Issuu on Google+

NHẬN XÉT ĐIỀU TRỊ CHỬA TẠI VẾT MỔ ĐẺ CŨ BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIẢM THIỂU THAI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG LÊ HOÀNG NGUYỄN THỊ HẢI VÂN BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG


ĐẠI CƯƠNG  Hiếm gặp, thường là tổng kết từng trường hợp đơn lẻ  Gây nhiều tai biến nặng: chảy máu, nứt sẹo mổ cũ, rau

cài răng lược…  Phương pháp điều trị : phẫu thuật, MTX..  BVPSTW áp dụng phương pháp giảm thiểu thai trong điều trị chửa ở vết mổ đẻ cũ


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên cứu hồi cứu tất cả các trường hợp chửa ở vết mổ đẻ cũ được điều trị bằng phương pháp giảm thiểu thai tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong thời gian 2002 – 2012.


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Từ 2002-2012 có 10 trường hợp chửa ở vết mổ đẻ cũ  Lứa tuổi thường gặp: 30-39 tuổi (8 trường hợp).  Tiền sử:

mổ đẻ cũ 1 lần: 5 . Mổ đẻ cũ 2 lần: 5. Thời gian tử lần mổ đẻ gần nhất đến khi chửa ở vết mổ đẻ cũ từ 2-10 năm Tất cả các bệnh nhân đều có tiền sử nạo hút thai, đặc biệt có 1 trường hợp hút thai 7 lần.


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Bệnh sử:

Tuổi thai lần này: từ 7 tuần đến 10 tuần (1 trường hợp thai 10 tuần) Triệu chứng lâm sàng: không có các dấu hiệu bất thường Được chẩn đoán bằng siêu âm, có làm Doppler màu để xác định chính xác vị trị rau bám tại vết mổ đẻ cũ. 10 trường hợp đều có âm vang thai và hoạt động tim thai, kích thước thai tương đương với tuổi thai.


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Tiến hành giảm thiểu thai dưới hướng dẫn của siêu âm

đầu dò âm đạo, dùng kim hút noãn cỡ:… hút hết phần thai, để lại túi ối. Có1 trường hợp dùng KCl bơm vào buồng tim (thai 10 tuần)  Phương pháp giảm đau: gây mê toàn thân  Thuốc điều trị sau thủ thuật: kháng sinh toàn thân.


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Thời gian nằm viện:

8 bệnh nhân nằm viện 6 tiếng 1 bệnh nhân vào viện theo dõi và điều trị 2 tuần vì còn âm vang thai. 1 bệnh nhân nằm viện 2 tháng (thai 10 tuần)  Không có bệnh nhân nào phải điều trị MTX  Theo dõi sau thủ thuật: beta hCG, siêu âm  Biến chứng: không.


BÀN LUẬN  Chửa vết mổ đẻ cũ là một bệnh hiếm gặp, có thể được

coi là chửa ngoài tử cung (ectopic pregnancy),  Theo D. Jurkovic*, K. Hillaby, B. Woelfer, A (2003), tỉ lệ là 1:1800 – 1:2500 các trường hợp mổ đẻ cũ, tuy nhiên ngày nay do tỉ lệ mổ đẻ ngày càng tăng, nên số ca chửa ở vết mổ đẻ cũ sẽ nhiều lên.  Tại bệnh viện phụ sản trung ương tỉ lệ mổ đẻ đã tăng từ 30% năm 2002 đến 45% năm 2011.


BÀN LUẬN


BÀN LUẬN  Tất cả các bệnh nhân đều có nạo hút thai, có người 7

lần. có lẽ điều này cũng ảnh hưởng đến việc làm tổ của thai.  Tuy nhiên khoảng cách từ lần mổ đẻ gần nhất đến khi có thai chửa ở vết mổ cũ rất thay đổi, phù hợp với nghiên cứu của K.-M. Seow (2004).  Chẩn đoán chửa vết mổ đẻ cũ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bệnh nhân ít có các triệu chứng lâm sàng trước khi xảy ra biến chứng, cả 10 bệnh nhân trong nghiên cứu đều không có các dấu hiệu lâm sàng bất thường có lẽ vì tuổi thai còn nhỏ.


BÀN LUẬN Chẩn đoán chủ yếu dựa vào siêu âm: (Theo Jukovic)  1. Buồng tử cung rỗng;  2. Túi thai nằm ở thành trước tử cung ở ngang mức của sẹo mổ cũ; mất tính liên tục của cơ thành trước tử cung  3. Doppler thấy hoạt động của mạch máu ở vùng tế bào nuôi, có PI<1, tốc độ dòng chảy > 20cm/s;  4. Dấu hiệu “trượt” âm tính (sliding organs sign).


BÀN LUẬN  Tuổi thai của các bệnh nhân nghiên cứu đều trong

khoảng 6-7 tuần, duy nhất có một trường hợp 10 tuần. Điều này cho thấy siêu âm có thể xác định rất sớm chửa vết mổ đẻ cũ, mặc dù chưa có dấu hiệu lâm sàng.  Tuy nhiên Pierre-Arnaud Godin, cho rằng MRI có giá trị chẩn đoán chính xác hơn siêu âm (giá thành cao)


BÀN LUẬN  Theo tổng kết của Timor – Tritsch (2012), có nhiều

phương pháp điều trị : Soi buồng tử cung. Soi ổ bụng. Cắt tử cung. Mở tử cung lấy khối chửa. Tiêm MTX tại chỗ hoặc toàn thân. Nút mạch động mạch tử cung. Nạo thai. Hoặc phối hợp nhiều phương pháp điều trị… mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và thời điểm áp dụng khác nhau.


BÀN LUẬN  Trong nghiên cứu, chúng tôi đều đợi đến lúc quan sát

thấy âm vang thai và tim thai, lúc đó mới tiến hành thủ thuật giảm thiểu thai.  Khi tiến hành giảm thiểu thai : luôn cố gắng chỉ lấy hết âm vang thai, hạn chế hút dịch trong túi thai nhằm tránh việc bong túi thai ngay nhằm hạn chế chảy máu. Chỉ có 2 trường hợp không lấy hết âm vang thai (1 trường hợp thai 10 tuần, và 1 trường hợp thai 7 tuần).


BÀN LUẬN  Do chẩn đoán sớm nên việc điều trị bằng phương pháp

giảm thiểu đạt được kết quả thành công 100% không có biến chứng, không có bệnh nhân nào phải dùng thêm MTX.  So với các tác giả khác trên thế giới cho thấy phương pháp này có nhiều ưu điểm. tuy nhiên các báo cáo khác điều trị ở tuổi thai lớn hơn, khi đó việc điều trị bằng phương pháp giảm thiểu thai có thể không thực hiện được hoặc rất khó khăn.


BÀN LUẬN  Trong nghiên cứu của chúng tôi có 1 bệnh nhân có

thai 10 tuần, chúng tôi đã phải tiêm KCl vào buồng tim và bệnh nhân phải nằm viện theo dõi 2 tháng, sau đó lấy thai ra bằng gắp thai -> có nên ???  Một trường hợp thai 7 tuần không lấy hết phần thai nên bệnh nhân phải ở lại viện theo dõi 2 tuần cho đến khi không quan sát thấy âm vang thai -> lấy hết phần thai  Ưu điểm của phương pháp này là thời gian nằm viện theo dõi rất ngắn, 8 trường hợp được ra viện ngay trong ngày, được hẹn đến để tái khám.


BÀN LUẬN

Không nên nong và gắp thai


KẾT LUẬN  Chửa vết mổ tử cung ngày càng tăng do tỉ lệ mổ đẻ

ngày càng cao.  Việc chẩn đoán sớm chửa vết mổ đẻ cũ rất quan trọng cho việc điều trị bảo tồn.  Siêu âm đầu dò âm đạo và siêu âm doppler có giá trị trong chẩn đoán xác định.  Nên áp dụng phương pháp giảm thiểu thai để điều trị khi tuổi thai từ 6-7 tuần


TRÂN TRỌNG CẢM ƠN


San phu khoa