Page 1

Ô NHIỄM NƯỚC (ĂN UỐNG, SINH HỌAT)


MỤC TIÊU BÀI GIẢNG

1. Hiểu được vai trò của nước đối với sinh hoạt, sản xuất, đời sống của con người 2. Biết được các nguồn nước có trong thiên nhiên, nguồn gây ô nhiễm, các yếu tố gây ô nhiễm nước 3. Mô tả được các bệnh tật liên quan đến ô nhiễm nước 4. Trình bày được các nội dung giám sát chất lượng nước và các biện pháp bảo vệ nguồn nước


I. KHÁI QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Nguồn nước trên toàn trái đất (theo Bách khoa toàn thư Nước, 1990) có tổng lượng 1.357,5 triệu km3 .Trong đó: o Nước mặn đại dương là 1.320 triệu km 3 chiếm 97,2% o Băng vĩnh cửu là 29 triệu km3 , chiếm 2,15% o Nước ngọt 8,5 triệu km3 , chiếm 0,65%


Nguoà n nöôù ctreâ n traù i ñaá t 2,15%

0.65%

Nöôù c maë n ñaïi döông Baê ng vónh cöû u Nöôù c ngoït 97,20%


Phần nước ngọt 8.502 ngàn km3, trong đó o Nước ngầm là 8.300 ngàn km3, chiếm 97,54%; o Hơi nước trong khí quyển 13.000 km3, chiếm 0,16%; o Nước thấm trong đất 67.000 km3 chiếm 0,80%; o Sông hồ 126 km3, chiếm 1,50%.


Phân bố nước ngọt trong thiên nhiên 0.80%

1.50%

Nöôù c ngaà m

0.16% Hôi nöôù c Nöôù c thaá m trong ñaá t 97.54%

Soâ ng hoà


Mức sử dụng nước từ năm 1990 đến 1995 đã tăng lên 6 lần, gấp đôi so với số tăng về dân số trong cùng thời kỳ.  Bước vào 3 thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, năm 2025 dân số thế giới ước tính là 8,3 tỉ người, tăng thêm gần 3 tỉ người so với hiện nay. Lúc đó mức sử dụng nước sẽ tăng gấp 4 lần so với tăng dân số. 


• Hàng năm trên thế giới có 25 triệu người chết do thiếu nước sạch. • Nguy cơ bùng nổ chiến tranh cục bộ do vấn đề nước giữa các quốc gia vào đầu thế kỷ XXI sẽ nhiều hơn so với tranh chấp về dầu lửa. • Theo dự báo của Viện Canh phòng thế giới, đến năm 2020 khoảng 40% nhân loại sẽ sống ở vùng thiếu nước. Thiếu nước sẽ trở thành hiểm họa của nhân loại.


• Nước ta có 2.360 con sông, 10 lưu vực sông có diện tích hơn 10.000 km2. Tổng lượng nước mặt trung bình hàng năm là 880 tỉ m3. • Do nằm ở cuối hạ lưu sông MêKông, sông Mã, sông Cả và sông Hồng, cho nên 62,5% lượng nước (khoảng 570 tỉ m3) là từ lãnh thổ các quốc gia khác ở thượng lưu chảy vào. • Về nước ngầm, nước động thiên nhiên khoảng 50-60 tỉ m3 và trữ lượng có thể khai thác khoảng 10-12 tỉ m3/năm. Hiện chỉ khoảng 20% dự trữ nước ngầm đang được khai thác.


• Lượng nước mặt ở nước ta không thật dồi dào, đặc biệt là trong mùa khô, khi các quốc gia ở thượng nguồn sử dụng nhiều nước; trữ lượng nước ngầm cũng ở mức trung bình so với các nước trên thế giới. • Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa khá nhanh, sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ.


II. VAI TRÒ CỦA NƯỚC TRONG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI, SẢN XUẤT, ĐỜI SỐNG

• Nước rất cần cho sản xuất nông nghiệp • Nước cho sản xuất công nghiệp • Nước cần cho giao thông vận tải • Nước cho phát triển du lịch


III. VAI TRÒ CỦA NƯỚC ĐỐI VỚI CON NGƯỜI - Nước là một thực phẩm cần thiết cho đời sống và nhu cầu sinh lý của cơ thể: Con người mỗi ngày cần 1kg thức ăn. Riêng cho uống cần đến 1,83 lít nước/ngày. - Nước chiếm thành phần quan trọng trong cơ thể con người (65%) và cao hơn nữa với người còn trẻ. Trong cơ thể động vật 70% là nước. - Khi mất đi từ 6-8% nước, con người có cảm giác mệt, nếu mất 12% sẽ hôn mê và có thể chết.


- Nước giúp cho con người và động thực vật trao đổi, vận chuyển thức ăn tham gia vào các phản ứng sinh hóa học, các mối liên kết và cấu tạo vào cơ thể. - Nhịn ăn 15 ngày, nhưng nhịn uống chỉ 2-4 ngày là cùng.


- Nước để chữa bệnh: Người ta chữa một số bệnh bằng uống nhiều nước để quá trình phân giải chất độc, trao đổi chất mạnh hơn. - Nước đưa vào trong cơ thể những chất bổ hoà tan để duy trì sự sống: + Nước cung cấp cho cơ thể vi yếu tố cần thiết như: flo, canxi, mangan, kẽm, sắt … + Nước hoà tan các chất thải, các chất độc hoá học và thải ra ngoài cơ thể những chất cặn bã dưới dạng hoà tan và bán hoà tan.


- Nước rất cần cho vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng, cho bảo quản, chế biến thực phẩm và các hoạt động sản xuất của con người. - Nước là môi trường trung gian: + Nước cũng là môi trường trung gian làm lan truyền các bệnh dịch: thương hàn, tả, lỵ, viêm gan A, bại liệt… + Nước có thể đưa vào cơ thể những chất độc hại, những vi khuẩn gây bệnh khi nước không được trong sạch.


• Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 80% các bệnh tật của con người có liên quan đến nước SẠCH và VSMT. • Ước tính trên thế giới có khoảng 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột và khoảng 500 triệu người có có nguy cơ bị mắc bệnh này. Các bệnh do nước lan truyền thường nguy hiểm và khó khống chế hoặc thanh toán. • Nước vừa là tài nguyên, vừa là nhu cầu tối cần thiết của sự sống, sinh hoạt, sản xuất nhưng đôi khi cũng gây ra các thảm họa.


IV. TIÊU CHUẨN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ SỐ LƯỢNG 1. Về mặt số lượng: • Số lượng cung cấp đảm bảo cho các hoạt động của con người và xã hội bao gồm: – Dùng cho ăn uống, cho vệ sinh cá nhân. – Dùng cho vệ sinh công cộng và cho sản xuất. • Căn cứ vào đó người ta tính số lượng cần thiết cho một người/24 giờ. Hiện nay có thể chấp nhận được ở mức: + 30 lít/người/ngày ở nông thôn + 100 – 150 lít/người/ngày ở thành thị.


• Theo Bộ NN & PTNT Việt Nam, mục tiêu đến năm 2020: – Đảm bảo 100% dân số trong cả nước được cấp nước sạch với tiêu chuẩn: 120 – 150 lít/người/ngày, ở thành phố lớn là: 180 – 200 lít/người/ngày. – Đáp ứng đủ nhu cầu nước cho phát triển công nghiệp và các dịch vụ xã hội khác.


2. Về mặt chất lượng: – Nước phải có tính cảm quan tốt, phải trong, không màu, không mùi, không vị gì đặc biệt để gây cảm giác khó chịu cho người sử dụng. – Nước phải có thành phần hoá học không gây độc hại cho cơ thể con người, không chứa các chất độc, chất gây ung thư, chất phóng xạ… – Nước không chứa các loại vi khuẩn, virus gây bệnh, các loại ký sinh trùng và các loại vi sinh vật khác, phải đảm bảo an toàn về mặt dịch tễ học.


3. Một số chỉ tiêu bất lợi thường gặp trong nước ăn uống-sinh hoạt

a. Sắt và Mangan: – Có trong nước giếng, làm cho nước có mùi tanh đặc trưng. – Có thể gây biến màu thức ăn, làm hoen ố quần áo. – Mức giới hạn của mỗi chất trong nước uống là 0,50 mg/l b. Asen (hay còn gọi là thạch tín) – Có ở trong nước giếng dưới dạng hoà tan không màu, không mùi và không vị. – Có thể gây tác hại nghiêm trọng đến sức khoẻ, thậm chí dẫn tới ung thư. – Mức giới hạn tối đa trong nước uống là 0,01


c. Ammoniac (NH4+) – Có trong nước chứng tỏ chất hữu cơ bắt đầu thối rữa. – Mức giới hạn trong nước uống là 1,50 mg/l d. Nitrite (NO2-) – Nước chủ yếu do nguồn nước bị ô nhiễm phân hay nước tiểu của người, động vật. – Nitrite được biết như một tác nhân gây ung thư. – Mức giới hạn trong nước uống là 3 mg/l.


e. Các vi khuẩn (Coliform tổng số, E.coli, Fecal coliform, Clostridium perfringens, Fecal streptococci, vi khuẩn hoại sinh…): – Có trong nước chủ yếu do nguồn nước bị ô nhiễm bởi các chất thải của người và động vật. – Có thể gây nhiều bệnh đường ruột như: tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn… – Mức giới hạn: không được phép có trong ăn uống.


Hiện nay việc đánh giá chất lượng nước dựa vào Quy chuẩn Việt Nam do Bộ Y tế ban hành: - QCVN 01:2009/BYT: QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC ĂN UỐNG (National technical regulation on drinking water quality). Quy chuẩn này quy định mức giới hạn các chỉ tiêu chất lượng đối với nước dùng để ăn uống, nước dùng cho các cơ sở để chế biến thực phẩm. Gồm 109 chỉ tiêu


- QCVN 02: 2009/BYT: QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT (National technical

regulation on domestic water quality). Quy chuẩn này quy định mức giới hạn các chỉ tiêu chất lượng đối với nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thường không sử dụng để ăn uống trực tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm tại các cơ sở chế biến thực phẩm (sau đây gọi tắt là nước sinh hoạt). Gồm 14 chỉ tiêu


Trước đây (tháng 6/2009), Đánh giá chất lượng nước dựa vào: 1. Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống theo Quyết định số 1329/2002/BYT – QĐ ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế Tiêu chuẩn này qui định ngưỡng tối đa cho phép của 112 chỉ tiêu vật lý, hoá học, sinh học và 2. Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch theo Quyết định số 09/2005/BYT – QĐ ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế gồm 22 chỉ tiêu cảm quan, hoá học và vi sinh.


V. CÁC NGUỒN NƯỚC TRONG THIÊN NHIÊN Trong thiên nhiên có 3 nguồn nước chính: – Nước mưa – Nước bề mặt – Nước ngầm


1. Nước mưa:

– Do hơi nước trên mặt đất (nước biển, nước sông, ao, hồ…) bốc hơi lên không trung, gặp gió và khí lạnh đọng lại và thành mưa. – Sạch nhất về vi sinh, hóa học?.


– Nhược điểm: không đủ cung cấp, phụ thuộc theo mùa trong năm, hàm lượng muối khoáng thấp, bị nhiễm bẩn bởi không khí bị ô nhiễm, cách thu hứng chứa đựng – Tuy nhiên, ở những vùng khan hiếm nước cần tận dụng nước mưa để ăn uống.


• Trong không khí có nhiều N, cho nên trong nước mưa có nhiều NO2 và NO3. • Hiện nay, nước mưa là nguồn cung cấp quan trọng cho các gia đình ở nông thôn Việt Nam, nguồn nước ăn uống tốt, cung cấp đạm nitrat cho thực vật trong gieo trồng.


2. Nước bề mặt: – Nước sông: Độ cứng và hàm lượng sắt nhỏ, tốt cho sử dụng. Tuy nhiên, thường có hàm lượng cặn cao, độ nhiễm bẩn về vi khuẩn lớn nên cần được xử lý về hoá học và vi sinh vật.

– Nước suối: có thể bắt nguồn từ khu vực núi đá hoặc vùng đồi rừng. Nước suối thường có độ cứng cao nếu nguồn nước chảy từ các vùng có núi đá vôi, có khi hoà tan các khoáng chất và hoạt chất cây cỏ độc.


– Nước hồ, đầm: • Được tạo ra từ các suối và • Ở một số thành phố các dòng sông, những vùng hồ được sử dụng là nơi đất trũng thấp, thường thu nước thải của các được đắp đất bao xung quanh. khu vực dân cư. • Nguồn nước này ít lưu thông, do đó giữa hồ nước • Ở nông thôn, các ao, thường trong hơn khu vực hồ thường nhiễm bẩn gần bờ. nặng vì chứa nước thải của gia đình nuôi cá, nuôi bèo.


3. Nước ngầm: – Được tạo thành bởi nước mưa rơi trên mặt đất và được thấm qua các lớp đất nên được lọc sạch. – Các nguồn nước bề mặt thấm xuống và tạo thành các túi nước trong lòng đất.


• Ưu điểm: là rất trong sạch, hàm lượng cặn nhỏ, ít vi khuẩn. • Nhược điểm: có nhiễm sắt nên nước có màu vàng và mùi tanh của sắt. Vùng đồng bằng thường bị nhiễm sắt cao hơn vùng trung du và miền núi. Vùng ven biển thường bị nhiễm mặn hoặc đồng thời cả nhiễm sắt.


Tuỳ theo vị trí và độ sâu của giếng đào hoặc giếng khoan mà ta thu được: + Nước ngầm nông: Có độ sâu 3 – 10 mét. Loại này thường bị nhiễm bẩn nhiều, trữ lượng ít và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết. + Nước ngầm sâu: Thường là nước ngầm mạch sâu trên 20 mét, chất lượng tương đối phong phú.


VI. Ô NHIỄM NƯỚC, NGUỒN Ô NHIỄM VÀ CÁC YẾU TỐ GÂY Ô NHIỄM NƯỚC:

1. Định nghĩa: Ô nhiễm nước là sự biến đổi các thành phần của nước khác biệt với trạng thái ban đầu. – Thay đổi về lý hoá: màu, mùi, vị, độ trong. – Thay đổi thành phần hoá học: các chất hữu cơ. – Thay đổi về sinh vật: làm tăng hoặc giảm các vi sinh vật hoại sinh, vi khuẩn và virus gây bệnh, hoặc xuất hiện thêm các vi sinh vật mới.


• Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã” • Sự ô nhiễm nước cũng liên quan đến ô nhiễm không khí và ô nhiễm đất. Chúng có tác động qua lại lẫn nhau.


2. Nguồn gây ô nhiễm:

Thông thường nước bị ô nhiễm do các nguyên nhân: 2.1. Chất thải trong sinh hoạt hằng ngày Ở Việt Nam, hầu hết nước thải sinh hoạt đều không được xử lý mà đổ thẳng vào các nguồn tiếp nhận làm mức độ ô nhiễm tại các con sông trên toàn quốc đang ngày càng ở mức độ đáng báo động.


2.2. Chất thải trong công nghiệp: – Khai thác mỏ – Chế biến khoáng sản, – Ngành kim khí, – Sản xuất giấy, – Chế biến thực phẩm, – Sản xuất vật liệu xây dựng, – Rác thải công nghiệp: Trong quá trình sản xuất, nhiều phế thải, rác thải đó được đưa vào môi trường xung quanh, trong đó có môi trường nước.


2.3. Chất thải của ngành nông nghiệp và chăn nuôi: – Phân bón để tăng năng suất cây trồng như: phân người, phân gia súc, phân xanh, phân hoá học. – Hoá chất trừ sâu, diệt cỏ để tiêu diệt sâu bệnh và cỏ dại.


2.4. Nước thải y tế: • Là loại nước thải nguy hiểm, cần phải được xử lý triệt để trước khi thải vào nguồn tiếp nhận. • Hiện nay, nhiều cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có thì cũng ở quy mô nhỏ, không đạt tiêu chuẩn, công suất chưa đáp ứng với lượng nước thải ra hằng ngày. • Phần lớn nước thải y tế ở VN đều được thải trực tiếp vào hệ thống nước thải sinh hoạt và đổ vào nguồn nước mặt trong lưu vực sông làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh ra cộng đồng.


2.5. Các nguồn gây ô nhiễm khác: – Ngành giao thông. Các chất thải hằng ngày như phân, nước tiểu, rác, nước rửa sàn tàu, dẩu mỡ…. đều được đổ xuống sông, biển. Quá trình đốt cháy sản sinh ra bụi khói, các khí thải độc hại, tất cả đều bay lên không trung và làm bẩn bầu không khí cũng là nguồn gốc gây ra ô nhiễm nước và ô nhiễm môi trường. – Sự gia tăng dân số, tốc độ tăng trưởng kinh tế, đô thị hoá….đều dẫn đến sự ô nhiễm nước.


3. Các yếu tố gây ô nhiễm nước: 3.1. Do các chất hữu cơ dễ phân huỷ: – Các chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật như: xác cây cỏ, hoa quả, các chất mùn. Nguyên tố cơ bản của chất bẩn là Carbon. – Các chất hữu cơ có nguồn gốc động vật như: nước chế biến thức ăn, nước tắm giặt, nước từ các nhà tiêu tự hoại, nước thải của các nhà máy chế biến thực phẩm, lò giết mổ, trại chăn nuôi…. Nguyên tố cơ bản trong chất bẩn là Nitơ.


• Trong nước bị ô nhiễm ít, hàm lượng ôxy hòa tan trong nước ở trên mức giới hạn cho phép, các chất hữu cơ sẽ được phân hủy bởi các vi khuẩn hiếu khí để tạo thành các sản phẩm cuối cùng như nitrat, sunphát, phốt phát, CO.. • Khi nguồn nước bị ô nhiễm nặng và liên tục bởi các chất hữu cơ, hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm xuống còn rất thấp và quá trình phân hủy các chất hữu cơ do các vi khuẩn yếm khí đảm nhiệm và tạo thành các sản phẩm trung gian, làm cho nước có mùi hôi, màu đen, xuất hiện các khí thối như HS, NH, CH và andehyt.


Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn trong nước bởi các chất hữu cơ, người ta thường dung các chỉ số sau: • Nồng độ ôxy hòa tan trong nước (DO) • Nhu cầu ôxy về hóa học (COD) • Nhu cầu ôxy về hóa sinh học ( BOD)


Trong đó: • DO là lượng ôxy hòa tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật sống trong nước như cá, lưỡng cư, động thực vật thủy sinh, côn trùng. DO thường được tạo ra do sự hòa tan ôxy từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo. Nồng độ ôxy hòa tan trong nước thường nằm trong khoảng 8-10 ppm. Tuy nhiên, nồng độ này thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân hủy các chất và sự quang hợp của tảo…Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật sống trong nước giảm hoạt động hoặc thậm chí có thể bị chết. Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh gái sự ô nhiễm nước của các thủy vực.


• BOD ( Biological Oxygen Demand) là lượng ôxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ • COD (Chemical Oxygen Demand) là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa các hợp chất hóa học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ.


Toàn bộ lượng ôxy sử dụng cho các phản ứng trên được lấy từ ôxy hòa tan trong nước (DO). Do đó, nếu nhu cầu ôxy hóa học và ôxy sinh học cao thì sẽ làm giảm nồng độ ôxy hòa tan trong nước, có hại cho sinh vật sống trong nước và hệ sinh thái nước nói chung. Nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và nông nghiệp là các tác nhân làm gia tăng giá trị BOD và COD của môi trường nước.


3.2. Do các yếu tố sinh học: Các yếu tố sinh học làm ô nhiễm nước gồm có các loại: virus, vi khuẩn, động vật nguyên sinh và các loại giun sán. Nước thải và chất thải sinh hoạt, y tế, nông nghiệp và chăn nuôi là các nguồn chính gây ô nhiễm vi sinh vật.


3.3. Do các yếu tố hoá học: • Các chất hoá học chủ yếu là do chất thải công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp hoá chất, • Làm cho nước có màu sắc, mùi vị khó chịu, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tự làm sạch tự nhiên của nước • Có hại đến hệ thống sinh vật sống trong nước, tiêu diệt hoặc làm giảm các nguồn thuỷ sản làm thức ăn cho con người và gia súc, ảnh hưởng xấu tới chất lượng nước ngầm và nước bề mặt


• Nước còn bị ô nhiễm bởi các nguồn tự nhiên. (Điển hình là ô nhiễm Asen trong nước ngầm).

• Ngoài các tác nhân ô nhiễm môi trường nêu trên nước còn bị ô nhiễm bởi nhiệt độ và các chất phóng xạ.


VII. CÁC BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN NƯỚC A. BỆNH LÂY LAN QUA NƯỚC UỐNG: Những căn bệnh này xảy ra do ăn uống nước bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh. 1.1. Vi khuẩn gây bệnh đường ruột: tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy cấp… Những vi khuẩn gây bệnh đường ruột đặc biệt là nhóm Salmonella, phẩy khuẩn tả có thể tồn tại trong nước khá lâu.


Thời gian sống trong nước của một số vi khuẩn đường ruột


* Đường truyền: Để phòng chống các loại bệnh do vi khuẩn gây bệnh chúng ta phải căn cứ vào đường truyền bệnh của các loại bệnh này:

Phaâ n cuû a ngöôø i bònhieã m truø ng

Nöôù c

Thöïc phaå m

Ngöôø i bòcaû m nhieã m


* Biện pháp dự phòng: • Cải thiện việc cung cấp nước cả về số lượng và chất lượng. • Tránh làm nhiễm bẩn nguồn nước đặc biệt là với phân người và động vật. • Xử lý tốt nguồn nước ăn uống và sinh hoạt trước khi sử dụng. • Thực hiện ăn chín, uống sôi. Giữ gìn vệ sinh cá nhân.


1.2. Virus gây bệnh đường ruột: bại liệt, viêm gan A… * Cách phòng bệnh: • Giáo dục cho cộng đồng về việc giữ gìn tốt điều kiện vệ sinh chung và vệ sinh cá nhân. • Có hệ thống cung cấp nước sạch đã được xử lý thích hợp. Xử lý tốt hệ thống rác và nước thải. • Thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm. • Gây miễn dịch thụ động bằng tiêm vaccine.


1.3. Bệnh giun sán: giun đũa, giun tóc, giun kim, sán lá gan, sán lá phổi, sán lá ruột… – Loại nhiễm giun không có vật chủ trung gian: * Đường truyền Phaâ n ngöôø i beä nh

Rau –

Ñaá t

thöïc phaå m Ngöôø i caû m nhieã m

* Cách khống chế: Xử lý phân hợp vệ sinh để đất không bị ô nhiễm.


– Loại nhiễm sán do vật chủ trung gian sống trong nước:

* Đường truyền Phaâ n ngöôø i beä nh Nöôù c OÁ c Caù– Soø- Heá n Ngöôø i caû m nhieã m


* Cách phòng bệnh: – Không ăn sống các loại thuỷ sản nuôi trồng trong nước. – Kiểm soát và xử lý tốt nguồn nước tại địa phương. – Xử lý phân hợp vệ sinh để đất không bị ô nhiễm. – Tẩy giun, sán theo hướng dẫn của thầy thuốc.


B. CÁC BỆNH DO CÔN TRÙNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NƯỚC: • Bệnh sốt rét, sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue, giun chỉ…Côn trùng truyền bệnh trung gian là các loại muỗi, trong đó nước đóng vai trò là môi trường sống của các sinh vật truyền bệnh. • .


*Cách phòng bệnh: - Làm mất nơi muỗi đẻ, nơi muỗi sinh sản bằng cách: dụng cụ chứa nước phải có nắp đậy, thường xuyên thay rửa dụng cụ chứa nước ăn, khơi thông cống rãnh, loại bỏ các nơi có nước tù đọng, làm khô những vũng nước tù đọng. - Diệt ấu trùng muỗi: thả cá ăn bọ gậy, cung quăng trong bể chứa nước. - Ngủ màn chống muỗi đốt. Diệt muỗi bằng phun thuốc, hương diệt muỗi


C. CÁC BỆNH DO THIẾU NƯỚC HOẶC SỬ DỤNG NƯỚC KHÔNG SẠCH TRONG VỆ SINH CÁ NHÂN:

Các bệnh về ngoài da, mắt, phụ khoa: Hắc lào, nấm, lang ben, ghẻ, chàm, đau mắt đỏ, đau mắt hột, viêm kết mạc, viêm màng tiếp hợp, viêm âm đạo… a. Cách lây truyền: Truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành mà nguyên nhân chính là do thiếu nước hoặc phải dùng nước không sạch để sử dụng trong vệ sinh cá nhân, trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. b. Cách phòng bệnh: - Cung cấp đầy đủ nước sạch sử dụng hằng ngày. - Nâng cao nhận thức của người dân về ý thức vệ sinh cá nhân.


D. BỆNH DO CÁC VI YẾU TỐ HOÁ HỌC VÀ CÁC CHẤT ĐỘC KHÁC CÓ TRONG NƯỚC Bệnh do yếu tố vi lượng, hoặc các chất độc khác có trong nước hây ra cho người là do thừa hoặc thiếu chúng trong nước. Trong nhóm này có các bệnh sau: + Bệnh bướu cổ + Bệnh về răng do thiếu hoặc thừa fluor:


+ Bệnh do Nitrite và Nitrate cao trong trong nước: • Nitrite có thể tác dụng với các acid amin để tạo thành Nitrosamin là chất có khả năng gây ung thư (đã thấy rõ qua các thử nghiệm trên chuột). • Nitrate là sản phẩm phân huỷ cuối cùng của các chất hữu cơ trong tự nhiên. Nitrate cao trong nước còn do nước bị ô nhiễm nước thải. Trong nước có hàm lượng Nitrate trên 10 mg/l có thể gây bệnh tím tái (đặc biệt đối với trẻ em).


+ Bệnh do nhiễm độc bởi các chất độc hoá

học gây ra:

• Nước có thể bị nhiễm bẩn bởi các chất độc hoá học dùng trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày, trong nước thải sản xuất công nghiệp như: kim loại nặng, các chất phóng xạ và các chất gây ung thư + Chì (Pb): Nước có các khí CO2 và O2 dưới dạng hoạt tính có thể hoà tan Chì ở ống dẫn nước, dụng cụ đựng…lượng Chì vượt quá 0,1 mg/l gây nguy hại cho sức khoẻ. + Đồng (Cu): Nước thải công nghệp là nguyên nhân của việc nước có kim loại Đồng. Lượng đồng vượt quá 1 mg/l gây ngộ độc cho con người. + Asen (As - thạch tín): Hàm lượng Asen quy định không vượt quá tiêu chuẩn 0,01 mg/l đối với nước ăn uống.


VIII. BẢO VỆ VÀ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC


• • • •

Bảo vệ an toàn nguồn nước và hệ thống cung cấp nước, bảo quản và thanh tra trạm xử lý và mạng lưới phân phối nước Huấn luyện những người quản lý và nhân viên nhà máy nước Giáo dục người tiêu thụ Định kỳ tái đánh giá sự vận hành hệ thống cung cấp nước Ngay cả khi nước được cung cấp một cách đầy đủ hợp vệ sinh thì bể chứa nước hoặc đường ống ở gia đình cũng có thể là nguồn gốc ô nhiễm nếu không được lắp đặt, bảo trì hợp lý. Với lý do đó, nước có thể bị nhiễm bẩn tại nhà và đôi khi trở thành nguồn gốc ô nhiễm rất quan trọng về mặt vi sinh vật.


Các biện pháp cụ thể: • Biện pháp hành chính: Dựa vào luật môi trường, các tiêu chuẩn Nhà nước về công nghệ sản xuất nước, các QCVN về nước để làm chuẩn mực trong công tác giám sát và kiểm tra. • Bằng chuyên môn kỹ thuật: Với sự phát hiện chất lượng nước qua các labo kiểm nghiệm tìm ra được các yếu tố ô nhiễm và tìm ra nguồn gốc gây ô nhiễm, từ đó các biện pháp tác động làm giảm bớt các nguy hại. Thiết lập các khu vực bảo vệ nguồn nước, các đường ống dẫn nước theo đúng hướng dẫn trong Thông tư số 15/2006/TT- BYT “Hướng dẫn về việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình”


• Nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân và cộng đồng trong việc bảo vệ giữ gìn nguồn nước sạch: - Không chăn gia súc và đổ rác gần nguồn nước. - Không cho trâu bò tắm ở ao, hồ dùng để lấy nước vào giếng hào lọc. - Không tắm rửa, giặt giũ, chế biến thức ăn gần nguồn nước công cộng. - Không xây/sử dụng nhà vệ sinh, chuồng gia súc ở gần nguồn nước, ở vị trí cao hơn nguồn nước làm ô nhiễm nguồn nước. - Không được súc rửa các dụng cụ làm nông (bình phun thuốc trừ sâu) tại các nguồn nước công cộng. - Không vứt xác gia súc gia cầm, động vật chết xuống ao, hồ, sông, suối. - Bảo quản thường xuyên máy bơm của giếng khoan. Nếu có hỏng hóc thì phải sửa chữa ngay. - Đối với các nguồn cấp nước tập trung công cộng cần phân công trách nhiệm cho một nhóm chuyên trách để vận hành, bảo quản và sử dụng được lâu dài. - Không xả nước thải chưa qua xử lý hợp vệ sinh ra môi trường bên ngoài.


Qui trình xử lý: • Trong bất kỳ trường hợp riêng biệt nào, việc đưa ra một quy trình xử lý nước cũng phải tính đến chất lượng và bản chất của nguồn nước. Mức độ xử lý phụ thuộc vào độ nhiễm bẩn của nguồn nước. • Quy trình xử lý nước đô thị bao giờ cũng gồm: Lưu giữ nước hoặc khử trùng sơ bộ. Keo tụ hóa học, đông tụ và lắng nước. Lọc nước. Khử trùng nước.


IX. GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC 1. Định nghĩa: Giám sát chất lượng nước là sự đánh giá, nhận xét thận trọng về độ an toàn và các chỉ tiêu chấp nhận được của việc cung cấp nước theo tiêu chuẩn đã ban hành.


Các công đoạn sản xuất nước


2. Các chỉ tiêu cơ bản để giám sát chất lượng nước: Thông thường để giám sát chất lượng nước về mặt vệ sinh người ta thường quan tâm đến các chỉ tiêu cơ bản sau: – Các chỉ tiêu vật lý: pH, độ đục, chất rắn lơ lửng, tổng hàm lượng cặn. – Các chỉ tiêu hoá học: độ oxy hoá, hàm lượng amoniac, hàm lượng nitrite, nitrate, clorua, sắt tổng số, sunfat, độ cứng toàn phần, asen. – Các chỉ tiêu vi sinh: tổng số Coliform, Fecal Coliform hoặc E.coli, Fecal streptococci, vi khuẩn hiếu khí…


3. Những thiếu sót thông thường của giám sát chất lượng nước: – Nơi sản xuất chưa làm hết việc tiệt trùng nước. – Cơ quan giám sát thiếu. Thiếu chính sách và thủ tục giám sát của cơ quan quản lý. Các cơ quan không thực hiện kiểm tra đầy đủ. – Không lấy đủ mẫu nước, nước nguồn, nước bể chứa và nước cấp. – Thiếu labo để làm xét nghiệm. – Nơi sản xuất chưa kinh phí và nhân lực, thiếu cán bộ đào tạo về trình độ chuyên môn kỹ thuật. • Việc giám sát không chỉ đơn thuần là phát hiện sự việc đúng hay sai mà còn bao gồm cả các biện pháp xử lý nhằm hạn chế hoặc thanh toán các yếu tố độc hại và hướng dẫn giúp đỡ khuyến khích cải tạo khi có điều kiện.


4. Giám sát chất lượng nước ở VN: • Nhà nước và Bộ Y tế Việt Nam đã quan tâm đúng mức tới vấn đề cung cấp nước sạch cho cộng đồng dân cư. Do vậy một mặt khuyến khích mọi nguồn lực tham gia cung cấp đảm bảo nhu cầu nước sạch, mặt khác không ngừng thường xuyên giám sát chất lượng vệ sinh nước ăn uống cũng như chất lượng dịch vụ cấp nước sinh hoạt. • Về văn bản pháp qui: - Năm 1992, Bộ Y tế ban hành tiêu chuẩn vệ sinh tạm thời đối với nước ăn uống và sinh hoạt kèm theo Quyết định 505/QĐ – BYT – 1992


Năm 2006, Bộ Y tế tiếp tục ra Thông tư số 15/2006/TT- BYT “Hướng dẫn về việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình”


- Năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành + QCVN 01:2009/BYT do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 04/2009/TT BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009. + QCVN 02:2009/BYT do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 05/2009/TT BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009.


Công tác tổ chức thực hiện được thiết lập một mạng lưới từ Trung ương đến địa phương nhằm kiểm tra, giám sát chất lượng nước. * Cục Y tế dự phòng Việt Nam chịu trách nhiệm: – Chỉ đạo, đôn dốc, hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động vệ sinh nước sạch, nước ăn uống hộ gia đình trên phạm vi toàn quốc. – Tổ chức xây dựng, sửa đổi, bổ sung và trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. – Tổng hợp báo cáo công tác kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống hộ gia đình của các địa phương hằng năm để báo cáo Lãnh đạo Bộ Y tế.


* Các Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Vệ sinh Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm: – Tổng hợp, phân tích và báo cáo tình hình vệ sinh nước sạch, nước ăn uống hộ gia đình của các tỉnh trên địa bàn phụ trách để có kế hoạch hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật. – Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp kỹ thuật trong công tác kiểm tra và đảm bảo an toàn vệ sinh nguồn nước. – Hướng dẫn các địa phương về chuyên môn, kỹ thuật. – Thực hiện kiểm tra vệ sinh nước sạch , nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình khi xảy ra thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh hoặc khi có yêu cầu.


• * Sở Y tế chịu trách nhiệm: Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện và bảo đảm nhân lực, trang thiết bị, kinh phí cho việc thực hiện kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình trên địa bàn tình, thành phố. • * Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh chịu trách nhiệm: – Kiểm tra định kỳ và đột xuất tình trạng vệ sinh chung, lấy mẫu nước, tiến hành xét nghiệm và đánh giá kết quả đối với các nhà máy nước, các trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư từ 500 người trở lên trên địa bàn tỉnh, thành phố. – Phối hợp với các Trung tâm Y tế dự phòng huyện kiểm tra đột xuất, lấy mẫu nước xét nghiệm và đánh giá kết quả đối với các nhà máy nước, các trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư dưới 500 người, các hình thức cấp nước và nhà tiêu hộ gia đình trên địa bàn tỉnh, thành phố. – Xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí hàng năm cho việc thực hiện các hoạt động kiểm tra.


* Phòng Y tế huyện chịu trách nhiệm: Chỉ đạo các Trạm y tế xã thực hiện kiểm tra tình trạng vệ sinh chung đối với các hình thức cấp nước và nhà tiêu hộ gia đình trên địa bàn mình quản lý. * Trung tâm Y tế dự phòng huyện chịu trách nhiệm: - Kiểm tra định kỳ và đột xuất tình trạng vệ sinh chung, lấy mẫu nước, tiến hành xét nghiệm hoặc gửi mẫu lên tuyến tỉnh để làm xét nghiệm và đánh giá kết quả đối với các trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư dưới 500 người, các hình thức cấp nước hộ gia đình trên địa bàn quản lý. - Hằng năm xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí hằng năm cho việc thực hiện các hoạt động kiểm tra.


* Trạm Y tế chịu trách nhiệm: Kiểm tra định kỳ và đột xuất tình trạng vệ sinh chung đối với các hình thức cấp nước hộ gia đình trên địa bàn quản lý. Xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí hằng năm cho việc thực hiện các hoạt động kiểm tra. * Nhà máy nước, trạm cấp nước chịu trách nhiệm: - Bảo đảm cung cấp nước sạch, nước ăn uống đạt tiêu chuẩn theo các quy định. - Tự kiểm tra chất lượng nước theo định kỳ hàng tuần để bảo đảm nước cung cấp đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.


Kết luận:

o

Nước sạch là một nhu cầu cơ bản trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày của mọi người; đóng vai trò vô cùng quan trọng trong mọi lĩnh vực và đang trở thành đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân,

o

Nước sạch lại là một trong tám mục tiêu của Chương trình thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc.

o

Nước sạch là tài nguyên quý giá nhưng không phải là vô tận. Giải quyết tốt nước sạch và VSMT sẽ kiểm soát được nhiều bệnh tật ở nước ta (những bệnh có thể phòng ngừa được). Ðây là trách nhiệm của mọi người, mọi cộng đồng, của quốc gia và toàn nhân loại.


Một cậu bé tắm rửa tại một vòi nước công cộng ở Colombo, Sri Lanka, 06/03/2012


Một người nông dân đang tát nước vào ruộng lúa của anh ở làng Pobitora, Ấn Độ, 29/02/2012.


Hai người đàn ông đứng tắm trên một đường ống dẫn nước bắt ngang dòng sông ô nhiễm đầy rác ở New Delhi, Ấn Độ, 20/12/2011.


Một công nhân uống nước trong lúc hái lái chè trên một đồi chè ở Kiranchandra Tea Estate, ngoại ô Siliguri, Ấn Độ, 14/10/2011. Những người trồng chè cho biết, biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng xấu đến các cánh đồng chè của họ, nó không chỉ gây giảm năng suất mà còn làm mùi vị bị thay đổi.


Anh Abduljaleel Jabbar, 46 tuổi, tắm tại một hồ nước ở ngoại ô Islamabad, Pakistan, 24/06/2011.


Một người đàn ông Pakistan đang lấy nước lên từ cái giếng tại một khu ổ chuột ở Islamabad, 14/07/2011.


Một người bán hàng làm bong bóng nước trong buổi chiều hoàng hôn cuối cùng của năm 2011 tại Islamabad, 31/12/2011.


Khách du lịch xem xả lũ ở đập Xiaolangdi, trên sông Yellow, Jiyuan, Trung Quốc, 22/06/2011.


Trẻ em bơi trong dòng nước biển đầy tảo xanh ở bờ biển Qingdao, Trung Quốc, 17/07/2011.


Một người đang gánh nước từ một giếng nước về nhà ở Yiliang, Trung Quốc, 27/02/2012.


Một người nông dân đang tưới nước cho ruộng rau của anh ở quận Jeneponto, tỉnh South Sulawesi, Indonesia, 19/07/2011.


Nhà thờ Quiapo phản chiếu trên mặt nước, ở Manila, 05/01/2012.


Người này đang đi lấy nước trên chiếc xuồng tự chế ở khu vực ngập nước ở Malabon, Bắc Manila, 29/09/2011.


Sinh vật dưới đáy biển ở quần đảo Raja Ampat, phía Đông Indonesia, nằm giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.


VĐV người Italy Maurizio Felugo (phải) cố gắng ghi bàn trước sự truy cản của hậu vệ đội tuyển Tây Ban Nha Marc Minguell trong trận đấu tại giải FINA Swimming World Championships ở Thượng Hải, 26/07/2011.


Ông Joseph Irungu (trái) và một trong những công nhân của ông đổ chất thải sinh hoạt từ khu ổ chuột Korogocho, Nairobi xuống dòng nước trong khu vực sinh sống.


Máy bay trực thăng của lực lượng bảo vệ thiên nhiên bang Louisiana phun nước xuống dưới đám cháy rừng ở miền Đông New Orleans, 31/08/2011.


Cảnh sát sử dụng vòi rồng để dẹp một cuộc biểu tình của sinh viên ở Santiago, Chile, 06/10/2011.

o nhiem nuoc  

o nhiem nuoc

Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you