Issuu on Google+

L-u hµnh néi bé

TH¤NG TIN THAM KH¶O C«ng ty cæ phÇn ph¸t triÓn dÇu khÝ viÖt nam 23 - l¸ng h¹ - ba ®×nh - Hµ Néi

Website:www.vinapetro.com

Số 01 ngày 01/02/2013 Trong số này có những bài: Trang

TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ TRIỂN VỌNG GIÁ DẦU NĂM 2013

2 24


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ 1. Các khái niệm chung Nếu nền văn minh nhân loại được phân chia theo dạng năng lượng sử dụng thì giai đoạn cuối thế kỷ 19 và dự báo đến hết thế kỷ 21 có thể được gọi là kỷ nguyên dầu khí, một kỷ nguyên có tốc độ phát triển thần tốc, đưa loài người bước vào trình độ phát triển mà trước đó chưa từng biết. Trong thuật ngữ thông dụng quốc tế, dầu khí được gọi là petroleum (dầu khoáng) hoặc oil and gas (dầu thô và khí đốt tự nhiên), hai thành phần chủ yếu của loại nguyên liệu năng lượng này. Trong phần tiếp theo chúng tôi vẫn dùng thuật ngữ dầu thô để chỉ các hydrocacbon tự nhiên ở thể lỏng, chứa từ 5 nguyên tử cacbon trở lên, còn khí đốt tự nhiên hoặc khí tự nhiên thì được gọi vắn tắt là khí hoặc khí đốt, chúng chứa từ 1 đến 4 nguyên tử cacbon và ở thể khí trong điều kiện khí quyển.Thành phần hóa học trung bình của dầu khí gồm (theo Levorsen,1967): Dầu thô

Khí đốt

Cacbon (C)

82-87%

65-80%

Hydro (H)

12-15%

1-25%

Lưu huỳnh(S)

0,1-5,5%

0-0,2%

Nitơ (N)

0,1-1,5%

1-15%

Oxy (O)

0,1- 4,5%

0%

Một số tạp chất kim loại vi lượng khác cũng có thể tồn tại trong dầu. Trong quá trình dầu được sinh ra, hydrocacbon ban đầu có trọng lượng phân tử rất lớn, chứa đến trên 40 nguyên tử C, sau đó dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất lớn và có thể cả một số tác nhân khác chúng bị phân rã thành các hydrocacbon nhẹ vì thế thành phần dầu rất đa dạng. Theo cấu trúc phân tử, dầu thô chia làm 4 nhóm: parafin, napthen, aromatic và atphaltic. Những hydrocacbon chỉ có những cầu nối đơn giữa những nguyên tử cacbon được gọi là hydrocacbon no . Nếu chúng chứa một hoặc nhiều cầu nối kép thì thuộc nhóm hydrocacbon không no. Phân tử parafin (còn gọi là alkan) chứa các chuỗi nguyên tử cacbon thẳng, thuộc nhóm hydrocacbon no, công thức tổng quát là CnH2n+2. Nếu phân tử parafin chứa dài hơn 18 nguyên tử cacbon thì được gọi là dầu thô loại sáp (waxy crude oil).

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

2


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

Napthen hoặc phân tử parafin vòng là những vòng liên kết nhau, thuộc nhóm hydrocacbon no, công thức tổng quát là CnH2n. Phân tử aromatic hoặc benzen gồm những vòng khép kín, thuộc nhóm hydrocacbon không no, công thức tổng quát là CnH2n-6. Chúng chứa 6 nguyên tử C hoặc nhiều hơn và qua quá trình chế biến chúng cho ra loại xăng có chỉ số octan cao nhất. Phân tử atphaltic chứa 40 đến hơn 60 nguyên tử C, có màu từ nâu đến đen, trong điều kiện khí quyển chúng ở trạng thái rắn hoặc nửa rắn. Dầu thô được mô tả theo tỷ trọng và phổ biến nhất theo thang tỷ trọng do Viện Dầu Khí Mỹ (API) lập, thường gọi là độ API. Công thức tính độ API như sau: o

API = ( (141,5/trọng lượng riêng ở 60o F) -131,5); oF = 9/5oC+32; oC=5/9(oF-32)

Nước tự nhiên có oAPI =10, dầu thô có độ API từ 5 đến 55, dầu nhẹ có oAPI=35 đến 45, dầu nặng có oAPI nhỏ hơn 25. Dầu thô chứa phần trăm trọng lượng lưu huỳnh (S) nhỏ hơn hoặc bằng 1 được gọi là dầu ngọt, nếu lớn hơn 1 thì thuộc loại dầu chua. Dầu chuẩn (benmark crude oil) là dầu được chọn làm chuẩn để so sánh các loại dầu khác nhau trong công tác định giá dầu. Trên thế giới hiện nay, dầu Brent ở Biển Bắc (Anh quốc) và dầu nhẹ Mỹ WTI được chọn làm dầu chuẩn. Mỗi khu vực có thể chọn một hoặc vài loại dầu chuẩn khác nhau. Khối lượng sáp trong dầu thô được thể hiện qua điểm chảy (pour point). Điểm chảy của dầu nằm trong khoảng -75oF đến 104oF (-60oC đến 40oC). Điểm chảy càng cao thì dầu càng chứa nhiều sáp. Điểm mù (cloud point) là điểm mà nhiệt độ tại đó lần đầu tiên có hiện tượng kết tủa trong chất lỏng khi nó được làm lạnh. Đối với dầu thô đó là nhiệt độ lần đầu tiên dầu có dạng mây mù, thường là do có sự hình thành parafin rắn. Điểm mù thường cao hơn điểm chảy từ 2 đến 5oF (1-3oC). Dầu thô thường được đo bằng thùng (barrel), một số nước còn đo bằng tấn. Một thùng bằng 0,159 m3 hay 159 lít (tương đương 42 gallon Mỹ hoặc 34,97 gallon Anh). Khí đốt sạch gồm các loại hydrocacbon chứa từ 1 đến 4 nguyên tử cacbon: methan (CH4), ethan (C2H6), Propan (C3H8),butan (C4H10). Trung bình, khí đốt chứa khoảng 90% methan, 5% ethan, 2%propan, 1% butan. Khí propan, butan hoặc hỗn hợp propan-butan tồn tại dưới dạng dầu lỏng khi được nén nhẹ gọi là khí dầu hóa lỏng hay LPG (liquefied petroleum gas), ta quen gọi là khí gas. Trong khí đốt thường có chứa một ít khí không cháy, gọi là khí trơ, thường gặp là CO2, nitơ, heli, hydrogen sulfit (H2S). Cũng như dầu thô, khí chứa H2S vô cùng ít gọi là khí ngọt, ngược lại là khí chua. Khi đưa vào đường ống dẫn, khí H2S thường được xử lý loại

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

3


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

bỏ để khỏi ăn mòn ống thép. Khí hòa tan trong dầu hoặc đi kèm với dầu trong quá trình khai thác gọi là khí đồng hành, khí không dính líu tới dầu trong mỏ gọi là khí không đồng hành (nonassociated natural gas). Theo thông lệ quốc tế, Tỷ số khí-dầu (producing gas - oil ratio; GOR) của một giếng khai thác là thể tích khí (tính bằng feet khối) trên một thùng dầu khai thác trong điều kiện nhiệt độ-áp suất trên mặt đất. Cơ quan quản lý nhà nước có thể phân loại giếng khai thác theo GOR. Thông thường được gọi là giếng khí khi GOR lớn hơn 150.00, còn giếng dầu thường có GOR nhỏ hơn 15.000. Ở một số nước thì GOR được tính như tỷ số giữa thể tích khí và thể tích dầu, đo theo hệ mét. Trong một số mỏ, trong điều kiện nhiệt độ cao, hydrocacbon lỏng chuỗi ngắn (chứa 5-7 nguyên tử C) tồn tại dưới dạng khí. Khi khai thác lên mặt đất, nhiệt độ hạ thấp, chúng lại trở lại dạng xăng lỏng tự nhiên, được gọi là condensat. Khí không chứa condensat gọi là khí khô, ngược lại gọi là khí ẩm hoặc khí ướt. Condensat cùng vói butan, propan, ethan có thể lấy ra khỏi khí đốt và chúng được gọi chung là các chất lỏng của khí tự nhiên (natural gas liquids; NGL). Khí methan bị nén và làm lạnh đến -167oC trở thành lỏng, gọi là khí hóa lỏng (liquefied natural gas; LNG). Còn bằng công nghệ chuyển hóa khí thành nhiên liệu lỏng thì gọi là GTL (gas to liquids). Trong giới không chuyên về dầu khí rất hay lẫn lộn giữa LPG, condensat, NGL, LNG, GTL. Trên thị trường thế giới, khí đốt thường được đo bằng đơn vị 1000 feet khối, ký hiệu bằng Mcf. Vì khí thường bị co giãn phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất nên phép đo được tiến hành hoặc được chuyển về những điều kiện vật lý chuẩn , quy định bằng luật. Nếu điều kiện đó là 60oF và 14,65psi (15oC và 101,325 kPa) thì đơn vị feet khối đó được gọi là feet khối chuẩn (scf; standard cubic feet). Với khối lượng lớn người ta phải dùng các đơn vị bội như triệu feet khối (MMcf), tỷ feet khối (Bcf), nghìn tỷ feet khối (Tcf). Đơn vị đo nhiệt lượng của Anh Quốc gọi là Btu (British thermal unit), 1 Btu bằng nhiệt lượng cần để nâng một lượng nước nặng một pao (453,6 gam) lên 1oF. Một foot khối khí thường tương đương khoảng 900 đến 1200 Btu, tùy theo chất lượng khí. Trong ngành công nghiệp khí người ta thường hiểu 1000 Btu nhiệt bằng 1 foot khối. Trong hệ mét, khí đốt thường đo bằng met khối, 1 m3 bằng 35,315 cf còn nhiệt đo bằng kiloJoul. 1 kiloJoul bằng 0,947 Btu. Một m3 khí đốt tương đương 1 MJ (mega Joul = 1 triệu J) một thùng dầu thô tương đương khoảng 6,1 GJ( giga J= 1 tỷ J). Lượng Btu trong một thùng dầu loại trung bình tương đương với nhiệt lượng tính bằng Btu trong 6040 feet khối khí loại trung bình (1 ft3 = 0,02832 m3) nên gọi 6040 cf hay 169 m3 khí này là một thùng dầu tương đương(BOE) hay thùng dầu quy đổi. Vì vậy với loại dầu trung bình, 6 thùng nặng khoảng 1 tấn nên trong tính thô người ta lấy 1000 m3 khí bằng 1 tấn dầu tương đương.

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

4


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

Hiện nay tuy ý kiến còn khác nhau nhưng đa số nhà khoa học và quản lý năng lượng cho rằng dầu mỏ chỉ còn đủ dùng cho nhu cầu toàn thế giới khoảng 40 năm nữa và khí đốt thì khoảng 80 năm, bên cạnh đó hiện tượng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu càng ngày càng nghiêm trọng liên quan đến sử dụng nhiên liệu hóa thạch, do đó vấn đề tìm nguồn nhiên liệu thay thế nhất là các nguồn có thể tái tạo được đặt ra hết sức nghiêm túc. Tuy nhiên để có thể sản xuất công nghiệp quy mô lớn loại năng lượng này, những khó khăn về kỹ thuật, công nghệ, chi phí còn rất lớn nên dầu mỏ, khí đốt còn đóng vai trò chủ đạo trong ván bài năng lượng toàn cầu ít nhất là đến hết thế kỷ 21. Công nghiệp hóa là một quá trình không thể dừng, nhu cầu năng lượng/nhiên liệu ngày càng cao là tất yếu nên vấn đề đặt ra cho toàn nhân loại là giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực của năng lượng hóa thạch nói chung chứ không phải là loại bỏ dầu khí, nhất là các nguồn dầu khí phi truyền thống như đá dầu, khí than, khí phiến sét, hydrat…ra khỏi cán cân năng lượng toàn cầu như các phong trào bảo vệ môi trường cực đoan đang chủ trương. 2. Lịch sử tóm tắt công nghiệp dầu khí thế giới 2.1. Giai đoạn khởi đầu đến giữa thế kỷ 20 Dầu mỏ được nhân loại biết đến và sử dụng cách đây 5000 năm dưới dạng nguyên liệu xây dựng, thắp sáng, chữa bệnh hoặc làm vũ khí nhất là ở khu vực Trung Đông, Trung Á, nơi dầu chảy ra trên mặt đất hoặc dưới dạng bitum. Ở Châu Âu khí đốt và dầu mỏ đã được phát hiện ở Salsomaggiore (Italia), ở Transilvania (Rumani), ở Bacu từ thế kỷ 12, còn ở châu Mỹ các hồ hắc ín ở Trinidad, suối dầu ở New York cũng đã được ghi nhận từ thế kỷ 14,15. Ở châu Á, người Trung Quốc đã gặp dầu mỏ khi khoan tìm muối cách đây hơn 1700 năm và Myanmar, Indonesia đã khai thác dầu từ cuối thế kỷ 19. Năm 1854 Rumani khi khai thác được 275 tấn dầu thô từ các giếng khoan được xem là thời điểm mở đầu cho sự ra đời của công nghiệp dầu mỏ thế giới. Trong những năm nửa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 công nghiệp lọc dầu bắt đầu xuất hiện ở Mỹ gắn liền với tên tuổi các nhà khoa học-phát minh George Bissell, Benjamin Silliman, Abraham Gesner và ở Bacu với anh em nhà Nobel. Dầu hỏa/(dầu lửa hoặc kerosen) là sản phẩm chính của các nhà máy lọc dầu trong giai đoạn này. Chỉ sau khi phát minh ra động cơ đốt trong vào cuối thế kỷ 19 với sự xuất hiện của xe ô tô, tàu thủy chạy dầu, máy bay… thì nhu cầu về xăng, diesel, mazut, dầu mỡ mới tăng mạnh và nhân loại mới thật sự bước vào kỷ nguyên dầu khí. Từ đó trong lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến, phân phối, các công ty dầu khí lần lượt ra đời. Từ 1859, khi Drake khai thác dầu thương mại ở Titusville (Mỹ) đến 1960, năm thành lập khối các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC, ngành công

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

5


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

nghiệp dầu khí đã trải qua 4 giai đoạn phát triển. Trong giai đoạn 1859 đến 1870 ngành dầu được đặc trưng bằng sự cạnh tranh vô chính phủ, việc tìm kiếm, khai thác dầu hoàn toàn theo tính chập giật, may rủi chứ không theo một định hướng khoa học nào. Chính vì thế mà giá thành biến thiên trong một khoảng rất rộng, từ 1 đến 100 lần. Từ 1870 đến 1911 với việc thành lập công ty dầu Standard của Rockefeller, công nghiệp dầu khí Mỹ đi vào chiều hướng độc quyền. Rockefeller kiểm soát 80% ngành lọc dầu, 90% ngành vận tải bằng đường ống, tự quy định giá mua dầu thô, giá bán sản phẩm, trở thành vua dầu mỏ thế giới đầu tiên trong lịch sử. Năm 1911 bị tòa án Mỹ kết án theo một điều luật chống độc quyền, Standard phân chia thành 33 công ty độc lập nhưng vẫn dưới quyền kiểm soát của Rockefeller và sau đó một số công ty siêu quốc gia nổi tiếng ra đời như Exxon, Mobil, Socal (sau này đổi thành Chevron). Từ 1911 đến 1928 thị trường dầu khí được quốc tế hóa nên bước đầu trở lại hoạt động theo cơ chế cạnh tranh giữa các công ty lớn với nhau như Shell, công ty dầu Anh-Batư sau này đổi thành BP, Công ty dầu vùng Vịnh (Gulf Oil), Texaco, Standard Oil of New Jersey (Esso, sau này là Exxon), Socony-Mobil và Socal (Chevron). Sự cạnh tranh khốc liệt dẫn đến sự phá sản của các công ty nhỏ và sự liên minh độc quyền của các công ty lớn, được biết dưới tên gọi “Cartel 7 chị em”. Từ 1928 đến 1960 thị trường dầu mỏ thế giới được điều khiển bằng các điều khoản thỏa thuận giữa Cartel 7 chị em nên hoạt động dưới dạng cạnh tranh có tổ chức hoặc liên minh độc quyền. Năm 1928, 7 công ty lớn kể trên ký khế ước liên minh gồm các điều khoản bảo vệ lợi nhuận, kiểm soát 90% nguồn dầu thô và ¾ số nhà máy lọc dầu thế giới, còn Liên xô và các nước XHCN Đông Âu (sau 1945) có một thị trường riêng theo cơ chế bao cấp, phục vụ cho nhu cầu kinh tế của khối XHCN. Trong thời gian này Mỹ có 2 quy định đáng lưu ý, đó là điều luật quy định “vị trí đã đạt từ trước” của các công ty Mỹ ở nước ngoài được bảo lưu và “chính sách bảo tồn trữ lượng trong nước”, tức đẩy mạnh thăm dò, khai thác ở nước ngoài và hạn chế khai thác trong nước để duy trì nguồn năng l��ợng nội địa. Cartel đưa ra quy định giá dầu chung cho toàn thế giới để cho dầu thô “biên” khai thác trên đất Mỹ (tức là dầu khai thác trong những điều kiện khó khăn nhất, giá thành cao nhất) cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Hệ thống giá thống nhất này xác định quyền thống trị của Mỹ đối với thế giới dầu khí thông qua việc chấp nhận giá dầu yết bảng ở vịnh Mexic làm giá chuẩn thế giới. Với biện pháp đó, Mỹ tạo điều kiện cho các nhà sản xuất nhỏ Mỹ có đủ sức cạnh tranh ở nước ngoài, đặc biệt là xâm nhập vào Trung Cận Đông, nơi có chi phí thăm dò-khai thác rất thấp nên có thể thu được siêu lợi nhuận. Ông R. Stobaugh (Economica 1983) đã viết: ”Trung Cận Đông trở thành nơi quan trọng nhất trong cuộc ganh đua. Chiến lược của Mỹ đã đạt thành DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

6


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

công tuyệt vời ở đây, Mỹ đã loại bỏ Anh và ngăn chặn Pháp cải thiện vị trí còn rất khiêm nhường của họ ở vùng này. Từ giữa thế kỷ 19 đến 1950 các công ty Mỹ xuất phát từ con số không đã chiếm được vị trí thống trị trong một vùng nắm chìa khóa trong việc cung cấp dầu cho thế giới”. Đương nhiên sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học kỹ thuật của Mỹ đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong thành công của chiến lược nói trên. 2.2. Sự xuất hiện của các công ty dầu khí quốc gia Để tìm cách thoát khỏi sự khống chế của Mỹ, bảo đảm độc lập năng lượng nhất là trong khâu lọc dầu, phân phối và dần dần phát triển khâu thăm dò-khai thác, ở Pháp và ở Italia đã ra đời các công ty, các tổ chức nhà nước như công ty dầu khí Pháp (1924), Phòng nghiên cứu dầu khí (1945), ENI (1953). Các tổ chức này ký kết các hợp đồng với một số nước Trung Cận Đông với điều kiện ưu đãi nước chủ nhà hơn nhiều so với Cartel 7 chị em, ví dụ điển hình là ENI ký liên doanh với Iran, trong đó Iran được hưởng 75% lợi nhuận từ khai thác dầu thay vì 50% như trước đó. Điều này kích thích các nước có mỏ dầu đấu tranh giành quyền lợi bị các công ty siêu quốc gia chiếm đoạt và trên cơ sở đó OPEC ra đời. Các nước thuộc thế giới thứ ba chiếm giữ 2/3 trữ lượng dầu thế giới và phần lớn mới giành được độc lập ở các mức độ khác nhau sau 1945 nên trình độ khoa học kỹ thuật còn rất lạc hậu. Do đó cả thời gian dài và cả hiện nay công nghiệp dầu khí ở các nước này vẫn do nước ngoài, đặc biệt là công ty siêu quốc gia nắm giữ, họ chỉ nhận được một phần lợi nhuận và một số ít thuế. Hình thức hợp đồng trong giai đoạn đầu là tô nhượng, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty nước ngoài hưởng phần lớn thặng dư giá trị do dầu khí tạo ra. Đặc điểm hợp đồng tô nhượng lúc đó là diện tích rất lớn, thời gian cho thuê đất rất dài (50 đến 75 năm), chính quyền địa phương không có quyền kiểm soát hoạt động của các công ty dầu khí và nhận được một khoản thu nhập bé nhỏ từ quỹ đất cho thuê; quyền tài phán, tố tụng được giao cho các tòa án nước ngoài, xử theo luật của nước mà công ty dầu nước ngoài đăng ký vì hệ thống luật pháp của nước sở tại chưa có hoặc chưa hoàn thiện. Ý thức được sự thua thiệt, bất công, các nước dần dần có những biện pháp thu hồi quyền kiểm soát tài nguyên của mình như quốc hữu hóa tài nguyên dầu khí, thành lập các công ty dầu khí quốc gia; thay đổi nội dung hợp đồng tô nhượng; đưa ra các loại hợp đồng mới như phân chia sản phẩm (PSC), liên doanh, hợp đồng hợp tác điều hành hay thuê dịch vụ v.v.. Mexic là nước đầu tiên đã quốc hữu hóa ngành dầu từ năm 1938, lập công ty dầu khí quốc gia Pemex. Tiếp theo là Venezuela (1943) và sau 1950 hàng loạt các nước có dầu khí cũng đi theo đường lối này. Các công ty dầu khí quốc gia đều là công ty quốc doanh và là công cụ của nhà nước để thực hiện

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

7


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

chiến lược năng lượng của nước chủ nhà, làm nòng cốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như quản lý các hoạt động dầu khí của nước ngoài trên lãnh thổ của mình. Chính vì vậy mà bên cạnh những cống hiến lớn lao cho quốc gia, chức năng quản lý nhà nước thường lẫn lộn với chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh, dẫn tới những tiêu cực nhất là tệ hối lộ, tham nhũng. OPEC được thành lập ngày 15/9/1960, lúc đầu là giành quyền kiểm soát giá, sau đó là đề ra chế độ thuế và sau đó nữa là áp đặt sự kiểm soát của chính phủ nước chủ nhà đối với tất cả các hoạt động dầu khí trên lãnh thổ của họ, tiến tới điều khiển thị trường thông qua cơ chế tăng giảm sản lượng để tạo ra giá dầu theo mục tiêu kinh tế của mỗi quốc gia thành viên. Lúc đầu OPEC chỉ là một liên minh giữa các nước sản xuất dầu lớn, họ chiếm giữ 90% lượng dầu thô xuất khẩu ở thời gian đó. Đến năm 1982 nó trở thành một cartel với 13 nước thành viên, gần đây một số nước đã ra khỏi OPEC vì họ đã trở thành nước nhập khẩu dầu ròng (Ecuador, Gabon, Indonesia), một số nước khác ngoài OPEC có tiềm năng và sản lượng ngày càng tăng lại tham gia như trường hợp Angola. Từ 1960 đến 1973 chiến lược của OPEC chỉ là phòng ngự, họ đòi có giá yết bảng ổn định và quyền tham gia cổ phần của nước chủ nhà cũng như xác định mức thuế tài nguyên cùng các loại thuế khác cao hơn trước. Từ sau 1973 OPEC chuyến sang chiến lược phản công với những quyết định đơn phương nâng giá dầu chuẩn lên 4 lần trong vòng một tháng (từ 1,8 USD/thùng năm 1970 lên 2,9 USD/thùng năm 1973 và lên 11,65 USD, thùng ngay trong năm đó), vừa để khắc phục sự bất hợp lý trong giá dầu, giảm siêu lợi nhuận của các công ty dầu quốc tế vừa phục vụ như một vũ khí trong các cuộc chiến tranh vùng Vịnh vv… Các sự kiện này được biết dưới tên gọi là các cuộc khủng hoảng giá dầu trong lịch sử dầu khí. Trong các năm 1976-1978 tuy có giá yết bảng nhưng lại có giá bán chính thức thấp hơn giá yết bảng đi kèm. Từ 1979 đến 1981 với sự kiện cách mạng Hồi giáo Iran, Arập Xêut mất vai trò chỉ huy OPEC, tổ chức này lại trở lại chiến lược phản công, đưa giá dầu càng ngày càng cao sau các sự kiện chính trị - quân sự lớn trên thế giới. Điểm mạnh nhất của OPEC là nắm trong tay nguồn tài nguyên khổng lồ có thể đủ để chi phối lâu dài thị trường dầu khí thông qua quan hệ cung – cầu nhưng điểm yếu nhất là tính bất đồng nhất về quan điểm, về quyền lợi, về mối quan hệ với các nước tiêu thụ lớn, nhất là với Mỹ và Tây Âu cũng như tình hình chính trị - xã hội mỗi nước không giống nhau nên hành động không nhất quán, làm giảm sức mạnh của khối rất nhiều. Bên cạnh OPEC, các nước sản xuất dầu ngoài Opec cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng, nhất là Nga, các nước Trung Á, Brazil, Mexic, Canada, Nauy, Mỹ, Trung Quốc. Sản lượng của các nước này hoàn toàn bị chi phối bởi nhu cầu tài chính của họ và bị chi phối mạnh mẽ bởi quy luật thị trường. Giữa OPEC và khối DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

8


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

nước này không có quan hệ phối hợp nào với nhau mặc dù nhiều khi quyền lợi của hai nhóm nước đồng nhất với nhau. Với mục tiêu tạo dựng một liên minh theo kiểu OPEC cho thị trường khí đốt, gần đây đã ra đời khối hợp tác Thượng Hải, bao gồm Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Qatar và các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ nhưng cho đến nay chưa có vai trò gì lớn. Ngày nay một số công ty dầu khí quốc gia bắt đâu mở rộng hoạt động ra nước ngoài, nhất là các công ty/tập đoàn dầu khí Trung Quốc, Nga, Malaysia, Nauy, Ấn Độ, Hàn quốc, Nhật bản, Australia…, một số rất thành công nhưng nhìn chung kết quả còn nhiều hạn chế vì các khó khăn về vốn, kỹ thuật và nhân lực. 2.3. Sự xuất hiện nhóm các đại gia dầu khí mới Về mặt các tổ chức sản xuất-kinh doanh, bên cạnh các tập đoàn siêu quốc gia được biết dưới tên gọi “nhóm 7 chị em” hồi đầu thế kỷ 20 (nay đã sát nhập còn “4 chị em” là Exxon-Mobil, Chevron, BP, Shell) đã ra đời nhóm “7 chị em mới”, gồm Saudi Aramco (Arập Xeút), Gazprom (Nga), CNPC (Trung Quốc), NIOC (Iran), PDVSA (Venezuela), Petrobras (Brazil) và Petronas (Malaysia). Hầu hết các tập đoàn thuộc nhóm 7 chị em mới này là các công ty quốc gia thuộc sở hữu nhà nước, họ nắm giữ hơn 1/3 trữ lượng toàn cầu và khoảng 1/3 sản lượng hiện nay của thế giới. Ngược lại, nhóm “7 chị em cũ” chỉ sở hữu 3% trữ lượng và sản xuất được 10% sản lượng toàn cầu (OGJ/2010). Tuy nhiên nhờ cơ chế hoạt động tích hợp, sản phẩm hóa dầu và các sản phẩm khác cũng như dịch vụ rất đa dạng nên tổng thu nhập của nhóm này vẫn lớn hơn nhóm “7 chị em mới”. Lý do để nhóm cũ vẫn còn giữ được vị trí quan trọng là họ nắm được kỹ thuật cao, tiềm lực tài chính lớn, kinh nghiệm quản lý nhiều nên họ vẫn điều khiển được ngành dầu khí cũng như kiểm soát được một phần nhất định thị trường dầu nhưng vị thế này đang được thay đổi theo hướng chuyển dịch “quyền làm luật chơi” sang nhóm mới. Điều này có thể thấy rõ trong con số thống kê của Energy Intelligence Reseach (2010) sau đây: Công ty/Tập đoàn

Chủ trữ lượng (tỷ thùng)

Sản lượng dầu 2005 (triệu thùng

Saudi Aramco (Arâp Xêut)

252

10,5

IOC (Iran)

140

4,0

INOC (Irak)

110

1,8

PVSDA (Venezuela)

80

2,2

Petrochina (Trung Quốc)

10

2,1

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

9


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

Gazprom (Nga)

9

0,8

Petrobras ( Brazil)

8

1,8

Petronas (Malaysia)

7

0,8

Exxon-Mobil

10

2,2

BP

9

2,2

Chevron

7

1,8

Shell

6

2,0

Theo IEA trong 40 năm tới, 90% nhà cung cấp dầu khí sẽ đến từ các nước đang phát triển, khác với 30 năm qua khi 40% sản lượng sản phẩm dầu khí đến từ các nước công nghiệp hóa phát triển dưới quyền kiểm soát của nhóm 7 chị em cũ. Các tập đoàn dầu khí quốc gia đang tích cực vươn lên trong cuộc chạy đua của ngành công nghiệp dầu khí trên phạm vi toàn cầu. Hướng chủ yếu mà họ cố gắng chinh phục là kiểm soát nguồn tài nguyên trong nước cũng như một phần ở nước ngoài, tiếp thu công nghệ tiến bộ, đào tạo chuyên gia nội địa, phục vụ chương trình an ninh năng lượng trong nước cũng như an ninh nguồn cầu quốc tế. Tập đoàn lớn nhất trong nhóm mới là Saudi Aramco. Họ đặt mục tiêu đưa sản lượng hiện nay lên 12,5 triệu thùng/ngày trong vài năm tới, sau đó sẽ là 15 triệu thùng/ngày, tức là chiếm khoảng 15% nhu cầu toàn thế giới trong vài thập niên nữa. Tuy nhiên đây còn là một câu hỏi lớn vì trên thực tế, trữ lượng dầu xác minh của nước này chính xác là bao nhiêu không ai biết rõ, còn con số họ thông báo thì chứa nhiều yếu tố chính trị lẫn thủ thuật kinh doanh. Dù sao nếu làm được điều này thì Aramco có thể mở vòi dầu to khi giá dầu cao và thu hẹp vòi dầu khi giá dầu xuống dưới mức mà họ cho là hợp lý. Hiện nay dường như các công ty dầu quốc tế và các nước tiêu thụ dầu lớn đã bắt đầu chấp nhận vị trí của Aramco. Ảnh hưởng của các công ty dầu quốc gia khác cũng ngày một tăng. Không có công ty dầu khí nào làm cho các nước khát dầu khí ở Tây Âu và Đông Á bận tâm lo lắng nhiều hơn Gazprom. Là công cụ của chính phủ, công ty này tham gia trực tiếp vào các vụ tranh chấp giá dầu, giá khí giữa Nga và Ucraina, Balan cũng như các nước Tây Âu; thương thảo trên thế mạnh với Nhật và Trung Quốc về các đường ống dẫn dầu, dẫn khí xuất phát từ Siberia về phương đông; tăng cường ảnh hưởng của Nga trong các đề án dầu khí ở Trung Á cũng như ở Bắc Cực, ở Mỹ latinh và châu Phi ...vv. Trong lĩnh vực hạ nguồn, Gazprom cũng đang tăng cường sự hiện diện của họ trong thị trường châu Âu và tìm đường vào thị trường Mỹ. Tất cả 3 công ty dầu khí của DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

10


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

Trung Quốc đều tiến hành chuyển hoạt động đầu tư ra nước ngoài với sự hỗ trợ tối đa của Chính phủ. Petrochina, CNPC, SINOPEC là những công ty dầu lớn của nước này đang hoạt động trên hơn 20 quốc gia trải dài từ Azerbaijan đến Nam Phi và châu Mỹ với mục tiêu nắm càng nhiều càng tốt nguồn dầu khí của nước ngoài, bảo đảm dài hạn an ninh năng lượng của Trung Quốc. Gần đây các công ty này có biểu hiện chuyển hướng sang tìm lợi nhuận hơn là tìm cách làm chủ tài nguyên. INOC của Iran là một trong số ít công ty Trung Đông có tài sản dầu khí khổng lồ đang mở cửa cho các công ty nước ngoài, có quan hệ đối tác tốt với các công ty dầu Italia, Hà lan, Pháp, Nauy, Trung Quốc, Malaysia. Petrobras của Brazil nổi bật như một công ty dầu khí vùng nước sâu, họ hoạt động rất thành công không những ở trong nước mà cả ở vịnh Mexic và Tây Phi châu. Petronas là mô hình được nhiều nước đang tham khảo để vận dụng và Malaysia nằm trong tốp 3 nước đứng đầu xuất khẩu khí hóa lỏng LNG. PVDSA vẫn giữ vai trò quan trọng trong nguồn cung dầu thô cho Mỹ và là công ty có lập trường cứng rắn nhất trong OPEC trong đối thoại với các nước OECD. Gazprom, Petrochina, Petrobras, Petronas hiện nay luôn nhận được phần lợi nhuận càng ngày càng lớn hơn so với trước trong hoạt động dầu khí của họ. Tác động của chính phủ các nước đang phát triển gần đây đều đi theo hướng giành quyền làm chủ trong lĩnh vực dầu khí nội địa cho các công ty quốc gia của họ, một chủ trương mà Mexic đã mở đầu từ những năm 1930 của thế kỷ trước. Tháng 3/2007 Venezuela đã sửa đổi luật dầu khí để tạo cho PDVSA kiểm soát các mỏ dầu nặng lớn nhất hành tinh trong vành đai Orinoco, nơi Nga, Trung Quốc, Việt Nam cùng một số công ty dầu khí quốc tế và khu vực đang có những dự án liên doanh lớn ở vùng này. Ơ Nga, chính phủ cũng đã loại bỏ quyền kiểm soát của Shell trong đề án khí đốt có giá trị 20 tỷ USD ở Sakhalin, giao cho Gazprom phát triển mỏ khí ở vành đai Bắc Cực, chuyển các công ty dầu quốc tế trở thành nhà cung cấp dịch vụ và bổ sung nhiều điều luật gây khó khăn rất lớn cho sự xâm nhập của các công ty dầu nước ngoài vào địa bàn Nga. Đó là những ví dụ điển hình của cái mà các nước phương tây gọi là chủ nghĩa dân tộc trong dầu khí. Khuynh hướng này cũng tác động làm cho các công ty dầu quốc tế thay đổi chính sách của họ như chuyển đối tượng đầu tư sang các vùng nước sâu, các vùng có điều kiện địa chất-địa lý khó khăn để khai thác lợi thế kỹ thuật-tài chính của họ cũng như hưởng các điều kiện ưu đãi của các nước chủ nhà; rút bỏ các đầu tư nhỏ, phân tán để tập trung vào các vùng quan trọng, các mỏ lớn; nhận làm dịch vụ cho các công ty quốc gia...vv. Công ty dầu quốc tế Gulf, một DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

11


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

trong nhóm 7 chị em cũ chuyển toàn bộ vốn đầu tư ra khỏi các nước đang phát triển để quay về hoạt động ở Bắc Mỹ ...vv. Một thực tế khác là trong mười năm trở lại đây các công ty dầu rất khó tìm ra mỏ lớn mới ở các vùng dầu khí cũ ngoại trừ mỏ Kashagan của Kazahstan, điều này cũng đã góp phần tạo ra chủ trương nói trên. Những nước có nguồn tài nguyên dầu khí còn dồi dào thường không chú ý đầu tư phần lợi nhuận từ dầu trở lại vào ngành dầu vì nhiều lý do chủ quan lẫn khách quan. Thay vào đó họ dùng nguồn tiền này cho các dự án xã hội hoặc các ngành công nghiệp khác để phát triển kinh tế-xã hội theo luật “sử dụng nguồn thu từ dầu khí” mà hầu hết các nước sản xuất dầu thô, khí đốt đều có và do quốc hội ban hành để ngăn chặn sự tùy tiện của những thế lực cầm quyền. Cũng cần nhắc lại rằng theo một phân loại của tổ chức Minh Bạch Thế Giới thì ngành dầu được xếp đứng thứ 5 trong danh sách các tổ chức có nạn tham nhũng lớn, nên ở một số nước không ít phần tiền thu nhập từ dầu khí không phục vụ cho quốc kế dân sinh của nước chủ nhà. Đó là những nguyên nhân hạn chế phát triển ngành dầu khí thế giới vì không có tiền để thay thế các thiết bị hư hỏng, không đổi mới được công nghệ, không mở rộng được địa bàn hoạt động và nhân dân một số nước có nhiều dầu vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ. 2.4. Cuộc chạy đua kiểm soát dầu.  Trung Á. Trung Á được hiểu là khu vực bao gồm 6 nước: Kazakhstan, Kưrgưstan, Takjikistan, Turkmenistan, Uzbekistan và Afganistan, có chung biên giới với Nga, Trung Quốc, Pakistan, Iran và là một trong những khu vực nắm giữ một phần đáng kể nguồn năng lượng còn lại của thế giới cũng như có vai trò chiến lược quan trọng trong cuộc chạy đua giữa các nước lớn. Trữ lượng dầu khí Trung Á tập trung nhiều nhất ở biển Caspy. Những nước giàu dầu khí nhất ở đây là Kazakhstan (3,9 tỷ tấn) và Azerbaijian (1 tỷ tấn) trong đó chỉ có Azerbaijian là nước có lịch sử khai thác dầu lâu đời. Sản lượng năm 2011 của 2 nước này đạt 128 triệu tấn dầu và 34 tỷ m 3 khí đốt, nhưng dự báo đến 2015 sẽ đạt 3-4 triệu thùng/ngày. Kazakhstan năm 2011 đã đạt sản lượng 82 triệu tấn, trở thành nước đứng thứ hai, sau Nga, trong số các nước thuộc Liên Xô cũ. Turkmenistan có trữ lượng khí đứng thứ 4 trên thế giới. Do nằm xa thị trường tiêu thụ, lại thiếu hệ thống vận chuyển riêng nên các nước Trung Á trong một thời gian dài không nắm được quyền chủ động xuất khẩu tài nguyên của mình, giá bán dầu thô, khí đốt của họ thấp đáng kể so với giá thị trường thế giới. Từ

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

12


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

tình hình thực tế đó đương nhiên các nước Trung Á phải chọn chiến lược đa dạng hóa con đường xuất khẩu. Vậy phản ứng của Nga, EU, Mỹ, Trung Quốc đối với chiến lược này như thế nào? Như ta đã biết, Trung Á trong lịch sử luôn được Nga xem là vùng đệm và là nguồn bảo đảm cho sự phát triển của mình cho nên họ cần ngăn chặn không cho nước nào cướp mất vị trí chiến lược này đồng thời phải giữ vững quyền kiểm soát việc khai thác và vận chuyển dầu khí khu vực này ra thị trường thế giới. Nga đang tìm cách tiếp cận nguồn khí của các nước Trung Á để bổ sung cho lượng khí Nga và vận chuyển theo 2 hệ thống đường ống được biết dưới tên gọi “Dòng chảy phương Bắc (North Stream)” và “Dòng chảy phương Nam (South Stream)”. Đường ống thứ nhất dài 900 km, bắt đầu từ Saint Peterburg, đi ngầm qua đáy biển Baltic, nằm trong lãnh hải 5 nước gồm Nga, Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, tổng công suất 55 tỷ mét khối/năm, khởi công tháng 4/2010, khánh thành nhánh đầu tiên vào năm 2012, sau đó sẽ xây dựng tiếp một nhánh nữa, nhằm cung cấp khí đốt cho các nước Tây Âu và Bắc Âu với sự cộng tác của các công ty Đức và Hà lan. Đường ống thứ hai với vốn đầu tư trên 20 tỷ EURO trong đó Gazprom đóng góp 8,6 tỷ, công suất 63 tỷ met khối khí/năm, đi ngầm dưới đáy Biển Đen để cung cấp khí cho các nước Nam Âu. Thế nhưng việc có được dòng khí của các nước Trung Á không hề dễ dàng vì quan hệ giữa các nước này với Nga khá phức tạp và lực bất tòng tâm. Mặt khác, để thoát khỏi sự phụ thuộc năng lượng, nhất là nguồn cung khí đốt từ Nga và qua Nga, EU quyết định viện trợ 750 triệu EURO trong 7 năm (2007-2013) để nâng cấp cơ sở hạ tầng cho hệ thống khai thác và vận chuyển dầu khí của các nước Trung Á. EU cũng ký thỏa thuận xây dựng đường ống dẫn khí Nabuco dài 3.300 km từ Trung Á qua Gruzia, Azerbaijian, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Rumania, Hungaria đến Áo, công suất 31 tỷ mét khối/năm, chi phí 7,9 tỷ EURO, khởi công vào năm 2011 và dự kiến khánh thành năm 2014. Tuy nhiên đường ống này khó có thể giành được nguồn khí từ Turkmenistan nên có nhiều khả năng sẽ còn lâu mới thành hiện thực. Với Mỹ, chiến lược kiểm soát dầu khí Trung Cận Đông và Trung Á cũng như ngăn chặn Trung Quốc phát triển ảnh hưởng về phía tây được xem là quan trọng hàng đầu để bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn nên cũng không đứng ngoài cuộc cạnh tranh này. Vì vậy Mỹ khuyến khích, tạo điều kiện cho các công ty Mỹ đầu tư thăm dò, khai thác dầu khí ở Trung Á, kìm hãm ảnh hưởng của Nga và của Iran thông qua đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động đường ống BTC (Bacu-Tbilixi-Ceyhan) vào tháng 6/2006 rất tốn kém để đưa khí đốt của Turkmenistan sang phương tây mà không phải đi qua Nga cũng như DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

13


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

chiếm đóng Afganistan để triển khai các đường ống dẫn dầu và khí Trung Á về phía nam, từ đó đi đến phương tây, Đông Á mà các công ty Mỹ đã thiết kế từ khi Liên Xô còn chưa tan rã. Tuy nhiên, mục tiêu của Mỹ chưa thực hiện được bao nhiêu vì tình hình tương quan lực lượng không thuận lợi và quá trình này còn đang tiếp tục. Trong lúc Nga, Mỹ, EU rầm rộ đưa ra các đề án khổng lồ được báo chí bình luận sôi nổi trong một thời gian dài thì Trung Quốc lại thầm lặng kiên trì xâm nhập vào Trung Á với mục tiêu lập lại con đường tơ lụa ngàn xưa và dường như họ đã thành công một phần quan trọng. Đến nay Trung Quốc đã có nhiều đề án thăm dò khai thác dầu khí ở hầu khắp các nước Trung Á kể cả Iran. Từ năm 2008 Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng đường ống Đông-Tây nối các tỉnh ven bờ Thái Bình Dương với Tân Cương, làm cơ sở cho Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia CNPC xây dựng và điều hành tuyến đường ống dẫn khí đốt Tân cương - Trung Á đi qua các nước Kazakhstan, Kưrgưstan, Takjikistan, Turkmenia, Uzbekistan, một đường ống có ý nghĩa địa chính trị và chiến lược lớn đối với Trung Quốc hiện nay. Khí nhập khẩu qua đường ống này đạt 15 tỷ mét khối/năm vào 2010, và sẽ có công suất đầy đủ 40 tỷ mét khối/năm vào 2015. Năm 2007 CNPC và Turkmenistan đã ký hợp đồng chia sản phẩm mỏ Bartyiarlyk thời hạn 30 năm ở Amu Barya River Right Bank, ở đây CNPC đã phát hiện 1,6 nghìn tỷ mét khối khí, cho phép khai thác 30 tỷ mét khối/năm và năm 2008 nâng cấp lên 40 tỷ mét khối khí/năm. Năm 2010 CNPC tham gia như một đối tác chiến lược với công ty Lukoil của Nga hợp tác mở rộng các các đề án khí Bắc Buzachi ở Kazakhstan và Aral ở Uzbekistan. Lượng khí nhập khẩu qua đường ống nói trên sẽ tăng trong tương lai. Gần đây nhất (20/9/2010), Turkmenistan, Afganistan, Pakistan và Ấn Độ ký hiệp định khung về việc xây dựng đường ống nối 4 nước này (dự án TAPI) để đưa khí đốt Turkmenistan về Nam Á. Nhìn chung, Nga, EU, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan đều muốn gia tăng ảnh hưởng của riêng mình và hạn chế những cơ hội của nhau trong cuộc đối đầu giành tài nguyên Trung Á nhưng hiện nay khuynh hướng chung là ở trong thế giằng co, vừa đấu tranh vừa hợp tác trong những chừng mực khác nhau nên chắc chắn vùng này còn là điểm nóng lâu dài trên bản đồ dầu khí thế giới.  Thềm lục địa Bắc cực: những hứa hẹn mới và địa bàn tranh giành mới Thềm lục địa Bắc Cực là một vùng rất rộng, diện tích khoảng 70 triệu km2, trải dài từ phía bắc lục địa Á-Âu và Bắc Mỹ lên đến địa cực mà giới hạn chính xác đến nay chưa xác định được. Đây là vùng băng giá quanh năm với

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

14


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

những núi băng trôi nổi khổng lồ ở các vùng biển gần đất liền phía nam. Bắc cực có nhiều vùng khác nhau, nhiều nước đang quản lý một phần hoặc tuyên bố chủ quyền nhưng tranh chấp vẫn luôn tồn tại. Các nghiên cứu địa chất được tiến hành từ khá lâu, không những bởi các quốc gia quanh khu vực mà còn bởi các quốc gia khác vì mục đích khoa học với quan điểm xem đây là tài nguyên của cả nhân loại. Các tin tức về tiềm năng dầu khí càng ngày càng tăng do các nước như Nga, Mỹ, Canada, Nauy, Đan Mạch, Thụy Điển, Nhật bản công bố làm cho vùng này trở thành lực hút đối với cộng đồng dầu khí đồng thời cũng là điểm nóng tiềm năng trên thế giới. Trữ lượng dầu thô, khí đốt mới chỉ là ước lượng dưới dạng tiềm năng là chủ yếu nên con số đưa ra rất khác nhau nhưng nói chung là khá lớn, có thể vượt xa Biển Bắc hoặc biển Caspy. Riêng nước Nga, theo ước tính của các nhà khoa học của nước này thì “lãnh thổ Bắc cực của Nga” chứa 100 tỷ tấn quy dầu (dầu + khí và 1000 m3 khí được tính tương đương 1 tấn dầu về đương lượng nhiệt). Còn các nhà khoa học Mỹ thì cho rằng vùng Bắc cực chứa khoảng 30% tổng trữ lượng khí đốt và 13% tổng trữ lượng dầu thô của quả đất. Phần lớn mỏ dầu tập trung ở ngoài khơi Greenland và Alaska, trong khi các mỏ khí lại tập trung ở vùng gần Nga. Trong các năm gần đây giá trị của vùng này càng tăng cao sau khi các nghiên cứu về hydrat nằm dưới lớp băng vĩnh cữu được công bố. Đó là nguồn hydrocacbon khí, chủ yếu là methan kết hợp với nước, tồn tại dưới dạng băng nên còn gọi là băng cháy với khối lượng vô cùng lớn, có thể trở thành nguồn năng lượng tương lai thay thế cho dầu khí truyền thống. Các nước Mỹ, Nhật, Canada, Nga đã thử nghiệm công nghệ khai thác và đang hoàn thiện. Nhiều hội nghị khoa học quốc tế đã được tổ chức về chủ đề này nhằm tăng tốc đầu tư, hiện thực hóa việc đưa nguồn tài nguyên năng lượng ít gây ô nhiễm môi trường này đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế thế giới trong tương lai gần trong lúc các nguồn thay thế khác chưa thể thỏa mãn được yêu cầu vì giá thành quá cao và khối lượng còn rất hạn chế. Ở Mỹ, vùng phía bắc Alaska, vịnh Prudhoe đang khai thác dầu và khí. Khu cư trú động vật hoang dã Bắc cực được chính quyền cho phép chuẩn bị mở cửa cho khoan dầu nhưng đang vấp phải sự phản đối quyết liệt của các tổ chức hành động vì môi trường cũng như một số bộ tộc cư dân bản địa. Về phần Nga, ông Artur Chilingarov, Ủy viên hợp tác quốc tế dưới thời tổng thống Mendevedev về vấn đề Bắc cực đang dẫn đầu một đoàn thám hiểm Nga để thu thập các dữ liệu khoa học và khai trương một trạm nghiên cứu nổi trên Bắc Băng Dương để hỗ trợ tàu phá băng và tàu nghiên cứu biển hoạt động ở vùng này. Ông Chilingarov chính là người đã dẫn đầu đoàn nghiên cứu năm 2007 cắm cờ Nga dưới đáy biển Bắc cực. Nga cũng đang chuẩn bị xây dựng một

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

15


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

trạm phát điện hạt nhân nổi hoạt động vào năm 2012 để phục vụ cho các giàn khoan dầu khí sau này. Ông Yuri Trutnev, Bộ trưởng bộ Tài nguyên Nga khẳng định: “Chúng ta cần phải bảo vệ quyền lợi quốc gia đối với khối tài nguyên năng lượng của mình (ở Bắc cực)”. Điều đó cho thấy việc giải quyết tranh chấp Bắc cực sẽ không đơn giản. Tuy thế khả năng hợp tác vẫn không vì thế mà không có thể tiến hành. Gần đây giữa Nga và Nauy đã phân chia ranh giới thềm lục địa trên biển Barent, một phần của Bắc Băng Dương ở phía bắc Nauy và Nga, rộng 175.000 km2, chấm dứt cuộc tranh chấp kéo dài gần 40 năm, mở đầu cho quá trình tháo ngòi nổ của tranh chấp tài nguyên Bắc Cực. Nga cũng như các nước Bắc Âu đang bắt đầu phân lô, kêu gọi đầu tư để thăm dò, khai thác. Theo ý kiến của giới chuyên môn, thềm lục địa Bắc Cực sẽ trở thành một trung tâm cung cấp dầu khí vào giữa thế kỷ 21 mặc dù những khó khăn về địa chất, khí hậu, công nghệ và an ninh vẫn còn là vật cản đáng kể mà các nước liên quan còn phải vượt qua.  Các tranh chấp chủ quyền ở biển Từ giữa thế kỷ 20, khi sản lượng và trữ lượng dầu khí ở các vùng biển khác nhau trên thế giới không ngừng tăng thì cuộc tranh chấp chủ quyền ở các thềm lục địa ngày một tăng. Nếu ở vịnh Mexic, Biển Bắc, vùng biển TrungNam Mỹ hay Địa Trung Hải nhìn chung đã được giải quyết một phần tương đối ổn thỏa nhưng các vùng khác thì tình hình không phải như vậy. Ngoài những tranh chấp không quá căng thẳng, nổi lên 3 khu vực tranh chấp được nhiều báo chí nói đến là vùng biển Caspy, Biển Đông Trung Hoa và Biển Đông Việt Nam. Biển Caspy có diện tích khoảng 450.000 km2, từ thời trung đại đã trở thành một tuyến đường thương mại quan trọng và hiện nay là đối tượng tranh chấp của các nước Nga, Iran, Turkmenistan, Kazakhstan, Azerbaijian. Trữ lượng dầu xác minh khoảng 10 tỷ thùng nhưng trữ lượng địa chất có thể lên đến 233 tỷ thùng. Trữ lượng khí xác minh khoảng 170 Tcf (nghìn tỷ fit khối) và trữ lượng địa chất khoảng 293 Tcf. Trước năm 1991 chỉ có 2 quốc gia là Liên Xô và Iran giáp biên giới với biển Caspy, khi đó vị thế hợp pháp của biển này tuân theo hiệp ước song phương năm 1921 và 1940 giữa 2 nước nhưng sau khi Liên Xô sụp đổ thì quyền sở hữu về phát triển tài nguyên ở biển Caspy trở thành vấn đề gây tranh cãi. Kết quả là một số mâu thuẩn đã phát sinh trong những tuyên bố chồng lấn ở các khu vực khác nhau, đặc biệt là ở vùng biển phía nam, dẫn đến một số đụng độ có tính chất quân sự quy mô nhỏ cũng như các hợp đồng dầu khí do mỗi nước ký riêng rẻ với đối tác nước ngoài không thể triển khai được. Trên bàn đàm phán, Nga, Azerbaijian, Kazakhstan đồng ý chia biển DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

16


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

Caspy theo nguyên tắc đường trung tuyến, Iran đòi chia đều cho các nước còn Turkmenistan lại không đồng ý các nguyên tắc trên vì không phải là “vùng biển khép kín” hay “hồ quốc tế” được định nghĩa (dù còn rất không rõ ràng) trong luật biển (UNCLOS) nên nhiều hội nghị giữa lãnh đạo các nước ven biển Caspy đã được tổ chức nhưng không đi đến một thỏa thuận đa phương nào. Để tránh những xung đột leo thang trong tương lai, các nước này đều kêu gọi các bên “không nên có các hành động phi lý, nên giải quyết cuộc tranh chấp này bằng biện pháp hòa bình, hữu nghị, đối thoại hợp tác và xử sự có văn minh”. Vùng tranh chấp ở Biển Đông Trung Hoa nằm giữa Trung Quốc và Nhật Bản kéo dài nhiều năm nhưng gần đây nổi lên với vụ đụng độ quanh khu vực quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, nằm trên vùng có một số mỏ khí. Tình hình càng trở nên căng thẳng hơn trong tháng 12/2012 và chắc còn kéo dài sau khi Trung Quốc tuyên bố sắp tới sẽ cho tàu tuần duyên kiểm soát thường xuyên các vùng chồng lấn ở trên biển . Ở Biển Đông Việt Nam, cùng với việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và một số bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam bằng vũ lực trước đây, Tổng công ty dầu biển quốc gia Trung Quốc (CNOOC) công bố dự án gần 30 tỷ USD thăm dò khai thác dầu khí vùng nước sâu ở Biển Đông và đã bị người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng phản đối quyết liệt. Năm nay Trung Quốc một lần nữa công bố bản đồ trong đó thể hiện tham vọng chủ quyền của mình trên gần toàn bộ Biển Đông, tiến hành các cuộc tập trận và đưa tầu khảo sát, nghiên cứu nhiều nơi trong khu vực này cũng như đưa ra đấu thầu quốc tế 9 lô trên thềm lục địa Việt Nam, gây ra những lo ngại mới cho các nước Đông Nam Á. Biển Đông được coi là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng và giao lưu thương mại quốc tế, nơi được dự báo có chứa nhiều tài nguyên sinh học, khoáng sản, dầu khí mặc dù cho đến nay chưa có công bố nào đưa ra những dữ liệu định lượng rõ ràng. Các nước có liên quan ở Đông Á và Đông Nam Á đều tuyên bố cố gắng tìm con đường hòa bình để giải quyết tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế nhưng chắc chắn đây là một quá trình lâu dài và chứa nhiều nhân tố khó lường một khi Trung Quốc còn khẳng định khu vực bên trong đường lưỡi bò ở Biển Đông là lãnh hải của họ.

2.5. Châu Phi trở nên hấp dẫn nhất đối với các công ty dầu khí DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

17


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

Châu Phi từ lâu đã có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng do những quy định của các chính phủ rất ngặt nghèo, tình hình chính trị, an ninh bất ổn định, cơ sở hạ tầng rất yếu kém nên một thời gian dài đã cản trở các nhà đầu tư tiềm năng đến châu lục này. Nhưng trong các năm gần đây tình hình đã đổi khác nhất là sau khi ông Jeff Shellebarger, Tổng giám đốc Chevron Texaco đưa ra dự báo “khu vực Nam Sahara đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thế giới” và nhiều mỏ vùng nước sâu có trữ lượng lớn được phát hiện ở vùng biển Tây Phi. Trên đất liền, hầu như các công ty dầu khí có tên tuổi trên thế giới đều có mặt ở các bồn trũng Bắc Sahara, kéo dài về phía đông đến châu thổ sông Nil cũng như các bồn trũng Nam Sahara kéo dài đến các nước Đông Phi và Nam Phi. Ở biển sức thu hút lớn nhất là các thềm lục địa thuộc Nigeria, Angola, Congo, Guinea Xích Đạo, Gabon, quần đảo Principe, thềm Nam Địa Trung Hải và thềm Đông Phi. Sản lượng dầu khai thác hiện nay của châu Phi, theo số liệu của OGJ tháng 9/2012, đạt gần 9 triệu thùng/ngày, trong đó Nigeria chiếm 2,457 triệu thùng/ngày, Angola 1,746 triệu thùng/ngày và Algeria 1,729 triệu thùng/ngày, các nước khác dưới 1 triệu thùng/ngày. Về khí đốt, sản lượng 2011 đạt 202,7 tỷ m3 với 3 nước đứng đầu là Algeria 78 tỷ m3, Egypt gần 61,3 tỷ m3, Nigeria trên 39,9 tỷ m3. Vì nằm xa thị trường tiêu thụ và thiếu phương tiện vận chuyển, công nghiệp khí hóa lỏng (LNG) chưa phát triển nên phần lớn khí đồng hành bị đốt bỏ, vừa gây lãng phí tài nguyên đồng thời gây ô nhiễm môi trường. Tốc độ phát triển công nghiệp dầu khí cao nhất trên lục địa đen thuộc về Angola, nước vừa trở thành thành viên mới nhất của khối OPEC. Chính phủ Angola cho biết với các phát hiện mới đã đưa sản lượng năm 2012 lên 1,760 triệu thùng/ngày, và riêng lô 17 do Total điều hành đến năm 2014 sẽ có sản lượng 710.000 thùng/ngày. Tham gia thăm dò-khai thác dầu khí ở Angola có rất nhiều công ty dầu quốc tế nổi tiếng như Chevron-Texaco, Exxon-Mobil, BP, Shell, Total nhưng Statoil của Nauy là công ty có đóng góp lớn nhất cho tổng tăng trưởng của Angola. Với tỷ lệ thành công rất ấn tượng trong thăm dò lên đến 38% ở vùng nước cực sâu cho thấy kỹ thuật dầu khí thế giới đã tiến những bước rất dài và biển Tây Phi hứa hẹn rất nhiều trong tương lai. Dầu thô châu Phi là nguồn cung cấp lớn cho công nghiệp lọc dầu của Mỹ, các nước Tây Âu, Nhật, Trung Quốc. Cộng đồng dầu khí quốc tế tin rằng trong thập kỷ tới châu Phi sẽ trở thành một điểm sáng trên bản đồ năng lượng toàn cầu và sẽ đóng vai trò quan trọng trong thị trường cung cả dầu thô lẫn khí đốt thế giới.

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

18


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

2.6. Dầu khí các nước ASEAN bứt lên sau suy thoái kinh tế ASEAN có diện tích 4.479.210 km2, dân số 601 triệu người, tổng GDP ước đạt khoảng 2 nghìn tỷ USD (2012) nhưng tiềm năng dầu khí rất khiêm tốn so với các vùng khác trên thế giới. Indonesia là nước có diện tích lớn nhất, đông dân nhất và cũng là nước giàu tiềm năng dầu khí nhất trong khối. Tổng trữ lượng dầu thô còn lại hiện nay khoảng 4-5 tỷ thùng nhưng sản lượng giảm liên tục vì Indonesia có lịch sử khai thác hơn 100 năm, các vùng mỏ lớn đã bắt đầu đi vào giai đoạn cạn kiệt. Nếu trước 2005 sản lượng nước này thường xuyên đạt trên 1 triệu thùng/ngày thì năm 2012 chỉ còn gần 889.000 thùng/ngày và cục BPMigas (cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí) cho biết trong các năm tới sản lượng có thể giảm xuống chỉ còn một nửa mức hiện nay “để ngành dầu Indonesia tương thích với luật môi trường mới”. Sản lượng dầu khí của Indonesia thu được chủ yếu từ các hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC), năm 2006 nhóm này đạt gần 900.000 thùng/ngày, còn sản lượng của Pertamina (Tổng công ty dầu khí quốc gia) chỉ có 51.797 thùng/ngày. Chevron Pacific Indonesia là nhà sản xuất lớn nhất, tiếp theo là Total, ConocoPhillips và các công ty khác. Trước năm 2003, Pertamina vừa là đơn vị sản xuất kinh doanh đa ngành (dầu khí, xi măng, sắt thép, hàng không, ngân hàng, khách sạn, gạo, bất động sản, viễn thông…), vừa thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước (phân lô, tổ chức đấu thầu, trao thầu, thanh tragiám sát các công ty dâu nước ngoài hoạt động ở Indonesia, thu thuế tài nguyên các PSC, tiếp nhận các phần đất hoàn trả từ các công ty nước ngoài vv). Sau 2003, do tình trạng thua lỗ, tham nhũng nặng nề cũng như cạnh tranh không lành mạnh…, Chính phủ phải đứng ra trả các khoản nợ khổng lồ của công ty nên Pertamina được tái cơ cấu lại, thôi không thực hiện các chức năng quản lý nhà nước, hạn chế các lĩnh vực hoạt động để tập trung vào các lĩnh vực tìm kiếm-thăm dò-khai thác chế biến phân phối sản phẩm dầu khí,trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên sản xuất kinh doanh với mục tiêu lớn nhất là tạo ra lợi tức, hoàn toàn bình đẳng với các công ty khác, không còn được hưởng các ưu tiên, ưu đãi nữa. Theo quyết định mới của chính phủ No 31/2003, Pertamina nằm dưới quyền điều hành của Bộ trưởng quản lý các xí nghiệp quốc doanh (State minister of State-owned Enterprises) và cơ quan điều phối dầu khí (Oil and Gas Regulatory Body) chứ không trực thuộc trực tiếp tổng thống như trước. Pertamina cũng bắt đầu triển khai một số hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhưng quy mô còn nhỏ bé. Trong nước, ngành công nghiệp khí đốt,

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

19


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

lọc-hóa dầu và hệ thống phân phối được chú ý nhiều hơn nhằm đảm bảo hàng hóa cho các hợp đồng xuất khẩu. Năm 2010 Pertamina giành đầu tư ưu tiên cho các hoạt động thượng nguồn trong nước, chuẩn bị mời thầu quốc tế 18 lô ở biển trong đó có 3 lô ở vùng quần đảo Natuna và tham gia vào các liên doanh TDKT-CB với nước ngoài. Trước 2006 Indonesia là nước xuất khẩu khí hóa lỏng LNG hàng đầu thế giới nhưng sau đó Qatar lại vượt lên chiếm mất vị trí này với sản lượng 2010 đạt 77 triệu tấn LNG/năm và dự báo không lâu nữa Australia cũng sẽ vượt Indonesia. Do nhu cầu trong nước tăng nhanh nên mức xuất khẩu LNG của Indonesia giảm, chỉ còn 19,7 triệu tấn năm 2009, năm 2010 lại tăng lên 29 triệu tấn nhờ đưa vào sản xuất các nhà máy hóa lỏng mới nhưng dự báo sẽ giảm xuống mức 10,8 triệu tấn vào năm 2015 (tin UN/7/6/2010). Trong lĩnh vực lọc-hóa dầu, Pertamina hợp tác với Kuwait Petroleum Corp dự kiến đầu tư 9 tỷ USD cho nhà máy lọc dầu Balonga công suất 300.000 thùng ngày (12 triệu tấn/năm). Theo Chủ tịch BPGas R.Priyono thì luật dầu khí mới của Indonesia quy định điều khoản về bảo vệ môi trường, yêu cầu các công ty dầu phải giảm nhiệt độ nước thải xuống 5oC, giới hạn hàm lượng thủy ngân dưới 40 ppm nên sản lượng các mỏ sẽ giảm vì các công ty cho đến nay phải dùng giải pháp bơm nước nóng vào tầng chứa để gia tăng thu hồi dầu. Năm 2010 Indonesia thu ngân sách từ dầu khí đạt 216.800 tỷ Rupiah (23 tỷ USD), trong đó từ dầu 113.000 tỷ, từ khí đốt 40.000 tỷ Rupiah. Malaysia vẫn giữ mức sản xuất dầu thô tương đối ổn định (khoảng 565.000 thùng/ngày) nhờ trữ lượng xác minh vẫn còn khoảng 4 tỷ thùng và là nước đang mở rộng đầu tư vào dầu khí ở nước ngoài, nhất là ở các nước Hồi giáo mà họ có lợi thế trong quan hệ đối ngoại. Nếu tính cả sản lượng được chia từ các hợp đồng chia sản phẩm ở nước ngoài thì Malaysia tiến rất gần đến mức sản lượng của Indonesia và đó là một kỳ tích. Tuy rất thành công ở nước ngoài nhưng theo tổng giám đốc Petronas Shamsul Azhar Abbas thì tập đoàn dầu khí quốc gia này sẽ chú trọng hơn hoạt động ở trong nước, khoan sâu hơn ở vùng biển nông, gia tăng tỷ lệ thu hồi dầu (hiện nay chỉ mới đạt 23%) và sẽ điều chỉnh hoạt động ở nước ngoài theo hướng chú trọng chất lượng hơn số lượng. Năm 2010 Malaysia đã ký thỏa thuận hợp tác phát triển 1 trong 2 lô trong vùng chồng lấn ở bắc Borneo với Brunei (lô CA-2) theo mô hình đã hợp tác với Việt Nam trên bể Malay-Thổ Chu. Sản lượng khí của Malaysia đạt 6 Bcf/ngày. Xuất khẩu LNG đạt 26,1 triệu tấn năm 2010 và dự kiến sẽ đạt 27 triệu tấn năm 2015. Đặc điểm nổi bật nhất trong thị trường xăng dầu nội địa là mức trợ giá năng lượng mỗi năm đến 22 tỷ USD, (số dân được hưởng trợ giá khoảng 20.600.000

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

20


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

người), đây là mức cao nhất thế giới, nên chính phủ chủ trương cắt giảm tiến tới xóa bỏ trợ cấp để chống thâm hụt ngân sách. Thái Lan có diện tích 514.000 km2, dân số 61,2 triệu người, là một nước có tiềm năng dầu khí trung bình thấp, trữ lượng dầu xác minh không vượt quá 550 triệu thùng nhưng trữ lượng khí lại khá cao, đạt 12,9 Tcf, cả ở đất liền lẫn ở biển. Sản lượng hiện nay đạt gần 237.000 thùng dầu/ngày và 3 Bcf/ngày khí đốt. Nếu tính riêng về dầu thô thì Thái lan đứng sau Việt Nam nhưng nếu tính tổng sản lượng quy dầu thì Thái Lan đã vượt trên Việt Nam về thứ hạng xếp bậc trong ASEAN. Đây là nước duy nhất ở Đông Nam Á chọn chế độ tô nhượng trong hoạt động dầu khí vì nó phù hợp với trình độ kỹ thuật và nhân lực đồng thời có sức hấp dẫn cao đối với đối tác nước ngoài. Năm 2010 ở vịnh Thái lan có 2 phát hiện Manore và Rossukon trên 3 lô, do công ty Pearl Energy điều hành với trữ lượng ít nhất 200 triệu thùng, đang phát triển mỏ trong năm 2012. Nhà thầu Coastal Energy (Canada) cũng tìm thêm được trữ lượng dầu ở mỏ Bua Ban trong tầng Oligocen hạ, thử vỉa đạt 1.150 thùng/ngày. Mỏ Bua Ban đang được khai thác với trữ lượng 15.000 thùng/ngày. Dự án phát triển khí Platong-2 của Chevron trị giá 3,1 tỷ USD cho sản phẩm vào năm 2012 với sản lượng 420 triệu feet khối/ngày và 18.000 thùng condensat/ngày. Trên đất liền, nhà thầu Pan Orient (Canada) cùng đối tác Carnavon Petroleum (Australia) thông báo giếng L33-2 trên lô L33/43 cho dòng dầu 2.370 thùng/ngày thuộc tầng chứa đá núi lửa. Hai công ty này cũng đã hoàn thiện giếng WB Ext-1 trên lô L33 cho dòng dầu 5.300 thùng/ngày cũng trong tầng chứa đá núi lửa, kỷ lục cao nhất từ trước đến nay trên đất Thái. Công tác lọc-hóa dầu rất phát triển nên trong chiến lược dầu khí của mình, Thái Lan chủ trương xây dựng nước này thành một trung tâm phân phối và trung chuyển sản phẩm dầu khí cho thị trường khu vực, bao gồm cả miền nam Trung Quốc. Brunei có diện tích 5.800 km2, dân số 450.000 người, sản lượng dầu năm 2012 đạt khoảng 166.000 thùng/ngày, 1,2 Bcf/ngày khí đốt, và là nước có sản lượng dầu-khí trên đầu người cao nhất ASEAN. Công nghiệp khí đốt được đặc biệt chú trọng và hướng vào xuất khẩu dưới dạng LNG. Công ty dầu khí quốc gia Petroleum Brunei (PB) hoạt động chủ yếu dưới dạng góp vốn vào các đề án cả trong lĩnh vực thượng nguồn lẫn hạ nguồn đồng thời cũng bắt đầu đầu tư ra nước ngoài. Myanmar có diện tích 677.000 km2, dân số 46 triệu người, trữ lượng dầu không lớn nên sản lượng từ nhiều năm nay vẫn giữ mức cũ, chưa đạt 2 triệu tấn/năm, trữ lượng khí 15,7 Tcf, sản lượng khí năm 2012 đạt 12,4 tỷ m3.

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

21


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

Khí đốt Myanmar xuất khẩu chủ yếu sang Thái Lan và bắt đầu cung cấp cho phía nam Trung Quốc. Công ty dầu khí quốc gia Trung quốc CNPC khởi công xây dựng đường ống dẫn dầu Myanmar - Côn Minh dài 771km, công suất ban đầu 224.000 thùng/ngày song song với một đường ống dẫn khí công suất 12 tỷ m3/năm, đã hoàn thành vào năm 2011. Nguồn khí lấy từ mỏ Shwe, lô A1,A3 trên biển Myanmar. Năm 2010 Công ty dầu khí quốc gia MOGE của nước này đã ký với Petronas và UNOG của Singapore một hợp đồng thăm dò trên 3 lô MD-4-5-6 ở vịnh Martaban, vùng biển sâu. PetroVietnam cũng có một hợp đồng tìm kiếm-thăm dò ở biển Myanmar, đã triển khai khảo sát địa chấn và chuẩn bị khoan thăm dò. Lào là nước có triển vọng dầu khí chưa rõ ràng. Công ty Salamander đã thử vỉa giếng thăm dò Bangnuoan -1 thuộc tỉnh Savanakhet với hy vọng tìm thấy khí trong các thành tạo trước Đệ Tam nhưng không cho kết quả thương mại. Các hợp đồng chia sản phẩm của PetroVietnam đang bắt đầu triển khai. Philippine đã có một số thành công mới ở các vùng biển nước sâu thuộc bồn trũng phía tây bắc và ở biển Sulu. Mỏ Galoc, ngoài khơi Palawan cho sản lượng 144.102 thùng/ngày và mỏ Tindalo của nhà thầu Nidopetroleum cho sản lượng 18.689 thùng/ngày ngay sau khi bắt đầu khai thác nhưng nói chung các mỏ dầu này đều thuộc loại mỏ nhỏ. EXXON-MOBIL cũng đã có một phát hiện khí mới ở vùng nước sâu 1939m tại giếng Palendag-1, lô SC-56 bể Sandakan. Riêng cấu tạo Gidara thuộc lô SC-54B cách mỏ khí Malampaya của Shell 50 km về phía nam được thông báo có trữ lượng tại chỗ 1 tỷ thùng dầu nhưng chưa có thông tin chi tiết về công tác phát triển mỏ trong các năm tới. Singapore vẫn giữ vững vị trí là trung tâm lọc- hóa dầu và là trung tâm dịch vụ, trung chuyển dầu khí khu vực có uy tín. Năm 2010, chính phủ Singapore phê duyệt phương án tăng công suất của dự án cảng đầu mối nhập khẩu khí hóa lỏng LNG lên 6 triệu tấn/năm, dự án sẽ hoàn thành trong năm 2013. Chủ dự án-công ty Singapore LNG nói, việc tăng công suất tiếp nhận và tàng trữ LNG sẽ cho phép tạo “độ co giãn thích hợp” để đáp ứng nhu cầu trong tương lai, đưa Singapore trở thành trung tâm giao dịch LNG trong thị trường châu Á. Các hoạt động đóng tàu chở dầu, sản xuất giàn khoan biển ...v.v vẫn đang phát triển mạnh. Campuchia đã ký thêm được một số hợp đồng dầu khí mới. Công ty dầu khí quốc gia Canada và Japan Oil, Gas& Metals National Corp. vừa ký hợp đồng thời hạn 2 năm nghiên cứu khả thi về tìm kiếm thăm dò trên vùng hồ Tonlesap. Công ty Total (Pháp) đang xin lô 3 (AreaIII) rộng 2.430 km2 trên DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

22


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

vùng chồng lấn thuộc vịnh Thái Lan và 1 lô trên đất liền rộng 22.050 km2 phía đông Phnompenh, tiếp giáp với Việt Nam. Các lô PSC của Petrovietnam gần Biển Hồ đang tiến hành khảo sát địa vật lý. Còn Chevron đang chịu áp lực của chính phủ Campuchia về thời hạn khai thác dầu trên lô A, vịnh Thái lan. Năm 2010, Thủ tướng Hunxen tuyên bố sẽ thu hồi giấy phép nếu Chevron không có sản lượng vào năm 2012 nhưng đến nay chưa thấy thực hiện. Chevron cho biết lô A rộng 4.700km2, được tiến hành thăm dò từ năm 2003, có 4 phát hiện dầu nhưng không được tuyên bố có giá trị thương mại. 2.7. Năng lượng tái sinh và nhiên liệu sinh học đang phát triển Giá dầu thế giới diễn biến theo khuynh hướng liên tục ở mức cao trong dài hạn cộng với yêu cầu chống ô nhiễm môi trường là những nguyên nhân chính giúp cho các nguồn năng lượng thay thế trong đó có nhiên liệu sinh học phát triển nhanh hơn dự báo ở hầu khắp các nước, nhất là ở những nước tiêu thụ nhiều xăng dầu nhưng lại nghèo về tài nguyên dầu khí. Đã có hơn 65 nước xác định các chỉ tiêu về nguồn năng lượng tái sinh. Trung Quốc đặt kế hoạch đến 2020 các nguồn năng lượng này sẽ chiếm 15% tổng số lượng năng lượng tiêu thụ còn EU thì mục tiêu đó là 20%. Nhật bản dự định đến năm 2015 sản xuất mỗi năm khoảng 200 triệu lít xăng sinh học từ các loại cỏ, rong biển với chi phí khoảng 0,4 USD/lít. Indonesia, Malaysia, Philippine đang hợp tác nghiên cứu, sản xuất xăng sinh học từ dầu cọ và dầu dừa. Thái lan, Việt Nam chú ý dùng các loại hạt có dầu và bột sắn. Brazil và một số nước Nam Mỹ lại sản xuất ethanol từ sản phẩm phụ của mía đường và dự kiến 82% số xe mới được cải tiến để có thể chạy bằng các loại xăng pha ethanol sinh học theo nhiều tỷ lệ khác nhau hoặc hoàn toàn bằng ethanol sinh học vào sau năm 2013. Tại Mỹ nhiên liệu sinh học được sản xuất từ ngô, đậu tương và các sản phẩm nông nghiệp khác. Các nước châu Âu, Trung Đông, Mỹ và một số nước châu Á, châu Phi đang phát triển năng lượng thay thế dầu mỏ, than đá chủ yếu theo hướng dùng năng lượng mặt trời và năng lượng gió, địa nhiệt nhưng các nguồn này lại không dùng thay thế cho xăng trong giao thông vận tải được. Vấn đề sản xuất nhiên liệu sinh học đang được bàn cãi trên nhiều diễn đàn vì sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực, giá thành cao, cần có chính sách tài trợ của ngân sách và ngay cả mức phát thải CO2 nhiều hay ít hơn xăng dầu truyền thống vẫn chưa có kết luận thống nhất. Mặc dù vậy, theo thông kê số lượng patent nhiên liệu sinh học trên thế giới từ năm 2000 đến nay đã tăng gấp 10 lần và nhu cầu nhiên liệu sinh học năm 2000 dưới 2 triệu tấn/năm, đến 2012 đã trên 13 triệu tấn. Nhìn chung khung pháp lý và chính sách đối với nhiên liệu DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

23


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

sinh học ở hầu khắp các nước đều chưa hoàn chỉnh và điều này gây khó khăn không ít cho ngành công nghiệp này phát triển như mong muốn. Tuy nhiên không ai nghi ngờ về triển vọng phát triển thị trường nhanh chóng trong tương lai gần vì ngành này không những giúp cải thiện tình trạng khủng hoảng năng lượng mà còn giúp sử dụng đất chất lượng thấp hợp lý, phát triển nông nghiệp và là công cụ tốt, khả thi nhất để xóa đói giảm nghèo cho nông dân, những người đang sống bần hàn trong một thế giới công nghiệp ở khắp năm châu.

TRIỂN VỌNG GIÁ DẦU NĂM 2013 Bao giờ cũng thế, khi bước sang năm mới, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống nhiều câu hỏi và dự báo được đưa ra, hy vọng những gì tốt đẹp sẽ đến. Trong ngành dầu khí cũng vậy, có nhiều câu hỏi đặt ra nhưng trước hết là câu hỏi về giá dầu. Triển vọng của thị trường dầu sẽ tiến triển như thế nào? Các nhà phân tích đã đưa ra câu trả lời là triển vọng thị trường dầu về cơ bản vẫn giống như năm 2012. Và giá dầu trong năm 2013 sẽ dao động quanh mức 110 USD/thùng. Dựa vào đâu mà các nhà phân tích lại có dự báo như vậy? Trước hết tình hình địa chính trị của năm 2013 sẽ có thể không khác gì đã xảy ra trong năm cũ: náo loạn ở Ai Cập, sự đối đầu với Iran, tiếp tục cuộc khủng hoảng trong khu vực đồng euro. Các nhà phân tích tại Công ty kinh tế năng lượng KBC cho biết: "Trong năm 2012, tại nhiều thời điểm giá dầu dường như sẵn sàng để di chuyển xuống mức thấp hơn vì những yếu kém của nền kinh tế toàn cầu, nhưng mỗi lần như vậy, giá dầu lại vẫn giữ ở mức cũ do nguy cơ địa chính trị cao. Những gì thay đổi trong tháng 11 năm ngoái không liên quan trực tiếp đến Iran, nhưng một loạt các cuộc xung đột riêng biệt trong các nước có chung biên giới ở phía đông Địa Trung Hải như bạo lực leo thang tại Syria, thù địch giữa Gaza và Israel, và các cuộc biểu tình tại Ai Cập”, còn ở nước Mỹ là vấn đề “vách đá tài chính” (cái gọi là sự tự động tăng thuế và cắt giảm chi tiêu) dẫn đến niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư đã bị tổn thương. Các nhà phân tích tại Barclays Capital nhận xét: Về cơ bản, trong năm 2013, thị trường dầu mỏ vẫn tiếp tục xu hướng của năm cũ, với điều kiện rủi ro do ảnh hưởng của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu OPEC vẫn giữ nguyên, còn DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

24


GIA TĂNG NĂNG LƯỢNG CHO ĐẤT NƯỚC

mối quan hệ đối ngoại của Iran sẽ có tiềm năng lớn nhất ảnh hưởng đến giá cả trong năm tới. Thị trường khí đốt vẫn tiếp tục phụ thuộc vào các bản tin dự báo thời tiết và hiện tại khả năng giá khí tăng là rất hạn chế. Mặt khác, nguồn cung cấp khí đốt tự nhiên từ đá phiến sét gia tăng ngoài mức dự kiến khiến cho các nhà máy hóa dầu tại Mỹ có một lợi thế cạnh tranh với chi phí thấp hơn. Trong khi đó, cán cân cung cấp và nhu cầu dầu toàn cầu cho thấy mức độ gia tăng nguồn cung ngoài OPEC sẽ vượt qua mức độ gia tăng nhu cầu dầu mỏ trong năm 2013. Điều này sẽ cho phép giảm mức tăng sản lượng dầu thô của OPEC và giảm mức dự trữ dầu trong kho, một phần trong đó là dự trữ chiến lược, đặc biệt là ở Trung Quốc. Tuy nhiên, sự cân bằng cung cầu dầu có thể bị hạn chế nếu Mỹ thắt chặt hơn nữa việc mua dầu thô của Iran để thực hiện lệnh trừng phạt tài chính của Mỹ. Cân bằng cung cầu dầu trong bối cảnh của một nền kinh tế toàn cầu yếu kém, KBC dự kiến giá dầu thô Brent trung bình dao động xung quanh 110 USD/thùng cho một năm thứ ba liên tiếp trong năm 2013. Nguyên tắc cơ bản của thị trường dầu dự kiến sẽ diễn biến tương tự như năm 2012 nhưng hơi yếu vào năm 2014. Với sự cải thiện trong nền kinh tế toàn cầu, các nhà đầu tư có thể sẽ lạc quan về triển vọng cho sự tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ và đẩy mạnh đầu tư hơn nữa vào thị trường dầu thô kỳ hạn. Vì vậy, ngay cả trong trường hợp không có xung đột, KBC dự báo giá dầu thô Brent cuối cùng vẫn có thể đẩy lên trên 110USD/thùng trên cơ sở bền vững hơn trong năm 2014, với giá trung bình năm khoảng 115USD/thùng. Một xu thế triển vọng kinh tế toàn cầu có khả năng sẽ kết thúc bất kỳ sự kháng cự nào của Ả-rập Xê-út với giá dầu trung bình cao hơn. □ Dầu khí xanh – là thông tin tham khảo về dầu khí do Công ty Cổ phần Phát triển Dầu khí Việt Nam thu thập, biên tập từ nhiều nguồn khác nhau với những thông tin mới nhất cùng các bài bình luận, phân tích, tổng hợp về tình hình địa chính trị, chiến lược trong ngành công nghiệp dầu khí. Tập thông tin tham khảo này được phát hành với mục đích dùng làm tài liệu tham khảo và không mang tính thương mại.

DẦU KHÍ XANH SỐ 01 NGÀY 01/02/2013

25


Dầu Khí Xanh Số 1 Năm 2013