Page 1

THÍCH NHAÄT THIEÄN

GIAÙO HOÄI PHAÄT GIAÙO VIEÄT NAM HOÏC VIEÄN PHAÄT GIAÙO VIEÄT NAM TAÏI HUEÁ KHOÙA V (2009 - 2013) --------------------------

LUAÄN VAÊN TOÁT NGHIEÄP

 LUAÄN VAÊN TOÁT NGHIEÄP

TÌM HIỂU VỀ DU GIÀ DIỆM KHẨU THÍ THỰC KHOA NGHI

 THÍCH NHAÄT THIEÄN HUEÁ - 2013

(NGUYEÃN ÑÖÙC TIEÁN)

HUEÁ - 2013


Mở Đầu

LỜI CAM ĐOAN

Nam Mô Bổn Sƣ Thích Ca Mâu Ni Phật

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các luận cứ, kết quả trong luận văn đều hoàn toàn trung thực. Tập luận văn nầy chƣa từng đƣợc tôi công bố trong bất kỳ trƣờng hợp nào. Huế, tháng 5 năm 2013 Ngƣời viết

Thích Nhật Thiện

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 2


Mở Đầu

NHẬN XÉT CỦA

GIAÙO SÖ HÖÔÙNG DAÃN

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 3


Mở Đầu

NHẬN XÉT CỦA

HOÄI ÑOÀNG ÑIEÀ U HAØ NH HOÏ C VIEÄ N

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 4


Mở Đầu

Lời Tri Ân Hoàn tất khóa học và hoàn thành tập luận văn này, con xin thành kính đảnh lễ tri ân: - Giác linh cố Hòa Thượng Viện Trưởng Đạo hiệu thượng Thiện hạ Siêu, người đã sáng lập nên ngôi Học viện trang nghiêm này. - Hòa Thượng Bổn sư Đạo hiệu thượng Chí hạ Mãn, người đã tác thành giới thân huệ

mạng

cho

con,

tạo

điều

kiện

cho

con

được

theo

học

tại

Học viện. - Hòa Thượng Đạo hiệu thượng Chơn hạ Thiện, Viện trưởng Học Viện Phật Giáo Viện Nam Tại Huế. - Chư tôn đức trong Hội đồng Điều hành Học viện, Ban Giảng huấn, Quý Giáo thọ sư và Ban Bảo trợ Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại Huế. - Đại đức Thích Pháp Quang, ngư ời đã tận tình hướng dẫn cho con hoàn thành t ập luận văn này. - Các vị tác giả, dịch giả của những tài liệu mà người viết đã sử dụng. - Hai đấng sinh thành. - Cuối cùng ngươi viết xin gởi lời cảm ơn đến quý huynh, đệ pháp hữu cùng quý vị ân nhân Phật tử thân hữu gần xa. Nguyện cầu chư tôn thiền đức pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, ngõ hầu làm bóng cây che mát cho đàn hậu học nương náu. Kính chúc quý vị thiện hữu tri thức, chư vị pháp hữu cùng quý Phật tử luôn được mạnh khỏe bình an dưới ánh từ quang của chư Phật. Nguyện cầu thế giới hòa bình, nhân dân an lạc. Pháp giới chúng sanh, tình với vô tình đều trọn thành Phật đạo. Huế, tháng 5 năm 2013 Thích Nhật Thiện

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 5


Mở Đầu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đức Thích Ca, vì thƣơng tƣởng vạn loại hàm linh đang chìm đắm trong luân hồi lục đạo mà xuất hiện ở đời. Suốt bốn mƣơi chín năm ho ằng hóa độ sanh, Ngài đã hóa hiện muôn vạn pháp môn, có hiển có mật, mục đích tối hậu là đƣa chúng hữu tình thoát khỏi trầm luân. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, Phật dạy, Tổ truyền, Hiền triết giải. Mỗi một pháp môn đều có công năng đƣa chúng sanh thoát khỏi mê lƣu, dẫn hữu tình về nơi bến giác. Bất cứ ai, tùy theo căn cơ của mình, chọn một pháp môn, thâm giải nghĩa lý mà thực hành, ắt đạo quả Bồ Đề chẳng còn xa. Xƣa ở thành Ca-tì-la, Ngài A Nan gặp nạn, cầu thỉnh đức Thế Tôn cứu độ. Đức Từ phụ vì cứu Ngài A Nan và lợi ích chúng hữu tình mà bày phƣơng pháp bố thí Ngạ quỷ, cùng với câu thần chú tên gọi “Vô Lƣợng Oai Đức Tự Tại Quang Minh Nhƣ Lai Đà-la-ni”. Từ câu thần chú ấy, kết hợp với những triết giáo Mật tông và các giáo nghĩa đại thừa, chƣ Tổ đã dày công biên soạn thành một khoa nghi tƣờng tận đối với việc bố thí ẩm thực cho chúng Ngạ quỷ cô hồn, gọi là “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi”. Khoa nghi ấy là một văn bản hàm chứa hầu nhƣ toàn bộ giáo nghĩa của Phật giáo, hiển mật viên thông, là một pháp môn hành trì đa dụng, tự lợi lợi tha đều có đủ. Với mong muốn liễu giải, bổ sung thêm kiến thức cho mình và tiến tu trên con đƣờng học đạo, ngƣời viết mạo muội chọn việc tìm hiểu Khoa nghi Du Già Diệm Khẩu để làm đề tài luận văn tốt nghiệp. 2. Lịch sử vấn đề Do thuộc về vấn đề nghi lễ, lại liên quan trực tiếp đến giáo nghĩa Mật tông, nên những tác phẩm hay bài viết liên quan đến Du Già Diệm Khẩu rất ít, lại đa phần là lƣu hành nội bộ. Tra cứu trên Hán tạng, thấy có các bản “Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi”, “Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ”, “Du Già Diệm Khẩu Chu Tập Toan Yếu Nghi Quỹ”.v.v… Còn ở Việt Nam, có các bản “Du Già Diệm Khẩu Thí Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 6


Mở Đầu

Thực Khoa Nghi” của Hòa thƣợng Thích Huyền Tôn, bản diễn Nôm “Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi” của Hòa thƣợng Bích Liên, do Nguyễn Văn Thoa dịch và chú giải, bản dịch chú của Quảng Minh cùng một số nghi quỹ là có sự chú giải nội dung khoa nghi Du Già. Những tác phẩm thuộc Hán tạng đa phần đƣợc biên soạn trong khoảng thời gian từ thời Đƣờng đến thời nhà Thanh. Còn ở Việt Nam thì hầu nhƣ chỉ xuất hiện trong thời cận đại. 3. Đối tƣợng và phạm vi tìm hiểu “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi” là tên gọi chung. Do khoa nghi này đƣợc biên soạn, san định nhiều lần bởi nhiều tác giả khác nhau, nên xuất hiện rất nhiều tên gọi. Nội dung của chúng là tƣơng đồng, cho nên lấy tên gọi trên cho tiện việc tìm hiểu. Văn bản chính đƣợc ngƣời viết sử dụng là bản “Trung Khoa Du Già Tập Yếu” hiện đang lƣu hành tại Việt Nam. Bản này đƣợc khắc tại chùa Báo Quốc vào năm 1848 (Mậu Tý). Ngoài ra, các khoa nghi, nghi quỹ từ Hán tạng và một số tác phẩm có liên quan đến vấn đề cũng đƣợc ngƣời viết sử dụng. Vấn đề tìm hiểu đƣợc giới hạn trong toàn bộ nội dung khoa nghi. 4. Phƣơng pháp tìm hiểu Là một đề tài khó, trong giới hạn tri kiến nghèo nàn của ngƣời viết, việc liễu giải toàn bộ vấn đề là điều không thể. Cho nên, bên cạnh việc đối chiếu so sánh giữa văn bản chính và các bản liên quan, ngƣời viết có biên dịch một cách khái lƣợc những lời chú giải của chƣ Tổ Trung Hoa. Song song với điều đó là khảo cứu các điển tích, luận bàn các tƣ tƣởng hàm chứa trong khoa nghi. 5. Bố cục luận văn Luận văn bao gồm ba phần. Phần mở đầu nêu lên lý do chọn đề tài, đối tƣợng phạm vi và cách để tìm hiểu vấn đề. Phần nội dung bao gồm năm chƣơng, theo trình tự đầu tiên giới thiệu về Du Già Diệm Khẩu, kế đến là chánh văn - phiên âm - dịch nghĩa, chú giải, vấn đề hành trì và giá trị của khoa nghi. Cuối cùng là phần kết luận tổng kết vấn đề.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 7


PHẦN NỘI DUNG


CHƢƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1. Duyên khởi của việc bố thí ẩm thực cho ngạ quỷ “Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Khởi Giáo A Nan Đà Duyên Do” 1, Ngài Bất Không thời Đƣờng dịch, có ghi lại rằng: Bấy giờ, Đức Thế Tôn cƣ trú tại tịnh xá Ni-câu-luật-na ở thành Ca-tì-la, thuyết pháp cho các vị Bồ Tát, Tỷ kheo. Tôn giả A Nan, sau khi lãnh thọ lời dạy của đức Phật, đã về nơi vắng vẻ tọa thiền. Đến canh ba đêm ấy, Ngài thấy có một vị Ngạ quỷ tên là Diệm Khẩu, hình dáng xấu xí, thân thể khô gầy, trong miệng có lửa cháy, cổ nhỏ nhƣ kim, đầu tóc xù xì, răng sắc bén nhọn chỉa ra ngoài, thật là đáng sợ. Ngạ quỷ Diệm Khẩu ấy đứng trƣớc Ngài A Nan mà nói rằng: “Ba ngày sau mạng Ngài sẽ tận, sau đó sẽ sanh làm loài Ngạ quỷ”. Ngài A Nan nghe lời ấy xong, tâm thần hoảng sợ, hỏi Ngạ quỷ rằng: “Đại sĩ nói tôi chết rồi sanh làm Ngạ quỷ. Nay tôi phải làm gì để thoát đƣợc nạn khổ ấy?” Ngạ quỷ thƣa với Ngài A Nan rằng: “Nếu Ngài có thể bố thí ẩm thực cho vô số Ngạ quỷ, và các vị Tiên nhơn Bà-la-môn, các vua Diêm La, các vị phán quan coi việc nghiệp báo, và chƣ vị quỷ thần, các vong hồn chết đã lâu không nơi nƣơng tựa, dùng cái đấu của nƣớc Ma-già-đà để đựng thức ăn, bố thí bảy bảy bốn mƣơi chín đấu ẩm thực, rồi lại vì bọn chúng tôi mà cúng dƣờng Tam Bảo. Ngài sẽ đƣợc tăng thêm tuổi thọ, mà cũng khiến Ngạ quỷ chúng tôi thoát đƣợc đau khổ mà sanh lên cõi trời.” Ngài A Nan sau đó tìm đến đức Phật kể lại việc đó, thỉnh cầu Phật cứu giúp. Phật dạy: “Ông chớ nên sợ hãi. Ta nhớ đến vô lƣợng kiếp quá khứ, từ thời còn làm Bà-la-môn, lãnh thọ từ Quán Thế Âm Đại Bồ Tát pháp Đà-la-ni tên là pháp “Vô Lƣợng Oai Đức Tự Tại Quang Minh Nhƣ Lai Đà-la-ni”. Ông nếu khéo thọ trì Đàla-ni này bảy biến, có thể biến thức ăn thành các loại cam lồ ẩm thực, cung cấp đầy đủ thức ăn thƣợng diệu cho trăm vạn Câu-thi-na-do-tha hằng hà sa số các loài Ngạ quỷ, các loại quỷ thần, tất cả đều đƣợc no đủ. Những chúng ấy, mỗi mỗi đều đƣợc một đấu của nƣớc Ma-già-đà, thức ăn này biến khắp pháp giới, nhiều đến vô tận, đều đƣợc thánh quả thoát khỏi thân khổ.

1

Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Khởi Giáo A Nan Đà Duyên Do, 瑜伽集要焰口施食起教阿難陀緣 由, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1319


Chương I. Giới Thiệu

Phật lại dạy Ngài A Nan: “Ông thọ trì pháp Đà-la-ni này thì giúp ông tăng thêm phƣớc đức thọ mạng, Ngạ quỷ sanh lên cõi trời, sanh về tịnh độ, đƣợc thân trời ngƣời, lại có thể khiến ngƣời thí chủ chuyển đƣợc các tai nạn mà tăng thêm tuổi thọ, đƣợc thêm phƣớc lợi chứng quả Bồ Đề.”

2

Pháp Đà-la-ni đƣợc nhắc đến trong bản kinh chính là thần chú biến thực. Và ở đây, có hai điểm quan trọng đƣợc rút ra. Thứ nhất, pháp thí thực đã đƣợc bắt đầu từ chính thời của đức Phật, và điểm thứ hai, ngƣời khải giáo, không ai khác, chính là Tôn giả A Nan Đà. 1.2. Sự hình thành và lƣu truyền của khoa nghi Bên cạnh bản kinh trên, Ngài Bất Không còn dịch “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh” 3. Ngài Thật-xoa-nan-đà, cũng là ngƣời thời Đƣờng, đã dịch bản “Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Thần Chú Kinh” 4, đƣợc xem là bản dịch Phạn sang Hán đầu tiên. Ngoài ra, trong Hán tạng hiện còn rất nhiều bản dịch liên quan đến bản kinh trên. Tất cả các bản dịch, tuy tên gọi khác nhau, nhƣng nội dung thì tƣơng đồng. Sự xuất hiện của nhiều bản Hán dịch nhƣ trên có nghĩa là cũng có nhiều nguyên bản tiếng Phạn tƣơng ứng. Điều đó chứng tỏ pháp thí thực đã đƣợc phổ biến rất nhiều từ sau đức Phật diệt độ. Bởi vì có truyền bá mới cần đến bản kinh, do phong tục địa lý, do sự truyền khẩu mà dẫn đến tam sao thất bản. Thời nhà Tống, các vị danh tăng đã lấy các thần chú từ trong kinh để hành trì, rồi sau đó bổ sung thêm một vài phần, biên soạn thành khoa nghi thí thực. Lịch sử ghi nhận, Ngài Bất Động, ngƣời Thiên Trúc, tinh thông Mật giáo, khi đến Trung Quốc đã ở núi Mông Sơn, “tham cứu Kinh Du Già Diệm Khẩu và các bộ kinh khác của Mật tông, diễn dịch thành tiểu thí thực pháp, còn gọi là “Tiểu Mông Sơn Pháp”, “Cam lồ Pháp”. Vì thế, Ngài đƣợc tôn xƣng là “Cam lộ Đại Sƣ”.”5 Trong Hán tạng, ngoài bản “Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi” do Ngài Bất Không dịch, còn có một bản cùng tên không rõ ngƣời dịch. Ngày nay các 2

Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Khởi Giáo A Nan Đà Duyên Do, 瑜伽集要焰口施食起教阿難陀緣 由, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1319, tr. 0472b24. 3 Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh, 佛說救拔焰口餓鬼陀羅尼經, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1313 4 Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Thần Chú Kinh, 佛說救面然餓鬼陀羅尼神咒經, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1314 5 HT Bích Liên, Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi, Nguyễn Văn Thoa phiên âm và chú giải, tr. 7

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 10


Chương I. Giới Thiệu

học giả khảo định là đƣợc phiên dịch từ thời nhà Nguyên. Nội dung của nó biện việc tạo lập đạo tràng, sắm sửa hƣơng hoa, ẩm thực, bắt đầu từ quy y Thƣợng Sƣ Tam Bảo, đến thần chú Kim Cang Tát Đỏa Bách Tự thì hết, chủ yếu nói về việc trì tụng hiến cúng thí thực, diệt tội, phát Bồ Đề tâm, nhập định Quan Âm… Ở cuối bản này còn có ghi thêm thập loại cô hồn và Quy y Tam Bảo. Nghi này đƣợc đời sau sử dụng một cách thông dụng. Đến thời Minh, Thanh thì xuất hiện rất nhiều nghi quỹ. Thời nhà Minh, Ngài Thiên Cơ biên soạn một bản với tên gọi “Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi” 6,đƣợc ngƣời ta gọi là “Thiên Cơ Diệm Khẩu” (天機焰口). Bản này sau đƣợc Ngài Châu Hoằng, tự Phật tuệ, hiệu Liên Trì ở chùa Vân Thê, thêm bớt thành “Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ” 7. Thời nhà Thanh, Ngài Đức Cơ ở núi Bảo Hoa lại y cứ nơi bản của Ngài Châu Hoằng mà soạn thành “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Yếu Tập”,ngƣời ta gọi là “Hoa Sơn Diệm Khẩu” (华山焰口). Tại Việt Nam, bản đƣợc lƣu hành phổ biến nhất có tên là “Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu” 8. Bản này đƣợc khắc mộc tại Chùa Báo Quốc, mùa Đông năm Mậu Tý (1888), triều vua Đồng Khánh nhà Nguyễn. Căn cứ vào những trang phụ lục đƣợc khắc ở cuối khoa nghi thì biết rằng bản này do Ngài Hải Thuận Lƣơng Duyên chứng minh, Công chúa An Thƣờng và một số hoàng thân quốc thích làm ngoại hộ. Một yếu tố quan trọng hơn, đó là bản này có nguồn gốc từ bản “Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi” của Ngài Thiên Cơ. Chƣ Tổ Việt Nam đã san định chắt lọc, bổ sung thêm một vài phần mà thành. Ra đời trƣớc bản Trung Khoa trên, còn có một bản khắc “Diệm Khẩu Du Già Tập Yếu Thí Thực Khoa Nghi” do Ngài Tánh Tình khắc tại chùa Thiên Hòa năm Tân Tỵ 1821 (niên hiệu Minh Mạng năm thứ hai). Bản này thƣờng đƣợc gọi là Đại khoa Du Già. Bên cạnh bản hai bản nhắc đến ở trên, ở Việt Nam hiện còn lƣu lại bản “Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi” (蒙山施食科儀) do Ngài Bích Liên (1876-1950) biên soạn. Bản này đƣợc in năm 1922 tại chùa Vĩnh Khánh, Bình Định, chỉ gồm phần 6

Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修習瑜伽集要施食壇儀, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1083, 2 quyển 7 Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ, 瑜伽集要施食儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1080, 1 quyển 8 Từ đây sẽ gọi tắt là Bản Báo Quốc

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 11


Chương I. Giới Thiệu

Hán và diễn Nôm của thập nhị loại trở về sau, nay đã đƣợc học giả Nguyễn Văn Thoa phiên âm và xuất bản. So sánh giữa bản Báo Quốc với các bản của Trung Hoa, lấy bản “Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi”, Vạn Tục Tạng quyển 59, số 1083 để đối chiếu, thì thấy có khác nhau ở một vài chỗ. Nay lập một bảng mục lục so sánh 9: 修習瑜伽集要施食壇儀

STT

Bản Báo Quốc

1.

-

沈乳栴檀

2.

-

戒定真香

3.

-

昇沈三界

4.

-

蓋文。 紅輪西墜

5.

-

稽首皈依

6.

-

面然大士

7.

-

楊枝淨水

8.

-

寶座高高

9.

-

會啟蒙山

10.

爐香-雲來集

爐香 - 香雲葢

11.

此一瓣香

此一瓣香

12.

香雲葢

吉祥會啟

13.

佛面

佛面

14.

伏以。登瑜伽顯密之座

-

15.

大寶華王座

海震潮音

16.

夫此水者

夫此水者

17.

-

五方五佛大威神

18.

-

稽首皈依

9

Ở Bản Báo Quốc, mục lục đã đƣợc thay đổi để tƣơng ứng với bản Hán tạng. Vẫn để nguyên phần chữ Hán, không phiên âm.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 12


Chương I. Giới Thiệu

19.

-

時到法王座

20.

-

五方結界

21.

云何於此經

-

22.

淨法界真言

淨法界真言

23.

點淨真言

點淨真言

24.

加持花米真言

加持花米真言

25.

加持鈴杵真言

加持寶鈴真言

26.

我今振鈴杵

我今振鈴杵

27.

左手執持微妙七寶鐸

-

28.

十二因緣呪

十二因緣呪

29.

唵薩哩斡(二合)答塔葛達

-

30.

五方五佛大威神

-

31.

我及法界

我及法界

32.

上師三寶真言

上師三寶真言

33.

羅列香花建寶壇

羅列香花建寶壇

34.

自性偈

自性偈

35.

淨地偈

淨地偈

36.

音樂呪

音樂呪

37.

六字大明王

-

38.

緣起文

-

39.

最勝光明自在王

-

40.

[...]

-

41.

音樂呪

-

42.

寶錯真言

-

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 13


Chương I. Giới Thiệu

43.

撒花米真言

-

44.

遣魔真言

遣魔真言

45.

遣魔真言

伏魔真言

46.

遣魔真言

火輪真言

47.

真空印呪

-

48.

[...]

-

49.

音樂呪

-

50.

十二因緣呪

-

51.

曼拏囉偈

-

52.

曼拏囉真言

-

53.

寶山寶海妙寶座

-

54.

[...]

-

55.

三歸依讚

三歸依讚

56.

眾等發廣大心

眾等發廣大心

57.

先結大輪明王印

-

58.

默念大輪明王呪七遍

-

59.

[...]

-

60.

稽首十方調御師

稽首十方調御師

61.

奉請三寶

奉請三寶

62.

謹依瑜伽教

謹依瑜伽教

63.

印現壇儀

印現壇儀

64.

-

大眾念三十五佛

65.

毗盧遮那佛

毗盧遮那佛

66.

大眾默念心經一遍

大眾默念心經一遍

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 14


Chương I. Giới Thiệu

67.

啟告十方

啟告十方

68.

伸五供養

伸五供養

69.

次結運心供養印

-

70.

次結遣魔印

-

71.

次結變空印

-

72.

次結奉食印

-

73.

三寶讚

-

74.

普陀落伽常入定

普陀落伽常入定

75.

次入觀音印

次入觀音印

76.

次結破地獄印

次結破地獄印

77.

-

地藏十王起哀憐

78.

奉請地藏王菩薩

奉請地藏王菩薩

79.

南無一心奉請。眾生度盡

南無一心奉請。眾生度盡

80.

南無一心奉請。面如藍靛

-

81.

南無一心奉請。林間入定安禪座

-

82.

一心奉請。五通有感

-

83.

一心奉請。手擎幡葢

南無一心奉請。手擎幡葢

84.

-

南無一心奉請:秦廣楚江并宋帝

85.

-

運心平等

86.

-

秋雨梧桐葉落時

87.

-

今夜道場法筵開

88.

一心召請。瑤池萬仞

一心召請。金烏似箭

89.

一心召請。盧醫謾說長生藥

一心召請。遠觀山有色

90.

一心召請。九江洪波浩渺

一心召請。苦海滔滔業自招

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 15


Chương I. Giới Thiệu

91.

請十二類孤魂

請十二類孤魂

92.

一心召請。法界六道

一心召請。法界六道

93.

稽首皈依雄

-

94.

-

蓋文。 大地山河之内

95.

-

獨立崖巢樹下

96.

-

悽悽惨惨

97.

-

咦。 蓮台不離當處

98.

覺皇密語壯皇都

覺皇密語壯皇都

99.

-

以此振鈴伸召請

100. -

清浄法身毘盧佛

101. -

昨日荒郊去玩游

102. 歎悼

歎悼

103. 我以大悲佛神力

-

104. -

若人欲了知

105. -

破地獄真言

106. 次結召請餓鬼印

普召請真言

107. 次結召罪印

-

108. 次結摧罪印

-

109. 次結破定業印

滅定業真言

110. 次結懺悔滅罪印

滅業障真言

111. 次結妙色身如來施甘露印

甘露水真言

112. 次結開咽喉印

開咽喉真言

113. 七寶如來

七寶如來

114. 次與汝等皈依三寶

皈依佛。 皈依法。 皈依僧。

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 16


Chương I. Giới Thiệu

115. 次結三寶印

-

116. 次與汝等發菩提心

眾生無邊誓願度

117. 次結發菩提心印

-

118. 次與汝等受三昧耶戒

三昧耶戒真言

119. 次結三昧耶印

-

120. 次結無量威德自在光明如來印

變食真言

121. 復結前印誦乳海真言

乳海真言

122. 次誦障施鬼真言

施無遮食真言

123. 諸佛子等。雖復方以類聚

神呪加持淨法食

124. 次結普供養印

普供養真言

125. 諸佛子等。從來所受飲食

汝等[佛子。有情。孤魂]眾

126. 西域尊者往東來

-

127. 承斯善利

-

128. 發願回向偈

-

129. 願晝吉祥夜吉祥

願晝吉祥夜吉祥

130. 伏以文

伏以文

131. 次結圓滿奉送印

次結圓滿奉送印

132. 金剛薩埵百字呪

金剛薩埵百字呪

133. 薜茘多文

-

134. 施食功德殊勝行

施食功德殊勝行

135. 皈依三寶上來

皈依三寶上來

136. 終

Nhƣ vậy, một cách khái quát nhất, “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi” có nguồn gốc từ thời đức Phật, đƣợc chƣ Tổ Trung Hoa biên soạn kết hợp mật hiển Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 17


Chương I. Giới Thiệu

mà thành. Khi du nhập Việt Nam lại đƣợc san định thêm một vài chỗ nữa, thành ra cuốn “Trung Khoa Du Già Tập Yếu” mà ngày nay đang lƣu truyền. 1.3. Ý nghĩa nhan đề Du-già (瑜伽): là từ phiên âm từ chữ Yoga, có nghĩa là “bất kỳ sắc thái thuộc kỷ luật tâm linh nào khiến cho tâm nhắm đến sự chứng đắc cái đích tối thƣợng nhằm giải thoát khỏi sự tái sanh” 10 . Monier-Williams định nghĩa Yoga là đặt mình dƣới một cái ách, điều ngự, cột thắt lại, chuẩn bị, chuyên chú. 11 Trong các hệ thống học phái Yoga thì thuật ngữ này chỉ đến hai nhánh tu học luyện thân và luyện tâm, giúp hành giả nâng cao năng lực thân tâm cũng nhƣ những hoạt động của chúng trong chính mình, điều hoà chúng để rồi có thể tiến đến cấp bậc toàn hảo tâm linh. Yoga trong Phật giáo thƣờng đƣợc nhắc đến trong các kinh điển với các phƣơng pháp tập trung lắng đọng tâm thức, cũng nhƣ miêu tả các trạng thái thiền định. Duy Thức Tông, một tông phải Phật giáo lớn ở Trung Hoa, còn có tên khác là Du Già hành phái (Skt. Yogācāra, Hán. 瑜伽行派), vì tông phái này đặc biệt chú tâm đến việc thực hành Yoga. Tuy nhiên, Mật Tông mới là Tông phái chú trọng việc thực hành Du Già bậc nhất. Thực hành phép Du Già theo Mật Tông thì tay kết mật ấn, miệng tụng thần chú, ý chuyên chú quán tƣởng. Thân hợp nhất với miệng, miệng tƣơng phù với ý, ý hội cùng với thân, ba nghiệp tƣơng ƣng với nhau. Diệm-khẩu (焰口): là tên một vị Ngạ quỷ. Trong kinh kể rằng Ngài A Nan một hôm nhập định, thấy một vị Ngạ quỷ xuất hiện, xƣng là Diệm Khẩu, nói về Ngài A Nan cũng sẽ làm Ngạ quỷ trong ba ngày nữa. Ngài A Nan ho ảng sợ, cầu Phật giải cứu. Đức Phật dạy phƣơng pháp thí thực cho chúng Ngạ quỷ, Ngài A Nan nhân đó thoát đƣợc nạn khổ kia. Thí thực (施食): là bố thí ẩm thực cho các loài Ngạ quỷ, cô hồn. Nguyên việc thí thực này khởi xuất từ thời đức Phật. Điểm nhấn của việc này là trai đàn Thủy Lục đầu tiên của Lƣơng Võ Đế, và pháp hội “Thí Vô Già Hội” của Ngài Huyền Tráng sau chuyến Tây du trở về. 10 11

Thích Kiên Định, 2010, Từ Điển Phạn-Anh-Việt, Nxb Thuận Hóa, tr. 1337 Monier Williams, Sanskrit English Dictionary, 2002, Munshiram Manoharlal Publishers Pvt. Ltd, tr. 853

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 18


Chương I. Giới Thiệu

Thí thực thuộc về tài thí trong Bố thí độ. Việc thí thực giúp cho các loài Ngạ quỷ, cô hồn đƣợc no đủ và sanh về cõi trời, còn trai chủ thì đƣợc phƣớc lợi. Trong kinh Phật dạy: Ngƣời nào bố thí thức ăn cho ngƣời thì sẽ đƣợc năm sự phƣớc báo. Đó là đƣợc mạng sống dài lâu, y phục tài phú vô tận; thứ hai là đƣợc sắc đẹp đoan chánh, nghi mạo dễ ƣa; thứ ba là đƣợc mạnh khỏe, sức lực dồi dào; thứ tƣ là đƣợc an ổn, không bị các tai nạn, tâm an thân cƣờng; thứ năm là biện tài vô ngại, có thể giải quyết đƣợc tất cả mọi chuyện.12

12

Thí Thực Hoạch Ngũ Phƣớc Báo, 施食獲五福報經, Đại Chánh Tạng, T02, No. 0132B, tr. 0855a200855b10

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 19


CHƢƠNG II: CHÁNH VĂN-PHIÊN ÂM-DỊCH NGHĨA 2.1. Chánh văn 瑜伽焰口施食科儀 沈乳栴檀 1 沈乳栴檀價莫倫。金爐纔爇噴祥雲。 氤氳遍徹三千界。為瑞為祥達世尊。 戒定真香 戒定真香。焚起衝天上。 弟子虔誠。爇在金爐放。 頃刻氤氳。即遍满十方。 昔日耶輸。免難消災障。 南無香雲盖菩薩摩訶薩。 昇沈三界 昇沈三界實可傷。輪迴六道苦難當。 本自思修登上品。只因逐妄落邊鄉。 黑黑冥途無日月。 茫茫業海少慈航。 欲開甘露無遮會。 壇内先須啟覺皇。 蓋文。 紅輪西墜。 蓋文。 紅輪西墜。 幽暗初昏。 滿天星斗舒光。 大地火炬發燄。 幽園鵲 類歸巢穴。 紅途人馬奔家鄉。 譙樓皷响叮噹。 草澗溪聲惨切。 禁門高鎖閉。 柴户密深關。正乃人藏。 鬼出之時。 當是超孤度幽之際。 今晨…奉佛仗我沙門恭就案前。 高設猊臺。 放施蒙山甘露法食一筵。 所 有參禮覺皇。 仰勞大眾同音讚揚三寳。 稽首皈依 稽首皈依大覺尊。 無上能仁。 觀見眾生受苦辛。 下兜率天。 1

Đầu đề do ngƣời viết đặt, lấy câu đầu hoặc nội dung tƣơng ứng. Các bài sau cũng nhƣ vậy, ngoại trừ các bài đã sẵn có.


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

皇宫降迹。 雪岭修因。 鹊巢頂三層垒。 六年苦行。 若人皈依大覺尊。 不堕沉沦。 若人皈依大覺尊。 不堕沉沦。 稽首皈依 稽首皈依佛法僧三寶。 三寶慈尊。 給孤長者舍祗園。 布满金磚。 善才童子 善才童子。五十三参。 超生死。度孤魂。早往西方。 若人若人皈依佛法僧三寶。不墮三途。 南無證明師菩薩。 [三稱] 爱河 爱河千尺浪。苦海萬重波。 欲脫輪迴苦。早急念彌陀。 [念佛] [出外。 薦亡。 随師通。 次至大士前上香。 擧讚] 面然大士 面然大士。 菩薩化身。 沃焦山下現真形。 擎破鐵圍城。 帶領孤魂。 飽满盡超昇。 南無甘露王菩薩。[三稱] [師向金臺擧讚楊枝。眾同和] 楊枝淨水 楊枝淨水。遍灑三千。 性空八德利人天。法界廣增延。 滅罪消愆。火燄化紅蓮。 南無清涼地菩薩。[三稱] [次侍者上臺請師登寶座。 撫尺以下嘆云] Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 21


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

寶座高高 寶座高高無礙。 上有天垂寶蓋。 請師挪步登臺。 代為孤魂說戒。 [師答] 圓明一點本非空。 了證無為向上宗。 三世諸佛那一步。 權留寶座即吾登。 [侍者撫尺一下。 答云] 打皷三通登寶座。 甶子孤魂盡超昇。 [侍者撫尺一下。 上師唱云] 會啟蒙山 會啟蒙山最勝緣。覺皇垂范利人天。 經宣秘典超涂炭。教演真乘救倒懸。 難陀尊者因習定。救苦觀音示面燃。 興慈濟物真三昧。感果叨恩萬古傳。 爐香乍热 爐香乍热。法界蒙薰。 蒙山海會悉遥聞。随處結祥雲。 誠意方殷。諸佛現全身。 南無香雲盖菩薩。[三稱] 此一瓣香 此一瓣香。不從天降。非屬地生。两儀未判之先。根源充塞三界。一氣纔 分之後。枝葉遍满十方。超日月之光華。含山川之秀麗。即戒即定即慧。非 木非火非烟。收来在一微塵。散去普周沙界。我今爇向金爐。端伸供養。 十 方常住三寶。刹海萬灵。悉仗真香。同歸真際。 吉祥會啟 吉祥會啟。甘露門開。 孤魂甶子降臨来。 聞法赴香齋。 永脱輪回。幽暗一時開。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 22


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

南無雲来集菩薩。[三稱] 佛面 佛面猶如净满月。亦如千日放光明。 圓光普照於十方。喜舍慈悲皆具足。 南無盡虚空。遍法界。過現未来佛法僧三寶。 南無登寶座菩薩。[三稱] [次上師坐寶座表白。 舉云] 海震潮音 海震潮音說普門。九蓮花里現童真。 楊枝一滴真甘露。散作山河大地春。 南無大悲觀世音菩薩。[三稱] [侍者尺一下。 白云] 夫此水者 夫此水者。八功德水自天真。先洗眾生業垢塵。遍入毗盧華藏界。个中無 處不超淪。水不洗水。妙極法身。 塵不染塵。反作自己。蠲除内外。蕩涤壇 場。洒枯木而作楊春。洁穢邦而成净土。所謂道内外中間無濁穢。聖凡幽顯 總清凉。 菩薩柳頭甘露水。 能令一滴徧十方。 腥膻垢穢盡蠲除。 令此法筵常清淨。 大悲咒 教有密言。謹當持誦。 [誦此大悲咒一徧。 上師持淨水。 至唵字。 傾水一半。 在水盃中加持。 令侍者持水下座。 於壇内遶三匝。 浄洒食品一一如是] 南無聖觀自在菩薩。[三稱] [誦大悲咒一徧至甘露王菩薩] 五方五佛 五方五佛大威神。結界降魔遍刹塵。 今宵毗盧冠上現。一瞻一禮總歸真。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 23


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

[次念佛母凖提神咒。 大眾同聲讚和上師加持五冠] 稽首皈依 稽首皈依蘇悉帝。頭面頂禮七俱胝。 我今稱贊大准提。唯願慈悲垂加護。 南無薩哆喃。三藐三菩陀。俱胝喃。怛垤他。唵。折隶主隶。凖提。娑婆 訶。 南無凖提王菩薩。[三稱] 時到法王座 時到法王座。 人天普護持。 我今豋顯密。 奉請毗盧尊。 [撫尺一下。 執爐香。 上師毗盧尊。 大眾和請] 毗盧如来。 大光明藏。 五方結界 吽吽唵嘛呢吽 天上天下無如佛[唵嘛呢吽]。 十方世界[唵啞吽]亦無比[吽吽唵嘛呢吽]。 世間所有我盡見[唵嘛呢吽]。 一切無有[唵啞吽]如佛者[吽吽唵嘛呢吽]。  東方 東方世界阿閦佛[唵嘛呢吽]。 其身青色[唵啞吽]放光明。吽吽唵嘛呢吽。 手印執持金剛杵[唵嘛呢吽]。 眾等志心[唵啞吽]稱贊禮。[吽吽唵嘛呢吽]。  南方 南方世界寶生佛[唵嘛呢吽]。 其身赤色[唵啞吽]放光明。[吽吽唵嘛呢吽]。 手印執持摩尼寶[唵嘛呢吽]。 眾等志心[唵啞吽]稱贊禮。[吽吽唵嘛呢吽]。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 24


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 西方 西方世界彌陀佛[唵嘛呢吽]。 其身白色[唵啞吽]放光明[吽吽唵嘛呢吽]。 手印執持妙蓮花[唵嘛呢吽]。 眾等志心[唵啞吽]。稱贊禮[吽吽唵嘛呢吽]。  北方 北方世界成就佛[唵嘛呢吽]。 其身黑色[唵啞吽]放光明。[吽吽唵嘛呢吽]。 手印執持輪相交[唵嘛呢吽]。 眾等志心[唵啞吽]稱贊禮。[吽吽唵嘛呢吽]。  中央 中央世界毗盧佛[唵嘛呢吽]。 其身黄色[唵啞吽]放光明。[吽吽唵嘛呢吽]。 手印執持千辐輪[唵嘛呢吽]。 眾等志心[唵啞吽]稱贊禮。[吽吽唵嘛呢吽]。  户唵薩哩斡 户唵薩哩斡。怛阿哦多。布思必。 度必。啞噜吉。 干的。 儞尾的。 沙不 答。 布拶銘葛三謨的囉斯癹囉納三麻耶啞吽。 南無寶曇華菩薩。[三稱] 瓶中甘露 瓶中甘露如来置。要去塵劳不净身。 我今乞取掌中存。普洒法筵常清净。 净法界真言 [誦真言辰。 調伏身心。 想頂脐两處。 具唵囕二字。 念清浄故。 以表福 慧具满] 唵囕。 唵藍。 莎訶。

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 25


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

点净真言 [誦真言。 用右手無名指。 揾取香水。 彈洒虚空。 并合掌想壇場内外悉 令清浄圓滿] 唵。啞穆葛拶囉彌麻迎。 蘇噜蘇噜。 莎訶。 加持花米真言 [誦真言。两手拈花米三次。 想成光明種。 出生金銀碧玉珍寶云云] 唵。斡資囉。 喷彌啞。 吽。 加持寶鈴真言 [誦真言。 右手拈花米洒在鈴上。 想成智慧種] 唵。斡資囉。薩答啞。吽。[三稱] 唵。啞。吽[洒鈴三徧畢轉鈴三稱轉擧讚云] 我今振鈴杵 我今振鈴杵。聲遍十方處。 禮請諸聖賢。悉皆雲来集。 此乃一切諸如来。 手中執持金剛杵。 金剛佛母大勇識。 我今恒常而執持。 願滅有情大愚痴。 唵賀囉賀囉吽。[三稱] 十二因緣呪 唵。耶答兒麻(二合)兮都。不囉(二合)巴斡兮。敦的山。答塔葛答歇。斡 怛的山。拶約尼噜。怛耶邦叭諦。麻曷释囉(二合)。麻納耶。莎訶。 [置鈴於案。 以右手粘花米。 唱云] 我及法界 我及法界。一切有情。從今為始。乃至未証菩提之間。誓願歸依金剛上師 三寶。 上師三寶真言 捺謨孤噜毗耶。捺謨勃塔耶。捺謨達而麻耶。捺謨桑渴耶。 唵。哩哩哈哈吽吽癹怛。 唵。失哩嘛哈歌囉哈哈吽吽癹怛。莎訶。[三稱] Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 26


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

唵。啞。吽。[三稱] [將手持的花米。 散洒虚空。 想所寶米悉成花香供養等云] [撫尺一下。 誦云] 羅列香花 羅列香花建寶壇。重重佛景一毫端。 心融妙理虚空小。道契真如法界宽。 相好慈悲秋月满。化身腾運暮雲繁。 香烟堆裏瞻應現。萬象森羅海印含。 释迦如来 释迦如来。[同唱]。證明功德。 觀世音菩薩。[同唱]。密垂加護。 阿難陀尊者。[同唱]。興權啟敎。 [振鈴念自性偈] 自性偈 方便自性不壞体。金剛不壞大勇識。 最勝無比超出相。今此所作皆成就。 勝慧自性甚深性。演說最上法輪音。 以無生現方便身。今此所作願具足。 净地偈 一切方隅所有地。瓦礫砂碛等皆無。 琉璃寶地平如掌。柔軟微妙願安住。 猶如极樂国莊嚴。妙寶為地眾花敷。 園林池沼無缺少。以大法音願具足。 從出世間復能現。種種七寶之所成。 無量光明遍照處。諸佛菩薩願安住。 音樂咒 唵。斡資囉。看支夷。囉納囉納。不囉囉納。不囉囉納。三不囉囉納。三 不囉囉納。薩哩斡。孛塔赤的囉。不囉拶哩答。麻曷不囉尼牙。巴囉蔑答那 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 27


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

達。速巴微。薩哩斡。塔哩麻。 纥哩達耶。伞多沙那。葛哩。吽吽。癹吒。 莎訶。[三稱] 遣魔真言 [以二手作金剛拳。 手背相靠。 二小指相鈎。 二頭指直竪。 結印當胸。 想手印出火光。 遣境界魔] 唵。斡資囉[二合]。阿弭哩達。昆吒唎。曷納曷納。吽吽。癹吒。 伏魔真言 [二手外相义。 進力指直竖結印當胸手動似扇印出火光而遣諸魔] 唵。斡資囉[二合]。牙恰吽。 火輪真言 [以二手内相义。 十指仰上。 結印胸前。 想印放金剛燄。 令魔遠離] 唵。斡資囉。佐辣啞奈辣。曷奈答曷。巴拶麽塔。班拶囉納。吽吽。癹吒。 唵。薩哩斡。 荅塔葛達囉的捺麻曷曼荅辣。 布拶彌渴薩謨的囉斯癹囉納 三麻耶啞吽。[二遍] [撫尺一下白云] 三歸依讚 佛法僧寶。 体徧十方。 恭敬請祈。 必蒙感應。 玆當闡陽施食之初。 先 须歸敬三寶。 要祈法事周隆。 庶使勝因成就。 大眾慈悲齊聲應和。 志心信禮。佛陀耶。两足尊。三覺圓。萬德具。人天調御師。唵啞吽。凡 聖大慈父。從真界。騰應質。悲化普。竪窮三際時。横遍十方處。震法雷。 鳴法鼓。廣演權實教。唵啞吽。大開方便路。若歸依。能消滅。地獄苦。佛 子若歸依。能消滅。地獄苦。 志心信禮。達摩耶。離欲尊。寶藏收。玉函貯。結集於西域。唵啞吽。翻 譯傳東土。祖師弘。賢哲判。成章疏。三乘分顿漸。五教定宗趣。鬼神欽。

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 28


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

龍天護。導迷標月指。唵啞吽。除热真甘露。若歸依。能消滅。餓鬼苦。佛 子若歸依。能消滅。餓鬼苦。2 志心信禮。僧伽耶。眾中尊。五德師。六和侣。利生為事業。唵啞吽。弘 法是家務。避囂塵。常宴坐。寂静處。遮身服毳衣。充腹採薪薇。鉢降龍。 錫解虎。法燈常遍照。唵啞吽。祖印相傳付。若歸依。能消滅旁生苦。佛子 若歸依。能消滅。旁生苦。 眾等發廣大心 眾等發廣大心。歸依金剛上師。歸依佛。歸依法。歸依僧。我今發心。不 為自求。人天福报。聲聞緣覺。乃至權乘諸位菩薩。唯依最上乘。發菩提心。 願與法界眾生。一時同得阿耨多羅三藐三菩提。 稽首十方 稽首十方調御師。演揚清净微妙法。 三乘四果解脱僧。願賜慈悲臨法會。 奉請三寶 [表白香花請。眾和。 畢。 首者舉爐請云] 南無一心奉請:盡虚空。遍法界。微塵刹土中。諸佛法僧。金剛密跡。衛 法神王。天龍八部。婆羅門仙。一切聖眾。 惟願不違本誓。憐愍有情。此夜今時。光臨法會。 香花請。 香花請。 謹依瑜伽教 謹依瑜伽教。建立曼答辣。惟願三寶尊。慈悲哀納受。 印現壇儀 [千手眼修行儀云: 二手作金剛拳。 施戒慧力相鉤。 胸前微動。 念真言曰] 唵。斡資囉[二合]。拶裓囉[二合]。吽。拶吽。邦斛。 大眾念三十五佛 大慈大悲愍眾生。大喜大捨濟含識。 2

Câu “佛子若歸依。能消滅。餓鬼苦”, Chánh văn không có, giống nhƣ các bản Hán tạng. Nhƣng xét đoạn tán thán Phật ở trên có thêm vào, cho nên ở đoạn này, cũng nhƣ đoạn tán thán Tăng kế tiếp, ngƣời viết tự thêm vào.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 29


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

相好光明以自嚴。眾等至心皈命禮。 南無釋迦牟尼佛。 南無金剛不壞佛。 南無寶光佛。 南無龍尊王佛。 南無精進軍佛。 南無精進喜佛。 南無寶火佛。 南無寶月光佛。 南無現無愚佛。 南無寶月佛。 南無無垢佛。 南無離垢佛。 南無勇施佛。 南無清淨佛。 南無清淨施佛。 南無娑留那佛。 南無水天佛。 南無堅德佛。 南無旃檀功德佛。 南無無量掬光佛。 南無光德佛。 南無無憂德佛。 南無那羅延佛。 南無功德華佛。 南無蓮華光遊戲神通佛。 南無財功德佛。 南無德念佛。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 30


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

南無善名稱功德佛。 南無紅炎帝幢王佛。 南無善遊步功德佛。 南無鬥戰勝佛。 南無善遊步佛。 南無周匝莊嚴功德佛。 南無寶華遊步佛。 南無寶蓮華善住娑羅樹王佛。 南無法界藏身阿彌陀佛。 願將以此勝功德。回向無上真法界。 性相佛法及僧伽。二諦融通三昧印。 如是無量功德海。我今皆悉盡回向。 所有眾生身口意。見惑彈謗我法等。 如是一切諸業障。悉皆消滅盡無餘。 念念智周於法界。廣度眾生皆不退。 乃至虛空世界盡。眾生及業煩惱盡。 如是四法廣無邊。願今回向亦如是。 南無求懴悔菩薩。[三稱] 毗盧遮那佛 毗盧遮那佛。願力周沙界。一切国土中。恒轉無上輪。 大衆默念心經一遍 啟告十方 啟告十方。一切諸佛。般若菩薩。金剛天等。及諸外道。無量聖賢。我今 [某甲]。以大慈悲。乘佛神力。召請十方。盡虚空界。三涂地獄。諸恶趣中。 曠劫饑虚。一切餓鬼。阎羅諸司。天曹地府。業道冥官。婆羅門仙。先亡久 遠。曠野冥灵。虚空諸天。及諸眷屬。異類鬼神。 惟願諸佛。般若菩薩。金剛天等。無量聖賢。及諸業道。願賜威光。悲增 護念。普願十方。盡虚空界。天曹地府。業道冥官。無量餓鬼。多生父母。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 31


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

先亡久遠。婆羅門仙。一切怨家。负於财命。種種類族。異類鬼神。各及眷 屬。乘如来力。於此時中。决定降臨。得受如来上妙法味。清净甘露。飲食 充足。滋润身田。福德智慧。發菩提心。永離邪行。歸敬三寶。行大慈悲。 利益有情。求無上道。不受輪回。諸恶趣果。常生善家。離諸怖畏。身常清 净。証無上道。口常清净。証無上道。意常清净。証無上道。 次伸五供養 十方一切刹。諸佛菩薩眾。 無量諸聖賢。及諸業道官。 惟願大慈悲。降臨於法會。 接受花香燈涂果樂。微分少供養。 吽字涌出[啞。花。香。燈。啞。涂。果。樂] 天母。 一面四臂放光明。 上二手印持妙 [香。花。燈。啞。涂。果。樂。啞]。 下二手印輪相交。吽。 唵啞吽吽唵啞吽纥哩。 妙[啞。花。香。燈。涂。果。樂] 天母供養佛。 願我佛慈悲哀納受。 因緣自性所出生。所有種種微妙 [花。香。燈。涂。果。樂]。 奉献上師三寶尊。惟願慈悲哀納受。 户唵薩哩斡。怛阿哦多。布思必。 度必。啞噜吉。 干的。 儞尾的。 沙不 答。 布拶銘葛三謨的囉斯癹囉納三麻耶啞吽。 南無寶曇華菩薩。[三稱] [又伸供養。 若舉此節。 默念心經畢。 運轉蓮花手印伸供養] 唵薩哩斡[二合]。荅塔葛達薩叭哩尾囉。 唵斡資囉布思必。 度必。啞噜吉。 干的。 儞尾的。 沙不答。 啞吽。 布拶銘葛三謨的囉斯癹囉納三麻耶啞吽。 南無寶曇華菩薩。[三稱] Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 32


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

普陀洛伽 普陀洛伽常入定。随緣赴感靡不周。 尋聲救苦度群迷。是則名為觀自在。 次入觀音禅定 南無無盡三寶尊。我今誓發菩提心。 惟願菩薩来攝受。速証觀音微妙身。 次入觀音三摩地。澄心閉目觀心中。 圓满皎洁净月上。字種光明成蓮華。 華中有一觀自在。相好具足無比對。 左手執持妙蓮華。右手於葉作開势。 菩薩思惟有情身。各具覺悟之蓮華。 清净法界無惑染。八葉各有一如来。 如来入定跏趺坐。各各面向觀自在。 項佩圓光身金色。光明朗照及晃耀。 次想其華漸舒大。其量周遍虚空界。 思彼覺華照法界。如来海會共廣大。 心若不移於此定。憐愍一切諸眾生。 覺華蒙照脱苦恼。便同菩薩觀自在。 蓮花漸收同己量。復結自在觀音印。 加持四處誦密言。自身亦等觀自在。 次入觀音印 唵(引)斡資囉(二合)塔囉麻(二合)[口*紇]哩(二合) 吽得囕[口*紇]哩阿 [師印呪可知。每處以手印按之。誦真言一次。復以唵字加持。即當以印 按口上。次以吽字加頂。得囕(二合)字加臍。[口*紇]哩(二合)字加心。阿字加 喉。以此加持。令身堅固。所以一切魔礙皆不能害也加持四有處]。 以此禅定勝功德。回向法界諸眾生。 同見西方無量光。成就普賢廣大願。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 33


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

若人欲了知。三世一切佛。 應觀法界性。一切惟心造。 次結破地獄印 [两羽金剛拳施戒两相鉤進力伸相住念想開地獄三誦三掣開真言] 捺謨阿瑟吒。阿瑟吒。接諦喃。三藐三勃塔。俱胝喃。唵。撮辣納。嚩婆 细。提哩提哩。吽。 由此印咒威神力故。所有諸趣。地獄之門。随此印咒。[同和]豁然自開。 地藏十王 地藏十王起哀憐。揭桉標名納善緣。 孤魂须仗如来教。願憑法力判生天。 奉請地藏王菩薩 香花請。 香花請。  大聖地藏王菩薩 南無一心奉請。眾生度盡。方証菩提。地獄未空。誓不成佛。大聖地藏王 菩薩摩訶薩。 惟願。不違本誓。憐愍有情。此夜今時。光臨法會。 香花請。 香花請。  幽冥路上引魂王菩薩 南無一心奉請。手擎幡盖。身挂花幔。導眾生歸极樂之邦。引孤魂赴道場 之會。幽冥路上引魂王菩薩摩訶薩。 惟願。不違本誓。憐愍有情。此夜今時。光臨法會。 香花請。 香花請。  秦廣楚江 南無一心奉請:秦廣楚江并宋帝。五官閻羅變成王。泰山平等二明君。都 市轉輪十殿主。任摩羅界。 掌判陰司。 酆都十八慈王。 統領一陰真宰。 惟願承三寶力。仗秘密言。此夜今時。光臨法會。

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 34


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

運心平等 運心平等。法力無邊。恭對寒林前。稱揚寶号。 南無多寶如来。廣博身。 妙色相。 甘露王如来。南無薄伽伐諦。咒聲直上寒雲霄。路迢迢。羅漢生歡 昏除怨。唵。蘇寜蘇寜以圍繞。 户唵。必知。必舍左曩。曳哂曳哂。薩哩斡。母陀喃。耶莎訶。 秋雨梧桐 秋雨梧桐葉落時。夜凄凄。召請孤魂来赴會。唵。承此承此上蓮台。 户唵。必知。必舍左曩。曳哂曳哂。薩哩斡。母陀喃。耶莎訶。 今夜道場 今夜道場法筵開。會然来。召請孤魂来赴會。唵。樵楼樵楼鼓交悉。 户唵必知。必舍左曩。曳哂曳哂。薩哩斡。母陀喃。耶莎訶。 唵。部部帝哩。伽哩哆哩。怛他哦多耶。 孤魂聞召願来臨。 請諸香靈  金烏似箭 一心召請。金烏似箭。玉兔如梭。想骨肉以分離。睹音容 3而何在。初爇 名香。初伸召請。亡灵某甲一位正魂。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  遠觀山有色 一心召請。遠觀山有色。近聽水無聲。春去花還卸。人来鳥不驚。再爇名 香。再伸召請。亡灵某甲一位正魂。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  苦海滔滔 一心召請。苦海滔滔業自招。迷人不醒半分毫。今生不把彌陀念。枉在人 間走一遭。三爇名香。三伸召請。亡灵某甲一位正魂。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。 3

Chánh văn là “英雄”, nhƣng thấy các bản Hán tạng đều ghi là “音容”, tra cứu ý nghĩa phù hợp hơn nên đã thay đổi.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 35


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

請十二類孤魂  累朝帝主 一心召請。累朝帝主。歷代王侯。九重殿闕高居。萬里山河獨據。西來戰 艦。千年王氣俄收。北去鑾輿。五國冤聲未斷。[嗚呼]杜鵑呌落桃花月。血染 枝頭恨正長。 如是。前王後伯之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  築壇拜將 一心召請。築壇拜將。建節封侯。力移金鼎千鈞。身作長城萬里。霜寒豹 帳。徒勤汗馬之勞。風息狼烟。空負攀龍之望。[嗚呼]將軍戰馬今何在。野草 間花滿地愁。 如是。英雄將帥之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  五陵才俊 一心召請。五陵才俊。百郡賢良。三年清節為官。一片丹心報主。南州北 懸。久離桑梓之鄉。海角天涯。遠喪蓬萊之島。[嗚呼]宦况蕭蕭隨逝水。離魂 杳杳隔陽關。 如是。文臣宰輔之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  黌門才子 一心召請。黌門才子。白屋書生。探花足步文林。射策身遊棘院。螢燈飛 散。三年徒用工夫。鐵硯磨穿。十載漫施辛苦。[嗚呼]七尺紅羅書姓字。一坯 黃土盖文章。 如是。文人擧子之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 36


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 出塵上士 一心召請。出塵上士。飛錫高僧。精修五戒淨人。梵行比丘尼眾。黃花翠 竹。空談秘密真詮。白牯黧奴。徒演苦空妙偈。[嗚呼]經窓冷浸三更月。禪室 虗明半夜燈。 如是。緇衣釋子之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  黃冠野客 一心召請。黃冠野客。羽服仙流。桃源洞裏修真。閬苑洲前養性。三花九 煉。天曹未許標名。四大無常。地府難容轉限。[嗚呼]琳觀霜寒丹竈冷。醮壇 風慘杏花稀。 如是。玄門道士之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  江湖覊旅 一心召請。江湖覊旅。南北經商。圖財萬里遊行。積貨千金貿易。風霜不 測。身膏魚腹之中。途路難防。命喪羊腸之險。[嗚呼]滯魄北隨雲黯黯。客魂 東逐水悠悠。 如是。他鄉客旅之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  戎衣戰士 一心召請。戎衣戰士。臨陣徤兒。紅旗影裏爭雄。白刃叢中敵命。鼓金初 振。霎時腹破膓穿。勝敗纔分。遍地肢膓首碎。[嗚呼]漠漠黃沙聞鬼哭。茫茫 白骨少人收。 如是。陣亡兵卒之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  懷胎十月

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 37


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

一心召請。懷胎十月。坐草三朝。初欣鸞鳳和鳴。次望熊羆叶夢。奉恭欲 唱。吉凶只在片時。璋瓦未分。母子皆歸長夜。[嗚呼]花正開時遭急雨。月當 明處覆烏雲。 如是。血湖產難之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  蠻夷戎狄 一心召請。蠻夷戎狄。瘖瘂盲聾。勤勞失命庸奴。妬忌傷身婢妾。輕欺三 寶。罪愆積若河沙。忤逆雙親。兇惡浮于宇宙。[嗚呼]長夜漫漫何日曉。幽關 隱隱不知春。 如是。冥頑悖逆之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  宮幃美女 一心召請。宮幃美女。閨閣佳人。胭脂畵面爭妍。龍麝熏衣競俏。雲收雨 歇。魂消金谷之園。月缺花殘。膓斷馬嵬之驛。[嗚呼]昔日風流都不見。綠楊 芳草髑髏寒。 如是。裙釵婦女之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。  饑寒丐者 一心召請。饑寒丐者。刑戮囚人。遇水火以己身。逢虎狼而失命。懸梁服 毒。千年怨氣沉沉。雷擊崕崩。一點驚魂漾漾。[嗚呼]暮雨青烟寒鵲噪。秋風 黃葉亂鴉飛。 如是。傷亡橫死之流。一類孤魂等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。 法界六道 一心召請。法界六道。十類孤魂。面然所統。薜荔多眾。塵沙種類。依草 附木。魑魅魍魉。滞魄孤魂。自他先亡。家親眷屬等眾。 惟願。承三寶力。仗秘密言。此夜今時。来臨法會。来受無遮甘露法食。 [上師諭戒文撫尺一下白云] Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 38


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

蓋文。 大地山河 蓋文。 大地山河之内。 空行水陸之中。 孤魂。 滞魄。 橫死。 夭亡。 上 至王候相將。 下至士農工商。 尊卑男女。 或幽囚囹圄。 或步陷沙場。 或溺 河墮塹。 中汤中藥。 自刎自缢。 產難終身。 瘟癀夭逝。 或天雷振擊。 王法 加刑。 咒詛亡身。 如斯等類難以具陳。 既無墳墓而可依。 那有祠堂而設濟。 獨立崖巢 獨立崖巢樹下。 依棲海岸灘頭。 從教雨打風吹。 不覺寒来暑往。 四時無 骨肉以追修。 八節少親朋而享祭。 悽悽惨惨 悽悽惨惨。 只在冥途。 杳杳冥冥。 莫求出離。 幸遇今宵無遮之會。 仗 承弘願秘密之功。 河沙甶子。 從玆入聖超凡。 累世寃親。 自此承恩解脫。 咦。 蓮台 咦。 蓮台不離當處。 浄土只在目前。 不勞弾指証無生。 即心便参觀自在。 南無薦往生菩薩摩訶薩。[三稱] [撫尺一下舉偈云] 歎孤 覺皇密語壯皇都。 大闡宗風何處無。 一天佳气彌星斗。 萬象騰輝耀燭爐。 接引四生登九品。 提携六道出三涂。 此夜幸逢良宵景。 钟磬交加可嘆孤。 [振鈴召請] 以此振鈴伸召請 以此振鈴伸召請。孤魂聞召願来臨。仗承三寶力加持。此夜今時来赴會。 清浄法身 清浄法身毘盧佛。 圓滿報身盧遮那佛。 三類化身释迦佛。 當来下生彌勒尊佛。 十方三世一切佛。 西方接引阿彌陀佛。 骷髅文 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 39


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

昨日荒郊去玩游。忽睹一个大德骷髅。 荆棘丛中草没丘。冷颼颼。風吹 荷葉倒愁。骷髅骷髅。儞在滴水河邊。 卧洒清風。萃草為毡月作燈。領清清 又無一个来往弟兄。 骷髅骷髅。 儞在路旁。这君子。 儞是風家一个先亡。雨 打風吹似雪霜。 痛肝肠。泪汪汪。 骷髅骷髅。 我看儞只落得一對眼眶。 堪嘆浮生能幾何。 金鳥玉兔来往如梭。 百岁光陰一剎那。 莫蹉跎! 早求出離了苦海劫魔。 今宵施主修設冥陽會。 金爐内纔焚著寶香。 廣召孤魂赴道場。 消罪障。受沾福利。速往西方。 南無部部帝哩伽哩哆哩怛哆哦哆耶 。 孤魂聞召願来臨。 上來召請。悉以來臨。大眾慈悲。齊聲歎悼。 歎悼  修設齊筵 修設齊筵。阿難因緣起。救苦觀音。示現焦面鬼。 念佛宣揚。秘密功德力。 拔濟孤魂。来受甘露味。  近代先朝 近代先朝。帝主尊榮位。勳戚王侯。玉葉金枝貴。 宰輔中宮。綵女嬪妃類。夢斷華胥。來受甘露味。  國士朝臣 國士朝臣。經緯匡時世。牧化黎民。未遂忠良志。 失寵懷憂。謫降邊邦地。戀國遊魂。來受甘露味。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 40


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 武將戎臣 武將戎臣。統領三軍隊。結陣交鋒。鑼鼓喧天地。 北戰南征。失陷沙場內。為國亡身。來受甘露味。  學古窮今 學古窮今。錦繡文章士。映雪偷光。苦志寒窓內。 命運蹉跎。金榜無名字。鬱鬱幽魂。來受甘露味。  割愛辭親 割愛辭親。早入空門內。訪道尋師。只為超生死。 暑往寒來。不覺無常至。返照回光。早證菩提位。  羽服黃冠 羽服黃冠。早發修真志。煉藥燒丹。養性還元氣。 苦行勞神。指望登仙位。莫戀遺形。來受甘露味。  孝子賢孫 孝子賢孫。義勇忠良士。烈女貞妻。視死如歸去。 仗節亡軀。千古留英氣。耿耿靈魂。來受甘露味。  女道尼流 女道尼流。身住黃金地。鸞鳳緣空。不染人間事。 未了無為。流浪虗生死。清淨幽魂。來受甘露味。  地理天文 地理天文。醫藥陰陽類。卜卦占龜。風鑑并星士。 報吉談凶。難免無常至。棄偽歸真。來受甘露味。  坐賈行啇 坐賈行啇。種種經營輩。藝術多能。貿易求財利。 背井離鄉死在他方地。旅夢悠悠來受甘露味。  犯法遭刑 犯法遭刑。牢獄長幽繫。負命謀財。債主冤家類。 腫毒瘟[病-丙+皇]。凍死饑亡輩。速離黃泉。來受甘露味。  車碾傷殘 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 41


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

車碾傷殘。馬踏身形碎。墻倒崕崩。自刎懸梁縊。 水火漂。焚虎咬蛇傷類。九橫孤魂。來受甘露味。  食血茹毛 食血茹毛。生長蠻夷地。負債償勞。婢妾并奴隷。 瘖瘂盲聾。殘疾無依恃。受苦冤魂。來受甘露味。  忤逆爺娘 忤逆爺娘。怨黷天和地。謗佛欺僧。毀像焚經偈。 邪見深沉。苦報無邊際。十惡狂魂。來受甘露味。  大施門開 大施門開。薦拔孤魂輩。祖稱先亡。五姓冤家類。 八難三途。平等俱超濟。仗佛慈光。來受甘露味。  阿彌陀佛 阿彌陀佛。宿有無邊誓。觀見迷途。苦海常漂溺。 垂手提携。特駕慈航至。普度眾生。同赴蓮池會。 蓮池海會佛菩薩。 入小蒙山 若人欲了知。 三世一切佛。 應觀法界性。 一切唯心造。[三稱] [以下俱各三稱]  破地獄真言 唵。伽囉帝耶娑婆訶。  普召請真言 南無部部帝唎伽哩哆哩怛哆誐哆耶。  解怨結真言 唵。三陀囉伽陀娑婆訶。  皈依三寶 南無大方廣佛華巖經。 南無常住十方佛。 南無常住十方法。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 42


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

南無常住十方僧。 南無本師釋迦牟尼佛。 南無大悲觀世音菩薩。 南無冥陽救苦地藏王菩薩 南無啟教阿難陀尊者。 皈依佛。 皈依法。 皈依僧。 皈依佛。 兩足尊。 皈依法。 離欲尊。 皈依僧。 眾中尊。 皈依佛竟。 皈依法竟。 皈依僧竟。  懺悔業障 佛子所造諸惡業。皆由無始貪嗔癡。從身語意之所生。一切佛子求懺悔 有情所造諸惡業。皆由無始貪嗔癡。從身語意之所生。一切有情皆懺悔 孤魂所造諸惡業。皆由無始貪嗔癡。從身語意之所生。一切孤魂皆懺悔  發菩提心 眾生無邊誓願度。煩惱無盡誓願斷。法門無量誓願學。佛道無上誓願成 自性眾生誓願度。自性煩惱誓願斷。自性法門誓願學。自性佛道誓願成  滅定業真言 唵。 鉢囉末鄰陀[寧+頁]娑婆訶。  滅業障真言 唵。 阿嚕勒繼娑婆訶。  開咽喉真言 唵。 步步底哩伽哆哩怛哆誐哆耶。  三昧耶戒真言 唵。 三昧耶薩埵鍐。  變食真言 南無薩嚩怛他誐哆呼嚕枳帝唵三跋囉三跋囉吽。  甘露水真言 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 43


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

南無蘇嚕婆耶怛他誐哆耶怛姪他唵蘇嚕蘇嚕鉢囉蘇嚕鉢囉蘇嚕娑婆訶。  一字水輪真言 唵。 鍐鑁鍐鍐鍐鍐。  乳海真言 南無三滿哆沒馱喃唵鍐。  七寶如來 南無多寶如來。南無寶勝如來。南無妙色身如來。南無廣博身如來。南無 離怖畏如來。南無甘露王如來。南無阿彌陀如來。 [戒指寫水中吽字]  神咒加持 神咒加持[淨法食。法施食。甘露水]。普施河沙眾[佛子。有情。孤魂]。 願皆飽滿捨慳貪。速脫幽冥生淨土。昄依三寶發菩提。究竟得成無上道。功 德無邊盡未來一切[佛子。有情。孤魂]同法食。[三遍]  汝等 汝等[佛子。有情。孤魂]眾。我今施汝供。此食遍十方。一切[佛子。有情。 孤魂]共。願以此功德。普及於一切。施食與[佛子。有情。孤魂]。皆共成佛 道。  施無遮食真言 唵。穆力陵娑婆訶。  普供養真言 唵。誐誐曩三婆嚩伐日囉斛。 [普供養真言畢。 般若往生咒三徧化之] 普面向真言 唵。娑摩囉。娑摩囉。彌摩曩。薩哈囉摩訶咱哈囉吽。 願晝吉祥夜吉祥 願晝吉祥夜吉祥。晝夜六時恆吉祥。一切時中吉祥者。願諸上師哀攝受。 願晝吉祥夜吉祥。晝夜六時恆吉祥。一切時中吉祥者。願諸三寶哀攝受。 願晝吉祥夜吉祥。晝夜六時恆吉祥。一切時中吉祥者。願諸護法常擁護。 四生登於淨寶地。三有拖化妙蓮池。沙餓鬼證三賢。萬類有情登十地。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 44


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

南無超十地菩薩摩訶薩。[三稱] 伏以文 見聞如幻翳。三界若空花。 聞復翳根除。塵消覺圓净。 伏以真源湛寂。乃罪性之本空。苦海洪深。逐妄波而不息。由眾生之業感。 致長劫以沈淪。受報地獄之中。永罹苦楚。轉生餓鬼之內。長忍饑虗。既無 解脫之期寧有超昇之路。匪仗如來之慈願。曷解惡趣之倒懸呪誦真詮。施甘 露之法食。燈燃寶炬。燭冥界之幽途。普使迷流。俱超極樂。 今日道場。以此普施功德。回向鐵圍山內面燃大士統領三十六部無量無邊 恒河沙數諸餓鬼眾。 伏願自從曠劫。直至今生。釋業障以銷鎔。雪罪愆而清淨。鑊湯涌沸。變 成八德之蓮池。爐燄交輝。化作七珍之香葢。劒樹皆為玉樹。刀山盡作寶山。 徧界鐵牀。現菩提之法座。滿釜銅汁。化甘露之醍醐。往昔債主以相逢。俱 蒙解脫。積劫冤家而共會。各遂逍遙。獄主興慈。冥官持善。多生父母。從 茲入聖超凡。累世親姻。自此承恩獲福。天上五衰不現。人間四相皆空。脩 羅捨盡瞋心。地獄息諸苦惱。河沙餓鬼。化熱惱而作清涼。十類含生。捨迷 途而登覺岸。 普願此國土。他國土。無量諸國土。一切有情共證真常。此世界。他世界。 無量諸世界。無盡含識齊成佛道。四恩普報。三有均資。法界眾生。同圓種 智。 諸佛正法菩薩僧。直至菩提我歸依。 我以所修諸善根。為利有情願成佛。 世出世間。[同和]随願所成。[三稱] 謹依瑜伽教。建置啟法筵。 普願諸有情。皆共成佛道。 次結圓满奉送印 [二羽金剛拳。進力兩相鉤。誦真言] 唵。斡資囉。穆吃吒穆。 Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 45


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

[師印咒可知。想諸佛菩薩及六道四生悉皆不現。二善根圓滿。復念金剛 薩埵百字三遍補阙]

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 46


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

金剛薩埵百字呪 唵。斡資囉[二合]薩埵蘇。薩麻耶。麻納巴辢耶。斡資囉[二合]薩埵諦。 奴鉢諦瑟劄[二合]得哩[二合]鋤。彌癹咓。蘇度束。彌癹咓。阿奴囉屹都[二 合]。彌癹咓。蘇布蘇。彌癹咓。薩哩斡[二合]。戌提彌。不囉[二合]耶茶。薩 哩斡[二合]。葛哩麻[二合]。蘇拶彌。稷達。釋哩[二合]揚。骨嚕。吽。訶。 訶。訶。訶。斛。癹葛灣。薩哩斡[二合]。答塔葛達斡資囉[二合]。麻彌們拶。 斡資囉[二合]癹咓。麻訶薩摩耶。薩埵阿 [引] [此咒補闕。行者手作印不次弟。 觀想不專注。 如是等過。 悉皆清浄。 復念[阿] 字二十一遍。 則前来能想所想一一修行皆不能得。 若不如是。 則墮 於有為矣。 所謂燄口豈易語哉! 表白舉偈。衆同和。] 回向偈 施食功德殊勝行。無邊勝福皆回向。 普願沉溺諸衆生。速往無量光佛刹。 十方三世一切佛。文殊普賢觀自在。 諸尊菩薩摩訶薩。 摩訶般若波羅密。 上来。修設蒙山。甘露法食一筵。 功德圓满。普沾沙界。 和南聖眾。 天機蒙山集要施食儀終。

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 47


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

2.2.

Phiên âm Trầm nhũ chiên đàn

Trầm nhũ chiên đàn giá mạc luân, Kim Lô tài nhiệt phún tƣờng vân. Nhân Uân biến triệt tam thiên giới, Vi thoại vi tƣờng đạt Thế Tôn. Giới định chơn hương Giới định chơn hƣơng, Phần khởi xung thiên thƣợng, Đệ tử kiền thành, Nhiệt tại kim lô phóng, Khoảnh khắc nhân uân, Tức biến mãn thập phƣơng. Tích nhật Da Du, Miễn nạn tiêu tai chƣớng. Nam mô Hƣơng Vân Cái Bồ Tát ma ha tát. (tam xƣng) Thăng trầm tam giới Thăng trầm tam giới thiệt khả thƣơng, Luân hồi lục đạo khổ nan đƣơng, Bổn tự tƣ tu đăng thƣợng phẩm, Chỉ nhân trục vọng lạc biên hƣơng. Hắc hắc minh đồ vô nhật nguyệt, Mang mang nghiệp hải thiểu từ hàng. Dục khai cam lồ vô giá hội, Đàn nội tiên tu khởi giác hoàng. Cái văn! Hồng luân tây trụy, u ám sơ hôn. Mãn thiên tinh đẩu thƣ quang, Đại địa hỏa cự phát diệm. U viên thƣớc loại quy sào huyệt, Hồng đồ nhân mã bôn gia hƣơng. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 48


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Tiêu lâu cổ hƣớng đinh đƣơng, Thảo giản khê thanh thảm thiết. Cấm môn cao tỏa bế, Sài hộ mật thâm quan. Chánh nãi nhân tàng quỷ xuất chi thời, Đƣơng thị siêu cô độ u chi tế. Kim thần… phụng Phật, trƣợng ngã Sa môn cung tựu án tiền, cao thiết nghê đài, phóng thí Mông Sơn, cam lồ Pháp thực nhất diên. Sở hữu tham lễ Giác Hoàng, ngƣỡng lao đại chúng, đồng âm tán dƣơng Tam Bảo. Khể thủ quy y Khể thủ quy y đại giác tôn, Vô thƣợng năng nhân. Quán kiến chúng sanh thọ khổ tân, Hạ Đâu Suất thiên. Hoàng cung giáng tích, Tuyết lãnh tu nhân. Thƣớc sào đảnh tam tằng lũy, Lục niên khổ hạnh. Nhƣợc nhân quy y đại giác tôn, Bất đọa trầm luân. Nhƣợc nhân quy y đại giác tôn, Bất đọa trầm luân. Khể thủ quy y Khể thủ quy y Phật Pháp Tăng Tam Bảo. Tam Bảo từ tôn. Cấp cô trƣởng giả xá Kỳ viên, Bố mãn kim chuyên. Thiện Tài đồng tử Thiện Tài đồng tử, Ngũ thập tam tham. Siêu sanh tử, độ cô hồn, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 49


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Tảo vãng Tây phƣơng. Nhƣợc nhân, nhƣợc nhân quy y Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, Bất đọa tam đồ. Nam mô Chứng Minh Sƣ Bồ Tát. (tam xƣng) Ái hà Ái hà thiên xích lãng, khổ hải vạn trùng ba. Dục thoát luân hồi khổ, tảo cấp niệm Di Đà. (Niệm Phật) (Xuất ngoại, tiến vong, tùy sƣ thông. Thứ chí đại sĩ tiền thƣợng hƣơng, cử tán) Diện Nhiên Đại Sĩ Diện Nhiên Đại Sĩ, Bồ Tát hóa thân. Ốc Tiêu sơn hạ hiện chơn hình. Kình phá Thiết Vi thành. Đới lãnh cô hồn, Bảo mãn tận siêu thăng. Nam Mô Cam Lồ Vƣơng Bồ Tát. (tam xƣng) (Sƣ hƣớng Kim đài cử tán Dƣơng chi, chúng đồng hòa) Dương chi tịnh thủy Dƣơng chi tịnh thủy, Biến sái tam thiên. Tánh không bát đức lợi nhân thiên. Pháp giới quảng tăng diên. Diệt tội tiêu khiên, Hỏa diệm hóa hồng liên. Nam mô Thanh Lƣơng Địa Bồ Tát. (tam xƣng) (Thứ thị giả thƣợng đài thỉnh sƣ đăng bảo tòa. Phủ xích dĩ hạ thán vân) Bảo tọa cao cao Bảo tọa cao cao vô ngại, Thƣợng hữu thiên thùy bảo cái, Thỉnh sƣ na bộ đăng đài, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 50


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Đại vị cô hồn thuyết giới. (Sƣ đáp) Viên minh nhất điểm bổn phi không, Liễu chứng vô vi hƣớng thƣợng tông, Tam thế chƣ Phật na nhất bộ, Quyền lƣu bảo tọa tức ngô đăng. (Thị giả phủ xích nhất hạ, đáp vân) Đả cổ tam thông đăng bảo tọa, Phất tử Cô hồn tận siêu thăng. (Thị giả phủ xích nhất hạ, Thƣợng Sƣ xƣớng vân) Hội khởi Mông Sơn Hội khởi Mông Sơn tối thắng duyên, Giác Hoàng thùy phạm lợi nhân thiên. Kinh tuyên bí điển siêu đồ thán, Giáo diễn chơn thừa cứu đảo huyền. Nan Đà Tôn giả nhơn tập định, Cứu khổ Quan Âm thị Diện Nhiên. Hƣng từ tế vật chơn tam muội. Cảm quả phao ân vạn cổ truyền. Lô hương Lô hƣơng sạ nhiệt, Pháp giới mông huân, Mông Sơn hải hội tất diêu văn, Tùy xứ kết tƣờng vân, Thành ý phƣơng ân, Chƣ Phật hiện toàn thân. Nam mô Hƣơng Vân Cái Bồ Tát. (tam xƣng) Thử nhất biện hương Thử nhất biện hƣơng, bất tùng thiên giáng, phi thuộc địa sanh. Lƣỡng nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung t ắc tam giới; nhất khí tài phân chi hậu, chi diệp biến mãn thập phƣơng. Siêu nhật nguyệt chi quang hoa, hàm sơn xuyên chi tú lệ. Tức Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 51


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

giới, tức định, tức huệ; phi mộc, phi hỏa, phi yên. Thâu lai tại nhất vi trần, tán khứ phổ châu sa giới. Ngã kim nhiệt hƣớng kim lô, đoan thân cúng dƣờng, thập phƣơng Thƣờng Trú Tam Bảo, sát hải vạn linh, tất trƣợng chơn hƣơng, đồng quy chơn tế. Cát tường hội khởi Cát tƣờng hội khởi, Cam lồ môn khai, Cô hồn Phất tử giáng lâm lai, Văn Pháp phú hƣơng trai, Vĩnh thoát luân hồi, U ám nhất thời khai. Nam mô Vân Lai Tập Bồ Tát. (tam xƣng) Phật diện Phật diện do nhƣ tịnh mãn nguyệt, Diệc nhƣ thiên nhật phóng quang minh. Viên quang phổ chiếu ƣ thập phƣơng, Hỷ xả từ bi giai cụ túc. Nam mô tận hƣ không, biến Pháp giới, quá hiện vị lai, Phật Pháp Tăng Tam Bảo. (tam xƣng) Nam mô Đăng Bảo Tọa Bồ Tát. (tam xƣng) (Thứ Thƣợng Sƣ đăng bảo tọa, biểu bạch cử vân) Hải chấn triều âm Hải chấn triều âm thuyết phổ môn, Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn, Dƣơng chi nhất đích chơn cam lồ, Tán tác sơn hà đại địa xuân. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (tam xƣng) Phù thử thủy giả Phù thử thủy giả, bát công đức thủy tự thiên chơn, tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần. Biến nhập Tỳ Lô hoa tạng giới, cá trung vô xứ bất siêu luân. Thủy bất tẩy thủy, diệu cực Pháp thân; trần bất nhiễm trần, phản tác tự kỷ. Quyên trừ nội ngoại, đãn địch đàn tràng. Sái khô mộc, nhi tác dƣơng xuân; khiết uế bang, nhi thành tịnh Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 52


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

độ. Sở vị đạo nội ngoại trung gian vô trƣợc uế, Thánh phàm u hiển tổng thanh lƣơng. Bồ Tát liễu đầu cam lồ thủy, Năng linh nhất đích biến thập phƣơng. Tinh thiên4 cấu uế tận quyên trừ, Linh thử Pháp diên thƣờng thanh tịnh. Giáo hữu mật ngôn, cẩn đƣơng trì tụng. Đại bi chú (Tụng thử đại bi chú nhất biến. Thƣợng sƣ trì tịnh thủy, chí “Án” tự, khuynh thủy nhất bán. Tại thủy bôi trung gia trì, linh thị giả trì thủy hạ tọa, ƣ đàn nội nhiễu tam táp, tịnh sái thực phẩm nhất nhất nhƣ thị) Nam mô Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát. (tam xƣng) (Tụng đại bi chú nhất biến chí Cam Lồ Vƣơng Bồ Tát) Ngũ phƣơng ngũ Phật đại oai thần Ngũ phƣơng ngũ Phật đại oai thần, Kiết giới hàng ma biến sát trần, Kim tiêu Tỳ Lô quan thƣợng hiện, Nhất chiêm nhất lễ tổng quy chơn. (Thứ niệm Phật Mẫu Chuẩn Đề thần chú. Đại chúng đồng thanh tán, hòa Thƣợng sƣ gia trì ngũ quan) Khể thủ quy y Khể thủ quy y Tô Tất Đế, Đầu diện đảnh lễ Thất Câu Chi, Ngã kim xƣng tán Đại Chuẩn Đề, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ, Nam mô tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đà, cu chi nẩm, đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta bà ha. Nam mô Chuẩn Đề Vƣơng Bồ Tát. (tam xƣng) Thời Đáo Pháp Vương tòa

4

Thƣờng nghe đọc là “chiên”. Tuy nhiên, tra từ điển Hán Việt của Thiều Chửu hay Trần Văn Chánh thì đều có hai âm là “đãn” và “thiên”. “Thiên” có nghĩa là mùi tanh hôi của loài dê.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 53


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Thời Đáo Pháp Vƣơng tòa, Nhân thiên phổ hộ trì. Ngã kim đăng hiển mật, Phụng thỉnh Tỳ Lô tôn. (Phủ xích nhất hạ, chấp lô hƣơng, Thƣợng sƣ “Tỳ Lô Tôn”, đại chúng hòa thỉnh) Tỳ Lô Nhƣ Lai, Đại Quang Minh Tạng. Ngũ phương kiết giới Hồng hồng án mọ ni hồng. Thiên thƣợng thiên hạ vô nhƣ Phật (Án mọ ni hồng). Thập phƣơng thế giới (Án dạ hồng), diệc vô tỷ (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thế gian sở hữu ngã tận kiến (Án mọ ni hồng), Nhất thiết vô hữu (Án, dạ hồng), nhƣ Phật giả (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Đông phương Đông phƣơng thế giới A Sơ Phật (Án mọ ni hồng), Kỳ thân thanh sắc (Án dạ hồng), phóng quang minh (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn chấp trì Kim Cang xử (Án mọ ni hồng), Chúng đẳng chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Nam phương Nam phƣơng thế giới Bảo Sanh Phật (Án mọ ni hồng), Kỳ thân xích sắc (Án dạ hồng), phóng quang minh (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn chấp trì ma ni bảo (Án mọ ni hồng), Chúng đẳng chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Tây phương Tây phƣơng thế giới Di Đà Phật (Án mọ ni hồng), Kỳ thân bạch sắc (Án dạ hồng), phóng quang minh (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn chấp trì diệu liên hoa (Án mọ ni hồng), Chúng đẳng chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Bắc phương Bắc phƣơng thế giới Thành Tựu Phật (Án mọ ni hồng), Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 54


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Kỳ thân hắc sắc (Án dạ hồng), phóng quang minh (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn chấp trì luân tƣơng giao (Án mọ ni hồng), Chúng đẳng chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Trung ương Trung ƣơng thế giới Tỳ Lô Phật (Án mọ ni hồng), Kỳ thân huỳnh sắc (Án dạ hồng), phóng quang minh (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn chấp trì Thiên phúc luân (Án mọ ni hồng), Chúng đẳng chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Hộ ngạn tát rị quan Hộ ngạn tát rị quan, đát a nga đa. Bố từ bây, độ bây, de lộ kia, càn đích, nê vĩ đích, thạc bụt thạp. Bố choang min cót than mọ đích lai tƣ phin lai nại than mọ de dạ, hồng. Nam mô Bảo Đàm Hoa Bồ Tát. (tam xƣng) Bình trung cam lồ Như Lai trí Bình trung cam lồ Nhƣ Lai trí, Yếu khử trần lao bất tịnh thân, Ngã kim khất thủ chƣởng trung tồn, Phổ sái Pháp diên thƣờng thanh tịnh. Tịnh Pháp giới chơn ngôn (Tụng chơn ngôn thời, điều phục thân tâm, tƣởng đảnh tề lƣỡng xứ cụ “Án Lam” nhị tự. Niệm thanh tịnh cố, dĩ biểu phƣớc huệ câu mãn.) Ngạn lãm, ngạn lam, tóa ha. (tam xƣng) Điểm Tịnh chơn ngôn (Tụng chơn ngôn, dụng hữu thủ vô danh chỉ vấn thủ hƣơng thủy đàn sái hƣ không tịnh hiệp chƣởng tƣởng đàn tràng nội ngoại tất linh thanh tịnh viên mãn.) Ngạn, dạ mục cót choang lai di mo nghinh, tô rô tô rô, tóa ha. (tam xƣng) Gia trì hoa mễ chơn ngôn (Tụng chơn ngôn, lƣỡng thủ niêm hoa mễ tam thứ tƣởng thành quang minh chủng, xuất sanh kim, ngân, bích ngọc, trân bảo vân vân.) Ngạn, quan tƣ lai, phổ min dạ, hồng. (tam xƣng) Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 55


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Gia Trì Bảo Linh chơn ngôn (Tụng chơn ngôn, tả thủ niêm hoa mễ, sái tại linh thƣợng tƣởng thành trí tuệ chủng.) Ngạn, quan tƣ lai, tát kháp dạ, hồng. (tam xƣng) Ngạn, dạ, hồng. (tam xƣng). Ngã kim chấn linh xử Ngã kim chấn linh xử, Thanh biến thập phƣơng xứ. Lễ thỉnh chƣ Thánh hiền, Tất giai vân lai tập. Thử nãi nhất thiết chƣ Nhƣ Lai, Thủ trung chấp trì Kim Cang xử. Kim Cang Phật mẫu đại dõng thức. Ngã kim hằng thƣờng nhi chấp trì, Nguyện diệt hữu tình đại ngu si. Ngạn hạ lai, hạ lai, hồng. (tam xƣng) Thập nhị nhân duyên chú Ngạn de thác lƣ mo hê đô. Phút lai bo choang hê, đôn đích san. Đáp thạp cót đáp yết, quan đãn đích san. Choang đích nê lô, đãn de bƣng cót đế, Mo cót thích lai, mọ nại de, tóa ha. (Trí linh vu án, dĩ tả thủ niêm hoa mễ, xƣớng vân) Ngã cập Pháp giới Ngã cập Pháp giới, nhất thiết hữu tình, tùng kim vi thỉ, nãi chí vị chứng Bồ Đề chi gian, thệ nguyện quy y Kim Cang Thƣợng Sƣ Tam Bảo. Thượng Sư Tam Bảo chơn ngôn Nại mo cu lô tì de, Nại mo bụt thạp de, Nại mo thạc lừ mo de, Nại mo tứng cót de. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 56


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Ngạn, rị rị kháp kháp hồng hồng phín đáp. Ngạn, thất rị mo kháp kha lai kháp kháp hồng hồng phín đáp, tóa ha. (tam xƣng) Ngạn, dạ, hồng. (tam xƣng) (Tƣơng thủ trì đích hoa mễ tán sái hƣ không, tƣởng sở bảo mễ tất thành hoa hƣơng cúng dƣờng đẳng vân) (Phủ xích nhất hạ, tụng vân) La liệt hương hoa La liệt hƣơng hoa kiến bảo đàn, Trùng trùng Phật cảnh nhất hào đoan, Tâm dung diệu lý hƣ không tiểu, Đạo khế chơn nhƣ Pháp giới khoan. Tƣớng hảo từ bi thu nguyệt mãn, Hóa thân đằng vận mộ vân phồn. Hƣơng yên đồi lý chiêm ứng hiện, Vạn tƣợng sâm la hải ấn hàm. Thích Ca Như Lai Thích Ca Nhƣ Lai, (đồng xƣớng) Chứng minh công đức. Quán Thế Âm Bồ Tát, (đồng xƣớng) Mật thùy gia hộ. A Nan Đà Tôn giả, (đồng xƣớng) Hƣng quyền khải giáo. (Chấn linh, niệm Tự Tánh Kệ) Tự Tánh Kệ Phƣơng tiện tự tánh bất hoại thể, Kim Cang bất hoại đại dõng thức. Tối thắng vô tỷ siêu xuất tƣớng, Kim thử sở tác giai thành tựu. Thắng tuệ tự tánh thậm thâm tánh, Diễn thuyết tối thƣợng Pháp luân âm. Dĩ vô sanh hiện phƣơng tiện thân, Kim thử sở tác nguyện cụ túc. Tịnh Địa kệ Nhất thiết phƣơng ngung sở hữu địa, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 57


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Ngõa lịch sa tích đẳng giai vô. Lƣu ly bảo địa bình nhƣ chƣởng, Nhu nhuyến vi diệu nguyện an trụ. Do nhƣ Cực Lạc quốc trang nghiêm, Diệu bảo vi địa chúng hoa phu. Viên lâm trì chiểu vô khuyết thiểu, Dĩ đại Pháp âm nguyện cụ túc. Tùng xuất thế gian phục năng hiện, Chủng chủng thất bảo chi sở thành. Vô lƣợng quang minh biến chiếu xứ, Chƣ Phật Bồ Tát nguyện an trụ. Ngạn, quan tƣ lai, khán chi di, lai nạp lai nạp, phút lai lai nạp, phút lai lai nạp, tam phút lai lai nạp, tam phút lai lai nạp, tát rị quan, bụt thạp xích đích lai. Phút lai choang rị đáp, mo cót phút lai ni nha, ba lai miệt đáp na đạt, đạt tốc ba vi tát rị quan, tháp rị mo, kia rị đạt de, san đa sa na. cót rị, hồng hồng, phín tra, tóa ha. Khiển ma chơn ngôn (Dĩ nhị thủ tác Kim Cang quyền, thủ bối tƣơng kháo, nhị tiểu chỉ tƣơng câu, nhị đầu chỉ trực kiên quyết ấn đƣơng hung, tƣởng thủ ấn xuất hỏa quang khiển cảnh giới ma) Ngạn, quan tƣ lai, quan tƣ lai, a di rị đạt, quân tra rị, cót nạp cót nạp, hồng hồng, phín tra. (tam xƣng) Phục Ma chơn ngôn (Nhị thủ ngoại tƣơng thoa, tiến lực chỉ trực kiên quyết ấn đƣơng hung, thủ động tợ phiến ấn xuất hỏa quang, nhi khiển chƣ ma) Ngạn, quan tƣ lai, quan tƣ lai, nha kháp hồng Hỏa Luân chơn ngôn (Dĩ nhị thủ nội tƣơng thoa, thập chỉ nghênh thƣợng quyết ấn hung tiền, tƣởng ấn phóng Kim Cang diệm linh ma viễn ly) Ngạn, quan tƣ lai, tả lạt, a nại lạt, cót nại đáp cót, ba choang ma tháp, bân choang lai nạp, hồng hồng phín tra.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 58


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Ngạn, tát rị quan, đáp thạp cót đạt lai đích nại mo cót mạn, đáp lạt. Bố choang di khát tát mọ đích lai tƣ phin lai nại than mọ de dạ hồng. (nhị biến) (Phủ xích nhất hạ, bạch vân) Tam quy y tán Phật, Pháp, Tăng Bảo, thể biến thập phƣơng, cung kỉnh thỉnh kỳ, tất mông cảm ứng. Tƣ đƣơng xiển dƣơng thí thực chi sơ, tiên tu quy kính Tam Bảo, yếu kỳ Pháp sự châu long, thứ sử thắng nhân thành tựu. Đại chúng từ bi, tề thanh ứng hòa. Chí tâm tín lễ Phật-đà-da. Lƣỡng túc tôn, Tam giác viên, Vạn đức cụ, nhân thiên điều ngự sƣ, Án Dạ Hồng, phàm thánh đại từ phụ; tùng chơn giới, đằng ƣng chất, bi hóa phổ, kiên cùng tam tế thời, hoành biến thập phƣơng xứ. Chấn pháp lôi, minh pháp cổ, quảng diễn quyền thiệt giáo, Án Dạ Hồng, đại khai phƣơng tiện lộ; nhƣợc quy y, năng tiêu diệt, địa ngục khổ. Phật tử nhƣợc quy y, năng tiêu diệt, địa ngục khổ. Chí tâm tín lễ Đạt-ma-da. Ly dục tôn, Bảo tạng thâu, Ngọc hàm trữ, kết tập ƣ Tây Vức, Án Dạ Hồng, phiên dịch truyền Đông độ; Tổ sƣ hoằng, Hiền triết phán, thành chƣơng sớ, tam thừa phân đốn tiệm, ngũ giáo định tôn thú. Quỷ thần khâm, long thiên hộ, đạo mê tiêu nguyệt chỉ, Án Dạ Hồng, trừ nhiệt chơn cam lồ; nhƣợc quy y, năng tiêu diệt, Ngạ quỷ khổ. Phật tử nhƣợc quy y, năng tiêu diệt, Ngạ quỷ khổ. Chí tâm tín lễ Tăng-già-da. Chúng trung tôn, Ngũ đức sƣ, Lục hòa lữ, lợi sanh vi sự nghiệp, Án Dạ Hồng, hoằng pháp thị gia vụ; tỵ hiêu trần, thƣờng yến tọa, tịch tịnh xứ, giá thân phục thuế y, sung phúc thái tân vi. Bát hàng long, tích giải hổ, pháp đăng thƣờng biến chiếu, Án Dạ Hồng, Tổ sƣ tƣơng truyền phú; nhƣợc quy y, năng tiêu diệt, bàng sanh khổ. Phật tử nhƣợc quy y, năng tiêu diệt, bàng sanh khổ. Chúng đẳng phát quảng đại tâm Chúng đẳng phát quảng đại tâm, Quy y Kim Cang Thƣợng sƣ. Quy Y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ngã kim phát tâm, bất vị tự cầu, nhân thiên phƣớc báo, Thanh Văn, Duyên Giác, nãi chí quyền thừa, chƣ vị Bồ Tát, duy y Tối thƣợng thừa, phát Bồ Đề tâm, nguyện dữ Pháp giới chúng sanh, nhất thời đồng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 59


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Khể Thủ Thập Phương Khể thủ thập phƣơng Điều Ngự Sƣ, Diễn dƣơng thanh tịnh vi diệu Pháp Tam thừa Tứ quả Giải thoát Tăng Nguyện tứ Từ Bi lâm Pháp hội. Phụng Thỉnh Tam Bảo (Biểu bạch hoa hƣơng, thỉnh chúng hòa. Tất, thủ giả cử lƣ thỉnh vân) Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, tận hƣ không biến pháp giới vi trần sát độ trung, chƣ Phật Pháp Tăng, Kim Cang mật tích, Vệ pháp thần vƣơng, Thiên long bát bộ, Bà-la-môn tiên, nhất thiết thánh chúng. Duy nguyện bất vi bổn thệ lân mẫn phàm tình, thử dạ kim thời, quang lâm Pháp hội. Hƣơng hoa thỉnh, hƣơng hoa thỉnh. Cẩn y Du Già giáo Cẩn y Du Già giáo, kiến trí mạn noa lai, Duy nguyện Tam Bảo tôn, từ bi ai nạp thọ. Ấn hiện đàn nghi (“Thiên Thủ Nhãn Tu Hành Nghi” vân: Nhị thủ tác Kim Cang quyền, thí giới tuệ lực tƣơng câu, hung tiền vi động, niệm chơn ngôn viết.) Ngạn, quan tƣ lai, quan tƣ lai, choang giới lai, choang giới lai, hồng, choang hồng, bang hộc. Đại chúng niệm tam thập ngũ Phật Đại từ đại bi mẫn chúng sanh, đại hỷ đại xả tế hàm thức. Tƣớng hảo quang minh dĩ tự nghiêm, chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Kim Cang Bất Hoại Phật. Nam Mô Bảo Quang Phật. Nam Mô Long Tôn Vƣơng Phật. Nam Mô Tinh Tấn Quân Phật. Nam Mô Tinh Tấn Hỷ Phật. Nam Mô Bảo Hỏa Phật. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 60


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Nam Mô Bảo Nguyệt Quang Phật. Nam Mô Hiện Vô Ngu Phật. Nam Mô Bảo Nguyệt Phật. Nam Mô Vô Cấu Phật. Nam Mô Ly Cấu Phật. Nam Mô Dõng Thí Phật. Nam Mô Thanh Tịnh Phật. Nam Mô Thanh Tịnh Thí Phật. Nam Mô Ta Lƣu Na Phật. Nam Mô Thủy Thiên Phật. Nam Mô Kiên Đức Phật. Nam Mô Chiên Đàn Công Đức Phật Nam Mô Vô Lƣợng Cúc Quang Phật. Nam Mô Quang Đức Phật. Nam Mô Vô Ƣu Đức Phật Nam Mô Na La Diên Phật. Nam Mô Công Đức Hoa Phật. Nam Mô Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông Phật. Nam Mô Tài Công Đức Phật. Nam Mô Đức Niệm Phật. Nam Mô Thiện Danh Xƣng Công Đức Phật. Nam Mô Hồng Diệm Đế Tràng Vƣơng Phật. Nam Mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật. Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật. Nam MôThiện Du Bộ Phật. Nam Mô Châu Tráp Trang Nghiêm Công Đức Phật. Nam Mô Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vƣơng Phật. Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật. Nguyện tƣơng dĩ thử thắng công đức, Hồi hƣớng vô thƣợng chơn Pháp giới, Tánh tƣớng Phật, Pháp cập Tăng Già, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 61


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Nhị Đế dung thông tam muội ấn Nhƣ thị vô lƣợng công đức hải Ngã kim giai tất tận hồi hƣớng Sở hữu chúng sanh thân, khẩu, ý, Kiến hoặc đàn báng ngã Pháp đẳng, Nhƣ thị nhất thiết chƣ nghiệp chƣớng, Tất giai tiêu diệt tận vô dƣ, Niệm niệm trí châu ƣ Pháp giới, Quảng độ chúng sanh giai bất thối, Nãi chí hƣ không thế giới tận, Chúng sanh cập nghiệp phiền não tận, Nhƣ thị tứ Pháp quảng vô biên, Nguyện kim hồi hƣớng diệc nhƣ thị. Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát. (tam xƣng) Tỳ-lô-giá-na Phật Tỳ-lô-giá-na Phật, nguyện lực châu sa giới, Nhất thiết quốc độ trung, hằng chuyển vô thƣợng luân Đại chúng mặc niệm tâm kinh nhất biến Khải cáo thập phƣơng Khải cáo thập phƣơng, nhất thiết chƣ Phật, Bát Nhã Bồ Tát, Kim Cang thiên đẳng, cập chƣ ngoại đạo, vô lƣợng Thánh hiền, ngã kim (mỗ giáp) dĩ đại từ bi, thừa Phật thần lực, triệu thỉnh thập phƣơng, tận hƣ không giới, tam đồ địa ngục, chƣ ác thú trung, khoáng kiếp cơ hƣ, vô lƣợng Ngạ quỷ, Diêm La chƣ ty, thiên tào địa phủ, nghiệp đạo minh quan, Bà-la-môn tiên, cửu viễn tiên vong, khoáng dã minh linh, hƣ không chƣ thiên, cập chƣ quyến thuộc, dị loại quỷ thần. Duy nguyện chƣ Phật, Bát Nhã Bồ Tát, Kim Cang thiên đẳng, vô lƣợng Thánh hiền, cập chƣ nghiệp đạo, nguyện tứ uy quang, bi tăng hộ niệm. Phổ nguyện thập phƣơng, tận hƣ không giới, thiên tào địa phủ, nghiệp đạo minh quan, vô lƣợng Ngạ quỷ, đa sanh phụ mẫu, tiên vong c ửu viễn, Bà-la-môn tiên, nhất thiết oán kết, phụ ƣ tài mạng, chủng chủng loại tộc, dị loại quỷ thần, các cập quyến thuộc, thừa Nhƣ Lai lực, ƣ thử thời trung, quyết định giáng lâm, đắc thọ Nhƣ Lai, thƣợng diệu pháp vị, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 62


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

thanh tịnh cam lồ, ẩm thực sung túc, tƣ nhuận thân điền, phƣớc đức trí tuệ, phát Bồ Đề tâm, vĩnh ly tà hạnh, quy kính Tam Bảo, hành đại từ tâm, lợi ích hữu tình, cầu vô thƣợng đạo, bất thọ luân hồi, chƣ ác thú trung, thƣờng sanh thiện gia, ly chƣ bố úy, thân thƣờng thanh tịnh, chứng Vô thƣợng đạo, khẩu thƣờng thanh tịnh, chứng Vô thƣợng đạo, ý thƣờng thanh tịnh, chứng Vô thƣợng đạo. Thứ thân ngũ cúng dường Thập phƣơng nhất thiết sát, chƣ Phật Bồ Tát chúng, vô lƣợng chƣ Thánh hiền, cập chƣ nghiệp đạo quan. Duy nguyện đại từ bi, giáng lâm ƣ Pháp hội. Tiếp thọ Hoa Hƣơng Đăng Đồ Quả Nhạc, vi phần thiểu cúng dƣờng. Hồng tự dõng xuất (Á, Hoa, Hƣơng, Đăng, Á, Đồ, Quả, Nhạc) Thiên Mẫu. Nhất diện tứ tý phóng quang minh. Thƣợng nhị thủ ấn trì diệu (Hƣơng, Hoa, Đăng, Á, Đồ, Quả, Nhạc, Á) Hạ nhị thủ ấn luân tƣơng giao, Hồng. Ngạn dạ hồng, hồng, ngạn dạ hồng, kia rị. Diệu (Á, Hoa, Hƣơng, Đăng, Đồ, Quả, Nhạc) Thiên mẫu cúng dƣờng Phật. Nguyện ngã Phật từ bi ai nạp thọ. Nhân duyên tự tánh sở xuất sanh, Sở hữu, chủng chủng, vi diệu Hoa, Hƣơng, Đăng, Đồ, Quả, Nhạc. Phụng hiến thƣợng sƣ Tam Bảo tôn. Duy nguyện Từ Bi ai nạp thọ. Hộ ngạn tát rị quan, đát a nga đa. Bố từ bây, độ bây, de lộ kia, càn đích, nê vĩ đích, thạc bụt thạp. Bố choang min cót than mọ đích lai tƣ phin lai nại than mọ de dạ hồng. Nam Mô Bảo Đàm Hoa Bồ Tát. (tam xƣng) (Hựu thân cúng dƣờng, nhƣợc cử thử tiết, mặc niệm tâm kinh tất vận chuyển Liên hoa thủ ấn thân cúng dƣờng) Ngạn tát rị quan, tát rị quan, đáp thạp cót đạt tát bát rị vĩ lai. Ngạn quan tƣ lai bố từ bây, độ bây, de lộ kia, càn đích, nê vĩ đích, thạc bụt thạp. Dạ hồng Bố choang min cót than mọ đích lai tƣ phin lai nại than mọ de dạ hồng.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 63


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Phổ đà lạc già Phổ đà lạc già thƣờng nhập định, Tùy duyên phú cảm mỵ bất châu. Tầm thanh cứu khổ độ quần mê, Thị tắc danh vi Quán Tự Tại. Thứ nhập Quan Âm thiền định Nam mô Vô Tận Tam Bảo Tôn. Ngã kim thệ phát Bồ Đề tâm, Duy nguyện từ bi lai tiếp thọ, Tốc chứng Quan Âm vi diệu thân, Thứ nhập Quan Âm tam ma địa, Trừng tâm bế mục quán tâm trung, Viên mãn hạo khiết tịnh nguyệt thƣợng, Tự chủng quang minh thành liên hoa, Hoa trung hữu nhất Quán Tự Tại, Tƣớng hảo cụ túc vô tỷ đối, Tả thủ chấp trì diệu liên hoa, Hữu thủ ƣ diệp tác khai thế, Bồ Tát tƣ duy hữu tình thân, Các cụ giác ngộ chi liên hoa, Thanh tịnh Pháp giới vô hoặc nhiễm, Bát diệp các hữu nhất Nhƣ Lai, Nhƣ Lai nhập định già phu tọa, Các các diện hƣớng Quán Tự Tại, Hạng bội viên quang thân kim sắc, Quang minh lãng chiếu cập hoảng diệu, Thứ tƣởng kỳ hoa thƣ tiệm đại, Kỳ lƣợng châu biến hƣ không giới, Tƣ bỉ giác hoa chiếu Pháp giới, Nhƣ Lai hải hội cộng quảng đại, Tâm nhƣợc bất di ƣ thử định, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 64


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Lân mẫn nhất thiết chƣ chúng sanh, Giác hoa mông chiếu thoát khổ não, Tiện đồng Bồ Tát Quán Tự Tại, Liên hoa tiệm thâu đồng kỷ lƣợng, Phục kết Tự Tại Quan Âm ấn, Gia trì tứ xứ tụng mật ngôn, Tự thân diệc đẳng Quán Tự Tại. Thứ nhập Quan Âm ấn Ngạn quan tƣ lai, kháp lai mọ, kia rị. Hồng, thƣ lãm, kia rị, a. (Sƣ ấn chú khả tri: mỗi xứ dĩ thủ ấn án chi, tụng chơn ngôn nhất thứ. Phục dĩ “Án” (抮 ) tự gia trì, tức đƣơng dĩ ấn án khẩu thƣợng. Thứ dĩ “Hồng” (帊 ) tự gia đảnh, “Thƣ Lãm” (歾 ) tự gia tề, “Kia Rị” (岆 ) gia tâm, “A” (丌 ) tự gia hầu. Dĩ thử gia trì linh thân kiên cố. Sở dĩ nhất thiết ma ngại giai bất năng hại dã. Gia trì tứ xứ) Dĩ thử thiền định thắng công đức, Hồi hƣớng Pháp giới chƣ chúng sanh, Đồng kiến Tây phƣơng Vô Lƣợng Quang, Thành tựu Phổ Hiền quảng đại nguyện. Nhƣợc nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, Ƣng quán Pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo. Thứ kết phá địa ngục ấn (Lƣỡng vũ Kim Cang quyền thí giới lƣỡng tƣơng câu tấn lực thân tƣơng trú niệm tƣởng khai địa ngục tam thông tam xế khai chơn ngôn) Nại mo a sắc sá, a sắc sá, tiếp đề nẫm, tam miệu tam bụt thạp câu chi nẫm, ngạn choác lạp nại phà bà tế đế rị đế rị hồng. Do thử ấn chú oai thần lực cố, sở hữu chƣ thú địa ngục chi môn, tùy thử ấn chú, (đồng hòa) hoát nhiên tự khai. Địa Tạng thập vương khởi ai lân Địa Tạng thập vƣơng khởi ai lân, Yết án tiêu danh nạp thiện duyên, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 65


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Cô hồn tu trƣợng Nhƣ Lai giáo, Nguyện bằng Pháp lực phán sanh thiên. Phụng thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát Hƣơng hoa thỉnh, hƣơng hoa thỉnh.  Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, chúng sanh độ tận, phƣơng chứng Bồ Đề, địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, Nam mô Đại Thánh Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát ma ha tát. Duy nguyện bất vi bổn thệ, lân mẫn hữu tình, thử dạ kim thời quang lâm Pháp hội. Hƣơng hoa thỉnh, hƣơng hoa phụng thỉnh.  U minh lộ thượng Dẫn Hồn Vương Bồ Tát Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, thủ kình phan cái, thân quải hoa man, đạo chúng sanh quy Cực Lạc chi bang, dẫn cô hồn phú đạo tràng chi hội. U minh lộ thƣợng Dẫn Hồn Vƣơng Bồ Tát Ma ha tát. Duy nguyện bất vi bổn thệ lân mẫn hữu tình, thử dạ kim thời quang lâm Pháp hội. Hƣơng hoa thỉnh, hƣơng hoa thỉnh.  Tần Quảng, Sở Giang Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, Tần Quảng, Sở Giang, tịnh Tống Đế, Ngũ Quan, Diêm La, Biến Thành Vƣơng, Thái Sơn, Bình Đẳng nhị minh quân, Đô Thị, Chuyển Luân thập điện chúa, nhậm Ma-la giới chƣởng phán âm ty, Phong Đô thập bát từ vƣơng, thống lãnh nhất âm chơn tể. Duy nguyện thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời, quang lâm Pháp hội. Vận tâm bình đẳng Vận tâm bình đẳng, Pháp lực vô biên, cung đối hàn lâm tiền, xƣng dƣơng bảo hiệu. Nam mô Đa Bảo Nhƣ Lai, Quảng Bác Thân, Diệu Sắc Tƣớng, Cam Lồ Vƣơng Nhƣ Lai. Nam mô Bạc-già-phạt-đế, chú thanh trực thƣợng hàn vân tiêu, lộ thiều thiều, La Hán sanh hoan, hôn trừ oán. Ngạn tô ninh, tô ninh, dĩ vi nhiễu. Hộ ngạn tất tri, tất xả tả nẵng, duệ hê, duệ hê, tát rị quan, mẫu đà nẩm de, tóa ha. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 66


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Thu vũ ngô đồng Thu vũ ngô đồng diệp lạc thời, dạ thê thê, triệu thỉnh cô hồn lai phú hội. Ngạn thừa thử, thừa thử thƣợng liên đài. Hộ ngạn tất tri, tất xả tả nẵng duệ hê, duệ hê, tát rị quan, mẫu đà nẫm, de tóa ha. Kim dạ đạo tràng Kim dạ đạo tràng Pháp diên khai, hội nhiên lai, triệu thỉnh cô hồn lai phú hội. Ngạn tiêu lâu, tiêu lâu, cổ giảo tất. Hộ ngạn tất tri tất xả tả nẵng duệ hê, duệ hê, tát rị quan, mẫu đà nẫm, de tóa ha. Ngạn bộ bộ đế rị, già rị đa rị, đát tha nga đa da. Cô hồn văn triệu nguyện lai lâm. Thỉnh chư hương linh  Kim ô tợ tiễn Nhất tâm triệu thỉnh: Kim ô tợ tiễn, ngọc thố nhƣ thoa, tƣởng cốt nhục dĩ phân ly, đỗ âm dung nhi hà tại. Sơ nhiệt danh hƣơng, sơ thân triệu thỉnh vong linh (mỗ giáp) nhất vị chánh hồn. Duy nguyện thừa Tam Bảo lực trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Viễn quan sơn hữu sắc Nhất tâm triệu thỉnh: Viễn quan sơn hữu sắc, cận thính thủy vô thanh, xuân khứ hoa hoàn tá, nhơn lai điểu bất kinh. Tái nhiệt danh hƣơng, tái thân triệu thỉnh (mỗ giáp) nhất vị chánh hồn. Duy nguyện thừa Tam Bảo lực trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Khổ hải thao thao Nhất tâm triệu thỉnh: Khổ hải thao thao nghiệp tự chiêu, mê nhơn bất tỉnh bán phân hào. Kim sanh bất bả Di Đà niệm, uổng tại nhân gian tẩu nhất tao. Tam nhiệt danh hƣơng, tam thân triệu thỉnh (mỗ giáp) nhất vị chánh hồn. Duy nguyện thừa Tam Bảo lực trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 67


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực. Thỉnh thập nhị loại cô hồn  Lụy triều đế chúa Nhất tâm triệu thỉnh: Lụy triều đế chúa, lịch đại hầu vƣơng, cửu trùng điện khuyết cao cƣ, vạn lý sơn hà độc cứ. Tây lai chiến hạm, thiên niên vƣợng khí nga thâu. Bắc khứ loan dƣ, ngũ quốc oán thanh vị đoạn. Ô hô! Đỗ quyên khiếu lạc đào hoa nguyệt, huyết nhiễm chi đầu hận chánh trƣờng! Nhƣ thị! Tiền vƣơng hậu bá chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng. Duy nguyện thừa Tam Bảo lực trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Trúc đàn bái tướng Nhất tâm triệu thỉnh: Trúc đàn bái tƣớng, kiến tiết phong hầu, lực di kim đỉnh thiên quân, thân tác trƣờng thành vạn lý. Sƣơng hàn báo trƣớng, đồ cần hãn mã chi lao. Phong t ức lang yên, không phụ phan long chi vọng. Ô hô ! Tƣớng quân chiến mã kim hà tại, dã thảo nhàn hoa mãn địa sầu. Nhƣ thị! Anh hùng tƣớng soái chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng. Duy nguyện thừa Tam Bảo lực trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Ngũ lăng tài tuấn Nhất tâm triệu thỉnh: Ngũ lăng tài tuấn, bách quận hiền lƣơng, tam niên thanh tiết vi quan, nhất phiến đơn tâm báo chúa. Nam châu bắc huyện, cửu ly tang tử chi hƣơng. Hải giác thiên nhai, viễn táng Bồng Lai chi đảo. Ô hô ! Hoạn huống tiêu tiêu tùy thệ thủy, ly hồn yểu yểu cách dƣơng quan. Nhƣ thị! Văn thần tể phụ chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 68


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Duy nguyện thừa Tam Bảo lực trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Huỳnh môn tài tử Nhất tâm triệu thỉnh: Huỳnh môn tài tử, bạch ốc thƣ sinh, Thám hoa túc bộ văn lâm, xạ sách thân du cức viện. Oanh đăng phi tán, tam niên đồ dụng công phu. Thiết nghiễn ma xuyên, thập tải mạn thi tân khổ. Ô hô! Thất xích hồng la thơ tánh tự, nhất bôi hoàng thổ cái văn chƣơng. Nhƣ thị! Văn nhân cử tử chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng. Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Xuất trần thượng sĩ Nhất tâm triệu thỉnh: Xuất trần thƣợng sĩ, phi tích cao tăng. Tinh tu ngũ giới tịnh nhân, phạm hạnh Tỷ kheo ni chúng. Hoàng hoa thúy trúc, không đàm bí mật chơn thuyên. Bạch cổ lê nô, đồ diễn khổ không diệu kệ. Ô hô! Kinh song lãnh tẩm tam canh nguyệt, thiền thất hƣ minh bán dạ đăng. Nhƣ thị! Truy y Thích Tử chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng. Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Hoàng quan dã khách Nhất tâm triệu thỉnh: Hoàng quan dã khách, vũ phục tiên lƣu. Đào Nguyên động lý tu chơn, Lãng Uyển châu tiền dƣỡng tánh. Tam hoa cửu luyện, thiên tào vị hứa tiêu danh. Tứ đại vô thƣờng, địa phủ nan dung chuyển hạn. Ô hô! Lâm quán sƣơng hàn đơn táo lãnh, Tiếu đàn phong thảm hạnh hoa hy. Nhƣ thị! Huyền môn đạo sĩ chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 69


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Giang hồ cơ lữ Nhất tâm triệu thỉnh: Giang hồ cơ lữ, Nam Bắc kinh thƣơng. Đồ tài vạn lý du hành, tích hóa thiên kim mậu dịch. Phong sƣơng bất trắc, thân cao ngƣ phúc chi trung. Đồ lộ nan phòng, mạng táng dƣơng trƣờng chi hiểm. Ô hô! Trệ phách bắc tùy vân ám ám, khách hồn đông trục thủy du du. Nhƣ thị! Tha hƣơng khách lữ chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng. Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Nhung y chiến sĩ Nhất tâm triệu thỉnh: Nhung y chiến sĩ, lâm trận kiện nhi. Hồng kỳ ảnh lý tranh hùng, bạch nhẫn tòng trung địch mạng. Cổ kim sơ chấn, thiếp thời phúc phá trƣờng xuyên. Thắng bại tài phân, biến địa chi thƣơng thủ toái. Ô hô! Mịch mịch hoàng sa văn quỷ khốc, mang mang bạch cốt thiểu nhơn thâu. Nhƣ thị! Trận vong binh tốt chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng. Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Hoài thai thập nguyệt Nhất tâm triệu thỉnh: Hoài thai thập nguyệt, tọa thảo tam triêu. Sơ hân loan phụng hòa minh, thứ vọng hùng bi hiệp mộng. Phụng cung dục xƣớng, cát hung chỉ tại phiến thời. Chƣơng ngõa vị phân, Mẫu tử giai quy trƣờng dạ. Ô hô! Hoa chánh khai thời tao cấp vũ, nguyệt đƣơng minh xứ phúc ô vân. Nhƣ thị! Huyết hồ sản nạn chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 70


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Nhung di man địch Nhất tâm triệu thỉnh: Nhung di man địch, ám á manh lung. Cần lao thất mạng dung nô, đố kỵ thƣơng thân tỳ thiếp. Khinh khi Tam Bảo, tội khiên tích nhƣợc hà sa. Ngỗ nghịch song thân, hung ác phù vu vũ trụ. Ô hô! Trƣờng dạ mang mang hà nhật hiểu, u quan ẩn ẩn bất tri xuân. Nhƣ thị! Sân ngoan bội nghịch chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng. Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Cung vi mỹ nữ Nhất tâm triệu thỉnh: Cung vi mỹ nữ, khuê các giai nhân. Yên chi họa diện tranh nghiên, long xạ huân y cạnh tiếu. Vân thâu vũ yết, hồn tiêu Kim Cốc chi viên. Nguyệt khuyết hoa tàn, trƣờng đoạn Mã Ngôi chi dịch. Ô hô! Tích nhật phong lƣu đô bất kiến, lục dƣơng phƣơng thảo độc lâu hàn. Nhƣ thị! Quần thoa phụ nữ chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng. Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực.  Cơ hàn cái giả Nhất tâm triệu thỉnh: Cơ hàn cái giả, hình lục tù nhơn. Ngộ thủy hỏa dĩ thƣơng thân, phùng hổ lang nhi thất mạng. Huyền lƣơng phục độc, thiên niên oán khí tr ầm trầm. Lôi kích nhai băng, nhất điểm kinh hồn dạng dạng. Ô hô! Mộ vũ thanh yên hàn thƣớc tháo, thu phong hoàng diệp loạn nha phi. Nhƣ thị! Thƣơng vong hoạnh tử chi lƣu, nhất loại cô hồn đẳng chúng.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 71


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực. Pháp giới lục đạo Nhất tâm triệu thỉnh: Pháp giới lục đạo, thập loại cô hồn, Diện Nhiên sở thống, Bế-lệ-đa chúng, trần sa chủng loại, y thảo phụ mộc, si mị võng lƣợng, trệ phách cô hồn, tự tha tiên vong, gia thân quyến thuộc đẳng chúng. Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trƣợng bí mật ngôn, thử dạ kim thời lai lâm Pháp hội. Lai thọ vô giá cam lồ Pháp thực. (Thƣợng sƣ dụ giới văn. Phủ xích nhất hạ xƣớng vân) Cái văn! Đại địa sơn hà Cái văn! Đại địa sơn hà chi nội, không hành thủy lục chi trung, cô hồn trệ phách hoạnh tử yểu vong, thƣợng chí vƣơng hầu tƣớng tƣớng, hạ chí sĩ nông công thƣơng, tôn ty nam nữ, hoặc u tù linh ngữ, hoặc bộ hãm sa trƣờng, hoặc nịch hà đọa tiệm, trúng thang trúng dƣợc, tự vẫn tự ải, sản nạn chung thân, ôn hoàng yểu thệ, hoặc thiên lôi chấn kích, vƣơng Pháp gia hình, chú trớ vong thân, nhƣ tƣ đ ẳng loại, nan dĩ cụ trần. Ký vô phần mộ nhi khả y, na hữu từ đƣờng nhi thiết tế. Độc lập nhai sào Độc lập nhai sào thọ hạ, y thê hải ngạn than đ ầu. Tùng giao vũ đả phong xuy, bất giác hàn lai thử vãng. Tứ thời vô cốt nhục dĩ truy tu, bát tiết thiểu thân bằng nhi hƣởng tế. Thê thê thảm thảm Thê thê thảm thảm, chỉ tại minh đồ. Yểu yểu minh minh, mạc cầu xuất lỵ. Hạnh ngộ kim tiêu vô giá chi hội, trƣợng thừa hoằng nguyện bí mật chi công, hà sa Phất tử, tùng tƣ nhập thánh siêu phàm, lũy thế oán thân, tự thử thừa ân giải thoát. Di! Liên đài Di! Liên đài bất ly đƣơng xứ, tịnh độ chỉ tại mục tiền, bất lao đàn chỉ chứng vô sanh, tức tâm tiện tham Quán Tự Tại. Nam mô Tiến Vãng Sanh Bồ Tát Ma Ha Tát. (tam xƣng) (Phủ xích nhất hạ cử kệ vân) Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 72


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Giác hoàng mật ngữ Giác hoàng mật ngữ tráng hoàng đô, Đại xiển tôn phong hà xứ vô, Nhất thiên giai khí di tinh đẩu, Vạn tƣợng đằng huy diệu chúc lô, Tiếp dẫn tứ sanh đăng cửu phẩm, Đề huề lục đạo xuất tam đồ, Thử dạ hạnh phùng lƣơng tiêu cảnh, Chung khánh giao gia khả thán cô. (Chấn linh triệu thỉnh) Dĩ thử chấn linh Dĩ thử chấn linh thân triệu thỉnh, Cô hồn văn triệu nguyện lai lâm, Trƣợng thừa Tam Bảo lực gia trì, Thử dạ kim thời lai phú hội, Thanh tịnh Pháp thân Tỳ Lô Phật, Viên mãn báo thân Lô Giá Na Phật, Tam loại hóa thân Thích Ca Phật, Đƣơng lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Thập phƣơng tam thế nhất thiết Phật, Tây phƣơng tiếp dẫn A Di Đà Phật. Khô lâu văn Sạ nhật hoang giao khứ ngoạn du, hốt đổ nhất cá đại đức khô lâu. Kinh cức tòng trung thảo một khâu, lãnh sƣu sƣu, phong xuy hà diệp đảo sầu. Khô lâu, khô lâu, nễ tại trích thủy hà biên, ngọa sái thanh phong, thúy tảo vi chiên, nguyệt tác đăng, lãnh thanh thanh, hựu vô nhất cá lai vãng đệ huynh. Khô lâu, khô lâu, nễ tại lộ bàng. Giá quân tử, nễ thị thùy gia nhất cá tiên vong, vũ đả phong xuy tợ tuyết sƣơng, thống can trƣờng, lệ uông uông. Khô lâu, khô lâu, ngã khán nễ, chỉ lạc đắc nhất đối nhãn khuông. Kham thán phù sanh năng kỷ hà, Kim ô ngọc thố lai vãng nhƣ thoa. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 73


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Bách tuế quang âm nhất sát na, Mạc ta đà, tảo cầu xuất ly liễu, khổ hải kiếp ma. Kim tiêu thí chủ, tu thiết minh dƣơng hội. Kim lô nội tài phàn trƣớc bảo hƣơng. Quảng triệu cô hồn phú đạo tràng, Tiêu tội chƣớng, thọ triêm phƣớc lợi, tốc vãng Tây phƣơng. Nam mô bộ bộ đế rị già rị đa rị đát đa nga đa da. Cô hồn văn triệu nguyện lai lâm. Thƣợng lai triệu thỉnh, tất dĩ lai lâm, đại chúng từ bi, tề thanh tán trạo. Tán trạo  Tu thiết trai diên Tu thiết trai diên, A Nan nhơn duyên khởi, cứu khổ Quan Âm, thị hiện Tiêu Diện quỷ. Niệm Phật tuyên dƣơng, bí mật công đức lực. Bạt tế cô hồn, lai thọ cam lồ vị.  Cận đại tiên triều Cận đại tiên triều, đế chúa tôn vinh vị, huân thích hầu vƣơng, ngọc diệp kim chi quý. Tể chấp trung cung, thể nữ tần phi loại, mộng đoạn Hoa Tƣ, lai thọ cam lồ vị.  Quốc sĩ triều thần Quốc sĩ triều thần, kinh vĩ khuông thời thế, mục hóa lê dân, vị toại trung lƣơng chí. Thất sủng hoài ƣu, trích giáng biên bang địa, luyến quốc du hồn, lai thọ cam lồ vị.  Võ tướng nhung thần Võ tƣớng nhung thần, thống lãnh tam quân đội, kết trận giao phong, la cổ huyên thiên địa. Bắc chiến nam chinh, thất hãm sa trƣờng nội, vị quốc vong xu, lai thọ cam lồ vị.  Học cổ cùng kim Học cổ cùng kim, cẩm tú văn chƣơng sĩ, ánh tuyết du quang, khổ chí hàn song nội. Mạng vận ta đà, kim bảng vô danh tự, uất uất u hồn, lai thọ cam lồ vị.  Cát ái từ thân Cát ái từ thân, tảo nhập không môn nội, phỏng đạo tầm sƣ, chỉ vị siêu sanh tử. Thử vãng hàn lai, bất giác vô thƣờng chí, phản chiếu hồi quang, lai thọ cam lồ vị. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 74


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 Vũ phục hoàng quan Vũ phục hoàng quan, tảo phát tu chơn chí, luyện dƣợc thiêu đơn, dƣỡng tánh hoàn nguyên khí. Khổ hạnh lao thần, chỉ vọng đăng tiên vị, mạc luyến di hình, lai thọ cam lồ vị.  Hiếu tử hiền tôn Hiếu tử hiền tôn, nghĩa dũng trung lƣơng sĩ, liệt nữ trinh thê, thị tử nhƣ quy khứ. Trƣợng tiết vong xu, thiên cổ lƣu anh khí, cảnh cảnh linh hồn, lai thọ cam lồ vị.  Nữ đạo ni lưu Nữ đạo ni lƣu, thân trụ hoàng kim địa, loan phụng duyên không, bất nhiễm nhân gian sự. Vị liễu vô vi, lƣu lãng hƣ sanh tử, thanh tịnh u hồn, lai thọ cam lồ vị.  Địa lý thiên văn Địa lý thiên văn, y dƣợc âm dƣơng loại, bốc quải chiêm quy, phong lãm tinh tinh sĩ. Báo kiết đàm hung, nan miễn vô thƣờng đối, xả ngụy quy chơn, lai thọ cam lồ vị.  Tọa mãi hành thương Tọa mãi hành thƣơng, chủng chủng kinh doanh bối, nghệ thuật đa năng, mậu dịch cầu tài lợi. Bối tỉnh ly hƣơng, tử tại tha phƣơng địa, lữ mộng du du, lai thọ cam lồ vị.  Phạm pháp tao hình Phạm pháp tao hình, lao ngục trƣờng u hệ, phụ mạng mƣu tài, trái chủ oan gia loại. Ác tật thiên tai, đống tử cơ vong bối, tốc ly huỳnh tuyền, lai thọ cam lồ vị.  Mã đạp xa thương Mã đạp xa thƣơng, tƣờng áp thân hình toái, quỷ kích lôi oanh, tự vẫn huyền lƣơng ải. Thủy hỏa phàn phiêu, hổ giảo xà thƣơng loại, cửu hoạnh cô hồn, lai thọ cam lồ vị.  Ẩm huyết nhự mao Ẩm huyết nhự mao, sanh trƣởng man di địa, phụ trái thƣờng lao, tỳ thiếp tịnh nô lệ. Ám á manh lung, tàn tật vô y thị, thọ khổ oan hồn, lai thọ cam lồ vị.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 75


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 Ngỗ nghịch gia nương Ngỗ nghịch gia nƣơng, oán độc thiên hòa địa, báng Phật khi tăng, hủy tƣợng phần kinh kệ. Tà kiến thâm trầm, khổ báo vô biên tế, thập ác cuồng hồn, lai thọ cam lồ vị.  Đại thí môn khai Đại thí môn khai, tiến bạt cô hồn bối, tổ nể tiên vong, ngũ tánh oan gia loại. Bát nạn tam đồ, bình đẳng câu siêu tế,trƣợng Phật quang minh, lai thọ cam lồ vị.  A Di Đà Phật A Di Đà Phật, túc hữu vô biên thệ, quán kiến mê đồ, khổ hải thƣờng phiêu nịch. Thùy thủ ân cần, đặc giá từ hàng tế, phổ tải chúng sanh, đồng phú Liên Trì hội. Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát.  Nhập tiểu Mông Sơn Nhƣợc nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật Ƣng quán Pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo. (tam xƣng) (Dĩ hạ cụ các tam xƣng)  Phá địa ngục chơn ngôn Án, dà ra đế da ta bà ha.  Phổ triệu thỉnh chơn ngôn Nam mô bộ bộ đế rị, dà rị đa rị đát đa nga đa da.  Giải oan kết chơn ngôn Án tam đà ra dà đà ta bà ha.  Quy y Tam Bảo Nam Mô Đại Phƣơng Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Nam Mô Thƣờng Trú Thập Phƣơng Phật Nam Mô Thƣờng Trú Thập Phƣơng Pháp Nam Mô Thƣờng Trú Thập Phƣơng Tăng Nam Mô Bổn Sƣ Thích Ca Mâu Ni Phật Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Nam Mô Minh Dƣơng Cứu Khổ Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát Nam Mô Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả. Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 76


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Quy y Phật lƣỡng túc tôn, quy y Pháp ly dục tôn, quy y Tăng chúng trung tôn. Quy y Phật cánh, quy y Pháp cánh, quy y Tăng cánh.  Sám hối nghiệp chướng Phật tử sở tạo chƣ ác nghiệp, giai do vô thỉ tham sân si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh, nhất thiết Phật tử giai sám hối. Hữu tình sở tạo chƣ ác nghiệp, giai do vô thỉ tham, sân, si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh, nhất thiết hữu tình giai sám hối. Cô hồn sở tạo chƣ ác nghiệp, giai do vô thỉ tham sân si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh, nhất thiết cô hồn giai sám hối.  Phát Bồ Đề tâm Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lƣợng thệ nguyện học, Phật đạo vô thƣợng thệ nguyện thành. Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ, tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn, tự tánh Pháp môn thệ nguyện học,tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.  Diệt định nghiệp chơn ngôn Án, bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha.  Diệt nghiệp chướng chơn ngôn Án, a lỗ lặc kế ta bà ha.  Khai yết hầu chơn ngôn Án, bộ bộ đế rị, dà rị đa rị, đát đa nga đa da.  Tam muội da giới chơn ngôn Án, tam muội da tát đỏa phạm.  Biến thực chơn ngôn Nam mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra, hồng.  Cam lồ thủy chơn ngôn Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát thiệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha.  Nhứt tự thủy luân chơn ngôn Án noan noan noan noan noan.  Nhũ hải chơn ngôn Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẩm án noan. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 77


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 Thất bảo Như Lai Nam Mô Đa Bảo Nhƣ Lai. Nam Mô Bảo Thắng Nhƣ Lai. Nam Mô Diệu Sắc Thân Nhƣ Lai. Nam Mô Quảng Bác Thân Nhƣ Lai. Nam Mô Ly Bố Úy Nhƣ Lai. Nam Mô Cam Lồ Vƣơng Nhƣ Lai. Nam Mô A Di Đà Nhƣ Lai.  Thần chú gia trì Thần chú gia trì (tịnh pháp thực, pháp thí thực, cam lồ thủy) Phổ thí hà sa chúng (Phật tử, hữu tình, cô hồn). Nguyện giai bảo mãn xả xan tham, Tốc thoát u minh sanh tịnh độ, Quy y Tam Bảo phát Bồ Đề, Cứu cánh đắc thành vô thƣợng đạo, Công đức vô biên tận vị lai, Nhất thiết (Phật tử, hữu tình, cô hồn) đồng pháp thực.  Nhữ đẳng Phật tử Nhữ đẳng (Phật tử, hữu tình, cô hồn) chúng, Ngã kim thí nhữ cúng. Thử thực biến thập phƣơng, Nhất thiết (Phật tử, hữu tình, cô hồn) cộng. Nguyện dĩ thử công đức, Phổ cập ƣ nhất thiết, Ngã đẳng dữ (Phật tử, hữu tình, cô hồn), Giai cọng thành Phật đạo.  Thí vô giá thực chơn ngôn Án, mục lực lăng ta bà ha.  Phổ cúng dường chơn ngôn Án, nga nga nẵng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (Phổ cúng dƣờng chơn ngôn tất, Bát Nhã, Vãng sanh chú tam biến hóa chi) Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 78


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Phổ diện hướng chơn ngôn Án, ta mọ lai, ta mọ lai, di mo nẵng, tát kháp ra ma ha thính kháp ra hồng. Nguyện trú cát tường, dạ cát tường Nguyện trú cát tƣờng, dạ cát tƣờng, trú dạ lục thời hằng cát tƣờng, nhất thiết thời trung cát tƣờng giả, nguyện chƣ thƣợng sƣ ai nhiếp thọ. Nguyện trú cát tƣờng, dạ cát tƣờng, trú dạ lục thời hằng cát tƣờng, nhất thiết thời trung cát tƣờng giả, nguyện chƣ Tam Bảo ai nhiếp thọ. Nguyện trú cát tƣờng, dạ cát tƣờng, trú dạ lục thời hằng cát tƣờng, nhất thiết thời trung cát tƣờng giả, nguyện chƣ hộ Pháp thƣờng ủng hộ. Tứ sanh đăng ƣ bảo địa, tam hữu thác hóa liên trì, hà sa Ngạ quỷ chứng Tam Hiền, vạn loại hữu tình đăng Thập Địa. Nam mô Siêu Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (tam xƣng) Phục Dĩ Văn Kiến văn nhƣ huyễn ế, tam giới nhƣợc không hoa. Văn phục ế căn trừ, trần tiêu giác viên tịnh. Phục dĩ! Chơn nguyên trạm tịch, nãi tội tánh chi bổn không. Khổ hải hồng thâm, trục vọng ba nhi bất tức. Do chúng sanh chi nghiệp cảm, trí trƣờng kiếp dĩ trầm luân. Thọ báo địa ngục chi trung, vĩnh ly khổ sở; chuyển sanh Ngạ quỷ chi nội, trƣờng nhẫn cơ hƣ. Ký vô giải thoát chi kỳ, ninh hữu siêu thăng chi lộ. Mỵ trƣợng Nhƣ Lai chi từ nguyện, hạt giải ác thú chi đ ảo huyền. Chú tụng chơn thuyên, thí cam lồ chi Pháp thực; đăng nhiên bảo cự, chúc minh giới chi u đồ. Phổ sử mê lƣu, câu siêu lạc quốc. Kim dạ đạo tràng, dĩ thử thí thực công đức, hồi hƣớng Thiết Vi sơn nội. Diện Nhiên Đại Sĩ, thống lãnh tam thập lục bộ, vô lƣợng vô biên, hằng hà sa số, chƣ Ngạ quỷ chúng. Phục nguyện: Tự tùng khoáng kiếp, trực chí kim sanh, thích nghiệp chƣớng dĩ tiêu dung, tuyết tội khiên nhi thanh tịnh. Hoạch thang dõng phất, biến thành bát đức chi liên trì; lô diệm giao huy, hóa tác thất trân chi hƣơng cái. Kiếm thọ giai vi ngọc thọ, đao sơn tận tác bảo sơn. Biến giới thiết sàng, hiện Bồ Đề chi Pháp tọa; mãn phủ đồng chấp, hóa cam lồ chi đề hồ.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 79


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Vãng tích trái chủ chi tƣơng phùng, câu mông gi ải thoát; tích kiếp oan gia chi cọng hội, các toại tiêu diêu. Ngục chúa hƣng từ, minh quan trì thiện. Đa sanh phụ mẫu, tùng tƣ nhập thánh siêu phàm; lũy thế oán thân, tự thử thừa ân giải thoát. Thiên thƣợng ngũ suy bất hiện, nhân gian tứ tƣớng giai không. Tu La xả tận sân tâm, địa ngục tức chƣ khổ não. Hà sa Ngạ quỷ, hóa nhiệt não nhi tác thanh lƣơng; vạn loại hàm sanh, xả mê đồ nhi đăng giác ngạn. Phổ nguyện: Thử quốc độ, tha quốc độ, vô lƣợng chƣ quốc độ, nhất thiết hữu tình, cọng chứng chơn thƣờng. Thử thế giới, tha thế giới, vô lƣợng chƣ thế giới, vô tận hàm thức, tề thành Phật đạo. Tứ ân tổng báo, tam hữu quân tƣ, Pháp giới chúng sanh, đồng viên chủng trí. Chƣ Phật chánh Pháp Bồ Tát Tăng, Trực chí Bồ Đề ngã quy y. Ngã dĩ sở tu chƣ thiện căn, Vị lợi hữu tình nguyện thành Phật. Thế xuất thế gian, (đồng hòa) Tùy nguyện sở thành. (tam xƣng) Cẩn y Du Già giáo, kiến trí khải Pháp diên. Phổ nguyện chƣ hữu tình, giai cọng thành Phật đạo. Thứ kiết viên mãn phụng tống ấn (Nhị vũ Kim Cang quyền tấn lực lƣỡng tƣơng câu tụng chơn ngôn) Ngạn, quan tƣ lai, mục kia sái mục. (tam xƣng) (Sƣ ấn chú khả tri, tƣởng chƣ Phật, Bồ Tát cập lục đạo tứ sanh tất giai bất hiện, nhị thiện căn viên mãn, phục niệm Kim Cang Tát Đỏa bách tự tam biến bổ khuyết) Kim Cang tát đỏa bách tự chú Ngạn, quan tƣ lai, tát đỏa tô, tát mọ de, mo nại bo lặc de. Quan tƣ lai, tát đỏa tì, no bót tì xức thạp. Thạc lị sừ, min phín noa, tô độ thúc, min phín noa, a no lai tía đô, min phín noa, tô bộ tô, min phín noa, tát rị quan dục tì, mìn phút lai de che. Tát rị quan, cót rị mo, tô choang min xức thạp. Thích rị dàn, cót rô hồng. Ho, ho, ho, ho, hộc. Phín cót loan, tát rị quan đát tháp cót đạt. Quan tƣ lai mo min mân choang. Quan tƣ lai phín noa, mo ho tát mo de, tát đỏa ho. (dẫn) (Thử chú bổ khuyết, hành giả thủ tác ấn bất thứ đệ, quán tƣởng bất chuyên chú, nhƣ thị đẳng quá, tất giai thanh tịnh. Phục niệm “A” (丌 ) tự nhị thập nhất biến, tắc Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 80


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

tiền lai năng tƣởng sở nhất nhất nhất tu hành giai bất năng đắc. Nhƣợc bất nhƣ thị, tắc đọa ƣ hữu vi hỹ. Sở vị Diệm Khẩu khởi dị ngữ tai! Biểu bạch cử kệ, chúng đồng hòa) Hồi hướng kệ Thí thực công đức thù thắng hạnh, Vô biên thắng phƣớc giai hồi hƣớng. Phổ nguyện trầm nịch chƣ chúng sanh, Tốc vãng Vô Lƣợng Quang Phật sát. Thập phƣơng tam thế nhất thiết Phật, Văn Thù Phổ Hiền Quán Tự Tại, Chƣ tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma ha Bát Nhã ba mật. Thƣợng lai tu thiết mông sơn, cam lồ Pháp thực Nhất diên, công đức viên mãn, phổ triêm sa giới. Hòa nam Thánh chúng. Thiên Cơ Mông Sơn Thí Thực Nghi chung.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 81


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

2.3.

Dịch nghĩa Quyền quyện hương trầm

Quyền quyện hƣơng trầm thật quý thay, Lƣ vàng tỏa nhiệt mây báu bay. Ngào ngạt hƣơng xông khắp muôn cõi, Nguyện ứng điềm lành đón Nhƣ Lai. Giới định chơn hương Giới định chơn hƣơng, Phƣởng phất khắp mƣời phƣơng, Đệ tử kiền thành, Hƣơng trầm từ lƣ phóng Thoáng chốc lan xa, Ngào ngạt khắp muôn phƣơng. Thuở ấy Da Du, Khỏi nạn lìa tai chƣớng. Nam mô Hƣơng Vân Cái Bồ Tát Ma ha tát. (ba lần) Nổi chìm ba cõi Nổi chìm ba cõi thật đáng thƣơng, Luân hồi sáu nẻo khổ khó đƣơng. Tự nghĩ nên tu lên thƣợng phẩm, Nhơn vì vọng niệm lạc quê hƣơng. Mờ mịt đƣờng mê luôn tăm tối, Mênh mang biển nghiệp thiếu thuyền từ. Muốn mở cam lồ vô giá hội, Trƣớc phải bạch lên Đấng Giác Hoàng. Nghe rằng: Vầng hồng vừa lặn Nghe rằng: vầng hồng vừa lặn, bóng tối bao quanh. Bầu trời sao đêm lấp lánh, khắp nơi ánh đuốc lập lòe. Vƣờn hoang chim thú về hang ổ, đƣờng dài ngƣời ngựa ruổi về làng. Chòi canh trống nổi đinh đang, vực sâu suối vang thảm thiết. Cổng thành cao đóng chặt, nhà củi cửa âm u. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 82


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Chính lúc ngƣời nghỉ, quỷ ma hiện hình, Siêu độ cô hồn, cứu cho siêu thoát. Hôm nay … phụng Phật, nƣơng nhờ Tỷ Kheo chúng con, kính lập đàn tràng, dựng đài Sƣ Tử, mở hội thí thực mông sơn, hiến cúng pháp âm cam lồ. Giờ đây kính lễ chƣ Phật, cúi mong đại chúng đồng thanh tán dƣơng Tam-Bảo. Cúi đầu nương tựa Cúi đầu nƣơng tựa Đức Thế Tôn, Vô thƣợng năng nhơn. Soi thấy chúng sanh chịu khổ ƣơng, Rời cung Đâu Suất. Sanh vào hoàng cung, Tu ở Tuyết Sơn. Trên đầu tóc nhƣ tổ chim, Sáu năm khổ hạnh. Nếu ai quy kính Đức Thế Tôn, khỏi bị trầm luân. Nếu ai quy kính Đức Thế Tôn, khỏi bị trầm luân. Cúi đầu nương tựa Cúi đầu nƣơng tựa ba ngôi Phật Pháp Tăng. Tam Bảo từ tôn. Trƣởng giả Cấp Cô mua Kỳ Viên, Trải đầy gạch vàng. Thiện tài học đạo Thiện tài học đạo, năm mƣơi ba nơi. Thoát sanh tử, cứu cô hồn, sớm vãng tây phƣơng. Nhƣ có chúng sanh quy y Phật Pháp Tăng Tam Bảo, chẳng đọa ba đƣờng. Nam mô Chứng Minh Sƣ Bồ Tát. (ba lần) Sông ái dài muôn dặm Sông ái dài muôn dặm, biển khổ sóng vạn trùng. Muốn thoát ly sanh tử, hãy mau niệm Di Đà. (Niệm Phật)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 83


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

(Ra ngoại đàn, theo Sám chủ tiến cúng chƣ hƣơng linh. Kế đến trƣớc Đức Đại Sĩ Diện Nhiên niêm hƣơng. Xong cử tán) Quan Âm Bồ Tát Quan Âm Bồ Tát, hóa hiện Diện Nhiên. Tại núi Ốc Tiêu hiển thân hình. Phá tan Thiết Vi thành. Cứu độ cô hồn, no đủ đƣợc siêu sanh. Nam mô Cam Lồ Vƣơng Bồ Tát. (ba lần) (Sám chủ đến kim đài cử tán dƣơng chi) Cành dương nước tịnh Cành dƣơng nƣớc tịnh, Rƣới khắp mƣời phƣơng. Tánh không tám đức tỏa ngát hƣơng. Muôn thế giới an khƣơng. Hóa giải tai ƣơng, Lửa hóa sen cát tƣờng. Nam mô Thanh Lƣơng Địa Bồ Tát. (ba lần) (Kế vị tả bạch tiến đến vị trí của mình thỉnh Sám chủ đăng bảo tọa. Vỗ Thủ xích, thán) Bảo tọa cao cao Bảo tọa cao cao vô ngại, Trên có trời treo bảo cái. Thỉnh sƣ dời bƣớc lên đài, Vì chúng cô hồn giảng pháp. (Sám chủ đáp lời) Một điểm tròn đầy chẳng phải không, Hiểu rõ vô vi chứng thƣợng tông. Ba đời chƣ Phật lƣu chánh pháp, Truyền trao bảo tọa nay ta đăng. (Tả bạch vỗ Thủ xích, đáp rằng) Nổi trống ba lần, lên bảo tọa, Cô hồn ngạ quỷ thảy siêu sanh. (Tả bạch vỗ Thủ xích, Sám chủ xƣớng rằng) Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 84


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Duyên mở Mông Sơn Duyên mở Mông Sơn thật linh thiêng, Giác Hoàng từ mẫn lợi nhơn thiên, Giảng kinh mầu nhiệm siêu sanh tử, Diễn dạy chơn thừa cứu đảo huyền. Tôn giả Nan Đà khi nhập định, Quan Âm cứu khổ hóa Diện Nhiên. Từ Bi tam muội giúp muôn loại, Nhớ mãi ân sâu vạn cổ truyền. Trầm hương vừa đốt Trầm hƣơng vừa đốt, ba cõi đều thơm. Lan xa đến tận hội Mông Sơn. Tùy chỗ kết mây lành, Thành ý ân cần, Chƣ Phật hiện toàn thân. Nam mô Hƣơng Vân Cái Bồ Tát. (ba lần) Nén hương thơm này Nén hƣơng thơm này, không từ trên xuống, chẳng từ đất sanh. Từ khi Lƣỡng nghi chƣa phân, căn nguyên ba cõi đã có; đến lúc vừa chia trời đất, hoa lá mọc khắp muôn nơi. Vƣợt hơn ánh sáng của trời trăng, bao trùm vẻ đẹp của non nƣớc. Là Giới là Định là Tuệ, chẳng phải là lửa, khói, cây. Chứa trong một hạt bụi trần, tung ra muôn ngàn thế giới. Con nay hƣớng theo khói hƣơng, cúi mình dâng cúng mƣời phƣơng Thƣờng Trú Tam Bảo, thần linh các cõi, nƣơng theo chơn hƣơng, đồng về minh chứng. Cát tường hội mở Cát tƣờng hội mở, cửa cam lồ khai. Cô hồn ngạ quỷ hãy đến đây, Nghe pháp dự hội trai, Thoát hẳn luân hồi, U ám cũng vừa bay. Nam mô Vân Lai Tập Bồ Tát. (ba lần) Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 85


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Mặt Phật Mặt Phật nhƣ trăng sáng vô ngần, Tựa nghìn mặt trời phóng quang minh, Hào quang chiếu tỏ khắp mƣời phƣơng, Hỷ xả từ bi đều đầy đủ. Nam mô tận hƣ không, biến pháp giới, quá hiện vị lai, Phật Pháp Tăng Tam Bảo. Nam mô Đăng Bảo Tọa Bồ Tát. (ba lần) (Kế Sám Chủ đăng bảo tọa, xong cử tán) Biển lộng triều âm Biển lộng triều âm vọng phổ môn, Đài sen chín phẩm hiện đồng chơn. Cành dƣơng rảy xuống nƣớc cam lồ, Rƣới khắp non sông tốt muôn nơi. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (ba lần) (Vị tả bạch vỗ Thủ xích, bạch rằng) Nước cam lồ này Nƣớc cam lồ này, chứa tám công đức từ thiên chơn. Trƣớc tẩy cấu trần của chúng sanh, khiến vào Tỳ Lô Hoa Tạng giới, không có chỗ nào còn bẩn nhơ, Nƣớc không tẩy nƣớc, là diệu pháp thân, trần chẳng nhiễm trần, quay về tự tánh. Tẩy sạch quang đãng trong ngoài đàn tràng. Rƣới cây khô làm cho tốt tƣơi, cõi uế nhơ biến thành tịnh độ. Cho nên nói trong ngoài khoảng giữa không nhơ uế, Thánh phàm tất thảy đƣợc thanh lƣơng. Cầm cành dƣơng liễu rƣới cam lồ, Một giọt biến khắp cả mƣời phƣơng. Nhơ bẩn tanh hôi đều tiêu tán, Khiến pháp diên này đƣợc thanh lƣơng. Chánh pháp mật ngôn, hãy nên trì tụng.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 86


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Chú Đại Bi (Tụng Chú Đại Bi một lần. Sám Chủ gia trì bình cam lồ, đến chữ “Án”, thì rót một ít nƣớc vào chén, dạy thị giả nhiễu đàn ba vòng, rồi rảy lên từng thứ thực phẩm.) Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ Tát. (ba lần) (Tụng chú đại bi một lần đến Cam Lồ Vƣơng Bồ Tát.) Năm phương Năm phƣơng năm đức Phật uy thần, Kiết giới hàng ma khắp cõi trần. Trên mão Tỳ Lô nay ứng hiện, Chiêm ngƣỡng đảnh lễ đƣợc chơn tâm. (Kế niệm thần chú Phật Mẫu Chuẩn đề. Đại chúng đồng thanh tán, Sám Chủ gia trì ngũ quan.) Cúi đầu quy y Cúi đầu quy y Tô tất đế, Thành tâm đảnh lễ Thất Câu Chi. Con nay xƣng tán đại Chuẩn Đề, Xin nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam mô tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đà, cu chi nẩm, đát điệc tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề Ta bà ha. Nam mô Chuẩn Đề Vƣơng Bồ Tát. (ba lần) Giờ đến lên Pháp tòa Giờ đến lên Pháp tòa, Trời Ngƣời đều hộ trì. Con nay trì chánh pháp, cung thỉnh Tỳ Lô Tôn. (Vỗ Thủ xích, nâng thủ lƣ, sám chủ xƣớng Tỳ Lô Tôn, Đại Chúng cùng hòa.) Tỳ lô Nhƣ Lai, Đại Quang Minh Tạng. Ngũ phương kiết giới Hồng hồng án mọ ni hồng. Trời đất không có ai nhƣ Phật (Án mọ ni hồng). Mƣời phƣơng thế giới (Án dạ hồng), chẳng ai bằng (Hồng hồng án mọ ni hồng). Những vị thế gian con từng thấy (Án mọ ni hồng), Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 87


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Đều chẳng có ai (Án, dạ hồng), nhƣ Phật đƣợc (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Phương Đông Phƣơng Đông có đức A Sơ Phật (Án mọ ni hồng), Thân tƣớng màu xanh (Án dạ hồng), phóng hào quang (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn giữ gìn Kim Cang Xử (Án mọ ni hồng), Đệ tử chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Phương Nam Phƣơng Nam có đức Bảo Sanh Phật (Án mọ ni hồng), Thân tƣớng màu đỏ (Án dạ hồng), phóng hào quang (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn giữ gìn Ma Ni Bảo (Án mọ ni hồng), Đệ tử chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Phương Tây Phƣơng Tây có đức Di Đà Phật (Án mọ ni hồng), Thân tƣớng màu trắng (Án dạ hồng), phóng hào quang (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn giữ gìn Hoa sen báu (Án mọ ni hồng), Đệ tử chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Phương Bắc Phƣơng Bắc có đức Thành Tựu Phật (Án mọ ni hồng), Thân tƣớng đen tuyền (Án dạ hồng), phóng hào quang (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn giữ gìn Luân tƣơng giao (Án mọ ni hồng), Đệ tử chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng).  Trung ương Trung ƣơng có đức Tỳ Lô Phật (Án mọ ni hồng), Thân tƣớng hoàng kim (Án dạ hồng), phóng hào quang (Hồng hồng án mọ ni hồng). Thủ ấn giữ gìn Thiên phúc luân (Án mọ ni hồng), Đệ tử chí tâm (Án dạ hồng), xƣng tán lễ (Hồng hồng án mọ ni hồng). Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 88


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 Hộ ngạn tát rị quan Hộ ngạn tát rị quan, đát a nga đa. Bố từ bây, độ bây, de lộ kia, càn đích, nê vĩ đích, thạc bụt thạp. Bố choang min cót than mọ đích lai tƣ phin lai nại than mọ de dạ, hồng. Nam mô Bảo Đàm Hoa Bồ Tát. (ba lần) Trong bình Cam lồ Trong bình Cam lồ của Nhƣ Lai, Tẩy sạch trần lao, thân uế nhơ. Con nay lãnh thọ xin gìn giữ, Rƣới cho thanh tịnh khắp muôn nơi. Chơn ngôn tịnh pháp giới (Khi tụng chơn ngôn, hãy điều phục thân và tâm, tƣởng đến đỉnh đầu và rốn đầy đủ hai chữ “Án lam”. Niệm thanh tịnh rồi thị hiển hiện phƣớc huệ viên mãn.) Ngạn lãm, ngạn lam tóa ha. (ba lần) Chơn ngôn điểm tịnh (Tụng chơn ngôn, lấy ngón vô danh của tay phải, nhúng vào chén cam lồ, đàn chỉ sái hƣ không. Xong chấp tay quán tƣởng đàn tràng trong ngoài đều đƣợc thanh tịnh viên mãn.) Ngạn, dạ mục cót choang lai di mo nghinh, tô rô tô rô, tóa ha. (ba lần) Chơn ngôn gia trì hoa và gạo (Tụng chơn ngôn, hai tay nắm hoa và gạo ba lần, quán tƣởng thành quang minh chủng, hóa hiện kim ngân, bích ngọc, trân bảo vân vân) Ngạn, quan tƣ lai, phổ min dạ, hồng. (ba lần) Chơn ngôn gia trì Bảo Linh (Tụng chơn ngôn, tay phải nắm hoa gạo rải lên Bảo linh, quán tƣởng thành trí tuệ chủng). Ngạn, quan tƣ lai, tát kháp dạ, hồng. (ba lần) Ngạn, dạ, hồng. (ba lần). Con nay chấn linh xử Con nay chấn linh xử, Âm vang khắp pháp giới. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 89


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Cung thỉnh chƣ Thánh hiền, Đều giáng lâm đến đây. Nơi đây tất cả các Nhƣ Lai, Trong tay hiện cầm Kim Cang xử. Kim Cang Phật mẫu đầy uy lực. Con nay phát nguyện luôn hành trì, Trừ bỏ mê mờ của chúng sanh. Ngạn hạ lai, hạ lai, hồng. (ba lần) Thần chú mười hai nhân duyên Ngạn de thác lƣ mo hê đô. Phút lai bo choang hê, đôn đích san. Đáp thạp cót đáp yết, quan đãn đích san. Choang đích nê lô, đãn de bƣng cót đế, Mo cót thích lai, mọ nại de, tóa ha. (Đặt Bảo Linh xuống bàn, lấy tay trái nắm hoa và gạo, xƣớng rằng) Con cùng chúng sanh Con cùng chúng sanh, muôn lo ại hữu tình, từ trƣớc đến nay, vẫn chƣa chứng đƣợc Bồ Đề tối thƣợng, xin nguyện quy y Kim Cang Thƣợng Sƣ Tam Bảo. Chơn ngôn Thượng Sư Tam Bảo Nại mo cu lô tì de, Nại mo bụt thạp de, Nại mo thạc lừ mo de, Nại mo tứng cót de. Ngạn, rị rị kháp kháp hồng hồng phín đáp. Ngạn, thất rị mo kháp kha lai kháp kháp hồng hồng phín đáp, tóa ha. (ba lần) Ngạn, dạ, hồng. (ba lần) (Lấy tay nắm hoa và gạo tung rải vào hƣ không, quán tƣởng hoa và gạo đó trở thành hoa hƣơng cúng dƣờng vân vân) (Vỗ Thủ xích, tụng rằng)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 90


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Bày biện hương hoa Bày biện hƣơng hoa lập bảo đàn, Ngàn ngàn cảnh Phật tỏa hào quang, Tâm dung diệu lý, hƣ không nhỏ, Đạo ứng chơn nhƣ, rộng mênh mang. Tƣớng tốt từ bi trăng viên mãn, Hóa thân cao vợi, cƣỡi mây ngàn. Khói hƣơng quyền quyện nhƣ ẩn hiện, Vạn vật thênh thang hải ấn hàm. Thích Ca Như Lai Thích Ca Nhƣ Lai, (đồng xƣớng) chứng minh công đức. Quán Thế Âm Bồ Tát, (đồng xƣớng) mật thùy gia hộ. A Nan Đà Tôn Giả, (đồng xƣớng) hƣng quyền khải giáo. (Rung linh, niệm Kệ Tự Tánh) Kệ Tự Tánh Thể tánh phƣơng tiện vốn chẳng hƣ, Dõng thức bất hoại nhƣ Kim Cang. Tƣớng tốt tuyệt luân không thể sánh, Nguyện việc đƣơng làm đều thành tựu. Tự tánh trí tuệ thật rộng sâu, Diễn nói âm pháp luân tối thƣợng. Lấy vô sanh hiện phƣơng tiện thân, Những việc đƣơng làm xin trọn đủ. Kệ Tịnh Địa Đất đai khắp mọi phƣơng trời bể, Ngói sỏi đá cát thảy đều không. Đất báu lƣu ly thật bằng phẳng, Mềm mại vi diệu nguyện an trụ. Tựa nhƣ cõi Cực Lạc trang nghiêm, Đất là ngọc báu, hoa rải kín. Vƣờn rừng ao nƣớc thảy đều dƣ, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 91


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Dùng đại Pháp âm xin đầy đủ. Vƣợt xuất thế gian lại hiển bày, Các loại ngọc báu đều thành tựu. Vô lƣợng hào quang chiếu pháp giới, Chƣ Phật Bồ Tát nguyện an trụ. Ngạn, quan tƣ lai, khán chi di, lai nạp lai nạp, phút lai lai nạp, phút lai lai nạp, tam phút lai lai nạp, tam phút lai lai nạp, tát rị quan, bụt thạp xích đích lai. Phút lai choang rị đáp, mo cót phút lai ni nha, ba lai miệt đáp na đạt, đạt tốc ba vi tát rị quan, tháp rị mo, kia rị đạt de, san đa sa na. Cót rị, hồng hồng, phín tra, tóa ha. Chơn ngôn Khiển ma (Dùng hay tay kết thành Kim Cang quyền, lƣng bàn tay dựa vào nhau, hai ngón út móc vào nhau, hai ngón trỏ thẳng đứng, quyết ấn ở giữa ngực, quán tƣởng thủ ấn phóng hỏa quang khiển cảnh giới ma) Ngạn, quan tƣ lai, quan tƣ lai, a di rị đạt, côn tra rị, cót nạp cót nạp, hồng hồng, phín tra. (ba lần) Chơn ngôn Phục Ma (Hai tay đan nhau ngoài lòng bàn tay, hai ngón trỏ thẳng đứng, quyết ấn ở giữa ngực, chuyển động nhƣ cánh quạt, phóng hỏa quang điều khiển chúng ma) Ngạn, quan tƣ lai, quan tƣ lai, nha cáp hồng Chơn ngôn Hỏa Luân (Hai tay đan nhau ở trong lòng bàn tay, mƣời ngón tay hƣớng lên trên, quyết ấn trƣớc ngực, quán tƣởng ấn phóng lửa Kim Cang khiến ma rời xa) Ngạn, quan tƣ lai, tả lạt, a nại lạt, cót nại đáp cót, ba choang ma tháp, bân choang lai nạp, hồng hồng phín tra. Ngạn, tát rị quan, đáp thạp cót đạt lai đích nại mo cót mạn, đáp lạt. Bố choang di khát tát mọ đích lai tƣ phín lai nại than mọ de dạ hồng. (hai lần) (Vỗ Thủ xích, bạch rằng) Tam quy y tán Phật, Pháp, Tăng Bảo, biến khắp mƣời phƣơng, cung kính thỉnh cầu, tất đƣợc cảm ứng. Nay con bắt đầu pháp hội thí thực, trƣớc xin quy kính Tam Bảo, cầu

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 92


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

mong Pháp sự trọn thành, kế làm nhân lành thành tựu. Đại chúng từ bi, cùng nhau tán thán. Chí tâm tín lễ Phật-đà-da. Lƣỡng túc tôn, Tam giác viên, Vạn đức cụ, bậc Thầy của trời ngƣời, Án Dạ Hồng, cha lành của muôn loại; từ Đâu Suất, xuống nhân gian, thƣơng cứu khắp, xuyên suốt cả ba thời, rộng đến mƣời phƣơng cõi. Nổi pháp lôi, gióng pháp cổ, diễn dạy giáo ba thừa, Án Dạ Hồng, rộng mở pháp phƣơng tiện; nếu quy y, có thể diệt, địa ngục khổ. Phật tử nếu quy y, có thể diệt, địa ngục khổ. Chí tâm tín lễ Đạt-ma-da. Ly dục tôn, Bảo tạng thâu, Ngọc hàm trữ, kết tập ở Tây Vực, Án Dạ Hồng, phiên dịch truyền phƣơng Đông; Tổ sƣ hoằng, Hiền triết giải, thành chƣơng sớ, ba thừa chia đốn tiệm, năm giáo định tôn chỉ. Quỷ thần vâng, trời rồng hộ, dạy ngƣời mê tỏ ngộ, Án Dạ Hồng, cam lồ trừ phiền não; nếu quy y, có thể diệt, Ngạ quỷ khổ. Phật tử nếu quy y, có thể diệt Ngạ quỷ khổ. Chí tâm tín lễ Tăng-già-da. Chúng trung tôn, Ngũ đức sƣ, Lục hòa lữ, lợi sanh làm sự nghiệp, Án Dạ Hồng, hoằng pháp là việc nhà; lánh trần tục, thƣờng tọa thiền, nơi vắng lặng, thân khoác lớp áo mỏng, nuôi sống bằng rau dƣa. Bát hàng long, gậy phục hổ, đèn pháp thƣờng soi chiếu, Án Dạ Hồng, tâm ấn Tổ tổ truyền; nếu quy y, có thể diệt bàng sanh khổ. Phật tử nếu quy y, có thể diệt bàng sanh khổ. Đại chúng phát tâm quảng đại Đại chúng phát tâm quảng đại, Quy y Kim Cang Thƣợng sƣ. Quy Y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Con nay phát tâm, chẳng phải tự cầu, phƣớc báo trời ngƣời, Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến quả vị Bồ Tát quyền thừa, chỉ cầu Tối thƣợng thừa, phát Bồ Đề tâm, nguyện cùng Pháp giới chúng sanh, cùng lúc chứng quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cúi lạy mười phương Điều Ngự Sư Cúi lạy mƣời phƣơng Điều Ngự Sƣ, Tuyên bày pháp nhiệm mầu thanh tịnh Tăng già chứng bốn quả ba thừa Nguyện xin từ bi đến pháp hội.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 93


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Phụng Thỉnh Tam Bảo (Dâng cúng hoa hƣơng, thỉnh đại chúng cùng hòa. Xong, Sám chủ nâng lƣ thỉnh rằng) Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, chƣ Phật Pháp Tăng, Kim Cang mật tích, thần linh hộ pháp, tám bộ trời rồng, tiên nhơn thánh chúng ở khắp hƣ không cùng pháp giới, trong mỗi mỗi quốc độ. Nguyện xin theo lời nguyện cũ, thƣơng xót chúng sanh, vào ngay lúc này, quang lâm Pháp hội. Hƣơng hoa thỉnh, hƣơng hoa thỉnh. Kính vâng lời Du Già Kính vâng lời Du Già, thiết lễ Mạn Noa Lai, Xin nguyện Phật Pháp Tăng, từ bi thƣơng nạp thọ. Ấn hiện đàn nghi (“Thiên Thủ Nhãn Tu Hành Nghi” nói: hai tay kết Kim Cang quyền, các ngón út, trỏ của hai tay móc vào nhau, quyết ấn trƣớc ngực, niệm chơn ngôn rằng) Ngạn, quan tƣ lai, quan tƣ lai, choang giới lai, choang giới lai, hồng, choang hồng, bang hộc. Đại chúng niệm ba mươi lăm đức Phật Đại từ đại bi thƣơng chúng sanh, Đại hỷ đại xả cứu muôn loài. Tƣớng hảo quang minh tự trang nghiêm, Chúng con thành tâm xin kính lễ. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Kim Cang Bất Hoại Phật. Nam Mô Bảo Quang Phật. Nam Mô Long Tôn Vƣơng Phật. Nam Mô Tinh Tấn Quân Phật. Nam Mô Tinh Tấn Hỷ Phật. Nam Mô Bảo Hỏa Phật. Nam Mô Bảo Nguyệt Quang Phật. Nam Mô Hiện Vô Ngu Phật. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 94


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Nam Mô Bảo Nguyệt Phật. Nam Mô Vô Cấu Phật. Nam Mô Ly Cấu Phật. Nam Mô Dõng Thí Phật. Nam Mô Thanh Tịnh Phật. Nam Mô Thanh Tịnh Thí Phật. Nam Mô Ta Lƣu Na Phật. Nam Mô Thủy Thiên Phật. Nam Mô Kiên Đức Phật. Nam Mô Chiên Đàn Công Đức Phật. Nam Mô Vô Lƣợng Cúc Quang Phật. Nam Mô Quang Đức Phật. Nam Mô Vô Ƣu Đức Phật. Nam Mô Na La Diên Phật. Nam Mô Công Đức Hoa Phật. Nam Mô Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông Phật. Nam Mô Tài Công Đức Phật. Nam Mô Đức Niệm Phật. Nam Mô Thiện Danh Xƣng Công Đức Phật. Nam Mô Hồng Diệm Đế Tràng Vƣơng Phật. Nam Mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật. Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật. Nam MôThiện Du Bộ Phật. Nam Mô Châu Tráp Trang Nghiêm Công Đức Phật. Nam Mô Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vƣơng Phật. Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật. Nguyện đem công đức tối thắng này, Hồi hƣớng cho muôn ngàn Pháp giới, Tánh tƣớng Phật, Pháp và Tăng Già, Hai đế bao hàm tam muội ấn Công đức lớn không cùng nhƣ thế, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 95


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Con nay xin hồi hƣớng tất cả. Nếu có ai dùng thân miệng ý, Phỉ báng, hủy hoại pháp Nhƣ Lai, Tất cả các nghiệp chƣớng nhƣ thế, Thảy đều tiêu diệt chẳng còn dƣ, Mỗi niệm đều lan khắp Pháp giới, Rộng độ chúng sanh đều giải thoát, Cho đến lúc pháp giới tan rã, Chúng sanh và nghiệp, phiền não hết, Bốn pháp nhƣ thế thật vô biên, Con nay xin hồi hƣớng nhƣ vậy. Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát. (ba lần) Tỳ-lô-giá-na Phật Tỳ-lô-giá-na Phật, nguyện lực khắp pháp giới. Nơi tất cả quốc độ, thƣờng chuyển pháp vô thƣợng. (Đại chúng mặc niệm Tâm kinh một biến.) Ngưỡng bạch tất cả chư Phật Ngƣỡng bạch tất cả chƣ Phật, Bát Nhã Bồ Tát, Kim Cang trời rồng, cùng các ngoại đạo, vô lƣợng Thánh hiền, khắp cả mƣời phƣơng. Con là (tên họ) nay lấy tâm từ bi, nƣơng lực chƣ Phật, thành tâm triệu thỉnh ba đƣờng địa ngục, và các đƣờng ác, tất cả Ngạ quỷ, muôn đời đói khát, các điện Diêm La, Thiên tào địa phủ, nghiệp đạo minh quan, Tiên nhân đạo sĩ, ngƣời xƣa đã khuất, âm linh vất vƣởng, chƣ thiên trên trời, cùng với quyến thuộc, những vị quỷ thần, khắp cả mƣời phƣơng, không cùng pháp giới. Nguyện xin chƣ Phật, Bát Nhã Bồ Tát, Kim Cang trời rồng, vô lƣợng Thánh hiền, cùng các ngo ại đạo, nguyện phóng hào quang, từ bi hộ niệm. Nguyện cho tất cả, thiên tào địa phủ, nghiệp đạo minh quan, các loài Ngạ quỷ, cha mẹ nhiều đời, ngƣời xƣa đã khuất, tiên nhơn đ ạo sĩ, tất cả oán kết, thiếu tiền nợ mạng, mỗi mỗi bộ loại, quỷ thần khác nhau, và các quyến thuộc, khắp cả mƣời phƣơng, không cùng pháp giới, nƣơng lực Nhƣ Lai, vào ngay lúc này, quyết định đến đây, đƣợc hƣởng pháp vị, tuyệt diệu của Phật, cam lồ thanh tịnh, ăn uống đủ đầy, phƣớc đức trí tuệ, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 96


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

đƣợc thấm vào thân phát tâm Bồ Đề, xa lìa việc ác, quy kính Tam Bảo, từ tâm rộng lớn, lợi ích hữu tình, cầu đạo vô thƣợng, thoát khỏi luân hồi, và các đƣờng ác, thƣờng sanh nhà lành, chẳng sợ chẳng hãi, thân thƣờng thanh tịnh, chứng đạo vô thƣợng, khẩu thƣờng thanh tịnh, chứng đạo vô thƣợng, ý thƣờng thanh tịnh, chứng đạo vô thƣợng. Kế dâng năm thứ cúng dường Chƣ Phật và Bồ Tát, vô lƣợng chƣ Thánh hiền, Cùng các vị thần linh, khắp cõi nƣớc mƣời phƣơng. Xin nguyện đại từ bi, giáng lâm nơi Pháp hội. Hoa Hƣơng Đăng Đồ Quả Nhạc, chút ít xin cúng dƣờng. Từ chữ Hồng sanh (Á, Hoa, Hƣơng, Đăng, Á, Đồ, Quả, Nhạc) Thiên Mẫu. Một mặt, bốn tay, phóng hào quang. Hai tay phía trên cầm (Hƣơng, Hoa, Đăng, Á, Đồ, Quả, Nhạc, Á) báu, Hai tay quyết ấn Luân tƣơng giao, Hồng, ngạn dạ hồng, hồng, ngạn dạ hồng, kia rị. (Á, Hoa, Hƣơng, Đăng, Đồ, Quả, Nhạc) báu Thiên Mẫu cúng dƣờng Phật. Nguyện Phật từ bi thƣơng nạp thọ. Tự tánh nhân duyên đã sanh ra, Các loại Hoa, Hƣơng, Đăng, Đồ, Quả, Nhạc thật vi diệu Kính dâng Thƣợng Sƣ Tam Bảo tôn. Xin nguyện Từ Bi ai nạp thọ. Hộ ngạn tát rị quan, đát a nga đa. Bố từ bây, độ bây, de lộ kia, càn đích, nê vĩ đích, thạc bụt thạp. Bố choang min cót than mọ đích lai tƣ phin lai nại than mọ de dạ hồng. Nam Mô Bảo Đàm Hoa Bồ Tát. (ba lần) (Lại dâng cúng thêm lần nữa, cũng làm y nhƣ trên. Mặc niệm Tâm kinh xong, quyết ấn Liên Hoa để cúng dƣờng) Ngạn tát rị quan, tát rị quan, đáp thạp cót đạt tát bát rị vĩ lai. Ngạn quan tƣ lai bố từ bây, độ bây, de lộ kia, càn đích, nê vĩ đích, thạc bụt thạp. Dạ hồng Bố choang min cót than mọ đích lai tƣ phin lai nại than mọ de dạ hồng. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 97


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Trên núi Phổ Đà Trên núi Phổ Đà thƣờng nhập định, Tùy duyên ứng hiện khắp nơi nơi, Tìm nghe tiếng khổ độ chúng sanh Thế nên gọi là Quán Tự Tại. Kế nhập Quan Âm thiền định Nam mô Vô Tận Tam Bảo Tôn. Con nay nguyện phát Bồ Đề tâm, Xin đấng Từ Bi thƣơng tiếp thọ, Chóng chứng thân mầu nhiệm Quan Âm, Kế nhập Quan Âm tam ma địa, Nhắm mắt tĩnh tâm quán sát tâm, Mênh mang thanh khiết tựa trăng tròn, Tự phóng hào quang hóa hoa sen, Trong hoa hiện Ngài Quán Tự Tại, Tƣớng tốt đủ đầy không thể sánh, Tay trái cầm nhành hoa sen báu, Tay phải bày thế tựa nhƣ lá, Bồ Tát quán chiếu thân chúng sanh, Đều có tánh giác nhƣ hoa sen, Thanh tịnh Pháp giới không hoặc nhiễm, Tám cánh sen đều hiện Nhƣ Lai, Nhƣ Lai ngồi kiết già nhập định, Mặt hƣớng đến Ngài Quán Tự Tại, Cổ ánh hào quang, thân vàng sáng, Quang minh sáng chói và rực rỡ, Rồi quán hoa sen lớn dần lên, Rộng đến bao phủ hƣ không giới, Đóa hoa tuệ giác chiếu Pháp giới, Nhƣ Lai hải hội thật rộng lớn, Tâm vẫn chẳng rời nơi thiền định, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 98


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Thƣơng xót tất cả các chúng sanh, Hoa giác phủ chiếu thoát khổ não, Đồng nhƣ Bồ Tát Quán Tự Tại, Hoa sen nhỏ dần về nhƣ cũ, Lại kết thành ấn Quán Tự Tại, Gia trì bốn chỗ tụng mật ngôn, Tự thân cũng đồng Quán Tự Tại. Kế nhập Quan Âm ấn Ngạn quan tƣ lai, kháp lai mọ, kia rị. Hồng, thƣ lãm, kia rị, a. (Khi ấn chú, Gia trì sƣ nên biết rằng, dùng thủ ấn án ở mỗi chỗ, tụng thần chú một lần. Dùng chữ “抮” gia trì thì thủ ấn án ở miệng. Kế chữ “ 帊”gia trì nơi đỉnh đầu, chữ “ 歾” gia trì ở rốn, “岆 ” gia trì tâm, chữ “ 乇” gia trì ở yết hầu. Gia trì nhƣ vậy làm thân kiên cố, tất cả chƣớng ngại đều không thể hại đƣợc. Hãy gia trì bốn chỗ. ) Công đức thiền định tối thắng này, Xin đem hồi hƣớng cho chúng sanh, Cùng thấy Tây phƣơng Vô Lƣợng Quang, Thành tựu đại nguyện của Phổ Hiền. Nếu có ai muốn biết, chƣ Phật trong ba đời. Nên quán tánh Pháp giới, thảy đều do tâm tạo. Kế quyết ấn phá địa ngục (Hai tay vận Kim Cang quyền, hai ngón út móc vào nhau, hai ngón trỏ thẳng đứng tựa vào nhau, ba lần kết ba lần xả, quán tƣởng mở địa ngục. Khai chơn ngôn rằng.) Nại mo a sắc sá, a sắc sá, tiếp đề nẫm, tam miệu tam bụt thạp câu chi nẫm, ngạn choác lạp nại phà bà tế đế rị đế rị hồng. Do nhờ oai lực của ấn chú này, mà cửa địa ngục ở các cõi ác, nƣơng nơi ấn chú, (đồng hòa) tự nhiên mở ra. Địa Tạng, Diêm Vương Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 99


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Địa Tạng, Diêm Vƣơng khởi lòng thƣơng, Lập án dƣơng danh kết thiện duyên, Cô hồn nên nƣơng lời Phật dạy, Nguyện nhờ Pháp lực đƣợc sanh thiên. Phụng thỉnh Địa Tạng Vương Bồ Tát. Hƣơng hoa thỉnh, hƣơng hoa thỉnh.  Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, độ hết chúng sanh mới chứng Bồ Đề, địa ngục còn ai, nguyện chƣa thành Phật. Nam mô Đại Thánh Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát ma ha tát. Nguyện xin không quên đại nguyện, thƣơng xót hữu tình, phút giây lúc này quang lâm Pháp hội.  U minh lộ thượng Dẫn Hồn Vương Bồ Tát Hƣơng hoa thỉnh, hƣơng hoa thỉnh. Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, tay cầm phan cái, thân đeo vòng hoa, đƣa chúng sanh về Cực Lạc Tây Phƣơng, dẫn cô hồn dự đạo tràng pháp hội. Nam mô U minh lộ thƣợng Dẫn Hồn Vƣơng Bồ Tát ma ha tát. Nguyện xin không quên đại nguyện, thƣơng xót hữu tình, phút giây lúc này quang lâm Pháp hội. Hƣơng hoa thỉnh, hƣơng hoa thỉnh.  Tần Quảng, Sở Giang Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, Tần Quảng, Sở Giang, và Tống Đế, Ngũ Quan, Diêm La, Biến Thành Vƣơng, Thái Sơn, Bình Đẳng hai minh quân, Đô Thị, Chuyển Luân mƣời điện chúa, chƣởng phán âm ty ở Ma La giới, mƣời tám chúa ngục Phong Đô, thống lãnh u minh một cõi. Nguyện xin không quên đại nguyện, thƣơng xót hữu tình, phút giây lúc này quang lâm Pháp hội. Vận tâm bình đẳng Vận tâm bình đẳng, Pháp lực vô biên, cung kính trƣớc chƣ Phật, xƣng dƣơng bảo hiệu. Nam mô Đa Bảo Nhƣ Lai, Quảng Bác Thân, Diệu Sắc Tƣớng, Cam Lồ

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 100


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Vƣơng Nhƣ Lai. Nam mô Bạc già phạt đế. Tiếng chú vút cao tận mây trời, ngân vang xa, La Hán mừng vui, mê oán hết. Ngạn, vong hồn ngạ quỷ vây quanh nhiễu đàn. Hộ ngạn tất tri, tất xả tả nẵng, duệ hê, duệ hê, tát rị quan, mẫu đà nẩm de, tóa ha. Mưa thu sang, ngô đồng lá rụng Mƣa thu sang, ngô đồng lá rụng, trời thê lƣơng, triệu thỉnh cô hồn mau đến hội. Ngạn, nƣơng lời pháp ngữ mà lên liên đài. Hộ ngạn tất tri, tất xả tả nẵng duệ hê, duệ hê, tát rị quan, mẫu đà nẫm, de tóa ha. Đêm nay khai hội cam lồ Đêm nay khai hội cam lồ, mời về đây, triệu thỉnh cô hồn mau đến dự. Ngạn, đêm khuya chòi vắng tiếng trống chiêng ngừng. Hộ ngạn tất tri tất xả tả nẵng duệ hê, duệ hê, tát rị quan, mẫu đà nẫm, de tóa ha. Ngạn bộ bộ đế rị, già rị đa rị, đát tha nga đa da. Cô hồn nghe thỉnh, thỉnh lai lâm. Thỉnh chư hương linh  Trời như tên bắn Nhất tâm triệu thỉnh: trời nhƣ tên bắn, trăng tợ thoi đƣa, nhớ ngƣời thân đã ra đi, thấy hình hài nhƣ còn đó. Nén hƣơng đầu tiên, kinh xin triệu thỉnh (tên họ vong linh) nhất vị chánh hồn. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Núi xa như tranh vẽ Nhất tâm triệu thỉnh: núi xa nhƣ tranh vẽ, suối nƣớc trôi hững hờ, xuân đi hoa lại rụng, thấy ngƣời chim chẳng bay. Lại kính dâng hƣơng, kính xin triệu thỉnh (tên họ vong linh) nhất vị chánh hồn. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Mênh mang biển nghiệp Nhất tâm triệu thỉnh: mênh mang biển nghiệp tự tạo ra, ngƣời mê sao chẳng tỉnh chút nào. Ngày nay chẳng niệm Di Đà Phật, sống một kiếp ngƣời cũng uổng thôi. Đốt nén trầm hƣơng, kính xin triệu thỉnh (tên họ vong linh) nhất vị chánh hồn. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 101


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá. Thỉnh mười hai loại cô hồn  Ngàn đời vua chúa Nhất tâm triệu thỉnh: Ngàn đời vua chúa, vạn kẻ vƣơng hầu, chín tầng điện gác nguy nga, ngàn dặm non sông hùng cứ. Tàu chiến chinh Nam, ngàn năm vƣơng khí thoáng qua. Xe loan về Bắc, năm nƣớc tiếng oan còn mãi. Than ôi! Chim Quyên nấc tiếng trăng hoa rụng, máu nhuộm cỏ cây hận chính trƣờng! Nhƣ thị! Sanh thời vua chúa cao sang, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Dựng đàn bái tướng Nhất tâm triệu thỉnh: Dựng đàn bái tƣớng, lập tiết phong hầu, sức dời đỉnh nặng ngàn cân, thân giữ trƣờng thành vạn dặm. Trƣớng hùm sƣơng phủ, sá chi cƣỡi ngựa chiến chinh. Gió lặng khói ngƣng, không phụ lòng vua mong đợi. Than ôi! Tƣớng quân chiến mã còn đâu nữa, hoa đồng cỏ nội vấn vƣơng sầu. Nhƣ thị! Một thời tƣớng soái vẻ vang, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Tài năng hiếm có Nhất tâm triệu thỉnh: Tài năng thiên bẩm, đức độ hiền lƣơng, ba năm quan lại thanh liêm, một tấm lòng son giúp chúa. Châu nam huyện bắc, xa lìa đất tổ đã lâu. Góc bể chân trời, thân xác vùi nơi hoang đảo. Than ôi! Hoạn lộ bấp bênh tùy thế cuộc, hồn ai mờ mịt chốn dƣơng quan. Nhƣ thị! Các bậc tể tƣớng văn quan, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 102


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 Người học trường lớp Nhất tâm triệu thỉnh: Ngƣời học trƣờng lớp, kẻ ở nhà tranh, Thám hoa dạo bƣớc rừng văn, khảo thí vào nơi thi cử. Chong đèn đom đóm, ba năm học tập siêng năng. Mòn cả bút nghiên, mƣời lƣợt nhọc công thi cử. Than ôi! Bảy tấc lụa hồng đề tên họ, một chén đất vàng lấp văn chƣơng. Nhƣ thị! Bao ngƣời cử tử văn nhân, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Lánh xa trần thế Nhất tâm triệu thỉnh: Lánh xa trần thế, gậy chống non cao. Cao tăng năm giới tinh tu, chúng ni phạm hạnh chuyên trì. Trúc biếc hoa vàng, luận đàm mật lý nguồn chơn. Trâu trắng mèo đen, diễn thuyết khổ không diệu kệ. Than ôi! Trăng lạnh canh ba vào cửa sổ, nhà thiền leo lét ánh đèn khuya. Nhƣ thị! Các bậc Thích tử áo nâu, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Tiên nhơn đạo sĩ Nhất tâm triệu thỉnh: Tiên nhơn đạo sĩ, mũ vàng áo lông. Tu thân chốn động Đào Nguyên, dƣỡng tánh ở nơi Lãng uyển. Tam hoa luyện cốt, thiên tào vẫn chẳng gọi tên. Bốn đại vô thƣờng, địa phủ khó dung chuyển hạn. Than ôi! Quán ngọc lò đan sƣơng ngấm lạnh, Tiếu đàn gió thổi hạnh hoa rơi. Nhƣ thị! Những ngƣời đạo sĩ tu tiên, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Ruỗi rong bốn biển Nhất tâm triệu thỉnh: Ruỗi rong bốn biển, buôn bán khắp nơi. Bôn ba ngàn dặm làm ăn, tích ngọc trữ châu trao đổi.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 103


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Gió sƣơng ai ngỡ, thân vùi bụng cá biển sâu. Đƣờng sá ai ngờ, mạng uổng vào thân hùm sói. Than ôi! Hồn phách lạnh lẽo trong mây gió, bóng ai lẫn đẫn giữa dòng sông. Nhƣ thị! Những ngƣời lữ khách tha hƣơng, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Thanh niên chiến sĩ Nhất tâm triệu thỉnh: Thanh niên chiến sĩ, khoác tấm nhung bào. Cờ hồng phất phới xông pha, cung kiếm đao thƣơng giết giặc. Trống chiêng vừa đánh, thoáng mắt máu đổ thịt rơi. Thắng bại vừa phân, bình địa xác ngƣời rải khắp. Than ôi! Quỷ khóc âm u trong gió cát, xƣơng phơi mờ mịt chẳng ai hay. Nhƣ thị! Những ngƣời binh lính quân nhân, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Thai mang mười tháng Nhất tâm triệu thỉnh: Thai mang mƣời tháng, khổ nhọc sản sanh. Mừng duyên loan phụng thành đôi, ngóng trông hài nhi quý tử. Sản nạn đớn đau, dữ lành mành chỉ treo chuông. Trai gái chƣa hay, mẹ con đã về địa phủ. Than ôi! Hoa nở đƣơng thì gặp mƣa bão, trăng tròn mƣời sáu bị mây che. Nhƣ thị! Những ngƣời sản nạn đớn đau, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Man ri mọi rợ Nhất tâm triệu thỉnh: Man ri mọi rợ, đui điếc ngọng câm. Một đời khổ cực gian lao, tủi phận làm ngƣời nô lệ. Khinh khi Tam Bảo, tội khiên tích trữ hà sa. Hỗn láo mẹ cha, tội ác bao trùm vũ trụ. Than ôi! Đêm dài mờ mịt khi nào tỏ, đƣờng vắng đìu hiu ngƣời quạnh hiu. Nhƣ thị! Những kẻ bội nghịch sân ngoan, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 104


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Cung phi mỹ nữ Nhất tâm triệu thỉnh: Cung phi mỹ nữ, đài các cao sang. Phấn son tô điểm dung nhan, áo tẩm thơm mùi long xạ. Mây tan mƣa tạnh, tƣởng nhớ Kim Cốc vƣờn xƣa. Trăng khuyết hoa tàn, xót phận Quý Phi bạc mệnh. Than ôi! Thuở nọ phong lƣu nay đâu thấy, xƣơng khô lạnh lẽo giữa đồng hoang. Nhƣ thị! Những ngƣời phụ nữ quần thoa, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá.  Ăn xin cơ nhỡ Nhất tâm triệu thỉnh: Ăn xin cơ nhỡ, phạm pháp cùm gông. Bị nƣớc cuốn lửa thiêu thân, gặp hổ lang mà mất mạng. Độc ép cổ treo, ngàn năm dạ vẫn oán hờn. Núi sạt sấm vang, phút chốc hồn xiêu phách tán. Than ôi! Khói biếc mƣa chiều chim kêu ríu, lá thu gió đẩy quạ bay đi. Nhƣ thị! Những ngƣời hoạnh tử đau thƣơng, thác lại làm loài Ngạ quỷ. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá. Pháp giới sáu đường Nhất tâm triệu thỉnh: Pháp giới sáu đƣờng, mƣời loại cô hồn, Diện Nhiên thống lãnh, các loài quỷ đói, bao nhiêu chủng loại, dựa cỏ nƣơng cây, Si mị võng lƣợng, trệ phách cô hồn, các vị tiên linh, bà con quyến thuộc liệt vị. Xin nguyện nhờ Tam Bảo lực, nƣơng bí mật ngôn, giờ phút này đây, đến ngay Pháp hội, hƣởng thọ pháp vị cam lồ vô giá. (Thƣợng sƣ dạy giới văn. Vỗ Thủ xích, xƣớng rằng) Thường nghe: Vốn trong đại địa sơn hà Thƣờng nghe: Vốn trong đại địa sơn hà, trời cao bình địa biển sông, cô hồn trệ phách hoạnh tử yểu vong, trên thời vua chúa tƣớng quan, dƣới thời bình dân bốn hạng, nam nữ sang hèn, hoặc ngục tù giam hãm, hoặc sẩy bƣớc chiến trƣờng, hoặc Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 105


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

trôi sông lạc suối, trúng độc trúng dƣợc, tự giết tự hại, sanh sản lìa đời, dịch bệnh mất sớm, hoặc sấm sét nhằm thân, luật pháp tử hình, bùa chú mất thân, nhiều đến vô số, chẳng thể kể lƣờng. Đã không bia mộ nƣơng thân, lại cũng chẳng nơi thờ phụng. Đứng trên đầu non ngọn cỏ Đứng trên đầu non ngọn cỏ, nƣơng nơi góc bể bờ sông. Mặc cho gió thổi mƣa dầm, đâu biết ngày qua đêm đến. Bốn mùa không cốt nhục để chăm lo, tám tiết chẳng bà con nào cúng tế. Âm u ảm đạm Âm u ảm đạm, ấy thiệt đƣờng mê. Mờ mịt tối tăm, chẳng tỏ đƣờng về. Nay gặp trai gia thí vô giá hội, nƣơng nhờ công đức chú niệm kinh tuyên, hà sa Phất tử, cùng theo Phật thánh lìa phàm, mấy kẻ oán thân, lại đƣợc nhờ ơn giải thoát. Ô! Sen vàng Ô! Sen vàng đâu dời nơi khác, tịnh độ vốn sẵn nơi đây. Chỉ trong thoáng mắt chứng vô sanh, thành tâm tham lễ Quán Tự Tại. Nam mô Tiến Vãng Sanh Bồ Tát Ma Ha Tát. (ba lần) (Vỗ Thủ xích, cử kệ rằng) Giác hoàng mật ngữ Giác hoàng mật ngữ trang nghiêm độ, Xiển dƣơng giáo pháp ở muôn nơi, Trời quang khí hoà sao sáng tỏ, Vạn vật đèn soi thật rạng ngời Tiếp dẫn bốn loài lên cửu phẩm, Đề huề sáu nẻo thoát tam đồ, Đêm nay may gặp vô giá hội, Lễ nhạc chung linh tế chúng cô. (Chấn linh triệu thỉnh) Nương tiếng linh reo Nƣơng tiếng linh reo nay triệu thỉnh, Cô hồn nghe thỉnh hãy đến đây, Nhờ lực gia trì của Tam Bảo, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 106


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Giờ phút này đây thọ cam lồ, Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Phật, Viên mãn báo thân Lô Giá Na Phật, Tam loại hóa thân Thích Ca Phật, Đƣơng lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Thập phƣơng tam thế nhất thiết Phật, Tây phƣơng tiếp dẫn A Di Đà Phật. Văn khô lâu Hôm qua du ngo ạn chốn đồng hoang, thấp thoáng bên đƣờng một cái đầu lâu. Cỏ mọc um tùm, dây gai bám. Thật thê lƣơng, gió đƣa hoa lá rơi rơi. Ơi hỡi khô lâu, nằm chi ở mé bờ sông, gió thổi đìu hiu, tảo biếc mọc xanh, trăng khuya soi, lạnh căm căm. Chẳng có ai ngƣời bà con thăm viếng. Ơi hỡi khô lâu, nằm ở bên đƣờng. Này khô lâu, ngƣời là tiên tổ của nhà ai kia. Gió thổi mƣa dầm sƣơng tuyết rơi. Đớn tim gan, lệ nhỏ dài. Ơi hỡi khô lâu, sao chỉ còn hốc mắt vành mi thật thẳm sâu. Mạng sống phù du đƣợc mấy ngày, Ác vàng thỏ bạc rong ruổi thoi đƣa, Trăm năm tuế nguyệt qua chốc lát. Chớ dần dà! Mau sớm cầu ra khỏi, kiếp khổ luân hồi. Hôm nay thí chủ, thiết lễ minh dƣơng hội, Lƣ vàng báu vừa đốt nén trầm hƣơng. Rộng thỉnh cô hồn đến đạo tràng, Tiêu tội chƣớng, thấm nhuần phƣớc lợi, sớm vãng Tây phƣơng. Nam mô bộ bộ đế rị già rị đa rị đát đa nga đa da. Cô hồn nghe thỉnh nguyện đến đây. Trên đã mời thỉnh, thảy đều đến đây. Đại chúng từ bi, đồng thanh tán trạo.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 107


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Tán trạo  Thiết lễ trai diên Thiết lễ trai diên, đức A Nan khai khởi, cứu khổ Quan Âm, thị hiện Ngài Đại Sĩ. Niệm Phật công đức, tuyên dƣơng lời mật ngữ, cứu vớt cô hồn, đến hƣởng cam lồ vị.  Xưa ở triều đình Xƣa ở triều đình, vua chúa thật tôn quý, thân thế cao sang, là cành vàng lá ngọc. Quản lý nội cung, phi tần và cung nữ, dứt mộng Hoa Tƣ, đến hƣởng cam lồ vị.  Quốc sĩ triều thần Quốc sĩ triều thần, ngang dọc giúp đất nƣớc, lợi ích muôn dân, chƣa tho ả lòng trung hiếu. Một bƣớc sa cơ, bị đày ra biên ải, nhớ nƣớc ƣu buồn, đến hƣởng cam lồ vị.  Võ tướng oai phong Võ tƣớng oai phong, thống lãnh bao binh sĩ, xông trận giao tranh, chiêng trống rền vang dội. Dẹp Bắc bình Nam, thất bại nơi chiến trận, vì nƣớc quên thân, đến hƣởng cam lồ vị.  Thông thạo kinh thư Thông thạo kinh thƣ, văn chƣơng thật bóng bẩy, học đèn đom đóm, dốc chí ôn sách vở. Mạng vận lỡ làng, bảng vàng không tên tuổi, uất ức u sầu, đến hƣởng cam lồ vị.  Cắt tóc xuất gia Cắt tóc xuất gia, sớm vào nơi chùa tháp, học đạo tìm sƣ, muốn thoát ly sanh tử. Ngày tháng thoi đƣa, bất chợt vô thƣờng đến, soi rọi tự tâm, đến hƣởng cam lồ vị.  Mũ vàng áo tía Mũ vàng áo tía, nuôi chí về tiên cảnh, luyện thuốc trƣờng sinh, dƣỡng tánh về nguyên khí. Khổ nhọc lao lung, mong mỏi lên tiên vị, chẳng tiếc thân hình, đến hƣởng cam lồ vị.  Cháu hiếu con hiền Cháu hiếu con hiền, những bậc trung lƣơng sĩ, liệt nữ trinh thê, xem chết nhƣ quay về. Giữ tiết quên thân, anh khí còn lƣu mãi, l ấp lánh linh hồn, đến hƣởng cam lồ vị. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 108


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 Phụ nữ xuất gia Phụ nữ xuất gia, nƣơng náu nơi cửa Phật, chẳng kết tơ duyên, trần cấu không ô nhiễm. Chƣa chứng vô vi, còn ở trong sanh tử, thanh tịnh thân tâm, đến hƣởng cam lồ vị.  Địa lý thiên văn Địa lý thiên văn, y dƣợc âm dƣơng loại, bói quẻ mai rùa, nhìn gió xem sao trời. Luận việc xấu tốt, vô thƣờng cũng chẳng thoát, bỏ ngụy về chơn, đến hƣởng cam lồ vị.  Buôn bán giao thương Buôn bán giao thƣơng, hàng hóa nhiều chủng loại, nghệ thuật đa tài, đổi trao cầu chút lợi. Rời khỏi quê hƣơng, thân chết nơi xa xứ, tủi phận xa quê, đến hƣởng cam lồ vị.  Luật pháp gia hình Luật pháp gia hình, ngục tù luôn gông trói, hại mạng mƣu tài, kẻ nợ ngƣời oan trái. Bịnh tật thiên tai, đói rét mà mất mạng, mau thoát suối vàng, đến hƣởng cam lồ vị.  Ngựa xéo xe tông Ngựa xéo xe tông, tai nạn thân hình nát, sấm giáng quỷ lôi, vung kiếm hoặc treo cổ. Nƣớc cuốn lửa thiêu, rắn cắn cọp báo hại, chín loại hoạnh hồn, đến hƣởng cam lồ vị.  Uống sống ăn tươi Uống sống ăn tƣơi, sanh ở nơi man rợ, thƣờng chịu khổ nhọc, làm tỳ thiếp nô lệ. Đui điếc ngọng câm, tàn tật không nơi ở, luống chịu khổ oan, đến hƣởng cam lồ vị.  Hỗn ngược mẹ cha Hỗn ngƣợc mẹ cha, oán thán cả đất trời, hủy Phật khinh Tăng, phá tƣợng thiêu kinh kệ. Tà kiến thẳm sâu, khổ báo không kể xiết, ác độc điên cuồng, đến hƣởng cam lồ vị.  Pháp hội thí thực Pháp hội thí thực, hiến cúng cô hồn chúng, tiên tổ vong linh, và những vị oan trái. Tám nạn ba đƣờng, bình đẳng xin dâng cúng, nƣơng ánh từ quang, đến hƣởng cam lồ vị. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 109


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 A Di Đà Phật A Di Đà Phật, xƣa phát lời thệ nguyện, quán sát muôn loài, chìm đắm trong biển khổ. Duỗi cánh tay vàng, dong thuyền từ cứu khổ, chở hết chúng sanh, cùng lên bờ giải thoát. Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát. Gia trì Tiểu Mông Sơn Nếu có ai muốn biết, Chƣ Phật trong ba đời. Nên quán tánh Pháp giới, Thảy đều do tâm tạo. (ba lần) (Từ đây trở về sau, mỗi mỗi đều tụng đủ 3 lần)  Chơn ngôn Phá địa ngục Án, dà ra đế da ta bà ha.  Chơn ngôn Phổ triệu thỉnh Nam mô bộ bộ đế rị, dà rị đa rị đát đa nga đa da.  Chơn ngôn Giải oan kết Án tam đà ra dà đà ta bà ha.  Quy y Tam Bảo Nam Mô Đại Phƣơng Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Nam Mô Thƣờng Trú Thập Phƣơng Phật Nam Mô Thƣờng Trú Thập Phƣơng Pháp Nam Mô Thƣờng Trú Thập Phƣơng Tăng Nam Mô Bổn Sƣ Thích Ca Mâu Ni Phật Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Nam Mô Minh Dƣơng Cứu Khổ Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát Nam Mô Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả. Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng. Quy y Phật đấng Lƣỡng túc, quy y Pháp lìa tham dục, quy y Tăng bậc thanh tịnh. Đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 110


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

 Sám hối nghiệp chướng Phật tử đã tạo chƣ ác nghiệp, đều do vô thỉ tham sân si, từ thân miệng ý mà phát sanh, hết thảy Phật tử đều sám hối. Hữu tình đã tạo chƣ ác nghiệp, đều do vô thỉ tham sân si, từ thân miệng ý mà phát sanh, hết thảy hữu tình đều sám hối. Cô hồn đã tạo chƣ ác nghiệp, đều do vô thỉ tham sân si, từ thân miệng ý mà phát sanh, hết thảy cô hồn đều sám hối.  Phát Bồ Đề tâm Chúng sanh vô biên nguyện độ hết, phiền não vô tận nguyện dứt trừ, Pháp môn vô lƣợng nguyện tu học, Phật đạo vô thƣợng nguyện tựu thành. Tự tánh chúng sanh nguyện độ hết, tự tánh phiền não nguyện dứt trừ, tự tánh Pháp môn nguyện tu học, tự tánh Phật đạo nguyện tựu thành.  Chơn ngôn Diệt định nghiệp Án, bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha.  Chơn ngôn Diệt nghiệp chướng Án, a lỗ lặc kế ta bà ha.  Chơn ngôn Khai yết hầu Án, bộ bộ đế rị, dà rị đa rị, đát đa nga đa da.  Chơn ngôn Tam muội da giới Án, tam muội da tát đỏa phạm.  Chơn ngôn Biến thực Nam mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra, hồng.  Chơn ngôn Cam lồ thủy Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát thiệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha.  Chơn ngôn Nhứt tự thủy luân Án, noan noan noan noan noan.  Chơn ngôn Nhũ hải Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẩm án noan.  Thất bảo Như Lai Nam Mô Đa Bảo Nhƣ Lai. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 111


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Nam Mô Bảo Thắng Nhƣ Lai. Nam Mô Diệu Sắc Thân Nhƣ Lai. Nam Mô Quảng Bác Thân Nhƣ Lai. Nam Mô Ly Bố Úy Nhƣ Lai. Nam Mô Cam Lồ Vƣơng Nhƣ Lai. Nam Mô A Di Đà Nhƣ Lai.  Thần chú gia trì (tịnh Pháp thực, Pháp thí thực, cam lồ thủy) Thần chú gia trì (tịnh Pháp thực, Pháp thí thực, cam lồ thủy), Thí cho hà sa chúng (Phật tử, hữu tình, cô hồn). Nguyện đều no đủ bỏ xan tham, Sớm thoát đƣờng mê về tịnh độ, Quy y Tam Bảo phát Bồ Đề, Rốt ráo chứng thành đạo vô thƣợng, Công đức vô biên tính không cùng, Tất cả (Phật tử, hữu tình, cô hồn) cùng chung hƣởng.  Này các vị (Phật tử, hữu tình, cô hồn) Này các vị (Phật tử, hữu tình, cô hồn), Tôi nay xin bố thí. Thức cúng biến khắp nơi, (Phật tử, hữu tình, cô hồn) cùng chung hƣởng. Nguyện đem công đức này, Hồi hƣớng cho tất cả, (Phật tử, hữu tình, cô hồn) cùng tự thân, Đều trọn thành Phật đạo.  Chơn ngôn Thí thực vô giá Án, mục lực lăng ta bà ha.  Chơn ngôn Phổ cúng dường Án, nga nga nẵng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (Phổ cúng dƣờng chơn ngôn xong, tụng Bát Nhã, ba biến chú Vãng sanh) Chơn ngôn Phổ diện hướng Án, ta mọ lai, ta mọ lai, di mo nẵng, tát kháp ra ma ha thính kháp ra hồng. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 112


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Nguyện ngày an lành Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời thƣờng an lành, tất cả các thời đều an lành, nguyện xin Thƣợng Sƣ thƣơng nhiếp thọ. Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời thƣờng an lành, tất cả các thời đều an lành, nguyện xin Tam Bảo thƣơng nhiếp thọ. Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời thƣờng an lành, tất cả các thời đều an lành, xin nguyện Hộ Pháp thƣờng ủng hộ. Bốn loài cùng lên đất Phật, ba cõi thác lên Liên trì, muôn ngàn Ngạ quỷ chứng Tam Hiền, vạn loại hữu tình lên Thập Địa. Nam mô Siêu Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (ba lần) Phục Dĩ Văn Thấy nghe nhƣ chớp mắt, ba cõi tựa hƣ không. Lắng lòng tâm thanh tịnh, giác ngộ bụi trần tiêu. Phục dĩ! Chơn tâm tĩnh lặng, thấy tánh tội thảy đều không. Biển khổ rộng sâu, sóng dục vỗ mãi chẳng ngừng. Do chúng sanh tạo nghiệp cảm, khiến muôn kiếp đọa trầm luân. Thọ khổ báo trong địa ngục, mãi vƣơng khổ sở; sanh sang làm loại quỷ đói, ruột mãi rỗng không. Đã không phút nào ra khỏi, mong gì sớm đƣợc siêu thăng. Nếu chẳng nhờ nguyện của Nhƣ Lai, đâu thể giải thoát khỏi ba đƣờng. Trì tụng mật ngôn, ban Pháp thực vị cam lồ; cầm đèn trí tuệ, soi đƣờng mê lìa tăm tối. Rộng độ chúng sanh, cùng lên cõi tịnh. Đạo tràng hôm nay, nguyện đem công đức bố thí, hồi hƣớng về núi Thiết Vi. Đại Sĩ Diện Nhiên, thống lãnh ba mƣơi sáu bộ, vô lƣợng vô biên, hằng hà sa số, các loài Ngạ quỷ. Lại nguyện: Từ vô thỉ kiếp, cho đến ngày nay, trừ nghiệp chƣớng cho tiêu tan, diệt tội khiên cho thanh tịnh. Vạc dầu sôi sục, biến thành hồ sen tám công đ ức; lò lửa ngùn ngụt, hóa ra bảo cái bằng châu báu. Rừng kiếm trở thành cây báu, núi đao hóa hiện hoa sen. Mỗi mỗi giƣờng sắt, biến thành tòa báu Bồ Đề; chảo đồng sôi sục, hiện đề hồ vị cam lồ. Những ngƣời oan trái gặp nơi đây, nhờ ơn giải thoát; bao kẻ thân thù nay gặp lại, thảy tận siêu thăng. Chúa ngục phán quan, hành trì thiện hạnh. Cha mẹ nhiều đời, do đây thoát khỏi trầm luân; nhiều kiếp bà con, thảy đều nhờ ơn giải thoát. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 113


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Cõi trời tƣớng suy chẳng hiện, trần gian bốn tƣớng bặt tăm. Tu La xả bỏ tâm sân, địa ngục dứt ngƣng khổ não. Hà sa Ngạ quỷ, thoát khổ não mà đƣợc thanh lƣơng. Vạn loại chúng sanh, lìa đƣờng mê mà lên bờ giác. Phổ nguyện: tất cả hữu tình ở cõi nƣớc này, cõi nƣớc kia, và vô lƣợng các cõi nƣớc, đều chứng chơn thƣờng. Các loại hàm thức ở thế giới này, thế giới kia, và vô lƣợng các thế giới, trọn thành Phật đạo. Báo đáp bốn ân, đền ơn ba cõi, Pháp giới chúng sanh, đồng viên chủng trí. Chƣ Phật chánh Pháp Bồ Tát Tăng, cầu chứng Bồ Đề con quy y. Con nay vì lợi ích hữu tình, tu các căn lành nguyện thành Phật. Thế xuất thế gian, (đồng hòa) Tùy nguyện sở thành. (ba lần) Kính nƣơng lời Du Già, soạn thiết mở Pháp diên. Rộng nguyện các hữu tình, đều trọn thành Phật đạo. Nay quyết ấn viên mãn phụng tống (Hai tay vận Kim Cang quyền, hai ngón út móc vào nhau. Tụng chơn ngôn) Ngạn, quan tƣ lai, mục kia sái mục. (ba lần) (Sƣ quyết ấn tụng chú, quán tƣởng hết thảy chƣ Phật, Bồ Tát cùng tất cả chúng sanh đều không hiển hiện, hai thiện căn viên mãn. Rồi niệm ba biến thần chú Kim Cang Tát Đỏa bách tự để bổ khuyết.) Thần chú bách tự Kim Cang tát đỏa Ngạn, quan tƣ lai, tát đỏa tô, tát mọ de, mo nại bo lặc de. Quan tƣ lai, tát đỏa tì, no bót tì xức thạp. Thạc lị sừ, min phín noa, tô độ thúc, min phín ngoa, a no lai tía đô, min phín noa, tô bộ tô, min phín noa, tát rị quan dục tì, mìn phút lai de che. Tát rị quan, cót rị mo, tô choang min xức thạp. Thích rị dàn, cót rô hồng. Ho, ho, ho, ho, hộc. Phín cót loan, tát rị quan đát tháp cót đạt. Quan tƣ lai mo min mân choang. Quan tƣ lai phín noa, mo ho tát mo de, tát đỏa ho. (dẫn) (Thần chú này bổ sung cho những thiếu sót, nhƣ Sám Chủ quyết ấn chẳng đúng theo thứ tự, quán tƣởng không chuyên chú, tất cả lỗi ấy, đều đƣợc thanh tịnh. Lại thầm niệm chữ “A” (丌) hai mƣơi mốt lần, thì trƣớc sau có thể quán tƣởng đƣợc những sự gia trì đều “bất khả đắc”. Nếu không làm nhƣ vậy, ắt sẽ đọa vào cõi hữu vi. Cho nên khoa nghi Diệm Khẩu đâu phải dễ hành trì đâu! Cử kệ, chúng đồng hòa)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 114


Chương II. Chánh Văn - Phiên Âm - Dịch Nghĩa

Kệ hồi hướng Công đức thí thực thật tuyệt vời, Xin đem hồi hƣớng khắp muôn nơi. Nguyện cho chúng sanh đang đọa lạc, Sớm sanh về nƣớc Phật Di Đà. Ba đời chƣ Phật khắp mƣời phƣơng, Văn Thù Phổ Hiền Quán Tự Tại, Chƣ tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma ha Bát Nhã ba mật. Đến đây soạn thiết trai diên hiến cúng Mông Sơn pháp thực cam lồ, công đức đã mãn, thấm nhuận muôn nơi. Hòa nam Thánh chúng. Thiên Cơ Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi đến đây là hết.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 115


CHƢƠNG III: CHÚ GIẢI “Trầm nhũ chiên đàn … đạt Thế Tôn.” Chiên đàn (栴檀): “một thứ gỗ thơm, tức là cây đàn hƣơng (Candana)”1 Bài này và bài “Giới định chơn hƣơng” ở dƣới, đều có ý nghĩa dâng hƣơng rƣớc Phật. Đại ý của nó là trai chủ đốt trầm hƣơng, khói trầm quyền quyện nghi ngút nhƣ mây báu, kết thành tàng lọng cung thỉnh chƣ Phật Bồ Tát giáng lâm chứng minh gia hộ đàn tràng đƣợc thành tựu. “Giới định chơn hương, … Miễn nạn tiêu tai chướng.” Giới định chơn hƣơng (戒定真香): Giới định chơn hƣơng, nói đủ là Giới, Định, Tuệ; là tam học. Hƣơng Giới, Định, Tuệ là loại hƣơng tối thắng để cúng dƣờng chƣ Phật. Da-du (耶輸): tức là Da-du-đà-la, vợ của thái tử Tất-đạt-đa, có con tên là Lahầu-la. Sau khi thái tử xuất gia thành Phật, bà đã xuất gia, chứng quả A-la-hán. Bài này, ý dùng hƣơng của Giới, Định, Huệ, hòa cùng với hƣơng trầm từ kim lƣ, thoáng chốc tỏa khắp cả mƣời phƣơng, pháp giới chúng sanh nhơn đó mà đƣợc thoát mọi nạn khổ. “Thăng trầm tam giới … khởi giác hoàng.” Tam giới (三界): là dục giới sắc giới vô sắc giới. “Dục giới là nơi của loài hữu tình có hai dục: dâm dục và thực dục. Trên từ lục thiên, giữa từ bốn đại châu của nhân giới, dƣới tới địa ngục, đó gọi là dục giới. Sắc giới: sắc nghĩa là chất ngại, là vật chất hữu hình. Sắc giới này ở bên trên dục giới, lìa chốn ở của loại hữu tình có hai dục dâm thực. Có nghĩa là thân thể, cung điện, các vật bằng vật chất đều đặc biệt đẹp đẽ tinh túy, cho nên gọi là sắc giới. Sắc giới này do mức độ thiền định nông sâu thô diệu mà chia thành bốn cấp, gọi là Tứ thiền thiên. Vô sắc giới: giới này không có một chút sắc nào, không có một vật bằng vật chất nào, không có thân thể, cũng không có cung điện, đất nƣớc, chỉ dùng tam thức mà trụ ở thiền định thâm diệu, cho nên gọi là vô sắc giới.” 2 1 2

Thiều Chửu, 2011, Hán Việt Tự Điển, Nxb Thanh Niên, tr. 350 Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1994, Từ Điển Phật Học Hán Việt II, tr. 1301


Chương III. Chú Giải

Lục đạo (六道): bao gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, trời, ngƣời, a tu la. Thƣợng phẩm (上品): nói đủ là Thƣợng phẩm liên đài. Trong ba hạng đƣợc sinh lên cõi Cực Lạc, hạng thƣợng căn thì đƣợc hóa sinh nơi hoa sen thất bảo trong hồ thất bảo. Đó gọi là thƣợng phẩm liên đài. Ở đây ý nói là đạo quả giác ngộ. Biên hƣơng (邊鄉): làng nơi biên ải, ý nói xa rời cõi Phật mà đọa lạc chốn mê đồ. Chỉ cho lục đạo chúng sanh. Minh đồ (冥途): đƣờng mê, chỉ cho sáu nẻo luân hồi. Chúng sanh bản tánh quang minh giác ngộ đồng nhƣ chƣ Phật, nhƣng vì do vô minh che lấp mà phải luân hồi lục đạo. Tựa nhƣ đi trong con đƣờng tối tăm không có ánh sáng mặt trời. Nghiệp hải (業海): biển nghiệp. Trải quả ba thời, chúng sanh tạo nghiệp nhiều vô lƣợng, rồi ngụp lặn luân hồi trong đó không thể thoát ra, do đó mà đƣợc ví nhƣ biển, rộng lớn vô cùng. Giác hoàng (覺皇): chỉ đức Phật. Chúng sanh bị luân hồi mãi trong lục đạo, tam giới, chịu khổ không cùng. Đáng lý tu hành để giải thoát giác ngộ, nhƣng chỉ vì một chút vọng niệm chạy theo trần cảnh, tạo nghiệp rồi mãi đọa lạc nơi ác đạo, đƣờng mê. Nay trai chủ muốn lập đàn thí thực cam lồ vô giá, trƣớc kính khởi bạch lên đức Thế Tôn. “Cái văn! Hồng luân tây trụy…siêu cô độ u chi tế.” Đoạn này miêu tả khung cảnh chiều tối thời xƣa. Lúc mặt trời vừa lặn, trời đầy sao, nơi nơi đều tỏ ánh đèn, chim thú đều về hang ổ, nhà nhà đóng cửa. Đó là lúc mà các loài ma quỷ hiện hình, cũng là lúc tế độ cho những loài ấy. Vấn đề thời gian tổ chức cúng tế, thì xƣa Đức Thế Tôn đã vì Huệ Pháp Bồ Tát mà nói giờ thọ thực có bốn: chƣ thiên buổi sáng, Phật ban trƣa, súc sanh buổi chiều, quỷ thần buổi tối. 3 Trong các khoa nghi cũng nói: “Phàm những ai phát tâm bố thí rộng rãi, hãy kiền khẩn chí thành, bày soạn đàn tràng trang nghiêm tinh khiết, tùy sức mà chuẩn bị các thứ hƣơng hoa ẩm thực.v.v… Đúng vào hai giờ Tuất và Hợi 4 mà cúng tế.

3 4

Tỉnh Thế Lục, 醒世錄, Gia Hƣng Tạng, J23, No. B122, tr. 0137b04. Tuất: 19-21h , Hợi: 21-23h

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 117


Chương III. Chú Giải

Loài Ngạ quỷ thì đƣợc ăn uống no đủ, trai chủ thì đƣợc phƣớc lợi. Nếu nhƣ không đúng giờ trên, thì uổng phí tinh thần, liệu sự vô ích.”

5

Thế nên biết, lập đàn cúng thí nên lập vào lúc chiều tối. “Kim thần … tán dương Tam Bảo.” Nghê đài (猊臺 ): Đài Sƣ tử. Nghê (Sƣ tử) là vua của các loài thú, rất dõng mãnh. Đức Phật là đấng pháp vƣơng, uy chấn ma quân, hàng phục chƣ phiền não, nên tôn kính gọi chỗ Phật tọa là Sƣ tử tòa. Nay chƣ Tăng đăng đàn thuyết pháp, là thay lời Phật phổ hóa quần mê, nên pháp tòa của Pháp sƣ gọi là Nghê tòa, nơi chƣ Tăng thuyết pháp gọi là Nghê đài, đều là do ý tôn xƣng. Mông Sơn (蒙山): Thời nhà Lƣơng, việc thí thực đã đƣợc bắt đầu với “Trai đàn Thủy Lục” của vua Lƣơng Võ Đế. Đến thời nhà Đƣờng, Ngài Huyền Tráng trở về sau chuyến Tây du, lập đàn siêu độ cho tứ sanh, lục đạo với Pháp sự “Thí Vô Già Hội”. Qua đời Tống, Ngài Bất Khinh tam tạng chuyên tu Mật giáo ở Mông Sơn, quán biết các cô hồn đang vất vƣởng đói khát, nên Ngài vận dụng pháp lực để tế độ. Từ “Mông Sơn Thí Thực” đƣợc bắt đầu dùng từ đó. Đoạn này nêu lên nhơn duyên của pháp hội này, cũng nêu lên tên họ nơi chốn của trai chủ. Dựng đài Sƣ tử, nƣơng nhờ chƣ Tăng mở hội Mông Sơn thí thực. Chƣ Tăng đối trƣớc Tam Bảo, cung kính tán dƣơng. “Khể thủ quy y Đại giác tôn, … Bất đọa trầm luân.” Đại giác tôn (大覺尊), vô thƣợng năng nhân (無上能仁): đều là danh từ cung xƣng đức Phật. Đâu Suất thiên (兜率天): “Trời Đâu Suất (Skt. Tusita, Hán. Đâu Suất thiên, Hỷ Lạc thiên), là tầng trời thứ tƣ trong sáu tầng trời ở cõi Dục, ở giữa trời Dạ-ma (tầng trời thứ ba) và trời Hóa Lạc (tầng trời thứ năm). Chƣ thiên ở cõi trời này luôn sống trong hỷ lạc, vật chất sung mãn, tinh tấn tu tập bát chánh đạo nên gọi là Hỷ Lạc thiên. Các Bồ Tát giáo hóa ở cõi này thƣờng tu tập hỷ (một trong bốn tâm vô lƣợng) nên còn gọi là Hỷ Túc thiên.” 6

5

Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ, 瑜伽燄口註集纂要儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1084 q1, tr. 0326a06. 6 Thích Minh Cảnh Chủ Biên, 2003, Từ Điển Phật Học Huệ Quang, Nxb Tổng Hợp TPHCM, tập 2, tr. 1474

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 118


Chương III. Chú Giải

Nguyên bài này diễn tả đức Phật quán sát thấy chúng sanh đang đau khổ mà xuất hiện ở đời. Từ cung trời Đâu Suất giáng sanh xuống hoàng cung, sáu năm tu hành khổ hạnh, sau rốt mới chứng quả Bồ Đề. Công đức của Ngài khiến cho những ai phát tâm quy y đều đƣợc thoát khỏi ác đạo. “Khể thủ quy y, … Bố mãn kim chuyên.” Cấp cô trƣởng giả (給孤長者): trƣởng giả Cấp-cô-độc (Skt. Anathapindika), một đệ tử tại gia của đức Phật. Tên của ông là Tu-đạt-đa, do thƣờng xuyên cung cấp thức ăn cho những ngƣời nghèo và vô gia cƣ nên đƣợc gọi Cấp-cô-độc. Ông cúng dƣờng một khu vƣờn mua của thái tử Kỳ-đà (Jeta) cho giáo đoàn c ủa đức Phật, với giá bằng số vàng lát kín khu vƣờn đó. “Cấp Cô trƣởng giả xá Kỳ Viên, bố mãn kim chuyên” chính là nêu lên sự tích này. “Thiện Tài đồng tử, … Chứng Minh Sư Bồ Tát.” Thiện Tài đồng tử (善才童子): Tiếng Phạn Sudhanakumara, tên một vị đệ tử của đức Phật. Kinh Hoa Nghiêm, phẩm nhập pháp giới, ghi nhận Thiện Tài trải qua năm mƣơi ba chặng đƣờng cầu đạo, gặp năm mƣơi ba vị thiện tri thức, trong đó có bốn Bồ Tát quan trọng đã hỗ trợ cho Thiện Tài trên bƣớc đƣờng học đạo, đó là Văn Thù Sƣ Lợi, Quan Thế Âm, Di Lặc và Phổ Hiền. “Ái hà thiên xích lãng, … Tảo cấp niệm Di Đà.” Bài này, Hò a Thƣợng Nhất Hạnh dịch: “Sông ái dài muôn dặm, biển mê sóng vạn tầm. Cõi luân hồi muốn thoát, niệm Bụt hãy nhất tâm.” 7 Ý khuyên chúng sanh hãy mau niệm danh hiệu của Đức A Di Đà, cầu ngài tế độ cho khỏi sanh tử luân hồi. “Xuất ngoại, tiến vong, tùy sư thông. Thứ chí đại sĩ tiền thượng hương, cử tán.” Vấn đề tiến chƣ hƣơng linh, ngày nay lúc đăng đàn chẩn tế không thấy có lễ tiến chính thức, chỉ thấy sắp sửa trai phạn mà thôi. Sau mục thỉnh Địa Tạng Vƣơng, thấy có ba câu thỉnh vong. Nhƣ thế thì có lẽ tiến linh cùng lúc với thập nhị loại, chứ không có lễ tiến trƣớc riêng biệt.

7

HT Thích Nhất Hạnh, 2004, Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000, Nxb Tôn Giáo, tr. 97

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 119


Chương III. Chú Giải

“Diện Nhiên đại sĩ, … Cam Lồ Vương Bồ tát” Diện Nhiên Đại Sĩ (面然大士): Bồ Tát Quan Âm vì lòng bi mẫn cô hồn nên hiện ra thân quỷ Diện Nhiên. Đầu to nhƣ ba đỉnh núi, đi trên xe phun lửa, sấm động vang rền, lƣỡi dài nhƣ lá phƣớn, lửa đỏ cháy rực, bụng to nhƣ biển, da màu lam sậm, trông thật kinh sợ để dẫn dắt cô hồn. Ngài cũng chính là vị quỷ vƣơng Diệm Khẩu đã hiện ra trƣớc Ngài A Nan để làm duyên khởi cho pháp thí thực. Có bài tán rằng: 面如藍靛。髮似丹砂。 形山腹海。項如針。 行動破車。聲似吼。 南無沃焦山下面然大士燄口鬼王菩薩。 Diện nhƣ lam đình, phát tự châu sa. Hình sơn phúc hải, hạng nhƣ châm. Hành động phá xa, thanh tự hống Nam mô Ốc Tiêu Sơn Hạ Diện Nhiên Đại Sĩ Diệm Khẩu Quỷ Vƣơng Bồ Tát. Thiết Vi (鐵圍): địa ngục Thiết vi. Đoạn này, kể từ “Ái hà thiên xích lãng”, khoa nghi so với sự hành trì hiện nay có khác biệt. Cụ thể, sau bài “Thiện tài đồng tử”, Sám chủ vịnh bài: 觀音菩薩妙難殊。清浄莊嚴累刧修。 千處有求千處應。苦海常作度人舟。 “Quan Âm Bồ Tát diệu nan thù, Thanh tịnh trang nghiêm lũy kiếp tu. Thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng, Khổ hải thƣờng tác độ nhơn chu.” Kế Kinh sƣ tán “Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”, dẫn ra ngoại đàn, đến trƣớc án Tiêu Diện Đại Sĩ, chuyển tán: 普陀洛伽常入定,隨緣赴感靡不周。 尋聲救苦度群迷,是故名為觀自在。

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 120


Chương III. Chú Giải

南無面然王菩薩。 “Phổ Đà lạc già thƣờng nhập định, Tùy duyên phó cảm mỵ bất châu. Tâm thanh cứu khổ độ quần mê, Thị tắc danh vi Quán Tự Tại. Nam mô Diện Nhiên Vƣơng Bồ Tát” Kế đối trƣớc án Địa Tạng, chuyển tán: 地藏十王起哀憐。揭桉標名納善緣。 孤魂须仗如来教。願憑法力判生天。 南無地藏王菩薩。 “Địa Tạng thập vƣơng khởi ai lân, Yết án tiêu danh nạp thiện duyên. Cô hồn tu trƣợng Nhƣ Lai giáo, Nguyện bằng Pháp lực phán sanh thiên. Nam mô Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát” Chuyển sang ngũ phƣơng, tán các bài tƣơng ứng. Đông phƣơng: 禮請東方阿閦佛。青色青光現華光。 手印執持金剛杵。惟願慈悲垂加護。 南無東方世界阿閦佛。 “Lễ thỉnh Đông phƣơng A Sơ Phật, Thanh sắc thanh quang hiện hoa quang. Thủ ấn chấp trì Kim cang xử, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam mô Đông phƣơng thế giới A Sơ Phật.” Nam phƣơng: 禮請南方寶相佛。赤色赤光現華光。 手印執持摩尼寶。惟願慈悲垂加護。 南無南方世界寶相佛。 “Lễ thỉnh Nam phƣơng Bảo Sanh Phật, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 121


Chương III. Chú Giải

Xích sắc xích quang hiện hoa quang. Thủ ấn chấp trì Ma ni bảo, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam mô Nam phƣơng thế giới Bảo Sanh Phật.” Tây phƣơng: 禮請西方彌陀佛。白色白光現華光。 手印執持妙蓮花。惟願慈悲垂加護。 南無西方世界彌陀佛。 “Lễ thỉnh Tây phƣơng Di Đà Phật, Bạch sắc bạch quang hiện hoa quang. Thủ ấn chấp trì Diệu liên hoa, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam mô Tây phƣơng thế giới Di Đà Phật.” Bắc phƣơng: 禮請北方成就佛。黑色黑光現華光。 手印執持輪相交。惟願慈悲垂加護。 南無北方世界成就佛。 “Lễ thỉnh Bắc phƣơng Thành Tựu Phật, Hắc sắc hắc quang hiện hoa quang. Thủ ấn chấp trì Luân tƣơng giao, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam mô Bắc phƣơng thế giới Thành Tựu Phật.” Trung ƣơng: 禮請中央毗盧佛。黄色黄光現華光。 手印執持千輻輪。惟願慈悲垂加護。 南無中央世界毗盧佛。 “Lễ thỉnh Trung ƣơng Tỳ Lô Phật, Hoàng sắc hoàng quang hiện hoa quang. Thủ ấn chấp trì Thiên phúc luân, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 122


Chương III. Chú Giải

Nam mô Trung ƣơng thế giới Tỳ Lô Phật.” Nếu không thiết ngũ phƣơng riêng biệt mà thiết chung một án, thì thay vì tán năm bài trên, chỉ tán chung bài: 五方五佛大威神。結界降魔遍刹塵。 今宵毗盧冠上現。一瞻一禮總歸真。 南無東方世界阿閦佛。 南無南方世界寶相佛。 南無西方世界彌陀佛。 南無北方世界成就佛。 南無中央世界毗盧佛。 “Ngũ phƣơng ngũ Phật đại oai thần, Kiết giới hàng ma biến sát trần. Kim tiêu Tỳ Lô quan thƣợng hiện, Nhất chiêm nhất lễ tổng quy chơn. Nam mô Đông phƣơng thế giới A Sơ Phật. Nam mô Nam phƣơng thế giới Bảo Sanh Phật. Nam mô Tây phƣơng thế giới Di Đà Phật. Nam mô Bắc phƣơng thế giới Thành Tựu Phật. Nam mô Trung ƣơng thế giới Tỳ Lô Phật.” Để tránh sự gián đoạn, trong khi di chuyển từ phƣơng vị này sang phƣơng vị khác, đồng tán: “Nam mô Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát”. Di chuyển đến án Giác Hoa, cử tán: 天上天下無如佛。十方世界亦無比。 世間所有我盡見。一切無有如佛者。 南無本師釋迦牟尼佛。 南無大悲觀世音菩薩。 南無啟教阿難陀尊者。 “Thiên thƣợng thiên hạ vô nhƣ Phật, Thập phƣơng thế giới diệc vô tỷ. Thế gian sở hữu ngã tận kiến, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 123


Chương III. Chú Giải

Nhất thiết vô hữu nhƣ Phật giả. Nam mô Bổn Sƣ Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Nam mô khải giáo A Nan Đà Tôn giả” “Sƣ hƣớng Kim đài cử tán dƣơng chi, chúng đồng hòa.” Sám chủ cùng Kinh sƣ tựu trƣớc Kim đài, cử tán “Dƣơng chi”, chúng cùng hòa. Câu chú thích này, nếu theo cách gia trì hiện hành, thì đáng ra đ ứng trƣớc câu “Thiên thƣợng thiên hạ vô nhƣ Phật”. “Dương chi tịnh thủy, … Thanh Lương Địa Bồ Tát.” Dƣơng chi (楊枝): cành liễu, “tiếng Phạn là Đan-đa-gia-sắt-xá, dịch là xỉ mộc, có nghĩa là cái tăm. Ở Ấn độ, khi mời ngƣời thế tục, trƣớc hết tặng tăm xỉa răng và nƣớc thơm, rồi chúc ngƣời ấy khỏe mạnh để biểu thị lòng thành kính, tôn trọng.” 8 Trong Phật giáo, hình ảnh Bồ Tát Quan Âm tay cầm bình cam lồ, tay cầm nhành dƣơng chi thƣờng đƣợc bắt gặp. Hình ảnh đó có ý nghĩa đức Bồ Tát rảy nƣớc tám công đức xua tan nhiệt não của chúng sanh. Bát đức (八德): tám công đức. “Nƣớc An Dƣỡng có hồ thất bảo. Ở trong hồ ấy có nƣớc, gọi là nƣớc tám công đức. Thứ nhất là thanh khiết, trong sạch không có nhơ nhớp. Thứ hai là trong mát, mát mẻ không hề nóng bức. Thứ ba là ngon ngọt, mùi vị thật là tuyệt vời. Thứ tƣ là uyển chuyển nhẹ nhàng, lƣu chuyển lên xuống nhu nhuyến. Thứ năm là thấm nhuần, linh hoạt thấm khắp không bị khô ráp. Thứ sáu là an hòa, yên tĩnh và phẳng lặng. Thứ bảy là có thể trừ sự đói khát, nƣớc này có thể giải trừ cơn khát. Thứ tám là nuôi dƣỡng các căn, có thể nuôi dƣỡng thân tâm trong ngoài.” 9 Hỏa diệm hóa hồng liên (火燄化紅蓮): lửa đỏ hóa sen hồng. Ví cảnh lửa đỏ ngùn ngụt ở địa ngục thoáng chốc hóa thành đài sen nhờ nƣớc tám công đức. Lửa đỏ cũng đƣợc xem nhƣ là đại diện cho những cảnh khổ ở địa ngục. “Bảo tọa cao cao vô ngại, … tận siêu thăng.” -“Bảo tọa cao cao … đại vị cô hồn thuyết giới.”

8

Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, Từ Điển Phật Học Hán Việt I, tr. 368 Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0275b22. 9

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 124


Chương III. Chú Giải

Bảo cái (寶蓋): lọng báu. Ý nói bảo tọa đã đƣợc dựng lên, trên có chƣ thiên r ủ màn báu che phủ, thành kính cung thỉnh Pháp sƣ thăng tòa thuyết pháp cho cho vạn loại cô hồn. - “Viên minh nhất điểm … tức ngô đăng.” Viên minh nhất điểm bổn phi không (圓明一點本非空): một điểm sáng tròn đầy vốn chẳng phải là không, tuy nhỏ nhƣng bao hàm cả vũ trụ. Là lý sự vô ngại pháp giới. Tam thế chƣ Phật (三世諸佛): chƣ Phật trong ba thời quá khứ, hiện tại vị lai. Na nhất bộ (那一步): Chữ “na” có nghĩa là ấy, thế, nhƣ thế, đó. “Na nhất bộ” mang ý nghĩa chƣ Phật trong ba đời cùng bƣớc chung trên một con đƣờng, con đƣờng liễu chứng vô vi, đạt ngộ giải thoát. Câu “quyền lƣu bảo tọa tức ngô đăng” nghĩa là Pháp sƣ nay cũng xin theo con đƣờng ấy. - “Đả cổ tam thông … tận siêu thăng.” Đả cổ tam thông (打皷三通): nổi ba hồi chuông trống Bát Nhã, tƣợng nhƣ nổi tiếng trống trí huệ, cứu vớt các loài cô hồn siêu thoát. Nhịp vận của trống Bát Nhã đƣợc ghi trong kinh điển nhƣ sau: “Bát Nhã hội Bát Nhã hội - Bát Nhã hội - Thỉnh Phật thƣợng đƣờng - Đại chúng đồng văn - Bát Nhã âm - Phổ nguyện pháp giới - Đẳng hữu tình - Nhập Bát Nhã - Ba-la-mật môn Ba-la-mật môn - Ba-la-mật môn.” Chữ “甶” (phất), trong các bản của Hán tạng đều ghi là “佛” (Phật). “Hội khởi mông sơn … vạn cổ truyền.” Nhơn duyên khởi lên pháp hội Mông Sơn này thật là tối thắng. Việc này đã nêu ở phần duyên khởi, Ngài A Nan đƣơng khi nhập định, thấy quỷ Diệm Khẩu hiện lên nói Ngài sẽ thọ báo địa ngục. Ngài hoảng hốt, bạch lên đức Phật, đức Phật mới chỉ bày phƣơng pháp bố thí cho Ngạ quỷ. Nhơn đó Ngài Quan Âm lại hiển thị thân hình quỷ vƣơng đầu mặt hung tợn, thống lãnh và phân bố ẩm thực cho Ngạ quỷ, hiệu là Tiêu Diện. “Lô hương sạ nhiệt, … Hương Vân Cái Bồ Tát.” Hƣơng trong lƣ vừa đốt lên đã xông khắp cả muôn ngàn thế giới, xa đến tận Mông Sơn. Trai chủ hết lòng cầu thỉnh, chƣ Phật hiển thị thân hình.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 125


Chương III. Chú Giải

“Thử nhất biện hương, … đồng quy chơn tể.” - “Thử nhất biện hƣơng” Nghĩa đen là chỉ cho những nén hƣơng mà hành giả đang cử lên, nghĩa bóng là chỉ cho tâm hƣơng của chính hành giả. Thể tánh của tâm hƣơng, sung mãn khắp pháp giới, bao hàm vạn hữu. Trong sạch sâu rộng nhƣ biển, hƣơng thơm ngát tỏa cả đất trời. Tỏa ra thì biến khắp cả pháp giới, quyện lại thì thâu nhiếp trong hạt vi tần. Hoặc trong một hạt bụi mà có thể hiện toàn thân, ngũ nhãn cũng chẳng thể thấy hình bóng; hoặc nơi pháp giới mà hiện uy quang, biện tài cũng chẳng thể diễn tả đƣợc tƣớng trạng. Nghe mà “xuyến quá độc lâu” (đoạn tuyệt hết mọi hình thức). Chạm vào thì xông lên đến đỉnh đầu, mở khai pháp nhãn. Hƣơng là pháp thể không hề mang khí chất cấu uế tạp nhiễm, là hƣơng thơm công đức thuần nhất vô lậu, có thể tuôn chảy nhƣ cam lồ vô tận, thấm khắp chúng sanh. Nghe mùi hƣơng đó thì đƣợc pháp nhẫn, lại đƣợc năm phần pháp thân. - “Bất tùng thiên giáng, phi thuộc địa sanh.” Không từ trên trời rơi xuống, cũng chẳng phải từ dƣới đất mà nảy lên. Vạn vật trên thế gian đều từ tứ đại hòa hợp mà thành, chƣa từng có vật gì không phải từ đất sanh, mƣa thấm, hƣởng ánh mặt trời mà nẩy mọc đâm chồi lớn lên cả. Duy chỉ có Tâm hƣơng không theo nhƣ thế. - “Lƣỡng nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc tam giới.” Thể tánh của tâm hƣơng bao quát khắp cả không gian và thời gian, vô cùng vô tận, vô thủy vô chung. Từ lúc vũ trụ còn thuở hồng hoang, chƣa phân trời đất, thì cái thể của tâm hƣơng đã có sẵn. - “Nhất khí tài phân chi hậu, chi diệp biến mãn thập phƣơng.” Nói theo Lão giáo Trung Hoa, thì từ lúc trời đất chƣa phân chia, thì vũ trụ là một khối hỗn độn. Đó chính là thái cực, cũng gọi là đạo sanh nhất. Từ thái cực phân thành lƣỡng nghi, tức là nhất khí chia thành âm và dƣơng, trong xanh nhẹ nhàng là trời, nặng nề hỗn độn là đất. Đó gọi là nhất sanh nhị. Từ âm dƣơng hóa sinh ra con ngƣời và vạn vật, tức là nhị sanh tứ, tứ sanh vạn vật. Do đây mà biết các đạo giáo Trung Hoa lấy nhất khí làm căn bản, còn con ngƣời và vạn vật thuộc về chi mạt.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 126


Chương III. Chú Giải

Duy thức nói tâm vƣơng có tám. Tâm vƣơng và tâm sở của thức thứ tám chƣa phân định, tâm và cảnh sở y chƣa rõ ràng, cho nên gọi là nhất khí, nƣơng nơi Nhƣ Lai tàng mà có tâm sanh diệt, không sanh diệt và sanh diệt hòa hợp, không phải một mà cũng không phải khác nhau, từ đó mà thành A-lại-da thức. Cho nên biết nhất khí chính là cái thể của A-lại-da, từ chỗ chƣa rõ bổn không chuyển thành năng kiến năng hiện, từ đó mà phân chia căn, thân, khí giới, tƣớng trạng của vạn pháp. Lăng Nghiêm nói: Trong từ căn thân, ngoài đến hƣ không đại địa sơn hà, hàm ý nói rõ vạn vật trong chân tâm. Nhƣ vậy, trong giáo pháp c ủa Phật, nhất tâm chính là căn nguyên, vạn vật là chi mạt. Đây chính là ý nghĩa của “nhất khí” trong câu văn. - “Siêu nhật nguyệt chi quang hoa, hàm sơn xuyên chi tú lệ.” Sáng hơn cả ánh sáng của mặt trời mặt trăng, bao trùm cả vẻ đẹp của non nƣớc. Mặt trời mặt trăng tuy sáng, cũng chỉ chiếu sáng cho bốn châu thiên hạ. Hào quang của tâm trí, trên chiếu đến trời Hữu Đảnh, dƣới thấu đến địa ngục Vô Gián, thông suốt vô ngại, phủ khắp cả mƣời phƣơng. Tổ sƣ nói: Linh quang sáng chói, thoát khỏi mọi căn trần, chẳng đồng nhất với hƣ không, tánh tự nhận rõ, nên gọi là vƣợt hơn cả ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Núi sông tuy là tinh anh của tạo hóa, nhƣng nó vẫn có giới hạn nhất định. Tâm hƣơng của chúng ta có thể chuyển biến tự tại, rộng rãi thƣ thái vô ngại, hoặc ở trên đầu sợi lông mà hiện muôn nghìn cõi Phật, hoặc ở cõi Ta Bà mà bày hoa tạng trang nghiêm, vạn tƣợng sâm la thảy đều đƣợc hàm chứa cả trong tâm. Lại nữa, tất cả non sông, tuy là đẹp nhƣng mà quán sát kỹ thì đều biến hoại không ngừng, còn tâm hƣơng thì không thƣờng không đoạn, cho nên nói bao hàm cả vẻ đẹp của non sông. - “Tức giới, tức định, tức tuệ; phi mộc, phi hỏa, phi yên.” Hƣơng ấy chính là bản thể của giới định tuệ, do sự huân tu giới định tuệ mà thành. Hƣơng này nếu sanh từ cây cỏ ắt phải đƣợc đốt mới tỏa hƣơng, khói bay mịt mù. Vậy mà chẳng thấy khói đâu, do đây biết không sanh cùng với cỏ cây và khói hƣơng. Nếu sanh từ lửa, thì bản thể lửa đã là hƣơng, còn đốt trầm hƣơng lên nữa làm gì, vì tất cả lửa đều là hƣơng hết rồi. Do đây biết chẳng phải sanh từ lửa.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 127


Chương III. Chú Giải

Đã không sanh từ cây cỏ, từ lửa, từ khói, không lẽ lại sanh từ hƣ không? Nếu sanh từ hƣ không, thì hƣ không luôn có mặt khắp nơi, ắt hƣơng cũng phải thƣờng đƣợc ngửi thấy. Hƣ không đã không có hƣơng thì chắc chắn biết rằng chẳng phải sanh từ hƣ không. Cả bốn đều không phải là cái nhân sanh khởi của hƣơng thì chắc chắn là từ sự huân tu giới định tuệ, nhận rõ bản thể của tánh không. Tánh không chính là thật tánh của các pháp, mà thật tánh thì vốn vô sanh. Cái hƣơng vô sanh mới chính là hƣơng thơm của pháp thân công đức. - “Thâu lai tại nhất vi trần, tán khứ phổ châu sa giới.” Thâu vào thì chỉ nhỏ nhƣ hạt bụi, tỏa ra thì bao trùm khắp thế giới. Ngài Đức Sơn nói: “Trăm vạn pháp môn, có vô lƣợng diệu nghĩa. Ta xem trên đầu sợi lông mà rõ đƣợc nguồn căn.” Đây là nói về nghĩa lý “nhất thiết tức nhất, nhất tức nhất thiết” trong Hoa Nghiêm. - “Ngã kim nhiệt hƣớng kim lô, … Đồng quy chơn tể.” Tâm hƣơng này nƣơng vào khói trầm hƣơng nghi ngút từ kim lƣ, trở thành pháp cúng dƣờng viên dung tối thƣợng. Thƣờng trú Tam Bảo tức là mƣời phƣơng chƣ Phật, Pháp, và Tăng trong cả ba thời, lại cũng là thể tánh nhƣ nhƣ thành tịnh của chính hành giả. Thể tánh ấy mãi thƣờng còn, xƣa vốn không sanh, nay cũng chẳng diệt nên gọi là thƣờng trú. Đoan thân c úng dƣờng tức là nhân tâm và quả giác âm thầm khế hợp. Đó gọi là pháp thân chƣ Phật thể nhập với thể tánh của chúng ta, thể tánh của chúng ta cùng hòa hợp với Nhƣ Lai. Sát tức là cực kỳ rộng lớn, hải là cực kỳ thâm sâu. Sát hải đã không thể lƣờng, thì vạn linh đổng triệt, tất cả đều do nơi tâm hƣơng mà cùng về cõi giác. “Cát tường hội khởi, … Vân Lai Tập Bồ Tát.” Cát Tƣờng hội (吉祥會): khi đức Phật sắp thành đạo, có một đồng tử tên là Cát Tƣờng hiến cho Ngài một bó cỏ. Đức Phật lấy cỏ ấy làm tòa, thiền định mà thành Phật. Theo ý nghĩa đó, pháp hội này bao gồm cả sự cúng dƣờng chƣ Phật nên gọi là hội cát tƣờng. Cũng có ý nghĩa nữa là pháp hội khiến cho tín chủ cùng chúng sanh đƣợc cát tƣờng nên gọi là hội Cát Tƣờng. Cam lồ môn (甘露門): chúng sanh đến dự pháp hội đƣợc nghe pháp âm cam lồ và những đồ ẩm thực đƣợc chú nguyện thành cam lồ. Do đó gọi là cửa Cam lồ. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 128


Chương III. Chú Giải

“Phật diện do như … Đăng Bảo Tọa Bồ Tát.” Khuôn mặt đức Phật tròn đầy, thanh khiết, tựa nhƣ trăng tròn sáng đẹp, không bị khuyết một chỗ nào. Từ gƣơng mặt ấy tỏa ánh từ quang, sáng hơn cả ánh sáng của muôn nghìn mặt trời cùng lúc chiếu sáng. Hào quang ấy chiếu khắp cả mƣời phƣơng, không thiếu sót chỗ nào nên gọi là “viên quang phổ chiếu”. Hào quang từ gƣơng mặt tỏa ra đã nhƣ vậy, thì chắc hào quang từ kim thân lại còn không thể nghĩ bàn hơn nữa. Do đây biết đƣơng thể kim thân Nhƣ Lai là pháp thân đại quang minh tàng, sáng chói rực rỡ. Từ bi hỷ xả là tứ vô lƣợng tâm của Phật, là công đức lợi tha. Kinh Tịnh Danh, Ngài Văn Thù hỏi rằng: Từ là gì? Ngài Tịnh Danh đáp: Là vì chúng sanh mà dạy pháp tịch diệt. Gì là bi? Là vì chúng sanh làm việc công đức. Gì là Hỷ? Là hoan hỷ làm việc lợi ích cho hữu tình mà không mệt mỏi. Xả là gì? Là làm việc phƣớc đức không cầu báo đáp. Theo ý của bài kệ, đức Phật chẳng những đầy đủ lục độ, thất giác chi, bát chánh đạo,… Mà còn đầy đủ cả công đức lợi tha từ bi hỉ xả. Ba câu đầu là tán thán tƣớng tốt của Phật, câu cuối tán thán công đức của Phật. Nhƣng mà công đức và hảo tƣớng của Phật vô lƣợng vô biên, cho dù chúng ta dùng âm thanh tán thán đến cùng kiếp, thì cũng chỉ tán thán đƣợc một trong vạn phần mà thôi. Công đức và hảo tƣớng của đức Thích Ca nhƣ thế, thì công đức và hảo tƣớng của mƣời phƣơng Tam Bảo trong quá khứ, hiện tại, vị lai cũng đều nhƣ vậy. Cho nên dốc lòng chí tâm quy mạng. Sau bài này thì Sám chủ cùng Kinh sƣ đều ngồi. “Hải chấn triều âm … Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.” - “Hải chấn triều âm thuyết phổ môn.” Theo Trung Hoa, núi Phổ Đà là sở địa của Ngài Quan Âm. Núi đó nằm giữa Nam Hải. Kệ nói hải chấn triều âm là chỉ tiếng sóng biển rì rào tựa nhƣ Bồ Tát đang rộng thuyết pháp độ chúng sanh. - “Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn.” Trong đài sen chín phẩm hiện ra một đứa bé. Đứa bé ấy, có nhiều ý kiến cho rằng chính là Thiện Tài đồng tử. - “Dƣơng chi nhất đích chơn cam lồ, tán tác sơ hà đại địa xuân.” Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 129


Chương III. Chú Giải

Bồ Tát tay cầm bình cam lồ, tay cầm nhành dƣơng, chỉ cần một giọt nƣớc cam lồ mà rƣới khắp cả đại địa sơn hà. Ý nghĩa ở đây là chỉ mình Ngài mà có thể hóa độ, cứu vớt chúng sanh nhiều vô số lƣợng. “Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.” Thỉnh cầu Bồ Tát xuất định gia trì pháp thủy. Một lần niệm danh hiệu của Ngài thì đƣợc giải thoát khổ đau. Kinh Đại Bi nói: Oai thần lực của Bồ Tát Quan Âm là không thể nghĩ bàn. Ngài đã thành Phật từ vô lƣợng kiếp trƣớc, danh hiệu là Chánh Pháp Minh, có đại nguyện làm an lạc chúng sanh. Nay Ngài hiện thân làm Bồ Tát, sau này lại thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vƣơng Nhƣ Lai. Phạn ngữ là Avalokite, Hán dịch là Quan Thế Âm. “Phù thử thủy giả, … tổng thanh lương.” - “Phù thử thủy giả, … bất siêu luân.” Bát công đức thủy (八功德水): đã giải thích ở trên. Thiên chơn (天真): chính là tự tánh từ trƣớc tới nay. Nghiệp (業): tiếng Phạn Karma, là hành động có chủ đích. Nghiệp có ba: thiện, ác, vô kí. Cấu (垢): là phiền não chƣớng làm ô nhiễm tự tánh. Trần (塵): là sở tri chƣớng che mờ trí nhãn. Chúng sanh vốn bổn tánh nhƣ nhƣ thanh tịnh, nhƣng do vì bị vô minh che mờ, tạo các hành nghiệp, nảy sinh phiền não, không đƣợc giải thoát sanh tử. Nay muốn hóa độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi, thì trƣớc phải tẩy trừ cho thanh tịnh, ắt sẽ thông suốt vô ngại. Rồi sau phát tâm quảng đại, dùng pháp thủy này rảy khắp hoa tạng giới, dùng thể tánh rộng lớn của nƣớc này, hợp với hƣ không, thấm khắp cả pháp giới, làm thanh tịnh tự thể, tiêu trừ nghiệp chƣớng, trong ngoài đều trong sạch. Làm đƣợc nhƣ thế, thì chỗ nào cũng không còn chúng sanh bị sa đọa nữa. - “Thủy bất tẩy thủy diệu cực pháp thân, trần bất nhiễm trần phản tác tự kỷ.” Kinh nói: Tánh hƣ không nhƣ nƣớc, tánh nƣớc nhƣ hƣ không, vốn dĩ thanh tịnh, biến khắp pháp giới, nên gọi là châu biến. Thế đại địa đều là nƣớc, thì bụi dính vào đâu? Nƣớc đã không dính bụi, thì tẩy làm gì? Há lại có cái đạo lý dùng nƣớc để tẩy nƣớc nữa sao? Nhƣ đao không t ự cắt, lửa không tự đốt, nƣớc chẳng tự tẩy, đều có

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 130


Chương III. Chú Giải

thể gọi là vi diệu tuyệt luân. Đó chình là đạo lý pháp thân tột bực, chẳng phải ngụy tu giả chứng. Ngƣời xƣa nói: Biết rõ nƣớc có thể rửa sạch nhơ bẩn, nhƣng nƣớc cũng thành nhơ bẩn. Cho nên nói nƣớc cũng chính là bụi. Nƣớc tuy đồng thể với bụi, nhƣng chung quy lại chẳng nhiễm cái bụi nhơ bẩn. Đối chiếu tự thân của ta, cùng với tính chất của phiền não đều là do duyên khởi. Thể tánh là không, không hợp với không, nhƣ lấy nƣớc đổ vào nƣớc, đâu có chỗ nào phân biệt. Nói dung hợp vạn vật với tự thân thì chỉ có bậc thánh nhân mà thôi.10 - “Quyên trừ nội ngoại, đãn địch đàn tràng.” Trên trình bày thể của nƣớc, đến đây là nói về tác dụng của nƣớc. Nƣớc này có thể tẩy sạch trong ngoài đàn tràng không còn nhơ nhớp. - “Sái khô mộc nhi tác dƣơng xuân, khiết uế bang nhi thành tịnh độ.” Nƣớc này có công dụng khởi tử hồi sanh, có thể chuyển uế thành tịnh. Rƣới vào cây khô, có thể khiến cây tốt tƣơi trở lại. Thấm vào đất nhơ liền chuyển thành tịnh độ. - “Sở vị đạo nội ngoại trung gian vô trƣợc uế, thánh phàm u hiển tổng thanh lƣơng.” Trong thì căn thân, ngoài là vạn vật, ở giữa là tâm thức, tất thảy đều không uế nhiễm, đƣợc thanh lƣơng, không còn nhiễm lại nữa. - “Bồ tát liễu đầu … thƣờng thanh tịnh.” Cả bốn câu này tổng kết và thực hiện ý nghĩa của đoạn văn trên. “Tụng Đại bi chú nhất biến chí Cam Lồ Vương Bồ Tát.” Đại bi chú (大悲呪): là thần chú của Ngài Quan Âm, có thể là cho chúng sanh tiêu trừ phiền não. Ngài Quan Âm trƣớc Phật đã nói rằng: “Bạch Thế Tôn, nếu nhƣ có chúng sanh nào tụng đọc thần chú đại bi mà còn đọa vào ba ác đạo, không sanh ở nƣớc Phật, không đƣợc vô lƣợng Tam muội biện tài, thì con thệ không thành chánh giác.” Ngài Quan Âm đã phát lời thệ nhƣ vậy, thì uy lực của thần chú này tất không thể nghĩ bàn.

10

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0275c18- 0275c23

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 131


Chương III. Chú Giải

Cam lồ (甘露): vua trời Đế Thích có cây Ba-lợi-chất-đa, trên lá nhỏ xuống ngọc lộ, có mùi vị ngon ngọt, đó chính là cam lồ, uống vào thì có thể trƣờng sanh bất tử, lìa hẳn việc đói khát hoạn nạn phiền não. Nay ví pháp thủy nhƣ cam lồ, có thể trƣởng dƣỡng pháp thân huệ mạng của chúng sanh, tăng trƣởng công đức thiền định, không bị ba tai tám nạn khổ bức bách. Vƣợt hơn cả vị cam lồ kia, cho nên gọi là Cam Lồ Vƣơng. Lúc xƣớng lên, lấy ngón vô danh của tay phải điểm vào chén nƣớc, búng rảy vào hƣ không, làm vạn vật đƣợc thanh tịnh, thấm nhuần chúng sanh khiến cho đƣợc thanh lƣơng. Nói nhƣ trên đây, là chỉ nói về lý. Còn việc ích lợi thật sự, thì nhƣ kinh dạy: hành trì chánh lý cho thuần ngộ, nhờ đó mà tiêu trừ những sự xấu ác. Thứ tự đoạn trừ, cũng nhƣ từ từ làm thanh tịnh thân giới. “Ngũ phương ngũ phật … tổng quy chơn.” Ngũ phƣơng Phật: Trung ƣơng

: Tỳ-lô-giá-na, màu vàng, tay cầm Thiên phúc luân.

Phƣơng đông

: A Sơ, màu xanh, tay cầm chùy Kim Cang

Phƣơng tây

: A Di Đà, màu trắng, tay cầm Hoa sen

Phƣơng nam

: Bảo Sanh, màu đỏ, tay cầm Ngọc Ma ni

Phƣơng bắc

: Thành Tựu, màu đen, tay cầm Luân tƣơng giao

“Khể thủ quy y Tô tất đế, … Chuẩn đề ta bà ha.” Chuẩn Đề: “Phạn ngữ Cundi, Hán phiên âm là Chuẩn-chi, Chuẩn-nê, gọi đủ là Chuẩn Đề Quan Âm, Chuẩn Đề Phật Mẫu, Thất-câu-chi Phật Mẫu. Chuẩn-đề có nghĩa là thanh tịnh.”11 Bồ tát Chuẩn Đề thân màu vàng nhạt, ngồi kiết già trên đài sen, mặc thiên y hoặc lụa trắng mỏng, trên đầu đội mũ ngọc anh lạc, có ba mắt. Có mƣời tám cánh tay, đều đeo vòng xuyến, mỗi tay hoặc quyết ấn, hoặc cầm các Pháp khí, biểu thị cho các Tam muội da. Chuẩn Đề Đà-la-ni kinh (Cundī dhāraṇ ī sūtra) ghi lại chú Chuẩn đề nhƣ sau: “Namaḥ saptānāṃ samyaksaṃbuddha koṭ īnāṃ tadyathā. Oṃ cale cule cunde svāhā.”

11

Thích Minh Cảnh Chủ Biên, 2003, Từ Điển Phật Học Huệ Quang, Nxb Tổng Hợp TPHCM, tập I, tr. 962

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 132


Chương III. Chú Giải

Nếu ai chí thành trì tụng thần chú trên thì sẽ tiêu trừ tai họa, dứt hết bệnh tật, đạt đƣợc trí tuệ, tiêu trừ tội chƣớng, thọ mạng lâu dài, tăng trƣởng phƣớc đức đồng thời đƣợc chƣ Phật, Bồ Tát gia bị, đời đời kiếp kiếp xa lìa ác thú, mau chóng chứng đắc Vô thƣợng Bồ Đề. “Trì Tụng Chuẩn Đề Chân Ngôn Pháp Yếu” nói: Chuẩn Đề chơn ngôn có xuất xứ từ kinh “Thất-câu-chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn đề Đà-la-ni”. Muốn cầu thành tựu những mong cầu ở thế gian, hay xuất thế gian, thì hãy theo kinh mà tác pháp, ắt sẽ đƣợc linh nghiệm. Nếu có chúng sanh làm các ác nghiệp, chẳng trồng chút phƣớc lành nào, Bồ Đề tâm cũng chẳng chút sanh khởi, đạo pháp Bồ Đề chẳng bao giờ đạt đƣợc. Ngƣời nhƣ thế mà bỗng nhiên thức ngộ, trì tụng thần chú này thì hết thảy gốc rễ tội nghiệp trƣớc nay đều tiêu diệt, căn lành liền sanh khởi.12 “Thời đáo pháp vương tòa, … Phụng thỉnh Tỳ Lô tôn.” Xƣớng tụng bài này thì Hành giả biết đã đến lúc nhất tâm phụng thỉnh đức Tỳlô-giá-na. “Ngũ phương kiết giới” - “Thiên thƣợng thiên hạ … nhƣ Phật giả.” Tán thán thế gian này chẳng có ai sánh bằng Nhƣ Lai. - “Đông phƣơng thế giới … xƣng tán lễ.” A Sơ Phật âm Phạn là Aksobhya, là bộ chủ Kim Cang bộ ở phƣơng Đông trong ngũ phƣơng Phật, đại diện cho Đại viên cảnh trí. Ngài cầm chùy Kim Cang ở trong tay, biểu thị cho bản chất kiên định không thể lay động đƣợc. Theo ngũ hành ngũ sắc, phƣơng Đông thuộc Mộc, màu xanh. - “Nam phƣơng thế giới … xƣng tán lễ.” Phật Bảo Sanh, tên tiếng Phạn là Ratnasambahava, là bộ chủ của Bảo bộ trong năm phƣơng Phật, vị trí ở phƣơng Nam, đại diện cho Bình đẳng tánh trí. Phật có một mặt, hai tay, hai chân, ở trong tƣ thế thiền định. Lòng bàn tay phải hƣớng ra ngoài, là ấn Thí nguyện. Tay trái cầm ngọc ma ni, tƣợng trƣng cho giáo pháp của đức Phật quý nhƣ châu báu.13

12 13

Trì tụng Chuẩn Đề Chơn Ngôn Pháp Yếu, 持誦準提真言法要, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1079, tr. 0248b09 Thích Minh Tông, 2011, Pháp Khí Mật Tông, Nxb Thời Đại, tr. 121

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 133


Chương III. Chú Giải

Phƣơng nam theo ngũ hành thuộc hỏa, có màu đỏ. - “Tây phƣơng thế giới … xƣng tán lễ.” Phật A Di Đà là bộ chủ Liên Hoa Bộ ở phƣơng Tây. Hoa sen tƣợng trƣng siêu xuất tam giới, tƣợng trƣng cho trí tuệ tánh không. Hoa sen màu đỏ tƣợng trƣng cho Đức A Di Đà, khắc trừ tâm tham và biểu thị Diệu Quan Sát trí. Theo ngũ hành ngũ sắc, phƣơng tây thuộc kim, màu trắng. - “Bắc phƣơng thế giới … xƣng tán lễ.” Thành Tựu Phật, nói đủ là Bất Không Thành Tựu Phật, tên Phạn là Amoga Siddhi, là bộ chủ của Yết Ma Bộ ở phƣơng Bắc trong năm phƣơng Phật, đại diện cho Thành Sở Tác Trí. Phƣơng Bắc theo ngũ hành thuộc thủy, có màu đen. - “Trung ƣơng thế giới … xƣng tán lễ.” Tỳ Lô Phật, nói đủ là Tỳ-lô-giá-na Phật, tiếng Phạn là Vairocana, là bộ chủ của Phật bộ ở Trung ƣơng trong ngũ phƣơng Phật, đại diện cho Pháp giới thể tánh trí, là bản tôn căn bản nhất trong Mạn-đà-la giới. Theo ngũ hành, Trung ƣơng thuộc thổ, có màu vàng. - “Bố từ bây, độ bây, de lộ kia, càng đích, nê vĩ đích, thạc bụt thạp”: lần lƣợt là hoa, hƣơng, đăng, đồ, quả và nhạc. Đoạn trên đây là tán thán, quy mạng, cúng dƣờng lục cúng chƣ Phật trọng Mạnđà-la giới, thỉnh cầu chƣ Phật gia hộ. “Bình trung cam lồ … thường thanh tịnh.” Bài này cũng nhƣ bài “Bồ Tát liễu đầu cam lồ thủy” ở trên. “Tịnh pháp giới chơn ngôn.”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 134


Chương III. Chú Giải

“Ngạn lãm, ngạn lam tóa ha.” Pháp có nghĩa là “nhậm trì tự tánh, quỹ sanh vật giải”, “chỉ chung cho tất cả mọi sự vật hiện tƣợng dù to hay nhỏ, hữu hình, vô hình, chân thực hƣ vọng. Sự vật cũng là sự vật, đạo lý cũng là vật, tất thảy đều là pháp cả.”14 Pháp giới có bốn. “Lý pháp giới (reality as numena). Pháp giới có thể đƣợc dịch là thực tại (reality) hay bản thể. Sự pháp giới (reality as phenumena). Đây không còn là vàng, là nƣớc nữa; đây là sƣ tử, là sóng. Sóng và sóng có liên hệ với nhau. Lý sự vô ngại pháp giới (reality in the relationship between numena and phenumena). Đó là thực tại trong sự liên hệ giữa lý và sự, giữa tánh và tƣớng. Sự sự vô ngại pháp giới (reality in the relationship between phenumena and phenumena). Đó là thực tại nhìn qua sự liên hệ giữa tƣớng và tƣớng (sóng và sóng, đám mây và sƣơng mù).”

15

“Điểm tịnh chơn ngôn.”

14 15

Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1994, Từ Điển Phật Học Hán Việt II, tr.1117 HT Thích Nhất Hạnh, 2009, Con Sƣ Tử Vàng Của Thầy Pháp Tạng, Nxb Tôn Giáo, tr. 62

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 135


Chương III. Chú Giải

“Ngạn, dạ mục cót choang lai di mo nghinh, tô rô tô rô, tóa ha.” Làm thanh tịnh vạn vật, nên gọi là điểm tịnh. Lúc niệm thần chú này, lấy ngón vô danh của tay phải nhúng vào chén nƣớc, búng rảy vào hƣ không. Quán tƣởng trong ngoài đàn tràng đều đƣợc thanh tịnh. Kinh Viên Giác nói rằng: một thế giới đƣợc thanh tịnh, thì tất cả các thế giới đều thanh tịnh. Nhƣ vậy cho đến khắp cả hƣ không, suốt khắp ba đời, tất cả đều thanh tịnh bình đẳng bất động. Ngài Tịnh Danh nói: “Tùy theo tâm tịnh, thì cõi Phật tịnh.” “Gia trì hoa mễ chơn ngôn.” “Ngạn, quan tƣ lai, phổ min, dạ, hồng.” Khi tụng thần chú, quán tƣởng thành trí tuệ quang minh, hóa hiện vàng ngọc châu báu. Trƣớc là gia trì, đến lúc dùng thì tùy tâm chuyển biến chẳng xa lìa. Đây gọi là muốn làm việc thiện, trƣớc nên có ý làm lợi ích chúng sanh. “Gia trì bảo linh chơn ngôn.” “Ngạn, quan tƣ lai, tát kháp, dạ, hồng.” Linh có nghĩa là ƣa thích vừa ý. Đặt ngang sƣờn trái, biểu đạt cái “Ngã”. Cái “Ngã” này không đồng với hàng phàm phu hữu tình, mà là pháp thân trong “Thƣờng Lạc Ngã Tịnh” chơn thƣờng tịch diệt. Kinh Niết Bàn nói: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, là cái ý nghĩa của chữ “Ngã” đó. Linh này cũng vậy, rỗng mà có thể chứa đựng, bao hàm mà lại thông suốt, giống nhƣ tâm Phật, hoan hỷ trƣớc chúng sanh. Cho nên, linh nói lên cái ý nghĩa c ủa chữ từ, biểu đạt cái đức. Nghe tiếng linh thì sanh tâm hoan hỷ nhƣ Phật. Xử có nghĩa là thị uy, cũng biểu đạt ngũ trí. Chuyển quyền thủ hƣớng ra ngoài, là biểu thị ngũ trí cho chúng sanh thấy. Lấy trí để tiêu trừ phiền não, hàng phục ma quân.

16

Khi tụng thần chú, lấy hoa mễ rải lên linh xử để gia trì. “Ngạn, dạ, hồng.” Đây gọi là thần chú tam tự tổng trì. Phàm lúc tác pháp, lấy thần chú này để tổng trì, tất đƣợc cái công dụng kiên cố quảng đại vô cùng vô tận. Do uy lực gia trì chữ “抮” mà khiến việc quán tƣởng bất thành đƣợc thành tựu trọn vẹn. Do tụng chữ “丌” mà tiêu diệt đƣợc chƣ tội chƣớng, đƣợc vô lƣợng an vui nhƣ chƣ Phật, hơn cả thánh 16

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0277a17

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 136


Chương III. Chú Giải

chúng ma la, không hề bị chƣớng ngại, xứng đáng đƣợc thọ nhận của cúng dƣờng của thế gian. Do gia trì chữ “帊” mà các loài cọp sói trùng độc, những kẻ có lòng ác không thể xâm phạm đƣợc. Đức Nhƣ Lai ban đầu thành đạo, nơi dƣới cây Bồ Đề, là dùng ấn thần chú này đánh tan chúng ma. Ba chữ này thật đúng là diệu dụng, cho nên niệm niệm nhiều lần, rồi sau rung linh xƣớng. “Ngã kim chấn linh xử, … Ngạn, hạ lai, hạ lai, hồng.” Hành giả rung linh, cung kính thỉnh cầu chƣ Phật chứng minh, gia hộ. Hành giả này nhiếp trì hạnh nguyện của chƣ Phật để hóa độ chúng sanh “Thập nhị nhân duyên chú.”

“Ngạn de thác lƣ mo hê đô. Phút lai bo choang hê, đôn đích san. Đáp thạp cót đáp yết, quan đãn đích san. Choang đích nê lô, đãn de bƣng cót đế, Mo cót thích lai, mọ nại de, tóa ha. ” Thần chú này tên gọi là “Thập nhị nhân duyên chú”, nêu rõ các pháp đều do nhân duyên sanh, cho nên tự thể đều là không. Trung Luận nói: “Chƣa từng có một pháp nào mà không từ nhân duyên sanh. Cho nên tất cả các pháp đều là không cả.” Thế nên tam gới tuần hoàn đều thuộc về nhân duyên. Thần chú này có công năng làm tâm tự tại, pháp tự tại, có thể tùy theo ý muốn mà không trở ngại. “Ngã cập pháp giới, … Thượng sư Tam Bảo.”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 137


Chương III. Chú Giải

Hành giả cầm hoa mễ trong tay, bạch rằng: “Chúng con cùng pháp giới nhất thiết hữu tình” là không chỉ riêng vì mình mà phát tâm quảng đại; “từ đây cho đến khi chƣa chứng đƣợc quả vị Bồ Đề” là phát nguyện kiên cố mà không thối chuyển; “thệ nguyện quy y thƣợng sƣ Tam Bảo” là phát tâm quảng đại tối thắng vô thƣợng. Việc kiến lập đàn tràng, cúng dƣờng, trang nghiêm tịnh độ đều là nƣơng nhờ lực gia trì của thập phƣơng Phật, Bồ Tát. Chƣa làm nhƣng trƣớc phải phát nguyện, phát nguyện rồi mới có thể thôi thúc ý chí. Nếu nhƣ không phát nguyện cho tâm kiên cố thì dễ sanh ra giải đãi, cho nên trƣớc nên phát nguyện quy y Tam Bảo. Nếu không quy y thì làm việc gì cuối cùng cũng thành ra ma nghiệp. Nay nhờ thƣợng sƣ Tam Bảo âm thầm gia hộ, giúp cho bổn nguyện sớm đƣợc thành tựu. “Thượng sư Tam Bảo chơn ngôn.” “Nại mo cu lô tì de. Nại mo bụt thạp de. Nại mo thác lừ mo de. Nại mo tứng cót de.” Ý nghĩa của bốn câu này là quy y Tam Bảo. Câu đầu là quy y Kim Cang thƣợng sƣ. Ba câu sau là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. “Ngạn, rị rị, kháp kháp, hồng hồng, phín đáp”: xƣng tán Thƣợng sƣ. “Ngạn, thất rị mo, kháp kha lai, kháp kháp, hồng hồng, phín đáp”: xƣng tán Tam Bảo “Ngạn, dạ, hồng.” Lại niệm thần chú tam tự tổng trì để gia trì. Tung hoa mễ lên hƣ không, quán tƣởng rơi xuống gạo báu, trở thành các lo ại hoa hƣơng cúng dƣờng phụng hiến vô tận. “La liệt hương hoa … hải ấn hàm.” - “La liệt hƣơng hoa … nhất hào đoan.” Dùng các thứ hoa hƣơng đẹp đẽ mà lập đàn thất bảo, tựa nhƣ trùng trùng các cảnh Phật. “Nhất hào đoan” (đầu sợi lông) thì chẳng lớn, cảnh Phật thì không nhỏ, ấy vậy mà trên đầu sợi lông mà có thể dung chứa muôn nghìn cảnh Phật, châu biến bao hàm chẳng chƣớng ngại. Đây chính là cảnh giới sự sự vô ngại, là quảng hiệp tự tại vô ngại môn. Tức là “cái rộng chứa cái hẹp mà cái hẹp cũng chứa cái rộng một Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 138


Chương III. Chú Giải

các rất tự do, không có sự ngăn ngại nào”. Kinh nói: “Trong một đầu lông hiện cảnh Phật bảo vƣơng, ngồi trên hạt bụi mà chuyển đại pháp luân.” - “Tâm dung diệu lý … pháp giới khoan” Hai câu này xƣng tán đức của pháp thân. Khi tâm và diệu lý dung hội với nhau thì liền hiện pháp thân rộng lớn không cùng, nhìn lại hƣ không chỉ nhƣ giọt nƣớc trong biển lớn. Lại nữa, đạo nếu khế hợp với chân nhƣ thể tánh thì thấy đƣợc tánh của pháp giới rộng không bờ bến, nhƣ ngƣời ra biển, thấy rộng sâu vô cùng. Đây là nêu ý nghĩa của pháp giới. - “Tƣớng hảo từ bi … mộ vân phồn.” Tán thán báo thân và hóa thân Phật. Phật có vô lƣợng sắc, sắc lại có vô lƣợng tƣớng, tƣớng lại có vô biên vẻ đẹp. Từ bi hỷ xả đều đầy đủ, nhƣ trăng thu tròn đầy không chỗ khuyết. - “Hƣơng yên đồi lý … hải ấn hàm.” Chƣ Phật từ bi phát khởi hạnh nguyện cứu độ chúng sanh, ứng hiện khắp mọi nơi, có cầu tất ứng, không ƣớc nguyện nào mà chẳng giúp. Nay dùng khói hƣơng nghi ngút, cầu mong ứng hiện sắc thân mà giáng lâm, nhƣ bể cả bao dung vạn vật, phân minh hiển hiện. “Thích Ca Như Lai chứng minh công đức.” Thích Ca Nhƣ Lai, giáo chủ cõi Ta Bà, là đức Phật thứ tƣ trong bảy đức Phật của hiện tại hiền kiếp, tiếng Phạn là Sakya Muni. Sakya, Hán phiên âm là Thích Ca, dịch là Năng nhơn, năng nhơn từ huệ cứu chúng sanh. Muni, Hán phiên âm là Mâu Ni, dịch là Tịch Mặc, vĩnh viễn lìa khỏi nhị biên (thƣờng, đoạn) khế hợp trung đạo. Nhƣ Lai, là từ chỗ nhƣ mà đến, nên gọi là Nhƣ Lai. Đây cũng là danh hiệu đƣợc đức Phật Nhiên Đăng thọ ký cho. “Quan Thế Âm Bồ Tát mật thùy gia hộ.” Thỉnh cầu Bồ Tát Quan Âm mật thùy gia hộ, khiến việc đƣợc thành tựu. “A Nan Đà Tôn Giả hưng quyền khải giáo.” Tôn giả A Nan đà, Phạn ngữ Ānanda, Hán dịch Khánh hỷ, là em họ của đức Phật, là bậc đa văn đệ nhất. Ngài chính là là ngƣời đã hƣng quyền khải giáo, là ngƣời đã khởi xƣớng nên việc thí thực. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 139


Chương III. Chú Giải

Sau phần này, thấy trong gia trì còn có phần đọc sớ. Văn sớ nhƣ sau: Sớ Chẩn Tế “伏 以 ! 勝會弘開世尊出現。寒林既設滯魄來依。澡浴身根承恩受戒。享酥酡之妙 食各飽飢虛。聽花藏之玄文早登覺地。 疏爲 越南國……建壇

佛修香諷經…… 惟日仰干 大覺世尊俯垂接度

痛念

伏為法界三十六部河沙男女無祀陰孤魂自他先亡家親眷屬及本處遠近無祀 陰靈孤墓列位 普召界內幾次戰争志士陣忘人民難亡冤魂枉死男女無祀陰靈空行水陸列位 言念: 法界有情大開津濟。眷彼幽魂積劫孤路。久沉長夜難得超昇。仗此良因幸 蒙濟度。茲者辰維……月節屬……天。筵開……晝之道場香滿十方之世界。 今則蒙山會啟大施門開僅具疏文 南無道場教主本師釋迦牟尼佛

和南拜白 蓮座證明

南無大悲觀世音菩薩 南無啟教阿難陀尊者 恭奉 面然大士威光刻到於今霄。藏慈尊神力大彰於此夜 。閻王十殿炤開十八 地獄之門 左右判官燒盡億劫輪迴之籍。俾六道四生之微命枯木逢春。使九玄 七祖之爽靈同登覺岸。仰賴 佛恩證明謹疏 。 佛曆……歲次……和南上疏 “Tự tánh kệ.” - “Phƣơng tiện tự tánh … đại dõng thức.” Nhƣ Lai dùng phƣơng tiện quyền xảo, tùy thuận căn cơ của chúng sanh, mà hóa hiện ba thân hóa độ. Từ diệu thể vốn xa lìa hình tƣớng, mà vì chúng sanh hiện thân

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 140


Chương III. Chú Giải

tƣớng. Cái tƣớng ấy chỉ là phƣơng tiện tùy duyên nhất thời. Còn cái thể của tự tánh phƣơng tiện này thì vô cùng bất biến, chẳng bao giờ bị thay đổi, nhƣ vàng không sợ lửa. Tuy bất biến nhƣng lại tùy duyên, hiện trong tam giới, trừ lƣới nghi của chúng sanh, phá ngục tù phiền não. Cho nên đƣợc ví nhƣ Kim Cang, vốn không bị hoại. Là bậc uy dõng, có thể thắng oán kết, làm quân ma sợ; là bậc thức tỉnh, nhất thiết trí, chẳng chỗ nào là không soi thấu, siêu xuất thế gian. Thể tánh ấy, chính là Phật tánh. - “Tối thắng vô tỉ … giai thành tựu.” Tuy là bất biến nhƣng mà tùy duyên không ngại, thù thắng tuyệt luân, không gì so sánh đƣợc. Khéo vƣợt các pháp hữu lậu, siêu thoát trần cấu, biết rõ mọi sự đối đãi với các pháp, không thể nghĩ bàn, nên gọi là siêu xuất tƣớng. Đức Phật vốn đã nhƣ vậy, thì ta nay cũng nguyện đƣợc thành tựu diệu thể ấy. Bốn câu trên, là tán thán thân Phật, bốn câu sau là tán thán việc Phật thuyết pháp.17 - “Thắng tuệ tự tánh … pháp luân âm.” Trí tuệ của chƣ Phật sâu thẳm không cùng. Cánh cửa trí tuệ ấy, khó hiểu khó nhập. Nhƣ kinh Pháp Hoa diễn tả, giả nhƣ các vị Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát nhiều vô số kể cũng không thể biết, cho nên gọi là thắng huệ. Tự tánh của nó vô cùng thâm diệu. Nhờ chỗ sâu thẳm huyền diệu ấy mới có thể diễn thuyết pháp âm. Pháp đƣợc ví nhƣ bánh xe có thể luân chuyển. Chuyển bánh xe pháp này, có thể giúp chúng sanh phá diệt phiền não, chuyển phàm thành thánh. Kinh nói: Từ căn bản trí chuyển thành hậu đắc trí, từ hậu đắc trí chuyển thành đại bi tâm, từ đại bi tâm chuyển sang mƣời hai phần giáo, nên thuyết pháp phải dùng thể tánh của trí. - “Dĩ vô sanh hiện … nguyện cụ túc.” Thuyết pháp nhƣng không rời tự thân. Thân vốn không thân, là do phƣơng tiện mà hiện thân. Pháp Hoa nói: Xƣa Phật xuất hiện ở thế gian là phƣơng tiện vì cho chúng sanh thấy pháp mà chƣ Phật chứng ngộ, cho nên nói “từ bổn tánh vô sanh mà phƣơng tiện hiện thân”. Đức Phật đã nhƣ vậy, thì nay Pháp sƣ cũng nhƣ vậy, cho nên nói là “việc đƣơng hành trì đây nguyện xin trọn thành”.

17

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0279a05

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 141


Chương III. Chú Giải

Trí tuệ của Phật, theo đó thấy thậm thâm vi diệu, là tối thắng không thể so sánh. Hành giả nay chƣa chứng đắc thân vô lậu, mà còn ở nơi chỗ hữu lậu, nên phải niệm Tịnh địa kệ, chuyển uế thành tịnh, an trú nơi các bậc Thánh hiền. “Tịnh địa kệ.” - “Nhất thiết phƣơng ngung … đẳng giai vô.” Tức là kiến lập Mạn-đà-la. Thế giới Ta Bà đầy dẫy uế tạp, toàn bằng đất đá núi non, ngói sỏi cát sạn, hầm hố gò đất, thật không bằng phẳng. Tất cả những thứ ấy nay đều biến thành đất báu lƣu ly. - “Lƣu ly bảo địa … nguyện cụ túc.” Đất báu ở trên bằng thẳng nhƣ lòng bàn tay, lại mềm mại nhu nhuyến uyển chuyển, vi diệu không thể so sánh đƣợc. Ở nƣớc Cực Lạc có đất làm bằng bảy báu, vƣờn rừng, cây cối đều bằng ngọc báu, lầu gác bằng vàng ở hai bên đƣờng, mọi thứ đều đầy đủ, đều đƣợc làm bằng vật báu. Nay nƣơng nơi pháp âm diễn tả, nguyện xin nơi đây cũng đƣợc nhƣ vậy. - “Tùng xuất thế gian … nguyện an trú.” Nhƣ Lai khi tại thế biến cõi Ta Bà thành tịnh độ. Nay Đức Thế Tôn đã diệt độ rồi, việc ấy chẳng thể nào tái hiện đƣợc nữa. Pháp sƣ nay vâng theo lời dạy của Phật, quán tƣởng cảnh quốc độ do các thứ thất bảo kết thành. Ánh sáng vô lƣợng chiếu soi tất cả, thật là huy hoàng vĩ đại, lại thỉnh cầu chƣ Phật từ bi an trú. “Âm nhạc chú.” “Ngạn, quan tƣ lai, khán chi di, lai nạp lai nạp, phút lai lai nạp, phút lai lai nạp, tam phút lai lai nạp, tam phút lai lai nạp, tát rị quan, bụt thạp xích đích lai. Phút lai choang rị đáp, mo cót phút lai ni nha, ba lai miệt đáp na đạt, đạt tốc ba vi tát rị quan, tháp rị mo, kia rị đạt de, san đa sa na. cót rị, hồng hồng, phín tra, tóa ha. ” Khi xƣớng thần chú này thì nhƣ chƣ thiên đồng tấu khúc nhạc, năm âm hòa nhã, sáu điệu giao hòa, thật là vi diệu tuyệt luân, kính dâng lên cúng dƣờng mƣời phƣơng Tam Bảo. “Khiển ma chơn ngôn.”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 142


Chương III. Chú Giải

“Ngạn, quan tƣ lai, quan tƣ lai, a di rị đạt, quân tra rị, cót nạp cót nạp, hồng hồng, phín tra.” Thần chú điều khiển chúng ma. Từ thủ ấn có chữ “帊” màu đỏ phóng quang điều khiển cảnh giới ma, làm chúng ma tuân theo. “Phục ma chơn ngôn.”

“Ngạn, quan tƣ lai, nha kháp hồng.” Thần chú hàng phục chúng ma. Từ thủ ấn phóng hỏa quang điều khiển chúng ma. “Hỏa luân chơn ngôn.”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 143


Chương III. Chú Giải

“Ngạn, quan tƣ lai, tả lạt, a nại lạt, cót nại đáp cót, ba choang ma tháp, bân choang lai nạp, hồng hồng phín tra. Ngạn, tát rị quan, đáp thạp cót đạt lai đích nại mo cót mạn, đáp lạt. Bố choang di khát tát mọ đích lai tƣ phín lai nại than mọ de dạ hồng.” Thần chú làm chúng ma viễn ly. Từ thủ ấn phóng ra vầng lửa Kim Cang, làm cho chúng ma thối lui. Cả ba câu thần chú trên, trong các bản của Hán tạng đều ghi là thần chú khiển ma cả. “Tam quy y tán.” - “Phật Pháp Tăng Bảo, … tề thanh ứng hòa.” Chơn thể của Tam Bảo biến hóa rộng khắp cả mƣời phƣơng. Hữu cầu tất ứng, vô nguyện bất tùng, cho nên nói: cung kính thỉnh kỳ, tất mông cảm ứng. Nhƣ đã nói ở trên, kiến lập đàn tràng thì trƣớc nên quy y Tam Bảo, đoạn này cũng chỉ là nhắc lại ý trên. - “Chí tâm tín lễ Phật đà da, … đại từ phụ.” Chí tâm tín lễ là một lòng tin tƣởng mà lễ bái. Phật, Phạn ngữ là Buddha, Hán dịch là giác, giác giả. Phƣớc đức đầy đủ gọi là Lƣỡng Túc Tôn. Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn nên gọi là Tam Giác Viên. Từ, bi, hỉ, xả đều có đủ nên gọi là Vạn Đức Cụ. Khai hóa dìu dắt trời ngƣời nên gọi là Điều Ngự Sƣ. Điều là điều phục, ngự là đến đi khéo léo. Chúng sanh ở cõi Diêm Phù tánh tình cứng cỏi, khó mà điều

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 144


Chương III. Chú Giải

phục. Đức Nhƣ Lai dùng phƣơng tiện quyền xảo, dùng lời khổ nhọc mà giáo hóa, chế ngự, khiến điều phục. Vạn loại hàm linh đều nƣơng cậy nên gọi là Từ Phụ. - “Tùng chơn giới, … thập phƣơng xứ.” Tán thán việc Phật hiện thân thuyết pháp. Đức Nhƣ Lai thế giới chơn nhƣ, tánh thƣờng tịch tịnh mà ứng hóa hiện thân, tâm từ bi hóa độ không có thiếu sót chỗ nào, cùng khắp ba cõi, thấu đến mƣời phƣơng, nhƣ mặt trăng trên trời in bóng ở muôn nghìn sông hồ. - “Chấn pháp lôi”: nghĩa là cảnh giác. - “Kích pháp cổ”: nghĩa là sách tấn tinh cần. - “Quảng diễn quyền thiệt tƣớng”: quyền là ý nói tam thừa quyền xảo, thật là ý nhất thừa mới là chân thật. - “Án dạ hồng, đại khai phƣơng tiện lộ”: Các pháp trƣớc tới nay, tự tƣớng thƣờng tịch tịnh, chẳng thể dùng lời diễn tả đƣợc. Nay đức Phật hiện thân, thuyết pháp tùy cơ nghi, tùy thời hóa độ, đây gọi là khai mở cửa phƣơng tiện. - “Nhƣợc quy y, … năng tiêu diệt địa ngục khổ.” Quy y là quay về nƣơng tựa. Nƣơng tựa đức Phật, học theo hạnh Phật, khiến nghiệp xƣa tiêu diệt, nghiệp mới chẳng thành, đƣơng nhiên thoát đƣợc mọi khổ báo trong địa ngục. - “Chí tâm tín lễ Đạt ma da, … truyền Đông độ.” Pháp, tiếng Phạn Dharma, Hán phiên âm là Đạt-ma-da, là lời dạy của Đức Phật. Pháp có công năng khiến ngƣời hành trì lìa bỏ tham dục phiền não nên gọi là Ly Dục Tôn. Đƣợc lƣu giữ trong Tam Tạng giáo điển nên gọi là Bảo Tàng Thâu. Vì quý giá đƣợc đặt để nơi trang trọng nên gọi là Ngọc Hàm Trữ. Sau Phật diệt độ ba tháng, đại hội kết tập kinh điển đầu tiên đƣợc tổ chức với năm trăm vị A-la-hán, Ngài A Nan trùng tuyên kinh điển, Ngàu Ƣu Ba Ly trùng tuyên giới luật. Về sau truyền sang phƣơng Đông, có tam tạng Pháp sƣ phiên dịch ở Trung Hoa, dịch Phạn sang Hán, đó gọi là phiên dịch. - “Tổ sƣ hoằng”: là ý chƣ Tổ rộng khai triển việc phiên dịch. - “Hiền triết phán”: Y giáo tu hành nhƣng chƣa thấu triệt nguồn tâm, thƣờng thân cận bậc thánh, đó gọi là bậc hiền triết. Phán là ở trong giáo pháp phân chia bán mãn. Đã liễu nghĩa rồi thì gọi là mãn, chƣa hiểu nghĩa thì gọi là bán. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 145


Chương III. Chú Giải

- “Thành chƣơng sớ”: là giải thích nghĩa lý, tùy theo nội dung mà phân chia thành chƣơng sớ. - “Tam thừa phân đốn tiệm”: Tam thừa là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Đốn là chỉ tri kiến Phật không phân thứ đệ, dứt trừ vọng duyên thì thành Phật. Tiệm là nói về việc hành trì trải qua thời gian lâu dài, mƣa dầm thấm lâu, khi hội đủ công đức phƣớc trí thì tự nhiên chứng ngộ. - “Ngũ giáo định tôn thú”: Năm giáo là Tiểu thừa, Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo. Nay vì ý tôn kính nên gọi là tôn, là tôn chỉ. - “Quỷ thần khâm, thiên long hộ”: Ngƣời thực hành theo giáo pháp thì đƣợc uy đức thần lực tự tại, khiến chƣ thiên và quỷ thần đều quy phục và hộ trì. - “Đạo mê tiêu nguyệt chỉ, Án dạ hồng, trừ nhiệt chơn cam lồ”: giáo pháp Phật dạy nhƣ ngón tay chỉ mặt trăng, ngƣời nhìn theo thì thấy đƣợc mặt trăng. Thấy trăng thì quên đi ngón tay, chớ nhận ngón tay là mặt trăng nên gọi là tiêu nguyệt chỉ, ý nói đừng chấp trƣớc vào Pháp. Lại khiến dứt trừ các phiền não lậu hoặc, đƣa đến pháp vị an lạc, thanh tĩnh, nhƣ nếm mùi vị cam lồ. - “Nhƣợc quy y, … năng tiêu diệt ngạ quỷ khổ”: Sanh vào làm loài Ngạ quỷ là do xan tham không bỏ, hay thƣờng bỏ phí đồ ẩm thực, chẳng biết trân quý. Nay quy y thì khỏi đƣợc các nạn khổ ở loài Ngạ quỷ. - “Chí tâm tín lễ Tăng già da, … thị gia vụ.” Tăng, tiếng Phạn là Shanga, Hán phiên âm là Tăng-già-da, dịch là Chúng hòa hợp. Nhƣ trăm sông đổ vào biển cả cùng một vị mặn, bất cứ ngƣời nào xuất gia thì cũng đều mang họ Thích, nhƣ nƣớc sữa hòa với nhau, đó gọi là hòa hợp. Trí tuệ siêu việt, đức hạnh đoan nghiêm, đƣợc mọi ngƣời kính ngƣỡng khâm phục nên gọi là Chúng Trung tôn. Tâm chẳng thô ác, thuyết pháp lợi trời ngƣời không mệt mỏi, giới đức thanh tịnh, có thể trừ các phiền não độc hại, thƣờng đƣợc ở cùng Phật nên gọi là Ngũ Đức Sƣ. Cùng nhau chung tu hòa hợp, lời lẽ ôn hòa, ý tứ vui vẻ, tri kiến dung thông, giới luật nghiêm tu, chia sẻ lợi ích bình đ ẳng nên gọi là Lục Hòa Lữ. Lấy việc hoằng pháp lợi sanh làm sự nghiệp, chẳng sợ hao tổn thân mạng, chỉ làm ngƣời hoằng pháp, không lo việc thế gian. - “Tỵ hiêu trần, … thái tân vi.”: Tránh ồn náo, vui thích nơi tĩnh mịch, lánh xa trần thế, thiền tọa ở nơi rừng sâu u tĩnh, sống ở nơi hang động trên núi cao. Đƣợc Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 146


Chương III. Chú Giải

trời ngƣời đều cung kính cũng chẳng lấy làm vui. Ăn cỏ rau, mặc áo lá, lấy cỏ làm chiếu, lấy tay làm gối mà vẫn vui với đạo. - “Bát hàng long”: Ngài Mục Kiền Liên và Lục Tổ đều dùng bát gọi là bát hàng long. - “Tích giải hổ”: Tƣơng truyền Ngài Đặng Ẩn Phong nghe có hai con hổ đánh nhau, bèn cƣỡi gậy bay đến mà giải tán. - “Pháp đăng thƣờng biến chiếu, Án dạ hồng, Tổ ấn tƣơng truyền phó”: pháp truyền pháp, tâm ấn truyền tâm, nhƣ đăng truyền đăng, đăng đăng liên tục, sáng mãi không ngừng, nên gọi là Vô tận đăng. Chiếu khắp thế gian chƣa từng ngừng nghỉ, cho nên nói là pháp đăng thƣờng chiếu khắp. Tổ ấn trao truyền là tâm ấn của Tổ sƣ cứ lần lƣợt truyền trao. - “Nhƣợc quy y, … năng tiêu diệt bàng sanh khổ”: Bàng sanh là loài súc sanh cầm thú, nhờ đức của Tăng bảo mà thoát khỏi loài này. Một khi đọa vào súc sanh thì bị ngƣời cột nhốt, hoặc lấy cung nỏ săn bắn, hoặc lấy chài lƣới đánh bắt, đao kiếm giết mổ, vô vàn đau khổ. Các loài chim bay thú chạy luôn sống trong sợ hãi, lớn nhỏ mạnh yếu ăn thịt lẫn nhau, hoặc phải cày kéo cật lực để đền nợ cũ, không đƣợc giải thoát. Một khi quy y Tăng bảo thì trí tuệ tự nhiên phát sanh, phá dẹp lƣới ngu si, từ tâm khởi lên, từ bỏ các việc ác. Do đó mà thoát đƣợc khổ báo của loài súc sanh. “Đại chúng phát quảng đại tâm, … Tam miệu tam bồ đề.” Nhơn thiên phƣớc báo (人天福報): là phƣớc báo của trời ngƣời chỉ là nhân quả hữu lậu trong tam giới. Thanh Văn, Duyên Giác (聲聞緣覺): là hai quả vị đạt đƣợc giải thoát cho chính tự thân, không lợi ích đến quần sanh. Quyền thừa (權乘): tức là đại thừa hóa hiện phƣơng tiện. Tối thƣợng thừa (最上乘): tức là Phật thừa. A-nậu-đa-la (阿耨多羅): là vô thƣợng. Tam-miệu (三藐): là chánh đẳng. Tam-Bồ-đề (三菩提): là chánh giác.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 147


Chương III. Chú Giải

Đoạn này nói về việc phát đại nguyện không riêng vì mình mà cầu quả vị trời ngƣời hay Thanh Văn, Bồ Tát, mà nguyện cùng pháp giới chúng sanh đồng thời cùng phát tâm nơi đạo vô thƣợng Bồ Đề, rồi sau rốt thành Phật chuyển bánh xe pháp. Nay cầu cho chúng sanh nghe đƣợc Phật pháp mà đốn phá vô minh, khai mở bổn tánh trạm nhiên mà thành chánh quả vô thƣợng Bồ Đề. “Khể thủ thập phương … từ bi lâm pháp hội.” Khể thủ tức là cúi đầu xuống sát đất, trong một chốc lát có thể nhiếp quy tam nghiệp. Ý khởi khâm thừa, cảm ứng đến tha tâm thông c ủa Phật; thân cúi đầu lễ bái thì cảm ứng đến thiên nhãn thông c ủa Phật; miệng xƣng niệm danh hiệu thì cảm ứng đến thiên nhĩ thông của Phật. “Thập phƣơng điều ngự sƣ” chính là Phật bảo. “Thanh tịnh vi diệu pháp” là pháp bảo. “Tam thừa tứ quả giải thoát tăng” là Tăng bảo. Từ là có thể ban bố niềm vui cho chúng sanh, bi là có thể diệt trừ khổ não vô minh. Lâm pháp hội là cầu thỉnh quang lâm gia hộ. “Phụng thỉnh Tam Bảo.” “Nam mô nhất tâm phụng thỉnh tận hƣ không … quang lâm pháp hội.” Dùng hƣơng hoa trang nghiêm cung thỉnh Tam Bảo khắp cả mƣời phƣơng, chƣ vị Kim Cang mật tích, thiên long bát bộ, cùng các vị Thánh hiền thần tiên. Nguyện các Ngài thƣơng tƣởng chúng hữu tình mà quang lâm pháp hội. “Cẩn y Du Già giáo, …, từ bi ai nạp thọ.” Du-già giáo (瑜伽教): trong kinh đức Phật dạy Ngài A Nan kiến lập đàn tràng bố thí cho Ngạ quỷ. Du-già giáo là ở ý này. Mạn-đáp-lạt (曼答辣): tức là Mạn-đà-la, Kim Cƣơng giới. “Ấn hiện đàn nghi.” “Thiên Thủ Nhãn Tu Hành Nghi vân: nhị thủ tác kim cang quyền, thí giới tuệ lực tƣơng câu, hung tiền vi động, niệm chơn ngôn viết.”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 148


Chương III. Chú Giải

“Ngạn, quan tƣ lai, choang giới lai, hồng, choang hồng, bang hộc.” Chỗ này, có lẽ câu chú thích “Thiên Thủ Nhãn Tu Hành Nghi vân: nhị thủ tác kim cang quyền, thí giới tuệ lực tƣơng câu, hung tiền vi động, niệm chơn ngôn viết” khắc bị nhầm. Tại vì “Thí” (施) là ngón út tay phải, “Giới” (戒) là ngón áp út tay phải, “Tuệ” (慧) là ngón út tay trái, “Lực” (力) là ngón trỏ tay trái. Rõ ràng “Giới” (戒) và “Lực” (力) không thể móc vào nhau (相鉤) đƣợc. “Giới” (戒) phải đổi thành “Tấn” (進) (ngón trỏ tay phải) 18 mới đúng, nhƣ trong “Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ” ghi: “Thiên Thủ Nhãn Tu Hành Nghi vân: nhị thủ tác kim cang quyền, thí tấn tuệ lực tƣơng câu, hung tiền vi động, niệm chơn ngôn viết.”19 Tiêu đề gọi là “Ấn hiện đàn nghi”. Ấn thuộc về mật, hiện đàn nghi thì là hiển. Cho nên, tuy nói là “hiện đàn nghi”, nhƣng thực chất là mật thỉnh. Đây là nói chỗ diệu dụng hiển mật viên thông của giáo pháp Nhƣ Lai. “Đàn nghi” tức là ý trên đã kiến lập Mạn-đà-la, “hiện” tức là ý nói giờ đây dùng thủ ấn hiển hiện cảnh giới Mạn-đà-la ấy để cúng dƣờng chƣ Phật. Đầu tiên là quyết ấn “hiện đàn nghi” này. Kế đến là thỉnh Phật, niệm “Ngạn, choang giới-lai, choang giới-lai, hồng, bang hộc.” Hai tay vận quyền Kim Cang, rồi lấy ngón trỏ và ngón út của hai tay móc vào nhau, ấn để trƣớc ngực. Quán tƣởng trên nguyệt luân có chữ “岆” màu trắng phóng quang, chiếu lên đến trời Sắc Cứu Cánh thỉnh Ngài Trí Quan Âm. Bồ Tát quang lâm đạo tràng phóng vô lƣợng hào quang, cung thỉnh mƣời phƣơng Tam Bảo và chƣ vị hộ pháp, cùng đồng vân tập, phóng hào quang, các vầng hào quang giao nhau nhƣ lƣới báu, huy hoàng rực rỡ thật là hy hữu. Có ngƣời hỏi rằng: “Trong giáo pháp lấy quả làm chủ, nhân làm khách. Nay Ngài Quan Âm phóng hào quang cầu thỉnh chƣ Phật, sao lại lấy nhân làm chủ quả làm khách?” Đáp rằng: “Ở đây có hai nghĩa. Một là hành giả lấy Ngài Quan Âm làm cảnh sở duyên, là trƣớc khế hợp với cảnh ở đây, tức là nhân bao quát quả. Hai là Ngài Quan Âm thời quá khứ chính là Ngài Uy Đức Tự Tại Quang Minh Vƣơng 18

Xem Chƣơng IV, 4.3.1. Thủ ấn Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ, 瑜伽燄口註集纂要儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1084 q2, tr. 0334a13 19

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 149


Chương III. Chú Giải

Nhƣ Lai phát nguyện trở lại làm Bồ Tát độ sanh. Tuy bây giờ thấy là nhân, nhƣng thực ra đã là quả rồi. Ngài Quan Âm vốn xƣng là đại bi, mà nay lại xƣng là trí, là vì không có trí thì cũng chẳng thể vận tâm từ bi đƣợc.”

20

“Đại chúng niệm tam thập ngũ Phật.” Ba mƣơi lăm đức Phật trên đƣợc trích từ Kinh Đại Bảo Tích. “Tỳ Lô Giá Na Phật, …, hằng chuyển vô thượng luân.” Danh hiệu Tỳ-lô-giá-na đã giải thích ở trên. Bổn nguyện của Ngài là thuyết pháp độ sanh khắp trần sát vô cùng vô tận ở trong tất cả các quốc độ. Luân có nghĩa mà dời đổi chuyển vận. Phật pháp chuyển nhập vào tâm chúng sanh, thì có thể dẹp phá phiền não, nghiền nát vô minh, chuyển phàm thành thánh, chuyển cho đến Niết Bàn giác ngộ, thật là tối thƣợng nên gọi là Vô Thƣợng Luân. “Đại chúng niệm tâm kinh nhất biến.” Bát Nhã-Ba-la-mật-đa tâm kinh (tiếng Phạn: Prajñā pāramitā hridaya sūtra) còn đƣợc gọi là Bát Nhã tâm kinh, hay tâm kinh. Đây là bản kinh ngắn nhất của Phật giáo Đại thừa và Thiền tông, chỉ có khoảng hai trăm sáu mƣơi chữ, là tinh yếu của bộ kinh đại Bát Nhã. “Khải cáo thập phương, … chứng vô thượng đạo.” - “Khải cáo thập phƣơng, … vô lƣợng thánh hiền.”: Khải bạch mƣời phƣơng chƣ Phật, Thánh hiền. - “Ngã kim (mỗ giáp), …, dị loại quỷ thần.” Nƣơng nhờ uy thần của chƣ Phật, vận từ bi tâm triệu thỉnh lục đạo chúng sanh. - “Duy nguyện chƣ Phật, …, bi tăng hộ niệm.” Nguyện chƣ Phật, Thánh hiền phóng hào quang, dùng tâm bi mẫn mà gia hộ hành giả, khiến hành giả đƣợc tùy tâm mà mãn nguyện. - “Phổ nguyện thập phƣơng, …, chứng vô thƣợng đạo.” Nguyện cho pháp giới chúng sanh, ngay trong lúc này đƣợc nƣơng thần lực của Nhƣ Lai mà đến nơi đây hƣởng pháp vị cam lồ. Sau phát tâm quảng đại quy y Tam Bảo, ly chƣ ác thú khổ quả, chứng đƣợc đạo quả vô thƣợng, làm lợi ích cho nhất thiết hữu tình.

20

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0284c18

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 150


Chương III. Chú Giải

“Thứ thân ngũ cúng dường, …, từ bi ai nạp thọ.” Từ trong tâm, chữ “岆” phóng hào quang, xuất sanh sáu chữ “帊”, mỗi chữ một màu. Hoa màu hồng nhạt, biểu thị bố thí, khiến cho ngƣời hoan hỷ. Hƣơng màu vàng biểu thị giới, khiến nghiệp hành thơm ngát. Đăng màu đỏ, biểu thị nhẫn nhục, chuyển lửa sân nhuế thành đại quang minh. Đồ màu trắng, biểu thị tinh tấn, thấm nhuần khắp thân. Quả màu hồng hoàng, biểu thị thiền định, thành tựu Phật quả. Nhạc màu xanh lục, biểu thị trí tuế, có thể xuất sanh chủng chủng pháp. Sáu vị thiên mẫu này đều là thể của lục độ Ba-la-mật. Một mặt bốn cánh tay, hai cánh tay ở trên hiệp lại, hai cánh tay ở dƣới kết thành luân tƣơng giao, yểu điệu mỹ mạo. Chân trái quỳ, chân phải bày điệu múa mà cúng dƣờng chƣ Phật. Lại lấy ba chữ “抮丌帊” để gia trì sự cúng dƣờng, khiến biến khắp hằng sa nhiều quốc độ.21 “Nhân duyên tự tánh … Bảo Đàm Hoa Bồ Tát.” Nhân là chủng tử của vạn vật, duyên hiển hiện phát khởi mọi sự, đều do tự tánh xuất sanh chứ chẳng phải do từ ngoài mà có. Niệm thần chú và quyết ấn làm rực rỡ hoa phạm hiển mật. Hỏi rằng: “Quả có vị thiên mẫu này hay sao?” Đáp: “Vị Thiên mẫu này, ở trong Kim Cang giới, đều là đồng bạn với Phật Mẫu Văn Thù, Phổ Hiền, đều từ trí dụng của Ngài Tỳ Lô mà phát xuất, đó là kể ở trong Tam thập thất tôn.” Hỏi rằng: “Đồ là vật gì?” Đáp: “Chính là nƣớc.” Hỏi: “Sao lại không gọi là nƣớc luôn mà gọi là đồ làm gì?” Đáp: “Nhƣ nƣớc sông Hằng, đối với loài thủy tộc thì là nhà, đối với trời thì là lƣu ly, đối với thế gian thì là sóng nƣớc, đối với Ngạ quỷ thì là lửa lớn. Vốn chỉ là nƣớc nhƣng tùy loài mà thấy khác nhau, cho nên tên gọi cũng bất đồng. Nay vị cúng dƣờng là trời, cho nên nƣớc ấy gọi là đồ.” 22 Tam thập thất tôn là “ba mƣơi bảy vị chủ não của Mạn-đà-la Kim Cang giới. Đó là 37 vị trong số 1061 vị của đệ nhất căn bản thành thân hội, gồm năm đức Phật 21

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0285c13 22 Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0285c22

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 151


Chương III. Chú Giải

và bốn vị Ba-la-mật Bồ Tát thuộc đại nhật ở trung ƣơng, mƣời sáu vị đại Bồ Tát thuộc bốn đức Phật khác nhau. Bốn vị nội cúng dàng, bốn vị ngoại cúng dàng, bốn bị nhiếp Bồ Tát.”

23

“Phổ đà lạc già … Quán Tự Tại.” Phổ Đà Lạc Già, tiếng Phạn là Potalaka, là tên núi, cũng là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm tham thiền nhập định, tùy duyên cảm ứng, thị hiện phổ môn, có cầu tất ứng, chẳng có nơi nào bị thiếu sót, một niệm xƣng danh thì đƣợc thoát khổ. Trƣớc gọi là Quan Thế Âm, nay gọi Quán Tự Tại. Hai chữ Tự Tại là tổng nói tự lợi, lợi tha. Tự lợi là Bồ Tát dùng trí không Bát Nhã chiếu suốt tâm và sắc, thanh tịnh viên dung, sự lý là một. Còn về lợi tha, là nhớ nghĩ đến chúng sanh bị tám khổ bức bách, chẳng biết lối thoát, Bồ Tát tùy theo chủng loại căn cơ mà thuyết pháp hóa độ, khiến cho tất cả đều đƣợc tự tại. Việc lợi tha này cũng là do nơi tự lợi, còn ngọn nguồn của sự phát khởi trí đức lại chính là lợi tha. Sự tạo lập ân đức thành trí đức thì từ hóa kẻ vô duyên, thành ân đức thì tâm bi mẫn đồng thể bao hàm tất cả. Lấy cái đồng thể đó mà từ tâm khởi lên vô tâm, từ cái vô duyên đó mà hóa độ thành đại hóa, nhƣ thế thì khổ nào mà không thâu nhiếp đƣợc, niềm an vui nào mà không có đƣợc, lại quán hết các căn lợi độn có khổ nào chƣa thâu nhiếp rồi oán thân đều cứu độ. Do đó mà Bồ Tát còn đƣợc xƣng là Tự tại. “Thứ nhập Quan Âm thiền định.” Ở trên là cúng dƣờng Tam Bảo, gọi là tác phƣớc môn, có phƣớc mà không có trí, ắt bị lạc vào nhân quả trời ngƣời, đâu có thể lợi sanh. Nay nếu nhƣ tu tập thiền đinh Quan Âm này thì chắc sẽ phát trí. Đầy đủ phƣớc trí thì đồng nhƣ chƣ Phật, sau làm lợi ích cho pháp giới chúng sanh. Kinh sƣ bạch rằng: “Thứ nhập Quan Âm thiền định”, sƣ nhập thiền định, duy na tụng kệ, âm thanh uyển chuyển thanh lƣơng, chẳng thể quá cứng nhắc, sợ làm phƣơng hại đến việc quán tƣởng, cũng không đƣợc quá giống với âm thanh của nữ nhân thế tục. Khi nhập thiền định, khép mắt tĩnh tâm, quán tƣởng tự thân viên mãn thanh tịnh, giống nhƣ trăng tròn. Từ tâm ấy quán chữ “岆” phóng quang minh, chữ ấy lại biến thành hoa sen tám cánh. Trên hoa có đức Quán Tự Tại Bồ Tát tƣớng tốt quang minh, tay trái c ầm hoa sen, tay phải duỗi ra.

23

Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1994, Từ Điển Phật Học Hán Việt II, tr. 1335

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 152


Chương III. Chú Giải

Tƣ duy nhƣ vậy rồi quán trong tất cả loài hữu tình đều xuất hiện đóa sen giác ngộ này, thanh tịnh pháp giới, không nhiễm phiền não. Mỗi cánh trên hoa sen tám cánh đều hiện lên một đức Nhƣ Lai đang kiết già nhập định, mặt hƣớng về Ngài Quán Tự Tại, cổ tỏa hào quang, thân màu hoàng kim, sáng chói rực rỡ. Lại quán tƣởng hoa sen tám cánh ấy cành lúc càng to lớn, lớn bằng hƣ không. Từ giác hoa đó chiếu đến các đức Nhƣ Lai, nguyện thành sự cúng dƣờng quảng đại, tâm không thối lui. Ở trong định này, đối với các loài hữu tình mà khởi lòng bi mẫn thâm sâu, dùng giác hoa đó chiếu khắp khiến giải thoát hết mọi khổ não, cùng đƣợc tƣớng tốt nhƣ Bồ Tát. Sau đó lại quán tƣởng hoa sen từ từ thâu nhỏ lại nhƣ ban đầu. Quyết ấn niệm chú gia trì bốn nơi. Do sự gia trì này mà thân đƣợc kiên cố, tâm, trán, yết hầu, đầu mỗi mỗi đều gia trì. Thƣ chữ “岆”, hai tay đan vào nhau, hai đ ầu ngón tay dựa vào nhau nhƣ các cánh hoa sen, hai ngón cái thẳng. Sau đó tụng Quán Tự Tại chơn ngôn, Quan Âm Bồ Tát thiền định kệ.24 - “Nam mô vô tận Tam Bảo tôn, …, tốc chứng Quan Âm vi diệu thân.” Nam mô là quy mạng. Vô tận Tam Bảo Tôn là tất cả Phật Pháp Tăng khắp cả mƣời phƣơng. Bồ Đề tâm là tâm giác ngộ. Mƣời phƣơng chƣ Phật ba đời không ai là không trƣớc phát Bồ Đề tâm rồi mới tu hành chứng quả. Nay hành giả muốn hành hạnh lợi sanh nên phát Bồ Đề tâm. Khi đã phát Bồ Đề tâm rồi thì nguyện chƣ Bồ Tát từ bi gia hộ, khiến cho hành giả sớm chứng đắc thân nhƣ Quan Âm Đại Sĩ, tâm cũng nhân đó mà vận hạnh từ bi lợi sanh một cách không chƣớng ngại. Bốn câu trên mang ý nghĩa là quy kính thỉnh cầu gia hộ. - “Thứ nhập Quan Âm Tam ma địa, trừng tâm bế mục quán tâm trung.” Hàm ý khi tụng câu này là báo cho Hành giả biết đã đến lúc nhập định. Phạn ngữ Samādhi, Hán phiên âm là Tam-ma-địa, dịch là đẳng trì, ý là nhậm trì một cách bình đẳng. Cũng gọi là chánh định, vì thiên lệch nên gọi là chánh, không hôn trầm trạo cử nên gọi là định. Nhập vào Quan Âm Tam-ma-địa này thì có thể ở khắp mọi nơi rộng độ lợi ích chúng sanh.

24

Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修習瑜伽集要施食壇儀, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1083 0311a15 - 0311b14

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 153


Chương III. Chú Giải

Trừng tâm tức là đình chỉ tâm lại, nhƣ mặt hồ phẳng lặng trong xanh, nội tâm chẳng khởi lên điều gì cả. Bế mục là khép mắt, vận dụng quán sát, là không quán ngoại cảnh mà tập trung quán sát tâm, không để ngoại cảnh xâm nhập chi phối. Cảnh vốn do tâm hiện, tâm cũng nhân nơi c ảnh mà có. Hai thứ ấy làm nhân cho nhau khiến cho vọng tƣởng nổi lên liên tục chẳng dứt. Trƣớc thì làm tâm tĩnh lặng, cảnh mới không có nhân để mà hiển hiện. Sau lại khép mắt để tâm chẳng còn tiếp xúc bên ngoài nữa, do đó duy trì đƣợc sự tĩnh tâm. - “Viên mãn hạo khiết tịnh nguyệt thƣợng, tự chủng quang minh thành liên hoa.” Tự tánh xƣa nay vốn viên mãn, hạo khiết, nhƣ trăng mùa thu chẳng bị mây che, tròn mà đầy đặn, sáng mà thanh sạch, chiếu khắp mọi nơi. Đó là thể và dụng khác nhau. Rồi từ cái tâm viên mãn nhƣ mặt trăng ấy có chữ “岆” màu hoàng kim tỏa hào quang, rồi biến thành hoa sen. - “Hoa trung hữu nhất Quán Tự Tại, tƣớng hảo cụ túc vô tỉ đối.” Chữ “岆” sau khi phóng quang biến thành hoa sen, trên đóa hoa lại hiển hiện chân hình của Ngài Quán Tự Tại. “Vô tỷ đối” là chẳng có gì có thể so sánh. Đó là nói một cách khái quát, đầy đủ thì phải nói là “một mặt, bốn tay, thân màu vàng, đội mũ bằng ngọc anh lạc, trang nghiêm vi diệu, chẳng ai có thể sánh bằng đƣợc.” - “Tả thủ chấp trì diệu liên hoa, hữu thủ ƣ diệp tác khai thế.” Tay trái biểu thị cho thật trí không phân biệt. Tay cầm hoa sen là biểu đạt thật tƣớng vốn vô tƣớng, là ý thật tƣớng khế hợp với thật trí. Tay phải biểu thị cho quyền trí, là chỉ cho tác dụng. Nói “ƣ diệp” là ý khi hoa nở thì đài sen hiện, là nhân hoa đã bày, quả tất tự hiển hiện. “Tác khai thế” là khai quyền hiển thật, hiện quả vị cứu cánh. - “Bồ Tát tƣ duy hữu tình thân, các cụ giác ngộ chi liên hoa.” Kinh dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Hai câu trên chính là mang ý nghĩa này. Tất cả chúng sanh không có ai là không có Phật tánh, đều cùng một thể tánh với chƣ vị Bồ Tát. Nhƣng mà chúng sanh do u mê nhận lầm trần cảnh, ham thích ngũ dục mà quên mất lối về, không tự giác ngộ đƣợc, thật là đáng thƣơng. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 154


Chương III. Chú Giải

Nếu nhƣ lìa các vọng tƣởng thì Vô sƣ trí tự nhiên hiện ra trƣớc mắt. Ta nay nên vì chúng sanh mà khai mở giáo hóa dẫn dắt chúng.” - “Thanh tịnh pháp giới vô hoặc nhiễm” Chơn pháp giới từ xƣa nay vốn thanh tịnh, cả một hạt bụi cũng không có, cũng chẳng có chút gì phiền não hoặc nhiễm. Nhƣ đóa hoa sen chẳng bị dính bùn nhơ. - “Bát diệp các hữu nhất Nhƣ Lai.” Tám cánh là biểu thị cho tám thức. Một đóa hoa biểu thị cho tâm, tám cánh ấy kết thành một đóa hoa, cũng nhƣ tổng tám thức cũng chính là tâm. Ở trên Bồ Tát chuyển thức thành trí là chỉ một tâm, cho nên chẳng nói là tám cánh. Còn chúng sanh thì bị vô minh vọng tƣởng, chấp trƣớc phiền não khiến tám thức hiện thành, cho nên duy chỉ có chỗ này nói lên tám cánh. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: “Nƣơng vào Nhƣ Lai tàng mà có tâm sanh diệt, đó là bất sanh bất diệt hòa hiệp với sanh diệt, không phải nhất cũng chẳng phải dị, gọi là thức A-lại-da. Thức này có hai nghĩa, có thể nhiếp thọ tất cả các pháp, cũng có thể sanh khởi tất cả pháp. - “Nhƣ Lai nhập định già phu tọa, các các diện hƣớng Quán Tự Tại.” Già-phu-tọa là thế ngồi kiết già nhập định. Các đức Nhƣ Lai Lai hƣớng mặt về phía Bồ Tát là ý Bồ Tát xƣa đã là Chánh Pháp Minh Nhƣ Lai, do đó mà đồng đẳng không sai biệt. Hoa sen biểu ý nhân quả đồng thời, Bồ Tát cũng là nhân quả đồng thời. Hoa là nhân, sen là quả. Nay quả lại là Bồ Tát, ý là nhân bao quát quả. Trên hoa có đức Nhƣ Lai, tức là quả thấu suốt nhân. - “Hạng bội viên quang thân kim sắc, quang minh lãng chiếu cập hoảng diệu.” “Hạng bội viên quang” là cổ tỏa ánh hào quang, “thân kim sắc” là thân sắc màu hoàng kim chói sáng rực rỡ. Đây là ý tán dƣơng thân tƣớng đẹp đẽ gồm đủ ba mƣơi hai tƣớng tốt, tám mƣơi vẻ đẹp của Nhƣ Lai và Bồ Tát. “Quang minh lãng chiếu cập hoảng diệu” là hào quang phóng chiếu khắp muôn ngàn thế giới, khiến cho pháp giới đƣợc sáng sủa. Đây là ý tán thán cảnh Phật thù thắng. - “Thứ tƣởng kỳ hoa thƣ tiệm đại, kỳ lƣợng châu biến hƣ không giới.” Tất cả những cảnh tƣợng nhƣ trên đều từ tâm hành giả mà hiển hiện đều từ nơi việc quán tƣởng mà thành. Do đó mà câu này có thêm hai chữ “thứ tƣởng”. Tức là bây giờ hành giả quán tƣởng đóa hoa kia lớn dần lên, bao trùm khắp cả pháp giới. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 155


Chương III. Chú Giải

Hàm ý của câu này là dùng Tam muội chiếu sáng đóa hoa tâm của chính hành giả, khiến cho tâm ý đƣợc khai mở. Tức là dùng lý tƣơng ứng làm hoa kia to lớn, dùng sự bao quát lý cho nên có thể làm cho lớn dần lên. Lý tùy theo sự mà biến hóa nên có thể biến ra khắp pháp giới. Cũng chƣa từng có sự nào mà không y nơi lý cho nên sự tùy theo lý mà mỗi mỗi đều nhƣ lý viên mãn, lại khiến khi một hạt bụi biến khắp pháp giới thì tất cả bụi trần đều biển chuyển nhƣ thế. Nhất đa vô ngại, đại tiểu tƣơng dung, đó chính là lý sự vô ngại pháp giới. - “Tƣ bỉ giác hoa chiếu Pháp giới, Nhƣ Lai hải hội cọng quảng đại.” Là tƣ duy về đóa hoa bổn giác kia đồng thời cùng hải hội Nhƣ Lai phổ chiếu hào quang cùng khắp mƣời phƣơng, cũng không ở hai nơi khác nhau. Đây là hàm ý bản tâm giác ngộ của vạn loại hữu tình cùng đồng chiếu khắp pháp giới không bị chƣớng ngại, liên tục trùng trùng, nhƣ ngàn cây đèn trong một ngôi nhà, sáng mãi chẳng tắt. Đó chính là sự sự vô ngại pháp giới. - “Tâm nhƣợc bất di ƣ thử định, lân mẫn nhất thiết chƣ chúng sanh.” Tâm chẳng rời nơi cảnh giới thiền định, đó là tự giác. Rồi lại phát khởi lòng bi mẫn đối với tất cả các loại hữu tình, đó chính là hạnh lợi tha. Chúng sanh mê đắm trong dục tình mà quên mất bản tánh trạm nhiên giác ngộ, nhƣ ngƣời ôm châu báu mà đi làm kẻ thuê mƣớn, vốn quang minh thanh tịnh mà mê mờ chƣa giác ngộ, cứ trôi lăn trong ngục tam giới. Hành giả nay chứng đắc cảnh giới thiền định quảng đại vô ngại, dùng từ quang chiếu khắp khiến cho chúng sanh cũng đốn ngộ Phật tánh. - “Giác hoa mông chiếu thoát khổ não, tiện đồng Bồ tát Quán Tự Tại.” Đóa giác hoa kia một khi chiếu tỏa hào quang, thì nhƣ ngọn đèn xua tan đi bóng tối ngàn năm trong căn nhà tam giới, do đó mà lìa hẳn các khổ não. Tuệ giác khai mở thì giác ngộ vô sanh, đồng thể với Bồ Tát mà chẳng sai biệt. - “Liên Hoa tiệm thâu đồng kỷ lƣợng.” Tám câu ở trên đều nói về việc đóa sen lớn ra, duy chỉ câu này là nói thâu vào. Tức là ý kết thúc cảnh giới thiền định. - “Phục kết Tự Tại Quán Âm ấn, …, tự thân diệc đẳng Quán Tự Tại.” Trên vừa nói kết thúc cảnh giới thiền định, nay nói phục quyết ấn. Khi nhập định thì thân tâm bất động thanh tịnh kiên cố đồng nhƣ chƣ Phật, nay xả định thì lại Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 156


Chương III. Chú Giải

trở về với thân thể phàm phu. Do đó mà phải quyết ấn Quán Tự Tại để tiếp tục gia trì bốn chỗ, không để thân tâm bị xao động. Về ý “gia trì tứ xứ”, trong “Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi” có đoạn nhƣ sau: Hỏi rằng: “Rõ ràng là gia trì năm xứ, sao lại chỉ nói có bốn?” Đáp: “Ban đầu khi đăng tòa thì đã liền khởi lên thể tánh của Bồ Tát Quan Âm, từ trong tâm chữ “岆” tăng trƣởng thể tánh của Ngài cho nên tâm không lìa chữ “岆”. Đó là nghĩa bản thể đầy đủ pháp vô lậu, cho đến khi hạ tòa thì mới không hiện nữa, cho nên không nói là năm chỗ. Bốn chỗ là đỉnh đầu, miệng, yết hầu và rốn. Quán chữ “帊” để gia trì đỉnh đầu, mang ý nghĩa chơn nhƣ công đ ức. Gia trì nhƣ thế thì không thể bị khuất phục đƣợc nữa. Kế là quán tƣởng chữ “抮” để gia trì miệng, mang ý nghĩa là tƣớng tốt của Nhƣ Lai. Rồi sau quán chữ “乇” để gia trì yết hầu, mang ý nghĩa chủng chủng trang nghiêm. Cuối cùng là quán chữ “歾” để gia trì rốn, có thể khiến thân tâm thanh tịnh, trong suốt tĩnh lặng nhƣ nƣớc. Gia trì nhƣ thế thì còn lo gì thân tâm chẳng đồng thể vô lậu với Bồ Tát.25 Trong “Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ” cũng nói: Bốn chỗ đó là đỉnh đầu, yết hầu, tâm và rốn. Vị gia trì nên biết, ở mỗi chỗ đều dùng thủ ấn án ngữ. Tụng chơn ngôn một lần, dùng chữ “抮” để gia trì, rồi lấy thủ ấn án ngữ ở miệng. Kế chữ “帊” gia trì đỉnh đầu, chữ “歾” gia trì rốn, chữ “岆” gia trì tâm, chữ “乇” gia trì yết hầu.

26

Xét kỹ, tuy văn từ khác nhau, nhƣng nội dung tƣơng đồng. “Thứ nhập Quan Âm ấn.” “Ngạn quan tƣ lai, kháp lai mọ, kia rị. Hồng, thƣ lãm, kia rị, a.” “Dĩ thử thiền định …quảng đại nguyện.”

25

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0289c17 26 Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ, 瑜伽燄口註集纂要儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1084, tr. 0337a26

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 157


Chương III. Chú Giải

Bốn câu này ý nói mang hết những công đức do thiền định mà có hồi hƣớng cho khắp pháp giới chúng sanh, khiến cho cùng vãng sanh Tây phƣơng, thấy Phật, nghe pháp, thành tựu đƣợc đại nguyện nhƣ Ngài Phổ Hiền. “Nhược nhân dục liễu tri, …, nhất thiết duy tâm tạo.” Sau khi nhập định xem xét căn cơ, giờ quán sát tam giới vô an giống nhƣ nhà lửa. Tất cả chúng sanh đều bị tám khổ bức thân, tâm bị phiền não thiêu đốt, cầu mong xả bỏ hay ngừng nghỉ chút đỉnh cũng không thể đƣợc. Chúng sanh vốn xƣa nay cùng hành giả đồng một thể, hành giả sao có thể an lạc trong khi chúng sanh phải bị luân hồi. Vậy nên hƣng vận từ bi, nƣơng nhờ định lực mà cứu độ chúng sanh. Do đó nên xƣng tụng pháp âm, đó là con đƣờng thiết yếu. Tam quang đồng thời phổ chiếu, phá tan đêm dài tăm tối, phạm âm diễn thuyết thì địa ngục liền không, thần ân phổ hóa thì khổ não ngừng dứt, khiến cho giƣờng sắt cột đồng biến thành đƣơng thể toàn chân, những kẻ phàm phu cùng chứng bảo thừa. Cho nên kinh nói: “Lành thay khi đƣợc thấy chƣ Phật, đấng thánh tôn cứu thế, luôn ở trong ngục tam giới mà cứu vớt chúng sanh.” Nay muốn phá tan địa ngục để cứu độ chúng sanh, trƣớc tụng kệ kinh Hoa Nghiêm. Kệ này ý nghĩa nói rõ ý chỉ duy tâm. Cổ nhân nói: A-tỳ y chánh, thƣờng trú nơi tự tâm của bậc thánh. Pháp thân của chƣ Phật vốn chẳng lìa chúng phàm phu. Có thể đạt đƣợc đạo lý không tánh thì các khổ não tự nhiên chẳng còn. Chỉ cần hiểu rõ tâm tánh hiện lƣợng thì đâu khác niềm vui ở cõi thiền thiên. Nói khổ là mang ý giả thiết. Giả sử có ngƣời muốn biết rõ ba đời chƣ Phật thành tựu nhƣ thế nào, thì nên quán sát tánh của pháp giới. Bản thể chơn nhƣ xƣa nay vốn không phân biệt Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 158


Chương III. Chú Giải

thánh phàm, nhân tùy duyên mà t ạo nghiệp nên có sự khác nhau. Cho nên mƣời giới thăng trầm trong lục đạo chẳng đồng. Việc ấy là thế nào? Nếu chơn nhƣ tùy duyên vô minh mà tạo nghiệp ô nhiễm thì chắc cảm ứng quả báo sa đọa vào lục đạo. Nếu chơn nhƣ tùy duyên bất tƣ nghì mà tu tập giới định tuệ, thì sẽ chứng đƣợc tứ thánh quả. Cho nên nói tất cả đều do tâm tạo. Kinh nói: “Tam giới không có pháp nào sai biệt, chỉ do tâm tạo ra mà thôi.” Tông cảnh lục nói: “Nên quán tánh của pháp giới là chơn nhƣ lý quán. Tất cả đều do tâm tạo là duy thức sự quán. Dùng lý mà quán tánh duy thức. Chƣ Phật chứng đƣợc cái thể của Phật là nhờ dùng sự mà quán tƣớng duy thức. Chúng sanh chứng đạt đƣợc điều này là cánh c ửa thiết yếu, dùng một lời văn vi diệu mà nhiếp nghĩa không thay đổi, dùng công đức của một bài kệ mà có thể phá tan địa ngục. “Toan Linh Ký” nói rằng: Có ngƣời ở Kinh Triệu tên là Vƣơng Minh Cán, vốn không hành trì giới đức, chƣa từng làm việc thiện, mắc bệnh mà chết, bị hai ngƣời giải đến trƣớc cửa địa ngục, thì trong tâm niệm Địa Tạng Bồ Tát, rồi thấy một vị tăng tụng bài kệ: “Nhƣợc nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ƣng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo” thì đƣợc Bồ Tát thọ kí cho. Lại nói tụng kệ này thì có thể phá tan đƣợc cái khổ của địa ngục. Ngƣời kia tụng xong thì vào thấy Vƣơng. Vƣơng hỏi ngƣời kia rằng tụng kệ có công đức gì. Đáp rằng: Chỉ trì tụng một kệ này thôi thì công đức nhƣ trên đã nói. Vƣơng đƣợc tha miễn, lúc trì tụng kệ, âm thanh vang đến khắp nơi, những ngƣời thọ khổ đều đƣợc giải thoát. Ba này sau, Vƣơng sống lại. Nhớ đến việc trì tụng kệ này mà nói cho mọi ngƣời. Tìm hiểu văn kệ thì thấy là ở trong Hoa Nghiêm, khi vô lƣợng chƣ vị Bồ Tát vân tập, Bồ Tát Giác Lâm đã nói kệ này. Ý ở đây là nói rõ địa ngục cũng do tâm tạo, liễu tri tâm làm Phật thì địa ngục tự tan biến. Cho nên nếu quán sát tâm này thì không chỉ là lìa khổ, không chỉ là phá tan địa ngục, mà còn cùng lúc phá hết cả mƣời pháp giới, rồi nhập vào cõi chơn nhƣ.27 “Thứ kết phá địa ngục ấn.” “Lƣỡng vũ Kim Cang quyền thí giới lƣỡng tƣơng câu tấn lực thân tƣơng trú niệm tƣởng khai địa ngục tam thông tam xế khai chơn ngôn:

27

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0290a17

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 159


Chương III. Chú Giải

Nại mo a sắc sá, a sắc sá, tiếp đề nẫm, tam miệu tam bụt thạp câu chi nẫm, ngạn choác lạp nại phà bà tế đế rị đế rị hồng.”

Trong bản Báo Quốc thì khắc hình thủ ấn nhƣ trên. Nhƣng trong các bản Hán tạng đều khắc là:

Có lẽ bản Báo Quốc khắc nhầm, tại vì ngay câu chú thích đã có chỗ nhầm lẫn: “Lƣỡng vũ kim cang quyền, thí giới lƣỡng tƣơng câu, tấn lực thân tƣơng trú, niệm tƣởng khai địa ngũ tam thông tam xế, khai chơn ngôn”. Thí (施) là ngón út của tay phải, giới (戒) là ngón vô danh (áp út) cũng là của tay phải

28

, hai ngón cùng một

bàn tay, làm sao có thể móc vào nhau đƣợc (施戒两相鉤). Còn trong Hán tạng, câu 28

Xem Chƣơng IV, 4.3.1. Thủ ấn

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 160


Chương III. Chú Giải

chú thích kèm theo rất chính xác “(…)thí tuệ lƣỡng tƣơng câu, tấn lực thân tƣơng trú, (…)” 29 (hai ngón út móc vào nhau, hai ngón trỏ đứng tựa vào nhau). Tra cứu Hán tạng, thì ấn tƣớng mà bản Báo Quốc khắc giống với Bảo Thắng Nhƣ Lai ấn:

Địa ngục (地獄): “Naraka, Niraya, Hán dịch là bất lạc, khả yếm, khổ cụ, khổ khí, vô hữu, chỉ nơi chẳng vui, đáng chán, đủ mọi cảnh khổ, chốn khổ cực… Vì nơi ấy nƣơng tựa vào cõi dƣới đất nên gọi là địa ngục.” 30 Trong kinh có kể ra 18 địa ngục Niraya nhƣ sau: 1. Tiên-tựu-hồ, 2. Cƣ-lƣ-tốtlƣợc, 3. Tang-cƣ-đô, 4. Lâu, 5. Bàng-tốt, 6. Thảo-ô-ti-thứ, 7. Đô-ý-nạn-thả, 8. Bâtlƣ-đô-ban-hô, 9. Ô-cánh-đô, 10. Nê-lô-đô, 11. Ô-lƣợc, 12. Ô-mãn, 13. Ô-tịch, 14. Ô-hô, 15. Tu-kiền-cừ, 16. Mạt-đầu-càn-trực-hô, 17. Khu-bô-đồ, 18. Trầm-mạc.

31

Quyết ấn tụng chú làm tăng trƣởng tự tâm thành Ngài Quan Thế Âm màu hồng. Tâm, lƣỡi và trên thủ ấn đều có chữ “岆” màu hồng phóng quang, giống nhƣ mặt trời vừa ló dạng. Ba đạo hào quang cùng chiếu thẳng xuống địa ngục A-tỳ. Chỗ tối tăm kia đƣợc chiếu sáng tức thời liền tán hoại. Kinh “Quán Phật Tam Muội” nói: Bấy giờ tâm Phật nhƣ hoa sen, lá sen phóng ra tám vạn bốn nghìn đ ạo hào quang màu trắng. Ánh hào quang ấy chiếu khắp năm đạo chúng sanh. Hào quang ấy chiếu đến thì hiện bày những chúng sanh đang thọ khổ. Nói về địa ngục A-tỳ, thì có mƣời tám ngục nhỏ, tám nóng tám lạnh, cho đến trăm vạn địa ngục rừng đao, tất cả đều bị 29

Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ, 瑜伽燄口註集纂要儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1084, tr. 0338a23 30 Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, Từ Điển Phật Học Hán Việt I, tr. 448 31 Phật Thuyết Thập Bát Nê Lê Kinh, 佛說十八泥犁經, Đại Chánh Tạng, T17, No. 0731, tr. 0528c020529c25

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 161


Chương III. Chú Giải

tán hoại. Nay hành giả cũng đang quán nhƣ thế. Hỏi rằng: “Một chỗ phóng quang thì đã đủ để phá rồi, sao còn dùng đến cả ba?” Đáp: “Vì chúng sanh vọng tạo ba nghiệp mà thành địa ngục này. Cho nên nay cũng dùng ba nghiệp phóng quang để mà chiếu phá”. Lại hỏi rằng: “Địa ngục bao gồm nhiều chúng sanh khác nghiệp nhau mà thành, làm sao để phá?” Đáp: “Tuy gọi là biệt nghiệp nhƣng mà đều là do tâm. Lấy trí tuệ mà soi chiếu thì chúng sanh cũng là không, hà huống là địa ngục. Do mê lầm mà cọng tạo các ác nghiệp, quả báo sanh về địa ngục rồi vọng kiến các khổ. Giống nhƣ trong mộng thấy bị cọp sói cắn, sƣ tử vồ, hoặc bị giặc giết hại, hoặc gặp oan hình mà chịu các khổ não, rồi đến khi tỉnh lại thì biết là không có chuyện đó. Nay quán sát khổ báo địa ngục cũng là nhƣ vậy. Đã không có lực chiếu của trí tuệ, cũng chẳng có bất cứ thứ gì bị phá cả”. Hỏi rằng: “Địa ngục đã vốn là không, vậy còn phá để cứu cái gì?” Đáp: “Hành giả tuy lấy trí soi chiếu địa ngục là không, nhƣng chúng sanh vô trí làm sao biết đƣợc là khổ vốn không”. Kinh Viên Giác nói: Lúc mộng chẳng phải không, cho đến khi tỉnh mới biết là chẳng có. Nay muốn phá địa ngục và khổ thì nên biết chúng sanh lấy ác nghiệp nhân duyên mà tạo thành địa ngục, thật không có mà chấp thấy có. Hành giả nay dùng trí quán chiếu nhân duyên mà phá. Một là thiền định, hai là thủ ấn, ba là chơn ngôn, bốn là tác quán, năm là trí chiếu. Có năm duyên đó thì có việc gì mà không phá giải đƣợc. Đâu chỉ có địa ngục mà đến cả ba cõi hai mƣơi lăm hữu cũng đều phá hết. Học giả ngày nay lạm xƣng là Xà-lê mà chỉ biết dùng âm thanh véo von, rung linh đánh mõ, thiết nghĩ sợ phụ cái tâm ý chân thành của trai chủ.32 “Do thử ấn chú oai thần lực cố, sở hữu chƣ thú địa ngục chi môn, tùy thử ấn chú, (đồng hòa) hoát nhiên tự khai.” Chơn ngôn và ấn chú có uy thần lực không thể nghĩ bàn, khiến cửa địa ngục bị mở tung ra. Kế vận tâm nâng thủ lƣ mà thỉnh. “Địa Tạng thập vương … phán sanh thiên.” Địa Tạng Bồ Tát (Kṣ itigarbha), giáo chủ cõi U minh, là một trong những vị đại Bồ Tát với hạnh nguyện to lớn, nguyện cứu hết chúng sanh đau khổ trong địa ngục thì Ngài mới thành Phật. Nhƣng chúng sanh vốn dĩ tạo nghiệp vô lƣợng vô biên nên

32

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0290c03

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 162


Chương III. Chú Giải

sự cứu độ của Ngài cũng miệt mài đến vô biên vô lƣợng. Hình ảnh của Ngài thƣờng đƣợc bắt gặp là khoác Ca-sa đỏ, tay cầm tích trƣợng, tay cầm ngọc minh châu nhƣ ý, biểu đạt Ngài dộng tan địa ngục, soi rõ đƣờng mê. “Nam mô nhất tâm phụng thỉnh chúng sanh độ tận, phương chứng bồ đề … quang lâm pháp hội.” Phụng thỉnh Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát. Ngài Địa Tạng có phát khởi đại nguyện độ hết chúng sanh chịu cảnh đau khổ trong địa ngục rồi mới chứng thành đạo quả Bồ Đề. “Nam mô nhất tâm phụng thỉnh thủ kình phan cái, thân quải hoa man, … quang lâm pháp hội.” Phụng thỉnh U Minh Lộ Thƣợng Dẫn Hồn Vƣơng Bồ Tát.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 163


Chương III. Chú Giải

“Nam mô nhất tâm phụng thỉnh Tần Quảng Sở Giang, … quang lâm pháp hội.” Thập vƣơng là mƣời vị vua ở địa ngục có trách nhiệm phán xét các loại tội ác khác nhau của con ngƣời, bao gồm: Tần Quảng, Sở Giang, Tống Đế, Ngũ Quan, Diêm La, Biến Thành, Thái Sơn, Bình Đẳng, Đô Thị và Chuyển Luân Vƣơng. Đã phá địa ngục rồi mà còn thỉnh Địa Tạng Bồ Tát và các vị Minh Vƣơng để làm gì? Địa Tạng Bồ Tát là giáo chủ cõi U minh. Tam giới đều là ngục sanh tử, Bồ Tát thị hiện trong tam giới, đắc tam giới không, ắt sẽ thành Phật, thƣờng ở trong địa ngục mà giáo hóa chúng sanh. Cho nên, phải trƣớc phá địa ngục thành không rồi mới thỉnh. Thỉnh xong thì kết tứ chuyển luân ấn, niệm ngũ cúng, vận tâm thí minh châu để cúng dƣờng. Lúc này tuyên đọc sớ tiến vong linh tiên tổ. Kế nƣơng hào quang mà triệu thỉnh các loại cô hồn. Trƣớc là liệt thỉnh một lần, rồi sau chấn linh tán trạo, đó gọi là hiển triệu. Về trú xứ của loài quỷ, thì ở Nam Thiệm Bộ Châu, cách năm trăm do tuần, có Diễm-ma giới, là nơi ở của tất cả loài quỷ. Nếu theo Lăng Nghiêm, thì trú xứ của quỷ là ở dƣới thủy luân, trên hỏa luân, địa ngục thì lại ở nơi gió lửa giao nhau. Từ đó trở đi, tức là bát đại, đến đáy gọi là A-tỳ, tiếng Phạn là Naraka, hoặc là Nê-lê, Hán dịch là khổ cực, là tên gọi chung của địa ngục.33 “Vận tâm bình đẳng, …, de tóa ha.” Phật từ bi phổ độ chúng sanh, không phân biệt sang hèn. Bình đẳng là cái điểm vô ngại nhất đối với việc độ sanh. Nếu có sự phân biệt là còn có chấp trƣớc, có chấp trƣớc thì làm sao độ thoát chúng sanh đƣợc. Cho nên hành giả nƣơng theo chƣ Phật, vận từ bi tâm bình đẳng mà chẩn độ quần sanh. “Thu vũ ngô đồng, …, de tóa ha.” Mùa thu lá ngô đồng rụng. Đây là một đoạn văn tả cảnh chiều thu ảm đạm. Ngày xƣa thiết đàn chẩn tế thủy lục thƣờng vào mùa thu, trong mùa Vu lan, ngày nay ở Việt Nam thì đƣợc tổ chức quanh năm. Cây ngô đồng không phải là hình tƣợng mùa thu của Việt Nam, nói cách khác là không đƣợc phổ biến cho lắm. Thiết nghĩ văn này cũng nên đổi cho hợp với thời gian, hoàn cảnh. Cụ Nguyễn Du trong “Văn Chiêu Hồn” có một đoạn:

33

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0291a05

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 164


Chương III. Chú Giải

“Tiết đầu thu lập đàn giải thoát, Nƣớc tịnh bình sái hạt dƣơng chi, Muôn nhờ đức Phật từ bi, Giải oan cứu khổ độ về Tây phƣơng.” Nghĩ ra có thể đổi chữ “thu” thành xuân, hạ, đông, rồi thế cho “thu vũ ngô đồng diệp lạc thời, dạ thê thê”. Đó chỉ là thiển ý của ngƣời viết mà thôi. “Kim dạ đạo tràng …, de tóa ha.” Nhƣ trên đã nói, việc thí thực đƣợc thiết cúng vào lúc chiều tối. Do đó mới nói là “kim dạ”. “Nhất tâm triệu thỉnh kim ô tợ tiễn, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Kim ô (金烏): ác vàng, chỉ mặt trời. Ngọc thố (玉兔): thỏ ngọc, chỉ mặt trăng. “Nhất tâm triệu thỉnh viễn quan sơn hữu sắc, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Chữ “卸” âm là “tá”, có nghĩa là “rụng”. Nay đa phần thấy đọc là “ngự”, có lẽ là do giống chữ “御” (ngự) chăng? “Nhất tâm triệu thỉnh khổ hải thao thao nghiệp tự chiêu, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Đoạn này diễn tả nhơn địa dẫn đến khổ đau của chúng sanh. Rồi khuyên răn chúng sanh nên niệm danh hiệu của Đức Di Đà để thoát khỏi sanh tử. Lần thỉnh này với hai lần thỉnh trên, cộng lại là ba lần triệu thỉnh vong linh thân quyến của trai chủ. “Nhất tâm triệu thỉnh lụy triều đế chúa, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Chữ “thực” (食) ở cuối, nay thấy trong gia trì đa phần chuyển đọc thành chữ “vị” (味). Có lẽ là đổi cho hợp với âm điệu. Tây lai chiến hạm (西來戰艦): tích nói về Vƣơng Tuấn (王濬; 206-285), một đại tƣớng nhà Tây Tấn trong lịch sử Trung Quốc. Ông có công tiêu diệt nƣớc Đông Ngô, thống nhất Trung Quốc sau thời kỳ chia cắt tam quốc. Khi chuẩn bị đánh Ngô, Vƣơng Tuấn đóng thuyền lớn, to rộng, nhiều chiếc kết lại với nhau thành thuyền lớn hơn nữa. Trên thuyền có lầu quan sát, cửa quay ra bốn phía, cƣỡi ngựa ra vào dễ

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 165


Chương III. Chú Giải

dàng. Theo Phƣơng vị, Tây Tấn ở Bắc, Đông Ngô ở Nam, nên gọi là “Tây lai chiến hạm”. Bắc khứ loan dƣ (北去鑾輿): đây là tích chuyện Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông thời Bắc Tống bị lƣu đày. Ngày 9 tháng 1 năm 1127, nhà Kim diệt bắc Tống. Ngày 20 tháng 3 năm 1127, giáng Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông xuống làm thứ dân. Sau đó, vào ngày 10 tháng 5 năm 1127, Huy Tông bị lƣu đày lên miền bắc Mãn Châu, chết trong nỗi uất ức u sầu của một kẻ đế vƣơng mất nƣớc vào tháng 6 năm 1135, ở tuổi 53, sau táng tại Vĩnh Hữu Lăng (nay ở Đông Nam huyện Thiệu Hƣng, tỉnh Chiết Giang). Đỗ Quyên (杜鵑): là một loại chim còn gọi là Tử Quy hay là Chim Cuốc. Đầu mỏ chim hơi cong, miệng to, đuôi dài, lông lƣng màu tro, bụng trắng có một đƣờng đen thẳng ngang, thƣờng lủi trong bụi rậm, dƣới ao sâu hoặc đầm hồ. Cuối xuân sang hè thì bắt đầu kêu, thƣờng là vào những đêm trăng mờ tịch mịch ở nông thôn. Giọng kêu buồn thảm, gợi lòng khách lữ thứ nhớ nhà, nhớ quê hƣơng. Theo truyền thuyết, vua nƣớc Thục là Thục Đế thông dâm với vợ của bầy tôi là Biết Linh. Biết Linh dấy loạn, đem quân đánh phá kinh thành, Thục Đế thất bại, mất ngôi chạy trốn vô rừng. Nhớ nƣớc, Thục Đế chết hóa thành chim Đỗ Quyên ngày đêm kêu “cuốc, cuốc” hay “quốc, quốc”. Quốc, quốc là do mƣợn âm “cuốc, cuốc” mà ra. “Nhất tâm triệu thỉnh trúc đàn bái tướng, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Trúc đàn bái tƣớng (築壇拜將): là tích nói về Hàn Tín. Hàn Tín (韓信, 229 – 196 TCN), còn gọi là Hoài Âm Hầu (淮陰候), là một danh tƣớng của Hán Cao Tổ. Khi ông đƣợc Tiêu Hà tiến cử, Hán Lƣu Bang làm trai giới, lập đàn để phong ông làm đại tƣớng. Hàn tín sau lập nhiều đại công, giúp nhà Hán đánh bại nƣớc Sở của Hạng Vũ, thống trị thiên hạ. Tuy nhiên, cuối đời ông lại bị chính Lƣu Bang và triều đình hãm hại, hàm oan mà chết, ba họ bị chém. Kiến tiết phong hầu (建節封侯): nói về Ban Siêu (32 – 102), là nhà quân sự và cũng là nhà ngoại giao thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ban Siêu đã nhiều lần lập chiến công đánh dẹp quân Hung Nô. Ông đã bảo vệ an toàn vùng Tây vực và

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 166


Chương III. Chú Giải

khai thông con đƣờng tơ lụa, nhờ đó đƣợc phong làm Định Viễn Hầu, làm quan cai trị Tây vực 31 năm, buộc các xứ vùng Tây vực phải thần phục nhà Đông Hán. Lực di kim đỉnh (力移金鼎): Kim đỉnh do vua Vũ nhà Hạ đúc tạo nên. Ngũ Viên ngƣời nƣớc Sở, cha, anh và cả nhà bị Sở Bình Vƣơng chém, oán hận, muốn trả thù nên đầu Ngô, nâng kim đỉnh ba lần mà sắc mặt không đổi, sau đánh bại đƣợc nƣớc Sở.34 Cũng có chỗ giải thích là Hạng Vũ cử đỉnh ở Miếu Vũ Vƣơng khi Hoàn Sở và Anh Vũ thách đố. Tích này nêu ở hồi ba truyện Hán Sở Tranh Hùng của Mộng Bình Sơn. Tuy nhiên Hạng Vũ sau là bậc đế vƣơng, xƣng là Tây Sở Bá Vƣơng, mà đoạn này lại nói về các vị tƣớng soái, cho nên thiết nghĩ nói về Ngũ Viên nhƣ trên là đúng hơn. Thân tác trƣờng thành vạn lý (身作長城萬里): nói về Đàn Đạo Tế (檀道济; ?436), là tƣớng nhà Lƣu Tống trong lịch sử Trung Quốc, ngƣời Kim Hƣơng, Cao Bình (nay là Trấn Giang, Giang Tô, Trung Quốc). Là ngƣời văn võ toàn tài, có nhiều chiến công. Khi Tống Văn Đế lâm bệnh, gian thần Nghị Khảng giả tờ chiếu triệu ông đến giết. Thấy tờ chiếu, Đạo Tế vô cùng tức giận, mắt nhƣ đổ lửa, ông bỏ mũ ném xuống đất và nói: “Việc hôm nay mà xong thì hủy hoại luôn cả vạn lý trƣờng thành của các ngƣơi”. Năm 826, trên đƣờng từ Hà Châu về Lạc Dƣơng, nhân đi qua thành cũ của Đàn Đạo Tế, Lƣu Vũ Tích đã cảm khái mà làm bài thơ “Kinh Đàn Đạo Tế Cố Lũy”: “萬里長城壞,荒營野草秋, 秣陵多士女, 獨唱白符鳩.” Phiên âm: “Vạn lý trƣờng thành hoại, Hoang doanh dã thảo thu, Mạt Lăng đa sĩ nữ, Độc xƣớng Bạch Phù Cƣu”. Tạm dịch: Đi qua thành lũy cũ của Đàn Đạo Tế 34

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0291b15

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 167


Chương III. Chú Giải

Trƣờng thành vạn dặm đã đổ nát. Doanh trại bỏ hoang cho cỏ thu mọc. Ở Mạt Lăng có nhiều bậc sĩ nữ, Chỉ hát bài “Bạch Phù Cƣu”. Lại cũng có ý cho đây là nói về Tần Thủy Hoàng, vì ông có công hoàn thành Vạn lý trƣờng thành. Tuy nhiên, cũng nhƣ trên, ông là Đế vƣơng, nên điển tích này không thể nói về ông đƣợc. Phan long chi vọng (攀龍之望): lòng vua mong đợi. Do ý của câu “phan long phụ phụng”, ý nói tƣớng tài cũng phải nhờ nơi minh quân lập trọng dụng mà làm nên sự nghiệp, khi ra trận phải cảm nhớ ơn vua mà ra sức chiến đấu. Sƣơng hàn báo trƣớng (霜寒豹帳): Bậc võ tƣớng lập doanh trại nơi hoang dã, giữa chốn rừng thiêng nƣớc độc, dãi gió dầm sƣơng. Ở doanh trại thƣờng treo màn trƣớng, có thêu hình con báo để biểu thị sự uy mãnh. Do đó gọi là “sƣơng hàn báo trƣớng”. Hãn mã chi lao (汗馬之勞): hãn mã là mồ hôi của ngựa. Ý nói lúc giao tranh ngựa chạy đến toát mồ hôi, hà huống gì là ngƣời cƣỡi nó. “Hãn mã chi lao” nghĩa là việc cầm quân đánh trận rất là lao khổ. Phong tức lang yên (風息狼煙): Ngày xƣa chế định mƣời dặm có một doanh trại, tất cả đều có lập dàn khói. Giả nhƣ đất nƣớc có nạn binh đao, thì liền nổi khói lên để cấp tốc hồi báo, khi đó cả nƣớc đều biết mà chuẩn bị. Mặt khác, phân chó sói khi trộn với củi rơm mà đốt thì khói trắng bay thẳng lên cao, do đó thời xƣa thƣờng dùng phân sói trộn với rơm đốt lửa làm hiệu. “Nhất tâm triệu thỉnh ngũ lăng tài tuấn, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Ngũ lăng (五陵): Lăng mộ nhà Hán nằm ở tỉnh Thiểm Tây. Mỗi lăng đều có lập một huyện kề bên để coi việc cung phụng. Ngũ lăng ở đây là nói về Kim Lăng, Ba Lăng, Quảng Lăng, Mậu Lăng, Vũ Lăng.

35

Tang tử (桑梓): là quê cha đất tổ. Kinh Thi có câu: “Duy tang duy tử, tất cung kính chỉ” 36. Nghĩa là thấy bụi cây dâu cùng cây tử, thì phải nên cung kính. Cây của cha mẹ trồng thì phải kính, vì thế gọi quê cha đất tổ là “tang tử chi hƣơng”. 35

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0291c03

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 168


Chương III. Chú Giải

Bồng Lai chi đảo (蓬萊之島): Tƣơng truyền, ở biển đông có đảo Bồng Lai, là nơi các vị tiên cƣ trú. Các quan thời xƣa, sau khi đem thân giúp nƣớc, thỏa chí tang bồng, lại chán cảnh chính trƣờng bất ổn, muốn có một cuộc sống thảnh thơi ẩn dật, nên thƣờng từ quan tìm nơi ở ẩn. Bồng lai dù sao cũng chỉ là một cách nói, thiết nghĩ là mang ý nghĩa trên, tức là chốn thâm sơn u tĩnh thanh nhã. “Nhất tâm triệu thỉnh huỳnh môn tài tử, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Huỳnh môn tài tử (黌門才子): Trƣờng học ngày xƣa sơn cổng màu vàng nên gọi là “huỳnh môn”. Huỳnh môn tài tử là ý chỉ những ngƣời con nhà giàu có, có tiền phí để vào trƣờng học. Bạch ốc thƣ sinh (白屋書生): Bạch ốc là căn nhà trống trơn, không có gì c ả, ý chỉ nghèo hèn. Đây là chỉ cho những học trò nghèo không có tiền để vào trƣờng học, chỉ có thể ở nhà dùi mài kinh sử. Thám hoa (探花): là một học vị tiến sĩ trong chế độ khoa cử thời phong kiến. Ba học vị tiến sĩ đó là đỗ đầu Trạng nguyên, kế là Bảng nhãn, thứ ba là Thám hoa, cả ba đƣợc gọi là “Tam đỉnh giáp”. Xạ sách (射策): là bắn vào cái thẻ. Đây là một hình thức thi cử ngày xƣa. Đề thi đƣợc ghi trên thẻ (sách), rồi đặt lên bàn sao cho đề không bị thí sinh thấy. Thí sinh bắn tên (xạ), trúng thẻ nào thì trả lời đề trên thẻ đó. Giám khảo cứ theo mức độ trả lời mà lựa chọn kẻ ƣu ngƣời kém. Ngƣời giỏi là giáp, kém là ất, phân định rõ ràng. Cức viện (棘院): là trƣờng thi. Cức là cây gai. Ngày xƣa ngƣời ta thƣờng trồng gai chung quanh trƣờng thi để ngăn chặn sự liên lạc giữa trƣờng thi và bên ngoài, tránh đề thi bị lộ hay ngăn ngƣời khác lén đƣa tài liệu cho thí sinh. Do đó mà gọi trƣờng thi là “cức viện”.Do phát âm gần giống từ thô tục nên thƣờng đƣợc đọc trại thành “cƣớc viện”. Oanh đăng phi tán (螢燈飛散): tích nói về Xa Dận. Xa Dận ngƣời Nam Bình, nƣớc Tấn, ham học. Gia cảnh bần hàn, ban ngày thì canh tác, ban đêm thì không có dầu để thắp đèn. Ông bắt đom đóm đựng vào túi, mỗi tối nhờ ánh sáng đó gắng công đọc sách. Sau thành ngƣời uyên bác, làm quan đến Hộ bộ thƣợng thƣ.

36

“惟桑與梓,必恭敬止”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 169


Chương III. Chú Giải

Thiết nghiễn ma xuyên (鐵硯磨穿): nói về Tang Duy Hàn (桑維翰; 898-946), tự là Quốc Kiều, ngƣời Hà Nam Lạc Dƣơng, là đại thần Hậu Tấn thời Ngũ đại, làm quan đến Tể tƣớng. Ông có tƣớng mạo kỳ quái, ngƣời ngắn mà mặt dài. Ban đầu khi đi thi tiến sĩ, quan chủ khảo thấy chữ “桑” và “喪” đồng âm nên không cho thi. Ông tức giận mà viết “Nhật Xuất Phò Tang Phú” để nêu lên cái chí của mình. Lại đúc nghiên mực bằng sắt, dốc chí học hành, nói với mọi ngƣời: “Nghiên thủng thì ta sẽ làm quan”. Sau quả đƣợc nhƣ thế. Đoạn này ý chỉ học trò có chí dụng công dùi mài kinh sử. Thất xích hồng la (七尺紅羅): bảy tấc lụa hồng, tức là cái triệu (minh sanh) dùng cho ngƣời chết. Ngày xƣa kẻ làm quan lúc chết thì chiều dài lá triệu có khác nhau. Ngƣời thƣờng thì là ba thƣớc (1 thƣớc Tàu = 33,33 cm), đ ại phu thì là năm thƣớc, chƣ hầu là bảy thƣớc, thiên tử chín thƣớc. Nhất bôi hoàng thổ (一坯黃土): một chén đất vàng. Đỗ Mục có câu thơ: “Hoàng nhƣơng bát triêm tân vũ lộ, phấn thƣ không hoán cựu minh sanh” 37 . Tạm dịch: Mô đất vàng chẳng thấm những hạt sƣơng rơi, hạt phấn viết chẳng làm nổi bật tấm minh sanh cũ. Cả hai đều ý chỉ ƣớc muốn đƣợc chút tiếng thơm khi chết, tức là lúc sống cũng phải có chút công danh. “Nhất tâm triệu thỉnh xuất trần thượng sĩ, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Phi tích cao tăng (飛錫高僧): tích nói về Ngài Đặng Ẩn Phong, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất. Tƣơng truyền khi Ngài ẩn tu ở trên núi, có hai con hổ đánh nhau, Ngài bèn cƣỡi gậy đến can giải. Hoàng hoa thúy trúc (黃花翠竹): chỉ cảnh vật ở trƣớc mắt. Thuật ngữ này xuất hiện ở thời Đƣờng, từ thiền sƣ Tuệ Hải: “thanh thanh thúy trúc, tổng thị pháp thân. Úc úc hoàng hoa, vô phi bát nhã” 38 . Trúc biếc xanh xanh, thảy đều là pháp thân, hoa vàng rực rỡ, không có gì không phải là Bát Nhã.

37 38

“黃壤不沾新雨露。粉書空煥舊銘旌” “青青翠竹。總是法身。郁郁黄花,無非般若”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 170


Chương III. Chú Giải

Bạch cổ lê nô (白牯黧奴): thuật ngữ thiền tông. Bạch cổ tức là loài trâu nƣớc. Lê là màu đen, nô là loài mèo cáo. Cả hai đều chỉ loài động vật, thiền tông dùng để ví cho kẻ căn cơ thấp kém không thể biện rõ Phật pháp. Một điểm đáng chú ý, chủng loại cô hồn này là những vị “truy y Thích tử”. Tại sao đã xuất gia học đạo rồi mà còn bị đọa vào loài Ngạ quỷ cô hồn? Xét trong kinh điển có ghi nhận điều này. Ở phần nói về duyên khởi của việc bố thí ẩm thực đã có nói Ngài A Nan nhập định mà thấy Ngạ quỷ Diệm Khẩu nói Ngài sẽ đọa làm Ngạ quỷ. Lại trong Lƣơng Hoàng Sám cũng ghi nhận: “Khi Phật ở thành Vƣơng Xá, thấy một chúng sanh có lƣỡi rất dài lớn, bị đinh sắt đóng vào lƣỡi, lửa bốc cháy hừng hực, chịu đau khổ suốt ngày đêm. Ngài Mục Kiền Liên hỏi nguyên do, Phật đáp: Xƣa kia, vị ấy từng làm Trú trì chùa, vì hay mắng nhiếc, xua đuổi Tăng chúng, không cho ăn uống, không bình đẳng cúng dƣờng nên mắc tội nhƣ vậy. Lại có chúng sanh thân thể dài lớn, trên đầu đội vạc đồng sôi bốc lửa cháy hừng hực, nƣớc sôi chảy tràn ra khắp thân thể. Ngài Mục Kiền Liên hỏi nguyên do, Phật đáp: xƣa kia, vị ấy từng làm tri sự chùa, vì không chia dầu thắp cho chúng tăng nên bị quả báo nhƣ vậy. Lại có có một Ngạ quỷ chuyên nuốt những hoàn sắt nóng. Do đời trƣớc làm một Sa-di đã trộm cắp đƣờng phèn của chúng tăng…39 . Do đó nên biết, đã xuất gia rồi mà do hạnh hành bất chánh, ho ặc do nghiệp cảm quá khứ mà chết phải đọa làm Ngạ quỷ. “Nhất tâm triệu thỉnh hoàng quan dã khách, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Hoàng quan dã khách, vũ phục tiên lƣu (黃冠野客。羽服仙流): Tống Huy Tông (1082–1135) sùng mộ đạo giáo, sủng ái đạo sĩ tên Đàm Tố Tiêu, ban cho hiệu là “Kim Môn Vũ Khách”. Đạo sĩ này thƣờng mặc áo lông chim, đội mũ vàng ra vào cung cấm. “Hoàng quan dã khách, vũ phục tiên lƣu” chính là từ điển tích này. Đào Nguyên Động (桃源洞): ở dƣới chân núi Chung Nam. Lãng Uyển Châu (閬苑洲): gần đảo Bồng Lai. Cả hai đều chỉ nơi tu luyện của đạo sĩ. Tam hoa (三花): tức tinh, khí, thần.

39

Thích Viên Giác dịch, Lƣơng Hoàng Sám, chƣơng 7, Nói rõ quả báo, Nxb Tp.HCM, 1998, tr.202

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 171


Chương III. Chú Giải

Cửu luyện (九煉): tức là phép luyện đan “Thất hoàn cửu chuyển” của đạo gia. “Nhất tâm triệu thỉnh giang hồ cơ lữ, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Dƣơng trƣờng chi hiểm (羊腸之險): đƣờng đi ở quanh co khúc khuỷu giống nhƣ ruột dê, ẩn tàng nhiều nguy hiểm không lƣờng đƣợc “Nhất tâm triệu thỉnh nhung y chiến sĩ, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Nhung y chiến sĩ (戎衣戰士): quân lính thời xƣa khi ra trận thƣờng đƣợc khoác thêm tấm áo, gọi là “nhung y” hay “nhung bào”. Mịch mịch hoàng sa (漠漠黃沙): cát vàng bay mù mịt, chỉ việc giao tranh nơi chiến trƣờng liên miên mãi không dứt. “Nhất tâm triệu thỉnh hoài thai thập nguyệt, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Tọa thảo tam triêu (坐草三朝): Theo dân gian Trung Hoa sau khi sanh ba ngày, bà mụ bế đứa bé làm lễ “Tiên tam triêu” (洗三朝), dùng các loại thảo dƣợc là Hoàng hoa hao, Thanh phong đằng, Kết ba, Dữu ba, Ngải cứu, Tì bà chƣng lên tắm cho đứa bé và ngƣời mẹ để khử tà giải độc, lại còn trải cho ngƣời mẹ nằm. Loan phụng hòa minh (鸞鳳 和 鳴): loan phƣợng cùng hót. Loan là trống, phƣợng là mái, cùng một loài. Ý là chồng xƣớng vợ theo, vợ chồng hòa hợp. Hùng bi hiệp mộng (熊羆叶夢): Kinh Thi có câu: “Cát mộng nhƣ hà, duy hùng duy bi. Duy hủy duy xà, thái nhân chiêm chi.”

40

. Mơ thấy hùm gấu, là điềm sanh

con trai. Mơ thấy rắn rết là điềm sanh con gái. Thời phong kiến trọng nam khinh nữ, chỉ muốn sanh con trai. Hùm gấu là loài vật mạnh mẽ, biểu trƣng cho dƣơng, nên mơ thấy hùm gấu thì cho là điềm lành đƣợc sanh quý tử. Còn rắn thuộc âm, là điềm sanh con gái. Phụng cung dục xƣớng (奉恭欲唱): quan niệm của dân gian Trung Hoa, nói về việc sanh con trai con gái. Khi sanh sản thì chƣ thiên sai thần linh ở giữa không trung mà xƣớng “Phụng”, “Cung”. Nếu sanh con trai thì xƣớng chữ “Phụng” 1600 lần, là ý muốn đứa bé ở nhà thì phụng thờ cha mẹ, trên thì ra sức giúp vua. Nếu sanh con gái thì xƣớng chữ “Cung” 1600 lần, muốn cho đứa bé sau này khi về nhà chồng thì phải biết cung kính những ngƣời thân thích bên chồng. 40

“吉夢如何。維熊維羆。維虺維蛇。太人占之。”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 172


Chương III. Chú Giải

Chƣơng ngõa vị phân (璋瓦未分): chƣa biết là trai hay gái. Xƣa, nƣớc Thục có hồ Thiên Tuyền, ngƣời dân trong ấp mùa xuân đến đó, chen chúc nhau bên hồ mò đá mà cầu tự. Kẻ đƣợc đá thì sanh con trai, kẻ đƣợc ngói thì sanh con gái. Kinh Thi có câu rằng: “Nãi sanh nam tử, tải y chi thƣờng, tải lộng chi chƣơng. Nãi sanh nữ tử, tải y chi tích, tải lộng chi ngõa.” 41. Nghĩa là: Nếu sanh con trai, cho mặc quần áo, cho chơi ngọc chƣơng. Nếu sanh con gái, thì cho mặc yếm, cho chơi đất nung. “Nhất tâm triệu thỉnh nhung di man địch, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Nhung di man địch (蠻夷戎狄): Ngƣời Trung Hoa thƣờng tự cho mình là trung tâm văn hóa của vũ trụ, coi khinh những chủng ngƣời ở các nƣớc xung quanh, gọi là Đông di, Nam Man, Tây nhung, Bắc địch. Vũ trụ (宇宙): bốn phƣơng trời đất gọi là Vũ, kim cổ vãng lai gọi là Trụ. Dung nô (庸奴): ngƣời đàn ông tầm thƣờng, làm nô lệ. Tỳ thiếp (婢妾): ngƣời đàn bà hèn mọn, hầu hạ kẻ khác. “Nhất tâm triệu thỉnh cung vi mỹ nữ, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Kim Cốc chi viên (金谷之園): vƣờn Kim Cốc, một địa danh thuộc Bắc Kiều Lạc Dƣơng, tỉnh Hà Nam. Thời nhà Tấn, có con gái của Lƣơng thị nhan sắc xinh đẹp, Thạch Quý Luân tên là Thạch Sùng dùng châu báu mua về, nhân đó mà có tên là Lục Châu. Sau đó Tôn Tú cho ngƣời sang bảo để lại nhƣng Thạch Sùng không thuận. Sùng nói với lục châu rằng: “Ta đã vì nàng mà đắc tội rồi”. Châu nói: “Thiếp nay xin chết trƣớc Ngài”, rồi nhảy lầu tự tử ở vƣờn này. Đỗ Mục có bài thơ rằng: “繁華事散逐香塵, 流水無情草自春。 日暮東風怨啼鳥, 落花猶似墮樓人。” Phiên âm: “Phồn hoa sự tán trục hƣơng trần, Lƣu thuỷ vô tình thảo tự xuân. 41

“乃生男子。載衣之裳。載弄之璋。乃生女子。載衣之裼。載弄之瓦。”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 173


Chương III. Chú Giải

Nhật mộ đông phong oán đề điểu, Lạc hoa do tự truỵ lâu nhân.” Tạm dịch: Những việc phồn hoa đã tan tác theo bụi trần, Nƣớc chảy vô tình, cỏ hoa cũng tự tƣơi thắm, Chiều về, gió đông thổi, chim kêu ai oán, Hoa rơi nhƣ cảnh ngƣời nhảy xuống lầu năm xƣa. Mã Ngôi chi dịch (馬嵬之驛): địa danh thuộc huyện Hƣng Bình, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc), nơi Dƣơng Quý Phi bị thắt cổ chết. Dƣơng Quý Phi là phi tần của Đƣờng Huyền Tông. Khi An Lộc Sơn mƣu phản, triều đình phải bỏ chạy. Cho rằng hoạn nạn này là do Quý Phi ma ra, nên triều đình và Huyền Tông đã bức tử Quý Phi ở dịch quán mã ngôi này. Đoạn này triệu thỉnh những kẻ cung phi mỹ nữ, những tiểu thƣ đài các, mà tỉ dụ là tích của Lục Châu và Dƣơng Quý Phi. “Nhất tâm triệu thỉnh cơ hàn cái giả, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Đoạn này triệu thỉnh những kẻ hành khất đói khát, những ngƣời bị ngục tù xử phạt, hoặc bị tai nạn lũ lụt thiên tai hỏa hoạn, hoặc đi đƣờng gặp cọp sói ăn mất. “Nhất tâm triệu thỉnh pháp giới lục đạo, …, vô giá cam lồ pháp thực.” Bế-lệ-đa (薜茘多): là tên gọi khác của loài Ngạ quỷ. Si mị võng lƣợng (魑魅魍魎): sơn thần hình con hổ là si; thần linh ở nhà có đầu heo hình ngƣời là mị; võng lƣợng là giống yêu quái ở gỗ đá. Thập loại cô hồn (十類孤魂): Ban đầu các khoa nghi chỉ có thập loại, thập nhị loại là sau này. Mƣời loại cô hồn là: 1. Những vị văn quan võ tƣớng, anh hùng chiến sĩ, 2. Những ngƣời nợ mạng thiếu tiền, sanh sản mà chết, oán gia trái chủ 3. Những kẻ khinh khi phỉ báng Tam Bảo, bất hiếu với cha mẹ, tạo tội thập ác, ngũ nghịch, tà kiến. 4. Chìm sông lạc suối, đi buôn bán hoặc tìm của báu mà lênh đênh trên biển, bị gió bão chìm thuyền 5. Những kẻ mọi rợ man di sinh ở nơi biên địa, không biết Phật pháp. 6. Những ngƣời rời bỏ quê hƣơng, chết nơi xứ ngƣời, không nơi nƣơng tựa. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 174


Chương III. Chú Giải

7. Những kẻ hoạnh tử vì rớt giếng, đao chém, lửa đốt, nhảy núi, lạc vào nơi ốc đảo lạnh lẽo, hoặc bị cây đè núi lở, rắn cắn cọp ăn. 8. Những kẻ vƣớng vào lao lý, ho ặc vì phạm vào luật pháp, làm giặc cƣớp trộm cắp, hoặc bị hàm oan bị hình luật xử tử. 9. Những kẻ nô lệ, cuộc sống nghèo khổ, làm việc khổ nhọc. 10. Những kẻ đui điếc ngọng câm, tay gãy chân cụt, ung thƣ tật bịnh, cô độc hiu quạnh không ngƣời nƣơng tựa.

42

“Cái văn! Đại địa sơn hà chi nội,..., cô hồn văn triệu nguyện lai lâm.” Tứ thời (四時): bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Bát tiết (八節): là tám tiết khí trong một năm. Bao gồm: lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu phân, lập đông, đông chí. “Thượng lai triệu thỉnh, tất dĩ lai lâm, đại chúng từ bi, tề thanh tán trạo.” Duyên khởi Mông Sơn: “Tu thiết trai diên, A Nan nhơn duyên khởi, cứu khổ Quan Âm, thị hiện Tiêu Diện quỷ. Niệm Phật tuyên dƣơng, bí mật công đức lực. Bạt tế cô hồn, lai thọ cam lồ vị.” Các vị vua chúa: “Cận đại tiên triều, đế chúa tôn vinh vị, huân thích hầu vƣơng, ngọc diệp kim chi quý. Tể chấp trung cung, thể nữ tần phi loại, mộng đoạn Hoa Tƣ, lai thọ cam lồ vị.” Hoa Tƣ (華胥): gọi đủ là “nhất mộng Hoa Tƣ” (一夢華胥), đây là một thành ngữ của Trung Quốc, ý nghĩa là tạm rời thực tế, mộng mơ không thực. Liệt tử, quyển hai, thiên hoàng đế có nói: “Hoàng đế ngủ trƣa, nằm mộng thấy đi đến nƣớc Hoa Tƣ. Nƣớc Hoa Tƣ Thị năm ở phía tây yếm châu, phía bắc đài châu, không hề biết nƣớc kia xa đến cỡ nào, chỉ biết không thể dùng thuyền hay xe mà đi đến đƣợc.” Hoa Tƣ Thị là một bộ lạc mẫu hệ của xã hội Trung Hoa cổ, có thể đƣợc xem là tổ tiên của ngƣời Trung Hoa. “Nhất mộng Hoa Tƣ” là ý nói sự đời đều nhƣ một giấc mộng, danh lợi phồn hoa đều chẳng có gì là bền vững.

42

Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi, 瑜伽集要焰口施食儀, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1320, tr. 0483b17-0483c05

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 175


Chương III. Chú Giải

Các vị văn quan: “Quốc sĩ triều thần, kinh vĩ khuông thời thế, mục hóa lê dân, vị toại trung lƣơng chí. Thất sủng hoài ƣu, trích giáng biên bang địa, luyến quốc du hồn, lai thọ cam lồ vị.” Các bậc võ tƣớng: “Võ tƣớng nhung thần, thống lãnh tam quân đội, kết trận giao phong, la cổ huyên thiên địa. Bắc chiến nam chinh, thất hãm sa trƣờng nội, vị quốc vong xu, lai thọ cam lồ vị.” Học sĩ hàn lâm: “Học cổ cùng kim, cẩm tú văn chƣơng sĩ, ánh tuyết du quang, khổ chí hàn song nội. Mạng vận ta đà, kim bảng vô danh tự, uất uất u hồn, lai thọ cam lồ vị.” Ánh tuyết du quang (映雪偷光): tích này cũng nhƣ tích Xa Dận thắp đèn đom đóm ở trên, nói về sự ham học, nhƣng ngƣời đƣợc đề cập đến ở đây là Tôn Khang. Ông ngƣời thời Tấn, quận Kinh Triệu, nay là Hà Nam, Lạc Dƣơng. Thuở nhỏ, vì gia cảnh bần hàn, thƣờng nhờ ánh đèn nhà ngƣời khác. Một hôm ngủ quên, nửa đêm thức dậy thấy tuyết trắng xóa, ánh sáng khả dĩ đọc sách đƣợc nên lấy ánh tuyết làm đèn, ham học đến thế là cùng. Sau làm quan đến Ngự sử đại phu. Tăng lữ xuất gia: “Cát ái từ thân, tảo nhập không môn nội, phỏng đạo tầm sƣ, chỉ vị siêu sanh tử. Thử vãng hàn lai, bất giác vô thƣờng chí, phản chiếu hồi quang, lai thọ cam lồ vị.” Đạo sĩ tu tiên: “Vũ phục hoàng quan, tảo phát tu chơn chí, luyện dƣợc thiêu đơn, dƣỡng tánh hoàn nguyên khí. Khổ hạnh lao thần, chỉ vọng đăng tiên vị, mạc luyến di hình, lai thọ cam lồ vị.” Trung lƣơng hiếu tử: “Hiếu tử hiền tôn, nghĩa dũng trung lƣơng sĩ, liệt nữ trinh thê, thị tử nhƣ quy khứ. Trƣợng tiết vong xu, thiên cổ lƣu anh khí, cảnh cảnh linh hồn, lai thọ cam lồ vị.” Bài này ý nghĩa là triệu thỉnh các bậc trung lƣơng hiếu tử, hay những ngƣời liệt nữ trinh thê. Đó là những hạng ngƣời có thể vì chữ hiếu, vì chữ trung, giữ tấm lòng thủy chung mà bỏ thân mạng chứ không bị khuất phục bởi cái ô nhục. Ngày nay, thấy trong việc tiến linh có sử dụng bài này, những tƣởng là không đúng cho lắm. Có lẽ do bốn chữ “hiếu tử hiền tôn” mà nhận lầm ngữ nghĩa chăng?

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 176


Chương III. Chú Giải

Nữ lƣu xuất gia: “Nữ đạo ni lƣu, thân trụ hoàng kim địa, loan phụng duyên không, bất nhiễm nhân gian sự. Vị liễu vô vi, lƣu lãng hƣ sanh tử, thanh tịnh u hồn, lai thọ cam lồ vị.” Chiêm tinh bói toán: “Địa lý thiên văn, y dƣợc âm dƣơng loại, bốc quải chiêm quy, phong lãm tinh tinh sĩ. Báo kiết đàm hung, nan miễn vô thƣờng đối, xả ngụy quy chơn, lai thọ cam lồ vị.” Lái thƣơng buôn bán: “Tọa mãi hành thƣơng, chủng chủng kinh doanh bối, nghệ thuật đa năng, mậu dịch cầu tài lợi. Bối tỉnh ly hƣơng, tử tại tha phƣơng địa, lữ mộng du du, lai thọ cam lồ vị.” Phạm trái luật pháp: “Phạm pháp tao hình, lao ngục trƣờng u hệ, phụ mạng mƣu tài, trái chủ oan gia loại. Ác tật thiên tai, đống tử cơ vong bối, tốc ly huỳnh tuyền, lai thọ cam lồ vị.” Tai nạn thiên tai: “Mã đạp xa thƣơng, tƣờng áp thân hình toái, quỷ kích lôi oanh, tự vẫn huyền lƣơng ải. Thủy hỏa phàn phiêu, hổ giảo xà thƣơng loại, cửu hoạnh cô hồn, lai thọ cam lồ vị.” Cửu hoạnh (九橫): chín sự chết ngang trái. Đó là: ngựa giày, xe cán, tƣờng sập, quỷ bắt, sét đánh, tự tử, chết cháy, chết trôi, rắn cắn cọp ăn. Đui điếc ngọng câm: “Ẩm huyết nhự mao, sanh trƣởng man di địa, phụ trái thƣờng lao, tỳ thiếp tịnh nô lệ. Ám á manh lung, tàn tật vô y thị, thọ khổ oan hồn, lai thọ cam lồ vị.” Ẩm huyết nhự mao (食血茹毛): uống máu ăn lông, tức là ăn sống uống tƣơi. Đó là cách ăn uống của ngƣời tiền sử. Nay trong văn nói nhƣ thế là chỉ cho những kẻ sống ở nơi biên địa, cách tuyệt với nền văn minh, vẫn còn sống trong cảnh lạc hậu. Hỗn láo mẹ cha: “Ngỗ nghịch gia nƣơng, oán độc thiên hòa địa, báng Phật khi tăng, hủy tƣợng phần kinh kệ. Tà kiến thâm trầm, khổ báo vô biên tế, thập ác cuồng hồn, lai thọ cam lồ vị.” Đại khai thí thực: “Đại thí môn khai, tiến bạt cô hồn bối, tổ nể tiên vong, ngũ tánh oan gia loại. Bát nạn tam đồ, bình đẳng câu siêu tế,trƣợng Phật quang minh, lai thọ cam lồ vị.”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 177


Chương III. Chú Giải

Ngũ tánh “五姓”: Ngài Châu Hoằng chú giải đó chính là ngũ âm (cung, thƣơng, giác, chủy, vũ).

43

Bát nạn (八難): là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sanh trƣờng thọ thiên, sanh nơi biên địa, đui điếc ngọng câm, thế trí biện thông, sanh trƣớc hay sau thời Phật.44 Bản nguyện Di Đà: “A Di Đà Phật, túc hữu vô biên thệ, quán kiến mê đồ, khổ hải thƣờng phiêu nịch. Thùy thủ ân cần, đặc giá từ hàng tế, phổ tải chúng sanh, đồng phú Liên Trì hội. Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát.” “Nhập tiểu Mông Sơn” “Nhƣợc nhơn dục liễu tri, …, nhất thiết duy tâm tạo.” Bài này đã đƣợc giải thích ở trên. Trong phẩn Tiểu Mông Sơn này, từ đây trở về sau, tất cả đều đƣợc tụng ba lần.  Phá địa ngục chơn ngôn Án, già ra đế da ta bà ha.

(Phá địa ngục ấn)

43

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀,, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0292b21 44 Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, Từ Điển Phật Học Hán Việt I, tr. 115

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 178


Chương III. Chú Giải

 Phổ triệu thỉnh chơn ngôn. Nam mô bộ bộ đế rị già rị đa rị đát đa nga đa da.

(Triệu thỉnh Ngạ quỷ ấn)  Giải oán kết chơn ngôn. Án, tam đà ra già đà ta bà ha.  Quy y Tam Bảo Nam mô Đại Phƣơng Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, … Quy y Tăng cánh.

(Quy y Tam Bảo ấn)  Sám hối nghiệp chướng Phật tử sở tạo chƣ ác nghiệp, …, nhất thiết cô hồn giai sam hối.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 179


Chương III. Chú Giải

 Phát Bồ Đề Tâm Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, …, tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.

(Phát Bồ Đề tâm ấn)  Diệt định nghiệp chơn ngôn Án, bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha.

(Địa Tạng Bồ Tát diệt tội ấn)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 180


Chương III. Chú Giải

 Diệt nghiệp chướng chơn ngôn. Án, a lỗ lặc kế ta bà ha.

(Quan Âm Bồ Tát diệt nghiệp chƣớng ấn)  Khai yết hầu chơn ngôn. Án, bộ bộ đế rị già đa rị đát đa nga đa da.

(Khai yết hầu ấn)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 181


Chương III. Chú Giải

 Tam muội da giới chơn ngôn. Án, tam muội da tát đỏa phạm.

(Tam muội da ấn)  Biến thực chơn ngôn Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ lô chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra, hồng.

(Vô Lƣợng Oai Đức Tự Tại Quang Minh Nhƣ Lai ấn-Biến thực ấn)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 182


Chương III. Chú Giải

 Cam lồ thủy chơn ngôn Nẵng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát diệt tha. Án, tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha.

(Diệu Sắc Thân Nhƣ Lai cam lồ ấn-Biến thủy ấn)  Nhất tự thủy luân chơn ngôn Án, noan noan noan noan noan.  Nhũ hải chơn ngôn Nam mô tam mãn đa một đà nẫm. Án, noan.

(Nhũ Hải ấn)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 183


Chương III. Chú Giải

 Thất bảo Như Lai Nam mô Đa Bảo Nhƣ Lai.

(Đa Bảo Nhƣ Lai ấn) Nam mô Bảo Thắng Nhƣ Lai.

(Bảo Thắng Nhƣ Lai ấn) Nam mô Diệu Sắc Thân Nhƣ Lai.

(Diệu Sắc Thân Nhƣ Lai ấn) Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 184


Chương III. Chú Giải

Nam mô Quảng Bác Thân Nhƣ Lai.

(Quảng Bác Thân Nhƣ Lai ấn) Nam mô Ly Bố Úy Nhƣ Lai.

(Ly Bố Úy Nhƣ Lai ấn) Nam mô Cam Lồ Vƣơng Nhƣ Lai.

(Thế Gian Quảng Đại Oai Đức Tự Tại Quang Minh Nhƣ Lai ấn)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 185


Chương III. Chú Giải

Nam mô A Di Đà Nhƣ Lai.

(A Di Đà Nhƣ Lai ấn)  Thần chú gia trì … đồng pháp thực.  Nhữ đẳng … thành Phật đạo.  Thí vô già thực chơn ngôn. Án, mục lực lăng ta bà ha.

(Chƣơng thí quỷ ấn)

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 186


Chương III. Chú Giải

 Phổ cúng dường chơn ngôn. Án, nga nga nẵng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hộc.

(Phổ cúng dƣờng ấn) Tụng Bát Nhã, vãng sanh nhất biến. Phổ diện hướng chơn ngôn. Án, ta mọ lai, ta mọ lai, di mo nẵng, tát kháp ra ma ha thính kháp ra hồng. Ở vị trí này, trong các khoa trong Hán tạng, còn thấy có thêm một số bài tán Thừa Tƣ Thiện Lợi, nay xin đƣợc trích dẫn vào đây. 承斯善利。地獄受苦有情者。刀山劒樹變化皆成如意樹。火團鐵丸變成蓮 花而為寶。吉祥。地獄解脫而能成正覺。 承斯善利。餓鬼受苦有情者。口中煙燄燒身速願得清涼。觀音手內甘露自 然長飽滿。吉祥。餓鬼解脫而能成正覺。 承斯善利。畜生受苦有情者。殺害燒煑楚毒等苦皆遠離。遠離乘騎愚癡速 得大智慧。吉祥。畜生解脫而能成正覺。 承斯善利。人間受苦有情者。生時猶如摩耶右脅而降誕。願具六根永離八 難修福慧。吉祥。人間解脫而能成正覺。 承斯善利。脩羅受苦有情者。我慢顛狂拙朴速疾令柔善。惡心嫉妒瞋恚鬬 戰自調伏。吉祥。脩羅解脫而能成正覺。 承斯善利。天中受樂有情者。欲樂策懃速發廣大菩提心。天中受盡憂苦自 然生歡悅。吉祥。天中解脫而能成正覺。

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 187


Chương III. Chú Giải

承斯善利。十方獨覺聲聞者。棄捨小乘四諦十二因緣行。進趣大乘四攝六 度修萬行。吉祥。二乘解脫而能成正覺。 承斯善利。初地菩薩勇識者。百福莊嚴一切行願皆圓滿。頓超十地證入一 生補處位。吉祥。大乘速證究竟成正覺。 發願迴向偈 現世之中未證菩提間 。願無內外障難惡緣等。恒常遇逢最妙善知識 。所 修善事行願速成就。最上三寶。 臨命終時識性無迷惑。 願生西方淨土如來前。依於慧日法光聞思修。 斷 惑證真愍念於有情。最上三寶。 若或隨業淨土佛會前。 若無善根不生勝會中。隨業輪迴世世所生處。 恆 修善根熏習無間斷。最上三寶。 願生中國勤修於正法。 無病長壽受用悉具足。相好殊勝辯才智慧等。 具 七功德獲得丈夫身。最上三寶。 幼年出家願逢賢聖師 。即得三種修學守護持。一切時中正念與正法 。承 侍惟妙上師願歡喜。最上三寶。 七種勝財殊勝善知識 。如日與光剎那不捨離。亦無我慢疑惑具知足 。惡 緣猶如蠱毒願捨離。最上三寶。 功德本願最上三寶處 。願能恒常皈依而供養。貪欲瞋恚愚癡三種毒 。猶 如大地恒常勿應起。最上三寶。 觀見六塵境界色等法。 猶如陽燄幻化而悟解。五欲自性境處無染著。 願 我恒不忘失菩提心。最上三寶。 一切大乘甚深微妙法 。如救頭然精進常修學。證得無比究竟菩提時 。以 四攝法能救於六趣。最上三寶。 能救五濁大悲觀世音 。末劫之時弘願地藏王。所有一切賢聖護法神 。證 明護念法證覆熾然。最上三寶 護國護法塔廟諸護神 。威德熾盛迴遮大結界。怨魔外道毒類悉摧壞 。龍 鬼星辰毒類心驚怖。最上三寶

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 188


Chương III. Chú Giải

三災五濁速願得消除 。七難八怖一念皆消滅。百穀豐饒萬物而茂盛 。七 寶充足五味悉具足。最上三寶。 四事供養受用無乏少 。修八福田吉祥獲安樂。普國興隆佛事轉法輪 。增 長有情福慧皆圓滿。最上三寶 我等善根緣起法性力 。上師本尊空行攝授力。三寶真諦密呪威神力 。所 發願時行願速成就。最上三寶。 能迴施人迴施迴施善。 所獲一切一切諸功德。猶如幻化幻化似夢境。 三 輪體空體空悉清淨。最上三寶。”

45

Phiên âm: Thừa tƣ thiện lợi, địa ngục thọ khổ hữu tình giả. Đao sơn kiếm thọ biến hóa giai thành nhƣ ý thọ, hỏa đoàn thiết hoàn biến thành liên hoa nhi vi bửu. Cát tƣờng. Địa ngục giải thoát nhi năng thành chánh giác. Thừa tƣ thiện lợi, Ngạ quỷ thọ khổ hữu tình giả. Khẩu trung yên diệm thiêu thân tốc nguyện đắc thanh lƣơng, Quan Âm thủ nội cam lồ tự nhiên trƣờng bảo mãn. Cát tƣờng. Ngạ quỷ giải thoát nhi năng thành chánh giác. Thừa tƣ thiện lợi, súc sanh thọ khổ hữu tình giả. Sát hại thiêu chử sở độc đẳng khổ giai viễn ly, viễn ly thừa kỳ ngu si tốc đắc đại trí tuệ. Cát tƣờng. Súc sanh giải thoát nhi năng thành chánh giác. Thừa tƣ thiện lợi, nhơn gian thọ khổ hữu tình giả. Sanh thời do nhƣ Ma-da hữu hiếp nhi giáng đ ản, nguyện cụ lục căn vĩnh ly bát nạn tu phƣớc tuệ. Cát tƣờng. Nhơn gian giải thoát nhi năng thành chánh giác. Thừa tƣ thiện lợi, tu la thọ khổ hữu tình giả. Ngã mạn điên cuồng chuyết phác tốc tật linh nhu thiện, ác tâm tật đố sân nhuế đấu chiến tự điều phục. Cát tƣờng. Tu la giải thoát nhi năng thành chánh giác. Thừa tƣ thiện lợi, thiên trung thọ lạc hữu tình giả. Dục lạc sách cần tốc phát quảng đại Bồ Đề tâm, thiên trung thọ tận ƣu khổ tự nhiên sanh hoan duyệt. Cát tƣờng. Thiên trung thoát nhi năng thành chánh giác.

45

Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ, 瑜伽集要施食儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1080 0269a240270a21

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 189


Chương III. Chú Giải

Thừa tƣ thiện lợi, thập phƣơng độc giác Thanh Văn giả. Khí xả tiểu thừa tứ đế thập nhị nhân duyên hạnh, tấn thú đại thừa tứ nhiếp lục độ tu vạn hạnh. Cát tƣờng. Nhị thừa giải thoát nhi năng thành chánh giác. Thừa tƣ thiện lợi, sơ địa Bồ Tát dõng thức giả. Bách phƣớc trang nghiêm nhất thiết hạnh nguyện giai viên mãn, đốn siêu thập địa chứng nhập nhất sanh bổ xứ vị. Cát tƣờng. Đại thừa giải thoát nhi năng thành chánh giác. Phát nguyện hồi hướng kệ. Hiện thế chi trung vị chứng Bồ Đề gian, nguyện vô nội ngoại chƣớng nạn ác duyên đẳng. Hằng thƣờng vạn phùng tối diệu thiện tri thức, sở tu thiện sự hạnh nguyện tốc thành tựu. Tối thƣợng Tam Bảo. Lâm mạng chung thời thức tánh vô mê ho ặc, nguyện sanh Tây phƣơng tịnh độ Nhƣ Lai tiền. Y ƣ tuệ nhật pháp quang văn tƣ tu, đoạn hoặc chứng chân mẫn niệm ƣ hữu tình. Tối thƣợng Tam Bảo. Nhƣợc hoặc tùy nghiệp tịnh độ Phật hội tiền, nhƣợc vô thiện căn bất sanh thắng hội trung. Tùy nghiệp luân hồi thế thế sở sanh xứ, hằng tu thiện căn huân tập vô gián đoạn. Tối thƣợng Tam Bảo. Nguyện sanh trung quốc cần tu ƣ Chánh pháp, vô bịnh trƣờng thọ thọ dụng tất cụ túc. Tƣớng hảo thù thắng biện tài trí tuệ đẳng, cụ thất công đức hoạch đắc trƣợng phu thân. Tối thƣợng Tam Bảo. Ấu niên xuất gia nguyện phùng hiền thánh sƣ, tức đắc tam chủng tu học thủ hộ trì. Nhất thiết thời trung chánh niệm dữ Chánh pháp, thừa thị duy diệu thƣợng sƣ nguyện hoan hỷ. Tối thƣợng Tam Bảo. Thất chủng thắng tài thù thắng thiện tri thức, nhƣ nhật dữ quang sát na bất xả ly. Diệc vô ngã mạn nghi hoặc cụ tri túc, ác duyên do nhƣ cổ độc nguyện xả ly. Tối thƣợng Tam Bảo. Quán kiến lục trần cảnh giới sắc đẳng pháp, do nhƣ dƣơng diệm huyễn hóa nhi ngộ giải. Nhũ dục tự tánh cảnh xứ vô nhiễm trƣớc, nguyện ngã hằng bất vong thất Bồ Đề tâm. Tối thƣợng Tam Bảo. Nhất thiết đại thừa thậm thâm vi diệu pháp, nhƣ cứu đầu nhiên tinh tấn thƣờng tu học. Chứng đắc vô tỷ cứu cánh Bồ Đề thời, dĩ tứ nhiếp pháp năng cứu ƣ lục thú. Tối thƣợng Tam Bảo. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 190


Chương III. Chú Giải

Năng cứu ngũ trƣợc đại bi Quan Thế Âm, mạt kiếp chi thời hoằng nguyện Địa Tạng Vƣơng. Sơ hữu nhất thiết Hiền Thánh Hộ pháp thần, chứng minh hộ niệm pháp chứng phú sí nhiên. Tối thƣợng Tam Bảo. Hộ quốc hộ pháp tháp miếu chƣ hộ thần, uy đức sí thạnh hồi giá đại kiết giới. Oán ma ngoại đạo độc loại tất tồi hoại, long quỷ tinh thần độc loại tâm kinh bố. Tối thƣợng Tam Bảo. Tam tai ngũ trƣợc tốc nguyện đắc tiêu trừ, thất nạn bát bố nhất niệm giai tiêu diệt. Bách cốc phong nhiêu vạn vật nhi mậu thạnh, thất bảo sung túc ngũ vị tất cụ túc. Tối thƣợng Tam Bảo. Tứ sự cúng dƣờng thọ dụng vô phạp thiếu, tu bát phƣớc điền cát tƣờng hoạch an lạc. Phổ quốc dữ long Phật sự chuyển pháp luân, tăng trƣởng hữu tình phƣớc tuệ giai viên mãn. Tối thƣợng Tam Bảo. Ngã đẳng thiện căn duyên duyên khởi pháp tánh lực, thƣợng sƣ bổn tôn không hạnh nhiếp thọ lực. Tam Bảo chân đế mật chú uy thần lực, sở phát nguyện thời hạnh nguyện tốc thành tựu. Tối thƣợng Tam Bảo. Năng hồi thí nhân hồi thí hồi thí thiện, sở hoạch nhất thiết nhất thiết chƣ công đức. Do nhƣ huyễn hóa huyễn hóa tợ mộng cảnh, tam luân thể không thể không tất thanh tịnh. Tối thƣợng Tam Bảo. “Nguyện trú cát tường, … Siêu Thập Địa Bồ Tát.” “Phục dĩ văn! Kiến văn như huyến ế, …, đồng viên chủng trí.” Tam thập lục bộ (三十六部): 一波吒薜茘多: Ba-trá-bế-lệ-đa. 二婆羅門仙: Bà-la-môn tiên. 三婆吒遠害大力: Ba-trá-viễn-hại-đại lực. 四若夜叉吉遮: Nhƣợc-dạ-xoa-kiết-giá. 五波羅剎食不淨: Ba-la-sát-thực-bất-tịnh. 六飢虗食糞: Cơ-hƣ-thực-phẩn. 七波吒富單那: Ba-tra-phú-đơn-na. 八婆叉人吉遮: Bà-xoa-nhã-kiện-đà-la. 九婆羅多熱病: Ba-la-đa-nhiệt-bịnh. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 191


Chương III. Chú Giải

十阿附邪接傳送: A-phụ-tà-tiếp-truyền-tống. 十一波吒吉遮: Bà-tra-kiết-giá. 十二毗陀羅多: Tỳ-đà-ba-đa. 十三若健陀羅: Nhã-kiện-đà-la. 十四烏摩勒迦: Ô-ma-lặc-già. 十五阿跋摩羅: A-bạt-ma-la. 十六鳩槃茶羅: Cƣu-bàn-trà-la. 十七毗舍闍多: Tỳ-xá-xà-đa. 十八韋陀羅多: Vi-đà-la-đa. 十九附物為怪: Phụ-vật-vi-quái. 二十風行妖怪: Phong-hành-yêu-quái. 二十一畜行精魅: Súc-hành-tinh-mị. 二十二蟲成蠱毒: Trùng-thành-cổ-độc. 二十三瘟衰癘瘧: Ôn-suy-lệ-ngƣợc. 二十四陰昧幽視: Âm-muội-u-thị. 二十五精明魍魎: Tinh-minh-võng-lƣợng. 二十六明靈役使: Minh linh dịch sử. 二十七阿利帝母: A-lợi-đế-mẫu. 二十八食小兒精氣: Thực-tiểu-nhi-tinh-khí. 二十九河海精魅: Hà-hải-tinh-mị. 三十波吒食尿: Ba-tra-thực-niệu. 三十一日月薄蝕: Nhật-nguyệt-bạc-thực. 三十二波羅遮文茶: Ba-la-giá-văn-trà. 三十三婆吒食涎便: Ba-tra-thực-tiên-tiện. 三十四波吒食濃涕: Ba-tra-thực-nùng-thế. 三十五婆吒食胎血: Ba-tra-thực-thai-huyết. 三十六婆吒摩羅: Bà-tra-ma-la. Hằng hà sa (恒河沙): chỉ số nhiều không kể xiết, nhƣ số cát ở sông Hằng. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 192


Chương III. Chú Giải

Ngũ suy (五衰): năm tƣớng suy. Đế Thích sắp mạng chung, thì có những tƣớng suy này xuất hiện, có lớn có nhỏ. Kinh Niết Bàn dạy: “Một là áo quần bẩn thỉu, hai là đầu tóc rũ rƣợi nhƣ hoa héo; ba là thân thể hôi thối nhơ nhớp, bốn là nách đổ mồ hôi, năm là chẳng thích bản tọa.”46 Câu Xá Luận nói: “Một là mùi thơm nơi áo bị mất, hai là ánh sáng c ủa thân thể biến mất, ba là nƣớc tắm thấm khắp thân, bốn là bản tánh bồn chồn, năm là hai mắt chớp động”. Tứ tƣớng (四相): là ngã tƣớng, nhân tƣớng, chúng sanh tƣớng, thọ giả tƣớng. Cũng có thể hiểu là bốn tƣớng sanh, lão, bệnh, tử. Tứ ân (四恩): bốn ân. Ân cha mẹ sanh ra nuôi lớn, ân thầy tổ dạy dỗ dìu dắt, ân vua dùng Chánh pháp trị nƣớc an bình, ân Tam Bảo giúp lợi ích hữu tình. Ân vua nay có thể hiểu là ân của các vị điều hành đất nƣớc. Ân Tam Bảo có chỗ thay bởi ân chúng sanh cúng dƣờng tứ sự. Tam hữu (三有): tức là tam giới, là dục, sắc, vô sắc hữu. Đã có chú thích ở trên. “Chư Phật chánh pháp… tùy nguyện sở thành.” Lúc trƣớc đã có nói “Vị chứng bồ đề chi gian, thệ nguyện quy y thƣợng sƣ Tam Bảo” là đã phát nguyện quy y, thế nên ở đây là phát nguyện quy y Tam Bảo một lần nữa. Hƣớng thẳng Bồ Đề mà quy y, tu hành thiện căn, thành Phật rồi quay trở lại độ chúng hữu tình, khiến cho chúng sanh có ƣớc nguyện thế gian hay xuất thế gian đều đƣợc thành tựu. “Cẩn y Du Già giáo, …, giai cọng thành Phật đạo” Nƣơng theo lời dạy trong Du Già mà kiến lập đàn tràng, cầu nguyện cho hết thảy chúng sanh đều thành Phật.

46

Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, Từ Điển Phật Học Hán Việt I, tr. 926

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 193


Chương III. Chú Giải

“Thứ kiết viên mãn phụng tống ấn.” “Ngạn, quan tƣ lai, mục kia sái mục. - Tịnh thủy từ từ chú hạ.”

Câu “tịnh thủy từ từ chú hạ” là do thấy trong hành trì có nên đƣa vào, thực tế trong khoa không có. Sau khi hiến hóa xong xuôi thì quyết ấn phụng tống. Quán tƣởng chƣ Phật, Bồ Tát cùng tứ sanh lục đạo đều không hiện hữu. Pháp thân chƣ Phật, Bồ Tát vốn vô khứ vô lai, nếu có khứ lai thì khác gì kẻ thƣờng tình. Chúng sanh lục đạo cũng vậy, hết thảy đều do tâm tạo, bổn tánh trạm nhiên không không tịch tịch, đâu có đến đi. Vậy thì quyết ấn viên mãn phụng tống để làm gì? Đã quán tƣởng tất cả đều không hiện hữu, thì đúng là chẳng nên có sự nghênh tống. Tuy nhiên, nếu không nghênh tống, thì chẳng thành lễ nghĩa đƣợc. Tứ sanh lục đạo, tuy bản thể vốn viên mãn sáng suốt, nhƣng vì mê lầm vô minh, chạy theo trần cảnh, tâm thể nhiễm ô mà hóa hiện pháp giới hữu tình. Chƣ Phật Bồ Tát vì thƣơng xót chúng sanh mà “dĩ vô sanh hiện phƣơng tiện thân”. Pháp thân chƣ Phật vốn không sanh không diệt, thị hiện sanh diệt để tiếp dẫn mê căn, vốn dĩ vô khứ vô lai mà hiện khứ lai tùng chơn lƣu hóa. Giống nhƣ trăng in bóng nƣớc, hiện hiện khắp ngàn sông. Chính vì theo lẽ đó mà có xuất hiện, nên có nghênh có tống. Nghênh tống cũng chỉ là một phƣơng tiện mà thôi. “Ngạn, quan tư lai, …, tát đỏa ho.” Thần chú này có tên gọi là thần chú bổ khuyết. Pháp sƣ lúc đăng đàn thủ ấn lẫn lộn thứ tự, quán tƣởng không chuyên chú, niệm chú nhầm lẫn, những lỗi nhƣ thế, khi tụng chú này xong thì đƣợc thanh tịnh. Lại quán tƣởng chữ “乇” màu hoàng kim, trì niệm một hơi liên tục hai mƣơi mốt biến, quán tƣởng những hành tác trƣớc đây đều “bất khả đắc”. Nếu không làm nhƣ thế thì sẽ cảm quả hữu vi. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 194


Chương III. Chú Giải

“Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi”có nói : “Lúc đầu khi đăng đàn, thì dùng chữ “岆” làm chủ, sao bây giờ lại quán chữ “乇”, há chẳng phải là tiền hậu bất nhất hay sao?” Đáp: Chữ “岆” là đại bi chơn thể, là lợi sanh diệu trí, cho nên ban đầu dùng nó làm chủ. Còn chữ “乇” có nghĩa là vô sanh, cũng còn gọi là Bồ Tát uy lực nhập vô sai biệt cảnh giới. Những việc đã làm trên đều là nhƣ huyễn Tam muội, thiền tọa trên đạo tràng hàng phục chúng ma, thành tựu Phật sự nhƣ ý. Tuy là có những sự khác biệt, nhƣng uy lực của chữ này đã rất rõ ràng. Đƣơng thể vốn không sai biệt, cuối cùng chứng nhập tự tánh Niết Bàn vô sanh diệt. Lại nữa, tất cả những việc trên đều là từ nhân duyên sanh, mà pháp tánh vốn vô sanh. Trung luận nói: “Chƣ pháp từ duyên sanh, lại cũng do duyên diệt, duyên sanh pháp chẳng sanh, duyên diệt pháp chẳng diệt.” Đối với những sự nhƣ trên, thì nào đâu có chút nào là tăng giảm hao tổn đâu. Do đó mà nói là hành trì Du Già Diệm Khẩu thật chẳng dễ chút nào.”

47

Sau đây là bản đối chiếu giữa bản Phạn âm và bản dịch Hán ngữ: Om, vajra sattva samaya manu-palaya. “唵。斡資囉(二合)薩埵蘇。薩麻耶。麻納巴辢耶。” Vajra sattva tvenopatistha。 “斡資囉(二合)薩埵諦。奴鉢諦瑟劄(二合)” Dridhome bhava “得哩(二合)鋤。彌癹咓。” Su-tosyo me bhava “蘇度束。彌癹咓。” Anu-rakto me bhava “阿奴囉屹都(二合)。彌癹咓。” Su-posyo me bhava “蘇布蘇。彌癹咓。” Sarva siddhi me pra-yaccha 47

Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, tr. 0299c24.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 195


Chương III. Chú Giải

“薩哩斡(二合)。戌提彌。不囉(二合)耶茶。” Sarva karma sucame “薩哩斡(二合)。葛哩麻(二合)。蘇拶彌。” Cittam sriyam kuru hum “稷達。釋哩(二合)揚。骨嚕。吽。” Ha ha ha ha hoh “訶。訶。訶。訶。斛。” Bhagavan sarva tathagata “癹葛灣。薩哩斡(二合)。答塔葛達” Vajra mame munca vajri bhava “斡資囉(二合)。麻彌們拶。斡資囉(二合)癹咓。” Maha-samaya sattva ah “麻訶薩摩耶。薩埵阿 (引)” Hồi hướng kệ 施食功德殊勝行。無邊勝福皆回向。普願沉溺諸衆生。速往無量光佛刹。 十方三世 一切 佛。文 殊普賢 觀自在 。諸尊 菩薩 摩訶薩 。 摩訶 般若波 羅 密。” Bao nhiêu công đức, phƣớc lợi thù thắng do việc thí thực mà có, nay nguyện hồi hƣớng cho tất cả chúng sanh sớm đƣợc sanh về cảnh giới của đức Phật Vô Lƣợng Quang. Vô lƣợng quang (無量光): là một trong mƣời ba danh hiệu của đức Phật Vô Lƣợng Thọ, tức là đức A Di Đà. Kinh Vô Lƣợng Thọ ghi rằng: “Phật Vô Lƣợng Thọ còn có hiệu là Vô Lƣợng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Đối Quang, Diệm Vƣơng Quang, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỷ Quang, Trí Tuệ Quang, Nan Tƣ Quang, Bất Đoạn Quang, Vô Xƣng Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang.” 48 “Thƣợng lai! Tu thiết Mông Sơn, … Hòa nam thánh chúng.”

48

Phật Thuyết Vô Lƣợng Thọ Kinh, 佛說無量壽經, Đại Chánh Tạng, T12, No. 0360, q1, tr. 0270a23.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 196


Chương III. Chú Giải

Hòa nam (和南): “còn gọi là Bà nam. Mới phiên âm là Bạn-đàm, Bạn-đề, Phiền-đạm, Bàn-đạm, Bàn-đồ-vị, Bàn-na-mị, Bạn-ể, Bạn-đàn-nam, dịch là cúi đầu kính lễ.” 49 Nghĩa tƣơng tự từ Namo (nam mô). Nhƣ vậy, nguyên cụm từ “Hòa nam Thánh chúng” có nghĩa là “cúi đầu kính lễ Thánh chúng”. Diễn xƣớng câu này lên tức là pháp đàn đã kết thúc rồi vậy. Trong khoa, ở những câu thần chú đôi lúc có hai chữ “nhị hiệp” (二合), ấy là ghi chú phải đọc liền nhau. Nguyên văn tiếng Phạn là một chữ đa âm, nhƣng do Trung Hoa dùng ngôn ngữ đơn âm, nên khi phiên phải phiên thành nhiều chữ, do đó phải đọc liền nhau. “Thiên cơ Mông Sơn Tập Yếu Thí Thực Nghi chung” “Thiên cơ Mông Sơn Tập Yếu Thí Thực Nghi” đến đây là hết. Do câu này mà biết Bản Trung Khoa Du Già Tập Yếu này có nguồn gốc từ khoa nghi Du Già của Ngài Thiên Cơ.

49

Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, Từ Điển Phật Học Hán Việt I, tr. 563

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 197


CHƢƠNG IV: GIA TRÌ

4.1. Đàn tràng Đàn tràng là nơi bày các lễ vật hay pháp khí cho nghi thức hành lễ, cầu nguyện, tu tập, v.v… “Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Đàn Nghi” có ghi: Ngƣời muốn tác pháp nên chọn những chỗ đất thuần tịnh sạch sẽ, dùng hƣơng hoa kiến lập đàn tràng, quy mô lớn nhỏ tùy sức của thí chủ. Lấy phan phƣớn bảo cái treo quanh, sắp lên các thứ hoa hƣơng đăng đồ. Những việc cúng dƣờng đều nên đầy đủ nhƣ pháp.1 Trong khoa nghi chẩn tế thí thực, đàn tràng đƣợc bố trí dựa trên đồ hình Mạnđà-la. Mạn-đà-la (Hán: 曼陀羅; Skt: Maṇ ḍ ala), còn gọi là Mạn-đồ-la, Mãn-đồ-la, Mạn-đát-la, Mạn-nô-la v.v…, gọi tắt là Mạn-nô, Mạn-đồ, Hán dịch là “đàn” hay “luân viên cụ túc” (輪圓具足, tròn trặn viên mãn đầy đủ). Đàn hay đạo tràng là nghĩa về mặt thể, luân viên cụ túc là nói về mặt nghĩa. Mạn-đà-la là một cái đàn đƣợc đắp bằng đất hình vuông ho ặc tròn, trên đó hội tụ đầy đủ chƣ Phật, Bồ Tát, tạo thành một đại pháp môn có đủ trục, vành, nan hoa, tạo thành một bánh xe tròn trặn.2 Xuất phát từ tƣ tƣởng Kinh Đại Nhật và Kim Cang Đỉnh, hai bản kinh chủ đạo của Mật giáo, thì Mạn-đà-la có hai dạng: Thai Tạng Giới Mạn-đà-la và Kim Cang Giới Mạn-đà-la. Thai tạng có nghĩa là che lấp, ẩn dấu, chứa đựng, nhƣ đứa trẻ đƣợc chứa đựng, ấn kín và đƣợc nuôi dƣơng trong bào thai. Ý ở đây là lý thể có đầy đủ công đức mà không bị mất, biểu hiện đại bi tâm của Phật. Thai tạng giới Mạn-đà-la thuộc về lý, còn có tên là Nhân Mạn-đà-la, Lý Mạnđà-la, vì nó biểu hiện cho cái lý tính vốn có của chúng sanh, còn gọi là Đông Mạnđà-la vì nó lấy phƣơng Đông làm vị trí mà nhân phát sanh, cũng gọi là Liên Hoa Mạn-đà-la vì đức tính của nó không dính bụi trần, nhƣ hoa sen.

1

Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi, 瑜伽集要燄口施食儀, Gia Hƣng Tạng, J19, No. B047, tr. 0201b22 2 Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, Từ Điển Phật Học Hán Việt I, tr. 826


Chương IV. Gia Trì

Thai tạng giới đƣợc hình dung nhƣ một đóa sen có tám cánh, chính giữa gọi là trung thai tạng, còn gọi là trung đài tạng, do Đức Đại Nhật Nhƣ Lai ngự tọa. Tám cánh sen gồm bốn vị Phật ở bốn phƣơng (gồm: phƣơng Đông Bảo Tràng Phật, phƣơng Nam Khai Phu Hoa Vƣơng Phật, phƣơng Tây Vô Lƣợng Thọ Phật, phƣơng Bắc Thiên Cổ Lôi Âm Phật) và bốn đại Bồ Tát ở bốn góc (gồm: Phổ Hiền Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát và Từ Thị Bồ Tát). Kim Cang giới (Vajradhatu) là trí đức nội chứng của Phật. Trí đức ấy rất bền vững, có thể phá tất cả các phiền nào, cho nên đƣợc ví nhƣ là Kim Cang. Kim Cang giới Mạn-đà-la thuộc về trí. Nó có hình dạng cơ bản là một hình tròn, gọi là “nguyệt luân”. Trong đó bố trí năm vị Nhƣ Lai. Chính giữa là vị Đại Nhật Nhƣ Lai (Mahāvairocana-tathāgata), đó chính là pháp thân Phật. Ý nghĩa của danh hiệu này là nhƣ mặt trời tỏa ánh sáng bao dung khắp vũ trụ. Mahāvairocana đƣợc phiên âm là Đại Tỳ-lô-giá-na, nếu nghiệm theo mật nghĩa thì đây chính là Đức Phật Thích-ca-mâu-ni.

3

Xung quanh Đại Nhật Nhƣ Lai là vị trí của bốn Đức Nhƣ Lai. Bốn vị Nhƣ Lai này lại có bốn vị Bồ Tát thân cận. Ngoài ra lại có thêm bốn nhiếp Bồ Tát nữa. Về cơ bản, Kim Cang giới Mạn-đà-la có tất cả ba mƣơi bảy tôn vị chủ não. Mật giáo lại chia Mạn-đà-la làm bốn loại: Đại Mạn-đà-la, Tam muội Mạn-đà-la, Pháp Mạn-đà-la và Yết ma Mạn-đà-la. - Đại Mạn-đà-la: là đồ hình Mạn-đà-la biểu thị các đức Phật và các tùy tùng đƣợc trình bày trên một mặt phẳng. - Tam muội da Mạn-đà-la: là đồ hình Mạn-đà-la biểu thị chƣ Phật Bồ Tát bằng những khí cụ tƣợng trƣng của mỗi vị. - Pháp Mạn-đà-la: dùng văn tự để trình bày toàn thể chƣ Phật và Bồ Tát. - Yết ma Mạn-đà-la: là đồ hình Mạn-đà-la đƣợc tạo thành bởi các hình ảnh điêu khắc. Đàn tràng chẩn tế thí thực ngày nay đƣợc bố trí theo đại Mạn-đà-la. Bởi theo “Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ” thì đại Mạn-đà-la có năm bộ. Đầu tiên là Phật bộ, do Đức Tỳ-lô-giá-na làm bộ chủ; thứ hai là Kim Cang bộ, do A Sơ Phật làm bộ chủ; thứ ba là Bảo bộ, do Bảo Sanh Phật làm bộ chủ; thứ tƣ là Liên 3

Xem Tinh Hoa Triết Học Phật Giáo, Junjiro Takakusu, Tuệ Sỹ Dịch, 2008, Nxb Phƣơng Đông, tr. 222

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 199


Chương IV. Gia Trì

Hoa bộ, do A Di Đà Phật làm bộ chủ, thứ năm là Yết Ma bộ, do Bất Không Thành Tựu Phật làm bộ chủ. Trong ngũ bộ, mỗi bộ lại có bốn đại phẩm: một là Kim Cang giới, hai là Hàng tam thế, ba là Biến điều phục, bốn là nhất thiết nghĩa thành tựu. Trong bốn phẩm thì mỗi phẩm lại có kiến lập sáu Mạn-đà-la. Đó là đại Mạn-đà-la, Tam muội da Mạn-đà-la, Pháp Mạn-đà-la, Yết ma Mạn-đà-la, Tứ ấn Mạn-đà-la, Nhất ấn Mạn-đà-la.

4

Phối hợp với Ngũ phƣơng, Ngũ trí, Ngũ Phật thì ta có kết quả nhƣ sau: - Đông phƣơng: Đại viên cảnh trí, A Sơ Phật, Kim Cang bộ. - Nam phƣơng: Bình đẳng tánh trí, Bảo Sanh Phật, Bảo bộ. - Tây phƣơng: Diệu quán sát trí, A Di Đà Phật, Liên Hoa bộ. - Bắc phƣơng: Thành sở tác trí, Bất Không Thành Tựu Phật, Yết ma bộ. - Trung ƣơng: Pháp giới thể tánh trí, Tỳ-lô-giá-na Phật, Phật bộ. Về màu sắc, trong “Chƣ Phật Cảnh Giới Nhiếp Chân Thật Kinh” ghi Phật Bộ màu trắng, Kim Cang Bộ màu xanh, Bảo Bộ màu vàng, Liên Hoa Bộ màu đỏ, Yết Ma Bộ ngũ sắc 5. Tuy nhiên, theo Khoa Du Già thì Phật Bộ màu vàng, Kim Cang Bộ màu xanh, Bảo Bộ màu đỏ, Liên Hoa Bộ màu trắng, Yết Ma Bộ màu đen. Sở dĩ nhƣ vậy là vì do phong tục mỗi nơi một khác. Khoa Du Già do chƣ Tổ Trung Hoa biên soạn, cho nên nó hoàn toàn chịu ảnh hƣởng của văn hóa Trung Hoa. Ngƣời Trung Hoa quan niệm Đông phƣơng Giáp Ất Mộc màu xanh, Nam phƣơng Bính Đinh Hỏa màu đỏ, Tây phƣơng Canh Tân Kim màu trắng, Bắc phƣơng Nhâm Quý Thủy màu đen, Trung ƣơng Mậu Kỷ Thổ màu vàng. Thứ tự sắp xếp của đàn tràng từ trong ra ngoài nhƣ sau: 1. Bàn Phật, nơi tham lễ Giác hoàng. 2. Nghê đài, bao gồm màn sƣ tử, bảo tòa, màn song khai, bàn Kinh sƣ. 3. Án thờ đức Giác Hoa Định Tự Tại Vƣơng Nhƣ Lai 6, gọi tắt là Án Giác Hoa. 4. Ngũ phƣơng Phật. 5. Án địa tạng. 6. Bàn hộc thực. 4

Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ, 瑜伽燄口註集纂要儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1084 q1, tr. 0324c10 5 Chƣ Phật Cảnh Giới Nhiếp Chân Thật Kinh, 諸佛境界攝真實經, Đại Chánh Tạng, T18, No. 0868, tr. 0282a09-0282b08 6 Xem Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Ht Thích Trí Tịnh Dịch, 2007, Nxb Tôn Giáo, tr. 22

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 200


Chương IV. Gia Trì

7. Bàn Tiêu Diện. 8. Bàn thổ thần (bên phải, hƣớng từ trong ra). 9. Bàn tiên linh (tùy nghi). 4.2. A xà lê A-xà-lê (Hán. 阿闍梨, Skt. Ācārya), Ngài Huyền Tráng dịch là giáo thọ, quỹ phạm, chánh hạnh. Giáo thọ (教授): bậc thầy dạy đạo pháp. Quỹ phạm (軌範): bậc thầy có đủ nghi quỹ, phép tắc. Chính hạnh (政行): bậc thầy dạy và sửa những hành vi của đệ tử. A-xà-lê có năm chủng là Xuất gia A-xà-lê, Thọ giới A-xà-lê, Giáo thọ a-xà-lê, Tiếp dẫn A-xà-lê và Y chỉ A-xà-lê. Tuy nhiên, ở đây không bàn về những điều đó, mà chỉ nói về vị A-xà-lê trong Khoa Du Già, tức là vị Gia trì sƣ. “Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ” giải thích chữ A-xà-lê là: “Đối với các loại Mạn đồ la, cho đến tất cả chơn ngôn, thủ ấn, quán hành tất địa của Chƣ tôn, mà đều thông đạt và đƣợc truyền pháp quán đảnh thì đƣợc gọi là A-xà-lê.”

7

Cũng theo đó, ngƣời có thể đƣợc gọi là A-xà-lê phải là ngƣời có thể điều phục đƣợc tâm chúng sanh, đƣợc tâm tự tại, pháp tự tại, phƣơng tiện tự tại, thông giải tam mật, có thể tùy nghi mà diễn giáo hóa độ chúng sanh. “Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ” ghi nhận Quốc sƣ Kim Cang trí, ngƣời Thiên Trúc, đã đƣợc Ngài Long Trí (Nagabodhi) 8 thân truyền pháp A xà lê, đến Trung Hoa vào năm Đƣờng Khai Nguyên thứ bảy (719 SCN) đã dựng đàn lập đạo tràng quán đảnh, đƣợc xem là thủy tổ của A-xà-lê Trung Hoa. Nếu ngƣời nào phát tâm Bồ Đề vô thƣợng, theo thầy Du Già A-xà-lê học, thọ Tam muội da giới, thâm nhập Mạn-đà-la, đƣợc thọ ngũ trí quán đảnh của Đức Tỳlô-giá-na thì đƣợc tiếp nối A-xà-lê vị, có thể truyền giáo. Nếu không đƣợc nhƣ thế mà vẫn tu hành thì tất tự chuốc lấy tai họa, đã không có đƣợc chút lợi ích gì mà còn mắc tội trộm pháp. Đó là tội “Việt Tam muội da”, tức là làm sai trái hay bản thể 7

Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ, 大毘盧遮那成佛經疏, Đại Chánh Tạng, T39, No. 1796, q3, tr. 0611b21 8 Vị Tổ thứ tƣ của Mật tông. Xem Long Trí, Từ Điển Phật Học Hán Việt I, Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, tr. 760

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 201


Chương IV. Gia Trì

(Tam muội da) của Nhƣ Lai, là tội của những kẻ thọ học hay trao truyền pháp yếu bí mật một cách bừa bãi. Thế nên tất cả chơn ngôn hay ấn chú, đều nên do vị quán đảnh A-xà-lê truyền thọ. Nếu nhƣ có ngƣời ngƣời nào muốn học tập pháp này một cách thành tựu, thì trƣớc hãy tu tập quán trí và các ấn tƣớng cho thông suốt, đừng để nhầm lẫn. Bởi khi gia trì mà còn có chỗ nghi ngờ hay nhầm lẫn thì không thành ấn khế đƣợc, khiến cho các bậc Hiền thánh chẳng đƣợc hoan hỷ. Mà việc gia trì cần sự gia hộ của chƣ Phật, Bồ Tát, Thánh hiền rất nhiều, nếu nhƣ gia trì không tinh thục thì sự gia hộ ấy tất nhiên chẳng đƣợc, làm cho những việc sở cầu đều không thành tựu.9 Theo “Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh”, thì trƣớc lúc gia trì, Gia trì sƣ “quán thân thể của mình thành nhƣ Kim Cang vững chắc không bị tán hoại, rồi ngồi theo thế Kim Cang kiết già, là lấy chân phải chồng lên bắp đùi chân trái. Thân thể ngồi một cách đoan nghiêm, lƣỡi và răng, môi hòa hiệp mà xuất Kim Cang ngữ. Kim Cang ngữ là ngôn ngữ vô thanh, chỉ do tâm mặc niệm. Dùng trí tuệ quán sát kỹ tự tâm nhƣ một vòng tròn viên mãn (nguyệt luân), quán ở ngay đầu mũi không để tán loạn, khiến tâm viên mãn thanh khiết nhƣ thủy tinh, nhƣ tuyết đọng, nhƣ sữa trâu. Nguyệt luân ấy chính là Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm này vốn vô tƣớng, nhƣng vì những chúng sanh chƣa thành t ựu nên mới nói là nguyệt luân. Lấy tay phải kết Kim Cang quyền, nắm lấy đầu ngón trỏ tay trái, đó là “Năng Dữ Vô Thƣợng Bồ Đề Tối Tôn Thắng Ấn”, là ấn của đức Bổn sƣ Tỳ-lô-giá-na Nhƣ Lai.”

10

Suy cầu tự tâm, cho đến lúc “bất khả đắc”, thì đã có thể nhập vào nhân không trí và pháp không trí, tức là chẳng có cái tâm sở đắc nào cả. Quán đến chỗ viên minh, tịnh không có chút trần cấu nào nữa, giống nhƣ trăng mùa thu. Đƣợc nhƣ thế thì chắc chắn thành tựu đƣợc đại viên cảnh trí. Trong “Phật Thuyết Du Già Đại Giáo Vƣơng Kinh”, phẩm “Quán Tƣởng Bồ Đề Tâm Đại Trí” thứ bảy, Phật dạy: “Bồ Đề tâm này tức là thân tƣớng. Thân tƣớng tánh không tức là chơn Bồ Đề.” 11 Sau khi thành tựu quán Bồ Đề tâm, gia trì sƣ phát tâm làm cho pháp giới chúng sanh cũng đồng đƣợc nhƣ thế. 9

Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ, 瑜伽燄口註集纂要儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1084 q1, tr. 0325a18-0325a20 10 Thủ Hộ Quốc Giới Đà La Ni Kinh, 守護國界主陀羅尼經, Đại Chánh Tạng, T19, No. 0997 q2, tr. 0530a06 11 Phật Thuyết Du Già Đại Giáo Vƣơng Kinh, 佛說瑜伽大教王經, Đại Chánh Tạng, T18, No. 0890 q4, tr. 0577a28

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 202


Chương IV. Gia Trì

4.3. Ấn chú 4.3.1. Thủ Ấn Ấn (Hán: 印, Skt: Mudrā), còn gọi là ấn khế, ấn tƣớng, khế ấn, v.v… Có ba loại: thủ ấn, khế ấn, pháp ấn. - Thủ ấn: là ấn tƣớng đƣợc kết bằng các ngón tay. - Khế ấn: là ấn tƣớng đƣợc biểu thị bằng các pháp khí mà chƣ bản tôn cầm trên tay. - Pháp ấn: là những điều đƣợc quyết định trong giáo lý của Phật, nhƣ tam pháp ấn. Sau đây chỉ nói rõ về thủ ấn. Ấn đƣợc dùng các ngón tay kết thành gọi là Thủ ấn. Hình tƣớng của Thủ ấn gọi là ấn tƣớng, là hình ảnh tƣợng trƣng cho nội chứng Tam muội và ngoại tƣớng bản thệ của chƣ Phật, Bồ Tát, v.v… Thủ ấn thuộc về thân mật, khi kết hợp với khẩu mật, ý mật, gọi là tam hòa hiệp. Đó là thân quyết ấn, miệng tụng chơn ngôn, ý quán tƣởng bổn tôn. Nhƣ vậy thì đạt đến đƣợc hoàn thành tam hòa hiệp. Đó gọi là tam hòa hiệp.

12

Một khi thành tựu tam hòa hiệp, còn gọi là tam mật gia trì, thì hành giả có thể đạt đến trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối, tâm vắng lặng mọi sự xao động, có thể đạt đến quả vị Vô thƣợng Bồ Đề. Đức Thế tôn Đại Biến Chiếu Kim Cang Nhƣ Lai nói với Kim Cang Thủ Bồ Tát rằng: Ông nay hãy lắng nghe, ta nay vì ông mà nói pháp Tam Kim Cang Đại Trí sở sanh bí mật ấn tƣớng. Nếu ngƣời trì tụng y pháp mà quyết ấn, thì có thể tiêu diệt đƣợc tất cả các tội chƣớng, lại có thể quán tƣởng chân lý, chứng đắc đƣợc quả vị Vô thƣợng Bồ Đề, huống gì là những điều sở cầu khác.13 Theo “Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ” thì tay phải là chỉ, tay trái là quán. Mƣời ngón tay ứng với thập độ, thứ tự nhƣ sau: Tay phải: 1. Ngón cái

: Thiền định Ba-la-mật

12

Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ, 大毘盧遮那成佛經疏, Đại Chánh Tạng, T39, No. 1796, q20, tr. 0780a08 13 Phật Thuyết Du Già Đại Giáo Vƣơng Kinh, 佛說瑜伽大教王經, Đại Chánh Tạng, T18, No. 0890 q4, tr. 0574b24

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 203


Chương IV. Gia Trì

2. Ngón trỏ

: Tinh tấn Ba-la-mật

3. Ngón giữa

: Nhẫn nhục Ba-la-mật

4. Ngón áp út : Giới Ba-la-mật 5. Ngón út

: Bố thí Ba-la-mật

Tay trái: 6. Ngón cái

: Trí Ba-la-mật

7. Ngón trỏ

: Lực Ba-la-mật

8. Ngón giữa

: Nguyện Ba-la-mật

9. Ngón áp út : Phƣơng tiện Ba-la-mật 10. Ngón út

: Tuệ (Bát Nhã) Ba-la-mật14

Trong khoa nghi, mỗi mỗi ấn tƣớng đều có câu chú thích chỉ bày phƣơng pháp quyết ấn rõ ràng. 4.3.2. Thần chú Mỗi ấn lại có một chơn ngôn kèm theo, đó gọi là thần chú. Chơn ngôn (Mantra) là ngữ mật trong tam mật của Nhƣ Lai. Đó là ngôn ngữ bí mật đƣợc phát ra do sức thiền định nên có thần lực không thể lƣờng đƣợc. Diệu dụng của thần chú là giúp cho hành giả trì niệm quán tƣởng thâm nhập Tam muội để phát sinh trí tuệ. Hành giả luôn giữ gìn thân, khẩu, ý thanh tịnh, thƣờng xuyên tu

14

Xem Thập độ, Từ Điển Phật Học Hán Việt I, Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, tr 57

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 204


Chương IV. Gia Trì

tập thiền định quán tƣởng cho đến khi thực chứng đƣợc trí tuệ giải thoát chứ không hề lƣu tâm đến các năng lực thần thông có đƣợc trong thời gian tu tập. Chơn ngôn phải đƣợc niệm thật chậm rãi, rõ ràng, không đƣợc bỏ sót hay lãng quên để cho thân tâm đƣợc an tĩnh. Quyết ấn thuộc về thân mật, mỗi khi quyết ấn thì miệng tụng chơn ngôn, đó là khẩu mật; rồi ý phải quán tƣởng đến nội dung mà ấn tƣớng và chơn ngôn kia biểu thị, đó là ý mật. Làm đƣợc nhƣ thế mới có thể gọi là thành tựu tam mật gia trì. 4.4. Gia trì Đầu tiên, Kinh sƣ đến trƣớc bàn Phật đảnh lễ ba lần. Kế Sám chủ đến giữa bàn Phật, khai ngọa cụ, trì kệ: “Ngọa cụ ni sƣ đàn, Trƣởng dƣỡng tâm miêu tánh, Triển khai đăng thánh địa, Phụng trì Nhƣ Lai mạng. Án, đàn ba, đàn ba, sa ha.” Sám chủ quỳ niêm hƣơng, mật niệm: “此一辨香。牛頭馥郁。香像氤氳。繚繞於鷲嶺山中。芬芳於毘耶室內。 隨處結祥雲而作盖。香煙凝瑞氣以為臺。六殊可換千金。一炷能薰三際。先 供釋迦調御。次供淨平本師。三供靈山會上。無量聖賢。哲眾淨班。天龍八 部。護法善神。一切聖眾。承此寶香證明佛事。” “Thử nhất biện hƣơng, ngƣu đầu phúc úc, hƣơng tƣợng nhân uân, liễu nhiễu ƣ Thứu lĩnh sơn trung, phân phƣơng ƣ Tỳ da thất nội. Tùy xứ kiết tƣờng vân nhi tác cái, hƣơng yên ngƣng thoại khí dĩ vi đài. Lục thù khả hoán thiên kim, nhất chú năng huân tam tế. Tiên cúng Thích ca điều ngự, thứ cúng Tịnh độ bổn sƣ, tam cúng Linh sơn hội thƣợng, Vô lƣợng Thánh hiền, Triết chúng tịnh bang, Thiên long bát bộ, Hộ pháp thiện thần, nhất thiết Thánh chúng, thừa thử bảo hƣơng, chứng minh Phật sự.” Nam mô Hƣơng Cúng Dƣờng Bồ Tát Ma ha tát. (ba lần) Đứng dậy, chuyển hƣơng cho trai chủ. Trai chủ quỳ khấn nguyện. Thâu hƣơng cắm lên lƣ. Trai chủ đảnh lễ ba bái, Sám chủ đảnh lễ ba bái. Sám chủ thầm niệm: “Năng lễ sở lễ tánh không tịch, Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 205


Chương IV. Gia Trì

cảm ứng đạo giao nan tƣ nghì. Ngã thử đạo tràng nhƣ đế châu, Thập phƣơng chƣ Phật ảnh hiện trung. Ngã thân ảnh hiện chƣ Phật tiền, Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ.” Sám chủ quỳ niêm hƣơng. “Giới hƣơng định hƣơng dữ huệ hƣơng, Giải thoát giải thoát tri kiến hƣơng. Quang minh vân đài biến pháp giới, Cúng dƣờng thập phƣơng vô thƣợng tôn.” “第一株真香供養釋迦牟尼佛。奉請降臨壇內証明功德。” “Đệ nhất châu chơn hƣơng, cúng dƣờng Bổn sƣ Thích Ca Mâu Ni Phật. Phụng thỉnh giáng lâm đàn nội chứng minh công đức.” Cắm một nén hƣơng vào thủ lƣ. “第二 株真香供養觀世音菩薩。奉請降臨壇內証明功德。” “Đệ nhị châu chơn hƣơng, cúng dƣờng Quán Thế Âm Bồ Tát. Phụng thỉnh giáng lâm đàn nội chứng minh công đức.” Cắm nén hƣơng thứ hai vào thủ lƣ. “第三株真香供養地藏王菩薩啟教阿難陀尊者。奉請降臨壇內証明功德 。” “Đệ tam châu chơn hƣơng, cúng dƣờng Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát, Khải giáo A Nan Đà Tôn Giả. Phụng thỉnh giáng lâm đàn nội chứng minh công đức.” Cắm nén hƣơng thứ ba vào thủ lƣ. “見聞普薰証寂滅。一切眾生亦如是” “Kiến văn phổ huân chứng tịch diệt, nhất thiết chúng sanh diệc nhƣ thị. Nam mô Hƣơng cúng dƣờng Bồ Tát Ma ha tát.” (ba lần) Khởi thân đảnh lễ ba bái. Mật niệm: “Thiên thƣợng thiên hạ vô nhƣ Phật, Thập phƣơng thế giới diệc vô tỷ. Thế gian sở hữu ngã tận kiến, Nhất thiết vô hữu nhƣ Phật giả.” Khởi thân, thâu ngọa cụ, qua bên trái, trải ngọa cụ, đảnh lễ một bái, mật niệm: Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 206


Chương IV. Gia Trì

“南無大知文殊師利菩薩擁護臣僧” “Nam mô Đại Trí Văn Thù Sƣ Lợi Bồ Tát ủng hộ thần tăng.” Thâu ngọa cụ, qua bên phải, trải ngọa cụ, đảnh lễ một bái, mật niệm: “南無大行普賢菩薩擁護臣僧” “Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ủng hộ thần tăng.” Khởi thân, thâu ngọa cụ, đến giữa bàn Phật, trang nghiêm cầm Thủ xích đƣa lên ngang trán, mật niệm: “奉持法度釋迦尊。登壇說法利人天。 六道眾生齊解脫。孤魂餓餽盡超昇。” “Phụng trì pháp độ Thích Ca tôn, Đăng đàn thuyết pháp lợi nhơn thiên. Lục đạo chúng sanh tề giải thoát, Cô hồn Ngạ quỷ tận siêu thăng.” Tay trái cầm Thủ xích, tay phải thƣ lên ba mặt trƣớc của Thủ xích ba chữ “抮丌 帊”, mặt sau thƣ chữ “雨漸耳”, mật niệm: “香焚寶篆祝皇恩。萬古康寧享太平。 惟願帝朝歸一統。尊風肆海永流傳。” “Hƣơng phần bảo triện chúc hoàng ân, Vạn cổ khƣơng ninh hƣởng thái bình. Duy nguyện đế triều quy nhất thống, Tôn phong tứ hải vĩnh lƣu truyền.” Cầm Thủ xích thƣ ba chữ “抮丌帊” giữa hƣ không, mật niệm: “抮 biến vi thiên, 丌 biến cửu tuyền,帊 biến hƣ không.” Mật niệm: “願降道場証明功德”, (nguyện giáng đạo tràng chứng minh công đức). Cầm Thủ xích thƣ tứ tung ngũ hành. Vỗ Thủ xích. Nhạc lễ dứt, khai chuông mõ. Vỗ Thủ xích. Cử tán: “Giới định chơn hƣơng,...”

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 207


Chương IV. Gia Trì

Đến “Phần khởi”, vỗ Thủ xích, nâng thủ lƣ, xá một xá. Đến “Đệ tử kiền thành”, vỗ Thủ xích, xá một xá, rồi đi theo dạng chữ “亞” đến chỗ trai chủ, chuyển Thủ lƣ cho trai chủ. Sám chủ vòng theo hƣớng bên trái trở về giữa bàn Phật. Tán “Giới định” xong, Sám chủ vỗ Thủ xích, thán: “Thăng trầm tam giới…” Xong, Sám chủ quỳ, vỗ Thủ xích, thán: “Cái văn! Hồng luân tây trụy,…” Đến “đồng âm tán dƣơng Tam Bảo”, vỗ Thủ xích, vị Duy na cử tán tán dƣơng Tam Bảo, Kinh sƣ đồng hòa. Sám chủ nâng mão Tỳ Lô, mật niệm: “毘盧頂上尊。遍滿虛空界。 眾生離苦趣。八部來護持。 人千共喜悅。奄精進慧莎訶。” “Tỳ Lô đảnh thƣợng tôn, Biến mãn thập phƣơng giới. Chúng sanh ly khổ thú, Bát bộ lai hộ trì, Nhân thiên cọng hỷ duyệt Án, tinh tấn tuệ, toá ha.” Đội mão Tỳ Lô rồi đứng dậy. Kinh sƣ tán dƣơng Tam Bảo xong, Sám chủ thán: “觀音菩薩妙難殊。清浄莊嚴累劫修。 千處有求千處應。苦海常作度人舟。” “Quan Âm Bồ Tát diệu nan thù, Thanh tịnh trang nghiêm lũy kiếp tu. Thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng, Khổ hải thƣờng tác độ nhơn chu.” Duy na cử tán: “Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”, dẫn ra ngoại đàn, hành lễ theo khoa nghi. Tại Kim đài, Sám chủ chân phải thƣ chữ “杀鬼”, chân trái thƣ chữ “卍”. Đăng bảo tọa, Sám chủ bƣớc chân trái lên trƣớc. Quyết ấn Chuẩn đề, thƣ chữ “抮丌帊”gia trì chính giữa màn sƣ tử. Quyết ấn Chuẩn đề, thƣ chữ “抮剆屇抳芀帊” gia trì hai bên màn sƣ tử.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 208


Chương IV. Gia Trì

Quyết ấn Chuẩn đề, thƣ chữ “抮”gia trì đỉnh đầu, “丌”gia trì hai mắt, “帊” gia trì miệng, “岆” gia trì yết hầu và rốn. Thƣ hai chữ “抮歾”gia trì hai chân. Quyết ấn Cam lồ, tay phải thƣ chữ “抮丌帊”gia trì bảo tọa. Quyết ấn Chuẩn đề, thƣ chữ “抮丌帊”gia trì chính giữa màn song khai. Quyết ấn Luân tƣơng giao gia trì hai bên màn song khai. Nâng Thủ xích, thƣ hai chữ “抮歾”. Kế thƣ ba chữ “抮丌帊”. Xong vỗ Thủ xích, cử “Hội khởi Mông sơn…” Khi tán “Phật diện”, quyết ấn Tam Bảo; “Ngũ phƣơng kiết giới” quyết mƣời lăm bộ ấn tƣơng ứng. Về sau thì y khoa diễn giáo, tùy ấn chú mà phụng hành. Trên đây là khái quát về việc hành trì khoa nghi, do ngƣời viết trích dịch từ khoa nghi và tham khảo từ chƣ tôn đức. Do mỗi vị hành trì mỗi khác, nên khi so sánh với cách hành trì trên ắt hẳn sẽ có một vài điểm khác biệt. Vấn đề ngƣời có thể hành trì, xƣa nay đều phải do sƣ truyền. Chỉ do sƣ truyền mới có thể liễu giải thấu triệt đƣợc những chỗ bí mật của khoa nghi. Nếu nhƣ chƣa đƣợc sƣ truyền, mà đã bƣớc vào việc gia trì, thì nhƣ phần A-xà-lê trên đã nói, sẽ phạm vào tội Việt Tam Muội Da. Cho nên, những gì ngƣời viết đƣa ra trên đây, chỉ có thể đƣợc xem là một điểm nhỏ để tham khảo mà thôi.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 209


CHƢƠNG V: GIÁ TRỊ CỦA KHOA NGHI

5.1. Giá trị văn học “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi” có thể đƣợc xem là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh, đậm nét nghệ thuật. Thời gian ra đời của nó, đến nay vẫn chƣa xác định đƣợc. Tuy nhiên, do lịch sử biên soạn san định lâu dài, nó đã mang trên mình những nét tinh túy nhất của văn học Trung Hoa, đặc biệt là những đặc điểm của thơ văn từ thời Đƣờng - Tống. Văn học thời Thịnh Đƣờng - Tống, đƣợc ngƣời ta ghi nhận là đã phát triển đến tột bực của văn học Trung Hoa. Những đặc điểm của văn học thời kỳ này đều trở thành những mẫu mực, những thƣớc đo để ngƣời ta so sánh giá trị của các tác phẩm văn học. Và những tác phẩm nào khoác trên mình những đặc điểm đó sẽ trở thành một tác phẩm có giá trị, có thể xem là đã đạt đến mức hoàn mỹ. Với cách sử dụng ngôn từ đạt đến mức thần diệu, giàu tính biểu tƣợng, kết hợp với những bài thơ chuẩn về âm luật, đậm đầy tính nhạc, những đoạn văn xuôi theo lối biền ngẫu, những lối ẩn dụ so sánh, v.v… “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi” hội đủ những yếu tố để trở thành một trong những kiệt tác văn học cổ Trung Quốc. Điểm nổi bật của khoa Du Già là sự kết hợp hài hoà cùng với âm nhạc lúc hành trì. Một tác phẩm đƣợc trình bày theo các tiết tố âm nhạc không phải là hiếm. Tuy nhiên, làm đƣợc nhƣ Khoa Nghi Du Già thì quả thực là vô tiền khoáng hậu. Những điệu nhạc lúc trang nghiêm, lúc cao vút, lúc trầm hùng, lúc bi thiết, hòa cùng với cung điệu xƣớng ngâm tán tụng của chƣ Tăng, đã diễn tả hết nội dung mà khoa nghi hàm chứa. Một thành công khác của khoa nghi là những cố sự lịch sử Trung Hoa đƣợc đƣa vào một cách rất nghệ thuật. Thông qua những điển tích, khoa nghi đã chuyển tải đến ngƣời nghiên cứu một giai đoạn khá lâu dài của lịch sử ngƣời Hán, biến nó thành một cuốn lƣợc sử đầy tính văn chƣơng. Với những giá trị ấy, xét trên mặt văn học, Khoa Du Già đã trở thành một tác phẩm có vị trí rất quan trọng trong kho tàng văn học Trung Quốc nói riêng, cũng nhƣ trong nền văn học của nhân loại nói chung.


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

5.2. Giá trị nhân văn của tác phẩm. Đức Nhƣ Lai từ bi xuất thế, hóa độ chúng sanh thoát khỏi mê lƣu. Tinh thần ấy, trải qua bao thế kỷ đã hình thành nên một Đạo Phật mang đậm chất nhân văn, len lỏi vào trong tâm thức của bất cứ loài hữu tình nào để giải thoát khổ đau cho chính họ. Ra đời trong giai đoạn mà Phật giáo Trung Hoa phát triển đến cực thịnh, “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi” chứa đựng toàn bộ những giá trị tinh thần của Phật giáo, và đã trở thành một tác phẩm đầy chất nhân văn. Mục đích chính yếu của pháp sự Du Già chính là bố thí ẩm thực cho cô hồn ngạ quỷ, rồi sau thuyết pháp cho họ xả bỏ đƣờng mê mà siêu về tịnh cảnh. Duyên khởi để lập ra pháp sự này phát khởi từ lòng thƣơng vạn loại hữu tình đang chìm đắm trong đêm dài mù mịt của kiếp khổ luân hồi: “Thăng trầm tam giới thiệt khả thƣơng, Luân hồi lục đạo khổ nan đƣơng.” Chúng sanh vốn dĩ có đủ tánh giác nhƣ nhƣ, quang minh xán l ạn, ấy vậy mà vô minh lầm mê chạy theo trần cảnh, để rồi phải đọa lạc vào chốn “minh đồ vô nhật nguyệt”, ngụp chìm trong “nghiệp hải thiếu từ hàng”. Chính vì cứu giúp những chúng sanh nhƣ thế, pháp sự đƣợc kiến lập. Dựng Mạn-đà-la, thỉnh cầu chƣ Phật Bồ tát quang lâm chứng minh gia hộ. Đây là ý nghĩa Phật giáo luôn luôn có mặt ở nơi mà chúng sanh đang cần tế độ. Thông qua những lời cầu thỉnh tán dƣơng chƣ Phật, khoa nghi đã cho chúng sanh thấy một cảnh Phật thật trang nghiêm huy hoàng. Đó là một cảnh giới nguy nga mỹ lệ, tràn đầy những niềm vui an lạc, hoàn toàn không có những khổ đau, là nơi mà bất cứ loài hữu tình nào cũng ƣớc muốn đƣợc sanh về. Kế đó là phƣơng pháp để sanh về cảnh Phật, là cách cúng dƣờng, tu tập, từ bỏ những hành nghiệp bất thiện. Đối nghịch với cảnh Phật trang nghiêm ấy là một thế giới đầy dẫy khổ đau, những địa ngục chứa đầy khí cụ, những kiếp sống đày đọa của loài súc sanh, hay một trần gian lắm sự phiền não. Tất cả những điều đó đã đƣợc diễn tả thông qua văn thỉnh thập nhị loại cô hồn.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 211


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

Mƣời hai loại cô hồn ấy, ngoài ý nghĩa đề cập những loài ngạ quỷ đang chịu cảnh đói khát khổ đau, thì còn nói đến những hạng ngƣời trực tiếp thác sinh vào loại cô hồn đó, hiện đang sống trên trần gian này. Những hạng ngƣời ấy, sang có, hèn có; hoặc vua chúa quý tộc, hoặc bình dân bốn hạng,… không ai là tránh khỏi kiếp khổ luân hồi. Lời văn thể hiện tấm lòng thƣơng xót cho những phận ngƣời cô độc nghèo hèn, những phận phụ nữ thảm thƣơng, là những kiếp ngƣời khi còn sống đã phải chịu nhiều điều đau đớn, lúc chết cũng chẳng đƣợc ấm no, lại dƣờng nhƣ oán trách những kẻ quyền thế cao sang, sống trong cảnh nhung lụa, bóc lột muôn dân để làm nên sự nghiệp. Những tƣởng mấy kẻ đế vƣơng, sanh thời sống trong những cung điện nguy nga, tự xƣng là thiên tử, thì khi thác xuống thì phải khác ngƣời. Ấy vậy mà có khác chi những phận dân đen. Vì lòng tham mở mang bờ cõi, mà đã gây nên bao cuộc chiến tranh, đƣa dân lành vào cảnh lầm than đói khát, không nhà cửa. Nào có mấy ai gầy cuộc chiến tranh để dân no ấm, chỉ thấy nhân dân dứng dậy chống xâm lăng. Lạ thay, kiếp kiếp đời đời, lịch sử thăng trầm ai cũng rõ, vậy mà lắm kẻ lại vẫn đua nhau tranh giành vƣơng vị, có biết đâu “ngàn năm vƣơng khí thoáng qua”, để rồi khi thất bại thì lòng dạ oán sầu đến nỗi “năm nƣớc tiếng oan còn mãi”. Chung quy lại, cũng đều trở thành loài ngạ quỷ đói khát mà thôi. Thấp thoáng đằng sau những vị quân vƣơng là những vị văn quan “xa lìa đất tổ đã lâu”, hay những bậc võ tƣớng “sức dời đỉnh nặng nghìn cân, thân giữ trƣờng thành vạn dặm”, vì vua mà xông pha ở chốn trận địa, thống lãnh ba quân đánh phá quân địch. Văn thỉnh thể hiện một niềm ngậm ngùi khi đặt ra một câu hỏi u buồn: “Tƣớng quân chiến mã còn đâu nữa? Hoa đồng cỏ nội vấn vƣơng sầu”. Lời văn cũng bày tỏ niềm cảm thƣơng đối với những kẻ thƣ sinh dùi mài kinh sử kiếm chút công danh, hay những vị Thích tử áo nâu tu học thoát ly sanh tử, cũng có những vị đạo sĩ luyện thuốc trƣờng sinh, tìm lối về cảnh Bồng Lai. Đề cập đến những phận ngƣời bình thƣờng bình dân bốn hạng, bên cạnh những hạng ngƣời sống ở chốn thành thị phong nhiêu, hay những chốn thôn quê bình dị, vẫn có những kẻ sanh ra ở nơi biên địa hạ tiện, sống với những cổ tục từ thời xa xƣa. Hoặc cũng có kẻ mắc phải những dị tật đui điếc ngọng câm, lác hủi điên cuồng. Đó Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 212


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

là quả báo cho những kẻ sanh thời khinh khi phỉ báng Tam bảo, hỗn láo bất hiếu với mẹ cha. Có những ngƣời giao thƣơng buôn bán dãi nắng dầm sƣơng, để rồi phải “gió sƣơng ai ngỡ, thân vùi bụng cá biển sâu; đƣờng sá ai ngờ, mạng uổng vào thân hùm sói”. Có những chàng thanh niên tráng sĩ, gặp lúc chiến tranh lâm vào chiến trận, hoặc vì tổ quốc chống kẻ xâm lăng, hoặc vì quân vƣơng bạo ngƣợc sai đi xâm lƣợc. Ruổi tháng ngày dầm dề nơi chiến trận, rủi mình nhằm viên đạn mũi tên, tàn cốt phải dập vùi nơi hiểm địa. Cực khổ gian lao là thế, nhƣng chiến công ai hƣởng, may mắn thì nguyên vẹn mà trở về hƣởng chút quân lƣơng, còn không thì xác thân chôn rấp vào nơi hoang mạc, chẳng biết nắm xƣơng khô năm nào mới về lại đƣợc quê hƣơng. Cảm phận những ngƣời bồ liễu, tuy làm bậc cung phi sống trong cảnh lầu son điện tía, hoặc những kẻ giai nhân khuê các, mà nói nhƣ Cụ Nguyễn Du là “những cậy mình cung quế hằng nga”, cuối đời lại phải chịu cảnh lạnh lẽo cô đơn. Có những kẻ phải nhảy lầu tự vẫn, cũng có kẻ bị ép buộc quyên thân, có ngƣời lại lâm vào cảnh sản nạn “trai gái chƣa phân, mẹ con đã về địa phủ”. Hạng ngƣời mà văn thỉnh nhắc đến cuối cùng là những con ngƣời sống cuộc đời hành khất ngƣợc xuôi. Sống không nhà cửa, hoặc ở đầu cầu, hoặc nơi xó chợ, mòn mỏi đói khát qua ngày nhờ tấm lòng nhân ái c ủa mọi ngƣời. Dõi qua năm tháng, chịu cảnh rét căm của những đêm đông lạnh giá, bị muỗi mòng cắn hút trong những tháng hè oi bức. Trên là những vị vua quyền quý cao sang, với những vị quan ngày ngày tôn xƣng là minh quân thiên tử, vẫn có những hạng ngƣời chui lủi ăn xin nhƣ thế. Lời văn dƣờng nhƣ thƣơng xót, vừa nhƣ oán trách. Tựu trung lại, tuy nói thập nhị loại cô hồn, nhƣng đó cũng là những hạng ngƣời hiện sống trên cõi trần gian. Từng câu văn nhƣ những lời khuyên dành cho mỗi ngƣời. Dù sang giàu quyền quý, hay nghèo hèn cực khổ, chung quy cũng trở thành một nắm xƣơng vô chủ ở ven đƣờng, để cho hậu thế mỗi khi nhìn thấy phải tỏ bày nỗi niềm thƣơng cảm: “Ơi hỡi khô lâu, nằm chi ở mé bờ sông, gió thổi đìu hiu, tảo biếc mọc xanh, trăng khuya soi, lạnh căm căm. Chẳng có ai ngƣời bà con thăm viếng. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 213


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

Ơi hỡi khô lâu, nằm ở bên đƣờng. Này khô lâu, ngƣời là tiên tổ của nhà ai kia. Gió thổi mƣa dầm sƣơng tuyết rơi. Đớn tim gan, lệ nhỏ dài. Ơi hỡi khô lâu, sao chỉ còn hốc mắt vành mi thật thẳm sâu.” Cảm thƣơng cho kiếp khổ luân hồi của những loài hữu tình nhƣ thế, khoa nghi đã cầu thỉnh chƣ Phật dùng pháp âm cam lồ, trƣớc biến thí các thứ ẩm thực, sau diệt trừ cội rễ vô minh, bằng cách chỉ cho chúng sanh thấy rõ: “chơn tâm tĩnh lặng, thấy tánh tội thảy đều không”, từ đó mà thoát ly sanh tử, chứng nhập Niết Bàn. 5.3. Giá trị tƣ tƣởng giáo lý. Là một tác phẩm của Phật giáo, thì điều đƣơng nhiên, “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi” sẽ chuyển tải những nội dung giáo lý Phật giáo. Điều đáng nói ở đây, là tuy đƣợc soạn dựa trên cơ sở giáo pháp mật tông, nhƣng dƣờng nhƣ tất cả những giáo lý căn bản của Phật giáo, từ những duyên khởi của A Hàm, hay những pháp giới trùng trùng duyên khởi của đại thừa Hoa Nghiêm, tất cả đều đƣợc giới thiệu và chuyển tải một cách đầy đủ. Ở đây chỉ điểm xuyết qua một vài chỗ mà khoa nghi nhắc đến. 5.3.1. Mật tông. Mật tông (密宗) đƣợc hình thành vào khoảng thế kỷ thứ V-VI tại Ấn Độ, du nhập vào Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ VII và thịnh hành vào thế kỷ thứ VIII với sự xuất hện của ba vị cao tăng Ấn Độ sang truyền pháp là Thiện Vô Uý (637735), Kim Cang Trí (663-723) và Bất Không Kim Cang (705-774). Ấn và chú là hai đ ặc điểm quan trọng của Mật Tông. Tất cả chƣ tôn trong Mạnđà-la giới đều có bản nguyện riêng. Bản nguyện ấy đƣợc biểu hiện qua những khí cụ mà các Ngài cầm ở tay, hay là những hình ảnh biểu tƣợng (ấn tƣớng) đƣợc các Ngài dùng tay kết thành (thủ ấn). Pháp Tam mật gia trì là pháp môn tu tập của hành giả mật tông. Đó là thân quyết ấn, ý quán tƣởng nội dung của thủ ấn ấy, miệng niệm chơn ngôn (thần chú) tƣơng ứng. Thành tựu tam mật gia trì, hành giả có thể thâm nhập vào cảnh giới Tam muội da của chƣ Phật, tạo ra một năng lực vô cùng to lớn, hoàn thành đƣợc những điều sở nguyện. Ở đây là phụng thỉnh chƣ Phật, Bồ Tát gia hộ cho hành giả cứu vớt chúng sanh, Ngạ quỷ, cô hồn.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 214


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

5.3.2. Tịnh độ Tịnh độ (Hán. 淨土, Skt. Buddhakṣ etra) Phạn ngữ bao gồm Buddha (Phật) và Kṣ etra (độ), nghĩa là cõi Phật, cõi thanh tịnh. Theo quan niệm phổ biến nhất, và đƣợc nhắc đến nhiều nhất, thì tịnh độ chính là cõi Cực Lạc của Đức A Di Đà. Còn thực tế, mỗi mỗi cõi Phật đều đƣợc xem là tịnh độ. Một quan điểm khác, tịnh độ không chỉ về một quốc độ địa lí nhất định, mà là một trạng thái tâm thức đã đạt đến sự an tịnh, chứng nhập Niết Bàn. Khoa nghi nhắc đến Tịnh độ Cực Lạc là một cõi nƣớc trang nghiêm, đất đai bằng phẳng, làm bằng bảy báu, v.v… Đồng thời cũng cầu cho tất cả chúng hữu tình “đồng kiến Tây phƣơng Vô Lƣợng Quang” rồi sau đều đƣợc “tốc đắc vãng sanh An lạc sát”. Đó cũng chính là quan điểm của Tịnh Độ Tông, cầu sanh về Cực Lạc rồi tu tập chứng đạt Niết Bàn. 5.3.3. Lục độ Tức là Lục độ Ba-la-mật. Ba-la-mật, còn gọi là Ba-la-mật-đa (Skt. Pāramitā, Hán. 波羅蜜多) đƣợc dịch nghĩa là Đáo bỉ ngạn (到彼岸), Độ vô cực (度無極), Độ (度), Sự cứu cánh (事究竟). Lục độ bao gồm: Bố thí, Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ Ba-lamật. Bố thí Ba-la-mật Nội dung mà khoa Du Già chuyển tải rõ nhất chính là bố thí. Bố thí về mặt sự thì có nghĩa là chia sẻ, ban cho, cung cấp. Gồm ba loại: Tài thí, pháp thí và vô úy thí. - Tài thí: là bố thí tài sản vật chất (ngoại tài) hoặc công lao, thân mạng của chính mình (nội tài). Ở đây là bố thí ẩm thực cho Ngạ quỷ. - Pháp thí: là dùng lời khuyên chúng cô hồn bỏ ác hƣớng thiện, theo chánh pháp tu hành để đƣợc giác ngộ giải thoát. - Vô úy thí: là giúp chúng cô hồn hết sợ hãi khi đối biện với khổ cảnh nhƣ hoạn nạn, tai ách. Về mặt lý thì bố thí nghĩa là buông xả. Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy : “Bồ Tát đối với pháp không nên có chỗ trụ mà làm việc bố thí... Nếu Bồ Tát bố thí chẳng trụ tƣớng thì phƣớc đức không thể nghĩ bàn”. Khi tiếp xúc với mọi cảnh mọi duyên mà Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 215


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

tâm không dính mắc, không khởi niệm phân biệt phê phán, làm tất cả các việc vì ngƣời khác mà không chấp tƣớng, đó là hoàn toàn buông xả phù hợp với ý nghĩa sâu xa của Bố thí Ba-la-mật. Nhƣ thế, Bố thí Ba-la-mật vừa làm lợi cho mình vừa có ích cho ngƣời. Bố thí trong khoa Du Già đầy đủ cả hai nghĩa trên. Nó vừa là bố thí ẩm thực cho Ngạ quỷ, thuyết pháp cho họ đƣợc thoát cảnh khổ và đƣợc tâm vô úy, còn đối với tự thân hành giả thì đƣợc tăng trƣởng tự tâm. Trì giới Ba-la-mật Theo đại thừa, Trì giới có ba: - Nhiếp luật nghi giới: giữ gìn các luật nghi, dứt trừ những điều ác. Hành giả gia trì phải là ngƣời đầy đủ luật nghi. - Nhiếp thiện pháp giới: làm tất cả những điều thiện. - Nhiêu ích h ữu tình giới: độ hết thảy chúng sanh. Ở đây là hành giả làm lợi ích cho chúng cô hồn. Nhẫn nhục Ba-la-mật Gia trì sƣ không sanh tâm khởi niệm khi tiếp duyên xúc cảm, chứng đắc Vô sanh nhẫn hay Vô sanh pháp nhẫn. Trƣớc tất cả pháp, dù thấy nghe hiểu biết mọi sự nhƣng tâm Bồ Tát không xao động, không chấp trƣớc. Do tâm không nên các pháp đều không, dù là pháp thế gian hay pháp xuất thế. Tinh tấn Ba-la-mật Trong lúc gia trì, hành gi ả phải luôn luôn tinh tấn. Những việc quyết ấn, quán tƣởng, triệu thỉnh v.v… đều đòi hỏi có một sự chú tâm cao độ. Nếu hành giả có chút mỏi mệt mà buông tâm giải đãi, thì sự gia trì bất thành. Thiền định Ba-la-mật Thiền định là sự bình ổn nội tâm, không quay cuồng theo trần cảnh. Trong lúc gia trì, mỗi khi quyết ấn, hành giả ý quán khẩu niệm, thành tựu tam mật gia trì, thâm nhập cảnh giới Tam Muội Da, đó chính là thiền định. Thiền định giữ tâm hành giả bình thản an nhiên thanh tĩnh, làm phƣơng tiện cho trí tuệ vô thƣợng phát sinh. Lúc đó, tâm hoàn toàn vắng lặng, đồng nhƣ chƣ Phật. Trí huệ Ba-la-mật Hành giả quán triệt tự tánh Không của tất cả pháp không phải bằng ý thức tƣ Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 216


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

duy suy luận, mà do trí tuệ Bát Nhã thấu rõ đƣơng thể tức không, viên dung trong trạng thái nhất nhƣ. Hành giả thâm nhập chân lý tuyệt đối, nhận chân đƣợc thực tƣớng của vũ trụ vạn pháp. Bằng trí huệ thực chứng Pháp thân, Hành giả thấy rõ tất cả các Pháp xƣa nay, tƣớng của chúng thƣờng tự vắng lặng. Tƣớng ở đây là thực tƣớng vô tƣớng, vì khi tiếp duyên xúc cảnh, Bồ Tát không khởi niệm phân biệt chia chẻ, chủ thể và đối tƣợng nhận thức không hai. Mọi cảnh vẫn sống động vẫn lƣu chuyển, nhƣng tâm hoàn toàn thanh tịnh nên tất cả pháp đều là Phật pháp. Ở cuối khoa nghi, đoạn trì thần chú “Kim Cang Tát Đỏa Bách Tự” có nói Hành giả lúc đó phải vận dụng trí huệ Ba-la-mật quán chiếu tất cả mọi sự trƣớc đây đều “Bất Khả Đắc”. Nếu không có trí tuệ Bát Nhã thì làm sao có thể làm nhƣ thế đƣợc.. 5.3.4. Tam học Là giới định tuệ. Đầu khoa nghi có bài: “giới định chơn hƣơng, phần khởi xung thiên thƣợng…” Đó chính là nói về việc dùng hƣơng giới định tuệ kính cúng dƣờng chƣ Phật Bồ Tát. Nếu không thật tâm tu học giới định tuệ, thì không lẽ là nói suông? Không có gì mà gọi là cúng dƣờng chƣ Phật, nhƣ thế chẳng phải là hƣ dối? Hơn nữa, trong bài “Thử nhất biện hƣơng” lại còn nhắc đến tam học một lần nữa, cho nên biết vị trí của giới định huệ trong khoa nghi này rất là quan trọng. Trên đã nói lục độ, đã bao gồm sẵn giới định tuệ trong đó rồi, nay không nhắc lại nữa. 5.3.5. Tứ vô lƣợng tâm Thí thực là việc làm thể hiện tinh thần từ bi hỷ xả của đạo Phật. Tứ vô lƣợng (Skt. Catvāryapramāṇ āni, Hán. 四無量) là “bốn trạng thái tâm thức vô lƣợng”, còn đƣợc gọi là Tứ phạm trú (Skt. Caturbrahmavihāra, Hán. 四梵 住). Đây là thuật ngữ chỉ một phép thiền định, trong đó hành giả tạo điều kiện cho bốn tâm thức cao thƣợng phát sinh. Bốn tâm vô lƣợng là: - Từ vô lƣợng (Skt. Maitry-apramā ṇ a): đem lại niềm vui cho chúng sanh. Chẩn tế thí thực khiến cho chúng sanh kẻ còn ngƣời mất đều đƣợc an vui. - Bi vô lƣợng (Skt. Karu ṇ āpramā ṇ a): thƣơng xót cứu vớt sanh đang đau khổ. Các loài Ngạ quỷ cô hồn hoặc chịu đói khát, ho ặc chịu khổ trong địa ngục, hoặc

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 217


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

chịu các khổ nạn ở thế gian, gia trì pháp sự thỉnh cầu chƣ Phật, Bồ Tát dùng thần lực cứu độ. - Hỉ vô lƣợng (Skt. Muditāpramāṇ a): vui mừng khi thấy chúng sanh lìa khỏi đau khổ, đƣợc vui sƣớng. Chúng Ngạ quỷ cô hồn thì thoát khỏi nạn khổ, đƣợc ăn uống no đủ, trai chủ thì đƣợc phƣớc lợi. Hành giả lấy đó làm niềm an vui. - Xả vô lƣợng (Skt. Upek ṣ āpramāṇ a): xả bỏ tất cả không còn chấp trƣớc. 5.3.6. Duyên khởi Duyên khởi là một trong những giáo lý căn bản nhất của Phật giáo. Nó nêu lên nguồn gốc sanh khởi của tất cả các pháp trong vũ trụ đều là do nhân duyên kết hợp mà thành. Ngay ở đoạn đầu của khoa nghi, giáo lý duyên khởi đã đƣợc nêu lên, rất rõ ràng. Chúng sanh vốn phải “tƣ tu đăng thƣợng phẩm” nhƣng lại mê lầm tà kiến, chạy theo lục dục để rồi phải “lạc biên hƣơng”. Một đoạn khác lại nêu “do chúng sanh chi nghiệp cảm” mà “tích kiếp trầm luân”. Để rồi phải “thọ báo địa ngục chi trung, vĩnh lị khổ sở; chuyển sanh Ngạ quỷ chi nội, trƣờng nhẫn cơ hƣ”. Tóm lại, tất cả đều do chúng sanh mê lầm (vô minh) chạy theo trần cảnh mà bị đọa lạc vào nơi ác đạo. 5.3.7. Hoa Nghiêm Kinh Hoa Nghiêm, nói đ ủ là Hoa nghiêm Đại Phƣơng Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh (Hán. 大方廣佛華嚴經, Skt. Buddhāvataṃsaka-mahāvaipulyasūtra), là một bộ kinh Đại thừa, và là bộ kinh lập nên tƣ tƣởng căn bản của Hoa Nghiêm Tông. Kinh nhấn mạnh đến tính “vô ngại” của mọi hiện tƣợng và chủ trƣơng rằng tâm con ngƣời chính là vũ trụ và đồng thể với tâm Phật. Toàn bộ diệu lý của Hoa Nghiêm hầu nhƣ đã đƣợc chuyển tải qua bài kệ: “Nhƣợc nhơn dục liễu tri, Tam thế nhất thiết Phật, Ƣng quán pháp giới tánh, Nhất thiết duy tâm tạo.”1

1

Đại Phƣơng Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, 大方廣佛華嚴經, Đại Chánh Tạng, T10, No. 0279, q19, tr. 0102a09

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 218


Chương V. Giá Trị Của Khoa Nghi

Điểm xuyết trong khoa nghi, những tƣ tƣởng của Hoa Nghiêm đƣợc nhắc đến rất nhiều. Nhƣ trong bài “La Liệt” có câu: “Trùng trùng Phật cảnh nhất hào đoan” (muôn nghìn c ảnh Phật xuất hiện trong đầu sợi lông), hay ở trong bài “Thử nhất biện hƣơng” có câu: “Thâu lai tại nhất vi trần, tán khứ phổ châu sa giới” (gom lại thì chỉ trong một hạt bụi, phân tán thì bủa khắp pháp giới), là ý cả vũ trụ trong một hạt cải, nhất thiết tức nhất của Hoa nghiêm. Bên cạnh đó, những quan niệm về sự pháp giới, lý pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới (Thứ tƣởng kỳ hoa thƣ tiệm đại, kỳ lƣợng châu biến hƣ không giới), sự sự vô ngại pháp giới (tƣ bỉ giác hoa chiếu pháp giới, Nhƣ Lai hải hội cộng quảng đại) đều đƣợc khoa nghi nhắc đến một cách rõ ràng. 5.3.8. Tánh không, vô ngã. Vạn vật trong vũ trụ đều có chung một bổn tánh, đó là tánh không. Bổn lai vạn pháp đều nhƣ nhau, thế cho nên mới có câu: “Thủy bất tẩy thủy, diệu cực pháp thân. Trần bất nhiễm trần, phản tác tự kỷ.” (Nƣớc không tẩy nƣớc, đó là pháp thân thanh tịnh. Trần không nhiễm trần, đó là quay về với tự thể nhƣ nhƣ). Trong bài “Phục dĩ văn” có nói: “chơn nguyên trạm tịch, nãi tội tánh chi bổn không; khổ hải hồng thâm, trục vong ba nhi bất tức” cũng là nói tội tánh vốn không, chỉ do chúng sanh mê chấp thật ngã cho là có cho nên mới nảy sinh nhiều phiền não chƣớng ngại. Mục đích cuối cùng của khoa nghi này cũng chính là muốn cho hành giả và chúng sanh hữu tình đều thể nhập tánh không vô ngã này. Do đó mà trong đoạn chú thích của “Kim Cang Tát Đỏa Bách Tự Chú” có hƣớng dẫn cho hành giả quán tất cả những hành nghiệp vừa qua đều là “bất khả đắc”. Vì nếu nhƣ có đắc, có kẻ cho ngƣời nhận, có kẻ thọ báo thì còn vƣớng mắc ở trong hữu vi, đến chỗ bất khả đắc thì mới thoát khỏi đƣợc sự ràng buộc của hữu lậu.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 219


PHẦN KẾT LUẬN “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi” là một tác phẩm lớn, đó là điều không phải bàn cải. Cuốn “Trung Khoa Du Già Tập Yếu” hiện đang lƣu hành ở Việt Nam là kết quả từ một quá trình biên soạn, san lọc lâu dài của chƣ Tổ Trung Hoa và Việt Nam mà thành. Nó là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh, về mặt văn chƣơng lẫn nội dung. Có thể nói là một tác phẩm văn học đã đạt đến mức hoàn mỹ. Mỗi một bài thơ, câu kệ hay từng câu văn đều đƣợc trau chuốt một cách kỹ càng, vừa mang đậm nét nghệ thuật, vừa mang một chút gì đó âm hƣởng sống động, mà ngƣời ta gọi là tính nhạc của tác phẩm. “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi” là một tác phẩm mang đậm nét nhân văn. Đặc biệt là ở phần thỉnh thập nhị loại chúng sanh, nó khiến cho ngƣời đọc liên tƣởng đến những hiện thực trong cuộc sống, đến những mảnh đời côi cút cơ nhỡ trên cuộc đời này. Đó chính là những nghiệp cảm do chính chúng ta tạo ra. Do đó, một ý nhỏ đƣợc nêu ra là chúng ta hãy lấy đó làm gƣơng mà tu hành. Việc bố thí không dừng lại ở phạm vi các loài cô hồn Ngạ quỷ, mà còn một đối tƣợng khác cần đƣợc bố thí nữa, đó chính là những phận ngƣời cô khổ đang sinh sống trên cõi đời này, hay những loài chim bay thú chạy đang chuẩn bị bị dao vằm thớt chặt, chúng cần đƣợc bố thí sanh mạng. Bố thí ẩm thực là một hành động mang đậm tinh thần từ bi của Phật giáo, cũng là tính nhân văn của tác phẩm. Nó vừa làm cho chúng Ngạ quỷ cô hồn đƣợc no đủ, lại đƣợc nghe pháp mà siêu sanh; những ngƣời bố thí thì gặt hái đƣợc nhiều phƣớc lợi. Sự chuyển tải cùng lúc nhiều tƣ tƣởng giáo lý của Phật giáo trong khoa nghi, mà nổi bật nhất là Mật, Thiền và Tịnh Độ đã gợi cho ta một sự hòa đồng giữa các Tông phái Phật Giáo Trung Hoa thời bấy giờ. Hơn nữa, trong khoa nghi có thêm vào một chút gì đó của Nho và Lão, tuy là kín đáo, nhƣng cũng thể hiện tinh thần Phật-Nho-Lão cùng chung phát triển. Mục đích tối hậu của khoa nghi này, là không chỉ giới hạn ở mức bố thí ẩm thực và phƣớc lợi, mà còn vƣợt lên trên cả nó. Trách nhiệm cao cả và to lớn nhất thuộc về vị Gia trì sƣ, với sự gia hộ thần lực từ chƣ Phật, Bồ Tát, và sự hỗ trợ từ


Kết Luận

chƣ Tăng, là Ban Kinh sƣ. Hành gi ả, trong việc này cần đức để phục chúng, vì thuyết pháp cần phải có giới đức. Chúng sanh vô lƣợng, thì căn cơ cũng vô vàn, có ngƣời tùy thuận, có kẻ ƣơng bƣớng. Nếu hành giả có giới đức, nhƣng nếu thiếu định lực, ắt dễ bị xao động, nếu thiếu tuệ lực, ắt khó độ chúng sanh. Vậy nên hành giả cần phải đủ tam học. Trong lúc gia trì, Hành gi ả cẩn mật gia trì tam mật. Thành tựu đƣợc tam mật thì nhƣ kinh nói, là không có gì có thể trở ngại đƣợc, mọi sự đều viên thành. Trƣớc là bố thí cho chúng hữu tình, sau là dùng pháp hóa độ khiến cho chúng sanh hồi tâm chuyển niệm, phát tâm tu tập, nhân đó mà “trừ nghiệp chƣớng cho tiêu tan, diệt tội khiên cho thanh tịnh. Vạc dầu sôi sục, biến thành hồ sen tám công đức; lò lửa ngùn ngụt, hóa ra bảo cái bằng châu báu. Rừng kiếm trở thành cây báu, núi đao hóa hiện hoa sen. Mỗi mỗi giƣờng sắt, biến thành tòa báu Bồ Đề; chảo đồng sôi sục, hiện đề hồ vị cam lồ.” Từ đó mà thoát khỏi khổ não luân hồi, chứng nhập pháp thân thanh tịnh, thành tựu đạo quả viên mãn Bồ Đề. Đó mới chính là mục đích tối hậu của khoa nghi này. Một điểm cần nói nữa là, toàn bộ nội dung của khoa nghi này đều thuộc về Phật giáo, cho nên nó có thể thông dụng cho tất cả quốc gia lãnh thổ. Tuy nhiên, phần thỉnh thập nhị loại chúng sanh, tuy là ý thỉnh mỗi bài một loại cô hồn, song nó chứa đựng quá nhiều điển tích của Trung Hoa. Những điển tích nhƣ thế, lịch sử của Việt Nam không phải là không có. Thiết nghĩ, nhƣ có một vị học giả nào tài ba lỗi lạc, mà mang những trang sử của Việt Nam thay vào những điểm ấy thì thật rất là ý nghĩa. Khoa nghi là một văn bản có nội dung cực kỳ sâu rộng, ẩn tàng mật lý của Mật tông, bao quát luôn đến tƣ tƣởng Thiền, đến các bậc bác học đa văn còn chƣa thấu rõ, hà huống với cái trí nhỏ nhoi của ngƣời viết. Dẫu đã cố gắng hết sức mình, nhƣng không sao tránh khỏi những sai lầm, ngƣỡng mong Chƣ Tôn thạc đức cùng quý thiện hữu tri thức từ bi chỉ dạy.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 221


TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Thí Thực Hoạch Ngũ Phƣớc Báo Kinh, 施食獲五福報經, Đại Chánh Tạng, T02, No. 0132b, 1 Quyển. 2. Đại Phƣơng Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, 大方廣佛華嚴經, Đại Chánh Tạng, T10, No. 0279, 80 Quyển. 3. Phật Thuyết Vô Lƣợng Thọ Kinh, 佛說無量壽經, Đại Chánh Tạng, T12, No. 0360, 2 Quyển. 4. A Sơ Phật Q uốc Kinh, 阿閦佛國經, Đ ại Chánh Tạng, T11, No. 0313 , 2 Quyển. 5. Phật Thuyết Thập Bát Nê Lê Kinh, 佛說十八泥犁經, Đại Chánh Tạng, T17, No. 0731, 1 Quyển. 6. Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh, 大毘盧遮那成佛神 變加持經, Đại Chánh Tạng, T18, No. 0848, 7 Quyển. 7. A Xà Lê Đại Mạn Đồ Là Quán Đảnh Nghi Quỹ, 阿闍梨大曼荼攞灌頂儀軌, Đại Chánh Tạng, T18, No. 0862, 1 Quyển. 8. Kim Cƣơng Đỉnh Nhất Thiết Nhƣ Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vƣơng Kinh, 金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經, Đại Chánh Tạng, T18, No. 0865, 3 Quyển. 9. Chƣ Phật Cảnh Giới Nhiếp Chơn Thật Kinh, 諸 佛境 界 攝 真實 經, Đại Chánh Tạng, T18, No. 0868, 3 Quyển. 10. Phật Thuyết Du Già Đại Giáo Vƣơng Kinh, 佛說瑜伽大教王經, Đại Chánh Tạng, T18, No. 0890, 5 Quyển. 11. Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi, 瑜伽集要燄口施食儀, Gia Hƣng Tạng, J19, No. B047, 1 Quyển. 12. Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh, 守護國界主陀羅尼經, Đại Chánh Tạng, T19, No. 0997, 10 Quyển. 13. Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh, 佛說救拔焰口 餓鬼陀羅尼經, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1313, 1 Quyển.


Tài Liệu Tham Khảo

14. Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Thần Chú Kinh, 佛說救面 然餓鬼陀羅尼神咒經, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1314, 1 Quyển. 15. Thí Chƣ Ngạ Quỷ Ẩm Thực Cập Thủy Pháp, 施諸餓鬼飲食及水法, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1315, 1 Quyển. 16. Phật Thuyết Cam Lồ Kinh Đà La Ni Chú, 佛說 甘露 經 陀羅 尼咒 , Đại Chánh Tạng, T21, No. 1316, 1 Quyển. 17. Cam Lồ Đà La Ni Chú, 甘露陀羅尼咒, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1317 , 1 Quyển. 18. Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Quỹ Nghi Kinh 瑜伽集 要救阿難陀羅尼焰口軌儀經, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1318, 1 Quyển. 19.Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Khởi Giáo A Nan Đà D uyên Do, 瑜伽集要焰口施食 起教阿 難陀緣由, Đ ại Chánh Tạng, T21, No. 1319, 1 Quyển. 20. Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi, 瑜伽集要焰口施食儀, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1320, 1 Quyển. 21. Phật Thuyết Thí Ngạ Quỷ Cam Lồ Vị Đà La Ni Kinh, 佛說施餓鬼甘露味 大陀羅尼經, Đại Chánh Tạng, T21, No. 1321, 1 Quyển. 22. Tỉnh Thế Lục, 醒世錄, Gia Hƣng Tạng, J23, No. B122, 6 Quyển. 23. Thí Thực Thông Giám, 施食通覽, Vạn Tục Tạng, X57, No. 0961, 1 Quyển. 24. Trì Tụng Chuẩn Đề Chơn Ngôn Pháp Yếu, 持誦準提真言法要, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1079, 1 Quyển. 25. Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 瑜伽集要施食儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1080, 1 Quyển. 26. Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修設瑜伽集要施食壇儀, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1081, 1 Quyển. 27. Ƣ Mật Sấm Thí Thực Chỉ Khái, 於密滲施食旨槩, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1082, 1 Quyển. 28. Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi, 修習瑜伽集要施食壇儀, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1083, 2 Quyển. Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 223


Tài Liệu Tham Khảo

29. Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toan Yếu Nghi Quỹ, 瑜伽燄口註集纂要儀軌, Vạn Tục Tạng, X59, No. 1084, 2 Quyển. 30. Thích Ca Nhƣ Lai Ứng Hóa Lục, 釋迦如來應化錄, Vạn Tục Tạng, X75, No. 1511 2 Quyển. 31. Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ, 大毘盧遮那成佛經疏, Đại Chánh Tạng, T39, No. 1796, 20 Quyển. 32. Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm Yếu Tập, 顯密圓通成佛心要集, Đại Chánh Tạng, T46, No. 1955, 2 Quyển. 33. Thích Minh Cảnh Chủ Biên, 2003, Từ Điển Phật Học Huệ Quang, 8 Quyển, Nxb Tổng Hợp TPHCM. 34. Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992, Từ Điển Phật Học Hán Việt I. 35. Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1994, Từ Điển Phật Học Hán Việt II. 36. Thiều Chửu, 2011, Hán Việt Tự Điển, Nxb Thanh Niên. 37. HT Bích Liên, Nguyễn Văn Thoa phiên âm và chú giải, 2011, Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi, Nxb Tôn Giáo. 38. HT Thích Nhất Hạnh, 2004, Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000, Nxb Tôn Giáo. 39. HT Thích Nhất Hạnh, 2009, Con Sƣ Tử Vàng Của Thầy Pháp Tạng, Nxb Tôn Giáo. 40. HT Thích Huyền Tôn, 2007, Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi, Nxb Tôn Giáo. 41. Thích Kiên Định, 2010, Từ Điển Phạn-Anh-Việt, Nxb Thuận Hóa 42. Nguyễn Tôn Nhan, 1999, Từ Điển Thành Ngữ Điển Tích Trung Quốc, Nxb Văn Hóa Thông Tin. 43. Nguyễn Du, Truyện Kiều. 44. Nguyễn Du, Văn Chiêu Hồn. 45. Monier

Williams,

Sanskrit

English

Dictionary,

2002,

Munshiram

Manoharlal Publishers Pvt. Ltd.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 224


Tài Liệu Tham Khảo

46. Junjiro Takakusu, Tuệ Sỹ Dịch, 2008, Tinh Hoa Triết Học Phật Giáo, Nxb Phƣơng Đông. 47. Thích Minh Tông, 2011, Pháp Khí Mật Tông, Nxb Thời Đại. 48. Thích Minh Tuệ, 2012, Thần Bản Tôn, Nxb Hồng Đức. 49. Ht Thích Trí Tịnh Dịch, 2007, Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Nxb Tôn Giáo. 50. Thích Viên Giác dịch, 1998, Lƣơng Hoàng Sám, Nxb Tp.HCM.

Tìm Hiểu Về Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi

Trang 225


MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................6 2. Lịch sử vấn đề ..........................................................................................................6 3. Đối tƣợng và phạm vi tìm hiểu ..............................................................................7 4. Phƣơng pháp tìm hiểu .............................................................................................7 5. Bố cục luận văn ........................................................................................................7 PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................................8 CHƢƠNG I: GIỚI THIỆU .............................................................................................9 1.1. Duyên khởi của việc bố thí ẩm thực cho ngạ quỷ................................................9 1.2. Sự hình thành và lƣu truyền của khoa nghi ....................................................... 10 1.3. Ý nghĩa nhan đề .................................................................................................... 18 CHƢƠNG II: CHÁNH VĂN-PHIÊN ÂM-DỊCH NGHĨA ................................... 20 2.1. Chánh văn .............................................................................................................. 20 2.2. Phiên âm................................................................................................................. 48 2.3. Dịch nghĩa.............................................................................................................. 82 CHƢƠNG III: CHÚ GIẢI.......................................................................................... 116 CHƢƠNG IV: GIA TRÌ ............................................................................................. 198 4.1. Đàn tràng.............................................................................................................. 198 4.2. A xà lê .................................................................................................................. 201 4.3. Ấn chú .................................................................................................................. 203 4.3.1. Thủ Ấn .......................................................................................................... 203 4.3.2. Thần chú ....................................................................................................... 204 4.4. Gia trì.................................................................................................................... 205 CHƢƠNG V: G IÁ TRỊ CỦA KHOA NGHI.......................................................... 210 5.1. Giá trị văn học ..................................................................................................... 210 5.2. Giá trị nhân văn của tác phẩm. .......................................................................... 211 5.3. Giá trị tƣ tƣởng giáo lý....................................................................................... 214 5.3.1. Mật tông. ....................................................................................................... 214


Tài Liệu Tham Khảo

5.3.2. Tịnh độ .......................................................................................................... 214 5.3.3. Lục độ ........................................................................................................... 215 5.3.4. Tam học ........................................................................................................ 217 5.3.5. Tứ vô lƣợng tâm .......................................................................................... 217 5.3.6. Duyên khởi ................................................................................................... 218 5.3.7. Hoa Nghiêm ................................................................................................. 218 5.3.8. Tánh không, vô ngã. .................................................................................... 219 PHẦN KẾT LUẬN....................................................................................................... 220 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 222

Thichnhatthien  
Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you