu. Thiệt là hết biết cho cái lưỡi không xương. Cao cũng chê mà lùn cũng không chịu! Nhiều khi thấy Phan nấu nướng ăn uống thui thủi một mình dưới ghe cũng tội, nên buổi trưa cô thường hay mời anh ta lên ăn cơm chung. Nhưng thường thường Phan đem gạo và thức ăn lên nấu nhờ bếp của cô Năm. Hai người ngồi sau cái sạp vừa ăn vừa nói chuyện trên trời dưới đất thiệt vui... Một hôm, ăn cơm trưa vừa xong thì Phi và Phụng tới. Cô Năm vui vẻ chào hai chị em. Phi hỏi Phan để mua mấy tép chỉ màu hiệu G.M.C. Lần đầu tiên mới gặp Phi, sao Phan cảm thấy như có chuyện gì không bình thường. Tại ánh mắt đầy u buồn của cô gái hay tại cái nụ cười gượng gạo khi Phi nói chuyện với cô Năm Lài? Cười mà cả gương mặt vẫn âu sầu, tăm tối. Phan đoán chắc cô nàng có tâm sự chi đây. Đã tiếp xúc với hàng trăm cô gái, lần đầu chàng ta thấy đặc biệt chú ý tới cô gái này. Phan dẫn chị em Phi xuống ghe. Con Phụng mua cây kẹp ba lá, còn Phi ngoài mấy tép chỉ màu cô nhất định từ chối những xấp tơ lụa mà Phan hết lời quảng cáo tuy cũng thấy là rất đẹp. Suốt buổi mua bán cặp mắt Phan ít khi rời khuôn mặt của Phi và hình như linh tính báo cho chàng phải thận trọng lời ăn tiếng nói với cô gái này, vì vậy anh chàng không đía tía lia như thường lệ. Sau khi chị em Phi đi


rồi, Phan vội vã lên bờ ngồi lại chỗ cũ cạnh cô Năm Lài. Làm ra vẻ rất tự nhiên Phan hỏi cô Năm cô gái lúc nảy là ai Cô Năm trả lời: - Cổ là con gái chú hai Chung. Ổng là thầy thuốc có tiếng ở đây. Gia tộc đó toàn thầy bà không hà. Còn đâu chừng hơn tháng nữa là đám cưới cổ. Hồi nảy cổ mua chỉ màu chắc để thêu cặp áo gối uyên ương đó đa. Phan nhíu mày hỏi: - Ủa, gần tới đám cưới mà sao hình như cổ...không được vui? Cô Năm thở dài như xót xa dùm cho số phận của cô gái: - Đáng lẽ thì vui. Bên gia đình chú rể giàu lắm. Chồng chưa cưới của cổ là con trai út ông Hội Đồng Hoà bên Chợ Thủ. Cẩu ăn học khá chỉ có tật cà lăm nặng và mắc chứng kinh phong. Phan bật lên tiếng kêu đầy ngạc nhiên lẫn...tiếc rẻ: - Trời đất! Trẻ đẹp như cổ thiếu gì người muốn cưới. Tại sao phải ưng một người bịnh hoạn như vậy chớ? Cô Năm liếc xéo: - Ừa thì thiếu gì người. Nhưng mà họ có phải con trai út của một ông Hội Đồng không cái đã? Bộ anh không nhớ câu “giàu út ăn khó út chịu” hay sao? Cho anh hay đất của ông Hội cò bay thẳng cánh chó chạy ngay đuôi đó nghen. Cậu út lãnh phần hương hỏa khi ông bà Hội trăm tuổi sau này. Phan nói mà như nói với chính mình, cặp mắt nhìn ra sông hơi nheo lại vì ánh mặt trời phản chiếu những gợn sóng lăn tăn: - Nhưng mà tôi có linh cảm cô Phi không mấy gì vui...

Cô Năm Lài quay hẳn lại nhìn Phan với ánh mắt đầy ngờ vực: - Nè, sao thắc mắc chuyện tình duyên của “người ta” quá vậy hả? Hổng lẽ mới gặp lần đầu mà đã... Phan giựt mình vội đính chánh: - Thắc mắc gì đâu. Tại thấy cổ có vẻ buồn buồn nên hỏi chơi cho biết vậy mà. Chính cô Năm mới hay...thắc mắc đó! Năm Lài cười lỏn lẻn: - Thì chọc anh cho vui vậy mà. Chớ người ta thuộc hạng tiểu thơ ... Phan cười: - Tôi hiểu ý cô rồi. Mình là thằng bán than, không nên mơ tới Công Chúa phải không? Cô Năm nghe vậy mặt mày tươi rói: - Ừ anh hiểu vậy là tốt. Mình nồi nào úp vung nấy cho khỏi phiền . Phan không trả lời đứng lên đi xuống ghe vì có người tới mua đồ. Nhưng cái âm vang của câu nồi nào úp vung nấy vẫn theo chân chàng không rời... ...Phi ngồi bên cạnh cửa sổ buồng ngủ, cái áo gối thêu cặp chim loan phụng để hờ trên đùi, cặp mắt thÅn thờ nhìn ra ngoài vườn. Hình ảnh đôi chim đậu trên cây mận đang âu yếm rỉa lông cho nhau càng khiến cô tan nát tâm can. Phi nhắm mắt tính nhẩm trong đầu: chỉ còn hơn tháng nữa là cô sẽ về làm vợ cậu út Hiền. Cả mấy tháng nay mỗi lần có dịp theo mẹ đi chùa, Phi đều rất thành khẩn cầu xin chư Phật đoái thương, khiến có chuyện gì đó thình lình xảy ra để cô khỏi phải QuÓc Gia 97

thành hôn, hoặc ít ra ngày cưới cũng được dời lại. Nhưng than ơi cái ngày Phi sợ nhứt đó cứ vùn vụt tiến tới mà chẳng có gì xảy ra cả. Nếu là người ham của cải vật chất, Phi cũng có thể nhắm mắt ưng đại cậu Út Hiền. Kể ra thì bề ngoài cậu rất lịch sự. Chỉ vì lúc bảy tám tuổi gì đó trèo lên cây vú sữa bị té đập đầu xuống đất, đụng nhằm mấy cái rễ lớn bò tràn lan trên mặt đất, nên từ đó cậu bị chứng kinh phong, thỉnh thoảng lên cơn mắt trợn trắng, miệng sùi bọt mép, cộng thêm tật cà lăm. Ông Hội Đồng giận cá chém thớt, sai người đốn ngay cây vú sữa vô tội! Vợ chồng ông tốn rất nhiều tiền lo thuốc thang cho thằng con cưng nhưng bịnh vẫn không hết, lâu lâu lại tái phát. Qua một người bà con giới thiệu, Chú Hai Chung có lần may mắn trị dứt bịnh thương hàn cho ông Hội. Ổng mang ơn, sau biết chú Hai có đứa con gái vừa đẹp nết, vừa đẹp người đang tới tuổi cập kê, ông liền nhờ mai mối đánh tiếng cưới cho cậu Út. Được làm sui gia với một ông Hội Đồng giàu sụ thì còn gì danh giá bằng... Lần đầu qua coi mắt, cậu Út ngồi bên cạnh cha không nói năng gì hết. Phi bưng nước ra chào đàng trai cũng chỉ dám liếc qua chút xíu, thấy cậu dung mạo sáng sủa, thì ưng bụng. Phần cậu Út thấy vẻ đẹp dịu dàng tha thướt của Phi thì chịu lắm, cứ ngồi cười miếng chi hoài. Sau đó chú Hai trả lời dứt khoát với bà mai là mọi chuyện suông sẻ, chỉ còn coi ngày đám hỏi và đám cưới cho tốt. Chắc sợ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha hay sao mà bên đàng trai xin cho đám hỏi và đám cưới càng sớm càng tốt. Trước


đám hỏi, thỉnh thoảng cậu út có mang quà cáp qua biếu xén bên gia đình chú Hai, nhưng cả cậu lẫn Phi đều còn e lệ không dám nói chuyện thẳng, chỉ lâu lâu len lén ... liếc nhau mà thôi. Cho đến ngày đám hỏi mọi sự đều êm thắm. Lễ vật của đàng trai mang qua hậu hỉ đến nổi khách khứa chóa mắt luôn. Nhứt là đôi bông hột xoàn sáu ly nước dầu hôi chiếu rực rỡ khiến các bà các cô thèm nhiễu nước miếng! Hôm đó nhờ mấy cô chị họ xúm lại trang điểm nên Phi đẹp lộng lẫy, út Hiền ngắm muốn rớt con mắt luôn! Đám hỏi xong, hai hôm sau nhớ quá không nhịn được, cậu lại trở qua thăm vị hôn thê. Thấy đã danh chánh ngôn thuận, chú Hai mời út Hiền ở lại chơi vài hôm. Tới bữa cơm Phi mắc cỡ không ngồi ăn chung với cả nhà mà ăn một mình dưới bếp. Nhà có khách nên bữa cơm chiều Phi phải trổ tài làm vài món ngon. Ở trong bếp lâu hơi lửa làm cô đổ mồ hôi đầm đìa. Dọn dẹp xong xuôi thì đã đỏ đèn. Phi lấy quần áo đi tắm. Phụng phụ chị dọn dẹp rồi cũng rút vô buồng học bài. Con nhỏ mới lên mười hai, còn ngủ chung với mẹ. Chú Hai ngủ một mình ở nhà ngoài, trên bộ ván ngựa bằng gỗ cẩm lai lên nước bóng ngời. Chú đang ngồi nói chuyện với út Hiền nơi bàn nước, thấy Phi từ nhà dưới đi lên thì kêu con dẫn út Hiền qua nhà ngang, ngủ tạm buồng của Phú, anh kế Phi đang học trên Sàigòn. Phi cầm cây đèn ống khói bước đi. Út Hiền đứng lên chào cha vợ tương lai rồi lật đật nối gót người đẹp. Vô buồng, Phi để cây đèn xuống bàn, bước lại bỏ hai mí mùng xuống xong dợm quay trở

ra. Lần đầu mặt đối mặt một mình với vị hôn phu, Phi cảm thấy hết sức hồi hộp, không tài nào mở miệng được. Riêng út Hiền từ mấy tháng nay, ngày đêm mơ tưởng tới giây phút này. Hơn nữa mùi xà bông thơm thoang thoảng từ cái thân thể mềm mại, no đầy kia tỏa ra như khiêu khích khiến cậu không kềm chế nổi, đưa tay nắm lấy cánh tay trắng nuột như ngó sen trong chiếc áo cánh tay ngắn màu tím cà. Phi hoảng hốt giựt ra tròn mắt hỏi: - Anh làm cái gì vậy? Út Hiền nghe Phi hỏi vậy cũng hết hồn, càng lắp bắp: - Anh...anh...có làm...làm... làm gì đâu? - Vậy để tôi đi ra cho anh ngủ. Sợ Phi đi ra mất, Hiền lấy hết can đảm vòng tay định ôm Phi vô lòng hôn một cái cho thỏa dạ ước mơ. Phi hoảng sợ cố xô Hiền ra, không ngờ trong lúc hai bên dằng co, cái nút bóp bật tung lộ cái ức trắng nõn. Út Hiền càng bị kích động, hết biết trời đất cố ôm hôn Phi cho bằng được. Điên tiết Phi đưa hai bàn tay đẩy mặt út Hiền ra, không ngờ móng tay làm xước má chàng ta một đường dài rướm máu. Bị đau bất ngờ anh chàng chợt tỉnh táo. Thấy Phi vừa cài nút áo, môi mím chặt, nét mặt hầm hầm, cậu ta thất kinh vội vàng phân bua: - Anh...anh...thương em, anh...nh...nhớ... em. Anh...chỉ... chỉ...chỉ muốn...muốn hôn...hôn em...một...một cái...thôi mà. Anh...xin...xin...lô...lỗi! Có lẽ đã dùng hết sức để nói cho xong câu này, út Hiền đứng nghệt mặt ra, đôi mắt nhìn Phi như van lơn, hai tay buông thỏng QuÓc Gia 98

coi rất thảm hại. Phi chợt nhận ra người chồng tương lai của mình nói cà lăm quá sức, nhưng cô nghĩ có lẽ vì bối rối quá nên anh chàng đâm ra cà lăm mà thôi. Cô nhìn thẳng vào mắt Hiền nghiêm nghị nói: - Anh nhớ đừng làm như vậy nữa kỳ lắm, tôi không thích đâu. Út Hiền không dám nói gì thêm chỉ gật đầu, tay ôm gò má bị thương. Đêm đó Phi đi ngủ mà sao trong lòng lấn cấn một cảm giác khó chịu. Người chồng tương lai trong đầu cô không giống út Hiền trong cách hành xử. Nhưng tính sao bây giờ? Cô hy vọng cậu út trong một phút yếu lòng, không kềm chế được bản thân mới làm liều như vậy chớ không phải là hạng người sàm sỡ... Sáng hôm sau út Hiền dậy sớm xin phép ông bà nhạc tương lai trở về Chợ Thủ, lấy cớ phải qua Long Xuyên mua đồ cho ông Hội. Cả đêm Hiền phập phồng lo Phi giận nên xin phép xuống bếp từ giã nàng. Phi đang lui cui nấu nồi cháo đậu xanh ăn với tép chấy. Ngủ qua một đêm cô thấy lòng bình tĩnh lại, nên khi út Hiền bước vào cô nhìn chàng ta rồi mÌm cười hỏi sao thức sớm vậy? Thấy Phi hết giận Hiền mừng như bắt được vàng. Rồi rất thận trọng, cậu nói chẩm rãi cho bớt cà lăm, xin lỗi Phi một lần nữa. Cô lắc đầu nói hết giận rồi. Hiền ngần ngừ một chút rồi nói nếu thiệt hết giận thì cho cậu được... nắm tay một cái trước khi giã từ! Cô nhìn vết xước trên má cậu út, trong lòng cảm thấy áy náy nên đưa tay ra. Cậu út được cầm bàn tay cô vợ chưa cưới thì cảm động


quá sức, cứ cầm hoài không chịu buông ra, cặp mắt nhìn nàng đắm đuối. Cuối cùng Phi rút tay lại nói cô phải dọn bữa ăn sáng cho cả nhà và mời Hiền lên nhà trên ăn cháo... Hai tuần sau út Hiền trở qua. Lần này cậu đem biếu chú Hai chai rượu tây Quinquina, thiếm Hai một cái khăn đội đầu bằng hàng Bombay. Con Phụng được phong bánh Bisquit Lu và riêng cho Phi thì một hộp phấn trắng, một hộp phấn hồng, một cây son, một chai dầu thơm. Tất cả đều mang hiệu Coty, nhập cảng từ Pháp quốc. Mấy thứ này cậu nhờ người chị ruột lấy chồng trên Sàigòn mua dùm. Lần đầu tiên có được bao nhiêu thứ mỹ phẩm mà bất cứ cô con gái nào cũng ao ước Phi thích lắm, nên thái độ đối với út Hiền cũng bớt e dè. Tối nay trời oi bức lạ lùng. Đợi mọi người vô phòng xong Phi lấy quần áo đi tắm . Đêm nay mười bốn, vầng trăng tròn vằng vặc đổ ánh sáng xuống vạn vật rõ như ban ngày. Thay vì vô buồng tắm phía sau hè, nhưng nghĩ tới phải cầm đèn theo vì trong nhà tắm tối om, Phi đổi ý ra tắm ngoài ao. Để quần áo khô xuống dưới gốc cây dừa xiêm cạnh bờ, cô cởi áo bà ba, chỉ mặc cái áo lót bằng vải ú trắng, đi xuống cây cầu ván cất de ra khoảng một phần ba cái ao tròn trĩnh được đào chênh chếch cách nhà bếp khoảng vài chục thước. Trong ao chú Hai có thả sen, bèo nhựt bổn và vài loại cá. Đêm yên tĩnh, thỉnh thoảng có tiếng động của vài con cá quẫy đuôi nổi lên đớp mống. Phi cầm cái gáo dừa khỏa xuống nước. Mảnh trăng tròn dưới ao bị vỡ vụn vì những gợn

sóng lan ra. Phi xối từng gáo nước lên người một cách khoan khoái. Nước chảy tới đâu mát rượi tới đó. Thấy một chú nhái đang nằm trên chiếc lá sen gần đó, Phi tinh nghịch hất một gáo nước lên mình chú khiến chú ta hoảng hốt nhún mình nhảy tòm xuống nước! Phi không nhịn được cất lên một chuỗi cười trong trẻo...Và tiếp tục múc từng gáo nước xối lên người. Ánh trăng chảy trên mặt, trên vai, trên đôi cánh tay nõn nà và phần ngực trần của Phi lóng lánh như giác bạc. Phi tưởng chừng như cái thế giới huyền ảo và tĩnh lặng này chỉ có mình nàng... Trong căn buồng không lấy gì làm rộng rãi, dù đã mở bung hai cánh cửa sổ, út Hiền vẫn cảm thấy ngột ngạt. Lăn qua trở lại một lúc, biết là không thể nào ngủ nổi, cậu nhè nhẹ bước xuống giường đi ra ngoài, se së mở cửa bước ra vườn mong tìm được chút không khí mát mẻ, luôn tiện hút điếu thuốc thơm. Sau bữa cơm, tuy rất thèm nhưng cậu không dám hút sợ cha vợ tương lai...quở! Ai còn lạ gì tánh mấy ông thầy thuốc. Nhìn đâu mấy ổng cũng thấy bịnh hết trơn!!! Cậu mới rút điếu thuốc chưa kịp châm lºa thì thoảng nghe mé sau nhà có tiếng cười trong trẻo vang trong đêm vắng. Không dằn được sự tò mò, út Hiền cất điếu thuốc lại trong túi áo, men theo hông nhà ra phía sau hè. Chính nhờ tiếng múc nước đã hướng dẫn bước chân của út Hiền. Lúc nhìn thấy tấm lưng của cô gái đang tắm, út Hiền hết hồn núp ngay sau thân cây dừa mọc cạnh bờ ao. Định thần nhìn kỹ lại cậu há hốc miệng khi nhận QuÓc Gia 99

ra người đó là Phi. Những động tác kỳ cọ, xối nước thong thả, hài hòa của nàng càng lúc càng khiến cho cậu út có cảm tưởng mình đang ở trong một hỏa diệm sơn đang phun lửa! Người cậu nóng hừng hực, chỉ muốn nhảy xuống ao tắm một mách cho đỡ bứt rứt. Cặp mắt không sao rời được, dù một giây, cái bức tranh sống động đang diễn ra trước mặt. Nhìn chăm chú đến nỗi cả tai cậu cũng không còn nghe thấy tiếng côn trùng rỉ rả xung quanh. Vũ trụ như ngưng đọng. Chỉ có người con gái trước mặt là hiện hữu và người đó chính là cô vợ sắp cưới của cậu...Đang miên man với hàng trăm ý tưởng trong đầu, út Hiền giựt mình trở về thực tại khi thấy Phi đứng lên, quay người lại để bước lên bờ. Vừa đi Phi vừa ưỡn ngực, đưa hai tay ra phía sau vắt mớ tóc cho khô. Cái áo lá và cái quần ướt dán sát vào người, không cách gì dấu nổi những đường cong nét lượn trên mình của cô. Út Hiền nhắm mắt lại, thở mạnh cố trấn áp nhịp tim đang đập h‡n loạn trong lồng ngực. Lúc mở mắt ra đã thấy Phi đang cởi cái áo ướt. Pho tượng vệ nữ đẹp cực kỳ hiện đột ngột trước mắt khiến út Hiền mất tự chủ hoàn toàn. Cậu từ chỗ núp bước ra ôm chầm lấy Phi. Hồn bất phụ thể, cô rú lên một tiếng. Út Hiền lắp bắp: - Anh ...anh...đây mà. Đừng... đừng...sợ... Phi cố sức đẩy Hiền ra, nhưng trong lúc này, cậu ta như mạnh lên gấp đôi. Rồi vừa hôn tới tấp lên mặt, lên cổ của Phi út Hiền vừa van nài: - Em cho anh đi nghe... Tụi mình sắp cưới nhau rồi mà...


Nghe tiếng thở hổn hển bên tai và nghe cái câu dụ khị xanh dờn này Phi càng hoảng sợ há miệng cắn lên cánh tay út Hiền một cái. Đau điếng cậu nới lỏng vòng tay, Phi lập tức xô một cái thiệt mạnh. Út Hiền mất đà té ngửa ra sau, đầu đập vô gốc dừa, nằm im không cựa quậy. Phi lập cập quơ cái áo khô mặc vô người rồi ôm đống đồ vội vàng chạy vô nhà. Nhưng được nửa đường Phi quay đầu lại xem út Hiền có đi theo không, thì thấy cậu ta vẫn nằm im một chỗ. Hơi lo, Phi thận trọng trở lại đứng xa xa nhìn. Dưới ánh trăng sáng lồng lộng hình như tay chân út Hiền đang co giựt. Bước vội lại gần, Phi hốt hoảng khi thấy cặp mắt cậu trợn trắng, miệng xùi bọt mép. Cô tức tốc quay mình chạy vô nhà miệng kêu ba má rối rít. Vừa đang lơ mơ, chú thiếm Hai choàng dậy hỏi chuyện gì? Hai hàm răng Phi đánh bồ cạp, cô lắp bắp: - Ba má ra lẹ lên. Anh Hiền té ngoài kia kìa... Thấy thái độ bất thường của con gái, hai người lật đật đi riết theo Phi. Con Phụng cũng lon ton chạy theo. Ra tới nơi thấy út Hiền nằm dưới đất đang lên cơn động kinh. Không cần hỏi lý do, chú Hai hối mọi người xúm lại khiêng cậu vô nhà. Phi sợ út Hiền chết nên cứ khóc thút thít. Đặt Hiền lên giường, chú Hai biểu vợ vắt nước chanh cho chú cạy miệng cậu đổ vô. Sau đó lấy dầu gió xức khắp mình cho cậu rồi sáng mai mới xuống chợ hốt thuốc. Mọi người ngồi xung quanh người bịnh mặt đầy vẻ lo lắng. Độ mươi phút sau thì cơn giựt hết hẳn, mặt mày cậu út bình

thường trở lại và cậu chìm vào giấc ngủ, hơi thở đều hòa. Ai nấy thở ra nhẹ nhõm. Ra ngoài phòng khách, Phi kể tự sự cho cha mẹ nghe, không quên nhắc lại chuyện cũ cách đây hai tuần mà cô đã dấu. Kể xong, Phi khóc lóc đòi hủy hôn ước vì cô thấy tư cách cậu út không xứng đáng. Ngoài ra còn cái bịnh động kinh dễ sợ này nữa! Thiếm Hai thương con gái nhưng nể sợ chồng, không dám có ý kiến gì hết. Chú suy nghĩ một chặp rồi nói mọi người đi ngủ, để mình chú canh út Hiền. Chuyện đâu còn có đó, từ từ rồi tính. Phi nằm trên giường mà lòng ngổn ngang trăm mối. Cuộc hôn nhân tưởng đẹp như mơ mà hóa ra là cơn ác mộng. Nếu vì ham tiếng, ham tiền ép lòng lấy một người chồng, mà lúc dục vọng nổi lên sẵn sàng dùng tới sức mạnh như cậu út thì thử hỏi làm sao có hạnh phúc? Có khác nào cô bị hiếp dâm! Không kể chứng kinh phong bất trị. Càng nghĩ Phi càng sợ không tài nào ngủ được. Sáng hôm sau chú Hai bàn với vợ sẽ mướn chiếc ghe tam bản có mui rồi đích thân chú đưa út Hiền về Chợ Thủ. Sẵn dịp trình bày câu chuyện cho ông bà Hội Đồng luôn thể, coi họ tính làm sao... Chú Hai chỉ ở lại Chợ Thủ có một ngày. Hôm sau chú trở về với gần nửa ghe quà cáp do nhà trai biếu. Tuy sức khỏe của cậu quý tử chưa khá lắm, nhưng sau khi nghe qua hành vi bất nhã của hắn đối với hôn thê, ông Hội Đồng Hòa nổi giận rầy cậu một trận quá trời. Tới lúc nghe Phi đòi từ hôn thì cậu út quỳ cái rụp xuống trước mặt chú Hai, thề độc QuÓc Gia 100

sẽ không bao giờ dám tái phạm. Ông bà Hội Đồng cũng năn nỉ tiếp cho con trai. Hứa sẽ dạy dỗ cậu nghiêm nhặt hơn và nhứt là phần hương hỏa sau này của cậu út, ông sẽ thêm vô di chúc một căn phố trệt bên chợ Long Xuyên. Chú Hai thấy họ xuống nước năn nỉ như vậy cũng xiêu lòng nên hứa sẽ ráng hết sức thuyết phục con gái. Chú nói cậu út ăn năn hối lỗi dữ lắm, đã thề độc không dám làm điều gì cho vợ buồn lòng sau này. Hơn nữa về làm dâu một nhà đại phú có kẻ hầu người hạ, ăn sung mặc sướng cả đời. Bây giờ trong làng ngoài tổng ai cũng biết chú được kết sui gia với ông Hội Đồng Hòa, nay bãi hôn thì còn mặt mũi nào gặp ai nữa chớ? Thiếm Hai tiếc thằng rể giàu nên cũng ép vô. Phi biết phản đối cũng vô ích nên mặt lúc nào cũng buồn dàu dàu! Từ đó thỉnh thoảng cậu út có qua thăm Phi, nhưng chỉ dám ở chơi một buổi rồi về, tuyệt đối không có hành động thô lỗ nào cả. Nhưng Phi như con chim bị ná, những tình cảm tốt dành cho út Hiền lúc ban đầu đã tan theo mây khói không sao cứu vãn được. Những lúc buồn quá cô qua chơi bên nhà chú Tư Tâm, than thở với Hương cho nhẹ bầu tâm sự. Hương nhỏ hơn Phi hai tuổi nên hai chị em họ rất dễ thông cảm nhau. Phi coi như định mạng đã an bài. Cứ coi như kiếp trước cô có món nợ với út Hiền, kiếp này phải trả. Không ngờ chuyện này lọt vô tai con nhỏ ở nhà thiếm Tư. Nó kể cho cô năm Lài nghe và cuối cùng cô đã thuật lại cho Phan. Riêng Phi, cặp mắt sáng rực và nụ cười nửa miệng của ai kia vẫn theo ám ảnh cô không ngớt.


Mỗi lần nhìn thấy những sợi chỉ màu là hình ảnh hắn lại hiện lên. Tuy mới gặp lần đầu nhưng linh tính báo cho cô biết con người thật của “hắn” không giống như cái bề ngoài mà mọi người nhìn thấy. Có một “cái gì đó” quả thật là không giống...Hôm mua mấy tép chỉ màu, Phi tò mò nhìn xung quanh chợt thấy trên vách ghe có một cái kệ gỗ, trên có dựng một hàng sách. Ngạc nhiên, cô nhìn kỹ thấy phần lớn là tiểu thuyết của mấy nhà văn nổi tiếng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Có vài quyển bằng tiếng Pháp. Sở dĩ Phi biết được là nhờ người anh lớn học trên Saìgòn mang về cho Phi đọc, chớ cô chỉ được học hết ban tiểu học mà thôi. Phi không ngạc nhiên sao được? Một gã con trai làm nghề buôn bán vặt lênh đênh trên sông nước mà có một kệ toàn sách hay. Phi tưởng sách bán nhưng Phan lắc đầu nói là của mình để đọc lúc nhàn rỗi chớ không phải để bán. Ừ cả ngôn ngữ hắn xử dụng cũng không giống nốt! Nó hoa mỹ mà không cầu kỳ hay quê mùa. Vừa phải khiến cho người nghe cảm thấy thoải mái lẫn một chút nể vì. Có cái gì đó thúc dục khiến Phi muốn gặp lại hắn và cô đã trở lại... Lần này để lựa mua vải may áo. Phi đi một mình vào buổi trưa. Giờ này nắng gắt ít ai ra đường, không sợ gặp nhiều người cùng đến mua đồ sẽ thoải mái hơn. Tới bến đò Phi thấy Phan ngồi trên chiếc ghế con dưới bóng cây sung mát rượi đang uống ly nước dừa tươi và cô Năm Lài đang chiên chuối. Cô Năm hỏi Phi tính mua món gì? Trước cặp mắt của Phan đang chăm chú nhìn và cái nụ cười nửa miệng đáng...ghét

kia Phi hơi lúng túng: - Bữa nay em định kiếm xấp vải may áo. Cô Năm cười: - Ừ, em nhớ may nhiều quần áo đẹp một chút. Về bên kia toàn là người sang trọng. Mình lèng xèng quá họ khi dễ. Phi chỉ mÌm cười không nói gì theo chân Phan xuống ghe. Ở nhà thì cố làm gan, nhưng bây giờ một mình với người đàn ông xa lạ bỗng dưng cô nàng cảm thấy sợ ngang xương. Nhưng cố gắng tự trấn an: sợ gì? Mua xong thì về. Ai ăn thịt cá gì mà sợ? Vừa đúng lúc “ai đó” lên tiếng hỏi cô Phi cần gì khiến nàng hơi giựt mình : - Ủa sao anh biết tên tôi? - Lần trước tôi đã mạo muội hỏi cô Năm. Phan chỉ tay lên bờ. Tôi còn biết cô sắp thành hôn... Phi sa sầm nét mặt khi nghe nhắc đến chữ thành hôn khiến Phan vội vàng nói tiếp: - Xin lỗi cô, tôi vô ý nhắc đến chuyện này khiến cô không vui. Phi gặng lại: - Tại sao anh biết tôi không vui? rồi cô chợt hiểu, giọng buồn như có nước mắt: - Phải rồi, ở đây ai mà không biết chuyện của tôi. Nhưng thôi anh có hàng đẹp gì cho tôi coi. Tôi muốn may vài cái áo. Phan lấy những xấp hàng đẹp nhứt bày ra cho Phi lựa. Nàng ngần ngừ còn không biết chọn màu nào thì Phan lên tiếng: - Theo tôi màu nào cũng hợp với cô Phi hết. Cô mặc màu xanh hồ thủy hay màu hồng san hô đều đẹp. Nó càng tôn làn da cô trắng thêm lên. Không tin để tôi ướm thử lên người, rồi cô nhìn vô kiếng sẽ thấy. Vừa nói Phan vừa QuÓc Gia 101

xổ khúc vải ướm lên người Phi, một tay nắm hai chéo vải giữ phía sau lưng . Phi nhìn vào tấm kiếng vuông vức treo trên vách ghe, chợt giật mình đánh thót khi thấy phía sau vai nàng, cặp mắt Phan sáng lóng lánh đang chăm chú nhìn vào mắt nàng trong tấm kiếng. Mặt Phi từ từ đỏ lên. Đôi mắt Phan như có ma lực khiến cô không thể rời ra. Mấy giây hay mấy phút trôi qua không ai biết được. Bỗng chiếc ghe chòng chành như có người bước xuống làm cả hai giựt mình. Phi vội vã trả tiền khúc vải. Cô Năm đang bận bán hàng cho khách nên không để ý lúc Phi đi qua, nếu không cô làm sao giải thích được cái gương mặt đỏ hồng như vừa uống xong một ly rượu mạnh của mình? Bữa cơm chiều hôm đó món cá kho thì mặn chát, món canh bầu lại lạt nhách khiến chú Hai nhăn mặt. Thiếm Hai lo lắng hỏi con gái: - Bộ bịnh rồi lạt miệng hay sao mà nêm nếm kỳ cục vậy Phi? Phi không biết nói sao đành xuôi theo: - Dạ con thấy không khỏe trong người má à. Trưa nay con hơi nhức đầu... - Vậy ăn cơm rồi nhớ biểu con Phụng cạo gió cho khỏe. Má qua thiếm Tư bàn chuyện đám cưới. Phi dạ rồi cắm cúi ăn cơm. Đêm đó nàng trằn trọc không yên. Cái cảm giác của hơi thở nóng bỏng bên tai làm run rẩy những sợi tóc mai như vẫn còn đó. Cái chạm nhẹ của hai bàn tay khi trao và nhận gói hàng như vẫn còn đây. Và đôi mắt ...Ôi đôi mắt như có nam châm!


...Phan trải chiếu nằm trước mũi ghe, hai tay kê dưới đầu mắt nhìn lên bầu trời đen lấp lánh sao đêm. Con trăng thượng tuần treo lơ lºng như chiếc liềm bằng bạc. Đáng lẽ ra chàng chỉ định ghé qua chỗ này độ mươi ngày rồi nhổ sào đi nơi khác. Nhưng từ khi gặp Phi, Phan cứ nấn ná. Mà thật ra không có gì khiến chàng phải gấp gáp. Cứ xuôi theo linh cảm. Bởi Phan có linh cảm đời chàng sẽ đổi thay ngay từ giây phút gặp người con gái này. Chàng không tin có tiếng sét ái tình, nhưng bây giờ thì phải xét lại. Cái thân hình dong dẩy, nét mặt thanh tú với cặp mắt vời vợi buồn cứ ám ảnh Phan không thôi. Nhớ lại cảnh trưa nay mà lòng Phan còn ngây ngất! Cái mùi hương tỏa ra từ mái tóc của Phi sao mà nồng nàn quá. Đôi má ửng hồng và cặp môi hé mở khi bốn mắt gặp nhau...Nhớ tới đâu lòng Phan xốn xang tới đó. Nhưng nhớ rồi sao? Nàng sắp lên xe hoa ...Phan thở dài. Chợt một ánh sao băng ngang bầu trời. Phan nhắm mắt nói một lời cầu nguyện. Xong chàng bật cười, không ngờ mình cũng tin dị đoan như vậy! Từ mấy tháng nay một mình xuôi ngược đó đây. Chỗ nào vui thì ở lâu, chỗ nào buồn thì nhổ sào sớm. Trời cao sông rộng an nhiên tự tại, tâm hồn thư thái. Sông ngòi đầy cá tôm, chỉ cần ngồi ở lái thuyền buông cần câu là có. Ai đã xuôi khiến cho thuyền chàng đến neo bến nơi này?...

cha bịnh nặng không tiền thuốc thang nên Thắm phải vô giúp việc cho ông bà Cai Tổng trong huyện. Bất nhơn, ông này vốn là hậu duệ của Tề Tuyên Vương. Trước nhan sắc mặn mòi của cô thôn nữ mơn mªn đào tơ ông ta thèm rỏ dãi. Ngày đêm nghĩ kế để chiếm đoạt tấm thân băng trinh của nàng. Bao nhiêu lần lén dụ dỗ bằng tiền bạc đều bị Thắm từ chối kịch liệt ông ta tức lắm. Cơ hội tới vào dịp lễ Bà Núi Thất Sơn. Bà Cai Tổng cùng đứa tớ gái thân tín đi lễ ba hôm mới về. Ông Cai Tổng mừng như mở cờ trong bụng. Qua hôm thứ nhì, sau bữa cơm tối ông kêu đau bụng đi vô buồng sớm và dặn Thắm cũng như thằng Bữu, là đứa tớ trai làm những chuyện nặng nhọc trong nhà, cứ đi ngủ sớm, ông không cần tới họ nữa. Dọn dẹp xong thằng Bºu ra vựa lúa, trèo lên căn gác lửng là giang sơn của nó, ngủ khò sau một ngày làm việc cực khổ. Thắm cũng cầm cây đèn trứng vịt về buồng ngủ sát cạnh bếp. Hai bữa nay cô ngủ một mình vì con Lẹ đã theo bà Cai đi Thất Sơn. Cô cởi cái áo bà ba vải ú đen treo lên cây đinh trên vách, trên người chỉ còn cái áo nịt ngực. Thời đó con gái chưa chồng cô nào cũng phải nịt ngực, ép cặp nhũ hoa cho sát rạt không thôi bị quở là...nơ nơ như mấy bà có con! Suốt ngày bị gò bó chật chội, tối đi ngủ cởi ra cho dễ thở. Thắm chưa kịp cởi áo nịt ngực chợt có tiếng cửa mở khiến cô ngạc nhiên quay lại. Ông Cai Tổng trong bộ đồ ngủ lục soạn Cuốn phim dĩ vảng lại như trắng đang đứng lù lù tại đó. Sự hiện ra trước mắt. Mẹ Phan ngày kinh hãi khiến Thắm đứng sững xưa là một cô thôn nữ con nhà như bị Trời trồng. Đến lúc thấy nghèo nhưng có nhan sắc. Vì cặp mắt si dại của ông ta dán chặt QuÓc Gia 102

vào người cô, miệng nuốt nước miếng một cách khó khăn, cô mới hoảng hốt đưa tay định quơ cái áo mặc vào. Lẹ như cắt ông Cai Tổng lao tới ôm Thắm vật xuống giường... Cô vừa chống cự vừa năn nỉ, nhưng sức con gái yếu đuối làm sao chống nổi một người đàn ông, tuy ngoài ngũ tuần nhưng đang bị con quỷ dâm dục ám, khiến sức mạnh càng tăng gấp bội. Phá đời con gái của Thắm rồi ông ta còn nhẫn tâm đe dọa, nếu tiết lộ chuyện này tới tai bà Cai thì cha mẹ Thắm sẽ lãnh hậu quả. Cô khóc hết nước mắt, nhưng đành ngậm câm để tránh sự trả thù của tên ác bá. Nhưng khổ thay, chỉ tháng sau cô tắt kinh. Cho là tại sợ hãi quá nên kinh nguyệt lộn xộn. Nhưng sao cơm, cá ăn không thấy ngon bằng cóc, ổi... Chua cách mấy cô ăn cũng ngon lành. Cho tới hôm con Lẹ vô tình nói chị Thắm ăn chua y như mấy bà có bầu thì cô giựt mình. Qua tháng tới nữa cũng bặt kinh luôn. Thắm hoảng sợ thật sự. Viễn ảnh có chửa hoang làm nhục nhã mẹ cha khiến cô tê tái. Nếu bà Cai biết được hậu quả sẽ ra sao?... Cái bụng lại càng ngày càng lum lúp lên khiến cô ăn ngủ không yên. Một hôm Bà Cai đi chợ vắng, cô lấy hết can đảm nói cho ông Cai Tổng biết cô đã có mang. Ổng cũng lo không thua gì Thắm. Hai hôm sau, ông ta hẹn cô ra ngoài vườn chuối. Ông đưa cho Thắm một ít tiền rồi nói cô chuẩn bị ít bộ quần áo, vài hôm nữa sẽ có người đưa cô qua Cù Lao Ông Chưởng phá thai. Ông không thể nào nhận đứa con trong bụng của cô được. Thắm cầm tiền mà nước mắt tuôn như suối. Qua mấy đêm


trằn trọc không ngủ, cô biết chắc mình không có can đảm giết chết đứa con đang phôi thai trong bụng. Nó là máu thịt của cô. Cha nó tàn độc nhưng cô thì không được. Vậy là Thắm một mình âm thầm trốn đi. Cô ôm bọc quần áo đón đò đi tuốt lên Thanh Bình định nương náu nhà người dì ruột. Nhưng có câu họa vô đơn chí, cô lên tới nơi còn bị người dì chữi cho một trận. Bà không tin cô bị ông Cai Tổng hiếp, mà cho rằng cô ham tiền mới bán thân cho ông ta. Thắm khóc lóc, năn nỉ cách nào bä cũng không đổi ý. Tuyệt vọng quá không biết phải làm sao, cô đành ôm bọc quần áo, theo con lộ ven mé sông đi hoài. Tới khúc vắng mệt quá cô ngồi xuống lề đường nghỉ chân. Nghĩ tới hoàn cảnh không nhà cửa, không người thân, bơ vơ với cái bào thai vô thừa nhận, tủi nhục quá Thắm lại khóc mùi. Vừa đói vừa khát cô đi xuống mé sông định vốc nước lên uống đỡ, không ngờ bờ đất trơn tuột, cô chúi nhủi té luôn xuống sông. Mùa nước đỗ, nước sông chảy siết, cuốn Thắm trôi phăng phăng như mớ giẻ rách. Còn đang chới với, thời may có chiếc ghe thương hồ đang chèo tới. Chủ ghe tưởng có người tự tử lật đật nhảy xuống cứu. Thắm lên được trên ghe thì lä người muốn xỉu. Ông chủ ghe rót một ly trà thiệt nóng bắt uống. Lúc Thắm có vẻ hoàn hồn ông ta hỏi lý do nào khiến cô phải tự tử? Thắm sững người, nhưng bỗng dưng cô nghĩ, nếu lúc nảy chết luôn chắc sẽ khỏe thân hơn. Cô òa lên khóc khi nhớ tới bọc quần áo và cái món tiền nhỏ nhoi cũng đã theo giòng nước trôi mất luôn. Còn ai

xui xẻo hơn cô nữa không?.. Qua màn lệ cô ngước nhìn người ơn đã cứu cô lúc nảy. Ông ta chắc đã ngoài ba mươi. Mặt mày có vẻ chơn chất thiệt thà. Đôi mắt nhìn cô đầy thương xót. Thắm đem chuyện mình kể cho ông ta. Nghe xong, Tịnh, tên của chủ ghe, nói nếu Thắm không chê, có thể ở tạm trên ghe rồi tới bến nào đó, nếu thấy thích cô sẽ lên bờ... Ghe chỉ có mình ông, vì bà vợ Çã mất cách đây ba năm, ông vẫn chưa tục huyền. Qua hết bến nọ tới bến kia mà Thắm vẫn không tìm thấy nơi nào thích hợp, nên vẫn ở mãi trên chiếc ghe thương hồ của Tịnh. Diện tích chiếc ghe quá nhỏ cho hai người. Xoay qua trở lại là...đụng nhau, nên chuyện gì phải xảy không thể tránh được. Phan ra đời trong sự thương yêu của cha mẹ. Tịnh nói với gia đình Phan là con ruột của ông ta. Thuở nhỏ theo cha mẹ xuôi ngược khắp nơi, đến năm sáu tuổi chàng mới về ở hẳn nhà ông bà nội (cha mẹ của ông Tịnh) để đi học. Vài ba tháng cha mẹ lại ghé về thăm. Phan học rất giỏi nên sau tiểu học, ông Tịnh ép phải xuống ở học nội trú dưới Mỹ Tho cho đến khi đậu bằng Thành Chung. Nhờ thông minh lanh lợi, Tịnh kiếm được chân thơ ký cho một cơ sở thương mại lớn trên Sàigòn. Với số lương khá, Phan năn nỉ ông Tịnh nên bỏ nghề sông nước về ở với chàng, nhưng ông nói rằng ở một chỗ tù túng không quen. Mấy năm trôi qua, Phan cũng đã qua vài mối tình nhưng không có kết quả tốt. Chàng vẫn nói chơi với người bạn thân chắc tao “cốt” quê mùa, không hạp các cô thành thị. Cách đây nửa năm, ông Tịnh QuÓc Gia 103

đột ngột qua đời vì chứng đau tim. Chàng về quê lo đám ma cho cha thật tử tế và từ đây mẹ chàng ở lại nhà săn sóc cho ông bà nội nay đã già. Ông Tịnh mất đột ngột nên hàng hoá trên ghe còn nguyên. Phan bỗng nhớ tới cuộc sống tự do thoải mái khi còn nhỏ trên ghe và nảy ra ý định bỏ việc trên Sàigòn một thời gian để hít thở lại cái không khí của thời thơ ấu...Hôm nay Định Mệnh đã đưa chàng tới cắm sào chốn này và gặp Phi, cô gái có cặp mắt sầu đời khiến lòng chàng xốn xang. ...Đêm nay rằm tháng bảy. Sau khi cơm nước xong, Phi, Phụng mang nhang đèn và mâm trái cây theo thiếm Tư lên Chùa Linh Sơn cúng Phật. Tối nay đông nghẹt thiện nam tín nữ vì là rằm lớn. Quỳ bên mẹ, Phi thành khẩn cầu xin Phật Tổ cứu mạng. Sống bên người chồng không yêu thương chắc cô cũng sẽ héo hon mà chết! Nghĩ tới đây Phi bỗng thấy cay mắt muốn khóc. Không muốn bị nhìn thấy, nàng nhè nhẹ đứng lên đi ra ngoài. Lễ chưa tan nên ngoài chùa không có mấy người. Phi đứng khuất sau cây bông trang nơi góc sân, ngước mắt nhìn vầng trăng lung linh trên cao, hai hàng nước mắt ứa ra. Lát sau cô cúi mặt xuống định kéo vạt áo lên chùi nước mắt, bỗng có tiếng chân bước tới gần. Phi ngẩng lên. Phan đang đứng trước mặt nhìn cô thật dịu dàng. Chàng không nói gì chỉ rút trong túi áo ra chiếc khăn tay, nhẹ nhàng lau nước mắt cho Phi. Không hiểu sao Phi bỗng nấc lên khóc nức nở. Sợ có người thấy, Phan vòng tay qua vai dìu cô ra xa hơn, núp sau một thân cây mù


u lớn. Thấy Phi vẫn không ngừng khóc, Phan kéo nhẹ đầu cô tựa vào ngực mình. Một mäng ngực áo ướt đầm. Tiếng nấc dịu dần nhưng Phi vẫn tựa vào Phan, đầy tin cẩn. Thái độ này làm Phan cảm động. Chàng đã không đoán lầm và càng muốn đem cô thoát khỏi cái n‡i đớn đau đang dằn vặt cô ngày đêm không ngớt. Bữa nay Phan thấy Phi đã tiều tụy nhiều hơn trước. Chàng xót xa cho cô. Phan gọi nho nhỏ:- Phi, Phi ... Nàng ngước lên. Khuôn mặt Phan nhìn xuống, đầy bóng tối, nhưng Phi thấy một cặp mắt bát ngát yêu thương đang nhìn nàng, miệng mÌm cười âu yếm. Thấy mình đang tựa vào người Phan Phi ngượng ngùng đứng dang ra: - Xin lỗi anh. Tại em buồn quá. Em...em không biết tâm sự với ai... Phan nói thật nhẹ: - Tôi hiểu tâm sự của Phi. Yên tâm đi, Trời Phật không bỏ ai đâu. Chuyện gì cũng có cách giải quyết êm đẹp. Phi gượng cười: - Cám ơn anh. Em cũng hi vọng được như vậy. Thôi bây giờ em phải trở vô không thôi con Phụng ra kiếm sẽ phiền phức lắm. Thấy Phi dợm bước đi, Phan nói vội; - Trưa mai Phi kiếm cớ xuống ghe, tôi có cái này muốn cho cô xem qua. Được không? Phi gật đầu hứa mai sẽ cố gắng đến. Phan luyến tiếc chia tay nhưng trong lòng rất vui với viễn ảnh ngày mai sẽ gặp lại Phi. Đêm đó Phi trằn trọc mong cho mau tới sáng để xem Phan cho cô coi cái gì. Cơm trưa xong, Phi nói với thiếm Tư cô cần mua

thêm chỉ trắng may áo. Thiếm dặn trời đang chuyển đi về lẹ kẻo mắc mưa. Nhưng người muốn mà trời định nên Phi vừa bước xuống ghe là cơn mưa ụp xuống. Phan đã chờ sẵn. Chàng mời Phi ngồi xuống chiếc ghế thấp, rồi trao tận tay cô một ly trà ướp bông lài thơm phức. Nàng ngượng ngùng đỡ lấy ly trà mắt nhìn Phan như dò hỏi. Phan lấy một xấp hình, có cái đã vàng ố đưa cho Phi. Có cái chụp ba người. Người đàn ông có vẻ đứng tuổi, người đàn bà còn trẻ măng, rất đẹp, bên cạnh là một cậu bé. Cả ba người gương mặt tràn trề hạnh phúc. Phan nói đây là hình ba má tôi và tôi lúc năm tuổi. Năm nay má tôi đã năm mươi rồi. Phi nhìn cậu nhỏ trong hình tóc cắt bum bê, cặp mắt to tròn như hai viên bi, rồi nhìn “cậu lớn” đang ngồi trước mặt bỗng bật cười. Phan cũng cười theo nói: - Phi cười đẹp lắm. Tôi muốn Phi cứ cười hoài... Nàng mắc cỡ đưa tay lên che miệng. Phan cầm tấm hình nhìn thật lâu như muốn kéo cái dĩ vãng trở về. Sau đó chàng từ từ kể lại cuộc đời mình cho Phi nghe. Cô như uống những lời nói của Phan vào trong lòng. Nghe xong Phi không dấu được sự sung sướng nói: - Từ đầu em đã có cái linh cảm anh không phải là một người hành nghề thương hồ tầm thường, nhưng em nghĩ hoài vẫn không ra tại sao. Em chỉ thấy anh không giống những người khác. Phan bạo dạn cầm bàn tay Phi bóp nhẹ: - Anh cũng thấy Phi không giống như những cô gái khác... Một cảm giác ấm áp truyền từ bàn tay của Phan khiến Phi thấy QuÓc Gia 104

rùng mình.Tâm hồn cô bay b°ng, không để ý đến sự thay đổi cách xưng hô của Phan. Cô chỉ thấy mình thật sự sung sướng. Nụ cười rạng rỡ đã biểu lộ hết tâm tình của cô khiến Phan yên tâm. Chàng nhìn thật sâu vào mắt cô gái nói : - Từ trước tới nay anh chưa hề có cảm giác với cô gái nào như đối với Phi bây giờ. Anh hiểu tình cảnh bế tắc của em. Anh có một đề nghị, còn quyết định là phần của em. Chiếc ghe của anh có thể rời bến bất cứ lúc nào em muốn. Dĩ nhiên anh không có tiền muôn bạc vạn như “ người ta”, nhưng anh hứa chắc sẽ mang đến cho em một cuộc sống đầy đủ và thật hạnh phúc...Trước hết anh sẽ đưa em về ở với má và ông bà nội của anh, rồi sau đó mình tính tới. Nhưng chắc chắn sau khi kết hôn tụi mình sẽ trở lên Sàigòn, anh đi làm lại như trước. Chờ khi thuận tiện anh sẽ dẫn em về chịu tội với ba má em. Ý anh vậy em thấy sao? Phi nói giọng đầy lo lắng: - Em cũng chưa biết tính sao. Cho em suy nghĩ... - Chuyện quan trọng như vậy dĩ nhiên em phải suy nghĩ chín chắn rồi cho anh biết. Nhìn gương mặt đầy lo âu của Phi, chàng muốn làm một cử chỉ âu yếm để trấn an hết sức mà không dám, sợ nàng sẽ nghi ngờ mình có ý đồ bậy bạ. Phi đứng lên nói hết mưa rồi phải về kẻo má nghi. Và cái quyết định tối hậu của Phi đã khiến mọi người bàng hoàng!..Thím Tư đọc xong lá thơ của Phi, trầm ngâm một hồi rồi nói: - Nếu đúng như lời con Phi trong thơ thì thằng Phan cũng


đâu đến nổi tệ. Thẳng có ăn học, nếu chí thú làm ăn thì khá mấy hồi. Như nó nói nếu ép nó lấy út Hiền, nó buồn rầu sanh bịnh mà chết, lúc đó mình có hối hận cũng trễ rồi. Hơn nữa sông nước minh mông biết tụi nó đi hướng nào mà kiếm. Có câu cha mẹ sanh con trời sanh tánh. Thôi đành phải qua Chợ Thủ xin lỗi Ông Bà Hội Đồng. Nếu anh Hai ngại em sẽ kêu anh Tư đi theo. Lúc đó chú Hai mới lên tiếng, mặt mày đầy...sát khí: - Thiệt không ngờ con nhỏ thường ngày coi hiền hậu mà lại dám làm ra chuyện tày trời này! Nếu để tui bắt được tụi nó... - Thôi anh Hai bớt giận. Coi như nó có duyên mà không nợ với thằng Hiền. Chuyện trước mắt phải lo là làm sao đối phó với gia đình ông Hội. Hy vọng ổng bả thông cảm vì đâu có ai

muốn xảy ra chuyện này... - Nhưng mà thiếm nghĩ coi vợ chồng tui làm sao chịu thấu tai tiếng trong làng? Thiếm Tư chắt lưỡi: - Ối anh hơi đâu để ý tới miệng lưỡi thiên hạ. Nói đã rồi họ cũng thôi. Con người ta vốn mau quên. Thiếm Tư ngồi lại an ủi hai người một lúc rồi ra về. Trên đường đi thiếm chợt...cười một mình. Thiếm cũng không ngờ cái con Phi coi hiền hiền mà gan cùng mình, dám bỏ nhà cửa, cha mẹ, ra đi cái một như vậy. Có điều không ai ngờ là nó giống y chang như...thiếm mười tám năm về trước! Gia đình cũng đã hứa hôn thiếm cho con trai một gia đình giàu có tiếng trên Hồng Ngự. Hôn phu của thiếm lại bình thường, không bịnh tật như út Hiền. Thiếm cũng tính yên phận lấy chồng như mấy bà chị, nhưng

vì một câu nói đầy vẻ khinh miệt gia đình thiếm của bà mẹ chồng tương lai, mà thiếm nhứt định hồi hôn. Có chết cũng không bước chân về nhà đó. Anh ta năn nỉ khóc lóc: mặc kệ. Mẹ của thiếm thương tiếc chàng r‹ hụt sanh bịnh: cương quyết không xiêu lòng. Nói nào ngay thiếm cũng không thương gì anh chàng đó cho lắm. Không như khi gặp chú Tư Tâm sau này. Vẻ hào hoa phong nhã và cái tài ăn nói duyên dáng của chú đã khiến thiếm nhung nhớ đêm ngày. Thà lấy chồng nghèo hơn mà hạnh phúc. Có m¡m ăn m¡m có muối ăn muối mà vui...Vì vậy trong đáy lòng, thiếm thật tình chúc phúc cho Phan và Phi. Thiếm mong họ cũng sẽ tìm được hạnh phúc như chú thiếm bây giờ. Thiếm lắc đầu mÌm cười nhủ thầm: Thiệt là Hậu sanh khả úy!

Tôi sáng, tối gò từng manh gỗ quý Thương bạn thân, những thằng đã ra đi Xót vợ hiền tần tảo bao hiểm nguy Nuôi con dại chờ chồng, không thấy mặt. (Viết thay nén hương đưa tiễn người lính TMH.) Tôi là lính ra tù không manh áo Vượt qua bao lửa máu tìm bình an, Mưu sinh nghề đánh bóng những áo… quan Đổi bát gạo nuôi đàn con nheo nhóc. Mỗi chiếc “áo” làm ra tôi đều khóc Nhớ bạn bè đất Bắc da bọc xương Chiếu rách tìm, dù nhỏ hẹp tầm thường Cũng không có bọc xác thân cùng cực. Tay xóc dằm, gò từng manh ký ức Đóng, đục, cưa cho người lạ nằm vừa, Lót vải êm bao hòm gỗ cài hoa Và nước mắt cứ ứa… ngày bi lụy.

Ngày em mất trời mưa râm bi đát Hai thằng con ráp những mảnh ván giường Giữa ruộng nương “kinh tế mới”, thắp hương Nhường mẹ… ngủ bình an nơi cõi Phật. Tôi may áo, áo cho người hoàn tất Mà dân tôi áo rách đỏ “thiên đường” Người lạ xa, thân được tẩm thơm hương Xong một áo, áo nào tôi cũng khóc! Tôi may áo bằng mưu toan đại cuộc Buộc thân tàn phải âm ỷ lòng son Dạy các con: -Chiếc Áo Mộng chưa tròn Còn ấm áp, phải yêu hoài Tổ Quốc!

Ý Nga, 2.1.2010. QuÓc Gia 105


QUÊN QUÁ KHỨ   Người bảo ta hãy quên đi quá khứ Quên Hùng Vương xây dựng nước thiên thu Nhưng cộng sản Hồ thì mãi hận thù Bắt, bắn, giết, cầm tù dân vô tội .  

Người bảo ta hãy quên đi quá khứ Quên những ngày Bến Hải bị tấn công Du kích quân được phép chặt đầu dân Cướp tiền của, đốt vườn nhà, chôn sống .  

Người bảo ta hãy quên đi qúa khứ Quên Hè đỏ lửa, đại bác bắn dân Quên oan hồn tử sĩ chết Mậu Thân Do chánh sách phi luân, vô nhân dạo .

Ta cũng muốn xóa tan thù hận đó Nhưng lương tâm cắn rứt mãi khôn nguôi Đấu Tố Ruộng Đất giết hàng vạn người Nhân Văn Giai Phẩm dập vùi trí thức .  

 Xóa sao được tháng năm dài uất ức Bị tù đày cải tạo khắp đông tây Vợ đi kinh tế mới chồng chẳng hay Nhà bị lấy, con chưa đầy mười tuổi .  

Đói cơm rách áo, nay đó mai đây Vì cha Ngụy chống quan thầy Sô Viết Tội cộng Hồ buôn dân bán nước Việt Làm sao xóa bỏ được hận thù nầy .  

 

 

Người bảo ta hãy quên đi quá khứ Quên những ngày bỏ quê Mẹ lưu vong Quên những gì còn lại của cha ông Để ra đi với hai bàn tay trắng .  

Biển rộng mênh mông, thuyền trôi theo sóng Công an Hồ ngăn chận vượt trùng khơi Cướp Thái Lan rình rập khắp nơi nơi Đành liều mạng vượt biên tìm lẽ sống .  

Người bảo ta hãy quên đi quá khứ Quên Sàigòn hăm chín (29) tháng tư đen Làm sao quên vạn cổ phố không đèn Khắp mọi nẻo toàn dép râu nón cối .   XÓA BỎ HẬN THÙ   Người bảo ta hãy xóa tan thù hận Để quay về nô lệ giặc cộng thù Dù bị khinh khi như những tội tù Phải cúi đầu để có phần hộ khẩu .  

Đi đâu cũng có công an theo dấu Nước Việt Nam như một trại tù giam Xã hội bất công, lãnh đạo tham tàn Cán bộ đảng trở thành tư bản đỏ .  

   

HÒA HỢP HÒA GIẢI HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI

Người muốn ta nên bắt tay hòa hợp Hòa giải theo hậu ý của cộng Hồ  Muôn năm cai trị, độc đảng, tham ô Thì không thể bởi nhân dân không muốn .  

Hãy bỏ hết những trại tù chỉnh huấn Xây thêm nhiều trường học, nhà thương Tổ chức dân chủ, đa đảng đa nguyên Để dân được cử hiền tài trị nước .  

Hòa hợp phải chính quyền thực thi trước Bởi thực quyền đảng nắm sẵn trong tay Đảng tiền phong để thiên hạ đều hay Và thừa nhận đảng thương dân khốn khổ  

Hòa hợp hòa giải đương nhiên sẽ có Tương lai Việt sẽ huy hoàng thấy rõ Toàn dân Việt giàu sang như nghèo khó Sẽ hy sinh vì nước chống xâm lăng .  

Sẽ cùng nhau xây dựng nước công bằng Hạnh phúc, tự do, nhân quyền, dân chủ ./.  

       

TTX, Montréal QuÓc Gia 106


VẺ VANG

  Hãy tới Ba Đình hạch tội Hồ, Rằng lương tâm đã để nơi mô? Giết dân non triệu mong thành tựu Chủ nghĩa tam vô thực chất đồ….!   Hãy hỏi tội tên thủ tướng Đồng. Công hàm mại đảo xú toàn tông. “Thà giao cho chệt hơn cho ngụy!” Hiến đất tổ tiên có nhục không?   Một lũ ngu si bọn các anh, Mấy đời cai trị rặt thong manh; Mấy đời luồn cúi bọn Tàu chệt, Bán cả quê cha, đất tổ xinh!   Hãy đứng thẳng lên dân Việt hùng! Tấm lòng anh dũng chẳng cạn nông. Hãy mau giải thể cộng tham nhũng, Giải phóng quê nhà ấy vĩ nhân.   Diệt cộng rồi, gây chế độ mới, Tam quyền phân lập hợp lòng dân; Chính quyền thật bởi vì dân, nước. Nước Việt vẻ vang thắm sắc hồng./.  

Dzoãn Thường

  AI ?   Ai về âm phủ hỏi ngay Hồ Bán nước cho Tàu, tiền để mô ? Nhận Mạnh họ Nồng làm con đẻ Truyền ngôi nô lệ cộng côn đồ .   Ai về âm phủ hỏi tên Đồng Họ Phạm văn làm nhục tổ tông Bán đảo Hoàng Sa cho bọn chệt Bưng bô Tàu cộng có buồn không !   Ai ra Hànội hỏi tên Anh Phiêu, Mạnh, Triết, Dũng, Trọng đại manh Bán ải Nam Quan, thác Bản Giốc Tây Nguyên bồ-xít, biển Đông xinh .

  Toàn dân già trẻ, gái trai hùng Trí thức, sinh viên, lao động, nông.. Quân đội nhân dân còn yêu nước Thì mau giải thể cộng phi nhân .   Khai nền dân chủ, xây đời mới Kiến thiết sơn hà thuận ý dân Tổ chức Diên Hồng thề sát Hán Đuổi Tàu, giữ nước, dẹp Mao hồng ./.   TTX, Montréal,    Kính họa   HỌA DIỆT CHỦNG II   Vùng dậy mau lên hỏi cộng Hồ Sao đành bán nước, rước Tàu vô Đem dân làm lính cho vô sản  Quốc Tế Tiền Phong, nhục thấy mồ .   Hết chạy theo Nga lại nịnh Tàu Tây Nguyên, Hải đảo bán cho Mao Biển Đông, Bản Giốc , Nam Quan ải Bán lén bao giờ?, tiền để đâu? .   Tự cổ, dưới triều Lê thánh Tông Tru di những kẻ bán non sông Quốc gia xây dựng do tiên tổ Tấc đất tấc vàng có biết không ?     Tội mở biên cương cho chệt qua  (1) Không thông hành giấy, chẳng Visa (2) Rồi đây nước Việt tràn lan chệt Hán hóa còn gì dân tộc ta !.              (3)   Mất nước không nguy bằng mất dân Còn dân, còn lấy lại non sông Mất dân, nước mất, không ngưòi lấy Diệt chủng chao ôi! giống Lạc Hồng  ./.                 TTX, Montreal , 9-12-2009   (1) Chệt =  người Tàu vô đạo có đầu óc xâm lược đáng khinh  (2) Visa =  chiếu khán  (3) Hán hóa = Sau khi nhà Tần bị diệt, Tàu Hán QuÓc Gia 107


thôn tính lãnh thổ Trung Hoa. Tây Tạng, Nội Mông, Mãn Châu và nhiều dân tộc khác bị bọn Tàu Hán đồng hóa, diệt chủng                Kính họa    CHA CHUNG AI KHÓC?   Nước nhà chẳng khác chảo dầu sôi. Biên giới giao Tàu trả nợ rồi, Đánh cá biển Đông nay bị bắt; Vì chưng biển thuộc Tàu phù hôi.   Tây Nguyên dân chúng đã đi rồi. Ở lại làm chi cám cảnh thôi! Hôi thối và thêm lắm chướng mắt, Tiếng Tàu xí xộ khắp nơi nơi!   Đầu nguồn rừng cội cho Tàu thuê. Năm chục năm dài ai chẳng mê? Tiền bạc chia nhau sung sướng thế! “Cha chung ai khóc?” đúng không chê.   Nguyên nhân chịu lép lũ Tàu phù. Nguồn gốc là vì cách mạng thu. Thu ấy mang về chủ nghiã cộng, Dương danh nhuộm đỏ rõ Hồ ngu!   Chót lao nên phải phóng theo lao; Cách mạng mùa thu, cách mạng nào Phải giết dã man dân thất học, Ngõ hầu người giỏi khỏi lao xao?   Một mình múa gây vườn hoang mà, Đối lập đâu còn để kiểm tra! Chống Pháp độc quyền Hồ cộng sản, Bắt tay với Pháp cũng Hồ ta.   Rồi sau chống Mỹ cũng Hồ ta, Vạn sự nhờ Tàu lần nữa mà. Năn nỉ nhờ nơi Tàu chệt đỏ, Sau này sẽ... gán đất ông cha!   Đầu têu bán nước là già Hồ. Ký giấy Đồng ta theo lệnh Hồ. Cứ thế đàn em hồ hởi bán Đất liền, biển rộng: quá hồ đồ.

  Tiền chia nhau gọn nhẩy tưng tưng.. Không đáy túi tham vẫn cứ lưng: Đất bán, biển dâng, rồi Bauxit; Chưa no nên đã tính qua rừng.   Đàn anh ăn bẫm, đàn em theo, Không lẽ cam đành dại quá heo. Tiền có mùi đâu mà sợ bẩn, Ăn trong quần chúng đều chui theo.   Trên ăn, dưới đớp đều như nhau. Nước Việt tan hoang bởi lũ sâu. Sâu bọ làm người là thế đó! Dân đành cam chịu dẫu là đau!.   Chẳng nên cam chịu hỡi dân ta! Ta chẳng giúp ta ai giúp ta? Đoàn kết vùng lên mà chiến đấu, Mới mong hồi phục được quê cha.   Đời người muốn để lại thanh danh. Sống nhục sao đành mà quẩn quanh “Trâu chết để da, người để tiếng” Phục hồi tổ quốc chết vinh danh!   Trong ngoài toàn thể hãy vùng lên! Vì nước, vì dân cùng tiến lên; Tỏ mặt anh hùng dân nước Việt Phục hồi tổ quốc tự do liền./.  

Dzoãn Thường

NGÀN NĂM THĂNG LONG

   Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long Nhớ thời Vua Lý thêm đ au lòng Năm mươi tư Rồng rơi nước mắt Tiễn dân miền Bắc ra biển Đông   Tết Mậu Thân đỉnh cao tội ác Gia Hội chôn sống Huế điêu tàn Khe Đá Mài Phú Thứ Đồi Cát Thương xót dân Rồng cũng chịu tang   Sau Đà Nẵng Sài Gòn thất thủ

QuÓc Gia 108


Di tản vào châu thổ Cửu Long Bảy mươi lăm Rồng không về nữa Bay với thuyền nhân ra biển Đông    Đại La thành dựng tượng Lê Ninh Bá Bạch Quân Thủ Đức hành hình Ven sông Hồng dân oan đói khổ Rời Hoa Lư về núi Chí Linh   Nam Quan mất Chi Lăng bỏ ngỏ Bát men Ngọc Lý cống Bắc triều Hà Hồi im tiếng trống Ngọc Lũ Bản Giốc thác buồn nghe quốc kêu   Lê Chiêu Thống thờ trong Văn Miếu Mưa Hồ Gươm mặn cát Hoàng Sa Sóng Bạch Đằng khóc voi Trưng Triệu Cao Nguyên rước Mã Viện vào nhà   Bịt mắt bưng tai giam tiếng nói Uốn bút đẽo lưỡi giả bồ câu  Tẩy não buộc con người gian dối Vệ binh Mao quý hơn đồng bào   Ai rao bán trẻ con phụ nữ Thế giới nhìn Việt Nam hôm nay Xuất cảng lao nô đảng tỉ phú Quan tham ô bắt dân kéo cày   Án tù chồng chất tội yêu nước Công lý phi nhân luật bạo quyền Phá nghĩa trang đấu tố liệt sĩ Địa ngục chết còn muốn dựng lên   Gió đông buốt lạnh tù Thanh Cẩm Hỏa Lò nóng cháy rừng U Minh Long Khánh Hàm Tân qua Suối Máu Ba Sao Thanh Liệt tới Hoàng Liên   Từ chốn lưu đày nhớ Thăng Long Bà Huyện Thanh Quan cũng đ au lòng Nhớ bạn tù chết trong ngục tối Nhớ người thân mất tích biển Đông   Từ Ngô Quyền tới Trần Hưng Đạo Bao thế hệ bồi đắp cõi bờ Có Lê Lợi Nguyễn Trải Nguyễn Huệ

Và Nghĩa Sĩ Việt Nam Tự Do   Trương Định Đề Thám Phạm Hồng Thái Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu Nguyễn Thái Học Cô Giang Cô Bắc Nguyễn An Ninh và Tạ Thu Thâu   Nguyễn Trung Trực Kiên Giang Nhựt Tảo Ngụy Văn Thà chết cho quê hương Mơ Rồng về bay ngang quần đảo Mơ Gánh Hàng Hoa khắp nẽo đường   Cảo thơm hương sắc vườn Văn Hiến Chu Văn An và Lê Quý Đôn Sương Nguyệt Ánh và Đoàn Thị Điểm Nguyễn Du Đồ Chiểu Hồ Xuân Hương   Hà Nội không chỉ nhớ Thăng Long Nhớ Sài Gòn Huế nhớ Hải Phòng Nhớ Công Nhân Thanh Nghiên Thanh Thủy Anh chị em bạn tù bất công   Bà Mẹ nói con tôi vô tội Khi điểm mặt đảng xã hội đen Uất ức biển ta ơi con viết Quân sát nhân thái thú ngụy quyền   Nửa thế kỷ ngồi canh ngọn nến Dung nhan em có bớt hao gầy Từ buổi kinh đô bị giặc chiếm  Cành Nam bốn mùa chẳng đổi thay   Hà Nội con tin nhìn qua đêm Trăng xưa thôi chải tóc trước thềm Quanh Trụ Đồng công an tuần rảo Em ơi Chim Việt có bình yên   Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long Biết Vua thời Lý cũng đ au lòng Người đi dưới ánh sao Khuê đó Vững tin nơi Hồn Thiêng Núi Sông.   Nguyên Hoàng Bảo Việt *    * hội viên Trung Tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong,       Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại QuÓc Gia 109


và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc ở Genève (Thụy Sĩ). Genève tháng giêng 2010 GỬI SÚNG CHO TAO Nguyễn Cung Thương, Sàigòn, VN  Tao cụt một chân một tay, Nhưng còn một tay Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt Nghe nói ở xứ người chúng mày “cày” như trâu Nhưng không quên đồng đội Chia đôla cho chúng tao, như chia máu ngày nào Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng! Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu..   Có điều tao không thể hiểu Bao nhiêu năm qua Chúng mày cứ mãi dặn dò Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động Liệu chúng mày có thể hoà hợp được không Với lũ kênh kênh hổ báo Những con thú cực kỳ giầu có Mang “ thẻ đỏ , tim đen “ Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ Với quan thầy cung cúc tận tụy Quay về đàn áp dân đen Chúng đóng đinh Jesus lần nữa Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư quản lý chùa   Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ Nên biết rõ từng tên đại ác Trên bàn tiệc máu xương dân tộc Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh! Chúng ta sẽ tỉa từng thằng Đất nước cần nhiều “quốc táng” Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này Còn có chút sáng láng hơn   Hãy gửi tiền cho những nhà tu Để họ mở cửa nhà tù Còn chúng tao là chiến sĩ

Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh   Nguyễn Cung Thương, Sàigòn, VN   QUÀ GỞI CHO ANH  (Đáp bài GỞI SÚNG CHO TAO” của Chiến Sĩ Nguyễn Cung Thương- Việt Nam)   Anh Nguyễn Cung Thương ơi Đọc thơ anh mà tôi bật khóc Bởi những lời thơ trào ra từ tim, từ óc Hiếm hoi hơn châu ngọc Nhưng lại sắc như dao Anh nhắn bạn rằng:  “Gởi Súng Cho Tao!” Bởi anh thấy Việt Nam hơn tám chục triệu đồng bào Đang khốn cùng dưới bàn tay ác quỉ Anh cần súng vì anh là chiến sĩ Yêu quê hương trong dũng cảm, tự  hào ... Ôi, đó tiếng thơ hay lời sông núi thét gào Mà mạnh hơn triệu lần phòng không, đại bác ??? Và thơ đã hoá thân Vượt ngoài vùng kiểm soát Để biến thành quân hành, điệu nhạc Làm muôn người, dòng nhiệt huyết trào dâng ...   Anh chiến sĩ ơi Từ dạo quê đau bởi lũ vô thần Lần thứ nhất tôi được cười trong hân hoan mắt lệ Tôi vẫn nghĩ rằng Việt Nam phải có ngày vượt qua dâu bể Và Đống Đa sẽ thắm lại mùa Xuân Nhưng tôi gởi chi ... Vì thứ anh cần Lại chưa hẳn đã là điều nhất thiết Bởi thưa anh Không súng đạn nào mạnh hơn lòng dân đoàn kết Không bạo lực nào giết được niềm tin Không sự thật nào mãi mãi bị vùi quên Vì khi tám chục triệu người Việt Nam đồng loạt vùng lên Thì bạo quyền phải tan thành bụi đất Quà gởi anh ư ?

QuÓc Gia 110


Món quà cần nhất Là TRÁI TIM VIỆT NAM YÊU QUÊ HƯƠNG NỒNG NÀN CHÂN THẬT  Của giống Tiên Rồng Chứa đầy máu đỏ Chứa tình người Việt Nam ngoan cường, gắn bó Để anh tặng khắp ba miền Bởi đến lúc Cán bộ, công an tỉnh giấc thụy miên Quân đội, người tu, trí thức Công nhân, đảng phái, sinh viên Cùng dân lành toàn quốc Đập tan bánh vẽ bùa mê Cả những cán binh đảng thải họ về Cũng đem mớ huy chương vứt vào sọt rác Đã đến lúc Người nắm tay người cất cao tiếng hát Tiếng hát Tự Do, Hạnh Phúc, Nhân Quyền Lá bùa bác Hồ sẽ chẳng còn thiêng Đảng  và đoàn cũng không còn âm hưởng Những oan hồn từ lâu vất vưởng Cũng cười vui trên cõi thiên đường Đã đến rồi Ngày hoàng đạo của quê hương Ngày thực sự ấm no, công bằng hạnh phúc Không đổ máu và không bằng bạo lực Mà bằng đoàn kết, niềm tin Bằng tám chục triệu con người có những trái tim Như anh, kiên cường, bất khuất Và yêu quê hương Việt Nam trung thành,chân thật...   Phải không, anh Nguyễn Cung Thương ?!  

Ngô Minh Hằng    

GỬI CHỊ HẰNG & ANH THƯONG xin bà con bên đó phóng sinh chúng tôi! anh Cung Thương: “gởi súng cho tao!” (1) chị Ngô Minh Hằng: “xin gởi trái tim!” (2)  anh chị! Hằng Thương mến, thơ anh, thơ chị nấu chín nỗi đau tôi nhưng mà,

tôi dị ứng súng đạn lấy gì chia cái anh đòi tim tôi sợ đòn roi, quắt như cau khô, làm sao theo chị? Sài Gòn bụi bậm pha son phấn, lừa mị tương lai Hà Nội ngột ngạt, phẫn nộ, cuộc hiếp dâm quá dài thơ anh, thơ chị làm tôi mất ngủ đêm thao thức, ngày thơ thẩn, tôi tự nhủ… ba gói mì ủ trong túi cả tuần rồi đến chỗ dân oan, vài chục người ngơ ngác, họ khác gì tôi chợt trong đầu “đàn bò vào thành phố…” tôi điên lên, quên sợ ba gói mì đến tay họ, vượt bọn công an khiếp như vừa quăng lựu đạn ơ! tôi có gì vi phạm? thưa anh Thương, làm như tôi vừa chia thuốc nổ với những người tôi hằng thương hằng nhớ thưa chị Hằng hãy mua dùm tôi một rổ cau khô thật tốt tháng 9 này tiền đình Liên Hiệp Quốc trái tim chúng tôi đó, nắm cho chặt, xin chị giúp chúng tôi từng quả một ném thẳng vào mặt nó! ném thẳng vào mặt nó! xin bà con bên đó mỗi người một quả! phóng sinh chúng tôi! phóng sinh chúng tôi! triệu trái tim ở nhà sẽ cởi trói mở ra đón mặt trời mùa tự phát! mùa tự phát! không cần xe tăng tàu bò cho ngày toàn dân ca hát cả nước vũ trang: mỗi nắm tay là súng, mỗi trái tim là đạn đồng loạt xông trận: những vòng tay ngập hoa tươi, những nụ cười tràn nước mắt, ngày vui! bà con ơi! trong ngoài đồng khởi!

Sàigòn, Văn Quảng Tái bút: xin gởi riêng Cung Thương hãy dành máu, dành đạn sẽ có ngày tôi cõng, anh bắn khi tổ quốc phát lệnh: Bản Giốc! (3) QuÓc Gia 111


(1) Bài thơ “Gởi Súng Cho Tao” của thương phế binh Nguyễn Cung Thương http://www.vietvusa.com/RelativesDetail. aspx?NewsID=1378 (2) Bài thơ “Gởi Quà Cho Anh” của nhà thơ Ngô Minh Hằng http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/ anmviewer.asp?a=65126&z=12 (3) Cảm tưởng của người phổ biến: Theo thông lệ, một bài thơ được gửi đi, quyền hiểu tùy thuộc mỗi người đọc. Qua bài thơ này, ta thấy tác giả mong muốn mọi người biểu dương tình yêu quê hương dân tộc, sức mạnh quần chúng một cách tương đối ôn hòa bất bạo động. Vũ khí mà tác giả chủ trương chỉ là: “ mỗi nắm tay là súng, mỗi trái tim là đạn”. Tuy nhiên người làm thơ cũng biểu lộ lòng căm phẫn tột độ của đồng bào đối với kẻ cầm đầu bè lũ cai trị độc ác, ức hiếp người dân đến tận xương tủy bằng một hành động biểu trưng: “ từng quả một, ném thẳng vào mặt nó!”. Tác giả chỉ chấp nhận bạo lực súng đạn khi cần phải chống lại ngoại bang để bảo vệ lãnh thổ, “khi tổ quốc phát lệnh: Bản Giốc! “ ĐỌC THƠ GỞI SÚNG CHO TAO Áo cơm trả nợ xứ người ! Nhiều đêm ôm hận ngậm ngùi chuyện xưa . Dở dang giấc mộng sông hồ . Quê hương bỏ lại bạn giờ nơi đâu ?? Tạm dung xứ lạ đã lâu . Đọc thơ “GỞI SÚNG CHO TAO “ càng buồn !! Nhìn mình tóc đã pha sương ! Mộng xưa ấp ủ trong lòng mà thôi . Bạn xưa vẫn nhớ từng người . Nhớ rừng , nhớ núi ,nhớ nơi tiền đồn . Nhớ đêm nhìn hỏa châu buông , Nhớ thằng nằm xuống tuổi còn thơ ngây ....!! Bao năm chiến đấu miệt mài Bổng dưng một phút buông tay bất ngờ ! Nhiều thằng xứ lạ ngẩn ngơ ! Nhiều thằng tàn tật bơ vơ quê nhà ! Riêng anh anh vẫn thiết tha Mảnh đời còn lại xót xa dân mình . Giận cho một lũ gian manh , Đè đầu cỡi cổ dân lành bấy lâu Làm thơ GỞI SÚNG CHO TAO ,

Lời thơ anh viết biết bao ân tình Tôi giờ nghĩ lại phận mình Chí xưa đã nhụt ... Phận hèn xa quê , Ngày buồn theo nhau não nề Nhiều đêm chợt nhớ lời thề năm xưa Thơ buồn trang giấy ngẩn ngơ Tâm tình xin gởi bài thơ dãi bầy    Ẩn Danh MỘT THỜI OANH LIỆT ... “gửi súng cho tao “.... - bài thơ lẫm liệt (*). đọc đã bao lần ,  vẫn bồi  hồi  xúc  động , đòi hỏi bình thường mà vời vợi trăng sao , đòi hỏi bình thường như người lính năm nao ...                             *** đạn và súng là cơm ăn nước uống , là thiết thân của người mang áo lính , là vợ là con trên khắp ngả chiến hào .                        *** nhớ xưa tận lực thời trai trẻ , nào sá nguy nàn nơi tiền phương , nay , ờ...đất khách chân chùn bước , khí phách sa đà như khói sương , tôi nay lầm lũi như cây cỏ , thì đành cúi mặt với Quê Hương .                     *** ...Anh trở về bại tướng cụt chân...,(**) Anh trở về người lính cụt tay , ba mươi năm ... Anh đăng đàn dứt khoát : ...”gửi súng cho tao, tao có cách bóp cò “...                            *** Anh mong xoay chuyển cơ đồ , mà tôi, thôi đã nhạt nhòa cung thương , phế binh, Anh vẫn can trường, mà tôi, lạc lối ngàn phương xứ người , liệt , còn - chỉ thiếu - oanh , thôi ... ( *** ) L.K. EM GÁI BA MIỀN Nàng là em gái Bắc Kỳ, Trâm anh, đài các, kiêu kỳ, đoan trang , Ngồi bên song cửa mơ màng, Gió chiều mơn trớn, má nàng hây hây . Nhìn em một thoáng ngất ngâỵ

QuÓc Gia 112


Chúc em đời sống tràn đầy mộng mơ .

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

Mơ về em gái Nội Thành, Nắng chiều nghiêng nón nửa vành nên thơ, Mắt em là cả trời mơ, Trắng trong màu áo, ngây thơ, ngoan hiền . Chúc em giấc ngủ bình yên, Mộng lành an giấc, ưu phiền bay xa .

Thơ vui : QUẢNG CÁO TÌM VỢ Trai độc thân chưa một lần bỏ dzợ ... Tìm bạn đời để trao đổi dzăn thơ, Nếu hợp nhãn sẽ tiến tới ... hổng chờ Xin thành thực, đừng làm tui ... đau khổ .

Em là em gái Ninh Kiều, Áo màu tha thướt, bến chiều ven sông, Nhịp chèo khoan nhặt trên dòng, Giọng hò êm ái ru lòng khách mơ . Thương em, bao kẻ mong chờ, Chúc thuyền em đến bến bờ yêu đương .

Vì .... bởi Tối hôm qua nghe mẹ già than thở “Từng tuổi nầy mà chưa có con dâu Lỡ mai đây khi mỏi gối bạc đầu Không cháu nội thiệt tuổi già quạnh quẽ”

Em là thôn nữ miền Tây, Mặn mà, duyên dáng, tóc mây tơ trời . Bát cơm, chén nước, đón mời, Mời anh dừng bước, đôi lời em thưa, Thưa rằng, chẳng ngại nắng mưa, Nhà tranh, mái lá, chỉ ưa tấm lòng . Chúc em tròn mộng tơ hồng, Gặp người trong mộng, quạt nồng lửa hương . Giửa lòng rừng núi trung nguyên, Có người em gái mắt huyền mộng mơ . Cao nguyên mưa bụi, sương mờ, Nặng tình lưu luyến đợi chờ nắng xuân . Chúc em giọt nắng đầu xuân, Hoa lòng rộn nở, bâng khuâng tình đầu .

Thấy mẹ buồn, lòng anh đau như xé Nên quyết lòng đi kiếm “ghệ” mau mau Liều thân trai ở giữa chốn vàng thau Mười hai bến nước, trong nhờ, đục .. CHẠY .. :-) Anh giỡn thôi mà, em đừng áy náy Anh rất ga-lăng, tử tế, đàng hoàng Hồi xa xưa cũng có lúc đi hoang Giờ tu tỉnh, ăn chay ... nhưng ngủ MẶN! (Oops!) Nhan sắc anh không chim sa cá lặn Nhưng cũng được khen là khá bảnh trai Tính lẳng lơ, hay chọc nguyệt trêu mai Nhưng đã thương ai thì thương chết bỏ

Biển chiều mây nước miên man, Em ngồi mạn lưới dưới hàng thùy dương . Nhấp nhô trên sóng đại dương, Thuyền anh thấp thoáng, nắng vương chiều tà . Chúc em đời sống dung hòa, Biển đời trầm lặng, mặn mà lứa đôi . Tôi là lữ khách bên đàng, Nhấp chung rượu ấm, mơ màng, bâng khuâng , Sông hồ nặng bước trầm luân, Dừng chân quán vắng, đêm xuân gió nồng, Mơ về một phía trời Đông, Những người em gái má hồng môi son . Chúc em đời sống vuông tròn, Bàn tay xây dựng nước non ba miền .

Anh ham học, giỏi mần ăn, chịu khó Hay giúp người dù nghèo rớt mồng tơi Biết nhún nhường nhưng cũng rất chịu chơi Rất sáng dạ dù hơi hơi ... tửng tửng! Hạnh phúc này là do mình gầy dựng Anh không tin vào tuổi hạp, số hên Tình có keo sơn, nghĩa có chặt bền Đều khởi sự bằng phút đầu bỡ ngỡ Nếu có ai nghe qua mà hổng ... sợ Xin thư về địa chỉ ở dưới đây (your email address here) * Hứa hồi âm mặc kệ chóng hay chầy Trai cô đơn tìm dzợ hiền ... cho mẹ

QuÓc Gia 113


Báo Quốc Gia số 125  

Báo Quốc Gia số 125

Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you