Issuu on Google+

Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI HUẾ Khóa V (2009 – 2013) ..............................

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

HÇNH AÍN H VË PHAÏP SÆ TRONG KINH PHAÏP HOA

Ni sinh Thế danh

: THÍCH NỮ PHƢƠNG ANH : Nguyễn Thị Diệu Thu

Giáo sư hướng dẫn Thƣợng tọa Tiến sĩ: THÍCH NGUYÊN ĐẠT

Huế - 2013 1


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Hoàn thành t?p lu?n v?n này, con xin thành kính ??nh l?, ni?m ân: •Ch? Tôn ??c trong H?i ? ?ng Ch? ? ?o, H?i ? ?ng ? i?u Hành, cùng Ch? Tôn túc giáo th? s?, ch? v? giáo s? trong Ban gi?ng hu?n H?c vi?n Ph?t giáo Vi?t Nam t?i Hu? ?ã nhi?t tâm giáo d??ng, t?n tình truy?n trao nh?ng ki?n th?c c?ng nh? kinh nghi?m tu t?p trong su?t b?n n?m qua. •Giáo s? h??ng d?n, Th??ng T?a Ti?n s? Thích Nguyên ? ?t, ng??i ?ã t?n tình khích l? và h??ng d?n b?ng nh?ng g?i m? sâu s?c giúp cho con hoàn thành t?p lu?n v?n này. N?i ?ây, con c?ng xin cúi ??u tri ân ??nh l?: •Quý Hoà th??ng B?n s? th??ng L?u h? Hòa, và Ni Tr??ng th??ng Di?u h? ? ?t ?ã cho con gi?i thân hu? m?ng này. Ng??i vi?t c?ng vô cùng bi?t ?n: •Ch? Huynh ? ?, T?ng Ni Pháp H?u ?ã góp ý ??ng viên, chia s?, ?ng h? v? m?t tinh th?n l?n v?t ch?t ?? ng??i vi?t s?m hoàn thành t?p lu?n v?n này. •Ch? thi?n h?u tri th?c, Qúy Ph?t t? xa g?n, thân b?ng quy?n thu?c cùng kh?p c? pháp gi?i ?ã tr? duyên cho ng??i vi?t trong quá trình tu h?c. •Các tác gi?, d?ch gi? ?ã có nh?ng công trình nghiên c?u, biên kh?o, d?ch thu?t mà t?p lu?n v?n này ?ã dùng làm tài li?u tham kh?o. Nguy?n c?u h?ng ân Tam b?o th??ng gia h? Ch? Tôn ??c Pháp th? kinh an, Tu? ??ng th??ng chi?u, ngõ h?u làm bóng cây che mát cho ?àn h?u h?c n??ng náu. Thành tâm kính chúc Qúy Thi?n h?u tri th?c, Ch? v? Pháp h?u, cùng các ân nhân Ph?t t? thân tâm th??ng l?c, luôn s?ng an lành trong ánh sáng c?a m??i ph??ng ch? Ph?t. Nguy?n c?u th? gi?i hòa bình, nhân dân an l?c, pháp gi?i th?y chúng sanh, ?i?u tr?n thành Ph?t ??o. ? ông T h u y ?n, M ù a h ? Q ú y T ? 2 0 1 3 N i s i n h T h í c h n? P h ??n g A nh 2


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

NHẬN XÉT CỦA

GIAÙO THOÏ SÖ HÖÔÙNG DAÃN

3


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

XÉT DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH HỌC VIỆN

.................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... .................................................................................................................................... ....................................................................................................................................

4


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

LỜI CAM ĐOAN 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Con, Thích nữ Phương Anh xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng con. Các luận cứ, số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố trong bất kz trường hợp nào khác. Huế, ngày 15 tháng 5 năm 2013

Người thực hiện

Ni sinh Thích Nữ Phương Anh

5


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

LỜI MỞ ĐẦU Từ thuở nhỏ, lúc khi mới bước chân vào chùa xuất gia học đạo, người viết thường theo các thời khóa trì tụng kinh chú, trong đó có kinh Pháp Hoa. Mặc dù, lúc đó tuổi còn nhỏ không hiểu gì về tông chỉ của kinh, nhưng tận sâu của tâm thức cảm thấy có một niềm tin vô hạn và cảm nhận được sự an lạc sau mỗi lần trì tụng. Rồi sau này, được tham dự vào các lớp dưới mái trường Phật học, được sự chỉ dẫn tận tình của các vị giáo thọ, thì bản kinh Pháp Hoa bỗng tỏa sáng trong tâm trí qua các câu chuyện và nội dung của kinh, trong đó người viết tâm đắc nhất là hình ảnh của một vị Pháp sư lý tưởng trong sự nghiệp tu tập và trao truyền gìn giữ kho tàng Phật pháp chảy mãi trong thế gian. Thiết nghĩ, vấn đề hoằng pháp độ sanh là công việc của một hành giả tu tập theo công hạnh của Bồ tát, hầu mong gieo mầm từ bi vào trong dân gian, giúp mọi người nhận chân được tính Phật trong mình mà phát tâm phấn đấu tu tập, lợi lạc quần sanh; giúp mình và người định hướng được con đường đang đi và ngày càng tiến bộ thăng hoa tâm linh giải thoát. Phật pháp là thuốc hay trị tất cả những căn bệnh của thế gian, biết dùng phương tiện để đi vào đời, giúp người thoát khổ, chứng quả bồ đề. Tất cả chúng ta rất may mắn đã được thừa hưởng gia tài pháp bảo mà đức Thế Tôn đã để lại. Đó là nhờ do đâu? Là nhờ sự dày công hoằng hóa của đức Phật và các vị Tổ sư đã tương truyền ngọn đuốc chánh pháp mãi không bao giờ lụi tắt. Dù xã hội đã trãi qua bao biến động lịch sử, mà ngọn đuốc ấy vẫn sáng mãi ra khắp năm châu, bốn bể là một sự nổ lực rất lớn bằng cả sự nhiệt tâm và kể cả tính mạng của mình để bảo tồn cho đạo pháp hôm nay. Do đó, người viết cảm thấy hoằng pháp là một việc làm rất cần thiết để có thể khai thông dòng suối pháp xuôi mãi về sau, làm dịu đi bao

6


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

nổi đau và hướng cho mọi người tìm về con đường chân lý giải thoát. Làm được như vậy mới thật sự đền đáp trong vô lượng ân đức của đức Phật đã không mệt mỏi thuyết ra giáo pháp dạy dỗ chúng ta. Cho nên chúng ta là một người đệ tử của Ngài, chúng ta luôn luôn với tâm niệm “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Đức Phật ngày xưa cũng thường khuyến khích, động viên các vị đệ tử đi hoằng hóa, thì ngày nay tại sao chúng ta lại không noi theo những tấm gương đó. Kinh dạy: “Này các Tỳ kheo! Như Lai đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian, các ông cũng vậy. Này các Tỳ Kheo! Hãy đi vì sự lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. Các ông hãy đi, nhưng đừng cùng đi hai người cùng một hướng, hãy đi một người một ngã, hãy truyền bá chánh pháp. Này các Tỳ kheo! Chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn. Hãy tuyên bố về cuộc sống toàn thiện và thanh tịnh. Chính Như Lai cũng đi, Như Lai sẽ đi về hướng Uruvela ở Sanànigàma để hoằng dương chánh pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; được vậy, là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ”. (Kinh Tương Ưng, tr.235) Hình ảnh vị pháp sư trong kinh Pháp Hoa đã ấp ủ trong suốt thời gian hành trì và tu học của mình, nên người viết đã chọn làm khoá luận tốt nghiệp cử nhân Phật học tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế. Chánh pháp được trường tồn hay phát triển chính là nhờ người thọ trì và truyền giảng kinh Pháp Hoa, mà việc thọ trì, thuyết giảng như thế nào để chánh pháp được trường tồn thì đó là vấn đề quan trọng nhất mà kinh Pháp Hoa muốn trỏ tới. Chính vì thế, người viết muốn đem cái khả năng và kiến thức trình bày theo sự hiểu biết của mình về hình ảnh của Pháp sư trong 7


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

kinh Pháp Hoa bước vào cuộc đời. Lần đầu viết luận văn có tính nghiên cứu sâu rộng, trong khi người viết với sự học hỏi còn rất nông cạn, nên không nói hết được ý mà bản kinh truyền đạt, nhưng bản hoài của một người xuất gia bằng niềm tin và lý tưởng muốn thấu rõ khả tính thành Phật của một chúng sanh đã thôi thúc người viết hoàn thành luận văn này. Đây cũng là nhờ vào sự gia hộ của chư Phật và Bồ tát, sự động viên và chỉ giáo của giáo thọ hướng dẫn và các thiện hữu tri thức. Hy vọng rằng sự chỉ giáo của quý vị để đề tài có thể trở thành một công trình nghiên cứu nâng cao và hoàn thiện hơn.

8


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

A. DẪN NHẬP 1. Đề tài và lý do chọn đề tài “Này các Tỳ Kheo! Hãy đi vì sự lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. Các ông hãy đi, nhưng đừng cùng đi hai người cùng một hướng, hãy đi một người một ngã, hãy truyền bá chánh pháp” Đoạn kinh trên đây rõ ràng đề cập đến hai lý tưởng mà mọi người con Phật đều phải hướng đến. Đó là lý tưởng giải thoát và lý tưởng phục vụ. Hai lý tưởng này đan quyện vào nhau như một thể đồng nhất: tự giác tức giác tha, giác tha tức tự giác; giải thoát là để phục vụ, và phục vụ để giải thoát; độ người chính là độ mình và độ mình chính là độ người. Nói khác đi, hoằng pháp độ sanh không chỉ là bổn phận thiêng liêng mà còn là một lý tưởng hướng đến của mọi người con Phật, những con người đang nỗ lực trên đạo lộ giải thoát, giác ngộ, hạnh phúc rốt cùng. Đạo Phật, trãi qua hơn hai ngàn năm trăm năm tồn tại và phát triển, lan toả khắp năm châu bốn biển, không nghi ngờ gì chính là nhờ ở vai trò hoằng pháp. Sự nghiệp hoằng pháp đã luôn được đặt ra của mọi tổ chức Tăng già Phật giáo, và hôm nay cũng vậy, vấn đề hoằng pháp đang được Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đặt ra một cách bức thiết. Những vấn đề như: thế nào gọi là hoằng pháp? Người hoằng pháp phải là người như thế nào? Đâu là những phẩm chất cần và đủ của một Pháp sư, của một người đảm nhiệm vai trò hoằng pháp? Tất cả những vấn đề này đã luôn được đặt ra và được trả lời với nhiều ý kiến cá nhân đóng góp đầy giá trị và sáng giá tại các cuộc hội thảo của Ban Hoằng Pháp Trung Ương, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Tuy nhiên hầu hết mọi ý kiến đều như những tích hợp từ những nguyên tắc giáo dục hay thuyết giảng mang tính phương Tây hay kinh nghiệm cá nhân, chứ

9


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

ít dựa trên cơ sở của một bản kinh Phật truyền thống nào. Chính từ suy nghĩ và cảm hứng này, người viết đã đi đến quyết định chọn đề tài: “Hình ảnh vị Pháp sƣ trong kinh Pháp Hoa” để thực hiện một nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp Cử nhân của mình. 2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu Như đề tài trên đây trỏ ra, kinh Pháp Hoa là phạm vi chính yếu để khai thác hình ảnh người Pháp sư trọng tâm nghiên cứu của luận này. Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh Đại thừa được đọc tụng, nghiên cứu phổ biến rộng rãi nhất trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc vùng Viễn Đông – Đông Á như Trung Quốc, Tây Tạng, Hàn quốc, Nhật Bản, Việt Nam,… Ở Trung Quốc, kinh Pháp Hoa là bộ kinh cơ sở của Tông phái Thiên Thai; ở Nhật Bản, bộ kinh này cũng là bộ kinh nền tảng của Tông Tendai (Thiên Thai – Nhật Bản), và Nichiren (Nhật Liên Tông). Ở Việt Nam chúng ta, hầu hết các chùa chiền, tịnh thất, tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia thuộc Bắc Tông đều trì tụng kinh Pháp Hoa, thậm chí đôi khi còn được trì tụng như là một kinh nhật tụng hằng ngày. Kinh Pháp Hoa còn gọi là Vô lượng nghĩa, nên giữa các cấp độ từ phàm phu đến bậc thánh có sự liễu tri khác nhau. Trong lĩnh vực nghiên cứu người ta cũng khai thác rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhưng ở đây, người viết tìm hiểu bộ kinh trong phạm vi hình ảnh của vị pháp sư. Đây là một vấn đề rất thiết thực của xã hội hôm nay trong sự nghiệp hoằng pháp mà Phật giáo chúng ta cần lưu tâm và áp dụng trong việc tu tập hằng ngày. Có nhiều học giả cho rằng, bản kinh Pháp Hoa được biết được tập thành vào khoảng chung quanh thế kỷ I Tây lịch, và đã được dịch từ Phạn ngữ ra Hoa ngữ cả thảy bảy lần. Trong đó, bản dịch Hán ngữ phổ biến nhất là bản của Ngài Kumarajiva vào khoảng đầu thế kỷ V Tây lịch. Ở Việt Nam, sự nghiên cứu Pháp Hoa có thể theo dấu từ thời Ngài Chi Cương Lương Tiếp thế kỷ III Tây lịch, và được nghiên cứu sâu rộng vào các đời Phật giáo thịnh trị Lý, Trần, và cả sau này, Hậu Lê, và Nguyễn. Trong thời 10


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

hiện đại này, có hai bản dịch Việt ngữ kinh Pháp Hoa, một do Hoà thượng Trí Tịnh dịch và một do Hoà thượng Trí Quang dịch. Hai bản dịch này đều dựa vào bản Hán ngữ do Kumarajiva dịch. Bản Hoà thượng Trí Quang dịch sau, có văn phong sáng hơn, có sự tham khảo đối chiếu với Phạn bản. Tuy nhiên, bản Việt ngữ của Hoà thượng Trí Tịnh do dịch trước, nên được phát hành rộng rãi, và sâu rộng vào quần chúng Phật tử Việt Nam. Chính vì lý do này, trong công trình nghiên cứu này, người viết sẽ lấy bản dịch Việt ngữ của Hoà thượng Trí Tịnh dùng để làm nguồn trích dẫn và nghiên cứu chính. Tuy vậy, bản dịch của Hoà thượng Trí Quang vẫn thường được dùng để tham khảo. 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu liên quan đến kinh điển Phật giáo, có hai phương pháp thường được dùng. Đó là phương pháp bổ dọc, tức là nghiên cứu tuần tự theo bản kinh. Đây là lối nghiên cứu mang tính truyền thống, chẳng hạn của Ngài Trí Khải Đại sư của Tông Thiên Thai với các công trình như Pháp Hoa Văn Cú, Pháp Hoa Huyền Nghĩa. Còn phương pháp bổ ngang là loại hình nghiên cứu các tư tưởng chính của bản kinh. Loại hình này đã được Suzuki áp dụng khi nghiên cứu kinh Lăng Già (Lankavatara Sutra). Mỗi loại hình nghiên cứu này có những ưu và khuyết của chúng. Phương pháp bổ dọc cho ta một cái nhìn chi tiết về bản kinh, nhưng lại không cho ta một bức tranh tổng thể và hệ thống về bản kinh. Còn phương pháp bổ ngang tuy không cho chúng ta một cái nhìn cận cảnh bản kinh, nhưng lại cho ta một bức tranh tổng thể về các giáo nghĩa của bản kinh, hơn nữa phương pháp này tiết kiệm thời gian và mang tính hiện đại hơn. Trong thực hiện đề tài này, người viết chủ yếu sẽ sử dụng lối phương pháp bổ ngang, và phương pháp thu thập tài liệu, chủ yếu là phương pháp thư viện. Dựa trên văn bản chính kinh Diệu Pháp Liên Hoa, bản dịch của Hoà thượng Trí Tịnh, và các nguồn tài liệu thứ yếu - các công trình nghiên cứu kinh Pháp Hoa của các tác giả khác, phương pháp nghiên cứu phân tích sẽ được áp dụng. 11


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

4. Cấu trúc luận văn Công trình nghiên cứu này sẽ bao gồm ba phần chính: Dẫn nhập, nội dung và kết luận. Phần dẫn nhập đề cập đến tất cả những chính yếu của việc chọn đề tài, cũng phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, và phần kết Luận bên cạnh một tóm tắt tất cả những gì được nghiên cứu, một vài nhận định cá nhân người viết về con đường hướng đến tương lai liên quan đến nội dung nghiên cứu cũng sẽ được trình bày. Ngoài hai phần mở đầu và kết luận ra, phần nội dung trọng tâm được chia thành 3 chương như sau: Chương I - Tổng quan Kinh Pháp Hoa Chương II - Hình ảnh vị Pháp sư trong Kinh Pháp Hoa Chương III - Vị Pháp sư Pháp Hoa bước từ bản kinh ra đời sống Vì đây là lần đầu tiên người viết tập sự thực hiện một luận văn mang tính nghiên cứu hàn lâm, trong khi kiến thức còn hạn chế, nên không nói hết được ý mà bản kinh truyền đạt. Kho tàng tri thức nhân loại thì vô tận, biển học thức thì mênh mông, nhưng người viết hy vọng rằng công trình nghiên cứu này sẽ là một đóng góp nhỏ như hạt cát trong kho tàng tri thức và hạt nước long lanh trong biển học thức này.

12


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

B. NỘI DUNG CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN KINH PHÁP HOA Ở các nước theo hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa, kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh được phổ biến rộng rãi nhất, ra đời khoảng thế kỷ thứ nhất trước tây lịch. Là bộ kinh được truyền bá sâu rộng không những trên phương diện nghiên cứu, phiên dịch mà ngày nay hầu hết các chùa đều trì tụng kinh này theo thời khóa tu tập của mình. Bản kinh cũng trở thành một bộ môn học trong các trường Phật học. Kinh Pháp Hoa với nội dung tư tưởng siêu việt mang tính triết lý cao siêu đã nêu rõ vai trò của một hành giả Pháp Hoa đối với bản thân mình và đối với xã hội. Trước khi đi vào nội dung chúng ta cùng tìm hiểu sơ lược lịch sử của kinh. 1.1. LỊCH SỬ TẬP THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH PHÁP HOA 1.1.1. Lịch sử tập thành Sau khi đức Phật diệt độ 100 năm, chúng đệ tử xuất gia của đức Phật bắt đầu có sự manh nha chia rẽ bởi sự bất đồng về nhận thức, nên phân chia ra thành hai bộ phái là Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Từ hai bộ phái đó phân thành hai mươi bộ phái, vì có nhiều trường phái khác nhau dẫn đến có sự xung đột và tranh luận lẫn nhau về mặt quan điểm Pháp và Luật của đức Phật. Nhất là khi hình thái Phật giáo Đại thừa xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ I Tây lịch thì một hố vực ngăn cách cái gọi là Đại thừa (Mahayana) và Tiểu thừa (Hinayana) lại được hình thành sâu sắc. Trong bối cảnh này kinh Pháp Hoa được tập thành như là một sứ mệnh hoá giải, hoà giải và thống nhất các trường phái Phật giáo, củng cố phát huy tâm từ lợi tha của đức Phật. Mặc dù chúng ta không thể khẳng định rằng kinh Pháp Hoa ra đời chính xác vào thời điểm nào; có lẽ là vào thời kỳ đại hội kết tập lần thứ hai. 13


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Vì thời kỳ này là thời kỳ đầu tiên trong lịch sử giáo lý của đức Phật được viết bằng chữ. Hiện tại, các nhà nghiên cứu và các học giả kinh Pháp Hoa cũng chưa xác định một cách chính xác sự ra đời của kinh Pháp Hoa. Theo tài liệu lịch sử Phật giáo của Nguyễn Lang, tài liệu trích dẫn của Walpola Kahula trong “Theraveda và Mahayana” và một số tài liệu phổ biến thì Phật giáo Đại thừa có mặt tại Ấn Độ vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất trước tây lịch và thế kỷ thứ nhất sau tây lịch. Theo Ngài Trí Khải, từ năm thứ 42 sau ngày Thế Tôn thành đạo, Ngài chỉ dạy cho đại chúng thuần giáo lý kinh Pháp Hoa. Theo Hòa Thượng Thích Trí Quảng thì “Kinh Pháp Hoa được kết tập và hệ thống vào khoảng 100 năm trước tây lịch và chỉ đạo do sự cai trị của A Dục Vương”.(Thích Trí Quảng, Lược Giải Kinh Pháp Hoa, tr. 12) Theo Hòa Thượng Thích Chơn Thiện: “Pháp Hoa ra đời sớm nhất là vào thế kỷ thứ nhất trước tây lịch; do yêu cầu phát triển của Phật giáo đương thời tại Ấn Độ mà nhiều nhà khảo cứu và lịch sử phát triển tư tưởng Đại thừa có đề cập”. (Thích Chơn Thiện, Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa, tr.13) Kimura Taiken thì cho rằng: “Thời kỳ đại thừa là thời kỳ phát triển của bộ phái, xuất hiện rõ rệt vào khoảng thế kỷ thứ hai sau tây lịch, dựa vào các tài liệu trước tác ở Ấn Độ và các tài liệu phiên dịch của Trung Hoa”. (Kimura Taiken, Phật Giáo Đại Thừa Tư Tưởng Luận, tr.51) Khoảng thế kỷ XIX, ông Hamilton là công sứ người Anh tìm thấy một bộ kinh Pháp Hoa bằng chữ Phạn ở Nepal, viết trên lá bối, thờ trong động đá. Sau đó, 19 bản Pháp Hoa khác chép tay bằng chữ Phạn được phái đoàn người Anh, Nhật, Pháp, Đức tìm thấy. Sau này 4 phái đoàn người Anh, Nhật, Đức, Nga đi sang vùng Trung Á tìm thêm được 6 bộ kinh Pháp Hoa bằng chữ Phạn ở Katan và một bộ ở Kucha. Đến năm 1932, một bộ kinh Pháp Hoa cổ nhất được tìm thấy ở vùng Kashmir . Bộ này gồm có 2/3 bằng chữ Phạn và 1/3 chữ Magadhi là loại chữ cổ nhất nước Ma Kiệt Đà (thuộc Ấn Độ). 14


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Vậy qua những vấn đề đã nói ở trên, ta thấy có thể khẳng định kinh Pháp Hoa ra đời vào thế kỷ thứ nhất trước tây lịch và thế kỷ thứ nhất sau tây lịch đến thế kỷ thứ hai. Để chứng minh thêm điều này, chúng ta thấy một vài tác phẩm xuất bản vào thế kỷ thứ nhất đã mang tư tưởng kinh Pháp Hoa. Tiêu biểu là Ngài Long Thọ đã dùng kinh này để chứng minh thuyết Trung đạo trong Đại Trí Độ luận và tiếp theo là Ngài Thế Thân không những dẫn dụng kinh Pháp Hoa trong Nhiếp Đại Thừa luận mà còn soạn ra bộ Pháp Hoa luận. 1.1.2. Quá trình phát triển Hầu hết tất cả các kinh điển từ Nguyên thủy cho đến Đại thừa đều thống nhất rằng: Sau khi đức Thế Tôn thành đạo, Ngài không vội chuyển vận pháp luân vì nghĩ rằng: “Giáo pháp mà Ta vừa chứng ngộ quá thâm diệu, cao quý, siêu lý luận, chỉ có kẻ trí mới thấu hiểu, còn đa số quần chúng thì đam mê ái dục, chạy theo ái dục, khó mà thấy được nguyên lý duyên khởi, nguyên lý tịch tịnh của các hành.” (Thera Narada, Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp, tr.40) Rồi Ngài nhìn sen trong hồ, có thứ đã lên khỏi bùn nhưng chưa lên khỏi mặt nước, có thứ đã lên khỏi mặt nước nhưng chưa nở hoa, có thứ chỉ hé nụ sắp nở,… Và Ngài cũng nghĩ rằng chúng sanh cũng vậy, có người trình độ cao, có người trình độ thấp, nhưng tất cả đều có khả năng thành Phật như nhau. Cũng từ đó Ngài bắt đầu chuyển vận bánh xe pháp, thiết lập phương tiện để giáo hóa, như ở phẩm Phương Tiện Ngài có nói: “Ta bày phương tiện đó Khiến đều vào huệ Phật Chưa từng nói các ông Sẽ đặng thành Phật đạo Sở dĩ chưa từng nói Vì giờ nói chưa đến Nay chính là đến giờ Quyết định nói Đại thừa.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 71) 15


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Theo như tinh thần diễn tả trong phẩm Phương Tiện, thì phương tiện và cứu cánh của kinh Pháp Hoa đã có mặt ngay buổi đầu chuyển pháp luân cho năm anh em Kiều Trần Như qua bài pháp Tứ Đế. Điều này cho chúng ta thấy rằng kinh Pháp Hoa đã có mặt ngay buổi đầu thuyết pháp tại vườn nai và xuyên suốt cả cuộc đời hoằng pháp của Ngài, khi thì nói bằng cách này, khi thì nói bằng cách khác, hoặc ẩn dụ, hoặc nhân duyên, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp tùy theo căn cơ của thính chúng mà lãnh hội. Vì thế, mà ta biết rằng đức Phật ra đời mục đích là: “Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”. Như trong phẩm Phương Tiện Ngài dạy: “Các đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật để đặng thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 65) Sau khi đức Phật nhập Niết bàn 100 năm, sự phân chia bộ phái bắt đầu, các bộ phái Phật giáo đua nhau phát triển, cũng là thời kỳ đạo Phật bị phân hóa nghiêm trọng, tăng đoàn bị phân hóa khiến cho quần chúng nhân dân bị mất niềm tin. Kinh Pháp Hoa lúc này được xem là mục tiêu để thống nhất mọi khuynh hướng tu tập của các hàng đệ tử xuất gia cũng như tại gia. Với ý nghĩa thâm diệu đó Kinh Pháp Hoa đã nhanh chóng phát triển lan rộng qua các nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản,, Tây Tạng, Việt Nam. Như trong Đại Ý Kinh Pháp Hoa, Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm có viết: “Ở Ấn Độ sau khi đức Phật diệt độ 800 năm (300 AD) có Ngài Long Thọ (Nagarjuna) trước tác bộ Đại Trí Độ Luận để chú thích “Đại Phẩm Bát Nhã”, trong đó có dẫn chứng kinh Pháp Hoa, theo truyền thuyết Ngài còn trước tác “Pháp Hoa Thích Luận”. Sau đó 100 năm có Ngài Thế Thân (Vasubhandu) trước tác nhiều tác phẩm, trong đó có lược dịch “Diệu Pháp Hoa Ưu Ba Đề Xá” và “Pháp Hoa Luận” hai quyển. Cùng thời đại có Ngài Tuệ Y trước tác “Nhập Đại Thừa Luận” hai quyển trong đó cũng dẫn chứng kinh Pháp Hoa. Tình hình nghiên cứu kinh Pháp Hoa dần dần lan 16


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

rộng đến Tây Vực, Tây Tạng. Đặc biệt ở Trung Quốc, trong thời đại Ngài La Thập dịch kinh còn có các Ngài như Tăng Duệ, Đạo Sinh đã dựa theo kinh Pháp Hoa mà trước tác, chú thích”. (Thích Thanh Kiểm, Đại Ý Kinh Pháp Hoa, tr. 12) Kinh Pháp Hoa khi chưa được truyền bá rộng ra các nước, thì ngay tại Ấn Độ kinh Pháp Hoa đã được giảng giải hoằng dương rất sâu rộng. Nổi bật nhất trong trào lưu phục hưng Phật giáo Đại thừa lúc bấy giờ là hai ngài Long Thọ và Thế Thân, là hai vị học giả nổi tiếng đã truyền bá kinh Pháp Hoa, khiến cho cả hai giới xuất gia và tại gia đều biết đến kinh này. Khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa thì có hàng trăm nhà sớ giải diễn giải bộ kinh này. Trong các bản sớ giải thì hai bộ sách Pháp Hoa Huyền Nghĩa do ngài Trí Giả đại sư và Pháp Hoa Huyền Tán do ngài Khuy Cơ sớ giải là được phổ biến nhất. Khi kinh Pháp Hoa truyền sang Nhật Bản, Nhật Liên Thánh Nhân căn cứ vào Pháp Hoa Huyền Nghĩa của ngài Trí Giả mà lập nên Liên Hoa tông, lấy đề Diệu Pháp Liên Hoa kinh làm đối tượng hành trì. Hằng ngày chỉ niệm “Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” mà thôi, vì trong danh hiệu ấy đã tóm thâu tất cả các pháp. Tại Việt Nam, suốt cả chiều dài lịch sử phát triển, kinh Pháp Hoa không trở thành một tông phái đặc thù như ở Trung Hoa vào thời ngài Trí Khải (531-579) và Nhật Bản thời Nhật Liên, nhưng kinh Pháp Hoa đã ảnh hưởng rất lớn trong đời sống tâm linh. Trong thời Lý, Trần các thiền sư như Bảo Kính, Minh Tâm, Thông Biện, Minh Không,… là những vị thiền sư ngộ Pháp Hoa cả. Và ngày nay, hầu hết Tăng, Ni, Phật tử đều hành trì Pháp Hoa trong thời khóa của mình. 1.2. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG BẢN KINH 1.2.1. Giải thích đề kinh Kinh Pháp Hoa tiếng Sanskrit là Sadharma-pundarika-sutra. Ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) dịch là Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Trong đó “Sad” có nghĩa là hiện thực, đích thực, thực tiễn, chân thực, vi diệu, điều không thể diễn tả được; “dharma” động từ căn của nó nghĩa là bảo toàn, 17


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

duy trì, làm cho hiện hữu, trật tự, duy trì để hiện hữu, nên “dharma” hay pháp có nghĩa là nguyên tắc hay nguyên lý tồn tại; “pundarika” nghĩa là Liên Hoa (Hoa sen), tượng trưng cho bản tâm thanh tịnh, cho cái Phật tánh mà ai cũng sẵn có. Theo ngài Tăng Duệ cho rằng: hoa sen là loài hoa đặc biệt hơn hết thảy các loài hoa. Vì vậy cho nên thông điệp chính của kinh Pháp Hoa là tất cả mọi chúng sanh đều có hạt giống giác ngộ, hạt giống thành Phật (Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh). Vậy Saddharmapundarika, có nghĩa là pháp đích thực, pháp hiện thực, pháp thuần khiết, pháp nguyên vẹn, pháp không thể diễn tả, pháp vi diệu,… pháp ấy ví như loài hoa sen trắng. “Kinh Pháp Hoa là kinh nói về pháp đích thực, pháp hiện thực, pháp chính xác của chư Phật, nên Ngài Pháp Hộ dịch Saddharmapundarikasutram là Chánh Pháp Hoa kinh Kinh Pháp Hoa là kinh nói về pháp chân thực, hiện thực, vi diệu, nguyên vẹn của chư Phật, ví như hoa sen, nên Ngài La thập dịch là Diệu Pháp Liên Hoa kinh”.(Thích Thái Hoà, kinh Pháp Hoa Tinh yếu, tr.12) “Diệu pháp” là pháp vi diệu, là pháp siêu việt trên tất cả các pháp. Có công năng đưa người thoát khổ, dù ở trong luân hồi sanh tử mà không bị luân hồi sanh tử chi phối. Theo ngài Thiên Thai Trí Giả có hai nghĩa: diệu tuyệt đối và diệu tương đối. - Khi phân thành Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa là Diệu nhưng là diệu tương đối. - Đến hội Pháp Hoa thì không còn đối đãi Thanh văn, Duyên giác mà gồm chung Tam thừa vào Nhất thừa, nên mới thật là Diệu pháp. “Pháp” là tất cả các sự vật hiện hữu trong vũ trụ và trên thế giới. Pháp ở đây là những lời dạy của đức Phật, lời dạy đó là khuôn phép, mẫu mực cho hàng đệ tử nương theo, là một chân lý duy nhất để thâm nhập vào tất cả các sự vật pháp của Ngài nói là chân thật, có khả năng diệt trừ phiền não, khổ đau, có thể dẫn dắt chúng sanh từ nguồn mê đến bến giác. Hòa Thượng Thích Thiện Siêu đã viết: “Pháp này có thể làm cho chúng sanh 18


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

phá trừ được ngã chấp hẹp hòi, nhỏ mọn nên gọi là pháp mầu. Pháp này có thể làm cho chúng sanh hiểu rõ được cái tánh duyên khởi vô tánh, hiểu được sự vật giữa đời này, tất cả đều do nhân duyên hòa hợp giả tạo, không có một cái gì thật có, bền vững lâu dài được, nên gọi là pháp mầu. Pháp này là cho chúng sanh thấy được tự bản tâm mình có sự giác ngộ trong đó, mỗi chúng sanh là mỗi vị Phật sắp thành, nên gọi là pháp mầu” (Thích Thiện Siêu, kinh Pháp Hoa Giữa Các Kinh Điển Đại Thừa, tr.99,100). Như Thiền sư Thích Nhất Hạnh có nói: “Cái pháp ở đây sở dĩ được gọi là diệu pháp là nhờ vào tính cách đại chúng, phổ thông và thực tế của nó, cũng nhờ ở công năng có thể thực hiện được những điều mà những kinh khác không thực hiện được”. (Thích Nhất Hạnh, Sen Nở Trời Phương Ngoại, tr.15) Vì vậy, Diệu pháp là pháp nhiệm mầu, bất khả tư nghì, là chìa khóa giải mã cho mọi nghi ngờ, vướng mắc để đoạn trừ khổ đau. Pháp này cũng có 3 nghĩa: 1. Thật tướng bình đẳng 2. Đại huệ bình đẳng 3. Phương tiện khai quyền hiển thật. Theo kinh Pháp Hoa, pháp chính là tri kiến Phật nơi mỗi chúng sanh. “Liên Hoa” có nghĩa là hoa sen, là một loài hoa được xem là đẹp nhất Ấn Độ, ở Việt nam hoa sen cũng là quốc hoa, thường được người xưa rất ca tụng như trong bài ca dao có viết rằng: “Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng Nhụy vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Bài ca dao thể hiện một sự tôn vinh về đặc tính của hoa sen là gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, khi nở vẫn tỏa ngát khắp muôn phương. đức Phật dụ hoa sen chỉ cho tri kiến Phật sẵn có nơi mỗi chúng sanh, nếu 19


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

nhận thức rõ những nguyên nhân làm ngăn che tuệ giác của chúng ta và loại trừ chúng thì tri kiến Phật sẽ hiển bày. Hoa sen lại có nghĩa là nhân quả đồng thời, tức trong nhân có quả, trong quả có nhân, như tuy hoa chưa nở nhưng nó cũng đã có quả rồi, khi hoa nở thì quả cũng liền hiển bày. Cũng như hình ảnh hoa sen trong hồ, có hoa thì đã vươn lên khỏi mặt nước và nở hoa, có hoa lên khỏi mặt nước nhưng chưa nở hoa, có hoa vẫn còn trong bùn, nhưng vẫn có điểm chung là hoa sen. Cũng vậy, trong mỗi chúng sanh căn tánh tuy khác nhau, có người thông minh, có người ngu độn. Song trong mỗi con người đó Phật tánh bình đẳng, đều có khả năng giác ngộ như nhau không khác. Tóm lại, đề kinh đã lấy hình ảnh hoa sen làm ví dụ cho diệu pháp. Diệu pháp đó là nhất thừa, mà nhất thừa chính là Phật tính vậy. Phật tính đó là sự giác ngộ có sẵn nơi mỗi chúng sanh, song cần phải đủ nhân, đủ duyên và gột rửa những phiền não, tham ái vô minh thì Phật tánh mới hiển bày. Cũng vậy, ví như hoa sen, tuy ở trong bùn lầy nhưng khi đầy đủ các duyên thì nó sẽ vươn lên khỏi mặt nước và tỏa ngát hương sắc. 1.2.2. Bố cục Hiện ở Đại Chính Tân Tu có 3 bản dịch Pháp Hoa: 1. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, do ngài La Thập dịch, gồm có 28 phẩm, 7 cuốn. Nhưng nguyên bản dịch của ngài La Thập 406 T.L chỉ có 27 phẩm. Sở dĩ có 28 phẩm là do các thế hệ sau bổ sung thêm vào bản dịch của ngài La Thập, khiến bản dịch này có đủ 28 phẩm như hiện nay. 2. Chánh Pháp Hoa Kinh, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch 286 T.L, gồm có 10 cuốn, 27 phẩm. Trong đó không có phẩm Đề Bà Đạt Đa và cũng không có phần thi kệ của phẩm Phổ Môn 3. Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, do ngài Xà Na Quật Đa và Cấp Đa dịch 601 T.L, gồm có 7 cuốn, 27 phẩm. Trong đó, không có phẩm Đề Bà Đạt Đa, nhưng phẩm Phổ Môn có phần kệ tụng. 20


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Bản kinh Pháp Hoa phổ biến tại Việt Nam và cũng được dùng cho nghiên cứu này chính là bản dịch Việt ngữ từ bản Hán ngữ của ngài La Thập (Kumarajiva). Bản kinh này gồm có 7 quyển, 28 phẩm, và được nhiều học giả phân bố cục với nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, lối phân chia của ngài Trí Khải của tông Thiên Thai có lẽ là phổ biến nhất. Theo Đại sư Trí Giả, Pháp Hoa chia làm 2 phần: tích môn gồm 14 phẩm đầu với phẩm Phương tiện số 2 là trọng tâm, và bản môn gồm 14 phẩm sau với phẩm Như Lai Thọ Lượng làm trọng tâm. Tích môn: chữ Môn ở đây có nghĩa là địa bàn hoạt động. Tích là dấu tích, là những gì mà người ta có thể nghe được, thấy được, có thời gian, địa điểm, nơi chốn. Tích Môn là nói về cuộc đời của đức Phật từ lúc sinh ra cho đến lúc nhập diệt, đó là một sự thật có lịch sử. Mười bốn phẩm đầu hay còn gọi là khai quyền hiển thật, khai tam hiển nhất, hội tam quy nhất, thừa phương tiện. Tích môn thì quy chiếu vào giáo pháp của đức Phật, tức chỉ vào pháp. Bố cục phần Tích môn lại có 3 phần: - Tự phần: phẩm tựa - Chánh tông phần: từ phẩm Phương Tiện đến một phần hai phẩm Pháp Sư. - Lưu thông phần: từ nữa phẩm Pháp Sư còn lại đến phẩm An Lạc thứ 14. - Phẩm Phương Tiện là phẩm chủ chốt trong phần Tích Môn Bản môn: Bản là gốc, là căn nguyên. Ở bản môn giới thiệu đức Phật ở quá khứ gọi là “Bản giác Phật”. Mười bốn phẩm sau này thuộc phần bản môn hay còn gọi là khai cận hiển viễn, khai tích hiển bổn, hội tích quy bổn, than phương tiện. Bản môn quy chiếu vào nhân cách của đức Phật, là nói về báo thân viên mãn của đức Phật. Bố cục của bản môn cũng có 3 phần: - Tự phần: nữa phẩm đầu của Tùng Địa Dõng Xuất 21


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

- Chánh tông phần: từ nữa phẩm sau của Tùng Địa Dõng Xuất đến nữa phẩm đầu của Phân Biệt Công Đức. - Lưu thông phần: từ nữa phẩm sau của Phân Biệt Công Đức đến phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát. - Phẩm Như Lai Thọ Lượng là phẩm chủ yếu của phần Bản môn. 1.2.3. Giáo nghĩa trọng yếu của kinh Pháp Hoa 1.2.3.1. Chƣ pháp thật tƣớng Thật tướng là tướng chân thật, cũng là bình đẳng nhất tướng. Có tướng mà vô tướng nên gọi là Thật Tướng. Tướng này không nhớp, không sạch, không thêm, không bớt, không sanh, không diệt, không thường, không đoạn. Thật tướng đó là vô tướng. Vô tướng là lìa hết thảy tướng hư vọng nên vô tướng chính là li tướng. Hơn nữa, thật tướng chẳng phải là bất tướng, do nó chẳng phải là ngoan không, đoạn diệt như lông rùa, sừng thỏ, hết thảy hư vô! kinh Kim Cang dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai” (Phàm cái gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng thì thấy Như Lai). Nghĩa là ngay nơi tướng lìa tướng, lìa sạch tướng hư vọng thì thấy Thật Tướng, nên nói là thấy Như Lai, đấy là chỉ cho Pháp thân Như Lai. Pháp thân Như Lai lìa hết thảy tướng, nên nói thật tướng vô tướng, nhưng không phải là không có Pháp thân nên nói thật tướng chẳng phải là bất tướng. Pháp sanh diệt toàn là hư vọng nhưng trong cái sanh diệt lại có cái chẳng sanh diệt. Các pháp sanh diệt là tướng sai biệt, nhưng trong cái sai biệt có cái chẳng sai biệt. Chẳng sanh chẳng diệt, chẳng có sai biệt, nên nói thật tướng là bình đẳng nhất tướng. Thật tướng đó là mười “như”: như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bổn mạt cứu cánh. Mười như này là tướng sai biệt của thật tướng các pháp. Ngài Thiên Thai lấy mười “như” đó phối hợp với mười 22


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

“giới” với năm ấm, hữu tình thế gian và khí thế gian mà thành “bách như”. Thiên Thai tông có danh từ “Tam thiên nhất niệm; nhất niệm tam thiên” là để chỉ cái lý chân thật mà chư Phật đồng chứng như nhau, đó là ba điểm sau: 1. Thật trí, quyền trí chư Phật đồng nhất 2. Phật tánh, chúng sanh cũng đồng nhất 3. Bản hoài chư Phật cũng đồng nhất Đức Phật như là một vị lương y chữa được bách bệnh cho chúng sanh. Những người đến với Ngài, Ngài không phân biệt già, trẻ, sang, hèn. Những ai đủ duyên thì được Ngài hóa độ, chưa đủ duyên thì Ngài lại đợi đến lúc căn cơ chín muồi mới nói. Vì thế, một niềm tin mãnh liệt trong họ với đức Phật, với chánh pháp được phát triển mạnh mẽ. “Ca Diếp! Thí như trong cõi tam thiên đại thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất, sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây đầy bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi thuần thấm. Cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ; hoặc thứ gốc bậc vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn. Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng, trung, hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dầu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.” (Thích Thanh Từ, Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải, tr.261,262) Ở đây ta có thể thấy rõ rằng đức Phật muốn nói đến sự bình đẳng giữa các sự vật. Dù cây lớn hay nhỏ cũng đều từ đất mà mọc lên, vì đất là nơi cung cấp dinh dưỡng cho cây tồn tại và phát triển. Và khi có trận mưa rưới xuống thì tất cả các loại cây đều được thấm nhuần như nhau, vì thế các pháp vốn bình đẳng, không phân biệt. 23


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Chúng sanh vì căn cơ không đồng nên sau khi nghe giáo lý Phật giảng xong mà có sự lãnh hội khác nhau: có người nghe xong thì phát tâm hoan hỷ, phát sinh niềm tin ở chánh pháp. Có người nghe xong thì sanh tâm nghi hoặc, phỉ báng. Thế nên, có thể nói rằng Phật pháp nhiệm mầu nhưng không phải ai cũng tin và thọ trì nó, vì nó dễ hiểu đối với ai có tâm, có niềm tin vững chắc. Nên đức Phật đã tuyên bố rằng: “Chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu được thật tướng của các pháp, tánh như vậy, tướng như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy”. (Thích Trí Tịnh, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 53) Chính vì thế mà đức Phật quán sát tất cả trình độ của chúng sanh kẻ lợi căn, độn căn, tinh tấn, giải đãi…, căn cứ vào ��ó mà đức Phật giảng nói làm cho tất cả chúng sanh đều được hóa độ, cũng như giáo pháp của Ngài tuy nhiều nhưng cũng thuần một vị, đó chính là vị giải thoát. “Đức Như Lai nói pháp một tướng, một vị, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc “Nhất thiết chủng trí”. Có chúng sanh nào nghe pháp của Như Lai hoặc thọ trì, đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết. Vì sao? Vì chỉ có Như Lai là biết chủng tướng thể tánh của chúng sanh đó: Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Dùng pháp gì được pháp gì? Chúng sanh ở nơi các bậc, chỉ có Đức Như Lai thấy đó đúng như thật, rõ ràng không bị ngại. Như cây cối, lùm rừng, các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng, trung, hạ của nó. Đức Như Lai biết pháp một tướng, một vị ấy nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết Bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không, Phật biết như thế rồi xem xét tâm ưa muốn của chúng sanh mà dắt dìu nó, cho nên chẳng liền vì chúng vội nói “Nhất thiết chủng trí”. (Thích Thanh Từ, Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải, tr.265) 24


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Tất cả chúng sanh thể tánh đều bình đẳng, pháp của Phật cũng bình đẳng, không phân biệt thân sơ, bỉ thử, như trận mưa tưới khắp tất cả cỏ cây, hoa lá đều thấm nhuần, cây to thì thấm nhiều, cây nhỏ thì thấm ít. Căn cơ của chúng sanh cũng vậy, căn cơ sai khác nên việc thấm nhuần giáo lý cũng sai khác, vì thế mới có các tên gọi khác nhau, ví như hoa sen dù đang ở trong bùn, trong nước, hay đã vươn lên khỏi mặt nước thì cũng nở hoa như nhau. “Phật sở thuyết pháp Thí như đại vũ Dĩ nhất vị vũ Nhuận ư nhân tất Các đắc thành Phật”. Nghĩa là: “ Đức Phật nói pháp ra Thí như vừng mây lớn Dùng nước mưa một vị Đượm nhuần nơi hoa người Đều đặng kết trái cả.” (Thích Trí Tịnh, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr.198) Chính sự nhiệm mầu đó, ta có thể thấy rằng cái tột đích của kinh Pháp Hoa là bình đẳng tánh tướng. Hình ảnh Long Nữ dâng châu thành Phật, một người phạm tội ngũ nghịch như ngài Đề Bà Đạt Đa cũng thành Phật là những ví dụ cho ta thấy sự bình đẳng về giới tính. Phật tánh không hề bị đứt mất trong mỗi chúng sanh, có điều sự chứng nhập tri kiến còn phải đợi thời gian. Ví như hoa sen sống trong bùn mà không nhiễm bùn, mà đều nở ra những bông hoa tinh khiết. Nên kinh Lời Vàng có dạy: “Tất cả chúng sanh, tuy sống trong phiền não mà thường đâu có nhiễm Như Lai Tạng, đức tướng đầy đủ như Ta không khác, cái thanh tịnh của tâm giống như trăng dưới nước vậy.” (Dương Tú Hạt, Thích Trí Nghiêm dịch, Kinh Lời Vàng, tr.219). 25


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Đối với Pháp Hoa tánh tướng bình đẳng, đại huệ bình đẳng vượt ra khỏi tri thức luận của con người. Vì thế, kinh Pháp Hoa là tạng bí yếu của các đức Phật, chẳng có thể chia bủa, vọng trao cho người. Cho nên, đức Phật dạy những pháp môn mà Ngài dạy bấy lâu nay chỉ là phương tiện để bước lên Nhất thừa, Nhị thừa, Tam thừa đều không thật, đều là phương tiện chỉ có Nhất thừa là thật. Ngài Thiên Thai Trí Giả cho đó là “khai quyền hiển thật, khai cận hiển viễn”, mở phương tiện ba thừa để hiển bày cái chân thật là Nhất thừa đạo. 1.2.3.2. Giáo lý nhất thừa Sao gọi là Nhất thừa? Nhất khác với Nhiều, Thật đối với Quyền, lìa Nhiều tức là Nhất, lìa Quyền tức là Thật. Kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba”. Lại nói: “Chỉ có một Phật thừa, không có thừa nào khác”. Nếu có hai hay ba, đều là những việc của giáo pháp nhằm khế hợp các căn cơ mà thôi. Chúng sanh cùng Phật đồng Chơn tánh này, không bớt không thêm, ngay đó chính là, không cần phải tu tập. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Thôi thôi không cần nói, pháp ta diệu khó lường”. Kinh Kim Cang nói: “Như Lai không nói chi”. Kinh Duy Ma nói: “Không pháp gì có thể thuyết, đó gọi là thuyết pháp”. Cổ đức nói: “Phật nói tất cả pháp là để giải tất cả tâm, ta không tất cả tâm thì cần gì tất cả pháp”. Nhất thừa là đối với các thừa khác mà gọi tên, Thật giáo đối với Quyền giáo mà đặt tên, hễ có gọi tên đều không có thật nghĩa. Tất cả pháp đều giả, tất cả pháp đều không, không giả đều rõ biết, sanh ra nghĩa Trung đạo. Năm thừa như hoa, Nhất thừa như quả; Năm thừa như cành, Nhất thừa như thân cây; phải nên khéo suy nghĩ điều này. Ở phẩm Phương Tiện đức Phật dạy: “Các Phật lưỡng túc tôn Biết pháp thường không tánh Giống Phật theo duyên sanh Cho nên nói nhất thừa Pháp đó trụ ngôi pháp Tướng thế gian thường còn”. (Thích Trí Tịnh, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 81.82) 26


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Thật tướng của các pháp là không tánh, không tướng, thanh tịnh vắng lặng, bình đẳng nhất như, vốn cùng chung một thể chơn không bình đẳng. “Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã”. Vì tánh tướng như vậy cho nên đức Phật thuyết Tam thừa. Kinh Pháp Hoa vì thể hiện một sự dung hoà tông phái, mong muốn đưa tất cả các pháp môn và các “thừa” (yāna) về một nguồn. Với Phật tâm bình đẳng đức Thế Tôn đã khai phương tiện lập ba thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa chỉ là những phương tiện đưa đến Phật thừa; và do đó không có gì chống trái nhau mà chỉ là những phương tiện tạm thời trong con đường tu tập, đúng theo giáo nghĩa Kinh Pháp Hoa thì không có thừa thứ hai trong mười phương thế giới, có thể nào lại có thừa thứ ba. Trong phẩm Thí Dụ đức Phật dùng hình ảnh ngôi nhà đang bốc cháy mà ba người con của vị Trưởng giả không chịu ra khỏi, cứ mãi chơi say sưa bên trong. Vì muốn cứu con Trưởng giả phải dùng phương tiện, khi ra khỏi nhà lửa nào cho xe dê, xe hươu, xe trâu. Những loại xe này chỉ là phương tiện để đưa các con ra khỏi hiểm nguy, nhưng khi những người con này đều đã ra khỏi, thì Ông liền cho họ loại xe lớn và đẹp. Cũng vậy, ba chiếc xe đó là chỉ cho Tam thừa, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cũng chính là ba cửa thành Niết bàn đức Phật khai hóa, ba thừa chính là con đường đưa đến quả vị Phật. Đức Phật dùng nhịp cầu phương tiện bằng nhiều cách khác nhau, do đó mà có Tam thừa thánh quả. Ban đầu, căn cơ chúng sanh còn thấp kém chưa thấy được tri kiến của Phật. Nên Ngài dùng phương tiện chỉ cho chúng sanh thấy rõ được đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, là con đường đưa đến chấm dứt của sự khổ. Đức Phật tạm thời công nhận có Niết bàn của Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát để họ cảm nhận được niềm an lạc trong cuộc sống, nhưng đến khi có được cỗ xe Tam thừa rồi thì đức Phật phá bỏ Niết bàn tam thừa mà chỉ có một Phật thừa mà thôi. Vì sao vậy? Cũng giống như trong phẩm Hóa Thành Dụ, tam thừa dụ cho ngôi nhà mà đức Như Lai hóa ra để cho chúng đệ tử nghỉ ngơi trong chuyến hành trình xa. Nghỉ ngơi xong, 27


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

phải tiếp tục chuyến hành trình đi đến đích. Như khi được Tam thừa rồi thì phải tiếp tục đạt đến quả vị cao hơn là Phật thừa vậy. “Cho nên Xá Lợi Phất! Ta vì bày phương tiện Nói các đạo dứt khổ Chỉ cho đó Niết Bàn, Ta dầu nói Niết bàn Cũng chẳng phải thiệt diệt, Các pháp từ bổn lai Tướng thường tự vắng lặng Phật tử hành đạo rồi Đời sau đặng thành Phật Ta có sức phương tiện Mở bày khắp ba thừa Tất cả các Thế Tôn Đều nói đạo Nhất thừa Nay trong đại chúng này Đều nên trừ nghi lầm Lời Phật nói không khác Chỉ một, không hai thừa.” (Thích Trí Tịnh, kinh Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tr.75,76) Kinh Pháp Hoa cho rằng quả vị cuối cùng của một hành giả là Phật quả, bởi vì tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Nhưng con đường tu tập của hành giả có thể khác nhau do vì căn cơ sai biệt. Và do vì căn cơ của chúng sanh không giống nhau, chư Phật đã phải sử dụng những phương thức giáo hoá khác nhau. Nhưng những phương thức giáo hoá khác nhau này cuối cùng sẽ đưa đến một đích chung, đó là Phật thừa: “Xá-lợi-phất, các đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhơn duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, 28


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

các chúng sanh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều đặng chứng nhất thiết chủng trí” (Thích Trí Tịnh, kinh Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tr.66) 1.2.3.3. Khả tính thành Phật Giáo lý này nói rằng: tất cả chúng sanh – hữu tình hay vô tình đều có khả năng thành Phật. Giáo nghĩa này trong kinh Pháp Hoa được trình bày ngang qua các chi tiết sau: - Biểu tượng hoa sen - Thọ ký thành Phật cho các Thánh đệ tử - Sự thành Phật của Đề Bà Đạt Đa và Long Nữ - Ví dụ viên ngọc trong chéo áo - Câu chuyện về Bồ tát Thường Bất Khinh Ðạo Phật chủ trương rằng tất cả muôn loài đều có Phật tính, nghĩa là đều có khả năng thành Phật. Bởi vì chúng sinh tuy lượng số vô lượng, nhưng loài nào cũng mang nơi mình yếu tố tròn đầy sáng suốt của bản thể. Một ngày mai, vô minh diệt hết, bản tính thanh tịnh sáng suốt hiển hiện, chúng sinh có thể thành Phật. Ðứng về phương diện này, nghĩa là đứng trước vấn đề Phật tính, tất cả mọi loài đều bình đẳng, tuyệt đối bình đẳng, không có loài nào hơn, không có loài nào kém. Như trong kinh Pháp Hoa đã trình bày, đức Phật Thích Ca là Phật đã thành, và tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành. Sự khác nhau duy nhất giữa chúng sanh và Phật là: Phật tánh được hiển lộ nơi Ngài, còn chúng sanh thì Phật tánh đó còn bị khuất chìm. Tuy nhiên, Phật tánh đó vẫn luôn sẵn có và luôn thường hằng, thanh tịnh và siêu việt. Chúng ta có khả năng giải thoát và thành Phật, vì mỗi chúng ta đều có Phật tính thể hiện qua hai phương diện. Một là tâm thể tuyệt đối, nền tảng cho mọi tâm lý hoạt dụng, như nước là nền tảng cho sóng hoạt động. Đây là mặt tiêu cực của Phật tính, vắng bặt mọi tư duy khái niệm. Hai là tâm lý thường nghiệm, gồm những tính chất của tâm. Đây là mặt tích cực của Phật tính. 29


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Tâm thể tuyệt đối gọi là Phật tính tự nhiên, như hư không trong suốt và rỗng lặng, nghĩa là bản tính tâm rỗng không mọi tư niệm huyễn hoặc, mọi nhận thức điên đảo về thường, về đoạn, về tự ngã của các pháp. Phật tính tự nhiên không bị pha tạp hay ô nhiễm bởi phiền não. Nó vô thủy vô chung. Không gì có thể hủy diệt nó. Không ai có thể tách nó khỏi chúng ta. Phật tính tự nhiên này là gia bảo của chúng ta. Hiểu được điều này chúng ta tự tin vào khả năng thành Phật của mình. 1.2.3.4. Lý tưởng Bồ tát Kinh Pháp Hoa trình bày hành giả muốn tu tập kinh Pháp Hoa phải hành Bồ tát đạo, là con đường đầu tiên và là điều kiện quyết định để đi đến giác ngộ và giác tha. Vì rằng trong mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả đều bình đẳng với nhau. Đối với Phật giáo phát triển, Bồ tát là những vị Đại Giác hữu tình. Đã giác ngộ từ vô lượng kiếp và làm lợi lạc cho chúng sanh. Nhưng với lòng từ bi, thương tưởng muốn giúp chúng sanh thoát khỏi vòng luân hồi lục đạo, nên đã không quản mọi gian lao mà trở lại luân hồi trong tam giới để hóa độ cho muôn loài theo tâm nguyện của vị Bồ tát. Một số yếu tố quan trọng trong ý niệm Bồ tát là khái niệm Phật quả được vun trồng bởi đạo hạnh. Bồ tát là vị đã tích tụ được vô vàn quả vị trong vô lượng kiếp, trong khi đã thành tựu quả vị toàn chân. Đó chính là hạnh nguyện nhập thế cứu khổ cho đời, cứu chúng sanh ra khỏi vòng trầm luân sanh tử. Như hạnh nguyện của ngài Địa Tạng: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề”, nghĩa là: “Địa ngục chưa hết điều khổ não tôi thệ không thành Phật, chúng sanh được độ tận tôi mới chứng quả Bồ Đề”. Trong nhiều kinh sách của Đại thừa cũng đã ghi lại rất nhiều hạnh nguyện của các vị Bồ tát, nguyện làm một mẫu mực dẫn dắt chúng sanh để thoát khỏi khổ não của trần lao. Như Bồ tát Thường Bất Khinh, Bồ tát Trì Địa, Bồ tát Phổ Hiền,…Các Ngài chuyển hóa trên con đường của mình dựa trên sự vun trồng lòng từ bi, chia sẻ quả 30


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

vị đến người khác, vì đạo hạnh rốt ráo tối thượng là để truyền lại cho tất cả chúng sanh. Con đường Bồ tát trong Phật giáo là mẫu hình cho tất cả, nó chỉ ra những chuyển hóa vô tận trên con đường tinh tấn và đạt được mục đích cuối cùng. Đến đây, hình ảnh của một vị Bồ tát trong Phật giáo đã được rõ ràng, đó là sự nghiệp tự lợi và lợi tha, là một trong những yếu tố quan trọng của Bồ tát đạo. Sự nghiệp ấy, muốn nói lên rằng nếu muốn mình đạt đến quả vị tối thượng thì phải dẫn dắt người khác cũng đến quả vị đó như mình. Thông thường chúng ta thường luôn quan niệm rằng: phải tự cứu mình rồi mới đi cứu người, nhưng với tinh thần của một vị Bồ tát thì không phải vậy. Luôn phải đặt lợi ích của người khác lên làm đầu, nhưng không quên đi hạnh nguyện và lý tưởng của mình. Vì thế, lý tưởng Bồ tát thường được nhấn mạnh trong câu: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Giáo lý đạo Phật đi ngược với tư tưởng sống của thế gian, nhưng nó vẫn tồn tại theo thời gian. Ở bất cứ thời đại nào cũng có những con người siêu việt, chính những người này đã nhìn ra được nghĩa lý sâu xa của Phật giáo. Người giữ gìn Pháp Hoa không chỉ dừng lại nơi ngôn từ hoa mỹ, mà phải xác chứng bằng sự thực hành. Với tâm niệm cứu khổ ban vui, làm đẹp thế giới, làm nên chúng sanh. Những người này đã được đức Phật phó chúc kinh Pháp Hoa. Từ phẩm Dược Vương Bồ tát Bổn Sự thứ 23 đến phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến Phát thứ 28 đều nói về các vị Bồ tát hoằng kinh với mục đích ban vui cứu khổ. Không quản ngại khó khăn, không tiếc thân mạng, luôn với tâm nguyện hoằng dương chánh pháp, đưa đạo vào đời dưới nhiều hình thức. “Chúng sanh bị khổ ách Vô lượng khổ bức thân Quán Âm trí vô ngại Hay cứu khổ thế gian Đầy đủ sức thần thông 31


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Rộng tu trí phương tiện Trong khắp mọi quốc độ Không đâu không hiện thân Hết thảy mọi đường ác Địa ngục quỷ súc sanh Khổ sanh già bệnh chết Ngài dần khiến diệt mất.” (Thích Trí Tịnh, kinh Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tr.535) Cũng như trong phẩm Trì kinh Pháp Hoa, cho ta thấy rằng, 500 vị Ala-hán đã hoàn thành tuệ giác Thanh văn và 8000 vị khác đang tiếp tục để hoàn thành tuệ giác Thanh văn, khi nghe đến hạnh nguyện Pháp Hoa, quý vị ấy cũng đã phát nguyện sống bằng đời sống hoằng truyền Pháp Hoa: “Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói kinh này. Vì sao? Vì người trong nước Ta Bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, dua vạy tâm không chơn thật.” (Thích Trí Tịnh, kinh Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tr.336) Sự phát nguyện này nói lên rằng hạt giống Pháp Hoa đã sẵn có trong mỗi chúng ta, song hạt giống ấy còn rất khiêm tốn, nên chúng ta cần phải phát triển mạnh mẽ thêm để đem đạo vào đời với nhiều hình thức mà xã hội ấy cần ta giúp. 1.3. TIỂU KẾT Kinh Pháp Hoa có thể có nhiều giáo lý đặc thù khác nữa, chẳng hạn giáo lý phương tiện, giáo lý về thọ ký…, nhưng theo nhiều học giả đương đại, bốn giáo lý được trình bày trên đây là cốt yếu nhất. Cả bốn giáo lý này, nếu chúng ta có một cái nhìn đối chiếu dưới ánh sáng của giáo lý truyền thống và khoáng đạt sẽ thấy rằng chúng hoàn toàn trung thành với những gì được biên tập trong các bộ kinh Nikāya hay A hàm vậy.

32


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

CHƢƠNG 2 HÌNH ẢNH PHÁP SƢ TRONG KINH PHÁP HOA 2.1. HÌNH ẢNH VỊ PHÁP SƢ XUẤT HIỆN TRONG PHẨM PHÁP SƢ CÔNG ĐỨC 2.1.1. Tóm tắt ý nghĩa phẩ

Pháp Sƣ C ng Đức

2.1.1.1. Các phương pháp tu hành của Pháp sư Kinh dạy: “Lúc bấy giờ, đức Phật dạy Thường Bất Khinh Bồ tát rằng: „Nếu có người thiện nam, người tín nữ thọ trì kinh Pháp Hoa, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói hoặc biên chép…” (爾時、佛告常精進菩薩摩訶薩:若善男子、善女人受持是法華經, 若讀、若誦,若解說、若書寫…』)1 Mỗi phẩm trong kinh Pháp Hoa đều có mỗi duyên khởi; Như Lai Thọ Lượng và Tùy Hỷ Công Đức đều nói đến đức của Phật quả, Bồ tát và Đẳng giác đều không hiểu hết. Phẩm này đức Phật nói rõ người có thể thọ trì không đủ đức tinh tấn thì không có đủ nhân duyên để chứng quả, nên đức Phật đề xuất Bồ tát Thường Tinh Tấn. Các phương pháp tu hành của Pháp sư đó là thọ trì kinh Pháp Hoa, hoặc đọc kinh Pháp Hoa, hoặc tụng kinh Pháp Hoa, hoặc giảng cho người khác nghe về kinh Pháp Hoa, hoặc chép hoặc ấn tống kinh Pháp Hoa đó là những phương pháp tu hành của một Pháp sư trong kinh Pháp Hoa.

1

Tham khảo: “If good men or good women accept and uphold this Lotus Sutra, if they read it, recite it, explain and preach it, or transcribe it, such persons will obtain eight hundred eye benefits, twelve hundred ear benefits, eight hundred nose benefits, twelve hundred tongue benefits, eight hundred body benefits, and twelve hundred mind benefits. With these benefits they will be able to adorn their six sense organs, making all of them pure.” English version translation by Burton Watson, Lotus Sutra, Sri Satguru Publications, India, 1999, tr. 251.

33


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

2.1.1.2. Các công đức tu tập Kinh dạy: “ … người đó được 800 công đức về tai, 1200 công đức về mũi, 1200 công đức về lưỡi, 800 công đức về thân, 1200 công đức về ý. Dùng những công đức này trang nghiêm 6 căn làm cho được thanh tịnh.” (是人當得八百眼功德,千二百耳功德,八百鼻功德,千二百舌 功德,八百身功德,千二百意功德。以是功德,莊嚴六根皆令清淨.)2 Công đức là do công hạnh mà pháp sinh ra quả đức. công đức của mắt mũi và thân không có khả năng như tai lưỡi và ý, vì 3 căn tai lưỡi và ý có thể nghe, có thể nói, có thể chứng các nghĩa lí vô biên của kinh Pháp Hoa nên chứng đắc được công đức vô biên. 2.1.1.3. Công đức tu hành 6 căn thanh tịnh thù thắng Công đức về mắt: Kinh dạy: “Người thiện nam và tín nữ khi tu trì kinh Pháp Hoa có thể dùng mắt do cha mẹ sinh ra thấy được 3 ngàn thế giới trong ngoài núi rừng, sông biển; dưới đến ngục A-tì, trên đến trời Hữu đảnh; lại thấy trong đó có các chúng sanh và chỗ sinh ra các nghiệp, nhân duyên, quả báo, đều biết đều hay mặc dù chưa chứng đắc thiên nhãn.” (是善男子、善女人,父母所生清淨肉眼,見於三千大千世界內 外所有山林、河海;下至阿鼻地獄,上至有頂。亦見其中一切眾生, 及業因緣果報生處,悉見悉知』。爾時、世尊欲重宣此義而說偈言: 『若於大眾中,以無所畏心,說是法華經,汝聽其功德。是人得八百 功德殊勝眼,以是莊嚴故,其目甚清淨。父母所生眼,悉見三千界, 內外彌樓山,須彌及鐵圍,并諸餘山林,大海江河水。下至阿鼻獄, 上至有頂處,其中諸眾生,一切皆悉見。雖未得天眼,肉眼力如是.)3 2

Tham khảo: “…such persons will obtain eight hundred eye benefits, twelve hundred ear benefits, eight hundred nose benefits, twelve hundred tongue benefits, eight hundred body benefits, and twelve hundred mind benefits. With these benefits they will be able to adorn their six sense organs, making all of them pure.” Sđd., tr. 251. 3 Tham khảo: "These good men and good women, with the pure physical eyes they received from their parents at birth, will view all that exists in the inner and outer parts of thousand-million-fold world, its mountains, forests, rivers and seas, down as far as

34


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Mắt tai mũi lưỡi thân thuộc phù trần căn hay còn gọi thô sắc căn, cũng nhờ đó mà có thể sinh ra các thức tương ứng gọi là thắng nghĩa căn hay còn gọi là tịnh sắc căn. Phù trần căn là 5 căn phù hiện ra bên ngoài có thể thấy biết được núi rừng, sông biển… đến tận ngục A tì và trời Hữu đảnh đó là quả dụng thù thắng do việc thọ trì kinh Pháp Hoa mà được các công đức như vậy mà không cần phải qua chứng đắc Thiên nhãn thông, một kết quả của thiền thư tư. Đó là diệu dụng của kinh Pháp Hoa. Công đức về tai: Kinh dạy: “Người thiện nam và tín nữ khi tu trì kinh Pháp Hoa có thể dùng tai do cha mẹ sinh ra nghe được 3 ngàn thế giới đến ngục A-tì và trời Hữu đảnh; lại nghe được các âm thanh ngôn ngữ, tiếng voi, ngựa, trâu, xe, đế-thích, sầu than, ốc, trống, chuông, linh, cười, nói, nam, nữ, trẻ nam, trẻ nữ, pháp, phi pháp, khổ, lạc, phàm phu, thánh nhân, vui, không vui, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thác-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầula-già, lửa, nước, gió, địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, tỳ kheo, tỳ kheo ni, Thanh văn, Bích-chi, Phật. Trong thế giới 3 ngàn đó có các âm thanh, tuy chưa chứng Thiên nhỉ thông, chỉ dùng tai do cha mẹ sinh ra đều nghe thấy hết mà không hư tai.” (復次、常精進!若善男子、善女人受持此經,若讀、若誦、若 解說、若書寫,得千二百耳功德。以是清淨耳,聞三千大千世界,下 至阿鼻地獄,上至有頂,其中內外種種語言音聲:象聲、馬聲、牛聲 ,車聲,啼哭聲、愁歎聲,螺聲、鼓聲、鐘聲、鈴聲,笑聲、語聲, 男聲、女聲,童子聲、童女聲,法聲、非法聲,苦聲、樂聲,凡夫聲 、聖人聲,喜聲、不喜聲,天聲、龍聲、夜叉聲、乾闥婆聲、阿修羅 聲、迦樓羅聲、緊那羅聲、摩侯羅伽聲,火聲、水聲、風聲,地獄聲 the Avichi hell and up to this Summit of Being. And in the midst they will see all the living beings, and also see and understand all the causes and conditions created by their deeds and the births that await them as result and recompense for those deeds." Sđd., tr 251-52.

35


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

、畜生聲、餓鬼聲,比丘聲、比丘尼聲,聲聞聲、辟支佛聲、菩薩聲 、佛聲。以要言之,三千大千世界中一切內外所有諸聲,雖未得天耳 ,以父母所生清淨常耳皆悉聞知。如是分別種種音聲,而不壞耳根.)4 Trên đây đức Phật dạy về công đức tu hành của người thọ trì Kinh Pháp Hoa mà có được 1200 công đức về tai, chỉ cần dùng tai do cha mẹ sanh ra tuy chưa chứng được thần thông nhưng có thể phân biệt các âm thanh mà không hư nhỉ căn là do khéo tu tập và nhờ thần lực của kinh mà có được. Các âm thanh của các loài hữu tình và vô thình đều nghe biết rõ rệt. Công đức về mũi: Kinh dạy: “: “Người thiện nam và tín nữ khi tu trì kinh Pháp Hoa, nếu đọc, tụng, giải nói, biên chép thì được 800 công đức về mũi. Dùng các công đức này làm cho mũi thanh tịnh, có thể ngửi thấy các mùi ở 3 ngàn thế giới: như hương hoa tu-mạn-na, hương hoa xà-đề, hương hoa lài, hương hoa ba-la-la, hương hoa sen đỏ, sen xanh, sen trắng, hương hoa thọ, hương quả thọ, hương chiên đàn, hương trầm thủy, hương đa-ma-la-bạt, hương đa-già-la và muôn nghìn các loại mùi thơm. Rồi các mùi hương bột, hương viên hương xức, người trì kinh này đều có thể ngửi thấy được. xúc, 4

Tham khảo: "Moreover, Constant Exertion, if good men or good women accept and uphold this sutra, if they read it, recite it, explain and preach it, or transcribe it, they will gain twelve hundred ear benefits with which to purify their ears so they can hear all the different varieties of words and sounds in the thousand-millionfold world, down as far as the Avichi hell, up to the Summit of Being, have been in its inner and outer parts. Elephant sounds, horse sounds, ox sounds, carriage sounds, weeping sounds, lamenting sounds, conch sounds, drum sounds, bell sounds, chime sounds, sounds of laughter, sounds of speaking, men's voices, women's voices, boys' voices, girls' voices, the voice that is not the Law, bitter voices, merry voices, voices of common mortals, voices of sages, happy voices, unhappy voices, voices of heavenly beings, dragon voices, yaksha voices, gandharva voices, asura voices, garuda voices, kimnara voices, mahoraga voices, the sound of fire, the sound of water, the sound of wind, voices of hell dwellers, voices of beasts, voices of hungry spirits, monks' voices, nuns' voices, voices of voice hearers, voices of pratyekabuddhas, voices of bodhisattvas and voices of Buddhas. In a word, although the person has not yet gained heavenly ears, with the pure and ordinary ears that he received at birth from his parents he will be able to hear and understand all the voices that exist in the inner and outer parts of thousand-millionfold world. And though in this manner he can distinguish all the various kinds of sounds and voices, this will not impair his hearing faculty." Sđd, tr. 252-53.

36


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

hương có thể dùng tai do cha mẹ sinh ra nghe được 3 ngàn thế giới đến ngục A-tì và trời Hữu đảnh; lại nghe được các âm thanh ngôn ngữ, tiếng voi, ngựa, trâu, xe, đế-thích, sầu than, ốc, trống, chuông, linh, cười, nói, nam, nữ, trẻ nam, trẻ nữ, pháp, phi pháp, khổ, lạc, phàm phu, thánh nhân, vui, không vui, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thác-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-nala, ma-hầu-la-già, lửa, nước, gió, địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, tỳ kheo, tỳ kheo ni, Thanh văn, Bích-chi, Phật. Trong thế giới 3 ngàn đó có các âm thanh, tuy chưa chứng Thiên nhỉ thông, chỉ dùng tai do cha mẹ sinh ra đều nghe thấy hết mà không hư tai.” (復次、常精進!若善男子、善女人受持是經,若讀、若誦、若 解說、若書寫,成就八百鼻功德。以是清淨鼻根,聞於三千大千世界 上下內外種種諸香:須曼那華香、闍提華香、末利華香、薝蔔華香、 波羅羅華香、赤蓮華香、青蓮華香、白蓮華香,華樹香,果樹香,旃 檀香、沈水香、多摩羅跋香、多伽羅香,及千萬種和香──若末、若 丸、若塗香,持是經者於此間住悉能分別.)5 Ở thế giới ta-bà này có mùi thơm lẫn mùi thối, cho nên ở đây chữ “hương” có hai nghĩa vừa là mùi thơm vừa là mùi thối. Ở đây người trì kinh chỉ cần dùng mũi do cha mẹ sanh cũng có thể ngửi được mùi của bốn quả thánh, sáu cõi phàm phu, hữu tình, vô tình đều biết được nhờ vào công đức thù thắng của kinh này.

5

Tham khảo: "Moreover, Constant Exertion, if good men or good women accept and uphold this sutra, if they read it, recite it, explain and preach it, or transcribe it, they will succeed in gaining eight hundred nose benefits with which to purify their faculty of smell so they can detect all the different fragrances from top to bottom and in the inner and outer parts of a thousand-million-fold world, the fragrance of sumana flowers, jatika flowers, mallika flowers, champaka flowers, patala flowers, red lotus flowers, blue lotus flowers, white lotus flowers, the fragrance of flowering trees, fruit trees, sandalwood, aloes, tamalapatra and tagara, as well as incense blended from thousand, ten thousand ingredients, powdered incense, pellet incense or paste incense. One who upholds this sutra while dwelling here, will be able to distinguish all these.” Sđd, tr. 255-56.

37


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Công đức thù thắng về lưỡi: Kinh dạy: “Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu có người thiện nam và người thiện nữ thọ trì kinh này hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói hoặc biên chép thì đắc được 1200 công đức về lưỡi. Hoặc tốt, hoặc dỡ, hoặc ngon, không ngon, hoặc đắng chát, nếu tiếp xúc với lưỡi đều biến thành thượng vị, như cam lồ ở trời không gì là không ngon. Nếu dùng lưỡi này nói với mọi người thành tiếng thâm diệu làm cho họ nhập tâm được hoan hỉ an vui. Rồi các trẻ trai trẻ gái ở trời, chư thiên thích, phạm nghe tiếng nói thâm diệu này liền đến nghe; các loài rồng, rồng cái, dạ-xoa, da-xoa nữ, càn-thát-bà, càn thát-bà nữ, a-tu-la, a-tu-la nữ, nữ, ca-lầu-la, ca-lầu-la nữ, khẩn-na-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la, ma-hầu-la nữ, đến nghe pháp đều thân cận cúng dường; các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, vua, con vua, quần thần quyến thuộc, vua chuyển luân nhỏ, vua chuyển luân lớn, ngàn con thất bảo quyến thuộc nội ngoại, ngồi trong cung điện đều đến nghe pháp; họ cho đây là Bồ tát thuyết pháp, nên Bà-la-môn, cư sĩ, dân trong nước lớn nhỏ đều đến cúng dường. Lại nữa các vị Thanh văn, Bích Chi Phật, Bồ tát, Chư Phật đều thấy vui mừng. Người này ở nơi nào, chư Phật đều hướng về đó thuyết pháp, khiến được thọ trì hết thảy pháp, có thể nói lên tiếng pháp thâm diệu.” (復次、常精進!若善男子、善女人受持是經,若讀、若誦、若 解說、若書寫,得千二百舌功德。若好、若醜、若美、不美、及諸苦 澀物,在其舌根皆變成上味,如天甘露,無不美者。若以舌根,於大 眾中有所演說,出深妙聲,能入其心,皆令歡喜快樂。又諸天子、天 女、釋、梵諸天,聞是深妙音聲有所演說、言論次第,皆悉來聽,及 諸龍、龍女,夜叉、夜叉女,乾闥婆、乾闥婆女,阿修羅、阿修羅女 ,迦樓羅、迦樓羅女,緊那羅、緊那羅女,摩侯羅伽、摩侯羅伽女, 為聽法故,皆來親近恭敬供養。及比丘、比丘尼,優婆塞、優婆夷,

38


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

國王、王子,群臣眷屬,小轉輪王、大轉輪王、七寶千子內外眷屬, 乘其宮殿俱來聽法。以是菩薩善說法故,婆羅門、居士、國內人民, 盡其形壽隨侍供養。又諸聲聞、辟支佛、菩薩、諸佛,常樂見之。是 人所在方面,諸佛皆向其處說法。悉能受持一切佛法,又能出於深妙 法音.)6 Trên đây là công đức của người trì thọ kinh Pháp Hoa mà được các công đức về lưỡi, nhờ vào công đức này mà người đó có thể nói ra tiếng nói thâm diệu, được chư Phật thường hộ trì và được người trời đến nghe Pháp và cung kính cúng dường. Các công đức thù thắng về thân: Kinh dạy: “Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu có người thiện nam và người thiện nữ thọ trì kinh này hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói hoặc biên chép thì đắc được 800 công đức về thân. Được thân thanh tịnh trong như pha lê, khiến chúng sanh thích nhìn. Do có thân trong sáng nên các 6

Tham khảo: "Moreover, Constant Exertion, if good men or good women except and uphold this sutra, if they read it, recite it, explain and preach it, or transcribe it, they will gain twelve hundred tongue benefits. Whether something is good tasting or vile, whether it is flavorful or not, and even things that are bitter or astringent, when encountered by the faculties of this person's tongue will be a changed into superb flavors as fine as the sweet dew of heaven, and there will be none that are not pleasing. "If with these faculties of the tongue he undertakes to expound and preaching in the midst of the great assembly, he will produce a deep and wonderful voice capable of penetrating the mind and causing all who hear it to rejoice and delight. When the men and women of heaven, Shakra, Brahma and other heavenly beings, hear the sound of this deep and wonderful voice expounding and preaching, advancing and argument point by point, they will all gather to listen. Dragons and dragon daughters, yakshas and yaksha daughters, gandharvas and gandharva daughters, asuras and asura daughters, garudas and garuda daughters, kimnaras and kimnara daughters, mahoragas and mahoraga daughters will all gather close around its possessor in order to listen the Law, and will revere him and offer alms. Monks, nuns, laymen, laywomen, monarchs, princes, ministers and their retinues, petty wheel-turning kings and great wheel-turning kings with their seven treasures and thousand sons and inner and outer retinues will ascend their palaces and all come to listen to the Law. "Because this bodhisattva is so skilled of preaching the Law, the Brahmans, householders and people throughout the country will for the remainder of their lives follow and wait on him and offer him alms. Voice-hearers, pratyekabuddhas, bodhisattvas and Buddhas will constantly delight to see him. Wherever this person is, the Buddhas will all face in that direction when they preach the Law, and he will be able to accept and uphold all the doctrines of the Buddha. And in addition he will be able to emit the deep and wonderful sound of the Law." Sđd., Tr. 259-60.

39


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

chúng sanh lúc sanh, lúc chết, trên dưới, tốt xấu, sanh nơi tốt, nơi xấu đều hiện trong đó. Rồi núi Thiết Vi, núi Thiết Vi lớn, núi Di Lâu, núi Di Lâu lớn cùng chúng sanh ở đó đều hiện trong đó. Đến các chúng sanh ngục dưới A tì, trên đến trời Hữu đảnh đều hiện trong đó. Hoặc có Thanh văn, Bích Chi Phật và chư Phật thuyết pháp đều hiện ở trong thân của người đó.” (復次、常精進!若善男子、善女人受持是經,若讀、若誦、若 解說、若書寫、得八百身功德。得清靜身,如淨琉璃。眾生喜見。其 身淨故,三千大千世界眾生──生時、死時,上下、好醜,生善處、 惡處,悉於中現。及鐵圍山、大鐵圍山、彌樓山、摩訶彌樓山等諸山 ,及其中眾生,悉於中現。下至阿鼻地獄,上至有頂所有及眾生,悉 於中現。若聲聞、辟支佛、菩薩、諸佛說法,皆於身中現其色像.)7 Thân trong suốt còn được gọi là tịnh lưu ly, có nghĩa trong ngoài đều trong suốt. Có các tướng tốt xấu, sanh thiện xứ sanh ác xứ có nghĩa là cõi tốt cõi xấu, chúng sanh có tướng tốt xấu mà có thọ sanh ở nơi tốt hoặc nơi xấu. Pháp thân thanh tịnh của đức Phật vô lậu tức viên đồng pháp giới, nói cách khác, mười pháp giới cũng là pháp thân thanh tịnh vô lậu của đức Phật. Cho nên chúng sanh trong mười pháp giới đều hiển hiện trong pháp thân thanh tịnh vô lậu của đức Phật. Bồ tát thập địa phần trở lên có thể chứng đắc như vậy. Người trì kinh này tuy chưa chứng đắc nhưng khéo trì kinh này mà được quả dụng tương ưng, chính là diệu dụng của kinh Pháp Hoa. Kinh Pháp Hoa dù một câu một kệ đều có cảnh giới giải thoát bất khả tư nghì, tâm phàm phu không thể và khó tin hiểu hết được. 7

Tham khảo: "Moreover, Constant Exertion, if good men or good women except and uphold this sutra, if they read it, recite it, explain and preach it, or transcribe it, they will gain eight hundred body benefits. They will acquire pure bodies, like pure lapis lazuli, such as living beings delight to see. Because of the purity of their bodies, when the living beings of the thousand-millionfold world are born or die, when they are born in upper or lower regions, in fair or ugly circumstances, in good places or bad, they will all be reflected [in these bodies]. The mountain kings of Iron Encircling Mountains, the Great Iron Encircling Mountains, Mount Meru and Mahameru, as well as living beings in their midst, will all be reflected therein. Down to the Avichi hell, upward to the Summit of Being, all the regions and their living beings will be reflected therein. Voicehearers, pratyekabuddhas, bodhisattvas, Buddhas preaching the Law - the forms and shapes of these will be reflected in their bodies." Sđd., tr. 261-62.

40


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Các công đức thù thắng về ý: Kinh dạy: “Lại nữa, Thường Tinh Tấn! nếu có thiện nam hay thiện nữ, sau khi Như Lai diệt độ, mà thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, đắc được 1200 công đức về ý. Dùng ý căn thanh tịnh cho dù nghe một bài kệ, đến một tháng, bốn tháng, cho đến một năm thuyết pháp về nghĩa thú của kinh mà không trái lại với thực tướng; nếu nói về các sách thế gian, chuyện chính trị, sách làm ăn đều thuận chánh pháp. Tâm nghĩ và tâm động, tâm hí luận của chúng sanh trong 3 ngàn thế giới, trong lục đạo đều biết hết. Tuy chưa chứng đắc trí huệ vô lậu mà ý căn vẫn được thanh tịnh. Người đó tư duy, suy nghĩ, lời nói đều là Phật pháp, không gì là không đúng như trong kinh điển mà đức Phật đã nói.” (復次、常精進!若善男子、善女人, 如來滅後,受持是經,若讀、若誦、若解說、若書寫,得千二百意功 德。以是清淨意根,乃至聞一偈、一句,通達無量無邊之義。解是義 已,能演說一句、一偈,至於一月、四月、乃至一歲,諸所說法隨其 義趣皆與實相不相違背,若說俗間經書、治世語言、資生業等,皆順 正法。三千大千世界、六趣眾生心之所行,心所動作,心所戲論,皆 悉知之。雖未得無漏智慧,而其意根清淨如此。是人有所思惟籌量言 說,皆是佛法,無不真實,亦是先佛經中所說.)8 8

Tham khảo: "Moreover, Constant Exertion, if good men or good women except and uphold this sutra after the Thus Come One has entered extinction, if they read it, recite it, explain and preach it, or transcribe it, they will acquire twelve hundred mind benefits. Because of purity of their mental faculties, when they hear no more than one verse or one phrase [of the sutra], they will master immeasurable and boundless numbers of principles. And once having understood these principles, they will be able to expound and preach on the single phrase or a single verse for a month, for four months, or for a whole year, and the doctrines that they preach during that time will conform to the gist of the principles and will never be contrary to true reality. "If they should expound some text of the secular world or speak on matters of government or those relating to wealth and livelihood, they will in all cases conform to the correct Law. With regard to the living beings in the six realms of existence of a thousand-million-fold world, they will understand how the minds of those living beings work, how they move, what idle theories they entertain.

41


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Người trì kinh Pháp Hoa mà ý căn được thanh tịnh, nhờ ý căn thanh tịnh, cho dù nghe được ít câu mà thông vô lượng nghĩa. Giải nói nghĩa pháp này chỉ một câu một kệ trong một thời gian, tùy vào nghĩa thú của kinh không trái nghịch với pháp thật tướng. Do đó, người này dù có thể hiểu được các sách vở thế tục, dùng nó làm phương tiện để qui hướng Phật pháp. Lại nữa, người thọ trì đều biết tâm niệm, tư duy và lời nói của người khác mà không ra ngoài Phật pháp. Đây là diệu dụng của kinh Pháp Hoa. Pháp Bồ tát, pháp nhị thừa, pháp trời người là ba pháp mà người trì tụng kinh Pháp Hoa đều có thể thông hiểu. Tuy chưa rời được sáu căn phàm phu mà có thể uẩn tàng thâm nhập bí mật của chư Phật, nên có thể rời chấp trước ở các pháp, có thể khéo phân biệt, có thể làm phương tiện để hướng dẫn chúng sanh đồng qui Phật thừa. Pháp sư trong kinh Pháp Hoa chia làm hai; đó là Pháp Pháp Sư và Nhân Pháp Sư. Phẩm này nói pháp sư tức nói hành giả có thể thực hành theo kinh Pháp Hoa chứ không nói đến pháp. Cái thực hành là thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Pháp Hoa. Đó là nội dung chính yếu của phẩm Pháp Sư Công Đức. 2.1.2. Giải thích thuật ngữ ‘Pháp sƣ’ 2.1.2.1. Định nghĩa từ Pháp sư Pháp sư có 3 nghĩa: a. Pháp sư trong Phật giáo Tiếng Phạn là Dharma-bhanaka, dịch là pháp sư, một bậc xuất gia đã thọ cụ túc giới có thể diễn giảng kinh Phật thì xưng gọi là pháp sư. Vì vậy đức Phật Thích ca và các vị đệ tử của Ngài cũng gọi là pháp sư. Thời Đường có pháp sư Huyền Trang, do tinh thông tam tạng kinh điển nên

"Thus although they have not yet acquired the wisdom of no outflows, the purity of their minds will be a such that the thought of these persons, their calculations and surmises and the words they speak, will in all cases represent the Law of the Buddha, never departing from the truth, and also conform with what was preached in the sutras of former Buddhas." Sđd., tr. 263.

42


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

được xưng là tam tạng pháp sư. Pháp sư vốn là một danh xưng học vị, cần phải thông đạt Phật pháp để thuyết pháp cho người khác mới được gọi là Pháp sư chứ không pháp xưng hô tùy tiện. Pháp sư còn có học vị cao, tinh thông kinh tạng xưng là kinh sư, tinh thông luật tạng xưng là luật sư, tinh thông luận tạng gọi là luận sư; tinh thông cả ba xưng là tam tạng pháp sư. Trong dân gian cũng có pháp sư, thường của lão giáo hoặc thầy cúng chủ lễ các nghi thức cúng bái dân gian, dùng bùa chú, phép thuật cũng được gọi là pháp sư. b. Pháp sư trong văn học phương Tây Tiếng Anh là Mage, có nghĩa là pháp sư trừ tà ma, hay ma thuật pháp sư, thường làm các công việc chú thuật siêu tự nhiên. Ngoài ra còn có loại hình thầy pháp (Shamanist) giống ở các nước châu Á, ở Việt Nam còn gọi là thầy bộ thủy, thầy pháp có thể chữa bệnh; những nhà khoa học sau nghiên cứu đạt được năng lực này cũng được gọi là pháp sư. c. Pháp sư trong các trò chơi (Games) Trò chơi cũng có nội dung tương tự, nhưng hình dạng của các pháp sư có vẻ gầy yếu, không có sức mạnh về võ nghệ, nhưng ngược lại có một sức mạnh thần thông và siêu tự nhiên. Người chơi games lợi dụng khả năng này của pháp sư để luyện chưởng hoặc trị liệu hoặc hồi phục sinh lực. 2. . . . Pháp sư trong inh Pháp

oa

Phẩm thứ 10 và 19 trong 28 phẩm của kinh Pháp Hoa có tên là Pháp Sư Phẩm và Pháp Sư Công Đức. Nói về năm phẩm vị pháp sư tu hành đạo lực tăng trưởng, chứng đắc công đức của sáu căn nên được gọi là Pháp sư công đức. Sao gọi là Pháp sư? Chỗ này mình phải hiểu cho kỹ. Nhiều khi học theo chữ nghĩa: Pháp sư l�� ông thầy giảng pháp thôi. Giỏi thuyết pháp là pháp sư Pháp sư đây, thứ nhất là lấy pháp làm thầy, chính đó là Pháp sư. 43


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Thứ hai là: y nơi pháp mà tu hành, rồi mình mới truyền trì, rộng nói cho mọi người, để khiến cho chánh pháp không đoạn dứt, pháp sư vậy mới đủ nghĩa. Tức là mình đem gieo hạt giống Phật khắp cho mọi người, để khiến cho Pháp Hoa này luôn luôn tồn tại ở thế gian. “Pháp sư là người khéo học Phật pháp và khéo thuyết pháp. Trong quan niệm của mọi người nói chung, pháp sư phải là tỳ kheo. Kỳ thực thì không phải. Trong sách Phật, quan niệm về Pháp sư rất là rộng rãi, và không hạn chế ở Tăng ni. Như Phẩm Tựa trong kinh Pháp Hoa viết : “Thường tu Phạm hạnh, gọi là pháp sư”. Sách Tam Đức chỉ quy, quyển I viết : “Tinh thông kinh luật gọi là pháp sư”. Sách “Nhân Minh đại sớ” viết: “Pháp sư là bậc thầy thực hành Phật Pháp”. Lại có người cho rằng lấy Phật Pháp tự dạy mình và dạy người gọi là pháp sư. Do đó, cư sĩ tại gia cũng có tư cách gọi là pháp sư. Thậm chí, súc sinh như loại giã can [giống như chồn nhưng thân nhỏ] khéo thuyết pháp cũng tự xưng là pháp sư đối với Thiên Đế. Vì lý do ấy cho nên, Lão giáo chịu ảnh hưởng của đạo Phật, gọi các đạo sĩ giỏi bùa chú cũng gọi là pháp sư. Có thể thấy, từ pháp sư không phải là từ chuyên dụng để chỉ tỳ kheo Phật giáo.” (http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-7985_550_6-7_17-542_14-1_15-1/) Cũng theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh có nói rằng: “Danh từ Pháp sư (Dharmabhanaka) ở đây có nghĩa là người đem giáo pháp của Bụt ra để chia sẽ cho người khác. Ở đây Pháp sư được diễn tả là một vị đại sứ của Bụt, mang thông điệp của Bụt đi khắp cùng mười phương thế giới. Thông điệp này là thông điệp Pháp Hoa, thông điệp nói cho mọi người biết rằng ai cũng có khả năng tính thành Bụt, và có khả năng tính độ thoát cho tất cả mọi loài chúng sanh.” (Thích Nhất Hạnh,Sen Nở Trời Phương Ngoại, tr.150,151) Pháp sư là người học hiểu chánh pháp, sống với chánh pháp, người ly được tham dục, sân hận ở đời, là người luôn hoằng truyền chánh pháp của Phật trên thế gian, nghĩa là người tin chánh pháp, thực hành theo chánh pháp, gọi là pháp sư. 44


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

“Pháp” chính là kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh này là chân lý tối hậu đã được chư Phật, Bồ tát và tất cả chúng sanh kính ngưỡng thọ trì. Là pháp diệu nhập đời. “Sư” là thầy, là người thông hiểu chánh pháp, là người thành tựu Giới, định, tuệ. “Pháp chuyển người nên tên Diệu Pháp, người chuyển pháp đời gọi Pháp Sư” (Thích Thông Bửu, Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa giảng luận, tr.86) Vậy Pháp sư là người đã được pháp Diệu, chuyển nhập vào pháp Diệu, sau đó mới đem pháp đó nhập đời cứu người. Cũng như có đạt trình độ giáo sư mới dạy sinh viên thông hiểu văn hóa, rời thô nhập tế. Có đạt được giảng sư mới chuyển từ tế sang vi. Có đạt được Pháp sư mới chuyển người từ vi nhập Diệu, có vậy mới gọi là Pháp Sư. 2.2. TÍNH VĂN HỌC VÀ Ý NGHĨA BIỂU TƢỢNG TRONG PHẨM PHÁP SƢ CÔNG ĐỨC 2.2.1. Tính văn học Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tiếng Phạn Saddharmapudarika Sutra, gọi ngắn gọn là kinh Pháp Hoa, là một trong những bộ kinh thuộc Đại thừa Phật giáo có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong các quốc gia thuộc Phật giáo bắc truyền. Trong kinh có nhiều câu chuyện rất hay, văn phong có nhiều đặc sắc khiến các học giả chú ý và bàn luận rất nhiều. Có người cho rằng kinh Pháp Hoa có giá trị về mặt triết lý đối với những tín đồ Phật giáo và những nhà nghiên cứu Phật học, nhưng theo người viết thì kinh Pháp Hoa còn có một giá trị văn học rất có ý nghĩa và càng phù hợp với bản chất xuất hiện và tồn tại của bản kinh. Tính văn học trong kinh điển Phật giáo có thể nói đến truyện kí, thí dụ, ca tụng và thuyết lí, thế nhưng kinh Pháp Hoa có một vị trí đặc biệt thể hiện đầy đủ các tính văn học trên của kinh điển Phật giáo nói chung. Chính vì thế mà Kinh Pháp Hoa hình thành không phải là một chỗ, một người và 45


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

một lúc, mà trải qua một quá trình hình thành và phát triển. Từ phẩm thứ hai cho đến phẩm thứ chín, câu chuyện xuyên suốt, có thể nói là căn nguyên của bộ kinh; còn các phẩm về sau hình thành muộn hơn thiếu tính gắn kết. Phần sau nói về sự tích các vị Bồ Tát (Thường Bất Khinh Phẩm Bồ Tát, Diệu m Bồ Tát,

uán Thế m Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến

Phát). Rồi đến việc thọ kí của một số đệ tử kiệt xuất (Đề Bà Đạt Đa Phẩm, Khuyến Trì Phẩm); và sự xuất hiện uy lực bất tư nghì của chư Phật (Hiện Bảo Tháp Phẩm, Tùng Địa Dõng uất Phẩm, Như Lai Thần Lực Phẩm). Ở đây chúng ta nói về tính văn học trong các phẩm thọ trì lưu truyền kinh Pháp Hoa như Phân Biệt Công Đức Phẩm, Tùy Hỷ công Đức Phẩm và đặc biệt Pháp Sư công Đức Phẩm. Như vậy qua tính văn học của kinh Pháp Hoa chúng ta có thể thấy được kết cấu của kinh trải qua nhiều thế hệ và và tạo thành một bộ phận quan trọng của tính văn học trong kinh Pháp Hoa. Một điểm khác đáng chú ý khác là kinh Pháp Hoa thể hiện sự bình đẳng giới tính, qua hình ảnh của Long nữ thành Phật và đức Phật thọ ký cho Di mẫu và năm ngàn vị Tỷ kheo ni. Đây là một tính văn học quan trọng của kinh Pháp Hoa phù hợp trong mọi thời đại, phản ánh đúng thực trạng xã hội lúc bấy giờ và hiện nay. Bây giờ chỉ nói đến tính văn học qua phẩm Pháp Sư Công Đức. Trong phẩm này đức Phật nói về hình ảnh của Bồ tát Thường Tinh Tấn, một vị Bồ tát luôn thực hành hạnh Lục độ một cách không mệt mỏi, mong muốn cứu giúp chúng sanh hết khổ được vui. Ở đây nhắc chúng ta một điều, với bất kì công việc gì hay tu tập với bất cứ pháp môn nào cũng điều phải cần đến hạnh tinh tấn, nếu không tinh tấn mọi việc sẽ “Bán đồ nhi phế”, công việc tu học cũng chỉ đem đến sự tự mãn và kiêu ngạo. Ở đây một thuật ngữ “công đức” được phát sinh bằng sự thực hành theo kinh Pháp hoa và một hành giả tu trì theo kinh Pháp hoa được gọi là Pháp Sư. Như trong nội dung của kinh đã nói, có những pháp sư đọc, tụng, thọ trì, giải nói và biên chép. Những vị pháp sư này có những công đức về 46


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, được xem như là sự linh nghiệm của kinh Pháp Hoa, đồng thời cũng là những địa vị chứng đắc của các hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát.

này cho chúng ta thấy rằng một người bình

thường khi đã thâm tín vào Tam Bảo thì khả tính thành Phật còn không xa chỉ cần tinh tấn tu tập và thực hành hạnh Bồ Tát để tích lũy công đức và trí huệ. Đây là một trong những hạnh nhập thế của Phật giáo và duy trì chánh pháp cửu trụ trong dân gian. Điểm nhấn mạnh ở tính văn học trong phẩm này là xây dựng hình tượng vị Pháp sư, một bậc thầy cho chúng sanh. Một bậc thầy đòi hỏi có những phẩm cách và mô phạm cho đời. Đó chính là một vị pháp sư vừa biết tu tập cho chính bản thân, đọc kinh, luôn coi trọng kiến thức, sau khi đã tu học thì quay lại giảng giải ý nghĩa của kinh cho mọi người và truyền bá tư tưởng tốt đẹp, lưu truyền chánh pháp và kinh sách cho đời, cho mọi người, mà đời nay còn gọi là nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú. Rõ ràng tính văn học ở đây làm một vị pháp sư phải đầy đủ các đức tí nh tuổi trẻ lo học tập, quá trình học luôn thể hiện sự tinh tấn, học hỏi, sau đó dùng kiến thức đã học truyền đạt lại cho hậu thế và có những đóng góp trong học thuật và kinh nghiệm cho mọi người, chứ không phải thụ động và ích kỉ. Những phẩm cuối của kinh Pháp Hoa thường nói đến thần thông của chư Phật và Bồ tát, đặc biệt là diệu dụng của kinh Pháp Hoa. Đây là tính văn học mà hầu hết nền văn học nào cũng có. Các công đức của Pháp sư trong phẩm này thể hiện trực tiếp qua sự thanh tịnh của các căn mắt tai mũi lưỡi thân và ý, có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và tư duy đến 3 ngàn thế giới, Lục đạo và các cảnh của các bậc thánh, cảnh giới chư Phật, Bồ tát đang thuyết pháp. Trong đó có đề cập đến sự thanh tịnh của 6 căn do công đức thọ trì kinh Pháp Hoa có một ý nghĩa quan hệ biện chứng. Trong Phật giáo Tiểu thừa lẫn Đại thừa đều xem việc tu tập để thanh lọc 6 căn làm cho 6 căn quay về với bản lai diện mục của chúng, hợp với chân tâm thường trụ bất sanh diệt thì Phật tánh hiện bày. Đây biểu hiện lí sự viên dung, mở ra một không gian văn học trí tuệ tưởng tượng và tính triết lí của Phật giáo. 47


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

2.2.2. Một số biểu tƣợng khác trong phẩ

Pháp sƣ C ng Đức

Tính văn minh trong phẩm Pháp Sư Công Đức: qua hình ảnh người thọ trì kinh Pháp Hoa có thân trong suốt, ánh sáng quang minh, hiện các hình ảnh của thế giới vào trong đó, chư Phật và Bồ tát thuyết kinh đều hiện trong đó, chính là biểu hiện sự trong suốt, phản ánh một thế giới sinh thái ổn định từ một cá nhân làm điều thiện, biết tu học và đi theo con đường đúng đắn. Đồng thời đây vừa là một ý tưởng tâm linh vừa là một ý tưởng thực tế về sự sống khoa học vệ sinh đưa một thế giới chư Phật về gần gũi với quần sanh và thế giới thực tại có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của cá nhân. Sinh hoạt xã hội cộng đồng: lý tưởng Bồ tát là lí tưởng nhập thế, muốn xây đựng một xã hội lý tưởng bằng thực tế, những hành giả tu hành muốn đem kinh Pháp Hoa truyền lại cho dân gian chính là xây dựng một cộng đồng ổn định và thanh tịnh không có cấu uế, ô nhiễm, đấu tranh, cạnh tranh và xung đột. Lòng mong mõi đem yếu nghĩa kinh Pháp Hoa giảng rộng trong quần chúng cũng chính là mong mõi một xã hội tốt đẹp, thanh tịnh trong suốt, cũng là một hành động bảo vệ môi trường sinh thái, vệ sinh công cộng. Đây chính là một ý tưởng cần phải được thực thi và nhân rộng, người nào có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cũng là đang tu trì theo kinh Pháp Hoa. Ngày nay, xã hội và con người trên toàn cầu đang đối mặt với sự khủng hoảng sinh thái, cũng chính là lúc chúng ta cần tích cực đưa kinh Pháp Hoa vào xã hội áp dụng để xây dựng một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn, văn minh hơn và tích phước nhiều hơn. Tính giáo dục của thời đại đối với xã hội: người giải nói được kinh Pháp Hoa bằng cách đọc, tụng, giải thích hoặc biên chép, ấn tống lưu truyền kinh Pháp Hoa nghĩa là nắm vững kinh cả hai mặt văn tự và nghĩa lí. Con người vốn chạy theo danh lợi mà sáu căn trở nên u tối, cái nhìn nghe thấy biết xúc chạm và tư duy hẹp hòi nay nhờ tin hiểu thọ trì kinh này mà được mở tầm thấy nghe và tư duy… nên các căn trở nên thanh tịnh, không

48


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

còn say đắm vào lợi danh phù phiếm mà trở thành thanh cao đạo đức. Thực hành thọ trì theo kinh Pháp Hoa cũng chính là nâng cao khả năng nhận thức, tầm nhìn, mở rộng tư duy nhận thức tức là tự độ và giảng nói cho người khác hiểu và làm theo chính là độ tha. Đây chính là công hạnh của một vị Bồ tát. Trong giáo dục cũng thế, tuổi trẻ học hành cần mẫn, sau đem kiến thức truyền đạt lại cho người sau, khiến cho hậu thế không sai lầm, biết con đường sáng suốt để đi, và biết sai lầm để sửa chữa. Giáo dục không gì khác là mở rộng kiến thức đúng không tà vạy, giáo dục kiến thức rồi còn bồi bổ đạo đức đó mới chính là giáo dục toàn diện. Tính sáng tạo phong phú: Phật giáo Đại thừa là một không gian sáng tạo vô cùng phong phú, cũng chính nhờ vào tính sáng tạo này mà sự tồn tại và phát triển của Phật giáo luôn đáp ứng mọi nhu cầu tâm linh của con người, đặc biệt là trong văn học Phật giáo. Con người nếu không có tính sáng tạo thì văn minh loài người luôn ở trong thời kì mông muội. Kinh Pháp Hoa cũng vậy dùng tất cả các phương tiện để giáo hóa chúng sanh. Phương tiện thiện xảo là một công cụ phát huy mọi tính năng sáng tạo nhằm mục đích đưa con người thăng hoa về mặt tâm linh và tư duy. Người tu học thiếu phương tiện thiện xảo thì việc lợi đạo ích đời, tích lũy công đức cũng hạn chế. Ở phẩm này cho thấy hành giả nhờ vào công phu mở rộng tầm nghe hiểu mà tâm trí trở nên thanh tịnh, nghe và hiểu một cách sâu xa và diễn nói bao lâu và bao nhiêu cũng được. Thậm chí có nói ra lời chi, bàn luận hay nói về sách vở thế gian cũng vẫn chỉ làm cho Phật pháp được sáng tỏ và không sai với đạo lí của kinh điển, đồng thời mọi tư duy đều vì lợi ích cho chúng sanh, đều chân thật. Nói cách khác tính sáng tạo của người thọ trì kinh Pháp Hoa chính là sáng tạo chính cái nghe, cái thấy, cái xúc chạm, cái vị giác và tư duy sáng tạo một cách chân chánh, mục đích làm đẹp cho đời và cho hết thảy chúng sanh. 2.3. VAI TRÒ CỦA MỘT PHÁP SƢ Trong phẩm này chúng ta thấy Kinh Pháp Hoa chính là bản thân Phật, cũng chính là tri kiến Phật, tỏ niệm cung kính đối với Kinh Pháp Hoa tức là chúng ta đang tỏ niệm cung kính đối với Phật, công đức ngang nhau. 49


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Danh từ pháp sư ở đây có nghĩa là người mang tri kiến Phật để chỉ dạy cho tất cả chúng sanh, để chúng sanh nhận thấy được tri kiến Phật và thể nhập vào tri kiến Phật, được Phật thọ ký. Đức Phật còn dạy rằng, nếu sau khi Phật nhập diệt rồi nếu có chúng sanh nào nghe một bài kệ, một câu kinh thôi thì đức Phật cũng thọ ký cho người đó thành Phật. Nếu có người nào tiếp nhận, đọc, tụng, giảng giải và biên chép kinh này dầu chỉ một bài kệ thôi thì những người đó đã tỏ ra sự cung kính tột bực đối với Phật. Kinh Pháp Hoa là bảo vật của đức Phật cho nên nếu có người đọc tụng kinh Pháp Hoa tức là người đó đang dùng những thứ trang sức của Phật mà tự trang sức mình. Nơi nào có giảng dạy, đọc tụng, biên chép kinh Pháp Hoa thì nên dựng tháp bằng bảy báu để thờ, tại vì chính nơi đó là Thánh địa rồi, không cần có Xá lợi của Phật mà nơi đó vẫn linh thiêng. Trong các kinh Phật đã nói, đang nói và sẽ nói, thì kinh này là bậc nhất, là vua trong các kinh, người nào tu tập hành trì theo kinh Pháp Hoa là người đó đang tiến gần đến địa vị Toàn giác. Phần sau cùng đức Phật nêu lên những yếu tố cần thiết của một vị pháp sư giảng dạy kinh Pháp Hoa tức là người giảng về tri kiến Phật cho chúng sanh, thì phải đầy đủ ba điều kiện, đó là : Phải vào nhà Như Lai là tâm đại bi; phải mặc áo Như Lai là đức tính nhẫn nhục; phải ngồi tòa Như Lai là liễu ngộ được nguyên lý các pháp là không. Người nào đủ ba điều kiện trên thì diễn giảng hay đọc tụng kinh Pháp Hoa đều thấy được Như Lai và diễn giảng kinh Pháp Hoa mà người nghe hoan hỷ đó là do Như Lai hộ trì. Nếu có người khác thóa mạ, hành hung thì hãy nhớ đến Phật mà nên nhẫn nhịn, đó chính là phẩm hạnh của người pháp sư chân chính. 2.3.1. Phẩm chất cần và đủ của một vị pháp sƣ Pháp Hoa “Dược Vương này bảo Ông Các kinh của ta nói Mà ở trong kinh đó Pháp Hoa tột thứ nhứt. (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 294) 50


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Kinh Pháp Hoa là Vua của các kinh, nên trì kinh Pháp Hoa là trì tất cả các kinh. Hay nói cách khác người trì kinh Pháp Hoa là người thọ trì hết thảy giáo pháp của Phật. Nên ta thấy kinh Pháp Hoa chính là bản thân Phật, cũng là tri kiến Phật, tỏ niềm cung kính với kinh Pháp Hoa tức là chúng ta đang tỏ niềm cung kính đối với Phật, công đức ngang nhau. Đức Phật cũng còn dạy là nếu sau khi Phật nhập diệt rồi nếu có chúng sanh nào nghe một bài kệ, một câu kinh thôi thì đức Phật cũng thọ ký cho người đó thành Phật. Nếu có người nào tiếp nhận, đọc, tụng, giảng giải và biên chép kinh này dầu chỉ một bài kệ thôi thì cũng đã tỏ sự cung kính đối với đức Phật rồi. Kinh ghi: “Dược Vương nên biết! sau khi Như Lai diệt độ, người nào có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường. Vì người khác mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm cho, lại được các đức Phật hiện tại ở phương khác hộ niệm cho. Người có sức tin lớn và sức chí nguyện các sức căn lành, phải biết người đó cùng Như Lai ở chung, được Đức Như Lai lấy tay xoa đầu.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 295) Nhưng để được Như Lai lấy y trùm, lấy tay xoa đầu, chư Phật hộ niệm và thọ ký thì mỗi hành giả cần phải qua mỗi công đoạn thọ trì, đọc tụng, giảng nói và biên chép. 2.3.1.1. Thọ trì kinh Pháp Hoa “Thọ” là lãnh nhận yếu nghĩa của kinh từ đức Phật. “Trì” là giữ được yếu nghĩa đó trong tâm. Hay “thọ” nghĩa là chỉ sự tin tưởng sâu sắc vào giáo lý của đức Phật, và “trì” nghĩa là gắn bó chặt chẽ với niềm tin ấy. Thọ trì kinh Pháp Hoa là thọ trì tất cả giáo pháp của đức Phật. Nên hành giả cần phải đặt trọn niềm tin của mình vào đó, luôn biết giữ gìn và phát huy để để đem đến những lợi lạc cho chúng sanh khiến giáo pháp mãi trường tồn theo thời gian. Thông thường, trong mỗi cách nghĩ của con người bình thường cho rằng thọ trì ở đây là làm sao để tụng kinh Pháp Hoa mỗi ngày, mỗi đêm, mỗi tuần...,càng tụng nhiều thì càng tốt. Và sự tụng trì của họ ở đó luôn đi 51


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

kèm với sự mong cầu cho bản thân cùng gia đình có được sức khỏe, gia đình hạnh phúc, mua may bán đắt hay cầu xin con trai, con gái,…Vì nghĩ rằng kinh Pháp Hoa là vua của tất cả các kinh, cầu nguyện sẽ linh nghiệm nên đã biến kinh thành một vị thần ban phước trừ họa mà không biết rằng thâm ý, tông chỉ của kinh muốn đoạn trừ các phiền não tham, sân, si của chúng sanh để đạt được tri kiến Phật đang ẩn náu trong mỗi con người. Chính vì thế, kinh dạy: Nếu người hay thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Nên biết là xứ Phật Thương nhớ các chúng sanh Những người hay thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên hoa Xa bỏ cõi thanh tịnh Thương chúng mà sanh đây.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 292) Nên mỗi hành giả thọ trì kinh Pháp Hoa phải có trách nhiệm hộ trì kinh này tức hộ trì chánh pháp, để chánh pháp luôn mãi trường tồn ở trên thế gian. Kinh này chỉ cho tri kiến Phật nơi mỗi chúng sanh, và mỗi hành giả phải làm sao để chỉ cho mọi người thấy được cái tri kiến của mình để tinh tấn tu tập thoát khổ được vui. Thọ trì được gọi là “chánh hạnh” hay “thắng hạnh”, còn bốn hạnh kia gọi là trợ hạnh. 2.3.1.2. Đọc kinh Pháp Hoa Đây là trợ hạnh thứ nhất mà hành giả Pháp Hoa cần phải tu tập. Giáo pháp của đức Phật dùng để soi sáng tâm người, nên chúng ta cần phải thường xuyên đọc tụng kinh để nương đó mà hầu mong được hết phiền não, thoát khổ và các dục vọng được đoạn trừ. Chúng ta là những người sinh ra và lớn lên trong cõi đời ô trược. Chính những nhiễm ô đó chi phối tâm tư chúng ta vọng theo thế giới bên 52


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

ngoài, quên đi bản tánh thanh tịnh của mình, nên lòng dục vọng của chúng ta ngày càng tăng trưởng không ngừng nghỉ. Và rồi đức Phật vì thương chúng sanh mà truyền dạy những lời vàng ngọc để chúng sanh nương vào mà phá tan những vô minh và dục vọng của mình. Những lời lẽ cao siêu này hành giả không thể nào ngày một ngày hai mà đọc nhớ hết cả. Cho nên, phải thường xuyên đọc tụng, suy tư nghĩa lý của kinh, y theo lời dạy mà hành trì. Để cho việc đọc tụng có kết quả lớn, hành giả cần phải có sự hành trì, nghĩa là hành giả phải tìm thấy ở đó được sự an lạc và thích thú trong từng lời kinh, câu kệ để tịnh hóa thân tâm. Kinh dạy: “Dược Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 291) Trên bước đường tu tập hành giả nên lấy pháp Phật để trang nghiêm thân mình, trưởng dưỡng tâm. Khi tâm được an thì không cần phải đọc kinh mà kinh vẫn cứ tuôn chảy trong tâm trí ta. Do đó, trí tuệ phát sanh, khiến cho mình nghĩ và làm việc gì cũng trong giới hạn của sự đúng đắn, bình đẳng theo tinh thần Phật giáo. Mỗi việc làm đều xuất phát từ lòng từ bi, hoàn toàn thánh thiện, làm cho cuộc sống ngày một có ý nghĩa và tốt đẹp hơn. Đọc kinh ở đây không phải chỉ đọc cho mình nghe thôi, mà chúng ta có thể đọc cho những người khác cùng nghe, đọc bằng sự cung kính, chân thành khiến cho người nghe phát tâm, quy ngưỡng, tỉnh ngộ thấy cuộc đời vốn vô thường, vô ngã mà tinh tấn tiến tu đạo nghiệp, đưa mình và tha nhân đến chỗ an lạc, làm nhiều lợi cho thế gian, cho xã hội. 2.3.1.3. Tụng kinh Pháp Hoa Đây là trợ niệm thứ hai chúng ta cần phải tu tập. Tụng nghĩa là sự lặp lui lặp lại nhiều lần giúp chúng ta dẹp bỏ được những tạp niệm đang khởi lên trong tâm, dẹp bỏ những phiền não, những vọng niệm lăng xăng làm ta khó 53


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

tập trung. Tụng kinh giúp ta định tâm lại một nơi, an trú trong lời kinh và ở trong đó ngộ được những lời dạy của đức Phật. Hành giả tụng kinh bằng tất cả tấm lòng thành nên được thân an, tâm định, dẹp bỏ những cống cao, ngã mạn, mà còn bỏ tất cả những gì ở quá khứ cũng như vị lai dù việc đó là hạnh phúc hay đau khổ. Lúc đó mỗi lời kinh, câu kệ lắng đọng trong tâm. Như vậy cho đến lúc không tụng vẫn cảm nhận được âm vang của bài kinh, của những lời dạy của đức Phật, giúp vơi đi những phiền muộn, khổ lụy của cuộc đời và nhận chân được niềm an lạc trong hiện tại với sự hành trì đọc tụng kinh. Lúc đó nếu có gặp chuyện khó khăn đến đâu, với trí tuệ của mình hành giả có thể giải quyết được cả, như có một lực vô hình nào vậy sẽ giúp ta xử lý một cách tuyệt vời. Cho nên kinh Pháp Cú cũng có dạy rằng: “Người tụng trì chánh pháp Không phải tụng nói nhiều Tuy là nghe học ít Biết y pháp hành trì Giữ đạo không lãng quên Đó là trì pháp tạng.” (Pháp Cú 259)

2.3.1.4 Giải thuyết kinh Pháp Hoa “Nguyện kim đắc quả thành bảo vương Hoàn độ như thị hằng sa chúng Tương thử thâm tâm phụng trần sát Thị tắc danh vi báo Phật ân.” (Bài Tựa Kinh Lăng Nghiêm) Với tâm nguyện của các Ngài chứng “thành quả vương” rồi trở lại đem thâm tâm của mình phụng sự, để hóa độ cho chúng sanh. Còn với hành giả Pháp Hoa, không gì khác hơn là đem cái sự hiểu biết cũng như kết quả của sự tu hành mà đi truyền đạt cho người khác cùng hiểu cùng nhau có những lợi lạc. Là hành giả Pháp Hoa, tuy chưa đắc quả nhưng với sự hiểu

54


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

ngộ, kinh nghiệm nghiên cứu học hỏi cũng như sự tu tập của mình, hành giả phải đem ra để hướng dẫn người khác. Tuy nhiên, muốn cảm hóa được ai trước tiên ta phải tự tu, phải làm cho thân, khẩu, ý được thanh tịnh, sau đó mới có thể hóa độ cho tha nhân. Người ta cảm mến mình, vì ta có đời sống thánh thiện, lời nói thường đi đôi với việc làm. Vì thế, hành giả phải cố gắng phát huy tất cả năng lực trí tuệ của mình để đem an lạc cho nhân sinh. Trên bước đường hoằng đạo của mình chắc chắn sẽ không thuận lợi như chúng ta nghĩ, sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vì chúng sanh thì không dễ thuần, họ luôn làm theo cảm tính và bản năng, có người khen, thì sẽ cũng có người chê, hành giả cần phải giữ một trạng thái trầm tĩnh, không nóng giận cũng không bực tức, mà phải nhẫn nhục chịu đựng, nên khởi lòng từ bi độ lượng, thương chúng sanh đó nhiều hơn, lấy tâm Phật làm tâm mình, để nương nhờ uy lực của Phật gia hộ cho mình, không những tránh khỏi mọi nguy nan mà lòng tín ngưỡng, sức tinh tấn ngày càng tăng trưởng. Vì thế kinh dạy rằng: “Dược Vương nên biết, nếu người thiện nam, thiện nữ nào sau khi ta diệt độ có thể riêng vì một người nói kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một câu, phải biết người đó là sứ giả của Như Lai, được Như Lai sai làm việc của Như Lai, huống là ở trong đại chúng rộng vì người nói.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 290) 2.3.1.5. Viết chép, in ấn kinh Pháp Hoa Biên chép nghĩa là chép kinh bằng tay thuộc về thân hành, đây là trợ hạnh thứ ba mà hành giả Pháp Hoa cần phải học tập và hành trì. Hành giả Pháp Hoa không chỉ thọ trì, đọc, tụng mà còn phải biên chép để lưu truyền cho hậu thế và phổ biến trong nhân gian để duy trì được mạng mạch của Phật pháp. Thiết nghĩ, phật pháp đã bị bao nhiêu lần pháp nạn, kinh điển đã bị thiêu rụi và thất lạc rất nhiều. Vậy, kinh điển ngày nay chúng ta có là nhờ đâu? Không có công lao to lớn của các bậc tiền bối đã bỏ bao công sức ra sưu tập lại thành từng quyển cho thế hệ chúng ta hôm nay học tập. Với tâm nguyện duy trì và phù hợp với thời đại các vị Tổ đã chế tác thêm dựa 55


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

trên những bộ kinh có sẵn nhưng không ra ngoài nội dung, tôn chỉ phật dạy. Vì thế, làm cho kho tàng kinh điển ngày càng phong phú hơn để phù hợp từng căn cơ của mỗi chúng sanh. Kinh điển là một dấu tích thời đức Phật còn tại thế, những sinh hoạt hằng ngày của đức Phật và chúng tăng lúc còn tại thế, đó là một bức tranh sống động để cho Tăng, Ni, Phật tử muôn đời sau noi theo học tập. Thử nghĩ nếu không có kinh điển đức Phật để lại thì ngày nay chúng ta biết gì mà làm, mà hành trì. Là hành giả Pháp Hoa thì phải biết rằng biên chép là một phương pháp để hoằng truyền phật pháp vào đời, nhằm làm sâu đậm thêm niềm tin với người. Ngày nay, với kỷ thuật tân tiến người ta có thể in ấn kinh dưới nhiều hình thức rồi đem ấn hành, thay vì ngày trước phải biên chép bằng tay. Như vậy, hành giả Pháp Hoa viết chép hay in ấn với nghĩa của kinh để tu tập, đoạn trừ cái ác, tăng trưởng điều thiện, phá tan giặc phiền não, phá trừ các ngã chấp cũng như không còn tâm phân biệt và luôn an trú trong giới luật, thương tưởng tất cả chúng sanh như thương mình, lấy nỗi đau của người làm nỗi đau của mình. Có vậy công việc biên chép, in ấn của chúng ta mới có giá trị đích thực. Nên Kinh có dạy: “Nếu lại có người thọ trì, đọc tụng, giảng nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ đối với kinh điển này, cũng xem như Phật.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr.289) 2.3.2. Phẩm chất đủ của một vị Pháp sƣ Kinh Pháp Hoa là một bảo vật quý báu cho nên nếu có người đọc tụng kinh Pháp Hoa tức là người đó đang dùng những thứ trang sức của Phật mà tự trang sức cho mình. Nơi nào có giảng dạy, đọc tụng, biên chép kinh Pháp Hoa thì nên dựng tháp bằng bảy báu để thờ. Và ngoài năm hạnh trên một vị pháp sư Pháp Hoa cần phải có thêm ba điều kiện: vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai và ngồi tòa Như Lai, rồi sau đó mới thuyết giảng cho thính chúng cùng nghe để họ và mình đều vào đạo Nhất Thừa. “Dược 56


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Vương! Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào, sau khi Đức Như Lai diệt độ muốn vì hàng bốn chúng mà nói kinh Pháp Hoa này thời nói cách thế nào? Người thiện nam, thiện nữ đó phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr. 298) 2.3.2.1. Vào nhà Như Lai Nhà Như Lai là chỉ cho lòng đại từ bi của chư Phật. Tại sao lòng đại từ bi của chư Phật mà lại dụ là nhà? Thông thường, nhà là mái ấm gia đình, có công năng che mưa, che nắng, là nơi trú ngụ của con người. Ba đời chư Phật lấy từ bi làm nền tảng cho sự nghiệp hành đạo, ban vui cứu khổ cho hết thảy chúng sanh. Các Ngài đã thành Phật từ vô lượng kiếp, nhưng vì lòng thương yêu tất cả chúng sanh nên trở lại cõi đời này, lấy từ bi làm nhà che chở cho họ. Với lòng từ bi đó, hướng dẫn cho chúng sanh biết con đường mà hành thiện, mà trở về với chính mình. Chúng sanh ở trong tam giới là một cái nhà do nghiệp mình tạo ra, đó là nghiệp hữu lậu, tham, sân, si phiền não. Do vậy, người muốn nói kinh Pháp Hoa thì không thể ở trong nhà đó, mà phải lấy tâm từ bi làm nhà, tức pháp sư phải cho vui khi chúng sanh yên lành, phải cứu khổ khi thấy chúng sanh đau khổ. Trên bước đường hành đạo, hành giả đi vào đời với đôi chân từ bi, luôn xoa dịu mọi cơn đau của chúng sanh, rồi tìm phương pháp giúp cho họ thoát khỏi cơn đau đó. Như Thiền sư Thích Nhất Hạnh có nói rằng: “Sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”, phải luôn tâm tâm niệm niệm đem đến an lạc, hạnh phúc cho mọi người bằng cách dấn thân vào đời chia sẽ cùng họ những niềm vui, nỗi buồn của cuộc sống.Trên lộ trình giải thoát, bao giờ cũng phải gặp chướng duyên, cũng là thuận duyên để hành nghịch hạnh Bồ tát, do vậy ta phải khéo léo để không bị những chướng duyên đó làm ngăn che con đường đạo của mình. Đức Phật ngày xưa cũng vậy, Ngài luôn xả thân mình để đi tìm đạo giác ngộ mà không từ nan.

57


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

“Khi Vua nghe Tiên nói Sanh lòng rất vui đẹp Liền đi theo Tiên nhơn Cung cấp đồ cần dùng Lượm củi và rau trái Theo lời cung kính dâng Lòng ham pháp Đại thừa Thân tâm không lười mỏi Khắp vì các chúng sanh Siêng cầu pháp mầu lớn Cũng không vì thân mình Cùng với vui ngũ dục Nên dầu làm Vua lớn Siêng cầu đặng pháp này Do đó đặng thành Phật.” (Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tr.325) Hành giả tu hạnh Bồ tát, đem tình thương đến cho mọi người mà không mưu cầu vụ lợi, cốt yếu là gây niềm tin, hướng dẫn họ đi theo con đường chánh tín. Hành giả Pháp Hoa phải mang tư tưởng Pháp Hoa vào đời để làm lợi ích cho chúng sanh, thể hiện trọn vẹn tấm lòng yêu thương nhân ái, tin hiểu nơi chánh pháp và khơi dậy nơi họ có khả năng thành Phật. Tóm lại, lòng từ bi thì nó bao la như mặt trời, mặt trăng không một chỗ nào mà ánh sáng của mặt trời, mặt trăng không chiếu đến. Cũng vậy, vị pháp sư vào nhà Như Lai cũng không lý do nào mà không đem lòng từ bi đến cho tất cả mọi loài, không phân biệt người này, kẻ kia mà xem tất cả chúng sanh đều bình đẳng như nhau cả, thể tánh bình đẳng như nhau, không sai không khác. 58


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

2.3.2.2. Mặc áo Như Lai Áo Như Lai tức là lòng nhu hòa nhẫn nhục. Nhu là đức tính mềm mỏng, dịu dàng. Hòa là hòa hợp giữa hành giả và mọi người có thể hiểu nhau, cảm thông cho nhau, như Bồ tát với chúng sanh tuy hai mà một, như nước với sữa để hóa độ cho chúng sanh. Áo Như Lai còn hiểu như tấm lòng hòa ái và sự ái ngữ. Vì không những có tình thương, có lòng từ bi là được mà cần phải có lời nói dịu dàng, ôn hòa. Cũng như một người mẹ thương con mà thường đánh đập, chửi mắng con, không dùng những lời nói ôn tồn dạy bảo cho chúng thì liệu chúng có khuất phục, nghe lời không. Vì thế, tình thương mà cứng nhắc quá cũng khó làm cho người ta nghe theo, mà phải có sự mềm mỏng, cứng nhưng nhu chứ không phải khư khư cố chấp ý kiến của bản thân và làm theo bản năng mà thôi. Vì sao cần phải nói lời ái ngữ? Ở đây để không làm tổn thương đau khổ cho người khác. Cho nên, từ bi cần có ái ngữ để người nghe hiểu dễ dàng. Kinh Pháp Hoa là pháp tối thượng thừa, khó tin, khó hiểu mà chúng ta không dùng lời nói ái ngữ mà nói những lời thô kệch thì có ai mà ngồi nghe pháp chứ! Cũng như viên thuốc đắng trị bệnh, mà để cho một đứa trẻ uống thì phải bọc bên ngoài một lớp gì đó có vị ngọt ngọt để dụ cho nó uống. Vì sao phải làm vậy? Mục đích cũng chỉ để cho đứa trẻ đó lành bệnh thôi. Chúng sanh đối với pháp Phật cũng như vậy. “Như có lần đi khất thực Ngài gặp một người ác cảm chận lại mắng rủa, Ngài vẫn im lặng đứng lại để nghe Ông ta nói xong, rồi ôn tồn hỏi: Ở nhà ngươi chắc cũng có khi bà con đến thăm chứ? Người ấy đáp: có chứ sao không, Ngài nói tiếp: Mỗi lần họ đến thăm chắc cũng có khi ngươi dọn quà bánh mời ăn? Có, và nếu họ không ăn thì phần quà ấy về ai? Người kia đáp: Thì về tôi chứ ai. Khi ấy đức Phật bảo: Cũng thế, nãy giờ ngươi dùng lời thô bỉ mắng ta, mà ta không nhận thì những lời ấy hẳn trở về với ngươi. Vậy ta khuyên ngươi đối với ai cũng không nên dùng lời thô bỉ, mà nên dùng lời hòa nhã.” (Thích Thiện Siêu, Lược giảng kinh Pháp Hoa, tr.131) 59


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Chính nhờ sự nhu hòa nhẫn nhục ấy mà đức Phật đã giáo hóa khai thị cho tất cả chúng sanh, cũng như hóa độ cho những người tà kiến và ngoại đạo tin theo chánh pháp, quy y với Phật và trở về sống với chính mình. Còn đối với những vị Bồ tát thì thương chúng sanh như thương chính bản thân mình, lấy lòng nhu hòa để xoa dịu những cơn đau, những nổi khổ của chúng sanh, thay chúng sanh giải quyết những khúc mắc trong cuộc sống. Chúng sanh dù can cường, ngỗ nghịch đến đâu các vị Bồ tát vẫn không nản lòng, thay vì thế các Ngài lại đem lòng nhu hòa, lòng từ bi đối với những người này càng sâu đậm hơn. Đến lúc nào chúng sanh dứt được ác nghiệp, cảm nhận được lòng từ bi của các Ngài mà phát tâm tu học theo đạo giải thoát mới thôi. Điều này chúng ta có thể thấy rất rõ trong phẩm hai mươi hai của kinh Pháp Hoa “Thƣờng Bất Khinh Bồ Tát” nói lên sự nhẫn nhục, chịu đựng của Bồ tát để hóa độ cho chúng sanh “Tôi không dám khinh các người vì các người sẽ thành Phật”. Khi nói ra lời này Ngài bị các hạng Tỳ kheo tăng thượng mạn lấy roi, gậy, ngói, đá đánh đập nhưng Ngài vẫn to tiếng nói lời ấy. Như vậy, hành giả Pháp Hoa ngày nay đi vào đời để hoằng pháp độ sanh cần phải học tập theo những đức tính nhu hòa, nhẫn nhục của chư Phật, chư vị Bồ tát trong quá khứ để làm hành trang cho mình và người trên bước đường giải thoát, giác ngộ. Một khi hành giả có được chiếc áo nhu hòa, nhẫn nhục thì tự thân sẽ có một năng lực vô hình, mà năng lực đó không có một chướng ngại gì có thể ngăn trở được. Vậy đó, muốn được giải thoát cho mình và người thì ngay bây giờ hành giả hãy tự xây dựng một cuộc sống mới đó chính là rủ bỏ chiếc áo ngũ uẩn và hãy khoác lên mình chiếc áo của Như Lai. 2.3.2.3. Ngồi tòa Như Lai Đây là điều kiện quan trọng nhất trong ba điều kiện của người giảng nói kinh Pháp Hoa. Tòa Như Lai ở đây là nhất thiết pháp không, vì hiểu rõ được các pháp vốn là không thì hành giả mới nhìn đúng được thật tướng 60


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

của các pháp vốn duyên sanh, vô thường, vô ngã. Vị pháp sư thuyết giảng kinh Pháp Hoa phải ngồi tòa Như Lai thì vị pháp sư ấy mới có tâm bình đẳng với chúng sanh được. Có ngồi được tòa Như Lai thì việc thuyết giảng mới không bị chướng ngại được, không còn những vọng tưởng, phiền não nhiễm ô. Ngồi tòa Như Lai còn có thể hiểu tận tường là ngồi, là an trú. Tòa Như Lai là nhất thiết pháp không. Không ở đây có nghĩa là vô tự tánh của các pháp, tất cả các pháp đều vô tự tánh nên bất khả đắc, chứ không phải hoàn toàn trống không. Đức Phật vì thấy được các pháp là không nên Ngài thuyết pháp độ sanh mà chưa thấy một chúng sanh nào được độ, như trong kinh Kim Cang nói: “Có bao nhiêu chúng sanh ta đều độ cho nhập vô dư Niết Bàn, diệt độ vô số vô biên chúng sanh như vậy mà thật không thấy có chúng sanh nào được độ”. Cũng vậy, vị pháp sư giảng nói kinh Pháp Hoa phải vào nhà Như Lai, an trú trong vô tự tánh mới có thể hóa độ rốt ráo và viên mãn được; ngược lại vị pháp sư không vào được nhất thiết pháp không thì dễ bị thiên kiến, bị phân biệt, bị phiền não nhiễm ô và làm chướng ngại con đường hoằng hóa của mình. Hơn nữa, vị pháp sư chưa ngồi tòa Như Lai thì khó mà có thể tin nhận, cũng như thấy được tri kiến chân thật. Do vậy, đây là điều kiện rất quan trọng và thiết thực cho vị pháp sư giảng nói kinh Pháp Hoa. Thế nhưng, vị pháp sư cũng không thể thiếu lòng từ bi và tính nhu hòa được. Vì lòng từ bi là lòng của một vị Bồ tát khởi tâm cứu độ chúng sanh. Tánh nhu hòa nhẫn nhục là hạnh của Bồ tát, nhưng linh hồn của Bồ tát đích thực vẫn là sự hiểu ngộ được tánh không. Do vậy, thiếu tâm từ bi, Bồ tát không còn là Bồ tát nữa; thiếu nhu hòa nhẫn nhục thì Bồ tát hạnh không thể thực hiện. Còn nếu thiếu sự hiểu ngộ thực tướng thì Bồ tát đánh mất bản chất của mình và sứ mệnh giảng nói kinh Diệu Pháp. Vì vậy, vị pháp sư giảng nói kinh Pháp Hoa phải cần hội đủ cả ba điều kiện trên thì việc hoằng hóa thành tựu viên mãn.

61


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

CHƢƠNG 3 PHÁP SƢ PHÁP HOA TỪ BẢN KINH BƢỚC RA CUỘC ĐỜI 3.1. ĐỨC PHẬT – VỊ PHÁP SƢ LÝ TƢỞNG Đức Phật một con người có thật trong lịch sử nhân loại, cả cuộc đời của Ngài đã để lại rất nhiều dấu ấn đầy tính nhân bản với những lời dạy làm cho con người ta phải suy tư và nghiền ngẫm vì ý chỉ của nó, như Ngài đã tuyên bố: “Con người và chỉ có con người mới có thể thực hiện những hoài bão lý tưởng hướng đến Phật quả”. Sao Ngài lại khẳng định một cách hùng hồn như vậy? Vì giáo thuyết của đức Phật xuất phát từ kinh nghiệm tu chứng tự thân, đó không phải là kinh nghiệm thông thường phổ biến. Cho nên, chúng ta có thể gọi đức Phật là một con người tuyệt vời đầy nhân tính và cũng chỉ có đức Phật là vị giáo chủ duy nhất trên hành tinh chúng ta khẳng định vị trí của con người “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa vào một ai khác” (Thích Minh Châu, Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi, tr.6). Ngài nhận chân được sự giải thoát giác ngộ là do tự bản thân mình nổ lực, cố gắng, đức Phật cũng chỉ là người chỉ đường, và có đi hay không là do chính chúng ta. Ngài luôn cổ súy tinh thần tự lực của mỗi người để tìm lấy sự giải thoát cho chính mình và điều này như là một sợi chỉ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật trong hơn bốn mươi chín năm hoằng pháp lợi sanh. Ngài luôn khích lệ, động viên mọi người phải tự giải thoát cho mình, vì Ngài đã nhận rõ cuộc đời này vốn vô thường, sanh, già, bệnh, chết luôn đeo bám nơi mỗi con người. Nhận chân sâu sắc về điều này Ngài quyết tâm từ bỏ cuộc sống vinh hoa, phú quý tìm đường học đạo với hạnh nguyện “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”. Với lòng vị tha đó Ngài đã tìm được chân lý và chứng đắc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà trời người đều phải cung kính. 62


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

3.2. NHỮNG HÌNH ẢNH PHÁP SƢ PHẬT GIÁO 3.2.1. Hình ảnh các vị na

Pháp sƣ qua tác phẩ

văn học Trƣởng Lão

Tăng Kệ Trưởng Lão Tăng Kệ thuộc Tiểu Bộ Kinh của Phật giáo Nguyên Thủy, nói về các đệ tử Thanh văn của đức Phật bằng văn vần. Mô tả về tiểu sử và quá trình chứng đắc và hạnh nguyện của 264 vị Tỳ kheo, đa số xuất thân từ trong gia đình Bà la môn có một nền tảng giáo dục và văn hóa cao. Trước khi xuất gia, họ đều học qua các tác phẩm kinh điển Vệ đà rồi mới quy y và phát nguyện xuất gia. Sau khi chứng đắc A la hán, do trí lực khai mở, tất nhiên bộc lộ các trạng thái chứng đắc và nói lên sự cảm ngộ của mình. Thế là từ miệng họ thốt ra các bài kệ mô tả cảm ngộ đó một cách tự nhiên. Khi họ đọc ra những lời kệ đó cho bạn đồng tu nghe xong liền được truyền tụng trong Tăng già, từ đó được nhiều người học thuộc và được ghi lại thành kinh điển văn học của Phật giáo qua các lần kết tập. Tác phẩm Trưởng Lão Tăng Kệ gồm 1291 bài kệ của 264 vị tỷ kheo, chia làm 21 tập. Kệ tập 1 gồm 120 bài kệ của 120 vị trưởng lão, mỗi vị mỗi kệ, chia làm 12 phẩm. Tập thứ 2 gồm 98 bài kệ của 49 vị trưởng lão, mỗi vị 2 bài kệ, chia làm 5 phẩm. Như vậy tăng dần, cho đến vị trưởng lão cuối cùng có 72 bài kệ. 264 vị trưởng lão đều đã đoạn trừ hết thảy các phiền não, chứng dắc A la hán quả. Những vị trưởng lão này có thân thế và sự nghiệp khác nhau cho nên sự chứng đắc đã để lại những bài kệ có nhiều đặc sắc khác nhau. Đọc toàn bộ nội dung của Trưởng lão Tăng kệ có thể thấy được quá trình tu chứng của những vị trưởng lão này có nhiều sắc thái, nhưng trên cơ bản có thể thấy được họ tu hành thông qua việc tự thân nghe Phật thuyết pháp, phát sinh tín tâm, xuất gia gia nhập Tăng già, tu tập thiền định trong rừng, chứng đắc 4 giai đoạn của một bậc thánh. Họ giác tỉnh và đoạn trừ hết thảy khổ não tham lam, sân giận, si mê, nghi sợ, buồn nản, đố kị…, chứng được trạng thái thanh tịnh vô nhiễm, đạt được trạng thái hỷ lạc. Các vị trưởng lão này sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, từ đó phát tâm 63


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

tìm một chốn tịnh tu chỉ quán, chứng đạt quả vị. Do đó, những vị trưởng lão này cảm kính ân đức của đức Phật, cho nên trong những bài kệ đều ca tụng công đức của Bổn Sư. Phải nói rằng trong quá trình hoằng dương Phật pháp, những vị trưởng lão này đã tích cực thuyết pháp, hóa độ chúng sanh, khiến rất nhiều người ở trong mọi giai tầng xã hội quy y Phật pháp, trong đó có rất nhiều vị phát tâm xuất gia. Họ thể hiện đúng vai trò và trách nhiệm của một người tỷ kheo, thọ ân đàn na tín thí thập phương, thì phải đưa Phật pháp vào dương gian cho đến tận những nơi xa xôi hẻo lánh mà không sợ nguy nan, thậm chí cả tính mạng của mình. Lấy một ví dụ điển hình trong kinh mô tả một câu chuyện hoằng pháp của trưởng lão Phú Lâu Na như sau: Đức Phật dạy: - Phú Lâu Na! Ông nói đúng, làm đệ tử ta, hoằng pháp là việc tu hành trọng yếu thứ nhất. Nhưng ta hỏi ông, ông đến nước Du Lô Na, nếu họ không chấp nhận ông mà lớn tiếng chửi mắng thì ông làm sao? Phú Lâu Na thưa: - Bạch Thế Tôn! Họ chửi mắng con, con vẫn thấy họ còn tốt vì họ chưa lỗ mãng đến nỗi dùng roi gậy đánh đập con. Phật hỏi tiếp: - Nếu họ dùng nắm tay, gạch ngói, roi gậy đánh đập ông thì sao? Ngài đáp rằng: - Con vẫn thấy họ còn tốt, chưa đến nỗi đâm chém con. Phật lại hỏi: - Nếu như họ dùng dao búa thì làm sao? Phú Lâu Na thưa: - Con cũng cho họ rất tốt vì họ còn tình người chưa đến nỗi giết con. Phật lại hỏi: - Nếu như họ giết ông chết? 64


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Phú Lâu Na bạch Phật rằng: - Nếu thế con cám ơn họ đã giết sắc thân của con để hỗ trợ cho đạo nghiệp của con. Họ giúp con đem sanh mạng báo đáp ân đức của Thế Tôn. Điều ấy đối với con tuy không có trở ngại chỉ sợ di hại ảnh hưởng không tốt cho họ mà thôi. Đức Phật rất hoan hỷ, khen ngợi. (Kinh A Hàm) Trong việc hoằng pháp những vị trưởng lão này đều thể hiện hết mình vì Phật pháp và muốn cho Phật pháp tồn tại trên thế gian. Thế nhưng lúc đức Phật nhập Niết bàn, Tăng già dần dần suy yếu, thấy vậy nhiều vị trưởng lão đã hết lòng lo lắng, ở trong những bài kệ có ít nhiều phản ánh qua bài kệ của Ngài A nan: “Thiện hữu đã ra đi, Phật đã nhập Niết bàn, quán thân tu niệm trú, đạo không còn bạn hiền. Bạn hiền đã ra đi, bạn mới không theo nguyện, mà nay còn lại ta, một mình tu thiền quán. Giống như chim trong lồng, gặp ngày trời u ám.” (Trưởng Lão Tăng Kệ) Trong Trưởng Tăng Lão kệ có những tình huống như vậy, từ đó chúng ta có thể thấy được ý nghĩa quan trọng ở thời kì đầu của Phật giáo và sự tích cực truyền bá chánh pháp của các bậc trưởng lão, đồng thời cũng thấy được trách nhiệm truyền bá chánh pháp của các vị Pháp sư và vai trò của họ trong sự nghiệp tu tập và hành đạo. 3.2.2. Hình ảnh các vị nữ Pháp sư qua tác phẩm văn học Trưởng Lão Ni Kệ Mở đầu cho sự bình đẳng giới tính trong Phật giáo, đức Phật là người đầu tiên chấp nhận cho nữ giới xuất gia, dự vào hàng ngũ tu sĩ. Đại diện cho tinh thần giải thoát của các vị thánh nữ đệ tử của đức Phật, đã để lại một ý nghĩa vô cùng cao đẹp cho nữ giới thời bấy giờ và cho cả ngày nay. Cho dù thời cổ đại Ấn Độ có phong tục nặng nề về giới tính, nhưng trong Phật giáo, nữ giới đã phát huy một cách chói sáng, để lại một cống hiến không bao giờ mai một. Sau khi đức Phật giác ngộ, Ngài liền tìm đến 5 người bạn đồng tu thuở trước ở vườn Nai thuyết giáo, chính thức thành lập Tăng đoàn nam 65


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

giới. Sau đó di mẫu Kiều Đàm Di cùng 500 cung nữ phát nguyện quy y và xuất gia thành lập tăng đoàn nữ giới, dĩ nhiên là trãi qua một quá trình rất gian khổ. Kể từ đó Phật giáo có đầy đủ hai đại chúng nam giới và nữ giới mạnh mẽ, tạo thành đôi cánh của một con chim cất cao tiếng hót tự do, thanh thoát và đi vào nhân thế tích cực hoằng dương chánh Pháp, cứu độ quần sanh. Thật gian khổ và qua nhiều thử thách nữ giới mới được chính thức gia nhập Tăng già, là một thách thức của thời đại và phong tục cổ hủ của Ấn độ, nữ giới xuất gia đã bước qua sự phân biệt giới tính thời bấy giờ, đẩy cao phong trào và trách nhiệm của họ, xiễn dương giáo lý Phật Đà và quan niệm chúng sanh bình đẳng của Phật giáo, không phân biệt sang hèn, cao thấp, nêu cao lá cờ giải thoát, “người xuất gia không phân biệt giới tính mới được gọi là sa môn con của họ Thích.” (Tăng Nhất A Hàm, quyển 20); “hết thảy tam giới đều là con Phật, cùng tu một pháp, không có sai biệt” (Bạch Y Kim Tràng Bà La Môn Duyên Khởi Kinh, quyển thượng). Thành viên của Tăng già có nhiều thành phần trong xã hội như Bà la môn, Sát đế lợi, thương nhân, kĩ nữ, thợ săn… đây là một sự bình đẳng trong tư tưởng và tổ chức, cũng chính là tiền đề tất yếu cho nữ giới gia nhập vào Tăng già. Sau khi di mẫu Đại Ái Đạo dẫn 500 cung nữ theo Phật xuất gia, thì có rất nhiều nữ giới đủ mọi thành phần trong xã hội cũng xin gia nhập Tăng già, có rất nhiều vị tu hành tinh tấn, trì giới nghiêm tịnh, có được nhiều thành quả chứng ngộ về trí huệ vô cùng kinh ngạc, trở thành một ni chúng phạm hanh và được đức Phật rất lấy làm khen ngợi. Thời kì đầu, ni chúng rất xuất sắc đã được kinh điển ghi chép lại qua tác phẩm văn học Trưởng Lão Ni kệ, thu thập các bài kệ chứng đắc của 73 vị nữ tu sĩ Phật giáo đầu tiên, đồng thời còn thấy nhiều sử tích của họ qua các kinh điển Pali khác. Trong số 73 vị trưởng lão ni có 15 vị xuất thân trong những gia đình danh gia vọng tộc của Bà la môn giáo; 14 vị xuất thân dòng Sát đế lợi, vốn là công chúa, con của các danh môn khuê tú; 20 vị xuất thân trong các gia 66


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

đình đại gia giàu có; 10 vị xuất thân là cung nữ của các vương thất; 4 vị xuất thân từ kĩ nữ; có nhiều vị xuất thân từ gia đình nông dân, con của thợ săn, nô lệ… Từ trong nội dung của tác phẩm này cho thấy nữ giới gia nhập vào Tăng già có nhiều yếu tố, nhưng yếu tố gia đình là lớn nhất, đây là một áp lực mà họ phải đương đầu với thử thách. Có nhiều vị chính tai mắt mình nghe được Phật pháp, thân cận Phật giáo, được các trưởng lão ni giáo hóa và phát tâm xuất gia. Có nhiều vị từ hoàng cung phát tâm xuất gia trong đó có các công nương, công chúa quy y và xuất gia sau khi nghe đến giáo lý vô thường mà gia nhập Tăng già. Có vị đã xả thí tài sản quy y theo di mẫu Đại ái đạo, có vị là em ruột của các vị tu sĩ nam được giáo hóa và xin xuất gia tu hành. Có vị sau khi nghe pháp chứng quả A na hàm bèn phát tâm xuất gia. Có vị xuất thân từ kĩ nữ, có con đi xuất gia cũng phát tâm quy y và xuất gia theo Phật giáo, chứng được quả A la hán. Có vị trong hoàn cảnh bất hạnh, hôn nhân và gia đình trở ngại cũng phát tâm xuất gia. Thuở xưa ở Ấn Độ phụ nữ sống phụ thuộc vào nam giới, nên vấn đề hôn nhân thường xảy ra sự bất hạnh, hoàn cảnh của nữ giới bị tổn thương, cho dù họ xuất thân trong gia đình giàu có đi nữa cũng khó tránh khỏi sự bất bình đẳng giới tính. Như vậy vấn đề bình đẳng giới tính trong Tăng già là một khát vọng của họ. Chính vì vậy mà sau khi gia nhập Tăng già họ tinh tấn tu tập và tích cực hoằng dương chánh Pháp để đền đáp công ơn của đức Phật và đại chúng. Vấn đề chứng đắc của Ni chúng không hề thua kém các tu sĩ nam mặc dù có nhiều bất lợi và khó khăn trong việc tu tập, bao gồm các kiểu xoi mói và chế nhạo của người đời. Đối trước các khó khăn trước mắt và những thách thức vô cùng phức tạp, các vị Ni đã kiên trì gìn giữ tín tâm với Tam bảo, sánh với các vị Nam tu sĩ chứng các quả vị quan trọng về trí huệ và niềm tin. Chính trong kinh Tạp A hàm cũng có nói và đề cập đến các vị Ni đã vượt qua cá thử thách về sự cám dỗ, nghiêm trì tu hành và chứng đắc 67


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

quả vị A la hán. Họ để lại nhiều bài kệ giá trị như “Ái dục là mũi tên độc, 5 dục là cánh cung, nếu người nói là vui, thì với ta không hề. Đoạn trừ hết thảy tham, đoạn trừ các si ám, ác ma ngươi nên biết, ngươi bị ta chặt đứt.” (Trưởng Lão Ni kệ); hoặc để vượt qua thách thức của sự phiền nhiễu ràng buộc, họ mạnh dạn quán bất tịnh, quán vô thường và tinh tấn tu học,mong cầu giải thoát khỏi sanh tử khổ đau. Trong kinh điển Phật giáo còn ghi lại nhiều hình ảnh của các vị Pháp sư nữ tu hành tinh tấn, chứng ngộ các thành tựu về trí huệ cao tột, hết lòng phục vụ chánh Pháp, hoằng dương giáo lý Phật đà rộng rãi trong dân gian, đền đáp công ơn của Tam bảo. Sau khi di mẫu Kiều Đàm Di nhập Niết bàn, đức Phật kính cẩn cúng dường xá lợi của bà, xưng tán bà là bậc trượng phu đắc đạo, tức chứng quả A la hán. Đức Phật nâng xá lợi của bà dạy: “Thân vốn ô uế, hung ác tàn bạo, khinh khi ngạo mạn, đố kị mưu mô, bại đạo hoại đức, hành vi xấu xa. Nay di mẫu đã trừ được sự ô uế xấu ác chính là bậc trượng phu đắc chính đạo, tìm ra bản tánh vốn không, thanh tịnh như hư không, chứng đắc vô thượng, không gì sánh được.” (Phật Mẫu Bát Nê Hoàn Kinh). Thời đức Phật có nhiều vị nữ tu sĩ kiệt xuất trong Ni chúng, kinh điển còn ghi lại 50 vị nữ tu sĩ là đại đệ tử, mỗi vị có mỗi sở trường không khác gì các vị nam tu sĩ, cũng có danh hiệu trí huệ đệ nhất, thần thông đệ nhất, thuyết pháp đệ nhất… 73 vị nữ tu sĩ xuất hiện trong tác phẩm văn học Trưởng Lão Ni Kệ, đa số các vị đều được đức Phật công nhận chứng quả A La hán, đạt được lậu tận, tức cảnh giới vô dục vô cầu. Quá trình chứng đắc của các vị nữ tu sĩ này trãi qua nhiều con đường khác nhau, họ đều triệt để chứng ngộ, đắc quả A la hán. Trong đó một bài kệ còn ghi lại: “Ách gông của con người, nay bị ta bẻ gãy, vô dục và vô lậu, an vui nhập Niết bàn.” (Trưỡng Lão Ni Kệ) Sau khi tăng đoàn tiếp nhận nữ giới xuất gia ở Ấn Độ, chúng Tỳ kheo ni cũng lần lượt truyền sang các nước lân cận cũng chính là nhờ vào sự nổ lực không ngừng của các vị ni trưởng đầu tiên này. Họ đi xa để 68


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

truyền đạo khắp nơi trên toàn cõi Ấn Độ và rồi ra ngoài nước đến Tích Lan. Đến thế kỷ thứ III tây lịch, một người con gái của vua A Dục là Tăng Già Mật Đa đã thành lập giáo đoàn Tỳ kheo ni ở Tích Lan. Sau đó các truyền thống nguyên tắc của Ni chúng bắt đầu truyền sang các nước lân cận ở phương nam và phương bắc, tạo thành một hệ thống Ni đoàn rộng rãi trên toàn thế giới cho đến tận ngày nay không bao giờ ngừng nghỉ. 3.3. VỊ PHÁP SƢ TRONG SỰ NGHIỆP HOẰNG PHÁP NGÀY NAY Hơn hai mươi lăm thế kỷ trôi qua, lời dạy của đấng Giác Ngộ vẫn tuôn chảy vào dòng sống nhân sinh và đã trở thành giáo pháp của một trong những tôn giáo lớn của nhân loại. Tông chỉ Phật giáo là chuyển mê khai ngộ mà bổn phận và trách nhiệm của một pháp sư luôn hoan hỷ đón nhận và trợ duyên cho bất cứ ai ngưỡng mộ đến đức tin, xây dựng đức tin trên nền tảng của Phật giáo. Gieo trồng chủng tử Bồ đề, hướng dẫn con người trở về cội nguồn chân thiện mỹ, đem hạnh phúc và an lành cho chúng sanh. Công tác hoằng pháp đã đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp duy trì Phật đạo, điều này không thể phủ nhận, đồng thời nêu lên chỗ đứng đặc biệt của vị pháp sư. Lời dạy của đấng Giác Ngộ, khởi điểm cho cuộc chinh phục thế gian, một cuộc chinh phục không bằng uy quyền vũ lực, không bằng vó ngựa trường chinh với thanh gươm sắc máu, mà chinh phục bằng dòng nước từ bi, bằng ánh sáng trí tuệ. Phật pháp vốn nhiệm mầu cao thâm, mà tâm trí của chúng ta quả thật vô cùng giới hạn, sự nghiệp tu tập chưa là bao, làm sao chúng ta có thể thành tựu được chiều sâu của kinh nghiệm trên con đường hóa duyên hoằng pháp. Do đó, bao giờ ở tận đâu thì hình ảnh và đức hạnh hòa nhập vào kinh nghiệm hoằng pháp của chư tôn thiền đức, tuyệt nhiên sẽ là ánh sáng soi đường cho chúng ta tiến bước. Sự nghiệp hoằng pháp phải có con người hoằng pháp, đó là vị pháp sư. Vị pháp sư như cánh hoa tươi thắm trong tâm hồn người con Phật, vị ấy 69


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

đánh thức dậy niềm tin chừ đã ngủ yên, làm hồi sinh những mầm thánh thiện đã một thời dường như chìm trong quên lãng, đã xua đuổi những muộn phiền, u mê qua pháp âm vi diệu của đấng Từ Tôn. Trong lãnh vực hoằng pháp, vị pháp sư là một nhân tố cần thiết, có một vai trò quan trọng nhất. Sự nghiệp hoằng pháp được vững mạnh hay không là tùy thuộc vào vị pháp sư. Hoằng pháp là một bổn phận quan trọng của đệ tử Phật, gồm cả xuất gia lẫn tại gia.

nghĩa chính của hoằng pháp là đem đạo lý đến với mọi

người, giúp mọi người hiểu Phật pháp nhiều hơn, sống vị tha nhân ái hơn, và khẳng định được lý tưởng giác ngộ, giải thoát xác quyết hơn. Người làm công việc hoằng pháp cũng có nhiều vai trò khác nhau. Có người đứng vai trò chính, có người đứng vai trò phụ, có người làm công việc ủng hộ gián tiếp, có người làm trung gian đưa đạo lý lan đi xa, thể hiện phương tiện đúng pháp. Ta thấy rằng vai trò của sự nghiệp hoằng pháp là vận dụng những kiến thức sâu sắc về giáo lý của đạo Phật, để phát huy tinh thần trong sáng qua những lời dạy của Ngài, hầu đáp ứng những nguyện vọng thiết tha của tín đồ Phật tử và ứng dụng những lời dạy đó vào bản thân để nâng cao sinh hoạt đời sống hằng ngày, tạo ra sinh khí an vui, hạnh phúc cho nhân loại, thăng hoa giá trị đạo đức tâm linh. Đó chính là nhiệm vụ của vị pháp sư trong sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh. Hình ảnh vị pháp sư uy nghi đĩnh đạc trên pháp tòa, khai nguồn đạo lý bất tận làm lôi cuốn thính chúng lắng nghe, học tập và hành trì là một hình ảnh lý tưởng trong công tác hoằng pháp. Là một pháp sư không những chỉ dùng lời mà nói, hay dùng thân để diễn tả, dùng ý để quán chiếu mà còn đòi hỏi phải có tâm hồn rộng lớn bao la, phải sống đời sống đạo hạnh, tinh thông tam tạng. Khi một vị hoằng pháp có đức độ, giới hạnh thì chỉ nhìn vào bước đi, dáng đứng, cách ngồi thì người khác cũng đã phát tâm nhập đạo chứ không cần phải đợi đến lúc nghe vị pháp sư đó 70


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

thuyết giảng. Cho nên nói, một vị giảng pháp cho người khác nghe thì cần phải có đầy đủ oai nghi, tế hạnh của một bậc chân tu, với sự trang nghiêm của giới thân huệ mạng có thể thuyết phục người khác trên nhiều phương diện như: có người theo đạo vì cảm nhận được đức độ, lòng từ bi của một bậc tôn túc, hay có người phục vì oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, cũng có người cảm nhận được trên khuôn mặt của vị đó một sự thanh thoát,..Vị pháp sư Phật giáo là sứ giả Như Lai, mang sứ mệnh của Phật phổ truyền chơn lý “Sự thì thật, lý thì chơn”. Vì vậy, vị pháp sư phải thông suốt tiểu vũ trụ và đại vũ trụ. Theo như Sa môn Thích Thông Bửu có nói về bảy đức tính ưu việt của vị giảng sư là: “Đạo đức của vị giảng sư như sự trũng thấp của biển cả. Tài trí của vị giảng sư như sự hùng vĩ của núi rừng. Thản nhiên của vị giảng sư như sự bình lặng của đồng bằng. Minh triết của vị giảng sư như sự chiếu sáng của mặt trời. Phương tiện của vị giảng sư như sự thẩm nhập của không khí. Hòa hợp của vị giảng sư như sự hiện hữu của muôn loài nơi vũ trụ. Bao dung của vị giảng sư như sự bao la của không gian.” (Thích Thông Bửu,Giảng Sư Bảy Đức Tính Ưu Việt, tr.17) Đó là bảy đức tính phải có của vị giảng sư. Bởi vì tầm quan trọng của vị giảng sư là truyền đạt lời đức Phật, nếu chỉ học suông rồi đứng lên bục, giảng lý thuyết, mà đời sống thì trái với lời nói, như thế chỉ hại đạo lý chứ chẳng phải diễn giảng đạo lý. Vị pháp sư hay giảng sư phải nói và làm phải như nhau, và phải có trách nhiệm là “Hoằng truyền chánh pháp, lợi lạc quần sanh, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”. Đây là trách nhiệm và bổn phận chung của mỗi sứ giả Như Lai để báo ơn Phật trong muôn một. Về vấn đề hoằng pháp như đã nói ở trên không chỉ là vị pháp sư mới giảng pháp, mà trong mọi thời đại, đặc biệt là thời kỳ hiện đại toàn cầu hóa này, vật chất kinh tế phát triển thì kèm theo đó là đạo đức của con người bị suy thoái, nên rất cần những pháp âm vi diệu của các vị hoằng pháp. Người hoằng pháp đây có thể là Pháp sư, cũng có thể là giảng sư, giảng viên, cũng 71


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

có thể là người xuất gia, nhưng cũng có thể là người tại gia. Có rất nhiều trường hợp người tại gia làm công việc hoằng pháp hiệu quả hơn người xuất gia. Vì sao vậy? Vì họ là những người có thể tiếp cận dễ dàng bất cứ đối tượng nào, bất cứ nơi đâu, gần gũi và hiểu được nhu cầu họ thiếu cần được nuôi dưỡng và cần được sẽ chia thì những vị này có thể nói chuyện thân mật và cùng sẽ chia những tâm tư nguyện vọng của họ. Còn người xuất gia thì không thể đi vào những nơi xô bồ phức tạp, không thể tiếp xúc với những người ngang tàng, bướng bỉnh. Người xuất gia thì thuyết pháp đúng nơi đúng chỗ, nói đúng đối tượng; trong khi người tại gia có thể hòa đồng vui vẻ và nói về đạo lý một cách bình thường như mọi điều trong cuộc sống. Vì vậy, người xuất gia phải kiêm thêm vai trò hướng dẫn cho những vị phật tử tại gia làm công tác hoằng pháp vì họ chính là những người cũng mang tâm nguyện Bồ tát đi vào đời để cứu khổ cho chúng sanh. Theo như quyển Những Bài Giảng Hoằng Pháp, Thượng tọa Thích Chân Quang đã nói: “Hoằng pháp là giai đoạn sau của hành pháp. Chỉ những người vất vả chiến đấu với những sai lầm của mình mới là người hoằng pháp chân chính. Còn những ai chỉ cố học cho nhiều rồi đem ra nói lại thì không gây được cảm xúc cho người nghe, không khiến người nghe tin vào đạo lý cao thượng. Ai càng có lý tưởng hoằng pháp chừng nào thì càng phải ráng tu chừng nấy. Những lời được nói ra từ kinh nghiệm tu hành vất vả là cả một sức mạnh làm lay chuyển người nghe.” (Thích Chân Quang, Những bài giảng hoằng pháp,tr.13) Nhìn về lịch sử ta thấy Phật giáo đã trãi qua rất nhiều thăng trầm, biến động, có lúc tưởng chừng như chánh pháp bị tắt lụn đi, nhưng nhờ vào lòng từ bi bất xả và năng lực hoằng pháp vĩ đại của các bậc tiền bối như: Thế Thấn, Vô Trước, Mã Minh, Long Thọ, La Thập, Huyền Trang… Ở Việt Nam có các Ngài như: Vạn Hạnh, Khuông Việt, Chân Lưu, Trần Thái Tông, Điều Ngự Giác Hoàng. Gần nhất như Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Hòa, Trí Thủ… các Ngài đã kích pháp cổ lớn, suy pháp loa lớn rộng đến 72


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

mọi nơi, tác động đến mọi người, phá trừ được những tà thuyết. Để nối gót của chư Phật và chư vị tổ sư là đem ánh sáng Phật pháp đi đến khắp nơi cứu chúng sanh ra khỏi biển khổ của sanh tử. Thế nên, ta cần phải là những vị giảng sư giỏi, có đức độ, đạo hạnh. Mà muốn trở thành một giảng sư, vị Sa môn đó phải có đôi chân dẻo dai, ung dung tiến bước trên nên nhẫn nhục, phải ôn hòa không lập dị hay ưa ngang bướng, phải thường xuyên quán đến sắc thái vô tự tánh của các pháp. Tránh tư niệm về các pháp như cái này tốt, cái kia xấu, không để mình vướng kẹt vào bất cứ sự vật nào, hãy hướng về mọi người với lòng từ bi vô lượng, lần lượt nói pháp cho bất cứ ai có kiên nhẫn thâm tâm. Noi gương đức Phật, truyền bá chánh pháp không chỉ bằng ngôn ngữ (khẩu giáo) mà chứng tỏ bằng cuộc sống của thân mình (thân giáo). Cuộc đời giáo hóa không mệt mỏi là một bài học sống động thực tế, chúng ta phải noi theo. Hành giả tu Pháp Hoa đi vào đời như hoa sen tỏa ngát, sống trong bùn không ô nhiễm bùn nhơ, sống ở đời không ô nhiễm trần lao.

73


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

C. KẾT LUẬN Lục vạn dư ngôn thất trục trang. Vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng. Hầu trung cam lộ quyên quyên nhuận. Khẩu nội đề hồ trích trích lương. Bạch ngọc xỉ biên lưu xá lợi Hồng liên thiệt thượng phóng hào quang Giả nhiêu tạo tội quá sơn nhạc Bất tu Diệu Pháp lưỡng tam hàng. HT. Thích Trí Tịnh dịch là: Hơn sáu muôn lời thành bảy cuốn Chứa đựng vô biên nghĩa nhiệm mầu Trong cổ nước cam lộ rịn nhuần Trong miệng nước đề hồ nhỏ mát Bên răng ngọc trắng tuôn xá lợi Trên lưỡi sen hồng phóng hào quang Dầu cho tạo tội hơn núi cả Chẳng nhọc Diệu Pháp vài ba hàng. Qua kinh Pháp Hoa chúng ta thấy rằng, kinh Pháp Hoa khác với các kinh khác từ hình thức lẫn nội dung. Tiếng nói của Pháp Hoa là tiếng nói của Đại Thừa Phật giáo, là tiếng nói đích thực bao hàm nhân ái, trí tuệ thích ứng với mọi căn cơ, đem lợi lạc đến cho tất cả chúng sanh. Như trên đã nói mục đích của kinh Pháp Hoa là “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”, và mục đích của các kinh khác cũng vậy. Thế nhưng, kinh Pháp Hoa ban đầu không nói ngay liền đây là con đường tối thượng, và con đường này không hạn cuộc một đối tượng nào. Kinh Pháp Hoa thống nhiếp được tôn chỉ của các kinh khác, chỉ rõ cái “tri kiến Phật” nơi mỗi chúng sanh. Ngài luôn tùy căn cơ của chúng sanh mà thuyết giảng, pháp môn tuy có 74


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

khác nhưng đều chung quy về với diệu pháp, đều trở về Nhất Thừa pháp. Chúng sanh vốn đồng một thể tánh thanh tịnh, thường trú, bất sanh, bất diệt. Đây cũng là then chốt của toàn bộ kinh Pháp Hoa, nhưng cũng không ra ngoài yếu chỉ: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Chính vì thế, Pháp Hoa cũng không đánh giá cao hay thấp giáo lý của bất kỳ bộ phái nào, mà chỉ con đường đưa đến sự giải thoát đó là Giới, Định, Tuệ. Một hành giả giữ giới nghiêm mật thì phát sanh định, có định thì trí tuệ sanh. Nên có thể nói kinh Pháp Hoa là bộ kinh đặt nền tảng cho sự thống nhất giáo lý của các bộ phái lúc bấy giờ. Mặc dù, Pháp Hoa là kinh tối thượng thừa, nhưng vẫn không hạn cuộc cho một đối tượng nào “nhược nhơn tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, giai dĩ thành Phật đạo”. Pháp Hoa khẳng định “Phật sẽ thành” trong mỗi chúng sanh. Chỉ cần gieo một nhân lành thì cũng có khả năng thành Phật, vì thế mà kinh Pháp Hoa được tôn vinh là Vua trong tất cả các kinh. Thoáng nghe qua sự thọ ký thành Phật ta tưởng chừng rất phi thực tế, nhưng đó chính là cách giáo dục rất phi thường của Ngài, để đánh vào tâm lý của hành giả gây niềm tin mãnh liệt vào khả năng tu chứng của mình. Hơn nữa đức Phật tán thán công đức thù thắng của kinh Pháp Hoa là nói lên tính nhân bản trong Phật giáo, để nhấn mạnh rằng việc giải thoát là do chính bản thân làm nên chứ không phải do ai đem đến. Lòng từ bi và trí tuệ là mặt của một thực thể, nó giúp ta tu tập để đạt thành tựu và giúp chúng sanh đi từ bờ mê đến bến giác. Và vì thế, kinh Pháp Hoa đã đưa ra một mẫu người có thể dẫn dắt chúng sanh lìa khổ được vui, một sự dấn thân vào đời, đem ngọn đuốc chánh pháp lan tỏa khắp nơi nơi. Đó là hình ảnh của một người hoằng pháp luôn làm lợi lạc cho quần sanh, với mục tiêu “Làm sạch thế giới, làm nên chúng sanh”. Vậy người đó phải thành tựu trên hai phương diện: đối với tự thân và đối với xã hội.

75


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

1. Đối với tự thân Hành giả ngày nay trên bước đường tu tập, tuy không thể đạt được trí tuệ vô lậu, trí tuệ Bát nhã, nhưng điều cốt yếu hành giả cũng nên nhận chân được cuộc đời là vô thường, khổ, không, vô ngã, nên hành giả phải sống cho hiện tại, không mong cầu điều gì ngoài khả năng của bản thân, sống cho hiện tại là không truy tìm quá khứ, cũng không ước vọng tương lai, luôn giữ cho thân, miệng, ý được thanh tịnh, tinh tấn tu hành, và luôn làm các việc thiện như bố thí, rồi hành trì giới luật, siêng năng thọ trì kinh và đem cái sở tu đó hướng đến mọi loài chúng sanh dấn thân vào đời, nhẫn nhục chịu đựng những chướng duyên đến với mình mà đem tâm đại từ hướng dẫn cho chúng sanh tu tập để được an lạc trong hiện tại và không còn phải luân hồi sanh tử chi phối nữa. 2. Đối với xã hội Trên bước đường hành Bồ tát đạo, hành giả Pháp Hoa phải đi vào đời với lòng vị tha vô ngã, không phân biệt mình và người. Với sự nhận thức đầy trí tuệ ấy hành giả phát tâm từ bi rộng lớn, nguyện làm tất cả những gì có thể cho chúng sanh. Hành giả thực hiện lòng từ bi của Bồ tát, hướng dẫn cho chúng sanh luôn sống trong tinh thần hòa hợp, từ bi, bình đẳng, không phân biệt chủng tộc, màu da tôn giáo. Hành giả luôn lấy nổi đau của chúng sanh làm nổi đau của chính mình, với lòng từ bi đó rất cần thiết cho xã hội hôm nay. Vì sao vậy? Vì ��ứng trước sự phát triển của xã hội, tất cả các ngành khoa học đều phát triển, đời sống vật chất được nâng cao, đi đôi với sự phát triển đó là đạo đức con người ngày một xuống cấp trầm trọng, con người ta đặt quyền lợi cá nhân lên trên tập thể, tôn trọng giá trị vật chất hơn giá trị tinh thần. Do đó, là người con Phật đem đạo vào đời phải siêng năng tu tập và đưa ánh sáng Phật pháp diễn giảng khắp mọi nơi, chỉ rõ cho họ thấy được những tai hại khổ đau do chính con người gây ra, và đoạn trừ ngăn chặn những hành động bất thiện, khuyến khích làm những việc lợi ích cho mình và người, hướng con người đến những việc thiện, dẫn dắt họ tu tập giải thoát, đó chính là việc mà người con Phật cần nên làm. 76


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

Diệu tánh hư vô bất khả phân Hư vô tâm ngộ đắc hà nan Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận Liên phát lô trung thấp vị càn. Nghĩa: Diệu tánh rỗng không chẳng thể tin Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin Tươi nhuần sắc ngọc trong núi Thủy Lò lửa hoa sen nở thật xinh. Chính vì thế, người thực hành hạnh Bồ tát có trách nhiệm rất lớn trong việc hoằng truyền Phật pháp, làm lợi ích cho chúng sanh, đặc biệt là trong xã hội ngày nay. Do đó, đòi hỏi hành giả phải luôn luôn nổ lực, tinh tiến tu tập, ý chí kiên định mới đủ khả năng vượt qua mọi chướng duyên, thử thách trên con đường hành đạo nên phải luôn thực hành và siêng năng thọ trì thuyết giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa để làm đóa sen tâm của chúng ta ngày càng tươi tốt.

77


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

TÀI LIỆU THAM KHẢO I. TÀI LIỆU THỨ NHẤT 1.

妙法莲华经, 大正新修大藏经第,09 册 NO. 0262, 鸠摩罗什译

2.

The Lotus Sutra, Burton Watson Dịch, Sri Satguru Publications, India, 1994.

3.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thích Trí Tịnh dịch, NXBTPHCM,

4.

HCM,1998. Kinh Pháp Hoa, Thích Trí Quang dịch (3 tập), NXB TPHCM, HCM, 2009.

5.

Tăng Nhất A Hàm, Thích Minh Châu dịch, NXB TPHCM, HCM, 1990.

6.

Tiểu Bộ Kinh, Thích Minh Châu dịch, NXB TPHCM,1990

7.

Tương Ưng Bộ Kinh, Thích Minh Châu dịch, NXB tôn giáo, Hà Nội, 2000.

II. TÀI LIỆU THỨ HAI 8.

Thích Thông Bửu, Giảng Sư Bảy Đức Tính Ưu Việt, NXB tôn giáo,

9.

Hà Nội, 2004. Thích Thông Bửu, Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Giảng luận, NXB Tôn Giáo, 2003.

10. Thích Minh Châu, Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1998. 11. Thích Minh Châu, Những Gì đức Phật Đã Dạy, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2007. 12. Nguyễn Đức Đàn, Tư Tưởng Triết Học Và Đời Sống Văn Hóa Văn Học, NXB Văn Học, 1998. 13. Thích Nhất Hạnh, Sen Nở Trời Phương Ngoại, Lá Bối, 2011. 14. Dương Tú Hạt, Thích Trí Nghiêm dịch, Kinh Lời Vàng, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2003. 15. Thích Thái Hòa, Kinh Pháp Hoa Tinh Yếu, Huế, 2008. 16. Diễn Lục Thái Hư Đại Sư Giảng, Thích Trí Nghiêm dịch, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng, 1970. 78


Luận văn tốt nghiệp

Hình ảnh vị Pháp sư trong kinh Pháp Hoa

17. Thích Thanh Kiểm, Đại Ý Kinh Pháp Hoa, NXB TPHCM, HCM, 1990. 18. Kimura Taiken, HT. Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản, TPHCM, 1969. 19. Nikkyo Niwano, Trần Tuấn Mẫn dịch, Đạo Phật Ngày Nay, NXB TPHCM, HCM 1997. 20. Thích Chân Quang, Những Bài Giảng Hoằng Pháp, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2006. 21. Thích Trí Quảng, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Lược Giải, NXB TPHCM,1998. 22. Thích Trí Quảng, Lược Giải Bổn Môn Kinh Pháp Hoa, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2002. 23. Thích Thiện Siêu, Kinh Pháp Hoa Giữa Các Kinh Điển Đại Thừa, NXB Văn Hóa Sài Gòn, TPHCM, 2010. 24. Thích Thiện Siêu, Lược Giải Kinh Pháp Hoa, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2003. 25. Thera Narada, Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp, NXB Thuận Hóa,1994 26. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, GHPGVN, 1993. 27. Thích Chơn Thiện, Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 1999. 28. Thích Từ Thông, Pháp Hoa kinh Thâm Nghĩa Đề Cương, NXB, 1995. 29. Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Pháp Hoa Huyền Nghĩa, TPHCM, 1997. 30. Thích Thanh Từ, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2009. 31. Nguyễn Đức Tư, Hữu Song dịch, 2500 Năm Phật Giáo, P.V.Bapat, NXB Tổng Hợp TPHCM, HCM, 2007. 32. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê dịch), Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2006. Nguồn Internet: 1. http://thuvienhoasen.org

79


MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................... 1 A. DẪN NHẬP ...................................................................................... 9 1. Đề tài và lý do chọn đề tài ................................................................ 9 2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu .....................................................10 3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................11 4. Cấu trúc luận văn ............................................................................12 B. NỘI DUNG..................................................................................... 13 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN KINH PHÁP HOA................................ 13 1.1. LỊCH SỬ TẬP THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH PHÁP HOA ....13 1.1.1. Lịch sử tập thành ....................................................................13 1.1.2. Quá trình phát triển .................................................................15 1.2. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG BẢN KINH .........................................17 1.2.1. Giải thích đề kinh ...................................................................17 1.2.2. Bố cục....................................................................................20 1.2.3. Giáo nghĩa trọng yếu của kinh Pháp Hoa .................................22 1.2.3.1. Chư pháp thật tướng.............................................................22 1.2.3.2. Giáo lý nhất thừa .................................................................26 1.2.3.3. Khả tính thành Phật..............................................................29 1.2.3.4. Lý tưởng Bồ tát....................................................................30 1.3. TIỂU KẾT ................................................................................32 CHƢƠNG 2: HÌNH ẢNH PHÁP SƢ TRONG KINH PHÁP HOA.... 33 2.1. HÌNH ẢNH VỊ PHÁP SƯ XUẤT HIỆN TRONG PHẨM PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC.......................................................................................33 2.1.1. Tóm tắt ý nghĩa phẩm Pháp Sư Công Đức ...............................33 2.1.1.1. Các phương pháp tu hành của Pháp sư ..................................33 2.1.1.2. Các công đức tu tập..............................................................34 2.1.1.3. Công đức tu hành 6 căn thanh tịnh thù thắng .........................34


2.1.2. Giải thích thuật ngữ „Pháp sư‟ .................................................42 2.1.2.1. Định nghĩa từ Pháp sư ..........................................................42 2.1.2.2. Pháp sư trong kinh Pháp Hoa................................................43 2.2. TÍNH VĂN HỌC VÀ

NGHĨA BIỂU TƯỢNG TRONG PHẨM

PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC ......................................................................45 2.2.1. Tính văn học ..........................................................................45 2.2.2. Một số biểu tượng khác trong phẩm Pháp sư Công Đức ...........48 2.3.1. Phẩm chất cần và đủ của một vị pháp sư Pháp Hoa ..................50 2.3.1.2. Đọc kinh Pháp Hoa ..............................................................52 2.3.1.3. Tụng kinh Pháp Hoa ............................................................53 2.3.1.4 Giải thuyết kinh Pháp Hoa.....................................................54 2.3.1.5. Viết chép, in ấn kinh Pháp Hoa.............................................55 2.3.2. Phẩm chất đủ của một vị Pháp sư ............................................56 2.3.2.1. Vào nhà Như Lai .................................................................57 2.3.2.2. Mặc áo Như Lai ...................................................................59 2.3.2.3. Ngồi tòa Như Lai .................................................................60 CHƢƠNG 3: PHÁP SƢ PHÁP HOA TỪ BẢN KINH BƢỚC RA CUỘC ĐỜI ......................................................................................... 62 3.1. ĐỨC PHẬT – VỊ PHÁP SƯ L TƯỞNG.....................................62 3.2. NHỮNG HÌNH ẢNH PHÁP SƯ PHẬT GIÁO .............................63 3.2.1. Hình ảnh các vị nam Pháp sư qua tác phẩm văn học Trưởng Lão Tăng Kệ ..........................................................................................63 3.2.2. Hình ảnh các vị nữ Pháp sư qua tác phẩm văn học Trưởng Lão Ni Kệ ...............................................................................................65 3.3. VỊ PHÁP SƯ TRONG SỰ NGHIỆP HOẰNG PHÁP NGÀY NAY...69 C. KẾT LUẬN .................................................................................... 74 1. Đối với tự thân................................................................................76 2. Đối với xã hội .................................................................................76


Lv tn phuong anh